Dictionary Search
1250 đệ tử
1250 disciples Gồm: - 4 nhóm chánh: 500 người là thầy trò Ưu lâu tần loa Ca Diếp, 250 người thầy trò Na đề Ca Diếp, 250 người thầy trò Già Da Ca Diếp và 250 người nữa là thầy trò Xá lợi Phất và Mục kiền Liên. Khi Phật ngự tới đâu thường có 1250 đệ tử nay theo hầu. - Ngoài ra Phật con có nhiều đệ tử khác nữa như: 500 đệ tử ở thành Ba la nại, những người trong dòng họ Thích, những Tỳ kheo ni,...
a
1) Vần bắt đầu của 12 mẫu vận trong Phạn ngữ—The first letter of the 12 Sanskrit Siddham alphabets. 2) Tất cả những Phạn ngữ khác đều phát sinh từ mẫu tự “A”—All other Sanskrit letters are originated from it. 3) “A” là tiếng khai khẩu đầu tiên của nhân loại—It is the first sound uttered by the human mouth. 4) Chữ “A” đứng đầu một chữ có nghĩa phủ định—“A” is a negation if it stands in front of a word. 5) Chữ “A” là biểu tượng—“A” symbolizes -Vô sanh: Hết thảy các pháp không sanh—The unproduced. -Vô thường: Impermanent. -Phi vật chất: Immaterial.
; (阿) I. A. Chữ (a, âm ngắn) của mẫu tự Tất đàm (chữ cái của tiếng Phạm). Là một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong bốn mươi hai hoặc năm mươi chữ cái. Âm Hán: a, an, át, am, hạt, á, ác. Là chữ A chuyển hóa lần thứ nhất trong năm lần chuyển hóa, bởi thế cũng gọi là chữ A chuyển lần đầu, hoặc chữ A không chuyển (còn nguyên gốc). Từ xưa, việc học tập, nghiên cứu về nghĩa mẫu tự Tất đàm, đã rất phổ biến tại Ấn Độ. Trong Phật giáo, các kinh, luận, sớ thuộc Hiển giáo, Mật giáo cũng đều vận dụng một cách rộng rãi, nhất là Mật giáo, khi nói đến Chân ngôn đà-la-ni (thần chú) thì đặc biệt coi trọng sự giải thích về tự nghĩa Tất đàm. A là chữ đầu tiên trong năm mươi chữ cái Tất đàm, đó là vì người ta khi mở miệng nói thành tiếng thì trong đó đã có tiếng chữ A rồi, nếu bỏ tiếng A thì không có tất cả lời có thể nói. Vì vậy, Mật giáo cho chữ A là mẹ của hết thảy tiếng nói. Các chữ Tất đàm, khi mới chuyển bút viết, phải chấm một dấu ., chấm này gọi là chấm chữ A, dùng để biểu thị A là mẹ của tất cả các chữ. Theo đó, suy rộng nghĩa chữ A, mà bảo hết thảy giáo pháp trong hoặc ngoài Mật giáo đều do chữ A sinh ra. Đại Nhật kinh sớ còn đi xa hơn, cho chữ A là gốc của hết thảy các pháp. Kinh Đại Nhật quyển 2, quyển 6 cũng lần lượt khen là Vua chân ngôn và Tâm của hết thảy chân ngôn. Nếu nói theo nghĩa gốc, thì chữ A hàm ý phủ định không, chẳng, chẳng phải .v.v... như kinh Đại Phương Đẳng Đại tập quyển 10 phẩm Hải hội Bồ-tát, kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn quyển thượng v.v... bảo chữ A nghĩa là: không thường; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 8 nêu ra các nghĩa: không phá hoại, không chuyển động. Kinh Đại Bảo Tích quyển 65 phẩm Khẩn-na-la Thụ kí nêu các nghĩa: không làm, không biên giới, không phân biệt, không tự tính, chẳng thể nghĩ bàn, v.v... Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni quyển 9 thì nêu ra bảy nghĩa: Tâm Bồ đề, pháp môn, không hai, pháp giới, pháp tính, tự tại, pháp thân gọi là bảy nghĩa chữ A. Cũng kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni quyển 2 còn nêu rất nhiều nghĩa nữa, như: không lại, không qua, không đi, không đứng, không bản tính, không gốc rễ, không cùng, không hết, v.v...…Lại khi giải thích chữ A trong bốn mươi hai chữ cái, kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 5 phẩm Quảng Thừa, giải là hết thảy pháp lúc đầu chẳng sinh. Cách giải thích này rất thường thấy trong các kinh luận Đại thừa, Tiểu Thừa, Hiển giáo, Mật giáo, nhất là Mật giáo lại cho nghĩa này là nghĩa căn bản chủ yếu của giáo tướng, sự tướng. Vì thế chữ A vốn không sinh (Phạm: akàraàdyanutpàdah) đã thành là thuật ngữ quen dùng và thấy rải rác trong các kinh điển của Mật giáo. Đại Nhật kinh sớ quyển 7, dựa vào nghĩa cũng không cũng giả cũng trung nói trong luận Trung Quán và nghĩa một tâm ba trí trong luận Đại Trí Độ, rồi theo ba nghĩa có, không, chẳng sinh mà giải thích lý chữ A vốn không sinh. Kinh Đại Nhật quyển 1 phẩm Cụ Duyên và Đại Nhật kinh sớ quyển 14 thì cho chữ A là tâm Bồ đề thanh tịnh lúc đầu vốn chẳng sinh, rồi bảo nếu biết rõ nghĩa chân chính của chữ A, thì cũng có thể biết rõ tâm mình một cách như thực. Bởi vì ý chỉ sâu xa của bộ kinh Đại Nhật là ở chỗ nghiên cứu đến cùng tận cái tướng của tâm Bồ đề. Cho nên, nếu nói một cách đại cương, thì cũng có thể bảo toàn bộ bộ kinh Đại Nhật chỉ nhằm giải thích rõ nghĩa tướng của chữ A. Ngoài ra, mục đích của pháp môn Tự nội chứng (bộ kinh Đại Nhật) do đức Đại Nhật Như Lai tuyên giảng trong Thai tạng giới là nhằm nêu rõ li chữ A vốn chẳng sinh. Cho nên, có thể nói Lý pháp thân của Đại Nhật Như Lai ở Thai tạng giới lấy chữ A này làm chủng tử. Đây chính là cái ý được nói rõ trong Đại Nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 651 Hạ): Bởi thế, đức Tì-lô-giá-na chỉ dùng một chữ A này làm chân ngôn. Nhưng, cũng Đại Nhật kinh sớ quyển 7 lại cho chữ A là chủng tử của tâm Bồ đề, bảo những người trì tụng chữ A đều có tâm bồ đề, và nhờ đó mong đạt đến Bồ đề cao tột. Đứng về phương diện chủng tử của chư tôn trong Mật giáo mà nói, thông thường các tôn vị đều có chủng tử và chân ngôn tượng trưng sự dẫn sinh và nhiếp trì trí Phật. Nhưng một bộ phận trong các tôn vị không có chủng tử riêng của mỗi vị mà lấy chữ A thay vào, đây gọi là chủng tử chân ngôn chung. Trong Mạn-đồ-la của Kim Cương giới và Thai Tạng giới, chữ A là chủng tử của Thai Tạng giới. Trong ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, chữ A là chủng tử của Pháp thân. Trong ba bộ: Phật bộ, Liên Hoa bộ và Kim Cương bộ, chữ A là chủng tử của Phật bộ. Trong thứ tự năm chuyển: Nhân, Hành, Chứng, Nhập, Phương tiện, chữ A là chủng tử của Nhân. Trong sáu nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Gió, Không, Thức, chữ A là chủng tử của nguyên tố Đất. Trong các phép quán của Mật giáo, phép quán lấy hình viết, âm đọc và ý nghĩa của chữ A làm đối tượng quán tưởng, thì gọi là pháp quán chữ A, là phép quán trọng yếu nhất của người tu hành chân ngôn. [X. kinh Đại Nhật Q.3, phẩm Tất Địa Xuất Hiện; kinh Thủ Hộ Q.9 phẩm Đà La Ni Công đức; kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu; luận Đại Trí Độ Q.48, Q.89; Đại Nhật kinh sớ Q.10, Q.12]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển, A Tự Bản Bất Sinh, A Tự Quán). II. A. Chữ (à, âm dài) của mẫu tự Tất đàm, một trong mười hai nguyên âm, một trong năm mươi chữ cái tiếng Phạm. Cũng đọc là á. Đây là chữ À chuyển hóa lần thứ hai trong năm lần chuyển hóa, tức là chữ À không có chấm thêm một chấm (gọi là chấm tu hành). Đem năm lần chuyển hóa phối với năm vị Phật, thì chữ À biểu thị Tam-ma-địa của đức Bảo Sinh Như Lai ở phương Nam, tượng trưng đức tu hành. Cho nên, trong năm lần chuyển hóa, chữ À này thuộc về ngôi tu hành, đây là thuyết Đông Nhân Phát Tâm. Nếu đem phối với bốn phương, thì chữ À biểu thị cửa tu hành ở phương Nam, là nghĩa hết thảy pháp vắng lặng (Phạm: àraịya), bởi thế, nhà Tất đàm phần nhiều gọi chữ À là chữ À vắng lặng. Ngoài ra, chữ À này còn có các nghĩa như: xa lìa ta, lợi mình lợi người, Không tam muội, Thánh giả, ít muốn, biết đủ, trong sạch, răn dạy v.v... [X. kinh Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu; Đại Nhật kinh sớ Q.10, Q.14].
a ba ba
Ababa or Habava (skt)—Địa ngục thứ tư trong bát hàn địa ngục—The fourth of the eight cold hells—See Địa Ngục (b) (4).
a ba hội
Xem Cực quang tịnh thiên.
a ba la
Abhasvara-vimana (skt)—Cõi trời Quang Âm Thiên—The sixth of the Brahmalokas of light and sound (abhasvara) and its devas.
a ba la la long tuyền
(阿波邏羅龍泉) A-ba-la-la, Phạm: Apalāla. Dòng suối nơi rồng chúa A-ba-la-la ở. Cũng gọi A-ba-la- lợi long tuyền. Dịch ý: suối rồng không có lúa, suối rồng không lưu lại, suối rồng không chảy. Về vị trí của con suối này, các kinh luận ghi chép không giống nhau, có những thuyết cho ở nước Ma-yết-đà, nước Kế Tân, nước Kiện-đà-la, nước Na-kiệt-la-hạt ở bắc Ấn độ v.v... Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 3, mục nước Ô-trượng-na chép, thì con suối này là nguồn của sông Tô-bà-phạt-tốt-đổ (Phạm:Subhavastu). Truyền thuyết nói: suối này có rồng, ở thời đức Phật Ca-diếp-ba, rồng này sinh trong cõi người, tên là Căng kì, thông thạo chú thuật, ngăn cấm các rồng dữ, không cho làm mưa bão. Người trong nước nhờ đó được mùa, có thừa lương thực, nên đem thóc đến biếu để tạ ơn rồng. Nhưng lâu ngày chày tháng, có người trễ nải, Căng kì tức giận, hóa sinh làm rồng dữ, phá hại lúa mạ mùa màng. Vì thương xót nhân dân nước ấy gặp tai nạn, đức Phật Thích Ca bèn giáng thần đến đó để hóa độ rồng dữ. Vua rồng sợ hãi, xin qui y Phật, nghe Ngài nói pháp, lắng tâm, tin hiểu. Sông Tô-bà-phạt-tốt- đổ nói ở trên tức là con sông Swat, một chi nhánh ở thượng du sông Ấn Độ (Indus) hiện nay. [X. kinh Phật Bản Hạnh Q.1; Luận Đại Trí Độ Q.3; Giải thuyết Tây Vực kí].
a ba la nhĩ đa
(阿波羅爾多) Phạm : Aparājitā. Dịch ý là không thể hơn. Một trong bốn chị em Thiên nữ, quyến thuộc của Bồ-tát Văn Thù, ngồi ở phía dưới A-nhĩ-đa, bên trái Đồng Mẫu Lô thuộc viện Văn Thù trong Thai tạng giới mạn-đồ-la Mật giáo. Hình tượng Thiên nữ này là thân trẻ con, màu da trắng, tay trái nắm lại, chống vào cạnh sườn, tay phải cầm gậy một chẽ, xoay mặt về phía trái, ngồi tréo chân. Nhưng trong mạn-đồ-la kinh Lí Thú, thì Tôn vị này được bày ở phía Tây của Đồng Mẫu Lô, hình tượng cũng khác. Chủng tử là (a), hình Tam-muội-da là cây gậy, mật hiệu là Kim Cương, hiển bày Ba-la-mật thanh tịnh [X. Lí Thú thích Q.hạ; Lưỡng bộ mạn-đồ-la Nghĩa kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
a ba lan đa ca quốc
(阿波蘭多迦國) A-ba-lan-đa-ca, Phạm: Aparāntaka. Cũng gọi là A-ba-lan-đa, A-ban- la-đắc-ca. Tên một nước xưa ở phía Tây Ấn độ. Một trong chín vị tăng do vua A-dục phái đi các nơi để truyền đạo, thì tôn giả Đàm Vô Đức đã đến nước này giáo hóa. Đất này hiện nay nằm trong lãnh thổ của nước A-phú- hãn (Afghanistan). Cứ theo Thiện Kiến luật Tì-ba-sa quyển 2 chép, thì ngài Đàm Vô Đức đã giảng kinh Hỏa Tụ Dụ ở nước này, có ba vạn người được mắt trời, một nghìn người xuất gia làm Tăng và một nghìn người xuất gia làm Ni. [X. Giải thuyết Tây Vực kí].
a ba ma la
Apasmara (skt)—Nhân từ quỷ—Malevolent demons, epilepsy, and the demons who cause it.
a ba mạt lợi ca
(阿波末利迦) Phạm: Apā-mārga. Còn gọi là A-bà-ma-la-nga, A-bà-mạt-lị. Dịch ý là Ngưu tất. Một loại cỏ thuốc mọc ngoài đồng. Tên khoa học là Achyzanthes bidentata. Cứ theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ-tát trị bệnh hợp dược chép, nếu đàn bà có thai, mà thai nhi bị chết trong bụng, hãy lấy một lượng lớn cỏ này, hòa với hai lít nước nấu lên, vắt bỏ bã đi, lấy nước mà uống sẽ hết đau đớn. [X. kinh Bất Không Quyên Sách Đà-la-ni; kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ-tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni; Chỉ Quất Dịch Thổ tập Q.3].
a ba na già đê
Aparagati (skt)—Tam ác đạo, như súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục—The three evil paths, i.e. animal, hungry ghost, hell.
a ba thoại
Xem Cực quang tịnh thiên.
a ba tất ma la
Apasmāra (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
a ba đà na
Avadàna (S). Exemple bạt ma la. Green face devil.
; Avadana (skt)—See Phược Đà.
; (阿波陀那) Phạm: Avadāna, Pāli: Apadāna. Gọi tắt là Bà-đà. Dịch ý là thí dụ, xuất diệu, giải ngữ. Những kinh điển do đức Phật nói, theo nội dung và hình thức khác nhau, chia làm mười hai thể tài, gọi là mười hai bộ kinh. A-ba-đà-na là một trong mười hai thể tài kinh đó. Trong các kinh điển, các kinh dùng hình thức thí dụ hoặc ngụ ngôn để giải thích rõ phần nghĩa sâu xa mầu nhiệm, thì gọi là A-ba-đà-na. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Thí Dụ).
a ban thủ ý
Ānāpanasati (P), Ānāprānasmṛti (S)Quán niệm hơi thở.
a ban đề quốc
(阿般提國) A-ban-đề, Phạm: Avanti. Một trong mười sáu nước lớn ở Ấn độ cổ đại, nằm về mạn bắc dãy núi Tần-xà-da (Phạm:Vindhya) miền Tây Ấn độ, phía Tây nước Kiều-thưởng-di, phía Nam nước Mạt-thố-la, thủ đô là Ô-xà-diễn-na (Phạm:Ujjayanī). Cũng gọi A-bàn-đà quốc, A-bà-đề quốc, A- hòa-đề quốc. Khi đức Phật còn tại thế, vua nước này là Phạ-gia-âu-đạt (Pāli:Pajjota) từng đã đánh nhau với vua Ưu Điền nước Kiều-thưởng-di. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Trường A-hàm Q.5 kinh Xà-ni-sa; luật Ngũ phần Q.21; luận Đại Tì-bà-sa Q.124] (xt. Thập Lục Đại Quốc).
a bà bà địa ngục
Xem A la la địa ngục.
a bà dựng ca la
Abhayaṃkara (S)Ly bố uý địa.Tên một vị Như Lai hay một cõi giới.
a bà lô cát đê xá bà la
Avalokitesvara (skt)—Tên của Quán Thế Âm—Name of Kuan-Yin.
a bà lư cát dế xá bà la
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
a bà ma
Anupama (skt)—Một danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”—A title of the Buddha, defined as “Unequalled rank.”
a bà sa ma la
Apasmara (skt)—Quỷ động kinh—Epileptic demons, demons of epilepsy.
a bà đa na
Xem Thí dụ.
a bàn đà la
Avantara (skt)—Trung gian—Intermediate.
a bàng la sát
(阿傍羅刹) Tên của ngục tốt ở địa ngục. Cũng gọi A phòng la sát. Gọi tắt: Bàng, A bàng. Theo kinh Ngũ khổ chương cú, thì hình tượng của A bàng là đầu trâu tay người, hai chân có móng trâu, sức mạnh có thể dời núi, tay cầm xoa sắt, mỗi xoa có ba mũi nhọn, có thể xiên vài trăm vạn người có tội ném vào trong vạc dầu. [X. kinh Hiền Ngu Q.13; kinh Thiết Thành Nê Lê].
a bát lợi cụ đà ni
Aparagodana (skt)—See Tứ Châu (3).
a bạt da chỉ ly
Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở A Nâu La Đà Bổ La, cố đô (kinh đô cổ) của nước Tích Lan—Mount Fearless in Ceylon at Anuradhapura.
a bạt đa la
Avatara (skt)—Vô thượng—Peerless.
a bản đồ quốc
(阿畚荼國) A-bổn-đồ, Phạm: Avanda. Một nước xưa nằm về phía Tây Ấn-độ. Và nay là vùng Duy-ca-lạp (Vichala) thuộc trung bộ tiểu bang Tín độ. Theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, thì chu vi nước này rộng hai nghìn bốn đến năm trăm dặm. Thủ đô chu vi hơn hai mươi dặm. Trong khu rừng trúc ở mạn Đông bắc Thủ đô là nơi đức Phật đã từng cho phép các vị Tỉ-khưu mang giày. Nhân dân nước này tính tình chất phác, không chuộng học vấn, nhưng đều giữ tâm thuần tín đối với Tam bảo. Có hơn hai mươi ngôi chùa, với hai nghìn vị Tăng, phần nhiều học pháp của phái Chính Lượng Bộ của Tiểu thừa. [X. Đại Từ Ân Tự Tam tạng Pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết Tây Vực Kí; A. Cunningham: The Ancient Geography of India; S. Julien: Mémoires sur les Contrées Occidentales, Vol.II].
a bệ bạt trí
Xem Bất thoái.
; Avaivartika (S). One who never recedes; a bodhisattva who, in his progress towards Buddhahood, never retrogrades to a lower state than that to which he hes attained. Bất thoái chuyển.
; Avaivartika or Avivartin, or Aparivartya (skt)—A Bề—A Duy Việt Trí—A Tỳ Bạt Trí—Bất Thối Chuyển. 1) Chữ A Bệ Bạt Trí, theo tiếng Bắc Phạn là Avaivartika, có nghĩa là “Bất Thối Chuyển” hay chẳng lùi xuống. Có ba nghĩa, áp dụng cho những chúng sanh nơi cõi Tịnh Độ—The Sanskrit word “Avaivartika” means “not falling back.” There are three senses of “not falling back” that apply to sentient beings in the Pure Land: a) Vị Bất Thoái: Do not fall back from their position—Một khi đã dự vào địa vị Tứ Thánh rồi, chẳng còn bị xuống địa vị Lục Phàm nữa—Having entered the holy stream or the four levels of sagehood culminating in Ahratship, they do not fall back to the levels of gods and men. b) Hạnh Bất Thoái: Do not fall back from practice—Một khi đã tu hạnh Bồ Tát thường hóa độ chúng sanh, chẳng còn sa đọa xuống hàng nhị thừa nữa—As followers of the Bodhisattva path they continue to work for the salvation of all beings, and do not fall back to the level of Lesser Vehicles with their concern limited to individual salvation. c) Niệm Bất Thoái: Do not fall back from their mindfulness—Giờ phút nào tâm niệm cũng như dòng nước chảy vào biển “Nhất Thiết Trí”—From mind-moment to mind-moment, they flow into the ocean of all knowledge. 2) Bậc Bất Thối Chuyển: Vị chẳng bao giờ rơi rớt lại những đường thấp hơn—One who never recedes. One who never reverts to a lower condition. 3) Bồ Tát Bất Thối Chuyển, trải qua quá trình tu hành dài một đại a tăng kỳ kiếp mà thành tựu quả vị Phật, chưa hề thối chuyển: A Bodhisattva who, in his progress towards Buddhahood, never retrogrades to a lower state than that to which he has attained. 4) Theo Kinh A Di Đà thì dù cho người vãng sanh vào địa vị thấp nhất trong cõi Tịnh Độ, dù phải mang theo nghiệp còn sót lại, nhưng vẫn không còn thoái chuyển nữa: According to The Amitabha Sutra, even those who dwell in lowest level of the Pure Land, and have been born there bringing along their karmic burdens, do not fall back from their position, from their practice, or from their mindfulness.
a bệ bạt trí bồ tát
Xem Bất Thối Bồ tát.
A Bệ Bạt Trí, A Tì Bạt Trí
(s: avaivart, 阿鞞跋致): còn gọi là A Tỳ Bạt Trí (阿毘跋致), A Duy Việt Trí (阿惟越致); ý dịch là bất thối chuyển (不退轉, không thối lui), tức là không thối lui trên con đường tiến lên thành Phật. Đây là tên gọi của giai vị Bồ Tát, trãi qua tu hành một đại A Tăng Kỳ Kiếp mới có thể đạt đến địa vị này. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 38, Vãng Sanh Phẩm (往生品), có đoạn rằng: “Cúng dường thập phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, cố nhập Bồ Tát vị, tức thị A Bệ Bạt Trí địa (供養十方諸佛、通達菩薩道、故入菩薩位、卽是阿鞞跋致地, cúng dường mười phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, nên nhập vào địa vị Bồ Tát, tức là cảnh địa không thối chuyển).” Hay trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366) cũng có đoạn: “Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí (極樂國土眾生生者、皆是阿鞞跋致, những chúng sanh nào sanh vào quốc độ Cực Lạc, đều là bực Không Thối Chuyển).”
a bố sa la tư
(阿布沙羅斯) Phạm: Apsaras. Tên một vị Thần nữ của Bà-la-môn giáo Ấn độ. Theo La-ma-diễn-na và sách Vãng Thế, thì A-bố-sa la tư là do thần trời và a-tu-la A-ba-mạt-lợi-ca khuấy động trong biển sữa mà sinh ra, là vợ của Càn-thát-bà, sống ở bờ sông, thường thổi sáo, nhảy múa, ca hát, chơi giỡn dưới gốc cây si hoặc cây Bồ đề; hay làm mê loạn lòng người và thích đánh bạc. Theo người ta nói, vị thần này có khả năng giúp người đánh bạc gặp vận đỏ.
a bộ đàm
Át Phù Đà địa ngục—The Arbuda hell—See Địa Ngục (b) (1).
a ca ni trá (thiên)
Akanistha (S)
a ca ni trá thiên
Xem Sắc cứu cánh thiên.
; (阿迦尼吒天) Phạm: Akaniwỉha-deva, Pāli: Akaniỉỉha-deva. Là một trong mười tám từng trời cõi Sắc, một trong năm trời Tịnh cư. Cũng gọi A-ca-nị-tra thiên, A-ca-ni-sư-tra thiên. Dịch ý là Nhất cứu kính thiên, Nhất thiện thiên. Cõi trời ở chỗ cao nhất của các từng trời Thiền thứ tư, cũng là tầng trời cao nhất trong mười tám tầng trời cõi Sắc và là cõi trời cùng tột của các cõi trời có hình thể. Vì thế cũng gọi là Chất ngại cứu kính thiên (trời cao tột còn chất ngại), Sắc cứu kính thiên (trời cao tột còn có sắc). Bên trên cõi trời này là các từng trời của cõi Vô sắc, ở đây chỉ có tâm thức chứ không có hình thể. [X. kinh Trường A Hàm Q.20; luận Thuận Chính Lí Q.21; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.20].
a ca sắc
Agham or Akasa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, agham có hai nghĩa đối nghịch nhau, một là vật chất hữu hình, hai là không giới vô hình—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Agham has two opposite interpretations, substantial and unsubstantial.
a ca xa
Akasa (skt)—Hư không—The sky space—Atmosphere—The air.
a chiên đa thạch quật
(阿旃多石窟) A chiên đa, Phạm:Ajantà, là quần thể chùa viện hang đá được phát hiện ở phía tây Ấn độ và mạn Đông bắc Áo-lan-ca (Pāli: Aurangàbàd) và gò Nhân đức á-lí (Pāli: Inhyàdri) thuộc thôn A-chiên-đa, lớn nhỏ gồm hai mươi chín hang, trong số này có hai mươi bảy hang được nhận rõ, gồm bốn viện tháp (Phạm:caitya, các hang 9, 10, 19, 26) và hai mươi ba viện tăng (Phạm: vihàra). Viện tháp là nơi chư tăng hội họp lễ bái. Về cách cấu trúc thì thiên tỉnh (giếng trời, tức là trần nhà) là hình vòm cung, rường làm bằng gỗ, chỗ lối vào do hai cây cột chia làm ba khoảng, phía trên trổ cửa sổ hình móng ngựa, bên trong có vài chục cây cột gỗ dọc theo mặt vách, mỗi cột cách nhau chừng một mét. Trong viện có tháp Phật, chính giữa có khắc tượng đức Thích tôn. Viện tăng là nơi chư Tăng nghỉ ngơi. Về cách cấu trúc, chỗ cửa vào có khoảng trống hình vuông, bốn mặt đục mở rất nhiều phòng tăng nhỏ. Trên các đầu cột, lan can, các bức vách, ngoài việc điêu khắc tượng Phật, còn chạm trổ hình người và các động vật, trông rất đẹp. Những hang động này không phải được hoàn thành trong cùng một thời đại mà những hang sớm nhất có thể đã được xoi đục vào thế kỉ thứ II đến thế kỷ thứ I trước Tây lịch (các hang 9, 10), còn đại đa số là sản phẩm của thế kỉ thứ V đến thứ VII Tây lịch, tập trung ở các hang 1, 2, 16, 17. Nội dung lấy tranh vẽ về truyện Phật, tranh vẽ sự tích bản sinh (sự tích tiền thân của Phật) làm chính. Trên vách, thiên tỉnh (vòm nóc), rường cột, thì dùng chất thuốc nước với kĩ thuật đặc biệt vẽ thành các bức tranh. Các bức bích họa ở Ấn độ được giữ gìn đến nay, không chỉ riêng ở A-chiên-đa, nhưng nếu bàn về qui mô rộng lớn, nét bút tinh xảo, bảo tồn hoàn chỉnh, thì bích họa ở các nơi khác không thể sánh kịp. Mặt vách dưới mái hiên, thiên tỉnh, chỗ nào cũng có vẽ tranh. Trong các hang, các tranh vẽ ở bốn hang 1, 2, 16, 17 tương đối tróc ít. Quần thể hang đá này được biết đến sớm nhất trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 của ngài Huyền Trang. Ngài Huyền Trang du học ở Ấn-độ, vào năm Trinh Quán 12 (638), ngài đến nước Ma-ha Quần Thể Hang Đá ở Ajanta (Ấn Độ) thích sá thuộc Nam Ấn Độ, có trình bày một cách khái quát về toàn bộ quần thể hang đá này. Năm 1879, một vài sĩ quan của sư đoàn Madras đã tìm thấy hang đá ở A-chiên-đa. Năm 1828, các ông Gresley, Ralph và bác sĩ J. Bird đi sâu vào việc nghiên cứu học thuật một cách tỉ mỉ. Ông Ralph có đăng một bài phát biểu về các bích họa trên những hang động này trên tờ tạp chí của Á-tế-á học hội. Năm 1839, ông Black cũng ấn hành cuốn Rockcut Temples in India (Những chùa Hang ở Ấn độ), khiến các học giả trên thế giới chú ý. Năm 1896, sau khi ông Griaffiths xuất bản cuốn The Paintings In The Buddhist Cave Temples Of Ajanta (Tranh vẽ trong chùa hang động của Phật giáo ở A-chiên-đa), thì địa vị của A-chiên-đa về phương diện Phật giáo sử và mĩ thuật sử lại càng được xác lập. [X. Giải thuyết Tây Vực Kí; Ấn-độ Phật Tích Thực Tả giải thuyết].
a chiết la
Acara (skt). 1) Vị A La Hán trong Vương Quốc Andhra: An arhat of the kingdom of Andhra. 2) Người sáng lập tự viện A Chiết La: Founder of the Acara monastery.
; (阿折羅) Phạm: Àcàra. Dịch ý là Sở hành. Vị A-la-hán, người miền Tây Ấn- độ. Để đền đáp công ơn dưỡng dục của thân mẫu, Ngài thường xây dựng các chùa thờ Phật để hồi hướng công đức cho mẹ Ngài. Cứ theo điều Ma- ha-thích-sá quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 thì miền Đông nước này có dẫy núi lớn, nhiều ngọn núi trùng điệp quanh co cao chót vót, trong đó có một ngôi già lam (chùa) do A-la-hán A-chiết-la xây dựng, nhiều tầng gác, cao hơn trăm thước. Trong chùa có pho tượng Phật bằng đá cao hơn 70 thước. Thời xưa, Bồ-tát Trần Na đã từng ở chùa này. Cứ đó mà suy thì có thể biết: Ngài A-chiết-la phải có trước Bồ-tát Trần-na. [X. Đại đường Tây Vực Kí Q.10 Án-đạt-la quốc điều, Q.11 Phạt-lạp-tì quốc điều; Giải thuyết Tây Vực Kí].
a chu đà
Tên của Mục Kiền Liên khi còn là một vị Tiên—Name of Mahamaudgalyayana as a rsi.
a chu đà na
See Arjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a châu đà
(阿州陀) Tức là ngài Ma Ha Mục-kiền-liên. Cứ theo kinh Thái tử Tu-đại-noa chép, thì thuở xưa ngài Mục-kiền-liên là đạo nhân A-châu-đà, gặp Thái tử Tu-đại-noa (tức là tiền thân của đức Thích Tôn khi còn ở địa vị tu nhân) ở núi Đàn-đặc, có phát nguyện, khi Thái tử được đạo Bồ-đề cao tột, thì sẽ làm đệ tử thần thông bậc nhất của Ngài. (xt. Mục Kiền Liên).
a chất
Xem A xà Thế.
a chất mục đa
Atimuktaka (S)Một loại hoa cõi trời.
a chất đạt tản
(阿質達霰) Phạm: Ajitasena. Dịch ý là Vô năng thắng tướng (ông tướng không ai hơn được), người Bắc Ấn-độ. Theo truyền thuyết, khoảng năm Khai nguyên đời Đường, ngài ở nước An Tây (Cưu Tư) dịch xong các bộ kinh như: Đại Uy Lực ô-xu-sắt-ma Minh Vương 3 quyển, Uế Tích Kim Cương Thuyết Thần Thông Đại Mãn Đà-la-ni Pháp Thuật Linh Yếu Môn 1 quyển, kinh Uế Tích Kim Cương Bách Biến Pháp 1 quyển. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục quyển 14, sau khi đã liệt kê 3 bộ kinh trên đây, có ghi (Đại 55,878 Trung): Năm Khai Nguyên 20, nhân dịp ngài Tam tạng Pháp Nguyệt vào triều cống, ngài có mang ba bộ kinh ghi ở trên vào Kinh đô, không kịp đưa vào Khai Nguyên Mục Lục, nhà vua bèn cho phép biên vào Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục. Cứ đó suy ra, thì ngài A-chấ- đạt tản hình như chưa hề đến Trung Quốc, mà chỉ ở An Tây dịch kinh thôi. Nhưng phần ghi chú về bùa chú trong kinh Uế Tích Kim Cương Cấm Bách Biến Pháp rất là quái gở lạ lùng, xưa nay bị cho là kinh giả, thì lời trong Trinh Nguyên Lục cũng khó khiến người ta tin được. [X. Tục Khai Nguyên Lục, Q. Thượng; Đại Minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục (bản dịch tiếng Anh)].
a chất, a xà thế
Ajàtasatru (S)
a chế đa
A Dật Đa—See Ajita.
a cá ni trá
Xem Sắc cứu cánh thiên.
a câu lư xá
Akrosa (skt)—Mạ lỵ—Scolding—Abusing.
a cưu la gia la
Akulakara (skt). 1) Quấy rầy: Phiền hà—Disturbing, upsetting. 2) Tên của một thứ gió: Name of a wind.
a da cát lị bà
Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.
a da luận
Ayur-śāstra (S)Vệ đà.A da yết lị bà Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.
a da mục khư quốc
(阿耶穆佉國) A-da-mục-khư, Phạm: Ayomukhì. Một nước xưa ở Trung Ấn Độ. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 nói, cả nước chu vi hai nghìn bốn trăm dặm, thủ đô ở gần sông Hằng, rộng hơn hai mươi dặm. Nhân dân hiền lành, phong tục chất phác. Có năm ngôi chùa với hơn một nghìn vị tăng, tu học giáo pháp Chính Lượng Bộ của Tiểu thừa. Còn có hơn mười ngôi đền thờ trời, đạo khác ở lẫn lộn. Về phía Đông nam của thủ đô không xa, bên bờ sông Hằng, có ngôi tháp do vua A-dục xây dựng, cao hơn hai trăm thước, khi xưa có lần đức Phật đã nói pháp ở đây trong ba tháng, bên cạnh tháp còn lại dấu vết chỗ ngồi và đi dạo của bốn đức Phật thời quá khứ. Cứ theo truyền thuyết, ngày xưa Luận sư Phật-đà-đà-sa (Pāli: Buddhadasa, Giác sứ) soạn luận Đại-tì-bà-sa của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở nước này. Ngài Vô Trước theo Bồ-tát Di Lặc học các luận Du Già Sư Địa, Đại Thừa Trang Nghiêm, Trung Biên Phân Biệt v.v... trong rừng Đại-am-một-la về phía Tây nam thủ đô nước này. Ngài Thế Thân được ngài Vô Trước khuyến hóa qui y Đại thừa và soạn hơn một trăm bộ luận Đại thừa cũng ở nước này. Vị trí nước này tương đương với vùng Baiswara ở tiểu bang Oudh về mạn Nam sông Hằng hiện nay. [X. Đại Từ Ân Tự Tam tạng Pháp sư truyện Q.2; T. Watters: On Yuan Chwang; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].
a da đát na
(阿耶怛那) Phạm: Àyatana. Cũng gọi A-dã-đát-na. Dịch ý là xứ (chỗ), nhập xứ (chỗ vào). Xứ, nghĩa là chỗ sinh ra; là chỗ nương, chỗ duyên theo của sáu căn và sáu cảnh để sinh ra tâm, tâm sở. Cũng tức là mười hai xứ. Câu Xá Luận Quang Kí quyển 1 phần cuối (Đại 41,28 Thượng) nói: A-da-đát-na, dịch cũ là nhập, dịch mới là xứ. Dịch nhập thì không đúng. Nếu dịch nhập thì tiếng Phạm phải là Bát-la-phệ-xá. Các kinh dịch cũ cũng có kinh dịch là xứ, như Không vô biên xứ và A-luyện-nhã xứ, đều giống với chữ xứ .
a di
(阿夷) A di. Phạm: Àrya, Pāli: Arya. Dịch âm: A-lê-da, gọi tắt lầm là A-di. Dịch ý: Tôn giả, Thánh giả. Là tiếng gọi một cách tôn kính những bậc thông hiểu chân lí. A-di. Tên khác của A-tư-đà (Phạm: Asita), vị tiên ở nước Ca-tì-la-vệ trung Ấn Độ. Khi đức Thích tôn giáng sinh, tiên A-tư-đà được mời đến xem tướng cho Ngài và đoán trước là Ngài sẽ thành Phật. Theo kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 7 đến quyển 10, thì vị tiên này có đủ năm thần thông, thường ra vào nơi các trời hội họp trên cõi trời Ba mươi ba (Đao lợi thiên), không nơi nào là không được tự tại. [X. kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.27; luận Đại Trí Độ Q.29; truyện Cao Tăng Pháp Hiển]. (xt. A Tư Đà).
a di đa
mitàbha (S). Amita vô lượng immeasurable. Amitàbha vô lượng quang immeasurable splendour.
a di đà
Amita, Amitabha, or Amitayus (skt). (A) Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha—See Kinh A Di Dà in Appendix A (1) a) Có nhiều tên gọi Phật A Di Đà, tuy nhiên, Amitabha là tên thường được dùng nhất để gọi Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. A Di Đà là một vị Phật phi lịch sử, trước thời Phật Thích Ca, được tôn kính bởi các trường phái Đại Thừa. A Di Đà Phật đang chủ trì Tây Phương Tịnh Độ, nơi mà chúng sanh được vãng sanh nhờ thành tâm trì niệm hồng danh của Ngài, nhứt là vào lúc lâm chung. A Di Đà là vị Phật được tôn kính rộng rãi nhất trong các vị Phật phi lịch sử. Kỳ thật, trong các tông phái Tịnh Độ, Ngài che mờ cả Phật Tỳ Lô Giá Na và Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni. Ngài còn nhiều tên khác như Amitabha Buddha—Amitayus (skt)—Amida—Amita (p)—There are several names for “A Di Đà Phật” in several other languages; however, Amitabha is the most commonly used name for the Buddha of Infinite Light and Infinite Life. A transhistorical Buddha venerated by most Mahayana schools. He presides over the Western Pure Land where anyone can be reborn through utterly sincere recitation of His Name, particularly at the time of death. Amitabha is the most widely venerated of the non-historical or Dhyani-Buddhas. Indeed, in the Pure Land sects, he overshadows both Vairocana and the historic Buddha Sakyamuni. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy - Tín ngưỡng Di Đà tiêu biểu bởi Tịnh Độ Tông của ngài Pháp Nhiên, Chân tông của Thân Loan, và Thời Tông của Nhất Biến cho thấy một sắc thái độc đáo của Phật giáo. Trong lúc tất cả các tông phái khác của Đại Thừa chuyên chú về tự giác, thì các tông phái Tịnh Độ lại dạy y chỉ nơi Phật lực: Amita-peitism, as represented by the Pure Land School of Fa-Ran, the Shingon of Shin-Ran, and Shih-Tsung of I-Bien shows a unique aspect of Buddhism. While all other schools of Mahayana insist on self-enlightenment, these schools teach sole reliance on the Buddha's power. - Đức Phật của những tông phái Phật giáo khác là Đức Thích Ca Mâu Ni, trong lúc Đức Phật của Tịnh Độ tông là A Di Đà hay Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ: The Buddha of all other exoteric schools is Sakyamuni, while the Buddha of these schools is Amita, or Amitabha, or Amitayus. - Quốc độ của Đức Phật A Di Đà là Tây Phương Cực Lạc: The Land of Bliss of Amitabha Buddha is laid in the Western Quarter. - Phán giáo theo quan điểm của Pháp Nhiên là chia thành hai thuyết Thánh đạo và Tịnh Độ, nguyên lai do Đạo Xước đề xướng ở Trung Hoa vào khoảng năm 645 sau Tây Lịch. Học thuyết đầu là “Nan Hành Đạo,” trong lúc học thuyết sau là “Dị Hành Đạo” được Long Thọ xác định: The critical division of the Buddha's teaching adopted by Fa-Ran was into the two doctrines of the Holy Path and the Pure Land, originally proposed by T'ao-Ch'o of China in 645 A.D. The former is the difficult way to traverse while the latter is the easy way to travel defined by Nagarjuna. - Còn một lối phân chia khác do ngài Thế Thân đề xướng, và Đạo Xước minh giải, đó là con đường tự lực và tha lực. Tha lực ở đây có nghĩa là năng lực của Đức Phật A Di Đà, chớ không phải của bất cứ ai khác. Ai đi theo Thánh đạo có thể thành Phật quả trong thế gian nầy nếu họ có đầy đủ căn cơ, trong lúc có những người chỉ khát vọng vãng sanh Tịnh Độ và thành Phật tại đó: There is another division which was proposed by Vasubandhu and elucidated by T'ao-Ch'o, that is, the ways of self-power and another's power. Another's power here means the power of Amitabha Buddha, not any other's power. Those who pursue the Holy Path can attain Buddhahood in this world, if they are qualified, while other just want to seek rebirth in the Pure Land and attain the Buddhahood there. See Vô Lượng Thọ. (B) Những tên gọi khác nhau của Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha also has several other titles 1) Vô Lượng Quang Phật: Buddha of Boundless Light. 2) Vô Biên Quang Phật: Buddha of Unlimited Light. 3) Vô Ngại Quang Phật: Buddha of Irresistable Light. 4) Vô Đối Quang Phật: Buddha of Incomparable Light. 5) Diệm Vương Quang Phật: Buddha of Yama or Flame-King Light. 6) Thanh Tịnh Quang Phật: Buddha of Pure Light. 7) Hoan Hỷ Quang Phật: Buddha of Joyous Light. 8) Trí Huệ Quang Phật: Buddha of Wisdom Light. 9) Bất Đoạn Quang Phật: Buddha of Unending Light. 10) Nan Tư Quang Phật: Buddha of Inconceivable Light. 11) Vô Xưng Quang Phật: Buddha of Indescribable Light. 12) Siêu Nhựt Nguyệt Quang Phật: Buddha of Light Surpassing that of Sun and Moon. 13) Vô Lượng Thọ Phật: Buddha of Boundless Age (Life). 14) Vô Lượng Cam Lộ Vương Như Lai: Buddha of Infinite King of Sweet-Dew—Sweet-Dew King ** For more information, please see Amita inSanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Amitabha in English-Vietnamese Section.
a di đà bà
Amitabha Buddha—See A Di Đà.
a di đà bổn nguyện
Những lời cầu nguyện căn bản của Đức A Di Đà. Những lời nguyện căn bản trong tứ thập bát nguyện của Ngài—The original vows of Amitabha Buddha—The basic essential vows in his forty-eight vows: 1) Trong cõi Tịnh Độ sẽ không có một điều kiện tái sanh vào cõi thấp kém hay ác đạo: In the Pure Land, there will be no inferior modes or evil path of existence. 2) Trên cõi Tịnh Độ sẽ không có người nữ, người nữ nào được vãng sanh Tịnh độ đều biến thành nam giới: In the Pure Land, there will be no women, as all women who are reborn there will transform at the moment of death into men. 3) Không có sự khác biệt bề ngoài với những chúng sanh Tịnh độ, mọi người đều có 32 tướng hảo: There will be no differences in appearance there, every being is to have 32 marks of perfection. 4) Mỗi chúng sanh Tịnh độ đều có một nhận thức hoàn hảo về tiền kiếp của mình: Every being in the Pure Land posseses perfect knowledge of all past existences. 5) Mọi người đều có Thiên nhãn thông: Every being possesses a Divine eye—See Thiên Nhãn Thông. 6) Mọi người đều có Thiên Nhĩ thông: Every being possesses a Divine Ear—See Thiên Nhĩ Thông. 7) Mọi người đều có Thần túc thông: Every being possesses the ability to move about by supernatural means—See Thần Túc Thông. 8) Mọi người đều có Tha Tâm thông để có thể đọc thấy ý nghĩ của người khác: Every being possesses the ability to know the thoughts of others. 9) Mọi chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu Ngài đều phát bồ đề tâm và nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ: All beings of the worlds in all ten directions, upon hearing the name of Amitabha, will arouse Bodhicitta and vow to be reborn in the Western Pure Land after death. 10) Phật A Di Đà cùng Thánh chúng sẽ xuất hiện tiếp dẫn vào lúc lâm chung, những ai đã phát tâm Bồ đề sau khi nghe được hồng danh của Ngài (đây là lời nguyện quan trọng nhất): Amitabha and all saints will appear at the moment of their death to all beings who have aroused Bodhicitta through hearing his name (this is the most important vow). 11) Ngài nguyện sẽ làm cho tất cả những ai khi nghe đến tên Ngài, hướng ý nghĩ của mình về đất Tịnh Độ và tích lũy thiện nghiệp để vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc: All beings who through hearing his name have directed their minds toward rebirth in his Pure Land and have accumulated wholesome karmic merits will be reborn in the Western Paradise. 12) Sau khi vãng sanh Tịnh Độ, chúng sanh chỉ còn một lần tái sanh duy nhất trước khi lên hẳn Niết Bàn, chúng sanh ở đây không còn rơi vào cõi thấp nữa: After rebirth in the Pure Land, only one further rebirth will be necessary before entry into Nirvana, no more falling back into lower paths.
a di đà bổn nguyện và quang minh lực
The power of Amitabha Buddha's original vow and his power of light.
a di đà chú
(阿彌陀咒) Là chân ngôn của đức Phật A di đà. Cũng gọi A di đà đại tâm chú, Thập cam lộ chú, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, Vô lượng thọ Như lai căn bản đà-la-ni. Đà-la-ni căn bản biểu tỏ nội chứng, bản thệ, công đức của Vô Lượng Thọ Như Lai, có đủ các công đức hiện đời này được yên ổn, tội chướng tiêu diệt, (sau khi chết) được sinh về cõi Tịnh độ an dưỡng Cực lạc. Bài chú được đọc tụng phổ thông hơn cả là Đà-la-ni căn bản của đức Vô lượng thọ Như lai trong Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hành Cúng Dường Nghi Quĩ do ngài Bất Không đời Đường dịch. Ngoài ra, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch, Phật thuyết A-di-đà Phật căn bản bí mật thần chú kinh, do ngài Bồ-đề-lưu-chi đời Bắc Ngụy dịch, Đà-la-ni tập kinh do ngài A-địa-cù-đa đời Đường dịch, A-di-đà Phật thuyết chú, mất tên người dịch, Phật Thuyết Cam Lộ Đà-la-ni kinh, do ngài Thực-xoa-nan-đà đời Đường dịch v.v... tất cả các kinh trên đây đều có ghi chép bài chú này, duy câu văn có hơi khác nhau. [X. A Di Đà Kinh Bất Tư Nghị Thần Lực truyện].
a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh
Amita-dundubhi-svararāja-dhāraṇī sūtra (S)Cổ âm thanh vương kinhTên một bộ kinh.
; (阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經) Kinh, 1 quyển. Không rõ người dịch. Gọi tắt: Cổ Âm Thanh Vương kinh, Cổ Âm Thanh kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung tường thuật việc đức Phật ở thành Chiêm-ba nói về thế giới Cực Lạc bên phương Tây và công đức trang nghiêm của đức Phật A-di-đà cho các vị Tỉ-khưu nghe. Ngài nói, tên nước của Phật A-di-đà là Thanh Thái, cha là Nguyệt Thượng, mẹ là Thù Thắng Diệu Nhan, con là Nguyệt Minh, đệ tử thị giả là Vô Cấu Xưng, đệ tử trí tuệ là Hiền Quang. Sau hết, Ngài dạy: thụ trì đọc tụng Đại Đà-la-ni Cổ Âm Thanh Vương, sáu giờ chuyên niệm suốt ngày đêm, chỉ trong mười ngày, nhất định được thấy đức Phật A-di- đà. Nhờ có nói về cha mẹ của Phật A-di-đà mà bộ kinh này nổi tiếng. [X. Đà-la-ni Tạp tập Q.4; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.13; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.6].
a di đà hộ ma
(阿彌陀護摩) Một trong những phép tu của Mật giáo. Là phép bí mật lấy Phật A-di- đà làm vị tôn chính, làm phép hộ ma trước tôn tượng Ngài để cầu diệt tội sinh trí, sinh về Tịnh độ, hoặc tu để cầu phúc cõi âm cho người đã khuất. (xt. Hộ Ma).
a di đà kinh
Aparinitayus sūtra (S), , Amitakyo (J), Amitabha SutraA di đà Tam-da-tam Phật-tát-lâu-Phật-đàn quá độ nhân đạo KinhTên một bộ kinh. Đại Chánh Tạng, tập 12, Bộ A di đà Kinh, 2 quyền.
; Sukhàvatì-vyùha-sùtra. (S) Sùtra of the Amitàbha Buddha.
; (阿彌陀經) I. A-di-đà kinh, Phạm: Aparimitàyussùtra, 2 quyển. Cũng gọi A-di- đà-tam-da-tam-phật-tát-lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo kinh, Đại A-di- đà kinh. Do ngài Chi Khiêm đời Ngô (222-280) dịch, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Kinh này là bản dịch khác của kinh Vô Lượng Thọ, và là một bộ kinh được thành lập sớm nhất trong các bản dịch kinh Vô lượng thọ. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.5; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.2] (xt. Đại A Di Đà Kinh). II. A-di-đà kinh. Phạm: Sukhàvatyamftavyùha. Dịch âm: Tốc-ca-ngõa-đê-a-di-lí-đát-vĩ-dụ-ha, 1 quyển. Cũng gọi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh, Tiểu Vô Lượng Thọ kinh, Tiểu kinh, Tứ Chỉ kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Một trong ba bộ kinh Tịnh Độ. Kinh này vốn được biên soạn ở miền Bắc Ấn Độ, vào lúc mà tín ngưỡng Phật A-di-đà đang thịnh hành, sau khi kinh Đại Vô Lượng Thọ đã được thành lập, tức vào khoảng thế kỉ thứ nhất. Kinh này đã được ngài Cưu-ma-la-thập (Phạm: Kumàrajìva, 344-414) dịch ra Hán văn vào năm Hoằng Thủy thứ 4 (404) đời Diêu Tần. Sau bản của ngài Cưu-ma-la-thập, có hai bản dịch khác nữa: 1. Kinh Tiểu Vô Lượng Thọ, 1 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch vào đầu năm Hiếu Kiến (454-456) đời Hiếu Vũ Đế nhà Lưu Tống. Bản dịch này đã bị thất lạc từ lâu, hiện chỉ còn văn chú và văn lợi ích. 2. Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ, 1 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy năm đầu (650) đời vua Cao Tông nhà Đường, cũng được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Bản dịch của ngài La-thập, văn dịch ngắn gọn, trong sáng và trôi chảy, nên được rất nhiều người đọc tụng. Nội dung kinh này trình bày sự trong sạch đẹp đẽ ở Tịnh độ phương Tây của Phật A-di-đà, chư Phật chân thành khen ngợi chúng sinh sinh về Tịnh độ, chư Phật ở sáu phương ấn chứng, và trì danh niệm Phật v.v... làm cho tín ngưỡng Tịnh độ được xác nhận rõ ràng và dễ dãi. Có rất nhiều bản chú sớ về kinh này, trọng yếu hơn cả thì có: A- di-đà Kinh Nghĩa Kí 1 quyển của ngài Trí Khải, A-di-đà Kinh Pháp Sự Tán 2 quyển của ngài Thiện Đạo, A-di-đà kinh sớ, 1 quyển của ngài Tuệ Tịnh, A-di-đà kinh sớ 1 quyển và A-di-đà Kinh Thông Tán Sớ 3 quyển của ngài Khuy Cơ, A-di-đà kinh sớ 1 quyển của ngài Nguyên Hiểu v.v... Thời gần đây, nhân việc Đại học Oxford san hành kinh Di-đà bản tiếng Phạm, Nhật Bản bèn dấy lên phong trào nghiên cứu kinh này rất là sôi nổi. Như Đằng Ba Nhất Như soạn kinh A-di-đà văn Phạm được dịch ra bốn thứ tiếng Nhật, Anh, Trung Hoa, Triều Tiên; Địch Nguyên Vân Lai soạn ba bộ kinh Tịnh Độ, Phạm, Tạng, Nhật, Anh đối chiếu, và Mộc thôn Tú hùng soạn The Smaller Sukhàvatìvyùha, Description of Sukhàvatì; The Land of Bliss, collaterating Sanskrit, Tibetant, Chinese texts with commentarial foot-notes. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4, Q.5, Q.8; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q.3].
a di đà kinh nghĩa sớ
(阿彌陀經義疏) I. A-di-đà kinh nghĩa sớ, 1 quyển. Ngài Cô Sơn Trí Viên đời Tống soạn. Cũng gọi Phật Thuyết A Di Đà Kinh Sớ Tinh Tự, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Là sách chú thích kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Trước khi giải thích phần chính văn, soạn giả lập ra năm lớp nghĩa sâu kín: 1. Lấy hai đức Phật đã chứng quả ở hai cõi là đức Thế tôn ở Ta bà và đức Di đà ở Tịnh độ làm tên kinh. 2. Lấy thực tướng phương đẳng làm thể của kinh. 3. Lấy tín, nguyện, tịnh nghiệp làm tông chỉ của kinh. 4. Lấy bỏ khổ được vui làm dụng. 5. Lấy sinh tô phương đẳng Đại thừa làm giáo. Toàn văn chia làm ba phần: Tựa, Chính tông, Lưu thông, rồi lần lượt theo thứ lớp mà giải thích chương cú. II. A-di-đà kinh nghĩa sớ, 1 quyển. Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu đời Tống soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Cũng là sách chú thích bản dịch kinh A-di-đà của ngài Cưu-ma-la-thập. Trước phần chính văn, soạn giả lập ra bốn môn: giáo, lí, hành, quả. 1. Giáo, chia làm hai thứ: Giáo hưng, Giáo tướng. Giáo hưng, trình bày ý nghĩa đức Như Lai ra đời, mục đích là khiến chúng sinh chán nỗi khổ Ta bà, hâm mộ Tịnh độ cực lạc, chấp trì danh hiệu mà được vãng sinh. Giáo tướng, nói rõ giáo môn Tịnh độ là pháp Đại thừa viên đốn thành Phật. 2. Lí, là thể của giáo. Nói về nghĩa chung, Đại thừa là lí được giải thích rõ ràng (lí sở thuyên). Nói về nghĩa riêng, lấy công đức y báo, chính báo trang nghiêm không thể nghĩ bàn của đức Phật A-di-đà tu nhân cảm quả làm lí sở thuyên. 3. Hành, là tông chỉ của giáo. Nói theo nghĩa chung, thì chỉ cho sáu độ muôn hạnh; nói theo nghĩa riêng, thì chỉ cho tịnh nghiệp. Kinh này chuyên nêu rõ pháp trì danh, đó chính là tông chỉ của kinh. 4. Quả, là dụng của giáo. Quả gần, được thân pháp tính, ở Tịnh độ Đồng cư. Quả xa, được A-nậu-bồ-đề không trở lui, chứng pháp thân trong sạch, ở cõi Pháp tính, rốt ráo thành Phật.
a di đà kinh sớ
(阿彌陀經疏) I. A-di-đà kinh sớ, 1 quyển. Ngài Khuy Cơ đời Đường soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Là sách chú thích kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma- la-thập dịch. Chia làm bảy môn:1. Giải rõ thân Phật A di đà gồm báo thân và hóa thân. Bồ tát Thập địa thấy thân thụ dụng của Phật; Bồ tát dưới Thập địa và phàm phu chỉ thấy thân ứng hóa. 2. Về cõi Phật, giải rõ bốn loại: cõi Pháp tính, cõi Tự thụ dụng, cõi Tha thụ dụng, cõi Biến hóa. 3. Giải rõ nghĩa không trở lui. 4. Giải rõ tâm khen ngợi nghiêng hẳn về một bên, trích dẫn lời trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sinh, nếu nói trong mười phương đều có Tịnh độ, thì tâm chúng sinh sẽ lơ là, không vội vã; nếu chỉ nêu rõ một cảnh Tịnh độ, thì tâm chúng sinh ân cần thiên trọng, vì thế nên chỉ khen ngợi Tịnh độ phương Tây. 5. Nói sơ lược về thể tính: Tịnh độ lấy trí duy thức của Phật và Bồ-tát làm thể. 6. Trình bày bộ loại nhiều ít, nêu rõ tông thú.7. Phân tích, giải thích nghĩa văn chính trong kinh. II. A-di-đà kinh sớ, 1 quyển. Sa môn Nguyên Hiểu người nước Tân La (Triều Tiên ngày nay) soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Cũng là sách chú thích kinh A-di-đà bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập. Trước hết, soạn giả trình bày đại ý, bảo kinh này mang ý nghĩa lớn lao của việc đức Phật ra đời, là cửa chính yếu để vào đạo của bốn chúng Tỉ-khưu, Tỉ-khưu-ni, Ưu- bà-tắc, Ưu-bà-di, ... tai nghe tên kinh liền vào một thừa, không còn trở lui; miệng niệm danh hiệu Phật thì ra khỏi ba cõi, không quay lại nữa. Thứ đến, giải thích tông chỉ của kinh, bảo kinh này lấy vượt qua ba cõi và hai thứ trong sạch làm tông chỉ, khiến cho chúng sinh, đối với đạo vô thượng, không còn trở lui. Sau cùng, giải thích văn kinh, lấy nhiều thiện căn phúc đức nhân duyên phát tâm bồ đề trong phần Chính tông làm hạnh tu chính yếu, và lấy việc trì niệm tên hiệu Phật từ một đến bảy ngày làm hạnh tu phụ trợ, nhờ đó mà được vãng sinh.
a di đà kinh sớ sao
(阿彌陀經疏鈔) Sớ sao, 4 quyển. Ngài Châu hoành đời Minh soạn, thu vào Vạn Tục Tạng tập 33. Nội dung sách này là chú giải kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma- la-thập dịch, rồi phỏng theo tác phẩm Hoa Nghiêm Kinh Sớ Diễn Nghĩa Sao của ngài Trừng Quán, soạn giả lại tự làm lời sao để giải thích thêm. Bản sớ sao này chia làm ba môn: 1. Thông tự đại ý, trong phần tựa chung, giải thích đại ý của bộ kinh. 2. Khai chương thích văn, mở ra từng chương để giải thích văn kinh. 3. Kết thích chú ý, kết thúc giải thích ý nghĩa chú Vãng sinh. Trong đây, riêng phần giải thích văn kinh lại có mười môn: Giáo khởi sở nhân, Tạng giáo đẳng nhiếp, Nghĩa lí thâm quảng, Sở bị giai phẩm, Năng thuyên thể tính, Tông thú chỉ qui, Bộ loại sai biệt, Dịch thích tụng trì, Tổng thích danh đề, Biệt giải văn nghĩa. Ngài Châu Hoành dựa vào ý chỉ chủ yếu của kinh Hoa Nghiêm mà suy diễn cái lí trong văn kinh, rồi phán định rằng, kinh A-di-đà thuộc về Đốn giáo, thông cả Chung giáo và Viên giáo. Lại mỗi môn đều xứng lí giải thích, phát huy ý nghĩa sâu xa của kinh, và bảo phải đầy đủ cả tín, nguyện, hành. Sau hết, nêu ra thần chú Đắc sinh Tịnh độ, bản dịch của ngài Cầu-na-bạt- đà la đời Lưu Tống, khuyên người trì tụng. [X. Phật Điển Sớ Sao Mục Lục Q.Hạ; Tịnh Độ Chân Tông Giáo Điển Chí Q.3].
a di đà mạn đà la
(阿彌陀曼陀羅) Mạn-đà-la lấy Phật A-di-đà làm tôn vị chính để kiến lập. Cũng gọi A-di-đà mạn-đồ-la. Gồm có: Lí thú mạn-đà-la kiến lập theo hình thức Kim cương giới, Cửu phẩm mạn-đồ-la và Bát mạn-đồ-la kiến lập theo hình thức Thai tạng giới. 1. Lí thú mạn-đà-la: chính giữa vẽ Phật A-di-đà, trước, sau và hai bên đều vẽ bốn vị Bồ-tát: Kim cương pháp, Kim cương lợi, Kim cương nhân và Kim cương ngữ. Bên trong và ngoài bốn góc đều đặt bốn Nội, Ngoại cúng dường, bốn cửa Đông, Nam, Tây, Bắc đều vẽ hình Thiên nữ biểu thị tham muốn, hình rắn biểu thị tức giận, đầu lợn (heo) biểu thị ngu dại, và hoa sen biểu thị Niết-bàn. 2. Cửu phẩm mạn-đà- la: trên đài hoa sen nở ở viện Trung đài bát diệp là Phật A-di-đà thượng phẩm thượng sinh, chung quanh đặt tám phẩm A-di-đà, bốn góc viện trong có bốn Bồ-tát Kim cương pháp, Kim cương lợi, Kim cương nhân, Kim cương ngữ. Viện thứ hai có mười hai vị Quang Phật, bốn Nhiếp Bồ- tát, bốn Ngoại cúng dường; viện thứ ba có hai mươi bốn vị Bồ-tát. 3. Bát mạn-đà-la: cũng gọi Bát đại Bồ-tát mạn-đồ-la. Chính giữa vẽ Phật A-di- đà, chung quanh đặt tám vị đại Bồ-tát Quán Tự Tại, Từ Thị, Hư Không Tạng, Phổ Hiền, Kim Cương Thủ, Văn Thù, Trừ Cái Chướng và Địa Tạng, bên ngoài là bốn Nhiếp, tám Cúng. Ngoài ra, còn có Cửu Tự mạn- đà-la là tổng hợp của Cửu phẩm mạn-đà-la và Bát mạn-đà-la. [X. Bát nhã ba-la-mật-đa lí thú thích Q.Hạ; kinh Bát Đại Bồ Tát Mạn-đà-la (Bất Không); kinh Bát Đại Bồ Tát Mạn-đồ-la (Thiện Vô Úy); Vô Lượng Thọ Nghi Quĩ].
a di đà ngũ phật
(阿彌陀五佛) Cũng gọi A-di-đà ngũ tôn mạn-đồ-la. Chỉ đức Phật A-di-đà và bốn vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí, Địa Tạng, Long Thụ đứng hầu hai bên; hoặc chỉ bức tranh vẽ lấy Phật A-di-đà làm vị tôn ngồi ở giữa và đặt bốn vị Bồ- tát nói ở trên đứng hầu hai bên. Trong kinh điển chưa thấy xuất xứ của bức tranh này.Cứ theo A-di-đà quyển trong Giác Thiền Sao do vị tăng Nhật Bản là Giác Thiền soạn, thì người ở vùng Tinh Châu đời Đường đều niệm Phật A-di-đà, đến lúc sắp chết, năm vị Thánh này sẽ hiện ở trước mặt để tiếp dẫn. Tuy nhiên, thuyết này cũng không biết chắc đã căn cứ vào đâu. Lại theoTham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Kí quyển 1 của vị tăng Nhật Bản khác là Thành Tầm (1011- 1081) ghi chép, thì trong Kim đường (nhà vàng) của Thiền viện Hộ Thánh do vua ban hiệu ở núi Thiên Thai, có tượng Phật A-di-đà cao một trượng sáu thước và tượng bốn vị Bồ-tát đứng hầu hai bên. Hiện nay còn tượng A-di-đà ngũ tôn bằng đá có khắc dòng chữ: Đường Nghi Phụng tam niên (Năm Nghi Phụng thứ 3 đời Đường) và tượng A-di-đà ngũ tôn bằng đồng lá. Trong hai tượng này, hai vị Tỉ-khưu và hai vị Bồ-tát đều đứng hầu hai bên. Vị Tỉ-khưu bên trái dáng mặt già nua xấu xí, vị Tỉ-khưu bên phải dáng mặt trẻ trung đẹp đẽ. Cứ đó mà suy, thì tượng hai vị Tỉ-khưu này đã được làm phỏng theo tượng Tam tôn thời Đông Ngụy năm Thiên Bình thứ 4 (537) và niên hiệu Vũ Định năm đầu (543). Phổ thông cho rằng, tượng hai vị Tỉ-khưu này là do ngài Xá-lợi-phất và A-nan chuyển hóa mà thành.
A Di Đà Ngũ Thập Bồ Tát tượng
(阿彌陀五十菩薩像, Amidagojūbosatsuzō): hay còn gọi là Ngũ Thông Mạn Trà La (五通曼茶羅), một trong đồ hình biến tướng của Tịnh Độ, là bức họa đồ hình lấy đức Phật Di Đà làm trung tâm và chung quanh có 50 vị Phật, Bồ Tát khác. Căn cứ vào quyển trung của bộ Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục (神州三寳感通錄) do Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường (唐, 618-907) thâu tập có ghi rằng xưa kia Ngũ Thông Bồ Tát (五通菩薩) ở Kê Đầu Ma Tự (雞頭摩寺) xứ Thiên Trúc đến thế giới Cực Lạc cung thỉnh đức Phật A Di Đà giáng xuống tượng Phật, khiến cho chúng sanh nào ở cõi Ta Bà nguyện sanh về cõi Tịnh Độ, nhờ có hình tượng Phật mà đạt được nguyện lực của mình, nhân đó Phật hứa khả cho. Vị Bồ Tát này trở về nước thì tượng Phật kia đã đến rồi, có một đức Phật và 50 vị Bồ Tát đều ngồi tòa sen trên lá cây. Ngũ Thông Bồ Tát bèn lấy lá cây ấy đem vẽ ra và cho lưu hành rộng rãi gần xa. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Bình (58-75) dưới thời Hán Minh Đế, nhân nằm mộng, nhà vua bèn sai sứ sang Tây Vức cầu pháp, thỉnh được Ca Diếp Ma Đằng (s: Kāśyapamātaṅga, 迦葉摩騰, ?-73) sang Lạc Dương (洛陽), sau đó cháu ngoại của Ma Đằng xuất gia làm Sa Môn, có mang bức tượng linh thiêng này sang Trung Quốc; tuy nhiên nó không được lưu truyền rộng rãi cho lắm, vì kể từ thời Ngụy, Tấn trở đi gặp phải nạn diệt pháp, cho nên các kinh tượng theo đó mà bị thất truyền. Vào đầu thời nhà Tùy, Sa Môn Minh Hiến (明憲) may gặp được một bức tượng này từ xứ Đạo Trường (道長) của nước Cao Tề (高齊, tức Bắc Tề), bèn cho đem chép vẽ và lưu hành khắp nơi. Đương thời, Tào Trọng Vưu Thiện (曹仲尤善), họa sĩ trứ danh của Bắc Tề, là người vẽ ra bức tượng này. Từ đó, các nhân sĩ dưới thời nhà Đường cũng bắt đầu sao chép lưu truyền tượng này rất nhiều, lấy nó làm tượng thờ chính. Hơn nữa, các đồ hình biến tướng của A Di Đà Tịnh Độ cũng được lưu bố rất rộng rãi, nhưng xét cho cùng thì đồ hình Ngũ Thông Mạn Trà La này là tối cổ. Trong phần A Di Đà Quyển của bộ Giác Thiền Sao (覺禪鈔) do vị tăng Nhật Bản là Giác Thiền (覺禪, Kakuzen, 1143-?) trước tác, có đồ hình 52 thân tượng của đức Phật A Di Đà; tuy nhiên đây không phải là truyền bản đồ hình Mạn Trà La thời nhà Đường.
a di đà ngũ thập bồ tát tượng
(阿彌陀五十菩薩像) Cũng gọi Ngũ thông mạn-đồ-la. Là một trong những bức tranh Tịnh độ biến tướng, lấy Phật A-di-đà làm trung tâm mà vẽ tượng Phật và năm mươi vị Bồ-tát. Cứ theo Tập Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục quyển Trung của ngài Đạo Tuyên đời Đường chép, thì xưa kia, Bồ-tát Ngũ Thông ở chùa Kê-đầu-ma bên Thiên Trúc, đến thế giới Cực Lạc, xin đức Phật A-di-đà ban cho tượng của Ngài, khiến chúng sinh cõi Ta-bà nguyện sinh về Tịnh độ, nhờ vào hình tượng của Phật mà đạt được điều ước nguyện. Đức Phật bằng lòng. Khi Bồ-tát trở về, thì tượng Phật đã đến rồi, đó là trên các lá cây có hình tượng Phật và năm mươi vị Bồ tát đều ngồi trên hoa sen. Bồ tát bèn lấy những lá ấy đem về vẽ ra, truyền bá khắp gần xa. Trong năm Vĩnh Bình (58-75), Minh đế nhà Hán, nhân nằm mộng thấy Phật, mới sai sứ đi cầu pháp, đón được ngài Ca-diếp-ma-đằng v.v... về Lạc Dương. Sau đó, cháu của ngài Ma-đằng xuất gia làm Sa-môn, đem tượng Phật và năm mươi vị Bồ-tát ấy đến Trung Quốc truyền bá. Chưa bao lâu, lại mang tượng trở về Ấn Độ. Vì bức tranh này không được lưu truyền rộng lắm, thêm vào đó, từ thời Ngụy Tấn đến nay đã quá lâu, lại trải qua tai nạn diệt pháp, nên kinh tượng cũng do đó mà bị mai một. Đến đầu đời Tùy, Sa-môn Minh Hiến được ngài Đạo Trường ở Cao Tề biếu một bức tranh này, nói rõ nguồn gốc và sự trao truyền, từ đó, bức tranh được vẽ lại và lưu hành khắp trong nước. Người thợ vẽ lúc bấy giờ là Tào Trọng Đạt ở Bắc Tề chuyên vẽ bức tranh này. Các nhân sĩ đời Đường phần nhiều cũng truyền vẽ tượng này để làm tôn vị chính. Lại tranh A-di- đà Tịnh độ biến tướng được lưu truyền ở đời sau tuy nhiều, nhưng phổ thông đều cho Ngũ thông mạn-đồ-la này là xưa nhất. A-di-đà quyển trong Giác Thiền Sao do vị tăng người Nhật là Giác Thiền soạn, có chép kiểu tranh vẽ năm mươi hai thân tượng của Phật A-di-đà, nhưng đó có phải là mạn-đồ-la từ đời Đường truyền lại không, thì không có cách nào biết chắc được. [X. Pháp Uyển Châu Lâm Q.15; Đồ Tượng Sao Q.2].
a di đà nhị hiếp thị
(阿彌陀二脅侍) Cũng gọi A-di-đà nhị giáp thị. Chỉ cho hai vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí đứng hầu hai bên đức Phật A-di-đà. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (Đại 12, 342 Hạ) nói: Đức Phật Vô Lượng Thọ đứng giữa hư không, hai vị Đại sĩ Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, đứng hầu hai bên. (xt. A Di Đà Tam Tôn).
a di đà pháp
(阿彌陀法) Là phép tu bí mật của Mật giáo, lấy A-di-đà Như Lai làm tôn vị chính, tu để cầu diệt tội sinh thiện, sinh về Tịnh độ, hoặc để cầu phúc cõi âm cho người đã khuất. Trước hết, lập mạn-đồ-la, kế đến, bày các tôn vị chung quanh tôn vị chính, rồi theo thứ tự tu hành ba mật (thân, ngữ, ý) tương ứng. [X. Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hành Cúng Dường Nghi Quĩ].
A Di Đà Phật
(s: Amitāyus, Amitābha; t: Dpag-tu-med, Dpag-yas, j: Amidabutsu, 阿彌陀佛): tên gọi của một vị Phật rất quan trọng trong Phật Giáo Đại Thừa, giáo chủ của thế giới Tây Phương Cực Lạc, còn gọi là A Di Đa Phật (阿彌多佛), A Nhi Đa Phật (阿弭跢佛), thường được gọi là A Di Đà Phật hay A Di Đà Như Lai, gọi tắt là Di Đà. Nguyên bản Sanskrit có hai chữ: Amitāyus có âm dịch là A Di Đa Sưu (阿彌多廋), nghĩa là người có thọ mạng vô hạn hay vô lượng thọ; còn Amitābha có âm dịch là A Di Đa Bà (阿彌多婆), là người có ánh sáng vô hạn hay vô lượng quang; nhưng cả hai đều được phiên âm là A Di Đà. Trên thực tế, nguyên ngữ Amitābha được dùng khá phổ biến. Về xuất xứ của danh hiệu A Di Đà Phật này, trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch, có đề cập đến. Vị Phật này có ánh sáng vô lượng, tuổi thọ vô lượng, cho nên được gọi là A Di Đà Phật. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào bản tiếng Sanskrit A Di Đà Kinh (阿彌陀經) và Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh (稱讚淨土佛攝受經), vị Phật này có tuổi thọ vô số, ánh sáng vô biên, cho nên được gọi là Vô Lượng Thọ Phật và Vô Lượng Quang Phật. Riêng trong Bình Đẳng Giác Kinh (平等覺經) có bài kệ của A Di Đà Phật, còn trong Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh, v.v., có danh hiệu khác là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật hiện trú tại thế giới thanh tịnh tên Cực Lạc. Kinh điển lấy tín ngưỡng A Di Đà Phật làm chủ đề có 3 bộ kinh của Tịnh Độ là Vô Lượng Thọ Kinh (s: Sukhāvatīvyūha-sūtra, 無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); cho nên trên cơ sở của ba kinh này Tịnh Độ Giáo được thành lập. Theo Vô Lượng Thọ Kinh, quyển thượng, trong đời quá khứ xa xưa thời đức Thế Tự Tại Vương Phật (世自在王佛) trụ thế, có vị quốc vương phát tâm vô thượng, xả bỏ vương vị xuất gia, tên là Bồ Tát Pháp Tạng (s: Dharmākara, 法藏, hay Tỳ Kheo Pháp Tạng). Vị này theo tu tập với Thế Tự Tại Vương Phật, phát 48 lời thệ nguyện để cứu độ chúng sanh và sau một thời gian tu hành lâu xa, ngài thành tựu bản nguyện của mình và được thành Phật. Vị Phật này chính là A Di Đà Phật. Cho đến hiện tại ngài vẫn đang thuyết pháp tại thế giới gọi là Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂), cách đây khoảng 10 vạn ức Phật độ về phía Tây. Ngài thường tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sanh về cõi Tây Phương Tịnh Độ, cho nên được gọi là Tiếp Dẫn Phật. Thông thường tượng A Di Đà Tam Tôn có hai vị Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音) và Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至) đứng hầu hai bên, cho nên hai vị này cùng với Phật A Di Đà được gọi là Tây Phương Tam Thánh. Theo Bát Nhã Tam Muội Kinh (般若三昧經) quyển thượng cho biết rằng đức Phật A Di Đà có 32 tướng tốt, ánh sáng chiếu tỏa khắp, hùng tráng không gì sánh bằng. Đặc biệt, theo lời dạy trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh cho thấy rằng thân của đức Phật Vô Lượng Thọ có trăm ngàn sắc màu vàng rực như vàng Diêm Phù Đàn (s: jambūnadasuvarṇa, 閻浮檀) của Trời Dạ Ma (s, p: Yāma, 夜摩), cao 60 vạn ức na do tha (s: nayuta, niyuta, 那由他) Hằng hà sa số do tuần (s, p: yojana, 由旬). Giữa hai lông mi của ngài có lông mi trắng uyển chuyển xoay về bên phải, tướng lớn nhỏ của lông mi có độ cao gấp 5 lần núi Tu Di (s, p: Sumeru, 須彌山). Mắt của ngài trong trắng, rõ ràng, có bề ngang rộng gấp 4 lần nước biển lớn. Thân ngài có 84.000 tướng tốt, trong mỗi mỗi tướng như vậy có 84.000 ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp các chúng sanh niệm Phật. Tại Tây Tạng, Phật A Di Đà được xem như hai vị Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ; nếu ai mong cầu có trí tuệ thì quy y Phật Vô Lượng Quang, ai mong cầu tuổi thọ và phước lạc thì quy y Phật Vô Lượng Thọ. Trong Mật Giáo, Phật A Di Đà được xem như là diệu quang sát trí của Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來), được gọi là Cam Lồ Vương (s: Amṛta-rāja, 甘露王). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼茶羅), ngài được gọi là A Di Đà Như Lai có thân thọ dụng trí tuệ, nằm ở trung ương vòng nguyệt luân phía Tây. Thân của ngài có sắc vàng ròng, tay bắt ấn Tam Ma Địa (s, p: samādhi, 三摩地), chủng tử là hrīḥ, mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cang, và hình Tam Muội Da là hoa sen. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼茶羅), ngài được gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai, nằm ở phía Tây, trong đài có 8 cánh sen. Thân ngài có sắc màu vàng trắng hay vàng ròng, mắt nhắm lại, thân nhẹ như tà áo, ngồi xếp bằng trên tòa sen báu, tay bắt ấn nhập định, chủng tử là saṃ, mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cang, và hình Tam Muội Da là hoa sen vừa mới hé nở. Tại An Lạc Lâm (安樂林), Bạch Vân Am (白雲菴), thuộc Từ Khê (慈谿), Ninh Ba (寧波), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Nhất cú Di Đà hữu thể hữu tông hữu dụng, tam thiên thế giới tức không tức giả tức trung (一句彌陀有體有宗有用、三千世界卽空卽假卽中, một câu Di Đà, có thể có tông có dụng, ba ngàn thế giới là không là giả là trung).” Hay tại Phổ Đà Tự (普陀寺) ở Hạ Môn (廈門), Tỉnh Phúc Kiến (福建省南) cũng có câu đối tán thán công hạnh của đức Phật A Di Đà như: “Di Đà thủ tiếp Liên Trì khách, chúng sanh tâm quy Cực Lạc bang (彌陀手接蓮池客、眾生心歸極樂邦, Di Đà tay rước Liên Trì khách, chúng sanh tâm về Cực Lạc bang).” Đào Duy Từ (1572-1634) có câu thơ rằng: “Những khi khói tỏ yên hà, mảng âu mây cuốn Di Đà Tây Thiên.” Hay trong truyện Phan Trần cũng có câu: “Tam Quy Ngũ Giới chứng tình, xem câu nhân quả niệm kinh Di Đà.”
a di đà phật
Amitābha (S), Buddha of boundless light and life, Amida (J), Amita, Amitabutsu (J), Amida butsu (J), Amitayus (S) , Amida Buddha Vô lượng quang Phật, Tây Phật.- A di đà Phật có 3 tên gọi: Vô lượng quang Phật, Vô lượng Thọ Phật, Cam lộ Vương Như Lai. - Ngoài ra còn có 13 danh hiệu khác: Bất đoạn quang Phật, Diệm quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật, Diêm vương quang Phật, Vô lượng thọ Phật, Vô ngại quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Vô biên Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật đều là những hoá thân khác của Phật A di đà. - A di đà Phật ngự phương tây Mạn đà la, tượng trưng Diệu quan sát trí. Da màu đỏ. Quan thế âm Bồ tát và Đại thế chí Bồ tát là hai vị Bồ tát thường được nêu lên chung với Phật A di đà. Theo Tịnh độ tông Trung quốc và Nhật bản, Phật A di đà là trung gian giữa chân lý tuyệt đối và con người, tin tưởng theo A di đà chắc chắn sẽ được vãng sanh vào thiên đường. Theo giáo lý, Phật A di đà chính là tự tính tâm, vãng sanh vào nước tịnh độ chính là sự tỉnh thức bồ đề tâm trong bản thân. Vào thế kỷ thứ 7, ở Trung quốchình ảnh Phật A di đà đã thay thế hẳn Phật Thích ca và Phật Di lặc.
; Amitàbha Buddha (S). Phật Vô lượng thọ Amitàyus Buddha.
; Amitabha Buddha—See A Di Đà.
; (阿彌陀佛) Phạm: Amita-buddha. Tạng: Dpag-tumed, Dpag-yas. Vị giáo chủ của thế giới Cực lạc ở phương Tây. Cũng gọi A-di-đà Phật, A-nhị-đá Phật, A-nhị-đả Phật. Gọi tắt: Di-đà. Amita, dịch ý: Vô lượng. Ngoài ra, còn có tên Phạm: Amitàbha, dịch âm: A-di-đa-bà, A-di-đả-bà, dịch ý: Vô lượng quang. Về lí do tại sao gọi là Phật A-di-đà, cứ theo kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma-la-thập dịch, thì đức Phật này có vô lượng ánh sáng và tuổi thọ vô lượng, cho nên gọi là Phật A-di-đà. Nhưng theo kinh A-di-đà bản tiếng Phạm và kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ, thì đức Phật này tuổi thọ vô số, ánh sáng nhiệm mầu vô biên, cho nên gọi là Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Quang. Một đức Phật mà có hai tên gọi nghĩa không giống nhau, trường hợp các đức Phật khác chưa thấy như thế. Trong các kinh điển ở thời kì đầu, như kinh Bát Chu Tam Muội, kinh Đại A-di-đà, kinh Duy-ma-cật v.v... cũng chỉ có danh hiệu A-di-đà, cho nên suy ra có thể biết, tên hiệu Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang là do đời sau đã dựa theo nghĩa gốc của những danh từ ấy mà đặt ra. Lại theo kinh Bình Đẳng Giác, Hậu xuất A-di-đà Phật kệ, kinh Xưng tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ v.v..., thì tên hiệu của Phật A-di-đà là Vô Lượng Thanh Tịnh, thế giới của Ngài ở gọi là thế giới Thanh tịnh, thế giới Cực lạc. Về bản duyên thành đạo của Phật A-di-đà, cứ theo kinh Vô Lượng Thọ quyển Thượng, trong kiếp quá khứ lâu xa, khi đức Phật Thế tự tại vương ở đời, có một quốc vương phát tâm đạo vô thượng, bỏ ngôi vua xuất gia, tên là Tỉ-khưu Pháp Tạng, tu hành ở nơi đức Phật Thế Tự Tại Vương, biết rõ Tịnh độ của chư Phật, trải qua năm kiếp tư duy, rồi phát bốn mươi tám nguyện thù thắng. Từ đó về sau, Ngài không ngừng chứa góp công đức, cách nay mười kiếp, nguyện hành tròn đầy, thành Phật A-di-đà, cách thế giới Ta-bà này mười vạn ức cõi Phật về phía Tây, nhờ phúc báo cảm được Tịnh độ. Đến nay, Ngài vẫn còn đang nói pháp ở cõi ấy; Ngài là giáo chủ của môn Tịnh độ, tiếp dẫn những người niệm Phật sinh về Tịnh độ phương Tây, vì thế còn gọi là Phật Tiếp dẫn. Tượng A-di-đà Tam tôn, thông thường có Bồ-tát Quan Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí đứng hầu hai bên. Phật A-di-đà cùng với hai vị Bồ-tát này gọi là Tây Phương Tam Thánh (ba bậc Thánh phương Tây). Trong những kinh luận Đại thừa hiện còn, có tới hơn hai trăm bộ nói về đức Phật A-di-đà và các việc ở Tịnh độ Cực lạc của Ngài, như vậy đủ biết tín ngưỡng Di-đà và giáo nghĩa Tịnh độ đã đi sâu vào lòng người đến mức độ nào rồi. Cứ theo kinh Bát Chu Tam Muội quyển Thượng, thì đức Phật A-di-đà có ba mươi hai tướng, ánh sáng chói lọi, đẹp đẽ không gì sánh kịp. Còn theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, thì thân của Phật Vô Lượng Thọ rực rỡ như trăm nghìn ức màu vàng Diêm phù đàn của cõi trời Dạ-ma, và cao sáu mươi vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần. Sợi lông trắng ở khoảng giữa hai đầu chân mày quấn tròn về bên phải; tướng lông trắng to rộng gấp năm lần núi Tu di. Mắt Ngài trong sáng rõ ràng và rộng lớn gấp bốn lần đại dương. Thân Ngài có tám vạn bốn nghìn tướng, trong mỗi tướng có tám vạn bốn nghìn nét đẹp, trong mỗi nét đẹp có tám vạn bốn nghìn ánh sáng, soi khắp các thế giới trong mười phương, thu lấy chúng sinh niệm Phật. Ở Tây tạng, đức Phật A di đà được xem như hai Phật: Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ. Nếu cầu trí tuệ thì qui y Phật Vô Lượng Quang, nếu cầu phúc lạc và sống lâu, thì qui y Phật Vô Lượng Thọ. Trong Mật giáo, Phật A di đà được tượng trưng cho trí Diệu Quan Sát của pháp thân Đại Nhật Như Lai, gọi là Cam Lộ Vương. Trong mạn-đồ-la Kim cương giới, gọi là A-di-đà Như Lai thân Thụ dụng trí tuệ, ngồi chính giữa nguyệt luân (vòng mặt trăng) ở phía Tây. Thân Ngài màu vàng ròng, kết ấn Tam-ma-địa, chủng tử là (hrìh), mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cương, hình Tam-muội-da là hoa sen. Trong mạn-đồ-la Thai tạng giới, gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai, ngồi ở mé tây của viện Trung đài bát diệp. Thân Ngài màu vàng lợt hay vàng ròng, mắt nhắm, mình mặc áo mỏng, ngồi kết già trên hoa sen báu, bắt ấn nhập định. Chủng tử là (sam), mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, hình Tam-muội-da là hoa sen mới nở. [X. kinh Lại Tra Hòa La Sở Vấn Đức Quang; Kinh Quyết Định Tổng Trì; kinh Hiền kiếp Q.1, Q.3; kinh Tế Chư Phương Đẳng Học; Kinh Đại Pháp Cự Đà La Ni Q.17; Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá; luận Thập Trụ Tì Bà Sa Q.5 phẩm Dị Hành; Vãng Sinh Luận chú; Quán kinh sớ (Thiện đạo)].
a di đà phật thuyết lâm
(阿彌陀佛說林) Sách, 7 quyển. Do vị tăng người Nhật là Thiện Tính Kế Thành biên soạn vào năm Minh Hòa thứ 7 (1770). Biên giả đã trích lục hơn hai trăm bộ kinh luận trong Đại tạng nói về đức Phật A-di-đà và Tịnh độ của Ngài mà soạn thành sách này. Trong thư mục các kinh luận mà biên giả đã dẫn, thì Mật giáo bộ chiếm đa số, Luận bộ có hơn mười bộ, các bộ Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Pháp Hoa, Niết Bàn v.v... cũng khá nhiều, tới khoảng bảy mươi bộ. Mục đích của tác phẩm này là thu chép những lời trong các kinh nói về đức Phật A-di-đà và về thế giới Cực Lạc của Ngài, để chứng minh điển cứ Chư kinh sở tán đa tại Di-đà (các kinh phần nhiều khen ngợi đức Phật A-di-đà).
; (阿彌陀佛說林) (trí tuệ), biểu tỏ nghĩa trên cầu bồ đề, vì thế đặt ở bên phải. Ngoài ra, kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương thì nói, bên trái Phật A-di-đà là Quán Tự Tại, bên phải là Kim Cương Thủ.
a di đà phật thập tam hiệu
Thirteen titles of Amitàbha-Buddha: (1) A di đà Phật Infinite-life, light, merit Buddha. (2) Vô lượng quang Phật Buddha of boundless light. (3) Vô biên quang Phật Buddha of unlimited light. (4) Vô ngại quang Phật Buddha of irresistible light. (5) Vô đối quang Phật Buddha of incomparable light. (6) Diệm vương quang Phật Buddha of Yama, or flame-king light. (7) Thanh tịnh quang Phật Buddha of pure light. (8) Hoan hỉ quang Phật Buddha of joyous light. (9) Trí Tuệ quang Phật Buddha of wisdom light. (10) Bất đoạn quang Phật Buddha of unending light. (11) Nan tư quang Phật Buddha of unconceivable light . (12) Vô xứng quang Phật Buddha of indescribable light. (13) Siêu nhật nguyệt quang Phật. Buddha of light surpassing that of sun and moon.
a di đà sưu tư
Amitayus—See A Di Đà.
a di đà tam muội
Amida-samādhi (J), Amitābha-samādhi (S).
A Di Đà Tam Thập Thất Hiệu
(阿彌陀三十七號, Amidasanjūnanagō): 37 đức hiệu của đức Phật A Di Đà, do Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262), tổ khai sáng Tịnh Độ Chơn Tông (淨土眞宗, Jōdōshin-shū) của Nhật Bản lấy từ bài Kệ Tán A Di Đà của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) cho vào trong bản Tịnh Độ Hòa Tán (淨土和讚, Jōdōwasan) của ông. Đó là:(1) Vô Lượng Quang, - (2) Chân Thật Minh, (3) Vô Biên Quang, - (4) Bình Đẳng Giác,(5) Vô Ngại Quang - (6) Nan Tư Nghì, (7) Vô Đối Quang, - (8) Tất Cánh Y, (9) Quang Viêm Vương, - (10) Đại Ứng Cúng, (11) Thanh Tịnh Quang, - (12) Hoan Hỷ Quang,(13) Đại An Úy, - (14) Trí Huệ Quang, (15) Bất Đoạn Quang, - (16) Nan Tư Quang (17) Vô Xưng Quang, - (18) Siêu Nhật Nguyệt Quang,(19) Vô Đẳng Đẳng, - (20) Quảng Đại Hội, (21) Đại Tâm Hải, - (22) Vô Thượng Tôn, (23) Bình Đẳng Lực, - (24) Đại Tâm Lực,(25) Vô Xưng Phật, - (26) Bà Già Bà, (27) Giảng Đường, - (28) Thanh Tịnh Đại Nhiếp Thọ, (29) Bất Khả Tư Nghì Tôn, - (30) Đạo Tràng Thọ, (31) Chơn Vô Lượng, - (32) Thanh Tịnh Lạc, (33) Bản Nguyện Công Đức Tụ, - (34) Thanh Tịnh Huân, (35) Công Đức Tạng, - (36) Vô Cực Tôn, và (37) Nam Mô Bất Khả Tư Nghì Quang.
a di đà tam thập thất hiệu
(阿彌陀三十七號) Chỉ ba mươi bảy đức hiệu của Phật A-di-đà. Dựa theo Tán A-di-đà kệ của ngài Đàm Loan, trong sách Tịnh độ hòa tán của mình, ngài Thân Loan - vị tăng của Tịnh độ chân tông Nhật Bản - đã nêu ra ba mươi bảy đức hiệu: Vô Lượng Quang, Chân Thực Minh, Vô Biên Quang, Bình Đẳng Giác, Vô Ngại Quang, Nan Tư Nghị, Vô Đối Quang, Tất Kinh Y, Quang Viêm Vương, Đại Ứng Cúng, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Đại An Uý, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan Tư Quang, Vô Xứng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang, Vô Đẳng Đẳng, Quảng Đại Hội, Đại Tâm Hải, Vô Thượng Tôn, Bình Đẳng Lực, Đại Tâm Lực, Vô Xưng Phật, Bà Già Bà, Giảng Đường, Thanh Tịnh Đại Nhiếp Thụ, Bất Khả Tư Nghị Tôn, Đạo Tràng Thụ, Chân Vô Lượng, Thanh Tịnh Lạc, Bản Nguyện Công Đức Tụ, Thanh Tịnh Huân, Công Đức Tạng, Vô Cực Tôn, Na Mô Bất Khả Tư Nghị Quang.
A Di Đà Tam Tôn
(阿彌陀三尊, Amidasanzon): hay còn gọi là Tây Phương Tam Thánh, tức A Di Đà Phật và 2 người hầu hai bên; ở giữa là đức Phật A Di Đà, bên trái là Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và bên phải Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至). Dạng thức của Di Đà Tam Tôn này vốn phát xuất từ Ấn Độ, là di phẩm được bảo tồn trên bích họa trong động thứ 9 của thạch động A Chiên Đa (s: Ajantā, p: Ajanta, 阿栴多). Ở Trung Hoa, tượng Di Đà Tam Tôn có sớm nhất được khắc vào năm 538 (Nguyên Tượng [元象] nguyên niên) nhà Đông Ngụy. Tại Nhật Bản, có bức bích họa trong Kim Đường của Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) và bức Niệm Trì Phật của Quật Phu Nhân là nổi tiếng nhất. Nhìn chung, nghi tướng của chư tôn đều y cứ vào quyển 8 của Kinh Vô Lượng Thọ (無量壽經) mà tạo nên. Kinh dạy rằng quán tưởng đức hai bên đức Phật Di Đà có hai tòa sen, Bồ Tát Quan Thế Âm ngồi trên tòa sen bên tay trái, Bồ Tát Đại Thế Chí ngồi trên tòa sen bên tay phải. Hơn nữa, trong quyển 5 của Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空羂索神變眞言經) có dạy rằng tâm thương xót (bi) của Bồ Tát Quan Âm thể hiện cho ý nghĩa dưới hóa độ chúng sanh, nên vị này được đặt bên trái; trí tuệ (trí) của Bồ Tát Thế Chí có ý nghĩa là trên cầu bồ đề, nên vị này được đặt bên phải. Ngoài ra, Quan Thế Âm Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương Kinh (觀世音菩薩三世最勝心明王經) lại cho rằng bên trái của Phật Di Đà là Quán Tự Tại (觀自在), còn bên phải là Kim Cang Thủ (金剛手).
a di đà tam tôn
(阿彌陀三尊) Cũng gọi Tây phương Tam Thánh. Chỉ đức Phật A-di-đà và hai vị đại Bồ-tát đứng hầu hai bên Ngài. Đức Phật A-di-đà đứng giữa, bên trái là Bồ-tát Quan Thế Âm, bên phải là Bồ-tát Đại Thế Chí. Kiểu tượng Di-đà-tam tôn bắt nguồn ở Ấn Độ. Bức tranh vẽ trên vách của hang thứ 9 trong những hang đá ở A-chiên-đa là di phẩm của tượng Tam tôn được giữ gìn. Tượng A-di-đà tam tôn sớm nhất tại Trung Quốc là tượng Tam tôn được khắc vào niên hiệu Nguyên Tượng năm đầu (538) đời Đông Ngụy. Ở Nhật Bản thì bức tranh vẽ trên vách trong Kim đường chùa Pháp Long và Quất phu nhân niệm trì Phật là nổi tiếng hơn cả. Hình tướng phổ thông này đều làm theo phép quán thứ tám trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Kinh nói, quán tưởng hai bên Phật A-di-đà có hoa sen lớn, Bồ-tát Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen bên trái; Bồ-tát Đại Thế Chí ngồi trên tòa sen bên phải. Kinh Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chân Ngôn quyển 5 cũng nói như thế. Bởi vì Bồ-tát Quan Thế Âm tượng trưng cho Bi (tình thương), biểu tỏ nghĩa dưới hóa độ chúng sinh, cho nên đặt ở bên trái. Còn Bồ-tát Đại Thế Chí thì tượng trưng cho Trí Tượng A Di Đà Tam Tôn
a di đà tam-da-tam phật-tát-lâu-phật-đàn quá độ nhân đạo kinh
Xem A di đà Kinh.
a di đà tịnh độ biến
(阿彌陀淨土變) Tranh vẽ biểu hiện cảnh Tịnh độ cực lạc của đức Phật A-di-đà. Cũng gọi Tây phương Tịnh độ biến, Tây phương biến tướng, Tịnh độ mạn-đà-la, Cực lạc biến mạn-đồ-la. Ở Trung Quốc, người đầu tiên vẽ tranh này là ngài Thiện Đạo đời Đường. Quán Niệm pháp môn của ngài Thiện đạo nói, nếu có người y theo kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v..., vẽ cảnh Tịnh độ trang nghiêm, rồi ngày đêm quán tưởng đất báu, niệm niệm không rời, thì có thể trừ diệt tội sống chết trong tám mươi ức kiếp. Kim Ngân Nê Họa Tịnh Độ Biến Tướng Tán của Lí Bạch nói, Tần phu nhân ở quận Phùng Dực, dùng kim nhũ vẽ Tịnh độ biến tướng phương Tây để cầu siêu cho chồng là Vi Công, quan Thứ sử Hồ Châu. Cứ theo Lịch đại danh họa kí của Trương Ngạn Viễn đời Đường chép, thì trên vách phía tây của Đại Phật điện trong chùa An Quốc, có Tây phương biến do Ngô Đạo Tử vẽ; trong Tiểu Phật điện chùa Vân Hoa, có Tịnh độ biến do Triệu Vũ Thụy vẽ. Đến đời Tống, Liên xã niệm Phật và tranh vẽ Tịnh độ biến khá thịnh hành. Pháp Nhiên Thượng Nhân Truyện Kí quyển 2 của Nhật Bản chép, vào đời Tống, Tuấn-thừa-phòng-trùng-nguyên đến Trung quốc, thỉnh được Quán kinh mạn-đồ-la về Nhật Bản. Lại gần đây, mấy loại tranh A-di-đà tịnh độ biến đã được tìm thấy ở Đôn Hoàng. Ở Nhật Bản, từ thời Bạch Phụng (673-685) về sau, dần dần mới có họa phẩm Tịnh độ biến, như bức tranh vẽ trên vách hiện còn ở chùa Pháp Long, nhưng kiểu tranh đơn giản, chỉ có hình Di-đà tam tôn, các trời và cảnh người vãng sinh trong ao báu. Còn bức tranh Tịnh độ biến ở viện A di đà, cứ theo A-di-đà viện bảo vật trướng chép, thì trong Bảo điện đặt hai bậc trên dưới, thờ Di-đà tam tôn, mười vị Bồ-tát Âm thanh, hai vị La hán. Lại trong những bức tranh Tịnh độ biến hiện còn, thì Đương ma mạn-đồ-la là bức tranh rõ ràng tỉ mỉ và hoàn bị hơn cả. [X. Vãng Sinh Tây Phương Tịnh Độ Thụy Ứng San truyện; Tây Phương Yếu Quyết Thích Nghi Thông Qui; Quán Kinh Cửu Phẩm Đồ Hậu Tự (Nguyên Chiếu); Bạch Thị Văn Tập Q.70, Q.71; Dậu Dương Tạp Trở Tục Tập Q.5 Thường Lạc Phường Triệu Cảnh Công Tự Điều; Diên Lịch Tự Tọa Chủ Viên Trân Truyện; Lạc Bang Văn Loại Q.2, Q.3; Thập Di Vãng Sinh Truyện Q.Hạ].
a di đà đàn na
Amrtodana (skt)—Cam Lộ Vương, vua xứ Ma Kiệt Đà, cha của A Nậu Lâu Đà, chú của Phật Thích Ca—A king of Magadha, father of Anuruddha and Bhadrika, uncle of Sakyamuni.
a di đà đường
(阿彌陀堂) Nhà thờ tôn tượng A-di-đà Như Lai. Gọi tắt: Di-đà đường. Ở Trung Quốc, bắt đầu từ ngài Tuệ Viễn đời Đông Tấn, tại Lư Sơn, ngài thờ tượng Di-đà trong tịnh xá đài Bát Nhã, tu tam muội Niệm Phật. Về sau, các ngài Thiện Đạo, Thừa Viễn, Pháp Chiếu v.v... đời Đường kiến lập đạo tràng Bát Chu, từ đời Tống về sau thịnh hành đạo tràng Kết Xã niệm Phật, đều gọi A-di-đà đường. Bên Nhật bản thì bắt đầu từ thời Nại Lương v.v.. đều có Di-đà đường.
a diễm để ha la
Tên của một loài quỷ bị cháy rụi vì lửa nó ăn vào—Name of a demon burnt up by the fire it eats.
a do
Ayurveda (skt)—Một trong các bộ kinh Vệ Đà, nói về khoa học và trường thọ—One of the Vedas, the science of life or longevity.
a do đa
See Ayuta in Sanskrit/Pali-Vietenamese Section.
a du ca
Xem Vô Ưu.
a du ca thụ
(阿輸迦樹) A-du-ca, Phạm: Azoka. Cũng gọi a-thúc-ca-thụ, a-thư-già-thụ. Dịch ý là cây không lo. Tên khoa học: Jonesia asoka Roxb. Loài thực vật thuộc họ đậu, sinh sản ở núi Tuyết, Tích Lan, bán đảo Mã Lai v.v... Thân cây thẳng tắp, lá giống lá cây hòe, lá mọc từng đôi tựa như cánh chim, dài khoảng chín đến mười hai phân tây, hoa nở độ sáu đến mười phân, màu đỏ tươi, dễ coi, quả hình bầu dục, dài độ hơn hai mươi phân. Trong văn học Ấn Độ, cây này thường được Tranh Tây Phương Tịnh Độ trong hang 172 ở Đôn Hoàng (Trung Quốc) A DU CA THỤ coi là điềm lành. Theo truyền thuyết, Thái tử Tất đạt đa đã sinh ra dưới gốc cây a-du-ca trong vườn Lâm-tì-ni, vì mẹ con đều bình an, nên cây này được gọi là cây không lo. Thông thường người ta hay lầm, cho cây Tất-lợi-xoa (Phạm: vfkwa, cây Bồ-đề) là cây a-du-ca. [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.32; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.Hạ].
a du ca, vô ưu hoa thu
Asoka (S)
a du già
Asoka (skt)—See A Dục Vương in Vietnamese-English Section and Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a du già thụ
Xem cây vô ưu.
a du đà quốc
(阿逾陀國) Phạm: Ayodhyà, Pāli: Ayojjhà. Một nước xưa ở trung Ấn Độ, là một trong những nơi trung tâm văn minh của Ấn Độ cổ đại. Cũng gọi A-tì-đà quốc, A-tì-xà quốc, A-du-xà quốc, A-dụ-đà quốc, A-nghinh-xà quốc. Dịch ý là nước khó thắng, nước không ganh đua, nước không hơn được, nước không thể đánh. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 chép, nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, thủ đô rộng hơn hai mươi dặm, thóc lúa dồi dào, hoa quả xanh tốt, hơn trăm ngôi chùa với ba nghìn vị tăng, học tập cả Đại thừa, Tiểu thừa, có mười ngôi đền thờ trời, các đạo khác rất ít. Nước này từng là nơi nhiều vị đại đức Phật giáo cư trú, như ngài Thất-lợi-la-đa đã làm luận Tì-bà-sa của phái Kinh bộ ở một ngôi chùa cách thủ đô nước này vài dặm về mạn Tây bắc. Ngài Vô trước ở trong rừng Đại-am-một-la cách thủ đô nước này năm, sáu dặm về phía Tây nam, nghe luận Du-già- sư-địa, Đại Trang Nghiêm Kinh luận, luận Trung Biên Phân Biệt v.v... của Bồ-tát Di-lặc. Ngài Thế Thân cũng ở nước này, nghe theo ngài Vô Trước mà trở về với Đại thừa, rồi soạn hơn một trăm bộ luận Đại thừa.Về tiếng gốc, trong giới học giả cận đại, cũng có người chủ trương nước A-du-đà là Ayuda. Về thủ đô nước này, nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham suy đoán là ở Kakùpun, cách Cawnpore hiện nay hơn ba mươi cây số về mạn Tây bắc. Còn nhà học giả Ấn Độ học người Anh là ông V. A. Smith thì cho là ở Aphui, cách Fatehpur hiện nay độ năm mươi cây số về phía Đông nam. [X. kinh Tạp A-hàm Q.10; kinh Thủy Mạt Sở Phiêu; Kinh Chúng Hứa Ma Ha Đế Q.1; Kinh Đại Bảo Tích Q.118; Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.5; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang; T.W. Rhys Davids: Buddhist India].
a du đà, a du xà
Ayodhyà (S). Name of place.
a du đồ
Ayodhya (skt)—A Du Đà—A Thâu Đồ—Kinh đô của xứ Kosala, tổng hành dinh của Phật giáo thời cổ, bây giờ là Oudh—The capital of Kosala, headquarters of ancient Buddhism, the present Oudh.
a duy la đề
Abhirati (skt)—A Tỳ La Đề—Cõi Tịnh Độ phương Đông của Đức Phật A Súc (Vô Nộ hay Diệu Lạc Phật)—The eastern Pure Land of Aksobhya.
a duy la đề thế giới
(阿維羅提世界) A-duy-la-đề, Phạm: Abhirati. Tên cõi Tịnh độ của đức Phật A Súc. Cũng gọi A-tỉ-la-đề thế giới. Dịch ý là thế giới hoan hỉ, thế giới diệu lạc, thế giới diệu hỉ. Thế giới ở phương Đông. A-duy, có nghĩa không sánh được, thù thắng. La-đề, có nghĩa là mừng vui. Cứ theo kinh A Súc Phật Quốc quyển Thượng phẩm Phát Ý Thụ Tuệ và phẩm Thiện Khoái chép, thì cách đây một nghìn cõi Phật về phía Đông, có thế giới tên là A-tỉ-la-đề, đức Phật ở cõi ấy hiệu là Đại Mục Như Lai vô sở trước đẳng Chính giác, đang nói pháp cho các Bồ-tát. Bấy giờ có Bồ-tát A Súc được đức Đại Mục Như Lai thụ kí sau này sẽ thành Phật, thế giới tên là A-tỉ-la-đề. Người ở thế giới này đều làm việc lành, mặt đất bằng phẳng, cây mọc um tùm, không cây nào cao, không cây nào thấp, không có gò đống, hang hốc, cũng không có sỏi đá, núi lở. Người ở cõi Phật này, đều không có vẻ hung ác, cũng không ai xấu xí. [X. kinh Đại Bảo Tích quyển 19 phẩm Phật Sái Công Đức Trang Nghiêm; kinh Bi Hoa Q.4; kinh Duy Ma Q. Hạ phẩm Kiến A Súc Phật]. (xt. A Súc Phật).
a duy việt trí
Xem Bất thoái chuyển, Xem Bất thoái chuyển chính đạo
; Xem A bệ bạt trí.
a dạ kiện đa
Ayahkanda (skt)—Thiết tiễn (mũi tên sắt)—An iron arrow.
a dật đa
Ajeyya (P), Ajita (S), Ajeyya (P), Ajjeyya (P)Vô năng Thắng, A thị đa, Di Lặc1- Tên tự của Di Lặc Bồ tát. 2- Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; (阿逸多) Phạm: Ajita. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cũng gọi là A- thị-đa, A-di-đá. Dịch ý: Vô thắng, Vô năng thắng (không ai hơn được) hoặc Vô tam độc (không có ba độc tham sân si). Ngài lập chí trong tương lai sẽ thành Chuyển luân Thánh vương tên là Nhương Khư (Phạm: Zaôkha, Loa). Xưa nay thường cho A-dật-đa tức là Di-lặc, nhưng tựa hồ còn có một người khác nữa. Trong bài kệ Tựa phẩm Bỉ ngạn đạo (Pàràyana-vagga) của Kinh Tập (Suttanipàta) trong Đại tạng kinh Pāli nêu tên của hai vị A-thị-đa và Đế-tu-di-lặc (Tissametteyya) tức hoàn toàn cho đó là một người khác. Hơn nữa, phẩm ấy còn nêu cả hai kinh: A Thị Đa Vấn Kinh (Ajitamàịavapucchà) và Đế Tu Di Lặc Vấn Kinh (Tissametteyyamàịavapucchà). Lại kinh Thuyết bản trong Trung A-hàm quyển 13 và kinh Hiền Ngu quyển 12 chép: Tôn giả A-di-đá, trong vị lai lâu xa, khi con người sống tám vạn tuổi, nguyện thành Chuyển luân thánh vương tên là Loa. Tôn giả Di-lặc, cũng trong vị lai lâu xa, khi người sống tám vạn tuổi,nguyện thành Phật, hiệu là Di-lặc Như Lai. Luận Đại-tì-bà- sa quyển 178 cũng chép: Tỉ-khưu A-thị-đa đối với các cái có, khởi tâm ưa thích, khởi tâm thắng giải, khởi tâm mến mộ, khởi tâm hy vọng, khởi tâm tìm cầu, cho nên bị đức Phật quở trách. Còn Bồ-tát Từ Thị, đối với các cái có, không khởi tâm ưa thích cho đến tìm cầu; đối với các việc lợi lạc hữu tình, thì khởi từ tâm ưa thích cho đến tìm cầu; thế nên được đức Phật khen ngợi. Những kinh luận kể trên nói A-dật-đa và Di-lặc là hai người, cùng là đệ tử của Phật ở thời đại Ngài và được Ngài giáo hóa. [X. kinh Trung A-hàm Q.5; kinh A-la-hán Cụ Đức; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.25; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.Thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.22].
a dật đa bồ tát
Ajita Bodhisattva (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; 1) Vô Năng Thắng Bồ Tát—Ajita-Bodhisattva (skt). 2) Danh hiệu của Đức Phật Di Lặc: A title of Maitreya Buddha. ** For more information, please see Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a dật đa, vô năng thắng
Ajita (S) Invincible, title of Maitreya Buddha.
A Dục Vương
(s: Aśoka, p: Asoka, Aikuō, 阿育王, tại vị khoảng 270-230 ttl): âm dịch là A Du Ca (阿輸迦), ý dịch là Vô Ưu (無憂) gọi tắt là Dục Vương (育王), vị vua đời thứ 3 của vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀) vốn lấy thành phố Pāṭaliputra (tức Hoa Thị Thành [華氏城]) của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) làm thủ đô. Trong kinh điển Bắc Truyền bằng tiếng Phạn, Hán và Tây Tạng, đại thể ông xuất hiện khoảng hơn 100 năm sau khi đức Phật diệt độ; theo truyền thuyết của thánh điển Pāli thì cho rằng ông tức vị vào năm thứ 128 sau khi đức Phật diệt độ. Niên đại này được suy định từ niên đại của các vị vua Girisha mà có trong bản pháp sắc văn của nhà vua. Khi vua này tại vị, Ấn Độ là quốc gia vĩ đại thống nhất lần đầu tiên và chiếm đại bộ phận nước Ấn Độ dưới thời đại Anh Quốc. Vào thời trai trẻ, ông rất hung bạo đã giết anh em mình để lên làm vua rồi xâm lược các quốc gia lân cận; thế nhưng cuối cùng ông mới phản tỉnh hiểu được rằng bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng bi thảm cũng có nhiều người phải hy sinh, cho nên ông tự trách mình và vô cùng ân hận. Chính sự ân hận ấy đã dẫn dắt ông đến với Phật Giáo, biết rõ rằng chính Phật Giáo có lợi ích cho lí tưởng của nhân sinh và hoà bình của xã hội. Vì vậy ông đã qui y và nỗ lực tuyên xướng giáo lý Phật Giáo. Nhà vua đã đặt tên cho giáo lý này là “pháp”, cho biệt phái các vị Pháp Đại Thần cũng như tăng sĩ để đi truyền giảng pháp trong và ngoài nước. Chính đích thân ông cũng đi tuần du khắp nước, tiến hành thuyết pháp và tham bái các Phật tích. Tương truyền rằng ông đã cho xây dựng đầu tiên là A Dục Vương Viên Tự (阿育王園寺) tại thủ đô và kiến lập 84.000 ngôi tháp xá lợi khắp trong nước. Bên cạnh đó, ông còn chuyên tâm làm Phật sự, cho nên Phật Giáo đã nhất thời đi đến hưng thịnh tột đỉnh của nó. Chính nhờ vị vua này mà Phật Giáo cũng đã được lan truyền sang các quốc gia lân cận tại Ấn Độ. Phía Tây Bắc từ địa phương Gandhāra đến Girisha, rồi thông qua vùng trung ương Châu Á và đến tận Trung Quốc. Về phương Nam, Phật Giáo cũng được truyền sang Tích Lan (Sri Lanka), và nơi đây đã trở thành nguyên lưu của Phật Giáo Pāli (Nam Truyền Phật Giáo) của các nước phương Nam. Nhờ có A Dục Vương, Phật Giáo Ấn Độ đã phát triển rất mạnh với tư cách là Phật Giáo quốc tế, cho nên trong lịch sử Phật Giáo ông đã trở thành người có công lao cống hiến và ủng hộ đắc lực nhất. Với tư cách là trưởng lão của Phật Giáo, trong các truyện bằng tiếng Pāli, có nêu lên nhân vật Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (p: Moggaliputta-tissa, 目犍連子帝須), còn Phật Giáo Bắc Truyền có nhân vật Ưu Ba Cúc Đa (s, p: Upagupta, 優波毱多), cũng chính là vị vua này.
a dục vương
Aśoka (S), Asoka (P)1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.
; Asoka (S). King Asoka.
; Vị vua thời cổ Ấn Độ, thái tổ của triều đại Maurya. Một quân vương Phật tử, đã cải sang đạo Phật từ Ấn Độ giáo sau một cuộc trường chinh—Emperor of Ancient India, founder of Maurya Dynasty. A great Buddhist ruler, who was converted to Buddhism from Hinduism after a long period of war and conquest.
; (阿育王) Phạm: Azoka, Pāli: Asoka. Cũng gọi A-du-ca, A-du-già, A-thứ-già, A-thú-khả, A-thúc. Dịch ý: Vô Ưu Vương (vua không lo). Còn có tên Thiên Ái Hỉ Kiến Vương (Phạm: Devànaôpriya priyadrasì, trời thương yêu thấy thì mừng). Là vua đời thứ ba của triều đại Khổng Tước nước Ma-yết-đà Trung Ấn Độ. Vua ra đời khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, thống nhất Ấn Độ, là nhà bảo hộ Phật giáo mạnh mẽ nhất. Ông nội vua là đại vương Chiên-đà-la-cấp-đa (Phạm: Candragupta), người sáng lập triều đại Khổng Tước; thân phụ là vua Tân-đầu-sa-la (Phạm:Bindusàra), thân mẫu là A-dục-vi-đạt-na (Phạm:Azokàvadàna) con gái của một nhà Bà-la- môn ở thành Thiệm-ba. Lúc còn nhỏ, A-dục rất cuồng bạo, không được vua cha yêu mến. Gặp khi nước Đức-xoa-thi-la (Phạm:Takwazìla) làm phản, vua cha sai ông đi dẹp loạn, cốt ý cho chết ngoài chiến trận. Nhưng không ngờ A-dục lại đánh tan quân phản loạn và quyền uy lừng lẫy. Sau khi vua cha mất, ông giết hết anh em rồi lên làm vua. Có chỗ nói, A-dục giết chết chín mươi chín người anh em; sau khi lên ngôi vẫn rất bạo ác, tàn sát đại thần, phụ nữ, làm thêm nhà ngục, giết hại trăm họ vô tội, bởi thế gọi là Chiên-đà A-dục vương (Phạm: Caịđàzoka - vua A-dục bạo ác). Ấn Độ Phật giáo sử của Đa-la-na-tha gọi ông là Ái dục A-dục (Phạm: Kàmàzokavua A dục tham muốn). Nhưng trong các chương 4, 5, 6 của Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, chương 7 trong Pháp sắc khắc trên cột đá và Pháp sắc của Hoàng hậu v.v... đều chép rằng, trong thời gian vua A- dục cai trị, vẫn còn có anh em chị em. Bởi thế, truyền thuyết cho vua A- dục đã giết hết anh em có thể đã do đời sau nói phóng đại. Vua lấy thành Hoa Thị làm thủ đô, phạm vi cai trị bao quát toàn bộ Bắc Ấn Độ, một nửa Đại hạ, phía nam đến Án-đạt-la, phía đông đến bờ biển, ngang dọc vài nghìn dặm. Vua lại thi hành chính sách hợp lòng dân, yêu chuộng chân lí, giàu tinh thần bác ái, thực là từ khi Ấn Độ có lịch sử, vua A-dục là nhà thống trị có thành tích lớn lao mà trước ông chưa ai có được. Về năm tháng và nhân duyên vua qui y Phật, có nhiều thuyết khác nhau. Truyện A-dục vương quyển 1 nói, nhân thấy đạo hạnh của Tỉ-khưu Hải (Phạm: Samudra) mà vua qui y Phật. Chương 6 trong Đảo Sử và Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1 thì nói, do sự cảm hóa của ngài Ni-cù-đà (Pāli: Nigrodha) mà vua qui y Phật. Chương 6 trong Ấn Độ Phật Giáo Sử của Da-la-na-tha bảo, do sự tích kì lạ của vị đệ tử của A-la-hán Da-xá (Phạm:Yaza) mà vua qui y Phật. Theo Pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ ghi, sau khi qui y Phật, hơn hai năm rưỡi, tuy đã là Ưu-bà-tắc, nhưng vua chưa dốc lòng tin Phật, sau hơn một năm, vua mới gần gũi chư tăng và nhiệt tâm tu đạo. Khảo sát chung những đoạn ghi chép trên đây với câu Quán đính lên ngôi hơn mười năm thì đến với tâm Bồ-đề trong chương 8 của Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, thì biết vua đã trở thành Ưu-bà-tắc vào khoảng năm thứ bảy kể từ sau khi lên ngôi. Nhưng chương 6 trong Đảo sử thì chép, sau khi lên ngôi được ba năm thì vua qui y Phật. Lại theo chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn chép, sau khi lên ngôi được tám năm, thì vua chinh phục Yết-lăng-già (Phạm: Kalinga), thấy cảnh giết chóc thảm thương, vua rất xúc động, do vậy mà niềm tin Phật giáo lại càng kiên cố. Từ đó, vua quyết không dùng sức mạnh quân sự để mưu tìm con đường thống nhất nữa, và, với niềm tin sự thắng lợi nhờ chính pháp mà đạt được là sự thắng lợi trên hết (chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn), vua dốc sức vào việc truyền bá Phật pháp. Do đó, phần nửa đời sau của vua được gọi là Đạt-ma A-dục vương (Phạm: Dharmàzoka- vua A-dục chính pháp). Theo truyền thuyết, vua cho xây dựng tám vạn bốn nghìn ngôi chùa và tám vạn bốn nghìn tháp Phật khắp trong nước. Việc này đều được ghi chép trong chương 6 của Đảo sử, trong Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa quyển 1, trong kinh Tạp A-hàm quyển 23, trong truyện A-dục Vương quyển 1, v.v... Nhưng trong các Pháp sắc của vua thì không thấy ghi việc này. Lại Thiện Kiến Luật Tì-bà- sa quyển 2 cho biết, vua lên ngôi được mười bảy năm thì mở đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba ở thành Hoa Thị, thỉnh ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (Pāli: Moggaliputta-tissa) làm Thượng tọa, có một nghìn vị Trưởng lão tham dự, qua chín tháng mới hoàn thành. Kế đó, vua phái các vị có tên sau đây đi các nơi để truyền đạo: - Mạt-xiển-đề (Pāli: Majjhantika) đến nước Kế Tân (Pāli: Kasmìra) và nước Kiện-đà-la (Pāli: Gandhàra). -Ma-ha-đề-bà (Pāli: Mahàdeva) đến nước Ma-hê-sa Mạn-đà-la (Pāli: Mahisakamaịđala). - Lặc-khí-đa (Pāli: Rakkhita) đến nước Bà-na-bà-tư (Pāli:Vanavàsi). - Đàm Vô Đức (Pāli: Yonaka-dham marakkhita) đến nước A-ba-lan-đa-ca (Pāli:Aparantaka). – Ma-ha Đàm Vô Đức (Pāli: Mahàdham marakkhita) đến nước Ma-ha-lặc-đà (Pāli: Mahàraỉỉha). - Ma ha-lặc-khí-đa (Pāli: Mahàrakkhita) đến nước Du-na thế-giới (Pāli: Yonaka-loka). - Mạt-thị-ma (Pāli: Majjhima) đến nước Tuyết sơn biên (Pāli: Himavantapadesa). – Tu-na-ca (Pāli: Sonaka) và Uất-đa-la (Pāli: Uttara) đến nước Kim Địa (Pāli: Suvaịịabhùmi). – Ma-hi-đà (Pāli: Mahinda), Uất-đế-dạ (Pāli: Uttiya), Tham-bà-lâu (Pāli: Sambala) và Bạt- đà (Pāli: Bhaddasàla) đến nước Sư Tử (Pāli: Tambapaịịidìpa). Lại chương 7 trong Đảo sử có chép, Ca-tha-bạt-thâu (Pāli: Kathàvatthu) trong tạng luận Pāli đã được kết tập vào thời bấy giờ. Nhưng trong các Pháp sắc của vua không thấy ghi chép việc này. Tuy nhiên, các chương 3, 5 và 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn có ghi: mỗi năm năm, vua mở hội nghị các quan lại thuộc ngành Tư pháp và Thuế vụ để răn dạy về pháp, thụ lập pháp và đặt thêm các Đại pháp quan (Pāli: dhamma-mahàmàta). Khu vực truyền bá chính pháp xa đến Tự-lợi-á (Syria), Ai Cập, Mã Kì Đốn (Macedonia), Tắc-lợi-ni (Cyrene) v.v... Còn về truyền thuyết kết tập lần thứ ba, thì truyện A-dục vương do phương Bắc truyền hoàn toàn không đề cập gì đến. Luận Đại Trí Độ quyển 2 tuy có nói (Đại 25,70 Thượng): Vua A-du-ca mở đại hội Ban-xà-vu-sắt, các vị đại luận sư nghị luận khác nhau, vì thế có tên là Biệt bộ. Tuy vậy, đây cũng không thể cho là ý kết tập. Do đó, có thể nói, truyền thuyết về cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba này, sự thật thế nào chưa được rõ. Về những kinh điển được lưu truyền đương thời vua A-dục, thì trong Pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ ở Gia- nhĩ-các-đạt Bái-la-đặc (Calcutta-Bairàt) có ghi bảy thứ: 1. Tì-nại-da tối thắng pháp thuyết (Phạm: Vinaya-samukase). 2. Thánh Chủng kinh (Phạm:Aliya-vasàịì). 3. Đương Lai Bố Uý kinh (Phạm: Anàgata-bhyàni). 4. Mâu-ni kệ (Phạm: Muni-gàthà). 5. Tịch Mặc Hành kinh (Phạm: Moneya-sùte). 6. Ưu-ba-đế Sa-môn kinh (Phạm: Upatisa-pasine). 7. Thuyết La Hầu La kinh (Phạm: Làghulovada). Mấy thứ kinh trên đây, tương đương với: - Đại phẩm trong tạng Luật, - Tăng Chi bộ kinh, - Kinh Tập, một bộ phận trong Trung Bộ kinh thuộc Đại tạng Pāli. Lại Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 thì nêu ra các kinh mà những vị sư truyền đạo do vua A-dục phái đi đã giảng nói tại các nơi gồm có tám thứ sau đây: 1. Kinh Độc Thí Dụ (Pāli: Asivisopama-suttanta) 2. Kinh Thiên Sứ (Pāli: Devadùtasutta) 3. Kinh Vô Thủy (Pāli: Anamataggapariyàya-kathà) 4. Kinh Hỏa Tụ Thí (Pāli: Aggikkhandho-pama-suttantakathà) 5. Kinh Ma Ha Na La Đà Ca Diếp Bản Sinh (Pāli: Mahànàradakassapa-jàtaka) 6. Kinh Ca-la-la-ma (Pāli: Kàlakàràmasuttanta) 7. Kinh Sơ Chuyển Pháp Luân (Pāli: Dhammacakkapavattana-suttanta) 8. Kinh Phạm Võng (Pāli: Brahmajàlasuttanta) Chương 8 trong Đảo sử cũng nêu các kinh mà các nhà truyền đạo đã thuyết giảng, gồm có năm bộ: 1. Anamataggiya 2. Aggikkhandhopama-suttakathà 3.Nàradakassapa-jàtakakathà 4. Kàlakaràma-suttantakathà 5. Dhammacakkappavattana. Tất cả các kinh nêu trên, có thể nói, đều là những kinh điển được lưu truyền ờ đương thời vua A-dục. Còn theo các chương 1 đến 4 và 11 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, các chương 5, 7 trong Pháp sắc khắc trên cột đá ghi chép, thì sau khi lên ngôi, vua đã ban hành hai mươi sáu lần đặc xá. Ngoài ra, vua còn cấm sát sinh, làm việc bố thí, trồng cây hai bên đường, đào giếng v.v... Lại trên cột đá hiện còn ở trong vườn Lâm-tì-ni - nơi đức Phật đản sinh - có khắc câu: Sau khi quán đính lên ngôi được hai mươi năm thì đến nơi này. Pháp sắc khắc trên cột đá ở Ni-cát-lợi-ngõa (Pāli: Nigliva), có chép việc vua tham bái tháp Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Pāli: Konàgamana) và sửa chữa tháp này. Cuối đời, vua A-dục có vẻ rất buồn thảm. Theo truyện A Dục Vương quyển 3 chép, thì Vương hậu Đế-sa-la- xoa (Phạm:Tassàrakkhà) muốn tư thông với Vương tử Câu-na-la (Phạm: Kunàla), nhưng bị cự tuyệt, do đó, bà ta sai người móc mắt Vương tử. Vua nổi giận đốt sống Đế-sa-la-xoa, rồi đem tất cả của báu cúng dường hết, đến nỗi không còn một vật gì để cúng. Cuối cùng, vua lấy một nửa quả Am-ma-la (Phạm: àmalaka) cúng dường chùa Kê Tước (Phạm: Kurkuỉa). Về niên đại vua ra đời, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn nói: Các vua của năm Vương quốc thuộc Hi Lạp ở ngôi cùng số năm là 261 trước Tây lịch, hoặc khoảng 14 hay 15 năm, từ năm 272 đến năm 258 trước Tây lịch. Như vậy, ta có thể suy đoán là vua lên ngôi vào khoảng năm 270 trước Tây lịch. Về số năm từ khi đức Phật nhập diệt đến khi vua A-dục ra đời, thì kinh Tạp A-hàm Bắc truyền quyển 23, kinh Hiền Ngu quyển 3 phẩm A-du-ca Thí Thổ, kinh Tăng Già La Sát Sở Tập quyển Hạ, kinh Tạp Thí Dụ quyển Thượng, Đại Trang Nghiêm kinh luận quyển 10 và luận Đại Trí Độ quyển 2 v.v... ghi là vua ra đời sau đức Phật nhập diệt một trăm năm; luận Dị Bộ Tông Luân thì chép sau Phật nhập diệt hơn một trăm năm; luận Thập Bát bộ và luận Bộ Chấp Dị, thì bảo một trăm mười sáu năm. Lại chương 6 trong Đảo sử và Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 chép, sau đức Phật nhập diệt hai trăm mười tám năm thì vua lên ngôi, còn đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm thì có vua Ca-la A-dục (Phạm: Kàlàzoka) đang ở ngôi. Vu Điền Huyền Kí (Li#i-yulluị-bstan-pa) văn Tây Tạng chép, sau đức Phật nhập diệt hai trăm ba mươi tư năm có vua Đạt-ma A-dục. Còn chương 5 trong Đảo sử thì cho biết, thời gian vua A-dục cai trị là ba mươi bảy năm. [X. Đại Trang Nghiêm kinh luận Q.3, Q.4, Q.10; Soạn tập Bách Duyên kinh Q.10; A Dục Vương truyện; A Dục Vương kinh; A Dục Vương Tức Hoại Mục Nhân Duyên kinh; Phó pháp Tạng Nhân Duyên truyện Q.3; Đại Đường Tây Vực Kí Q.8, A Dục Vương Sự Tích; Ấn Độ Tông Giáo Sử khảo; Ấn Độ Triết Học Nghiên Cứu Q.2, Q.4].
a dục vương khắc văn
(阿育王刻文) Cũng gọi A-dục Vương pháp sắc. Chỉ các bài văn răn dạy, mang nội dung Phật pháp, do vua A-dục thuộc triều đại Khổng Tước ở Ấn Độ đời xưa, ra lệnh khắc ở các vách núi và trên các cột đá. Những bài văn này được khắc vào khoảng năm 250 trước Tây lịch. Văn tự dùng để khắc là một thứ tiếng địa phương (thổ âm) gần với tiếng Phạm và tiếng Pāli. Hiện nay người ta đã phát hiện được năm loại: bảy chỗ vách núi lớn, bảy chỗ vách núi nhỏ, mười cột đá, bài minh khắc trong hang đá và trên bản đá. Chỉ trong các pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ là có tên vua A-dục, ngoài ra, các loại khác đều dùng tên Vua Thiên Ái Hỉ Kiến (Phạm: Devànaôpiya piyadrazi, Pāli: Devànaôpiya piyadassin). Loại văn khắc pháp sắc này có phạm vi rất rộng, hầu như rải rác khắp Ấn Độ. Cao tăng Pháp Hiển truyện và Đại Đường Tây Vực Kí đã nhiều lần đề cập đến những cột đá này, về sau bị mai một, nên người đời không còn ai biết đến nữa. Mãi đến năm 1356, vua Hồi giáo là Fìroz Shàl mới phát hiện hai cột đá: một ở nơi cách Dehli hơn một trăm sáu mươi cây số và một ở chỗ khác cách Dehli hơn sáu mươi cây số, tất cả được dời về Dehli. Đến cách nay một trăm năm về trước, hai cột đá này được Thượng úy Hoare thuộc công ty Đông Ấn Độ của người Anh chú ý, rồi từ đó các cột khác được lục tục tìm thấy ở Ấn độ, Népal, A-phú-hãn v.v... Sau nhờ Prinsep khổ công nghiên cứu, đến năm 1837 mới xác nhận được đó là văn khắc của vua A-dục. Việc nghiên cứu lịch sử Ấn Độ và lịch sử Phật giáo từ đó tỏa ra nhiều màu sắc mới lạ. Những văn khắc của vua A-dục hoàn toàn ăn khớp với Đại sử, Đảo sử lưu truyền ở Tích Lan, nhờ đó có thể biết được lĩnh vực chính trị và công việc truyền giáo của vua A-dục. Đồng thời, nó phản ánh quan điểm đối với chính trị, đạo đức, Phật giáo và chế độ quản lí hành chính của vua A-dục. Những bài minh khắc trên vách núi lớn đều khắc trên tảng đá to hoặc trên gò đá, trong đó có chỗ khuyết lược, đều có mười bốn chương cáo văn, nhưng cũng có chỗ khắc riêng hai chương để thay thế. Văn tự dùng để khắc là chữ thể xưa Khư-lô-sắt-để (Phạm: Kharowỉhì) hoặc tiếng Phạm cổ (Phạm: Brahmè). Khảo xét phần ghi chép, có thể biết những văn khắc này được khắc vào khoảng từ mười hai đến mười bốn năm sau khi vua A-dục lên ngôi. Nói một cách khái quát, đại ý của những văn khắc này là cấm chỉ sát sinh, xây dựng các bệnh viện, viện dưỡng lão, đào giếng, sửa lại và định chế độ hội nghị, phát thuốc và khuyến khích trồng cây thuốc. Cứ năm năm một lần, vua mở đại hội Vô giá, quan dân đều tham dự, hoằng pháp lợi sinh, bảo đảm sự hưng thịnh của Phật pháp và hạnh phúc yên vui của nhân dân; tôn trọng tự do tín ngưỡng, khéo léo hòa giải sự xích mích giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau; cấm chỉ các nghi lễ giả dối trái đạo đức, phải đề cao những nghi thức hợp với chính pháp, vì phúc lạc ở đời sau, phải thoát ly tội nghiệp đời trước. Cáo văn này bày tỏ niềm hối hận sâu xa của vua A-dục về nỗi bi thảm do cuộc chinh phục nước Yết-lăng-ca mang lại. Chính vì đó mà vua qui y Phật giáo và hết lòng hoằng dương chính pháp, tin rằng chỉ có chinh phục bằng chính pháp là sự chinh phục hơn hết. Nhưng mục đích chủ yếu của vua là truyền bá Phật giáo cho người Hi Lạp. Những cáo văn khắc trên vách núi nhỏ có một chương hoặc hai chương, có giống nhau, khác nhau, nhưng hoàn toàn khác với mười bốn chương nói ở trên. Đại ý các văn khắc là: đối với bên ngoài thì mở rộng khu vực truyền bá đại pháp, đối với bên trong thì phải nêu cao sự hiếu thuận chân thực. Ngoài ra, còn có một chương riêng dạy bảo chư tăng nước Ma-yết-đà phải giữ gìn và tiếp nối đại pháp cho lâu dài. Trong mười cột đá, thì trên sáu cột khắc sáu chương cáo văn giống nhau. Bốn cột còn lại, mỗi cột khắc một chương văn khác nhau, và trên đầu cột của bốn cột đá này có tấm đá tròn hình cái chuông, trên để tượng sư tử, chung quanh riềm chạm trổ hoa sen, gỗng v.v... về chiều cao, cột nhỏ cao chừng tám mét, cột lớn cao tới hơn mười mét. Khảo xét những văn khắc, có thể biết vua A-dục đã làm những văn khắc này vào khoảng hai mươi sáu năm đến hai mươi chín năm sau khi lên ngôi. Nội dung cấm chỉ giết hại, các quan phải lấy nhân từ làm chính để làm cho đạo thưởng phạt không lầm; khuyên dân chúng dùng chính nghĩa để xa lìa nghiệp ác; vua đối đãi với thần dân không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tín ngưỡng, mà chỉ nhìn họ bằng đôi mắt thương yêu như một. Còn những chương văn khác thì khắc ghi nhân duyên Vương phi bố thí rừng cây v.v... hoặc ghi việc vua tham bái các Phật tích và dựng cột đá. Những văn khắc trong hang đá, đều ghi sự tích bố thí hang động. Ở gò Phạ-lạp-phạ-nhĩ (Baràbar), cách Bồ-đề-già-da (Phạm: Buddha-gaya) hơn hai mươi cây số về mạn Bắc, có bốn hang đá, trong đó, ba hang có văn khắc ghi chép việc bố thí hang động. Bản đá mới tìm thấy gần đây vốn là đá vách của một nhà nông ở gần Orissa. Trong các loại văn khắc trên đây, đặc biệt đáng chú ý là điều 13 trong văn khắc trên vách núi, nội dung nói về việc vua A-dục giao thiệp với nước ngoài. Nhân vật xuất hiện trong văn là ông vua Hi Lạp vào khoảng năm 260 đến 258 trước Tây lịch, nhờ đó có thể suy đoán mà biết niên đại vua A-dục ra đời và khu vực truyền bá Phật giáo. [X. Ấn Độ Tông Giáo Sử Khảo; Phật Điển Kết tập; A-dục Vương Sự Tích; É. Senart: Inscriptions de Piyadasi; E. Hultsch: Corpus Inscriptionum Indicarum; V. A. Smith: Asoka].
a dục vương sơn
Aikuōzan (J), Ayuwang-shan (C).
; Núi vua A Dục bên Tàu—Asoka Mountain in China.
; (阿育王山) Núi nằm về phía Đông huyện Ngân tỉnh Triết Giang Trung Quốc. Gọi tắt là núi Dục Vương, xưa gọi là núi Mậu. Vào năm Thái Khang thứ 2 (281, có thuyết cho là năm thứ 3, hoặc niên hiệu Thái Thủy năm đầu) thời Vũ Đế nhà Tây Tấn, ngài Tuệ Đạt (tên tục là Lưu-tát-ha), đến núi Mậu thuộc huyện Mậu, ngài thấy một ngôi tháp cổ, và cho đó là một trong số tám vạn bốn nghìn tháp do vua A-dục xây dựng, ngài liền cất tịnh xá để thờ tháp này, và đổi núi Mậu là núi A-dục Vương. Tịnh xá của ngài Tuệ Đạt, về sau được mở rộng thêm thành chùa A Dục Vương, là sơn môn thứ năm trong năm sơn môn của Thiền tông Trung Quốc. Đến đời Tống, chùa A Dục Vương là đạo tràng của tông Lâm Tế. Các thiền sư Tông Cảo, Đức Quang, Sư Phạm v.v... đã lần lượt đến truyền giáo đây, qua một thời hưng thịnh. [X.. Phật Tổ Thống Kỉ Q.36, Q.45, Q.47, Q.53; Pháp Uyển Châu Lâm Q.38; Dục Vương Tự Chí] (xt. A Dục Vương Tự).
a dục vương tháp
Ngôi tháp Vua A Dục hay tháp Đại Giác do vua A Dục xây dựng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề cách nay hơn 2.500 năm tại miền bắc Ấn Độ, bây giờ là một phần của Nepal. Phía sau Tháp Đại Giác, có một tháp nhỏ bằng đá, nằm trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo Tràng, với những hình tượng nổi—The stupa of King Asoka or the Maha Bodhi Temple erected by king Asoka in the third century B.C. at Buddha Gaya where the Buddha attained enlightenment over 2,500 years ago in northern India, present-day part of Nepal. Behind the Maha Bodhi Temple at Buddha-Gaya, there is a small stupa, made of stone with the carved images of Buddhas.
; (阿育王塔) Các tháp do vua A-dục xây dựng. Sau khi qui y Phật, vua A-dục làm rất nhiều Phật sự, đến đâu cũng xây dựng chùa tháp thờ Xá-lợi Phật và cúng dường chư tăng. Theo Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1 chép, lúc bấy giờ có tám vạn bốn nghìn nước dưới quyền thống trị của vua A-dục, nhà vua ra lệnh cho các nước ấy xây dựng tám vạn bốn nghìn chùa lớn và tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu. Truyện A Dục Vương quyển 1 và kinh A Dục Vương quyển 1 chép, vua A-dục nhờ Tỉ-khưu Hải mà biết việc Phật nói trước, liền đến thành Vương Xá, lấy bốn thăng xá lợi do vua A- xà-thế chôn, và lấy hết xá lợi chôn ở sáu chỗ khác, rồi làm tám vạn bốn nghìn cái hộp báu, mỗi hộp đựng một viên xá lợi, lại làm tám vạn bốn nghìn cái lọ báu, tám vạn bốn nghìn cái nắp báu, tám vạn bốn nghìn xếp lụa, xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu. Truyện Cao tăng Pháp Hiển và Đại Đường Tây Vực Kí... cũng đều có nói việc vua A-dục xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp. Kinh Tạp thí dụ quyển thượng thì chép, để cầu hết bệnh, vua A-dục đã xây một nghìn hai trăm ngôi chùa và mỗi ngày cúng dường hai mươi nghìn vị tăng, khiến cho ngoại đạo ghen ghét, toan phá hoại Phật pháp. Các kinh điển nêu trên tuy nói một nghìn hai trăm hoặc tám vạn bốn nghìn chùa tháp, con số ấy chưa hẳn tin được; nhưng vì lòng nhiệt thành truyền giáo và bảo hộ chính pháp, mà vua A-dục đã xây dựng rất nhiều chùa tháp, thì đó là việc có thật. Rất tiếc, vì đã lâu đời, nên những chùa tháp ấy hầu hết đã bị mai một. Ngôi tháp cổ ở Sanchi bên Ấn Độ có lẽ là một trong những chùa tháp do vua A-dục dựng, nhưng điều này cũng chưa thể xác dịnh được. Khi các ngài Pháp Hiển, Huyền Trang đến Ấn Độ, đã thấy rất nhiều tháp do vua A-dục xây. Điều này được ghi trong Đại Đường Tây Vực Kí và Cao tăng Pháp Hiển truyện. Lại xưa nay cũng có truyền thuyết rằng, tháp của vua A-dục còn được lưu giữ ở Trung Quốc và Nhật Bản. Quảng hoằng minh tập quyển 13 nêu ra mười bảy ngôi tháp ở huyện Mậu, và cho đó là số tháp trong tám vạn bốn nghìn ngôi tháp của vua A-dục làm. Còn Pháp Uyển Châu Lâm quyển 38 nói, ở huyện Mậu có hai mươi mốt ngôi tháp, và cho tất cả đều do vua A-dục xây. Ngoài ra, Đường Đại Hòa Thượng Đông Chinh truyện của ngài Nguyên Khai cũng ghi chép giống như thế. Nhưng, lãnh thổ của vua A- dục chưa bao giờ được mở rộng đến Trung Quốc, do đó, những ngôi tháp do nhà vua xây còn được giữ lại ở Trung Quốc là điều không thể có. Lại Nguyên Hanh Thích Thư quyển 11 của Nhật Bản nói, chùa Tháp Đá ở quận Sinh gần Giang Phố, là một trong tám vạn bốn nghìn tháp xá-lợi do vua A-dục xây cất. Nhưng đây e là tháp do vua Ngô Việt Tiền hoằng thục làm rồi sau bị truyền lầm. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 chép, khoảng niên hiệu Kiến Long năm đầu (960) đời Tống, vua Ngô Việt Tiền hoằng thục ngưỡng mộ việc vua A-dục xây tháp, bèn dùng vàng bạc và thép tốt làm tám vạn bốn nghìn tháp nhỏ, bên trong để kinh Bảo Kiếp Ấn Tâm Chú, rồi đem thờ khắp trong nước; khoảng mười năm công việc mới được hoàn thành. Bấy giờ, có vị sư người Nhật là Nhật Diên đến Trung Quốc, đưa được vài cái trong số tháp ấy về Nhật Bản, nên đời sau có người tin lầm là tháp do vua A-dục làm.
a dục vương thạch trụ
Trụ đá do vua A Dục của Ấn Độ dựng lên năm 250 trước Tây Lịch trong vườn Lâm Tỳ Ni của xứ Nepal, ghi dấu nơi Đức Phật đản sanh năm 624 trước Tây Lịch—Asoka Marble Pillar, a pillar erected by Indian king of Asoka in 250 B.C. in Lumbini garden in present-day Nepal, to show that the Buddha was born here in 624 B.C.
; (阿育王石柱) Cột đá hình tròn do vua A-dục thuộc Đầu cột trên cột đá của Vua A Dục triều vua Khổng Tước của Ấn Độ xây dựng ở lưu vực sông Hằng vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, để khắc pháp sắc (Phạm: dharma-dipi, Pāli: dhamma-lipi). Đến nay người ta đã phát hiện mười cột. Trong số này, có sáu cột cao từ mười đến mười ba mét không đều nhau. Các pháp sắc được khắc gồm có sáu chương chung một nội dung: tôn trọng Phật pháp, khuyên làm việc lành, dứt bỏ điều ác, cấm chỉ giết hại, nhân từ bình đẳng, tạo phúc lợi cho mọi người... Ngoài ra, trên các cột đá đều có ghi chép sự tích vua A-dục. Bốn cột còn lại cao khoảng bảy mét rưỡi, nội dung pháp sắc trên bốn cột này không giống nhau, đại khái là cấm phá hòa hợp tăng, và ghi việc vua A-dục đi chiêm bái các Phật tích. Trên đầu cột đá có chạm hình các loài thú, chẳng hạn như tượng sư tử. Tuy đã lâu đời, nhưng đến nay, những hình tượng ấy vẫn còn có thể phân biệt được rõ ràng. Và niên đại của Ấn Độ xưa khắc trên các cột đá rất được giới học thuật coi trọng. (xt. A Dục Vương Khắc Văn).
a dục vương truyện
Aśokāvadāna-mālā (S), Legends of King Asoka.
; Asokàvadàna-màlà (S). Garland of the legends of King Asoka.
; Stories of King Asoka.
; (阿育王傳) Sách truyện gồm 7 quyển, do ngài An Pháp Khâm đời Tây Tấn dịch, thu vào Đại Chính Tạng tập 50. Sách này ghi lại sự tích của vua Có tất cả mười một phẩm: 1. Bản thí thổ duyên. 2. A-dục vương bản duyên A-dục và nhân duyên của các tôn giả Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-cúc-đa v.v... truyện. 3. A-thứ-già vương đệ bản duyên. 4. Câu-na-la bản duyên. 5. Bán Am-la quả nhân duyên. 6. Ưu-ba-cúc-đa nhân duyên. 7. Ma-ha Ca-diếp Niết-bàn nhân duyên. 8. Ma-điền-đề nhân duyên. 9. Thương-na hòa-tu nhân duyên. 10. Ưu-ba-cúc-đa nhân duyên. 11. A-dục vương hiện báo nhân duyên. Bản dịch khác của tập truyện này là: kinh A Dục Vương 10 quyển (cũng được thu vào Đại Chính Tạng tập 50), do ngài Tăng-già-bà-la dịch vào đời Lương, gồm có 8 phẩm: 1. Sinh nhân duyên. 2. Kiến Ưu-ba-cấp-đa nhân duyên. 3. Cúng dường Bồ-đề thụ nhân duyên. 4. Cưu-na-la nhân duyên. 5. Bán am-ma-lặc thí tăng nhân duyên. 6. Phật kí Ưu-ba-cấp-đa nhân duyên. 7. Phật đệ tử ngũ nhân truyền thụ pháp tạng nhân duyên. 8. Ưu-ba-cấp-đa đệ tử nhân duyên. Trong đây, bốn phẩm 1, 2, 5, 10 trong truyện A-dục vương là cùng bản với chương 26 đến chương 29 trong bản tiếng Phạm Divyàvadàna (do E. B. Cowell, R. A. Neil v.v... xuất bản vào năm 1886 Tây lịch) và quyển 23, 25 trong kinh Tạp A-hàm. Phẩm Cưu- ma-na nhân duyên tương đương với bản dịch Tây Tạng Ku-na-la#i rtogs-pabrjod-pa. Ngoài ra, học giả người Pháp E. Burnouf dịch bộ phận ghi chép truyện vua A-dục trong Divyàvadàna ra tiếng Pháp vào năm 1845 Tây lịch, và in chung trong tác phẩm Ấn Độ Phật Giáo Sử Tự Luận (Introduction à l’histoire du Bouddhisme indien) của ông. Còn L. Feer thì dịch A-dục vương truyền thuyết bản Tây Tạng ra tiếng Pháp, đề là Légende du roi Azoka (A dục vương truyền thuyết), ấn hành ở Paris năm 1865. Lại ngoài Divyàvadàna nói ở trên, còn có bản tiếng Phạm nữa là Azokavadàna, được R. Mitra (người Anh) dịch đại ý trong tác phẩm Nepalese Buddhist Literature (văn học Phật giáo Népal) của ông vào năm 1882. [X. Xuất Tam Tạng Kí tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.2, Q.6; Phật Giáo Sử Địa Khảo luận (Ấn Thuận, Diệu Vân tập hạ biên 9 đệ tam)].
a dục vương tự
(阿育王寺) I. A-dục vương tự. Tên Phạm: Azokàràma. Tức chùa Kê Viên ở thành Ba-tra-li-tử nước Ma-yết-đà Trung Ấn Độ. Vì chùa này do vua A- dục xây dựng, nên Phật giáo Nam truyền gọi là chùa vua A-dục. [X. Đảo Sử chương 7]. II. A-dục vương tự. Chùa ở trên núi A-dục vương, phía đông huyện Ngân, thuộc tỉnh Triết Giang bên Trung Quốc. Pháp Uyển Châu Lâm quyển 38 chép, năm Thái Khang thứ 2 (281, có thuyết nói năm thứ 3, hoặc niên hiệu Thái Thủy năm đầu), đời Vũ Đế nhà Tây Tấn, có người xứ Li Thạch thuộc Tinh Châu, tên là Lưu-tát-ha, trong lúc mơ màng thấy một vị tăng người Ấn Độ bảo tội mình nặng, sẽ đọa vào địa ngục, phải đến Cối Kê lễ tháp A dục vương, để sám hối các tội. Sau khi tỉnh dậy ông liền xuất gia, đổi tên là Tuệ Đạt. Rồi đến Cối Kê ở huyện Mậu tìm tháp, nhưng tìm khắp nơi mà không thấy, nên rất phiền muộn buồn bã. Một đêm, bỗng nghe từ đưới đất có tiếng chuông vọng lên. Ba ngày sau thì có tháp báu và xá lợi xuất hiện. Tháp này không phải vàng ngọc đồng sắt, cũng không phải đất đá; mang màu đen tía, chạm trổ khác thường, bốn mặt khắc bốn cảnh: cảnh Vương tử Tát-đỏa, cảnh cho mắt, cảnh bỏ não, cảnh cứu chim câu v.v... Trên tháp không có lộ bàn (vật hình tròn giống như cái mâm đặt trên nóc tháp), bên trong treo chuông. Tuệ Đạt liền cất tịnh xá ở chỗ ấy để cúng dường tháp và dốc lòng lễ bái sám hối. Đó là nguồn gốc của điện Xá-lợi trên núi A-dục vương. Niên hiệu Nghĩa Hi năm đầu (405), vua An Đế nhà Đông Tấn ra sắc chỉ làm tháp, đình và Thiền đường, thỉnh chư tăng trụ trì gìn giữ. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 2 (425) đời Lưu Tống, ngài Đạo Hựu vâng mệnh vua sửa sang chùa này và xây thêm ba tầng tháp. Năm Phổ Thông thứ 3 (522), vua Vũ nhà Lương xuống lệnh xây cất điện nhà, phòng xá, hành lang, ban biển hiệu A Dục Vương Tự. Về sau, chùa này đều được các vua Giản Văn Đế, Trần Tuyên Đế, Đường Trung Tông, Đường Tuyên Tông, Đường Ý Tông Và Thế Tông Nhà Hậu Chu kính ngưỡng. Chùa này vốn là viện của Luật tông, nhưng từ khi vua Chân tông nhà Tống ban hiệu Quảng Lợi Thiền Tự thì trở thành Thiền viện của mười phương. Thời vua Anh Tông, ngài Đại Giác Hoài Liễn trụ trì chùa này, phát huy tông phong. Sau, các Thiền sư Tông Cảo, Giới Thầm, Đức Quang, Sư Phạm v.v... lần lượt đến đây truyền pháp, nên đạo tràng Lâm Tế hưng thịnh một thời. Năm Hồng Vũ 15 (1382) đời Minh, chùa này được sửa lại và đổi tên là Dục Vương Thiền Tự, là sơn môn thứ năm trong năm sơn môn của Thiền tông Trung Quốc. Hiện nay, còn điện Xá-lợi, điện Thiên vương, Đại hùng bảo điện, v.v... Điện Xá-lợi có khắc bia gác Thần Khuê, bài minh suối Diệu Hỉ, và bia ruộng thường trụ chùa A-dục Vương khắc vào đời Đường... Ngoài ra, ở Qua Châu, Thanh Châu, huyện Bồ Phản tỉnh Hà Đông, Tinh Châu v.v... cũng có chùa A-dục Vương. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q.13; Pháp Uyển Châu Lâm Q.31; Thích Thị Kê Cổ Lược Q.4; Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành Chức Phương Điển 979].
a gia hạ hàm
(阿爺下頷) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ xương hàm dưới của cha. Đứa con ngu dại khi tìm hài cốt của người cha chết nơi chiến trường, nhận lầm mảnh xương tàn của con lừa là xương hàm dưới của cha mình, rồi kính cẩn mang về. Mẩu truyện cổ này sau được dùng làm lời mắng chửi người ngu dại, không phân biệt được thật, giả. Thung Dung Lục Tắc 38 (Đại 48,52 Trung) chép: Lấy giặc làm con, nhận đứa ở làm chồng. Sao lại coi cái gáo vỡ là đầu lâu của tiên tổ? Cái cầu yên lừa đâu phải là xương hàm dưới của cha mình?. Cầu yên lừa,...... (Lư yên kiều), yên kiều, vốn chỉ cái yên ngựa. Hình dáng cái yên ngựa giống như cây cầu, vì thế gọi là yên kiều. Cầu yên lừa, tức chỉ cái xương con lừa hình dáng như cái yên ngựa. Đứa con ngu si không phân biệt được xương thú vật, cho nên mới lầm xương lừa là di cốt của cha mình.
a già
1) Nước: Arhya or Argha (skt)—Water. 2) Nghi thức dâng nước thơm trong các buổi lễ: Ceremonial water, e.g. offerings of scented water, or water containing fragrant flowers in ceremonies.
a già la
Xem Bất động Tôn Bồ tát.
a già la già
Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars; a star of ill omen; a representation in the Garbhadhatu.
a già lâu
Aguru or Agaru (skt). 1) Một loại trầm hương: Fragrant aloe-wood; the incense that sinks in water. 2) Tên của một ngọn núi: Name of a mountain.
a già lợi da
Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo Thọ—Spiritual teacher—Master—Preceptor. ** For more information, please see Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ngũ Chủng A Xà Lê in Vietnamese-English Section.
a già ma
Agama (skt)—See A Hàm Kinh.
a già nhất nghễ
(阿遮一睨) Chỉ dáng mạo của Bất Động Minh Vương, mắt trái nhắm, mắt phải mở liếc nhìn. Tên Phạm của Bất Động Minh Vương là Acala, dịch âm A-giá-la, gọi tắt là A-giá. Nhất nghễ: một mắt liếc nhìn, có nghĩa là mắt trái của Minh Vương bị chột. Bất Động Minh Vương nhắm mắt trái là biểu thị sự mê mờ của thế giới sống chết; mắt phải liếc nhìn, biểu thị dứt trừ một hoặc (phiền não) trong căn bản vô minh, hay biểu thị soi rọi nhơ sạch không hai, tà chính như một, hay biểu thị hết thảy chúng sinh đều hòa vào một lí chữ A. Bí Tạng Bảo Thược quyển 1 (Đại 77, 363 thượng) nói: A-giá nhất nghễ, gió nghiệp thọ không lay động. [X. kinh Đại Nhật phẩm Cụ Duyên]. (xt. Bất Động Minh Vương).
a già phôi
Cái bình hay cái bát—The vase or bowl.
a già sắc
(阿伽色) Cũng gọi A-ca-sắc. A-già, Phạm: agha. Bao hàm hai nghĩa trái nhau. 1. Nghĩa tích tập, rất chướng ngại. Chỉ sự tích tập những vật chất (sắc pháp) có hình tướng và thô tạp, một mặt chúng bị các thứ vật chất khác làm chướng ngại, mặt khác chúng cũng lại gây chướng ngại cho các thứ vật chất khác. Theo nghĩa này, thì sắc của hư không giới lấy sáng, tối làm thể tính, phải tiếp cận với sắc a-già vốn có tính chướng ngại, thì mới có thể cấu thành ý nghĩa vật chất tồn tại được. Bởi vì, nếu đứng về mặt trạng thái tồn tại của vật chất mà nói, thì trong thế gian tuyệt không có một vật gì tồn tại một cách đơn độc cả, như một cái cây, một trái núi, cho đến nhỏ như một hạt bụi, nếu không tiếp cận hư không, mà chỉ gần sát các vật chất khác, thì cây, núi, bụi lại có thêm các vật chất khác gần sát, chứ không còn là trạng thái cây, núi, bụi như trước nữa. Duy chỉ tiếp cận hư không, mới có thể giữ lại và hiển hiện rõ cái trạng thái vật chất nguyên gốc. Cây, núi, bụi nói trên tức là sắc a-già có đủ tính chướng ngại, còn sắc hư không giới thì gần sát với sắc a-già, vì thế gọi là sắc gần với sắc a-già (Phạm:agha-sàmantaka). 2. Nghĩa không ngại, nghĩa này trái lại với nghĩa trên, chỉ cho sắc hư không giới không có hình tướng và rất nhỏ nhiệm, không bị bất cứ thứ vật chất nào làm trở ngại, cũng không cấu thành chướng ngại đối với bất cứ thứ vật chất nào khác. Sắc hư không giới này thế tất phải gần gũi với các vật chất khác có tính chướng ngại, cho nên gọi là Lân-a-già-sắc, nghĩa là sắc a-già gần sát vật chất có tính chướng ngại. [X. luận Câu Xá Q.1; Câu Xá Thích luận Q.1; Câu xá Luận Quang Kí Q.1; Câu Xá Luận Bảo Sớ Q.1 hạ; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24].
a già đà
Agada (skt)—A Yết Đà—Một thứ thuốc phòng ngừa và trị mọi thứ bệnh, mọi thứ độc—Free from disease, an antidote, a medicine that entirely rids of disease, elixir of life, universal remedy (phổ khử).
a già đà (dược)
Agada (S). Free from disease, an antidote, elixir of life, universal remedy.
a già đà dược
(阿伽陀藥) A-già-đà, Phạm: Agada. Cũng gọi A-yết-đà, A-kiệt-đà. Nguyên ý là mạnh khỏe, sống mãi không chết, không đau ốm, trừ bỏ hết, vô giá, sau được dùng để gọi tên thuốc, đặc biệt chỉ thuốc giải độc. Thuốc A-già-đà cũng gọi là thuốc không chết, thuốc tiên. Thuốc này rất hay, có giá trị vô lượng, uống vào có thể trừ khử hết mọi bệnh. Phương pháp bào chế thuốc này được ghi rõ trong kinh Đà-la-ni Tập quyển 8. [X. kinh Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chân Ngôn Q.18 phẩm Liên Hoa Đính a-già-đà; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.Thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.25].
a già đàm
Aghana (skt)—Không rắn, không đặc—Not solid, not dense.
a già đàm ma văn đồ
Xem Thánh pháp ấn kinh.
a ha ha
Ahaha (skt)—Âm thanh của tiếng cười—Sound of laughter.
a hiệu
(阿號) Dụng ngữ của Phật giáo Nhật Bản. Tịnh Độ tông và Thời tông ở Nhật Bản, đối với các vị tăng lữ quá cố, ngoài pháp húy ra, còn tặng thêm A hiệu. Nói đủ là A-di-đà Phật hiệu, A-di-đà Phật danh. Tức ngoài tên chữ của vị tăng lữ ra, lại còn thêm chữ A được nói tắt từ A-di-đà Phật, gọi là A hiệu. Khởi đầu từ Tuấn Thừa Phòng Trùng Nguyên (1121 - 1206) ở chùa Đông Đại, Nhật Bản, sau khi nghe ngài Pháp Nhiên nói pháp, Trùng Nguyên phát nguyện, lúc chết rồi, nếu đến cung vua Diêm ma, khi bị hỏi tên thì nói Phật hiệu A-di-đà Phật. Do đó, bài vị của Trùng Nguyên được viết là Đại khuyến tiến thượng nhân Na mô A di đà Phật. Về sau, Na mô A di đà Phật còn được gọi là Không A-di-đà, Pháp A-di-đà, rồi chẳng bao lâu, lại nói tắt là Không a, Pháp a, tông Tịnh độ và Thời tông cũng noi theo cách gọi tắt ấy. [X. Hắc Cốc Thượng Nhân truyện; Pháp Nhiên Thượng Nhân Hành trạng họa đồ Q.14].
a hàm
Nikāya (P)Thánh điển Ngũ bộ, Kinh bộ Pali, Bộ tập, Bộ pháiChỉ kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali.
; Agama (S). A collection of doctrines, general name for the Hinayàna sciptures: - Trường A hàm Dirgàgama, Trung A hàm Màdhyamàgama, Tạp A hàm Samyuktàgama, Tăng nhất A hàm Ekottarikàgama.
; Bốn thứ kinh Tiểu thừa bằng tiếng Pali gọi là Tứ A Hàm. Gồm Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và Tạp A Hàm.
; Agama (skt)—A Cấp Ma—A Hàm Mộ. (A) Tên gọi chung của Kinh Tiểu Thừa—A collection of doctrines, general name for the Hinayana scriptures. (B) Nghĩa của A Hàm—The meanings of Agama: 1) Pháp Quy: Muôn pháp đều quy về nơi đây mà không sót—The home or collecting-place of the Law or Truth. 2) Vô Tỷ Pháp: Diệu pháp không gì sánh bằng—Peerless Law. 3) Thú Vô: Ý chỉ được nói ra cuối cùng không theo về đâu cả—Ultimate or absolute truth.
; (阿含) Phạm, Pāli: Àgama. Cũng gọi A-cấp-ma, A-già-ma, A-hàm-mộ, A- hàm. Dịch ý là Pháp qui, Pháp bản, Pháp tạng, Giáo pháp, Giáo phần, Chủng chủng thuyết, Vô tỉ pháp, Truyền giáo, Tịnh giáo, Thú vô, Giáo, Truyền, Qui, Lai, Tạng. Gần đây, các học giả lại giải thích nghĩa A-hàm là Lai trước, Thú qui, Tri thức, Thánh ngôn, Thánh huấn tập, Kinh điển v.v... Tức chỉ cho những giáo thuyết được truyền thừa, hoặc các Thánh điển do những giáo thuyết tập thành. A-hàm thông thường chỉ bốn bộ A- hàm hoặc năm bộ A-hàm Thánh điển của Phật giáo Nguyên Thủy. Các bộ luận giải thích về A-hàm gồm có: luận Du Già Sư Địa quyển 85, Dị Bộ Tông Luân luận thuật kí, Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 4 phần đầu, Câu Xá Luận Quang Kí quyển 28, Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 23, quyển 25, Du Già Luận Kí quyển 6 thượng, Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 18, quyển 26, quyển 51, Hi Lân Âm Nghĩa quyển 8, Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao quyển 4 phần trên, v.v... Những luận nêu trên đều giải thích A- hàm là giáo pháp được truyền thừa. Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 thì cho A-hàm là nghĩa dung chứa, tụ tập. Nhưng đây có thể là chỉ cho tiếng Pāli Nikàya có nghĩa tập hội hoặc toản tập, chứ không phải giải thích àgama. Pháp Hoa Luận Sớ quyển Trung có nêu ra thuyết của ngài Đạo An đời Đông Tấn, giải rằng: A-hàm là thú vô, vì tất cả pháp đều qui về pháp Không rốt ráo. Trong bài Tựa kinh A-hàm, ngài Tăng Triệu giải thích A-hàm là pháp qui. Có thể nói, tất cả sự giải thích trên đây đều không đúng với ý chính của chữ A-hàm. Bởi vì A-hàm là giáo pháp được truyền thừa, sau khi đức Phật nhập diệt mới lần lượt được kết tập, thành nội dung của tạng Tu-đa-la (Phạm: Sùtrànta-piỉaka, tạng kinh) trong ba tạng, chia làm bốn A-hàm hoặc năm A-hàm. Trong đây, bốn A-hàm tức là: Trung A-hàm, Trường A-hàm, Tăng Nhất A-hàm, Tạp A-hàm (hoặc Tương Ưng) mà kinh Bát-nê-hoàn quyển Hạ, Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 39, luận Đại Trí Độ quyển 2, luận Du Già Sư Địa quyển 85, Soạn Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện v.v... đã đề cập đến. Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển 1 phẩm Tựa, kinh Đại Bát Niết Bàn, bản Bắc, quyển 13, kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luận quyển 2 v.v... cũng có ghi tên của bốn A-hàm.Về năm A-hàm, thì Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1, Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la Sở Thuyết Pháp Trụ Kí v.v... ghi là: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Thuật Đa (Tương Ưng), Ương-quật- đa-la (Tăng nhất) và Khuất-đà-ca (Tạp loại). Luật Ngũ phần quyển 30, luật Ma-ha Tăng Kì quyển 32, luật Tứ phần quyển 54, luận Phân Biệt Công Đức quyển 1 trung, v.v... gọi Khuất-đà-ca A-hàm trong năm A-hàm là Tạp Tạng. Năm A-hàm này tương đương với năm bộ kinh (paĩcanikàya) trong kinh Phật bằng tiếng Pāli. Theo Tì-nại-da Tiểu phẩm (Vinaya cùơavagga), Nhất Thiết Thiện Kiến (Samanta-pàsàdikà I) và bài Tựa của Trường Bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì), thì năm bộ kinh là: Dìgha-nikàya, Majjhima-nikàya, Saô-yutta-nikàya, Aíguttara-nikàya và Khuddaka-nikàya, tương đương với năm bộ A-hàm: Trường, Trung, Tương Ưng, Tăng Chi và Tiểu Bộ kinh hiện nay. Về sự truyền thừa A- hàm, thì bài tựa Trường Bộ kinh chú cho biết: sau đại hội kết tập lần thứ nhất, Trường Bộ kinh do hệ thống A-nan, Trung Bộ kinh do hệ thống Xá- lợi-phất, Tương Ưng bộ do hệ thống Đại Ca-diếp, Tăng chi bộ do hệ thống A-na-luật lần lượt truyền thừa. Theo luận Dị Bộ Tông Luân, luận Câu Xá quyển 29, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 2 của ngài Vô Tính, luận Thành Duy Thức quyển 3 v.v... thì A-hàm do các bộ phái truyền thừa tựa hồ không giống nhau. Theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1 phần đầu của ngài Khuy Cơ, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 4 phần cuối, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Đàm quyển 8 của ngài Trừng Quán, thì bốn bộ A-hàm và luật Ma-ha Tăng Kì đều do Đại chúng bộ truyền. Còn Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng của ngài Pháp Chàng, thì cho Trung A-hàm và Tạp A-hàm là do Tát-bà-đa bộ truyền, Tăng nhất A-hàm do Đại chúng bộ truyền, Trường A-hàm do Hóa Địa Bộ truyền, Biệt dịch Tạp A-hàm do Ẩm Quang Bộ truyền. Nhưng thuyết này cũng chưa chắc đã đúng. Tóm lại, A-hàm là do các bộ phái đều tự truyền thừa riêng, nhưng sau khi kinh điển Đại thừa phát đạt, so với A-hàm, mới cho A-hàm là tên gọi khác của kinh điển Tiểu thừa. Lại theo luận Đại trí độ quyển 33, quyển 49, quyển 100, thì tên gọi A-hàm cũng chung cho cả Đại thừa, cho nên trong kinh Đại Bát-nê-hoàn quyển 6 mới có từ ngữ Phương đẳng A-hàm. Phương đẳng A-hàm tức là chỉ kinh điển Đại thừa. [X. Du Già luận kí Q.22 Thượng; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24; Hi Lân Âm Nghĩa Q.8; Phiên Phạm Ngữ Q.1; Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.9; Dị Bộ Tông Luân Luận Thuật Kí Phát Nhẫn Q.Thượng; Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành đệ nhị chương đệ tam tiết, đệ tứ tiết, đệ thất chương (Ấn Thuận)]. (xt. A Hàm Kinh).
a hàm bộ
See Hinayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (阿含部) Tên gọi chung những kinh điển Tiểu thừa được thu vào Đại tạng kinh. A-hàm bộ nguyên là tên gọi chung các giáo pháp do đức Phật nói. Về sau, Phật giáo Đại thừa dấy lên khoảng trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch, thì kinh điển Đại thừa cũng được thành lập. Từ đó, đối lại với kinh điển Đại thừa, hễ kinh nào có tên là A-hàm đều được xem là kinh điển Tiểu thừa, A-hàm bộ do đó trở thành tên khác của kinh điển Tiểu thừa. Về nội dung của A-hàm bộ, cách gọi của Phật giáo Nam, Bắc truyền có khác nhau: Phật giáo Bắc truyền gọi chung bốn A-hàm Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất là A-hàm bộ; Phật giáo Nam truyền, ngoài bốn A-hàm, gọi Tạp bộ là Khuất-đà-ca (Pāli: Khuddaka) A-hàm, đó là năm A-hàm. Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 13 nêu ra, kinh Tiểu Thừa Kép, Đơn và Hợp dịch gồm 153 bộ, 394 quyển. Mục lục Đại tạng đời Minh nêu, A- hàm bộ Tiểu thừa có 137 bộ.
a hàm kinh
Āgama sūtra (P).
; Gồm bốn bộ—Agama (skt) sutras. There are four Agama sutras: 1) Trường A Hàm: Dirghagama (skt)—Tập hợp những kinh văn dài, 22 quyểnLong Treatises on cosmogony, 22 books. 2) Trung A Hàm: Madhya-agama (skt)—Tập hợp các kinh văn không dài không ngắn, 60 quyển—Middle treatises on metaphysics, 60 books. 3) Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—Hổn hợp của 3 loại A Hàm kia, 50 quyển—Miscellaneous treatises on abstract contemplation, 50 books. 4) Tăng Nhứt A Hàm: Ekottaragama (skt)—Sưu tập số của Pháp Môn, 51 quyển—Numerical treatises subjects treated numerically, 51 books. ** For more information, please see Tứ A Hàm in Vietnamese-English Section, and Agama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (阿含經) A-hàm, Phạm, Pāli: Àgama. Cũng gọi A-cấp-ma, A-già-ma, A-hàm bộ, A-hàm. Dịch ý là Pháp bản, Tịnh giáo, Qui, Pháp qui, Pháp tạng, Tạng, Giáo pháp, Truyền giáo, Thú vô, Giáo, Truyền, Lai, Tạng. A-hàm, chỉ cho giáo pháp được truyền thừa, hoặc là Thánh điển truyền thừa giáo pháp của đức Phật. Có khi nó cùng nghĩa với Pháp (Phạm: dharma). Gọi A-hàm là kinh A-hàm là do thói quen xưa nay của người Trung Quốc. Ở thời đại Phật giáo Nguyên Thủy, các vị đệ tử Phật và tín đồ, thường dùng thể thơ hoặc những đoạn văn xuôi ngắn gọn, hoặc dùng phương thức truyền miệng lẫn nhau, để ghi nhớ và truyền thừa những giáo pháp đã được nghe đức Phật nói. Nói cách khác, cái căn cứ ghi nhớ của những người truyền thừa ấy, chính là giáo thuyết khái quát của đức Phật. Lại vì các đệ tử Phật tiếp thu không giống nhau, nên mới có những tư tưởng khác nhau. Bởi thế, đến khi giáo đoàn được thành lập, thì giáo thuyết của đức Phật phải được chỉnh lí và thống nhất như thế nào, đã trở thành một việc tất yếu. Kết quả, giáo thuyết của đức Phật dần dần được đầy đủ hoàn bị, rồi cũng dần dần phát triển thành một hình thức văn học nhất định và, cuối cùng, trở thành Thánh điển. Đó là nguyên do từ đâu có kinh A-hàm. Kinh A-hàm được thành lập vào thời nào? Vấn đề này phải lần theo thứ tự của các kì kiết tập kinh điển mà bàn, thì mới rõ được:1. Sau khi đức Phật nhập diệt, vào mùa hạ (an cư) đầu tiên, năm trăm vị A-la-hán họp tập ở hang đá Thất Diệp, phía ngoài thành Vương Xá. Ngài Đại Ca-diếp được suy tôn làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ nhất, do ngài A-nan tụng lại Pháp (Kinh), ngài Ưu-ba-li tụng lại Luật. Đây là lần kết tập nổi tiếng trong lịch sử và thường được gọi là Ngũ bách kết tập (nghĩa là lần kết tập có năm trăm vị A-la-hán tham dự). 2. Sau đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm, bảy trăm vị Tỉ-khưu hội họp tại thành Tì-xá-li, ngài Da Xá được bầu làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ hai. Lần kết tập này chủ yếu là tụng lại tạng Luật. Đây cũng là lần kết tập trứ danh và thường được gọi là Thất bách kết tập (cuộc kết tập có bảy trăm vị Tỉ-khưu tham dự). 3. Sau đức Phật nhập diệt khoảng hai trăm ba mươi sáu năm, tức vào thời vua A-dục, ở thành Hoa Thị, dưới sự chủ tọa của ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu, cuộc kết tập lần thứ ba đã được tổ chức và, đến đây, ba tạng giáo pháp mới được hoàn thành. 4. Sau Phật nhập diệt bốn trăm năm, ở nước Ca-thấp-di-la, dưới sự hộ trì của vua Ca- nị-sắc-ca, Hiếp Tôn giả và ngài Thế Hữu được suy tôn làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ tư. Lần kết tập này chủ yếu là làm Luận để giải thích ba tạng. Tóm lại, kinh A-hàm được tụng lại trong lúc kết tập lần thứ nhất, từ lần kết tập thứ hai về sau, tức khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, là thời kì kinh A-hàm chính thức được thành lập. Về hình thức văn học của kinh A-hàm, thì chia làm hai loại: chín thể tài, mười hai thể tài. Chín thể tài gồm có: Kinh, Trùng tụng, Kí thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng kệ, Như thị ngữ (Bản sự), Bản sinh, Phương quảng, Vị tằng hữu pháp. Mười hai thể tài gồm chín loại trên đây, cộng thêm Nhân duyên, Thí dụ, Luận nghị, thì thành mười hai thể tài. Chín thể tài được thành lập sớm hơn mười hai thể tài, nhưng về bộ loại văn học của Thánh điển Phật giáo, thì lấy mười hai thể tài làm luận cứ nhất định. Sau đức Phật nhập diệt một trăm năm, giáo đoàn thống nhất của Phật giáo nguyên thủy, bị phân hóa thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Về sau lại chia nhỏ ra thành hai mươi bộ phái Tiểu thừa và mỗi bộ phái đều có kinh tạng truyền thừa riêng của mình. Theo những tư liệu hiện nay cho thấy, lúc bấy giờ, ít ra cũng còn tồn tại các kinh điển do Thượng tọa bộ phương Nam, Hữu bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ, Đại Chúng bộ, Ẩm Quang bộ và Kinh Lượng bộ truyền. Nhưng cho đến ngày nay, chỉ có kinh điển của Thượng tọa bộ phương Nam là được bảo tồn một cách toàn vẹn, gồm có năm bộ, viết bằng tiếng Pāli, đó là: Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ và Tiểu Bộ (tức Khuất-đà-ca A-hàm), đây là năm bộ Nam truyền, cũng gọi là năm A- hàm Nam truyền. Về phương diện Bắc truyền, thì những kinh điển rời rạc lẻ tẻ của các bộ phái được gom lại mà làm thành bốn A-hàm: Trường A- hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Tạp A-hàm, viết bằng tiếng Phạm, đây là bốn bộ A-hàm Bắc truyền. Trong đó, Trường bộ, Trung bộ của Nam truyền tương đương với Trường A-hàm, Trung A-hàm của Bắc truyền, Tương Ưng bộ tương đương với Tạp A-hàm, Tăng Chi bộ tương đương với Tăng Nhất A-hàm. Ngoài ra, vì năm bộ Nam truyền viết bằng văn Pāli, gần với tiếng nói hằng ngày ở thời đức Phật hơn, nên thông thường người ta cho Nam truyền giàu sắc thái Nguyên thủy hơn Bắc truyền. Và cũng vì thế nên các học giả cận đại, muốn khảo chứng các tư liệu nguyên thủy, phần nhiều thích dùng Thánh điển văn Pāli để đối chiếu nghiên cứu. Về phương diện truyền thống, các học giả Phật giáo Trung Quốc, nhất là các học giả Phật giáo Đại thừa, thường cho kinh A-hàm là kinh điển Tiểu thừa. Bởi vậy, về mặt giáo lí sử, ở Trung Quốc, Nhật bản, các kinh A hàm trước nay vẫn không được coi trọng. Mãi đến thời cận đại các nước châu Âu mới để tâm nghiên cứu, từ năm 1820 dần dần mới coi trọng và xác nhận: Kinh A-hàm không phải chỉ là kinh điển Tiểu thừa, mà còn là kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy. Nội dung của nó bao hàm cả thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp thực tiễn của đức Phật, có nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng. Trong bốn A-hàm Bắc truyền, thì: 1. Kinh Trường A-hàm, gồm 22 quyển, chia làm bốn phần ba mươi kinh. Các kinh trong phần thứ nhất nói về đức Phật, phần thứ hai là kinh điển nói về giáo lí và sự tu hành, phần thứ ba là những lời luận nạn của ngoại đạo, phần thứ tư bàn về sự sinh diệt thành bại của thế giới. 2. Kinh Trung A-hàm gồm 60 quyển, có 222 kinh, đại ý nói rõ bốn đế, mười hai nhân duyên, ví dụ, những lời nói và việc làm của đức Phật và các vị đệ tử. 3. Kinh Tăng nhất A-hàm gồm 51 quyển, là kinh gom góp các loại pháp số. Vì kinh này gom thu các pháp số từ một pháp đến mười một pháp, cho nên gọi là Tăng Nhất (thêm một). 4. Kinh Tạp A-hàm gồm 50 quyển, do góp nhặt các kinh ngắn và lẫn lộn nhiều thứ mà thành, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Năm A-hàm Nam truyền và bốn A-hàm Bắc truyền, nội dung chưa hẳn đã hoàn toàn giống nhau, mà đôi khi cũng có chỗ hơi khác nhau. A-hàm Nam truyền có thuyết năm phần, A-hàm Bắc truyền thì có hai thuyết bốn phần và năm phần. Đồ biểu đối chiếu các thuyết như sau: I. Thuyết năm Nikàya * Luật nhất thiết thiện kiến văn Pāli: 1. Dìgha nikàya. 2. Majjhima nikàya. 3. Saôyutta nikàya. 4. Aíguttara nikàya. 5. Khuddaka nikàya. II. Thuyết năm A-hàm. * Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1: 1. Trường A-hàm. 2. Trung A-hàm. 3. Tăng-thuật-đa A-hàm. 4. Ương-quật-đa-la A-hàm. 5. Khuất-đà-ca A-hàm. III. Thuyết bốn A-hàm năm bộ. * Luật Ngũ phần quyển 30, Luật Ma-ha Tăng Kì quyển 32, Luật Tứ phần quyển 54: 1. Trường A-hàm. 2. Trung A-hàm. 3. Tạp A-hàm. 4. Tăng Nhất A-hàm. 5. Tạp tạng. IV. Thuyết năm A-cấp-ma. * Pháp trụ kí: 1. Trường A-cấp-ma. 2. Trung A-cấp-ma. 4. Tương ứng A-cấp-ma. 3. Tăng Nhất A-cấp-ma. 5. Tạp loại A-cấp-ma. V. Thuyết bốn A-hàm. * Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 39: 2. Trường. 3. Trung. 1. Tương . 4. Tăng. * Tăng Nhất A-hàm Tự phẩm: 3. Trường. 2. Trung. 4. Tạp. 1. Tăng. * Du Già Sư Địa Luận quyển 85: 3. Trường. 2. Trung. 1.Tạp. 4. Tăng. * Tuyển tập tam tạng và Tạp tạng truyền: 3. Trường. 2. Trung. 4. Tạp. 1. Tăng. * Kinh Ban-nê-hoàn: 2. Trường. 1. Trung. 4. Tạp. 3. Tăng. Bốn kinh A-hàm Hán dịch cùng một bản tiếng Phạm mà dịch khác, và các kinh Biệt sinh được biểu liệt như sau: I. Bản Hán dịch đề tên là Tạp A-hàm và các bản dịch của các bộ phận khác được trích lục (kinh Biệt sinh). 1. Kinh Tạp A-hàm 50 quyển, Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 2. Kinh Biệt Sinh Tạp A-hàm, 16 hay 20 quyển, đời Hậu Tần, mất tên người dịch. 3. Kinh Tạp A-hàm 1 quyển, đời Ngô, mất tên người dịch. 4. Kinh Phật Thuyết Thất Xứ Tam Quán 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 2 và quyển 34), An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 5. Kinh Ngũ Uẩn Giai Không 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 2) Nghĩa Tịnh đời Đường dịch. 6. Kinh Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 3) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch.7. Kinh Phật Thuyết Pháp Ấn 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 3) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 8. Kinh Ngũ Ấm Thí Dụ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 10) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 9. Kinh Phật Thuyết Thủy Mạt Sở Phiêu 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 10) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 10. Kinh Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 11) Chi Khiêm đời Ngô dịch.11. Kinh Phật Thuyết Mãn Nguyện Tử 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 13) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 12. Kinh Phật Thuyết Chuyển Pháp Luân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 15) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 13. Kinh Tam Chuyển Pháp Luân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 15) Nghĩa Tịnh đời Đường dịch.14. Kinh Phật Thuyết Tương Ứng Tương Khả 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 16) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Luân Vương Thất Bảo 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 27) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch.16. Kinh Phật Thuyết Bát Chính Đạo 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 28) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 17. Kinh Nan Đề Thích 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 30) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 18. Kinh Phật Thuyết Mã Hữu Tam Tướng 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 33) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 19. Kinh Phật Thuyết Mã Hữu Bát Thái Thí Nhân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 33) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 20. Kinh Phật Thuyết Giới Đức Hương 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 21. Kinh Phật Thuyết Giới Hương 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 22. Kinh Ương Quật Ma 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 23. Kinh Ương Quật Kế 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 24. Kinh Ương Quật Ma La 4 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 25. Kinh Nguyệt Dụ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 41) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 26. Kinh Phạm Chí Kế Thủy Tịnh 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 44) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 27. Kinh Đại Tam Ma Nhạ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 44) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 28. Kinh Thụ Tân Tuế 1 quyển (Tạp A- hàm quyển 45) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 29. Kinh Tân Tuế 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 45) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 30. Kinh Giải Hạ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 45) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 31. Kinh Ba Tư Nặc Vương Thái Hậu Băng Trần Thổ Bộn Thân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 46) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 32. Kinh Phóng Ngưu 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 47) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. II. Trung A-hàm * Cùng một bản tiếng Phạm nhưng có hai bản Hán dịch khác nhau: 1. Kinh Trung A-hàm 59 quyển, Đàm-ma-nan-đề đời Phù Tần dịch (đã mất). 2. Kinh Trung A-hàm 60 quyển, Tăng-già-đề-bà đời Đông Tấn dịch (hiện còn). * Biệt Sinh kinh, có sáu mươi sáu: 1. Kinh Phật thuyết thất tri 1 quyển (kinh Thiện pháp) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 2. Kinh Phật Thuyết Viên Sinh Thụ 1 quyển (kinh Trú Độ Thụ) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 3. Kinh Phật Thuyết Hàm Thủy Dụ 1 quyển (kinh Thủy Dụ), mất tên người dịch. 4. Kinh Phật Thuyết Tát-bát-đa-tô-li-du-nại-dã 1 quyển (kinh Thất Nhật) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 5. Kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Lưu Nhiếp Thủ Nhân (kinh Lậu Tận) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 6. Kinh Phật Thuyết Tứ Đế (kinh Phân Biệt Thánh Đế) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 7. Kinh Phật Thuyết Hằng Thủy (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 8. Kinh Pháp Hải 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 9. Kinh Phật Thuyết Hải Bát Đức 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. 10. Kinh Phật Thuyết Bản Tướng Y Trí 1 quyển (kinh Bản Tế) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 11. Kinh Phật Thuyết Duyên Bản Trí 1 quyển (kinh Bản Tế), mất tên người dịch. 12. Kinh Phật Thuyết Luân Vương Thất Bảo 1 quyển (kinh Thất Bảo) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 13. Kinh Phật Thuyết Đỉnh Sinh Vương Cố Sự 1 quyển (kinh Tứ Châu) Đàm Vô Sấm đời Bắc Lương dịch. 14. Kinh Phật Thuyết Văn Đà Kiệt Vương 1 quyển (kinh Tứ Châu) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Phật thuyết Tần-bà-sa-la Vương 1 quyển (kinh Tần-bà-sa-la Vương Nghinh Phật) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 16. Kinh Phật Thuyết Thiết Thành Nê Lê 1 quyển (kinh Thiên Sứ) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 17. Kinh Phật Thuyết Diêm La Vương Ngũ Thiên Sứ Giả 1 quyển (kinh Thiên Sứ) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 18. Kinh Phật Thuyết Cổ Lai Thế Thời 1 quyển (kinh Thuyết Bản), mất tên người dịch.19. Kinh Đại Chính Cú Vương 1 quyển (kinh Bì Tứ) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 20. Kinh Phật Thuyết A Na Luật Bát Niệm 1 quyển (kinh Bát Niệm) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 21. Kinh Phật Thuyết Li Thụy 1 quyển (kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thụy Miên) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 22. Kinh Phật Thuyết Thị Pháp Phi Pháp 1 quyển (kinh Chân Nhân) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 23. Kinh Phật Thuyết Cầu Dục 1 quyển (kinh Uế Phẩm) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 24. Kinh Phật Thuyết Thụ Tuế 1 quyển (kinh Tỉ Khưu Thỉnh) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 25. Kinh Phật Thuyết Phạm Chí Kế Thủy Tịnh 1 quyển (kinh Thủy Tịnh Phạm Chí), mất tên người dịch. 26. Kinh Phật Thuyết Đại Sinh Nghĩa 1 quyển (kinh Đại nhân) Thí hộ đời Bắc Tống dịch.27. Kinh Phật Thuyết Khổ Ấm 1 quyển (kinh Khổ Ấm), mất tên người dịch. 28. Kinh Phật Thuyết Khổ Ấm Nhân Sự 1 quyển (kinh Khổ Ấm) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch.29. Kinh Phật Thuyết Thích Ma Nam Bản Tứ tử 1 quyển (kinh Khổ Ấm) Chi Khiêm Đời Ngô dịch. 30. Kinh Phật Thuyết Lạc Tưởng 1 quyển (kinh Tưởng) Trúc Pháp Hộ đời Hậu Hán dịch.31. Kinh Phật Thuyết Lậu Phân Bá 1 quyển (kinh Đạt Phạm Hạnh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 32. Kinh Phật Thuyết A Nậu Phong 1 quyển (kinh A-nô-ba) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 33. Kinh Phật Thuyết Chư Pháp Bản 1 quyển (kinh Chư Pháp Bản) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 34. Kinh Phật Thuyết Cù Đàm Di Kí 1 quyển (kinh Cù Đàm Di) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 35. Kinh Phật Thuyết Chiêm Ba Tỉ Khưu 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 36. Kinh Phật Thuyết Phục Dâm 1 quyển (kinh Hành Dục) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 37. Kinh Phật Thuyết Ma Nhiễu Loạn 1 quyển (kinh Hàng Ma), mất tên người dịch. 38. Kinh Tệ Ma Thí Mục Liên 1 quyển (kinh Hàng Ma) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 39. Kinh Phật Thuyết Lại Tra Hòa La 1 quyển (kinh Lại Tra Hòa La) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 40. Kinh Phật Thuyết Hộ Quốc 1 quyển (kinh Lại Tra Hòa La) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 41. Kinh Phật Thuyết Đế Thích Sở Vấn 1 quyển (kinh Thích Vấn) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 42. Kinh Phật Thuyết Số 1 quyển (kinh Toán Số Mục Kiền Liên) Pháp cự đời Tây Tấn dịch. 43. Kinh Phạm Chí Át Ba La Diên Vấn Chủng Tôn (kinh A-nhiếp-hòa) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 44. Kinh Phật Thuyết Tu Đạt 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá) Cầu-na-tì- địa đời Tiêu Tề dịch. 45. Kinh Phật Thuyết Trưởng Giả Thí Bảo 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 46. Kinh Phật Thuyết Tam Qui Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Li Công Đức 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá), mất tên người dịch. 47. Kinh Phật Vị Hoàng Trúc Viên Lão Bà La Môn Thuyết Học 1 quyển (kinh Hoàng Lư Viên), mất tên người dịch. 48. Kinh Phạm Ma Du 1 quyển (kinh Phạm-ma) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 49. Kinh Phật Thuyết Tôn Thượng 1 quyển (kinh Thích Trung Thiền Thất Tôn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 50. Kinh Phật Thuyết Đâu Điều (kinh Anh Vũ), mất tên người dịch. 51. Kinh Phật Thuyết Anh Vũ 1 quyển (kinh Anh Vũ) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 52. Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt 1 quyển (kinh Anh Vũ) Cù Đàm Pháp Trí đời Tùy dịch. 53. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Nghiệp Báo Ứng 2 quyển (kinh Anh Vũ) Thiên Tức Tai đời Bắc Tống dịch. 54. Kinh Phật Thuyết Ý 1 quyển (Tâm kinh) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 55. Kinh Phật Thuyết Ứng Pháp 1 quyển (kinh Thụ Pháp) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 56. Kinh Phật Thuyết Phân Biệt Bố Thí 1 quyển (kinh Cù-đàm-di) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 57. Kinh Phật Thuyết Tức Tránh Nhân Duyên 1 quyển (kinh Chu Na) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 58. Kinh Phật Thuyết Nê Lê 1 quyển (kinh Si Tuệ Địa) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 59. Kinh Phật Thuyết Trai (Phụ Phật Thuyết Trai Kinh Khoa Chú) 1 quyển (kinh Trì Trai) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 60. Kinh Phật Thuyết Ưu Bà Di Đọa Xá Ca 1 quyển (kinh Trì Trai), mất tên người dịch. 6 1. Kinh Phật Thuyết Bát Quan Trai 1 quyển ( Kinh Trì Trai) Thư cừ kinh thanh đời Lưu Tống dịch . 62. Kinh Phật thuyết Tì-ma-tuc1quyển (kinh Tì ma na tu) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 63. Kinh Phật Thuyết Bà La Môn Tư Mệnh Chung Ái Niệm Bất Li 1 quyển (Kinh Ái Sinh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 6 4. Kinh Phật Thuyết Thập Chi Cư Sĩ Bát Thành Nhân 1 quyển (kinh bát thành) A n thế cao đời Hậu Hán dịch . 65 . Kính Phật thuyết tà kiến 1 quyển (Kiến kinh) , mất tên người dịch . 66 . Kinh Phật thuyết tiễn dụ 1 quyển (kinh Tiển dụ) , mất tên người dịch . * Phân loại nội dung kinh Trung A-hàm (Tăng Triệu): gồm 5 tụng 18 phẩm 22 kinh 60 quyển. 1.Tụng đầu... năm phẩm rưỡi... sáu mươi tư kinh... 12 quyển. 2. Tiểu thổ thành tụng... bốn phẩm rưỡi... ba mươi lăm kinh... 16 quyển. 3. Niệm tụng... một phẩm rưỡi... năm mươi hai kinh... 9 quyển. 4. Phân biệt tụng... hai phẩm, hai nửa phẩm... ba mươi lăm kinh... 11 quyển. 5. Tụng cuối... ba phẩm rưỡi... ba mươi sáu kinh... 12 quyển. III. Trường A-hàm - kinh Biệt Sinh: 1. Kinh Thất Phật 1 quyển (Phần đầu của kinh Đại Bản Duyên) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 2. Kinh Tì Bà Thi Phật 2 quyển (phần sau của kinh Đại Bản Duyên) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 3. Kinh Phật Ban Nê Hoàn 2 quyển (kinh Du Hành) Bạch Pháp tổ đời Tây Tấn dịch. 4. Kinh Đại Bát Niết Bàn 3 quyển (kinh Du Hành) Pháp Hiển đời Đông Tấn dịch. 5. Kinh Ban Nê Hoàn 2 quyển (kinh Du Hành) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 6. Kinh Đại Kiên Cố Bà La Môn Duyên Khởi 2 quyển (kinh Điển Tôn) Thi Hộ đời Bắc Tống dịch. 7. Kinh Nhân Tiên 1 quyển (kinh Xà-ni-sa) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 8. Kinh Bạch Y Kim Chàng Nhị Bà La Môn Duyên Khởi 2 quyển (kinh Tiểu Duyên) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 9. Kinh Ni Câu Đà Phạm Chí 2 quyển (kinh Tán-đà-na) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 10. Kinh Đại Tập Pháp Môn 2 quyển (kinh Chúng Tập) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 11. Kinh Trường A-hàm Thập Báo Pháp (kinh Thập Thượng) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 12. Kinh Nhân Bản Dục Sinh 1 quyển (kinh Đại Duyên Phương Tiện) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 13. Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ 1 quyển (kinh Thiện Sinh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 14. Kinh Tín Phật Công Đức 1 quyển (kinh Tự Hoan Hỉ) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch.15. Kinh Đại Tam Ma Nhạ 1 quyển (kinh Đại Hội) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 16. Kinh Phật Khai Giải Phạm Chí A Bạt 1 quyển (kinh A-ma-trú) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 17. Kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến 1 quyển (kinh Phạm Động) Chi Khiêm đời Ngô dịch.18. Kinh Tịch chí quả 1 quyển (kinh Sa Môn Quả) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 19. Kinh Đại Lâu Thán 6 quyển (kinh Thế Kí) Pháp Cự, Pháp Lập đời Tây Tấn dịch. 20. Kinh Khởi Thế (kinh Thế Kí) Xà Na Quật Đa đời Tùy dịch. 21. Kinh Khởi Thế Nhân Bản 10 quyển (kinh Thế Kí) Đạt-ma-cấp-đa đời Tùy dịch. IV. Tăng nhất A-hàm - kinh Biệt Sinh: 1. Kinh A-la-hán Cụ Đức 1 quyển (phẩm đệ tứ Đệ tử, phẩm đệ ngũ Tỉ-khưu Ni, phẩm đệ lục Thanh tín sĩ, phẩm đệ thất Thanh tín nữ, là cùng bản tiếngPhạm) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 2. Kinh Tứ Nhân Xuất Hiện Thế Gian 1 quyển (cùng bản tiếng Phạm với phẩm Tứ ý đoạn) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 3. Kinh Ba-tư-nặc Vương Thái Hậu Băng Trần Thổ Bộn Thân 1 quyển (cùng bản tiếng Phạm với phẩm Tứ ý đoạn) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 4. Kinh Tu-ma-đề-nữ 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 5. Kinh Cấp Cô Trưởng Giả Nữ Đắc Độ Nhân Duyên 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 6. Kinh Tam-ma-kiệt 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Trúc Luật Viêm đời Ngô dịch. 7. Kinh Bà La Môn Tị Tử 1 quyển (cùng bản phẩm Tăng thượng) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 8. Kinh Thực Thí Hoạch Ngũ Phúc Báo 1 quyển (cùng bản phẩm Thiện Tụ) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 9. Kinh Tần-tì-sa-la Vương Nghệ Phật Cúng Dường 1 quyển (cùng bản phẩm Đẳng Kiến) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 10. Kinh Trưởng Giả Tử Lục Quá Xuất Gia 1 quyển (cùng bản phẩm Tà Tụ) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 11. Kinh Ương Quật Ma 1 quyển (cùng bản phẩm Lực) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 12. Kinh Ương Quất Kế 1 quyển (cùng bản phẩm Lực) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 13. Kinh Lực Sĩ Di Sơn 1 quyển (cùng bản phẩm Bát Nạn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 14. Kinh Tứ Vị Tằng Hữu Pháp (cùng bản phẩm Bát Nạn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Xá-lợi-phất Ma-ha Mục- liên Du Tứ Cù 1 quyển (cùng bản phẩm Mã Vương) Khang Mạnh Tường đời Hậu Hán dịch. 16. Kinh Thất Phật Phụ Mẫu Tính Tự 1 quyển (cùng bản phẩm Thập Bất Thiện) đời Tào Ngụy, mất tên người dịch. 17. Kinh Phóng Ngưu 1 quyển (cùng bản phẩm Phóng Ngưu) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. 18. Kinh Duyên Khởi 1 quyển (cùng bản phẩm Phóng Ngưu) Huyền Trang đời Đường dịch. 19. Kinh Thập Nhất Tưởng Tư Niệm Như Lai 1 quyển (cùng bản phẩm Lễ Tam Bảo) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 20. Kinh Tứ-nê-lê 1 quyển (cùng bản phẩm lễ Tam Bảo) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 21. Kinh A-na-bân-khâu Hóa Thất Tử 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 22. Kinh Ngọc Da Nữ 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) đời Tây Tấn, mất tên người dịch. 23. Kinh Ngọc Da 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 24. Kinh A-sắc-đạt 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 25. Kinh Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn 1 quyển (cùng bản phẩm Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 26. Kinh Phật Mẫu Ban Nê Hoàn 1 quyển (cùng bản Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) Bạch Pháp tổ đời Tây Tấn dịch. 27. Kinh Xá vệ Quốc Vương Thập Mộng 1 quyển (cùng bản phẩm Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) đời Tây Tấn, mất tên người dịch. 28. Kinh Quốc Vương Bất Lê Tiên Nê Thập Mộng 1 quyển (cùng bản phẩm đại ái đạo ban niết bàn) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. [X. kinh Ban Nê Hoàn Q.Hạ; Xuất Tam tạng kí tập Q.9; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23; Nguyên Thủy Phật giáo Thánh Điển Chi Tập Thành (Ấn Thuận)]. (xt. A Hàm, Kết Tập).
a hàm thời
Một trong năm thời thuyết pháp của Đức Phật. Thời Đức Thế Tôn nói về kinh A Hàm (Lộc Uyển Thời) trong khoảng 12 năm tại vườn Lâm Tỳ Ni—One of the five periods, the period when the Buddha taught Hinayana doctrine in the Lumbini garden during the first twelve years of his ministry.
; (阿含時) Còn gọi là Lộc uyển thời. Là thời thứ hai trong năm thời phán giáo của tông Thiên Thai. Chỉ cho thời gian sau khi đức Phật thành đạo hai mươi mốt ngày, trước hết đức Phật đến vườn Lộc dã, sau Ngài đi khắp mười sáu nước lớn, đối với những người căn cơ nhỏ bé, tuyên thuyết giáo pháp Tiểu thừa, trong mười hai năm. Vì trong khoảng thời gian đó, các kinh được thuyết giảng là kinh A-hàm, cho nên mới gọi là thời A-hàm; lại vì nơi đầu tiên mà đức Phật thuyết pháp trong thời kỳ này là ở vườn Lộc Dã, cho nên cũng gọi là thời Lộc Uyển.
a hô
Ahu (skt)—Tán thán từ—Aho! An interjection.
; (阿呼) Phạm: Ahù. Dịch ý: lạ thay! Là từ khen ngợi. [X. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.5].
a hô hằng hà sơn
(阿呼恆河山) Phạm, Pāli: Ahogagà. Còn gọi là A-phu-sơn, A-hu Hằng Hà Sơn, A Hưu Hà Sơn. Là ngọn núi mà ngài Tam-phù-đà Thương-na-hòa-tu (Phạm: Sambhùta Sàịavàsi) cư trú trong thời kết tập kinh điển lần thứ hai. Đương lúc Mười điều phi pháp dấy lên, ngài Da-xá (Pāli: Yasa Kàkaịđaputta) lên trên núi thăm ngài Tam-phù-đà, rồi hai người cùng phát khởi cuộc vận động chống lại mười điều phi pháp. Trong luật Ngũ Phần có nói Tam-phù-đà ở trên núi A-phù. Cứ theo Nhất Thiết Thiện Kiến (Pāli: Samantapàsàdikà) bản Pāli chép, thì ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (Pāli: Moggaliputta Tissa) đã từng ở núi này và vua A-dục cho người lên đón ngài về thủ đô Hoa Thị Thành (Phạm: Pàtaliputra). Lại trong Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa quyển 2 cũng từng đề cập đến núi A-hưu-hà.
a hô địa ngục
The hell of groaning—See Địa Ngục (4).
; (阿呼地獄) Là một địa ngục nhỏ trong mười tiểu địa ngục phụ thuộc vào địa ngục A-tị. Còn gọi là A-phù địa ngục. Địa ngục A-tị cũng gọi là địa ngục Vô gián, là địa ngục thứ tám trong tám địa ngục lớn, những chúng sinh rơi vào địa ngục này thì phải chịu khổ liên miên, không có lúc nào gián đoạn. Cứ theo kinh Khởi Thế Nhân Bản quyển 4 phẩm Địa Ngục chép, thì địa ngục A-tì-chi (A-tị), ngoài mười sáu địa ngục nhỏ phụ thuộc vây quanh ra, còn có mười tiểu địa ngục nữa, trong đó, ngục thứ ba là địa ngục A-hô. Chúng sinh trong địa ngục này, khi bị khổ não bức thiết quá thì kêu: A hô! A hô! một cách rất đau đớn, vì thế gọi là địa ngục A-hô. Chúng sinh ở địa ngục này và chúng sinh ở các địa ngục nhỏ khác, đều phải chịu những nỗi khổ triền miên, không thể tả được, và số năm chịu khổ thì dài dằng dặc mà trong kinh dùng thí dụ là hết hai mươi hộc hạt vừng (mè), đồng thời, còn gấp bội con số ấy để miêu tả quả báo sống lâu mà chịu khổ của các chúng sinh trong địa ngục A-hô và chín địa ngục nhỏ khác. [X. luận Du Già Sư Địa Q.4; luận A-tì-đạt-ma Tạng Hiển Tông Q.12; Chư Kinh Yếu Tập Q.18; Pháp Uyển Châu Lâm Q.7].
a hùm
The supposed foundation of all sounds and writings. "A" being the open and "Hùm" the closed sound. "A" is the seed of Vairocana, "Hùm" that of Vajrasattva Kim cương tát đỏa, and boh have other indications. "A" represents the absolute, "Hùm" the particular, or phenomenal.
a hồng
Ahum (skt)—Hai âm “A” và “Hum” là căn bản của hết thảy mọi âm thanh và chữ viết (muôn đức như cát sông Hằng đều bao quát trong hai âm nầy). “A” là sự bắt đầu phát ra âm thanh, “Hum” là sự chấm hết của hơi thở hít vào. Chữ “A” là Đức Tỳ Lô Giá Na, “Hum” là Đức Kim Cang Tát Đỏa, chữ “A” là Bồ Đề Tâm, “Hum” là Niết Bàn, “A” là tuyệt đối hay chân đế, “Hum” là hiện tượng hay thế tục—The supposed foundation of all sounds and writing, “A” being the open and “hum” the closed sound. “A” is the seed of Vairocana, “hum” that of Vajrasattva, “A” being the bodhicitta and “hum” the nirvana, and both have other indications. “A” represents the absolute, “hum” the particular, or phenomenal.
; (阿吽) Chữ Tất đàm (a hùô). A là mẹ của tất cả chữ trong Phạm ngữ, là thể của hết thảy tiếng, là tiếng mở miệng đầu tiên. Hồng là tiếng ngậm miệng, tức là ý chung cục. Lại vì chữ A có nghĩa vốn chẳng sinh, chữ Hồng có nghĩa hủy phá, cho nên, Mật giáo phần nhiều dùng chữ A để biểu thị lí thể phát sinh của vạn hữu, và chữ Hồng biểu thị trí đức qui thú của vạn pháp; hợp cả hai chữ lại thì đầy đủ cái lí rất sâu xa vi diệu. Trong Mật giáo, hai chữ này cũng biểu thị cái đức của Lí pháp thân và Trí pháp thân trong Mạn-đồ-la thuộc hai bộ Kim cương, Thai tạng. Ngoài ra, còn nhiều ý nghĩa tương đối quan trọng: 1. A là chủng tử của Đại Nhật Như Lai, Hồng là chủng tử của Kim Cương Tát-đỏa. 2. A là chủng tử của kinh Đại Nhật, Hồng là chủng tử của kinh Kim Cương Đính. 3. Hai chữ A, Hồng là hơi thở ra thở vào, biểu thị hết thảy chúng sinh đều có đủ tính đức tự chứng (A) và hóa tha (Hồng). 4. A là nghĩa tâm Bồ-đề, Hồng là nghĩa Niết-bàn, vì thế, cùng một lúc, nói A Hồng tức biểu thị tâm Bồ-đề và Niết-bàn. 5. Dùng hoa sen thí dụ chữ A, biểu thị quả Tất-địa, dùng nước thí dụ chữ Hồng, biểu thị nhân tu hành khiến cho chữ A thành tựu. [X. kinh Đại Nhật Q.3 phẩm Thành Tựu Tất Địa; Đại Nhật kinh sớ Q.7, Q.10; Đại Nhật kinh nghĩa thích Q.5].
a khắc ba
(阿克巴) AKBAR, Jalāl ud-Dīn Muḥammad (1542 - 1605) Là Hoàng đế đời thứ 3 của đế quốc Ấn Độ Mông Ngột Nhi (Magul) vào thế kỉ thứ XVI. Ông chú tâm dốc sức vào việc mở rộng biên cương, thống nhất Ấn Độ, đồng thời, chinh phục đại bộ phận lãnh thổ Phú Hãn, hoàn thành đế quốc Mông Ngột Nhi. A-khắc-ba, đối với các tôn giáo, thi hành chính sách rộng lượng, dung hợp và tiếp nhận tất cả các tôn giáo vốn kì thị lẫn nhau, như: Ấn Độ giáo, Kì-na giáo, Y-tư-lan giáo, Thiên giáo, Cơ Đốc giáo v.v... và hết sức bảo hộ, tưởng thưởng văn học và nghệ thuật.
a kiệt đa
Agastya (skt). 1) Vòm Sao Canopus: The star Canopus 2) Tiếng Sét: Lightning.
a kiệt đa tiên
Agastya-rsi (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, A Kiệt Đa là một vị Tiên có sức thần thông dừng nước sông Hằng trong 12 năm, bằng cách cho dòng nước ấy chảy vào một trong hai lổ tai của ông—According to the Nirvana sutra, agastya was one of the genii, who stopped the flow of the Ganges for twelve years by allowing it run into one of his ears.
a kì ni
Xem hỏa thần.
; (阿耆尼) Phạm: Agni. I. A-kì-ni. Hỏa thần trong Bà-la-môn giáo của Ấn Độ. Còn gọi là A-nga-na, Ác-kì-ni. Dịch ý là lửa. Cứ theo Lê-câu-phệ-đà chép, thì nguồn gốc hoặc hình thức tồn tại của thần lửa có ba loại, tức trong ba cõi, ở cõi trời là thái dương, ở cõi không là ánh chớp, ở cõi đất là lửa tế lễ. Đây là mầm mống của tư tưởng về ba thần trong Ấn Độ giáo là Phạm thiên, Tì-thấp-nô và Thấp-bà. Trong Lê-câu-phệ-đà, đặc biệt các bài ca tán tụng thần lửa đã chiếm một phần trong toàn bộ năm phần của các bài ca tán, chỉ đứng sau Nhân-đà-la. Khi tế tự, thần lửa có khả năng đưa các phẩm vật cúng tế đi phân phát cho các thần, vì thế, thần lửa được coi là sứ giả giữa các thần và người. Trừ loài người và cầm thú ra, thần lửa cũng tồn tại khắp trong ác thực vật và trong nước; ngoài sự tế lễ theo phép tắc nhất định, thần lửa còn được cúng tế vào những dịp sinh nhật, sang nhà mới và kết hôn. Toàn thân màu hồng, phát ra ánh sáng như mặt trời, sắc mặt mầu sữa, không đầu không chân, hoặc ba đầu bảy lưỡi, có mặt khắp mười phương, mắt vàng, nghìn mắt v.v... Trong các thần, mối quan hệ giữa loài người và thần lửa gần gũi nhất, có khả năng phá trừ bóng tối, đốt hết những vật nhơ bẩn, hàng ma trừ quái, cũng được coi là người tiêu diệt loài La-sát (ác ma). Ngoài ra, có thể ban ân cho những người sùng bái và giải cứu nguy nan. II. A-kì-ni. Tức là nước A-kì-ni, một nước xưa ở vùng Tây Vực. Cũng gọi là Ô-kì quốc, Yên-kì quốc. Phía Đông giáp Cao Xương, phía Tây giáp Cưu Tư. Nay tức là vùng đất Khách lạt-sa-nhĩ (Karashahr), về phía Đông bắc con đường ở nam núi Thiên Sơn thuộc Tân Cương. (xt. A Kì Ni Quốc).
a kì ni quốc
(阿耆尼國) A-kì-ni, Phạm Agni, hoặc Akni. Tên một nước xưa ở vùng Tây Vực. Còn gọi là Ô-kì quốc, Ô-di quốc, Yên-kì quốc, Anh-di quốc. Đông giáp Cao Xương, Tây giáp Cưu Tư, lấy Khách-lạt-sa-nhĩ (Karashahr) ở phía Đông Bắc con đường nam núi Thiên Sơn thuộc Tân Cương hiện nay làm trung tâm. Đại Đường Tây Vực Kí Quyển 1 chép, nước A-kì-ni chiều Đông Tây dài hơn sáu trăm dặm, chiều Nam Bắc rộng hơn bốn trăm dặm, đô thành chu vi sáu, bảy dặm, có núi bao chung quanh, đường sá hiểm trở, dễ phòng thủ, các dòng suối chảy giao nhau, dẫn nước vào ruộng, sản xuất các thực vật như lúa nước, lúa mì, táo, nho, lê v.v... Khí hậu ôn hòa, phong tục thuần phác, văn tự dùng chữ Ấn độ. Người trong nước khỏe mạnh nhưng ít mưu lược, luật pháp không nghiêm túc. Có hơn mười ngôi chùa, tăng chúng hơn hai nghìn người, học tập giáo nghĩa Tiểu thừa của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, kinh giáo luật nghi, đại khái đều theo Ấn Độ. Vì tên nước A-kì-ni là do từ các tên Yên-kì, Ô-kì, hàm ý là lửa, nên ngài Huyền Trang mới theo tiếng Phạm Agni (lửa) mà dịch âm là A-kì-ni. [X. Cao tăng Pháp Hiển truyện; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.7; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.82; Hán Thư Tây Vực Truyện thứ 66 phần dưới; Hậu Hán Thư Tây Vực Truyện thứ 78; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, Vol.I; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol.I].
a kì đa kê sa khâm bà lị
Ajita Kesakambalì (S). One of the six famous leaders of heterical sects.
a kì đa sí xá khâm bà la
(阿耆多翅舍欽婆羅) Phạm: Ajitakezakambala, Pāli: Ajitakesakambala. Là một trong sáu phái ngoại đạo của Ấn Độ đời xưa, một trong mười thầy ngoại đạo. Còn gọi là A-thị-đa-kê-xá-cam-bạt-la, A-chi-la-sí-xá-cam-bà-la, A-di-đà-sí-xá –khâm-bà-la, A-phù-đà-sí-xá-kim-phi-la, Kê-xá-kim-pha-lê. Gọi tắt là A- kì-đa. Dịch là Vô Thắng Phát Hạt .(có tóc màu vàng sẫm không ai hơn). Là một phái rất có thế lực trong Bà-la-môn giáo ở Trung Ấn Độ vào thời đại đức Phật. Cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 19, Trường A-hàm quyển 17 kinh Sa Môn Quả, Trường bộ văn Pāli kinh Sa môn chép, thì học thuyết của phái ngoại đạo này chủ trương cả tâm lẫn vật đều tiêu diệt hết, không nhận có thiện ác họa phúc, nhân duyên quả báo, quá khứ vị lai v.v... mà chỉ chủ trương tận hưởng các thú vui ở đời hiện tại, tức cũng như Đoạn diệt luận, Duy vật luận, Cảm giác luận, Khoái lạc thuyết trong phái ngoại đạo Thuận thế. Song, lại cứ theo Duy ma kinh lược sớ quyển 4, Chú duy ma kinh quyển 3, Hi Lân âm nghĩa quyển 9 v.v... nói, thì phái này là một trong các phái ngoại đạo khổ hạnh, chủ trương đời này chịu khổ là cái nhân của sự sung sướng ở đời sau, cho nên mặc áo rách, xõa tóc, phơi mình ngoài nắng, làm mọi thứ khổ hạnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; kinh Tịch Chí Quả; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.5; Tệ Lâm Âm Nghĩa Q.26].
a kỳ ni
Agni (skt)—See Ác Ký Ni, and A Kỳ Nễ.
a kỳ nễ
Agni (skt)—A Kỳ Ni. 1) Lửa: Fire. 2) Thần Lửa: Vị Thần tối cao trong các vị thần trong thần thoại Ấn Độ—The fire-deva.
a kỳ đa
See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a kỳ đa kê sa khâm bà lị
Xem A kỳ đa Sí xá khâm bà la.
a kỳ đa kỳ xá khâm bà la
, Ajita Kesa-kambaṃli (P).
a kỳ đa sí xá khâm bà la
Ajita Keśakambalī (S), Ajita Kesakambala (P)A kỳ đa Kê Sa Khâm Bà Lị.
a la ca
Arka (skt)—A Ca—A Già—Hoa trắng—White flower.
a la ca hoa
(阿羅歌花) A-la-ca, Phạm: Arka. Còn gọi là A-ca-hoa, Át-ca-hoa. Dịch ý là hoa trắng. Sinh sản ở Ấn Độ, lá to, người Ấn Độ phần nhiều lấy lá cây này để dùng vào việc tế tự. Tên thường là màdàr, tên khoa học là Calotropis gigantea, hoặc asclepias gigantea. [X. luận Du Già Sư Địa Q.44; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.45; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.8].
a la già
Raga (skt). - Tham muốn: Desire. - Cảm thọ: Feeling. - Xan tham: Greed. - Giận dữ: Anger.
a la ha
Arahant (p)—Arhat (skt)—Ứng Cúng, một trong những danh hiệu của Đức Phật—One of the titles of Buddha, the arhan who has overcome mortality—See A La Hán.
a la ha, a la hán
Arhat (S). One who has attained the final stage of the Path.
A La Hán
(s: arhat, p: arahant, j: arakan, 阿羅漢): âm dịch là Ứng Cúng, Phước Điền, Sát Tặc, Vô Học, là người đã đoạn tận hết tất cả phiền não, đã hoàn thành tất cả những việc mình nên làm. Là một vị thánh giả tối cao của đệ tử Phật (Thanh Văn), vị này chứng quả A La Hán thứ 8 của tứ hướng và tứ quả (quả vị được phân loại thành 8 giai đoạn theo cảnh giới mà vị ấy đạt được). Bên cạnh đó đây còn là một trong mười danh hiệu của một đấng Như Lai. Cho nên A La Hán còn được dùng chỉ cho tự thân của đức Phật, trong trường hợp này từ ứng cúng được dùng nhiều hơn. Nguyên gốc của từ này có nghĩa là “người có tư cách”, vì vậy người này xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường về y thực, v.v., của hàng tín đồ. Cho nên được gọi là ứng cúng. Hơn nữa, nhờ có sự cúng dường của hàng tín đồ mà có công đức to lớn, người này được ví dụ như là mảnh ruộng ban phước cho tín đồ, nên được gọi là phước điền. Lại nữa, người này đã giết hết loại giặc phiền não nên cũng được gọi là sát tặc. Vị này đã đoạn sạch hết tất cả phiền não không còn gì để học nữa nên được gọi là vô học. Trong quyển I của Kinh Tạp A Hàm (雜阿含經) giải thích người đã chứng quả A La Hán là “Ngã sanh dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ tác, tự tri bất thọ hậu hữu (我生巳盡、梵行巳立、所作巳作、自知不受後有, mạng sống của ta đã hết, phạm hạnh đã thành lập, những điều nên làm đã làm, tự biết không còn thọ sanh về sau nữa),” và gọi người ấy là người đã đạt được tận trí, vô sanh trí. Sau này trong A Tỳ Đạt Ma (阿毘達磨), tùy theo trí tuệ và căn cơ của vị A La Hán, người ta phân ra làm sáu loại gồm: Thối Pháp, Tư Pháp, Hộ Pháp, An Trú Pháp, Kham Đạt Pháp và Bất Động Pháp.
a la hán
A La Hán là quả vị của Thanh Văn thừa. Tiểu thừa dứt trừ kiến hoặc và tư hoặc của tam giới thì chứng được Hữu Dư Niết Bàn gọi là A La Hán, dịch là Bất Lai, nghĩa là chẳng đến thọ sanh nơi tam giới nữa.
; Arhat (skt)—Arahat (p)—Arahant (p)—The perfect one—The worthy one—The perfect understanding one—A saintly man. (I) Nghĩa của A La Hán—The meanings of Arhat: 1) Một trong những quả vị trên bước đường tu tập—One of the fruitions of the path of cultivation—See A La Hán Quả in Vietnamese-English Section. 2) Vô Học (Bất Học): No longer learning. 3) Theo Thượng Bộ, A La Hán là một bậc hoàn thiện hoàn mỹ; nhưng theo Đại Chúng Bộ, A La Hán chưa phải là bậc hoàn mỹ, họ vẫn còn bị những nghi hoặc quấy nhiễu và vẫn còn rất nhiều điều chưa được liễu giải. Chính vì thế mà Phật Giáo Đại Thừa khuyên Phật tử không nên đề cao lý tưởng A La Hán. Thay vì vậy, nên noi gương những bậc đã hiến trọn đời mình, đã hy sinh tự ngã và không ngừng cố gắng nhằm đạt đến mục đích cứu độ chúng sanh cũng như cảnh giới của chư Phật—According to the Sthaviras, Arhats are perfect beings; but according to the Mahasanghikas, Arhats are not perfect, they are still troubled by doubts and are ignorant of many things. Thus, Mahayana Buddhism advises Buddhists not to hold up Arhats as ideals. Rather those should be emulated as ideals who during aeons of self-sacrifice and continuous struggle to save sentient beings and to attain Buddhahood. 4) A-la-hán còn có ba nghĩa—Arhat still has three meanings: a. Ứng Cúng: Người xứng đáng được cúng dường—Worthy of offerings—Worthy of worship, or respect. b. Bố Ma: Sát Tặc—Phá si—Người đã tiêu diệt hết ma chướng não phiền—Killer of the demons of ignorance—Slayer of the enemy. c. Vô sanh: Không còn tái sanh vì đã diệt hết nghiệp luân hồi sanh tử—Without birth—Not to be reborn, having destroyed the karma of reincarnation. (II) Những lời Phật dạy về A La Hán trong kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Arhat in the Dharmapada Sutra: 1) Người đã giải thoát hết thảy, đã dứt hết thảy buộc ràng, là người đi đường đã đến đích—There is no more suffering for him who has completed the journey; he who is sorrowless and wholly free from everything; who has destroyed all fetters (Dharmapada 90). 2) Kẻ dũng mãnh chánh niệm, tâm không ưa thích tại gia, ví như con ngỗng khi ra khỏi ao, chúng bỏ lại cái nhà ao hồ của chúng không chút nhớ tiếc—The mindful exert themselves, they do not enjoy in an abode; like swans who have left their pools without any regret (Dharmapada 91). 3) Những vị A-la-hán không chất chứa tài sản, biết rõ mục đích sự ăn uống, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng, giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats for whom there is no accumulation, who reflect well over their food, who have perceived void, signless and deliverance, and their path is like that of birds in the air which cannot be traced (Dharmapada 92). 4) Những vị A-la-hán, dứt sạch các hoặc lậu, không tham đắm uống ăn, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng, giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats whose afflictions are destroyed, who are not attached to food, who have perceived void, signless and deliverance, and their path is like that of birds in the air which cannot be traced (Dharmapada 93). 5) Những vị A-la-hán đã tịch tịnh được các căn, như tên kỵ mã đã điều luyện được ngựa lành, nên không còn phiền não ngã mạn và được các hàng nhơn thiên kính mộ—The gods even pay homage to Arhats whose senses are subdued, like steeds well-trained by a charioteer, those whose pride and afflictions are destroyed (Dharmapada 94). 6) Những vị A-la-hán đã bỏ hết lòng sân hận, tâm như cõi đất bằng, lại chí thành kiên cố như nhân đà yết la, như ao báu không bùn, nên chẳng còn bị luân hồi xoay chuyển—Like the earth, Arhats who are balanced and well-disciplined, resent not. He is like a pool without mud; no new births are in store for him (Dharmapada 95). 7) Những vị A-la-hán ý nghiệp thường vắng lặng, ngữ nghiệp hành nghiệp thường vắng lặng, lại có chánh trí giải thoát, nên được an ổn luôn—Those Arhats whose mind is calm, whose speech and deed are calm. They have also obtained right knowing, they have thus become quiet men (Dharmapada 96). 8) Những vị A-la-hán chẳng còn phải tin ai, đã thấu hiểu đạo vô vi, dứt trừ vĩnh viễn nguyên nhân, cùng quả báo ràng buộc, lòng tham dục cũng xa lìa. Chính đó là bậc Vô thượng sĩ—The man who is not credulous, but knows the uncreated, who has cut off all links and retributions, and renounces all desires. He is indeed a supreme man (Dharmapada 97). 9) Dù ở xóm làng, dù ở rừng núi, dù ở đất bằng, dù ở gò trủng, dù ở biển cả hay đất khô, dù ở bất cứ chốn nào mà có vị A-la-hán, thì ở đó đầy dẫy cảnh tượng yên vui—In a village or in a forest, in a valley or on the hills, on the sea or on the dry land, wherever Arhats dwell, that place is delightful (Dharmapada 98). 10) Lâm dã là cảnh rất vui đối với vị A-la-hán, nhưng người đời chẳng ưa thích, trái lại dục lạc là cảnh ưa thích đối với người đời, vị A-la-hán lại lánh xa—For Arhats, delightful are the forests, where common people find no delight. There the passionless will rejoice, for they seek no desires nor sensual pleasures (Dharmapada 99).
; (阿羅漢) Phạm: Arhat, Pāli: Arahant. Là một trong bốn quả Thanh văn, một trong mười hiệu của Như Lai. Còn gọi là A-lư-hán , A-la-ha, A-ra-ha, A- lê-ha, Át-ra-hạt-đế, gọi tắt là La-hán, Ra-ha. Dịch ý lá Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sinh, Vô sinh, Vô học, Chân nhân. Chỉ bậc Thánh đã dứt hết hai hoặc Kiến, Tư trong ba cõi, chứng được tận trí, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Quả này chung cả Đại thừa và Tiểu thừa, song thông thường đều giải thích theo nghĩa hẹp, mà chuyên chỉ quả vị cao nhất chứng được trong Phật giáo Tiểu thừa. Nếu nói theo nghĩa rộng, thì chỉ riêng cho quả tối cao trong cả Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 3 chép, thì A-la-hán là quả vị vô học thông cả ba thừa, cho nên là tên gọi khác của đức Phật, cũng tức là một trong mười hiệu của Như Lai. Còn cứ theo luận Câu Xá quyển 24, thì A-la-hán là một trong bốn quả Thanh văn (Tứ sa-môn quả), là quả cao nhất của Tiểu thừa. Có thể được chia làm hai loại:1. A la hán hướng, chỉ những người vẫn còn ở giai đoạn tu hành mà xu hướng tới quả vị A la hán. 2. A la hán quả, chỉ các bậc Thánh đã đoạn trừ hết thảy mọi phiền não, được tận trí và nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Những người đã chứng được quả vị này, thì bốn trí dung thông vô ngại và không còn pháp nào phải học nữa, vì thế gọi là Vô học, Vô học quả, Vô học vị; nếu lại hoàn thành tám Thánh đạo từ vô học chính kiến đến vô học chính định, và mười pháp vô lậu vô học giải thoát, vô học chính trí v.v.. thì gọi là Thập vô học chi. (Mười chi vô học). Về nghĩa của từ A la hán, cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, Đại thừa nghĩa chương quyển 37 phần đầu, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1, quyển 2, nêu ra ba nghĩa là sát tặc (giết giặc), bất sinh, ứng cúng, gọi là ba nghĩa A la hán, từ xưa đến nay, thuyết này thường thấy nhất. Tức là: 1. Sát tặc (giết giặc): giặc, chỉ các hoặc Kiến và Tư. A la hán có khả năng đoạn trừ các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi; cho nên gọi là giết giặc. 2. Bất sinh, tức vô sinh. A la hán chứng vào Niết bàn, không còn chịu sinh lại trong ba cõi nữa, cho nên gọi là bất sinh. 3. Ứng cúng, A la hán đã được lậu tận, dứt trừ tất cả phiền não, xứng đáng lãnh nhận sự cúng dường của người và trời, cho nên gọi là Ứng cúng. Phạmarhan là chủ từ số ít của chữ Phạmarhat (A la hán), dịch ý là nhận sự cúng dường, nhận sự tôn kính, vì thế, trong ba nghĩa kể trên, nghĩa ứng cúng tương đối thích hợp hơn cả. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối, ngài Tuệ viễn dùng bốn nghĩa ứng hóa hết thảy chúng sinh, dứt hết các hoặc, để giải thích A la hán. Lại Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì nêu ra giải nghĩa về năm loại A la hán, như bẻ nát nan hoa bánh xe ba cõi, xa lìa tất cả nghiệp ác, không che giấu v.v... Lại nói về chủng loại A la hán, thì A la hán trong bốn quả Thanh văn, tùy sự khác nhau về căn tính bén nhạy hay chậm lụt, mà có thể chia làm sáu loại. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 5, luận Câu xá quyển 25, thì đó là: 1.Thoái pháp A la hán, cũng gọi Thoái tướng A la hán, chỉ những người mới chỉ gặp một chút ác duyên đã dễ dàng đánh mất quả vị đã chứng được. 2. Tư pháp A la hán, cũng gọi Tử tướng A la hán, chỉ những người vì lo sợ sẽ mất quả vị mà nghĩ đến việc tự sát. 3. Hộ pháp A la hán, cũng gọi Thủ tướng A la hán, chỉ những người có khả năng giữ gìn mà không để mất quả vị. 4. An trụ pháp A la hán, cũng gọi là Trụ tướng A la hán, chỉ những người không lui cũng không tiến, mà ở yên nơi quả vị. 5. Kham đạt pháp A la hán, cũng gọi là Khả tiến tướng A la hán, chỉ những người có khả năng tiến tới nhanh chóng mà đạt đến pháp bất động. 6. Bất động pháp A la hán, cũng gọi là Bất hoại tướng A la hán, chỉ những người vĩnh viễn không đánh mất pháp đã chứng được. Trong sáu loại A la hán được tường thuật ở trên, năm loại trước là những người độn căn, cho nên được Thời giải thoát hoặc Thời ái tâm giải thoát, còn loại sau cùng là thuộc những người lợi căn, cho nên được Bất thời giải thoát hoặc Bất động tâm giải thoát. Nói cách rõ ràng hơn, nếu gặp được nhân duyên tốt mà vào định giải thoát thì gọi làThời giải thoát, còn bất cứ lúc nào cũng có thể vào định, mà không cần phải đợi chờ một nhân duyên đặc biệt nào mới được giải thoát, thì gọi làBất thời giải thoát. Lại những người tự mình khéo giữ gìn quả A la hán đã chứng được và giải thoát mọi phiền não, thì gọi làThời ái tâm giải thoát, còn những người đã giải thoát rồi không bị phiền não quấy rối trở lại, làm mất quả vị, thì gọi là bất động tâm giải thoát. Ngoài ra, Bất động pháp A la hán, vì sự hình thành lợi căn, nên lại chia làm hai loại, đó là: 1. Những người bẩm sinh là bất động chủng tính, gọi là Bất thoái pháp A la hán, Bất thoái tướng A la hán. 2. Những người nhờ tu hành tinh tiến mà đạt đến pháp bất động, gọi là Bất động pháp A la hán. Hai loại này cộng với năm loại thuật ở trên thành là bảy loại A la hán. Nếu lại thêm Duyên giác và Phật nữa, thì gọi chung là chín loại A la hán, hoặc gọi là chín Vô học. Lại nữa, kinh Trung A hàm quyển 30, luận Thành thật quyển 1, đem Tuệ giải thoát, Câu giải thoát thay cho Duyên giác và Phật mà thành chín Vô học. Trong đó, A la hán dùng sức trí tuệ để giải thoát phiền não, thì gọi là Tuệ giải thoát A la hán. Nếu A la hán đã được định Diệt tận, mà cả hai phương diện tâm và tuệ đều được giải thoát, thì gọi là Câu giải thoát A la hán. Hai loại này, nếu lại thêm Vô nghi giải thoát A la hán (những người trong Câu giải thoát thông suốt tất cả văn nghĩa mà được bốn vô ngại giải), thì thành là ba loại A la hán. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34, Q.42; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.18; kinh Di lặc thượng sinh; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.14; luận Cam lộ vị Q.thượng; luận Đại tì ba sa Q.94; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên phạm ngữ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Cửu Vô Học, Lục Chủng Tính, Tứ Hướng Tứ Quả).
a la hán a la hán
Arhat (S), Arhat (S), Arahant (P), dgra com pa (T)Đấng Ứng cúngLà quả vị của người chứng đắc đã thoát ly khỏi vòng luân hồi sanh tử. Quả vị này là mục tiêu của Phật giáo nguyên thuỷ.
a la hán ha
Arhat (skt)—See A La Ha and A La Hán.
a la hán hướng
Một trong bốn hướng. Bậc Thánh của Bất Hoàn tiến lên cắt đứt mọi tàn dư phiền não mà hướng đến quả A La Hán—The direction leading to arhatship, by cutting off all illusion in the realms of form and beyond form. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả.
; (阿羅漢向) Là hướng thứ tư trong bốn Hướng. Tức là Nhân vị, (giai vị tu nhân) hướng tới quả A la hán. Những người đã được quả A na hàm thứ ba, sau khi dứt trừ Kiến hoặc trong ba cõi và chín phẩm Tư hoặc ở Dục giới, lại khởi gia hành (chuẩn bị) diệt trừ các hoặc ở Sắc giới và Vô sắc giới, quãng thời gian này gọi là A la hán hướng. Do đoạn trừ chín phẩm hoặc Hữu đính và diệt hết các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi mà chứng vào quả A la hán. Lại quả A la hán là quả thứ tư trong bốn quả, đối với đạo giải thoát, đã sinh tận trí, bốn trí viên dung vô ngại và không còn pháp nào phải học, lên đến cực vị, cho nên gọi là Vô học. Trong bốn ướng bốn quả, quả này là quả cao nhất của Thanh văn thừa, còn bốn hướng ba quả kia thì gọi là Hữu học. [X. luận Câu xá Q.24; luận Đại tì bà sa Q.28]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).
a la hán quả
Arhatship, Sainthood.
; Ariyaphalam (p)—Arahattvaphala (skt)—Người đã đạt được Thánh quả vị thứ tư, không còn tái sanh. Sau khi chết người ấy vào Niết bàn. Đây là quả vị cao nhất cho các hàng Thanh văn. A La Hán là một vị Thánh đã giải thoát khỏi luân hồi sanh tử, bằng cách sống đời tịnh hạnh đúng theo lời Phật dạy. Đây là mục tiêu tối thượng của trường phái Theravada, đối lại với quả vị Bồ Tát trong trường phái Đại thừa—Arahanthood—The fruition of arahantship—The fruit of Arhat discipline—Who attains the fourth stage of Sainthood, and is no more reborn anywhere. After his death he attains Parinirvana. The highest rank attained by Sravakas. An Arhat is a Buddhist saint who has attained liberation from the cycle of Birth and Death, generally through living a monastic life in accordance with the Buddha's teachings. This is the supreme goal of Theravada practice, as contrasted with Bodhisattvahood in Mahayana practice.
a la hán trưởng lão
(阿羅漢長老) Là vị Tăng người Miến điện ở thế kỉ thứ XI. Về quốc tịch của ngài, có nhiều thuyết bất nhất. Có thuyết cho là người Tích lan, có thuyết cho là người Ti mậu, thuộc miền xuôi Miến điện. Ngài vốn ở Vương quốc Trực thông (Thaton) Miến điện, làm việc biên chép và sửa lại ba tạng kinh văn Pāli. Sau Ngài đến Bồ cam truyền bá Phật giáo Thượng tọa bộ, ược quốc vương A nô luật đà (? - 1077) tôn làm quốc sư. Ngài vâng chiếu chỉ tổ chức các học giả đem ba tạng kinh Pāli dịch ra tiếng Miến điện, lại giúp vua A nô luật đà thành lập Tăng đoàn Phật giáo và xây dựng chùa tháp trên khắp nước.
a la hán đạo
Arahat-magga (P), Path of Holiness.
a la la
Xem Uất đà ca la la.
; Arada-kalama (skt)—Alara-kalama (p)—A La La là tên vị đạo sĩ mà thái tử Sĩ Đạt Đa đã đến hỏi đạo giải thoát ngay sau khi Ngài rời hoàng cung xuất gia để trở thành nhà tu khổ hạnh. Người ta nói đạo sĩ A La La là một triết gia theo phái Số Luận và sống gần thành Tỳ Xá Ly, nay là thành phố Besarh trong quận Muzzaffapur, tiểu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Độ—The name of the hermit to whom Prince Siddhartha visited and asked about the enlightenment immediately after he left his royal palace and became an ascetic. Arada-kalama is said to have been a Samkhya philosopher and to have lived near the Vesali city, modern Besarh in the Muzzaffapur district of Bihar state in the northeast India.
a la la ca lam
(阿羅邏迦藍) Phạm:Àràđa-Kàlàma, Pāli: Àơàrakàlàma. Người tiên ngoại đạo đầu tiên mà đức Phật đến hỏi đạo sau khi dời khỏi cung vua, là người ở thành Tì xá li (cũng có thuyết nói là người ở ngoại ô thành Vương xá) thuộc Ấn độ xưa. Còn gọi là A ra noa ca la ma, A lam ca lam, A la la, A lam, La ca lam, Ca la ma, Ca lan, Già lam, A lan. Dịch ý là tự dối, lười biếng. Cùng với Uất đà la ma tử nổi tiếng ở đời. Là học giả phái Số luận, rất nổi danh trong phái Lục sư ngoại đạo đương thời. Ông muốn chặt đứt gốc rễ của sự sống chết mà xuất gia giữ giới, tu hành nhún nhường nhẫn nhục, ngồi thiền định ở nơi vắng vẻ. Vì đức Phật không thỏa mãn với học thuyết của ông, nên Ngài ở vài tháng rồi từ biệt, và đến hỏi đạo nơi Uất đà la ma tử. Khi đức Phật thành đạo, chuyển pháp luân, Ngài định đến giáo hóa cho A la ra ca lam trước nhất, nhưng ông đã qua đời rồi. Về giáo nghĩa của Ca lam, trong các kinh Phật, phần nhiều bảo ông ấy cho cõi Vô sở hữu (Vô sở hữu xứ) là Niết bàn rốt ráo. Suy đó thì biết, tư tưởng Niết bàn là tư trào phổ thông tại Ấn độ đương thời. Lại Phật giáo Nguyên thủy chia các giai đoạn tu Thiền làm chín đoạn, thì trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3, Ca lam nêu lên thuyết tám đoạn là: Tứ thiền, Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sau lại thêm Diệt tận định mà thành chín đoạn. [X. Trung a hàm Q.56 kinh La ma; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.6; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Xuất diệu Q.7; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.7 phẩm Tần bà sa la vương khuyến thụ tục lợi; kinh Phật ban nê hoàn Q.hạ; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.27].
a la la địa ngục
Alala (S), Apapa (S)A bà bà địa ngục.
a la lá
Arata-Kalama (S).
a la ra ca lam
Xem Uất đà ca la la.
a la thuyết bộ
Xem Tây sơn trụ bộ.
a la tì quốc
(阿羅毗國) A la tì, Phạm:Aơàvì, Pāli: Àơavì. Tên một nước xưa ở Ấn độ, gần sông Hằng. Còn gọi là A la bề quốc, A đồ tì quốc, A la bà già quốc, A la bề già la quốc. Dịch ý là rừng, đồng nội, đồng không, là nơi chim muông ở. Kinh Trưởng lão kệ (Theragàthà) Nam truyền vănPāli, bài kệ thứ 1263 có đề cập đến chùa A ca la ngõa (Aggàlav-chetiya), là ngôi chùa nổi tiếng ở nước A la tì. Cứ theo chú thích của bài kệ trên nói, thì vị trí nước A la tì nằm dọc theo bờ sông Hằng, cách nước Ba la nại tư (Phạm:Vàraịasì) ngược dòng sông Hằng, mười hai do tuần, và về phía nam thành Xá vệ ba mươi do tuần. Cứ theo Tương ứng bộ 13 kinh 33 văn Pāli tường thuật, thì Trưởng giả Ha đa a la bà (Hatthaka Àơavak) từng là công dân nước này. Lại cứ theo kinh A la hán cụ đức chép, thì Trưởng giả Hạ tất đa ca (Ha đa a la bà) và A tra phạ ca cùng ở nước A la ti. Cứ theo Tăng chi bộ 8 kinh 23 văn Pāli chép, thì khi đức Phật ở chùa A ca la ngõa, trưởng giả Hạ tất ca tán dương đức Thế Tôn có đủ tám pháp chưa từng có. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 27 chép, thì nước A la tì khí hậu lạnh lẽo, lại nhiều cỏ tật lê, khi đức Phật ngồi, nằm không lấy thế làm khó chịu. Thầy của Bà kì xá (Pāli: Vagìsa) là Ni cù đà kiếp ba (Pāli: Nigrodha Kappa) qua đời tại chùa A ca la ngõa, Bà kì xá bèn hỏi đức Phật về nơi đi đến của thầy mình sau khi chết, việc này được chép trong kinh Trưởng lão kệ nói trên. Ngoài ra, giới cấm đào đất thứ 10, giới cấm chặt cây thứ 11 trong chín mươi hai Ba dật đề, chính đã được chế định tại nước này. Lí do: các tỉ khưu ở chùa A ca la ngõa, để cất nhà cửa, bèn tự mình đào đất, và sai người đào đất, chặt cây đến nỗi bị chê trách. Các sự tích về nước A la tì cũng còn được thấy trong kinh Trưởng lão ni kệ (Pāli: Therì-gàthà, Tăng chi bộ 8 kinh 24, Tương ứng bộ 10 kinh 12, kinh Tạp a hàm quyển 45, kinh Biệt dịch tạp a hàm quyển 13, luật Ngũ phần, luật Thập tụng, luật Ma ha tăng kì, và Hữu bộ tì nại da v.v...
a lam
Xem Uất đà ca la la.
a lam bà
(阿藍婆) Phạm: Aratilambha. Dịch ý là thuốc nước, là một loại cỏ thuốc. Nói đủ là A la để lam bà, nói tắt là Lam bà. Sinh sản trên núi Hương và núi Tuyết tại Ấn độ. Thông thường, người ta dùng nước cốt của loại cỏ này thoa lên mình, thì có thể hết lo, được mừng, vì thế còn được dịch là đắc hỉ (được mừng). [X. kinh Tân hoa nghiêm Q.78; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quật dịch thổ tập Q.2]
a lan nhã
Araa (P), Forest, Āraṇya (S), Āranya (S), Arinya (S), Araakanga (P), Araa (P), Remote place Không nhàn xứ, Nhàn cư xứ, A lan nhã xứ, Nhàn xứ, Lan nhã, Sâm lâm thư, Nơi hoang dã.
; Aranya (S) A hermitage, or place of retirement for meditation.
; Dịch là chỗ Tịch tịnh (xa lìa náo nhiệt), cũng là chùa nơi Tỳ kheo cư trú.
; (阿蘭若) Phạm: Araịya, Pāli: Araĩĩa. Còn gọi là A luyện như, A luyện nhã, A lan na, A la nhưỡng, A lan noa. Nói tắt là Lan nhã, Luyện nhã. Dịch là núi rừng, đồng hoang. Chỉ những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành để cư trú. Còn dịch là nơi xa lìa, nơi vắng lặng, nơi rất thong thả, nơi không tranh giành. Tức là nơi vắng vẻ cách xa làng mạc một câu lư xá, thích hợp cho người tu hành. Chỗ ấy, hoặc người ở nơi ấy thì gọi là A lan nhã ca (Phạm: Àraịyaka). Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng chép, thì A lan nhã có ba loại: 1. Đạt ma a lan nhã (Phạm: Dharma araịya), là đạo tràng cầu Bồ đề. 2. Ma đăng già a lan nhã (Phạm: Màtaga-araịya), là nơi tha ma hoặc là nơi cách xa làng mạc một câu lư xá, tức một quãng xa mà tiếng bò kêu không nghe thấy.3. Đàn đà già a lan nhã (Phạm: Daịđaka-araịya), tức nơi bãi cát xa xôi không thấy khói của người ta đun nấu. Đến đời sau, tất cả chùa chiền tinh xá đều gọi là A lan nhã, phần nhiều cách xa nơi phồn hoa đô hội, là những chỗ yên tĩnh tiện cho người xuất gia tu hành, và người tại gia ra vào lễ bái. Ngoài ra, các tỉ khưu tu hành mà thường xuyên ở nơi A lan nhã, thì gọi là A lan nhã hạnh, là một trong mười hai hạnh đầu đà. [X. luận Đại tì bà sa Q.136; Hữu bộ tì nại da Q.24; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.3; Câu xá luận quang kí Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.15; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
a lan nhã xứ
Xem A luyện nhã, A lan nhã
a li da bạt ma
(阿離耶跋摩) Phạm: Àrya-varman. Vị tăng người Tân la (nay là Triều tiên). Năm sinh năm mất không rõ. Khoảng năm Trinh quán (627 - 649) đời Đường, vì mục đích cầu pháp và chiêm bái các Phật tích, sư đến trung Ấn độ và nghỉ tại chùa Na lan đà. Học rộng luật luận và sao chép các kinh. Tuy muốn về nước nhưng không được như nguyện. Sau, sư tịch ở chùa Na lan đà, thọ hơn bảy mươi tuổi. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Hải đông cao tăng truyện Q.2]. A LỊ NI QUỐC A lị ni, Phạm: Arni hoặcAhreng. Nằm về phía bắc A phú hãn ngày nay, một nước cổ xưa ở lưu vực sông Áo khắc tát tư (Oxus). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 12 chép, thì nước này là đất cũ của nước Đổ hóa la (Tokhara), trên hai bờ sông Phọc xu, chu vi hơn ba trăm dặm, đô thành rộng mười bốn, mười lăm dặm. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí; T. Watters: On Yoan Chwang Vol.II].
a luyện nhã.
xem A lan nhã.
a ly bạt đề
Airavati (P).
a lê da
Xem Tôn giả.
; Arya (S). Saint, Venerable.
; Arya (skt)—A Li Da—A Li Dã—A Lược—A Di—Thánh giả, Thánh nhân hay tôn giả (người đã ra khỏi cảnh khổ)—Loyal, honourable, noble—A man who has thought on the four chief principles of Buddhism and lives according to them. a) Thánh: Sage—Sacred—Saintly. b) Tôn: Honourable.
; (阿棃耶) Phạm:Arya, Pāli: Arya hoặcàriya. Còn gọi là A lí dạ, A li da, A li dã, A lê a, A lược, A di. Dịch ý là Thánh giả, xuất khổ giả (người ra khỏi khổ), Hiền giả, Đại đức, Viễn ác (xa điều ác). Là tiếng tôn xưng các bậc hiền nhân thông hiểu đạo lí. Ngài Xứng hữu .(Phạm:Yazomitra), trong Câu xá thích luận bằng văn Phạm, từng đề xuất những tiếng tôn xưng như: Àryàjĩàtakauịđinya (Thánh A nhã kiều trần như),Àrya-Mahàkàzyapa (Thánh Ma ha ca diếp). Ngài Sư tử hiền (Phạm: Haribhadra), trong Bát thiên tụng bát nhã thích luận văn Phạm, cũng ghi các tiếng tôn xưng như: Àrya-Nàgàrjuna (Thánh Long thụ) vàÀryàsaga(Thánh Vô trước). Lại các kinh điển Phật giáo, cũng có từ ngữ này được đặt trước tên kinh, như kinh Thánh bát thiên tụng bát nhã ba la mật đa nhất bách bát danh chân thực viên nghĩa đà la ni do ngài Thí hộ......đời Tống dịch; loại tên kinh này cũng được thấy rải rác trong các kinh tiếng Phạm và Đại tạng kinh bản dịch Tây tạng. Ngoài ra, thức A lại da (Phạm:àlaya) cũng được các nhà dịch cũ (Chân đế đời Trần dịch) gọi tắt là A lê da. [X. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10 phần đầu; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.6; Như lai đại tạng kinh tổng mục lục; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42].
a lê da phạt ma
Aryavarman (skt)—Một vị sư nổi tiếng của phái Đại Chúng Bộ, tác giả của bộ A Tỳ Đạt Ma Luận Giải hay Vi Diệu Pháp Luận Giải—A famous monk of the Sarvastivadin school, author of a work on the Vaibhasika philosophy.
; (阿梨耶伐摩) Phạm: Àrya Varman. Vị tăng người nước Ca tất thí. Sinh vào khoảng thế kỉ thứ VII. Dịch ý: Thánh trụ, Thánh khải. Luận sư của Tát bà đa bộ, từng soạn chương sớ của luận Tì bà sa. Thời gian ngài Huyền trang Tây du, có nhận lời mời của vua Khinh nghệ la nước Ca tất thí đến dự các buổi thuyết pháp tại một ngôi chùa Đại thừa và gặp luận sư Thánh trụ. Luận sư tuy là bậc Thượng thủ của Tát bà đa bộ, nhưng học thức của ngài không gồm cả hai thừa mà chỉ thiên trọng một lí. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2].
a lê da tư na
Aryasena (skt)—Một vị sư nổi tiếng của trường phái Đại Chúng Bộ—A famous monk of the Mahasanghikah.
; (阿梨耶斯那) Phạm: Àrya-sena.Vị tăng người nước Phạm diễn na ở Ấnđộ. Sinh vào khoảng thế kỉ thứ VII. Dịch ý: Thánh quân. Sư thuộc Ma ha tăng kì bộ, thông Pháp tướng học. Khi ngài Huyền trang Tây du đến nước Phạm diễn na, sư cùng với sư A lê da đà sa (Phạm: Àrya-dàsa, dịch ý là Thánh sứ) cùng đón tiếp ngài Huyền trang. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2].
a lê da đà sa
Aryadasa (skt)—Một vị sư của trường phái Đại Chúng Bộ—A monk of the Mahasanghikah.
a lê nghi
Alingi (skt). 1) Ôm ấp: To embrace. 2) Cái trống nhỏ: A small drum. 3) Một loại thiền Mật giáo: A kind of esoteric meditation.
; (阿梨宜) Phạm:Àligita. Dịch ý là ôm, tức hàm ý trai gái ôm nhau. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 19 (Đại 35, 471 thượng): A lê nghi, Hán dịch là ôm cầm đụng chạm, là tướng nhiếp thụ.
a lê thọ
Xem Hương cúc.
a lê thụ
Arjaka (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree with white scented flowers, said to fall in seven parts, like an epidendrum.
a lê thụ chi
(阿梨樹枝) A lê, Phạm:Arjaka, dịch ý là lan. Tên cây có mùi thơm. Kinh Pháp hoa quyển 7, phẩm Đà la ni (Đại 9, 59 trung): Nếu không theo chú của ta, mà quấy rối người nói pháp, thì đầu sẽ vỡ làm bảy phần như cành cây A lê. Trong đây, A lê thụ chi tương đương vớimaĩjarì (mạn chiết lị) trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm, còn kinh Chính pháp hoa quyển 10, trong phẩm Tổng trì dịch là Hoa thái. Nhưng, chú thích bên cạnh trong kinh Đại khổng tước chú vương quyển thượng do ngài Nghĩa tịnh dịch (Đại 19, 462 trung) thì nói: Tiếng Phạm là Át đỗ ca mạn chiết lị, Át đỗ ca là lan hương; mạn chiết lị là rễ cây sen. Các nhà dịch cũ bảo là cành cây a lê, không những không thạo âm gốc mà cũng không hiểu sự thực, cho nên cứ lầm lẫn mãi. Song, nghe bên phương Tây không có cây A lê. Lại trong kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng, ngài Bất không cũng dịch là rễ cây lan hương. Bởi vì chữarjaka trong tiếng Phạm có thể chỉ nhiều loại thực vật như: sitaparịasa varvarìbheda, sàmànyatulasìv.v... ho nên dễ sinh các ý khác nhau. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.35].
a lê tra
Aristaka (S). Vô tướng, name of a heretic monk.
a lô na
(阿盧那) Phạm: Aruịa. Còn gọi là A lưu na, a lâu na. Dịch ý: ngày, gần sáng, mờ mờ sáng. I. A lô na. Là hình dung từ tả màu đỏ lợt. Vì khi mặt trời mọc thì phía đông hừng đỏ, nên gọi là màu đỏ lợt, như hoa sen đỏ lợt gọi là hoa a lô na, hương đỏ lợt gọi là hương a lâu na. [X. Tứ phần luật khai tông kí Q.3, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng]. II. A lô na. Tên thực vật. Tại Ấn độ, có bốn loại thực vật cùng có tên là a lô na: 1. Tên khoa học: Rubia manjith, có thể làm dược phẩm, vỏ cây có thể dùng làm thuốc nhuộm. 2. Tên khoa học: Convolvulusturpethum, có thể dùng làm thuốc. 3. Tên loài cỏ, nửa đỏ nửa đen, hạt nó to bằng hạt đậu, rất đẹp. 4. Tên khoa học: Colocynth. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng, Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].
a lư na
Aruna (skt)—A Lưu Na. 1) Màu đỏ ửng: Ruddy. 2) Màu ửng hồng của rạng đông: Dawn-colour. 3) Lửa: Fire. 4) Hỏa tinh: Mars. 5) Hướng nam: South.
a lư na bạt để
Loại nhang có màu đỏ—A red-coloured incense.
a lư na hoa
Aruna-kamala (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus.
a lại da
Alaya (S), an abode, receptacle, resting place (hence Himalaya, the store house of snow). Tiềm tàng.
; Alaya-vijnana (skt)—See A Lại Da Thức.
a lại da ngoại đạo
Một trong 30 loại ngoại đạo, xem A Lại Da là một chất liệu truờng tồn, sáng tạo và chứa đựng tất cả. Khi được xem như là hiện tượng, thì A Lại Da bao trùm khắp vũ trụ—The alaya heresy, one of the thirty heretical sects which considered the alaya is a sort of eternal substance or matter, creatives and containing all forms; when considered “unrolled,” or phenomenal, it fills the universe. It seems to be of the nature of materialism as opposed to the idealistic conception of the Alaya-vijnana.
A Lại Da Thức
(s: ālaya-vijñāna, p: ālaya-viññāṇa, j: arayashiki, 阿賴耶識): từ hợp thành bởi âm tả ālaya và âm dịch vijñāna, còn gọi là A Lê Da Thức (阿黎耶識), được dịch là Tạng Thức (藏識). Theo giáo nghĩa độc đáo của Duy Thức Pháp Tướng Tông, nó được xếp vào hàng thứ tám trong 8 thức (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt Na và A Lại Da Thức), là thức có căn bản của tồn tại cá nhân. Từ ālaya có nghĩa là nơi chốn, chổ ở, vì nó là nơi chứa đựng chủng tử của tất cả các pháp, nên được gọi là Tạng Thức. Từ điểm này, nó còn được gọi là Nhất Thiết Chủng Tử Thức (一切種子識, thức chứa đựng hết thảy chủng tử). Từ chủng tử ấy, A Lại Da Thức sanh khởi các pháp của thế giới hiện tượng (hiện hành pháp [現行法]), rồi các pháp này lại tạo ấn tượng (huân tập) cho A Lại Da Thức để hình thành nên chủng tử và tương tục sanh diệt trong từng sát na. Với tư cách là trung tâm của tồn tại cá nhân, thức này có đẩy đủ các cơ năng đa dạng và tùy theo cơ năng của nó mà có nhiều tên gọi khác. Từ điểm sanh khởi làm quả báo của nghiệp quá khứ (dị thục [異熟]), nó được gọi là Dị Thục Thức (異熟識); từ điểm là cơ sở sanh ra các thức khác, nó có tên là Căn Bản Thức (根本識); hay từ điểm duy trì cơ quan của thân tâm, nó là A Đà Na Thức (s: ādāna-vijñāna, 阿陀那識, tức Duy Trì Thức [維持識]). Duy Thức Pháp Tướng Tông thuyết về triết học duy tâm cho rằng vạn hữu vốn duyên khởi từ A Lại Da Thức. Thức này là chủ tể của thế giới mê muội, nhưng các pháp giác ngộ cũng hình thành nhờ nó. Chính vì vậy, đã nảy sinh luận tranh cho rằng đời sau bản chất của A Lại Da Thức sẽ là chơn thức trong sạch hay vọng thức nhơ nhớp.
a lại da thức
Ālaya viāṇa (P), kūn shi nam she (T), Ālaya vijāna (S), Ālaya (S), Alaya consciousnessHàm tàng thức, Tàng thức, Bản thức, Chấp trì thức, Chủng tử thức, dị thục thức, đệ bát thức, đệ nhất thức, hiện thức, sở tri y, trạch thức, Vô cấu thức, Vô một thức, A lị da thức, Tạng, TàngThức thứ tám của con người nơi tàng trữ nghiệp báo. Con người có 8 thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na thức, a lại da thức. Nơi tàng chứa tất cả chủng tử thiện, ác, vô ký, do thức thứ sáu lãnh đạo, năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) tạo tác. Xem Dị thục thức. Xem A đà na thức
; Alaya-vijnàna (S). The receptacle intellect or consciousness, basic consciousness. Eighth consciousness, subconsciousness, store consciousness. Duy A lại da, Alayavijnàmàtram Alya only.
; Alaya-vijnana (skt)—A Lợi Da—A Lê Da—A Lạt Da. (I) Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, A Lại Da Thức được diễn dịch như sau—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms composed by Professor Soothill, Alaya-vijnana is interpreted as: 1) A Đàn Na Thức: Adana-vijnana—See Chấp Trì Thức. 2) Bản Thức: Gốc rễ của chư pháp—Original mind, because it is the root of all things. 3) Chấp Trì Thức: Nó giữ lấy tất cả các nhân thiện ác và giữ cho thân thể của hữu tình chúng luôn luân lưu trong luân hồi sanh tử—It holds together, or is the seed of another rebirth, or phenomena, the causal nexus. 4) Dị Thục Thức: Gọi là Dị Thục Thức vì nó chứa đựng và làm chín mùi những thiện ác nghiệp, từ đó có thể dẫn đến luân hồi sanh tử—It contains good and bad karma which in turns produces the rounds of mortality. 5) Đệ Bát Thức: Thức cuối cùng trong tám thức—It is the last of the eight vijnanas. 6) Đệ Nhất Thức: Đệ nhất thức từ gốc trở về ngọn (tầm quan trọng đệ nhất của A Lại Da Thức)—The prime or supreme mind or consciousness. 7) Hiện Thức: Chư pháp đều hiển hiện trên bản thức—Manifested mind, because all things are revealed in or by it. 8) Hữu Tình Căn Bản Chi Tâm Thức: Tâm thức căn bản của loài hữu tình—The fundamental mind-consciousness of conscious beings, which lay hold of all the experiences of the individual life. 9) Chủng Tử Thức: Chủng tử thứ cơ bản vì từ đó mà phát sanh ra mọi pháp, mọi vật; giống như từ hạt giống nầy mà sanh ra cây cối hoa quả—Seeds mind, because from it spring all individualities, or particulars. 10) Sở Tri Y Thức: Gọi là Sở Tri Y thức vì nó là cơ sở cho mọi pháp thiện ác dựa vào—Alaya-vijnana is the basis of all knowledge. 11) Tàng thức—Store Consciousness: a) Tiềm thức hay tạng thức, thức thứ tám hay Nghiệp thức. Tất cả nghiệp được thành lập trong hiện đời và quá khứ đều được tàng trữ trong A Lại Da thức—A Lại Da thức hành xử như nơi tồn chứa tất cả những dữ kiện được Mạt Na thức thâu thập. Khi một sinh vật chết thì bảy thức kia sẽ chết theo, nhưng A-Lại-Da thức vẫn tiếp tục. Nó là quyết định tối hậu cho cho sự đầu thai trong lục đạo—Alaya consciousness—Eighth consciousness—The storehouse consciousness—Karma respiratory—The all-conserving mind—All karma created in the present and previous lifetime is stored in the Alaya Consciousness—This is like a storage space receiving all information collected in the Mana consciousness. When a sentient being dies, the first seven consciousnesses die with it, but the Alaya-Consciousness carries on. It is the supreme ruler of one existence which ultimately determines where one will gain rebirth in the six realms of existence. b) Tàng thức là nơi tích lũy—The storehouse-consciousness is a place where stores: - Tất cả những ấn tượng: All impressions. - Tất cả những hạt giống ký ức: All memory-seeds. - Tất cả những hạt giống nghiệp: All karmic seeds. 12) Tâm Thức: Tâm là tên khác của a Lại Da Thức vì cả hai đều tích tụ các hạt giống của chư pháp và làm cho chúng khởi lên—Mind is another name for Alaya-vijnana, as they both store and give rise to all seeds of phenomena and knowledge. 13) Trạch Thức: Là nhà ở của các hạt giống—Abode of consciousness. 14) Vô Cấu Thức: Cực thanh tịnh thức ở bậc “Như Lai Địa,” nơi nương tựa của các pháp vô lậu—Unsullied consciousness when considered in the absolute, i.e. the Tathagata. 15) Vô Một Thức: Tất cả các chủng tử không bị mất mát (không mất, không tan)—Inexhaustible mind, because none of its seeds, or products is lost (non-disappearing, perhaps non-melting). 16) Như Lai Tạng: Tathagata-garbha (skt)—See Như Lai Tạng. (II) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, khi vạn vật phản chiếu trong tâm trí ta, thì thế lực phân biệt hay tưởng tượng của tâm ta sẽ sẳn sàng hoạt động ngay. Đây gọi là “thức” (vijnana). Chính vì thức kết hợp với tất cả yếu tố phản chiếu, tàng chứa chúng, nên được gọi là A Lại Da Thức hay “thức tạng.” Tạng thức chính nó là sự hiện hữu của tập hợp nhân quả và những tâm sở thanh tịnh hoặc nhiễm ô, được tập hợp hay lẫn lộn với chúng theo tương quan nhân quả. Khi tạng thức bắt đầu hoạt động và bước xuống thế giới thường nhật nầy, thì chúng ta có hiện hữu đa dạng vốn chỉ là thế giới tưởng tượng. Tạng thức, vốn là chủng tử thức, là trung tâm ý thức; và thế giới do thức biểu hiện là môi trường của nó. Chỉ có ở nơi sự giác ngộ viên mãn của Phật, thức thanh tịnh mới bừng chiếu lên. Tịnh thức nầy có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và còn khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thật, tức Viên Thành Thật tánh (parinispanna). Sau khi đạt đến đó, chủng tử tạng, tức là thức, sẽ biến mất và cuối cùng đưa đến trạng thái nơi mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt. Đấy là vô phân biệt trí (avikalpa-vijnana). Trạng thái tối hậu là Vô Trụ Niết Bàn (apratisthita-nirvana) nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, when all things are reflected on our mind, our discriminating or imaginating power is already at work. This called our consciousness (vijnana). Since the consciousness co-ordinating all reflected elements stores them, it is called the store-consciousness or ideation-store. The ideation-store itself is an existence of causal combination, and in it the pure and tainted elements are causally combined or intermingled. When the ideation-store begins to move and descend to the everyday world, then we have the manifold existence that is only an imagined world. The ideation-store, which is the seed-consciousness, is the conscious center and the world manifested by ideation is its environment. It is only from the Buddha's Perfect Enlightenment that pure ideation flashed out. This pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (parinispanna). This having been attained, the seed-store, as consciousness, will disappear altogether and ultimately will reach the state where there is no distinction between subject and object. The knowledge so gained has no discrimination (Avikalpa-vijnana). This ultimate state is the Nirvana of No Abode (apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place. (III) Theo Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa Khởi Tín Luận và Nhiếp Luận Tông, A Lại Da thức là nơi hòa hợp chân vọng. Khi nó trở nên thanh tịnh và không còn ô nhiễm, nó chính là “Chân Như.”—According to Asvaghosa Bodhisattva in the Awakening of Faith and the Samparigraha, the Alaya or store id the consciousness in which the true and the false unite. When Alaya Consciousness becomes pure and taintless, it is Tathata (Thusness).
; (阿賴耶識) A lại da, Phạm: Àlaya. Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạtna, a lại da), một trong chín thức (tám thức và thức A ma la) Còn gọi là A la da thức, A lê da thức, A lạt da thức. Gọi tắt là Lại da, Lê da. Các nhà dịch cũ gọi là Vô một thức , các nhà dịch mới gọi là Tàng thức. Hoặc gọi là Đệ bát thức, Bản thức, Trạch thức. Vô một thức hàm ý là nắm giữ các pháp mà không mê mất tâm tính; vì nó là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức, vì nó là tác dụng mạnh nhất trong các thức, cho nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, ngậm chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, cho nên gọi là Tàng thức. Lại vì nó là hạt giống có khả năng ngậm chứa và sinh trưởng muôn vật, cho nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống). Ngoài ra, A lại da cũng được gọi là Sơ sát na thức, Sơ năng biến, Đệ nhất thức. Vì ở sát na đầu tiên khi muôn vật trong vũ trụ sinh thành, thì duy chỉ có thức thứ tám này mà thôi, cho nên gọi là Sơ sát na thức. Mà thức này cũng là tâm thức hay biến hiện ra các cảnh, cho nên cũng gọi là Sơ năng biến. Từ gốc đến ngọn, nó được kể là thứ nhất, cho nên gọi Đệ nhất thức. Do ở nơi thức A lại da mới có thể biến hiện ra muôn vật, vì thế, các nhà Duy thức học chủ trương hết thảy vạn hữu đều bắt nguồn từ thức A lại da, đây cũng là một thứ Duy tâm luận. Còn như thức A lại da là chân thức trong sạch hay là vọng thức nhơ bẩn, thì đây là một vấn đề lớn đã được bàn đến rất nhiều trong giới Phật học. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu trích dẫn thuyết trong kinh Tăng nhất a hàm, và luận Câu xá quyển 16 rích dẫn thuyết trong Khế kinh (hoặc chỉ kinh Tạp a hàm), thì có thể thấy manh nha tư tưởng A lại da đã bắt nguồn từ thời đại Phật giáo nguyên thủy. Cứ theo luận Chuyển thức, luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu, kinh Phật bản hạnh tập quyển 33, luận Câu xá quyển 16, luận Đại tì bà sa quyển 145 v.v... nói, thì các sư của thời đại Bộ phái Phật giáo đều dựa vào thuyết Ái dục duyên khởi mà giải thích A lại da là ái trước, tham ái, hoặc là ái, lạc, hân, hỉ v.v... Nhưng đến thời đại Phật giáo Đại thừa, thì lần lượt có ngài Mã minh viết luận Đại thừa khởi tín để bàn và giải thích nghĩa của thức A lại da, rồi đến các ngài Di lặc, Vô trước, Thế thân cũng đều làm luận để phát huy thuyết Duy thức duyên khởi, chủ trương hết thảy muôn vật đều bắt nguồn từ thức A lại da, mà thành lập hệ thống tư tưởng của triết học Duy thức. Trong đó, ngài Vô trước dựa vào kinh A tì đạt ma đại thừa, kinh Giải thâm mật để giải thích và cho rằng thức căn bản thứ tám (thức A lại da) là quả thể tổng báo của hữu tình, đồng thời, trong tác phẩm Hiển dương thánh giáo luận quyển 17, ngài Vô trước đã nêu ra tám lí do để biện chứng cho sự tồn tại của thức A lại da. Lại trong Nhiếp đại thừa luận quyển thượng phần đầu, ngài Vô trước chia thức A lại da làm ba loại là Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng, và cho hai cảnh giới mê, ngộ đều do những hạt giống được ươm (huân tập) trong thức A lại da phát sinh, đây tức là thuyếtChủng tử huân tập, cũng tức là thuyết chủ trương thức A lại da là chân vọng hỗn hợp. Lại tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, đến thời đại Duy thức chia dòng, có hai mươi tám nhà chú thích, mà trội hơn cả thì có các bản chú thích của mười vị đại luận sư Hộ pháp, An tuệ v.v... Ngài Huyền trang lấy bản chú thích của ngài Hộ pháp làm chính, rồi hỗn hợp thuyết của các luận sư khác mà biên dịch nên bộ luận Thành duy thức 10 quyển, đối với tư tưởng Duy thức ở Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản, đã có ảnh hưởng rất sâu xa. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì thức A lại da có đủ ba nghĩa là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng. 1.Năng tàng, nghĩa là, trong tự thể thức thứ tám ngậm chứa các hạt giống của hết thảy muôn pháp. 2.Sở tàng, nói theo nghĩa hiện hành ươm hạt giống, thì thức này cũng tức là chỗ để cho bảy chuyển thức ươm hạt giống của muôn pháp. 3.Chấp tàng, nghĩa là, thức thứ tám thường bị thức mạt na thứ bảy chấp bậy làm thực ngã, thực pháp, vì thế cũng gọi là Ngã ái chấp tàng. Ngoài ra, sư Khuy cơ dựa theo những điều được trình bày trong luận Thành duy thức, rồi trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần cuối từ ba tướng Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng mà đề xuất ba vị thức thể của A lại da, đó là: 1. Ngã ái chấp tàng hiện hành vị, chỉ tự tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, thức thứ tám thường bị thức thứ bảy chấp làm ngã, cho nên gọi là Ngã ái chấp tàng vị. Từ phàm phu, đến các Bồ tát dưới Thất địa, hoặc các bậc Thánh hữu học trong Nhị thừa, đều thuộc vị này. 2. Thiện ác nghiệp quả vị, chỉ quả tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, do nghiệp thiện ác của thức thứ tám mà đưa đến quả dị thục, cho nên gọi là Thiện ác nghiệp quả vị. Vị này suốt đến tâm kim cương của hàng Bồ tát Thập địa hoặc các bậc Thánh vô học của Nhị thừa. 3. Tương tục chấp trì vị, chỉ Nhân tướng của thức thứ tám. Vị này thông đến Phật quả và suốt đến vị lai vô tận. Vì thức thứ tám nắm giữ hạt giống sắc, tâm của muôn pháp, khiến năm căn không dứt mất, cho nên gọi là Tương tục chấp trì vị. Nương vào đó mà từ phàm phu đến Phật mới thực hiện được cuộc chuyển mê khai ngộ, nó là nơi nương tựa của chúng sinh, vì thế, thức A lại da còn được gọi làSở tri y . Tư tưởng Duy thức của ngài Hộ pháp được học trò là luận sư Giới hiền truyền cho ngài Huyền trang, nhờ đó mà thịnh hành ở Trung quốc. Tại Trung quốc, các tông phái đối với thức A lại da cũng có nhiều thuyết khác nhau, chẳng hạn như: 1.Tông Địa luận, lấy Thập địa kinh luận của ngài Thế thân làm căn cứ chủ yếu. Chủ trương thức A lại da là thức chân thường thanh tịnh, cũng như Phật tính Như lai tạng. 2.Tông Nhiếp luận, lấy luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước làm căn cứ chủ yếu (bản dịch của ngài Chân đế). Chủ trương Như lai tạng duyên khởi cho thức A lại da là pháp vô thường hữu lậu, là nguồn gốc của hết thảy phiền não, đồng thời, ngoài tám thức trước ra, lại thêm thức A ma la nữa thành thức thứ chín, và cho tám thức trước là hư vọng, thức thứ chín là chân thực. Tuy nhiên, ngài Chân đế cũng tham chước luận Đại thừa khởi tín, mà cho thức A lại da là thức vôkí vô minh tùy miên ., là thức chân vọng lẫn lộn, cho thức thứ tám có đủ nghĩa tính hiểu biết là chân, có đủ nghĩa quả báo là vọng, cho nên tư tưởng của ngài Chân đế là dung hợp cả hai thuyết chân vọng mà thành. 3.Tông Pháp tướng duy thức, lấy luận Thành duy thức làm căn cứ chủ yếu. Ngài Huyền trang là đại biểu cho các nhà dịch Duy thức mới, bác thuyết Như lai tạng duyên khởi, chủ trương A lại da duyên khởi, đồng thời, lập ra năm loại chủng tính, bảo nhân, pháp đều không. Loại luận thuyết mới này, không những khiến cho tư tưởng Duy thức tại Trung quốc phát sinh một chuyển biến lớn, mà cũng còn ảnh hưởng đến cả tư tưởng Duy thức tại Nhật bản nữa. [X. kinhNhập lăng già Q.2, Q.7; luận Quyết định tạng Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần dưới; Trung quán luận sớ Q.7 phần đầu. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1; Duy thức liễu nghĩa đăng Q.4 phần đầu]. (xt. Lại Da Tam Tướng, Lại Da Tứ Phần).
a lại da thức tam chủng cảnh
The three categories of the Alayavijnana. 1) Chủng tử: Sinh ra hạt giống của tất cả hiện hành pháp hữu lậu và vô lậu—The seed, or cause, of all phenomena—See Chủng Tử. 2) Ngũ Căn: The five organs of sensation—See Ngũ Căn. 3) Khí Giới: Quả báo của tất cả chúng sanh (núi, sông, cây, cỏ, khí cụ, ăn uống, vân vân)—The material environmenton which they depend.
a lại thức
Là thức thứ tám, cũng gọi là Tạng thức, tức là tất cả chủng tử thiện, ác, vô ký, do thức thứ sáu lãnh đạo năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân) làm ra đều chứa trong đó.
a lật trá
(阿栗咤) Pāli: Ariỉỉha. Người ở thế kỉ thứ III trước Tây lịch. Còn gọi là A lật xoa. Là cháu ngoại của vua Tích lan Thiên ái đế tu (Pāli: Devà-naôpiya Tissa, ở ngôi khoảng từ 250 trước Tây lịch - 210 trước Tây lịch). Từng đi sứ Ấn độ để đón rước em gái của ngài Ma hi đà là Tăng già mật đa (Pāli: Saghamittà), sau khi về nước, xuất gia làm tăng, theo học giáo pháp với ngài Ma hi đà, nghiên cứu giới luật. Ngài Ma hi đà tuyển chọn làm lãnh tụ Tăng đoàn và được trao phó tạng luật. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.3, Q.4].
a lị da thức
Xem A lại da thức.
a lị sa kệ
Xem Tự nhiên thành tựu chơn ngôn.
a lộ ba
Rupya (skt)—Bạc—Silver.
a lộc lộc địa
Nơi mà tất cả mọi thứ đều diễn biến tốt đẹp theo như ý muốn—A land where all goes smoothly along at will.
; (阿轆轆地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là Chuyển lộc lộc địa, A là trợ từ, lộc lộc là tiếng bánh xe chạy mau; địa là vĩ ngữ trợ từ. Tức là sự vật trong trạng thái tiến hành một mạch chứ không ngưng trệ; hình dung cảnh giới tự do vô ngại, xoay chuyển tự tại. Ngoài ra, hình dung tài biện bác lưu loát cũng gọi là A lộc lộc địa. Bích nham lục, tắc 53 (Đại 48, 188 thượng): Ta thình lình khóc, như nay đang khóc. Thấy ông ta sau khi ngộ a lộc lộc địa, chẳng ở lưới lồng, tự nhiên lung linh (lời ngài Bách trượng).
a lợi da
Alaya (skt)—See A Lại Da Thức.
a lợi da đa la
Arya-tara or Aryavalokitesvara (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Quán Âm—One of the titles of Kuan-Yin.
a lợi ni
Alni or Arni (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Arni là một phần của vương quốc cổ Tukhara, tọa lạc nơi nguồn của dòng Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Arni was a kingdom which formed part of ancient Tukhara, situated near to the source of the Oxus.
a lợi sa
Arca (skt)—Có liên hệ đến Tiên nhân hay Thánh nhân; đặc biệt chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên được ghi lại bằng kệ—Connected with the rsi, or holy men; especially their religious utterences in verse.
a lợi sa kệ
1) Chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên Thánh hiền: The utterances of the rsi or holy ment written in verse. 2) Danh hiệu của Đức Phật: A title of a Buddha.
a lợi sa trụ xứ
Trụ xứ hay thành tựu cao nhất—Perfection or the highest position of achievement.
a lỵ la bạt đề
Xem Ê lan nhã.
a ma
Amba (skt)—Mẹ, một danh hiệu tôn kính—Mother, a title of respect.
; (阿摩) Phạm:Ambà.Pāli: Ammà.Dịch ý là mẹ, người con gái lành. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2 (Đại 54, 1082 trung): A ma, Hán dịch là nữ mẫu. Lại cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 6 chép, thì a ma ý là mẹ. Ở Nhật bản thì do từ A ma được chuyển dụng mà gọi Tỉ khưu ni là A ma ni. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2; Chính tượng mạt hòa tán].
a ma la
Xem Vô cấu.
; Amala (S). Vô cấu, without stain or fault.
; Amala (skt). 1) Vô cấu: Unstained—Spotless. 2) Thanh Tịnh: Pure. 3) Thường Hằng: Không thay đổi—Permanent and unchanging.
a ma la bà đề
(阿摩羅婆提) Phạm:Amaràvatì. Còn gọi là A mã lạp ngõa. Đô thành của nước Đà na yết trách ca (Phạm:Dhànyakaỉaka) cổ xưa ở Ấn Độ. Nằm ở miền hạ du sôngKistna (tên xưa là Kfwịa) phía nam Ấn độ. Từ triều đại Huân ca vương đến nay, Am ma la bà đề là trung tâm văn hóa và mĩ thuật của Phật giáo. Tại đây, năm 1797, Chuẩn tướng Mackenjie đã phát hiện một ngôi tháp lớn. Cứ theo truyền thuyết thì ngôi tháp được dựng vào khoảng thế kỉ thứ II, hoặc cho là được xây cất từ thời đại vua A dục (khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch). Là một trong ba ngôi tháp Phật cỡ lớn tại Ấn độ cổ đại. Hình tháp là hình bát úp, nhưng phần nhiều đã hư nát, nay chỉ còn nền tháp và lan can bằng đá bao chung quanh. Lan can có hai lớp trong và ngoài, làm bằng những tảng đá nhẵn, cao độ bốn mét, hai mặt trong ngoài đều có chạm trổ, các hình được chạm trổ là tiền thân của đức Phật (Bản sinh đàm), rồng rắn cây cối, xem thế đủ biết đương thời, sự sùng bái rồng rắn cây cối cũng thịnh hành. Cũng có thuyết cho rằng ngôi tháp này tức là dấu vết nền cũ còn sót lại của ngôi chùa A phạt la thế la được ghi chép trong Đại đường tây vực kí quyển 10. Ngoài ra, theo mĩ thuật chạm trổ hình tượng nổi của đức Phật được phát hiện, người ta có thể biết, suốt một giải từ Kiền đà la ở phía tây bắc Ấn độ, đến Ma thâu la ở trung Ấn độ, đều đã chịu ảnh hưởng của mĩ thuật Hi lạp. Những tượng Phật và chùa tháp được tìm thấy ở thành này, về cách tạo hình, cũng tương tự như tượng Phật và chùa tháp được phát hiện tại Tích lan, Thái lan và Nam dương. Giới học thuật gọi các loại hình này là hình A ma la bà đề. Lại ngoài tượng Phật và chùa tháp ra, người ta còn đào thấy rất nhiều kinh Phật. [X. Giải thuyết tây vực kí; Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử].
a ma la phổ la phái
(阿摩羅普羅派) Pāli:Amarapura nikàya. Là một trong ba phái lớn của Phật giáo Tích lan hiện nay, thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ. Phái này được sáng lập tại thành A ma la phổ la thuộc Miến điện từ khoảng năm 1799 đến năm 1818, chỉ cho phép những người trong ba chủng tính: Ca la bà (dân chài), Đỗ la bà (những người đi lấy quế) và Tát la già ma (người nấu rượu), thuộc tộc Tăng già la, được thụ giới. Phái này lại chia thành các hệ phái như: phái Châu la càn đinh (Pāli: Cullaganthi nikàya), phái Mục la vượng tát (Pāli: Mùlavaôsa nikàya), phái Tát đạt ma vượng tát (Pāli: Saddhammavaôsa nikàya) v.v... Lãnh tụ của các phái được gọi là Đại đạo sư, Phó đạo sư. Các tỉ khưu thông thường xuất gia trọn đời, chùa chiền tập trung ở vùng đồng bằng phía tây và phía nam Tích lan; chùa có nhiều ruộng và kinh doanh thương nghiệp.
a ma la quốc
Xem La Ma quốc.
a ma la thức
Amala-vijnàna (S). Vô cấu thức, Purity of Consciouness.
; Tiếng Hán dịch là Vô cấu, tức là cái thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
; (阿摩羅識) Phạm:Amala-vijĩàna. Tức là thức thứ chín. Còn gọi là A mạt la thức, Am ma la thức, Án ma la thức. Dịch ý là Vô cấu thức (thức không cáu bẩn), Thanh tịnh thức, Như lai thức. Thức này do tông Nhiếp luận thuộc hệ Chân đế lập ra. Tâm người ta xưa nay vốn tự thanh tịnh, xa lìa mọi mê hoặc, vì thế, tông Nhiếp luận cho giai vị chuyển thức A lại da mê hoặc trở về sự giác ngộ thanh tịnh, tức là A ma la thức.Cứ theo luận Tam vô tính quyển thượng chép, thì duy chỉ có thức A ma la là không điên đảo, không biến dị, cho nên gọi là Như như. Luận chuyển thức thì bảo thực tính tức là thức A ma la. Lại cứ theo luận Thập bát không chép, thì thức A ma la chính là tâm tự tính thanh tịnh, chỉ vì khách trần làm bẩn mà nói là bất tịnh. Cứ theo kinh Kim cương tam muội chép thì hết thảy tình thức của chúng sinh đều chuyển vào Am ma la. Còn về thể tính của thức A ma la, thì Giải thâm mật kinh sớ quyển 3 của ngài Viên trắc và Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 3 phần đầu, nói là ngài Chân đế lấy chân như và chân như trí làm thể tính của thức A ma la. Nhưng, trong Nhiếp luận chương (trích dẫn Hoa nghiêm khổng mục chương phát ngộ kí quyển 15), ngài Đạo cơ ở chùa Phúc thành đời Đường, đã bác chủ trương của ngài Chân đế, và bảo thức A ma la chỉ lấy lí pháp như như làm thể tính. Trong Duy thức học, ngoài sáu thức ra, còn có thức Mạt na và thức A lại da, gọi chung là tám thức. Tông Nhiếp luận, ngoài tám thức còn lập riêng thức thứ chín là thức A ma la. Tông Địa luận, tông Thiên thai cũng có người thu dụng thuyết này. Còn hệ thống Huyền trang thì cho thức thứ tám đã bao hàm phương diện thanh tịnh rồi, cho nên không cần lập riêng thức thứ chín nữa. Lại kinh Lăng già quyển 1, bản dịch đời Tống, bảo chân thức tức là thức thứ chín. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.4; kinh Nhập lăng già Q.2; Đại thừa huyền luận Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.trung, bản dịch đời Lương; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới]. (xt. Cửu Thức Nghĩa).
a ma la từ điển
(阿摩羅辭典) Phạm: Amara-koza. Nguyên ý là kho chữ A ma la, tên gọi chung của bộ từ điển tiếng Phạm:Nàmaligànuzàsana (nghiên cứu về danh và tính), do Amara-siôha (ở khoảng từ 550 đến 750), người Ấn độ, soạn. Còn gọi là Đức lê khảm để (Phạm: Trikàịđi). Tất cả do ba bộ cấu thành, nội dung như sau: Bộ thứ nhất thu tập các ngữ vựng liên quan đến sự phân loại về thần, cõi trời, sao, thời gian, tư duy, cảm tình, âm nhạc, ngôn ngữ, vũ điệu, cõi đất, địa ngục v.v... Bộ thứ hai thu tập các ngữ vựng về nước, bể, cá, thực vật, đo lường, đường sá, đô thị, núi, rau cỏ, trai gái, trang sức phẩm, bốn họ, bệnh tật, tôn giáo, chiến tranh, nông nghiệp, thương nghiệp v.v... Bộ thứ ba thu tập các tiếng về tên người, tên vật, tiếng đồng nghĩa, tiếng đồng âm khác nghĩa và pháp tắc có liên quan đến tính chất của ngôn ngữ. Toàn thiên dùng vận văn điệu Anuwỉubh, tất cả có một vạn ba nghìn lời. Các loại tự và các chữ đồng âm khác nghĩa trong tiếng Phạm hiện còn, khiến cho bộ từ điển, không những là xưa nhất, hoàn bị nhất, mà cũng còn là kiệt tác trong loại sách này, đến nay vẫn được coi là bộ từ điển có uy tín về văn pháp tiếng Phạm. Về các chú thích của sách này, cứ theo truyền thuyết, có năm mươi bộ, trong đó, trọng yếu hơn cả thì có:Kwirasvàmin, thế kỉ XI, Mahezvara và Subhùti (-candra), Sarvànanda, thế kỉ XII, Ràyamukuỉa, thế kỉ XV. Lại trong Đại tạng kinh Đan châu nhĩ của Tây tạng, cũng có bộ từ điển này và có bản dịch tiếng Tây tạng của các sách chú thích. [X. A. A. Macdonell: History of Sancrit Literature –India's past - A survey of her Literature, Religions, Languages and Antiquities; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd.III ].
a ma lai quán tự tại bồ tát
Xem A ma đề Bồ tát.
a ma lặc
Amalaka (S) Phyllanthus emblica, whose nuts are valued medicinally.
a ma lặc thụ
(阿摩勒樹) A ma lặc, Phạm: Àmala, àmlikà, àmlìkà, amlaphala,Pāli:àmalaka. Còn gọi là A mạt la, A ma la, Am ma la, Am ma lạc ca. Thông thường dịch là Dư cam tử. Tên khoa học: Tamarindus indica, cây quả thuộc loại đậu, cành lá giống cây hợp hoan, là thực vật nhiệt đới, sinh sản ở Ấn độ, Mã lai và Phi châu. Quả giống quả đậu, dài độ hơn mười phân tây, có vị chua, gọi là quả a ma lặc, có thể dùng làm thức ăn, cũng có thể dùng làm thuốc. Thông thường người ta dễ lầm lẫn cây Am malặc với cây Am một la (Phạm:Àmra).[X. kinh Đại lâu thán Q.1 phẩm Diêm phù lợi; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.8].
a ma yết đà
Xem Vô hại độc.
a ma đa đa
Mẹ cha—Mother and father.
a ma đề bồ tát
Abhetti (S), Abhetri A ma lai Quán tự tại Bồ tát, Khoan Quảng Bồ tát, Vô Uý Bồ tátTên gọi khác của Bồ tát Quán Âm.
a ma đề quan âm
(阿摩提觀音) Là một trong ba mươi ba hóa thân Quan âm. Còn gọi là A mạ đề Quan âm, A ma đài Quan âm, Am ma đài Quan âm. Dịch ý là Vô úy quan âm, Khoan quảng quan âm. Tức Vô úy quán tự tại Bồ tát. Hình tượng là ba đầu, bốn cánh tay, cỡi sư tử trắng quay mặt về phía trái, đầu đội mũ báu, trang điểm bằng hoa sen trắng, hai tay trước cầm nhạc cụ đầu con phượng, trong bàn tay trái trên đặt con cá ma kiệt, tay phải trên cầm con chim cát tường màu trắng, chân trái co lại gác lên đầu sư tử, chân phải thõng xuống, khắp mình phát ra ánh sáng, mà dáng mạo thì hiền lành. Chủng tử là (a) hoặc (sa). [X. Quán tự tại bồ tát a mạ đài pháp; A ma đề quan âm nghi quĩ; Đồ tượng sao Q.7]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).
a mạt la
Amala (skt)—See Am Ma La.
a mạt la thức
Xem Vô cấu thức.
a mật lý đa
Amrta (skt)—Mật Hoa—Nectar—Ambrosia.
a mật lý đa quân trà lợi
Một trong ngũ Minh Vương—One of the five rajas.
a mật lật đa
(阿蜜栗多) Phạm: Amfta, Pāli:Amata. Còn gọi A nhĩ lí đa, Á mật lí đạt, A một lật đổ. Dịch ý là rượu thần. Từ này thường thấy trong Lê câu phệ đà, nguyên ý là chỉ sự đạt đến địa vị bất tử, bất diệt, thông thường đều dịch là bất tử hoặc cam lộ. Trong kinh Phật,từ này được dùng để thí dụ loại thuốc màu nhiệm bất tử do chư thiên dùng, hoặc biểu thị diệu vị và diệu pháp của Phật pháp. [X. Chú duy ma cật kinh Q.7] (xt. Cam Lộ).
a mật rí đa
Amrta (S) Ambrosy
a mật rị đa
Xem Cam lộ.
a một la lâm
Xem Am một la.
a mục khư
Amogha (skt)—See A Mục Khư Bạt Chiết La.
a mục khư bạt chiết la
Amogha or Amoghavajra (skt)—Vị Tăng tên Bất Không Kim Cang (Amoghavajra), người Bắc Ấn, đệ tử của trường phái Mật Giáo Phổ Hiền. Ngài Kim Cang Trí rất nổi tiếng và đã sáng lập ra trường phái Mật Giáo Du Già ở Trung Quốc vào khoảng những năm 719-720 sau Tây Lịch. Bất Không kế thừa lãnh đạo trường phái nầy vào năm 732. Trong cuộc hành hương xuyên Ấn và Tích Lan từ năm 741 đến 746, ông đã mang về Trung Quốc 500 quyển kinh luận; giới thiệu phương pháp chuyển ngữ mới từ Phạn sang Hoa ngữ, ông đã xuất bản 108 tác phẩm. Ông là người có công trạng giới thiệu ngày lễ Vu Lan Bồn, ngày rằm tháng bảy vào truyền thống Trung Quốc. Ông là người đại diện chính của Phật giáo Mật Tông ở Trung Hoa, hoằng hóa rộng rãi qua ba triều vua nhà Đường, được phong danh hiệu Quốc Sư. Ông thị tịch vào năm 774—Amoghavajra, a monk from northern India, a follower of the mystic teachings of Samantabhadra. Vajramati is reputed to have founded the Yogacarya or Tantric school in China about 719-720 A.D. Amogha succeeded him in its leadership in 732. From a journey through India and Ceylon from 741 to 746, he brought back to China more than 500 sutras and sastras; introduced a new form for transliterating Sanskrit and published 108 works. He is credited with the introduction of the Ullambana festival of All Souls, 15th of 7th moon. He is the chief representative of Buddhist mysticism in China, spreading it widely through the patronage of three successive emperors during the T'ang dynasty. He died in 774 and was given a title of a Minister of State.
a na
Ana (skt)—Hít vào (thở vào)—Inhalation.
a na ba na
Anapana (skt)—Sổ tức quán—Breathing meditation (exhalation and inhalation)—See Quán Sổ Tức.
; (阿那波那) Phạm:Ànàpàna. Có nghĩa hơi thở ra thở vào. Còn gọi An na ban na, A na a ba na, gọi tắt làAn ban.Àna, nguyên ý là lùa đến, được chuyển dụng để chỉ hơi thở vào,apàna, nguyên ý là lùa đi, được chuyển dụng để chỉ hơi thở ra.A na ba na, tức là sổ tức quán, phép quán đếm hơi thở vào, hơi thở ra để định tâm. Câu Xá quyển 22 (Đại 29, 118 thượng): A na nghĩa là hơi thở vào, có nghĩa đưa gió ở bên ngoài vào mình; a ba na nghĩa là giữ hơi thở ra, là nghĩa đưa gió ở bên trong ra khỏi mình. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh Đại an ban thủ ý Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.12; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Sổ Tức Quán).
a na ba na, an ban
Ana (S) Inhalation. Anàpanà (S).Breathing, especially controlled breathing.
a na bà lâu cát để du
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
a na bà đạt da long vương
Anavatàpta-nàga-ràja (S). A dragon-king.
a na bà đạt đa
Xem A na bà đạt đa Long vương.
a na bà đạt đa long vương
Anavadatta (S). Xem A nâu đạt.
a na bàn đi tinh xá, kì thọ cấp cô độc viên
Anàthapindika-Vihàra.
a na bàn đàn, cấp cô độc
Anathapindika (S).
a na già mê
Anagamin (skt)—Bất Lai—Non-coming—Bất Hoàn—Non-returning—See Anagamin in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and A Na Hàm in Vietnamese-English Section.
a na hàm
Anāgāmi (S), Non-returner (S, P)Bất lai quả, Bất hoàn quả, A na hàm quả vịTrong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán Quả chứng đắc thứ ba. Quả thứ tư là quả A la hán, mục tiêu tối thượng của Phật giáo nguyên thuỷ. Người đạt quả vị này sẽ không còn sanh vào cõi vật chất hay phi vật chất và không còn trở lại cõi người, sẽ được sanh lên cõi trời Ngũ bất hoàn, tu cho đến khi chứng quả A la hán.
; Bất Lai, người không còn trở lại, người đã được miễn trừ khỏi dòng sanh tử. Bất lai là quả vị thứ ba trong bốn Thánh quả vị của trường phái Tiểu thừa, người không còn tái sanh trong thế giới nầy nữa. Sau khi lâm chung thì người ấy sẽ vãng sanh Tịnh Độ hay vào cõi trời sắc giới và vô sắc giới cho đến khi đạt được quả vị A La Hán hay niết bàn—Anagamin—One who does not return—One exempt from transmigration—Never-Returner—Who attains the third stage of Sainthood in Hinayana schools, who is no more reborn in this world. After death he is born in the Pure Lands (Abodes) or in the rupa or arupa heavens until he attains Arhatship or nirvana—See Tứ Thánh Quả (B) (3) in Vietnamese-English Section.
; (阿那含) Phạm: Anàgàmin. Các nhà dịch cũ phiên là A na già di, A na già mê. Gọi tắt là Na hàm. Dịch ý là Bất hoàn, Bất lai, Bất lai tướng. Là bậc Thánh quả thứ ba trong bốn quả Thanh văn. Bậc này đã dứt hết chín phẩm hoặc ở Dục giới, không còn trở lại thụ sinh ở Dục giới nữa. Các bậc Thánh trong giai vị này, nếu đã dứt hết toàn bộ chín phẩm hoặc, thì gọi là A na hàm quả, nếu mới đoạn trừ được bảy phẩm hay tám phẩm, thì gọi là A na hàm hướng; nếu đoạn trừ được bảy, tám phẩm, còn một, hai phẩm nữa, thì cần phải đối trị để trở thành căn vô lậu, lại phải một lần nữa thụ sinh ở Dục giới, gọi là Nhất gián (Phạm:Ekavìcika). Lại quả A na hàm còn có năm loại Bất hoàn, bảy loại Bất hoàn và chín loại Bất hoàn khác nhau. [X. Trung a hàm Q.3 kinh Già lam; luận Đại trí độ Q.32; Đại thừa nghĩa chương Q.11; Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Bất Hoàn).
a na hàm hướng
Nguời tu hành hướng về quả vị A Na Hàm (hướng vào quả bất lai mà tu hành là hướng thứ ba trong bốn hướng)—One who is aiming at the Anagamin or the fruit of non-returning. ** For more information, please see Tứ Hướng (3) and Tứ Thánh Quả (3).
a na hàm quả
Quả vị thứ ba trong bốn quả vị Thánh (Tiểu Thừa)—The third of the four fruits (Hinayana)—See Tứ Thánh Quả (3).
a na hàm đạo
Anagami magga (P), Path of non-returner.
a na hàm, bất lai
Anàgàmin (S) Non coming. One who has attaained the 3rd stage of the Path.
A Na Luật
(阿那律): xem A Nậu Lâu Đà (s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱) bên dưới.
a na luật
Xem A nậu lâu đà.
; Anurudha (S). One of the ten great disciples of the Buddha.
; Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu Đà.
; (阿那律) Phạm: Aniruddha, Pāli: Anuruddha. Còn gọi là A ni lư đà, A nâu lâu đà, A nan luật, A lâu đà. Dịch ý là vô diệt, như ý, vô chướng, vô tham, người theo nghĩa thuận, không tranh có không. Một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Là em họ của Phật, giòng họ Thích, người thành Ca tì la vệ thuộc Ấn độ cổ đại. Về thân thế của ngài, kinh Khởi thế quyển 10, luật Ngũ phần quyển 15, kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2, bảo ngài là con vua Hộc phạn, còn kinh Phật bản hạnh tập quyển 11, luận Đại trí độ quyển 3, thì nói ngài là con vua Cam lộ phạn. Sau khi thành đạo, đức Phật về cố hương, và chính vào thời kì ấy, các ngài A na luật, A nan, Nan đà và Ưu ba li đã xuất gia làm đệ tử Phật. Sau khi xuất gia, A na luật hăng hái tu đạo, có thể gọi là bậc mô phạm. Trong khi nghe đức Phật nói pháp, A na luật thường hay ngủ gật, bị Phật quở trách, bèn thề không ngủ, đến nỗi đau mắt rồi mất ánh sáng. Nhưng nhờ sự tu hành càng ngày càng tiến, con mắt tâm dần dần khơi mở, và cuối cùng, ngài đã trở thành thiên nhãn đệ nhất trong hàng ngũ đệ tử Phật, có khả năng thấy suốt trên trời, dưới đất và chúng sinh trong sáu đường. [X. Trung a hàm Q.18 kinh Bát niệm; Trường a hàm Q.4 kinh Du hành; kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi phẩm A na luật, luận Đại trí độ Q.11].
a na luật tôn giả
Xem A Nậu Lâu Đà.
a na luật độ
Xem A nậu lâu đà.
a na sa đạt đa long vương
Xem Vô nhiệt não Long vương. Xem A nâu đạt.
a na tha tân đồ đà
Anathapindada (skt)—A Na Đà Tân Đồ Đà—Một trưởng giả giàu có trong thành Sravasti, nổi tiếng về tánh tình hào phóng hay giúp đở người nghèo, và sự cúng dường Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên cho Đức Phật. Tên của ông là Tu Đạt Đa và vợ là Tỳ Xá Khư—A wealthy elder of Sravasti, famous for liberality to the needy, and his gift of the Jetavana with its gardens and buildings to the Buddha. His original name was Sudatta and his wife Visakha. ** For more information, please see Cấp Cô Độc in Vietnamese-English Section and Anathapindada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a na đà bạt đa
Xem A na bà đạt đa Long vương.
A Nan
(s, p: Ānanda, 阿難): từ gọi tắt của âm dịch A Nan Đà (阿難陀), ý dịch là Khánh Hỷ (慶喜), Vô Nhiễm (無染), con trai của vương tộc Sĩ Cam Lộ Phạn (s: Amṛtodana, 士甘露飯, còn gọi là Bạch Phạn Vương [白飯王]) thuộc dòng họ Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), anh em với Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), anh em chú bác với đức Phật, là thị giả hầu cận Ngài trong một thời gian lâu dài. Ngày đức Thế Tôn thành đạo là ngày A Nan ra đời; Ngài giảng kinh xong 20 năm thì khi ấy A Nan mới xuất gia. Sau khi thành đạo, lần đầu tiên đức Thế Tôn trở về thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), khi Ngài trú tại Vườn Xoài (s: Āmrapāli-vana, p: Ambapāli-vana, 菴婆波梨園, tức Am Bà Ba Lợi Viên), Tôn giả A Nan đã cùng với các vương tử thuộc dòng họ Thích Ca và người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離) xin xuất gia theo Phật. Từ đó trở đi, Tôn giả thường hầu hạ bên đức Thích Tôn, phần nhiều nghe được những lời dạy của Ngài, nên được xưng tụng là Đa Văn Đệ Nhất (多聞第一, nghe nhiều số một). Có thuyết cho rằng Tôn giả đã tu đắc pháp gọi là Tánh Giác Tự Tại Tam Muội (性覺自在三昧), có thể ở trong định thấu hiểu các pháp; cho nên khi kết tập Pháp Tạng thì A Nan được suy cử. Khi dưỡng mẫu của Phật là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī Gautamī, s: Mahāpajāpatī Gotamī, 摩訶波闍波提) cầu xin xuất gia nhưng không được phép, chính Tôn giả đã đích thân xin Phật và sau khi được phép thì Tôn giả là người đã tận lực sáng lập giáo đoàn Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Vào tháng thứ 2 sau khi Phật diệt độ, khi cuộc kết tập lần đầu tiên được tiến hành tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) ngoài Thành Vương Xá (s: Rājagṛha, p: Rājagaha, 王舍城), Tôn giả đã cùng tham dự với 499 vị đệ tử của đức Phật chứng quả A La Hán. Khi đức Phật diệt độ, tương lai của giáo đoàn được phó thác lại cho Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉), cho nên A Nan được Ca Diếp truyền trao giáo pháp cho và trở thành vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Tây Thiên. Theo các tài liệu như Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō 1313), Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh (救面燃餓鬼陀羅尼神呪經, Taishō 1314), Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Nghi Quỹ Kinh (瑜伽集要救阿難陀羅尼焰口儀軌經, Taishō 1318), Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do (瑜伽集要焰口施食起敎阿難陀緣由, Taishō 1319), có dẫn về nguồn gốc cúng thí thực Ngạ Quỷ, âm linh cô hồn. Câu chuyện kể rằng có một đêm nọ trong khi đang hành Thiền định quán chiếu những lời dạy của Đức Phật, vào canh ba tôn giả A Nan chợt nhìn thấy một con quỷ đói thật hung tợn tên là Diệm Khẩu (s: Ulkā-mukha, 焰口) có thân hình gầy ốm, miệng rực cháy lửa và cổ họng của nó nhỏ như cây kim. Con quỷ ấy đến trước mặt tôn giả thưa rằng ba ngày sau mạng của tôn giả sẽ hết và sanh vào thế giới ngạ quỷ (ma đói). Nghe vậy, tôn giả A Nan vô cùng ngạc nhiên và lấy làm sợ hãi, bèn hỏi con quỷ kia xem có cách nào thoát khỏi tai họa ấy không. Con quỷ trả lởi rằng: “Vào sáng ngày mai nếu tôn giả có thể cúng dường thức ăn và nước uống cho trăm ngàn ức chúng ngạ quỷ nhiều như cát sông Hằng, cho vô số đạo sĩ Bà La Môn, cho chư thiên và các vị thần cai quản việc làm của con người, cho quá cố các vong linh, dùng cái hộc của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) để cúng dường cho họ 49 hộc thức ăn và nước uống, và vì họ mà cúng dường cho Tam Bảo, như vậy tôn giả sẽ được tăng thêm tuổi thọ, cùng lúc đó sẽ làm cho chúng tôi thoát khỏi cảnh khổ đau của Ngạ Quỷ và sanh lên cõi trời.” Trên cơ sở của nguồn gốc này, nghi lễ Cúng Thí Thực cho âm linh cô hồn Ngạ Quỷ ra đời cho đến ngày nay.
a nan
(阿難) Pāli, Phạm: Ànanda. Là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Nói đủ là A nan đà. Dịch ý là hoan hỉ, khánh hỉ, vô nhiễm. Em họ của Phật, sau khi xuất gia, thường ở bên cạnh Phật hơn hai mươi năm, kí ức rất tốt, đối với lời Phật nói pháp, có thể ghi nhớ rõ ràng, cho nên được gọi à Đa văn đệ nhất. Ngài A nan dung mạo đẹp đẽ, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, thân hình sáng rỡ như gương, vì thế, tuy đã xuất gia, nhưng thường bị phụ nữ cám dỗ, tuy nhiên, nhờ chí khí kiên cố, cuối cùng, A nan đã bảo toàn được Phạm hạnh. Khi đức Phật còn sinh tiền, ngài A nan vẫn chưa khai ngộ, khi Phật nhập diệt, buồn rầu mà khóc; sau nhờ tôn giả Ma ha ca diếp dạy bảo, cố sức dụng công mới khai ngộ. Trong đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên, ngài A nan được chọn là người thuật lại kinh, đối với sự nghiệp truyền trì kinh pháp, tôn giả A nan đã có công lao rất lớn. Lúc đầu, di mẫu của Phật là bà Ma ha ba xà ba đề muốn xuất gia, A nan liền sắp đặt lo liệu, cuối cùng được đức Phật cho phép, đối với sự thành lập giáo đoàn tỉ khưu ni, ngài A nan cũng có công tích rất lớn. Lại cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2 chép, thì đức Phật truyền pháp cho tôn giả Ma ha ca diếp, Ma ha ca diếp truyền pháp cho ngài A nan, như vậy, A nan là tổ thứ hai trong Phó pháp tạng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm năm, ngài A nan thị tịch tại miền trung du sông Hằng, trước khi nhập tịch, ngài đem pháp phó chúc cho ngài Thương na hòa tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Trung a hàm Q.33 kinh Thị giả; kinh Tăng nhất a hàm Q.4 phẩm Đệ tử; kinh A nan đồng học; kinh Phật bản hạnh tập Q.11; luật Ngũ phần Q.3, Q.29; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.6, Q.7].
a nan bạt đà
Ānandabhadrā (S).
a nan bồ đề thụ
Còn gọi là cây Bồ Đề A Nan, vì chính ngài A Nan đã trồng nó. Trong thời Đức Phật còn tại thế, thiện tín đến thăm viếng Phật đều mang theo bông hay những tràng hoa để cúng dường. Trong những lúc Đức Phật đi vắng thì thiện tín đặt những thứ hoa ấy trước cửa tịnh thất của Phật rồi ra về. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy vậy thỉnh cầu Đại Đức A Nan bạch với Phật tìm một nơi nào khác để thiện tín có thể đến lễ bái cúng dường trong lúc Đức Phật đi chu du hoằng pháp. A Nan bèn bạch với Đức Phật cho phép ông lấy một hạt Bồ Đề gieo thành cây ngay trước cổng tịnh xá làm biểu tượng của Phật cho thiện tín đến lễ bái cúng dường khi Phật bận đi hoằng hóa phương xa. Cây Bồ Đề ấy đến nay vẫn còn và được gọi là “cây Bồ Đề A Nan”—Ananda Bodhi Tree, so called because it was Venerable Ananda who was responsible for the planting of the tree. In the absence of the Buddha, devout followers, who used to bring flowers and garlands, laid them at the entrance to the fragrant chamber and departed with much rejoicing. Anathapindika heard of it and requested Venerable Ananda to inquire from the Buddha whether there was a possibility of finding a place where his devotees might pay obeisance to the Buddha when he is away on his preaching tours. Venerable Ananda mentioned this matter to the Buddha and asked if he might bring a seed from the great Bodhi Tree and plant at the entrance to Jetavana, as a symbol of the Buddha for people to pay homage when the Buddha was on his preaching tours. The Buddha agreed. The tree that sprang up in that place was known as the Ananda-Bodhi.
a nan cụ bát pháp
(阿難具八法) Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 40 chép, thì đức Phật nói với bồ tát Văn thù sư lợi là ngài A nan có đủ tám pháp, có thể giữ mười hai bộ kinh (mười hai phần giáo), cho nên gọi A nan là Đa văn tạng. Tám pháp ấy là: 1.Tín căn kiên cố, tín tức là tín thuận, căn tức là năng sinh. Nghĩa là, A nan nghe Như lai nói mười hai bộ kinh, tin chịu vững chắc, do lòng tin ấy mà hết thảy công đức thiện pháp có thể sinh trưởng. 2.Kì tâm chất trực, chất, là nghĩa chất phác. Tức là, A nan sau khi nghe mười hai bộ kinh, thì tâm ngay thẳng thường nương nơi chính pháp, mãi mãi xa lìa mọi kiến giải hư dối quanh co. 3.Thân vô bệnh khổ, nghĩa là A nan đã nhiều kiếp tu hành, những việc thiện làm lợi cho người không thể tính được, vì thế thân không có bệnh khổ. 4.Thường cần tinh tiến, không lẫn lộn là tinh, không xen hở là tiến. Nghĩa là A nan sau khi nghe mười hai bộ kinh, một lòng thụ trì, tu tập đúng như pháp mà không biếng nhác. 5.Cụ túc niệm tâm, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan thường tâm niệm tư duy, ghi nhớ không để quên mất.6.Tâm vô kiêu mạn, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan đều có thể ghi nhớ mà lòng không buông thả, cũng không kiêu căng đối với đại chúng. 7.Thành tựu định ý, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan có thể dựa vào pháp ấy mà tu nhiếp tâm mình để thành tựu Thiền định. 8.Tòng văn sinh trí, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan hiểu vô lượng nghĩa khiến trí tuệ càng thêm sáng và không một điều gì mà không thấu suốt. Ngoài ra, vì ngài A nan là vị đệ tử thường theo hầu bên cạnh đức Phật, lại có đầy đủ tám pháp, cho nên đời sau, trong các Tùng lâm, những người đảm nhiệm chức vụ thị giả, tất phải đầy đủ đức hạnh.
a nan hữu tam nhân
(阿難有三人) Còn gọi là A nan tam danh. Nghĩa là, ngài A nan là một trong mười đệ tử lớn của đức Phật, về danh xưng, trong các kinh điển, có ba loại. 1. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1 phần trên chép: a. A nan đà (Phạm:Ànanda), dịch là Hoan hỉ, thụ trì tạng Tiểu thừa. b. A nan bạt đà (Phạm:Ànandabhadra), còn gọi là A nan đà bạt đà la, dịch là Hoan hỉ hiền, thụ trì Tạp tạng. c. A nan sa già (Phạm:Ànandasàgara), dịch là Hoan hỉ hải, thụ trì Phật tạng. Pháp hoa văn cú còn dẫn kinh A hàm, nêu thêm danh xưng Điển tạng A nan mà nói là có bốn loại A nan. 2. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 8, dẫn kinh Tập pháp, nêu ra ba loại: A nan, A nan bạt đà và A nan ca la. 3. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 2 thì dẫn kinh A xà thế vương sám hối, cũng nêu ba loại: A Nan Đà, A Nan bạt đà và A nan sa già, lần lượt thụ trì ba thừa Hạ, Trung, Thượng. Ngoài ra, cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 thiên Thập đại đệ tử chép, thì A nan có khả năng thụ trì ba loại pháp tạng khác nhau, tùy theo công đức mà được xưng hô, cho nên mới có ba tên. Tức là: 1. A nan, dịch là Khánh hỉ, vì có thể truyền trì tạng Thanh văn mà có tên này. 2. A nan bạt đà, dịch là Hỉ hiền, vì có thể truyền trì tạng Duyên giác mà được tên này.3. A nan ca la, dịch là Hỉ hải, vì có thể truyền trì tạng Bồ tát mà được tên này. Lại cứ theo sự giải thích trong kinh Viên giác lược sớ, thì A nan có khả năng thụ trì, truyền bá pháp tạng lớn, nhỏ của một đời đức Phật, người đời theo pháp được truyền mà tán thán cái đức của ngài, nên có thuyết A nan tam danh (A nan có ba tên), chứ không phải A nan có ba người, bốn người khác nhau.
a nan ta già
Ānandaśāgāra (S)Tên một vị sư.
a nan vấn sự phật cát hung kinh
(阿難問事佛吉凶經) Kinh 1 quyển. Gọi tắt là A nan vấn sự Phật kinh, A nan vấn sự kinh. Ngài An thế cao đời Hậu Hán dịch, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung trình bày những người tin Phật, nếu có thể y theo lời dạy của minh sư, tinh tiến giữ giới, sớm hôm cung kính, thì mọi việc được hòa hài, gọi là cát (lành); trái lại thì mọi việc không hòa hài, gọi là hung (dữ). Nội dung kinh này trong bản Cao li và ba bản Tống, Nguyên, Minh đều nhất trí, duy câu văn thì có khác. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1].
a nan đa
nanda (S). Khánh hỉ, Joy. Younger brother of Devadatta; he was noted as the most learned disciple of Buddha.
a nan đà
Ānanda (S), Joy (S, P), Prīti (S)Khánh Hỷ Tôn Giả, Phúc lạc1- Một trong thập đại đại đệ tử. Là anh em họ đức Phật, anh em ruột với Devadatta (Đề bà đạt ta), làm thị giả Phật hơn 20 năm, đắc quả A la hán sau khi Phật nhập diệt. Ông nổi tiếng nhờ tài nhớ giỏi và đã thuyết lại kinh Phật trong thời kỳ kết tập thứ nhất, ông cũng là Tổ đời thứ nhì Phật giáo tại Ấn độ. 2-Phúc lạc.
; Ananda (skt & p)—Hoan Hỷ. (I) A Nan là con vua Hộc Phạn (em trai của vua Tịnh Phạn). A Nan là em ruột của Đề Bà Đạt Đa. Ông được biết đến như là Thiện Hoan Hỷ vì khi ông sanh ra mang lại hoan hỷ cho mọi người nên mới được đặt tên là A Nan. Ngài là em họ của Phật Thích Ca và cũng là một trong thập đại đệ tử của Ngài. Hai năm sau ngày Phật thành đạo, A Nan đã cùng với năm vị hoàng thân khác của dòng Thích Ca (Anuruddha, Devadatta, Bhaddiya, Bhagu, và Kimbala) đã xin xuất gia với Đức Phật. Khi Đức Phật được 55 tuổi ông A Nan đã theo làm thị giả cho Ngài trên hai mươi năm. A Nan nổi tiếng nhờ trí nhớ xuất sắc, có khả năng nhớ từng chữ trong những thời thuyết giảng của Phật, rồi sau nầy được trùng tụng thành kinh điển. Ông được chọn trùng tụng về Kinh điển trong lần Đại hội kết tập kinh điển đầu tiên (4 tháng sau ngày Phật nhập diệt). Người ta nói chính ngài A Nan đã đọc thuộc lòng những bài thuyết pháp của Đức Phật mà về sau được ghi lại thành Kinh Tạng. Ngài là vị Tổ thứ hai sau Đại Ca Diếp. Nguời ta nói ngài A Nan chứng đạo sau khi Phật đã nhập diệt và ông sống đến 120 tuổi. Phật thọ ký cho ngài sau nầy thành Phật hiệu là Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Phật—Ananda was the son of Dronodana-raja (a younger brother of King Suddhodana). Ananda was a younger brother of Devadatta. He was known as Sundarananda or Beautiful Nanda, as he was born bringing happiness to all his kinsfolk, he was named Ananda. He was a cousin of Sakyamuni and one of the Buddha's ten great disciples. In the second year of the Buddha's ministry, Ananda entered the Sangha together with the other Sakya Nobles (Anuruddha, Devadatta, Bhaddiya, Bhagu, and Kimbala). When the Buddha was fifty-five years old, Venerable Ananda became his chief attendant (he was personal attendant to the Lord Buddha for more than twenty years). Ananda volunteered to become a personal attendant for Lord Buddha on condition the Buddha would grant the following eight things: 1) Đức Phật không ban cho ngài những bộ y mà thiện tín đã dâng cúng cho Phật: The Buddha should not give him robes which people offered to the Buddha. 2) Đức Phật không ban cho ngài vật thực mà thiện tín đã cúng dường cho Phật: The Buddha should not give him food which people offered to the Buddha. 3) Đức Phật không cho phép ngài cùng ở trong một tịnh thất với Phật: The Buddha should not allow him to dwell in the same fragrant chamber. 4) Đức Phật không cho phép ngài đi cùng với Đức Phật những nơi nào mà thí chủ thỉnh Đức Phật: The Buddha should not take him with him wherever the Buddha is invited. 5) Đức Phật sẽ hoan hỷ cùng ngài đi đến nơi nào mà thí chủ thỉnh ngài đến: The Buddha should kindly go with him wherever he is invited. 6) Đức Phật hoan hỷ cho phép ngài được tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến viếng Phật: The Buddha should give him permission to introduce visitors that come from afar to see the Buddha. 7) Đức Phật hoan hỷ cho phép ngài đến bạch Đức Phật mỗi khi có điều hoài nghi phát sanh: The Buddha should kindly grant him permission to approach him whenever any doubt should arise. 8) Đức Phật hoan hỷ lập lại bài pháp mà Đức Phật đã giảng lúc ngài vắng mặt: The Buddha should kindly repeat to him the discourses that were declared in his absence. He was famous (famed) for his extraordinary (excellent) memory, capable of remembering every word ever spoken by the Buddha in his sermons, which were later recorded as sutras. Who was chosen to recite the Dharma at the First Council (4 months after the cremation of Buddha sacred body). He is said to have recited all the Buddhas's sermons which were later recorded as “Basket of Buddhist Scriptures.” He was the second patriarch in India, after Mahakasyapa. Ananda is said to have attained enlightenment after the passing of the Buddha and to have lived to the age of 120. The Buddha predicted that Ananada will become a Buddha named Saga-ravara-dhara-buddhi-vikridi-tabhidjina. (II) Thời Đức Phật còn tại thế, lúc Thế Tôn thân hơi có bệnh phải dùng sữa bò, A Nan bèn cầm bát đến đứng trước cửa nhà người Đại Bà La Môn để xin sữa— At the time of the Buddha, once when the World Honoured One had a slight indisposition and needed some cow milk, Ananda took a bowl and went to a Brahmin family where he stood at the door. - Lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo A Nan: “Này A Nan! Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế?”—Vimalakirti came and asked Ananda: “Why are you out so early holding a bowl in your hand?” - A Nan đáp: “Cư sĩ, Thế Tôn thân hơi có bệnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa.”—Ananda replied: 'Venerable Upasaka, the World Honoured One is slightly indisposed and wants some cow milk; this is why I have come here.' - Ông Duy Ma Cật nói: “Thôi thôi! Ngài A Nan chớ nói lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang, các ác đã dứt, các lành khắp nhóm, còn có bệnh gì, còn có não gì? Im lặng bước đi, ngài A Nan! Chớ có phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy, chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh Độ phương khác đếnđây nghe được lời ấy! Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu còn không tật bệnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư? Hãy đi ngài A Nan! Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm chí nếu nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng 'Sao gọi là Thầy, bệnh của mình không cứu nổi mà cứu được bệnh người khác ư?' Nên lén đi mau, chớ để cho người nghe! Ngài A Nan! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp thân, không phải thân tư dục, Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật là vô lậu, các lậu đã hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bệnh gì?”—Vimalakirti said: 'Stop, Ananda, stop speaking these words. The Tathahata's body is as strong as a diamond for He has cut off all evils and has achieved all good. What kind of indisposition and trouble doe He still have? Ananda, do not slander the Tathagata and do not let other people hear such coarse language. Don not let the god (devas) as well as the Bodhisattvas of other pure lands hear about it. Ananda, world ruler (cakravarti) who has accumulated only a fe little merits is already free from all ailments; how much more so is the Tathagata who has earned countless merits and has achieved all moral excellences? Go away, Ananda, do not cover us all with shame. If the Brahmins heard you they would say: “How can this man be a saviour if he cannot cure his own illness; how can he pretend to heal the sick?” Get away unnoticed and quickly and do not let others hear what you have said. Ananda, you should know that the body of the Tathagata is the Dharmakaya and does not come from (the illusion of) thought and desire. The Buddha is the World Honoured One (Bhagavat); His body is above and beyond the three realms (of desire, form and beyond form) and is outside the stream of transmigratory suffering. The Buddha body is transcendental (we wei) and is beyond destiny. How then can such a body be ill?' - Lúc đó A Nan thật quá hổ thẹn tự nghĩ không lẽ ngài gần Phật bấy lâu nay mà nghe lầm ư? A Nan liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng: “A Nan! Đúng như lời cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật ứng ra đời ác đủ năm món trược nên hiện ra viêc ấy, để độ thoát chúng sanh thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ có thẹn.”—At that time, Vimalakirti's words covered him with shame and he asked himself if he had not wrongly understood the Buddha's order. Thereat, a voice was heard in the air above, saying: “Ananda, the upasaka is right, but since the Buddha appears in the five kasaya (or periods of turbidity on earth), He uses this (expedient) method (upaya) to liberate living beings. Ananda, go and beg for the cow milk without shame.” (III) Trong Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất—In the First Council: Ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật nói. Tuy nhiên, tại Hội Nghị nầy, A Nan đã bị các Tỳ Kheo trách cứ nhiều tội mà ông đã giải thích như sau —Venerable Ananda, the closest disciple and the attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with a remarkable memory. First Ananda was not admitted to the First Council. According to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision. They strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood, because of the high moral standard he had reached and also because he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines). However, Ananda was charged by other Bhikshus several charges which he explained as follows: 1) Ông không thể kể lại được hết các giới luật nhỏ nhặt mà Đức Phật nói là có thể bỏ bớt sau khi Ngài nhập diệt, bởi vì ông quá đau buồn trước sự nhập diệt sắp xãy ra của Đức Bổn Sư: He could not formulate the lesser and minor precepts, as he was overwhelmed with grief at the imminent death of the Master. 2) Ông phải đạp chân lên áo của Đức Phật lúc vá áo vì không có ai cầm giúp ông: He had to tread upon the garment of the Master while sewing it as there was no one to help him. 3) Ông đã cho phép nữ giới lễ xá lợi Đức Phật trước những người khác vì ông không muốn giữ họ lại lâu. Ông làm như thế cũng là để khai trí cho họ, giúp họ mong muốn được cải thân người nam ở kiếp sau: He permitted women to salute first the body of the Master, because he did not want to detain them. He also did for their edification. 4) Vì bị quỷ ma che mờ tâm trí nên ông đã quên không cầu xin Đức Bổn sư cho ông có thể tiếp tục học đạo cho đến suốt đời: He was under the influence of the evil one when he forgot to request the Master to enable him to continue his study for a kalpa. 5) Ông đã xin cho nữ giới là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề gia nhập Tăng đoàn trái với luật lệ, bởi vì bà ta đã nuôi dưỡng Đức Bổn sư khi Ngài còn bé: He had to plead for the admission of women into the Order out of consideration for Mahaprapati Gautami who nursed the Master in his infancy. Tuy nhiên, theo bộ Dulva thì Ngài A Nan còn bị gán thêm hai tội nữa—However, according to the Dulva, two other charges also seem to have brought against Ananda 6) Ông đã không lấy nước uống cho Đức Phật mặc dù ngài đã ba lần đòi uống. Ông làm như thế vì bấy giờ nước sông đang đục không thể lấy cho Đức Phật uống được 7) Ông đã để cho nam và nữ giới thuộc hàng hạ phẩm được xem âm tàng của Đức Phật. Ông nói sự để lộ âm tàng của Đức Thế Tôn nhằm giải thoát cho những kẻ còn bận tâm về chuyện ái dục: He showed the privy parts of the Buddha to men and women of low character. He said that the exhibition of the privy parts of the Buddha would rid those concerned of their sensuality. ** For more information, please see Ananda in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Kết Tập Kinh Điển in Vietnamese-English Section.
a nan đà bổ la
Anandapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, A Nan Đà Bổ La nằm về hướng đông bắc của Gujerat (bây giờ là Barnagar), gần Kurree, một trong những cứ địa hùng mạnh của phái Jain (ngoại đạo)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Anandapura was a place, northeast of Gujerat (presently Barnagar), near Kurree, which was one of the strongholds of the Jain sect (externalists).
a nan đà bổ la quốc
(阿難陀補羅國) Phạm: Anandapura hoặc Ànandapura. Là một nước xưa ở miền tây Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì nước này chu vi hơn hai nghìn dặm, đô thành rộng hơn hai mươi dặm, dân số đông đúc, nhà cửa giàu có, hơn mười ngôi chùa, độ một nghìn tăng chúng, phần nhiều học giáo nghĩa của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Có vài mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở lẫn lộn. Cứ theo sự khảo chứng của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham, thì vị trí nước này nằm ở khoảng giữa cửa hai con sông Sa ba mã đề (Sabarmati) đến sông Ba na tư (Banas) hiện nay. Học giả T. Watters cũng đồng ý với thuyết này. [X. S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol.II; S. Julien: Mémoires sur les Contrées Occidentales].
a nan đà dạ xoa
Bạch Xỉ Dạ Xoa hay Dạ Xoa răng trắng—A yaksa, called White Teeth.
a nan đà kinh
Ānanda sutta (P), Sutra To Ananda (on Mindfulness of Breathing) Tên một bộ kinh.
a nan đà mục khư ni ha li đà la ni kinh
Anantamukha-nirhāra-dhāraṇi sūtra (S)Một trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
a nan đà tháp tự
(阿難陀塔寺) A nan đà, Phạm: Ànanda. Chùa tháp ở Bồ cam (Pagan) thuộc Miến điện, do vua Bồ cam là Khang sắt đạt (Kyanzittha) xây dựng vào năm 1090. Là ngôi chùa lớn vào bậc nhất trên toàn cõi Miến điện, trên vách phía ngoài của ngôi tháp, có tất cả một nghìn năm trăm bức bích họa, những sự tích được miêu tả đều lấy tư liệu từ kinh Bản sinh, các bức họa đều được thuyết minh bằng tiếng Pālivà Mạnh văn. Trong tháp đặt tám mươi tòa Phật khám suốt các lối đi, tượng Phật toàn khắc bằng đá. Cạnh hành lang phía tây, có pho tượng Phật rất lớn, trước mặt đức Phật, có tượng của quốc sư A la hán và của vua Khang sắt đạt, cũng bằng đá, đang quì. Toàn diện tích của chùa và tháp là sáu trăm bốn mươi mẫu tây, tháp cao hơn năm mươi mét, cứ theo sự khảo chứng của các nhà khảo cổ học, thì ngôi tháp này được kiến thiết theo mô hình hang đá Phật giáo ở Áo lập sa (Orissa) thuộc Ấn độ.
a nghĩ ni
Xem hỏa thần.
a nghệ la tiên
(阿詣羅仙) A nghệ la, Phạm: Agiras. Người tiên tại Ấn độ cổ đại. Còn gọi là Ương kì la tiên, Ương kiệt la tư tiên, Ương kì lạt tứ tiên, Ứng nghi la sa tiên. Dịch ý là thân hãn dịch tiên (tiên mình mồ hôi). Là một trong bảy tiên lớn, một trong mười tiên lớn, một trong mười Bát la xà bát để (Phạm: Prajàpati). Không từ bào thai sinh ra, mà theo nước mồ hôi sinh ra, cho nên có tên là Thân hãn dịch. Trung a hàm quyển 38 kinh Anh vũ, quyển 40 kinh Đầu na, luận Đại tì bà sa quyển 40, đều có nói đến tên của vị tiên này. Trong Mật giáo, vị tiên này là một trong quyến thuộc của Hỏa thiên, đặt ở phía nam trên Thai tạng giới mạn đồ la Kim cương bộ ngoài. Hình tượng là tay phải dựng thẳng mà bàn tay hơi nghiêng, ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón vô danh co lại, còn ngón út hơi co và đặt trước ngực, khủyu tay đặt lên đầu gối bên phải. Tay trái để buông trên cạnh đùi, với dáng nắm tay cầm hoa sen, trên hoa đặt một cái lọ. Mặt quay về bên phải, đầu gối bên phải dựng thẳng, hai chân tréo nhau. [X. kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.9; Thai tạng giới thất tập Q.hạ].
a nguỵ
(阿魏) Là một loại dược phẩm. Còn gọi là A ngu, A ngụy dược. Là loài thực vật hưng cừ (Phạm:Higu), sinh sản ở Ấn độ và Y lãng (Iraq), nếu chặt thân cây hoặc cành thì chỗ chặt sẽ chảy nhựa, chờ sau khi nhựa khô, lấy dùng làm thuốc, thuốc ấy tức là thuốc A ngụy, có thể sát trùng, trừ mùi hôi thối, nhưng đối với người thì vô hại, giống như chất băng phiến (long não) ngày nay. [X. Chính tông tán Q.2 Bảo ninh nhân dũng chương; Huyền ứng âm nghĩa Q.19; Tuệ lâm âm nghĩa Q.68]. (xt. Hưng Cừ).
a nhã câu lân
Xem Kiều trần Như.
a nhã kiều trần như
Xem Kiều trần Như.
; Ajnàta-Kaundinya (S). One of the five first disciples of the Buddha.
; Ashavajit (skt)—Người đã từng cùng tu khổ hạnh với Thái tử Sĩ Đạt Đa trước khi Ngài thành Phật. Kiều Trần Như là một trong năm đệ tử đầu tiên của Phật trong vườn Lộc Uyển—Ashavajit, one who used to practice asceticism with Prince Siddhartha before he became Buddha. He is one of the first five disciples of the Buddha in the Deer Park.
a nhĩ đa
(阿爾多) Phạm:Ajità. Dịch ý là Vô thắng. Là một trong bốn chị em Nữ thiên, quyến thuộc của bồ tát Văn thù. Được đặt ở phía trái của Đồng mẫu lư, phía trên A ba la nhĩ đa, trong viện Văn thù, trên mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Chủng tử là (a), hình tam muội da là gậy (bổng), mật hiệu là Kim cương. Thân sắc trắng, hình đồng tử, nắm tay trái chống vào cạnh sườn, tay phải cầm gậy một chẽ, mặt quay phía trái, ngồi tréo chân. Còn trong Lí thú kinh mạn đồ la, thì vị tôn này nắm tay trái đặt ở rốn, tay phải cầm hoa sen, ngồi xếp bằng trên lá sen. [X. Lí thú thích Q.hạ; Lí thú kinh bí chú; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
A Nhất
(阿一, Aichi, ?-?): vị tăng của Chơn Ngôn Luật Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), húy là A Nhất (阿一), tự Như Duyên (如緣). Ông theo Duệ Tôn (叡尊, Eison, thông xưng là Hưng Chánh Bồ Tát [興正菩薩]) ở Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) học về giới luật và Mật Giáo. Đến năm 1276, ông thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đến trú tại Giáo Hưng Tự (敎興寺) vùng Hà Nội (河內, Kawachi) và bắt đầu tuyên dương giới luật. Năm 1286, ông thọ nhận lễ Quán Đãnh. Vào năm 1322, ông trước tác cuốn Hưng Chánh Bồ Tát Giảng Thức (興正菩薩講式), 1 quyển, để tán dương đức độ của Duệ Tôn.
a noa
Xem A nậu.
a nâu lâu đà
xem A na luật.
; Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu Đà.
a nâu đạt
Anavatāpta (S), Anavatāpta-nāgarāja (S)A na bà đạt đa Long vương, Vô nhiệt não Long vương, A na sa đạt đa Long vương1- ao Vô nhiệt, trong núi Tuyết sơn, nước có đủ 8 công dức. 2- A na bà đạt đa Long vương: Tên một vị long vương. Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương. 3- A na đà đáp đa, A nậu đạt, A na đà đạt đa, A na bà đạt đa 4- Tên một cái ao ở cõi Diêm phù.
a nã
Anu (skt)—Phân tử hay thành phần gồm bảy nguyên tử—Minute—Infinitesimal—The smallest aggregation of matter—A molecule consisting of seven atoms.
a nê lâu đậu
Xem A Nậu Lâu Đà.
a nê lô đậu
Xem A Nậu Lâu Đà.
a nô ba thôn
(阿奴波村) Phạm:Anupriyà, Pāli: Anupiyà. Còn gọi là A nâu di thổ, A nô di, A nâu, A nậu phong. Nằm dọc theo bờ sông A nô ma (Pāli: Anomà), là thôn làng của chủng tộc A nô lạp. Sau khi cởi bỏ đồ trang phục trên bờ sông A nô ma, đức Thích tôn đến rừng cây Nại (Pāli: Amba-vana), thôn A nô ba ở lại bảy ngày rồi mới đến thành Vương xá (Pāli: Ràjagaha). Cứ theo Pháp cú kinh chú (Pāli: Dhammapada aỉỉhakathà) quyển 1 chép, thì sau khi đức Thích tôn thành đạo, đã về nước Ca tì la vệ, nhưng chưa bao lâu, lại dời đến ở rừng cây Nại, tại đây, bảy người đã theo Phật xuất gia, đó là; Bạt đề (Pāli: Bhaddiya), A nâu lâu đà (Pāli: Anurudha), A nan đà (Pāli: Ànanda), Bà cữu (Pāli: Bhagu), Kim tì la (Pāli: Kimbila), Đề bà đạt đa (Pāli: Devadatta) và Ưu ba li (Pāli: UPāli). [X. luật Ngũ phần Q.3, luật Tứ phần Q.4].
a nô luật đà
(阿奴律陀) (? - 1077) Còn gọi là A na luật đà. Là vua nước Miến điện vào thế kỉ thứ XI. Năm 1044, thống nhất Miến điện, lập nên Vương triều Bồ cam, tôn một vị trưởng lão A la hán thuộc Thượng tọa bộ Phật giáo làm quốc sư. Từng sai sứ sang Tích lan thỉnh kinh, tổ chức các vị tăng học giả xem xét so sánh rồi dịch ra tiếng Miến điện. Xác lập Thượng tọa bộ Phật giáo làm quốc giáo, kiến tạo chùa tháp tại các nơi trên toàn quốc và thành lập giáo đoàn. Năm 1070, nhận lời thỉnh cầu của vua Tích lan là Tì xá da bà ha đệ nhất (Vija-yabàhu I), nhà vua phái chư tăng sang Tích lan để giúp việc tổ chức lại Tăng đoàn.
a nô ma hà
(阿奴摩河) Phạm: Anavamà, Pāli: Anomà. Cứ theo Kinh tập chú (Pāli: Suttanipàta aỉỉhakathà) chép, thì Thái tử Tất đạt đa (tức đức Thích ca lúc chưa thành đạo), khi cởi bỏ tất cả đồ trang sức trên mình tại bờ sông này, thì có một vị Phạm thiên (Pāli: Ghaỉikàra) dâng tám vật của tỉ khưu. Từ con sông này đến thành Vương xá cách xa ba mươi do tuần, đức Thích tôn đi hết bảy ngày mới đến thành ấy. Cứ theo kinh Bản sinh (Phạm, Pāli: Jàtaka) chép, thì nước Ca tì la vệ cách con sông này ba mươi do tuần, mà Thái tử Tất đạt đa chỉ đi trong một đêm, sau khi dời cung vua, đã đến bờ sông này (vì đi ngựa, còn đến thành Vương xá là đi bộ).
a nậu
Aṇu (S), Atomic element Anurāja (S)A noa, cực vi, vi trần.
a nậu bạt đề (hà)
sông Ni liên thiền
a nậu la đà bổ la
Anuradhapura (skt)—Kinh đô cổ của nước Tích Lan, nằm về bắc đảo. Vùng nầy là thủ phủ của Tích Lan và là khởi điểm truyền bá của Phật giáo từ khi mới truyền vào cho mãi đến cuối thế kỷ thứ 8—A northern city and the old capital of Ceylon, at which tradition says Buddhism was introduced into the island until the end of the eighth century.
; (阿㝹羅陀補羅) Phạm, Pāli: Anuràdhapura. Còn gọi là A nâu la quốc thành, A nâu la đà quốc. Hoặc phiên là A nỗ lạp đạt phổ lạp. Cố đô của Tích lan, đồng thời, là Thánh địa Phật giáo. Nằm ở giữa tỉnh Trung bắc (North Central Province) hiện nay, và cách Kandy về phía bắc khoảng một trăm bốn mươi cây số. Cứ theo Đại sử (Pāli: Mahàvaôsa) 10 chép, thì khoảng năm 543 trước Tây lịch, vua Tì xá da (Pāli: Vijaya) bắt đầu lập vương quốc. Trải qua thời gian, truyền đến đời vua Bán đồ ca bà da (Pāli: Paịđukàbhaya, 377 tr. T.L - 307 tr. T.L) mới xây thành ở đây, mở các cửa thành, lập các công viên, thì lúc đó bề ngoài mới có vẻ là một Thủ phủ. Thế kỉ thứ III trước Tây lịch, vua Thiên ái đế tu (Pāli: Devànaôpiyatissa, 247 tr. T.L - 207 tr. T.L) lên ngôi và mở mang Phật giáo. Nhân con của hoàng đế A dục là Ma hi đà (Pāli: Mahinda) lần đầu tiên đến núi Mi sa ca (Pāli: Missaka-pabbata, nay gọi là A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh Mihintale) ở phía đông thành, nói pháp cho vua và quần thần nghe, nhà vua liền qui y Tam bảo: đó là đầu mối của nền Phật giáo hưng long tại Tích lan. Lại theo nguyện lực của Vương hậu A nâu la (Pāli: Anulà), nhà vua sai sứ đến thành Hoa thị (Pāli: Pupphapura), tại Ấn độ, mời em gái của Ma hi đà là Tăng già mật đa tỉ khưu ni (Pāli: Saghamittà) sang Tích lan giáo hóa. Nhân dịp này, Tăng già mật đa mang tặng vua cây Bồ đề, nhà vua bèn tự tay đem trồng trong rừng Đại mi già (Pāli: Mahàmegha-vana), đồng thời, sáng lập chùa Đại tự (Mahà vihàra) ở đây, nơi này bèn trở thành trung tâm của Phật giáo Thượng tọa bộ. Về sau, các triều vua đều sùng tín Phật pháp, lần lượt xây dựng các chùa, tháp gần vương thành để cúng dường chúng tăng và xá lợi. Từ khi Phật giáo mới du nhập cho đến cuối thế kỉ thứ VIII Tây lịch, thành này vẫn là Thủ phủ của Tích lan. Đến thế kỉ thứ IX, vì người Tháp mễ nhĩ (Tamil) xâm nhập, kinh đô phải dời đến Ba la na lỗ ngõa (Polonnaruwa). Từ đó, thành cổ A nâu la đà bổ la mỗi ngày một hoang vu. Đầu thế kỉ XV, vì người Âu xâm nhập, nên kinh đô lại được dời đến Kandy. Mãi đến năm 1872 A nâu la đà bổ la mới trở thành tỉnh lị của tỉnh Trung bắc. Trải qua các đời vua, tại A nâu la đà bổ la, một số lớn các chùa tháp đã được xây dựng và tu bổ, hiện nay còn lại có vườn tháp (Pāli: Thùpàràma), chùa núi Vô úy (Pāli: Abhayagiri), chùa Lăng già (Pāli: Lakàràma), tháp Phồn tiêu (Pāli: Mirisaveti Dagoba), tháp Vu phần (Pāli: Ruwanweli Dagoba), điện Đồng, cây Đại bồ đề v.v... gọi là Bát Thánh xứ (tám nơi Thánh). Ngoài ra, còn có các di tích chùa Đại tự, mộ Ma hi đà, v.v... [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2, Q.3; Đại đường tây vực kí Q.11; G. E. Mitton: The Lost Cities of Ceylon; W. Geiger: Mahàvaôsa]. (xt. Tích Lan Phật Giáo).
A Nậu Lâu Đà
(s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱): còn gọi là A Na Luật (阿那律), A Nan Luật (阿難律), A Lâu Đà (阿樓陀), hay A Ni Luật Đà (阿尼律陀), A Nê Lô Đậu (阿泥盧豆); ý dịch là Vô Diệt (無滅), Vô Tham (無貪), Vô Chướng (無障), Như Ý (如意), Thiện Ý (善意), Bất Tranh Hữu Vô (不爭有無); là người em họ của Đức Phật, một trong các vị đại đệ tử của Phật. Về xuất xứ tên Vô Tham của Tôn Giả, do đời trước xa xưa đói khát, ông thường lấy thức ăn của mình cúng dường cho một vị Bích Chi Phật (辟支佛), do đó, 7 đời sanh lên cõi trời đều làm Thiên Vương; 7 đời sanh vào cõi người đều làm vua, đời đời về sau mọi cầu mong đều được như ý, và trong 91 kiếp không chịu nỗi khổ nghèo cùng, khốn khổ. Về thân thế của Tôn Giả, Khởi Thế Kinh (起世經) quyển 10, Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 15, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經) quyển 2, v.v., cho biết rằng Tôn Giả là con của Hộc Phạn Vương (斛飯王). Tuy nhiên, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經) quyển 11, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3 lại cho rằng Tôn Giả là con Cam Lồ Phạn Vương (甘露飯王). Sau khi thành đạo, đức Phật trở về thăm cố hương, lúc đó A Na Luật cùng với A Nan (阿難), Nan Đà (難陀), Ưu Ba Ly (優波離), v.v., xuất gia làm đệ tử đức Phật. Tôn Giả cũng giống như A Nan và rất nhiều người trong giòng họ xuất gia theo Phật. Tôn Giả có tật vừa nghe thuyết pháp vừa ngủ gục nên một lần kia bị Đức Phật quở mắng, Ngài phát thệ nguyện từ đó trở đi, tuyệt đối không ngủ nghỉ, đến nỗi, về sau Tôn Giả bị mù cả hai mắt. Tuy nhiên, do kết quả của sự tinh tấn tu hành như vậy, Tôn Giả đã chứng được Thiên Nhãn. Tôn Giả thông cả Bát Đại Niệm (八大念, tức tám điều giác ngộ của bậc đại nhân) và Tứ Niệm Xứ (四念處, bốn phép Thiền Quán). Tôn Giả được liệt vào 10 vị đại đệ tử và được xem là người có Thiên Nhãn Đệ Nhất. Khi Đức Phật nhập diệt thì Tôn Giả đã cùng với A Nan và các đệ tử khác hầu cận một bên.
a nậu lâu đà
Anurudha (S), Anuruddha (P)A na Luật Tôn giả, A na luật độ, A na luật, A na luật tôn giả, A nê lô đậu, A nê lâu đậuMột trong thập đại đại đệ tử. Ngài là bà con chú bác với đức Phật. Ngài cùng các ông Bạt đề, Kim tỳ La, A nan đa, Đề bà đạt đa đến gặp đức Phật xin xuất gia sau khi nghe tin đức Phật thành đạo. Ngài là một trong những đệ tử lớn tuổi nhất, được khen là Thiên nhãn đệ nhất.
; Aniruddha (P), Unobstructed. Anurudha (S)Tên một vị đệ tử của đức Phật. A na luậtKhông bị hủy hoại
; Anuruddha (skt). 1) Vô Diệt: Unceasing. 2) Như Ý Vô Tham: Able to gratify every wish and without desire. 3) Một vị Tăng nổi tiếng cũng là một trong mười đệ tử lớn của Phật—A famous monk who is one of the ten distinguished disciples of the Buddha: - Là em họ của Phật Thích Ca và cũng là một trong thập đại đệ tử của Ngài—Anuruddha—A cousin of Sakyamuni and one of the Buddha's ten great disciples. - Một trong sáu hoàng tử của dòng Thích Ca, đệ nhứt thiên nhãn trong số những đệ tử A-La-Hán của Phật—One of the six princes in the Sakyamuni Buddha throne to cultivate the Way. He had the greatest vision (deva insight) among all Buddha's Arhat disciples. - Đức Phật thọ ký A Nậu Lâu Đà sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—The Buddha predicted Anuruddha to reappear as the Buddha Samantaprabhasa. ** For more information, please see Anuruddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a nậu quan âm
(阿耨觀音) Là một trong ba mươi ba hóa thân Quan âm. Tượng Ngài ngồi trên núi đá cao dốc trong dáng nhìn xuống bể. Kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Phổ môn (Đại 9, 57 hạ): Hoặc trôi giạt biển lớn, rồng, cá, các quỉ nạn, nhớ đến sức Quan âm, sóng nước không thể chìm. Bởi vì biển lớn, rồng, cá có nhân duyên với hồ A nậu đạt, cho nên gọi là A nậu.
a nậu đa la
Anuttara (P), Unsurpassed One Vô thượng sĩMột trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật. Một trong 10 Phật hiệu.
a nậu đa la tam miệu tam bồ đe
Anuttara-Samyas-Sambòdhi (S). Supreme and perfect enlightenment.
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
(s: anuttara-samyak-sambodhi, p: anuttara-sammā-sambodhi, j: anokutarasammyakusambodai, 阿耨多羅三藐三菩提): cựu ý dịch là Vô Thượng Chánh Biến Tri (無上正遍[徧]知), Vô Thượng Chánh Biến Đạo (無上正遍[徧]道); tân ý dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (無上正等正覺); gọi tắt là A Nậu Tam Bồ Đề (阿耨三菩提), A Nậu Bồ Đề (阿耨菩提), v.v. Do vì nội dung của từ này không thể hiện một cách chính xác, nên trong kinh điển phần nhiều người ta vẫn dùng nguyên âm. Cụm từ này có nghĩa là đức Phật thoát ly khỏi thế giới mê muội, chứng được giác trí viên mãn, trong chân lý bình đẳng không có nơi nào không biết đến, cho nên trên thế gian ngài là bậc vô thượng (không ai trên ngài).
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
Xem A nậu Đa la Tam muội Tam bồ đề.
; Annutara-samyak-saṃbodhi (P).
; A Nậu Đa La dịch là vô thượng, Tam Miệu dịch là chánh đẳng, Tam Bồ Đề dịch là chánh giác. Giác ngộ cuối cùng dịch là Vô thượng chánh đẳng Chánh giác.
; Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác, trạng thái chứng ngộ của chư Phật—Anuttara-Samyak-Sambodhi (skt)—Supreme—Perfect wisdom—The truth—The state of truth—A state of enlightenment reserved only for Buddhas.
; (阿耨多羅三藐三菩提) Phạm: Anuttara samyak - saôbodhi, Pāli: Anuttara - sammàsambodhi. Nói tắt là A nậu tam bồ đề, A nậu bồ đề. Dịch ý: vô thượng chính đẳng chính giác, vô thượng chính chân đạo, vô thượng chính biến tri. A nậu đa la dịch ý là vô thượng, tam miệu tam bồ đề, dịch ý là chính biến tri. Là trí tuệ giác ngộ của đức Phật, hàm ý là bình đẳng, viên mãn. Vì cái đạo mà Ngài ngộ được là rất cao, cho nên gọi là vô thượng; vì đạo ấy chu biến, bao quát hết thảy, cho nên gọi là chính biến tri. Toàn bộ nội dung tu hành của Bồ tát Đại thừa là để thành tựu loại giác ngộ này. Bồ tát phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, thì dịch là Vô thượng chính chân đạo ý. Còn tiếng Phạm: Anuttara-samyaksaôbudha, dịch âm là A nậu đa la tam miệu tam phật đà, ý là chỉ người đã hoàn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cho nên thông thường dịch là vô thượng chính đẳng chính giác giả. Đây là tiếng tôn xưng đức Phật, tức là bậc vô thượng chính đẳng chính giác. Cũng có thể bỏ bớt A nậu đa la mà chỉ nói Tam miệu tam Phật đà, hoặc Tam da tam Phật, Tam da tam Phật đà v.v... [X. luận Đại trí độ Q.2, Q.85; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.2 phần trên; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần đầu; Tuệ uyển âm nghĩa Q.26, Q.27]. (xt. Chính Biến Tri, Chính Giác).
a nậu đa la tam muội tam bồ đề
Anuttara-samayak-saṃbodhi (S), Aṇubodhi (S), Complete enlightenment, Unsurpassed Perfectly Englightened One Aṇubodhi (S), Anuttara-samma-saṃbodhi (P)Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nậu Đa La dịch là vô thượng, Tam Miệu dịch là chánh đẳng, Tam Bồ Đề dịch là chánh giác. Giác ngô cuối cùng gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
a nậu đạt
Xem A na bà đạt đa Long vương.
a nậu đạt long vương
(阿耨達龍王) A nậu đạt, Phạm: Anavatapta, Pāli: Anotatta. Là một trong tám Long vương lớn, trú ở hồ A nậu đạt, thoát khỏi được ba cái tai nạn, trong các long vương hình ngựa, đức của long vương này là hơn hết. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 18 chép, thì trừ long vương A nậu đạt ra, còn tất cả các long vương ở cõi Diêm phù đề đều có ba tai nạn như sau: 1. Các rồng đều bị gió nóng, cát nóng bám vào mình, đốt cháy da thịt và xương tủy, rất là khổ não. 2. Trong các cung điện của rồng, khi cuồng phong thổi tới, thì tất cả quần áo quí báu mặc trên mình đều bay hết mà thân rồng tự hiện, rất là khổ não. 3. Trong cung điện, khi các rồng đang vui chơi, thì chim đại kim sí thường bay vào cung quấy nhiễu, cho nên các rồng thường sợ hãi, buồn rầu. Rồng A nậu đạt không bị các tai họa trên. [X. kinh Khởi thế Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.2; luận Đại trí độ Q.7; Đại đường tây vực kí Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. A Nậu Đạt Trì).
a nậu đạt trì
(阿耨達池) A nậu đạt, Phạm: Anavatapta, Pāli: Anotatta. Tương truyền là nơi phát nguyên của bốn con sông lớn ở Diêm phù đề. Còn gọi là A nậu đại tuyền, A na đạt trì, A na bà đáp đa trì, A na bà đạp trì, nói tắt là A nậu. Dịch ý là hồ mát mẻ, hồ không nhiệt não. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 15 và luận Câu xá quyển 11 chép, thì hồ này nằm về phía bắc núi Đại tuyết, phía nam núi Hương túy (Phạm: Gandhamàdana, nay là núi Kailana), gọi là hồ không nhiệt não, chu vi tám trăm dặm, bờ hồ được trang hoàng bằng bốn thứ báu là vàng, bạc, lưu li và pha lê, hồ đầy cát vàng, sóng gợn trong suốt như gương, có rồng chúa ở, tên là A nậu đạt, nước hồ trong và mát. Phía đông hồ có cửa sông Hằng (Phạm: Gagà), phía nam là sông Tín độ (Phạm: Sindhu), phía tây là sông Phọc sô (Phạm: Vakwa), phía bắc là sông Sí đa (Phạm:Zìta). [X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, Q.2; luận Đại trí độ Q.3, Q.7; Đại đường tây vực kí Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, Q.25, Q.27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tứ Hà).
a nậu đạt trì, vô nhiệt não
Anavatapta (S)
a nặc đức
(阿諾德) ARNOLD, EDWIN (1832 - 1904) Một nhà thơ người Anh, học tại các Đại học Luân đôn và Oxford. Từng là Hiệu trưởng của trường Phạm ngữ ở Ba na (Poona) Ấn độ. Ông dùng thi ca để giới thiệu sinh hoạt và tư tưởng Đông phương, đồng thời, phiên dịch các thơ và truyện cổ trong tiếng Phạm. Nổi tiếng nhất là thi phẩm trường thiên không vần Ánh Sáng Châu Á (The Light of Asia, 1879), ca tụng cuộc đời của đức Thích ca và trình bày giáo lí Phật giáo. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm khác như: Ấn độ điền viên thi (Indian Idylls, Thơ ruộng vườn Ấn độ), Tín ngưỡng đích trân châu (The Pearls of the Faith, những viên ngọc tín ngưỡng), Tái phỏng Ấn độ (India Revisited 1886, thăm lại Ấn độ) v.v... [X. Earl Miner: The Japanese Tradition in British and American Literature, 1958].
a nễ chân na
(阿你真那) (? - 721) Phạm: Maịicinta, hoặc Ratnacinta. Dịch ý là Bảo tư duy, nhà dịch kinh ở đời Đường. Sư thuộc dòng Sát đế lợi nước Ca thấp di la bắc Ấn độ, xuất gia từ nhỏ, tu tập thiền yếu, sau khi thụ giới cụ túc thì chuyên học luật phẩm, trí tuệ của sư vượt bực, kiêm học cả đời lẫn đạo, đặc biệt sở trường chú thuật và lập chí ở việc hóa đạo. Năm Trường thọ thứ 2 (693) sư đến Lạc dương, vâng mệnh nhà vua ở chùa Thiên cung. Sau đó không lâu, sư ở các chùa Thiên cung, Phật thụ kí và Phúc quang dịch kinh Bất không quyên sách đà la ni bảy bộ chín quyển. Niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695), sư tham gia công việc biên soạn Vũ chu san định chúng kinh mục lục. Về sau, sư không dịch kinh nữa, chỉ chuyên cần lễ tụng, tu mọi phúc nghiệp, ngoài áo bát ra, ai cho gì ăn nấy. Sau cất chùa Thiên trúc trên núi Long môn, cùng ở với học trò. Năm Khai nguyên thứ chín thì sư tịch, thọ trên một trăm tuổi. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.3].
a phan
(阿潘) Vị tỉ khưu ni đời Đông Hán. Người Lạc dương. Là vị ni xuất gia thụ ba qui y sớm nhất tại Trung quốc. Các sự tích khác về ni không được rõ. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển thượng Đông hạ xuất gia điều chép, thì vua Minh đế nhà Hán (ở ngôi 58 - 75), cho phép Dương thành hầu, Lưu tuấn xuất gia và cho đàn bà Lạc dương A phan xuất gia, tăng, ni bắt đầu có từ đó.
a phù đà đạt ma
Xem Hy pháp. Xem A phù đạt ma.
a phù đà đạt ma (kinh), vị tằng hữu
Adbhutadharma (S)
a phù đà đạt ma kinh
Xem Kinh Vị tằng hữu pháp.
a phù đạt ma
Abbhūtadhamma (P), Super-atural phenomenon A phù đà đạt ma, Vị tằng hữu hi phápTên một trong 9 bộ kinh điển Phật giáo.
a phược la ha khư
Avarahakha (skt)—Một loại chú kết hợp sức mạnh của đất, nước, lửa, gió, và hư không—A spell uniting of the powers respectively of earth, water, fire, air, and space.
a phạ lư tích đế thấp phạt la
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
a phạt la thế la
Avarasailah (skt)—Trường phái Đường Tháp của những người bên Tây Sơn Tự ở nước Đà Na Yết Kiệt Ca (vùng phía nam Ấn Độ). Đây là một nhánh của trường phái Tiểu Thừa Nguyên Thủy—The school of the dwellers in the Western mountains in Dhankataka (south of India); it was a subdivision of Mahasanghika.
a phạt la thế la tăng già lam
(阿伐羅勢羅僧伽藍) Phạm: Avarazaila saghàràma. Dịch ý là Tây sơn chúng viên. Chùa ở nước Đà na yết trách ca thuộc nam Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, ở trên núi phía tây đô thành của nước Đà na yết trách ca, có chùa A phạt la thế la, do tiên vương nước Đà na yết trách ca sáng lập để cúng dường đức Phật. Trong một nghìn năm sau đức Phật nhập diệt, mỗi năm đều có một nghìn vị tăng phàm phu cùng về an cư tại chùa này, đến ngày tán hạ thì cùng chứng La hán, rồi dùng sức thần thông lướt trên hư không mà đi. Một nghìn năm sau, phàm Thánh cùng ở. Lại sau hơn một trăm năm, không có tăng lữ nữa. Về vị trí đích thực của ngôi chùa này, có rất nhiều thuyết khác nhau. R. Sewell cho đó là di chỉ của gò Tạc nham ở trên núi phía tây thị trấn Bezwada, bắc ngạn sông Kistna; J. Fergusson thì cho đó là tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravati), cách Bezwada hai mươi bảy cây số về phía tây, nam ngạn sông Kistna; Cao tang câu cát thì cho đó phải là ngôi cổ thành Đà la ni khoa đạt (Dharanikota) ở phía tây tháp A ma la bà đề. Tây sơn trụ bộ được nói đến trong luận Dị bộ tôn luân, đã lấy ngôi chùa này làm căn cứ địa. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Thích ca phương chí Q.hạ; Giải thuyết tây vực kí; Đông nam Ấn độ chư quốc đích nghiên cứu].
a phọc la ha khư
(阿縛羅呵佉) Là dịch âm của năm chữ Tất đàm: (a) (va) (ra) (ha) (kha). Còn gọi là a phọc la hạ ca. Trong Mật giáo, năm chữ trên đây tức là chủng tử của năm yếu tố đất, nước, lửa, gió, không. Đại nhật kinh sớ Q.1 (Đại 39, 586 trung): Chữ a là đất, chữ phọc là nước, chữ la là lửa, chữ hạ là gió, chữ khư là không.
a phọc lô chỉ đê thấp phạt la
(阿縛盧枳低濕伐邏) Phạm:Avalokitezvara. Còn gọi là A bà lô cát đê xá bà la. Dịch ý là Quán tự tại, Quán thế âm. Nói tắt là Quán âm. Xem xét những người đời niệm danh hiệu của Ngài để cứu giúp, nên gọi là Quán thế âm. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Quán Thế Âm Bồ Tát).
a sa ca na sơn
Xem Mã nhĩ sơn.
a sa la
Asaru or Asara (skt)—Cây thầu dầu—The castor-oil plant.
a sa ma
(阿娑摩) Phạm:Asama. Là đức hiệu của Phật. Còn gọi là A sa mạ. Dịch ý là Vô đẳng (không ngang bằng), chỉ đức Phật. Vì quả vị của Phật không một chúng sinh nào có thể sánh bằng. (xt. A Sa Ma Sa Ma).
a sa ma bổ đa
Asamapta (skt)—Không dứt—Incomplete—Unended.
a sa ma sa ma
Asamasama (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”—One of the titles of a Buddha; it is defined as “Unequalled Rank.”
; (阿娑磨沙摩) Phạm: Asamasama. Là đức hiệu của Phật. Dịch ý là Vô đẳng đẳng. Đức Phật đã sạch hết mọi phiền não và thần lực rộng lớn, không một chúng sinh nào khác có thể sánh cùng, cho nên gọi là vô đẳng. Quả vị của Phật và Phật bằng đẳng, cho nên gọi là vô đẳng đẳng. [X. luận Đại trí độ Q.2; Thập địa kinh luận Q.2; luận Du già sư địa Q.82].
a sa phạ
Asava (skt)—Ba phần thống nhiếp tất cả chân ngôn của Thai tạng Giới—A formula covering the three sections of the Garbhadhatu: 1) Chữ “A” của Mật giáo là Như Lai: “A” the Tathagata section. 2) Chữ “Sa” là Liên Hoa bộ: “Sa” the Lotus section. 3) Chữ “Phạ” là Kim Cang Bộ: “Va” the Diamond section.
a sa phả na già
Asvasa-apanaka (skt)—Quán sổ tức—Contemplation by counting the breathings—See Quán Sổ Tức.
a sa phọc
(阿娑縛) Tức là các chữ Tất đàm (a) (wa) (va). A SA PHẠ Còn gọi là A sa phọc. Ba chữ A, Sa, Phạ là hiệu chung của ba bộ, cho nên dùng để phối trí với ba bộ. Tức chữ a là chủng tử của Phật bộ, chữwa là chủng tử của Liên hoa bộ, chữ phạ là chủng tử của Kim cương bộ, dùng ba chữ này để thống nhiếp tất cả chân ngôn của Thai tạng giới. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 622 thượng): Vào cửa chữ A, hết thảy các pháp chẳng sinh, là nghĩa Pháp thân, vào cửa chữ Sa, hết thảy các pháp không nhiễm trước, là nghĩa hoa sen, vào cửa chữ Phạ, hết thảy các pháp lìa lời nói, là nghĩa kim cương. Như trong phẩm Tự luân sau đây, dùng ba chữ này thống nhiếp trăm minh (thần chú), ý ở đó vậy.
a sa phọc sao
(阿娑縛抄) Gồm hai trăm hai mươi tám quyển. Do vị tăng thuộc tông Thiên thai Nhật bản là Thừa trừng biên soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 35 đến quyển 41, và Đại chính tạng tập 49 Đồ tượng bộ thứ 9. Là tập đại thành về giáo tướng và sự tướng của các dòng Thai mật, có thể sánh ngang với Giác thiền sao của Đông mật. Bởi vì chữ A là chủng tử của Phật bộ, chữ Wa là chủng tử của Liên hoa bộ, chữ Phạ là chủng tử của Kim cương bộ, ba chữ này tức là tượng trưng cho toàn bộ sự tướng của toàn bộ sách.
a sa phọc sao minh tượng đẳng lược truyện
(阿娑縛抄明匠等略傳) Gồm ba quyển. Do vị tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai là Thừa trừng soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 41. Nội dung lược thuật sự tích của các bậc cao tăng tại ba nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Quyển thượng gồm mười tám vị cao tăng Ấn độ bắt đầu từ đức Thế tôn đến các ngài Ca diếp, A nan, Xá lợi phất, Mục kiền liên, Ưu ba cúc đa, Thiên thân, Mã minh, Long thụ, Long trí, Thanh biện, Hộ pháp, Trúc pháp hộ, La thập, Đạt ma, Thiện vô úy, Kim cương trí và Bất không, rồi đến mười tám vị cao tăng Trung quốc là các sư Huệ tư, Tuệ viễn, Trí khải, Chương an, Huyền trang, Đạo tuyên, Thiện đạo, Nhất hạnh, Nghĩa lâm, Huyền siêu, Huệ quả, Thuận hiểu, Đạo thúy, Hành mãn, Nghĩa tháo, Pháp nhuận, Nghĩa chân và Pháp toàn. Hai quyển Trung và Hạ thu chép ba mươi sáu vị cao tăng Nhật bản. Các thư mục được dẫn dụng trong bộ sách này phần nhiều đã mất mát, tuy nhiên, bộ sách vẫn có giá trị rất cao về sử liệu của Phật giáo. A Súc Như Lai Niêm Tụng Cúng Dường Pháp Có một quyển. Do ngài Bất không đời Đường dịch. Còn gọi là A súc cúng dường pháp, A súc Như lai niệm tụng pháp, A súc niệm tụng nghi quĩ, A súc quĩ, thu vào Đại chính tạng tập 19. Tức là pháp khuyến thỉnh cúng dường A súc Như lai. Nội dung chỉ bày người hành giả, trước hết, vào tinh xá của Bản tôn, quay mặt phía đông, quì gối chắp tay, sám hối, tùy hỉ, khuyến thỉnh, hồi hướng, phát nguyện. Sau đó, đến trước tượng của Bản tôn, ngồi kết già hoặc bán già, tụng các chân ngôn một cách rõ ràng để cầu cho hết thảy chúng sinh được yên vui và mau chứng Vô thượng bồ đề tất địa. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
a sa đà
Asadha (skt). 1) Tháng tư của Ấn Độ, khoảng tháng sáu và tháng bảy:The fourth month of India, part of June and July—See Thập Nhị Nguyệt. 2) Chòm sao của Ấn Độ gồm sao “Ky” và sao “Đẩu.”—Asadha, an Indian constellation in Sagittarius. 3) Tên của một vị Tỳ Kheo Ấn Độ. Người ta nói ông A Sa Đà được độ bởi một vị Tỳ Kheo Ni—Name of an Indian monk. It is said he was converted by a nun.
a sa đồ nguyệt
(阿娑荼月) A Sa đồ, Phạm:Awàđha, Pāli: Àsàơhà. Còn gọi là Ngạch sa đồ nguyệt, A sa xá nguyệt, A sa xá ma tẩy nguyệt. Là tháng thứ tư trong mười hai tháng theo lịch pháp Ấn độ. Tương đương với ngày mười sáu tháng tư đến ngày rằm tháng năm Âm lịch. [X. Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Lịch).
a sai mạt
Aksayamati (skt). 1) Bất Thối Chuyển: Unceasing devotion, with an unfailing mind. 2) Tên của một vị Bồ Tát: Name of a Bodhisattva.
a súc
Aksobhya (skt)—A Súc Tỳ—A Súc Bà. (A) Một trong năm vị Phật, ngài trụ tại cõi nước A Tỷ La Đề hay Thiện Khoái Quốc ở phương đông. Trong Kinh Pháp Hoa, ngài là Bồ Tát Trí Tích, con trai của Đại Thông Trí Thắng trước khi thành Phật—One of the five Buddhas, hia realm Abhirata, Delightful, now being in the east. He represented in the Lotus Sutra as the eldest son of Mahabhijnabhibhu, and was the Jnanakara Bodhisattva before he became Buddha. (B) Bản chất của Ngài gồm—His natures include: 1) Bất Động: Unmoved. 2) Vô Động: Imperturbable. 3) Vô Nộ: Free fromanger. ** For more information, please see Aksobhya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ngũ Phật.
a súc bà phật
Xem Phật A súc bệ.
a súc bất động như lai
Xem Phật A súc bệ.
A Súc Phật
(s: Akṣhobhya-buddha, t: Saṅs-rgyas mi-ḥkhrugs-pa, 阿閦佛): gọi tắt là A Súc (阿閦), còn gọi là A Súc Tì Phật (阿閦鞞佛), A Sô Tì Da Phật (阿芻鞞耶佛), Ác Khất Sô Tỳ Dã Phật (噁乞蒭毘也佛); ý dịch là Bất Động Phật (不動佛), Vô Động Phật (無動佛), hay Vô Nộ Phật (無怒佛), Vô Sân Nhuế Phật (無瞋恚佛); là tên gọi của một trong 5 vị Phật ở 5 phương khác nhau; vị này thường ngự ở phương Đông. Theo Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ (發意受慧) và Thiện Khoái (善快) của A Súc Phật Quốc Kinh (阿閦佛國經, Taishō Vol. 11, No. 313) quyển Thượng, vào thời quá khứ cách hơn Phật quốc độ về phương Đông có thế giới tên gọi là A Tỷ La Đề (s: Abhirati, 阿比羅提), đức Đại Mục Như Lai (大目如來) xuất hiện trong thế giới ấy, vì các Bồ Tát thuyết về hạnh Lục Độ Vô Cực (六度無極). Khi ấy có một vị Bồ Tát nhân khi nghe pháp bèn phát tâm vô thượng chánh chân; đức Đại Mục Như Lai thấy vậy rất hoan hỷ nên ban cho hiệu là A Súc. Bồ Tát A Súc thành Phật ở thế giới A Tỷ La Đề, cho đến hiện tại vẫn còn đang thuyết pháp tại quốc độ của Ngài. Hơn nữa, lại căn cứ vào Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經, Taishō Vol. 9, No. 262) cho hay rằng khi chưa xuất gia, đức Đại Thông Trí Thắng Phật (大通智勝佛) có 16 vương tử, về sau tất cả đều xuất gia làm Sa Di; trong đó người con thứ nhất tên Trí Tích (智積), tức là A Súc, thành Phật tại nước Hoan Hỷ ở phương Đông. Bi Hoa Kinh (s: Karuṇā-puṇḍarīka-sūtra, 悲華經, Taishō Vol. 3, No. 157) quyển 4 có ghi rằng đức A Di Đà Phật (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀佛) trong thời quá khứ khi làm vua Vô Tránh Niệm (無諍念), có cả ngàn người con, trong đó người con thứ 9 tên Mật Tô (蜜蘇), tức là A Súc, thành Phật ở phương Đông, cõi nước tên là Diệu Lạc (妙樂). Mật Giáo xem A Súc Phật này là một trong 5 vị Phật của Kim Cang Giới (金剛界), tượng trưng cho Đại Viên Cảnh Trí (大圓境智), hay Kim Cang Trí (金剛智). Ngài ngự ở trung ương chánh Đông Nguyệt Luân trong Ngũ Giải Thoát Luân (五解脫輪), phía trước là Kim Cang Tát Đỏa (金剛薩埵), bên phải là Kim Cang Vương Bồ Tát (金剛王菩薩), bên trái là Kim Cang Ái Bồ Tát (金剛愛菩薩), phía sau là Kim Cang Hỷ Bồ Tát (金剛喜菩薩). Hình tượng của Ngài màu vàng kim, tay trái bắt ấn để trên bắp vế, tay phải buông xuống chạm đất, nên được gọi là A Súc Xúc Địa ấn (阿閦觸地印). Mật hiệu của Ngài là Bất Động Kim Cang (不動金剛); chủng tử là hūṃ. Chơn ngôn là “án ác khất sô tỳ dã hồng (唵噁乞蒭毘也吽).” Thân Ngài màu xanh, như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn rằng: “Phụng thỉnh Đông phương A Súc Phật, kỳ thân thanh sắc phóng quang minh, thủ ấn chấp trì Hàng Ma Chử, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ (奉請東方阿閦佛、其身青色放光明、手印執持降魔杵、眾等志心歸命禮, cung thỉnh Đông phương A Súc Phật, thân Ngài sắc xanh phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Chày Hàng Ma, chúng con chí tâm cung kính lễ).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 lại dạy thêm rằng: “Cầu trường thọ thư A Súc Phật Chủng Trí tự (求長壽書阿閦佛種智字, nếu cầu sống lâu thì viết chữ Chủng Trí của A Súc Phật).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (金剛頂瑜伽三十七尊禮, Taishō Vol. 18, No. 879) có đảnh lễ danh hiệu của Ngài: “Nam Mộ Kim Cang Kiên Cố Tự Tánh Thân A Súc Phật (南慕金剛堅固自性身阿閦佛, Kính Lễ Phật A Súc Thân Tự Tánh Kiên Cố Như Kim Cang).”
a súc phật
Aksobhya-buddha (S). Bất động Phật Imperturbable Buddha.
; (阿閦佛) Phạm: Akwobhya buddha. Tạng: Sas- rgyas-mi-#krugs pa. Là tên đức Phật hiện tại ở phương đông. Gọi tắt là A súc. Còn gọi là A súc bệ Phật, A sô tì da Phật, Á khất sô tì dã Phật. Dịch ý là Bất động Phật, Vô động Phật, hoặc là Vô nộ Phật, Vô sân huệ Phật. Cứ theo kinh A súc phật quốc quyển thượng phẩm Phát ý thụ tuệ và phẩm Thiện khoái chép, thì ở quá khứ, cách đây một nghìn cõi Phật về phương đông, có thế giới A tì la đề (Phạm: Abhirati), trong đó, có đức Đại mục Như lai xuất hiện, Ngài vì các Bồ tát mà nói pháp tu hành sáu độ cao tột. Lúc bấy giờ, có một vị Bồ tát, sau khi nghe pháp, phát tâm đạo vô thượng chính chân, nguyện dứt sân hận, đoạn dâm dục, cho đến thành đại chính giác, Đại mục Như lai vui mừng và ban hiệu là A súc. Bồ tát A súc liền thành Phật trong thế giới A tì la đề ở phương đông, và hiện nay vẫn đang thuyết pháp ở cõi đó. Lại cứ theo kinh Pháp hoa quyển 3 phẩm Hóa thành dụ chép, thì đức Phật Đại thông trí thắng, khi chưa xuất gia, có mười sáu vương tử, sau đều xuất gia làmsa di, người con thứ nhất tên là Trí tích, tức là A súc, thành Phật tại nước Hoan hỉ ở phương đông. Kinh Bi hoa quyển 4 chép, Phật A di đà ở đời quá khứ là vua Vô tránh niệm, có một nghìn người con, người con thứ chín là Mật tô, tức A súc, thành Phật tại phương đông, tên nước là Diệu lạc. Mật giáo lấy đức Phật này làm một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên kính trí. Ngài được tôn trí ở giữa nguyệt luân chính đông, trong năm luân giải thoát, phía trước là Kim cương tát đỏa, phía phải là Kim cương vương bồ tát, phía trái là Kim cương ái bồ tát, phía sau là Kim cương hỉ bồ tát. Hình tượng màu vàng ròng, tay trái nắm lại đặt ở trước rốn, tay phải thõng xuống chạm đất, tức là A súc xúc địa ấn (Ấn A súc chạm đất). Mật hiệu là Bất động kim cương. Chủng tử là (Hùô). Hình tam muội da là chày năm chẽ. Chân ngôn là Án á khất sô tì dã hồng. [X. kinh Đại bảo tích hội bất động Như lai; kinh Đạo hành bát nhã Q.6, Q.9; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; kinh Duy ma Q.hạ; Tịnh độ dữ Thiền (Ấn thuận, Diệu vân tập hạ biên 4)].
a súc phật quốc kinh
Akṣobhya-tathāgatasya-vyūha sūtra (S)Kinh A súc, Kinh A súcPhật quốc Sát Chư Bồ tát Học Thành Phẩm, Kinh Đại bảo tích Bất động Như lai Hội.Tên một cõi giới.
; (阿閦佛國經) Phạm: Akwobhya - tathàgatasya - vyùha. Gồm hai quyển. Do ngài Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán dịch. Gọi tắt là A súc kinh, thu vào Đại chính tạng tập 11. Nội dung trình bày việc bồ tát A súc, lúc còn ở Nhân địa..... đời quá khứ, tại pháp hội của Đại mục Như lai, được nghe pháp lục độ vô cực, bèn lập thệ nguyện lớn, tu hạnh không tức giận, không dâm dục, trải qua nhiều kiếp tu hành, sau thành đạo dưới cây thất bảo, nay ở thế giới Diệu hỉ phương đông. Đồng thời, khuyên những ai muốn sinh về cõi Tịnh độ phương đông thì phải tu hành sáu độ và phát nguyện. Bộ kinh này có ba bản dịch, bản dịch đầu là A súc Phật quốc kinh. Bản thứ hai do ngài Chi đạo căn đời Đông Tấn dịch, đề là A súc Phật sát chư bồ tát học thành phẩm kinh (2 quyển, khuyết bản). Bản thứ ba do ngài Bồ đề lưu chi đời Đường dịch từ Đại bảo tích kinh Bất động Như lai hội 2 quyển. Kinh này là kinh xưa nhất trong các kinh Tịnh độ hiện còn, cùng với kinh Đại bát nhã, kinh Duy ma, có quan hệ mật thiết hoặc là tiên khu của kinh Đại A di đà. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, Q.3, Q.9].
a sư
(阿師) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng xưng hô đối với các vị hòa thượng thân thiết trong Thiền lâm. A là tiếng bắt đầu, sư chỉ sư gia (nhà thầy). Lâm tế lục thị chúng (Đại 47, 499 hạ): Hậu sinh tiểu a sư không hiểu, bèn tin sự tinh quái của con cáo già này.
a tha bà phệ đà
Atharvaveda or Atharvana (skt)—A Đạt Ba Tỳ Đà—A Thát Ba Đà—Kinh Vệ Đà thứ tư. Kinh nầy nói về thuật chú loại bỏ tai ương (đây là giáo điển của Bà La Môn ghi chép chú văn của việc tế tự và phép cầu đảo để tránh ác quỷ hay tai họa)—The fourth Veda, dealing with sorcery or magic.
a thi la bà na
Sravana (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (5).
a thuyết la bộ
Aisvarikas (skt)—Một trường phái thờ Thần ở Népal, đặt A Đề Phật lên hàng Tối Thánh—A theistic school of Nepal, which set up Adi-Buddha as a supreme divinity.
a thuyết tha
Asvattha (skt)—A Thấp Ba Tha—A Xá Ba Đà—A Thâu Tha. 1) Cây Bồ Đề: Bodhi-tree. 2) Vô Tội Thụ: Gọi là cây vô tội vì bất cứ ai đi quanh nó ba vòng sẽ hoàn toàn rũ bỏ mọi tội lỗi—No-sin tree, because whoever goes around it three times is rid of sin.
a thuyết tha thụ
(阿說他樹) A thuyết tha, Phạm:azvattha. Còn gọi là At thuyết tha thụ, Ba thấp ba tha thụ. Dịch ý là Cát tường thụ (cây tốt lành), Vô tội thụ (cây vô tội). Tên khoa học là Ficus religiosa. Là tên gọi khác của cây Tất ba la (Phạm: Pippala). Đức Phật Thích ca mâu ni đã thành chính giác dưới gốc cây A thuyết tha, vì thế còn gọi là cây Bồ đề. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 (Đại 35, 482 thượng): Cây A thuyết tha, Hán dịch là cây vô tội. Nghĩa là đi quanh cây này ba vòng có thể diệt được tội chướng, đó là cây Bồ đề. Vì đức Phật Thích ca mâu ni ngồi dưới gốc cây này mà thành đạo, cho nên, không những chỉ tín đồ Phật giáo tôn sùng, mà từ xưa cả Ấn độ cũng coi là cây Thần, dùng để làm các đồ cúng dường, hoặc khi cúng lửa thì dùng làm cây hộ ma. [X. Phật sở hành tán Q.3; Tô tất địa yết la cúng dường pháp; Hữu bộ tì-nại-da dược sự Q.1; Cao tăng Pháp hiển truyện] (xt. Bồ Đề Thụ).
a thuyết thị
Xem A xả bà thệ.
; (阿說示) Phạm:Azvajit, Pāli: Assaji. Là một trong năm vị tỉ khưu. Còn gọi là Ba thấp bà thị đa, A thấp phọc phạt đa, Ba thấp bà, A tì. Dịch ý là Mã thắng, Mã tinh...... Được kính xưng là Tôn giả Chính nguyện. Nghi dung đoan chính, đi đứng nghiêm trang, được người đương thời kính trọng. Một hôm, ngài gặp Xá lợi phất, vì thấy uy nghi khác thường, Xá lợi phất mới hỏi thầy của A thuyết thị là ai, nhân đó, A thuyết thị liền nói về đạo lí nhân duyên sinh diệt mà đức Phật đã dạy. Nghe rồi, Xá lợi phất bèn quay về theo Phật, sau chứng được Pháp nhãn tịnh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25, Q.34, Q.48; luận Đại trí độ Q.18].
a thuận na
Arjuna (skt). 1) Màu trắng bạc: White—Silvery. 2) Một loại cây: A kind of tree—See Arjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a thuận na thụ
(阿順那樹) A thuận na, Phạm:Arjuna. Còn gọi là Ngạch thuận na. Tên khoa học là Dentaptera arjuna. Là loại kiều mộc sinh sản ở Ấn độ, da cây láng bóng, mảnh lá to và sinh cặp đôi; rộng khoảng ba phân tây, dài độ mười sáu đến hai mươi phân tây, quả dài và hình vuông, không ăn được. Tương truyền là bồ tát Long thụ đã sinh ra ở dưới gốc cây này. [X. Long thụ bồ tát truyện; Trung quán luận sớ Q.1 phần đầu; Thập nhị môn luận Tông trí nghĩa kí Q.thượng].
a thuật đạt
(阿術達) Phạm: Asuddharta. Dịch ý là Vô sầu ưu (không lo sầu), Vô úy đức (đức không sợ). Là con gái của vua A xà thế, nước Ma yết đà, ở thời đại Phật. Lên mười hai tuổi đã có khả năng bàn luận đạo lớn. Cứ theo kinh A thuật đạt bồ tát chép, thì người con gái này năm mười hai tuổi, tướng mạo đẹp đẽ, nhan sắc bậc nhất, có thể luận bàn đạo lớn, mạnh dạn như thần, cúng dường vô ương số Phật.
a thuỳ
(阿誰) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là ai?. Chữ A là tiếng đầu tiên, âm là ốc, cách xưng hô đối với những người thân thiết, phần nhiều bắt đầu bằng tiếng A. Đời Ngụy Tấn trở về sau, phong tục này càng thịnh hành, hoặc đặt nó trên tên người, hoặc đặt trước tên chữ, hoặc đặt trước họ, như trong Tam quốc chí chép Ngô quốc Lữ mông, gọi là: A mông nước Ngô, cho đến người đời gọi trẻ con thường gọi A mỗ, vì thế A thùy hàm ý là ai?, ai đó?. Trong Thiền lâm, từ này thường được chuyển dụng để chỉ Phật tính, như Tha thị a thùy? (Người ấy là ai?), A thùy thoại đoạn chỉ? (Ai nói chuyện dứt giấy?), đều là những tiếng trên cửa miệng khi tham cứu các công án. Bởi vì, sự tham cứu về tính Phật mà ai ai cũng vốn có, là một việc lớn của Thiền môn. Đối với mệnh đề Tha thị a thùy? (Người ấy là ai?), đặc biệt dùng nghi vấn từ A thùy (ai?) để gọi thay Phật tính, đồng thời, lấy đó làm đối tượng tham cứu, khiến người ọc hiểu rằng, chủ từ Người ấy trong mệnh đề Người ấy là ai?, chẳng phải tìm cầu ở bên ngoài mà được, cũng chẳng phải chấp trước trong nội tâm mà có thể tìm được. Như Thiền tông vô môn quan, tắc 45 (Đại 48, 298 hạ): Thích ca, Di lặc cũng là đầy tớ của người ấy, thử nói người ấy là ai? (Lời của Đông sơn Diễn tổ sư).
a thát bà phệ đà
(阿闥婆吠陀) Phạm: Atharva-veda. Một trong các tập chính của sách Phệ đà. Là tập đồng cốt và chú thuật. Có bảy trăm ba mươi mốt bài ca tán, trong đó, khoảng một phần sáu đã thấy xuất hiện trong kinh Lê câu phệ đà. Chủ yếu là đồng cốt và chú thuật cầu phúc trừ tai, nhưng cũng bao hàm một ít tư tưởng triết học và khoa học. A thát bà (Phạm: Atharva) có thể là tên chữ của gia tộc Bà la môn trao truyền loại Phệ đà này. Thông thường, người ta cho niên đại hoàn thành sách này, so với các tập chính khác của Phệ đà, có muộn hơn. (xt. Phệ Đà).
a thát bà phệ đà kinh
Atharva-veda (S)Tên một bộ kinh. Vệ đà phái.
a thát vệ đà
Atharva-Veda (S). The fourth Veda, dealing with sorcery or magic.
a thâu kha
Em trai vua A Dục. Người ta nói Ma Thâu Kha lên ngôi được bảy ngày thì nhường ngôi cho vua A Dục—Younger brother of Asoka. He is said to have reigned for seven days and then resigned to Asoka.
a thúc ca
1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.
a thấp ba
(阿濕波) Phạm:Azvinau. Dịch ý là song mã đồng . Là con sinh đôi do Nhật thiên (Phạm:Sùrya) và Thiên nữ hóa ra ngựa cái A thấp tì ni (Phạm:Azvinì) sinh ra. Cứ theo Phật sở hành tán quyển 2 phẩm Nhập khổ hạnh lâm chép, thì khi đức Thích tôn sắp vào chỗ người tiên, các Phạm chí thấy hình tưóng của Ngài đẹp đẽ trang nghiêm, tám Bà tẩu thiên, hai Ba thấp ba, cho đến Nhật nguyệt thiên tử đều ngạc nhiên và vui mừng. Trong thần thoại Ấn độ, Ba thấp ba là ánh sáng rạng đông được nhân cách hóa, hoặc cưỡi ngựa, hoặc ngồi trên lưng chim, ngồi xe sắc vàng, là tiền khu của thần Lê minh (Phạm: Uwas). Anh em Ba thấp ba tuổi trẻ đẹp trai, thông minh linh lợi, đầu đội mũ hoa sen, mỗi ngày, lúc mờ mờ sáng, cưỡi ngựa lướt qua thiên không. Hình tượng của cả hai, có khi là một đôi ngựa con, đứng song song bằng vai nhau, đầu là hai ngôi sao sáng rực. Có thể cứu khổ cứu nạn, đặc biệt trị bệnh giỏi; khiến người mù lấy lại được ánh sáng, người tàn tật được lành lặn trở lại. Cũng có khả năng khiến người đắm thuyền được cứu sống, đàn bà sinh con, con gái lỡ thì lấy được chồng v.v... Trong Lê câu phệ đà, có hơn năm mươi bài thơ ca tụng Ba thấp ba [X. The Buddha - Carita of Azvaghosha (S.B.F., Vol. XLIX; V. Fausbôll: Indian Mythology].
a thấp ba quốc
(阿濕波國) Phạm: Azmakà, azvakà, Pāli: Assakà. Còn gọi là Phả tháp ba quốc, A nhiếp cụ quốc, A thấp ma già quốc. Là một trong mười sáu nước lớn tại Ấn độ thời đức Phật, là một phần của nước Án đạt la (Phạm: Andhara) thuộc nam Ấn độ. Nằm dọc theo bờ sông Cù đà (Phạm:Godàvarì, Pāli: Godhàvarì), đô thành là Bổ đát lạc ca (Phạm:Potalaka, Potala, Pāli: Potali, Potana). Nước này được cai trị bởi vua Phạm dự (Phạm:Brahmadatta), là một trong bảy vì vua được nói đến trong kinh Đại điển tôn (Mahàgovinda-suttanta) trong Trường bộ 19 văn Pāli Nam truyền. Trong kinh Bản sinh (Pāli: Jàtaka) 5, đem so sánh mối quan hệ giữa nước Ba thấp ba và nước A bàn đề với mối quan hệ giữa nước Ương già và nước Ma yết đà, suy đó thì biết, Ba thấp ba phụ thuộc nước A bàn đề. Lại theo Kinh tập chú (Pāli: Suttanipàta Aỉỉhakathànói, thì nhà bác học Bà la môn tên là Ba-bà-lê (Pāli: Bàvarì) đã xuất thân từ nước này, đang ở tại rừng Ca tỉ đạt (Pāli: Kapiỉỉavana), nghe thanh danh của đức Thế tôn, bèn sai muời sáu người đệ tử hàng đầu đến cầu pháp đức Thế tôn. Sau khi đến nơi, họ liền đặt các câu hỏi và đều được đức Thế tôn giải đáp; nội dung cuộc vấn đáp ấy tức là kinh Tập chương 5, phẩm Bỉ ngạn đạo (Pāli: Pàràyana - vagga). Sau họ đều trở thành đệ tử của đức Thế tôn. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; luật Tứ phần Q.39; luật Ngũ phần Q.21].
a thấp bà
Asva (skt)—Con ngựa—A horse.
a thấp bà củ sa
Asvaghosa (skt)—Mã Minh Bồ Tát—Asvaghosa Bodhisattva.
a thấp bà mê đà
Asvamedha (skt)—Tục lệ tế ngựa cổ truyền của Hoàng Gia Ấn Độ—The ancient Indian royal horse-sacrifice.
a thấp ma
Asman (skt)—Hòn sỏi, cục đá—A stone—A rock.
a thấp ma yết bà
Asmagarbha (skt). 1) Ngọc Bích: Emerald. 2) Mã Não: Agate.
a thấp phược thị
Xem A Thuyết Thị.
a thấp phạ du nhã
Asvayuja (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (7).
a thấp phạ phạt đa
Asvajit (skt)—A Thấp Bà Thị Đa—A Thuyết Thị—A Thấp Bà Thị. 1) Đoạt được ngựa trong cuộc tranh tài: Gaining horses by conquest. 2) Bồ Tát Mã Thắng là thầy của ngài Xá Lợi Phất, cũng là một trong năm vị Tỳ Kheo có cùng huyết tộc với Đức Phật: Name of one of the first five disciples and relative of Sakyamuni; teacher of Sariputra.
a thấp phọc dữu xà
(阿濕縛庾闍) Phạm:Azvayuja, Pāli: Assayuja. Là tháng thứ bảy trong mười hai tháng theo lịch pháp Ấn độ. Còn gọi là A thấp phạ dụ nhã mạ tẩy, Ba thấp bà dữu xà. Tương đương từ ngày mười sáutháng bảy đến ngày rằm tháng tám Âm lịch. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy; Đại đường tây vực kí Q.2; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. (xt. Lịch).
a thế da
Asaya (S). Disposition, mind; pleased to, desire to, pleasure.
; Asaya (skt). 1) Ý lạc: Pleased to—Desire to—Pleasure. 2) Chủng tử: Seed.
; (阿世耶) Phạm:Àzaya. Dịch ý là ưa. Còn gọi là A xa dã. Chỉ ý niệm ưa thích tham dục. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 nêu ra tham a thế da, sân a thế da, si a thế da và đẳng phần a thế da. Còn luận Câu xá quyển 14 thì lập thiện a thế da và bất thiện a thế da. Ngoài ra, cũng có chỗ A thế da được dịch là hạt giống. [X. Câu xá luận quang kí Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
a thỉ tống niệu
(屙屎送尿) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Như đi đại tiện gọi là a thỉ, đi tiểu tiện gọi là tống niệu. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 498 thượng): A thỉ tống niệu (đi ngoài, đi giải), mặc áo ăn cơm, nhọc mệt thì nằm, kẻ ngu cười ta, người trí mới biết. Từ ngữ này được dùng trong Thiền lâm để biểu thị sự sinh hoạt hàng ngày, không một việc gì không là việc Phật, không một hạnh gì không là hạnh Phật. Lâm gian lục quyển thượng thì chép (Vạn tục 148, 301 thượng): Từ Minh quở rằng: Mặc áo ăn cơm chẳng là rốt ráo, đi đại, đi tiểu (a thỉ tống niệu) chẳng là rốt ráo.
a thị đa
Xem A dật Đa.
; See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (阿氏多) Phạm:Ajita. Còn gọi A dật đa. Là tôn giả thứ mười lăm trong mười sáu vị La hán nhận giáo sắc của Phật, ở thế gian mãi mãi để cứu độ chúng sinh, cùng với một nghìn năm trăm vị La hán quyến thuộc cùng ở trên núi Linh thứu, là các bậc Thánh hộ trì chính pháp và làm lợi ích cho hữu tình. Hình tượng của ngài được vẽ tả không giống nhau. Cứ theo bức vẽ của Thiền nguyệt đại sư Quán hưu đời Đường, thì hai tay ôm đầu gối, miệng mở và nhìn lên, hàm răng để lộ và đã gãy một vài chiếc. Tây tạng truyền thì A thị đa là tôn giả thứ hai trong mười sáu vị La hán, ở trên núi Ưu thi la. [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; Đại minh tam tạng pháp số Q.45; La hán A Thị Đa đồ tán tập; E. Pander: Das Pantheon des Tschangtscha Hutuktu]. (xt. Thập Lục La Hán).
a thị đa phạt để
Ajiravati (skt)—A Li Da Bạt Đề—A Thị Da Phạt Để—A Chi La Bà Đề—Tên sông A Li La Bạt Đề (thời Đường gọi sông nầy là Vô Thắng, Đức Thế Tôn đã nhập diệt bên bờ sông nầy)—The river Hiranyavati.
a thị đa phạt để hà
(阿恃多伐底河) A thị đa phạt để, Phạm: Ajitavatì. Dịch ý là Vô thắng. Con sông ở nước Câu thi na yết la thuộc trung Ấn độ. Còn gọi là A thị đa bạt để hà, A nhĩ đa phạ để hà. Nói tắt là Bạt đề hà. Đức Thế tôn nhập Niết bàn bên tây ngạn con sông này, vì thế nó được nổi tiếng. Sông này cũng có người phiên là A lị la bạt đề hà. Đại đường tây vực kí chú quyển 6 (Đại 51, 903 trung): Các nhà dịch cũ phiên A lị la bạt đề hà là sai, trong sách nói Thi lại noa phạt để hà, dịch là sông có vàng. Tên dịch A lị la bạt để hà có xuất xứ từ kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 1, nhưng trong kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 1, thì lại dịch là A di la bạt đề hà. Lại luật Tứ phần quyển 36 thì gọi là A di la bà đề hà, luật Ngũ phần quyển 7, quyển 8, thì gọi là A di la hà. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 7 gọi là A dần la ba đế dạ giang, Hữu bộ tì nại da quyển 40, gọi là A thị la bạt-để hà. Đây có thể là tên dịch âm trong tiếngPāli Aciravatì. Ngoài ra, Thi lại noa phạt để hà còn được gọi là Hinh liên nhiên bát để hà, Hi liên nhã bà để hà, Hi liên thiền hà, Hê liên khê thủy, tương đương với tên Pāli Hiraĩĩavatì, tên PhạmHiraịyavatì, hàm nghĩa là có vàng. Tóm lại, ngài Huyền trang coi ba tênAjitavatì,Hiraịyavatì vàAciravatì cùng là một con sông. Về vị trí của con sông này, thì T. Watters cho là sông Can-đạt-khắc (Gandak) ngày nay; R. Bahàdur thì cho sông Tiểu lạp phổ đề (Little Rapti) ngày nay tức là sông A di la bạt đề ngày xưa, và cho sông Can đạt khắc là sông Thi lại noa phạt để ngày xưa. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Giải thuyết tây vực kí; Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol.II].
a thời phọc ca phái
(阿時縛迦派) A thời phọc ca, Phạm: Àjìvika, hoặc Àjìvaka. Dịch ý là người được sinh sống mà tu hành. Còn gọi là A thời bà ca phái, A dần bà ca phái. Là một trong những học phái tự do tư tưởng tại Ấn độ xưa, vào thời kì Phật giáo hưng khởi, địa vị của phái này trọng yếu ngang với phái Thuận thế ngoại đạo (Phạm: Lokàyata, dịch âm là Lộ già da đà). Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, thì đây là một phái tà mệnh, tà mệnh ngoại đạo. Đại biểu cho phái này là Mạt già Lê câu xá lê tử (Phạm: Maskarì Gozàlìputra), là một trong sáu phái ngoại đạo. Vào thời đại đức Phật, phái này cùng thịnh hành ở đời, song song với Phật giáo và Kì na giáo. Phái này chủ trương Vô nhân luận , Tự nhiên luận, cho rằng sự khổ vui của con người trong thế gian chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là sự kết hợp tự nhiên, khi kết hợp thì là được, mà khi phân tán thì là mất, đồng thời, thừa nhận có đất, nước, lửa, gió, hư không và linh hồn. Tư tưởng của phái này nay chỉ còn lờ mờ bàng bạc, đứt nối vụn vặt; nếu từ bối cảnh tư tưởng của Mạt già lê câu xá lê tử mà suy đoán, thì chủ trương của phái này là một loại Túc mệnh luận...... phủ định nhân quả.
a ti la hồng khiếm
(阿卑羅吽欠) Phạm: A vi ra hum kham. Chữ Tất đàm: . Chân ngôn của Đại nhật Như lai Thai tạng giới Mật giáo, tượng trưng sự nội chứng của Đại nhật Như lai. Đọc đủ là Án a tì la hồng khiếm sa bà ha. Vì chân ngôn chứa nhóm chủng tử của năm chữ này, cho nên còn gọi là Ngũ tự minh (chú năm chữ). Trong Mật giáo, năm chữ này còn tượng trưng cho năm nguyên tố: đất, nước, lửa, gió, không v.v... là những yếu tố sinh thành tất cả vũ trụ, vì thế đem năm chữ này phối với năm đại. Tức chữ A phối với địa đại, chữ Ti phối với thủy đại, chữ La phối với hỏa đại, chữ Hồng phối với phong đại, và chữ Khiếm phối với không đại. Vì chân ngôn này bao hàm hết thảy vạn tượng, cho nên, nếu người tu hành niệm Án, a tì la hồng khiếm sa bà ha, thì có thể thành tựu tất cả pháp. Cái đặc sắc của chân ngôn này là bắt đầu ở chữ Án (qui mệnh) mà chung kết ở sa bà ha (svàhà, thành tựu); bởi thế, trong Mật giáo coi đó là thần chú chung của chư Phật, là tổng ấn của Tát đỏa. [X. kinh Đại nhật Q.3 phẩm Tất địa xuất hiện, kinh Đại nhật sớ Q.11; Bí tạng kí].
a tra bà câu
Xem Vô tỷ lực.
a tra phạ ca
Xem Vô tỷ lực.
a trá li quốc
(阿咤厘國) A tra li, Phạm: Aỉali hoặc Atàri. Tên một nước xưa ở nam Ấn độ. Nằm vào miền thượng du sông Sa ba mã đề (Sabarmati) và miền trung du ông Mạc hà (Maki) về phía tây. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì nước này rộng hơn sáu nghìn dặm, dân cư đông đúc. Trồng nhiều hồ tiêu và cây huân lục hương. Dân chúng phần nhiều không tin Phật, có hơn mười ngôi đền thờ trời và ngoại đạo. Văn tự ngôn ngữ, nghi thức phép tắc, đại bộ phận đều giống như nước Ma lạp bà. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết tây vực kí].
a trá nẵng chi
(阿吒曩胝) Pāli: Àỉànaỉà. Còn gọi là A tra na kiếm, A tra phiệt để, A noa vãn đa, A ni bàn đa. Dịch ý là đông người nhóm họp. Là một trong các cung điện của Tì sa môn thiên. [X. Trường bộ kinh 32, kinh A tra nẵng đê].
a trá nẵng chi hộ kinh
Xem A trá nẵng chi Minh hộ kinh.
a trá nẵng chi minh hộ kinh
Atanaiyaparitta sūtra (P), Atanatiyarakkha-sutta (P)Tên một bộ kinh.
a tu la
Aśurā (S), Semi-god Phi thiên(Một loại chúng sanh) Một loại thần có phước lớn nhưng không bằng chư Thiên, có thần thông biến hoá, nhưng thân hình thô xấu vì kiếp trước có tánh hay sân hận. Một trong bát bộ, gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già.
; Asura (skt & p)—A Tu Luân—A Tô La—A Tố La—War gods. 1) Á thần A Tu La, người hay nổi cơn giận và bản tính thích đánh lộn. Chữ A Tu La có nghĩa là xấu xí, không thánh thiện—Asuras—The realm of demi-gods—An inverterately angry person, subject to frequent outburst of anger—A devil (unruly being) who is fond of (love to) fighting by nature. The word “Asura” means “ugly” or “ungodly.” 2) Vị Thần thường đánh nhau với Vua Trời Đế Thích—Spirits or even the gods, enemies of Indra. 3) Còn một loại A-tu-la khác với loại á thần hay chiến đấu với chư Thiên, loại nầy sống trên Ba-Mươi-Ba Tầng Trời, được coi như trong số các chư Thiên—There is another kind of Asuras which are distinguished from the asuras that combat the gods of the Tavatimsa heaven, who are included among the Tavatimsa gods. 4) Một loại chúng sanh hành xử cả thiện lẫn ác, cả trời lẫn quỷ: A kind of beings having functions both good and evil, both deva and demon. 5) A Tu La cũng có cảnh gới, cung điện như chư Thiên, nhưng không phải là chư Thiên vì hình thể rất xấu xí—Asuras also have realms, rulers and palaces, as have the devas; but they are not devas for their forms are very ugly. ** For more information, please see Asura in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and A Tu La in Vietnamese-English Section.
; (阿修羅) Phạm:Asura, gọi tắt là Tu la. Là một trong sáu đường, một trong tám bộ chúng, một trong mười giới. Còn gọi là A tác la, A tô la, A tố la, A tố lạc, A tu luân. Dịch ý là Phi thiên, Phi đồng loại, Bất đoan chính. Các nhà dịch cũ dịch là Bất tửu, Bất ẩm tửu, có thể là dịch lầm. A tu la là một trong các thần xưa nhất A Tu La tại Ấn độ, thuộc loại quỉ thần chiến đấu, thường bị coi là ác thần và liên tục tranh đấu với Đế thích thiên (thần Nhân đà la) đến nỗi đã xuất hiện các từ Tu la tràng, Tu la chiến. Cứ theo kinh Tăng nhất A hàm quyển 3 phẩm A tu luân chép, thì thân hình thần A tu la chu vi tám vạn bốn nghìn do tuần, miệng rộng một nghìn do tuần. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20 phẩm A tu luân, kinh Đại lâu thán quyển 2 phẩm A tu luân, kinh Khởi thế nhân bản quyển 5 v.v... đều có chép tường tận về chỗ ở và sự tích của thần này. Về nghiệp nhân của A tu la, các kinh phần nhiều nêu ra ba loại là tức giận, kiêu căng và nghi kị. Còn kinh Phật vị thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt, thì liệt kê mười loại sinh nhân của A tu la: 1. Thân làm chút ác, 2. Miệng nói chút ác, 3. Ý nghĩ chút ác, 4. Khởi tâm kiêu mạn, 5. Khởi tâm ngã mạn, 6. Khởi tâm tăng thượng mạn, 7. Khởi tâm đại mạn, 8. Khởi tà tâm mạn, 9. Khởi tâm mạn mạn, 10. Quay về các thiện căn. Ngoài ra, cây đàn mà A tu la cầm, đặc biệt gọi là đàn A tu la. Khi A tu la muốn nghe một nhạc khúc nào thì cây đàn tự nhiên đánh ra. Như thế thì A tu la cũng có nhiều phúc đức. Về hình tượng của A tu la cũng có nhiều thuyết, có thuyết bảo chín đầu nghìn mắt, miệng khạc ra lửa, chín trăm chín mươi chín tay, sáu chân, thân hình to gấp bốn lần núi Tu di, có thuyết lại nói một nghìn đầu hai nghìn tay, một vạn đầu hai vạn tay, ba đầu sáu tay, cũng có thuyết bảo ba mặt mầu xanh thẫm, dáng phẫn nộ và khỏa hình, sáu cánh tay. [X. kinh Trường a hàm Q.10, Q.21; luận Đại trí độ Q.10, Q.11, Q.30; Phật địa kinh luận Q.6; Quan âm kinh nghĩa sớ kí Q.4; Pháp hoa kinh văn cú Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].
a tu la cầm
(阿修羅琴) Chỉ cây đàn của A tu la. Khi A tu la muốn nghe nhạc, không cần phải đánh đàn, mà đàn có thể tự phát ra khúc nhạc theo ý muốn, đó là nhờ nhân phúc đức của A tu la mà được như thế. Luận Đại trí độ lấy đó để thí dụ với Pháp thân Bồ tát, tâm không phân biệt, cứ tự nhiên ứng với căn cơ của chúng sinh mà nói pháp giáo hóa. [X. luận Đại trí độ Q.17; Pháp hoa huyền nghĩa Q.6].
a tu la thuyết ngũ niệm xứ tam thập bát phẩm
(阿修羅說五念處三十八品) Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 2 chép, theo truyền thuyết, A tu la ghen ghét Phật nói pháp, Phật vì chư thiên nói bốn niệm xứ thì A tu la nói năm niệm xứ; Phật nói ba mươi bảy phẩm đạo, thì A tu la nói ba mươi tám phẩm; thường bị tâm tà khúc ngăn che, nghi kỵ sợ hãi mà nhiễu hại chính pháp.
a tu la tứ sinh
(阿修羅四生) Quả báo của A tu la cũng rất tốt, gần bằng các trời, nhưng không giống các trời, vì thế gọi A tu la (hàm ý không phải trời). Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 chép, vì sức nghiệp dắt dẫn, A tu la phải sinh trong bốn loài: loài đẻ bọc, loài đẻ trứng, loài sinh ở nơi ẩm ướt, và loài hoá sinh. 1.Loài đẻ trứng, nghĩa là, nếu ở trong đường quỉ, nhờ sức giữ gìn pháp, dùng thần thông vào hư không, loại A tu la này từ trong trứng sinh ra, thuộc thế giới quỉ. 2.Loài đẻ bọc, nghĩa là nếu ở trong cõi trời mà hết phúc đức, phải rơi xuống, thì chỗ ở của loài này gần mặt trời mặt trăng, loài A tu la này từ trong bọc (thai) sinh ra, thuộc cõi người. 3.Loài sinh ở nơi ẩm ướt, nghĩa là loài A tu la hèn kém hơn, khởi tâm biển cả mà chìm ở trong nước, buổi sáng chơi giỡn nơi hư không, buổi chiều về ngủ dưới nước. Vì từ nơi ẩm ướt mà có, nên loài A tu la này thuộc về cõi súc sinh. 4.Loài hóa sinh, nghĩa là loài A tu la nắm giữ thế giới, có thế lực lớn, không sợ một ai, dám tranh quyền với trời Phạm vương, trời Đế thích, vua Bốn trời. Loài A tu la này vì biến hóa mà có, nên thuộc về cõi trời. (xt. A Tu La).
a tu la vương
(阿修羅王) Vua trong đường A tu la. Trong các kinh điển nêu ra nhiều tên vua A tu la, trong đó, kinh Pháp hoa phẩm tựa, kể bốn tên vua đại A tu la là: Bà trĩ, Khư la khiên đà, Tì ma chất đa la và La hầu, mỗi vua đều có trăm nghìn quyến thuộc. Kinh Khởi thế nhân bản quyển 5 cũng kể bốn vua đại A tu la, đồng thời nói cả chỗ ở. A tu la vương Tì ma chất đa la ở dưới bể lớn, một nghìn do tuần về phía đông núi Tu di, đất nước rộng tám vạn do tuần, có bảy lớp thành vách, vương thành gọi là Thiết ma bà đế, nơi hội họp ở trung ương gọi là Thất đầu; A tu la vương Dũng dược ở dưới bể lớn, một nghìn do tuần về phía nam núi Tu di, đất nước rộng tám vạn do tuần. A tu la vương Xa bà la ở dưới bể lớn, một nghìn do tuần về phía tây núi Tu di; A tu la vương La hầu la ở dưới bể lớn, một nghìn do tuần về phía bắc núi Tu di, cung điện đẹp đẽ cũng như cung điện của Tì ma chất đa la. Kinh chính pháp niệm xứ quyển 18 đến quyển 21, cũng lại tường thuật về nơi ở của bốn đại A tu la vương, cung điện, vườn rừng, người hầu, thể nữ, nghiệp nhân và thọ mệnh. Các A tu la vương được liệt kê trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 1, thì có La hầu, Tì ma chất đa la, Xảo ảo thuật, Đại quyến thuộc, Đại lực, Biến chiếu, Kiên cố hạnh diệu trang nghiêm, Quảng đại nhân tuệ, Xuất hiện thắng đức và Diệu hảo âm thanh v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Trường a hàm Q.20 phẩm A tu luân; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Phật vị thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Đại trí độ Q.30]. (xt. A Tu La).
a tu la đạo
(阿修羅道) Gọi tắt là Tu la đạo. Là một trong sáu đạo. Phần nhiều do ba nhân tức giận, kiêu căng và nghi kị mà thụ sinh, là nơi sinh của loài đại lực thần, thường ôm lòng tức giận và thích đánh nhau. Ngoài ra còn chỉ thế giới của A tu la, trạng thái sinh tồn của A tu la. (xt. Lục Đạo, A Tu La).
a tu la.
Asura (S). Originally meaning a spirit, spirits, or even the gods, it generally indicates titanic demons, enemies of the gods. They are defined as "not devas", and "ugly", and "without wines"
a tu vân
Asvin (S)Thần Hải lộ, Thần Y dược.
a tì
Avici (S) The last and deepest of the eight hot hells, where the culprits suffer, die, and are instantly reborn to suffering without interruption.
a tì bạt trí
Xem Bất thoái.
; Xem A bệ bạt trí.
a tì du già
Ati-yogā (S).
a tì già la
Abhicāra (S)Tên một loài quỷ.
a tì tam phật đa
bhisambuddha (S) Hiện đẳng giác, name of a buddha.
a tì tam phật đà
Xem Hiện đẳng Phật.
; (阿毗三佛陀) Phạm,Pāli: abhhisambuddha. Còn gọi là A duy tam Phật, A tì tam Phật. Dịch ý là hiện đẳng giác, chỉ người đã thành tựu chính giác. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.3].
a tì đàm
Abhidharma (S). Vi diệu pháp Analytic doctrine of Buddhist Canon.
a tì đàm bát kiền độ luận
(阿毗曇八犍度論) Gồm ba mươi quyển. Do ngài Ca chiên diên tử trước tác, các ngài Tăng già đề bà và Trúc phật niệm cùng dịch vào năm Kiến nguyên thứ 19 (383) đời Phù Tần, thu vào Đại chính tạng tập 26. Sách này là bản dịch khác của bộ A tì đạt ma phát trí luận. Kiền độ, dịch ý là tụ, có nghĩa là chứa nhóm. Vì các thiên, chương trong bộ luận này cộng có tám tụ, cho nên gọi là Bát kiền độ luận. (xt. A Tì Đạt Ma Phát Trí Luận).
a tì đàm môn
(阿毗曇門) Có nghĩa là các bộ luận Phát trí và Lục túc là cửa đi thông vào Niếtbàn, cho nên gọi là A tì đàm môn. Tương đối với Côn lặc môn và Không môn. Luận Đại trí độ quyển 18 (Đại 25, 192 hạ): A tì đàm môn, hoặc Phật tự nói nghĩa các pháp, hoặc Phật tự nói tên các pháp, rồi các đệ tử thu tập lại mà giải thích nghĩa lí. Nương vào A tì đàm môn mà thành lập tông, gọi là A tì đàm tông. [X. luận Đại trí độ Q.2]. (xt. Côn Lặc Môn).
a tì đàm sư
(阿毗曇師) Phạm: Àbhidhàrmika, hoặc Àbhidharmika. Dịch ý là Luận sư. Chỉ người thông suốt Luận tạng, hoặc giỏi nghị luận. Đức Thế tôn cũng thường được xưng là luận sư. Xưa nay lấy các ngài Pháp cứu, Diệu âm, Thế hữu và Giác thiên gọi chung là Bà sa hội tứ đại luận sư (bốn vị luận sư lớn của hội Bàsa). Phật giáo Đại thừa lấy các ngài Mã-minh, Long thụ, Đề bà và Đồng thụ gọi chung là Tứ nhật luận sư (bốn vị luận sư mặt trời); lại lấy mười sư Hộ pháp, Đức tuệ v.v... gọi chung là Duy thức thập đại luận sư(mười luận sư lớn của Duy thức học). Lại cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 chép, thì Tứ nhật luận sư thêm Thắng thụ luận sư nữa, gọi là Ngũ luận sư. [X. luận Đại tì bà sa Q.105; luận Thành duy thức thuật kí Q.2; Đại đường tây vực kí Q.4, Q.12]. (xt. Ngũ Luận Sư).
a tì đàm tâm luận
Abhidharma-hrdaya-sàstra (S). Book of Elements.
; (阿毗曇心論) Phạm: Abhidharmahfdaya - zàstra. Gồm bốn quyển. Gọi tắt là Tâm luận. Do ngài Pháp thắng trước tác, các ngài Tăng già đề bà và Tuệ viễn đời Đông Tấn cùng dịch,thu vào Đại chính tạng tập 28. Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy luận Phát trí, luận Lục túc làm cơ sở, rồi biên tập luận Đại tìbàsa mà xác định rõ lập trường của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Vì luận Đại tì bà sa quá to lớn nên, năm 520, ngài Pháp thắng đem tóm tắt bằng hai trăm năm mươi bài kệ mà thành luận này, là một trong các bộ luận trọng yếu của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Luận này giải thích các khái niệm cơ bản của Phật giáo Tiểu thừa, như: hữu lậu, vô lậu, sắc pháp, mười tám giới, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy đạo phẩm. Nội dung chia làm mười phẩm, tức Giới phẩm, Hành phẩm, Nghiệp phẩm, Sử phẩm, Hiền thánh phẩm, Trí phẩm, Định phẩm, Khế kinh phẩm, Tạp phẩm và Luận phẩm. Tại Ấn độ, sự nghiên cứu và học tập bộ luận này, đã từng thịnh hành một thời, và có mấy bộ luận giải thích về nó. Vào năm Thái nguyên thứ 9 (384) đời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, ngài Tăng già đềbà đem dịch ra Hán văn, đến năm thứ 16, ngài Tuệ viễn chỉnh lí thành bốn quyển. Các bản dịch khác thì có A tì đàm tâm luận kinh, 6 quyển, do các ngài Naliênđềdaxá và Pháp trí cùng dịch vào đời Bắc Tề; Tạp a tì đàm tâm luận 11 quyển, do ngài Tăng già bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, đều thu vào Đại chính tạng tập 28. [X. Tam luận huyền nghĩa; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
a tì đàm tâm luận kinh
Abhidharma-hrdaya-sàstra-sùtra (S). -id-
a tì đàm tì bà sa luận
(阿毗曇毗婆沙論) Gồm sáu mươi quyển. Do các ngài Phù đà bạt ma và Đạo thái đời Bắc Lương cùng dịch, thu vào Đại chính tạng tập 28. Là bản dịch khác của luận A tì đạt ma đại tì bà sa. Cứ theo bài tựa của ngài Đạo đĩnh nói, thì luận này nhằm chú thích tám Kiền độ, lúc đầu dịch thành một trăm quyển, nhưng vì Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy đánh phá Bắc Lương, nên kinh sách bị thiêu hủy cả, về sau rơi rớt chỉ còn thu nhặt lại được có sáu mươi quyển. Trong sáu mươi quyển, chỉ chú thích có ba Kiền độ Tạp, Sử, Trí, còn năm Kiền độ kia đều bị mất. Đời sau gọi luận này là Bà sa cũ. Còn bản dịch mới là A tì đạt ma đại tì bà sa luận, hai trăm quyển, do ngài Huyền trang dịch. (xt. A Tì Đạt Ma Đại Tì Bà Sa Luận).
a tì đạt ma
(阿毗達磨) Phạm: Abhidharma, Pāli: Abhidhamma. Là một trong ba tạng. Còn gọi là A tì đàm, A tị đạt ma, Tì đàm. Dịch ý là Đối pháp, Đại pháp, Vô tỉ pháp, Hướng pháp, Thắng pháp, Luận. Cùng với Kinh (Phạm: Sùtra), Luật (Phạm:Vinaya) gọi chung là ba tạng (nói chung về Thánh điển của Phật giáo), cho nên cũng gọi là A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Đối pháp tạng hoặc Luận tạng v.v... A tì đạt ma vốn chỉ sự nghiên cứu giáo pháp. Nếu nghiên cứu tạng Luật, thì gọi là A tị nại da. Về sau, nói rộng đến cả việc tường thuật, luận cứu hai tạng Kinh và Luật đều cũng gọi là A tì đạt ma. Nó được thành lập vào khoảng trước sau Tây lịch, lúc đầu, chỉ đơn giản qui nạp một số danh từ Phật giáo, sau dần dần trở thành hình thức giải thích. Mãi đến thời đại Phật giáo bộ phái, thì các phái có thế lực, đều thành lập A tì đạt ma riêng của mình, từ đó, giáo học theo hình thức triết học thâm thúy phồn tạp bắt đầu khai triển. Luận Câu xá quyển 1 chép, A tì đạt ma thắng nghĩa là dùng trí tuệ đối quán lí bốn đế, là trí tuệ đối hướng Niết bàn tối cao, có đủ ý nghĩa tuệ, vô lậu. A tì đạt ma hiện còn, chủ yếu có hai loại là Thượng tọa bộ (văn Pāli) và Thuyết nhất thiết hữu bộ (lấy Hán dịch làm chủ), nhất là loại sau đã phôi thai ra Phật giáo Đại thừa, nên lại càng có một ý nghĩa đặc biệt. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, nêu lên bảy nghĩa của A tì đạt ma: 1. Đối pháp (đối hướng, đối quán) 2. Sổ pháp 3. Phục pháp 4. Thông pháp 5. Vô tỉ pháp 6. Đại pháp 7.Thích pháp [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1; luận Phân biệt công đức Q.1; Câu xá luận sớ Q.1 (Thần thái); Đại thừa nghĩa chương Q.1].
a tì đạt ma câu xa
bhidharma-kosa (S). -id-
a tì đạt ma câu xá hiển tông luận
Abhidharma-kosa-samaya-pradipika-sàstra (S).
a tì đạt ma câu xá luận
Abhidharma-kosa-sàatra (S). -id-
; (阿毗達磨俱舍論) Phạm: Abhidharmakoza-zàstra. Gọi tắt là Câu xá luận. Dịch ý là Đối pháp tạng luận, Thông minh luận. Là tập đại thành giáo lí của Phật giáo bộ phái, là sách cương yếu của luận Đại tì bà sa. Bồ tát Thế thân (Phạm: Vasubandhu) trước tác vào năm 450 Tây lịch. Hán dịch có hai bản, một do ngài Chân đế dịch vào năm Thiên gia thứ 4 (563) đời Trần là A tì đạt ma câu xá thích luận 22 quyển, đời gọi là Câu xá cũ; một do ngài Huyền trang dịch vào năm Vĩnh huy thứ 2 (651) đời Đường, 30 quyển, là giáo pháp chủ yếu trước nay của tông Pháp tướng, đời gọi là Câu xá mới. Cả hai bản đều được thu vào Đại chính tạng tập 29. Bộ luận này được nghiên cứu rộng rãi cả ở Ấn dộ, Trung quốc, Tây tạng và Nhật bản, những sách chú thích ưu tú cũng rất nhiều. Đối với việc lí giải Phật giáo Bộ phái và nền tảng của Phật giáo Đại thừa, luận Câu xá có một giá trị rất lớn. Ngài Thế thân tuy một mặt lấy giáo học của Thuyết nhất thiết hữu bộ làm tiêu chuẩn, nhưng, mặt khác, cũng lấy thái độ phê phán để giới thiệu học thuyết của Kinh lượng bộ và Đại chúng bộ, đứng trên lập trườnglí trường vi tông mà viết luận Câu xá. Lại các kinh điển Đại thừa và các luận thư Đại thừa lấy giáo học của Hữu bộ làm cơ sở, hoặc để bác xích Hữu bộ mà viết ra, cũng chiếm đa số. Vì lẽ luận Câu xá là kết quả của thái độ phê phán, đem giáo học phồn tạp của Hữu bộ chỉnh lí mà thành, cho nên nó được các học giả của cả Đại thừa và Tiểu thừa trân trọng. Giáo lí của bộ luận này, phần nhiều được trích ra từ luận Đại tì bà sa và, theo truyền thuyết, thể hệ và phương pháp chỉnh lí giáo lí trong luận này đã chịu ảnh hưởng của luận Tạp a tì đàm tâm của ngài Pháp cứu. Luận Câu xá căn bản là phản ánh cái học thuyết chủ yếu của Hữu bộ về thế giới, nhân sinh và tu hành mà hiện đang lưu hành tại Ca thấp di la vào thời bấy giờ, đồng thời, hấp thu nhiều quan điểm của Kinh lượng bộ. Nội dung được cấu thành bởi tám phẩm Giới, Căn, Thế gian, Nghiệp, Tùy miên, Hiền Thánh, Trí và Định, ngoài ra, lại phụ thêm phẩm Phá ngã mà thành chín phẩm. Trong đó: 1.Giới phẩm 2.Căn phẩm, thuyết minh thế giới hiện thực (vật chất và tinh thần giới), thành lập yếu tố Pháp, đồng thời, thuyết minh các danh tướng hữu vi, vô vi, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi hai căn, sáu nhân bốn duyên v.v... 3.Thế gian phẩm, thuyết minh thế giới sinh vật (hữu tình) từ địa ngục cho đến các cõi trời, và thế giới vật lí (khí thế giới), đồng thời, giới thiệu vũ trụ quan và địa lí thuyết của Ấn độ, ngoài ra, còn giải thuyết mười hai duyên khởi, thuyết minh tướng trạng luân hồi, đó tức là Nghiệp cảm duyên khởi luận.4.Nghiệp phẩm, thuyết minh nguyên nhân của luân hồi, và chia nhỏ các chủng loại nghiệp. 5.Tùy miên phẩm, tường thuật phiền não, phân loại thành sáu đại phiền não, mười tùy miên, tám mươi tám sử, một trăm lẻ tám phiền não, đồng thời, giới thiệu quá khứ, vị lai, hiện tại, ba đời thực có để mà bác bỏ. Ba phẩm Thế gian, Tùy miên và Nghiệp là chỉ bày rõ cái thế giới mê vọng (hữu lậu). 6.Phẩm Hiền thánh, thì chia các giai vị ngộ nhập làm vị phàm phu là am hiền, Tứ thiện căn, Thánh vị là Tứ song bát bối, rồi thuyết minh phép quán để ngộ nhập, tức là Tứ đế thập lục hiện quán. 7.Trí phẩm, thuyết minh mười trí là thế tục trí, pháp trí và loại trí v.v... là trí tuệ đạt được khai ngộ, đồng thời, thuyết minh mười tám pháp bất cộng. 8.Định phẩm, ngoài sự thuyết minh Thiền định căn bản đưa đến Thánh trí, còn thuyết minh các Thiền định khác, như Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tam giải thoát môn và Tứ vô lượng tâm v.v... 9.Phá ngã phẩm, thì đứng trên lập trường vô ngã để bác bỏ cái phi tức phi li uẩn ngã của Độc tử bộ và cái ngã của Thắng luận, rồi trình bày rõ đạo lí vô ngã. Như trên đã nói, luận Câu xá đem giáo lí bao la phồn tạp của Tì bà sa chỉnh lí thành tám phẩm một cách tuyệt kĩ, thể hệ nghiêm chỉnh, luận chỉ rõ ràng, đứng đầu các luận, là sách cương yếu của giáo học Hữu bộ. Các học giả xưa nay, khi bàn về tông chỉ của luận Câu xá, thì có người bảo nó thuộc Hữu bộ, có người cho trong hai mươi bộ, Câu xá chỉ lấy đạo lí làm tông chỉ, có người bảo nó là tông khác của Kinh bộ, lại có người cho là vâng theo Hữu bộ v.v... ý kiến rất khác nhau. Tại Trung quốc, sau khi luận Câu xá được dịch ra thì lấy nó thay cho tông Tì đàm. Luận Câu xá được truyền đến Nhật bản vào thời đại Nại lương và thành lập tông Câu xá, và cái truyền thống lấy luận Câu xá làm nền tảng cho sự nghiên cứu học tập vẫn còn kéo dài đến ngày nay. Phật giáo Ấn độ và Tây tạng cũng nghiên cứu luận này một cách rộng rãi. Nguyên bản tiếng Phạm đã được phát hiện ở Tây tạng, nhưng chỉ ấn hành kệ tụng mà thôi. (V.V. Gokhale: The Text of the Abhidharmakozakàrikà of Vasubandhu, 1946), luận Câu xá gốc thì được xuất bản tại Ba đặc na (Patna) Ấn độ (P. Pradhan: Abhidharmakoza-bhàwya of Vasubandhu, 1967). Kệ tụng và luận Câu xá đều có bản dịch Tây tạng, đó là: Chos-mon-pa#i mdsod-kyi tshig le#ur byas-pa (Abhidharmakozakàrikà, bản Bắc kinh 115, pp. 115 - 127) và Chos-mon-pa#i mdsos-kyi bzad-pa (Abhidharmakoza-bàwya, bản Bắc kinh 115, pp. 127 - 283). Cứ theo truyền thuyết, tại Ấn độ đã từng có các ngài Đức tuệ, Thế hữu, An tuệ, Trần na, Xứng hữu, Tăng mãn (Phạm: Pùrnavardhana), Tịch thiên (Phạm: Zamathadeva) v.v... chú thích Câu xá, nhưng hiện nay chỉ còn bản của ngài Xứng hữu. Còn có U. Wogihara: Sphuỉàrthà Abhidharmakozavyàkhyà, 1 - 7 (Tokyo, 1932 - 1936), bản chú thích này cũng có bản dịch Tây tạng và rất được coi trọng. Tức là: Chos-monpa#i mdsod-kyi hgrel-bzad (Abhid-harmakozatikà, bản Bắc kinh 116, pp. 43 - 117). Ngoài bản chú thích này ra, Tây tạng vẫn còn giữ được các bản chú thích của các ngài Tăng mãn, Tịch thiên và Trần na. Hán dịch thì có: Câu xá luận thực nghĩa sớ của An tuệ, năm quyển nhưng thiếu sót, bản Đôn hoàng có sách này (thu vào Đại chính tạng tập 29), Chú sớ câu xá của Chân đế mười sáu quyển, Nghĩa sớ 53 quyển đã thất lạc. Các chú thích bản dịch của ngài Huyền trang thì có: Câu xá luận kí ba mươi quyển của Phổ quang và Câu xá luận sớ ba mươi quyển của Pháp bảo, trước nay được coi là sách chỉ nam cho việc nghiên cứu luận Câu xá. Câu xá luận tụng sớ ba mươi quyển của sư Viên huy cũng được coi trọng, bản sớ này bỏ bớt các phần tranh luận, giải thích giáo lí của Hữu bộ một cách rõ ràng và đơn giản, vì thế dễ hiểu. Năm gần đây, người Nhật tên là Húc nhã soạn bộ Quán đạo câu xá luận cũng thường dẫn dụng sách của Viên huy. Pháp tuyên soạn Câu xá luận giảng nghĩa, giúp ích rất nhiều cho người mới học. Trung quốc thì có bộ Câu xá luận tụng giảng kí của Diễn bồi. [X. Đại đường tây vực kí Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.8; A tìđạt ma luận đích nghiên cứu (Mộc thôn thái hiền), Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận (Mộc thôn thái hiền viết, Diễn bồi dịch); Câu xá luận đích nguyên điển giải minh (Sơn khẩu ích, Chu kiều nhất tai); Th. Stcherbasky: The Central Conception of Buddhism and the Meaning of the word Dharma, London 1923; O. Rosenberg: Die Probleme der buddhistischen Philosophie, Heidelberg, 1924].
a tì đạt ma câu xá luận bản tụng
Abhidharma-kośa-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.
a tì đạt ma câu xá luận chú yếu nghĩa đăng
Abhidharmakośa-marmapradīpa (S)Tên một bộ luận kinh do Ngài Trần Na biên soạn.
a tì đạt ma giáo nghĩa cương yếu
Abhidhamma-sangaha (P). Collection of the Significations of Abhidharma.
; (阿毗達磨教義綱要) Pāli: Abhidhammatthasagaha. Còn gọi là Nhiếp a tì đạt ma nghĩa luận. Là tác phẩm ưu tú nhất trong giáo lí cương yếu của Phật giáoPāli. Cứ theo sự suy đoán, thì tác phẩm này được soạn vào khoảng năm 1100 Tây lịch, do một học giả người Tích lan là A na luật (Pāli: Anuruddha). Bộ sách được chia làm chín phẩm, tức là: 1. Nhiếp tâm phân biệt 2. Nhiếp tâm sở phân biệt 3. Nhiếp tạp phân biệt 4. Nhiếp lộ phân biệt 5. Nhiếp li lộ phân biệt 6. Nhiếp sắc phân biệt 7. Nhiếp tập phân biệt 8 Nhiếp duyên phân biệt 9. Nhiếp nghiệp xứ phân biệt Sách này thâu tóm giáo học A tì đạt ma của Phân biệt thuyết bộ và trình bày một cách gọn gàng sáng sủa. Tác giả của bộ sách đã kế thừa luận Nhập a tì đạt-ma của các ngài Phật âm (Pāli: Buddhaghosa, sinh vào giữa thế kỉ thứ V) và Phật thụ (Pāli: Buddhadatta, người hậu tiến cùng thời đại với Phật âm), đồng thời, những bộ phận giáo lí nào chưa được đề cập đến trong các sách luận trở về trước, thì thêm vào và xếp đặt một cách mới mẻ, vì thế, bộ sách này là sách cương yếu rất tốt cho những người mới học.
a tì đạt ma giới thuyết luận
Abhidhamma-dhàtu-kathà (P). Book of the Origin of things.
a tì đạt ma giới thân túc luận
Abhidharmadhātu-kāya-pāda-śāstra (S), Book of Elements Giới Thân Túc Luận, Giới thân LuậnA tỳ đạt ma kinh luận của Nhất thiết hữu bộ, tương đương kinh A tỳ đạt ma Giới thuyết luận của Thượng tọa bộ. Do Ngài Thế Hữu biên soạn.
; Abhidharma-dhàtu-kàya-pàda-sàstra (S). Book of Elements.
; (阿毗達磨界身足論) Phạm: Abhidharma-dhàtu-kàyapàda. Gồm ba quyển. Do ngài Thế hữu viết và ngài Huyền trang đời Đường dịch vào năm Long sóc thứ 3 (663). Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ giới thân túc luận. Gọi tắt là Giới thân túc luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Là một trong sáu túc luận A tì đạt ma. Luận này chia làm hai phẩm, đó là: 1.Bản sự phẩm, trình bày mười đại địa pháp, mười đại phiền não địa pháp, mười tiểu phiền não địa pháp, năm phiền não, năm kiến, năm xúc, năm căn, năm pháp, sáu thức thân, sáu thụ thân, sáu tưởng thân, sáu tư thân, sáu ái thân v.v... 2.Phân biệt phẩm, tóm tắt chia làm mười sáu môn, mở rộng lập tám mươi tám môn, phân biệt tâm sở và năm thụ, sáu thức, vô tàm vô quí tương ứng hay bất tương ứng, và uẩn, xứ, giới cùng với tâm sở tương ứng hay bất tương ứng. Ngoài ra, về tác giả của bộ luận này, còn có nhiều thuyết khác, Câu xá thích luận bằng tiếng Phạm của ngài Xứng hữu và truyền thuyết Tây tạng, đều chép là do ngài Phú lâu na (Phạm:Pùruịa) trước tác. [X. luận Câu xá quang kí Q.1; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
a tì đạt ma lục túc luận
(阿毗達磨六足論) Phạm: Waỉ-pàda-zàstra. Tức chỉ chung sáu bộ luận làm điểm tựa cho Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Còn gọi là Lục phần A tì đàm. Đó là: A tì đạt ma tập dị môn túc luận, A tì đạt ma pháp uẩn túc luận, Thi thiết túc luận, A tì đạt ma thức thân túc luận, A tì đạt ma phẩm loại túc luận, A tì đạt ma giới thân túc luận. Về các tác giả của sáu bộ luận trên đây cũng có thuyết khác nhau. Theo ngài Huyền trang, bốn bộ trước là do các tôn giả Xá lợi tử, Đại mục kiền liên, Đại ca đa diễn na (chưa được truyền dịch) và Đề bà thiết ma làm, còn hai bộ sau là do tôn giả Phiệt tô mật đa la (Thế hữu) viết. Lại ba luận trước được soạn lúc Phật còn tại thế, ba luận sau được soạn sau Phật nhập diệt. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Câu xá quang kí Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.10; The Jewelry of Scripture by Bu-ston (Jahrbuch des Instituts für Buddhismuskunde, Vol.II].
a tì đạt ma nhân thi thiết luận
Abhidhamma-puggala-pannati (P). Book of Person
a tì đạt ma pháp tụ luận
Abhidhamma-dhammasangani (P). Book of the Elements of existence.
a tì đạt ma pháp uẩn túc luận
Abhidharma-skandha-pàda-sàstra (S) Book of things.
; (阿毗達磨法蘊足論) Phạm: Abhidharma-dharmaskandha-pàda.Ngài Đại mục kiền liên trứ tác, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ pháp uẩn túc luận. Gọi tắt là Pháp uẩn túc luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Là một trong sáu túc luận Atìđạtma. Luận này là tác phẩm đem các pháp tích tụ quí báu phổ thí cho quần sinh, cho nên được đặt tên như vậy. Toàn bộ chia làm hai mươi mốt phẩm, tức là: Học xứ phẩm, Dự lưu phẩm, Chứng tịnh phẩm, Sa môn quả phẩm, Thông hành phẩm, Thánh chủng phẩm, Chính thắng phẩm, Thần túc phẩm, Niệm trụ phẩm, Thánh đế phẩm, Tĩnh lự phẩm, Vô lượng phẩm, Vô sắc phẩm, Tu định phẩm, Giác chi phẩm, Tạp sự phẩm, Căn phẩm, Xứ phẩm, Uẩn phẩm, Đa giới phẩm và Duyên khởi phẩm. Trong bài Bạt của mình, ngài Tĩnh mại đã khen luận này (Đại 26, 513 hạ): Bộ luận này là then chốt của A tì đạt ma, là nguồn lớn của Nhất thiết hữu bộ vậy. Nếu đem so sánh với bảy bộ luận trong tạng Luận Pāli, thì nội dung luận này với nội dung luận Tì băng già (Pāli: Vibhaga, Phân biệt luận) rất là giống nhau. Ngoài ra, về tác giả của luận này cũng có thuyết khác nhau, Câu xá thích luận, bằng tiếng Phạm, của Xứng hữu và truyền thuyết Tây tạng đều cho là do ngài Xálợiphất trước tác. [X. luận Câu xá quang kí Q.1; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
a tì đạt ma phát trí luận
Abhidharma-jnàna-prasthàna-sàstra (S). Book of the Beginning of knowledge.
; (阿毗達磨發智論) Phạm:Abhidharma-jĩàna-prasthàna. Gồm hai mươi quyển, Tôn giả Ca đa diễn ni tử viết sau Phật nhập diệt ba trăm năm, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ phát trí luận. Gọi tắt là Phát trí luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Bộ luận này cùng với sáu luận Tập dị môn túc v.v... gọi chung là bảy luận, lại vì nghĩa môn của sáu luận ít, cho nên dùng chân (túc) làm thí dụ gọi là Túc luận (luận chân); còn luận Phát trí văn nghĩa đầy đủ cho nên dùng mình (thân) làm thí dụ gọi là Thân luận (luận mình). Bảy luận này là những luận căn bản của Thuyết nhất thiết hữu bộ tông. Luận này lấy học thuyết của Thuyết nhất thiết hữu bộ làm nội dung cơ bản, rồi bàn đến các vấn đề được tranh luận giữa các bộ phái Phật giáo đương thời. Tất cả có tám uẩn (chương), chia làm bốn mươi bốn phẩm, đó là: 1.Tạp uẩn, thuyết minh các pháp bốn thiện căn, bốn Thánh quả, hữu dư Niết bàn, vô dư Niết bàn v.v... Chương này có tám phẩm là: Thế đệ nhất pháp nạp tức, Trí nạp tức, Bổ đặc già la nạp tức, Ái nạp tức, Vô tàm nạp tức, Tướng nạp tức, Vô nghĩa nạp tức và Tư nạp tức. 2.Kết uẩn, thuyết minh các loại kết sử như: ba kết, năm cái v.v...; gồm bốn phẩm: Bất thiện nạp tức, Nhất hạnh nạp tức, Hữu tình nạp tức và Thập môn nạp tức. 3.Trí uẩn, thuyết minh bậc Thánh dứt trừ hoặc chướng mà được trí vô lậu; có năm phẩm là Giác chi nạp tức, Ngũ chủng nạp tức, Tha tâm trí nạp tức, Tu trí nạp tức, Thất thánh nạp tức. 4.Nghiệp uẩn, thuyết minh các hành vi thiện ác do ba nghiệp thân, khẩu, ý phát động; có năm phẩm là Ác hành nạp tức, Tà ngữ nạp tức, Hại sinh nạp tức, Biểu vô biểu nạp tức và Tự nghiệp nạp tức. 5.Đại chủng uẩn, đứng về phương diện ba đời thuyết minh các sắc pháp thiện ác do bốn đại chủng tạo nên; có bốn phẩm là Đại tạo nạp tức, Duyên nạp tức, Cụ kiến nạp tức và Chấp thụ nạp tức. 6.Căn uẩn, đứng về phương diện bốn quả và ba đời thuyết minh các sắc pháp sáu căn, năm căn v.v... Có bảy phẩm là Căn nạp tức, Hữu nạp tức, Xúc nạp tức, Đẳng tâm nạp tức, Nhất tâm nạp tức, Ngữ nạp tức và Nhân duyên nạp tức. 7.Định uẩn, thuyết minh định của chư thiên trong ba cõi và định của Nhị thừa tu hành có nhiều thứ khác nhau. Có năm phẩm là Đắc nạp tức, Duyên nạp tức, Nhiếp nạp tức, Bất hoàn nạp tức và Nhất hạnh nạp tức. 8.Kiến uẩn, thuyết minh hai kiến đoạn, thường của phàm phu ngoại đạo và sáu mươi hai thứ kiến giải khác nhau. Có sáu phẩm là Niệm trụ nạp tức, Tam hữu nạp tức, Tưởng nạp tức, Trí nạp tức, Kiến nạp tức và Già tha nạp tức. Luận này còn có bản dịch khác gọi là A tì đàm bát kiền độ luận, hoặc là Ca chiên diên A tì đàm, A tì đàm kinh bát kiền độ, do Tăng già đề bà và Trúc phật niệm cùng dịch vào năm Kiến nguyên 19 (338), đời Phù Tần, gồm ba mươi quyển, và thu vào Đại chính tạng tập 26. [X. luận Đại tì bà sa Q.1, luận Đại trí độ Q.2, luận Câu xá Q.1, luận Câu xá quang kí Q.1, Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3, Q.8].
a tì đạt ma phân biệt luận
Abhidhamma-vibhanga (P). Book of Classifications.
a tì đạt ma phẩm loại túc luận
Abhidharma-praka-rana-pàda-sàstra (S). Book of Literature.
; (阿毗達磨品類足論) Phạm: Abhidharma-prakaraịa-pàda. Gồm mười tám quyền. Do ngài Thế hữu sáng tác, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ phẩm loại túc luận. Gọi tắt là Phẩm loại túc luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Là một trong sáu túc luận A tì đạt ma. Nhân vì năm pháp, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới v.v... quá nhiều và chủng loại không đồng nhau, nên luận này bèn tùy từng phẩm loại mà điều hợp nghĩa lí, thu nhiếp tất cả pháp, trọn vẹn đầy đủ mà không hỗn loạn. Nội dung chia làm tám phẩm là: Biện ngũ sự phẩm, Biện chư trí phẩm, Biện chư xứ phẩm, Biện thất sự phẩm, Biện tùy miên phẩm, Biện nhiếp đẳng phẩm, Biện thiên vấn phẩm và Biện quyết trạch phẩm. Những bản dịch khác của bộ luận này còn có: - Chúng sự phận a tì đàm luận (mười hai quyển tám phẩm, cũng thu vào Đại chính tạng tập 26), do Cầu na bạt đà la và Bồ đề da xá đời Lưu Tống cùng dịch. - Ngũ sự tì bà sa luận, tôn giả Pháp cứu soạn, Huyền trang dịch. - Tát bà đa tông ngũ sự luận, Pháp thành dịch. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Câu xá quang kí Q.1; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
a tì đạt ma song đối luận
Abhidhamma-yamaka (P). Book of Pairs.
a tì đạt ma thi thiết túc luận
Abhidharma-prajnapti-pàda-sàstra (S). Book of Descriptions.
a tì đạt ma thuyết sự luận
Abhidhamma-kathà-vatthu (P). Book of Controversies.
a tì đạt ma thuận chính lí luận
(阿毗達磨順正理論) Phạm: Abhidharma-nyāyānusāra. Gồm tám mươi quyển. Ngài Chúng hiền soạn, ngài Huyền trang đời Đường dịch, thu vào Đại chính tạng tập 29. Còn gọi là Tùy thực luận, Câu xá bạc luận. Gọi tắt là Thuận chính lí luận, Chính lí luận. Tất cả có hai vạn năm nghìn bài tụng tám mươi vạn lời. Chia làm tám phẩm: 1.Biện bản sự phẩm: nói rõ ba loại uẩn, xứ, giới bao hàm hết thảy pháp. 2.Biện sai biệt phẩm: nói rõ sự sai biệt của hai mươi hai căn, bài bác sự cố chấp về vô nhân....., nhất nhân ......, bất bình đẳng nhân ............ 3.Biện duyên khởi phẩm: nói rõ ba cõi, năm ngả, bảy thức trụ, chín chỗ ở của hữu tình, bốn loài, trung hữu....., mười hai nhân duyên và tướng thế gian của hữu tình phi tình. 4.Biện nghiệp phẩm: biện thuyết các nghiệp. 5.Biện tùy duyên phẩm, thuyết minh phiền não. 6.Biện hiền thánh phẩm: trình bày hành quả của Hiền Thánh. 7.Biện trí phẩm: thuyết minh đoạn đạo. 8.Biện định phẩm: nói về các Thiền định. Luận này đứng trên lập trường của Hữu bộ mà đả phá luận Câu xá của ngài Thế thân, là sách tuyên dương tông nghĩa của Hữu bộ, là trước tác không thể thiếu trong việc nghiên cứu luận Câu xá. [X. Đại đường tây vực kí Q.4; Đại đường nội điển lục Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục. Q.9].
a tì đạt ma thuận chính lý luận
Abhidharma-nyànyà-nusàra-sàstra (S). -id-
a tì đạt ma thập dị môn túc luận
Abhidharma-sangiti-paryàya-pàda-sàstra (S) Book of Recitations. Nhập A tì đạt ma luận. Abhidharmàvatàra-sàstra (S). -id-
a tì đạt ma thức thân túc luận
Abhidharma-vijnàna-kàyapàda-sàstra (S). Book of knowledge.
; (阿毗達磨識身足論) Phạm: Abhidharma-vijĩàna-kàyapàda. Gồm mười sáu quyển. Ngài Đề bà thiết ma (Phạm: Devazarman, dịch ý là Thiên tịch, Hiền tịch) trước tác, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ thức thân túc luận. Gọi tắt là Thức thân túc luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Là một trong sáuTúc luận A tì đạt ma. Luận này thuyết minh thức tâm và nhục thân ứng nhau đầy đủ, nên phải tu hành đúng như pháp. Có bảy nghìn bài tụng, chia làm sáu phẩm, tức là: Mục kiền liên uẩn, Bổ đặc già la uẩn, Nhân duyên uẩn, Sở duyên duyên uẩn, Tạp uẩn, Thành tựu uẩn. Phẩm đầu luận phá thuyết quá khứ vô thể hiện tại hữu thể của Mục kiền liên, kiến lập giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ, phẩm thứ hai, luận phá thuyết hữu ngã của các nhà chủ trương Bổ đặc già la, phẩm thứ ba trở đi, trình bày giáo nghĩa, nêu rõ thuyết Ngã không pháp hữu. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
a tì đạt ma tạng
(阿毗達磨藏) Phạm: Abhidharma-piỉaka. Còn gọi là Luận tạng, Đối pháp tạng. Tạng thứ ba trong ba tạng. Gọi chung tất cả các bộ luận. Trong các kinh điển Hán dịch, thuộc về Luận tạng thì có các bộ luận Tiểu thừa, như: Lục túc luận, Phát trí luận, Đại tì bà sa luận, và các luận Đại thừa, như: Đại trí độ luận, Thập trụ tì bà sa luận, Thập địa kinh luận, Du già sư địa luận, Thành duy thức luận, Nhiếp đại thừa luận, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận v.v... Trong ba tạng Pāli, thuộc Luận tạng thì có bảy bộ luận thư, tương đương với Lục túc luận của Hữu bộ và thêm Luận sự (Pāli: Kathà - vatthu). Trong tạng kinh Tây tạng, kinh điển thuộc Luận tạng được thu vào trong kinh Bát nhã. Ngoài ra, tông thú của tạng A tì đạt ma gọi là Đối pháp tông. [X. luận Câu xá Q.30]. (xt. Tam Tạng).
a tì đạt ma tạng hiển tông luận
(阿毗達磨藏顯宗論) Phạm: Abhidharma-koza-samayapradìpikà. Gồm bốn mươi quyển. Do ngài Chúng hiền soạn, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Hiển tôn luận, thu vào Đại chính tạng tập 29. Trước đó, ngài Chúng hiền đã trứ tác luận Thuận chính lí để phá luận Câu xá của ngài Thế thân, nhưng sau vì văn luận Thuận chính lí quá rộng lớn, khó nắm bắt, nên ngài lại tóm tắt thành luận này, chuyên chú chỉ rõ nghĩa chính, chia làm chín phẩm, tức là: Tự phẩm, Biện bản sự phẩm, Biện sai biệt phẩm, Biện duyên khởi phẩm, Biện nghiệp phẩm, Biện tùy miên phẩm, Biện Hiềnthánh phẩm, Biện trí phẩm, và Biện chính phẩm. Ngoài phẩm tựa trình bày về lí do làm luận ra, còn chỗ cốt yếu của tám phẩm kia đều giống với luận Thuận chính lí. Luận này và luận Thuận chính lí là những tư liệu tham khảo không thể thiếu đối với các học giả nghiên cứu luận Câu xá. [X. Đại đường nội điển lục Q.9; Khai nguyên thích giáo lục, Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9]. (xt. ATìĐạt Ma Thuận Chính Lí Luận).
a tì đạt ma tạng, luận tạng
Abhidharma-pitaka (S). Basket of Philosophocal treatises of the Doctrine.
a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí
(阿毗達磨雜集論述記) Gồm mười quyển. Sư Khuy cơ (632-682) đời Đường soạn. Còn gọi là Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí, Tạp tập luận thuật kí, Đối pháp luận sớ, Đối pháp sao, thu vào Vạn tục tạng tập 74. Là sách chú thích bản dịch Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận của ngài Huyền trang. Sư Khuy cơ đã dùng lời văn sáng, gọn, dựa vào truyền thống A tì đạt ma mà luận thuật giáo nghĩa Duy thức. Nội dung chia làm hai phần lớn là Bản sự và Quyết trạch, rồi lần lượt trình bày sáu môn là: Giáo khởi sở nhân, Luận hưng sở vi, Chương thể tính, Hiển tông chỉ, Thích đề mục và Giải bản văn. Nhưng ở quyển cuối trong Vạn tục tạng có ghi thêm rằng, luận này từ quyển 5 trở đi, lời văn đã thấy rườm rà, e không phải lời văn của người chú thích.
a tì đạt ma tập di môn túc luận
(阿毗達磨集异門足論) Phạm: Abhidharma - saôgìti - paryàya - pàda. Gồm hai mươi quyển. Ngài Xá lợi phất trước tác, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ tập dị môn túc luận. Gọi tắt là Tập dị môn túc luận, thu vào Đại chính tạng tập 26. Là một trong sáu Túc luận A tì đạt ma. Để dự phòng sự tranh cãi sau khi Phật nhập diệt, cho nên ngài Xá lợi phất đã soạn luận này, và chia làm mười hai phẩm, Duyên khởi phẩm thứ nhất, chỉ bày rõ nguyên do Xá lợi phất thay Phật để kết tập pháp luật. Từ Nhất pháp phẩm thứ hai đến Thập pháp phẩm thứ mười một, chỉ bày rõ pháp môn một pháp cho đến mười pháp. Khuyến thỉnh phẩm thứ mười hai, chỉ bày rõ sự ấn khả của Phật. Luận này thường dẫn Pháp uẩn túc luận, vì thế hẳn đã được viết sau Pháp uẩn túc luận. Toàn bộ luận có một vạn hai nghìn bài tụng, hiện nay còn lưu truyền tám nghìn bài. Ngoài ra, về tác giả của bộ luận này cũng có nhiều thuyết, Câu xá luận thích bản tiếng Phạm của ngài Xứng hữu và truyền thuyết Tây tạng đều cho là tác phẩm của ngài Chấp đại tạng (Phạm: Mahàkauwỉhila). [X. luận Câu xá quang kí Q.1; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
a tì đạt ma đăng luận
(阿毗達磨燈論) Phạm: Abidharmadìpa with Vibhàwàprab-hàvftti, do Sàôkftyàyana tìm được bản viết tay tại Tây tạng vào năm 1937 Tây lịch, đến năm 1959, ini hiệu đính và xuất bản. Nội dung được cấu thành bởi hai bộ phận:Abhidharmadìpa văn vần (Phạm:Kàrikà), và bộ phận chú thích Vibhàwàprabhàvftti văn xuôi, đây là một bộ luận Tiểu thừa. Tác giả tự nhận mình là ngọn đèn (Phạm:Dìpakàra), và gọi Thế thân là nhà biên soạn tạng Luận (Phạm: Kozakàra).Sách này lấy việc phản đối và phê phán luận Câu xá làm luận điểm căn bản, đồng thời, theo lập trường của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Quan điểm của sách này cũng giống như quan điểm trong luận Thuận chính lí và luận Hiển tôn của ngài Chúng hiền (Phạm: Saôghabhadra), tức lấy sự phê bình luận Câu xá làm tôn chỉ. Nội dung chủ yếu là tường thuật năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới. Phê phán Thế thân về vấn đề hữu lậu pháp tùy tăng (Phạm: Anuzerate). Đồng thời, theo truyền thống Tì bà sa sư, chủ trương thuyết Căn kiến. Ngoài ra, về hạng mục hữu đối thì cũng tương đồng với A tì đàm tâm luận kinh và Câu xá luận, có dẫn dụng một bài tụng của ngài Đồng thụ (Phạm:Kumàralàta), đó là điểm khiến người ta chú ý.
a tì đạt ma đại thừa kinh
(阿毗達磨大乘經) Tây tạng: Chos-mon-pa theg-pachen-po#i mdo. Còn gọi là A tì đạt ma kinh (Phạm:Abhidharma-sùtra), Đại thừa a tì đạt ma. Bản gốc tiếng Phạm, bản dịch Tây tạng và bản Hán dịch của kinh này đều không còn, chỉ còn được viện dẫn hoặc trích thuật trong sách luận của phái Du già. Các Phật điển đã từng dẫn dụng kinh này thì có Duy thức tam thập tụng thích (Phạm: Triôzikà-bhàwya) bằng tiếng Phạm của ngài An tuệ, dẫn dụng một chỗ, Trung biên phân biệt luận sớ (Phạm: Madhyàntavibhàgaỉikà) dẫn dụng hai chỗ. Hán dịch thì có Nhiếp đại thừa luận bản dẫn dụng tám chỗ, Đại thừa a tì đạt ma tập luận quyển 7, Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận quyển 16, Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 của ngài Vô tính, Duy thức nhị thập tụng thuật kí v.v..., mỗi bộ đều viện dẫn một chỗ, lại trong kinh Vô tận ý được dẫn ở luận Quảng thích bồ đề tâm, cũng thấy có tên A tì đạt ma kinh. Sự quan hệ giữa bộ kinh này và luận Nhiếp đại thừa, cứ dựa vào đoạn kinh văn mở đầu và kết thúc trong Nhiếp đại thừa luận bản thì biết, ngài Vô trước viết luận Nhiếp đại thừa là để thông suốt nghĩa lí mà giải thích tóm tắt kinh này trong phẩm Nhiếp đại thừa, nhưng, ngài Chân đế đời Trần, dịch luận Nhiếp đại thừa bảo (Đại 31, 113 trung): Luận Nhiếp đại thừa tức là giáo lí của A tì đạt ma và Đại thừa tu đa la. Từ đó suy ra thì biết, A tì đạt ma đại thừa không phải là một bộ kinh đặc biệt nào. Tuy nhiên, thông thường người ta cho rằng, Nhiếp đại thừa luận bản là căn cứ vào Thập thắng tướng được trình bày trong kinh A tì đạt ma đại thừa để bàn một cách khái quát về yếu nghĩa chung của Đại thừa. [X. Hán dịch tứ bản đối chiếu Nhiếp đại thừa luận (Tá tá mộc nguyệt tiều); Nhiếp đại thừa luận nghiên cứu (Vũ tỉnh bá thọ); Căn bản trung dữ không (Cung bản chính tôn)].
a tì đạt ma đại tì bà sa luận
Abhiharmahāvibhāṣā-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; (阿毗達磨大毗婆沙論) Phạm: Abhidharmamahàvibhàwàzàstra. Gồm hai trăm quyển. Gọi tắt là Đại tì bà sa luận, Bà sa luận, Bà sa. Do ngài Huyền trang dịch, thu vào Đại chính tạng tập 27. Luận này là sách chú thích luận A tì đạt ma phát trí của ngài Ca đa diễn ni tử, nói rõ pháp nghĩa, liệt kê đủ các thuyết khác nhau được biên tập xong tại Ca thấp di la (Phạm:Kazmìra, nay làKashmir) bắc Ấn độ, vào khoảng từ năm 100 đến 150 sau Tây lịch, là tập đại thành của giáo lí Phật giáo bộ phái. Tương truyền, vua Ca nị sắc ca, thuộc Vương triều Quí sương, cùng với Hiếp tôn giả, triệu thỉnh năm trăm vị La hán để biên tập, trải qua mười hai năm mới hoàn thành, đây tức là cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư. Nội dung của bộ luận này là thu tập các bản chú thích của các luận sư giải thích về luận Phát trí, một Thánh điển căn bản của Thuyết nhất thiết hữu bộ, và, cũng hệt như Phát trí, chia làm tám uẩn (tám chương) là: Tạp, Kết, Trí, Nghiệp, Đại chủng, Căn, Định và Kiến. Tổng kết chủ trương lí luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ một cách có hệ thống, đồng thời, đối với các quan điểm của Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Hóa địa bộ, Ẩm quang bộ, Độc tử bộ, Phân biệt thuyết bộ, cho đến các quan điểm của Số luận, Thắng Luận, Thuận thế luận và Kì na giáo v.v... đều có phê phán và bác xích. Vấn đề trung tâm là tư tưởng Tam thế thực hữu và Pháp thể hằng hữu. Nhờ biên tập xong luận Bà sa mà giáo nghĩa của Phật giáo Bộ phái được tuyên dương rộng rãi, và đối với Phật giáo Đại thừa, cũng có ảnh hưởng rất lớn. Bản dịch khác là A tì đàm tì bà sa luận, gồm sáu mươi quyển, tương đương với bộ phận từ quyển thứ một trăm mười một trở về trước trong bản dịch của ngài Huyền trang, do các ngài Phù đà bạt ma và Đạo thái đời Bắc Lương cùng dịch, người ta gọi là Bà sa cũ, thu vào Đại chính tạng tập 28. Cả hai bộ luận này đều là những tư liệu rất quí báu cho việc nghiên cứu Phật giáo Bộ phái. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Câu xá quang kí Q.2; Đại đường tây vực kí Q.2, Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.10; Đại đường nội điển lục Q.5].
a tì đạt ma đại tỳ bà sa luận
Abhidharma-mahà-vibhàsa-sàstra (S). -id-
a tì địa ngục
Avìchì (S). One of the most frightful hell.
a tông
(阿鍐) Là hai chữ bí mật và trọng yếu trong Mật giáo, được dùng để biểu thị Thai tạng giới và Kim cương giới. Chữ (a) là chủng tử Lí pháp thân của đức Đại nhật Như lai ở Thai tạng giới; chữ (vaô = tông) là chủng tử Trí pháp thân của Đại nhật Như lai ở Kim cương giới. Bởi thế, hai chữ này được dùng làm chủng tử lí và trí của Thai tạng bộ, Kim cương bộ và có thể đại biểu cho hai bộ lớn này của Mật giáo.
a túc tra
Ariṣṭa (S).
a tăng
Xem Vô trước Bồ tát.
a tăng gia
sanga, Aryàsanga (S). Vô trước, unattached, free; lived probably the fourth century A.D. said to be the eldest brother of Thiên Thân Vasubhandu, whom he converted to Mahàyàna. He was first a follower of the Mahìsàsaka school, but founded the Yogàcàrya, or Tantric school with his Yogà-càrabhùmi-sàstra Du già sư địa luận, which in the Tam Tạng Truyện is said to have been dictated to him by Maitreya in the Tusita heaven, alomg with the Trang nghiêm đại thừa luận and Trung biên phân biệt luận.
a tăng già
Asanga (skt)—See Vô Trước.
a tăng khư
Xem Vô trước Bồ tát.
a tăng kì
Asankhya, Asankhyeya (S). Innumerable, countless.
; (阿僧祇) Phạm:Asaôkhya. Là một trong những số mục của Ấn độ, hàm ý là số vô lượng, hoặc là số cực lớn. Còn gọi là A tăng già, A tăng xí da, A tăng, Tăng kì. Dịch ý là không thể tính đếm, hoặc là vô lượng số, vô ương số. Cứ gọi một A tăng kì thì có một nghìn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu (vạn vạn là ức, vạn ức là triệu), trong sáu mươi loại đơn vị số mục của Ấn độ, A tăng kì là số thứ 52. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 177 chép, thì có ba loại A tăng xí da, tức là: 1. Kiếp a tăng xí da, lấy đại kiếp làm một, tích chứa đến Lạc xoa câu chi, dần dà cho đến quá số Bà yết la. 2. Sinh a tăng xí da, chỉ mỗi mỗi kiếp trải vô số đời. 3. Diệu hành a tăng xí da, trong mỗi mỗi kiếp tu vô số diệu hạnh. Do ba loại a tăng xí da ấy mà chứng Vô thượng giác. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.45 phẩm A tăng kì; luận Câu xá Q.12 phẩm Phân biệt thế gian; luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Ngũ Thập Nhị Số).
a tăng kỳ
Asankhya (S). Asaṃkhyā (S), Innumberable. Aeon Một khoảng thời gian dài không đếm được
; Asankhya (skt)—Vô lượng—Vô số kể—Có 47 con số “không” theo sau số “một” làm thành một A Tăng Kỳ—Innumerable—Countless—There are 47 number “zero” after number “1” to make one asankhya.
a tăng kỳ kiếp
Xem a tăng kỳ.
; Là số thời gian lâu vô lượng.
; Vô lượng kiếp—Asankhyeya kalpas (skt)—Countless eons.
a tăng kỳ sinh
Asaṁkhyeya (P).
a tư tiên
Asita-rsi (skt)—A Tư Đà—A Thị Đa. 1) Vị Tiên trong quá khứ đã nói Kinh Pháp Hoa cho Đức Phật (trong một tiền kiếp) nghe—A rsi who spoke the Saddharma-pundarika-sutra to Sakyamuni in a former incarnation. 2) Đạo Sĩ A Tư Đà đã vào hoàng cung xem tướng cho Thái Tử Sĩ Đạt Đa lúc ngài mới đản sanh—The aged saint who pointed out the Buddha-signs on Buddha's body at his birth—See A Tư Đà.
a tư yết lợi phái
(阿斯羯利派) Pāli: Asgiri-nikàya. Còn gọi là A tư sơn phái. Là một trong các giáo phái chủ yếu thuộc phái Tiên la của Phật giáo Tích lan, hệ thống Thượng tọa bộ. Phái này được hình thành vào giữa thế kỉ XIX, tổng bộ đặt tại chùa A tư yết lị ở Kandy, các tỉ-khưu lệ thuộc phái Phạt na bà tư (Pāli: Vanavàsin), chủng tộc Tăng già la và họ Cù duy già mỗ, chủ yếu tu Thiền định. Chuyên quản trị các Phật học viện và các cơ cấu nghiên cứu thuộc phái mình, đồng thời, cùng chung với phái Ma nhĩ phạt đa, trông coi chùa Răng Phật ở Kandy. Lãnh tụ tối cao gọi là Ma ha na da ca (Pāli: mahànàyaka, đại đạo sư) và A nỗ na da ca (Pāli: anunàyaka, phó đạo sư) do hội Tăng già tuyển chọn, giữ chức trọn đời. Phái này có rất nhiều ruộng đất và tá điền, đối với chính trị cũng có ảnh hưởng lớn.
a tư đa
sita (S). Name of a master.
a tư đà
Asita (skt)—Một ẩn sĩ thông thái trong thành Ca Tỳ La Vệ, bây giờ thuộc Nepal. Khi Thái tử Sĩ Đạt Đa đản sanh, vua Tịnh Phạn đã cho mời ông đến xem tướng Thái tử. A Tư Đà nhận biết 32 tướng tốt nơi một bậc vĩ nhân của Thái tử, tiên đoán rằng Thái tử Sĩ Đạt Đa sẽ trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương trong cõi thế vào tuổi 29, nhưng nếu xuất thế Ngài sẽ đạt được trí tuệ tối thượng và sẽ thành Phật—Asita, a hermit sage, or the seer, of Kapilavastu, modern Nepal. When Prince Siddhartha was born, King Shuddhodana asked Asita to come and examine the newborn child's physiognomy. Asita, perceiving the thirty-two features of a great man, foretold that if the boy remained in the secular world, he would become a wheel-turning (supreme) king by the age of twenty nine, but if he renounced the secular life, which was more probable, he would achieve supreme wisdom and attain Buddhahood. ** For more information, please see Asita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (阿私陀) A tư đà. Phạm: Asita. Cũng gọi A tư đa, A tư đá, A tư tra, A tư hoặc A di. Là vị tiên ở nước Ca tì la vệ, thuộc trung Ấn độ. Khi đức Thích tôn giáng sinh, ông tiên này đến xem tướng cho Ngài và đoán là Ngài sẽ thành Phật. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 7 đến quyển 10 chép, thì tiên A tư đà đủ năm thần thông, thường ra vào tự do nơi hội họp tại tầng trời Ba mươi ba, từng ở rừng Tăng trưởng, nam Ấn độ, quan sát điềm lành thác thai của Bồ tát, sau nghe Thái tử giáng sinh, bèn cùng với người hầu là Na la đà (Phạm:Nàlaka) đến cung vua Tịnh phạn để xem tướng Thái tử, thấy có tướng tốt của bậc đại trượng phu, bèn đoán trước, nếu Thái tử xuất gia, tất sẽ thành chính giác, được đạo bồ đề, chuyển vô thượng tối diệu pháp luân. Lại tự than mình đã già, không còn sống để đợi kịp ngày Thái tử thành đạo để được giáo hóa, do đó buồn rầu mà khóc, sau bảo người hầu Na la đà xuất gia để chờ ngày Thái tử thành đạo. [X. Phật sở hành tán Q.1; kinh Thụy ứng bản khởi Q.thượng; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng]. II. A tư đà. Là người tiên ở đời quá khứ đã nói kinh Pháp hoa cho Phật nghe. Ở nhân vị đời quá khứ, khi Phật làm vua, đi bốn phương cầu pháp, không hề biếng nhác, được người tiên này nói kinh Pháp hoa cho nghe. Kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Đề bà đạt đa (Đại 9, 34 hạ): Người nào vì tôi mà nói Đại thừa thì tôi sẽ trọn đời cung cấp mọi thứ và chịu sự sai khiến. Khi ấy có người tiên đến nói với vua rằng: Tôi có Đại thừa gọi là kinh Diệu pháp liên hoa, nếu không trái ý tôi thì tôi sẽ nói. Người tiên nói trên đây, tức là A tư đà và là tiền thân của Đề bà đạt đa. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.9 phần đầu].
a tư đà đạo sĩ
Asita (S).
a tị khiếu hoán
(阿鼻叫喚) Hình dung cái trạng thái cực khổ của chúng sinh trong địa ngục A tị. Những chúng sinh lúc sống làm ác, sau khi chết phải rơi vào địa ngục A tị (Phạm: avìci, vô gián) hoặc địa ngục Khiếu hoán, chịu các cực hình đau đớn quá mà phải kêu gào. Trong hai địa ngục khiếu hoán và A tị, thì đặc biệt chúng sinh ở địa ngục A tị phải chịu các nỗi khổ mãnh liệt hơn, vì địa ngục A tị là một trong tám địa ngục lớn, nằm ở tầng dưới cùng của các địa ngục, là nơi mà các chúng sinh đại nghịch đại ác sau khi chết phải đọa vào, chúng sinh chịu khổ cực kì đau đớn nên kêu gào thảm thiết, vì thế gọi là A tị khiếu hoán.
a tị đà yết lạt nã tăng già lam
(阿避陀羯剌拿僧伽藍) Phạm: Avidhakarịa-saôghàràma. Dịch ý là Chùa không xỏ vòng tai. Chùa ở phía đông nước Ba la ni tư (Phạm: Vàràịasì) thuộc trung Ấn độ, cách thủ phủ (nay làGhàzìpur) nước Chiến chủ (Phạm, Pāli: Yudhapati) hơn sáu mươi cây số về phía đông. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7 nói, thì ngôi chùa này không được rộng lắm, nhưng chạm trổ rất tinh vi mĩ thuật, cây cối hoa lá và hồ nước trong giao hòa nhau, đình đài lầu gác thiết kế rất thứ lớp, tăng chúng đi đứng nghiêm túc, uy nghi tề chỉnh.Về nguyên do tên ngôi chùa từ đâu mà ra, thì cứ theo truyền thuyết, có hai, ba sa môn hiếu học, người nước Đổ hóa la ở phía bắc Đại tuyết sơn, cùng phát nguyện đến Ấn độ đi chiêm bái các nơi Phật tích, vì bị coi là người biên địa hèn hạ nên bị khinh miệt, không được phép ngủ nghỉ trong chùa, đói khát rét mướt đến nỗi thân hình tiều tụy. Một hôm, nhà vua tuần du qua đó, thấy họ chưa xỏ tai, không đeo vòng, quần áo rách rưới, thân hình nhơ bẩn, nhà vua lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, khi biết được rồi thì sinhh lòng thương xót, vua mới cho xây cất ngôi chùa tại nơi đó, rồi ra lệnh ngôi chùa này chỉ dành riêng cho các tăng không xuyên tai ở và cấm chỉ các tăng xỏ tai không được ở. Đó là nguyên do sáng lập và đặt tên ngôi chùa. [X. Giải thuyết tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, Vol.II]
a tị địa ngục
(阿鼻地獄) Là một trong tám địa ngục nóng, A tị, tiếng Phạm là Avìci. Còn gọi là A tì địa ngục, A tị chỉ địa ngục. Dịch ý là Vô gián địa ngục. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5 phẩm Quán Phật tâm (Đại 15, 668 trung): Vì sao gọi là địa ngục A tị? - A là không, Tị là ngăn che; A là không, Tị là cứu; A là không gián cách, Tị là không động đậy; A là rất nóng bức, Tị là rất buồn bã; A là không thoải mái, Tị là không dừng trụ. Không thoải mái, không dừng trụ, gọi là địa ngục A tị. A là lửa bốc, Tị là nóng cháy. Lửa mạnh đốt tâm, gọi là địa ngục A tị. Phẩm Quán Phật tâm còn nói, địa ngục này nằm ở tầng dưới cùng của các địa ngục, có bảy lớp thành sắt, bảy tầng lưới sắt, bảy lớp nội thành có rừng gươm. Ở dưới có mười tám ngăn, chung quanh bảy lớp đều là rừng dao. Có mười tám ngục tốt, A tị có bốn cửa ra vào, trên các ngưỡng cửa có tám mươi cái chõ, nước đồng sôi phun lên, từ cửa chảy tràn vào. Những chúng sinh giết cha hại mẹ, sỉ nhục sáu thân, sau khi chết phải rơi vào địa ngục này. Các chúng sinh chịu khổ ở địa ngục A tì đều không thể kham nổi những cực hình như bị rang, rán (chiên), vì đau đớn quá mà kêu gào, cho nên, nơi đây còn được gọi là Atị hoán địa ngục (địa ngục kêu gào). Lại vì lửa mạnh đốt người nên gọi là A tị tiêu nhiệt địa ngục (địa ngục nóng đốt). Lại vì địa ngục A tị rộng mông mênh, không một sức phàm nào có thể thoát ra được, nó kiên cố cũng như một thành trì lớn, cho nên cũng gọi là A tị đại thành [X. kinh Trường a hàm Q.19 phẩm Địa ngục; kinh Đại lâu thán Q.2 phẩm Nêlê; kinh Khởi thế Q.4 phẩm Địa ngục; luận Câu xá Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. (xt. Vô Gián Địa ngục).
a tự bản bất sinh
(阿字本不生) Phạm:Akàra-àdyanutpàda#. Mật giáo bảo chữ A là căn bản của tất cả ngôn ngữ văn tự, bao hàm nhiều ý nghĩa, như nghĩa bất sinh, nghĩa không, nghĩa có v.v... trong đó, đặc biệt coi trọng các nghĩa bất sinh, vốn, đầu tiên, cho rằng hết thảy muôn vật xưa nay vốn đã tồn tại, và hiện rõ cái mặt mày thật của chúng; nếu đứng trên lập trường của Mật giáo mà nhận xét, thì đó tức là sự tự nội chứng của Đại nhật Như lai. Vì thế, kinh Đại nhật sớ quyển 2, quyển 6, quyển 7, khi giải thích chữ A, bảo rằng, chữ A là thể tính của các pháp, là nguồn gốc sinh ra muôn pháp, nếu hành giả thể nhận được cái lí chữ A vốn chẳng sinh, thì có thể biết rõ được nguồn gốc của tâm mình một cách như thực, mà được nhất thiết trí của Như lai, tự thân mình cùng với Đại nhật Như lai chẳng phải là hai. Còn nghĩa bắt đầu, vốn là từ nơi chữ Phạm Àdi mà ra; rồi nghĩa bất sinh thì từ nơi chữ Phạm Anutpàda mà ra. Về mặt văn pháp, chữ A được dùng làm chữ phủ định, cho nên có những ý không, chẳng phải, chẳng. Chẳng hạn như A di đà Phật dịch là Vô lượng thọ (tuổi thọ không có lượng), Vô lượng quang (ánh sáng không có lượng); A na hàm dịch là Bất hoàn (chẳng trở lại), Bất lai (chẳng lại) v.v... [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; kinh Du già kim cương đính phẩm Thích tự mẫu; kinh Thủ hộ quốc giới Q.2 phẩm Đà la ni; luận Đại trí độ Q.48]. (xt. A).
a tự bố tâm
(阿字布心) Nói tắt là Tâm tâm. Chỉ chữ A được Mật giáo tôn là Tâm của hết thảy chân ngôn, bày dãi ra trong tâm của người tu hành. (a) là chữ thứ nhất trong năm mươi chữ cái Tất đàm, Mật giáo coi nó là mẹ đẻ ra mọi tiếng, là mẹ của các chữ, đồng thời, bảo hết thảy các giáo pháp đều do chữ A sinh ra, cho nên kinh Đại nhật gọi là Vua chân ngôn, Tâm của hết thảy chân ngôn. Lại trong Mật giáo, chữ A có rất nhiều ý nghĩa trọng đại, trong đó, căn bản nhất, có tính đại biểu đầy đủ nhất, là nghĩa vốn chẳng sinh, đại khái cho rằng, chữ A là nguồn gốc của muôn pháp, là thể tính ban đầu của các pháp, nhưng tự thể của nó vốn chẳng sinh và là lí thể của thực tướng các pháp. Đây là một trong những giáo lí cơ bản của Mật giáo, là cái mà tất cả chân ngôn hành giả phải thâm nhập thể ngộ, trong mọi lúc đi đứng ngồi nằm, hành giả đều phải bày dãi chữ A ra trong tâm mình, và luôn luôn thầm nghĩ đến nghĩa vốn chẳng sinh. (xt. A, A Tự Bản Bất Sinh).
a tự ngũ chuyển
(阿字五轉) Là từ được Mật giáo dùng để biểu thị năm giai vị mà tâm bồ đề, y theo đó lần lượt chuyển lên. Gọi tắt là Ngũ chuyển. Chữ (a) là một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, trong Mật giáo, chiếu theo năm lần chuyển hóa trên âm vận Tất đàm mà phối với năm đức là phát tâm, tu hành, chứng bồ đề, nhập Niết bàn và phương tiện cứu kính (phương tiện), dùng để biểu thị tâm bồ đề của người tu Mật giáo, dần dần theo thứ tự chuyển lên các giai đoạn tu hành cao hơn, gọi là A tự ngũ chuyển. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 722 hạ, 723 trung) nói: A đây có năm thứ: a,à (dài),aô,a#,àh (dài). (...) Một chữ A sinh bốn chữ, tức là tâm bồ đề,À (dài) là hành, Ám là thành bồ đề, Á là đại tịch Niết bàn, Á (dài) là phương tiện. Kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Trụ tâm, lấy chữ A làm thể của tâm bồ đề sẵn có và vốn thanh tịnh, đồng thời, dùng nghĩa này phối hợp với sự chuyển hóa của âm đọc chữ A, và đem thứ tự mở tỏ tâm bồ đề của người tu hành Mật giáo chia làm năm giai đoạn. Tức là: 1. A (âm ngắn), biểu thị sự phát tâm bồ đề, gọi là phát tâm. Trong đó lại chia làm hai thứ: a.Bản hữu bồ-đề tâm, nghĩa là trong tâm của hết thảy chúng sinh đều vốn có đủ trí tuệ bản giác mầu nhiệm, xưa nay vốn tự nhiên như thế. b.Tu sinh bồ đề tâm, nghĩa là cái tâm do sức huân tập của bản giác mà trở về gốc cũ. 2.À (âm dài), biểu thị cái diệu hạnh tu trì tam mật lục độ, gọi là tu hành. 3. Am, biểu thị sự tu hành tròn đầy, đạt được quả đức tự chứng, gọi là chứng bồ đề. 4. Á (âm ngắn), biểu thị nhờ quả đức tròn đầy mà chứng nhập lí bất sinh bất diệt, gọi là nhập Niết bàn. 5. Á (âm dài), biểu thị muôn đức đã đầy đủ sự tự chứng và hóa tha, tùy duyên tế độ, đạt đến vị ba bình đẳng, gọi là phương tiện cứu kính. Năm chuyển trên đây, có thể nói, đã bao hàm đại ý của cả bộ kinh Đại nhật, vì đại ý của bộ kinh Đại nhật không ngoài ba tiếng Nhân, Căn, Cứu kính. Trước nay phần nhiều đem ba tiếng phối hợp với năm chuyển, tức phát tâm là Nhân, ba mục giữa là Căn, phương tiện sau cùng là Cứu kính, nghĩa này được nhất trí. Ngoài ra, có nghĩa cho phát tâm là Nhân, tu hành là Căn, còn ba mục kia là tâm vào quả Phật, đây là nghĩa thuộc Phật quả cứu kính, đây cũng còn có thuyết khác. Lại trong ba tiếng, nếu đứng về phương diện ngôi vị phát tâm là Nhân mà nói, thì có hai nghĩa Đông Nhân phát tâm và Trung nhân phát tâm, xưa nay cho thuyết Đông nhân phát tâm là do ngài Thiện vô úy truyền, thuyết Trung nhân phát tâm là do ngài Bất không truyền. Đông nhân phát tâm tức đem đông phương phối với phát tâm ở trên, nam phương phối với tu hành ở trên, tây phương phối với chứng bồ đề ở trên, bắc phương phối với nhập Niết bàn ở trên, trung ương phối với cứu kính ở trên; nói về phương hướng tu hành thì đây là xu hướng từ nhân hướng tới quả, thuộc về thuyết Thủy giác thượng chuyển môn (pháp môn chuyển từ thủy giác lên). Trung nhân phát tâm thì lấy chữ A (âm ngắn) ở chính giữa phối với phát tâm, chữ A (âm dài) ở phương đông phối với tu hành, chữ Am ở phương nam phối với chứng bồ đề, chữ Á (âm ngắn) ở phương tây phối với nhập Niết bàn, chữ Á(âm dài) ở phương bắc phối với phương tiện; đây là xu hướng từ quả tới nhân, thuộc thuyết Bản giác hạ chuyển môn (pháp môn chuyển từ bản giác xuống). Sự sai khác giữa hai thuyết, được đồ biểu như sau: Đông nhân phát tâm - Trung nhân phát tâm (a) Phát tâm - Đông A súc - Trung Đại nhật (à) Tu hành - Nam Bảo sinh - Đông A súc (aô) Bồ đề - Tây Di đà - Nam Bảo sinh (a#) Niết bàn - Bắc Thích ca - Tây Di đà (à#) Phương tiện cứu kính - Trung Đại nhật - Bắc Thích ca (hoặc Bất không thành tựu) Thuyết Đông nhân phát tâm của Thiện vô úy lấy nghĩa Thủy giác tu sinh trong kinh Đại nhật làm căn bản, còn thuyết Trung nhân phát tâm của Bất không thì lấy nghĩa Bản giác bản hữu trong kinh Kim cương đính làm y cứ. Song, căn cơ có đốn (phát tâm liền được), tiệm (tu hành chứng từng phần một) khác nhau, cho nên, trong thuyết của Thiện vô úy cũng có nghĩa Trung nhân, mà thuyết của Bất không cũng chẳng phải chỉ hàm nghĩa hạ chuyển môn, mà lấy sự hiển bày cái ý chỉ phát tâm liền được làm nghĩa chính. [X. kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên; kinh Đại nhật sớ Q.20; Tú diệu quĩ (Bất không); Bí tạng kí tư bản sao Q.4].
a tự quán
(阿字觀) Tức quán tưởng chữ (a) Tất đàm, là phép quán đưa đến sự chứng ngộ cái lí các pháp vốn chẳng sinh và mở tỏ tâm mình là tâm bồ đề vốn có sẵn Phật tính; là phép quán tưởng trọng yếu nhất và cũng đủ tính đại biểu nhất trong Mật giáo. Còn gọi là A tự nguyệt luân quán, Tịnh bồ đề tâm quán, Nhất thể tốc tật lực tam muội. Mật giáo đem hết thảy vũ trụ, nhân sinh qui vào chữ A, cho chữ A là căn bản của hết thày pháp, lí của chữ A là xiển minh tự thể của muôn sự muôn vật trong vũ trụ xưa nay vốn chẳng sinh, A tự quán là một loại phương pháp minh tưởng nhằm quán xét lí ấy. Nội dung tu quán của A tự quán có thể được chia làm ba bộ phận, mà ba bộ phận này là pháp đồng thời đầy đủ trong một tâm. Nhưng, đối với những người mới học, khi tu quán, khó có thể đi thẳng vào chỗ sâu xa của ba bộ phận cùng một lúc, cho nên, phương tiện, có thể quán riêng từng bộ phận một. 1.Quán thanh (tiếng), tức tay kết định ấn, rồi trong mỗi một hơi thở ra, thở vào, A Tự Quán niệm tiếng A, đem tiếng ấy vào tâm, hơi thở nào cũng thế, liên tục. 2.Quán tự(chữ), tức quán hình chữ của chữ A, niệm niệm nối liền, không để niệm khác xen lẫn, khiến vọng niệm mỗi ngày mỗi bớt, vô minh giảm dần. 3.Quán thực tướng, quán tưởng đối tượng là chữ A, hoa sen, vừng trăng, nhằm thể ngộ cái lí muôn vật trong vũ trụ xưa nay vốn tự nhiên như thế, tức là cái lí vốn chẳng sinh. Vì thế, khi thực hành tu quán thì trong tâm quán tưởng một đóa hoa sen và một vừng trăng, trong vừng trăng lại có một chữ A, rồi quán tưởng chữ A trong vừng trăng hoặc trên hoa sen. Khi tĩnh tọa, thở ra thở vào đều đều và niệm chữ A, nhờ tiếng và chữ mà chứng ngộ lí chữ A vốn chẳng sinh. Mật giáo cho rằng, nếu người tu hành tu phép quán này một cách thuần thục, thì có thể thành tựu được vô lượng phúc trí, tâm sen của chính tâm hành giả tự nhiên mở tỏ, và cùng với sự nội chứng của Đại nhật Như lai khế hợp. Qua phép quán này, người ta có thể hiểu được cái nguyên lí thống nhất của Mật giáo. Thực tiễn của phép quán tuy dễ, nhưng vì cái ý thú của nó rất sâu xa, nên nếu không quán tưởng một cách triệt để thì khó mà thể ngộ được cái ý đích thực của nó, vì thế, thường khi tu phép quán này, phải có bậc thầy cao siêu truyền mới được. [X. kinh Đại nhật Q.3 phẩm Thành tựu tất địa, phẩm Tất địa xuất hiện; Đại nhật kinh sớ Q.10, Q.11, Q.12; A tự quán].
a tỳ
Là địa ngục vô gián, tức không có thời gian gián đoạn. Thế giới này hoại thì sang thế giới khác để chịu khổ.
; See Avici in Sanskrit/Pali-Vietnamese-Section.
a tỳ già la
Abhicara (skt)—Tên của một loài ngạ quỷ—Name of a hungry ghost.
a tỳ hoán địa ngục
Địa ngục kêu khóc không ngừng—Hell of inintermitted wailing.
a tỳ la hồng khiếm
Avirahumkham (skt)—A Ni La Hồng Khiếm—A Vị La Hồng Khiếm—Chân ngôn của Đức Đại Nhật Như Lai thuộc thai tạng giới—The Shingon “true word” or spell of Vairocana, for subduing all maras, each sound representing one of the five elements, earth, water, fire, wind or air, and space. 1) A: Địa đại—“A” is for the earth element. 2) Tỳ: Thủy đại—“Tỳ” is for the water element. 3) La: Hỏa đại—The fire element. 4) Hồng: Phong đại—The wind element. 5) Khiếm: Không đại—The space element. ** For more information, please see Ngũ Đại.
a tỳ lỗ ca
Abhicaraka (skt)—Người kiểm soát ma quỷ—Exorcism—An exorciser—Controller of demons.
a tỳ mục khư
Adhimukti or Abhimukham (skt). 1) Hiện Tiền: In presence of. 2) Tiến đến gần: Towards—Approaching. 3) Hiện Tiền Địa: Trụ thứ sáu trong Thập Trụ—The sixth in the ten grounds or stages—See Thập Địa Phật Thừa. 4) A Mục Khư Da Bồ Tát: Abhimukham Bodhisattva.
a tỳ tam phật đà
Abhisambuddha or Abhisambodha (skt)—Hiện Đẳng Giác—Fully awake—Complete realization—Realizing or manifesting universal enlightenment.
a tỳ tiêu nhiệt địa ngục
Địa ngục thiêu đốt không ngừng—Hell of intermitted scorching.
a tỳ đàm
Xem Luận Kinh.
; Abhidhamma (p)—Abhidharma (skt). (A) Tạng thứ ba trong ba tạng kinh điển Phật giáo (Tam Tạng Kinh Điển), hay là Luận Tạng của trường phái Nguyên Thủy, hai tạng kia là luật tạng gồm những giới luật Phật chế ra cho tín đồ, và kinh tạng gồm những bài thuyết pháp, bài giảng hay các cuộc đối thoại của Phật. Đây là những lời luận giải về kinh điển, hay những bài thuyết giảng của Đức Phật. A Tỳ Đàm nói về triết lý và tâm lý, A Tỳ Đàm chứa đựng toàn bộ hệ thống luyện tâm, gồm những minh giải có tính chất siêu hình và trừu tượng cao độ về giáo lý Phật giáo—The third of the three baskets or Tripitaka, of Buddhist literature of the Theravadan School, the other two being the Vinaya, that is, the precepts or moral rules given by the Buddhs to his followers; and the sutras, which consists of the collection of the Buddha's sermons, and dialogues. It contains commentaries on the sutra-pitake, or the sermons of the Buddha. Philosophically and psychologically speaking, it contains an entire system of mind training. The Abhidharma contains highly abstract, philosophical elucidations of Buddhist doctrine: a) Abhidharma với tiếp đầu ngữ “Abhi” có nghĩa là “hơn thế,” hay “nói về.” Như vậy Abhidharma có nghĩa là “Tối thắng Pháp” hay “trần thuật về Dharma.” Trong khi Dharma là giáo lý tổng quát của Phật, thì A Tỳ Đạt Ma là một trần thuật siêu hình đặc biệt do các bậc trưởng lão mang lại: Abhidharma with the prefix “Abhi” gives the sense of either “further” or “about.” Therefore, Abhidharma would mean “The Higher or Special Dharma” or “The Discourse of Dharma.” While the Dharma is the general teaching of the Buddha, the Abhidharma is a special is a special metaphysical discourse brought forward by certain elders. b) A Tỳ Đạt Ma chứa đựng những minh giải trừu tượng và triết học siêu hình về Phật giáo; hai tạng kia là Luật Tạng, gồm những điều luật Phật chế ra cho tứ chúng—Abhidharma contains highly abstract, philosophical elucidations of Buddhist doctrine; the sastras which discuss Buddhist philosophy or metaphysics; defined by Buddhaghosa as the law or truth (dharma) which abhi goes beyond the law. (B) Sự giải thích về A Tỳ Đạt Ma—Abhidharma is explained by: 1) Thắng Pháp: Surpassing law. 2) Vô Tỷ Pháp: Incomparable law. 3) Đối Pháp: Trí đối cảnh—Comparing the law. 4) Hướng Pháp: Nhân hướng quả—Directional law, showing the cause and effect. (C) Văn học A Tỳ Đàm—The Abhidharma Literature: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, văn học A Tỳ Đàm gồm những tác phẩm sau đây—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, Abhidharma literature consists of the following works. 1) Phát Trí Luận hay Bát Kiền Độ Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử: Katyayaniputra's Source of Knowledge (Jnana-prasthana) or Eight Books (Astha-grantha). 2) Lục Túc Luận (viết về Bát Kiền Độ Luận): The Six Legs (wrote about the Jnana-prasthana)—See Lục Túc Luận. 3) Đại Tỳ Bà Sa Luận, được viết bởi Parsva, được dịch ra Hán văn thành 200 quyển: Parsva's Great Commentary (Mahavibhasa), translated into Chinese with 200 volumes. 4) Bệ Bà Sa Luận, được dịch ra Hán văn thành 14 quyển: Abridged Commentary (Vibhasa), translated into Chinese with 14 volumes. *** Ở Trung Hoa có hai bản lưu truyền của Tỳ Bà Sa. Đại bộ 200 quyển và tiểu bộ 14 quyển. Tuy nhiên, chúng ta không thể đoan chắc rằng bộ nào là bản tóm tắc của bộ kia. Nhưng theo nhiều quan điểm chúng ta có thể tin rằng bộ lớn thuộc phái Kashmir và bộ nhỏ thuộc phái Kiện Đà La—In Chinese we have thus two transmissions of the Vibhasa, Large (200 parts) and Small (14 parts). Whether one was an abridgement of the other we cannot tell for certain. But from several points of view we can imagine that the larger one belongs to the Kashmir School and the smaller to the Gandhara School. 5) A Tỳ Đàm Tâm Luận, được viết bởi Pháp Thượng, dịch ra Hán văn vào năm 391 sau Tây Lịch: Abhidharma-hrdaya, written by Dharmottara, translated into Chinese in 391 A.D. 6) Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, được viết bởi ngài Pháp Cứu, Hán dịch vào năm 426 sau Tây Lịch. Kể từ đó, học phái A Tỳ Đàm được thành lập ở Trung Quốc 7) A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, viết bởi Thế Thân: Vasubandhu's Abhidharma-kosa. - Hán dịch của Chân Đế vào khoảng những năm 563-567 sau Tây Lịch. Kể từ đó học phái Câu Xá được thành lập ở Trung Hoa Paramartha's Chinese Translation (about 563-567 A.D.). From this time, the Chinese Kosa School called Chu-Shê was founded. - Hán dịch của Huyền Trang (596-664 sau Tây Lịch) vào khoảng những năm 651 đến 654 sau Tây Lịch. Sau bản Hán dịch nầy, học phái Câu Xá được kiện toàn như một hệ thống triết học, chính yếu là do Khuy Cơ (632-682), một đệ tử của Huyền Trang: Hsuan-Tsang's (Hsuan-Tsang 596-664 A.D.) Chinese Translation (around 651 to 654 A.D.). After this translation the Kosa School was completed as a philosophical system chiefly by K'uei-Chi (632-682 A.D.), a pupil of Hsuan-Tsang. ** For more information, please see Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a tỳ đàm cam lộ (sinh) vị luận
Abhiharmāmṛta-(rasa)-śāstra Tên một bộ luận kinh do Ngài Cù sa biên soạn, có 2 quyền.
a tỳ đàm ngũ pháp hành kinh
Abhidarmapaca-dharmacarita-sūtra (S)Tên một bộ luận kinh sách nói về giáo lý của Nhất thiết hữu bộ.
a tỳ đàm sư
Xem Luận sư.
a tỳ đàm tâm luận
Abhidharma-hṛdaya-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Pháp Thắng biên soạn biên soạn.
a tỳ đàm tâm luận kinh
Abhidharma-ṛdaya-śāstra sūtra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Ưu bà Phiên Đà biên soạn.
a tỳ đại thành
Địa ngục có nhiều tường vách cao, một khi đã bị đọa vào không thể thoát ra được—The avici with high walls, out of which there is no escape.
a tỳ đạt ma
Xem Luận Kinh.
; Abhidharma (skt)—See A Tỳ Đàm.
a tỳ đạt ma bát kiền độ luận
Abhi-harmāṣṭagrantha (S)Tên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma câu xá luận
Abhidharmakośa (S), Abhidharmakośa śāstra (S), Treasure Chamber of the Abhidharma Do Bồ tát Thế Thân biên soạn ở Kashmir hồi thế kỷ thứ 5, gồm A tỳ đạt ma câu xá thi văn (có 600 tiểu đoạn, gọi là Abhidharmakosha-karika) và luận giảng phần văn vần (gọi là Abhidharmakosha-bhshya, A tỳ đạt ma câu xá chú giảng). Ngày nay A tỳ đạt ma câu xá luận chỉ còn ở Tây tạng và Trung hoa.
; Abhidharma-kosa-sastra (skt). (A) Tác giả và dịch giả—Author and translator: Bộ A Tỳ Đạt Ma câu Xá Luận được ngài Thế Thân soạn ra để phản bác lại trường phái Tỳ Bà Sa, được ngài Huyền Trang dịch ra Hoa ngữ dưới thời nhà Đường. The Abhidharma-kosa-sastra is a philosophical work by Vasubandhu refuting doctrines of the Vibhasa school, translated into Chinese by Hsuan-Tsang during the T'ang dynasty—For more information, please see Vasubandhu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (B) Nội dung bộ luận, theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—The contents of the Abhidharma-kosa, according to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy: a) Theo ấn bản nầy và dịch bản của Trung Hoa, nội dung của Câu Xá Luận như sau—According to the published text and the Chinese vesion, the contents of the Abhidharma-kosa are as follows: 1) Phân biệt giới về các pháp: On Elements. 2) Phân biệt căn về các quan năng: On Organs. 3) Phân biệt thế gian về thế giới: On Worlds. 4) Phân biệt nghiệp về các nghiệp: On Actions. 5) Phân biệt tùy miên về các phiền não: On Drowsiness or Passion. 6) Phân biệt Hiền Thánh về Thánh giả và đạo: On the Noble Personality and the Path. 7) Phân biệt trí về trí thức: On Knowledge. 8) Phân biệt định về tư duy: On Meditation. 9) Hán dịch có một phẩm thứ chín (Phá Ngã Phẩm)—The Chinese text has a ninth chapter on Refutation of the Idea of the Self. b) Khi viết Câu Xá Luận, Thế Thân hình như đã noi theo tác phẩm của vị tiền bối là ngài Pháp Cứu, gọi là Tạp A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận (Samyukta-abhidharma-hrdaya); và tác phẩm nầy lại là sớ giải về A Tỳ Đàm Tâm Luận của ngài Pháp Thượng. So sánh kỹ cả ba tác phẩm nầy chúng ta sẽ thấy rằng Thế Thân đã có trước mặt những tác phẩm của các vị tiền bối, nếu không thì những vấn đề được thảo luận trong các tác phẩm nầy chắc chắn cũng là chủ trương chung của học phái nầy. Tám chương đầu của tác phẩm cắt nghĩa những sự kiện hay những yếu tố đặc thắng là sắc và tâm, trong khi chương chín là chương cuối cùng minh giải nguyên lý cơ bản và tổng quát, tức Vô Ngã, một nguyên lý mà hết thảy các học phái Phật giáo khác đều phải noi theo. Đặc biệt chương chín hình như xuất phát từ quan điểm riêng của Thế Thân, vì không có dấu vết gì về chủ đề nầy trong những sách khác: In writing the Abhidharma-kosa, Vasubandhu seems to have followed the work of his predecessor, Dharmatrata, called Samyukta-abhidharma-hrdaya, and this, again, is a commentary on Dharmottara's Abhidhama-hrdaya. A careful comparison of the three works will indicate that Vasubandhu had before him his predecessor's works, or else such questions as discussed in these works must have been common topics of the school. The first eight chapters of the work explain special facts or element of matter and mind, while the ninth and last chapter elucidates the general basic principle of selflessness that should be followed by all Buddhist schools. Especially the ninth chapter seems to originate from Vasubandhu's own idea, for there is no trace of this subject in the other books. c) Mặc dù Câu Xá Luận giống với Tâm Luận về chủ đề, nhưng không có chứng cớ nào nói rằng nó vay mươn Tâm Luận khi thành lập các quan điểm, bởi vì Thế Thân rất tự do và quán triệt trong tư tưởng của mình, và ông không ngần ngại lấy những chủ trương của bất cứ bộ phái nào ngoài chủ trương riêng của mình khi tìm thấy ở chúng lối lý luận tuyệt hảo: Though the Kosa thus resembles the Hrdaya in subject matter, there is no indication that the former is indebted to the latter in forming opinions, for Vasubandhu was very free and thorough in his thinking, and he did not hesitate to take the tenets of any school other than his own when he found excellent reasoning in them. (C) Dịch thuật và sự phát triển của A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận tại Trung Quốc—Translations and development of the Abhidharma-kosa in China: a) Khi Câu Xá Luận của Thế Thân được truyền bá ở Kiện Đà La, liền gặp phải sự chống đối nghiêm khắc từ bên trong và bên ngoài bộ phái của ông (tức Hữu Bộ). Dù vậy, hình như thắng lợi cuối cùng đã về phía ông, bởi vì tác phẩm của ông phổ biến khắp xứ Ấn Độ, nó được giảng dạy rộng rãi và có nhiều chú giải về nó được viết ở Na Lan Đà, Valabhi và những nơi khác. Nó được dịch sang Tạng ngữ do Jinamittra và dịch sang Hoa ngữ lần đầu do Chân Đế từ năm 563 đến năm 567 sau Tây Lịch, và lần sau do Huyền Trang, người đã từng du học tại Na Lan Đà vào khoảng những năm 651-564 sau Tây Lịch. Đặc biệt ở Trung Hoa có nhiều khảo cứu và ít ra có bảy bộ sớ giải được viết căn kẻ về nó, mỗi bộ có trên hai hay ba mươi quyển: When Vasubandhu's Abhidharma-kosa was made public in Gandhara, it met with rigorous opposition from inside and from outside of his school. Yet the final victory seems to have been on his side, for his work enjoyed popularity in India; it was taught widely and several annotations of it were made in Nalanda, Valabhi and elsewhere. It was translated into Tbetan by Jinamitra and into Chinese first by Paramartha of Valabhi during 563-567 A.D. and later by Hsuan-Tsang who studied at Nalanda University during 561-564 A.D. In China especially serious studies were made, and at least seven elaborate commentaries, each amounting to more than twenty or thirty Chinese volumes, were written on it. b) Trước khi Câu Xá Luận được dịch, ở Trung Hoa đã có một học phái mệnh danh là Tì Đàm Tông, dứng đầu trong bản danh sách về các tông phái Trung Hoa ở trên. Tỳ Đàm là tên gọi tắt của tiếng Trung Hoa về A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma). Tông phái nầy đại diện cho chi phái Hữu Bộ ở Kiện Đà La. Những tác phẩm chính của phái nầy, cùng với bản sớ giải Tỳ Bà Sa được dịch sang Hán văn rất sớm, vào khoảng những năm 383-434 sau Tây Lịch. Bản đại sớ Đại Tỳ Bà Sa thuộc chi phái Kashmir cũng được phiên dịch, nhưng không có tông phái Trung Hoa nào đại diện cả. Khi Câu Xá Luận của Thế Thân được Chân Đế dịch vào khoảng những năm 563-567 sau Tây Lịch, và Huyền Trang dịch vào khoảng những năm 651-654 sau Tây Lịch, từ đó Câu Xá Tông (Kosa) xuất hiện, được nghiên cứu tường tận và trở thành một nền tảng thiết yếu cho tất cả những khảo cứu Phật học. Tỳ Đàm tông hoàn toàn được thay thế bởi tông phái mới mang tên là Câu Xá Tông: Before the translation of the Abhidharma-kosa there was in China a school called P'i-T'an Tsung which is the first one in the list of Chinese sects given above. P'i T'an being the Chinese abbreviation of Abhidharma. This Chinese school represents the Gandhara branch of Sarvastivadins. The principal texts of this school with Vibhasa commentary were translated into Chinese as early as 383-434 A.D. The larger Vibhasa commentary belonging to the Kashmir branch was also translated, but there appeared no Chinese school or sect representing it. When the Kosa text of Vasubandhu was translated by Paramartha during 563-567 A.D. and again by Hsuan-Tsang during 651-654 A.D., the Kosa School, or Chu-Shê Tsung, came into existence, was seriously studied, and was made into an indispensable basis of all Buddhist studies. The P'i T'an School came to be entirely replaced by the new Kosa School.
a tỳ đạt ma câu xá luận thích
Abhiharmakośa-bhāṣya (S)Tên một bộ luận kinh
a tỳ đạt ma câu xá luận thực nghĩa sớ
Abhidharmakośa-bhāṣya-ṭikā-tattvārthanāma (S)Do Ngài An Huệ biên soạn.
a tỳ đạt ma câu xá luận tụng
Abhi-harmakośa-kārikā (S).
a tỳ đạt ma câu xá.
Discourse on the Repository of Abhidharma Discussions (Abhidharma-kośa)(S)Tên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma giáo nghĩa cương yếu
Abhidharma-saṇgaha (S), Book of Significance of Adhidharma Tên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma giới thuyết luận
Abhidhamma-dhāthukathā (P), Book of the Elements Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Giới Thân Túc LuậnMột trong 7 bộ kinh A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ phái viết bằng tiếng Pali.
a tỳ đạt ma hiển tông luận
Abhidharmakośa-samaya-pradipika (S)Nhất Thiết Hữu Bộ Hiển tông luận, Hiển tông luậnTên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma kinh
Abhidharma sūtra (S)Xem A tỳ đạt ma câu xá luận.
a tỳ đạt ma luận tạng
Abhidharma-pitaka (skt)—See A Tỳ Đạt Ma Tạng.
a tỳ đạt ma nhân thi thuyết luận
Abhidhamma-puggalapaati (P), Book of Individuals Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ.
a tỳ đạt ma pháp tụ luận
Dhamma-saṇgani (P), Book of Elements of Existence Một trong 7 bộ kinh A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ phái viết bằng tiếng Pali.
a tỳ đạt ma pháp uẩn túc luận
Abhidharma-dharma-skandha-pāda śāstra (S), Book of Things Nhất Thiết Hữu Bộ Pháp Uẩn Túc Luận, Pháp Uẩn Túc LuậnTên một bộ luận kinh do ngài Huyền Trang dịch. Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Nhất thiết hữu bộ.
a tỳ đạt ma phát thú luận
Abhidhamma-patthāna (P), Book of Causality Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ.
a tỳ đạt ma phát trí luận
Abhidharma-jāna-prasthāna-śāstra (S), Book of Starting Point of Knowledge Phát trí luậnA tỳ đạt ma kinh luận của Nhất thiết hữu bộ. Một tác phẩm của Già đa diễn ni tử.
a tỳ đạt ma phân biệt luận
Abhidhamma-vibhaṅga (P), Book of Classifications Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ.
a tỳ đạt ma phẩm loại túc luận
Abhidharma-prakaraṇa-pāda-śāstra (S), Book of Literature Treatises Nhất Thiết Hữu Bộ Phẩm loại túc luận, Phẩm loại túc luậnMột trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Nhất thiết hữu bộ.
a tỳ đạt ma song luận
Abhidhamma-yamaka (P), Book of Pairs Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ.
a tỳ đạt ma song đối luận
Abhidharma-yamaka (S), Book of Pairs Tên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma thi thiết túc luận
Abhidharmapraj-apti-sāstra, Abhidharma-prajāpti-pada śāstra (S).Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Nhất thiết hữu bộXem Thi thiết túc luận.
a tỳ đạt ma thuyết sự luận
Abhidhamma-kathāvatthu (P), Book of Points of Controversies Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Thượng tọa bộ.
a tỳ đạt ma thuận chính lý luận
Abhidhamma-nyayanusara-śāstra (P), Abhidharma-samayapra-dipika-śāstra (S), Book of Beginning of Knowledge Nhất Thiết Hữu Bộ Thuận chánh luận, A tỳ đạt ma Thuận chánh lý luậnDo Ngài Chúng Hiền biên soạn.
a tỳ đạt ma thức thân túc luận
Abhidharma-vij-ānakāyapāda (S), Abhidharma-vijakāyapāda-śāstra (S), Book of Knowledges, Book of Understanding Nhất Thiết Hữu Bộ Thức Thân Túc luận, Thức Thân Túc luận. Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Nhất thiết hữu bộ. Do Ngài A la hán Đề bà Thiết ma ở A du đà biên soạn khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt.
a tỳ đạt ma tâm luận
Abhidharma-hrdaya (skt)—Heart of the Higher Dharmas—A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận được viết trước hay sau cuộc kết tập kinh điển của vua Ca Sắc Nị Ca, bởi Pháp Thượng (Dharmamottara), một cao Tăng thuộc chi phái ở Kiện Đà La. Tác phẩm nầy được dịch sang Hán văn vào năm 391 sau Tây Lịch. Một bản chú giải về tác phẩm nầy là Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, do Pháp Cứu, một đồ đệ của Pháp Thượng soạn thảo. Tác phẩm nầy trở thành bản văn căn bản của chi phái Kiện Đà La và sau cùng là của phái A Tỳ Đàm Trung Hoa—The Heart of the Higher Dharma was written by Dharmamottara, either before or after the Buddhist Council of King Kaniska's reign, by Dharmamottara, a noted monk, belonged to the Gandhara branch. It was translated into Chinese in 391 A.D. A commentary on it called Samyukta-abhidharma-hrdaya was written by Dharmatrata, a pupil of Dharmamottara. This work became the fundamental text of the Gandhara branch and subsequently of the Chinese Abhidharma School.
a tỳ đạt ma tông
Abhidharma Sects—See Câu Xá Tông.
a tỳ đạt ma tạng
Abhidharma-pitaka (skt). (A) Vi Diệu Pháp: Hinayana Abhidharma. (B) Trung Quốc A Tỳ Đạt Ma Luận—Chinese Abhidharma-Sastras: 1) Đại Thừa Luận: Mahayana treatises. 2) Tiểu Thừa Luận: Hinayana treatises. 3) Tạng Chư Luận: Những luận tạng được trước tác vào đời nhà Tống và nhà Nguyên—All sastras brought in during the Sung and Yuan dynasties.
a tỳ đạt ma tạng hiển tông luận
Abhidharma-samya-pradīpikā-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do Ngài Chúng Hiền biên soạn.
a tỳ đạt ma tạp tập luận
Abhidharma-saṃgīti śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
a tỳ đạt ma tập dị môn túc luận
Abhidharma-saṇgati-paryapada śāstra (S)Tên một bộ luận kinh. Book of the Recitations of the Teaching Một trong 7 tập trong A tỳ đạt ma của Nhất thiết hữu bộ.
a tỳ đạt ma tập luận
Abhidharma-samuccaya (S)Tên một bộ luận kinh do Ngài Vô Trước biên soạn.
a tỳ đạt ma tỳ bà sa
Abhidharma vibhāṣā (S)Tên một bộ luận kinh. Gồm 100 vạn bài kệ, thành quả của đại hội kiết tập đầu công nguyên do ngài Ca chiên Diên làm thượng thủ.
a tỳ đạt ma đăng luận
Abhidharmadipa (S)Gồm 2 bộ: bộ Abhidharmadipa bằng văn xuôi và Vibhasaprabhavrtti bằng văn vần.
a tỳ đạt ma đại tỳ bà sa luận
Abhidharma-mahāvibhāṣā śāstra (S)Đại tỳ bà sa luận, Bà sa luậnTên một bộ luận kinh.
a tỳ địa ngục
Avīcī (S), Avīci (P)Vô gián địa ngụcĐịa ngục có 5 hình phạt: nghiệp xấu và hậu quả không dừng nghỉ, không thời gian, triền miên không ngưng trệ, khốn khổ không chỗ cùng, đầy ấp không ngưng. Bị đày địa ngục này do phạm một trong 5 trọng tội: giết hại cha, giết mẹ, giết hại a-la-hán, lam Phật đổ máu, phá hoại tăng đoàn.
; See Avici (skt)
a tỵ đà kiết (yết) thích nã
Avidhakarna (skt). 1) Tai không xuyên thủng: Unpierced ears. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, đây là tên của một tự viện cổ gần thành Ba La Nại: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Avidhakarna was the name of an ancient monastery near Benares (near Yodhapatipura).
a va đà na kinh
Avadàna (S). Thí dụ kinh, stories illustrating the results of an action.
a vi di, vô minh
Avidyà (S). Ignorance.
a vi ra hùm kham
The Chân ngôn sect "true word" or spell of Vairocana Tỳ lô giá na for subduing all màras, each sound representing onr of the five elements earth, water, fire, wind (air), and space (ether).
a vi xả
Avesa (S). Biến nhập, nhập đồng, the entering of a deity or a demon in a medium which becomes "possessed".
A Viên
(阿圓, Aen, ?-?): vị tăng tạc tượng Phật sống dưới thời đại Liêm Thương, không rõ năm sinh và mất, húy là A Viên. Vào năm 1254, ông cùng với nhóm Hạnh Hựu (幸祐), Hạnh Dận (幸胤), Lại Viên (賴圓) tạo lập tượng ngồi Địa Tạng Bồ Tát ở Phước Trí Viện (福智院, Fukuchi-in) thuộc vùng Nại Lương (奈良, Nara). Với sự phát nguyện lớn, ông đã tạc tượng Phật trong thời gian lâu dài.
a vĩ xá pháp
(阿尾舍法) A vĩ xả, Phạm: Àveza, có nghĩa là vào khắp, còn gọi là A tỉ xả, A tì xả, A vĩ xà. Một trong những chân ngôn bí pháp. Là phương thuật thỉnh các Thiên thần giáng lâm, nhập vào thân đồng nam đồng nữ để hỏi các việc lành dữ, họa phúc và nên hư. Đây không phải là Phật pháp chính thống mà là một trong các tà pháp. [X. kinh Du kì Q.hạ; Tốc tật lập nghiệm ma hê thủ la thiên thuyết a vĩ xà pháp].
a vĩ xả pháp
Āvisati (P), Āvisī (P), veśa (S)Nhập xác1- Phép mời thiên thần nhập vào một người để xua đuổi ma quỷ ra khỏi cơ thể, diệt trừ bệnh tật. 2- Vo sân: Đối với cảbnh nghịch, không sân hận. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
a xa la
Acala (skt)—Bất Động—Immovable—See Bất Động Minh Vương and Thập Địa Phật Thừa (8).
a xa lí nhị già lam
(阿奢理貳伽藍) A xa lí nhị, Phạm: Àizcarya hoặc Àzalini. Tên ngôi chùa ở nước Cưu tư. Còn gọi là A già li nhị già lam. Dịch ý là Kì đặc chúng viên. Ngày xưa, vua nước Cưu tư có người em hết sức trung thành, để biểu dương thành tích tốt đẹp của em, nhà vua bèn xây ngôi chùa này truyền cho đời sau. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1 chép, thì nhà, sân rộng rãi, tượng Phật cực đẹp. Tăng chúng nghiêm túc tinh cần và đều là các bậc thạc đức tài cao học rộng, quốc vương, đại thần, thứ dân và các nhà hào phú đều làm việc tứ sự cúng dường, càng lâu càng quí kính. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2; Chỉ quất dịch thổ tập Q.2].
a xiển đề
Xem Nhứt điên ca.
a xiển để ca
Xem Nhứt điên ca.
; Anicchantika (skt)—Vô dục, chỉ sự không tham mong niết bàn—Without desire, i.e. undesirous of nirvana.
; (阿闡底迦) Phạm:An-icchantika. Còn gọi là a xiển đề. Dịch ý là bất nhạo dục (không ưa muốn), vô dục (không muốn), tùy ý tác (làm theo ý). Là hữu tình vô tính trong năm tính do tông Pháp tướng thành lập. Tức có nghĩa là không thích vào Niết-bàn. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23, nói: A xiển để ca, Hán dịch là vô dục, nghĩa là không ưa thích Niết bàn. Cũng gọi là Xiển để kha, Hán dịch là đa tham, nghĩa là ham thích sinh tử, không cầu thoát li, vì thế không tin ưa chính pháp. Các nhà dịch cũ phiên âm là A xiển đề, dịch nghĩa là tùy ý tác (làm theo ý thích). Có người bảo tiếng Phạm icchantika (nhất xiển đề) là phiên âm sai từ tiếng đồng oạiaitthaôtvika. [X. Thành duy thức luận chưởng trung khu yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Nhất Xiển Đề).
a xoa la thiếp
(阿叉羅帖) Gồm có năm thếp. Do vị tăng người Nhật là Tông uyên sưu tập. A xoa la, tiếng Phạm:Akwara, dịch ý là chữ. Nội dung thu chép các dấu tích chữ Tất đàm của các nhà còn được cất giữ tại các núi có danh tiếng của các nước và tại những chùa gần Kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Trong đó, có những lá bối xưa còn được cất giữ tại chùa Pháp long và chùa Cao quí, có chữ viết tay của các tam tạng Thiện vô úy, Bất không, Bát nhã đát la, của các Tông sư Mật giáo đời Đường, như Thuận hiểu, Huệ quả, Pháp toàn, và bút tích của các danh gia Nhật bản, như Thành nguyên, Tịnh bảo, Minh huệ v.v... Sách được xuất bản lần đầu vào năm Thiên bảo (Nhật bản) thứ 8 (1827) tại chùa Tây lai thuộc Y thế tân nơi Tông uyên trụ trì, bản gỗ hiện còn được giữ ở chùa Tây lai.
a xoa ma la
Aksamala (skt). 1) Chuỗi—A rosary. 2) Biểu tượng của Thập Toàn: A symbol of the ten perfections.
a xà lê
Ajari (J)Xem thầy.
; Acàrya (S). Spiritual teacher, master, preceptor; one of chính hạnh correct conduct, and able to teach others. 1-Xuất gia A xà lê: one who has charge of novices; 2-Thọ giới A xà lê: a teacher of the discipline 3-Giáo thụ A xà lê: teacher of duties; 4-Thụ kinh A xà lê: teacher of the scriptures; 5-Y chỉ A xà lê: master of the community.
; Dịch là thân giáo sư. Có bổn phận dạy đệ tử các thứ giới luật Tỳ kheo, từ xuất gia thọ giới, học kinh, cho đến y chỉ dạy pháp mông tu hành.
; Acarya (skt)—See Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamse Section and Ngũ Chủng A Xà Lê.
; (阿闍棃) Phạm:Àcàrya,Pāli: Àcariya, Tây tạng: slob-dpon. Còn gọi là A xá lê, A chỉ lị, A già lị da. Nói tắt là Xà lê. Dịch ý là Quĩ phạm sư, Chính hạnh, Duyệt chúng, Ưng khả hành, Ứng cúng dường, Giáo thụ, Trí hiền, Truyền thụ. Hàm ý là dạy bảo học trò, khiến hành vi được ngay thẳng hợp nghi, mà bản thân mình cũng phải là người thầy khuôn mẫu đối với học trò, vì thế, còn gọi là Đạo sư. Tại Ấn độ cổ xưa, A xà lê vốn là người thầy trong Bà la môn giáo dạy dỗ học trò về các qui củ và lễ nghi tế tự được ghi trong kinh Phệ đà, danh từ này về sau được Phật giáo thu dụng, vả lại, lúc Phật còn tại thế, danh từ này cũng đã được sử dụng một cách phổ biến. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 16, luật Tứ phần san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng chép, thì A xà lê có năm loại: 1. Xuất gia a xà lê, khi thụ giới, là thầy trao mười giới, vì thế còn gọi là Thập giới a xà lê.2. Thụ giới a xà lê, khi thụ giới Cụ túc, là thầy Yết ma, vì thế còn gọi là Yết ma a xà lê.3. Giáo thụ a xà lê, là thầy dạy bảo uy nghi, vì thế cũng gọi là Uy nghi a xà lê. 4. Thụ kinh a xà lê, là thầy chỉ dạy ý nghĩa và phép đọc tụng kinh điển. 5. Y chỉ a xà lê, là thầy cùng ở với các tỉ khưu, chỉ bảo các tỉ khưu về bốn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm; hoặc là thầy mà tỉ-khưu chỉ nương nhờ theo học trong một đêm, cũng có thể gọi là Y chỉ a xà lê. Năm loại a xà lê trên đây, nếu thêm Thế phát a xà lê (a xà lê cạo tóc) vào nữa, thì thành là sáu loại A xà lê. Ở Tây vực còn có một loại nữa gọi là Quân trì (Phạm: Kuịđikà, thủy bình, hiền bình) a xà lê, tức là thầy quán đính (rưới nước lên chỏm đầu). Khi thụ giới Cụ túc, phải có mười vị là tam sư, thất chứng sư. Tam sư là Hòa thượng y chỉ để được giới, Yết ma a xà lê và Giáo thụ a xà lê. Phép thụ giới của Tiểu thừa phải có mặt đủ ba sư; nhưng phép thụ giới của Đại thừa, theo kinh Quán phổ hiền, được hướng vào tượng của đức Thế tôn, các bồ tát Văn thù và Di lặc để thay thế ba sư. Như Đại thừa viên đốn giới, lấy đức Thế tôn làm giới hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma a xà lê và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ a xà lê. Ngoài ra, cứ theo luận Đại trí độ quyển 13 chép, thì chúng tại gia muốn xuất gia làm Sa di, Sa di ni, tất phải có giới hòa thượng và a xà lê, và thí dụ các vị là cha mẹ xuất gia. Trong Thiền tông, thụ giới Sa di phải có Giới sư, Tác Phạm xà lê (thầy tụng Phạm bái) và Dẫn thỉnh xà lê (thầy chỉ bảo cách đi, đứng) tham gia. Trong Mật giáo, đối với những người đã thông suốt Mạn đồ la và hết thảy các vị Tôn, chân ngôn, thủ ấn, quán hành tất địa, truyền pháp quán đính v.v... thì đều được gọi là A xà lê, cũng có khi gọi Phật, Bồ tát là A xà lê. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Cụ duyên chép, thì A xà lê phải có đầy đủ mười ba đức dưới đây: 1. Phát bồ đề tâm, 2. Diệu tuệ từ bi, 3. Hòa đồng với chúng sinh, 4. Khéo léo tu hành Bát nhã ba la mật đa. 5. Thông suốt ba thừa, 6. Hiểu rõ thực nghĩa chân ngôn, 7. Biết tâm chúng sinh, 8. Tin chư Phật Bồ tát, 9. Được truyền thụ quán đính, hiểu thấu các bức vẽ Mạn đồ la, 10. Điều hòa tính tình, xa lìa chấp ngã, 11. Tu hành chân ngôn được quyết định,12. Nghiên cứu và luyện tập Du già, 13. Trụ nơi tâm bồ đề vững mạnh. Vì A xà lê có những đức tính như thế, nên những ai tôn trọng cúng dường sẽ được phúc báo rất lớn, cũng như người nông phu, nếu chịu khó cày cấy sẽ thu hoạch lớn, vì thế, cũng gọi a xà lê làA xà lê điền, và được liệt làm một trong tám phúc điền (ruộng phúc).Lại trong Mật giáo, thông thường người ta quen gọi a xà lê là Thượng sư, Kim cương thượng sư. Như đã nói ở trên, A xà lê có thể kham việc quán đính thụ pháp thì còn được gọi là Đại a xà lê. Tuy nhiên, cứ theo các kinh quĩ của Mật giáo chép, thì thông thường a xà lê cũng có thể chia làm hai loại là:Học pháp quán đính a xà lê và Truyền pháp quán đính a xà lê, hai loại đều có nhiều điểm khác nhau. [X. kinh Đại nhật phẩm bí mật mạn đồ la; kinh Bí mật đại giáo vương Q.7; kinh Đại nhật sớ Q.6, Q.15; luật Tứ phần Q.34; Tứ phần luật khai tông kí Q.7; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.15, Q.21; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
a xà lê quán đỉnh
(阿闍棃灌頂) Là một trong những nghi thức trọng yếu của Mật giáo. Còn gọi là Truyền giáo quán đính, Truyền pháp quán đính, Phó pháp quán đính. Tức là nghi thức quán đính tuyển chọn học trò có khả năng đảm nhiệm ngôi vị thầy, thiết lập Mạn đồ la đặc biệt, dẫn vào tung hoa, truyền thụ phép rất mực bí mật của hai bộ Kim cương và Thai tạng, khiến được ngôi vị thầy A xà lê. (xt. Truyền Pháp Quán Đính).
a xà lê sở truyện mạn đồ la
(阿闍棃所傳曼荼羅) Tức là Mạn đồ la do Tam tạng Thiện vô úy của Mật tông đời Đường truyền. Là một trong Thai tạng Mạn đồ la của Mật giáo. A xà lê, tức chỉ Tam tạng Thiện vô úy. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 chép, thì Mạn đồ la này là ngoài Mạn đồ la được nói trong các phẩm Cụ duyên và Bí mật của kinh Đại nhật. Bởi vì, phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật chỉ nêu đại cương, nói qua vài chục vị Tôn đứng đầu mà thôi, còn Mạn đồ la này thì căn cứ vào phẩm Cụ duyên và các phẩm khác mà nói về các vị Tôn, đồng thời, lại thâu tóm chư tôn Bồ tát, Thiên thần ngoài kinh Đại nhật mà thành. Mạn đồ la này không vẽ đủ các hình tượng một cách cụ thể, mà chỉ liệt kê tên của các vị Tôn, và mầu thân hình của các ngài đều dùng các hình vuông, tròn và tam giác để biểu thị, tức hình vuông đại biểu màu vàng, hình tròn đại biểu màu trắng và hình tam giác đại biểu màu đỏ. Vị trí hình vẽ được hiển bày là phương trên (đông), phương phải (bắc), phương trái (nam), phương dưới (tây), tức là viện ba lớp suốt bốn phương, trên dưới và phải trái. Trong đó, lấy đức Thích ca mâu ni làm Phật sinh thân, và các tạp loại trong ba cõi sáu đường cùng được bày ở lớp thứ ba, khác với Mạn đồ la Thai tạng cũ. Trong Mạn đồ la Thai tạng cũ, lấy đức Thích ca mâu ni làm pháp thân biến hóa, được bày ở lớp thứ hai; Văn thù, Địa tạng được bày ở lớp thứ ba. Lại nữa, con số chư tôn được bày trong Mạn đồ la này là bốn trăm tám mươi tư vị, nếu thêm các quyến thuộc sứ giả nữa, thì thành hơn bảy trăm vị, trong khi phẩm Cụ duyên chỉ nói sơ có tám mươi tám vị Tôn, như thế đủ biết, giữa hai Mạn đồ la nhiều ít có khác nhau. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
a xà na lâm
Anjanavana (S)An thiện lâm, An thiền lâmMột khu rừng, gần thành Ta la chỉ (Saketa), giữa nước Kiều Thiểm Tỳ (Kosambi) và Xá vệ (Savatthi), trong rừng này có vườn Lộcuyển (Mrgadana) nơi Thế tôn thường đến thuết pháp.
a xà thế
Ajātasattu (P), Ajātaśatru (S), Vaide-hiputra AjātaśatruVị sanh Oán, A Chất, Thiện Kiến, Bà la Lưu ChiNguyên tên là: A xà Thế con bà Vi đề hi. A xà thế có nghĩa là 'Kẻ nghịch thù từ trưóoc khi sanh ra'). Ông là vua xứ Ma kiệt đà và là con của vua Bình sa vương. Ông cùng với Đề bà đạt đa thực hiện hai âm mưu. Đề bà đạt đa mưu giết đức Phật để giành quyền thống lãnh tăng đoàn. A xà thế thì giết cha và mẹ để giành ngai vàng. Chuyện kễ sau khi giết cha, ông vô vàn hối hận và đau khổ đến thành bệnh. Y sĩ cho biết ba tháng sau ông sẽ chết. Nghe lời khuyên của Jivaka, đại thần trong triều, ông tìm đức Phật và được dạy kinh Niết bàn để xoá sạch ác nghiệp. Nhờ đó A xà thế qui y tam bảo. Ông cũng nhận được một phần xá lợi của Phật và có xây tháp thờ. Ông cũng là người đã hỗ trợ đại hội kết tập lần thứ nhất. Ông trị vì vương quốc này trong 8 năm cuối đời của đức Thích ca Mâu ni và 24 năm liên tiếp sau đó (494 - 462 BC).
; Là tên của quốc vương nước Ma Kiệt Đà (thuộc Ấn Độ). Khi Phật trụ thế, làm Thái tử nghe lời bạn ác Đề Bà Đạt Đa nhốt phụ vương và hại Phật. Sau này ăn năn đến Phật sám hối và quy y làm hộ pháp cho Phật giáo rất đắc lực.
; Ajatasatru (skt)—Ajatasattu (p)—Con trai vua Bình Sa Vương và Hoàng hậu Vi Đề Hi. A Xà Thế chính là người đã hạ ngục và bỏ đói vua cha để đoạt ngôi. Ông còn cùng với Đề Bà Đạt Đa âm mưu hãm hại Phật, nhưng bất thành. Sau nầy ông trở thành một Phật tử và hết lòng ủng hộ Phật giáo—Ajatasattu, son of King Bimbisara and Queen Vaidehi. He imprisoned his father and starved him to death to usurp the throne. Also together with Devadatta, he developed a conspiracy against the Buddha which was unsuccessful. However, later he became a follower of the Buddha and strongly supported Buddhism. ** For more information, please see Ajatasatru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
a xà thế vy đề hy tử
Vaidehiputra-Ajata-satru (S).
a xà thế vương
(阿闍世王) A xà thế, Phạm:Ajàtazàtru, Pāli: Ajàtassattu. Là con vua Tần-bà-sa-la (Phạm: Bimbisàra) nước Ma yết đà thuộc trung Ấn độ vào thời Phật. Gọi tắt là Xà thế vương. Còn gọi là A xà đa sa đâu lâu vương, A xã đa thiết đốt lộ vương, A xà đa thiết đốt lộ vương. Dịch ý là Vị sinh oán vương, Pháp nghịch vương. Mẹ tên là Vi đề hi, cho nên còn gọi là A xà thế Vi đề hi tử. Sau giết cha chiếm ngôi, bành trướng bá quyền tại trung Ấn độ. Khi còn ở trong bụng mẹ, thầy bói đoán là đứa con ấy sau khi sinh sẽ giết cha, vua cha nghe thầy bói nói rất sợ hãi, cho nên, khi sinh ra, nhà vua bèn ném A xà thế từ trên lầu xuống đất, nhưng chỉ gãy ngón tay chứ không chết, vì thế còn gọi là Bà la lưu chi (Phạm: Balaruci, có ngha là gãy ngón tay), đồng thời, vì chưa sinh ra đã kết oán, nên gọi là Vị sinh oán . Lớn lên, ông được lập làm Thái tử, nhân nghe lời xúi dục của Đề bà đạt đa, bắt vua cha hạ ngục và giam cho đến chết. Sau khi lên ngôi, thôn tính các nước nhỏ lân cận, uy danh vang lừng bốn phương, đặt nền tảng cho việc thống nhất Ấn độ. Sau vì tội giết cha nên khắp mình ông ghẻ lở, đến trước Phật xin sám hối, liền khỏi bệnh và qui y đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, A xà thế là vị đại hộ pháp của giáo đoàn Phật giáo. Khi ngài Ma ha ca diếp kết tập kinh điển ở hang Thất diệp, A xà thế là vị đại thí chủ, cung cấp tất cả mọi vật cần dùng.Về niên đại A xà thế lên ngôi, cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 chép, thì nhà vua lên ngôi tám năm trước khi đức Phật nhập diệt, cầm quyền được ba mươi hai năm. Ngoài ra, cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 46, kinh Xuất diệu quyển 22 chép, nhà vua cùng với Ba tư nặc vương nước Ca thi đã đánh nhau mấy lần, sau nhờ Phật giáo mới được hòa giải. Các sự tích khác của nhà vua, sau cuộc kết tập tại hang Thất diệp, không thấy ghi lại trong các kinh điển.[X. kinh Trường a hàm Q.2, Q.17; kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinhĐại ban Niết bàn (bản Bắc) Q.19, Q.20; kinh Quán vô lượng thọ; kinh A xà thế vương; Hữu bộ Tì nại da tạp sự Q.38; luật Ngũ phần Q.3; Đại đường tây vực kí Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25].
a xà thế, a chất
Ajàtasatru (S). Son of king Bimbisara.
a xả bà thệ
Ashvajit (S)A Thuyết ThịMột trong 5 tỳ kheo đệ tử đầu tiên của Phật.
a yết la
(阿羯羅) Phạm: Àgàra. Dịch ý là cảnh (giới). Chỉ chỗ nương tựa của tác dụng tâm thức, cũng tức là đối tượng dẫn khởi tâm, thức, cảm giác hoặc tư duy; tai đối với tiếng, mắt đối với sắc, tiếng và sắc là cảnh của tai và mắt. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 (Đại 43, 753 trung), nói: Chất đa ế ca a yết la đa, Hán dịch là tâm nhất cảnh tính, (...) a yết la, nghĩa là cảnh.
a yết đa
Aghanam (skt)—A flash in the east, the lightning god; the term is defind as not solid, liquid.
a âu
Một tán thán từ của ngoại đạo hay Bà La Môn có nghĩa là không và có (“A” là “Không,” “Âu” là “Có”), đạo Phật lấy hai chữ “Như Thị” đặt ở đầu các kinh—A heretic or brahmanical exclamation. The two letters “A” and “U” fell from the corners of Brahma's mouth when he gave the seventy-two letters of Kharosthi, and they are said to be placed at the beginning of the Brahmanical sacred books as divine letters, the Buddhists adopting “Thus” instead.
; (阿歐) Phạm: Au. Cũng gọi a ưu, a ủ. A nghĩa là không; U (âu) nghĩa là có. Ở đầu các kinh điển của ngoại đạo, đều có viết hai chữ này. Trái lại, Phật giáo thì dùng hai chữ Như thị để mở đầu. Pháp Hoa văn cú quyển 1 thượng (Đại 34,3 thượng): Đối trị phá trừ hai chữ a âu bất như bất thị của ngoại đạo. [X. Bách Luận sớ Q.thượng phần dưới; Hoa Nghiêm sớ sao Q.1 phần trên; Viên Giác đại sao Q.4 phần trên].
a đa đa
Atata (skt)—See Át Triết Tra and Bát Hàn Địa Ngục.
a điên ca
Xem Nhứt điên ca.
; Xem Nhất xiển đề.
a điên để ca
Atyamika (skt)—Tất Cánh—Không có cứu cánh để thành Phật—Endless—At the end there is no mind for attaining Buddhahood.
; (阿顛底迦) Phạm: Àtyantika. Dịch ý là rốt ráo. Là một trong các loài hữu tình vô tính, nghĩa là rốt ráo không có tính thành Phật. Là tên gọi khác của Nhất- xiển-đề. Thành Duy Thức Luận Chưởng Trung Xu Yếu quyển Thượng phần đầu (Đại 43, 610 hạ) nói: A-điên-để-ca, hàm ý rốt ráo, nghĩa là rốt ráo không có tính Niết-bàn. A-điển-để-ca có lẽ là tiếng dịch âm lầm của aitthaôtvika là chữ cùng loại với tiếng Phạm icchantika (Nhất-xiển-đề). [X. Đại Trang Nghiêm Luận Kinh Q.1; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23] (xt. Nhất Xiển Đề).
a điểm bà sí la quốc
(阿點婆翅羅國) A-điểm-bà-sí-la, Phạm: Àtyanabakhela, Auduôbaỉira. Một nước xưa ở Tây Ấn Độ. Thủ đô là Cát-tệ-thấp-phạt-la (Phạm: Khajisvara). Theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, kề sông Tín Độ, gần biển, phong tục chất phác, sùng kính Tam bảo, có hơn tám mươi ngôi chùa, hơn năm nghìn vị tăng, phần nhiều học pháp của Chính Lượng Bộ Tiểu thừa. Thưở xưa, đã nhiều lần đức Phật đến nước này giáo hóa. [X. A. Cunningham: The Ancient Geography of India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol.II].
a đà
Agada (skt)—See A Già Đà.
a đà la
Adara (skt)—Chấp tay chào—To salute with folded hands, palms together.
a đà na
Adàna (S) Chấp trì, holding on to, maintaining; holding together the karma, good or evil, maintaining the sentient organism, or the germ in a seed of plant. It is another name for the Alaya-vijnàna.
; Adana (skt). 1) Chấp Trì: Chấp thủ hay duy trì—Holding on to, maintaining. 2) Chấp thủ hay duy trì—Holding together: - Nghiệp nhân thiện ác: Maintaining the karma, good or evil. - Thân thể của loại hữu tình: Maintaining the sentient organism. - Chủng tử hay hạt của cây cối: Maintaining the germ in the seed or plant. 3) Tên khác của A Lại Da Thức: A Đà Na Thức—Another name for Alaya-vijnana. It is known as Adanavijnana—See A Lại Da Thức.
a đà na thức
Ādāna-vijāna (S), Ādāna-viāna (P)Chấp trì thức, A lại da thức= A lại da thức.
; (阿陀那識) Cũng gọi Đà-na-thức. A-đà-na, Phạm: Àdàna, các nhà dịch mới dịch ý là chấp, chấp trì, chấp ngã, và cho nó là tên khác của thức thứ tám. Các nhà dịch cũ thì dịch là vô giải, và cho đó là tên khác của thức thứ bảy. 1. Tên khác của thức thứ tám. Vì thức này là thức gốc giữ gìn cảm quan, thân thể, không để hư nát. Hơn nữa, thức này nắm giữ hạt giống của các pháp, không để mất mát. Lại vì nó nắm giữ chính nó, làm cho sự kết sinh nối nhau liên tục, bởi thế gọi là Chấp trì thức (thức nắm giữ). Các nhà dịch mới của tông Pháp Tướng, như ngài Huyền Trang, Khuy Cơ v.v... thức A-đà-na là cái thế lực nắm giữ nghiệp thiện ác và thân thể hữu tình, không để hư hoại, vì thế cho nó là tên khác của thức A-lại-da thứ tám.2. Là tên khác của thức Mạt-na thứ bảy. Vì thức A-đà-na nắm giữ hạt giống và thân thể hữu tình, còn thức Mạt-na thì thường tương ứng với bốn phiền não căn bản ngã là: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái, đồng thời, thường lấy kiến phần của thức A-lại-da thứ tám làm ta, của ta mà chấp chặt lấy. Ý nghĩa mà thức A-đà-na và thức Mạt-na biểu thị thực ra là giống nhau, cho nên các nhà dịch cũ thuộc các tông Địa Luận, Nhiếp Luận, Thiên Thai v.v... mới cho thức A-đà-na là tên khác của thức Mạt-na thứ bảy nắm giữ thức A-lại-da làm tự ngã. Thức này còn được dịch là vô minh thức, nghiệp thức, chuyển thức, hiện thức, trí thức, tương tục thức, vọng thức, chấp thức, phiền não thức, nhiễm ô thức v.v... [X. kinh Giải Thâm Mật Q.1 phẩm Tâm Ý Thức Tướng; Nhiếp Đại Thừa luận bản Q.Thượng; luận Thành Duy Thức Q.3; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.3; Pháp Hoa Huyền Nghĩa Q.5].
a đạo
(阿道) Vị tăng đời Đông Tấn. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Có thuyết nói ngài là người Thiên Trúc, cũng có thuyết bảo là người Cao Cú Li. Phong nghi của ngài khác thường, đặc biệt thần biến rất lạ lùng, trong khi ngài giảng kinh thường có mưa hoa. Năm Ninh Khang thứ 2 (374) đời Đông Tấn, ngài đến nước Cao Cú Li, năm sau, vua Tiểu Thú Lâm cất chùa Y-phất-lan mời ngài ở. Phật giáo Triều Tiên được truyền bá rộng, bắt đầu từ đó. Những sự tích khác về ngài không được rõ. [X. Tam Quốc Di Sự Q.3; Hải Đông Cao Tăng Truyện Q.Thượng].
a đặc mạn
(阿特曼) Phạm: Àtman. Thuật ngữ triết học Ấn độ và là thuật ngữ đặc biệt của triết học Upanisad và phái Vedànta, dùng để biểu thị tự ngã, thần ngã. Thuật ngữ này do động từ van(hô hấp) trong tiếng Phạm chuyển thành. Vì cho hô hấp là nguồn gốc của mạng sống, nên tiến bước nữa lấy tự ngã (àtman) làm trung tâm thống nhiếp cá nhân. Tự ngã này, người phàm ai cũng có đủ và cùng một tính chất với Phạm (Brahman) là nguyên lí của vũ trụ, do đó nảy sinh tư tưởng Phạm Ngã Nhất Như. Tư tưởng này có ảnh hưởng rất lớn đối với Bà-la-môn giáo cũng như với các nhà tư tưởng tự do. Đối với phái Tăng-khư-da, tự ngã này là một nguyên lí tinh thần thuần túy, gọi là puruwa, khác với tự nhiên và phái này dựa vào đó mà thành lập Nhị Nguyên luận. Trong Phật giáo, nhằm đối lại với tự ngã nên chủ trương Vô ngã (Phạm: anàtman; Pāli: anattà). Luận vô ngã này được xây dựng trên nền tảng của đạo lí: các pháp duyên sinh vô thường. Hết thảy sự vật đều không có thực thể tồn tại một cách cố định, mà luôn luôn thay đổi. Có thể nói, tất cả những cái tồn tại đều thuộc về nhân duyên sinh nhân duyên diệt (quan hệ nương vào nhau, liên quan với nhau), vì thế nên gọi là vô ngã. Nhưng vì chúng sinh chấp ngã, ngã sở, mê mất chân lí, nên phải chịu sống chết vòng quanh. Bởi vậy, đức Thế Tôn nêu cao đạo lí vô ngã, khiến chúng sinh hiểu rõ vô ngã, mới có thể giải tỏa mê lầm, phá tan chấp trước, trừ bỏ chướng ngại để được giải thoát. Bồ-tát chứng được vô ngã, có thể dung tam luân thể không mà thực hành sáu độ muôn hạnh một cách tự tại không ngại.
a đề bạt trí
Xem Bất thoái chuyển.
a đề mục già
Adhimukti or Atimukti (skt). 1) Tâm giải thoát, được diễn dịch là “Thiện Tư Duy”—Entire freedom of mind, confidence, interpreted as “pious thoughtfulness,” good propensity. 2) A Đề Mục Già là tên của một loại cây có hoa đỏ, lá màu xanh đậm, hạt ép ra dầu thơm—Atimuktaka, a plant like the “dragon-lick,” suggestive of hemp, with red flowers and bluish-green leaves; its seeds produce fragrant oil, sesame.
a đề mục đa
See A Đề Mục Già.
a đề mục đa ca hoa
(阿提目多迦花) A-đề-mục-đa-ca, Phạm: Atimuktaka. Cũng gọi A-đề-mục-đắc-ca-hoa. Dịch ý là Long thỉ hoa, Cự đằng. Tên khoa học: Gaertncra racemosa. Thông thường được xếp vào loại cây leo. Hoa nở màu trắng hoặc màu đỏ, rất thơm, hạt có thể được ép lấy tinh chất để làm dầu thơm. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8 bảo loại thực vật này còn được gọi là cự đằng tử, tức là vừng (mè), dịch cũ dịch là thiện tư di hoa. [X. Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.27].
a đề mục đa già
hoa Thiện tư duy.
a đề phật
Xem Tối thắng Phật.
; Adi-Buddha (S). The primal Buddha of ancient Lamaism.
a đề phật đà
Xem Tối thắng Phật.
; Adi-buddha (skt)—Đây là vị Phật bản sơ của Lạt Ma giáo—The primal Buddha of ancient Lamaism. 1) Theo cựu phái, ngài là Pháp Thân Phổ Hiền—By the older school he is associated with P'u-Hsien born of Vairocana (Dharmakaya-Samantabhadra). 2) Theo tân phái, ngài là Kim Cương Tát Đỏa siêu việt, vĩnh hằng, khởi sanh chư pháp—By the later school with Vajradhara, or vajrasattva, who are considered as identical, eternal, infinite, uncaused, and causing all things.
; (阿提佛陀) Phạm: Àdi-buddha, tên Tây Tạng: Chos-ki da-po#i sas-rgyas. Dịch ý là Bản sơ giác giả, Đệ nhất giác giả, (bậc giác ngộ đầu tiên, bậc giác ngộ bậc nhất). Bản Phật Bản Sơ do Mật giáo Tây Tạng phụng thờ. Phái cũ của Mật giáo Tây Tạng cho vị Phật này là Phổ Hiền (Phạm: Samantabhadra, Tạng: Kun-tu-bzan-po=pháp thân chí thiện) do đức Phật Tì-lô-giá-na hóa sinh, cũng tức là pháp thân Phổ Hiền (Phạm: Dharmakàya-samantabhadra) để tăng thêm lòng sùng kính. Phái mới thì cho vị Phật này là thân cùng một thể không hai của Bạt-chiết-ra-đà-la (Phạm:Vajradhara, Kim cương trì) và Bạt-chiết-ra-tát-đóa (Phạm:Vajrasattva, Kim-cương-tát-đóa). Kim cương trì có các tên gọi khác là: Tối thắng Phật, Tối thượng thắng giả, Nhất thiết bí mật chủ, Chư Như Lai đô thống, Vô thủy vô chung giả v.v... Kim-cương-tát-đóa cũng có những tên khác là: Tối thượng trí, Thượng thủ, Ngũ thiền na Phật thống lãnh v.v... A-đề-phật-đà là bậc có đủ ba đức Đại giác, Vô thượng, Đại tự tại; không đầu không cuối, không giới hạn, không biên tế, có thể biến khắp mười phương, hết thảy muôn vật đều do A-đề-phật-đà tạo ra, nương vào năng lực của Ngài mà hiển hiện. Ngài có đủ năm thể, năm trí, năm kiến. Ngài tạo ra hết thảy Phật, thống lãnh Ngũ thiền na Phật. Tịnh độ của Ngài là trời Sắc Cứu Kính (#og-min). [X. Phật Thuyết Tối Thượng Căn Bản Đại Lạc Kim Cương Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh Q.7; E. Schlagintweit: The Buddhism in Tibet; L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet, or Lamaism].
a đề sa
(阿提沙) (982-1054?) Phạm: Atiza, tên Tây tạng: Phul-byu. Cũng gọi A-để-giáp, A-để-sa, A-hông-sa. Tổ khai sáng phái Ca đương (Phạm: Bka#- gdam-pa) của Phật giáo Tây Tạng, người nước Tát Hạ (Zahora) Đông Ấn Độ, con thứ của vua Thiện Tường (Tạng:Dge-a#i-dpa), vốn tên là Nguyệt Tạng. Hai mươi chín tuổi, ngài theo Luật sư Giới Hộ (Phạm: Zìlarakwita) xuất gia. Sau khi xuất gia, ngài học rộng các kinh điển của Đại chúng bộ, Thượng tọa bộ, Chính lượng bộ, Nhất thiết hữu bộ và Mật giáo. Pháp danh ngài là Cát Tường Nhiên Đăng Trí (Phạm: Dìpakarazrìjĩàna, cũng gọi Nhiên Đăng Cát Tường Trí). Ngài từng tham học các đại sư Mạt-để-nhã-na-bồ-đề (Phạm:Matijĩàna bodhi), Trí Tường Hữu, Pháp Hộ (Phạm: Dhar-marakwita), A-phạ-đô-để-ba (Phạm: Avadhùtipa), Bảo sinh tịch tĩnh (Phạm: Ratnakaràsantipa), Tiểu-cô-tát-lê, Nhật-tỉ-khô-cử (Tạng: Rigs-pa#i khu-byug). Sau, ngài đến chùa Siêu Giới (Phạm: Vikramazìla) ở nước Ma-yết-đà giảng dạy về Đại-tất-địa và các học thuyết Đại thừa. Năm 1083 Tây lịch, nhận lời mời của vua Tây Tạng là A-lí-trí quang và Bồ-đề quang, ngài rời Ma-yết-đà đi Tây Tạng. Bấy giờ, tín đồ Phật giáo Tây Tạng đều tu theo tà pháp, không trọng đức hạnh, ngài bèn soạn sách, lập thuyết nhằm khôi phục nền Phật giáo Ấn Độ chân chính, chấn hưng giới luật, thống nhất Phật giáo Tây Tạng, sáng lập phái Ca Đương, đi giáo hóa khắp xứ Tây Tạng, cứu vãn phong tục đồi trụy, đặt ra phép tắc mới, bộ mặt Phật giáo Tây Tạng nhờ đó thay đổi hoàn toàn. Trong thời gian ấy ngài phiên dịch kinh điển và soạn thuật, hình thành cuộc phục hưng Phật giáo Tây Tạng trước kia chưa từng có. Về sau, ngài nhập tịch ở chùa Nhiếp Đường (Phạm: Sĩi-tha) phía Tây nam Lạp-tát (Lhasa), thọ 73 tuổi. Những kinh điển do ngài dịch gồm có: luận Nhị Vạn Quang Minh, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, luận Phân Biệt Nhiên, Thừa Bảo Tính Luận Thích. Ngài soạn thuật hơn ba mươi bộ, như: luận Bồ Đề Đạo Đăng, kinh Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo, Hành Tập Đăng, luận Nhập Nhị Đế, Trung Quán Giáo Thụ, Vô Cấu Bảo Thư Hàn...tất cả hơn 30 bộ. Trong số này, luận Bồ Đề Đạo Đăng là trọng yếu hơn cả. Tác phẩm này đã được sư Pháp Tôn dịch ra Hán văn và xuất bản vào năm 1978. Về phương diện tu hành, Ngài cực lực đề xướng gồm tu giữ giới, Thiền định và quán pháp. Ngài còn lập giáo phán Tam sĩ giáo (Tạng: skyed-bus gum-gyi lamgyi rim-pa), chủ trương tu tập theo thứ tự phù hợp với ba căn thượng, trung, hạ. Ngoài ra, ngài đặc biệt tôn sùng tín ngưỡng hóa thân Văn Thù. Trong việc dạy học, truyền đạo, vì ngài đặc biệt coi trọngnghiệp quả, nên người đời còn tôn xưng ngài là Nghiệp quả luận sư. Ngài suốt đời giáo hóa, đệ tử học pháp rất đông, những người nổi tiếng hơn cả thì có: Khố Đốn (Tạng:Khu-ses-rab brtsonhgrub), Nặc Khố (Tạng: Rnog bloldanses-rab), Lạc Mẫu Đông (Tạng: Hbrom-ston) v.v... Trong tư tưởng Phật giáo, ngài một mực phản đối việc trước nay lấy luận Trung Quán của Bồ-tát Long Thụ làm trào lưu chủ yếu của tư tưởng đương thời, mà cổ xúy tư tưởng Du Già của Bồ-tát Di Lặc. Giáo nghĩa của Phật giáo Tây Tạng vốn rất đơn điệu, sau khi được tư tưởng mới này khích thích, thì ngoài phái Ca Đương đã sẵn có, còn chia ra phái Tát-ca (Tạng: Saskya-pa) và phái Ca- nhĩ-cư (Tạng: Bka#- bagyud-pa). Trong các đệ tử, sư Lạc Mẫu Đông kế thừa thuyết của ngài, mở rộng giáo thuyết của phái Ca Đương, có ảnh hưởng rất lớn đối với các phái Phật giáo Tây Tạng phát triển sau này. Ngài Tông Khách Ba khai sáng phái Ngạch Nhĩ Đức (Tạng: Dge-lugs-pa) lấy giáo nghĩa do ngài A-đề-sa đề xướng làm trung tâm, vì thế nên phái Ngạch Nhĩ Đức còn được gọi là phái Ca Đương mới. [X. Đa-la-na-tha Ấn Độ Phật giáo sử; Lạt-ma giáo sử lược (Trần Thiên Âu); Biên Cương Chính Giáo Chi Nghiên Cứu (Hoàng Phấn Sinh); Tây Tạng Phật giáo sử (Thánh Nghiêm); Tây Tạng Phật Giáo Đích Ca Đương Phái (Hiện Đại Phật Giáo Học Thuật Tùng San 75); Tây Tạng Phật Giáo (Trúc Tùng Đơn Truyện)].
a để lí tiên
(阿底哩仙) A-để-li, Phạm: Atri. Cũng gọi A-điệt-lí, A-để-lệ. Dịch ý là người tham ăn. Tên một vị tiên ở Ấn Độ thời xa xưa, hoặc là một trong chín người con của Phạm Thiên, một trong bảy ngôi sao trong chòm sao Bắc đẩu. Những ghi chép về vị tiên này, thấy rải rác trong các kệ tụng của Hỏa Thiên, Đế Thích Thiên, A-thấp-bà-nị (Phạm: Azvinì) và Tì-thủ-đề-bà (Phạm:Vizvadeva) trong kinh điển Phệ Đà. Bí Tạng Kí và Chư Thuyết Bất Đồng Kí quyển 10 nói, vị tiên này là quyến thuộc của Hỏa Thiên. Trong Hiện đồ mạn-đồ-la không có tượng của vị tiên này, chỉ có Bí Tạng Kí thì nói vị tiên này tay trái cầm bình nước, tay phải úp vào mình. [X. Thai tạng giới thất tập Q.Trung; A-sa-phọc-sao Q.125].
a để lý
Atri (skt). 1) Kẻ nuốt sống: A devourer. 2) Một trong những ngôi sao trong nhóm Đại Hùng: One of the stars in Ursa Major. 3) Một trong những thị giả của Thần Hỏa trong Thai Tạng Giới: One of the assistants of Agni shown in the Garbhadhatu. 4) Một vị cổ Tiên: An ancient rsi.
a để sa
Dipankara-Srijnana (skt). (I) Tiểu sử của A Để Sa—Atisa's biography: Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, tên tuổi của luận sư Dipankara-Srijnana được xếp hàng đầu trong số những người Ấn Độ đã hoạt động nhiệt tình để tạo cho Tây Tạng và Ấn Độ gần gủi nhau hơn về mặt văn hóa. Tại Tây Tạng, danh tiếng ông chỉ đứng sau danh tiếng của Đức Phật và ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava). Trong số tất cả các học giả Ấn Độ đến Tây Tạng, luận sư A Để Sa là một học giả có công lớn lao trong việc dịch những tác phẩm vô giá từ tiếng Phạn ra tiếng Tây Tạng. Thân phụ của ngài là vua Kalyana Sri và thân mẫu là Sri Prabhavati. Ông sinh năm 982 tại Sahor, miền đông Ấn Độ. Không xa nơi Dipankara chào đời (cung điện Kalyana Sri) là tu viện Vikrama, nơi mà song thân của ngài rất gắn bó. Tu viện nầy rất nổi tiếng vào thời đó. Năm 12 tuổi, ngài xuất gia. Song thân muốn ngài tu tại tu viện Vikramasila, nhưng sau lời khuyên của luận sư Jitari, ngài xin phép song thân để đi đến Na Lan Đà. Tại đây ngài được thầy của trưởng tu viện là Avadhutipada nhận làm đệ tử. Thế là cậu bé Dipankara mười hai tuổi ở lại với Avadhutipada cho đến năm 18 tuổi. Trong thời gian nầy cậu đã nghiên cứu kỹ các kinh sách Phật giáo. Sau đó ngài trở về Vikramasila và hoàn tất việc học hành Phật pháp tại đây, nhưng sự khao khát về kiến thức của ngài vẫn chưa nguôi, nên ngài đi đến tu viện Mati ở Vajrasana và trở thành đệ tử của Mahavinayadhara Silaraksita, một nhà nghiên cứu sâu về luật tạng. Dipankara học về luật tạng trong hai năm. Do đó lúc 31 tuổi, Dipankara đã trở thành nhà tinh hông về Tam Tạng và Mật tông, và trở thành một học giả toàn diện. Tại Vikramasila, Dipankara đã gặp gỡ các học giả nổi tiếng, và có lẽ đã học được nhiều điều từ các môn đệ của ngài Hộ Pháp. Tuy nhiên, nỗi khao khát chu du của ông vẫn chưa thỏa mãn. Từ Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đi đến vùng duyên hải, có lẽ là đến Tamralipti, nay là Tamluk, trong quận Midnapur miền tây Bengal. Ngoài ra, ngài còn đi đến Lộc Uyển (Sarnath), Xá Vệ (Sravasti), Câu Thi Na (Kusinara) cùng các thánh địa khác trước khi dong buồm đi Sumatra. Lúc Dipankara du hành sang Sumatra là thời vua Vijayapala đang cai trị xứ Ma Kiệt Đà và Mahmud Ghaznavi đang xâm chiếm Ấn Độ (có lẽ vào năm 1023). Dipankara đi suốt 14 tháng, trong thời gian nầy, có thể ngài đã ghé thăm cả Miến Điện và Mã Lai. Ngày nay, không còn một dấu tích Phật giáo nào tại Sumatra ngoại trừ những đống gạch đổ nát của một vài tu viện cổ. Nhưng khi Dipankara đến đây thì nơi nầy đã nổi tiếng về kiến thức Phật giáo. Các tu sĩ Phật giáo nước ngoài trên đường đến Ấn Độ thường lưu lại Sumatra một thời gian để trau dồi tiếng Phạn. Người ta được biết điều nầy qua các bản tường thuật mà các nhà hành hương Trung Hoa từ bốn thế kỷ trước còn để lại. Năm 44 tuổi ngài rời khỏi Sumatra và quay trở về Vikramasila. Do có kiên thức và năng lực xuất chúng, ngài đã trở thành người đứng đầu nhóm 51 học giả và lãnh đạo 108 đền chùa tại đại tu viện Vikramasila—According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Acarya Dipankara-Srijnana's name stands foremost among the Indians who had worked selflessly to bring Tibet and India closer together culturally. In Tibet, his fame is only next to that of the Buddha and Padmasambhava. Undoubtedly, of all the Indian scholars who went to Tibet from India, Acarya Dipankara-Srijnana was one of the greatest. He made available priceless Sanskrit works in Tibetan. Acarya Dipankara-Srijnana's father was king Kalyana Sri and his mother Sri Prabhavati. He was born in 982 A.D. in eastern India. Not far from the Kalyana Sri palace where Dipankara was born, was the Vikrama-vihara, which was also caled Vikramasila Vihara. The parents of Dipankara were intimately connected with the Vikramasila Vihara which was widely known throughout the Buddhist world in those days. He left home at the age of twelve. His parents wanted him to stay at Vikramasila-Vihara, but after the advice from Acarya Jitari, he wanted to go to Nalanda. He reported himself to Bodhibhadra, head of at Nalanda-vihara. Later, Avadhutipada, the Guru (Bodhibhadra's master), accepted him as a disciple. Dipankara stayed with him until he was eighteen. In this period, he made a thorough study of the scriptures. Later, he returned to Vikramasila Vihara to complete his study, but his thirst for knowledge was not quenched, so he went to the Mati Vihara in Vajrasana and became the disciple of Mahavinayadhara Silaraksita, the great Vinaya-pitaka scholar. He studied Vinaya-pitaka with him for two years. Thus, by the time he reached the age of 31, Dipankara Srijnana had already become a master of the three Pitakas and the Tantras, and an all-round scholar. At Vikramasila, Dipankara had met and learned a lot from the disciples of Acarya Dharmapala. However, his wander lust was not satisfied. From Bodh-Gaya he went to the sea coast, perhaps to Tamralipti, the present Tamluk in the Midnapur district of West Bengal. Besides, Dipankara must have visited Sarnath (Rsipatan), Sravasti, Kusinara and other holy places before he set sail for Sumatra. Dipankara travelled to Sumatra while Vijayapala was the king of Magadha and Mahmud Ghaznavi invaded India (1023). Dipankara travelled for fourteen months and during this period he might have visited Burma and Malaysia also. No vestige of the Buddhist religion is left in Sumatra now except for the ruins of some old viharas, but when Dipankara went there, it was famous for Buddhist learning. It was usual for foreign monks on their way to India to stay in Sumatra for some time to acquire proficiency in Sanskrit. This is known from the account left by Chinese pilgrims four centuries earlier. At the age of forty-four, Dipankara Srijnana left Sumatra and returned to Vikramasila. By virtue of his extraordinary learning and ability, he became the chief among the 51 scholars and the leader of 108 temples in the Vikramasila Vihara. (II) Cuộc sống và công việc của tôn giả A Để Sa tại Tây Tạng—The life and work of Atisa in Tibet: Cuộc sống và công việc của ngài A Để Sa tại Tây Tạng rất quan trọng cho sự phát triển Phật giáo tại nước nầy. Từ khi ông đến Tây Tạng thì Phật giáo nước nầy đã phát triển thành nhiều trường phái bản địa khác nhau. trong số nầy hình thức Phật giáo hỗn tạp và chưa cải cách ban đầu được gọi là Rnin-ma-pa hay là trường phái Cũ với bốn tiểu phái chính. Các tín đồ của trường phái nầy thờ cúng Padmasambhava, xem đây là người sáng lập và là đạo sư của họ, họ tin tưởng vào sự ứng nghiệm của thần linh ma quỷ, họ thường được nhận biết qua chiếc mũ màu đỏ. Các giáo lý cải cách của A Để Sa, dựa trên truyền thống Du Già do Di Lặc và Vô trước sáng lập, dẫn đến sự hình thành của trường phái Bkah-gdams-pa bởi người đệ tử người Tây Tạng của ông là Hbrom-ston. Trường phái nầy có quan điểm tổng hợp của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, buộc các tu sĩ phải sống độc thân và không khuyến chuyện phù phép. Chính trên cơ sở của giáo lý nầy mà nhà cải cách vĩ đại của Tây Tạng là Tông Khách Ba vào thế kỷ thứ 14, đã lập nên trường phái Dge-lugs-pa, qua sự gạn lọc những nghi thức cầu kỳ của Bkah-gdams-pa và đang chiếm ưu thế trong Phật giáo Tây Tạng ngày nay cả về thế tục lẫn tâm linh, qua sự kế vị của các vị Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lamas): The life and work of Atisa in Tibet are very important for the development of Tibetan Buddhism. From the time he came to Tibet, Tibetan Buddhism developed into different indigenous schools. In relation to these, the earlier heterogenous and unreformed type of Buddhism came to be called Rnin-ma-pa or the old school with four main sub-sects. The followers of this schol worship Padmasambhava as their founder and Guru, believe in the fulfilment of both the divine and the demoniacal, and are generally recognized as such by their red caps. Atisa's reformed teachings, based upon the Yogacara traditions founded by Maitreya and Asanga, led to the establishment of the Bkah-gdams-pa school by his Tibetan disciple, Hbrom-ston. It took a synthetic view of the teachings of both Hinayana and Mahayana, enforced celibacy upon the monks and discouraged magic practices. It was on the authoritative basis of this doctrine that the great Tibetan reformer, Tson-kha-pa, founded in the 14th century A.D. the Dge-lugs-pa sect, which purified the Bkah-gdams-pa of much of its elaborate ritualism and today dominates Tibetan Buddhism both temporarily and spiritually, through the religious succession of the Dalai Lamas, of whom the fourteenth is now the head of this theocracy.
a địa cù đa
(阿地瞿多) Phạm: Atikùỉa. Dịch ý là Vô cực cao. Vị tăng dịch kinh ở đời Đường. người Trung Ấn Độ, năm sinh năm mất không rõ. Năm Vĩnh Huy thứ 3(652) đời vua Cao Tông nhà Đường, ngài vào kinh đô Trường An, được vua mời ở chùa Từ Ân. Đáp lời thỉnh cầu của sa môn Ngạn Tông, Lí Thế Tích, tăng tục gồm hai mươi tám người, ngài lập đàn Đà-la-ni phổ tập hội ở viện Phù Đồ, chùa Tuệ Nhật. Sa-môn Huyền Khải v.v... thỉnh ngài dịch điển tích của pháp hội, thành là Toát Yếu Sao Dịch tập 12 quyển, tức là kinh Đà-la-ni Tập hiện nay. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.8; Tống Cao Tăng Truyện Q.2; Lục Học Tăng Truyện Q.2; Đại Minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục].
a địa mục đắc ca
Atimuktata (skt)—Acacia flowers.
a đồ bàn đa
(阿荼槃多) Phạm: Alaka, Alakamanda. Pāli: Àơakamandà. Bài tựa kinh Di-lan- đà Vương Vấn (Pāli: Milindapaĩhà, Hán dịch: Na Tiên Tỉ-khưu Kinh) ca ngợi sự phồn vinh của thủ đô nước Hi Lạp là Sa-ca-la như sau: Thức ăn uống ngon lành, các loại thực phẩm phong phú, như ở châu Bắc-câu-lô, lúa gạo đầy đủ, hệt như đô thành A-đồ-bàn-đa trên cõi trời. A-đồ-bàn-đa là đô thành của thần Tài bảo (Phạm:Kuvela, thần thoại Phật giáo gọi là Tì-sa-môn, Phạm: Vaizvaraịa, Pāli: Vessavaịa, dịch âm: Tì-sa-môn, Bệ-sa-môn, Bệ-thất-la-bại-nang, dịch ý là Đa văn - Nghe nhiều, Phổ văn - Nghe khắp) trong thần thoại của Ấn Độ xưa. Kinh Đại Bát Niết Bàn (Pāli: Mahàparinibbàna-suttanta) trong Trường Bộ kinh 16 khen ngợi thành Câu-thi-na-ra (Pāli: Kusinàrà) như sau: A nan! Câu-thi-na-ra này là kinh đô của vua Đại Thiện Kiến, tên là Câu-xá-bà-đề (Pāli: Kusàvàtì (...). A- nan! Cũng như thành A-đồ-bàn-đa của các người trời, phồn vinh giàu có, nhân dân đông đúc, dân chúng đến họp, thức ăn dồi dào. [X. Kinh Đại Thiện Kiến vương (Pāli: Mahàsudassana-suttanta); Kinh A-tra-nẵng-chi (Pāli: Àỉànàỉiya-suttanta); kinh Khởi Thế Q.2].
A-ba-đà-na
phiên âm từ Phạn ngữ Avadna, một trong Mười hai bộ kinh (Thập nhị bộ kinh), dịch nghĩa là ‘thí dụ’, là những kinh Phật dùng các thí dụ để làm rõ ý nghĩa giáo pháp. Xem thêm Mười hai bộ kinh.
A-ca-ni-trá
phiên âm từ Phạn ngữ Akaniṣṭha, dịch nghĩa là Sắc cứu cánh thiên, cũng gọi là Hữu đỉnh thiên, là cõi trời hữu hình cao nhất trong Tam giới. Cõi trời này cũng gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Naiva-saṃjđnsaṃjđ-yatana) vì những người tu thiền đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng thì thần thức có thể đến được cảnh giới này. Chư thiên cư trú ở cõi trời này có tâm thức không phải tưởng cũng chẳng phải không tưởng.
A-chi-la-bà-đề
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
A-chin-ta
S: aciṅta, aciṅtapa; cũng gọi A-chin-ta-pa, với biệt danh là »Nhà tu hành mê của«;| Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Kam-ba-la (s: kambala), sống trong cuối thế kỉ thứ 9.| Ông là một người đốn củi nghèo tại Ða-ni-ru-pa (s: dhanirupa), chỉ mong được giàu có. Bị ý nghĩ này hành hạ, ông trốn vào rừng sống độc cư và gặp Du-già sư (s: yogin) Kam-ba-la. Kam-ba-la hướng dẫn ông vào Saṃ-va-ra-tan-tra, dạy cho ông phép đối trị lòng tham muốn giàu sang:| Tham muốn là những gì?| Tham muốn là con trai,| của một người đàn bà| mất khả năng sinh sản.| Hãy giải thoát khỏi nó.| Quán thân là bầu trời,| lúc đó Thần giàu sang,| sẽ tự hiện trước mắt,| và ước nguyện thành tựu.| A-chin-ta quán tưởng đúng như lời Ðạo sư chỉ dạy. Tâm thức thèm khát của ông biến mất trong ánh sáng đầy tinh tú, tinh tú lại biến mất trong không gian rộng lớn nên tâm thức ông trống rỗng. Ông báo lại với thầy tâm mình đã trống, Kam-ba-la dạy tiếp: | Tự tính bầu trời ư?| Có vật gì không nào?| Ngươi còn thèm vật gì, | không màu sắc, hình tướng?| Còn gì để quán tưởng?| Khi A-chin-ta nghe câu nói này, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Thánh đạo ca (s: dohā) của ông như sau:| Trong Ðại ấn vô tướng,| vạn tư duy giả dối,| đã biến thành trống rỗng.| Mọi hiện tượng chỉ là,| tâm thức đang biến hiện,| thật tại ta chính là,| Ðại thủ ấn không khác.
A-di-la-bà-để
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
A-di-la-bạt-đề
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
A-di-đà
阿 彌 陀; danh từ dịch âm từ chữ amita, dạng viết tắt của hai chữ Phạn (sanskrit) là Amitābha và Amitāyus. Amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng; | Tên của một vị Phật quan trọng, được tôn thờ nhiều nhất trong Ðại thừa (s: mahāyāna). A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc (s: sukhāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.| | H 1: A-di-đà Phật| Trong Phật gia (s: buddhakula) thì Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử, vào khoảng thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Thân hình của Ngài thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Tay của Ngài bắt Ấn thiền định, giữ Bát, dấu hiệu của một giáo chủ. Những trái cây trong bình bát tượng trưng cho trí huệ phong phú của Ngài. Tao sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.| Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quý, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ-khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của Ngài. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên toà sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hoá. Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai vị Ðại Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara), đứng bên trái và Ðại Thế Chí (s: mahāsthāmaprāpta), đứng bên mặt của Ngài. Có khi người ta trình bày Ngài đứng chung với Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha). Tương truyền rằng A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, Ngài từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỉ-khâu với tên Pháp Tạng (s: dharmākara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh sống trong cõi Cực lạc của mình cũng sẽ thành Phật. Ngài lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát. Các lời nguyện quan trọng nhất là:| (18) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên ta là đã khởi niệm cầu đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến ta, ta sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật«; (19) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong vô số thế giới chỉ cần nghe đến tên ta, muốn thác sinh trong Tịnh độ của ta để trau dồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật.« Nhờ phúc đức tu học, cuối cùng Pháp Tạng trở thành Phật A-di-đà, giáo chủ cõi Cực lạc.| Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Ðây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật – một phép tu »nhanh chóng, dễ dàng« hơn chứ không phải dựa vào tự lực của chính mình. Ðó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu »Nam-mô A-di-đà Phật« lúc lâm chung để được sinh vào cõi của Ngài.
A-di-đà kinh
阿 彌 陀 經; S: amitābha-sūtra; chính là bản ngắn của Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh.| Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của tông Tịnh độ, lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam. Kinh này trình bày phương pháp nhất tâm niệm danh hiệu A-di-đà và sẽ được Ngài tiếp độ về cõi Cực lạc lúc lâm chung (Niệm Phật). Ngày nay, nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của kinh này đã thất lạc, người ta chỉ còn tìm thấy những bản chữ Hán của hai dịch giả lừng danh là Cưu-ma-la-thập và Huyền Trang.
A-dật-đa
phiên âm từ Phạn ngữ Ajita, dịch nghĩa là ‘vô năng thắng’, tức là Bồ Tát Di-lặc. Xem Bồ Tát Di-lặc.
A-dục
阿 育; S: aśoka; P: asoka; cũng gọi là A-du-ca, dịch nghĩa là Vô Ưu, không ưu sầu, lo nghĩ;| Tên của một vị vua xứ Maurya miền Bắc Ấn Ðộ, trị vì từ năm 272 đến 236 trước Công nguyên, mất năm 231. Trong lịch sử Ấn Ðộ, ông đã để lại nhiều dấu tích quan trọng. Sau một cuộc viễn chinh đẫm máu năm 260 ông có dịp được nghe Phật pháp và tỉnh ngộ, quyết định thành lập một »Vương quốc phụng sự Phật pháp.« Ông đích thân đi khắp các miền trong nước để bảo vệ luật lệ và chính pháp. Ông cũng là người cổ vũ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật cúng tế. Trong thời A-dục vương, đạo Phật phát triển mạnh ở Tích Lan. Người con trai của A-dục vương là Ma-hi-đà (mahinda) cũng góp phần rất nhiều trong việc truyền bá đạo Phật.| Tài liệu về A-dục rất nhiều sai khác. Theo tài liệu từ văn hệ Pā-li thì ông là một quốc vương chỉ phụng sự cho đạo Phật. Theo một số tài liệu của giới khảo cổ, nhất là tư liệu khắc trên đá do chính A-dục cho ghi lại thì ông cũng ủng hộ rất mạnh các giáo phái khác, đúng như trách nhiệm của một nhà vua. Các tư liệu khắc trên đá hay dùng chữ »Pháp« (s: dharma). Người ta thấy rằng Pháp nói ở đây không chỉ phải là Phật pháp mà là một hệ thống luân lí do nhiều trào lưu tôn giáo thời đó tổng hợp lại. Quan điểm của A-dục vương là làm sao thần dân có một cuộc đời hạnh phúc; trong đó gồm sự tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, biết tuân lời, tôn trọng sự thật, hướng nội… | Dưới thời A-dục vương có một sự can thiệp của triều đình vào Tăng-già khi Tăng-già đứng trước nạn chia rẽ. Lần đó, một số tỉ-khâu bị loại ra khỏi giáo hội, buộc phải hoàn tục.
a-già-đà
phiên âm từ Phạn ngữ agada, cũng đọc là a-kiệt-đà, dịch nghĩa là vô bệnh, bất tử dược hay phổ khử, một loại thần dược có thể phòng ngừa và chữa khỏi nhiều thứ bệnh tật, giải trừ được các loại thuốc độc.
A-hàm
phiên âm từ Phạn ngữ gama, là tên gọi chung các kinh điển thuộc hệ Nguyên thủy, cũng gọi là hệ kinh điển Tiểu thừa, dịch nghĩa là pháp quy (muôn pháp đều theo về), cũng dịch là vô tỷ pháp (pháp không gì sánh bằng). Cả thảy có bốn bộ A-hàm là: 1. Trường A-hàm, 2. Trung A-hàm, 3. Tạp A-hàm, 4. Tăng nhất A-hàm.
; 阿 含; S: āgama; A-hàm là dịch theo âm Hán Việt, dịch nghĩa là Pháp quy, Vô tỉ pháp, tức là cái »gốc của giáo pháp«;| Tên đặt cho các bộ kinh căn bản của Phật giáo viết bằng văn hệ chữ Phạn (sanskrit), nội dung giống các Bộ kinh (p: nikāya) thuộc văn hệ Pā-li. Có bốn bộ A-hàm: 1. Trường a-hàm (s: dīrghāgama) gồm 30 bản kinh; 2. Trung a-hàm (s: mādhyamāgama), tập trung về các vấn đề siêu nhiên; 3. Tạp a-hàm (s: saṃyuktāgama), với nhiều đề tài khác nhau như quán tưởng và thiền định; 4. Tăng nhất a-hàm (s: ekottarikāgama).| A-hàm tập hợp các giáo lí cơ bản của Tiểu thừa mà đức Phật đã từng thuyết giảng như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên, Nghiệp… Các Bộ kinh thuộc văn hệ Pā-li của Tiểu thừa phần lớn đều trùng hợp với A-hàm, nhưng Bộ kinh thì có thêm phần thứ năm là Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).
A-jan-ta
S: ajaṇṭā; Hán Việt: A-chiên-đà;| Một thành phố phía Tây Ấn Ðộ, nổi tiếng với những hang động có di tích đạo Phật. Cố đô này được kiến tạo giữa năm 200 và 700 sau Công nguyên. Người ta tìm thấy tổng cộng 29 động, dài trên 5,6 km với các bức tranh vẽ trên tường, được xem là còn nguyên vẹn nhất trên thế giới. Ðây là di tích quý báu nhất của Ấn Ðộ về nghệ thuật hội hoạ Phật giáo, cho phép người ta tìm hiểu sự phát triển của nền nghệ thuật này suốt gần một thế kỉ.| Các bức tranh trên tường diễn tả lại cuộc đời của Phật Thích-ca Cồ-đàm như kinh sách truyền lại: Thái tử Tất-đạt-đa ra bốn cửa thành; hành động mê hoặc của Ma vương; lúc Ngài sắp thành đạo, nhập Niết-bàn… Một số tranh khác diễn tả các tiền kiếp của Ngài. Qua các bức tranh, người ta có thể biết thêm về cuộc sống Ấn Ðộ trong thời gian đầu Công nguyên. Ðặc biệt trong bốn hang động, người ta còn tìm thấy các dạng Tháp (s: stūpa) thời đó.
A-jô-gi
S: ajogi, āyogipāda, với biệt danh là »Kẻ vô dụng bị hất hủi.«|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, sống ở Hoa Thị thành (s: pāṭa¬lipu¬tra). |Ông là người lười biếng vô cùng, chỉ biết ăn ngủ đến nỗi người mập phệ. Ông không làm được việc gì, hoàn toàn vô tích sự, đến mức cha mẹ cho ra ở trên bãi thiêu xác. Một Du-già sư (s: yogin) đi ngang, chỉ ông phép quán tưởng như sau: »Hãy tưởng tượng một chấm tròn, không lớn hơn một hạt cải, chấm đó nằm trên đầu mũi ngươi, trên cửa hơi thở ra vào của ngươi, và quán tưởng trong hạt cải đó một trăm triệu thế giới.« |A-jô-gi nghe lời và sau chín năm thiền định tinh cần, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Phép quán tưởng mà ông tu học chính là phép quán tính Không, để cho tư tưởng hoà tan trong Không. Ðối tượng quán sát này cũng làm ta nhớ lời Phật, đại ý »trên đầu ngọn cỏ là cả một thế giới.«|Chứng đạo ca của A-jô-gi như sau:|Theo lời dạy của thầy,|quán trên mũi điểm Không.|Khi tâm đọng trên điểm,|thì thế gian tan biến.
a-kiệt-đà
xem a-già-đà.
A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la
phiên âm từ tên Phạn ngữ là Ajita-keśa-kambara, là một trong sáu vị thầy ngoại đạo thời đức Phật. Ngài Huyền Trang dịch nghĩa tên ông này là “Vô Thắng Phát Hạt”.
A-la-hán
xem Bốn quả thánh.
; 阿 羅 漢; S: arhat; P: arahat, arahant; T: dgra com pa; dịch nghĩa là Sát Tặc (殺 賊), là diệt hết bọn giặc phiền não, ô nhiễm; Ứng Cung (應 供), là người đáng được cúng dường; Bất Sinh (不 生) hoặc Vô Sinh (無 生), là người đã đạt Niết-bàn, đoạn diệt sinh tử.|A-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, người đã đạt cấp »vô học« của Thánh đạo (s: āryamārga; p: ariyamagga), không bị ô nhiễm (s: āśrava; p: āsava) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa) chi phối. Thánh quả A-la-hán có khi được gọi là Hữu dư niết-bàn (s: sopadhiśeṣanirvāṇa; p: savupadisesanibbāna).|A-la-hán là hiện thân của sự Giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thuỷ. Khác với hình ảnh của Bồ Tát, hiện thân của Phật giáo Ðại thừa của thời hậu thế với mục đích Giải thoát mọi chúng sinh, A-la-hán tu tập nhằm giải thoát riêng mình. A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 Trói buộc thế gian như: Ngã kiến, Nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), Vô minh. A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.
A-la-la
phiên âm từ Phạn ngữ là rḍa-klma, cũng đọc là A-lam, A-lam-ca-lam hay Ca-la-ma, Hán dịch nghĩa là Tự đản hay Giải đãi, là vị tiên nhân mà thái tử Tất-đạt-đa tìm đến tham học trước tiên. Thái tử Tất-đạt-đa đã ở lại chỗ vị này nhiều tháng, sau đó không hài lòng với giáo pháp do ông truyền dạy nên mới từ giã tìm đến chỗ ông Uất-đà-già. Sau khi thành Phật, ngài có ý muốn hóa độ các vị này trước hết, nhưng khi ấy thì các ông đều đã qua đời.
A-lam
xem A-la-la.
A-lam-ca-lam
xem A-la-la.
a-lan-nhã
phiên âm từ Phạn ngữ là Araya, cũng đọc là a-luyện-nhã, dịch nghĩa là không nhàn, nhàn cư, chỉ những nơi trống vắng như mồ mã, đồng hoang, rừng vắng, núi cao... là nơi những bậc xuất gia tu hành quyết chí đi đến để tập trung tu tập thiền định tịch tĩnh, tránh xa mọi sự tranh chấp. Ngoài cách dùng a-lan-nhã xứ để chỉ những nơi như thế, trong kinh luận còn dùng a-lan-nhã pháp và a-lan-nhã hạnh để chỉ pháp tu và công hạnh của những vị này.
a-luyện-nhã
xem a-lan-nhã
a-luyện-nhã tỳ kheo
Aranya-bhiksu (skt)—Lâm Tăng hay Sơn Tăng, vị Tỳ Kheo sống độc cư trong rừng—A forest Bhiksu—A monk who lives a solitary life in the forest.
A-lại-da thức
阿 賴 耶 識; S: ālayavijñāna; dịch nghĩa là Tạng thức (藏).|Khái niệm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda), một trong hai nhánh chính của Phật giáo Ðại thừa (s: ma-hāyāna). Trong trường phái này, A-lại-da thức được xem là thức căn bản của mọi hiện tượng. Thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần.|Khái niệm A-lại-da thức là cơ sở của Duy thức tông, qua đó người ta giải thích sự hiện hữu của »con người«, của »cá nhân«. Theo đó, các Chủng tử (s: bīja) của Nghiệp (s: karma; p: kamma) được chứa đựng trong A-lại-da thức và đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện thành tư tưởng. Các tư tưởng có tính riêng tư đó tác động trong mối liên hệ với Vô minh (s: avidyā) và Ngã (s: ātman) chấp làm cho mỗi người tưởng rằng có một con người đứng sau mọi hành động của mình. Tư tưởng đó lại gây tiếp các chủng tử của nghiệp, và nghiệp lại tiếp tục tạo tác. Vòng lẩn quẩn này chỉ được đối trị bằng quan điểm cho rằng, không hề có một thế giới độc lập ngoài Tâm. Theo đó thế giới chỉ là phản ánh của A-lại-da thức, con người chỉ thấy bóng dáng của chính tâm thức nó. A-lại-da thức thường được xem như là »sự thật cuối cùng«, có khi được gọi là Chân như (s: tathatā). Theo một quan điểm Phật giáo khác thì A-lại-da thức chỉ là nơi tập hợp của mọi nghiệp xưa cũ (Pháp tướng tông).
A-lợi-bạt-đề
tên một con sông, các kinh sách khác gọi đây là sông Ni-liên hay Ni-liên-thiền, phiên âm từ Phạn ngữ là Nairađjana, cũng đọc là Ni-liên-thiền-na. Đức Phật sau khi từ bỏ pháp tu khổ hạnh đã xuống tắm ở sông này. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả (過去現在因果經), quyển 3 và quyển 4 kể rằng khi ngài xuống sông tắm rửa xong thì do thân thể quá suy nhược nên không thể lên được, liền có chư thiên xuất hiện nâng đỡ ngài lên, sau đó ngài mới thọ nhận bát sữa cúng dường của cô Nan-đà-ba-la (難陀波羅).
A-lỵ-la-bạt-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là Ajirvati, cũng đọc là Ê-lan-nhã, A-di-la-bạt-đề, A-thị-đa-phạt-để, A-di-la-bà-để, A-chi-la-bà-đề, Thi-lạt-noa-phạt-để, dịch nghĩa là “vô thắng”, “hữu kim”, là tên một con sông ở Ấn Độ, gần thành Câu-thi-na, gần bờ sông có mọc rất nhiều cây sa-la. Trong các bản dịch của ngài Pháp Hiển gọi sông này là sông Hy-liên, phiên âm từ Phạn ngữ là Hiraṇyavatỵ.
a-ma-lặc
phiên âm từ Phạn ngữ là mra, cũng đọc là a-mạt-la (阿末羅), am-la, yểm-ma-la, là tên một loại trái cây giống như trái hồ đào, vị chua và ngọt, có thể dùng làm thuốc.
A-ma-ra-va-ti
S: amāravatī; Hán Việt: A-ma-la-bà-đề 阿 摩 羅 婆 提;|Thành phố miền Nam Ấn Ðộ, là một trung tâm nghệ thuật Phật giáo quan trọng ở thế kỉ 2-3. Những di tích ở đây phản ánh lại thời gian đầu của Ðại thừa Phật pháp. Sự nối tiếp giữa nghệ thuật thời Phật giáo nguyên thuỷ và nghệ thuật vùng Càn-đà-la (s: gandhāra) đã gây ảnh hưởng lớn cho nền văn hoá nghệ thuật ở những vùng Nam á, nhất là ở Thái Lan, Nam Dương (indonesia) và Tích Lan (śrī laṅkā).|Di tích nghệ thuật quan trọng nhất của vùng này là một Bảo Tháp (s: stūpa) nằm ở phía Ðông, theo truyền thuyết có chứa đựng Xá-lị của đức Phật lịch sử. Việc phát hiện một trụ đá với những lời viết của vua A-dục (s: aśoka) chứng tỏ rằng, ông chính là người thúc đẩy việc xây dựng Bảo tháp này. A-ma-ra-va-ti cũng là trung tâm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các người hành hương mộ đạo từ mọi nơi – ngay cả Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) – đều đến chiêm bái trung tâm Phật học này. Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang thuật lại rằng, trong thời hưng thịnh, hơn 20 tu viện tầm cỡ được kiến lập tại đây.
a-mật-lý-đa
xem cam lộ.
A-na Bồ-đề
阿 那 菩 提; S: ānabodhi;|Tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Ðộ, là Mã Minh (aśvaghoṣa).
A-na-bà-đạp-đa
tên suối và tên một hồ lớn thường được nhắc đến trong nhiều kinh luận, nằm trên đỉnh núi Hy-mã-lạp. A-na-bà-đạp-đa được phiên âm từ tiếng Phạn là Anavatapta, cũng đọc là A-nậu-đạt, dịch nghĩa là Vô nhiệt hay Vô não nhiệt.
A-na-bân-để
(阿那邠坻), phiên âm từ Phạn ngữ Antapindika, tên một tinh xá lớn thời đức Phật, thường gọi là tinh xá Kỳ Viên, cũng gọi là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, một trong các trú xứ lớn của chư tăng vào thời đức Phật, tên Phạn ngữ đầy đủ là Jetavana-anthapiṇḍasyrma. Xem Tinh xá Kỳ-hoàn.
A-na-ha-na
J: anahana; S: ānāpāna;|Cách đọc tiếng Nhật của chữ Phạn ānāpāna, nói về sự kiểm soát hơi thở trong Du-già Ấn Ðộ. Ngược với Du-già Ấn Ðộ, trong Thiền tông người ta không kiểm soát hay điều hoà hơi thở, A-na-ha-na có mục đích để cho hơi thở ở trong dạng tự nhiên nhất của nó. Trong phép Toạ thiền (j: zazen), hơi thở đóng một vai trò quan trọng, nhưng hành giả chỉ ý thức và tỉnh giác về nó, chứ không hề tìm cách điều khiển theo ý mình.|Nếu Du-già Ấn Ðộ cho rằng sự kiểm soát hơi thở kéo theo một tâm thức sâu lắng thì Thiền tông cho rằng sự tỉnh giác tâm ý sẽ đưa hơi thở trở về trạng thái tự nhiên và cho rằng sự cố ý kiểm soát hơi thở chỉ gây thêm căng thẳng nội tâm và chỉ làm hành giả mất tỉnh giác. Vì vậy, hành giả Thiền tông thường chỉ học phép đếm hơi thở và không áp dụng thêm các thuật khác của Du-già (An-ban thủ ý).
A-na-hàm
phiên âm từ Phạn ngữ là Angmin, quả vị thứ ba trong Bốn thánh quả Tiểu thừa, chỉ còn dưới dưới quả A-la-hán. A-na-hàm dịch nghĩa là Bất hoàn hoặc Bất lai, vì người chứng đắc quả vị này không còn tái sinh trong Dục giới, sau khi xả thân này liền thọ thân ở Sắc giới hoặc Vô sắc giới rồi nhập Niết-bàn. Người chứng đắc quả vị A-na-hàm tùy theo trạng thái sẽ nhập Niết-bàn mà phân ra năm hạng, gọi chung là Ngũ chủng Bất hoàn (五種不還), gồm có: Trung bát (中般- antara-pariṇirvyin), Sanh bát (生般- up-apdya-pa), Hữu hành bát (有行般- sabhisaṃskra-pa), Vô hành bát (無行般- anabhisaṃskra-pa) và Thượng lưu bát (上流般- rd-hvasrota-pa). Xem Bốn quả thánh.
; 阿 那 含; S, P: anāgāmin; dịch ý là Bất hoàn;|Bất hoàn.
A-na-luật
(阿那律), phiên âm từ Phạn ngữ Aniruddha, nguyên bản Hán văn dùng A-nê-lâu-đậu (阿泥樓豆) hoặc Lâu-đậu, cũng đều chính là vị này. Ngoài ra còn có rất nhiều cách phiên âm khác như A-ni-lâu-đà, A-nê-luật-đà, A-nê-lâu-đà, A-nô-luật-đà, A-na-luật-đề... Danh xưng này được dịch nghĩa là Vô Diệt, Như Ý, Vô Tham, Vô Chướng, Thiện Ý... Đây là một trong mười vị đại đệ tử của Phật (Thập đại đệ tử), được Phật ngợi khen là Thiên nhãn đệ nhất. Ông cũng là một trong các vương tử xuất gia cùng lúc với ngài A-nan.
; 1. 阿 那 律; S, P: aniruddha; gọi đủ là A-na Luật-đà, dịch nghĩa là Như Ý, Vô Tham;|Em họ và một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong mười đại đệ tử của đức Phật, mỗi vị đều có một thứ bậc cao nhất và A-na-luật là Thiên nhãn đệ nhất.|2. 阿 那 律; S, P: anuruddha;|Một Luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda), sống giữa thế kỉ thứ 8 và 12, là người biên soạn tác phẩm danh tiếng A-tì-đạt-ma giáo nghĩa cương yếu (阿 毘 達 摩 教 義 綱 要; p: abhidhammatthasaṅgaha), luận giải toàn bộ giáo pháp của phái này. Trong nhiều điểm, quan niệm của Sư rất giống với Thanh tịnh đạo (p: visuddhimagga) của Phật Âm (s: buddhaghoṣa; p: buddhaghosa) nhưng cách trình bày ngắn hơn, khó hiểu hơn. Trong bộ luận này, Sư chú trọng nhiều đến những khía cạnh tâm lí của Phật pháp.|Người ta cũng xem Sư là tác giả của hai bộ luận khác là Nāmarūpapariccheda (»Danh và sắc, hai yếu tố tạo một cá nhân«) và Paramatthavinicchaya (»Lượng định về đệ nhất nghĩa«).
A-na-luật-đề
xem A-na-luật.
A-nan-ga-pa
S: anaṅgapa, với biệt danh là »Kẻ cuồng bảnh trai«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống giữa thế kỉ thứ 9, sống tại Gau-đa (s: gauḍa).|Nhờ nghiệp nhẫn nhục đời trước, ông là người rất bảnh trai và rất hãnh diện với vẻ đẹp của mình. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đi qua, ông cho mời vào nhà tiếp đãi nồng hậu. Hỏi ý kiến vị này về cuộc đời hai người, ông nghe vị này phê bình mình là kẻ dại dột kiêu hãnh về những điều không thật, không sáng tạo. Trong lúc đó vị Du-già sư là người tu tập Phật pháp, có đầy đủ khả năng, kể cả khả năng đạt những hảo tướng của một vị Phật. Ông cầu khẩn xin học và sẵn sàng ngồi yên thiền định. Vị này truyền cho ông bí mật của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và thuyết giảng cho ông về các trí nằm trong sáu giác quan:|Mọi hiện tượng muôn vẻ,|chẳng là gì khác hơn,|Tự tính của tâm thức.|Hãy để yên đối tượng,|của cả sáu giác quan,|và an trú trong niệm,|tự tại không dính mắc.|A-nan-ga-pa thực hành Nghi quỹ (s: sādhana) như được dạy và chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Bài kệ ngộ đạo của ông như sau:|Sinh tử như giấc mộng,|không có gì thật chất.|Thân thể như cầu vồng,|nhiễm độc Tham Sân Si|Vì thế ham bám giữ,|thấy ảo ảnh, tưởng thật.|Hãy thoát vòng vướng mắc,|như giấc mơ độc địa,|Sinh tử thoắt biến thành,|Pháp thân thường thường trụ.
A-nan-đà
阿 難 陀; S, P: ānanda; cũng gọi ngắn là A-nan, dịch nghĩa là Khánh Hỉ (慶 喜), Hoan Hỉ (歡 喜);|1. Một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Cùng họ với Phật, A-nan-đà gia nhập giáo hội hai năm sau ngày thành lập, trở thành người hầu cận của Ðức Phật. Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất và được xem là Nhị tổ của Thiền tông Ấn Ðộ.|Theo kinh sách, A-nan-đà được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật. Tôn giả chỉ chấp nhận làm người hầu cận cho Phật khi được Phật hứa rằng, không vì thế mà được quan tâm hơn các vị khác. A-nan-đà cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Ðề-bà Ðạt-đa. Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn. Chính vì điều này mà trong lần Kết tập thứ nhất, A-nan-đà bị Tăng-già chê trách. Tương truyền rằng, sau khi Phật nhập Niết-bàn, A-nan-đà mới giác ngộ, đắc quả A-la-hán trong đêm trước lần kết tập thứ nhất.|2. Nếu định nghĩa theo Ấn Ðộ giáo (e: hindu-ism) thì A-nan-đà không phải là tâm trạng khánh hỉ được tạo ra bởi một đối tượng mà hơn nữa, nó là một niềm vui của một trạng thái nằm trên mọi tư duy nhị nguyên, những cặp đối đãi. Hệ thống triết lí Vê-đan-ta (s: vedānta) quan niệm rằng, một tâm thức thoát khỏi suy nghĩ – nghĩa là tâm thức không còn vướng mắc những khái niệm như sinh, tử, khổ não, nói chung là mọi tư duy – chính là A-nan-đà, sự an vui thuần tuý. Khi mô tả, diễn giải những danh từ rất trừu tượng như »Brahman«, hệ thống Vê-đan-ta sử dụng thành ngữ »Sat-Cit-Ānanda«, nghĩa là »Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà« và A-na-đà ở đây là sự an vui tuyệt đối, vô lượng mà hành giả chỉ có thể cảm nhận được trong lúc nhập Ðịnh (s: samādhi). Trong các dòng tu theo truyền thống của Ðại sư Shan-ka-ra (s: śaṅkara) thì A-nan-đà là chữ cuối của nhiều danh hiệu, ví dụ như Vi-ve-ka-a-nan-đà (s: vivekānanda).
A-nhã Kiều-trần-như
phiên âm từ Phạn ngữ jđta Kauṇḍinya. Kiều-trần-như là họ của vị này, nên theo đây mà xét thì tên A-nhã là do đức Phật đặt cho sau khi vị này hiểu đạo. Chữ A-nhã được dịch sang chữ Hán là giải, dĩ tri hay liễu bổn tế, đều có nghĩa là “đã thấu rõ, đã hiểu biết”.
A-ni-lâu-đà
xem A-na-luật.
A-nu-ra-đa-pu-ra
S, P: anurādhapura; Hán Việt: A-nô-la-đà;|Ðến thế kỉ thứ 10 là thủ đô của Tích Lan. Ðây cũng là trung tâm của Phật giáo với hai chùa danh tiếng là Ðại tự (p: mahāvihāra) và Vô Uý Sơn tự (p: abhayagiri-vihāra). Trong lúc truyền bá Phật pháp sang Tích Lan, con trai của A-dục vương (s: aśoka) là Ma-hi-đà (s, p: mahinda) có kế hoạch xây dựng một đạo trường tại đây. Ðạo trường này chính là Ðại tự, một trung tâm văn hoá, giáo dục quan trọng của Thượng toạ bộ (p: thera-vāda). Về mặt giáo lí thì trường phái chùa Vô Uý Sơn nghiêng về Ðại thừa Phật pháp. Khi Tích Lan dời thủ đô, thành phố A-nu-ra-đa-pu-ra đã rơi vào quên lãng. Những di tích lịch sử Phật giáo quan trọng ở đây cũng mới được nghiên cứu từ thế kỉ 19 đến nay.|Nơi đây, người ta có thể chiêm ngưỡng hai Bảo tháp vĩ đại là Kim Phấn (ruwanweli) và Tháp Viên (p: thūparāma). Hai Tháp này đã được xây dựng trước Công nguyên, tượng trưng cho dạng Bảo tháp nguyên thuỷ nhất trong lịch sử Phật giáo. Tương truyền cây con của cây Bồ-đề, nơi thái tử Tất-đạt-đa đắc đạo thành Phật, đã được mang đến đây trồng.
A-nê-luật-đà
xem A-na-luật.
A-nê-lâu-đà
xem A-na-luật.
A-nê-lâu-đậu
xem A-na-luật.
A-nô-luật-đà
xem A-na-luật.
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là Anuttar-saṃyak-saṃbodhi, Hán dịch là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (無上正等正覺), chỉ quả vị Phật.
A-nậu-đạt
xem A-na-bà-đạp-đa.
A-phù-đà-đạt-ma
phiên âm từ Phạn ngữ là Adbhta-dharma, dịch nghĩa là ‘vị tằng hữu’, chưa từng có.
A-súc Phật
阿 閦 佛; S: akṣobhya, là tên dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa là Bất Ðộng Phật 不 動 佛.|Bất Ðộng Phật.
A-thị-đa-phạt-để
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
A-tu-la
阿 修 羅; S: āsura; dịch nghĩa là Thần (神), Phi Thiên (非 天), là hạng Thiên nhưng không có hình thể đoan chính;|Một trong sáu nẻo tái sinh (Lục đạo), khi thì được xem là hạnh phúc hơn người, khi bị xem là đau khổ hơn (Ðọa xứ). Loại A-tu-la »hạnh phúc« là các loài chư thiên cấp thấp, sống trên núi Tu-di (s: meru) hoặc trong các »lâu đài trong hư không«. Loại A-tu-la »đau khổ« là loài chống lại chư Thiên (s, p: deva). Trong Kinh sách của nhiều trường phái Tiểu thừa (s: hīnayāna) có lúc thiếu hẳn phần nói về loài này.
a-tu-la
phiên âm từ Phạn ngữ là asura, một trong tám bộ chúng, cũng nói tắt là tu-la, dịch nghĩa là phi thiên (không phải chư thiên), vì loài này tuy có thần lực, có cung điện, song hình thể không được đoan chánh như chư thiên ở các cõi trời. Trong loài a-tu-la, đàn ông mang hình tướng xấu, hay nóng giận, hiếu chiến nhưng đàn bà lại rất đẹp. A-tu-la là một cảnh giới trong sáu nẻo luân hồi (lục đạo).
A-tì-đàm
phiên âm từ Phạn ngữ Abhidharma, tức Luận tạng, một trong Tam tạng kinh điển, cũng đọc là A-tì-đạt-ma.
A-tì-đạt-ma
xem A-tì-đàm.
; 阿 毗 達 磨; S: abhidharma; P: abhidhamma; T: chos mngon pa; cũng được gọi là A-tì-đàm (阿 毗 曇). Dịch nghĩa là Luận tạng, Thắng pháp tập yếu luận, có nghĩa là Thắng pháp (勝 法) hoặc là Vô tỉ pháp (無 比 法), vì nó vượt (abhi) trên các Pháp (dharma), giải thích Trí huệ;|Tên của tạng thứ ba trong Tam tạng. Tạng này chứa đựng các bài giảng của đức Phật và các đệ tử với các bài phân tích về Tâm và hiện tượng của tâm. A-tì-đạt-ma là gốc của Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, xem như được thành hình giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Lần kết tập cuối cùng của A-tì-đạt-ma là khoảng giữa năm 400 và 450 sau Công nguyên. Có nhiều dạng A-tì-đạt-ma như dạng của Thượng toạ bộ (p: theravāda), của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvās-tivāda)… A-tì-đạt-ma là gốc của mọi trường phái và người ta dùng nó để luận giảng các bài Kinh (s: sūtra; p: sutta). |A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ được Phật Âm (佛 音; s: buddhaghoṣa) hoàn chỉnh, được viết bằng văn hệ Pā-li và bao gồm bảy bộ: 1. Pháp tập luận (法 集 論; p: dhammasaṅgaṇi): nói về các tâm pháp, sắp xếp theo từng cách thiền định khác nhau và các pháp bên ngoài, xắp xếp theo nhóm; 2. Phân biệt luận (分 別 論; p: vibhaṅga): nêu và giảng nghĩa, phân biệt những thuật ngữ như Ngũ uẩn (五 蘊; p: pañcakhandha), Xứ (處; s, p: āyatana), Căn (根; s, p: indriya) v.v.; 3. Luận sự (論 事; p: kathāvatthu): nêu 219 quan điểm được tranh luận nhiều nhất và đóng góp nhiều cho nền triết lí Phật giáo; 4. Nhân thi thiết luận (人 施 設 論; p: puggalapaññati): nói về các hạng người và Thánh nhân; 5. Giới thuyết luận (界 說 論; p: dhātukathā): nói về các Giới (界; s, p: dhātu); 6. Song luận (雙 論; p: yamaka): luận về các câu hỏi bằng hai cách, phủ định và xác định; 7. Phát thú luận (發 趣 論; paṭṭhāna hoặc mahāprakaraṇa): nói về những mối liên hệ giữa các Pháp (p: dhamma).|Trong Nhất thiết hữu bộ, A-tì-đạt-ma được viết bằng Phạn ngữ (sanskrit) và Thế Thân (世 親; s: vasubandhu) là người tổng hợp. A-tì-đạt-ma này cũng bao gồm bảy bộ khác nhau, cụ thể là: 1. Tập dị môn túc luận (集 異 門 足 論; s: saṅgītipar-yāya): bao gồm những bài giảng theo hệ thống số, tương tự như Tăng-nhất bộ kinh; 2. Pháp uẩn túc luận (法 蘊 足 論; s: dharmaskandha): gần giống như Phân biệt luận trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 3. Thi thiết túc luận (施 設 足 論; s: pra-jñaptiśāstra): trình bày dưới dạng Kệ những bằng chứng cho những sự việc siêu nhiên, thần bí; 4. Thức thân túc luận (識 身 足 論; s: vijñānakāya): nói về các vấn đề nhận thức. Có vài chương nói về những điểm tranh luận giống Luận sự (kathāvat-thu), Giới luận (dhātukathā) và Phát thú luận (paṭṭhāna) trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 5. Giới thân túc luận (界 身 足 論; s: dhātukāya): gần giống Giới thuyết luận (p: dhātukathā) của Thượng toạ bộ; 6. Phẩm loại túc luận (品 類 足 論; s: prakaraṇa): bao gồm cách xác định những thành phần được giảng dạy và sự phân loại của chúng; 7. Phát trí luận (發 智 論; s: jñānaprasthāna): xử lí những khía cạnh tâm lí của Phật pháp như Tuỳ miên (隨 眠; s: anuśaya), Trí (智; jñāna), Thiền (禪; s: dhyāna) v.v… (xem thêm Tâm sở).
A-tì-đạt-ma câu-xá luận
阿 毗 達 磨 俱 舍 論; S: abhidharmakośa-śā-stra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là »Báu vật của A-tì-đạt-ma«, Thông minh luận (通 明 論); |Bộ luận quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ, được Thế Thân (s: vasubandhu) soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. Luận gồm có hai phần: sưu tập khoảng 600 kệ A-tì-đạt-ma câu-xá luận bản tụng (s: abhidharmakośa-kārikā) và A-tì-đạt-ma câu-xá luận thích (abhidharmakośa-bhāṣya), bình giải về những câu kệ đó. Ngày nay người ta còn giữ bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng của luận này, đó là những tác phẩm đầy đủ nhất để trả lời các câu hỏi về kinh điển.|A-tì-đạt-ma câu-xá luận phản ánh sự tiếp nối của giáo lí từ Tiểu thừa đến Ðại thừa và cũng là tác phẩm nền tảng của các tông phái Phật giáo Trung Quốc, đóng góp phần chính trong việc truyền bá và phát triển đạo Phật nơi này. Có 9 điểm được phân tích và xử lí trong luận: 1. Giới phẩm (界 品; s: dhātunirdeśa): nói về cái thể của các Giới (pháp); 2. Căn phẩm (根 品; s: indriyanirdeśa): nói về cái dụng của chư pháp; Hai phẩm trên nói về thể và dụng chung cho Hữu lậu (有 漏; s: sāśrava, tức là còn bị Ô nhiễm) và Vô lậu (無 漏; s: anāśrava, không bị ô nhiễm); 3. Thế gian phẩm (世 間 品; s: lokanirdeśa): nói về các thế giới, Lục đạo, Ba thế giới; 4. Nghiệp phẩm (業 品; s: karmanirdeśa); 5. Tuỳ miên phẩm (隨 眠 品; s: anuśayanirdeśa); Các điểm 3., 4. và 5. nói về Hữu lậu, trong đó 3. là Quả (果; kết quả), 4. là Nhân (因) và 5. là Duyên (緣); 6. Hiền thánh phẩm (賢 聖 品; s: pudgalamārga-nirdeśa); 7. Trí phẩm (智 品; s: jñānanirdeśa): nói về mười loại trí; 8. Ðịnh phẩm (定 品; s: samādhi-nirdeśa); Các điểm 6., 7. và 8. nói về Vô lậu, trong đó 6. là Quả, 7. là Nhân và 8. là Duyên; 9. Phá ngã phẩm (破 我 品; s: pudgalaviniścaya): nói về lí Vô ngã (s: anātman), phá tà, chống lại thuyết của Ðộc Tử bộ. Phẩm này là một phẩm độc lập và cũng là phẩm cuối của bộ luận.
A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận
阿 毗 達 磨 大 毗 婆 沙 論; S: abhidharma-ma-hāvibhāṣā; cũng được gọi là Ðại tì-bà-sa luận hoặc Tì-bà-sa luận.|Một bài luận do 500 vị A-la-hán biên soạn trong một cuộc hội họp do vua Ca-nị-sắc-ca (s: kaniṣka) ở nước Càn-đà-la (s: gandhāra) đề xướng. Luận này giảng giải Phát trí luận (s: jñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (s: kātyāyanīputra), được Huyền Trang dịch sang Hán ngữ.
A-tỳ
xem địa ngục A-tỳ.
A-tỳ địa ngục
xem địa ngục A-tỳ.
A-xà-lê
阿 闍 梨; S: ācārya; P: ācāriya; T: lobpon [slob-dpon]; J: ajari; dịch nghĩa là Giáo thụ (教 授) – thầy dạy đạo, ở đây đạo là pháp, là Quỹ phạm (軌 範) – thầy có đủ nghi quỹ, phép tắc hay Chính hạnh (政 行) – thầy dạy và sửa những hành vi của đệ tử;|Một trong hai vị thầy của một Sa-di hoặc Tỉ-khâu. Vị thứ hai là Hoà thượng (s: upādh-yāya). Ai mới nhập Tăng-già đều tự chọn hai vị nói trên làm thầy trực tiếp chỉ dạy.|Trong thời gian đầu, A-xà-lê được hiểu là một vị chỉ chuyên dạy về lí thuyết Phật pháp, trả lời tất cả những thắc mắc, câu hỏi về nó, như vậy có thể hiểu là một Pháp sư và vị Hoà thượng chuyên lo dạy về Giới luật và nghi lễ. Trong Phật giáo nguyên thuỷ, chức vị Hoà thượng được coi trọng hơn nhưng sau đó (sau thế kỉ thứ 5), chức vị A-xà-lê lại được đặt cao hơn Hoà thượng. A-xà-lê được dùng để chỉ những vị Cao tăng phát triển những tư tưởng mầm mống trong Phật giáo, viết những Luận giải (s: śāstra) quan trọng. Các Ðại sư Ấn Ðộ đều mang danh hiệu này trước tên chính của họ, ví dụ như A-xà-lê Long Thụ (s: ācārya nāgārjuna), A-xà-lê Thánh Thiên (ācārya āryadeva), A-xà-lê Vô Trước (ācārya asaṅga) vv…|A-xà-lê khác với một Ðạo sư ở một điểm, đó là các vị tu tập trong khuôn khổ của một tu viện, Thụ giới đầy đủ và dựa trên kinh điển giảng dạy. Danh từ Ðạo sư thì bao trùm hơn (dựa theo nguyên ngữ Phạn guru), vị này có thể, nhưng không nhất thiết phải giảng dạy trong một Chùa hoặc thiền viện và đặc biệt trong các hệ thống Tan-tra của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), danh từ Ðạo sư dùng để chỉ những người có đầy đủ các Phương tiện giáo hoá chúng sinh, hướng dẫn khác thường, tuỳ cơ ứng biến, không cứ gì phải tu học từ trong kinh sách.|Trong Thiền tông, danh từ A-xà-lê, hoặc gọi tắt là Xà-lê được dùng chỉ chung các vị tăng, tương tự như danh từ Lạt-ma tại Tây Tạng. Tại Nhật, danh xưng này chuyên chỉ các vị cao tăng của các tông Thiên Thai và Chân ngôn.
A-xà-thế
阿 闍 世; S: ajātaśatru; P: ajātasattu;|Vua xứ Ma-kiệt-đà (magadha), người trị vì trong 8 năm cuối cùng tại thế của Phật Thích-ca Mâu-ni và 24 năm kế tiếp (khoảng từ 494-462 trước Công nguyên). Ông là người giết vua cha Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) và cùng Ðề-bà Ðạt-đa (s, p: deva-datta) định ám hại đức Phật, nhưng không thành. Cuối cùng ông tỉnh ngộ theo Phật và phụng sự đạo Phật.|A-xà-thế có nghĩa là »Vị sinh oán« (未 生 怨) – với ý kết oán trước khi sinh – là kẻ được tiên đoán sẽ giết cha. A-xà-thế muốn đoạt quyền cha quá sớm, cùng với Ðề-bà Ðạt-đa đạt đa âm mưu vừa giết Phật vừa giết vua cha. Âm mưu này bại lộ, vua cha tha tội cho con và giao ngai vàng. A-xà-thế vẫn không yên tâm vì cha còn sống, hạ ngục và bỏ đói cả cha lẫn mẹ. Về sau A-xà-thế hỏi ý kiến đức Phật có nên xâm chiếm nước Bạt-kì (p: vajjī) vốn là một nước dân chủ. Ðức Phật cho biết Bạt-kì không bao giờ thua vì dân nước đó rất đoàn kết. Từ đó A-xà-thế coi trọng dân chủ, coi trọng Tăng-già và nhân đây được tỉnh ngộ. Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, A-xà-thế lập một Tháp thờ Xá-lị của Phật. Ông cũng là người xây dựng một thuyết đường lớn trong lần Kết tập thứ nhất.
A-đề Phật
阿 提 佛; S: ādibuddha; dịch nghĩa là Bản sơ Phật (本 初 佛), tức là vị Phật gốc, Phật cội nguồn. Xem thêm: Phổ Hiền.
A-đề-sa
阿 提 沙; S: atīśa, atiśa; A-đề-sa là cách đọc theo âm Hán Việt, dịch ý là »Người xuất chúng, xuất sắc«, cũng được gọi là Nhiên Ðăng Cát Tường Trí (燃 燈 吉 祥 智; s: dīpaṅkaraśrījñāna);| Ðại sư người Ðông Ấn (982-1054), người đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Sư chuyên nghiên cứu các phương pháp phát triển Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Là Tổ của dòng Ma-kiệt-đa (s: magadha) và thuyết sư tại đại học Siêu Giới (s: vikramaśīla), Sư được mời qua Tây Tạng và sống ở đó 12 năm cuối đời mình. Sư là người sáng lập trường phái Cam-đan (t: kadampa), gây ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Tây Tạng, nhất là dòng Cách-lỗ (t: gelugpa) của Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa). Ðệ tử quan trọng nhất của Sư là Lạc-mẫu-đông (hoặc Ðông-đốn [t: dromton], 1003-1064). | Thế kỉ thứ 10 được xem là thời đại truyền pháp lần thứ hai từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, thông qua vương triều miền Tây. Ban đầu nhà vua cử sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh, như dịch giả Lâm-thân Tang-pha (t: rinchen sangpo). Về sau nhà vua mời hẳn một Luận sư Ấn Ðộ và người đó là A-đề-sa. Năm 1042, Sư bước chân vào đất Tây Tạng, sống ở Netang và bắt đầu giáo hoá.| Trong tác phẩm Bồ-đề đạo đăng (s: bodhipathapradīpa), Sư trình bày toàn cảnh giáo pháp Ðại thừa và chia hành giả theo ba căn cơ khác nhau: 1. Hạ sĩ: loại người mong được tái sinh nơi tốt lành, 2. Trung sĩ: loại người tu vì sự giác ngộ của chính mình (Tiểu thừa) và 3. Thượng sĩ: loại người tu vì sự Giác ngộ của tất cả chúng sinh (Bồ Tát). Công trình chính của A-đề-sa là xếp đặt thứ tự kinh sách, không phổ biến bừa bãi. Sư là người đưa Ða-la (s: tārā) trở thành một vị nữ Hộ Thần quan trọng trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng. Trong các trứ tác, Sư thống nhất hai trường phái chính của giáo pháp Bát-nhã ba-la-mật: quan điểm tính Không (s: śūnyatā) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và tính bao trùm của tâm thức giác ngộ theo Vô Trước (s: asaṅga).
accuta
(P): Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
accutagama
(P): Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Ai
哀; C: āi; J: ai;|Có các nghĩa sau: 1. Có thiện cảm, thương xót, thương tiếc, xót xa. Than ôi! 2. Nỗi đau buồn, sự buồn phiền, điều bất hạnh, lòng trắc ẩn; 3. Yêu quý, tha thiết.
ai
1) Tiếng ta thán—Alas! 2) Bi ai (tang): Mourn.
Ai mẫn
哀 愍; C: āimǐn; J: aimin; |Lòng thương xót, lòng trắc ẩn, niềm thông cảm, mối thương cảm (s: karṇāyamāna).
ai mẫn
Ai Lân—Thương xót cái khổ của người—Pity for one in misery.
Ai mẫn 哀愍
- [ja] アイミン aimin ||| Pity, compassion, sympathy, sorrow (Skt. karṇāyamāna). 〔法華經 T 262.9.21a3〕 - => Lòng thương xót, lòng trắc ẩn, niềm thông cảm, mối thương cảm (Skt. karṇāyamāna). -
ai nhã
Tiếng ta thán về sự đau khổ hay sự bất chợt—An exclamation of pain or surprise.
ai nấy
Everybody.
Ai thán
哀 歎; C: āi tàn; J: aitan; |Buồn than, sự thê lương.
Ai thán 哀歎
[ja] アイタン aitan ||| Sadness, mournfulness. - => Buồn đau, sự thê lương. -
Ai 哀
[ja] アイ ai ||| (1) To sympathize with, to pity, to wail, to mourn. Alas! (2) Grief, sorrow, misery, compassion. (3) Beloved, dear. - =>Có các nghĩa sau: - 1. Có thiện cảm, thương xót, thương tiếc, xót xa. Than ôi! - 2. Nỗi đau buồn, sự buồn phiền, điều bất hạnh, lòng trắc ẩn. - 3. Yêu quý, tha thiết. -
am
Small pagoda; sanctuary, sanctum; retreat; place of refuge.
; 1) Chùa nhỏ: Small pagoda—Small temple—Nunnery. 2) Thảo lư hay nhà cỏ (của người ẩn dật): Hut—Thatched cottage. 3) Tiếng được dùng để chỉ sự khẳng định một cách nghiêm trang và tôn kính, giống như tiếng “a men” bên Cơ Đốc Giáo. Trước kia là mật ngữ của Ấn Độ giáo, được thừa nhận bởi các nhà Phật giáo Mật tông, đặc biệt là trường phái trì mật chú, dùng “Om” như mật chú và đối tượng thiền định. Chữ “Om” thường dùng để hình thành âm đầu tiên trong các câu chú tổng hợp như trong câu “Úm Ma Ni Bát Di Hồng” là công thức chú nguyện của Lạt Ma Giáo Tây Tạng. Người ta nói câu “Úm Ma Ni Bát Di Hồng” còn là câu thần chú để cầu nguyện Đức Quán Thế Âm, mỗi chữ trong câu đều có thần lực cứu độ khỏi tam ác đạo: Om, aum; “a word of solemn affirmation and respectful assent, sometimes translated by yes, verily, so be it, and in this sense compared with Amen in Catholic.” It is the mystic name for the Hindu triad, and has othe significations. It was adopted by Buddhism, especially by the Tantric school, as a mystic spell, and as an object of meditation. It forms the first syllable of certain mystical combinations, e.g. Om mani padmi hum, which is a formula of the Tibetan Lamaistic branch, said to be a prayer to Padmapani; each of the six syllables having its own mystic power of salvation from the lower paths of transmigration, etc.; the formula is used in sorcery, auguries, etc.
; (庵) Là nhà ở của người xuất gia cách xa làng mạc. Là căn nhà nhỏ khiêm nhường làm bằng tre nứa và lợp cỏ hoặc lá mà thành. Cũng gọi là thảo am, bồng am, am thất, mao am, thiền am, lư lam. Tăng tục phần nhiều ở am để tu hành. Cứ theo Thích Thị Yếu Lãm quyển thượng chép, thì Đào Diễm, Đào Tiềm và Tiêu Quang đã từng ở am. Đời sau cũng đặc biệt gọi chỗ ở của Tỉ Khưu Ni là am, am tự. Tuy nhiên, từ am tự vốn chỉ cả chùa Tăng hoặc Ni, chứ không phải chỉ riêng là chỗ ở của Ni. [X. Luật Ngũ Phần Q.1; Hữu Bộ Tì Nại Da Q.48; Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự Q.34].
am bà la bà lợi
(庵婆羅婆利) Tên Phạm: Àmrapàlì, Pāli: Ambapàlì. Còn gọi là Am Bà Bà Lợi, A Phạm Hòa Lợi, A Phạm Bà La, Am Một La Nữ, Am La Nữ. Dịch là Nại Nữ. Cứ theo kinh Nại Nữ Kì Bà chép, người con gái này là do cây nại (tức cây xoài) sinh ra, vì thế gọi là Nại Nữ. Là vợ vua Tần Bà Sa La nước Ma Yết Đà, là mẹ của lương y Kì Bà. Bà từng đã dâng cúng đức Phật vườn Am-một-la. [X. kinh Xuất Diệu Q.3; luật Tứ Phần Q.39].
am bà la thôn
(庵婆羅村) Phạm: Àmra-gràma, Pāli: Ambagàma. Cũng gọi là Am Mãn Tụ Lạc. Thôn này có rất nhiều cây am bà la (cây xoài) nên đặt tên như thế. Từ đây đi đến thành Phệ Xá Li (Phạm:Vaizàlì) phải mất ba ngày hành trình. Đức Thế Tôn, trong năm nhập diệt, đã từ Phệ Xá Li qua thôn Kiện Đà (Pāli: Bhanda gàma), thôn Thụ Thủ (Pāli: Hatthi-gàma) rồi đến đây. [X. kinh Du Hành trong Trường A Hàm Q.2 đến Q.4; kinh Phật Ban Nê Hoàn Q.thượng; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.thượng; Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự Q.36].
am bà la thụ lâm
(庵婆羅樹林) Phạm: Àmrayawỉikà, Pāli: Ambalaỉỉhikà. Cứ theo kinh Phạm Võng (Pāli: Brahmajàla-sutta) chép, rừng cây này nằm ở giữa khoảng thành Vương Xá (Pāli: Ràjagaha) và Na Lan Đà (Phạm:Nàlandà). Lại theo ngài Phật Âm (Pāli: Buddhaghosa) trong Pháp Tụ Luận Chú (Pāli: Atthasàlinì) nói, từ trong rừng này nước chảy ra trong vắt, cây cối xanh um thành bóng rợp mát, lối vào trồng cây am bà la (cây xoài), chung quanh có thành lũy bao bọc. Kinh Giáo Giới La Hầu La Am Bà Bách Lâm (Pāli: Ambalaỉỉhika-Rahùlovàda-suttanta) trong kinh Trung Bộ 6.1 chép, đức Thế Tôn ở trong vườn rừng này, đích thân dạy bảo con Ngài là La Hầu La. Kinh Đại Bát Niết Bàn (Pāli: Mahàpa-rinibbàna-suttanta) trong kinh Trường Bộ 6.1 thì chép, trong năm nhập diệt, Đức Thế Tôn ở vườn này, sau khi dạy dỗ các Tỉ Khưu rồi mới đi Na Lan Đà. [X. kinh Phật Ban Nê Hoàn Q.thựơng].
am bà la đa ca
Amrataka (skt)—Một loại trái cây của chư Thiên—A celestial fruit.
am bà lợi sa
Ambarisa (skt)—Tên của một vị vua thời cổ Ấn Độ—Name of a king in ancient India.
am bà nữ
Amradarika or Amrapali, or Ambapali (skt)—Am La Nữ—Am Thụ Nữ. 1) Người bảo vệ cây amra hay cây xoài: The guardian of the amra tree. 2) Người đàn bà đã hiến cho Phật khu vườn xoài (Amravana), có truyền thuyết khác nói rằng bà sanh ra từ một cây xoài: A female who presented to Sakyamuni the Amravana garden, another legend says she was born of an amra tree.
am chủ
Abbot—Abbess.
; (庵主) Là người sáng lập chùa am. Vốn chung cho cả tăng và tục. Như Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 12 liệt kê những người nối pháp của ngài Lâm Tế, có am chủ Đồng Phong, am chủ Sam Dương, am chủ Hổ Khê, am chủ Phúc Bồn v.v... Các am chủ thời cận đại thì phần nhiều chỉ cho các sư ni.
am chủ bất cố
(庵主不顧) Am chủ chẳng thèm ngó ai. Là tên gọi công án trong Thiền tông. Am chủ, chỉ Tường am chủ, một Thiền tăng đời Tống ở ngọn núi Liên Hoa, là pháp tự của ngài Đạo Thâm ở Phụng Tiên. Gần ngày thị tịch, Tường am chủ vác gậy lên vai, chẳng thèm ngó ai, nhằm nói cái ý chỉ vượt nghìn vạn ngọn núi mà đi thẳng vào thế giới Niết Bàn. Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 15 (Vạn tục 138, 292 thượng), nói: Thiên Thai Liên Hoa Phong Tường am chủ (...) trong ngày thị tịch, dơ gậy lên bảo chúng: Người xưa đến đây tại sao không chịu ở? Chúng không trả lời. Sư bèn nói: Vì không có sức đi con đường khác? Lại nói: Rốt cục là thế nào? Sư đặt gậy ngang vai nói: Vác ngang cây gậy chẳng ngó ai, nhắm thẳng vào nghìn muôn ngọn núi mà đi. Nói xong thì tịch.
am chủ khê thâm chước bính trường
(庵主溪深杓柄長) Nước khe sâu cán phễu dài. Tên công án trong Thiền tông. Tức công án của một am chủ và thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đời Đường, mượn cái cán phễu để ví dụ sự sâu xa của Phật pháp. Bên rìa núi Tuyết Phong (còn gọi là Tượng cốt phong, nằm về phía tây huyện Hầu Quan tỉnh Phúc Kiến), có một vị tăng dựng am để ở, đã nhiều năm mà không cạo đầu, tự làm lấy cái phễu gỗ có cán rồi ra khe suối múc nước uống. Lúc đó có vị tăng hỏi: Ý tổ sư từ bên Ấn Độ đến là thế nào?. Am chủ đáp: Nước khe sâu, cán phễu dài. Vị tăng về, đem chuyện kể lại với ngài Tuyết Phong. Tuyết Phong rất kì quái và muốn khám nghiệm. Một hôm, Tuyết Phong và thị giả cầm dao cạo đầu đến thăm Am chủ, vừa thấy liền bảo: Hễ nói được thì không cạo đầu ông. Am chủ lặng thinh, chỉ lấy nước gội đầu và Tuyết Phong cầm dao cạo đầu cho ông. Trong công án này, Am chủ nói: Khe nước sâu, cán phễu dài là mượn chiều sâu của khe nước và chiều dài của cán phễu mà biểu thị sự sâu thẳm của Phật pháp và sự thâm nhập mà chính mình đã thể hội được. Ngài Tuyết Phong vẫn còn ngờ cái cảnh giới mà Am chủ nói đã đúng chưa, nên lại càng ra công chứng nghiệm. [X. Chiêm Bình Tam Bách Tắc Bất Năng Ngữ Q.trung tắc 83].
am hiểu
Biết rõ—To know well—Hiểu tường tận—To understand thoroughly—Hiểu từ trong ra ngoài—To know something inside out.
am hoa
Hoa xoài—The amra flower.
am kết
The three ties: (1) kiến kết the tie of false views, e.g. of a permanent ego. (2) giới thủ kết (3) nghi kết
am la
Amra (skt)—Cây xoài—The mango.
am la ba lị
Amrapàlì (S). Name of garden.
am la lâm
(庵羅林) Rừng Am La. Phạm: Àmràỉaka - vana. Pāli: Ambàơa - vana. Là khu rừng ở Ấn Độ xưa. Cây am la là một loại cây mà quả có gai, và trong rừng có rất nhiều loại cây này nên đặt tên như thế. Cứ theo Pháp cú kinh chú (Pāli: Dhammapada aỉỉhakathà) kể, thì cách thành Xá Vệ (Pāli: Sàvatthì) ba mươi do tuần, có thành Ma Sư Sơn (Pāli: Macchikàsaịđa), trong đó, có trưởng giả Chất Đa (Pāli: Citta) nghe Ma Ha Nam (Pāli: Mahànàma), một trong năm Tỉ Khưu, nói pháp mà được quả Dự Lưu, vì thế cúng dường rừng Am La Làm Tinh Xá. Trong rừng này, trưởng giả Chất Đa cùng với Tỉ Khưu Lê Sư Đạt Đa (Pāli: Isidatta) hỏi đáp, đàm luận với Tỉ Khưu Ca Ma (Pāli: Kàmabhù), đối đáp với Tỉ Khưu Cù Đạt Đa (Pāli: Godatta) và vấn đáp với Ni Kiền Tử (Pāli: Nigaịỉha Nàtaputta). Tỉ Khưu Tu Đạt Ma (Pāli: Sudhamma) thường ở vườn rừng này, Các tôn giả Xá Lợi Phất (Pāli: Sàriputta) và Mục Kiền Liên (Pāli: Moggalàna) cũng đã từng đến rừng này. [X. kinh Trưởng Lão Kệ, kệ 406; Tương Ứng Bộ kinh 41].
am la quả nữ
Amraskyongma (S)Tên môt kỹ nữ thành Duy da ly thời Phật tại thế, có thỉnh Phật đến cúng dường.
am la thu
ﮠAmra (S)
am la thọ viên
Xem Am một la.
am la thụ viên
Āmmvāna(S, P)Ở Vệ sá ly.
; Amravana or Amrapali, or Amravati (skt)—Vườn xoài—See Am Bà Nữ.
am ma la
Amala (skt)—Am Một La—Tên khác của trái xoài—Another name for amra.
am ma la thức
Xem Như lai tạng.
; A Ma La Thức—A Mạt La Thức—Thanh tịnh thức—Vô cấu thức—Chân Như Thức—Pure knowledge—Knowledge of bhutatathata.
am ma la thức,
Vô cấu thức, Bạch tịnh thức Amra-Vijnàna. The 9th consciousness.
am ma la viên
Amravana (S) Name of garden.
am ma lặc
Amala (skt)—Am Ma Lặc Ca—Một loại hạt như hạt cau, dùng trị cảm lạnh (quả dư-cam-tử, khi mới ăn thấy hơi đắng, nhưng khi nuốt nước vào trong cổ họng thì nghe ngọt, tên khoa học của nó là Emblicaofficinalis hay Phyllanthusemblica)—A kind of nut like the betel nut, used as a cure for colds (its scientific name is Emblicaofficinalis or Phyllanthusemblica).
am một la
Āmra (S)Am la thọ viên, A một la lâm, Nại thị viên, Nại viênVườn nàng Am một la gần Quảng nghiêm thành, nơi Phật nói kinh Duy ma.
am một la thụ
(庵沒羅樹) Cây xoài. Am Một La, Phạm: Àmra, amra, amlaphala, amarapuwpa, amarapuwpaka, Pāli: Amba. Còn gọi là am ma la thụ, am bà la thụ, am la thụ. Dịch ý là Nại thụ (cây xoài). Tên khoa học là Mangifera indica, thông thường gọi là Mango. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa có nói đến quả am la tức là chỉ quả của cây này. Cây am la được trồng tại nhiều nơi ở Ấn Độ, đặc biệt ở vùng Bombay, quả rất đẹp. Cây này hoa nhiều mà kết quả rất ít. Hình quả giống quả lê nhưng hơi quăm, hình lá giống lá liễu, dài hơn một thước (Tàu), rộng khoảng ba ngón tay. Mùa đông ra hoa nhỏ, đến tháng năm, tháng sáu thì quả chín. Nhưng cây này có rất nhiều loại, có loại quả xanh quả chín đều là màu lục, có loại khi chín thì vàng, vàng da cam, có loại chưa chín thì vàng, chín rồi thì lục v.v... Mùi vị cũng có ngon, có dở; dở thì vị chua mà nhiều xơ, ngon thì ít xơ mà vị ngọt. Trong tiếng Phạm tên cây am một la tương tự với rất nhiều thực vật khác, cho nên thường hay lẫn lộn. [X. kinh Nại Nữ Kì Vực Nhân Duyên; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.12 Q.26; kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Q.356, Q.460; luận Thuận Chính Lí Q.33; Đại Đường Tây Vực Kí Q.4; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.8; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.8].(xt. A Ma Lặc Thụ).
am một la viên
(庵沒羅園) Vườn Am một la. Am một la, Phạm: Àmra, hàm ý là vườn Am một la nữ. Còn gọi là Am bà la viên, Am bà lê viên, Am la vệ lâm, Am la thụ viên, Am một la lâm. Hoặc cũng gọi là Nại thị viên, Cam lê viên, Nại viên. Nằm ở vùng phụ cận thành Phệ xá li (Phạm:Vaizàlì) trung Ấn Độ do Am một la nữ dâng cúng Đức Phật, bởi thế vườn được gọi theo tên của người này. Đức Phật đã nói kinh Duy Ma tại đây. [X. kinh Xuất Diệu Q.3; Duy Ma Kinh Sớ Q.1 (Gia tường); Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.21].
am thiền
Small pagoda.
am tranh
A thatched hut for meditation.
am trung bất tử nhân
(庵中不死人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tỉ dụ ai ai cũng vốn có đủ Phật tính. Am, chỉ nhục thể, bất tử nhân (người không chết), thí dụ Phật tính. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 30 (Đại 50, 461 hạ), nói: Muốn biết người không chết trong am, há lìa túi da mà nay đang che lấp?.
am tường
Hiểu tường tận—To know perfectly.
am tự
Am thất—Small temple.
am viên
Vườn Amravana—The Amravana garden.
an
Kṣema (S)Êm đềm, yên tịnh, an lạc.
; Ksema (S). Peace, tranquil, quiet, pacify.
; (A) An Bình: Santi (p)—Santa (skt).: 1) (a)—Calm—Tranquil—Free from passions—Undisturbed. 2) (n)—Upasanti (skt)—Tranquility—Peace—Security—Calmness. 3) (v)—Upasamayati (skt)—To pacify—To become calm or quiet—To make quiet—To tranquilize. (B) An Vị: To put—To place.
an ban
Xem Sổ tức quán.
an ban thủ ý
Anapanasati (p)—Anapanasmrti (skt)—Kinh An Ban Thủ Ý, kinh quán niệm hơi thở của hệ phái Nguyên Thủy—A Theravadan sutra on Concentration by practicing respiratory exercises—See Anapanasati in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
an ban thủ ý kinh
(安般守意經) Gồm 2 quyển. Cũng gọi An ban kinh, Đại an ban thủ ý kinh, Đại an ban kinh, ngài An Thế Cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại Chính Tạng tập 15. An ban (Phạm:Ànàpàna), gọi đủ là An na ban na, tức là theo dõi hơi thở ra thở vào. Tiếng Phạm àna (an na) nghĩa là hít hơi vào, apàna (ban na) nghĩa là thở ra. Kinh này trình bày phương pháp đếm hơi thở (đếm nhẩm hơi thở ra thở vào, chú ý theo dõi hơi thở) lúc ngồi thiền để thu nhiếp tâm khỏi tán loạn. Tuy đề là kinh, nhưng cứ xem hình thức và thể tài thì thuộc về luận. Nội dung giống như nội dung của phẩm Sổ Tức trong kinh Tu Hành Đạo Địa quyển 5, và Sổ Tức Quán trong luận Đại Tì Bà Sa quyển 26. Ngoài ra, ngài An Thế Cao còn dịch kinh An Ban Thủ Ý 1 quyển, gọi là kinh Tiểu An Ban. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2, Q.6; Duyệt Tạng Tri Tân Q.30; Pháp Kinh Lục Q.3; Ngạn Tông Lục Q.1] (xt. Đại An Ban Thủ Ý Kinh).
an bình
Peace—To be peaceful.
an bần
Content, satisfied with one's lot;
; To be happy in poverty.
an bồi khắc
(安培克) Ambedkar, Bhimrao Ramji (1893 - 1956) Là nhà tôn giáo, nhà chính trị của Ấn Độ hiện đại. Ông sinh tại bang Mã Cáp-lạp-thị-đặc-lạp, xuất thân từ giai cấp thấp nhất trong chế độ giai cấp của Ấn Độ, tức thuộc giai cấp tiện dân không ai dám tiếp xúc (untouchable). Ông từng du học Mỹ quốc tại Colombia University, nghiên cứu kinh tế học, xã hội học, sau làm giáo sư, luật sư, nổi bật trong giới chính trị Ấn Độ, hô hào thủ tiêu chế độ giai cấp bất bình đẳng, chủ trương giải phóng giai cấp hạ tầng. Sau khi Ấn Độ được độc lập, ông là chủ tịch của Ủy ban khởi thảo bản Hiến pháp mới, làm Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên, đồng thời, là chủ tịch Liên minh chủng tính, hết sức đề cao tinh thần bình đẳng của Phật giáo. Từng phát khởi Tiện dân cải tín Phật giáo vận động trên khắp nơi tại Ấn Độ, hô hào tiện dân tin theo Phật giáo, khiến vô số người thuộc giai cấp thấp nhất bỏ Ấn Độ giáo mà tin theo Phật giáo, là cuộc vận động phục hưng Phật giáo mạnh mẽ nhất tại Ấn Độ hiện đại, bởi thế, người ta gọi ông là người cha lành của giai cấp hạ tầng, và tôn kính như thần. Ông có các tác phẩm: Đức Phật và Phật pháp, Vấn đề tiền tệ (roupie) v.v... AN CỐC BẠCH VÂN Vị tăng người Nhật bản thuộc tông Tào động. Bạch vân là tên Thiền, còn gọi là Tổ nhạc. Xuống tóc từ lúc còn nhỏ, khi mười ba tuổi sư đã trở thành tân học tăng của tông Tào động. Học khoa Sư phạm giáo dục và đã từng là giáo chức. Mười lăm tuổi mới tập ngồi Thiền, bốn mươi tuổi mới chính thức trở thành vị tăng trong chùa, sau được ngài Nguyên Điền Đại Vân Ấn Khả, và nối pháp thầy. Phương pháp dạy đạo của sư kiêm cả Thiền pháp tâm yếu chỉ cần chăm chú Thiền định của Thiền sư Đạo Nguyên thuộc tông Tào động, và pháp yếu công án và ngồi Thiền của tông Lâm Tế. Ngoài hoạt động cử hành tiếp tâm hằng ngày tại Nhật Bản, sư còn đi các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức để giảng diễn Thiền học, dắt dẫn người Âu, Mỹ. Sư xuất bản sách chú thích Công án tập gồm các công án trong Vô môn quan, Bích nham lục, Thung dung lục, Truyền quang lục và Động sơn ngũ vị. [X. Thiền môn tam trụ].
an ca nghệ thuật
(安哥藝術) Ăng-co (An-ca), còn gọi là Ngô Ca. Nằm ở miền bắc nước Cao Miên, cách Thị trấn Tiên-lạp (Siemreap) năm cây số về mạn Bắc, là đô thành của Vương triều Ăng-co từ năm 802 đến năm 1432 Tây lịch, xây cất đã trải mấy trăm năm, gồm hơn sáu trăm tòa kiến trúc, toàn bằng đá vĩ đại và những hình chạm nổi trên đá rất là tinh xảo, đời sau đặc biệt gọi là nghệ thuật Ăng-co. Thế kỉ XV, người Thái công hãm Ăng-co, thả cửa cướp bóc phá phách, Vương triều bèn dời đô về Bách Nang Bôn (Phnom-penh) ở phía Nam, Ăng-co bị bỏ hoang và những kiến trúc to lớn tráng lệ dần dần đã bị rừng rậm nhiệt đới xâm lấn. Đến thế kỉ XIX, nhờ bản dịch của cuốn sách Chân Lạp Phong Thổ Kí được công bố, và nhờ sự tìm tòi khảo sát của hai nhà học giả người Pháp là Hanh Lợi Mạc Hợp (Henri Mouhot) và Bá Hi Hòa (Pelliot) cổ tích Ăng-co mới tái hiện ở đời. Quần thể kiến trúc Ăng-co gồm hơn sáu trăm tòa, trừ bộ phận đã thành những cái gò hoang phế ra, còn phần lớn đều được bảo tồn hoàn hảo, tiêu biểu là các tòa La Lô Áo Tư (Roluos), cung điện Ba Khẳng (Bakheng), đền thần Ban Đài Tư Lợi (Banteay Seri), Phi Mễ A Nạp Tạp (Phimeanakas, hàm ý là cung điện trong hư không), đền Ba Phổ Ngang (Baphuon), chùa Ăng-co (Angkor Wat hoặc Angkor-Vat), thành Ăng-co (Angkor Thom), chùa Ba Nhung (Bayon), chùa Tháp Phổ Long (Ta Prohm), chùa Phổ Lạp Khảm (Prah Khan), chùa Na Già Ban (Neak Pean, còn gọi là chùa Phan Long), trong đó, thành Ăng-co và chùa Ăng-co là những kiến trúc tráng lệ và tinh xảo nhất, khiến người xem phải ngây ngất, choáng ngợp. Chùa Ăng-co, còn gọi là Tiểu Ăng-co, thông thường người ta quen gọi là Hang Ăng-co (hang Ngô Ca), là kiến trúc lớn nhất trong quần thể Ăng-co, nằm về mặt Nam thành Ăng-co, được xây cất vào thời vua Tô Lợi Gia Bạt Ma đệ nhị (Suryavarman II, 1113 - 1150), bốn chung quanh có hào nước bao bọc, dài năm cây số sáu. Toàn bộ kiến trúc đều là những khối đá chồng xếp lên nhau mà thành. Chính giữa là một tòa đài cao ba tầng, diện tích nền đài rộng hơn bốn vạn mét vuông, trên nhà có năm tòa tháp nhọn nối liền thành một tổ, làm thành bốn hình vuông, tòa cao nhất là sáu mươi lăm mét, thềm đài ba tầng đều xếp đá và có hành lang đi xung quanh, trên vách hành lang đầy các bức chạm nổi, mỗi lối hành lang dài hơn hai trăm mét. Cửa tây là cửa chính, trước cửa có cầu đá lớn, hai bên chạm rồng chín đầu bằng đá làm lan can. Phía ngoài nền chùa có hai lớp tường đá bao bọc, cửa lầu phối trí tráng lệ. Qui mô toàn ngôi chùa cấu tạo rất là to lớn, tỉ lệ cân xứng, tỉ mỉ trang nghiêm, chùa tháp, nóc nhà, hành lang, cửa sổ, tường vách, cột điện, thềm đá, bất luận chỗ nào, đều được chạm trổ một cách khéo léo, trang sức đẹp đẽ, Nóc hành lang của chùa Ăng-co đã đạt đến cực điểm của nghệ thuật kiến trúc. Chủ đề chạm trổ thì có hai Sử thi lớn của Ấn độ là Mahabàlada và Lamadana, tranh vẽ địa ngục biến tướng, tranh vẽ Tì Thấp Nô và ác ma hoặc Thiên thần giao chiến, cùng với các đề tài sinh hoạt của nhà vua và nhân dân thời bấy giờ, nhân vật rất sinh động, hình tượng cực chân thật, trên dưới phối trí đẹp đẽ tuyệt vời. Chùa này nguyên là điện thờ thần Tì Thấp Nô, sau trở thành lăng tẩm của vua Tô Lợi Da Bạt Ma đệ nhị. Năm 1970, Cộng sản Cao Miên chiếm cứ, chùa Ăng-co bèn bị lửa chiến tranh phá hoại. Thành Ăng-co, còn gọi là Đại Ăng-co, do vua Xà Da Bạt Ma đời thứ 7 (Jayavarman VII, 1181 - 1219) xây dựng để kỉ niệm chiến thắng nước Chiêm Thành, bốn chung quanh dài đến mười hai cây số, tường vây bằng đá đỏ, cao bảy mét, hào ngoài rộng một trăm mét, trên hào có cây cầu đá to lớn, hai bên đều chạm một con rắn chín đầu cực lớn, mỗi con rắn có năm mươi tư người bằng đá to khỏe nắm bắt kéo lại, trông cực kì đẹp mắt. Có năm tòa cửa thành, cửa cao hai mươi mét, ở trên cửa có ba tòa tháp đều bằng đá, bốn mặt tháp đều chạm trổ hình tượng bồ tát Quán Thế Âm với vẻ mặt hiền từ. Hai bên cửa thành, đặt một tổ ba con voi bằng đá to cao, chính giữa thành tức là chùa Ba Nhung được tạo thành bởi năm mươi tòa tháp đá. (xt. Ngô Ca, Phù Nam Quốc).
An Cư
(s: vārṣika, p: vassa, j: ango, 安居): nghĩa là mùa mưa, tiếng gọi tắt của Vũ An Cư (雨安居, An Cư mùa mưa), còn được gọi là Hạ Hành (夏行), Tọa Hạ (坐夏), Tọa Lạp (坐臘), Hạ Lung (夏籠), Hạ Thư (夏書), Hạ Kinh (夏經), Hạ Đoạn (夏斷), Hạ (夏). An nghĩa là làm cho thân tâm ở trạng thái tĩnh chỉ, cư là định trú trong một thời gian nhất định. Trong thời gian ba tháng mùa mưa ở Ấn Độ thì chư tăng không được đi hành hóa các nơi, hơn nữa do vì trong thời gian nầy các loại cây cỏ, côn trùng phát sanh, nên để đừng sát thương các vật đó, hàng đệ tử Phật thường tập trung lại một nơi, cấm túc, đặt ra quy chế tọa Thiền tu học. Do đó mới có tên gọi Nhất Hạ Cửu Tuần (一夏九旬), Cửu Tuần Cấm Túc (九旬禁足), Kiết Chế An Cư (結制安居), Kiết Chế (結制), v.v. Bắt đầu kết chế an cư thì gọi là Kiết Hạ (結夏), khi kết thúc An Cư là Giải Hạ (解夏). Bên cạnh đó, theo quy chế nầy người ta định ra thứ lớp Giới Lạp (戒臘, tức Pháp Lạp hay Hạ Lạp) của tu sĩ. Hạ thứ nhất được gọi là Nhập Chúng (入眾), 5 hạ trở lên là Xà Lê (闍梨), 10 hạ trở lên là Hòa Thượng (和尚). Về thời kỳ kiết hạ thì căn cứ vào sự tình tập trung của các đệ tử mà lập ra 3 thời trước, giữa và sau. Theo luật chế bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 là Trước An Cư, từ ngày 17 đến ngày 15 tháng 5 là Giữa An Cư, và bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 trở đi là Sau An Cư (theo Hành Sự Sao [行事秒], An Cư Sách Tu Thiên [安居策修篇] II). Tuy nhiên, theo thuyết của Huyền Trang (玄奘) thì có sai lệch 1 tháng với quy định trên, nghĩa là lấy ngày 16 tháng 5 làm Trước An Cư, ngày 16 tháng 6 là Sau An Cư, còn Giữa An Cư thì không có (theo Đại Đường Tây Vức Ký [大唐西域記]). Ngoài ra còn có quy chế về An Cư mùa đông. Việc nầy do vì mối quan hệ về khí hậu, phong thổ ở các địa phương Tây Vực, nên người ta tiến hành An Cư mùa đông từ ngày 16 tháng 12 cho đến ngày 15 tháng 3 (theo Đại Đường Tây Vức Ký [大唐西域記], Đỗ Hóa La Quốc [覩貨邏國]). Ở Trung Quốc, các vị tăng tu hành tại hai vùng Giang Tây (江西), Hồ Nam (湖南) thường tập trung lại Kiết Chế An Cư, nên có tên gọi là Giang Hồ Hội (江湖會). Hơn nữa hai thời kỳ an cư Hạ và Đông được áp dụng cũng phát xuất từ Trung Quốc. Ở Nhật, người ta xem lần An Cư của 15 ngôi chùa lớn được tiến hành vào tháng 7 năm thứ 12 (684) thời Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō) như là lần đầu tiên, từ đó hình thức càng lúc càng thay đổi và quy chế An Cư vẫn còn nghiêm khắc cho đến ngày nay. Đặc biệt trong Thiền Tông lại rất coi trọng về An Cư, thời gian từ ngày 15 tháng 4 đến 15 tháng 7 là Hạ An Cư, và từ ngày 15 tháng 10 cho đến 15 tháng 1 năm sau là Đông An Cư. Hai thời kiết chế an cư mùa đông và mùa hạ vẫn còn duy trì cho đến ngày nay. Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, CBETA No. 1315) quyển 21 có đoạn: “Thánh chế dĩ lâm, thời đương sơ Hạ, u thúy chi nham loan thương thúy, Tất Bát vô sai, sàn viên chi khê cốc thanh linh, Tào Khê phảng phất, xưng nạp tử An Cư chi địa, thật ngô gia cấm túc chi phương, đại sưởng Thiền quan, cự diên trù lữ (聖制已臨、時當初夏、幽邃之巖巒蒼翠、畢缽無差、潺湲之溪谷清泠、曹溪彷彿、稱衲子安居之地、實吾家禁足之方、大敞禪關、巨延儔侶, Phật chế đến kỳ, gặp lúc đầu Hạ, thâm u ấy núi non xanh biếc, linh địa chẳng sai, róc rách kìa suối hang trầm lắng, Tào Khê phảng phất, đúng tu sĩ An Cư thánh địa, thật nhà ta dừng chân quê hương, rộng mở Thiền môn, đón mời bạn lữ).”
An cư
安 居; J: ango;|Chỉ thời gian ba tháng tu dưỡng trong một Thiền viện trong thời gian mùa hè, hay có mưa. Vì vậy người ta cũng thường gọi là Hạ an cư (夏 安 居; j: ge-ango) – an cư mùa hè hoặc là Vũ an cư (雨 安 居; j: u-ango) – an cư mùa mưa.
an cư
Varsavāsanā (P), Ango (J). Xem Ẩn cư.
; Varsà, varsàna (S). Tranquil dwelling. Varsa (S) A retreat during the three months of the Indian raining season. Retreat season of monk.
; Varsa or Varsavasana (skt)—To live in peace—Tranquil dwelling—See An Cư Kiết Hạ.
; (安居) Phạm: Vàrwika hoặc varwa, Pāli: Vassa. Dịch ý là vũ kì (thời kì mưa). Là một trong các chế độ tu hành. Còn gọi là Hạ an cư, Vũ an cư, Tọa hạ, Hạ tọa, Kết hạ, Tọa lạp, Nhất hạ cửu tuần, Cửu tuần cấm túc, Kết chế an cư, Kết chế. Thời kì mưa ở Ấn Độ kéo dài suốt ba tháng mùa hạ. Trong ba tháng này, người xuất gia không được đi ra ngoài mà phải tập trung ở yên một chỗ, dốc sức tu hành, gọi là An cư. Trong thời kì mưa nhiều, đi ra ngoài, sợ dẫm đạp lên các loại côn trùng và mầm non của cây cỏ trên mặt đất, khiến người đời chê cười, vì thế phải ở yên một chỗ để tu hành, tránh không ra ngoài. Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma Sớ quyển 4, giải thích nghĩa chữ an cư như sau: thu nhiếp thân tâm yên tĩnh là an, thời kì phải ở lại là cư. Chế độ an cư trước tiên do Bà La Môn Giáo tại Ấn Độ cổ đại thực hành, về sau được Phật giáo thu dụng. Trong Trường A Hàm quyển 2 kinh Du Hành, kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 39, có ghi chép sự tích Đức Phật và các đệ tử an cư tu hành. Kinh Tăng Già La Sát Sở Tập quyển hạ, thì liệt kê tên các nơi mà Đức Phật đã ngồi hạ trong khoảng bốn mươi lăm năm. Về địa điểm mà Đức Phật, sau khi thành đạo, và các đệ tử đã cử hành an cư lần đầu tiên, thì các kinh điển nói khác nhau, tuy nhiên, thông thường phần nhiều lấy vườn Lộc Dã làm nơi an cư lần đầu tiên. Lại theo Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa quyển 3 chép, con trai của vua A Dục là Ma Hi Đà và các Tỉ Khưu ở Tích Lan (nay là Sri Lanka) đã ngồi hạ ba tháng tại Ca Na Ca Thất (Pāli: Kaịỉaka) trên núi Chi Đế Da (Pāli: Cetiyagiri). Đến nay, Tích Lan và các nước Phật giáo phương nam vẫn chiếu theo luật đã qui định mà cử hành an cư. Cứ theo luật Thập Tụng quyển 24, thì năm chúng xuất gia là Tỉ Khưu, Tỉ Khưu Ni, Thức Xoa Ma Ni, Sa Di, Sa Di Ni phải cử hành an cư, còn hai chúng tại gia Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di thì không được an cư. Lại trong năm chúng xuất gia thì Tỉ Khưu và Sa Di cùng ở một chỗ an cư tu hành, Tỉ Khưu Ni và Sa Di Ni, Thức Xoa Ma Ni cùng ở một chỗ an cư tu hành. Trong Luật tạng đại phẩm Nhập Vũ An Cư Kiền Độ (Pāli: Vassupanàyika - kkhandhaka) văn Pāli qui định, nếu Tỉ Khưu không An cư thì sẽ mắc tội ác tác (Pāli: Dukkaỉa, Đột-cát-la). Về địa điểm an cư, thì luật Tứ Phần quyển 37 An cư kiền độ, nêu lên các chỗ như: Dưới gốc cây, nhà nhỏ, hang núi, hốc cây, trên thuyền, làng mạc v.v..., hoặc nương nơi những người chăn bò, người ép dầu, người đốn gỗ để an cư. Luật Ngũ Phần quyển 19 An cư pháp, thì cấm chỉ không được an cư ở những nơi không có sự cứu hộ, như: Giữa bãi tha ma, chỗ không cây cối, nhà lợp bằng da thú (còn có lông), chỗ đất trống v.v... Lại trước khi An cư, phải sửa sang phòng xá, đồng thời, phân phối phòng xá và các vật cần dùng cho đại chúng một cách đồng đều. Còn về ngày giờ phân phối, thì luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27 Sàng Nhục Pháp Điều, nói: Nếu nơi An cư tương đối gần thì có thể phân phối vào ngày mười lăm tháng tư; nếu nơi An cư tương đối xa, hoặc số người An cư quá đông mà phải chia bớt đến nơi khác để An cư thì có thể phân phối sớm hơn vào ngày mười ba tháng tư. Lại trước khi vào An cư, phải đối trước người mình nương tựa (vị Tỉ Khưu có đức hạnh) để bày tỏ ý kết chế An cư, gọi là đối thủ An cư; không có người nương tựa, thì trong tâm tự nói ý kết chế An cư để vào An cư, gọi là tâm niệm An cư. Trong thời gian An cư, cấm chỉ không được ra ngoài đi chơi, nếu người nào không tuân qui định ấy thì mắc tội ác tác. Tuy nhiên, cứ theo luật Tứ Phần quyển 37, thì nếu người nào có thể trở về ngay trong ngày thì được phép ra ngoài; hoặc có việc đặc biệt cần thiết, được Tăng đoàn thừa nhận, thì có thể được phép ra ngoài trong vòng bảy ngày, mười lăm ngày, phương pháp này gọi là Thất Nhật Pháp, Thụ Nhật Pháp. Ngoài ra, nếu người nào vi phạm qui định này mà ra ngoài, thì đắc tội ác tác, gọi là phá An cư, phá hạ, sẽ mất tư cách tiếp nhận các vật cúng dường An cư được phân phối. Nhưng, nếu vì các chướng nạn như: Chạy tránh ác thú, rắn độc, hỏa hoạn, nước dâng, vua bắt, giặc đuổi, trúng thực, nữ nhân, thân tộc v.v..., hoặc vì sự hóa giải việc phá tăng mà rời khỏi nơi An cư, thì không phải tội. Về thời gian An cư, thông thường phần nhiều lấy một hạ chín tuần (tức ba tháng) làm kì hạn. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển thượng phần 4, lấy ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày cuối cùng, ngày hôm sau là ngày Tự tứ; luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, thì lấy ngày 15 tháng 7 làm ngày Tự tứ; Đại Đường Tây Vực Kí quyển 2, quyển 8, thì ghi thời kì An cư là từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8. Về chủng loại An cư thì có hai thuyết, một thuyết là tiền An cư, hậu An cư, tiền An cư bắt đầu vào ngày 16 tháng 5, hậu An cư bắt đầu vào ngày 16 tháng 6. Thuyết thứ hai là tiền an cư, trung an cư và hậu an cư, tiền an cư bắt đầu vào ngày 16 tháng 4, trung an cư bắt đầu vào ngày 17 tháng 4 đến ngày 15 tháng 5, hậu An cư bắt đầu vào ngày 16 tháng 5. Ngoài ra, Đại thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 2 phần đầu, dẫn dụng thuyết trong kinh Niết Bàn, đem chia một ngày kết chế làm năm phần, rồi theo thứ tự, tường thuật hành chỉ của Đức Phật trong một ngày, sáng dậy Ngài mặc áo, ra ngoài khất thực hành hóa, cho đến việc nói pháp cho chúng Tỉ Khưu, chư thiên và các thiện thần. Ngày đầu An cư gọi là kết hạ, ngày kết thúc viên mãn gọi là giải hạ, quá hạ, hạ kính, hạ mãn, hạ giải, An cư kính. Thời kì giữa kết hạ và giải hạ, gọi là bán hạ. Cứ theo luật Tứ Phần quyển 43 Ca Hi Na Y Kiền Độ chép, khi kết thúc an cư phải làm bốn việc là: Tự tứ, giải giới, kết giới và thụ công đức y. Tức sau khi An cư đã viên mãn, đại chúng phải tự xét những hành vi của mình trong thời gian an cư, nếu có tội thì tự giải bày để cùng nhau sám hối, gọi là tự tứ; ngày tự tứ gọi là tự tứ nhật, Phật hoan hỉ nhật. Lại khi kết thúc an cư, phải giải trừ cái phạm vi đã được kế giới mà trong thời gian an cư không được ra khỏi, gọi là giải giới. Lại sau khi an cư đã viên mãn, các Tỉ Khưu, Tỉ Khưu Ni được thêm một tuổi hạ gọi là Pháp lạp. Pháp lạp cũng gọi là hạ lạp, là tiêu chuẩn qui định thứ bậc lớn, nhỏ của người xuất gia. Thông thường phần nhiều cử hành An cư vào mùa hạ, nhưng cũng có kết chế An cư vào mùa Đông, gọi là Đông an cư. Tại Trung Quốc, Nhật Bản và các địa phương Tây Vực đều có chế độ Đông an cư. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 1 Yết Sương Na Quốc chép, thì ngày 16 tháng 12 là ngày đầu của Đông an cư, ngày 15 tháng 3 năm sau là ngày cuối cùng. Tại Trung Quốc, chế độ an cư bắt đầu được thực hành vào thời đại Diêu Tần, vào thời ấy, các luật Thập Tụng và Quảng Luật đã được truyền dịch và nói rất tường tận về tác pháp An cư, chư tăng Trung Quốc bèn theo đó mà làm lễ kết hạ. Ngoài ra, như Xuất Tam Tạng Kí Tập quyển 3 Tân Lập Luật Lai Hán Địa Tứ Bộ Tự Lục, Quảng Hoằng Minh Tập quyển 24, cũng có ghi sự tích chư tăng Trung Quốc Kết Hạ An Cư. Chế độ An cư ở Trung Quốc tuy thừa kế Ấn Độ, nhưng vì phong thổ và dân tình có khác, cho nên chưa hẳn hoàn toàn noi theo tác pháp Ấn Độ, mà cũng có chỗ biến thông. Như Đại Tống Tăng sử lược quyển hạ Tứ Hạ Lạp đều chép, từ giữa đời Đường đến đời Ngũ đại, có việc không y theo hành nghi An cư mà ban thêm tuổi hạ. Ngoài ra, tại Trung Quốc cũng có thuyết tùy ý tùy chỗ mà cử hành An cư, tức thừa nhận việc tu hành tùy nơi chỗ mà làm, chứ không giới hạn ở thời kì An cư, cho nên, những việc làm trong năm, không coi ba tháng hạ An cư là việc tất yếu. Như trong Bách Trượng Thanh Qui Nguyệt Phân Tu Tri Chương, ghi chép các việc làm mỗi tháng mà không thấy có mục An cư. Ngoài ra, cứ theo Thích Thị Yếu Lãm quyển hạ Giải Hạ đều chép, vào ngày Tự tứ, các Tỉ Khưu Ấn Độ phải lấy cỏ (tức cỏ cát tường) làm tòa ngồi cho chúng tăng, tự mình cũng ngồi trên cỏ mà làm Tự tứ. Tập tục này khi được truyền đến Trung Quốc thì có chỗ thay đổi; như chúng tăng ở các địa phương Giang Nam dưới đời Tống, vào ngày giải hạ, lấy cỏ tặng cho Đàn việt (thí chủ). Tại Nhật Bản, chế độ An cư cũng đã được thực hành từ lâu, khoảng đồng thời với hội tắm Phật, hội Vu Lan bồn từ Trung Quốc truyền vào. Trong thời gian An cư cũng có các thời giảng kinh, gọi là Hạ kinh. Vào thời đại Bình An, trong An cư, ngoài việc giảng kinh, còn tổ chức viết kinh, gọi là Hạ thư. Lại vào ngày giải hạ, thu góp các Hạ thư đem nạp cho các chùa, gọi là Thư nạp, Hạ giải nạp. Lại trong thời gian an cư ở ẩn trong các chùa, gọi là Hạ lung; ngôi nhà ở ẩn gọi là Hạ đường; trong an cư, tu niệm Phật gọi là Hạ niệm Phật; tăng kết hạ an cư gọi là Hạ tăng; trong thời gian an cư, tránh những thực vật bất tịnh, gọi là Hạ đoạn. An cư tại Nhật Bản phần nhiều là chế độ nhị kì tịnh hành (cùng làm hai kì một lúc), về mặt hình thức, xưa nay đã thay đổi không ít, nhưng cho đến nay vẫn còn được cử hành một cách trọng thể. Trong đó, đặc biệt coi trọng việc làm An cư của Thiền tông, tức hằng năm, từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 là thời kì Hạ An cư, từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 15 tháng 1 năm sau là thời kì Đông An cư. [X. Trung A Hàm Q.19 kinh Thỉnh Thỉnh; kinh Nguyệt Đăng Tam Muội Q.5; kinh Chính Pháp Niệm; luật Tứ Phần Q.58; Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện Q.1, Q.2; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.17 Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư Chương Phần Dưới; Gia Thái Phổ Đăng Lục Q.14 Tuyết Đình Nguyên Tịnh Thiền Sư Chương Phần Dưới; Thiền Uyển Thanh Qui Q.2; luận Hưng Thiền Hộ Quốc Q.hạ]. (xt. Tự Tứ).
an cư kiết hạ
Vassa (skt)—Ba tháng an cư kiết hạ mỗi năm vào mùa mưa (từ 15 tháng tư đến 15 tháng bảy âm lịch). Vào mùa mưa khó mà di chuyển và không muốn làm tổn hại côn trùng, nên chư Tăng Ni trụ lại một nơi để dụng công tu tập. Khi chấm dứt mùa an cư kiết hạ cũng trùng vào dịp lễ Vu Lan Bồn, ngày mà chư Tăng Ni tham dự an cư được tăng một tuổi đạo—Peaceful residing during the summer retreat—The three months of summer retreat every year (from 15th of the Lunar fourth month to 15th of the Lunar seventh month)—Monsoon-season (Rain) Retreat—The period of three months in the monsoon season (Indian rainy season). During the rains it was difficult to move about without injuring the insect life, so monks and nuns are expected to reside in one place and devote themselves to their practice. The end of the Rain Retreat coincides with theUllambana Festival. It is an auspicious day for monks and nuns, as on that day those who attended the Rain Retreat become one year older in the Order.
an cư kiền độ
(安居犍度) Pāli: Vassupanàyika - kkhandhaka. Là một trong hai mươi kiền độ. Chỉ các loại chế giới liên quan đến việc An cư. Như tư cách của những người tham dự, việc phân phối phòng xá, ngọa cụ, tiền An cư, hậu An cư, nơi chỗ An cư, trong nhà, ra ngoài v.v... những qui định về các việc trên đây, gọi là An cư kiền độ. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
an cư kết hạ
Xem Hạ an cư.
an cư lạc nghiệp
Sống trong yên bình và an lạc trong nghề của mình—To live in peace and be content with one's occupation.
An cư 安居
[ja] アンゴ ango ||| (vārsika); 'peaceful dwelling.' A meditation retreat. Originally the rainy season of three months, from the 16th of the fourth month to the 15th of the 7th month, during which monks stay in their monasteries, concentrating on study and practice. These dates vary for later sects, but it is still a period of time for the monk to remain in the monastery to do concentrated study and practice (s: vārsika) - => Kỳ tĩnh cư. thường là 3 tháng vào mùa mưa, từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7, lúc ấy chư tăng ở yên trong tự viện, chuyên tâm nghiên cứ kinh luận và tu tập. Thời gian an cư có khác nhau đối với từng bộ phái sau này, nhưng chính vẫn là thời gian để cho chư tăng ở yên trong tự viện để tập trung vào việc tu học. -
an cốt
(安骨) Sau khi hỏa thiêu, thu nhặt xương cốt còn lại để thờ. Cũng gọi là An vị. Pháp sự khi cử hành lễ an cốt, gọi là An cốt Phật sự, hoặc gọi là An cốt phúng kinh. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 3 mục Thiên Hóa (Đại 48, 1129 thượng), nói: Học trò, người làng, pháp quyến, thu nhặt xương cốt sau khi hóa, thụ trai xong, đánh chuông tập chúng tại nhà Tăng, nghi lễ đầy đủ, rước cốt về nhà nghỉ để thờ, cử hành an cốt Phật sự, bày tượng cúng dường tụng kinh. [X. Thiền Lâm Tượng Khí Tiên Tang Tiến Môn].
an danh
Ban pháp danh cho người mới vào đạo—To give a religious name to a beginner.
; (安名) Tức trong Thiền lâm, khi đặt pháp danh cho những người mới thụ giới hoặc mới qui y, gọi là An danh. Còn gọi là Thủ danh. Tuy nhiên, An danh không hẳn chỉ hạn ở lúc thụ giới hoặc qui y, Thiền Tông Ngữ Lục ghi chép nhiều sư đã vượt quá việc An danh mà hiển bày những công án đặc thù về cơ pháp của mình. Như Liên Đăng Hội Yếu quyển 19 chép việc Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất đời Đường đặt tên cho Thiền sư Đơn Hà, câu truyện này đã trở thành sự tích trứ danh trong Thiền lâm (Vạn tục 136, 371 thượng): Sư lại đến yết kiến Mã Tổ, chưa tham lễ mà đã vào nhà Tăng, rồi trèo lên cổ Thánh tăng mà ngồi; đại chúng kinh ngạc, đi báo Mã Đại sư. Đại sư vào nhà, thấy thế bèn cười, nói: Con ta thiên nhiên. Sư nhảy xuống làm lễ, nói: Cảm tạ thầy đã đặt tên cho!. Nhân đó, lấy tên là Thiên nhiên. [X. Thiền Lâm Tượng Khí Tiên Xưng Hô Môn].
An Dưỡng
(安養): tên gọi khác của thế giới Tây Phương Cực Lạc; còn gọi là An Dưỡng Quốc (安養國), An Dưỡng Tịnh Độ (安養淨土), An Dưỡng Thế Giới (安養世界), v.v. Như trong thế giới Cực Lạc Tịnh Độ có thể làm cho an tâm, dưỡng thân, nên có tên gọi như vậy. Chánh Pháp Hoa Kinh (正法華經) quyển 9 có đoạn rằng: “Sanh An Dưỡng Quốc, kiến Vô Lượng Thọ Phật (生安養國、見無量壽佛, sanh về nước An Dưỡng, thấy Phật Vô Lượng Thọ)”. Trong Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh Kinh (文殊師利佛度嚴淨經) quyển thượng có dạy rằng: “Quốc độ nghiêm tịnh, do như Tây phương An Dưỡng chi quốc (國土嚴淨、猶如西方安養之國, quốc độ trang nghiêm trong sạch, giống như nước An Dưỡng ở phương Tây)”. Ngoài ra, An Dưỡng còn là văn dịch khác của An Lạc (安樂); cả hai đều là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc. Cho nên, vị giáo chủ của An Dưỡng Quốc là đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Tác phẩm viết về thế giới này có An Dưỡng Sao (安養抄, Taishō, quyển 84), 7 quyển, không rõ tác giả; An Dưỡng Tập (安養集, Anyōshū) của Nhật Bản, 10 quyển, do Nguyên Long Quốc (源隆國, Minamoto-no-Takakuni, 1004-1077) cùng với 10 vị A Xà Lê của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) biên tập tại Bình Đẳng Viện (平等院, Byōdō-in), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), v.v. Trong Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) quyển 2 của Phạn Kỳ Sở Thạch (梵琦楚石) có bài thơ rằng: “Bất hướng Ta Bà giới thượng hành, yếu lai An Dưỡng quốc trung sanh, thử phi niệm Phật công phu đáo, an đắc siêu phàm nguyện lực thành, hương vụ nhập thiên phù cái ảnh, noãn phong xuy thọ tác cầm thanh, phân minh thức đắc chơn như ý, khẳng nhận Ma Ni tác thuỷ tinh (不向娑婆界上行、要來安養國中生、此非念佛工夫到、安得超凡願力成、香霧入天浮蓋影、暖風吹樹作琴聲、分明識得眞如意、肯認摩尼作水晶, chẳng hướng Ta Bà cõi ấy hành, nên về An Dưỡng nước trong sanh, công phu niệm Phật không thấu triệt, sao được siêu phàm nguyện lực thành, hương khói xông trời lọng báu ảnh, thổi cây gió ấm diễn cầm đàn, rõ ràng biết được chơn như ý, chấp nhận Ma Ni làm thủy tinh).”
an dưỡng
Annyo (J), Peace and provision Cực lạc.
; To rest—To take a rest.
; (安養) Là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc phương tây. Như gọi nước An dưỡng, Tịnh độ an dưỡng, Thế giới an dưỡng v.v... Sống trong Tịnh Độ Cực Lạc này, có thể yên tâm, nuôi thân, nên gọi an dưỡng. Kinh Chính Pháp Hoa quyển 9 (Đại 9, 126 hạ), nói: Sinh nước An Dưỡng, thấy Phật Vô Lượng Thọ. Kinh Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh quyển thượng (Đại 11, 895 hạ), nói: Đất nước nghiêm tịnh, cũng như nước An dưỡng ở phương tây. Ngoài ra, từ an dưỡng còn là từ dịch khác của an lạc, cả hai đều là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc. Theo đó, vị giáo chủ ở nước An Dưỡng, tức là Phật Di Đà, gọi là An Dưỡng Giáo Chủ. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; kinh Duy Ma Cật Q.hạ]. (xt. Cực Lạc Thế Giới).
an dưỡng (quốc).
Sukhavati (S) Xem An lạc quốc.
an dưỡng quốc
Xem Cực lạc quốc.
an dưỡng sao
(安養抄) Gồm bảy quyển. Không rõ tên người soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 84. Sách này do sự thu tập ghi chép các luận đề trong những kinh luận Chương Sớ có liên quan đến cõi An Dưỡng Tịnh Độ và những người được vãng sinh mà cấu thành. Nội dung gồm tám mươi sáu hạng mục, dưới mỗi hạng mục, đều có viện dẫn các câu văn trong nhiều kinh luận chương sớ, nếu là lời của soạn giả tự nói, thì nêu chữ tư vân (theo ý riêng) để phân biệt. Sách này dẫn dụng hoặc có liên quan đến rất nhiều kinh sách khác, như ba bộ kinh Tịnh Độ và các bản dịch khác nhau của ba bộ ấy, kinh Đại Phẩm, kinh Đại Thừa Đồng Tính, kinh Tâm Địa Quán, Vô Lượng Thọ Kinh Sớ của Chân Đế, luận Thập Nghi của Trí Khải, Vãng sinh luận chú của Đàm Loan, An lạc tập của Đạo Xước v.v... Trong đó, bao hàm nhiều cuốn sách cổ rất quí báu đã thất lạc. Bản chùa Đông Đại bên Nhật Bản vào cuối thời kì Bình An.
an dưỡng tịnh độ
Pure Land of Tranquil Nourishment—See An Lạc Quốc.
an dưỡng tức tịch quang
(安養即寂光) An Dưỡng, là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc; Tịch Quang, tức Thường tịch quang độ, là thế giới của Phật ở. Trong bốn loại quốc độ (tứ độ) do tông Thiên Thai lập ra, thế giới An Dưỡng là cõi thấp nhất, và Tịch quang là cõi cao nhất. Tuy nhiên, đứng về phương diện đạo lí viên dung mà nói, thì bốn cõi không hai không khác, vì thế, trong bốn cõi, cõi An dưỡng thấp nhất cũng tức là cõi Tịch quang cao nhất, đây gọi là An dưỡng tức Tịch quang, đồng nghĩa với câu Sa Bà Tức Tịch Quang. Pháp Hoa Văn Cú Kí quyển 9 phần dưới (Đại 34, 333 hạ), nói: Há lìa Già da mà tìm cầu Thường tịch riêng? Chẳng phải ngoài Tịch quang mà có Sa-bà riêng. Lại Chỉ quán nghĩa lệ quyển thượng (Đại 46, 450 trung), nói: Không biết thân và độ đều ở một tâm, nên biết tâm thể tức Thường tịch quang, Tịch quang các cõi không hai không khác. (xt. An Dưỡng, Thường Tịch Quang Độ).
an dưỡng viện
Anyōin (J).
an dưỡng địa
Land of rest—Pure Land.
An dưỡng 安養
[ja] アンヨウ annyō ||| An alternative term for Amitābha's Pure Land. Synonymous with jiyue 極樂. The person is at ease and well-nourished. - Tên gọi khác về cõi Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà. Đồng nghĩa với Cực lạc. - Người sống thanh thản và được chăm sóc chu đáo. -
an giấc
To be fast sleep.
an giấc ngàn thu
To rest in peace forever.
an hoà
Sotthija (S)Thị giả của Phật Kim Tịch.
an huyền
Một vị sư nổi tiếng người nước An Tức (vào khoảng năm 280 sau Tây Lịch)—An-Hsuan, a noted monk from Persia (around 280 A.D.).
; (安玄) Nhà dịch kinh đời Hán. Người nước An Tức. Không rõ năm sinh năm mất. Ông đến Lạc Dương vào năm cuối đời Linh Đế nhà Đông Hán, vì có công nên được trao chức Kị đô úy, bởi thế, người đời gọi ông là Đô úy Huyền. Đọc tụng khắp các kinh, coi việc hoằng pháp là bổn phận của mình, sau dần dần hiểu chữ Hán thì thường cùng với các sa môn giảng bàn đạo nghĩa. Năm Quang Hòa thứ 4 (181), ông cùng với Nghiêm Phật Điều cùng dịch kinh Pháp Kính 2 quyển, kinh A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhân Duyên 1 quyển, đều lột hết được những ý chỉ sâu xa vi diệu, người bấy giờ đều bảo đời sau khó có ai thừa kế được. [X. Xuất Tam Tạng Kí tập Q.2, Q.13; Lương Cao Tăng Truyện Q.1; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.4; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.1].
An Huệ
(安慧, Ane, 794-868): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 4, xuất thân vùng Hà Nội (河內, Kawachi), con của dòng họ Đại Bạch (大狛). Ông theo xuất gia Quảng Trí (廣智, Kōchi) ở Tiểu Dã Tự (小野寺) vùng Hạ Dã (下野). Năm 13 tuổi, ông theo Tối Trừng (最澄, Saichō) học Mật Giáo và Thiên Thai Chỉ Quán; sau khi vị này qua đời thì theo hầu Viên Nhân (圓仁, Ennin). Vào năm 827, ông trúng tuyển kỳ thi Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) và được thọ giới. Đến năm 835, ông làm giảng sư cho tiểu quốc Xuất Vũ (出羽, Dewa) và sau đó được bổ nhiệm là một trong 10 Thiền sư của Định Tâm Viện (定心院). Năm 864, ông kế thừa chức Thiên Thai Tọa Chủ. Trước tác của ông có Hiển Pháp Hoa Nghĩa Sao (顯法華義鈔) 10 quyển, Tức Thân Thành Phật Nghĩa (卽身成佛義) 1 quyển.
; 安 慧; S: sthiramati; tk. 6;|Một trong Mười đại Luận sư xuất sắc của Duy thức tông (s: vijñānavāda). Sư viết những luận văn quan trọng về các tác phẩm của Thế Thân (s: vasubandhu) như A-tì-đạt-ma câu-xá luận thật nghĩa sớ, Duy thức tam thập tụng thích. Ngoài ra Sư còn viết luận về những tác phẩm của Long Thụ (s: nāgārju-na) như Ðại thừa trung quán thích luận. Sư là người ôn hoà, cố gắng dung hoà tư tưởng của Duy thức và Trung quán (s: madhyama-ka).|Các tác phẩm của Sư (trích): 1. A-tì-đạt-ma câu-xá luận thật nghĩa sớ (s: abhidharmakośa-bhāṣya-ṭīkā-tattvārtha-nāma); 2. Duy thức tam thập tụng thích luận (s: vijñāptimātratāsiddhitriṃśikā-bhāṣya), còn bản Phạn ngữ (sanskrit) và Tạng ngữ; 3. Ðại thừa trung quán thích luận, chú giải Trung quán luận (s: madhyamaka-śāstra) của Long Thụ, chỉ còn Hán văn; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tạp tập luận (s: abhi-dharmasamuccaya-bhāṣya), còn bản Hán và Tạng ngữ; 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận nghĩa thích (s: sūtralaṅkāravṛttibhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 6. Trung biên phân biệt luận sớ hoặc Biện trung biên luận sớ (s: madhyāntavibhāga-kārikā), còn bản Hán và Tạng ngữ, một bài luận giải về Biện trung biên luận (s: madhyānta-vibhāga-kārikā) của Di-lặc hoặc Mai-tre-ya-na-tha (maitreyanātha); 7. Ðại bảo tích kinh luận (s: ārya-mahāratnakūṭa-dharma-par-yāya-śatasāhasrikāparivartakāśyapa-parivartaṭīkā), bản Hán và Tạng ngữ; 8. Ngũ uẩn luận thích hoặc Ðại thừa quảng ngũ uẩn luận (s: pañcaskandhaka-bhāyṣa) luận về Ngũ uẩn luận (s: pañcaskandhaka) của Thế Thân.
an huệ
Sthitamati (S)Tên một vị sư.
; settled or firm resolve on wisdom.
; (安慧) (457 - 555) Phạm: Sthiramati. Dịch âm là Tất-sỉ-la-mạt-để. Người nước La-la (nước Phạt-lạp-tì) thuộc nam Ấn Độ. Một học giả lớn của Phật giáo Đại thừa nam Ấn Độ, khoảng một nghìn một trăm năm sau đức Phật nhập diệt. Sư tinh thông Duy thức và Nhân minh học, rất giỏi luận nghĩa, là một trong mười luận sư lớn của Duy thức học. Sư sống đồng thời với ngài Hộ Pháp, nhưng có nhiều điểm chủ trương khác với Hộ Pháp. Về phương diện tác dụng tâm thức, Sư chỉ thừa nhận Tự chứng phần là thực có, còn cho Kiến phần, Tướng phần tình thì có mà lí thì không, vì thế, người ta gọi sư là Nhất phần gia; ngài Hộ Pháp thì lập bốn phần là Kiến phần, Tướng phần, Tự chứng phần và Chứng tự chứng phần, cho nên, được người ta gọi là Tứ phần gia. Đối với quan điểm dị đồng về tác dụng tâm thức giữa An Tuệ và Hộ Pháp, từ xưa, đã có bài kệ biểu thị như sau: Hai chướng tương ứng bảy chuyển trước; Hai chấp tương ứng duy sáu, bảy; Năm tám không chấp tông Hộ Pháp. Sở tri pháp chấp năm, sáu, tám; Ngã chấp tương ứng duy sáu, bảy; Phiền não tương ứng bảy chuyển trước; Năm, tám pháp chấp tông An Tuệ. Giải rõ nghĩa như sau: Theo ngài Hộ Pháp, thì Phiền não chướng và Sở tri chướng tương ứng với bảy chuyển thức trước (tức mắt tai mũi lưỡi thân ý và mạt na), ngã chấp và pháp chấp chỉ tương ứng với thức thứ 6 và thức thứ 7, còn thức thứ 5 (thân thức) và thức thứ 8 (A-lại-da-thức) thì không chấp; đó là quan điểm của Hộ pháp. Theo ngài An tuệ, thì sở tri chướng và pháp chấp tương ứng với các thức thứ 5, thứ 6 và thứ 8, ngã chấp chỉ tương ứng với thức thứ 6 và thức thứ 7, phiền não chướng tương ứng với bảy chuyển thức trước, pháp chấp tương ứng với thức thứ 5 và thứ 8; đó là quan điểm của An tuệ. Năm thức trước chấp ngã năm thức trước Hộ Thức thứ sáu chấp pháp Thức thứ sáu An Pháp Thức thứ bảy chướng sở tri Thức thứ bảy Tuệ Thức thứ tám chướng phiền não Thức thứ tám. An Tuệ tôn sùng giáo nghĩa của ngài Thế Thân, thừa kế học thuyết của Ngài, từng viết Thích Luận giải thích Duy Thức Tam Thập Tụng của Thế Thân, tức là bộ Duy Thức Tam Thập Tụng Thích Luận; bản tiếng Phạm của sách này đến nay vẫn còn, được phát hiện tại Ni bạc nhĩ (Népal), nó cũng được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Nhật. Những tác phẩm khác của An tuệ, còn có luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp Tập 16 quyển, luận Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn 1 quyển, Đại Thừa Trung Quán Thích Luận 9 quyển, Câu Xá Thực Nghĩa Sớ 5 quyển v.v... Trong đó, Câu Xá Thực Nghĩa Sớ mới được tìm thấy tại Đôn Hoàng thời gần đây, thu vào Đại Chính Tạng tập 29. [X. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.1 phần đầu; Giải Thâm Mật Kinh Sớ Q.3; Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng Q.1 phần cuối; Thành Duy Thức Luận Chưởng Trung Khu Yếu Q.1 phần đầu; Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện Q.4]. (xt. Tứ Phần).
an huệ bồ tát
Sthimati (S)Tên một vị Bồ tát. Xem Kiên Huệ Bồ tát.
; (安慧菩薩) An Tuệ, Phạm: Sthirabodhi#. Trong phẩm Cụ Duyên, phẩm Bí Mật Mạn Đồ La Hư không Tạng Viện của kinh Đại Nhật, đều có ghi vị tôn này. Còn gọi là An Trú Tuệ Bồ Tát. Trong Mạn Đồ La do A Xá Lê truyền, vị tôn này được gọi là Pháp Tuệ Bồ Tát. Vị tôn này an trú nơi tuệ quả đức, làm lợi ích chúng sinh khiến không sợ hãi. Chủng tử là (hùô), biểu thị nghĩa an trú. Cứ theo kinh Đại Nhật phẩm Bí Mật Mạn Đồ La chép, thì hình Tam muội da của vị này là hoa sen kim cương ở trong phong luân. Ấn khế là ấn hoa sen xanh, tức các ngón tay giữa, ngón vô danh và ngón út khóa vào nhau làm thành nắm tay, hai ngón tay trỏ đứng thẳng, đầu ngón không chạm nhau, và hai ngón cái cũng để thẳng lên. Chân ngôn là: Nam-ma (namo, kính lễ), Tam-man-đa (samanta, khắp cả) bột đà nam (budhànàô, chư Phật) nhương mỗ ôn bà phọc (jĩànodbhava, trí sinh) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. kinh Đại Nhật phẩm Chân Ngôn Tạng, phẩm Mật Ấn; Đại Nhật Kinh Sớ Q.16]
An Huệ 安慧
[ja] アンネ An'ne ||| Sthiramati; an Indian master of the Yogācāra school (7th century CE); considered in East Asia to be one of the ten great masters of the Consciousness-only school. Extant works by him are the Treatise of Collection of Mahāyāna-Abhidharma 大乘阿毘達磨雜集論 (16 fascicles); the Extensive Treatise on the Five Aggregates in Mahāyāna 大乘廣五蘊論 (one fascicle); and the Treatise on the Middle View of the Great Vehicle 大乘中觀釋論 (18 fascicles). He is known for refuting the theories of Saṃghabhadra 衆賢 through his treatises on Abhidharmakośa and Vasubandhu's Consciousness-only in Thirty Verses. Discoveries of Sanskrit texts by later scholars led to his being considered an important Consciousness-only master, showing that his interpretations of key Yogācāra theories of conciousness differed sharply from such thinkers as Dharmapāla 護法. For instance, Sthiramati, who understood the bifurcation of consciousness into subject and object to be wholly imaginary, while Dharmapāla understood that consciousness is always manifested in both its subjective and objective aspects. He also established the theory of "self witnessing aspect" [自證分]. - => s: Sthiramati. Cao tăng Du-già hành tông, người Ấn Độ (thế kỷ thứ 7); được xem là một trong mười Đại sư của Duy thức tông vùng Đông Á. Các tác phẩm của sư hiện đang lưu hành là: - - Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận (Treatise of Collection of Mahāyāna-Abhidharma 大乘阿毘達磨雜集論 ; 16 quyển. - - Đại thừa quảng ngũ uẩn luận; 1 quyển. - - Đại thừa trung quán thích luận 大乘中觀釋論;18 quyển. - Sư nổi tiếng qua sự bài bác học thuyết của Chúng Hiền (s: Saṃghabhadra 衆賢) qua luận giải của Sư về A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận và Duy thức tam thập tụng của Thế Thân. Những khám phá từ các kinh văn tiếng Sanskrit của các học giả sau này cho biết sư được xem là một bậc thầy quan trọng của Duy thức tông, biểu hiện qua các giải thích then chốt của sư về giáo lý Duy thức của sư đều khác biệt một cách sâu sắc với những nhà tư tưởng khác như Hộ Pháp. Chẳng hạn, An Huệ cho rằng sự phân chia thức thành chủ thể và đối tượng nhận thức là hoàn toàn tưởng tượng, trong khi Hộ Pháp cho rằng thức luôn luôn được biểu hiện qua cả hai phương diện kiến phần và tướng phần của nó. Sư còn lập nên học thuyết về “tự chứng phần”. -
an hưởng
To enjoy in peace
an hạ
To put down.
an hạ xứ
A place to rest—Resting place—A place for putting things down, i.e. baggage—A place to stay.
; (安下處) Chỉ nơi nghỉ ngơi. Tức là nơi nghỉ của khách khứa hoặc vị trụ trì mới nhậm chức. Lại nơi nghỉ tạm được đặt ngoài cổng chùa trong dịp trai tăng, cũng gọi là An hạ xứ. Theo Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 2 chương Trụ Trì Mục Thí Chủ Thỉnh Thăng Tọa Trai Tăng (Đại 48, 1123 thượng), thì: Thí chủ đến cửa, tri khách tiếp, đưa lên phương trượng, mời trà nước, rồi dẫn đến an hạ xứ. Nếu là quan quí đại thí chủ, thì đánh chuông tập chúng, ra cửa đón tiếp, đưa thẳng đến an hạ xứ. [X. Thích Thị Tư Giám Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Điện đường môn].
an lành
Ārogya (S), Welfare.
; Arogyra (S). Health, absence of illness.
an lão
(安老) 1. Là liêu phòng của những vị tăng già cả hoặc những vị nhập thất ở, trong phạm vi Thiền viện. Những người ở liêu phòng, nếu đã bảy tám mươi tuổi thì hoàn toàn được miễn trừ mọi công việc hàng ngày, thức ăn uống được cung cấp đầy đủ. 2. Chỉ nơi ở của các vị tăng tuổi già mà thân thể suy yếu. 3. Những người tuy đã già nhưng phát tâm đạo tu hành trong nhà Tăng cũng gọi là An lão. (xt. An Lạc Đường).
an lòng
Be comfortable—To ease one's mind about something.
an lạc
Xem An.
; Sikha (S).Happy. Thân an tâm lạc, ease (of body) and joy (at heart). Peace and happiness; well being, comfort.
; - An bình và hạnh phúc (thân dễ chịu và tâm hoan hỷ): Passadhisukham (p)—Comfort—Comfortable—Happy (ease of body and joy of heart)—Peaceful and joyful—Stable and comfortable. - Phật đến với cõi Ta Bà vì an lạc cho chúng sanh—The Buddha comes to the Saha World for the welfare and happiness of sentient beings. - Niềm vui hay hạnh phúc của sự yên tỉnh: Samasudha (skt)—The joy or happiness of tranquility.
; (安樂) Yên vui. Là tên khác của thế giới Cực Lạc phương Tây, như gọi An lạc quốc, An lạc tịnh độ, An lạc thế giới... Cứ theo kinh Vô Lượng Thọ quyển thượng chép, nước ấy không có ba đường khổ nạn, chỉ có vui sướng tự nhiên, cho nên gọi là nước yên vui. Ngoài ra, hai chữ an lạc, nếu dùng cho thân tâm, thì chỉ cho ý thân yên, tâm vui. Theo sự giải thích trong Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 phần dưới, thì thân không bị ách nạn là yên, tâm không lo buồn là vui. (xt. Cực Lạc Thế Giới).
an lạc hành
(安樂行) Tức chỉ pháp an trú thân tâm của Bồ Tát khi giảng diễn kinh Pháp Hoa trong đời mạt pháp xấu ác. Cứ theo kinh Pháp Hoa quyển 4 phẩm An Lạc hành chép, thì có bốn thứ An Lạc Hành: Thân an lạc hành, Khẩu an lạc hành, Ý an lạc hành, Thệ nguyện an lạc hành, gọi là Tứ an lạc hành. Cũng tức là các Bồ Tát phải xa lìa những tội lỗi của ba nghiệp thân, khẩu, ý, đồng thời phát nguyện dạy bảo chúng sinh, hóa độ chúng sinh, là những hành vi yên vui làm lợi mình lợi người. Cứ theo Pháp Hoa Kinh An Lạc Hành Nghĩa Của Ngài Tuệ Tư chép, thì đối với tất cả pháp, tâm không lay động, gọi là an, không bị phiền não năm ấm trói buộc, gọi là lạc; thân tâm yên vui mà làm lợi mình lợi người, gọi là hành. Cũng sách đã dẫn còn chia an lạc hành làm hai thứ là Hữu tướng, Vô tướng: 1.Hữu tướng hành, là pháp tu bên ngoài, như dốc lòng đọc tụng văn tự của kinh Pháp Hoa, gọi là Văn tự hữu tướng hành. 2.Vô tướng hành, là phép tu bên trong, như tu chỉ quán để thấu suốt trong tất cả các pháp, tâm tướng vắng bặt, rốt ráo chẳng sinh, cũng tức là chẳng lấy An lạc hành này làm phép tu, mà cứ trong trạng thái tự nhiên nhi nhiên, vô hành vô hóa mà lợi mình lợi người. Ngoài ra, Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 phần dưới, cũng nêu lên ba giải thích để giải nghĩa của An lạc hành. Đó là: 1.Y sự thích, tức giải thích theo sự vật; nghĩa là thân không ách nạn là an, tâm không lo buồn là lạc, dựa vào đó (thân yên tâm vui), có thể thực hiện được những việc làm lợi mình lợi người. 2.Phụ văn thích, là phụ thêm ba phép tắc trong phẩm Khuyến trì để giải thích; tức lấy mặc áo Như Lai (hành chỉ hành) làm pháp thân yên, vào nhà Như Lai (hành từ bi hành) làm tâm vui giải thoát, ngồi tòa Như Lai (hành quán hành) làm Bát nhã hạnh. Ngoài ra, còn phụ thêm riêng vào văn của phẩm An lạc hành để giải thích; tức an trú ngôi nhẫn nhục là thân yên, không bị phiền não, bạo lực làm khốn là tâm vui, quán thực tướng của các pháp là hành tiến. 3.Pháp môn thích, tức đem pháp môn tu hành để giải thích; nghĩa là không duyên theo pháp thiên hẳn một bên sinh tử hoặc Niết Bàn, mà an trú bất động là an; không chấp thủ cái dụng rộng lớn của Thiền định và không nhận năm ấm là lạc; dưới cái trạng thái không nhận, không làm mà tu trung đạo, là hành. (xt. Tứ An Lạc Hành).
an lạc hạnh
Peaceful and joyful practice.
an lạc quốc
Sukhavati (S). Amitabha's Happy Land.
; An Lạc Tịnh Độ—An Lạc Quốc Độ của Đức Phật A Di Đà nơi cõi Tây Phương, cũng còn gọi là An Dưỡng Tịnh Độ—Amitabha's Happy Land in the western region, which is his domain; which is also called Pure Land of Tranquil Nourishment.
an lạc sâu xa
Profound peace.
an lạc trong niết bàn
Nibbanic bliss.
an lạc tập
(安樂集) Gồm hai quyển. Do ngài Đạo Xước (562 - 645) đời Đường soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 47. Cứ theo luận Tịnh Độ của ngài Ca Tài nói, thì ngài Đạo Xước tin theo Tịnh Độ giáo vào năm Đại Nghiệp thứ 5 (608) đời Tùy, lúc đó đã bốn mươi tám tuổi; như vậy, bộ sách này có thể đã được viết vào khoảng từ năm 609 đến năm 645 Tây lịch. Về mục đích của bộ sách, có nhiều thuyết khác nhau, có thuyết bảo sách này là từ trong toàn bộ giáo nghĩa Phật giáo mà rút tỉa ra những nghĩa chủ yếu của Tịnh Độ giáo, chứ không liên quan đến bộ kinh điển đặc biệt nào; có thuyết bảo sách này là trình bày ý nghĩa chủ yếu của ba bộ kinh Tịnh Độ, là sách khuyên người vãng sinh; cũng có thuyết bảo là giải thích yếu nghĩa của kinh Quán Vô Lượng Thọ, nhằm tuyên dương thực nghĩa của việc vãng sinh Tịnh Độ. Nội dung bộ sách do mười hai môn lớn cấu thành. Trong sách, giáo pháp một đời của đức Phật được chia làm hai môn Thánh đạo và Tịnh Độ, và cho môn Tịnh Độ thích hợp với chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp, cho nên đề xướng pháp môn niệm Phật, khuyên người ta niệm Phật cầu vãng sinh thế giới Cực Lạc. Đời sau, Nhật Bản chia Phật giáo thành Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn, chính đã bắt nguồn từ sách này. Thời đại ngài Đạo Xước đang chứng kiến sự kiện Vũ Đế nhà Bắc Chu bài Phật, tư tưởng mạt pháp trong Phật giáo Trung Quốc lúc đó rất là phổ biến, vấn đề tồn tại của Phật giáo đang bị đe dọa thật sự. Lúc bấy giờ lại có các nhà thuộc tông Tam Luận cho thuyết Vãng sinh Tịnh Độ là kiến chấp hữu tướng, các nhà chú thích luận Nhiếp Đại Thừa thì cho niệm Phật là Biệt thời ý rồi phần nhiều bài bác pháp môn Tịnh Độ, bởi thế, trong sách này, ngài Đạo Xước cũng đã biện luận rất nhiều về ý kiến đó. Sách này còn căn cứ vào thuyết năm cái năm trăm năm nói trong kinh Đại Tập mà chủ trương Phật giáo Trung Quốc lúc bấy giờ đang ở vào năm trăm năm thứ tư, chúng sinh cần phải nương tựa vào pháp môn niệm Phật mới có thể được cứu vớt, do đó mới cực lực đề xướng pháp môn niệm Phật, tư tưởng này, sau được học trò của ngài là sư Thiện Đạo tập đại thành. Tư tưởng này, sau khi được truyền vào Nhật Bản, ở thời đại Liêm Thương, đã trở thành cốt tủy trong Tịnh Độ giáo của các sư Pháp Nhiên và Thân Loan.
an lạc đường
(安樂堂) Nhà nghỉ ngơi của các vị tăng già yếu trong Thiền lâm. Tương tự như nhà dưỡng lão thu nhận và chữa trị những người đau ốm. Thiền lâm tượng khí tiên điện đường môn chép: Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa nói: ‘Nhà dưỡng lão là nơi an úy những người già cả đau ốm. Trong các Tùng lâm xưa, các vị tăng già cả được đưa vào nhà an lạc, những vị đau ốm đưa vào nhà dưỡng lão’.
An lạc 安樂
[ja] アンラク anraku ||| (1) Peace of mind (sukha). 〔法華經 T 262.9.37a09〕 (2) Relaxation of the body. Pleasure, bliss, harmony. - =>1. Sự bình an của tâm (s: sukha). - 2. Sự thư giãn của thân. Sự thú vị, niềm vui thích, sự hoà điệu. -
An Lẫm
(安廩[凜], Anhin, 507-583): vị tăng sống dưới thời Nam Triều, xuất thân vùng Lợi Thành (利成), Giang Âm (江陰, thuộc Giang Tô [江蘇]), họ Tần (秦), lúc còn nhỏ đã thông minh hiếu học, có hiếu với song thân. Năm 25 tuổi, ông xuất gia, theo Dung Công (容公) ở Quang Dung Tự (光融寺) vùng Tư Châu (司州) học tập kinh luận và thường nghe Huệ Quang (慧光) ở Thiếu Lâm Tự (少林寺) thuyết giảng về Thập Địa Kinh Luận (十地經論), thọ lãnh yếu chỉ Thiền pháp và ngộ được huyền chỉ. Trong thời gian sống ở đất Ngụy 12 năm, ông chuyên tâm tuyên giảng Tứ Phần Luật (四分律) cùng các kinh luận Đại Thừa khác số lượng người đến tham học ngày càng đông. Vào năm đầu (547) niên hiệu Thái Thanh (太清) nhà Lương, ông cùng với môn nhân đến Dương Đô (楊都), vua Võ Đế cung tiếp hậu hỷ, ban sắc chỉ trú trì Thiên An Tự (天安寺); nhân đó ông tuyên giảng Kinh Hoa Nghiêm tại đây. Vào năm đầu (557) niên hiệu Vĩnh Định (永定), ông vâng sắc chỉ vào trong nội điện thuyết giảng giới luật, khai pháp tại Kỳ Xà Tự (耆闍寺), giảng diễn không hề mệt mỏi. Sau đó, ông vâng mệnh vua Văn Đế khai giảng Đại Tập Kinh (大集經) tại Chiêu Đức Điện (昭德殿). Đến thời vua Tuyên Đế, ông cũng từng thuyết giảng tại Hoa Lâm Viên (華林園). Vào năm đầu niên hiệu Chí Đức (至德) nhà Trần, ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi.
an lẫm
(安廩) (507 - 583) Vị tăng thời Nam Triều, người Lợi Thành Giang Âm (huyện Giang Âm tỉnh Giang Tô), họ Tần. Lúc nhỏ thông minh ham học, hiếu hạnh có tiếng. Hai mươi lăm tuổi xuất gia, sau đến nước Ngụy theo học kinh luận với Dung công ở chùa Quang Dung, Tư Châu, đồng thời, theo Quang Công nghe giảng thuyết Thập Địa tại chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, và thụ yếu chỉ Thiền pháp, hiểu rõ lí huyền. Sư ở nước Ngụy mười hai năm, tuyên giảng luật Tứ Phần và các kinh luận Đại thừa nhiều lần, người theo học càng ngày càng nhiều. Niên hiệu Thái Thanh năm đầu (547) đời Lương, Sư và môn nhân đến Dương Đô, Vũ Đế tôn kính tiếp đón, mời ở chùa Thiện An, tại đây sư tuyên giảng kinh Hoa Nghiêm, nêu cao tông chỉ. Nhà Lương mất, nhà Trần lên, vào niên hiệu Vĩnh Định năm đầu (557), sư vâng mệnh vua vào nội điện giảng giới luật, mở trường thuyết pháp tại chùa Kì Xà, diễn giảng không ngừng. Sau vâng mệnh Văn Đế, đến giảng kinh Đại Tập ở điện Chiêu Đức. Vào thời Tuyên Đế, sư cũng thuyết pháp tại vườn Hoa Lâm. Sư từng lập giáo tướng sáu tông để phân định Thánh giáo một đời của đức Phật. Niên hiệu Chí Đức đời Trần, sư thị tịch, thọ bảy mươi bảy tuổi. [X. Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Q.10 phần trên; Thỉnh Quan Âm Kinh Sớ; Tục Cao Tăng Truyện Q.7].
an lập
Xem Kiến lập.
; To set up—To establish—To stand firm.
; (安立) Tức là bày đặt các nghĩa sai biệt. Cũng tức là dùng lời nói, danh tướng để phân biệt các sự vật khác nhau. Trái lại thì là phi an lập. Phi an lập là vượt lên trên sự sai biệt tương đối, không dùng lời nói và danh tướng để bày tỏ. Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Kí quyển thượng có nêu lên bốn nghĩa an lập, tức là: 1.An trí, là đối với sự lí đã tồn tại, thành lập cái căn cứ tồn tại của sự lí ấy, cũng gọi là kiến lập, thành lập. 2.Thi thiết, là dùng đạo lí rộng rãi đặt bày cái lí thú của giáo pháp. 3.Khai diễn, đối với thuyết cũ đã nói rồi, thì nói thêm cho rộng ra. 4.Khả kiến, là đối với cảnh giới thuộc pháp tính đã dứt mọi đường nói năng tư lự, thì đem giáo lí tương xứng và dùng lời nói có thể thông suốt cảnh giới ấy để miêu tả. Cũng sách đã dẫn, bảo luận sư Trần na gọi chung Năng lập, Năng phá đều là an lập; tức hay lập thuyết Đại thừa Duy Thức của tông mình, hay phá luận chấp trước hữu cảnh của tông người, cho nên gọi là An lập. Lại theo luận Đại-tì-bà-sa quyển 121, thì an lập quả, nghĩa là dựa vào phong luân mà an lập thủy luân, lại dựa vào thủy luân mà an lập kim luân, rồi cứ như thế mà an lập đại địa cho đến an lập tất cả hữu tình, vô tình; cũng tức là cái kết quả được an lập trên một cơ sở nào đó, gọi là An lập quả. Ở đây, an lập là nghĩa an trí, kiến lập, tương đương với nghĩa thành lập trong Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Kí. Ngoài ra, đối với bản chất của chân như (lí chân đế), đặt bày những lời nói danh tướng khác nhau để giải thích, gọi là An lập đế; còn lìa tất cả lời nói, danh tướng, do lập trường siêu việt tuyệt đối mà thể ngộ lí chân như, thì gọi là Phi an lập đế. Luận Thành Duy Thức quyển 9 nói, trong Tướng Kiến Đạo, nếu quán Phi an lập đế, thì có ba phẩm tâm, mà nếu duyên theo An lập đế, thì có mười sáu tâm. Lại Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 2 phần cuối, bảo bốn loại Thế tục đế thuộc về An lập đế, mà trong bốn loại Thắng nghĩa đế thì ba loại trước cũng thuộc An lập đế, chỉ có loại sau cùng là Thắng nghĩa thắng nghĩa đế thuộc Phi an lập đế mà thôi. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.thượng; luận Câu Xá Q.11; luận Thành Duy Thức Q.8; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.9 phần cuối; Thắng Man Bảo Quật Q.thượng phần cuối].
an lập chân như
Saṃnivesatathatā (S)Y chỉ chân như, Y chỉ nhưTức khổ thánh đế.
An lập chân như 安立眞如
[ja] アンリュウシンニョ anryū shinnyo ||| The posited teaching of suchness. The attempt to teach about the reality of suchness through linguistic discriminations. One of the two kinds of suchness 二眞如 taught in the Yogācāra texts. This aspect of the teaching is usually associated with that of the two vehicles 二乘. - => Giáo lý thừa nhận về chân như. Nỗ lực truyền đạt giáo lý chân như qua sự phân biệt của ngôn ngữ. Là một trong hai loại chân như (nhị chân như 二眞如) được đề xướng trong kinh luận Du-già hành tông. Phạm trù giáo lý này thường đi cùng với giáo lý Nhị thừa. -
An lập chân thật 安立眞實
[ja] アンリュウシンジツ anryū shinjitsu ||| The "posited reality" which refers to the teaching in regard to reality which attempts to refer on discrimination and linguistic constructs, This mode of describing reality is usually associated with the practitioners of the two vehicles 二乘. Same as 安立眞如. 〔瑜伽論 T 1579.30.653c〕 - =>Giáo lý thừa nhận về chân như. Chỉ cho giáo lý thqà nhận thực tại với nỗ lực dựa vào sự phân biệt và cấu trúc ngôn ngữ. Cách mô tả thực tại này thường giáo lý này thường được vận dụng bởi các hành giả Nhị thừa. - Đồng nghĩa với An lập chân như安立眞如. -
an lập hạnh
Supratisthitacaritra (S).
an lập hạnh bồ tát
Supratisthitacaritra (S)Tên một trong vô số Bồ tát đến núi Kỳ sà Quật ủng hộ Phật Thích ca diễn kinh Pháp Hoa.
; Trong Kinh Pháp Hoa, vị Bồ Tát trồi lên từ trong lòng đất để đón chào Phật Thích Ca—A bodhisattva in Lotus Sutra, who rose up out of the earth to greet Sakyamuni.
An lập hạnh 安立行
[ja] アンリュウギョウ anryūgyō ||| Stable Practice; the name of a bodhisattva in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.40a25〕 - =>Danh hiệu của một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa. -
An lập môn 安立門
[ja] アンリュウモン anryūmon ||| A certain teaching that is posited. A teaching that can be discriminated, expressed in language. See 安立.〔二障義 HPC 1.803b6〕 - =>Một giáo lý, pháp môn được thừa nhận. Giáo lý có thể được phân biệt, diễn bày qua ngôn ngữ. Xem An lập安立. -
an lập vô lượng thừa
(安立無量乘) Thừa, hàm ý là pháp môn. Tức tùy theo căn tính và dục vọng của chúng sinh, dùng nhiều đạo phương tiện mà lập thành vô lượng pháp môn. Trong Mật giáo, các vị tôn thuộc Thai tạng mạn đồ la hiển bày vô lượng thừa này, các vị tôn trong các thừa tuy nhiều, nhưng đều từ vô tận trang nghiêm tạng của Đại Nhật Như Lai mà ra, vả lại, bất luận từ pháp môn nào mà vào, cũng đều hội tụ về một. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 (Đại 39, 585 thượng), nói: Làm thế nào mà sau khi được trí tuệ này rồi, có thể vì vô lượng chúng sinh, tùy theo các ngả, tùy theo mọi tính dục, dùng các đạo phương tiện mà tuyên thuyết nhất thiết trí trí một cách rộng rãi đều khắp? Đó là các đạo an lập vô lượng thừa, thị hiện vô lượng thân, cùng nói ngôn ngữ của chúng sinh, trụ nơi uy nghi của chúng sinh. [X. kinh Đại Nhật Q.1 phẩm Trụ Tâm].
An lập đế 安立諦
[ja] アンリュウタイ anryūtai ||| Posited reality. The attempt to teach, or to describe ultimate reality using language, which therefore implies discriminations and distinctions. The opposite of this is the un-posited truth 非安立諦. 〔瑜伽論 T 1579.30.657a〕 - =>Nỗ lực dùng ngôn ngữ để giảng giải, trình bày chân lý tuyệt đối, cho nên có hàm ý suy đoán và phân biệt. Ngược lại là Phi an lập đế非安立諦. -
An lập 安立
[ja] アンリュウ anryū ||| To set up, establish, provisionally establish; to posit. A teaching, or description of reality that is made through distinctions, discriminations--i.e., language which, although it is transcended by the real, must be provisionally established. (pratisthā, pratisthita, ropana, vyavasthāna, sanniveśa).〔二障義、 HPC 1.803b〕 - =>Thiết định, dựng lập, thiết định nhất thời, ấn định. - Giáo lý hay mô tả về thực tại được tạo lập qua ý thức phân biệt—nghĩa là ngôn ngữ, qua đó, cho dù có siêu việt thực tại, nhưng vẫn là thứ được thiết định tạm thời (s: pratisthā, pratisthita, ropana, vyavasthāna, sanniveśa). -
an lệnh thủ ni
(安令首尼) Một ni sư vào thời đại Hậu Triệu. Năm sinh năm mất không rõ. Người Đông Hoàn (Sơn Đông), họ Từ. Lúc nhỏ thông minh hiếu học, tính tình đạm bạc, sau là đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng. Y vào Ni Sư Tịnh Kiểm ở chùa Trúc Lâm thụ giới, sau trú trì chùa Kiến Bảo, được Hoàng đế Thạch Hổ nhà Hậu Triệu tôn sùng. [X. Tỉ Khưu Ni Truyện Q.1].
an lộc sơn
An-Lu-shan (C).
An lục 安録
[ja] アンロク Anroku ||| Anlu "An's Catalogue (of Buddhist Texts)"; see 綜理衆經目録. - =>Xem Thống lý chúng kinh mục lục 綜理衆經目録. -
an minh
Xem Tu di.
an minh do sơn
Núi Tu Di—Sumeru Mountain.
an minh sơn
See An Minh Do Sơn.
an na bát na
Xem Sổ tức quán.
An Nhiên
(安然, Annen, 841-915?): học tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, húy là An Nhiên (安然), thông xưng là Ngũ Đại Viện A Xà Lê (五大院阿闍梨), Bí Mật Đại Sư (秘密大師); hiệu là Phước Tập Kim Cang (福集金剛), Chơn Như Kim Cang (眞如金剛); thụy hiệu là A Giác Đại Sư (阿覺大師); xuất thân vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Hồi còn nhỏ, ông theo hầu Viên Nhân (圓仁, Ennin), rồi đến năm 859 thì thọ Bồ Tát giới với vị này. Sau khi Viên Nhân qua đời, ông theo hầu Biến Chiếu (遍照, Henjō) và chuyên tâm nghiên cứu về Mật Giáo cũng như Hiển Giáo. Năm 877, ông nhận được điệp phù cho sang nhà Đường cầu pháp, nhưng việc ông có lên thuyền đi hay không thì có nhiều thuyết khác nhau. Cùng năm đó, ông được trao truyền cho các sở học về Tất Đàm, Kim Cang Giới của Viên Nhân từ Đạo Hải (道海, Dōkai) và Trường Ý (長意, Chōi). Vào năm 984, ông lại được Biến Chiếu trao truyền cho Thai Tạng (胎藏) cũng như Kim Cang Giới Thọ Vị Quán Đảnh (金剛界授位灌頂), và trở thành Tam Bộ Đô Pháp Truyền Pháp Đại A Xà Lê (三部都法傳法大阿闍梨). Ông dựng nên Ngũ Đại Viện (五大院) ở trên Tỷ Duệ Sơn và sống ở đây chuyên tâm nghiên cứu cũng như trước tác, nên ông được gọi là bậc tiên đức của Ngũ Đại Viện. Trước tác của ông có Bắc Lãnh Giáo Thời Vấn Đáp Sao (北嶺敎時問答抄), Bồ Đề Tâm Nghĩa Lược Vấn Đáp Sao (菩提心義略問答抄), Phổ Thông Thọ Bồ Tát Giới Nghi Quảng Thích (普通授菩薩戒儀廣釋), Bát Gia Bí Lục (八家秘錄), Thai Kim Tô Đối Thọ Ký (胎金蘇對受記), Giáo Thời Tránh Luận (敎時諍論), v.v., tổng cọng hơn 100 bộ. Trong khi đó, theo truyền thuyết về An Nhiên thì đương thời cũng có một nhân vật cùng tên với ông, nhưng người đó đến giữa đời bần cùng đói mà chết. An Nhiên kế thừa Viên Nhân và Viên Trân (圓珍, Enchin), tuyên dương giáo chỉ Viên Mật Nhất Trí của Thiên Thai Tông Nhật Bản, lập nên Giáo Tướng Phán Thích (敎相判釋) của Ngũ Thời Ngũ Giáo (五時五敎) và làm cho Mật Giáo hưng long tột đỉnh.
an nhiên
Calm.
; (安然) Vị tăng thuộc tông Thiên Thai Nhật Bản. Người Cận Giang (huyện Tư Hạ). Còn gọi là Ngũ Đại Viện Đại Đức, Ngũ Đại Viện A-xà-lê, Bí Mật đại sư, A Giác đại sư. Lúc nhỏ theo ngài Viên Nhân xuất gia, chăm học kinh luận chương sớ. Mười chín tuổi, thụ Đại giới Bồ Tát. Sau khi Viên Nhân tịch, sư thờ ngài Biến Chiêu làm thầy, thụ pháp Thai tạng, đến đây, đã thâm nhập lí huyền diệu của Thiên Thai hiển và mật. Sư thiết lập giáo tướng năm thời, năm giáo, tuyên dương giáo chỉ Sơn gia, đồng thời, cũng xiển minh nghĩa lí sâu xa của Nhất Đại Viên Giáo, là người tập đại thành Thai mật của Nhật Bản. Cứ theo A Sa Phọc Sao quyển 195 chép, thì An Nhiên đã muốn đến Trung Quốc cầu pháp, nhưng chưa toại nguyện. Tuy vậy, trong tác phẩm Thai Tạng Giới Đối Thụ Kí quyển 1, có ghi việc An Nhiên có đến Trung Quốc. Sư đã từng ở Ngũ Đại Viện trên núi Tỉ Duệ làm việc trước tác, bởi thế mới có các xưng hô Ngũ Đại Viện Đại Đức v.v... Tác phẩm của sư rất nhiều, gồm hơn trăm bộ, như Tất Đàm Tạng 8 quyển, Bát Gia Kí Lục 2 quyển, Đại nhật Kinh Cúng Dường Trì Tụng Bất Động 7 quyển v.v...
an nhàn
Easy—An easy life.
an nhẫn
Xem nhẫn nhục.
; (安忍) Chỉ sự yên tâm chịu đựng. Là một trong sáu Ba-la-mật, một trong mười Ba-la-mật Tức là tâm có thể yên lặng không lay chuyển, chịu đựng được những nỗi vinh nhục não hại cả trong tâm ngoài thân, để thành tựu đạo nghiệp. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.7 phần 4: Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q.37]. (xt. Thập Ba La Mật, Nhẫn).
an nhẫn chướng ngại
Tolerance of adversity (obstructions, difficulties, obstacles, hindrances).
An nhẫn 安忍
[ja] アンニン annin ||| (1) To bear adversity with calmness. (kṣamāma, kṣānti) (2) "Forbearance," The third of the Six Perfections rěnrù 忍辱 - => 1. Chịu đựng nghịch cảnh với sự trầm tĩnh (s: kṣamāma, kṣānti) - 2. Nhẫn nhục忍辱, điều thứ 3 trong Lục ba-la-mật. -
an ninh
Security.
an pháp hiền
Nan-Fa-Hien (C)Tên một vị sư. Xem Pháp Hiền.
; (安法賢) Nhà dịch kinh ở đời Tào Ngụy. Người nước An Tức. Nghề nghiệp tinh thâm, trí tuệ cao minh, du lịch bốn nước, trong năm Hoàng Sơ (220 - 226) đời Văn Đế nhà Ngụy, Ngài ở Lạc dương theo việc phiên dịch. Dịch được kinh La Ma Già 3 quyển, kinh Đại Bát Niết Bàn 2 quyển, gồm hai bộ năm quyển, rất tiếc nay đều đã thất lạc. Năm sinh năm mất không rõ. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.1].
an pháp khâm
An-Fa-K'inn (C)Tên một vị sư.
; Một vị sư nổi tiếng người nước An Tức (281 sau Tây Lịch)—An-Fa-Chi'in, a noted monk from Persia (281 A.D.).
; (安法欽) Nhà dịch kinh đời Tây Tấn. Người nước An Tức. Năm sinh năm mất không rõ. Rộng thông các kinh, những chỗ sâu kín đều suốt, từ năm Thái Khang thứ 2 (281) đời Vũ Đế đến năm Quang Chiếu năm đầu (306) đời Huệ Đế, sư ở Lạc Dương dịch được các kinh sau đây: kinh Đạo Thần Túc Vô Cực Biến Hóa 4 quyển, A Dục Vương Truyện 7 quyển, kinh Văn Thù Sư Lợi Hiện Bảo Tạng 2 quyển, gồm năm bộ mười sáu quyển. [X. Đại Đường Nội Điển Lục Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.2].
an phù đà địa ngục
Anbuda (S).
an phận
To be content (satisfied) with one's lot (destiny)—Contentment with conditions.
an quốc tự
Ankoku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
an thanh
Một vị Tăng nổi tiếng vào thế kỷ thứ hai, người nước An Tức—An-Ch'ing, a noted monk from Persia in the second century A.D.—See An Thế Cao.
An Thanh 安清
[ja] アンショウ Anshō ||| Anqing; the given name of An Shigao 安世高. - =>(c: Anqing); Tên của An Thế Cao (c: An Shigao 安世高). -
an thiền
Anzen (J).
; To enter into dhyana meditation.
; (安禪) Hàm ý là an trú nơi tọa thiền. Đồng nghĩa với An tâm pháp môn, An lạc pháp môn. Nếu an trú nơi tọa thiền mà tâm được bình tĩnh, thì gọi là An thiền tĩnh lự. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Quyển 28 Đại Châu Tuệ Hải Chương (Đại 51, 441 trung), nói: Nhổ cái gốc sâu của sự sinh tử, được tam muội hiện trước mắt; nếu không an thiền tĩnh lự thì tới đâu cũng thấy mờ mịt. Tổ sư ngồi thiền tu hành mà thành cái chứng tích thạch sàng (giường đá), được gọi là An thiền thạch, Tọa thiền thạch, đây bắt nguồn từ nguyên do đức Thế Tôn ngày xưa ngồi trên phiến đá dưới gốc cây bồ đề mà thành đạo. Ngoài ra, ngồi thiền không bị hoàn cảnh chi phối, nhất tâm tự do vô ngại, không cứ phải ở những nơi vắng vẻ giữa núi rừng, bên dòng suối, thì gọi là An thiền bất tu sơn thủy(an thiền không cần núi và sông). Bích Nham Lục Tắc thứ 43 (Đại 48, 180 thượng), nói: An thiền không cần phải gần núi hoặc sông, hễ diệt được tâm đầu là lửa tự mát mẻ.
an thiền lâm
Xem A xà na lâm.
an thiền thiền sư
Zen Master An Thiền—Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 19. Ngài là tác giả bộ “Tam Giáo Thông Khải” được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Hầu hết cuộc đời hoằng pháp của ngài, ngài trụ tại chùa Đại Giác ở Đồ Sơn, Bắc Ninh—A Vietnamese famous Zen master in the early nineteenth century. He was the author of “A Thorough Study on the Three Religions” composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. He spent most of his life at Đại Giác Temple in Bồ Sơn, Bắc Ninh to expand Buddhism—See Tam Giáo Thông Khảo.
an thiện na
(安膳那) Phạm: Aĩjana. Còn gọi là An-thiền-na, An-xà-na. Một thuyết cho là tên thuốc mắt, màu đen. Thuyết khác lại cho là một loại thực vật, lá nó có thể hòa với thuốc mắt mà dùng. Cứ theo nói, dùng nó thoa lên mí mắt, mắt sẽ trở nên đen, người khác không có cách nào nhận ra được. Ngày nay, người Ấn Độ thường dùng thuốc ấy thoa lên mí mắt của trẻ con, vì họ tin nó có hiệu lực làm cho mắt khỏe, đồng thời, cho rằng mắt đen sẽ khiến người ta yêu thích. Ngoài ra, rừng An thiền ở vùng phụ cận thành Sa-chỉ-đa thuộc trung Ấn Độ, là nơi ngày xưa đức Phật đã nói pháp, vì nơi này có nhiều cây An-thiền-na (An-thiện-na) xanh tốt mà được đặt tên như thế. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.38; kinh Đại Nhật Q.3; Du Già Sư Địa Luận Lược Toản Q.15; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.hạ].
An thái 安泰
[ja] アンタイ antai ||| Peace, serenity. - =>An bình, thanh thản. -
An Thế Cao
(安世高, Anseikō, khoảng giữa thế kỷ thứ 2): vị tăng dịch kinh thuộc thời kỳ đầu của Phật Giáo Trung Quốc, người nước An Tức (安息), tên Thanh (清), tự Thế Cao (世高), con của vị quốc vương trong vùng. Họ An của ông vốn xuất phát từ nơi ông sinh ra (nước An Tức). Lúc còn nhỏ ông rất nổi tiếng có hiếu với song thân, tánh chất thương người, học rộng hiểu sâu. Sau khi phụ thân qua đời, ông xả bỏ ngôi vị quốc vương, quy y cửa Phật, thâm hiểu kinh tạng và tinh thông A Tỳ Đàm cũng như Thiền. Vào năm thứ 2 (148) niên hiệu Kiến Hòa (建和) đời vua Hoàn Đế (桓帝) nhà Đông Hán, ông đi qua các nước Tây Vức, rồi đến Lạc Dương (洛陽), chuyên tâm vào việc phiên dịch kinh điển cho đến năm thứ 3 (170) niên hiệu Kiến Ninh (建寧) đời vua Linh Đế (靈帝), tổng cọng hơn 20 năm. Trong khoảng thời gian này, ông đã dịch được tất cả khoảng 34 bộ, 40 quyển (có thuyết cho là 35 bộ, 41 quyển) như An Ban Thủ Ý Kinh (安般守意經), Ấm Trì Nhập Kinh (陰持入經), A Tỳ Đàm Ngũ Pháp Tứ Đế (阿毘曇五法四諦), Thập Nhị Nhân Duyên (十二因緣), Chuyển Pháp Luân (轉法輪), Bát Chánh Đạo (八正道), Thiền Hành Pháp Tưởng (禪行法想), Tu Hành Đạo Địa Kinh (修行道地經), v.v. Kinh điển ông dịch có nghĩa lý rõ ràng, chữ nghĩa súc tích, chủ yếu truyền bá học thuyết A Tỳ Đàm (阿毘曇) của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Phật Giáo Tiểu Thừa và lý luận Thiền định. Chính ông đã hình thành nên cơ sở cho việc lưu truyền Phật học vào thời kỳ đầu của Trung Quốc và là người đầu tiên đem Thiền quán vào nước này.
; 安 世 高; C: ān shìgāo, tk. 2;|Cao tăng xứ An Tức, đến Trung Quốc năm 148 và là người đầu tiên dịch Kinh sách Phật giáo ra tiếng Hán, nhất là kinh sách về các phép tu thiền, như An-ban thủ ý (s: ānā-pānasati). Vì vậy Sư được xem là người lập ra Thiền tông trong thời Phật pháp được truyền qua Trung Quốc lần đầu.|An Thế Cao là hoàng tử nước An Tức (e: parthie) nhưng xuất gia đi tu và sang Trung Quốc, sống trên 20 năm ở đây. Sư là danh nhân đầu tiên được ghi rõ trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, là người đã thúc đẩy các công việc dịch kinh điển có hệ thống. Ðể đạt được như vậy, Sư thành lập những văn phòng chuyên dịch kinh sách. Số lượng những bản dịch của Sư được ghi chép lại từ 34 đến 176. Những bản dịch này được chia làm hai loại: 1. Những tác phẩm chuyên về Thiền (s: dhyāna) với những kĩ thuật như An-ban thủ ý, quán Biến xứ (p: kasiṇa), Quán thân (p: kāyagāta-sati)…. 2. Kinh sách với những nội dung xếp đặt theo hệ số – ví dụ như Ngũ uẩn (s: pañcaskandha), Lục xứ. Sư thường sử dụng từ ngữ đạo Lão (Lão Tử) để dịch kinh sách sang Hán văn.
an thế cao
An Shin Kao (C), Ān Shigāo (C)Tu sĩ Ba tư, vào Trung quốc năm 148 đời Hậu Hán, đã dịch 176 quyển kinh. Thái tử Vương quốc Parthie, vào Trung quốc năm 148 AD. Đã có công sử dụng rất nhiều từ Lão giáo để dịch kinh Phật ra tiếng Trung quốc.
; Vị sư xứ Parthie vào thế kỷ thứ hai, là hoàng thái tử xứ Parthie, người sẽ nối ngôi vua cha; tuy nhiên, ông đã xuất gia tu hành. Ông đã từng đến Trung quốc năm 148 sau Tây Lịch và là người đầu tiên dịch kinh điển Phật giáo ra Hán tự. Ngài là người đã lập ra trường phái Thiền Na, một trường phái sớm nhất của Phật giáo Trung quốc—An-Shih-Kao, a Parthian monk of the second century, a crown prince of Parthie and was intended to assume the throne at his father's death; however, he entered a monastery. He went to China around 148 and was the first to translate Buddhist scriptures into Chinese. He founded the Dhyana school, an early Chinese Buddhism.
; (安世高) Là vị tăng dịch kinh thời kì đầu của Phật giáo Trung quốc. Người nước An Tức, tên là Thanh, tự là Thế Cao, nhưng dùng An Thế Cao làm tên gọi. Là con vua của một Vương quốc xưa (An Tức) thuộc địa phương Ba-tư (nay là Iran) ở tây bắc Ấn Độ, lấy nơi xuất thân làm họ. Gọi là An, vì thế mới có các danh xưng An Hầu, An thế cao. Lúc nhỏ, ngài nổi tiếng có hiếu, thật thà hiền lành, nghe nhiều học rộng. Sau khi cha mất, ngài bỏ ngôi vua qui y cửa Phật, hiểu rộng kinh tạng, đặc biệt tinh thông A-tì-đàm-học và Thiền. Năm Kiến Hòa thứ 2 (148), đời Hoàn Đế nhà Đông Hán, ngài đi qua các nước Tây Vực mà đến Lạc Dương, theo việc phiên dịch; đến năm Kiến Minh thứ 3 (170) đời Linh Đế là hơn hai mươi năm; trong thời gian đó, ngài lần lượt phiên dịch các kinh: kinh An Ban Thủ Ý, kinh Ấm Trì Nhập, A Tì Đàm Ngũ Pháp, Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Chuyển Pháp Luân, Bát Chính Đạo, Thiền Hành Pháp Tưởng, kinh Tu Hành Đạo Địa v.v... tất cả khoảng ba mươi tư bộ, bốn mươi quyển (có thuyết nói ba mươi lăm bộ, bốn mươi mốt quyển), số kinh này được ghi trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2, tuy nhiên, còn có nhiều thuyết khác. Các kinh do ngài dịch, nghĩa lí rõ ràng, văn từ sáng sủa, đẹp nhưng không cầu kì, chất phác mà không quê kịch, chủ yếu truyền bá A-tì-đàm-học và Thiền Định Lí Luận của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Phật giáo Tiểu thừa. Sự truyền bá Phật học tại Trung Quốc ở thời kì đầu chính đã do An Thế Cao đặt nền tảng, vả lại ngài là người đầu tiên đem Thiền quán vào Trung Quốc. [X. Bài tựa kinh An Ban Thủ Ý; Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2, Q.6, Q.13; Lương Cao Tăng Truyện Q.1; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.4; Đại Đường Nội Điển Lục Q.1; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.1].
An Thế Cao 安世高
[ja] アンセイコウ An seikō ||| An shigao (n.d.), whose real name was Anqing 安清, his pen name being 世高. A Parthian monk who is one of the earliest recorded translators and transmitters of Buddhism into China. He is said to have arrived to Loyang during the reign of Huan (in 148), and is credited with having translated a large number of sutras. This number, however, varies greatly according to the different canonical catalogues, so it is likely that a large number of these are attributions. He is said to have stayed in China for approximately twenty years. - =>(c: An shigao) Tên thật là An Thanh (安清c: Anqing), tự là Thế Cao. Là tăng sĩ nước An Tức (Parthia), một trong những người đầu tiên phiên dịch và truyền bá đạo Phật vào Trung Hoa. Tương truyền Ngài đến Lạc Dương vào thời vua Hoàn Đế năm 148 và có công đã dịch nhiều bộ kinh. Số lượng này, tuy nhiên, đã thay đổi phần lớn tuỳ theo từng tạng kinh khác nhau, thế nên có khả năng phần lớn kinh này là chính xác. Được biết Ngài lưu trú tại Trung Hoa chừng 20 năm. -
an thọ khổ nhẫn
Patience under suffering.
an thổ địa
To tranquilize the land, or a plot of land, by freeing it from harmful influences.
An thổ 安土
[ja] アンド ando ||| To dwell contentedly on one's own native soil. To be contented somewhere. - =>Sống một cách toại nguyện nơi quê hương mình. Sống bình an bất cứ nơi đâu. -
an toà
(安座) Tức an vị tượng Phật. Bất luận tượng mới hay tượng cũ, phàm khi rước tượng lên tòa để thờ, phải thỉnh các sư làm lễ tụng kinh để an vị, nghi thức ấy gọi là An tọa Phật sự. Lại tượng Phật mới, chưa khai quang điểm nhãn, thì nhân dịp làm lễ an vị có thể cử hành luôn, vì lễ an vị có đủ cả hai ý nghĩa; tuy nhiên, nếu cử hành lễ khai quang điểm nhãn cùng một lúc với lễ an vị, thì phải thỉnh hai vị sư, mỗi vị làm một việc riêng. [X. Thiền Lâm Tượng Khí Tiên Thùy Thuyết Môn].
an toàn
Abhayaṃ (P), Security .
; Safety—In security.
an trí
To send someone to a concentration camp.
An trí 安置
[ja] アンチ anchi ||| (1) To leave (something) peacefully as it is. To put something in its place. (2) Enshrinement, installation (of an image, etc.) - =>1. Để cho mọi vật an định như chúng vốn là. Để mọi vật tuỳ thuận theo - vị trí vốn có của nó. - 2. Nơi cất giữ thiêng liêng, lễ an vị (thánh tượng v.v... ) -
an trú
Vasati (p & skt)—To abide—To stay—To dwell—To stop at a place—Phật tử nên luôn tự an trong trong các giáo lý của Đức Phật, chứ không phụ thuộc vào bất cứ ai khác—Buddhists should always abide (establish themselves) in the teachings of the Buddha, not depending upon anybody else.
an trú tâm kinh
Vitakkasanthàba-suttam (P). Name of a sutta.
an trú địa
A dwelling place—Residence—Abode.
An trú 安住
[ja] アンジュウ anjū ||| (1) Existence, subsistence (sthiti). (2) To commit, or yield up mind and body; to pacify mind and body. To be steadfast. The attainment of a mental state where one is not moved by difficulties, and can remain thoroughly stable for the period of an entire week. 言安住者。謂於後時由所修習多成辧故。得隨所樂得無艱難 得無梗澁。於靜慮定其心晝夜能正隨順。趣向臨入隨所欲樂。乃至七日七夜能正安住。故名安住。 〔瑜伽論 T 1579.30.467c10-13〕(3) The bodhisattva's meditation. (4) Someone who pacifies mind and body--a buddha. (5) To live peaceably. - =>1. Sự hiện hữu, tồn tại (s: sthiti). - 2. Hàng phục, thúc liễm thân tâm; an định tâm thức. Kiên định. Trạng thái an định tâm thức trong đó không bị dao động bởi mọi khó khăn, và duy trì sự an định triệt để trong suốt thời gian một tuần. (An trụ giả, vị ư hậu thời do sở tu tập đa thành biện cố, đắc tuỳ sở lạc, đắc vô gian nan, đắc vô ngạnh sáp. Ư tĩnh lự định kỳ tâm, trú dạ năng chỉ tuỳ thuận. Thú hướng lâm nhập tuỳ sở dục lạc, nãi chí thất nhật thất dạ năng chỉ an trú. Cố danh an trú). [Du già luận]. - 3. Thiền định của hàng Bồ-tát. - 4. Người an định được thân tâm– một bậc giác ngộ. - 5. Sống an bình. -
an trạch thần chú kinh
(安宅神咒經) Có một quyển. Mất tên người dịch. Được dịch vào khoảng những năm cuối đời Đông Hán. Còn gọi là An Trạch Chú, An Trạch Pháp, thu vào Đại Chính Tạng tập 21. Kinh này tường thuật khi đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kì-đà, có người con của trưởng giả Li-xa, đưa họ hàng gồm năm mươi tám người đến chỗ đức Phật để xin pháp làm yên nhà cửa, đức Phật bèn suất các đệ tử đến nhà tuyên thuyết pháp môn vi diệu, khiến con trưởng giả xa lìa sợ hãi, thân tâm yên vui, đồng thời, triệu tập các thần giữ nhà, dặn không được vọng động, nếu không sẽ bị Đại lực quỉ thần gia hại. Đức Phật lại dặn dò đại chúng, trong năm trăm năm sau khi Ngài vào Niết Bàn, nếu gặp yêu quái quấy nhiễu, làm hại chúng sinh, thì một lòng nghĩ đến Tam Bảo, trai giới trong sạch, thụ trì Tam qui, Ngũ giới, Thập thiện, Bát quan trai giới, đồng thời, sớm tối sáu thời lễ bái sám hối, siêng năng tinh tiến tụng niệm kinh này. Trong Xuất Tam Tạng Kí Tập quyển 4, kinh này được để vào mục Thất Dịch Tạp Kinh Lục (mục ghi các kinh mất tên người dịch), trong Chúng Kinh Mục Lục quyển 4, ngài Pháp Kinh bảo kinh này là kinh giả, nhưng Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 18 thì lại cho là kinh thật.
an trạch đà la ni chú kinh
(安宅陀羅尼咒經) Có một quyển. Mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật khi đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kì-đà, hai Bồ Tát Đại Quang và Vô Lượng Quang, vâng mệnh của Tối Thắng Đăng Vương Như Lai, từ nước Chúng Hoa đến thế giới Sa Bà, trao chú An Trạch Đà-la-ni, bảo chú này có nhiều lợi ích. Đức Phật bảo ngài A Nan phải thụ trì cúng dường kinh chú này. Lại bản dịch khác cùng bản với kinh này, thì còn gồm các kinh như: kinh Trì Cú Thần Chú, kinh Đà Lân Ni Bát, kinh Đông Phương Tối Thắng Đăng Vương Đà La Ni, kinh Đông Phương Tối Thắng Đăng Vương Như Lai, kinh Thánh Tối Thượng Đăng Minh Như Lai Đà La Ni v.v...
An trạch đà-la-ni chú kinh 安宅陀羅尼呪經
[ja] アンタクダラニジュキョウ Antaku daraniju kyō ||| The Anzhai tuoluonizhou jing (T 1029.19.744); see Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經 (c: Anzhai tuoluonizhou jing). - =>Xem Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經c: Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing). -
an trấn pháp
(安鎮法) Còn gọi là An Trấn Quốc Gia Bất Động Pháp, Quốc Trấn Pháp, Trấn Trạch Pháp. Là pháp tu trong Mật giáo. Pháp này là pháp cầu bình an khi nhà mới được làm xong; hoặc là pháp bí mật cầu cho quốc gia được thanh bình vững chắc. Về phương pháp tu, cứ theo Thánh Vô Động Tôn an trấn quốc gia pháp chép, thì trước hết, đặt một hình tượng của Bất Động Minh Vương bốn cánh tay trên trấn đàn và quyến thuộc mười hai Thiên, kế đó, quán chủng tử chữ Hồng, hình Tam muội da Trấn luân (bánh xe ba chạc), sau hết, tụng Trấn trạch chú. Ngoài ra, còn phải vẽ Thập nhị thiên mạn đồ la (chính giữa là Bất Động Minh Vương), treo trên đàn tràng, sau khi tán đàn, cuộn bức tranh lại để vào ống tre bịt kín, rồi để lên xà ngang chính giữa nhà. [X. A Sa Phọc Sao quyển 124 An Trấn Chính Trấn Tác Pháp].
an trụ tối thắng
Perfect rest in the bodhisattva nature.
an tuệ
1) Settled or frim resolve on wisdom—Established wisdom. 2) Một trong mười luận sư nổi tiếng người Ấn vào thế kỷ thứ năm (đặc biệt về Duy Thức Học)—One of the ten famous Southern Indian exponents on Buddhist doctrine, spcially of the Vijnaptimatratasiddhi sastra, in the fifth century.
an tuệ bồ tát
Xem Kiên ý Bồ tát.
an tuệ.
Sthiramati (S). Name of person.
An Tác Chỉ Lợi hay An Tác Điểu
(鞍作止利・鞍作鳥, Kuratsukuri Tori, ?-?): vị thầy điêu khắc tượng Phật thời đại Phi Điểu, vị tổ nghề điêu khắc tượng Phật của Nhật, cháu của Tư Mã Đạt Đẳng (司馬達等, Shiba Datto) từ Trung Quốc sang. Một số kiệt tác do vị này làm ra như tượng Phật Thích Ca của Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-ji) và tượng Thích Ca Tam Tôn ở Kim Đường của Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
an táng
To bury—To inter—Interment.
An tâm
安 心; J: anjin;|Là trạng thái yên tĩnh của tâm thức, chỉ thật sự đạt được khi đã có kinh nghiệm Giác ngộ. Theo Thiền tông thì phép Toạ thiền là con đường ngắn nhất để đạt tâm thức an lạc.
an tâm
Anjin (J), Citta-passaddhi (S), Peace of mind
; To quiet the heart, or mind; be at rest. Reassured, heartened.
; - (n) Sự yên tỉnh của tâm: Santi (skt)—Tranquility of mind. - (v) Làm cho tâm yên tỉnh hay đạt được sự yên: Upasamayama (skt)—To quiet the heart or mind—To be at rest. - (v) Đạt được an tâm: To obtain tranquility of mind.
; (安心) Tức do sự thể nghiệm được đạo lí và hiểu rõ được giáo pháp, mà tâm an trú ở một chỗ, đồng thời, đạt đến cảnh giới yên định bất động. Cứ theo Tục Cao Tăng Truyện quyển 16 truyện Bồ Đề Đạt Ma chép, thì ngưng lặng nhìn vách, không mình không người, phàm Thánh như một, đó là an tâm. Đây có lẽ là nguồn gốc của thuyết an tâm. Tông Thiên Thai cũng nói đến pháp an tâm, theo Ma Ha Chỉ Quán Quyển 5 phần trên, thì khéo dùng Chỉ quán mà an trú pháp tính, gọi là an tâm khéo léo, có thể chia làm hai thứ là tự mình làm và dạy người làm; lại tùy theo căn cơ chúng sinh có lợi độn khác nhau, mà có thể mở rộng làm sáu mươi bốn thứ an tâm. Theo ngài Trạm Nhiên trong Chỉ quán đại ý, thì bất luận là người lợi hay độn, đều dùng Chỉ quán mà an trú nơi lí thể của pháp tính, gọi là Tổng minh an tâm; còn thuận theo căn cơ lợi độn mà đặt ra sáu mươi bốn phương pháp an tâm, gọi là Biệt minh an tâm. Tóm lại, chấm dứt sự tán loạn của tâm, quán chiếu tự tính thanh tịnh, đưa tâm an trú nơi lí thể pháp tính, gọi là an tâm. Lại ngài Thiện Đạo đời Đường cũng đưa ra thuyết an tâm; theo ngài Thiện Đạo trong vãng sinh lễ tán, thì an tâm là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh Độ. An tâm ở đây tức là chỉ ba tâm chí thành tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, nếu đủ ba tâm này thì có thể vãng sinh Tịnh Độ. [X. Bát Chu Tán (Thiện Đạo); Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết Q.5 phần 4; Vãng Sinh Luận Chú Q.hạ; Tông Kính Lục Q.44].
an tâm khởi hành tác nghiệp
(安心起行作業) Nói tắt là Tâm hành nghiệp. Là tiếng dùng trong môn Tịnh Độ bao quát tâm, hành và tu tướng. Có xuất xứ từ Vãng Sinh Lễ Tán (Đại 47, 438 hạ) của ngài Thiện Đạo: Nay muốn khuyên người ta vãng sinh, thì nên biết, nếu làm được an tâm, khởi hành, tác nghiệp thì nhất định sẽ được vãng sinh sang nước ấy (Cực Lạc). 1.An tâm, chỉ chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, hoặc chỉ chí tâm, tín nhạo, dục sinh, ba tâm nói trong kinh Vô Lượng Thọ, hoặc chỉ nhất tâm trong kinh A Di Đà. 2.Khởi hành, tức do đã an tâm mà phát khởi tu hành ba nghiệp thân, khẩu, ý, như tu năm niệm môn là lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng, và tu năm chính hành là tụng đọc, quán sát, lễ bái, xưng danh và tán thán cúng dường. 3.Tác nghiệp, là nghĩa tạo tác, chỉ việc xúc tiến tu hành các pháp môn ba tâm, năm niệm, cũng tức là siêng năng chăm chỉ làm bốn pháp tu, là Cung kính tu, Vô dư tu, Vô gián tu và Trường thời tu. Bởi vì an tâm là chính nhân của sự vãng sinh Tịnh Độ, nên đã do an tâm mà khởi hành rồi, lại thêm trường thời vô gián (tức tu liên tục, tu lâu dài, không ngừng nghỉ, không gián đoạn) nữa, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh thế giới Cực Lạc.
an tâm lập mệnh
(安心立命) Còn gọi là An thân lập mệnh. Hàm ý là an lập thân mệnh. Cũng tức là làm đạo cho hết việc người, đồng thời, tùy thuận mệnh trời mà an trú tâm mình, không bị tất cả ngoại vật lay động. Còn Lập mệnh vốn là tiếng dùng của nhà Nho, như trong sách Luận Ngữ Thiên Vi Chính, nói: Ba mươi tuổi lập mệnh, bốn mươi tuổi hết ngờ, năm mươi tuổi biết được mệnh trời. Lại sách Mạnh Tử Thiên Tận Tâm cũng nói: Chết non, sống lâu chẳng khác, tu thân để chờ, vì vậy lập mệnh. Những câu nói trên đây hàm cái ý tu thân dưỡng tính, cứ theo lòng trời mà làm, không để cho ngoại vật lay động, sai khiến. Sau được Phật giáo chuyển dụng, hàm ý là tự mình yên tâm (an trú bất động). Thiên Mục Minh Bản Thiền Sư Tạp Lục quyển trung (Vạn tục 122, 382 hạ), nói: Khi bốn đại tan rã thì an thân lập mệnh vào đâu? [X. Kim Cương Kinh Khẩu Quyết; Thiên Mục Minh Bản Thiền Sư Tạp Lục Q.thượng; Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục Q.5 phần trên].
An tâm 安心
[ja] アンジン anjin ||| (1)Peaceful mind, stable mind, which comes as a result of Buddhist practices. (2) In Pure Land, faith in Amitābha Buddha. - =>1. Tâm bình an, tâm an định, kết quả từ sự tu tập Phật pháp. - 2. Theo giáo lý Tịnh độ tông, là niềm tin vào Đức Phật A-di-đà. -
an tĩnh
Calm—Quiet—Tranquility—Quietness—Serenity.
an tường
(安詳) Tức là dáng yên ổn thoải mái. Cũng chỉ trạng thái yên tĩnh. An, là ý thong thả; tường là ý biết rõ. Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện (Đại 9, 5 trung), nói: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ tam muội An Tường đứng dậy. Ngoài ra, khi nhờ an thiền nhập định mà vào được cảnh giới tịch lặng, an ổn, cũng gọi là An Tường tam muội. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.thượng].
an tường tam muội
Calm and clear state of samadhi.
An Tường Tự
(安祥寺, Anjō-ji): ngôi chùa phụ thuộc vào sự quản lý của Chơn Ngôn Tông trên Cao Dã Sơn, hiện tọa lạc tại Yamashina-ku (山科區), Kyoto-shi (京都市), tên núi là Cát Tường Sơn (吉祥山). Vì đây là ngôi chùa kiêm chuyên trách của Cao Dã Sơn, nên được gọi là Cao Dã Sơn Đường (高野山堂). Ngôi già lam này được khai sáng vào năm 848 (Gia Tường [嘉祥] nguyên niên), nhằm cầu nguyện cho Thuần Hòa Thái Hậu được tăng long phước thọ. Huệ Vận (惠運, Eun) được cung thỉnh làm vị Tổ khai sáng nơi đây. Đến đời vị Tổ thứ 11 là Tông Ý (宗意), vận thế của chùa rất hưng thạnh, trở thành ngôi chùa nổi tiếng hàng đầu trong 3 dòng ở Tiểu Dã (小野) thuộc Chơn Ngôn Tông, từ đó hình thành Dòng An Tường Tự (安祥寺流). Đến năm 1310 (Diên Khánh [延慶] 3), vào thời của Thành Huệ (成惠), vị Tổ đời 18, chùa được liệt vào một trong những ngôi danh thắng dành cho Hoàng Tử và tầng lớp quý tộc ở với hiệu là Môn Tích (門跡, Monzeki). Tuy nhiên, đến thời vị Tổ thứ 21 là Hưng Nhã (興雅), ông nhường lại hiệu chùa và luôn của Dòng An Tường Tự cho Cao Dã Sơn. Vào năm 1469 (Văn Minh [文明] nguyên niên), chùa bị binh hỏa cháy rụi tan tành, rồi dần dần không còn là đạo tràng căn bản tu hành cho ba dòng Tiểu Dã. Vào năm 1759 (Bảo Lịch [寶曆] 9), vị Tổ đời thứ 41 là Hoằng Phạm (弘範) mới tiến hành xây dượng Quan Âm Đường, Bảo Tháp, Địa Tạng Đường, v.v., và chỉnh bị lại cảnh quan của chùa. Trong Chánh Điện chùa có thờ tượng Thập Nhất Diện Quán Thế Âm, Ngũ Trí Như Lai, thuộc dạng quốc bảo. Quần thể kiến trúc hiện tại của chùa có Chánh Điện, Địa Tạng Đường, Đại Sư Đường, được tái kiến vào cuối thời Giang Hộ (江戸, Edo).
an tượng tam muội nghi quỹ kinh
(安像三昧儀軌經) Có một quyển. Do ngài Thí Hộ dịch vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) đời Tống. Cũng gọi là Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quĩ Kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập 21. Kinh này tường thuật các việc đắp vẽ chạm trổ hình tượng Phật, Bồ Tát và trình bày các chi tiết rõ ràng về phép khai nhãn, cúng dường v.v...
an tịnh
Tranquility, Vupasamāyā (S).
; - Sự an tịnh: Upasamo (p)—Upasama (skt)—Quietude—Tranquility—Quietness—Calmness—Calm and still—Tranquil and pure. - Không có phiền não: Absence of passions.
an tức
To rest.
; To rest.
an tức hương
(安息香) Phạm: Guggula. Dịch âm là Cầu-cầu-la, Quật-cụ-la, Cầu-la, Cục-quật-la. Còn gọi là Càn-đà-la-thụ-hương. Là một loại hương liệu, tức là nhựa của cây an tức hương. Cây này thuộc loại cây cao, lá rụng, phần nhiều sinh sản ở Ấn Độ, Tô-môn-đáp-lạp (Sumatra), Tiên-la (Thái Lan) và Ba-tư; cây cao hơn trượng, lá hình bầu dục, láng bóng, hoa bên ngoài trắng, bên trong mầu hạt dẻ, da cây mầu tro, nhựa có thể dùng làm thuốc hoặc làm hương đốt. Nhưng, thông thường người ta lấy cây an tức, nghiền thành bột, trộn lẫn với keo, rồi xe thành hương nén mà thắp. Hương liệu này đầu tiên được các lái buôn người nước An Tức du nhập Trung Quốc, vì thế gọi là An-tức-hương. Ngoài ra, sách Dậu dương Tạp Trở Quảng Động Thực Mộc Thiên nói: Cây An-tức-hương. từ nước Ba-tư, người Ba-tư gọi là cây trừ tà. Cao ba trượng, vỏ màu vàng thẫm, lá có bốn góc, mùa đông không rụng, tháng hai nở hoa, hoa màu vàng, hơi biếc bên trong, không có quả. Cứa da cây thì nhựa chảy ra như mạch nha, gọi là An-tức-hương. Tháng sáu, tháng bảy thì nhựa cứng lại, lấy để đốt, thông được với thần minh, tiêu trừ điều xấu ác. [X. luận Du Già Sư Địa Q.44; Du Già Lược Toản Q.11; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.4; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.3].
an tức quốc
(安息國) Một Vương quốc xưa, nằm ở địa phương Ba-tư (nay là Iran). Lịch sử Tây phương gọi là Parthia. Đãn-can (Damghan) ngày nay tức là vương đô của An-tức xưa. Do vua A-nhĩ-tát-khắc-tư (Arsakes) xây dựng vào khoảng năm 250 trước Tây lịch, vì thế vương triều ấy được gọi là vương triều A-nhĩ-tát-khắc-tư. An-tức là dịch âm, trong sách sử Trung Quốc phần nhiều dùng tên dịch này. Khi vương triều A-nhĩ-tát-khắc-tư cực thịnh, từ bờ sông Ấn Độ đến Mỹ-tố-bất-đạt-mễ-á (Mesopotamia) đều thuộc lãnh thổ của vương triều này. Sau đánh nhau với đế quốc cổ La Mã, lại thêm nội loạn thành suy yếu, cuối cùng, vào năm 226 Tây lịch, bị vương triều Tát San của đế quốc Ba-tư tiêu diệt. Nước An-tức là con đường trọng yếu trong việc giao thông mậu dịch giữa đông và tây, trao đổi hàng tơ lụa với Trung quốc rất mạnh. Cứ theo Sử Kí Đại Uyển Liệt Truyện Thứ 63 chép, thì năm Nguyên Thú thứ 4 (119 B-C) đời Vũ Đế nhà Tây Hán, Trương Kiển phụng mệnh đi sứ Tây-vực, khi Viên Phó Sứ vào nước An-tức, được nhà vua đón tiếp, trong sách còn kể đến phong thổ và dân tình nước An-tức. Lại Tiền Hán Thư Tây Vực truyện thứ 78, Ngụy Thư Liệt Truyện thứ 90 v.v... cũng đều có ghi chép về tình hình nước này. Còn đứng về phương diện quan hệ giữa nước An-tức và Phật giáo mà nói, thì vào thời Hoàn Đế nhà Đông Hán, có ngài An Thế Cao đến Lạc Dương làm việc phiên dịch kinh điển, cứ theo truyền thuyết thì ngài là con vua nước An-tức, sau xuất gia làm tăng. Về sau, thời Linh Đế có An Huyền, thời Tào Ngụy có Đàm Vô Đế, thời Tây Tấn có An Pháp Khâm v.v... cũng nối nhau đến Trung Quốc phiên dịch kinh điển. Các kinh do họ dịch phần nhiều là kinh điển Tiểu thừa, dịch rộng cả ba tạng kinh, luật, luận, xem thế đủ biết, khoảng thời đại Tam Quốc nhà Đông Hán, Phật giáo ở nước An-tức đã rất thịnh hành. [X. kinh Đại Bảo Tích Q.10; kinh Bồ Tát Thiện Giới Q.2; Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.14; Lương Cao Tăng Truyện Q.1; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.1, Q.2; Chu Thư Liệt Truyện thứ 42; Bắc Sử Liệt Truyện thứ 85].
An Tức quốc 安息國
[ja] アンソクコク Ansoku koku ||| A transliteration of the Persian Arsakes, referring to an ancient state in the area of Persia, from whence came several early teachers of Buddhism to China, such as An Shigao 安世高, An Xuan 安玄 An Faqin 安法欽,. Its capital was called Parthuva, from which Europeans derived the name of Parthia. - =>Phiên âm từ Persian Arsakes, là một quốc gia thời cổ đại trong vùng Persia, nơi đó có nhiều vị cao tăng đã truyền bá Phật giáo đến Trung Hoa như An Thế Cao, An Huyền (c: 安玄, c: An Xuan ), An Pháp Khâm (安法欽, c: An Faqin). Thủ đô là Parthuva, người Châu Âu gọi là Parthia. -
an vị
To place in position; to install, to settle.
; To be in place.
; (安位) Tức sau khi tang lễ kết thúc, thu nhặt linh cốt để chôn cất, đồng thời, an trí linh vị. Còn gọi là an cốt. Tụng kinh lúc làm Phật sự an vị, gọi là An vị phúng kinh, thông thường phần nhiều tụng chú Đại-bi-tâm-đà-la-ni để cúng dường. Lại tụng văn hồi hướng khi làm lễ an vị, thì gọi là An Vị Phúng Kinh Hồi Hướng Văn; nếu là hồi hướng các bậc tôn túc thì đọc: Nay con phúng tụng Đại-bi-tâm-đà-la-ni, được công đức gì, xin hồi hướng đại Hòa thượng tên là... cầu xin an vị đến nơi chân vị. Nếu là hồi hướng cho đàn việt tín đồ, thì đọc: Nay đem công đức phúng kinh hồi hướng mỗ giáp (tên thiện nam tín nữ) cầu mong an vị đến nơi báo địa trang nghiêm. [X. Tào Động Tông Hành Trì Quĩ Phạm Q.2 Tang Nghi Pháp].
an vị phật
Lễ đặt tượng Phật—A ceremony to put Buddha statue in place.
an xà na lâm
(安闍那林) Phạm, Pāli: Aĩjana-vana. Còn gọi là An-thiện-lâm, An-thiền-lâm. Là khu rừng ở gần thành Sa-chỉ-đa (Pāli: Sàketa) tại trung Ấn Độ. Còn thành Sa-chỉ-đa thì nằm giữa khoảng nước Kiều-thiểm-tì (Pāli:Kosambì) và thành Xá-vệ (Pāli: Sàvatthì). Trong rừng An-xà-na có vườn Lộc-dã (Mfgadàva), nơi đức Phật thường ở và nói pháp. (xt. Lộc Dã Uyển).
An xứ 安處
[ja] アンチョ ancho ||| To sit at ease. - => Ngồi thoải mái. -
an đan
(安單) Bất cứ vị tăng du phương (đi tham học) nào khi đến chùa đều có thể xin tạm trú (quải đơn). Nếu tạm trú đã lâu, biết rõ hạnh kiểm của vị ấy có thể ở chung, thì đưa vào Thiền đường: như thế gọi là An đơn. Từ đó về sau, vị tăng ấy chính thức trở thành vị thanh chúng (chúng thanh tịnh) của tùng lâm. Pháp an đơn trong tùng lâm, mỗi năm chia làm hai kì: Mùa xuân, mùa đông. Mùa xuân từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng giêng năm sau thì kết thúc. Được tiến cử vào Thiền đường vào đầu tháng giêng hay tháng 7, gọi là Đại tiến đường.
an đà hội
Antarivāsaka (P), Antaravāsa (S), Antaravāsaka (S)Nội y. Một trong ba loại áo cà sa của Nam phương Phật giáo.
; (安陀會) Phạm:Antarvàsa, Pāli: Antarvàsaka. Là một trong ba áo. Còn gọi là An-đát-bà-sa, An-đa-bà-sa, An-đà-la-bạt-tát, An-đa-hội, An-đà-y, An-đa-vệ. Dịch ý là áo trong, áo lót, áo mặc làm việc, áo mặc khi ngủ. Áo này được may thành bởi năm nẹp vải, vì thế còn gọi là áo năm nẹp. Áo này mặc sát vào mình, nên còn gọi là áo dưới, thông thường mặc khi làm việc, khi ngủ, là áo nhỏ nhất trong ba áo. Phép may áo này là một nẹp vải dài một nẹp vải ngắn (nhất trường nhất đoản) khâu vào làm một, tất cả có năm nẹp, dùng vải gai thô hoại sắc để may. Về kích thước của áo An-đà-hội, các kinh luận nói khác nhau; cứ theo Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma quyển 10, thì có hai loại: 1. Dọc hai khuỷu tay, ngang năm khuỷu tay,2. Dọc hai khuỷu tay, ngang bốn khuỷu tay. Áo này còn gọi là áo giữ gìn, kích thước nhỏ nhất cũng phải che được ba chỗ, tức phần trên che bụng và rốn, dưới che hai đầu gối. Vũ Tắc Thiên đời Đường, muốn các vị tăng trong Thiền lâm, khi đi đường hoặc làm việc được tiện lợi, đem thu nhỏ áo này lại rồi dâng cúng các Thiền tăng, từ đó áo này được mặc trên áo pháp, gọi là lạc tử, quải lạc. [X. luật Thập Tụng Q.5; Hữu Bộ tì-nại-da Q.17; luật Tứ Phần Q.40; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.15; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.14; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.59; Thích Thị Yếu Lãm Q.thượng; Phiên dịch Danh Nghĩa Tập Q.7] (xt. Tam Y, Quải Lạc).
an đà hội.
Antaravàsaka (S). Inner garment ođ a monk.
an đà la xá bà la quốc
(安陀羅舍婆羅國) Tên một đảo quốc nhỏ ngày xưa ở phía bắc Sumatra. Còn gọi là Khỏa quốc, Khỏa nhân quốc. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 25 chép, thì nước này là một biên quốc. Nay là quần đảo Ni-cổ-ba (Nicobar), thuộc địa của Ấn Độ, theo truyền thuyết, nước này thường được gọi là Khỏa Nhân Quốc (nước của những người ở truồng). Cũng có thuyết bảo nước này là hòn đảo nhỏ ở phía bắc quần đảo Ni-cổ-ba. Theo Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ, thì nước này trồng rất nhiều dừa, cau, chuối, mây, tre, rừng rậm xanh um. Cũng sách trên còn nói, đàn ông nước này đều ở truồng, đàn bà thì dùng lá che thân, vì thế nên biết lí do tại sao gọi là Khỏa Nhân Quốc (nước của những người ở truồng).
an đát la phọc quốc
(安呾羅縛國) An-đát-la-phọc, Phạm: Antar-àb. Cũng gọi là An-đát-la-phọc-bà (Phạm: Antarava). Tên một nước xưa ở tây bắc Ấn Độ, đất cũ của nước Đổ-hóa-la. Nằm về phía tây bắc Ấn Độ, chân núi phía bắc núi Hưng-đô-khố-thập (Hindu Kush), tức nay là vùng phụ cận Anderab. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 12 chép, thì người nước này có tính hung bạo, ít tin Phật pháp, chỉ có ba ngôi chùa và một cây tháp (do vua A Dục xây). Tăng đồ vài chục người, đều học tập giáo pháp của Đại chúng bộ. Ngài Huyền trang đến Ấn Độ cầu pháp, trên đường trở về, từ nước Ca-tất-thí đường đất gập ghềnh, đi về phía Bắc, xuyên qua nước An-đát-la phọc rồi quay đến nước Hoạt (tức nay là Kunduz, nằm trong nội địa A Phú Hãn). [X. Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện Q.5; Đường Thư Tây Vực Liệt Truyện thứ 146 phần dưới; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol. II].
An Đằng Xương Ích
(安藤昌益, Andō Shōeki, 1703-1762): y sĩ và là tư tưởng gia, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tự là Lương Trung (良中), hiệu Sác Long Đường (確龍堂); xuất thân vùng Xuất Vũ (出羽, Dewa). Về kinh lịch cuộc đời ông, có nhiều điểm không rõ lắm. Theo thuyết gần đây cho biết rằng ông sanh ra ở Nhị Tỉnh Điền Thôn (仁井田村, Niita-mura), Thu Điền Quận (秋田郡, Akita-gun), thuộc lãnh vức của Phiên Thu Điền (秋田藩, Akita-han), Xuất Vũ; đã từng làm y sĩ cho Phiên Bát Hộ (八戸藩, Hachinohe-han) ở Lục Áo (陸奥, Mutsu), nhưng đến cuối đời thì quay trở về cố hương Nhị Tỉnh Điền Thôn và sau khi chết, người nông dân tôn thờ ông như là Thủ Nông Đại Thần (守農大神). Từ các trước tác của ông cho thấy rằng chúng môn nhân chủ yếu là tầng lớp có văn hóa ở vùng Bát Hộ; và cũng có người sống ở kinh đô Kyoto, Đại Phản, Giang Hộ. Từ lập trường của chủ nghĩa bình đẳng triệt để, ông phê phán khái niệm mang tính giai cấp, phân biệt, và đưa ra triết học riêng biệt vốn xuất phát từ toàn thể vận động tự nhiên. Ông đề xướng ra phương án cải cách xã hội, bài xích giáo thuyết của Nho, Phật và chủ trương nam nữ đều bình đẳng như nhau. Trước tác của ông có Tự Nhiên Chơn Doanh Đạo (自然眞營道), Thống Đạo Chơn Truyền (統道眞傳), v.v.
an để la
Một trong mười hai thị giả của Phật Dược Sư—One of the twelve attendants on Bhaisajya Buddha.
an định
Stable—Firm.
; (安定) Đã rời khỏi định ở cõi Dục, bắt đầu hiện các Thiền chi của định cõi Sắc, như Tầm, Từ, Hỉ, Lạc, thì tâm ở trong cảnh giới ngưng chỉ, gọi là An định. Tương đương với Căn bản định của Hữu bộ. Giải thoát đạo luận quyển 2 (Đại 32, 407 trung), nói: Lại nữa, định có hai thứ: định ngoài, và an định. Các định phần đầu (định cõi Dục), gọi là định ngoài, định có tính không gián đoạn (định cõi Sắc) gọi là an định. (xt. Căn Bản Định).
an ổn
Safe, secure; peaceful; stable.
; Body and mind at rest.
; (安穩) Còn gọi là An ẩn. Tức là ý yên vui, bình an vô sự. Nếu đạt đến chỗ không bị bất cứ phiền não nào quấy rối, thân yên tâm ổn, cũng như cảnh Niết Bàn vắng lặng vô vi, năm ác trược không dính dấp, thì cũng gọi là an ổn. Ngoài ra, thiện nghiệp cũng gọi là an ổn nghiệp, và đạo lợi mình lợi người cũng gọi là an ổn đạo. Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự quyển 36 (Đại 24, 387 thượng), nói: Nghĩ như thế rồi liền vào thắng định; những nỗi khổ phải chịu đều trừ diệt như đã nghĩ, an ổn mà trú tâm. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.thượng; Kinh Pháp Hoa Q.1, Q.2; luận Câu Xá Q.15; Pháp Hoa Văn Cú Q.14].
An ổn 安穩
[ja] アンノン annon ||| Peace and comfort; tranquility (kṣemaṇīyatara). Same as 安隱. - =>An lạc và tiện nghi, yên tĩnh (s: kṣemaṇīyatara). Đồng nghĩa với An ổn安隱. -
An ổn 安隱
[ja] アンノン annon ||| Also written 安穩. (1) Calm tranquility (yoga-kṣema, śiva). 〔法華經 T 262.9.27a17〕 (2) Ease, comfort. (3) Great prosperity or well-being (param-bhāva). - =>Còn viết 安穩. - 1. Yên bình (s: yoga-kṣema, śiva). - 2. Thanh thản, tiện nghi. - 3. Hưng thịnh và an lạc (s: param-bhāva). -
an ủi
Consolation—Comfort—Solace—Words of consolation—To console—To comfort—Comforter—Pacifier.
An 安
[ja] アン an ||| (1) Quiet, still, peace, tranquility. (2) Contented, at ease, to rest in. To be at repose. (3) To pacify, to soothe, to settle. (4) To place, to fix at, to arrange. (5) Used to transliterate the foreign sound "an." (6) Constancy, continuity, composure; to endure. (7) To place or put. (8) A question marker, an interrogative: How? Why? Where? - => 1. Yên lặng, tĩnh mịch, an tĩnh, lặng lẽ. - 2. Hài lòng, thanh thản, thư thái. Nghỉ ngơi. - 3. Làm yên ổn, làm êm dịu, làm ổn định. - 4. Đặt, để, sắp xếp. - 5. Dùng để phiên âm âm "an" tiếng nước ngoài. - 6. Tính bất biến, sự liên tục, sự trầm tĩnh, chịu đựng. - 7. Sắp xếp, đặt để. - 8. Từ dùng để hỏi trong câu nghi vấn: Thế nào? Tại sao? Ở đâu? -
An-ban thủ ý
安 般 守 意; P: ānāpānasati; dịch nghĩa là Nhập tức xuất tức niệm (入 息 出 息 念), là sự tỉnh giác trong lúc thở, thở ra, thở vào.|Một trong những phép tu cơ bản quan trọng nhất để đạt Bốn xứ hay Ðịnh (s: samādhi). Phép này tập trung nơi hơi thở, qua đó tâm thức đạt yên tĩnh, là phép tu của hầu hết mọi trường phái Phật giáo. Từ phép niệm hơi thở, hành giả dễ dàng tiến tới phép tập giác tỉnh (念; niệm; s: smṛti; p: sati) trong hơi thở. Sau đó hành giả tập giác tỉnh trong mọi diễn biến về tâm và về thân.|Kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta) viết: »Hành giả hít vào chậm rãi, người đó biết ›tôi hít vào chậm rãi‹; thở ra chậm rãi, người đó biết ›tôi thở ra chậm rãi‹; hít vào ngắn, người đó biết ›tôi hít vào ngắn‹; thở ra ngắn, người đó biết ›tôi thở ra ngắn‹; người đó nghĩ rằng ›tôi hít vào, cả thân thể tiếp nhận‹; người đó nghĩ rằng ›tôi thở ra, cả thân thể tiếp nhận‹; người đó nghĩ rằng ›mọi bộ phận thân thể đều được trong sạch, tôi hít vào‹; người đó nghĩ rằng ›mọi bộ phận thân thể đều được trong sạch, tôi thở ra‹; ›cảm nhận an lành…‹, người đó nghĩ rằng ›tâm thức an lành‹, ›tâm thức rực sáng‹, ›tâm thức chú ý‹; ›quán vô thường‹; ›quán xả bỏ‹… tôi hít vào, tôi thở ra.« |Ðây là một trong những bài kinh đầu tiên được truyền bá tại Việt Nam, được Khang Tăng Hội đề tựa.
an-xà-na
tên một loại thuốc trị bệnh về mắt rất thần hiệu, phiên âm từ Phạn ngữ là ađjana, cũng đọc là an-xà-đà hay an-đà.
an-xà-đà
xem an-xà-na.
an-đà
xem an-xà-na.
an-đà-hội
xem ba tấm pháp y.
anh
1) Nước Anh—England. 2) Tiếng Anh—English. 3) Anh—Elder brothers. 4) Ông (nhân xưng): You. 5) Anh hài: Đứa trẻ—An infant—A baby. 6) Anh lạc: Ngọc hay chuỗi ngọc để đeo trên người—A gem—A necklace—A necklace of precious stones—Things strung together. 7) Anh Vũ: Suka (skt)—Con vẹt (két)—A parrot.
anh (vũ) bảo
Kimsuka (skt)—Loại cây Anh Bảo có hoa đỏ—A tree with red flowers.
anh chị
Brothers and sisters.
anh cả
Eldest brother.
anh dũng
Brave—Valiant.
anh em họ
Cousins.
anh em ruột
Siblings.
anh em rể
Brother-in-law.
anh em trai
Brother.
anh hùng
Hero.
Anh linh
(英靈): linh khí nổi bật, người có linh khí nổi bật ấy, linh hồn nhân vật xuất chúng; nguyên là âm linh (陰靈), tức là linh hồn của cõi âm. Như trong Chánh Tông Tâm Ấn Hậu Tục Liên Phương (正宗心印後續聯芳, CBETA No. 1617), phần Tăng Quả Diên (僧果延) có câu: “Thiếu Lâm nhất hoa ngũ diệp liên, thiệu chí như kim thị Quả Diên, anh linh hốt tỉnh thừa tư chỉ, bất ly đương xứ kiến Kỳ Viên (少林一花五葉蓮、紹至如今示果延、英靈忽省承斯旨、不離當處見祇園, Thiếu Lâm một hoa năm cánh sen, nối tiếp ngày nay đến Quả Diên, linh hồn chợt tỉnh vâng huyền chỉ, chẳng lìa chỗ ấy thấy Kỳ Viên).” Hay như trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集, CBETA No. 1296) quyển 13 cũng có câu: “Siêu quần tu thị anh linh hán, địch thắng hoàn tha sư tử nhi (超群須是英靈漢、敵勝還他獅子兒, siêu quần nên phải anh linh đấng, thắng địch trả về sư tử con).”
anh linh
Supernatural power.
anh lạc
Kevura (S)Chuỗi ngọc.
; Keruva (S). Necklace of pearl or of diamond.
; See Anh (6).
; (瓔珞) Phạm: Muktàhàra, hàra hoặc keyùra. Phiên âm là cát do la, chỉ do la. Là vật trang điểm được tết bằng hoa hoặc châu ngọc. Có thể đội trên đầu, đeo ở cổ, ở ngực hoặc tay, chân v.v... Thông thường, tất cả Vương công quí nhân tại Ấn Độ đều đeo và đội cả. Lại cứ theo các kinh điển chép, thì ở Tịnh Độ hay Bắc Câu Lư Châu, đều thấy trên cây có các vòng anh lạc rủ xuống. Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn (Đại 9, 57 trung), nói: Cởi chuỗi anh lạc châu báu đeo ở cổ, giá trị trăm nghìn lạng vàng để cúng dường. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; kinh Khởi Thế Q.1 phẩm Uất Đan Việt Châu; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.78].
Anh lạc bản nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經
[ja] ヨウラクホンゴウキョウ Yōraku hongō kyō ||| Yingluo benye jing; See P'u sa ying-lo pen-yeh ching 菩薩本業瓔珞經. (c: Yingluo benye jing); - =>Xem Bồ-tát bản nghiệp anh lạc kinh (c: P'u sa ying-lo pen-yeh ching 菩薩本業瓔珞經). -
anh lạc chúc
(瓔珞粥) Chỉ loại cháo nấu với rau tập tàng tạp nhạp. Vì rau tập tàng ngọn, cuống lằng nhằng, giống như chuỗi anh lạc, nên gọi là cháo anh lạc.
Anh lạc kinh 瓔珞經
[ja] ヨウラクキョウ Yōrakukyō ||| Confusion often arises, since the Yingluo jing is the abbreviated title for two texts: The 菩薩瓔珞本業經 (T 1485.24.1010b-1023a.) and the 菩薩瓔珞經 (T 656.16.1-127)/ - => Thường có sự nhầm lẫn, vì đây là tên viết tắt của hai bản kinh: Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經và Bồ-tát anh lạc kinh 菩薩瓔珞經 . -
anh lạc yết ma
(瓔珞羯磨) Làm phép thụ giới. Chỉ tác pháp thụ giới, được nói rõ ràng trong phẩm Đại Chúng Thụ Học của kinh Anh Lạc. Là tướng tông của Phạm Võng Giới Tông, được các nhà Nhất Thừa của Thiên Thai tuân theo.
Anh lạc 瓔珞
[ja] ヨウラク yōraku ||| A necklace of precious stones. (muktā-hāra, keyūra, rucaka). - => Chuỗi hạt bằng đá quý (s: muktā-hāra, keyūra, rucaka). -
anh nghiêm
Yeganji (J)Chùa Anh nghiêm.
anh nham tự
Eigan-ji (J)Tên một ngôi chùa.
anh nhi
trẻ thơ, đứa trẻ sinh ra còn hồn nhiên chưa biết gì.
anh nhi hành
(嬰兒行) Là một trong năm hạnh tu của Bồ tát được liệt kê trong kinh Niết Bàn. Phần nhiều do tông Thiên Thai ứng dụng. Cứ theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 12 chép, thì Anh nhi hạnh có hai nghĩa lợi mình và lợi người. Đứng về phương diện lợi mình mà giải thích, thì Bồ tát làm việc mà không phân biệt, cũng như con trẻ làm việc, cho nên gọi là Anh nhi hạnh; còn đứng về phương diện lợi người mà giải thích, thì đối với các thừa người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát thương xót họ cũng như thương con trẻ, nên phát khởi tâm đại bi mà hóa độ họ, cho nên gọi là Anh nhi hạnh. Ngoài ra, kinh Niết Bàn (bản Nam) quyển 18, liệt kê Anh nhi ngũ tướng (năm tướng của con trẻ): 1.Bất năng khởi (không dậy được), Như Lai rốt ráo không khởi các pháp tướng. 2.Bất năng trụ (không đứng được), Như Lai không chấp trước tất cả pháp. 3.Bất năng lai (không đến được), thân Như Lai không lay động. 4.Bất năng khứ (không đi được), Như Lai đã đến Đại Bát Niết Bàn. 5.Bất năng ngữ (không nói được), Như Lai tuy vì hết thảy chúng sinh mà diễn nói các pháp, nhưng thực ra thì không có gì để nói cả. [X. Kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.11, Q.20; Pháp Hoa Huyền Nghĩa Q.4 phần dưới; Bảo Kính Tam Muội]. (xt. Ngũ Hành).
anh tuấn
Eminent person.
anh tài
Remarkable talent.
anh tú
Elegant and clever.
anh võ
Suka (skt)—Parrots.
anh vũ
Suka (S)Một loài chim.
; See Anh (6).
anh vũ bảo
See Anh Bảo.
anh vũ hiếu dưỡng
(鸚鵡孝養) Chỉ Đức Phật khi còn ở nhân địa ..... (giai vị tu nhân) là chim anh vũ có hiếu. Cứ theo kinh Tạp Bảo Tạng quyển 1 chép, thì ngày xưa, trong núi Tuyết có một con chim anh vũ, cha mẹ nó bị mù, không đi kiếm ăn được. Lúc bấy giờ, có một người nông dân nhân từ, phát nguyện đem thóc lúc trồng được bố thí chúng sinh, chim anh vũ hàng ngày cứ đến ruộng của người nông dân ấy lấy thóc đem về nuôi cha mẹ. Cha mẹ mù của chim anh vũ xưa tức là tiền thân của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Magia, còn chim anh vũ tức là thân đời trước của Đức Phật. [X. Nghĩa Sở Lục Thiếp Q.23].
anh vũ kinh
(鸚鵡經) Có một quyển. Còn gọi là Phật Thuyết Anh Vũ Kinh. Do ngài Cầu Na Bạt Đà La đời Lưu Tống dịch, thu vào Đại Chính Tạng tập 1. Ngày xưa ở Ấn Độ, trong thành Xá Vệ có người tên là Anh Vũ Ma Lao Đâu La Tử, Đức Phật thường đến xin ăn nhà người ấy và vì họ mà nói kinh này. Nội dung nói rõ về nhân quả, như thân người có cao có thấp, tốt xấu, trong đục, khỏe mạnh, ốm đau, đẹp xấu, sang hèn, có tài năng không tài năng, nghèo giàu, khôn dại v.v...Kinh này có các bản Hán dịch khác nhau, như 1. Trung A Hàm quyển 44 kinh Anh Vũ. 2. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo ứng, do ngài Thiên Tức Tai dịch. 3. Kinh Đâu Điều, mất tên người dịch. 4. Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt, do ngài Pháp Trí dịch. 5. Kinh Tịnh Ý Ưu Bà Tắc Sở Vấn, do ngài Thí Hộ dịch. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.10; Đại Đường Nội Điển Lục Q.4; Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỉ Q.3; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.5; Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục Q.7].
anh vũ thiền
(鸚鵡禪) Từ dùng trong Thiền Lâm. Cũng như nói Khẩu Đầu Thiền (Thiền cửa miệng). Hình dung Thiền chỉ được nói bàn chứ không được hành trì một cách thực tiễn. Tức nói những người tự mình chẳng thân chứng, mà chỉ góp nhặt những câu nói của người xưa, như chim anh vũ học nói vậy.
anh vũ thuyết pháp
(鸚鵡說法) Nghĩa là chim anh vũ tuyên thuyết Phật pháp để hóa đạo chúng sinh, như trong kinh Chính Pháp Niệm chép việc chim anh vũ ở cung trời Dạ Ma nói pháp hóa đạo các trời. Lại kinh A Di Đà (Đại 12, 347 thượng), nói: Tại nước Cực Lạc, thường có các loài chim màu sắc kì diệu, như chim Hạc trắng, chim Sẻ, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, chim Cộng mệnh, các loài chim ấy (...) diễn nói các pháp năm căn, năm lực, bảy phần bồ đề, tám Thánh đạo v.v.... [X. Nghĩa Sở Lục Thiếp Q.23].
anh vũ thỉnh phật
(鸚鵡請佛) Sự tích Anh Vũ Tử Vương ở nước Ma Kiệt Đề thỉnh Phật vào rừng ngồi yên nói pháp, sau được sinh lên cõi trời. Cứ theo kinh Soạn Tập Bách Duyên quyển 6 Anh Vũ Tử Vương thỉnh Phật duyên chép, thì trong các đàn chim ở nước Ma Kiệt Đề, có Anh Vũ Tử Vương, thỉnh Phật vào rừng ngồi yên nói pháp, đồng thời, suốt đêm không ngủ, cứ bay liệng vòng quanh Đức Phật, khiến cho sư tử, hổ lang và giặc cướp không não hại Đức Phật; Ngày hôm sau, Đức Phật đến thành Vương Xá, Anh Vũ Tử Vương bay phía trước dẫn đường, đồng thời, báo cho vua Tần Bà Sa La thiết trai cúng dường và ra ngoài thành đón rước. Nhờ công đức ấy, Anh Vũ Tử Vương bèn mệnh chung trong đêm hôm đó và được sinh lên cõi trời Đao Lợi. [X. Nghĩa Sở Lục Thiếp Q.23].
anh đào
Cherry.
anh đồng
Đứa bé—A child.
anh đồng tâm
(嬰童心) Là tâm thứ tám trong tám loại tâm được nói trong phẩm Trụ Tâm Kinh Đại Nhật quyển 1. Tám loại tâm, là tám giai vị của thiện tâm tương tục chuyển chứng lần lượt được thuần thục. Người chứng tâm này được vào cõi Trời Tự Tại có thể ban cho tất cả thú vui rất mực, nếu chúng sinh kiền thành cúng dường thì có thể thỏa mãn những điều mong cầu; nếu nghe câu nói ấy mà quy y tin chịu, thì ở trong dòng sinh tử trôi giạt, được nơi nương tựa không sợ, đây là tâm tối thượng của thế gian, gọi là anh đồng tâm (tâm trẻ con) [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.2]. (xt. Bát Tâm).
anh đồng vô uý tâm
(嬰童無畏心) Tâm thứ ba trong mười trụ tâm. Tổ Không Hải của tông Chân Ngôn Nhật Bản, dựa theo kinh Đại Nhật, luận Bồ Đề Tâm mà sáng lập thuyết mười trụ tâm, trong đó, Anh đồng vô úy tâm là ngoại đạo phàm phu, nhờ giữ giới tu thiện mà được trụ tâm sinh Thiên. Tức chỉ tâm Thiên thừa. Vì quả báo sinh lên các cõi Trời, tuy sáng rỡ che cả mặt trăng mặt trời, phúc báo hơn cả Luân vương, nhưng so với các bậc đại Thánh, thì là yếu kém dại khờ cũng như trẻ con, nên gọi là Anh đồng; xa lìa khổ nạn trong ba đường, nên gọi là vô úy (không sợ). Ngài Không hải, trong Bí Tạng Bảo Thược quyển thượng (Đại 77, 364 hạ), nói: Anh đồng vô úy tâm là tâm ngoại đạo chán cõi người, phàm phu, thích cõi trời. (...) Thoát được phần nhỏ của những nạn ách và trói buộc, nên gọi vô úy, chưa được cái vui Niết Bàn, nên gọi anh đồng. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.2; luận Thập Trụ Tâm Q.3]. (xt. Thập Trụ Tâm).
anigha
Anigha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ao bảy báu
Pool of seven jewels.
ao năm suối
(ngũ tuyền trì): tức là một cái ao do 5 khe suối cùng chảy vào tạo thành.
ao sen bảy báu
Seven-jewel Lotus pond.
ao tù
Pond with stagnant water.
ao ước
To wish—To long for—To yearn for—To desire.
aparappaccaya
(P), Aparapraṇeya (S), Not dependent on others Không ỷ lại.
asayha
Asayha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
assakanna
Xem Mã nhĩ sơn.
athassumegha
Athassumegha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
atthama
Atthama (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ba
Taranga (S) A wave, waves; to involve.
; Taranga (skt)—Sóng—A wave.
ba ba
1) Chạy vòng vòng (trong vòng luân hồi sanh tử): To run hither and thither in the samsara. 2) Một địa danh gần thành Vương Xá: A place near Rajagrha.
ba ba kiếp kiếp
Chạy vòng mãi trong vòng luân hồi sanh tử—Rushing about forever in the Samsara.
ba ba la (thụ)
Pippala (S) Ficus religiosa.
ba bà lợi
See Ba Hòa Lợi.
ba bất tận
Three indestructibles Gồm: - thân bất tận - mạng bất tận - sở hữu tâm linh bất tận.
Ba chánh niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
Ba chân lí
Hán Việt: Tam đế (三 諦), Thiên Thai tam quán (天 台 三 觀); |Ba quan điểm quan trọng của Thiên Thai tông về thật tướng của vạn sự. Ðó là ba tính chất đặc trưng của vạn vật là Không (空; s: śūnyatā), giả (假; Ảo ảnh) và trung (中). Sự vật vốn không, nhưng vẫn có một hình tướng giả tạm, đó là quan điểm Trung đạo (中 道; s: mādhyamāpratipāda).
ba chìm bẩy nổi
The ups and downs of life.
ba chướng
1) Tham, sân, si (greed, hatred, delusion)—See Tam Độc. 2) Ba chướng ngại của người tu Phật—Three types of obstacles for any Buddhist cultivators: a) Phiền não chướng: The obstacles of afflictions. b) Nghiệp chướng: Đây là chướng nghiêm trọng nhất trong ba chướng—The obstacles of karma. This is the most serious obstacles in the three. c) Quả báo chướng: The obstacles of retribution.
ba chướng ngại
Xem ba độc.
Ba chỗ niệm
(Tam niệm xứ) hay Ba chánh niệm xứ (Tam chánh niệm xứ): cũng gọi là Tam niệm trụ, Ba quán xứ, tức ba chỗ an trụ của chư Phật, dùng tâm bình đẳng quán sát chúng sanh. 1. Khi Phật thuyết pháp, quán xét pháp giới bình đẳng, rốt ráo không hề có sự thối giảm, nên tuy chúng sanh không có sự chú tâm nghe pháp, Phật cũng không sanh lòng lo buồn, tức là đệ nhất niệm xứ; 2. Quán xét pháp giới bình đẳng, rốt ráo không có chỗ đạt đến, nên tuy chúng sanh hết lòng nghe pháp, Phật cũng không sinh tâm vui mừng, tức là đệ nhị niệm xứ; 3. Quán xét pháp giới bình đẳng, sanh tử hay Niết-bàn rốt cùng đều không có chỗ đạt đến, nên thường hành tâm xả, làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh nhưng không khởi tâm thấy có chúng sanh nào được lợi ích cả, tức là đệ tam niệm xứ.
ba cách hách
(巴格赫) Phạm: Bàgh. Là quần thể hang đá của Phật giáo Đại thừa đào được vào khoảng thế kỉ VII Tây lịch, ở sườn núi mặt nam núi Văn-để-da (Vindhya), ven sông Na ba đạt (Narmada) ở mạn tây nam thị trấn Ấn-đa-nhĩ (Indore) tại Ấn Độ. Nguyên có chín hang, nhưng hiện nay chỉ còn lại hang thứ hai đến thứ sáu. Sự cấu tạo của hang đá này có liên quan mật thiết với hang đá A-chiên-đa (Phạm:Ajantà), hang này chỉ có nhà Tăng chứ không có chùa, tháp. Hang hình vuông, rộng, trừ cửa vào, chung quanh có những phòng tăng nhỏ, chính giữa đặt một bàn thờ nhỏ. Những bức vẽ trên vách trông rất đẹp, nhưng phần nhiều đã bị tróc mất, tuy nhiên, những bức còn lại có thể được coi là nghệ thuật Phật giáo đẹp ngang hàng với các bức bích họa ở hang đá A-chiên-đa. [X. J. Burgess: Notes on the Bauddha Rock-temples of Ajantà, 1879; Fergusson: History of Indian and Eastern Architecture, 1910, vol. I; Ấn độ Nam hải chi Phật giáo mĩ thuật (Cao điền tu)].
Ba cõi
xem Ba cảnh giới.
ba cõi
Three realms.
ba cõi ác
Three evil realms.
ba cõi, tam giới
Tribhàva (S). Threefold world.
Ba cảnh dữ
xem Ba đường ác.
Ba cảnh giới (hiện hữu)
tức Tam giới, cũng gọi là Tam hữu hay Ba cõi, gồm Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Chúng sanh do nghiệp lực nên xoay vần thọ thân không ra ngoài ba cảnh giới này. Vì thế, người ưa thích không chán lìa ba cảnh giới này thì không thể tu tập đạt đến giải thoát.
ba cấp độ kiến thức
Three degrees of knowledge—Theo ngài Long Thọ trong Trung Quán Luận, có ba cấp độ kiến thức—According to Nagarjuna in the Madhyamika-karika, there are three degrees of knowledge: 1) Huyền Ảo: Parikalpita (skt)—Illusory knowledge—Huyền ảo là sự gán ghép sai lầm một ý tưởng không có thực cho một đối tượng do nhân duyên tạo ra. Đối tượng nầy chỉ hiện hữu trong trí tưởng tượng và không tương ứng với thực tại—Illusory knowledge is the false attribution of an imaginary idea to an object produced by its cause and conditions. It exists only in one's imagination and does not correspond to reality. 2) Thường Nghiệm: Paratantra (skt)—Empirical knowledge—Thường nghịm là sự hay biết về một đối tượng do nhân duyên mà có. Đây là kiến thức tương đối và dùng để phục vụ cho các mục đích của cuộc sống—Empirical knowledge is the knowledge of an object produced by its cause and conditions. This is relative knowledge and serves the practical purposes of life. 3) Tuyệt Đối: Parinispanna (skt)—Absolute knowledge—Tuyệt đối là chân lý cao nhất hay chân như, chân lý tuyệt đối. Huyền ảo và thường nghiệm tương ứng với chân lý tương đối, còn tuyệt đối thì tương ứng với chân lý cao nhất của Trung Luận tông—The absolute knowledge is the highest truth or tathata, the absolute. The illusory knowledge and empirical knowledge correspond to relative truth (samvrti-satya), and the absolute knowledge to the highest truth (paramartha-satya) of the Madhyamika system.
Ba cửa giải thoát
Giải thoát: S: vimokṣa; P: vimokkha; gọi theo Hán Việt là Tam giải thoát môn (三 解 脫 門);|I. Phép quán nhằm giác ngộ Không (空; s: śūnyatā), Vô tướng (無 相; s: ānimitta) và Vô nguyện (無 願; s: apraṇihita), không còn ham muốn để đạt Niết-bàn. Ba giải thoát này là nhận biết Ngã và Pháp đều trống không, nhận biết ngã và pháp là bình đẳng, vô tướng, nhận biết sinh tử là Khổ (xem thêm Tám giải thoát); II. 1. Theo Kim Cương kinh thì ba cửa giải thoát là Không giải thoát môn (空 解 脫 門), Kim Cương giải thoát môn (金 剛 解 脫 門) và Huệ giải thoát môn (慧 解 脫 門).
ba cửa vào niết bàn
Three gates to nirvāṇa Gồm: - hư không - cô sắc - bất động.
; The three gates to the city of nirvana: 1) Không: The emptiness—The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Formless. 3) Vô tác: Inactivity.
ba da
Payas (skt). 1) Nước: Water. 2) Sửa: Milk. 3) Nước trái cây: Juice.
ba di la
Vajira (S)Kim cươngTên một trong 12 vị thần trong kinh Dược sư.
; Vajra (skt)—Kim Cang Thần, một trong mười hai vị thần tướng của Phật Dược Sư—One of the twelve generals of Bhaisajya (Yao-Shih), the Buddha of Healing.
ba di la thần
(波夷羅神) Là một trong mười hai thần tướng trong kinh Dược Sư. Còn gọi là Bà-di-la thần, Ba-dị-la-thần, Bạt-y-la thần, Ba-da-la thần. Dịch ý là thần giữ việc uống. Cầm đầu bảy ức chúng Dạ-xoa, giữ gìn Phật pháp, là thủ lãnh các vua thần Dạ-xoa. Về hình tượng của thần này, có nhiều thuyết khác nhau; cứ theo Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật Bản Nguyện Công Đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp chép, thì thân hình mầu đỏ lợt, tay cầm chiếc dùi nhọn. [X. kinh Quán Đính Q.12; kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện].
ba diễn na
Paryayana (skt)—Ba Nha Na—Một hành lang, sân, hay nơi có mái che để đi hành thiền trong tự viện—An ambulatory, courtyard, or a sheltered place for walking in a temple.
ba dạ đề, ba dật đề
Payattika (S)
ba dật đề
Patayantika (S)Một trọng tội ghi trong Luận tạng: tội thủ đắc trái phép nhưng không có tang vật. Xem ứng đối trị.
; Pataka (skt)-Ba Dật Để Dà—Ba Dược Chí—Ba La Dật Chi Kha—Ba La Dạ Chất Chi Ca—Ba Chất Chi Kha—Ba Da Đề—Đọa Tội—Những ai phạm giới luật trọng tội như ngũ nghịch, chẳng những bị trục xuất khỏi giáo đoàn, mà còn phải đọa vào a tỳ địa ngục—Those who commit one of the five grave sins, will not only be excommunicated from the order, but will also fall into avici forever. (A) Cửu Thập Giới Ba Dật Đề: Ninety offences in the Rules for Mendicant Bhiksus—See Cửu Thập Đọa Giới. (B) Bách Thất Thập Bát Giới Ba Dật Đề: One hundred seventy-eight offences in the Rules for Mendicant Bhiksunis—See Bách Thất Thập Bát Giới Ba Dật Đề.
; (波逸提) Phạm: Pàyattika, Pàli: Pàcittiya hoặc Pàcittika. Là một trong những giới Cụ túc mà Tỉ-khưu và Tỉ-khưu ni phải giữ. Còn gọi là Bái-dật-đề, Ba-la-dật-ni-kha, Ba-dật- đề-già, Ba-chất-để-ca. Dịch ý là đọa (rơi), linh đọa (làm cho rơi), hay đốt nóng, phải đối trị, phải sám hối. Một trong năm thiên, một trong sáu tụ, một trong bảy tụ. Là một thứ tội nhẹ, có nghĩa là khi phạm các điều lỗi, nếu chịu sám hối thì có thể diệt được tội, nếu không sám hối thì sẽ rơi vào ngả ác. Có hai thứ là Xả đọa (Phạm: nai#sargikapràyazcittika) và Đơn đọa (Phạm:zuddhapràyazcittika), tội đọa phải bỏ của cải mà sám hối, gọi là Xả đọa; tội đọa chỉ cần đối trước người khác mà sám hối cũng có thể được thanh tịnh, gọi là Đơn đọa. Cứ theo kinh Tì Ni Mẫu quyển 7 chép, đây là tội nhỏ nhẹ, không phải là tội dứt hết gốc lành, gây ít thương tổn, nên gọi là Ba-dật- đề. Lại theo Tứ Phần luật hàm chú giới bản sớ quyển 1 phần dưới, thì người phạm tội này sẽ rơi vào địa ngục đốt nấu, cho nên gọi là đọa tội; lại phải dùng công dụng để đối trị, nên gọi là Ưng đối trị hoặc Ưng công dụng. Về việc Ba-dật-đề phối với bảy tụ thì có nhiều thuyết khác nhau, như luật Tứ Phần quyển 17, đem hợp Xả đọa và Đơn đọa làm một tụ và đặt vào hàng thứ ba. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển trung đoạn một, và Bát Tông Cương Yếu quyển thượng cũng hợp làm một, nhưng đặt vào hàng thứ tư. Kinh Tì Ni Mẫu quyển 3 thì chia làm hai tụ và đặt Xả đọa ở hàng thứ ba, Đơn đọa hàng thứ tư. Luật Nhị Tthập Nhị Minh Liễu Luận, Tứ phần luật sớ quyển 2 phần đầu, cũng chia làm hai tụ và đặt vào hàng thứ tư, thứ năm. Lại Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma sớ quyển 4 chép, phép sám hối tội Xả đọa là phải đối trước Tăng chúng, còn tội Đơn đọa thì chỉ cần đối chứng cũng có thể diệt tội. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.4, Q.7; Hữu Bộ Tì Nại Da Q.25; Mục Liên Vấn Giới Luật Trung Ngũ Bách Khinh Trọng Sự Ngũ Thiên Sự phẩm; Căn Bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp Q.8; Tứ Phần Luật sớ Q.4 phần đầu; Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Kí Q.trung đoạn 1 phần trên; Tứ Phần Luật Hàm Chú Giới Bản sớ Q.3 phần trên].
ba già la
See Ba Lợi Già La.
ba ha bát nhã thích luận
Xem Đại Trí độ luận.
ba hoa
To brag—To boast about.
ba hách đặc
(巴赫特) (BHARHUT) Là nơi di tích Phật giáo nằm về phía tây nam A-lạp-cáp-ba (Allahabad) cách hai trăm cây số. Tức di tích của Vương triều Huân ca (Zuíga) từ năm 180 đến năm 172 trước Tây lịch. Do nhà học giả người Anh là Sir Alexander Cunningham, (1814 - 1893) phát hiện vào năm 1873 Tây lịch. Lúc đó, tháp (Phạm: stùpa) tuy đã đổ nát, nhưng một bộ phận lan can và cửa tháp phía đông vẫn còn sót lại. Năm 1874 lại đào thêm được nhiều di vật, trong đó, cột và lan can đều có chạm trổ, nội dung toàn là sự tích Phật giáo, như các bức chạm Phật nói pháp, tiền thân của Phật, lịch sử của Phật v.v... đây là chủ đề sớm nhất lấy sự tích Phật giáo biểu hiện thành mĩ thuật. Trong các bức chạm trổ ấy vẫn chưa trực tiếp diễn tả pháp của Phật, mà chỉ dùng bánh xe pháp, tòa ngồi, lốt chân để tượng trưng đức Phật.
ba hòa lợi
Pravari or Pravara (skt). 1) Tên của một loại vải len có nhiều lông: Woollen or hairy cloth. ** Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms: 2) Tên của một tịnh xá vùng Bắc Ấn: Name of a monastery in northern India. 3) Ba Hòa Ly: Tên của một người dì của Phật Di Lặc—Name of a maternal aunt of Maitreya.
ba họ
See Ba Đời.
ba hồi
At one time—At another time.
ba hồn chín vía
Three souls and nine spirits.
ba kiệt sĩ
(巴杰士) BURGESS JAMES (1832 - 1917) Nhà học giả người Anh nghiên cứu Ấn Độ cổ đại. Lúc đầu học kiến trúc, năm 1855, ông vượt biển qua Ấn Độ, nhận dạy tại các trường Đại học Calcutta và Đại học Bombay, điều tra nghiên cứu Ấn Độ khảo cổ học, thu tập nhiều tư liệu, và đã công bố kết quả của sự nghiên cứu nhiều lần. Ông từng là hội trưởng hội điều tra khảo cổ học Tây Ấn Độ (1873), Tổng thư kí hội điều tra khảo cổ học toàn Ấn Độ (1886) và đại biểu cho các quan hệ về Đông phương học. Ông đã ấn hành Ấn Độ khắc minh tập (Epigraphia Indica, 1889 - 1894), chuyên nghiên cứu văn bia, tiền cổ. Ông đã có các trứ tác, như Indian Antiquary, 1872 - 1884; Archeaological Survey of Western India, 5 vols. 1875 - 1883; The Ancient Temples and Sculpture of India, 1897 - 1910 v.v..., đối với sự nghiên cứu về khảo cổ học và lịch sử Ấn độ cổ đại, Ba-kiệt-sĩ đã có những công tích không bao giờ quên được.
Ba kết
(Tam kết), hoặc Ba kết phược (Tam kết phược), là ba mối trói buộc đối với tất cả những kẻ phàm phu chưa đạt được sự giải thoát, bao gồm: 1. Kiến kết, hay Thân kiến: trói buộc bởi cái thân, bản ngã, chấp có mình dựa trên thân thể (ngã kiến); 2. Giới thủ kết hay Giới cấm thủ kiến: trói buộc do giữ theo tà giới, hoặc quá cố chấp vào giới luật; 3. Nghi kết, hay Nghi kiến: trói buộc do nghi ngờ Chánh pháp, chân lý.
Ba kết phược
xem Ba kết.
ba kỳ
Parasi (skt)—Ba Tư—Ba Lặc Kỳ—Vùng đất Ba Tư ngày nay—Persian—Persia.** For more information, please see Ba La Tức.
ba la
Pala (skt)—See Bát La.
ba la di
Pàràjika (S). The first section of the Vinaya pitaka containing rules of expulsion from the order, for unpardonable sin. A grave transgression of the rules for bhiksus.
; Parajikas (skt)—Ba La Xà Dĩ Ca—Ba La Thị Ca—Phần đầu trong Luật Tạng, bao gồm luật lệ trục xuất ra khỏi Giáo Đoàn một vị Tăng phạm tội không thể tha thứ hay sám hối được—The first section of the Vinaya Pitaka containing rules of expulsion from the order for unpardonable sins—See Tứ Đọa.
; (波羅夷) Phạm, Pàli: pàràjika. Là một trong những giới Cụ túc mà một phần lan can ở Ba hách đặc Tỉ-khưu, Tỉ-khưu-ni phải giữ. Là giới căn bản cực ác trong giới luật. Còn gọi là Ba-la-xà-dĩ-ca, Ba-la-thị-ca. Dịch ý là tha thắng, cực ác; trọng cấm, đọa, đọa bất như, đoạn đầu, vô dư, khí. Là tội gốc trong giới luật. Cũng gọi là Biên tội. Là một trong năm thiên, một trong sáu tụ, một trong bảy tụ. Người tu hành nếu phạm giới này thì: 1. Mất tư cách Tỉ-khưu, Tỉ-khưu-ni, không có phần trong đạo quả. 2. Bị giáo đoàn trục xuất, không được ở chung với tăng.3. Sau khi chết rơi vào địa ngục. Tội này cũng giống như tội hình bị chặt đầu, không sống lại được, vĩnh viễn bị đuổi ra ngoài cửa Phật, nên gọi là cực ác. Lại tội này hay phá giới thể của sa môn, khiến người ấy rơi xuống, bọn ma chắc thắng thế, nên gọi là tha thắng; pháp lành gọi là mình, pháp ác gọi là người, vì pháp ác thắng pháp lành, nên phạm tội này gọi là tha thắng tội. Bốn-Ba-la-di của Tỉ-khưu là chỉ bốn tội: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối; Tỉ-khưu-ni thì ngoài bốn tội trên đây còn thêm bốn tội nữa là: vuốt ve, tám việc thành tội nặng, che dấu tội nặng cho Tỉ-khưu- ni khác, về hùa với Tỉ-khưu đã bị xử tội mà ni đoàn can gián ba lần không nghe, tất cả tám Ba-la-di. Bốn tội Ba-la-di của Tỉ-khưu giới và tám tội Ba-la-di của Tỉ-khưu-ni giới, gọi chung là bốn nặng tám nặng. Trong giới Đại thừa, tội Ba-la-di của Bồ-tát khác với Tiểu thừa, hơn nữa, trong các kinh luận nói cũng có chỗ bất đồng. Như kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp lấy mười tội: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối, bán rượu, nói xấu bốn chúng, khen mình chê người, keo kiệt bỏn sẻn, nóng giận không chịu hối cải, chê bai Tam bảo, lập thành mười tội Ba-la-di. Kinh Đại Nhật quyển 6 phẩm Thụ phương tiện học xứ, lấy bốn pháp: chê bai các pháp, lìa bỏ tâm Bồ-đề, keo kiệt, não hại chúng sinh, làm bốn tội căn bản. Đại Nhật kinh sớ quyển 17 thì, ngoài bốn pháp kể trên ra, thêm sáu giới nữa là: không chê tất cả kinh pháp ba thừa, đối với tất cả pháp không sinh tâm keo kiệt, không được tà kiến, đối trước người phát tâm lớn khuyên họ phát tâm không để họ trở lui, đối trước người Tiểu thừa, nếu chưa xét kĩ căn cơ thì không được nói pháp lớn và các việc làm bố thí v.v... mà gọi chung là mười trọng giới của Bồ-tát. [X. luật Thập Tụng Q.1; luật Ma-ha-tăng-kì Q.2; Hữu Bộ-tì-nại-da Q.1; luật Ngũ Phần Q.17, Q.23; Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.7]. (xt. Thập Giới, Tứ Trọng Bát Trọng , Chế Tài, Luật).
ba la di giới
Catru Parājikā (P)4 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
ba la di tứ dụ
Bốn thí dụ về Ba La Di tội mà Phật đã dạy chư Tăng Ni về những kẻ phạm vào điều dâm—The four metaphors addressed by the Buddha to monks and nuns about he who breaks the vow of chasity: 1) Kẻ phạm vào điều dâm như chiếc kim mẻ mũi gẩy đích, không xài được nữa: He who breaks the vow of chasity is as a needle without an eye. 2) Như sinh mệnh của một người đã hết, không thể sống được nữa: As a dead man. 3) Chiết Thạch: Như đá vỡ không thể chấp lại—As a broken stone which cannot be united. 4) Như cây gẩy không thể sống lại: As a tree cut in two which cannot live any longer.
ba la già
Paragata (S). One who has attained the other shore.
; Paraka (skt)—Đáo bỉ ngạn—Carrying over—Saving—The paramita boat.
ba la già la
Prakara (skt)—Một thứ rào cản—A containing wall—Fence.
ba la hạ ma
Brahma (skt)—Tên cõi trời Phạm Thiên—Name of Brahma heaven.
ba la lợi phất đa la
See Ba Liên Phất.
ba la môn
Brahmin (skt)—See Brahmana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ba la mạt đà
Paramartha (skt). 1) Đệ nhất nghĩa—The highest truth—Ultimate truth. 2) Chân Đế: Reality—Fundamental meaning. 3) Chân Đế Tam Tạng, tên của một vị sư nổi tiếng người miền Tây Ấn Độ, đến Trung Quốc khoảng những năm 547 hay 548, nhưng thời đó nước Tàu quá loạn lạc nên ngài phải trở về Ấn bằng đường biển, tàu của ngài bị trôi dạt vào Quảng Châu. Tại đó ngài dịch hơn 50 bộ kinh—Name of a famous monk from West India, reached China around 547 or 548, but the country was so disturbed that he set off to return by sea; his ship was driven back to Canton, where he stayed and translated some fifty works.
ba la mật
Pāramī (P), parol tu chinpa (T),, Pāramitā (S), parol tu chinpa (T), Perfection Đáo bỉ ngạn, Độ vô cựcVượt qua biển sanh tử khổ não tới nơi chánh đạo tức tới bờ bên kia. Đáo bỉ ngạn là từ dùng để chỉ hàng Bồ tát đã đắc quả Như Lai: A la hán, Bích chi Phật, Bồ tát, Phật.
; Ba La Mật Đa—Paramita—Đáo bỉ ngạn—Thập Độ Ba La Mật 1) Bố thí: Charity—Giving. 2) Trì giới: Moral conduct. 3) Nhẫn nhục: Patience. 4) Tinh tấn: Correct Energy/Devotion. 5) Thiền định: Contemplation. 6) Trí huệ: Prajna—Knowledge. 7) Trạch pháp: Use of expedient or proper means. 8) Phát Bồ đề tâm: Vow for Bodhicittta and helpfulness. 9) Dũng mãnh: Strength. 10) Trí huệ: Wisdom. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật and Thập Ba La Mật.
; (波羅蜜) Phạm: Pàramità, Pàli: Pàramì hoặc Pàramità. Tức là từ bờ sống chết cõi mê bên này mà đến bờ Niết bàn giải thoát bên kia. Còn gọi là Ba-la-mật-đa, Ba-la-nhĩ-đa. Dịch ý là Đáo bỉ ngạn, Độ vô cực, Độ, Sự cứu kính. Thông thường, nói về sự tu hành của Bồ tát, đại hạnh của Bồ tát có khả năng hoàn thành tất cả mọi việc lợi mình lợi người một cách mĩ mãn rốt ráo, cho nên gọi là Sự cứu kính. Làm theo hạnh lớn ấy mà có thể từ bờ sống chết bên này đến được bờ Niết bàn bên kia, cho nên gọi là Đáo bỉ ngạn. Hạnh lớn ấy có khả năng cứu giúp mọi loài một cách bao la vô hạn, cho nên gọi là Độ vô cực. Tiếng Phạm: Pàramità, có các nghĩa: đến bờ bên kia, trọn vẹn, đầy đủ; tiếng Pàli: Pàramì, thì có các nghĩa: tối thượng, chung cực. Đối với Ba-la-mật, các nhà phiên dịch, giải thích, mỗi nhà có cách nói riêng. Cứ theo kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn chép, thì Ba-la-mật thông cả nghĩa đã đến và sẽ đến, tức là Phật đã đến bờ bên kia, còn Bồ tát thì sẽ đến bờ bên kia. Cứ theo Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 9 (bản dịch đời Lương) chép, thì Đáo bỉ ngạn có ba nghĩa khác nhau: 1. Tùy chỗ tu hành mà đạt đến vô dư rốt ráo. 2. Vào chân như, vì chân như là cùng tột, cũng như các dòng sông đổ vào biển cả là chung cực. 3. Được quả vô đẳng, không quả nào khác hơn được quả này, bởi vì các pháp mà Bồ tát tu hành, cái lí mà Bồ tát thâm nhập và cái quả mà Bồ tát chứng đắc, đều là rốt ráo, tròn đầy. Lại cứ theo kinh Giải Thâm Mật quyển 4 chép, thì Ba-la-mật-đa có năm nhân duyên, tức là không nhiễm trước, không luyến tiếc, không tội lỗi, không phân biệt và không quay trở lại. Cứ theo kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển 4 chép, thì Ba-la-mật có mười bảy nghĩa, như tu tập thắng lợi, không dính dấp điều gì, không cố chấp thiên kiến, không hệ lụy v.v... Cứ theo kinh Đại Bảo Tích quyển 53 chép, thì Ba-la-mật có mười hai nghĩa, chẳng hạn như biết được tất cả các pháp lành vi diệu có khả năng đến bờ bên kia, trong các pháp môn sai biệt của tạng Bồ Tát, an trụ nơi chính nghĩa v.v...Còn về thuyết bờ bên này, bờ bên kia thì giữa các sự cũng có những ý kiến khác nhau. Cứ theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 12 mục lục Ba-la mật chép, thì :1. Sống chết là bờ bên này, Niết bàn rốt ráo là bờ bên kia.2. Sống chết Niết bàn có hình tướng là bờ bên này, bình đẳng không hình tướng là bờ bên kia. Cứ theo Đại Phẩm Kinh Du Ý chép, thì: 1. Tiểu thừa là bờ này, Đại thừa là bờ kia. 2. Ma là bờ này, Phật là bờ kia. 3. Thế gian là bờ này, Niết bàn là bờ kia. Còn Thành luận sư thì bảo hữu tướng là bờ này, vô tướng là bờ kia; sống chết là bờ này, Niết bàn là bờ kia; phiền não (hoặc) là bờ này, chủng trí là bờ kia. Theo các kinh luận thì có sáu Ba-la-mật, mười Ba-la- mật và bốn Ba-la-mật khác nhau. 1. Sáu Ba-la-mật, còn gọi là sáu độ, là thuyết của các bộ kinh Bát nhã; chỉ sáu hạnh tu mà Bồ tát Đại thừa phải thực hiện. Đó là: a. Bố thí Ba-la-mật, còn gọi là Đàn-na (Phạm, Pàli: dàna) ba-la-mật, Đàn-na-ba la-mật, có nghĩa là bố thí hết cả, không sẻn tiếc vật gì.b. Trì giới Ba-la-mật, còn gọi là Thi-la (Phạm:zìla) ba-la-mật, có nghĩa là giữ gìn giới luật của giáo đoàn một cách trọn vẹn. c. Nhẫn nhục Ba-la-mật, còn gọi là Sằn-đề (Phạm: kwànti) Ba-la-mật, hàm ý là triệt để nhịn nhục. d. Tinh tiến Ba-la-mật, còn gọi là Tì-lê-da (Phạm: vìrya) Ba-la-mật, hàm ý là cố gắng hết mức. e. Thiền định Ba-la-mật, còn gọi là Thiền-na (Phạm: dhyàna) Ba-la-mật, có nghĩa là hoàn toàn để tâm vào một cảnh. f. Trí tuệ Ba-la-mật, còn gọi là Bát-nhã (Phạm: prajĩà) Ba-la-mật, Tuệ Ba-la-mật, Minh độ, Minh độ vô cực, có nghĩa là trí tuệ tròn đầy, là trí tuệ không phân biệt, siêu việt lí tính của con người. Y vào Bát nhã ba-la-mật thì có thể làm việc bố thí mà hoàn thành Bố thí Ba-la-mật, cho đến tu Thiền định mà hoàn thành Thiền định Ba-la-mật, vì thế, Bát nhã ba-la-mật là gốc của năm Ba-la-mật kia và được mệnh danh là mẹ của chư Phật. 2. Mười Ba-la-mật, còn gọi là mười độ, mười thắng hạnh, là thuyết trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương phẩm Tối Tịnh Địa-đà-la-ni. Thêm bốn Ba-la- mật dưới đây vào sáu Ba-la-mật kể trên thì thành mười Ba-la-mật,đó là: a. Phương tiện Ba-la-mật, còn gọi là Âu-ba-da (Phạm: Upàya) Ba-la-mật, chỉ các phương pháp khéo léo cứu giúp chúng sinh. b. Nguyện Ba-la-mật, còn gọi là Bát-la-ni-đà-na (Phạm: Praịidhàna) Ba-la-mật, có nghĩa là thệ nguyện cứu giúp chúng sinh sau khi đã được trí tuệ (tức bồ-đề). c. Lực Ba-la-mật, còn gọi là Ba-la (Phạm: Bala) Ba-la-mật, nghĩa là cái năng lực có thể phán đoán điều mình tu hành một cách hoàn toàn chính xác. d. Trí Ba-la-mật, còn gọi là Nhã-na (Phạm: Jĩàna) Ba-la-mật, có nghĩa là thụ hưởng niềm vui Bồ đề, đồng thời, chỉ dạy chúng sinh được trí tuệ siêu việt. 3. Bốn Ba-la-mật, là thuyết trong các chương Điên đảo, Chân thực của kinh Thắng man. Tức là: a. Thường Ba-la-mật, nghĩa là Ba-la-mật triệt để vĩnh viễn.b. Lạc Ba-la-mật, nghĩa là Ba-la mật triệt để an ổn. c. Ngã Ba-la-mật, nghĩa là Ba-la mật có tính chủ thể triệt để. d. Tịnh Ba-la-mật, nghĩa là Ba-la-mật triệt để thanh tịnh. Bốn Ba-la-mật trên đây tức là bốn đặc chất (bốn đức) thù thắng của Niết bàn. 4. Mật giáo, trong Kim cương giới mạn đồ la lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm, gọi bốn Bồ tát đặt ở bốn phương đông nam tây bắc là bốn Ba-la-mật, tức Đông phương Kim cương ba-la-mật, Nam phương Bảo ba-la-mật, Tây phương Pháp ba-la-mật, Bắc phương Nghiệp ba-la-mật. Ngoài ra, trong các kinh điển tiếng Pàli Nam truyền, như Sở-hành-tạng (Pàli: Cariyàpiỉaka), Phật-chủng-tính (Pàli: Buddhavaôsa), Pháp-cú-kinh-chú (Pàli: Dhammapadaỉỉhakathà) v.v..., cũng lập mười Ba-la-mật là: Bố thí Ba-la-mật, Trì giới (Pàli: sìla) Ba-la-mật, Xuất li (Pàli: nekkhamma) ba-la-mật, Bát nhã (Pàli: paĩĩa) ba-la-mật, Tinh tiến (Pàli: viriya) ba-la-mật, Nhẫn nhục (Pàli: khanti) ba-la-mật, Chân đế (Pàli: sacca) ba-la-mật, Quyết ý(Pàli: adhiỉỉhàna) ba-la-mật, Từ (Pàli: mettà) ba-la-mật và Xả(Pàli: upekkhà) ba-la-mật. [X. kinh Bồ tát nội tập lục ba-la-mật; kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát hành pháp; kinh Hoa Nghiêm phẩm Li Thế Gian; luận Đại Trí Độ Q.53; luận Câu Xá Q.18; luận Du Già Sư Địa Q.49; Đại Tuệ Độ Kinh Tông Yếu; Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã kinh sớ Q.1 (Trí khải); Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba-la-mật-đa kinh sớ Q.thượng (Lương bí); Bát nhã ba-la mật-đa kinh tán].
ba la mật tự
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Lịch sử thành lập của chùa Ba La Mật gắn liền với quảng đời của một vị quan thuộc dòng họ Nguyễn Khoa, giữa lúc đất nước đang bị ngoại bang xâu xé. Khi vua Đồng Khánh ra lệnh cho quan quân triều đình tiêu trừ phong trào Cần Vương, ông bèn treo ấn từ quan, bỏ lên chùa Đại Bi ở Thanh Hóa ẩn dật. Được ít lâu, ông về quê, nhưng triều đình lại triệu ông ra giữ chức Thị Lang Binh Bộ, ông giả bệnh không ra nhậm chức. Từ đó ông phát nguyện tu hành, lên chùa Từ Hiếu làm lễ xuất gia với Hòa Thượng Hải Thiệu. Về sau, bà phu nhân của ông là Công Tôn Nữ Thị Tỳ, đã xây dựng xong ngôi chùa trong khuôn viên của gia tộc lấy tên là chùa Ba La Mật ông về trụ tại đây đến khi thị tịch năm 1900. Năm 1934, con cháu dòng họ Nguyễn Khoa trùng tu chùa. Năm 1943, Hòa Thượng Trí Thủ trùng tu lần nữa và kiến trúc chùa vẫn duy trì cho đến ngày nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The history of the temple is closely attached to the life of a mandarin named Nguyễn Khoa Luận, while the country was being torn by the invaders. When king Đồng Khánh ordered his court soldiers to fight against Cần Vương movement, he resigned from the post, went to Đại Bi temple in Thanh Hóa and stayed there as a hermit. Sometime later, he got back to his native village. When being appointed a mandarin again by the court, he pretended to go crazy in order to refuse the appointment. Then, he resolved to leave home and join the Order. He went to Từ Hiếu temple to become a monk with the Buddha name Thanh Chơn. In autumn 1886, his wife, Tôn Nữ Thị Tỳ, built a temple within her mansion, and invited him back to be the headmonk there. He passed away in 1900. In 1934, the Nguyễn Khoa descendents rebuilt the temple. In 1943, Most Venerable Trí Thủ renovated the temple again and its construction has remained the same until now.
ba la mật đa
Paramita (skt)—Đáo bỉ ngạn hay vượt qua bờ sinh tử bên nầy để đến bờ bên kia, Niết Bàn. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật đưa ra ba loại Ba La Mật—To cross over from this shore of births and deaths to the other shore, or nirvana. In The Lankavatara Sutra, the Buddha gave three kinds of Paramitas (see Tam Chủng Ba La Mật). ** For more information, please see Ba La Mật and Lục Độ Ba La Mật.
ba la mật, ba la mật đa, đáo bỉ ngạn
Pàramita (S) derived from parama highest, acme, is intp as to cross over from this shore of births and deaths to the other shore, or nirvàna. Transcendental perfection.
ba la ni mật bà xá bạt đề thiên
Paranirmita-vasavartin (skt)—Tha Hóa Tự Tại Thiên—A deva who is obedient to the will of those who are transformed by others. ** For more information, please see Tha Hóa Tự Tại Thiên.
Ba La Nại
(s: Vārāṇasī, Vāraṇasī, Varāṇasī, Varaṇasī, p: Bārāṇasī, 波羅奈): tên của một vương quốc cổ ngày xưa của Ấn Độ, còn gọi là Ba La Nại Tư Quốc (波羅奈斯國), Ba La Nại Quốc (波羅捺國), Ba La Nại Tả Quốc (波羅捺寫國); xưa kia gọi là Già Thi Quốc (s: Kāśī, 伽尸國), hiện tại là Benares. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 7, vương quốc này có thành quách kéo dài đến tận sông Tây Khắc Già (西殑伽), dài 18, 19 dặm, rộng 5-6 dặm. Dân cư trong thành đông đúc, tính người hiền lương, phần lớn tin vào ngoại đạo, ít người kính trọng Phật pháp. Tăng chúng phần lớn học pháp Chánh Lượng Bộ của Tiểu Thừa. Về phía đông bắc của thành có dòng sông Varaṇā; phía tây sông có tháp A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王); phía đông bắc sông khoảng 10 dặm có di tích cũ nơi Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒), Bồ Tát Hộ Minh (護明) từng thọ ký. Bên cạnh đó, phía tây bắc thành có vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), nơi xưa kia sau khi thành đạo, đức Phật lần đầu tiên giáo hóa cho 5 vị Tỳ Kheo. Từ đó về sau, Ngài thường đến thành này hóa độ chúng sanh và Ba La Nại trở thành một trong 6 trung tâm thuyết pháp lớn đương thời. Hiện tại trong thành có cả ngàn ngôi đền thờ Ấn Độ Giáo. Nơi này xưa kia rất thịnh hành về học thuật, cùng với vùng Takṣasilā là hai trung tâm của Bà La Môn giáo học. Khi cao tăng Huyền Trang (玄奘, 602-664) đến địa phương này, Phái Thấp Bà (s: Śiva, 濕婆) rất hưng thịnh. Sau khi tín đồ Hồi Giáo xâm nhập vào năm 1194, Phật Giáo tiến đến tuyệt tích. Hiện tại nơi đây không chỉ là thánh địa của Ấn Độ Giáo, mà còn là thánh địa của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo (耆那敎, Jainism).
ba la nại
Bārāṇasī (S), Vārāṇśrī, Benares Địa
; Baranasi (skt)—Tên khác của thành Ba La Nại Tư (Varanasi), một thành phố nằm về phía Bắc Ấn Độ, kinh đô của vương quốc cổ Ca Thị nằm bên bờ sông Hằng, một trong mười sáu nước của Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế. Ba La Nại là một thành phố thiêng liêng cho cả Ấn giáo và Phật giáo. Lộc Uyển cách Ba La Nại chừng bảy dậm nơi Phật thuyết giảng bài pháp đầu tiên “Kinh Chuyển Pháp Luân” cho năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài—Benares, another name for Baranasi, a city in northern India, an ancient kingdom and city on the Ganges River, the capital of the kingdom of Kasi which was one of the sixteen major countries during the Buddha's time. Baranasi was a sacred city for both Hinduism and Buddhism. About seven miles from Baranasi was sarnath or the deer Park (the outskirt of Benares) where the Buddha preached his first discourse on the “Sermon on Setting in motion of the Wheel of the Law” to his first five disciples. Baranasi is also the most holy city in India and important in Buddhism.
ba la nại (thành phố)
Vàrànasi (S). Benares.
ba la nại quốc
(波羅奈國) Ba-la-nại, Phạm: Vàràịasì hoặc Vàraịasì, Varàịasì, Varaịasì, Pàli: Bàràịasì. Là một vương quốc cổ tại trung Ấn Độ. Còn gọi là Ba-la-nại quốc, Ba-la-ni-tư quốc, Ba- la-nại-tả quốc. Các nhà dịch cũ phiên là Già-thi-quốc (Phạm: Kàzi). Đời gần đây gọi là Bái-na-lạp-tư (Benares), tức nay là Ngõa-lạp-na-tây (Varanasi). Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 7 chép, thì đô thành nước này gần sông Hằng về phía tây, dài chừng mười tám, mười chín dặm, rộng năm, sáu dặm. Dân cư đông đúc, tính người hòa nhã cẩn trọng, đa số tin ngoại đạo, ít người kính Phật pháp, tăng đồ phần nhiều học pháp nghĩa của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Ở mạn đông bắc đô thành là sông Bà-la-nê (Phạm: Varaịà), phía tây sông có tháp vua A-dục, cách sông hơn mười dặm về phía đông bắc có nền cũ, nơi thụ kí cho Bồ tát Di Lặc và Bồ tát Hộ Minh, phía tây bắc thành là vườn Lộc Dã, nơi đức Phật nói pháp lần đầu tiên sau khi thành đạo độ cho năm vị Tỉ-khưu, từ đó về sau, Phật thường đến đây giáo hóa chúng sinh, đây là một trong sáu nơi thuyết pháp lớn, nay trong thành có đến cả nghìn ngôi đền thờ của Ấn Độ giáo, nổi tiếng nhất trong số đó là đền vàng. Xưa kia, tại đất này học thuật hưng thịnh, cùng với Đán-xoa-thủy-la (Phạm: Takwasilà) ở bắc Ấn Độ đều là đất trung tâm của Bà-la-môn giáo học, khi ngài Huyền Trang du lịch đến đây thì phái Thấp Bà thịnh hành. Sau cuộc xâm lăng của Hồi giáo vào năm 1194 Tây lịch, Phật giáo cơ hồ tuyệt tích. Ngày nay, thành Ba-la-nại không những chỉ là Thánh địa của Ấn Độ giáo, mà cũng còn là Thánh địa của Phật giáo và Kì-na giáo nữa. Sản phẩm nổi tiếng của nước này ngày xưa là vải bông, và áo Ba-la-nại (Phạm: Bàràịa) trứ danh đã được sản xuất tại đây. [X. kinh Tạp A Hàm Q.23; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.33; Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa Q.6; luận Đại Trí Độ Q.3; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.10].
ba la phó
Prabhu (skt). 1) Mạnh mẽ: Powerful—Surpassing. ** Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-Enlgish Buddhist Terms: 2) Danh hiệu của Tỳ Nữu Thiên (Tỳ Ni Thiên): A title of Visnu. 3) Nhân cách hóa của mặt trời, Phạm Thiên hay Đế Thích: Personification of the sun, Brahma, Indra, etc.
ba la phả bà để
Prabhavati (skt). 1) Em gái của A Tu La: Younger sister of Asura. 2) Em gái của vua A Dục: Younger sister of Asoka.
ba la phả ca la mật đa la
Prabhakaramitra (skt)—Người giác ngộ—Enlightener.
; (波羅頗迦羅蜜多羅) (565-633) Phạm: Prabhàkaramitra. Người nước Ma-yết-đà thuộc trung Ấn Độ. Còn gọi là Ba-la-phả-mật-đa-la, Ba-phả-mật-đa-la. Hoặc gọi tắt là Ba-phả. Dịch ý là Minh tri thức, Minh hữu, Quang trí. Sư thuộc giòng Sát-đế-lợi, mười tuổi xuất gia, học kinh Đại thừa. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư học tập tạng Luật, tu tập định nghiệp, sau nam du đến chùa Na-lan-đà, nghe luận sư Giới Hiền giảng luận Thập Thất Địa, còn đọc các luận Tiểu thừa. Sư giới hạnh tinh cần, tài trí minh mẫn, được mọi người kính trọng. Sau, vào niên hiệu Trinh Quán năm đầu (627) đời Đường Thái Tông, sư mang kinh Phạm đến Trường An, ở chùa Đại Hưng Thiện. Tháng 3 năm Trinh Quán thứ 3, sư cùng với Tuệ Thừa, Tuệ Trách, Pháp Lâm, Huyền Mô, gồm mười chín vị thạc đức, chuyên việc dịch kinh. Số kinh luận dịch được gồm có: kinh Bảo tinh đà-la-ni 10 quyển, luận Bát-nhã đăng 15 quyển, Đại Thừa Trang Nghiêm kinh luận 13 quyển. Năm Trinh Quán thứ 7 sư thị tịch tại chùa Thắng Quang, hưởng thọ sáu mươi chín tuổi. [X. Tục Cao Tăng Truyện Q.3; Đại Đường nội điển lục Q.5; Khai Nguyên Thích Giáo lục Q.8].
ba la sa đề già
(波羅娑提伽) Phạm: Pràsàdika-sùtra. Còn gọi là Bà-la-sa-đề-già, Ba-la-sa-đề-già-tu-đố-lộ. Dịch ý là Thanh Tịnh kinh. Cứ theo luật Thập Tụng quyển 24 chép, thì nếu có Thức- xoa-ma-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và Sa-di-ni hiểu nhiều biết nhiều, nếu muốn học, muốn tụng các kinh lớn như kinh Ba-la-sa-đề-già (thời Tấn dịch là Thanh Tịnh kinh), cho đến Tát-kì-đà-xá-tu-đố-lộ (thời Tấn dịch là Kiến kinh) v.v... mà xin được các đại đức Tỉ-khưu chỉ bảo, thì được phép xa Tăng đoàn bảy đêm để chuyên tâm tập tụng kinh văn.
ba la thị ca
Parajika (skt)—See Ba La Di and Tứ Đọa.
ba la tắc hí
(波羅塞戲) Ba-la-tái, Phạm: Prasena, dịch ý là binh. Là loại trò chơi bắt chước quân lính đánh nhau. Cũng gọi là Tượng mã đấu, Song lục. Sự vật dị danh lục Ngoạn Hí Chương Song lục điều chép: Song lục có xuất xứ từ Thiên Trúc, kinh Niết Bàn gọi là Ba-la-tái-hí. Tổ chức binh đội Ấn Độ xưa có Tượng binh, Mã binh, Xa binh và Bộ binh, trò chơi này bắt chước bốn binh chủng đánh nhau, tương tự như trò chơi cờ tướng ở Trung Quốc. [X. kinh Phạm Võng Q.hạ; kinh Đại Bàn Niết Bàn (bản Bắc) Q.11; Phạm Võng kinh Bồ Tát Giới Bản sớ Q.6 (Pháp tạng); Bồ Tát Giới Kinh sớ chú Q.8 (Dữ hàm)].
ba la tức
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Ba La Tức là kinh đô của nước Surasthana, nơi mà người ta cho rằng “bát khất thực” của Phật được mang đến lưu trữ vào khoảng năm 600 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, in its capital of Surasthana the Buddha's almsbowl was said to be in 600 A.D.
ba la việt
Paravata (skt)—Chim bồ câu—A dove.
ba la vương triều
(波羅王朝) Ba la, Phạm: Pàla. Triều vua được kiến lập tại Mạnh Gia Lạp (Bengal) vào giữa thế kỉ VIII đến cuối thế kỉ XII Tây lịch. Người sáng lập là Cù-ba-la (Phạm: Gopàla), trong thời loạn, thống nhất được Mạnh Gia Lạp mà lập nên Vương triều Ba-la. Các vua của Vương triều này đều tin theo Phật giáo, thời kì này, Mật giáo đặc biệt hưng thịnh, chủ yếu lấy địa phương Tỉ Cáp Nhĩ (Bihàr) làm trung tâm, tức lúc đó lấy các khu vực nước Ma-yết-dà và Mạnh Gia Lạp làm trung tâm để phát triển, tức khu vực trung và hạ lưu sông Hằng. Nơi trung tâm giáo học Phật giáo thời ấy là chùa Na-lan- đà và Phật-đà-già-da. Lại thời đại Vương triều này có phái Ma-yết-đà (thời kì trước Vương triều Ba-la), và cái gọi là phái Ba-la (thời kì Vương triều Ba-la hưng thịnh trở về sau), đã sản sinh các tượng Phật điêu khắc đặc thù. Ngoài ra, đồ tượng học về tượng Phật cũng được xác lập vào thời kì này. Đầu thế kỉ XIII, Vương triều Ba-la diệt vong, Phật giáo cũng theo đó mà tiêu hoại.
ba la xa hoa
Palasa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Palasa là tên của một loại hoa của một loại cây ở Tây Vực, lá xanh, hoa có ba sắc. Khi mặt trời chưa mọc thì màu đen, mặt trời trưa thì màu đỏ, mặt trời lặn thì màu vàng. Nước cây rất đỏ dùng làm thuốc nhuộm—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, palasa is the name of a blossom of a tree with green leaves and red flowers, whose sap is used to dye fabric stuff. Its flowers are said to be black before sunrise, red during the day, and yellow after sunset.
ba la xa thụ
Palasa tree—See Ba La Xa Hoa.
; (波羅奢樹) Ba-la-xa, Phạm: Palàza. Dịch ý là Xích hoa thụ (cây hoa đỏ). Là cây thiêng liêng của Bà-la-môn giáo Ấn Độ. Thân cây có thể chế làm các đồ thờ thần, nhựa cây mầu đỏ lợt, có thể chế thuốc uống hoặc làm thuốc nhuộm, lá to mầu xanh; và hoa Ba-la-xa cũng gọi là xích sắc hoa (hoa màu đỏ). Cứ theo Niết Bàn kinh sớ quyển 1 chép, khi mặt trời chưa mọc thì hoa nó mầu đen, sau khi mặt trời mọc thì chuyển thành mầu đỏ, sau khi mặt trời lặn lại biến thành mầu vàng. Cũng có người bảo cây Ba-la-xa tức là cây Tạp-na-tạp (Phạm: Kanaka), tên khoa học là Mesua Ferrea hoặc Butea Frondosa. Lại cứ theo Huyền Ứng âm nghĩa quyển 25 chép, thì cây Ba-la-xa cũng tức là cây Chân thúc ca, nhưng theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 9 nói, thì hai loại này khác nhau. [X. Huyền Ứng âm nghĩa Q.23, Q.24]. (xt. Chân Thúc Ca Thụ).
ba la xoa (thụ)
Sàla (S)
ba la xà dĩ ca
Parajika (skt)—See Ba La Di and Tứ Đọa.
ba la xá ni
Pratidesaniya (skt)—See Ba La Đề Xá Ni.
ba la đại tế
(巴羅大祭) Là lễ tiết hàng năm trọng yếu nhất của Phật giáo tại Bhutan. Ba-la (Paro) là đô thị lớn thứ hai tại Bhutan, là cung mùa hạ của nhà vua, nằm trong hang núi, trong đó có ngôi chùa Đan Tông khách thiền đã có bốn trăm năm lịch sử, là trung tâm tôn giáo trên toàn quốc. Hằng năm đến tháng tư, cử hành đại lễ bốn ngày liên tiếp kỉ niệm Liên-hoa-sinh (Phạm: Padma Saôbhàva), một nhân vật truyền kì trong lịch sử Phật giáo Bhutan. Ngài Liên-hoa-sinh nguyên là người nước Ô Trượng Na ở Ấn Độ, giữa thế kỷ thứ VIII, Ngài đến Tây Tạng truyền pháp, hai lần lưu lại Bhutan, đem Phật giáo hòa làm một với tín ngưỡng địa phương, khai sáng ra phái Hồng giáo, dùng thần chú Đà-la-ni dẹp trừ tai nạn và ma quái, có thần thông lớn, được nhân dân ở Tây Tạng và Bhutan xem như là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm vậy. Mỗi lần đến tiết Ba La, Lạt-ma đem treo thản tạp lên tường chùa để nhân dân các địa phương đến lễ bái. Thản tạp là hình tượng của Ngài Liên-hoa-sinh được thêu trên bức gấm lớn, rộng sáu trăm mét vuông, là nghệ thuật phẩm Phật giáo dệt bằng gấm to nhất thế giới, đã có ba trăm năm lịch sử, ngoài hình tượng Liên-hoa-sinh ra, còn vẽ các hình tượng trưng cho vận may và sự tốt lành. Khi tín đồ đi qua Thản tạp, đưa trán chạm vào Thản tạp để tỏ lòng tôn sùng. Trong thời gian lễ mừng, có các tiết mục như khoa đàn, cầu nguyện, tụng kinh lễ bái, do vị Lạt-ma chủ trì. Mãi đến sáng ngày sau chót, Thản tạp mới được thu quấn xuống và kết thúc lễ mừng. (xt. Bất Đan Phật Giáo).
ba la đề mộc xoa
Praktimoksha (S). Emancipation, deliverance, absolution. The 250 precepts for monks in the Vinaya. Disciplinary code.
; Pratimoksa (skt)—Biệt Giải Thoát—Xứ Xứ Giải Thoát—See Pratimoksa in Pali/Sanskrit Section.
; (波羅提木叉) Phạm: Pràtimokwa hoặc Pratimokwa, Pàli: Pàỉimokkha hoặc Pàtimokkha. Chỉ các giới luật mà bảy chúng phải giữ gìn để phòng ngừa các tội lỗi do bảy chi thân khẩu gây ra, để xa lìa các phiền não hoặc nghiệp mà được giải thoát. Còn gọi là Ba-la -đề-tì-mộc-xoa, Ban-la-để-mộc-xoa, Bát-lạt-để-mộc-xoa. Dịch ý là Tùy thuận giải thoát, Xứ xứ giải thoát, Biệt biệt giải thoát, Biệt giải thoát, Tối thắng, Vô đẳng học. Giới này để giữ gìn các căn, nuôi lớn các pháp lành, là cửa đầu tiên (Phạm: pramukha, Pàli: pamukha) trong các pháp lành, cho nên gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa. Nếu giữ giới thì có thể dứt bỏ được sự trói buộc của hoặc nghiệp, được trí tuệ vô lậu thanh tịnh, là bậc nhất trong các cái học của thế gian, vì thế nên gọi là Vô đẳng học. Như Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa quyển 7 (Đại 24, 719 thượng), nói: Trong các ánh sáng, ánh sáng mặt trời là chúa, trong các núi, núi Tu di là vua, trong tất cả cái học của thế gian, Ba la đề mộc xoa là đầu (...) vì thế mà Phật chế Vô đẳng học. Lại giới luật có khả năng thuận theo cái quả của hai loại giải thoát hữu vi, vô vi, cho nên cũng gọi là Tùy thuận giải thoát. Giới này bao gồm tám loại là: Ba-la-di, Tăng-tàn, Bất định, Xả đọa, Đơn đọa, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Chúng học và Diệt tránh pháp. Ngoài ra, Giới bản, do thu tập các điểu mục giới pháp mà cấu thành, được các Tỉ-khưu sử dụng trong ngày Bố tát sám hối mỗi nửa tháng, nếu có người phạm giới thì vào ngày ấy, phải đối trước vị Tỉ-khưu Thượng tọa tụng các giới điều và chúng tăng để giải bày sám hối. [X. kinh Đại ban Niết Bàn Q.hạ; kinh Tì Bà Thi Phật Q.hạ; kinh Phạm Võng Q.hạ; luật Ngũ Phần Q.18; Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.18]. (xt. Biệt Giải Thoát Luật Nghi).
ba la đề xá ni
Pratidesanìya (S). Buddhist confession of offences.
; Pratidesaniya (skt)—Hướng Bỉ Hối Tội—Bát Lặt Để Ba La Đề—Ba La Xá Ni—Đề Xá Ni—Một phần trong Luật Tạng nói về tội phải sám hối trước chúng—A section of the Vianyana concerning public confession of sins—See Nhị Bách Ngũ Thập Giới.
ba la đề đề xá ni
(波羅提提舍尼) Phạm: Pratidezanìya, Pàli: Pàtidesanìya. Là một trong những giới Cụ túc của Tỉ- khưu và Tỉ-khưu-ni. Còn gọi là Ba-la-để-đề-xá-ni, Ba-đê-đề-xá-ni, Bát-lạt-để-đề-xá-na. Hoặc gọi tắt là Đề-xá-ni. Dịch ý là đối tha thuyết, hướng bỉ hối, các đối ưng thuyết, hối quá pháp, khả ha pháp. Là một trong năm thiên, một trong sáu tụ, một trong bảy tụ. Khi Tỉ-khưu phạm giới này, phải hướng vào vị Tỉ-khưu thanh tịnh khác để giải bày sám hối, là một thứ tội nhẹ.Giới này, giữa Tỉ-khưu và Tỉ-khưu-ni có khác, đều liên quan đến việc ăn uống, Tỉ-khưu có bốn giới gọi là bốn Đề-xá-ni, đó là: 1. Tòng-phi-thân-ni-thụ-thực giới (Phạm: bhikwuịìpiịđakagrahaịa), cũng gọi là Tại-tục-gia-tòng-phi-thân-ni-thủ-thực-giới, Tòng-phi-thân-ni-thụ-thực-học-xứ,Tại- bạch-y-xá-tự-thủ-tòng-phi-thân-lí-ni-thụ-thực giới. Có nghĩa là Tỉ-khưu không ốm đau, vào trong làng xóm, nhận thức ăn từ nơi tay Tỉ-khưu-ni không phải là họ hàng thân thuộc hay người đồng hương. 2.Thụ-ni-chỉ-thụ-thực giới (Phạm: paíktivaiwamyavàdànivàritabhukti), còn gọi là Tại-tục-gia-thiên-tâm-thụ-thực giới, Thực-ni-chỉ-thụ-thực giới,Tại-bạch-y-gia-thực- ni-thiên-tâm-chỉ-thụ-thực giới, Thụ-bật-sô-ni-chỉ-thụ-thực-học-xứ. Có nghĩa là, khi Tỉ- khưu ăn cơm ở nhà tại gia, có Tỉ-khưu-ni không theo thứ tự mời thức ăn, mà lại đặc biệt trao thức ăn ngon cho một Tỉ-khưu nào đó.3. Học-gia-quá-thụ-thực giới (Phạm: kulazikwàbhaígapravftti), còn gọi là Học- gia-quá-thụ-giới, Học-gia-thụ-thực-học-xứ, Vi-chế-học-gia-thụ-thực giới. Có nghĩa là, Tỉ-khưu vào nhà bậc Thánh Hữu học, không được tự nhận thức ăn một cách bừa bãi, khiến vị ấy cúng dường quá mức đến phải thiếu hụt. 4. Lan-nhã-thụ-thực giới (Phạm: vanavicayagata), còn gọi là Khủng-bố-lan-nhã-thụ-thực giới, Hữu-nạn-lan-nhã-thụ-thực giới, Lan-nhã-an-tọa-thụ-thực giới, A- lan-nhã-trụ-xứ-ngoại-thụ-thực-học-xứ. Có nghĩa là, Tỉ-khưu đến nhà tại gia nhận thức ăn, nhưng sợ đến giữa đường gặp tai nạn, bèn bảo người đàn việt (thí chủ) đưa thức ăn đến chỗ mình ở, tình hình này cũng bị Phật cấm chỉ. Ngoài ra, cứ theo Tứ Phần Tỉ-khưu-ni Giới Bản, Ngũ Phần Tỉ-khưu- ni Giới Bản, Ma-ha-tăng-kì-tỉ-khưu-ni giới bản chép, thì tám giới của Tỉ-khưu-ni, không cho phép một Tỉ-khưu-ni không đau ốm được xin tám thứ thực vật sau đây: bơ, dầu, mật, sữa, mật hắc thạch, phó mát, cá, thịt. Nhưng về các loại thực vật được ghi trong Hữu bộ bật-sô-ni-tì-nại-da quyển 20, Thập tụng Tỉ-khưu-ni ba-la-đề-mộc-xoa giới bản, có hơi khác nhau. Tuy nhiên, theo các Giới bản nói, thì người phạm các giới trên đây, nếu hướng vào một vị Tỉ-khưu thanh tịnh mà sám hối thì cũng được diệt tội. [X. kinh Tì Ni Mẫu Q.7; kinh Giải Thoát giới; luật Thập Tụng Q.19, Q.47; luật Ma-ha-tăng-kì Q.40; Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.trung phần 1]. (xt. Ngũ Thiên, Lục Tụ).
ba li
Pali (S) Language.
ba liên phất
Pataliputra (skt)—Nguyên thủy là thành Kusumapura, đế đô của vua A Dục, nơi mà cuộc kiết tập kinh điển lần thứ ba được tổ chức—Originally Kusumapura, the modern Patna; capital of Asoka, where the third synod was held.
Ba liên phất 巴連弗
[ja] ハレンフツ harenfutsu ||| Pāṭaliputra; see 波吒釐. =>(s: Pāṭaliputra); Xem Ba-tra-li 波吒釐.
ba loại ba la mật
Three kinds of Paramita ideals or methods of perfection: 1) Thế gian Ba La Mật: The Paramitas of people in general relating to this world. 2) Xuất thế gian Ba La Mật: Paramitas of Sravakas and Pratyeka-buddhas relating to the future life for themselves. 3) Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật: The Paramitas of the supreme one of bodhisattvas, relating to the future life for all.
ba loại cúng dường
Three modes of serving the Buddha: 1) Dâng hương, hoa, quả: Offerings of incense, flowers, and fruits. 2) Tỏ lòng tôn kính: Offerings of praise and reverence. 3) Hành trì tốt: Good (right) conduct.
ba loại khổ
(tam chủng khổ hay tam chủng sở sanh khổ): 1. Hội hiệp sở sanh khổ, do sự hội hợp các pháp với nhau mà sanh ra khổ; 2. Quai ly sở sanh khổ, do sự chống nghịch, chia lìa nhau của các pháp mà sanh ra khổ; 3. Bình đẳng tương tục [sở sanh] khổ, do sự sanh diệt nối nhau không dứt của các pháp sanh ra khổ. Luận Du-già quyển 14, tờ 3 cho rằng nói đến ba loại khổ này là bao trùm được hết mọi nỗi khổ của chúng sanh.
ba loại người có thể đi theo con đường đại thừa
Theo Kinh Thắng Man, có ba loại người có thể bước theo nẻo Đại Thừa—According to the Shrimaladevi-Sutra, three are three types of beings who can tread the path of the Mahayana: 1) Những người tự mình hiểu được trí năng sâu sắc: Those who realize the most profound wisdom or Prajna. 2) Những người hiểu được trí năng bằng cách nghe học thuyết: Those who realize wisdom through hearing the teaching. 3) Những người tuy không hiểu được trí năng cao nhất, nhưng có một niềm tin hoàn toàn vào Đấng Như Lai: Those who cannot realize supreme wisdom, but have devout faith in the Tathagata.
ba loại nhẫn nhục
Three kinds of patience or forebearance: 1) Thân nhẫn: The patience or forbearance of the body. 2) Khẩu nhẫn: The patience or forbearance of the mouth. 3) Tâm nhẫn: The patience or forbearance of the mind.
ba loại phiền não
(tam chủng phiền não): tức là ngã kiến (kiến chấp sai lầm về bản ngã), phi nhân kiến nhân (nhận thức sai lầm về nguyên nhân sự vật) và nghi võng (chất chứa, tồn tại nhiều sự nghi ngờ).
ba loại thanh tịnh của bồ tát
Three purities of a bodhisattva: 1) Thân thanh tịnh: A pure body. 2) Tướng thanh tịnh: Perfectly pure and adorned appearance. 3) Tâm thanh tịnh: A mind free of impurity.
ba loại thiền
l. Như tu ngũ-đình-tâm quán, tứ-niệm-xứ quán v.v...gọi là tiểu thừa thiền. 2. Như tu chỉ-quán, pháp-giới quán, duy-thức quán v.v... gọi là đại thừa thiền. 3. Tham công án thoại đầu mà phát khởi nghi tình, từ nghi đến ng chẳng có năng quán sở quán, gọi là Tổ Sư Thiền.
; Những pháp thiền nhằm đáp ứng ba loại căn cơ: 1. Như tu Ngũ đình tâm quán, Tứ niệm xứ quán.v.v… Gọi là Tiểu thừa thiền. 2. Như tu Chỉ quán, Pháp giới quán, Duy Thức quán… Gọi là Đại thừa thiền. 3. Tham công án thoại đầu mà phát khởi nghi tình từ nghi đến ngộ chẳng có năng quán sở quán. Gọi là Tổ Sư Thiền.
ba loại thiện căn
Three kinds of good roots: 1) Bố thí: Almsgiving. 2) Bi mẫn: Mercy. 3) Trí tuệ: Wisdom.
ba loại thịt trong sạch
(tam chủng tịnh nhục): 1. Thịt của con vật mà mắt người ăn chẳng nhìn thấy nó bị giết. 2. Thịt của con vật mà tai người ăn chẳng nghe biết nó bị giết. 3. Thịt của con vật mà người ăn hoàn toàn không biết là đã bị giết để cho mình ăn. Trong thời gian lập giáo, đức Phật có phương tiện cho phép sử dụng 3 loại thịt này như một sự hạn chế giết hại chúng sanh. Tuy nhiên, về sau ngài có dạy rõ là người Phật tử tu tập đức từ bi thì ngay cả những loại thịt này cũng không dùng đến.
ba loại tư tưởng xấu ác
(tam ác giác): Nguyên bản Hán văn dùng “ác giác” (惡覺). Sách Đại thừa nghĩa chương có lời giải thích rằng: “Tà tâm tư tưởng danh chi vi giác; vi chánh lý cố xưng vi ác.” (Tâm ý, tư tưởng tà vạy gọi là giác; trái nghịch lẽ chân chánh nên gọi là xấu ác.) Vì thế chúng tôi dịch là “tư tưởng xấu ác”. Ba loại tư tưởng xấu ác được đề cập ở đây là: dục giác, tức tư tưởng tham dục, sanh ra sự ham muốn; hai là sân giác, tức tư tưởng nóng giận, bực tức; ba là hại giác, tức tư tưởng muốn xâm hại kẻ khác. Đối với những việc hài lòng thích ý thì sanh lòng tham đắm nên có dục giác; đối với những việc không ưa thích, trái ý thì sanh ra bực tức, ghét giận nên có sân giác; đối với những kẻ làm trái ý mình thì sanh tâm muốn làm hại, nên có hại giác. Kinh Vô lượng thọ, quyển thượng, dạy rằng hết thảy phàm phu đều có đủ ba loại tư tưởng xấu ác này.
ba loại vô thường
(tam chủng vô thường): Một là niệm niệm hoại diệt vô thường, nghĩa là tất cả các pháp nối nhau sanh diệt trong từng niệm tưởng; hai là hòa hợp ly tán vô thường, nghĩa là tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, duyên hết thì tan rã, không có bản chất thật; ba là tất cánh vô thường, nghĩa là khi cứu xét đến chỗ rốt ráo thì tất cả các pháp đều là sanh diệt theo nhân duyên, liên tục thay đổi, không có gì là thường tồn.
ba lâu na
Vatya (skt) ???—Một trận cuồng phong—A pierce wind—Hurricane.
ba lâu sa ca
Parusaka (skt)—Một công viên trên cõi trời Đao Lợi—A park in the Trayastrimsas heaven.
ba lãng
Taranga (skt)—Lọn sóng—A wave—Waves.
ba lí dạ đát la quốc
(波理夜呾羅國) Ba-lí-dạ-đát-la, Phạm: Pàriyàtra, Pàripàtra, Pàryàtra. Tên một nước xưa tại trung Ấn Độ. Nằm về phía tây bắc nước Mạt-nâu-la. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 4 chép, thì nước này chu vi hơn ba nghìn dặm, đô thành rộng mười bảy, mười tám dặm, trồng lúa, ngô, khí hậu nóng bức, phong tục cứng cỏi, không chuộng văn học, nghệ thuật, tin theo ngoại đạo. Có tám ngôi chùa, nhưng đã hư hại nhiều, tăng đồ rất ít, học tập Tiểu thừa. Có mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo hơn nghìn người.
ba lí đảo
(巴裏島) (BALI ISLAND) Còn gọi là Bà-lị, Bà-lí. Nằm về phía đông đảo Trảo oa (Java), trong eo biển Ba- li. Trên đảo có rất nhiều đền chùa, cho nên gọi là Thiên Tự Đảo (The Island of the Thousand Temples, Đảo nghìn chùa). Là hòn đảo duy nhất trong quần đảo Ấn Độ-ni- tây-á (Indonesia) còn vẫn giữ được kiểu xã hội Ấn Độ. Tôn giáo có tính địa phương (tôn giáo Nguyên Thủy), Phật giáo (được truyền vào từ trước thế kỉ IX), phái Thấp-bà thuộc Ấn Độ giáo (được truyền vào khoảng thế kỉ XV), được dung hợp với nhau mà hình thành nền văn hóa kiểu mẫu Ấn Độ, vì thế, tôn giáo, kiến trúc, văn học và chế độ hồn nhiên là một thể, giữ lại sắc thái Ấn Độ rất sâu đậm. [X. Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng truyện; Tùy Thư Nam Man truyện; Goris: Bali, Religion and customs in Bali, Batavia, 1939; N. Sastri: South - Indian Influences in the Far East, Madras, 1949].
ba lý do hành giả niệm phật không nguyện vãng sanh về đâu suất thiên
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, có ba lý do khiến hành giả niệm Phật không nguyện vãng sanh về Đâu Suất Thiên—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, there are three reasons that practitioners do not vow to have rebirth in the Tushita Heaven. 1) Khó vãng sanh về Đâu Suất Thiên vì Bồ Tát Di Lặc không có nguyện tiếp dẫn như Đức Phật A Di Đà, nên chúng sanh phải tự nương vào sức của chính mình để thành tựu vãng sanh về đây: It is difficult to be reborn in the Tushita Heaven, as Maitreya Bodhisattva does not have the “welcoming and escorting Vow of Amitabha Buddha.” Sentient benigs must rely solely on their own self-power to achieve rebirth there. 2) Đâu Suất Thiên vẫn còn là một phần của cõi trời Dục Giới nên chúng sanh trong cõi nầy vẫn còn bị thối chuyển: Tushita Heaven is still part of the World of Desire, of which the Shaha World is an infinitesimal part, not outside of it as is the Western Pure Land. Thus sentient beings in the Tushita Heaven remain subject to retrogression. 3) Đâu Suất Thiên rất khó vãng sanh, như khi xưa 900 năm sau khi Phật nhập diệt, ở xứ Thiên Trúc có ba vị Bồ Tát huynh đệ với nhau là Vô Trước, Thế Thân và Sư Tử Giác, tu môn Nhật Quang Định đồng phát nguyện sanh về Đâu Suất nội viện. Ba người cùng ước hẹn, ai sanh lên trước phải trở xuống báo tin cho hay. Sau đó Sư Tử Giác mãn phần trước, trải qua ba năm tuyệt vô âm tín. Kế đó Ngài Thế Thân viên tịch rồi cũng bặt tin luôn. Ba năm sau đó vào một buổi chiều tối khi Ngài Vô Trước đang ngồi giảng kinh, bỗng thấy giữa hư không ánh sáng chói lòa, một vị thiên tử áo mão trang nghiêm hiện xuống, tự xưng mình là Thế Thân, bảo đã được sanh lên Đâu Suất nội viện. Ngài Vô Trước hỏi, “Tại sao đến bây giờ mới cho hay?” Thế Thân đáp: “Em vừa sanh lên được Đức Di Lặc xoa đảnh thuyết pháp, nghe pháp xong đi nhiễu ba vòng rồi xuống đây liền. Bởi thời gian tại Đâu Suất một ngày đêm, ở dưới nầy dến bốn trăm năm, nên thành ra làm cho anh nhọc lòng chờ đợi.” Vô Trước lại hỏi: “Còn Sư Tử Giác ở đâu?” Thế Thân đáp, “Trong khi em đi nhiễu, nhìn ra thấy Sư Tử Giác lạc vào ngoại viện, đang say mê theo thiên nhạc và ngũ dục, nên chẳng bao giờ diện kiến được Ngài Di Lặc. ”—It is difficult to achieve rebirth in the Tushita Heaven. It is said that some nine hundred years after Sakyamuni Buddha's demise, there were three Indian Patriarchs who cultivated together, Asanga, Vasubandhu, and Simhabhadra. These three all had the same determination in being born in the Tushita Heaven and in desiring to see Maitreya. They vow that if one were to die first, and obtain a look at Maitreya, he would return and inform the others. Simhabhadra died, but once he had gone he did not return. Later, when Vasubandhu was nearing his death, Asanga said to him, “If you see Maitreya, come and tell me.” Vasubandhu , but returned only after a period of three years. Asanga asked him, “Why did it take you such a long time to return?” Vasubandhu said that he had arrived there, in the Tushita Heaven, had heard the Maitreya Bodhisattva preach but one sermon, had circumambulated him… and had come back immediately; but days are long there in Tushita, and here on earth, three years had already elapsed. Asanga asked him again, “Where is Simhabhadra now?” Vasubandhu replied that because Simhabhadra had received such heavenly pleasures, he was enjoying the five desires, and so… from that time to the present he has never seen Maitreya!
ba lý do hành giả niệm phật không được nhứt tâm bất loạn
Three causes which practitioners of Buddha Recitation cannot achieve “one-pointedness of mind.”—Sao gọi là “Nhứt tâm bất loạn?” “Nhứt tâm” là duy có một tâm niệm Phật, không xen tạp niệm chi khác. “Bất loạn” là lòng không rối loạn duyên tưởng cảnh nào ngoài cảnh niệm Phật. Bậc thượng căn niệm Phật một ngày có thể được nhứt tâm, bậc trung căn hoặc ba bốn ngày có thể được nhứt tâm, còn bậc hạ căn phải đến bảy ngày. Cũng có ý nghĩa khác, bậc thượng căn trong bảy ngày hoàn toàn nhứt tâm, bậc trung căn chỉ nhứt tâm được ba bốn ngày, còn bậc hạ căn duy nhứt tâm được có một ngày. Nhưng tại sao Đức Thế Tôn ước hạn trong bảy ngày có thể được nhứt tâm, mà chúng ta nhiều kẻ niệm hai ba năm vẫn chưa được nhứt tâm? Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, có ba lý do khiến cho hành giả niệm Phật không được nhứt tâm—What does it mean to have “one-pointedness of mind?” It means to concentrate the mind on recitation without sundry thoughts. “One-pointedness” means the mind is devoid of all distractions, thinking about no other realm except the realm of Buddha Recitation. Individuals of high capacities may reach such a state in, perhaps, one day; those of moderate capacities in three or four days; those of limited capacities in seven days. There is still another point of view, individuals of high capacities, ideally, achieve one-pointedness of mind during the entire seven-day period; those of moderate capacities only do so for three or four days; while those of limited capacities may only do so for one day during the whole period of retreat. However, why did Sakyamuni Buddha estimate that we could achieve one-pointedness of mind within a week, when in fact, some of us may recite for two or three or even many years without ever reaching that state? According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, there are three causes which practitioners of Buddha Recitation cannot achieve “one-pointedness of mind.” 1) Về sự tướng, ta không y theo lời Phật dạy kiết kỳ tu hành, khi kiết thất lại tạp tu. Phải biết trong kỳ thất, muốn được nhứt tâm, nên chuyên giữ một câu niệm Phật, không được xen trì chú, tụng kinh hay tham thiền chi khác: From the viewpoint of “mark” or phenomena, we fail to follow Sakyamuni Buddha's admonition to conduct periodic retreats for cultivation. When we do so, we engage in several practices at the same time (sundry practices). We should realize that if we would like to achieve one-pointedness of mind, we should practice oral recitation exclusively during the retreat period, and not engage in Mantra or Sutra Recitation or meditation as well. 2) Trong bảy ngày chưa tránh được tạp duyên, dứt được tạp niệm, chuyên chú tu hành. Bởi có vị kiết thất, vì thiếu sự ngoại hộ, phải tự lo việc cơm nước, chưa yên lòng về các chuyện lặt vặt bên ngoài, cho đến chưa có tâm cầu sự tất chứng: There are various reasons why some practitioners canot avoid sundry conditions and thoughts or concentration on cultivation for seven days. These reasons range from lack of external support, i.e., the need to prepare their own meals and attend to other miscellaneous activities, to lack of earnestness. 3) Ba căn như đã nói, chỉ là ước lược. Chẳng hạn như trong thượng căn có thượng-thượng căn, thượng-trung căn, thượng-hạ căn; trung và hạ căn cũng thế, thành ra chín căn. Trong chín căn nếu chia chẻ ra hãy còn rất nhiều căn nữa. Lại nên biết lời Phật nói chỉ là khái lược. Thí dụ như nói bậc thượng căn chỉ nói bảy ngày không loạn, mà chẳng nói tám chín ngày. Thật ra bậc ấy, chẳng những tám chín ngày không loạn, mà cho đến suốt đời cũng có thể không loạn. Ngược lại, kẻ độn căn nghiệp chướng nặng nhiều, chẳng những bảy ngày không được nhứt tâm, mà có thể niệm suốt đời cũng chưa được nhứt tâm. Cho nên đối với tất cả kinh nghĩa phải khéo hiểu, không nên chấp văn hại lời, và chấp lời hại ý: The three capacities mentioned above are a rough estimation. For example, within the category of high capacity cultivators, we have “supremely high,” “moderately high,” and “low high” capacities. Moderate and limited capacities may likewise be subdivided. There are thus a total of nine categories, which may in turn be divided into many more categories. We should also realize that Sakyamuni Buddha's words are only generalities. For example, the sutras state that individuals of high capacities can achieve one-pointedness of mind for seven days, not eight or nine. In reality, these sages are not only undisturbed for eight or nine days, conceivably, their minds can remain empty and still during their entire lives. Conversely, those of limited capacities, weighed down bu heavy karmic obstructions, not only may fail to reach one-pointedness of mind after seven days, they may even recite during their whole lifetime without ever reaching that state. Thus we should interpret the words and meaning of the sutras flexibly, without being attached to the words and betraying the phrase, or grasping at the phrase and doing injustice to the meaning.
ba lý do hành giả niệm phật nguyện vãng sanh tây phương cực lạc
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, câu hỏi số 13, trong mười phương có vô số chư Phật, những chúng sanh hữu tâm đều có thể thân cận, chứ không riêng gì Đức Phật A Di Đà. Tuy nhiên, có ba lý do mà người tu nguyện vãng sanh về Tây Phương Cức Lạc—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Treatise on the Ten Doubts, question number 13, there are countless Buddhas in the ten directions. All right-minded sentient beings can approach and study with them, not necessarily Amitabha buddha alone. However, there are three reasons for reciting Amitabha Buddha: 1) Vì theo Kinh Vô Lượng Thọ thì trong nhiều kiếp tu nhân về trước, Đức Phật A Di Đà đã phát bốn mươi tám lời thệ nguyện rộng sâu. Tiêu biểu cho những lời nguyện nầy là lời nguyện thứ 18 và 11—Because according to the Longer Amitabha Sutra or the Infinite Life Sutra, in his previous lifetimes, Amitabha Buddha has made forty-eight profound, all-encompassing vows. The general tenor of these vows is best exemplified in the eighteenth and eleventh vows—See Tứ Thập Bát Nguyện (11) and (18). 2) Theo Tổ của tông Thiên Thai là ngài Trí Giả, nên niệm Phật cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc vì chúng sanh nơi cõi Ta Bà có nhân duyên với Đức Phật A Di Đà. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, rất nhiều chúng sanh nghe lời từ huấn của Ngài mà quy hướng về Đức Phật A Di Đà. Từ khi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn về sau nầy, không luận Tăng tục, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, kẻ đã nghe Chánh Pháp hay chưa biết gì về Phật giáo vẫn thường xưng niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Thế Tôn đã bảo: “'Trong đời tương lai, khi tam tạng giáo điển đã diệt hết, ta dùng nguyện lực từ bi, duy lưu kinh nầy trụ thế một trăm năm. Những chúng sanh nào có duyên được gặp, tùy ý mong cầu thảy đều đắc độ.' Đức Phật lại nói tiếp, 'Sau khi kinh nầy diệt rồi, Phật pháp hoàn toàn mất hẳn trong đời, chỉ còn lưu truyền lại bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh; kẻ nào không tin mà hủy báng, sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu đủ các sự khổ.'”—According to the founder of the T'ien-T'ai School, the Patriarch Chih-I, the reason why we should beg to be reborn in the Western Bliss is that sentient beings in this world have great affinities (causes and conditions) with Amitabha Buddha. When Sakyamuni Buddha was still alive, a great many sentient beings, listening to His compassionate teaching, directed their Minds toward Amitabha Buddha. Since Sakyamuni Buddha entered Nirvana, many Buddhists, whether clergy or layman, man or woman, rich or poor, upper or lower class, familiar with the Dharma or not, have recited the name of Amitabha Buddha. In the Longer Amitabha Sutra, Sakyamuni Buddha stated: “'The the days to come, the paths of the sutras will come to extinction. I, with compassion and mercy, will purposely make this sutra survive for a hundred years. Anybody who encounters this sutra will, according to his wish, surely attain enlightenment.' The Buddha added further, 'After this sutra is no longer existence, the Buddha Dharma will entirely disappear from the world. Only the words Amitabha-Buddha will remain to rescue sentient beings. Those who disbelieve this and vilify the Buddha's words will sink into the hells and endure all kinds of suffering.'” 3) Bởi vì giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong cõi Ta Bà và giáo thuyết của Đức Phật A Di Đà nơi Tây Phương Cực Lạc quan hệ với nhau. Cổ đức bảo: “Đức Phật Thích Ca thị hiện nơi cõi uế, đem các duyên nhơ ác, khổ não, vô thường, chướng nạn mà chiết phục chúng sanh, khiến cho họ sanh lòng nhàm chán mà tu theo Chánh Đạo. Đức Phật A Di Đà thì hiện thân nơi cõi Tịnh, dùng các duyên trong sạch, an vui, lâu dài, không thối chuyển mà nhiếp hóa loài hữu tình, khiến họ khởi tâm ưa mến mà trở lại nguồn chân. Hai vị Phật đã dùng hai môn 'Chiết' và 'Nhiếp' làm cho giáo pháp lưu hành, nên sự hóa độ có liên quan với nhau. Lại Đức Phật Thích Ca ngoài sự chỉ dạy ba thừa để giáo hóa chúng sanh, đặc biệt nói thêm môn niệm Phật để nhờ Đức A Di Đà tiếp dẫn những kẻ còn chưa được độ. Vì thế trong các kinh Đại Thừa, Đức Thế Tôn đã ân cần dặn bảo, luôn luôn khen ngợi và khuyến khích sự vãng sanh.”—Because the teachings of Sakyamuni Buddha in the saha World those of Amitabha Buddha in the West are interrelated. Ancients have said: “Sakyamuni Buddha manifests himself in the impure world and subdues sentient beings through such conditions as filth, suffering, impermanence and obstacles, creating in them a sense of abhorrence so that they wil follow the right path. Amitabha Buddha, on the other hand, manifests himself in the Pure Land, gathers sentient beings in through such conditions as purity, happiness, permanence and non-retrogressions, creating in them the desire to return to the source of truth. In this way, the two Buddhas employ the dual method of 'subduing' and 'gathering' in to propagate the correct Dharma. Their activities of teaching and transformation are thus related. Moreover, while preaching the Three Vehicles, Sakyamuni Buddha specially added the Pure Land method, so that, through the help of Amitabha Buddha, those sentient beings who were still left out could be rescued. Therefore, in Mahayana Sutras, Sakyamuni Buddha compassionately recommended and constantly extolled rebirth in the Pure Land.”
ba lý do ma sự phát sanh
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật cũng có ma sự vì bởi ba nguyên nhân sau đây—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, practicing Buddha Recitation also has the element of demonic obstructions, for the three reasons. 1) Không thông hiểu vững chắc về giáo lý: Not having a firm foundation and understanding of the Buddha's teachings. 2) Không gặp minh sư hay thiện hữu tri thức: Not encountering a good knowledgeable advisor or having virtuous friends. 3) Không biết tự xét lấy mình, đây là điểm quan yếu nhất trong ba điểm trên: Not knowing how to practice mental reflection of one's self, or lacking self-awareness. This is the most crucial point among the three (see Năm Điểm Phải Biết Tự Xét Lấy Mình Của Người Tu Tịnh Độ).
ba lý y đa la
Pariyatra (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vương quốc cổ, 800 dậm về phía tây nam của Satadru, trung tâm của các phái ngoại đạo. Bây giờ là thành phố Birat, phía tây của Mathura—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Pariyatra was an ancient kingdom, 800 miles south-west of Satadru, a center of heretical sects. The present city of Birat, west of Mathura.
Ba Lăng Hạo Giám
(巴陵顥鑑, Haryō Kōkan, ?-?): nhân vật sống vào đầu thời nhà Tống, vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, pháp từ của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃). Ông sống tại Tân Khai Tự (新開寺), Ba Lăng (巴陵, Nhạc Dương, Tỉnh Hồ Nam), Nhạc Châu (岳州). Do vì ông rất giỏi biện tài nên thông xưng là Ông Giám Miệng Lưỡi (鑑多口, Giám Đa Khẩu).
; 巴 陵 顥 鋻; C: bālíng hàojiàn; J: haryō kōkan; tk. 10;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Sử sách không lưu lại nhiều tài liệu về Sư, chỉ biết là Sư thường Hành cước, không lưu lại lâu dài nơi Vân Môn và cũng chưa được thầy ấn chứng nơi đây. Sau khi rời Vân Môn chu du, Sư chẳng gửi thư từ gì, chỉ dâng lên ba chuyển ngữ cho sư phụ, đó là 1. Thế nào là Ðạo? – »Người mắt sáng rơi giếng (明 眼 人 落 井)«; 2. Thế nào là Xuy mao kiếm (吹 毛 劍; là thanh kiếm cực bén, chỉ cần thổi sợi lông qua liền đứt)? – »Cành san hô chống đến trăng« (珊 瑚 枝 枝 撐 著 月); 3. Thế nào là tông Ðề-bà (Thánh Thiên)? – »Trong chén bạc đựng tuyết (銀 椀 裏 盛 雪).« Vân Môn đọc qua liền ấn chứng qua thư từ và hơn nữa, rất hài lòng với ba chuyển ngữ này, căn dặn môn đệ đến ngày kị chẳng cần làm gì, chỉ dâng ba chuyển ngữ này là đủ.|Khác với những câu trả lời ngắn gọn của Vân Môn (Nhất tự quan), Sư thường sử dụng văn vần để trả lời những câu hỏi của thiền khách. Vì vậy Sư cũng mang biệt hiệu »Giám đa khẩu.«
ba lăng hạo giám
Xem Ba Lăng Hảo Kiếm.
ba lăng hảo kiếm
Haryō Kōkan (J),, Baling Haojian (C), Pa-ling Hao-chien (C), Baling Haojian (C), Haryo Kokan (J)Ba Lăng Hạo Giám. (Vào thế kỷ thứ 10) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Vân Môn Văn Yển.
ba lăng nhăng
Undisciplned—Disordered—Unorganized.
ba lăng tam chuyển ngữ
(巴陵三轉語) Là tên công án trong Thiền tông. Còn gọi là Ba Lăng Tam Cú. Chỉ ba câu nói mà Thiền sư Hạo Giám ở Ba Lăng Nhạc Châu sử dụng để chỉ dạy học trò khiến họ chuyển mê khai ngộ. Tức ba câu: Chén bạc đựng đầy tuyết. Cành san hô chống đỡ mặt trăng, Gà lạnh nhảy lên khung cửi, vịt lạnh lội xuống nước. Nhân Thiên Nhãn Mục quyển 2 (Đại 48, 313 thượng), nói: Có vị tăng hỏi Ba Lăng: Thế nào là tông Đề-bà? Lăng đáp: Trong chén bạc đựng đầy tuyết. Hỏi: Thế nào là kiếm xuy mao? Lăng đáp: Cành san hô chống đỡ mặt trăng. Hỏi: Tổ ý, giáo ý, giống nhau hay khác nhau? Lăng trả lời: Gà lạnh nhảy lên khung cửi, vịt lạnh lội xuống nước. Khi Văn Yển ở núi Vân Môn nghe được ba câu nói ấy, cảm thấy quá hợp ý mình, bèn nói (Đại 48, 313 thượng): Ngày kia khi giỗ (kị) lão tăng, chỉ cần đưa ba câu chuyển ngữ ấy cúng dường lão tăng là đủ!.
ba lăng xuy mao kiếm
(巴陵吹毛劍) Tên công án trong Thiền tông. Còn gọi là Xuy Mao Kiếm. Là một trong ba chuyển ngữ của ngài Hạo Giám ở Ba Lăng. Bích Nham Lục Tắc 100 (Đại 48, 223 trung), nói: Vị tăng hỏi Ba Lăng: Thế nào là Xuy Mao Kiếm? Lăng đáp: Cành san hô chống đỡ mặt trăng. Xuy Mao Kiếm, chỉ lưỡi gươm sắc bén, sợi lông, sợi tóc đặt trên lưỡi gươm ấy thì chỉ cần thổi một cái rất nhẹ cũng có thể đứt làm hai đọan. Đứng về phương diện tâm tính mà nói, thì đó là dụ chi cái tác dụng của gươm trí Bát-nhã, lưỡi sắc bén sáng loáng của nó có thể chiếu phá muôn tượng, cắt đứt càn khôn. Câu trả lời của Ba Lăng hàm ý là, khi đã rửa sạch hết vô minh vọng niệm, thì tâm tính sáng rực, cũng như các cành san hô mỗi mỗi phản chiếu ánh trăng lồng lộng, tám mặt lung linh, hiển thị sức vận dụng tự như của ánh sáng và cảnh cùng mất cùng thu, ngụ ý là sự sự vật đều là xuy mao kiếm. Còn ý ngoài lời nói thì muốn nhắc người ta phải nhận cho ra cái tự tính Bát-nhã mà ai ai cũng sẵn có, ai ai cũng đầy đủ vậy.
ba lạt tư quốc
(波剌斯國) Ba Thích Tư, Phạm:Pàrasya. Còn gọi là Ba Tư quốc, Ba La Tất quốc. Là một nước lớn ở miền Tây Á Tế Á, tương đương với Ba Tư (Iraq) sau này. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 chép, thì nước này chu vi vài vạn dặm, Thủ đô là Tô Thích Tát Thảng Na, rất nhiều đền thờ trời, là những nơi tôn thờ của tín đồ ngoại đạo Đề Na Bạt. Có vài, ba ngôi chùa, tăng đồ vài trăm, học giáo pháp của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tiểu thừa. Trong chùa còn giữ bình bát của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nước này được sáng lập vào khoảng giữa thế kỉ VI trước Tây lịch, đã từng trải qua sự thống trị của đế quốc Á Lịch Sơn Đại, đế quốc La Mã và đế quốc Thành Cát Tư Hãn, lại chịu ảnh hưởng học thuật tôn giáo Ấn độ và văn hóa Trung quốc (Hán, Đường), nên văn hóa phát đạt khác thường, Ma Ni giáo, Cảnh giáo, Thiên giáo cũng từ đây truyền sang đông mà vào Trung Quốc. Ngoài ra, cứ theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 6 mục Bồ Đề Lưu Chi dịch kinh chép, thì ngài Bồ Đề Đạt Ma đã từng đến Lạc Dương, nhìn thấy ngôi đại tháp ở chùa Vĩnh Ninh mà phát kinh ngạc và trầm trồ khen ngợi không ngớt, chính là người nước này.
ba lật thấp phược
Parsva (skt)—Hiếp Tôn Giả (Worship of the Ribs)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Hiếp Tôn Giả (thời Đường bên Trung Quốc gọi Ngài Parsva là Hiếp Tôn Giả) là vị Tổ thứ mười của Ấn Độ, là thầy của Tổ Mã Minh, người đã thệ nguyện không nằm cho đến khi nào thấu triệt chơn lý trong Tam Tạng Kinh Điển. Trong ba năm, Ngài đã cắt đứt mọi dục vọng trong Dục giới, sắc giới, và Vô sắc giới, đạt được lục thông và Bát Ba La Mật. Ngài thị tịch khoảng năm 36 trước Tây Lịch—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Parsva was the tenth patriarch, the master of Avaghosa, previously a Brahman of Gandhara, who took a vow to not lie down until he had mastered the meaning of the Tripitaka, cut off all desire in the realms of sense, form, and non-form, and obtained the six supernatural powers and the eight paramitas. This he accomplished after three years. He died around 36 B.C.
Ba lậu hoặc
chỉ sự tham lam, sân hận và si mê. Xem Ba mũi tên độc.
ba lị
Pāli (P), Pāḷi (S), Pālibhāṣā (S).
ba lị, bạt lê ca
Bhalika (S). Name of person.
ba lỗi
Three faults.
ba lợi
Pari (skt). 1) Viên: Round—Round about. 2) Tròn đầy: Complete. 3) Đều khắp: All.
ba lợi bà sa
Parivasa (skt)—Biệt Trụ, tên của một hình phạt trong Luật Tạng. Kẻ phạm giới phải ở một mình một phòng riêng, không được ở cùng với các vị Tăng khác—Sent to a separate abode, isolation for improper conduct.
ba lợi ca la
See Ba Lợi Già La.
ba lợi chất đa la
Ba Lợi Chất La—Ba Nghi Chất Cấu—Ba Lợi Chất Đa La Câu Đà La—Ba Lợi Thụ. 1) Paricitra (skt)—Cây Hương Biến (từ cánh lá đến quả đều thơm) trên cõi trời Đao Lợi, tỏa ngát hương thơm cùng khắp cõi trời nầy: A tree in the Trayastrimsas heavens which fills the heavens with fragrance. 2) Parijata (skt)—Một loại san hô mọc trong vườn của vua Đế Thích, một trong năm loại cây trên cõi nước Cực Lạc (khi Phật còn tại thế, Ngài đã từng lên đây ngồi dưới gốc cây Ba Lợi Chất Đa La nầy mà thuyết pháp cho chư Thiên, người đầu tiên được ngài độ chính là mẹ của ngài là Hoàng Hậu Ma Da)—A tree in Indra's heaven, one of the five trees of the paradise, the coral tree.
ba lợi chất đa thụ
(波利質多樹) Ba-lị-chất-đa, Phạm: Pàrijàta hoặc Pàrijàtaka, Pàriyàtraka, Pàli: Pàricchattaka. Là tên cây trên cung trời Đao Lợi. Còn gọi là Ba-li-da-đát-la-câu-đà-la-thụ, Ba-lị-da- đa-thụ, Ba-lị-chất-đa-la-thụ, Bà-lị-xà-đa-ca-thụ, Bà-nghi-chất-cấu-thụ, Bà-lị-da-đát-la-câu-đà-la-thụ, Bà-lị-da-đát-la-câu-tì-đà-la-thụ. Dịch ý là Viên sinh thụ, Trú độ thụ, Hương biến thụ. Vì nó là vua trong các cây nên còn gọi là Thiên thụ vương. Thuộc loài đậu, tên khoa học là Erythrina indica, lá dáng như lông chim, cánh hoa dài và mầu đỏ thẫm, hình giống san hô, nên có tên là cây san hô (coral tree). Cây này ở góc đông bắc thành Thiện Kiến trên cung trời Đao Lợi, nằm ở khoảng giữa vườn tạp loạn và vườn hoan hỉ, chu vi bảy do tuần, cao một trăm do tuần, cành lá trải ra bốn phía tới năm mươi do tuần, thân cây cành lá hoa quả đều toát ra mùi thơm, lan tỏa khắp cung trời Đao Lợi, vì thế gọi là Hương biến thụ. Cây này có thần tên là Mạn-đà, thường ca hát để tự vui, thành ra cây ấy là nơi vui chơi của cõi trời Ba mươi ba. [X. kinh Trường A Hàm Q.20 phẩm Đao Lợi Thiên; kinh Đại Lâu Thán Q.1; kinh Khởi Thế Nhân Bản Q.7; kinh Pháp Hoa Q.6 phẩm Pháp Sư Công Đức; luận Câu Xá Q.11; Tuệ Lâm Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa Q.25].
ba lợi già la
Parikara (skt)—Ba Già La. 1) Một thứ khăn tắm—An auxiliary garment, loin cloth, towel. 2) Chiếc áo bảo vệ thân thể: A body-guarding shirt.
ba lợi luật tạng
(巴利律藏) Pàli: Vinaya-piỉaka. Là tạng Luật do Phân Biệt Thượng tọa bộ của Tích Lan truyền, được viết bằng tiếng Pàli, là một trong ba tạng Pàli. Những qui tắc liên quan đến giới luật do đức Phật chế định được thuật lại trong kì kết tập kinh điển lần thứ nhất, gọi là Luật (Pàli: Vinaya). Sau, Giáo đoàn Phật giáo Nguyên Thủy phát triển, đem chỉnh lí thêm mà thành là tạng Luật. Tạng, hàm ý là chứa đựng, là tổ chức luật, dùng tổ chức ấy để biểu thị nội dung của luật. Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm, Giáo đoàn Nguyên Thủy chia thành hai bộ Thượng tọa và Đại chúng, thì luật Pàli thuộc về Thượng tọa bộ(Pàli: Theravàda), bộ này còn gọi là Phân- biệt-thuyết-bộ (Pàli: Vibhajjavàdin). Vào thời đại vua A-dục, thế kỉ thứ III trước Tây lịch, Thái tử Ma-hi-đà (Pàli: Mahinda), mang luật này truyền đến Tích Lan. Trong Phật giáo bộ phái, tuy các phái đều có truyền trì tạng Luật riêng, nhưng trong các tạng luật hiện còn đến ngày nay, thì luật Pàlitương đối còn giữ được hình thức cổ xưa hơn cả. Nội dung của tạng LuậtPàli được chia làm ba bộ phận là: - Kinh Phân Biệt (Pàli: Suttavibhaíga). -Kiền-độ (Pàli: Khandhaka). - Phụ lục (Pàli: Parivàra). Kinh Phân Biệt là trọng tâm của tạng Luật, thuyết minh giới bản (tạng Luật gọi văn giới luật là kinh, kinh thu chép các giới điều là Giới kinh); những lí do thành lập các giới điều, sự giải thích các câu văn và những thực lệ vận dụng văn chữ, thì có hai loại là Đại-phân- biệt (Pàli: Mahàvibhaíga) và Tỉ-khưu-ni-phân-biệt (Pàli: Bhikkhunì-vibhaíga); loại trước nói về 227 (luật Tứ Phần có 250) giới Tỉ-khưu, loại sau thì nói về 311 giới Tỉ- khưu-ni. Bộ phận Kiền độ nêu rõ các qui định về việc xử lí những vấn đề trong Tăng-già, chia làm Đại-phẩm (Pàli: Mahàvagga) và Tiểu-phẩm(Pàli: Cullavagga); Đại-phẩm gồm mười Kiền độ, Tiểu phẩm có mười hai Kiền độ. Bộ phận Phụ lục thứ ba thì thuyết minh bổ sung cho hai bộ phận trên, lại liệt kê những điều cương yếu của hai bộ phận trên, và phân loại, trích yếu những sự kiện có liên quan đến tạng Luật, tổng cộng có mười chín chương. Kinh Phân Biệt là Kiền độ trong tạng Luật Pàli, tương đương với luật Ngũ phần, luật Tứ Phần và luật Thập Tụng trong Hán dịch, trong đó, tuy có các chi tiết khác nhau, nhưng phần đại cương thì vẫn nhất trí. Còn phần Phụ lục trong tạng Luật Pàli, nếu so với Tì Ni Tăng Nhất trong luật Tứ Phần quyển 55 trở xuống, Tăng Nhất Pháp trong luật Thập Tụng quyển 40 trở đi, Ưu-ba-li vấn pháp v.v... thì hai tổ chức khác nhau rất lớn. Thông thường, các học giả cho rằng, người biên soạn bộ phận Phụ lục, Đế-phạ (Pàli: Dìpa), có thể là một Tỉ-khưu người Tích Lan, và niên đại biên soạn cũng mãi về sau này. Luật Pàli hiện thịnh hành tại các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên; trước nay có rất nhiều sách chú thích, nổi tiếng nhất trong số đó là Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa của Phật Âm. Tạng Luật Pàli hiện nay, ngoài nguyên bản tiếng Pàli ra, còn có các bản dịch bằng tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Đức (bộ phận) và tiếng Ấn Độ, song cho đến nay, vẫn chưa có bản dịch tiếng Tây Tạng và tiếng Hán [X. B. C. Law: A History ofPàli Literature; S. Dutt: Early Buddhist Monachism].
ba lợi ngữ
(巴利語) Pàli: Pàli-bhàsà. Là ngôn ngữ được dùng trong các Thánh điển và chú sớ của Phật giáo phương nam. Thuộc ngữ hệ Ấn - Âu, một thứ tiếng địa phương (Phạm: Pràkrit) thời kì đầu trong ngôn ngữ Á-lợi-an - Ấn Độ. Ba-lị là dịch âm của chữ Pàli hoặc pàơi, paơi, dịch ý là tuyến (giây, chỉ), qui phạm (khuôn, thước) chuyển dụng thành ý Thánh điển. Trong luận Thanh Tịnh Đạo văn Pàli (Visuddhimagga), ở phần chú thích(Pàli: Aỉỉhakathà), gọi căn bản Thánh điển là Pàli. Thời cận đại mới gọi ngôn ngữ được dùng trong ba tạng và sách chú thích tại Tích lan là Pàli ngữ. Tổng số chữ cái gồm có bốn mươi (có thuyết nói là ba mươi chín), có tám mẫu âm(a, à, i, ì, u, ù, e, o), ba mươi hai phụ âm (k, kh, g, gh, í, c, ch, j, jh, ĩ, ỉ, ỉh, đ, đh, ị, t, th, d, dh, n, p, ph, b, bh, m, y, r, l, v, s, h, lê. có thuyết cho là ba mươi mốt), còn có riêng một chấm không (ô). Cách phát âm và văn pháp Pàli đơn giản hơn tiếng Phạm, cách viết cũng không nhất định, là vi viết theo cách viết của các nước phương nam; nhờ có ba tạng tiếng Pàli mà Thánh điển của Phật giáo Nguyên Thủy được lưu truyền. Bộ phận chủ yếu trong tiếng Pàli được hình thành ở khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch. Có thuyết cho nơi phát sinh ra tiếng Pàli là nước Ma-yết-đà (Phạm: Magadha) và nước Ô-xà- diễn-na (Phạm: Ujjayanì), nhiều thuyết phân vân, hoặc có thuyết cho là ngôn ngữ Thánh điển mà, sau đức Thế Tôn nhập diệt, Giáo đoàn Phật giáo sử dụng khi dần dần truyền bá giáo pháp về phía tây. Nhà học giả người Đức là Cái-cách-nhĩ (W. Geiger) cho rằng, tiếng Pàli có bốn giai đoạn phát triển, tức ngôn ngữ của các bài kệ tụng trong các kinh, ngôn ngữ văn xuôi trong kinh điển, ngôn ngữ văn xuôi mới của các sách vở ngoài tạng, và ngôn ngữ thơ mới. Năm 1833 Tây lịch, Ngô-lung (E. Upham) đã dịch Đại-thống-sử (Pàli: Mahàvaôsa) được viết bằng thổ ngữ Tích Lan ra tiếng Anh, đồng thời, ấn hành tác phẩm của ông, nhan đề Tích Lan Thần Thánh đích cập lịch sử đích tác phẩm (The sacred and historical works of Ceylon, Những trứ tác lịch sử và tôn giáo của Tích Lan), đã mở ra một phong trào nghiên cứu tiếng Pàli. Năm 1855, Hào Tư Bối Nhĩ (V. Fausbôll) hiệu đính và xuất bản kinh Pháp Cú (Pàli: Dhammapada) là ấn phẩm tiên khu của Thánh điển Pàli. Về sau, các học giả Âu Châu, Tích Lan, Nhật Bản làm các việc hiệu đính, phiên dịch nguyên điển cũng nhiều. Các sách về văn pháp thì có: Pa-li Văn Pháp Trích Yếu (Compendious Pàli Grammar, 1824) của Khố La (B. Clough), Xúc tiến khẳng đặc châu chỉ Pàli ngữ (Beitrage Zur Kentnis der Pàli- Sprache, 1867 - 1868) của Mục Lặc (Fr.Mþller), Pàli ngữ văn điển của Lập Hoa Tuấn Đạo, Pàli ngữ văn pháp của Thuỷ Dã Hoằng Nguyên, Độc tập Pàli ngữ văn pháp của Trường Tỉnh Chân Cầm v.v... Về phần Tự điển thì có: Pàli ngữ tự điển của Cơ Lỗ Đạt Tư (R. C. Childers: Dictionary of thePàliLanguage, 1875),Pàli - Anh văn từ điển (Pàli- English Dictionary, 1921 - 1925) của Đại Vệ Tư (Rhys Davids) và Sử đại đức (W. Stede), Pàli ngữ từ điển của Thủy Dã Hoằng Nguyên v.v... [X. Âu Mễ Đích Phật giáo; Căn Bản Phật điển đích nghiên cứu].
ba lợi nặc phược nam
Parinirvana (skt)—See Niết Bàn in Vietnamese-English Section, Nirvana and Parinirvana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ba lợi phật giáo
(巴利佛教) Chi Phật giáo Nam Truyền. Vua A-dục ở Ấn Độ, sai các nhà truyền đạo đi các nước để hoằng truyền chính pháp, đầu tiên, hoằng dương Phân biệt Thượng tọa bộ tại Tích Lan, rồi về sau, lần lượt truyền đến các nước Miến Điện, Xiêm-la, Trảo-oa và các bán đảo phía đông nam, trong hệ thống Phật giáo, gọi là Phật giáo phương nam. Hệ thống này dùng tiếng Pàli làm ngữ văn truyền trì ba tạng, cho nên còn được gọi là Phật giáo Pàli. (xt. Nam Truyền Phật Giáo).
ba lợi thánh điển hiệp hội
(巴利聖典協會) (The Pàli Text Society, viết tắt là P.T.S.) Được thành lập vào năm 1881, là cơ quan chuyên môn ấn hành xuất bản kinh điển Pàli của Phật giáo nam truyền và các trứ tác nghiên cứu có liên hệ. Do nhà học giả Phật giáo người Anh là Đại Vệ Tư (T. W. Rhys Davids, 1843 - 1922) sáng lập tại Luân Đôn, mục đích chủ yếu là hiệu đính xuất bản nguyên điển Pàli và các bản dịch ba tạng Pàli ra tiếng Anh. Ngoài ông Đại Vệ Tư phụ trách làm chủ sự ra, kế tiếp thay ông, có bà Đại Vệ Tư (Mrs. Rhys Davids, 1922 - 1942), Bác sĩ La Tư (W. H. D. Rose, 1942 - 1950), Bác sĩ Sử Đại Đức (William Stede, 1950 - 1958), Nữ sĩ Hà Na (I. B. Horner, 1959) v.v... Hơn một trăm năm qua, thành quả xuất bản ba tạng Pàli và các nguyên điển ngoài tạng, cùng với các bản dịch Anh văn rất là rực rỡ. Hiệp hội được các học giả Đông Tây duy trì và các nơi giúp tài chính, như vua Thái Lan là Lạp Ma đệ ngũ (Rama V), các doanh nghiệp Tam Tỉnh, Bản tùng của Nhật Bản đã giúp kinh phí to lớn. Các trứ tác do Hiệp hội ấn hành cực phong phú, như: 1.Pàli Thánh điển hiệp hội học báo (Journal of thePàliText Society, 1882). 2. Ba la đề mộc xoa (Pàli: Pàtimokkha). 3. Đại phẩm (Pàli: Mahàvagga).4. Tiểu phẩm (Pàli: Cullavagga), ba bộ sách trên đây do Đại Vệ Tư và nhà học giả người Đức là Áo Đăng Bách Cách (H. Oldenberg, 1854 - 1920) cùng dịch. 5. Di Lan Đà vấn kinh (Pàli: Milindapaĩha, 1894), do Đại Vệ Tư dịch.6. Phật giáo (Buddhism, 1896), do Đại Vệ Tư trước tác. 7. Trường bộ Ni ka da (Pàli: Dìghanikàya, 1899), quyển 1, do Đại Vệ Tư dịch. 8. Pháp tụ luận (Pàli: Dhammasaígani, 1909) do bà Đại Vệ Tư dịch. 9.Pàli - Anh văn từ điển (Pàli - English Dictionary, 1925), do Đại Vệ Tư và Sử Đại Đức soạn chung. 10. Ngũ bộ Ni ka da, năm 1930 in trọn bộ, về sau tiếp tục xuất bản các chú thích. (Pàli: Aỉỉhakathà).11. Luật tạng toàn quyển (1952), do Hà Na dịch. 12. Pàli tam tạng sách dẫn (Pàli: Pàli Tipìỉakaô Concordance. 1956). 13.Pàli ngữ chuyên hữu danh từ từ điển (Dictionary of Pàli Proper Names, 1960) bản in ảnh.
ba mê la xuyên
(波謎羅川) Phạm : Pamìra. Vùng đất nằm giữa dãy núi Thông Lĩnh, tương đương với nơi mà các nhà địa lí học ngày nay cho là thuộc cao nguyên Pamir. Đại đường tây vực kí quyển 12 ghi rằng, vùng đất ấy chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, nằm kẹt giữa hai dãy núi tuyết, cho nên khí hậu cực lạnh, hoàn toàn hoang vắng, tuyệt không có dấu vết của loài người. Cũng trong quyển 12 sách đã dẫn, mục Thương di quốc (Đại 51, 941 trung), nói: Trong Ba mê la xuyên, có ao rồng lớn (...) nằm kẹt giữa dãy đại Thông lĩnh trong châu Thiệm Bộ, địa thế cao nhất (...). Phía tây ao có dòng sông lớn chảy về tây đến biên giới phía đông đế quốc Đạt Ma Tất Thiết, rồi hòa vào sông Phọc Sô mà tiếp tục chảy về tây, cho nên từ đây về phía hữu, nước đều chảy về tây. Phía đông ao cũng có dòng sông lớn, chảy theo hướng đông bắc đến biên giới phía tây nước Khư Sa, rồi hòa vào sông Sí Đa mà chảy về đông, cho nên từ đây về phía tả, nước đều chảy về đông. Sự tường thuật trên đây là nói về cao nguyên Pamir nhỏ ở phía nam, thế nhưng, vì phạm vi hơi rộng, nên không được phù hợp lắm với địa hình ngày nay. Ao rồng lớn lúc ấy là Chi Hồ Tái Lợi Khố Nhĩ (Sirikul) ngày nay. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5].
Ba môn giải thoát
(Tam giải thoát môn), Phạn ngữ là Vimokṣa, là ba phép quán tưởng, thiền định giúp người tu tập đạt đến sự giải thoát. 1. Không (Phạn ngữ là: nyat) là nhận biết ngã và pháp đều trống không, 2. Vô tướng (Phạn ngữ là: nimitta) là nhận biết hết thảy các pháp đều bình đẳng, vô tướng, 3. Vô nguyện (Phạn ngữ là: apraṇihita), cũng gọi là Vô tác, là nhận biết sanh tử là khổ, dứt hết mọi ham muốn, có thể đạt đến Niết-bàn.
Ba môn học
S: triśikṣā; P: tisso-sikkhā; Hán Việt: Tam học (三 學);|Chỉ ba môn học của người theo đạo Phật: 1. Giới học (s: adhiśīla-śikṣā); 2. Ðịnh học (s: adhicitta-śikṣā) và 3. Huệ học (s: adhipra-jñā-śikṣā), cả ba thường được gọi chung là Giới, Ðịnh (hoặc Thiền), Huệ (Bát-nhã).|Giới (s: śīla; p: sīla) được hiểu chung là tránh các nghiệp. Ðịnh (samādhi) là sự chú tâm, sự tỉnh giác trong mọi hành động và Huệ (s: prajñā; p: paññā) là sự phát triển tâm Bát-nhã để ngộ được những sự thật cao nhất. Ba phép tu hành này phụ thuộc chặt chẽ với nhau, nếu hành giả chỉ tập trung vào một nhánh thì không thể đạt Giải thoát.
Ba mũi tên độc
(Tam độc tiễn): Ba sự độc hại, được xem như ba mũi tên độc giết hại cả thân tâm chúng sanh, chỉ cho các tâm niệm tham lam, sân hận và si mê. Cũng thường gọi là Ba độc (Tam độc), Ba lậu hoặc.
Ba mươi bảy pháp trợ đạo
(Tam thập thất trợ đạo chi pháp): cũng gọi là Ba mươi bảy phẩm đạo (Tam thập thất đạo phẩm), Ba mươi bảy phần Bồ-đề (Tam thập thất Bồ-đề phần), Ba mươi bảy phần giác ngộ (Tam thập thất giác phần). Ba mươi bảy pháp này gồm có: Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm sức, Bảy phần giác và Tám thánh đạo. Xem giải thích ở các mục này.
Ba mươi bảy phần Bồ-đề
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
Ba mươi bảy phần giác ngộ
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
ba mươi bảy phẩm trợ
đạo Thirty-seven Limbs of Enlightenment, Bodhi-paksika dharma (S).Tam thập thất giác chi.Tức là: 1- Tứ Niệm Xứ (quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã), 2- Tứ Chánh Cần (ác đã sanh nên dứt, ác chưa sanh không cho sanh, thiện chưa sanh nên sanh, thiện đã sanh khiến cho tăng trưởng), 3- Tứ Thần Túc (dục thần túc là thỏa nguyện, cần thần túc là tinh tấn, tâm thần túc là chánh niệm, quán thần túc là bất loạn), 4- Ngũ Căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn. Do năm pháp căn bản này sanh ra thánh đạo, nên gọi là ngũ căn), 5- Ngũ Lực (là lực xuất phát từ ngũ căn trên), 6- Thất Bồ Đề Phần cũng gọi là Thất Giác Phần hay là Thất Giác Chi (l. Chọn pháp, 2.tinh tấn, 3. hỷ, 4. khinh an, 5. niệm, 7. định, 7. xả), [xả là tâm quân bình, bình thản, không bị chi phối do bất cứ yếu tố nào, dù ni tâm hay ngoại cảnh] 8- Bát Chánh Đạo Phần (l. chánh kiến, 2. chánh tư duy, 3. chánh ngữ, 4. chánh nghiệp, 5. chánh mạng, 6. chánh tinh tấn, 7. chánh niệm, 8. chánh định). Ba mươi bảy phẩm này để trợ giúp cho người tu Phật giáo Nguyên thủy, nên gọi là trợ đạo.
ba mươi bảy phẩm trợ đạo
Ba mươi bảy phẩm trợ giúp cho người tu đạo Tiểu thừa. Tức là TỨ NIỆM XỨ (quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã), TỨ CHÁNH CẦN (ác đã sanh nên dứt, ác chưa sanh không cho sanh, thiện chưa sanh nên sanh, thiện đã sanh khiến cho tăng trưởng), TỨ THẦN TÚC (dục thần túc là thỏa nguyện, cần thần túc là tinh tấn, tâm thần túc là chánh niệm, quán thần túc là bất loạn), NGŨ CĂN (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn). Do năm pháp căn bản này sanh ra Thánh đạo, nên gọi là ngũ căn, NGŨ LỰC (là lực phát xuất từ ngũ căn trên), THẤT BỒ ĐỀ PHẦN (1. chọn pháp, 2. tinh tấn, 3. hỷ, 4. khinh an, 5. niệm, 6. tịnh, 7. xả), BÁT CHÁNH ĐẠO (1. chánh kiến, 2. chánh tư duy, 3. chánh ngữ, 4. chánh nghiệp, 5. chánh mạng, 6. chánh tinh tấn, 7. chánh niệm, 8. chánh định).
; Ba mươi bảy phẩm dẫn tới giác ngộ và quả vị Phật—Thirty seven conditions leading to bodhi or Buddhahood (see Thirty Seven Aids to Enlightenment): a) Tứ niệm xứ: Smrtyupasthana (skt)—The four subjects to be contemplated. - Bốn đối tượng quán chiếu hay bốn cơ sở chánh niệm: Four stages of memory or four subjects of reflection. - Tứ niệm xứ là giáo lý căn bản trong phần Đạo đế, nó liên quan mật thiết với ngũ uẩn, cũng như cho chúng ta thấy sự thật về Thân, Thọ, Tâm, và Pháp: Four foundations of mindfulness are related to the five skandhas as well as to our body, feeling, mind, and dharma. - See Tứ Niệm Xứ. b) Tứ chánh cần: Samyakprahana—Bốn cố gắng đúng hay bốn cố gắng toàn hảo—Four proper lines of exertion—Four perfect efforts—See Tứ Chánh Cần. c) Tứ như ý túc: Rddhipada—Bốn bước tiến đến thần lực—Four steps towards supernatural power—Four roads to power—Four bases of miraculous powers—See Tứ Như Ý Túc. d) Ngũ căn: Panca-indriyani—Five spiritual faculties (five good roots). e) Ngũ lực: Panca-balani—The power of five faculties—Five strengths—See Ngũ Căn. f) Thất bồ đề phần (Thất giác chi): Sapta-bodhyanga—Bảy yếu tố giác ngộ—Seven degrees (factors) of enlightenment or intelligence—See Thất Bồ Đề Phần. g) Bát chánh đạo: Asta-marga—The eightfold noble path—See Bát Chánh Đạo. *** For more information, please see Thirty-seven Aids to Enlightenment.
Ba mươi bảy phẩm đạo
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
Ba mươi hai tướng tốt
S: dvatriṃśadvara-lakṣaṇa; Hán Việt: Tam thập nhị hảo tướng (三 十 二 好 相);|Ba mươi hai tướng tốt của một Chuyển luân vương (s: cakravartī-rāja), nhất là của một vị Phật. Ngoài ba mươi hai tướng tốt đó, người ta còn kể 80 vẻ đẹp khác.|Ba mươi hai tướng tốt là: lòng bàn chân bằng phẳng, bàn chân có bánh xe ngàn cánh, ngón tay thon dài, gót chân rộng, ngón tay ngón chân cong lại, tay chân mềm mại, sống chân cong lên, thân người như con sơn dương, tay dài quá gối, nam căn ẩn kín, thân thể mạnh mẽ, thân thể nhiều lông, lông tóc hình xoáy, thân thể vàng rực, thân phát ánh sáng, da mềm, tay vai và đầu tròn, hai nách đầy đặn, thân người như sư tử, thân thẳng, vai mạnh mẽ, bốn mươi răng, răng đều đặn, răng trắng, hàm như sư tử, nước miếng có chất thơm ngon, lưỡi rộng, giọng nói như Phạm thiên, mắt xanh trong, lông mi như bị rừng, lông xoáy giữa hai chân mày (bạch hào), chóp nổi cao trên đỉnh đầu.|Một số tướng tốt nói trên được đặc biệt chú ý trong tranh tượng – nhất là hào quang, một dấu hiệu rõ rệt của thánh nhân theo quan điểm Ấn Ðộ, không bao giờ thiếu trong các tượng Phật. Có lúc hào quang được vẽ như vòng lửa xuất phát từ đầu đến vai. Tướng lông xoáy giữa hai chân mày tượng trưng cho Trí huệ có khi được trình bày như một chấm vàng, hay được thay thế bằng ngọc quý. Tướng chóp nổi cao ở đỉnh đầu (肉 髻; nhục kế, s: uṣṇīṣa) được trình bày mỗi nơi mỗi khác, tại Ấn Ðộ và Trung Quốc hình bán cầu, tại Cam-pu-chia hình nón và tại Thái Lan hình nhọn đầu hay có dạng một ngọn lửa.|Xem thêm chi tiết ở mục Tam thập nhị tướng (三 十 二 相).
ba mươi hai tướng tốt
(tam thập nhị tướng): chư Phật thị hiện hóa thân đều có đủ ba mươi hai tướng tốt mà chúng sanh không ai có được, trừ vị Chuyển luân Thánh vương. Phạn ngữ gọi chung 32 tướng tốt này là dvtriṃśan mah-puruṣa-lakṣaṇni. Sự giảng giải 32 tướng trong kinh này so với được ghi trong Phật Quang đại từ điển có hai khác biệt nhỏ. Có 2 tướng không thấy nói đến trong Phật Quang là “giọng nói êm dịu thanh tao” và “lông trên mình hướng về bên phải”. Về tướng thứ nhất, có lẽ trùng lặp với tướng “Phạm âm thanh”, vì trong các tính chất của Phạm âm đã có tính chất này. Về tướng thứ hai “lông trên mình hướng về bên phải” không hợp với tướng “lông trên người mọc thẳng đứng”. Thay vào hai tướng này, trong Phật Quang có ghi thêm hai tướng mà ở đây không thấy nói: một là tướng lông thân đầy đủ, mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông. Tướng này gọi là Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng, 一一孔一毛生相Phạn ngữ: ekaika-roma-pradakṣiṇvarta; và hai là con mắt to tròn giống mắt trâu chúa, gọi là Ngưu nhãn tiệp tướng, 牛眼睫相, Phạn ngữ: go-pakṣm. Phần liệt kê này của Phật Quang được căn cứ vào Tam thập thị tướng kinh trong Trung A-hàm (quyển 11), Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa kinh (quyển 381), Bồ Tát thiện giới kinh (quyển 9), Quá khứ hiện tại nhân quả kinh (quyển 1) và Du-già-sư-địa luận (quyển 49). Để tiện tham khảo, chúng tôi xin liệt kê ở đây phần trình bày chi tiết về 32 tướng tốt này: 1. Lòng bàn chân phẳng (Túc hạ an bình lập tướng, 足下安平立相Sanskrit: supratiṣṭhita-pda). 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (Túc hạ nhị luân tướng, 足下二輪相Sanskrit: cakrṅkita-hasta-pda-tala). 3. Ngón tay thon dài (Trường chỉ tướng, 長指相Sanskrit: dỵrghṅguli). 4. Bàn chân thon (Túc cân phu trường tướng, 足跟趺長相Sanskrit: yata-pda-prṣṇi). 5. Ngón tay ngón chân cong lại, giữa các ngón tay và có ngón chân đều có màng mỏng nối lại như chim nhạn chúa (Thủ túc chỉ man võng tướng, 手足指 縵網相Sanskrit: jlvanaddha-hasta-pda), cũng gọi là Chỉ gian nhạn vương tướng. 指間雁王相6. Tay chân mềm mại (Thủ túc nhu nhuyễn tướng手足柔軟相, Sanskrit: mṛdu-taruṇa-hasta-pda-tala). 7. Sống (mu) bàn chân cong lên (Túc phu cao mãn tướng, 足趺高滿相Sanskrit: ucchaṅkha-pda). 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (Y-ni-diên-đoán tướng, 伊泥延踹相Sanskrit: aiṇeya-jaṅgha). 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (Chánh lập thủ ma tất tướng, 正立手摩膝相Sanskrit: sthitnavanata-pralamba-bhut). 10. Nam căn ẩn kín (Âm tàng tướng, 陰藏相Sanskrit: kośopagata-vasti-guhya). 11. Giang tay ra rộng dài bằng thân mình (Thân quảng trường đẳng tướng, 身廣長等相Sanskrit: nyagrodha-parimaṇḍala). 12. Lông mọc đứng thẳng (Mao thượng hướng tướng, 毛上向相, Sanskrit: rdhvaṃga-roma) 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng, 一一孔一毛生相, Sanskrit: ekaika-roma-pradakṣiṇvarta). 14. Thân có màu vàng rực (Kim sắc tướng, 金色相Sanskrit: suvarṇa-varṇa). 15. Thân phát sáng (Đại quang tướng, 大光相cũng gọi là Thường quang nhất tầm tướng, 常光一尋相Viên quang nhất tầm tướng圓光一尋相). 16. Da mềm mại (Tế bạc bì tướng細薄皮相, Sanskrit: skṣma-suvarṇa-cchavi). 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (Thất xứ long mãn tướng, 七處隆滿相Sanskrit: sapta-utsada). 18. Hai nách đầy đặn (Lưỡng dịch hạ long mãn tướng, 兩腋下隆滿相Sanskrit: citntarṃsa). 19. Thân hình như sư tử (Thượng thân như sư tử tướng, 上身如獅子相Sanskrit: siṃha-prvrdha-kya). 20. Thân hình thẳng đứng (Đại trực thân tướng, 大直身相Sanskrit: ṛjugtrat). 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (Kiên viên hảo tướng, 肩圓好相susaṃvṛta-skandha). 22. Bốn mươi cái răng (Tứ thập xỉ tướng四十齒相 , Sanskrit: catv-riṃśad-danta). 23. Răng đều đặn (Xỉ tề tướng, 齒齊相Sanskrit: sama-danta). 24. Răng trắng (Nha bạch tướng, 牙白相Sanskrit: suśukla-danta). 25. Hàm như sư tử (Sư tử giáp tướng獅子頰相, Sanskrit: siṃha-hanu). 26. Nước miếng có chất thơm, bất cứ món ăn nào khi vào miệng cũng thành món ngon nhất (Vị trung đắc thượng vị tướng, 味中得上味相Sanskrit: rasa-rasgrat). 27. Lưỡi rộng dài (Đại thiệt tướng大舌相hay Quảng trường thiệt tướng (廣長舌相), Sanskrit: prabhta-tanu-jihva). 28. Tiếng nói tao nhã như âm thanh của Phạm thiên (Phạm thanh tướng, 梵聲相Sanskrit: brahma-svara). 29. Mắt xanh trong (Chân thanh nhãn tướng, 眞青眼相Sanskrit: abhinỵla-netra). 30. Mắt tròn đẹp giống mắt bò (Ngưu nhãn tiệp tướng, 牛眼睫相, Sanskrit: go-pakṣm). 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (Bạch mao tướng, 白毛相, Sanskrit: rṇ-keśa). 32. Một khối thịt trên đỉnh đầu (Đảnh kế tướng, 頂髻相Sanskrit: uṣṇỵṣa-śiraskat).
; Dvātriṃśadvara-lakṣaṇa (S), Thirty-two excellent marks.
ba mươi hai tướng tốt của phật
Thirty-two marks of perfection—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng của Phật and Dvatrimshadvara-Lakshana.
ba mươi hai ứng thân
Thirty-two response bodies—See Tam Thập Nhị Ứng Thân.
ba mươi sáu thứ
(tam thập lục vật): một cách liệt kê tượng trưng các chi tiết hợp thành thân người, bao gồm: 12 thứ ngoài thân: tóc, lông, móng, răng, dử ghèn, nước mắt, nước bọt, đàm dãi, phẩn, nước tiểu, cáu ghét, mồ hôi; 12 thứ trong thân: da, da non, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ trong, mỡ ngoài, não, mạc; 12 cơ quan nội tạng: gan, mật, ruột, dạ dày, lách, cật, tim, phổi, sanh tạng (tam tiêu), thục tạng (bàng quang), đàm trắng, đàm đỏ. Cũng có thể hiểu một cách khái quát rằng 36 thứ chỉ là cách nói tượng trưng cho sự kết hợp của rất nhiều bộ phận, cơ quan chi tiết khác nhau tạo thành cơ thể.
ba mặt một lời
Face-to-face.
ba mối nghi của phật tử về tịnh độ
Three doubts of practitioners about the Pure Land—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, có nhiều người thật tâm muốn niệm Phật, hoặc đã từng hành trì rồi, nhưng vì sự học hiểu về giáo lý còn kém, nên khi nghe kẻ khác biện luận bài bác, liền khởi lòng nghi. Những mối nghi đó rất nhiều, nhưng chỉ nêu lên đây ba mối nghi chánh—According to Most Venerable in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, there are some people who truly want to recite the Buddha's name or have engaged in the practice; however, because their study and understanding of the Dharma are still wanting, they develop doubts as soon as they hear criticisms of others. There are many such doubts; however, here we only mention three of the most common. 1) Tịnh Độ chỉ là một quyền thuyết—Pure Land is really just an expedient teaching: a) Có kẻ thấy trong kinh điển tả cảnh Tịnh Độ quá trang nghiêm, bỗng sanh niệm nghi rằng: “Cõi Cực Lạc là quyền tiện của Phật nói ra để cho người hâm mộ gắng tu làm lành lánh dữ, đại khái như thuyết thiên đường, chứ làm gì có một thế giới từ đất đai đến cây cối, lầu các đều bằng thất bảo như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não. Lại nữa, thân người bằng chất ngọc nhuyễn kim cương, hóa sanh từ hoa sen không có già, bệnh, chết. Các thức ăn mặc trân quý đều tùy ý niệm hiện ra. Như thế toàn là những chuyện đau đâu, xa với thực tế làm sao mà tin được?—Pure Land is really an expedient teaching—Seeing the Pure Land described in overly majestic terms in the sutras, some people suddenly develop the idea that the Pure Land is merely an expedient of the Buddhas. How can there exist a world in which everything, from the ground to the trees and towers, is made of seven jewels(see Thất Bảo). Moreover, the inhabitants radiate health and tranquility; they spring to life from lotus blossoms, free of old age, disease and death. Ethereal food and clothing appear before them according to their wishes. All these are far removed from the realities spread before our own eyes, how can we believe in them? b) Để giải thích điều nầy Hòa Thượng Thích Thiền Tâm đã đáp rằng: “Những ý nghĩ trên phần (a) đó đều còn hạn cuộc theo sự nghe thấycủa tai mắt phàm tình. Người muốn học Phật không nên đem trí phàm phu mà suy lường Thánh cảnh. Đừng nói đâu xa, ngay ở Việt Nam ta khi cụ Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp trở về thuật lại, nói bên ấy đèn không đốt mà cháy, xe thuyền không ngựa hay người kéo mà tự chạy, trăm việc sánh bằng trời đất, duy có sự sống chết là còn thuộc quyền tạo hóa định đọa mà thôi. Vua và triều thần nghe nói đều không tin. Đến như chỗ bạn thân mà cũng mỉm cười cho là cụ Phan đi xa về nói khoác. Kỳ thật thì những điều cụ Phan vừa kể đều là sự thật—In reply to this I will say: “All these doubts derive from the limited sights and sounds perceived by the eyes and ears of common mortals. Those who wish to study the Dharma should not assess the realms of the saints with the limited faculties of sentient beings. Let us not talk of faraway things. In Asia, in the last century, when Mr. Phan Thanh Giản, a high-ranking official returned from Europe, reported that over there, lamps required no fire to light them, while carriages and barges moved on their own, without horses or men to pull them. He then praised Europeans for their intelligence and skills, which in hundreds of instances rivalled those of God, only life and death remaining within the purview of the Almighty. His words were met with disbelief from the king on down to his entire court. Even the official's closest friends smiled and thought that returning from far away, he was just exaggerating. In reality, all issues mentioned by Mr. Phan were true. 2) Có người nghe nói pháp môn Tịnh Độ hành trì giản dị mà kết quả rất mau chóng cao siêu nên nghi ngờ—Hearing that the Pure Land method is easy to practice but the results are speedy and lofty, some people develop doubts. a) Đâu lại có phương pháp thành Phật quá dễ dàng như thế? Bởi đường lối thường thức của các môn tu là Chỉ và Quán. Khi hạ thủ công phu, trước tu “Chỉ,” kế tiếp tu “Quán;” hoặc trước tu Quán, kế tiếp tu Chỉ. Lần lần tiến đến “Trong Quán có Chỉ, trong Chỉ có Quán.” Khi tới trình độ “Chỉ Quán không hai, định huệ tịch chiếu” mới gọi là bước vào cảnh giới tự tâm. Rồi từ đó về sau, nếu mỗi đời đều tiếp tục tinh tấn tu hành, theo như trong kinh luận nói, phải trải qua một muôn đại kiếp mới lên ngôi “Bất Thối Chuyển.” Tại sao chỉ một câu niệm Phật, ngay trong đời nầy lại được vãng sanh lên ngôi Bất Thối, há chẳng phải là dễ dàng quá ư?—How can there be such an easy method leading to Buddhahod? The usual way of Buddhist cultivation centers around concentration and contemplation. When we start cultivating, we practice first concentration (samatha), then contemplation (vipasyana), or we can begin first with contemplation and follow up with concentration. We then progress to the stage where “in contemplation there is concentration, in concentration there is contemplation.” Upon reaching the level of “non-dual concentration and contemplation, still-but-illuminating samdhi and wisdom,” we have stepped into the realm of the Self-Nature. From then on, if we vigorously keep up with our cultivation life after life, it will take ten thousand eons before we reach the level of non-retrogression, according to the sutras and commentaries. How is it that after only a few singleminded utterances of the Buddha's name, we can be reborn in the Pure Land in this very lifetime, at the stage of non-retrogression? Is it not really too easy? b) Khi đề cập đến nghi vấn nầy, chúng ta nên biết tu các pháp môn khác chỉ hoàn toàn nương nơi tự lực, cho nên phải khó. Riêng đường lối tu Tịnh Độ có hai năng lực, là tự tâm lực và Phật lực tiếp dẫn, nên sự thành công rất dễ. Ví như một người chân yếu, muốn tự mình lên tận đỉnh núi cao là điều rất khó. Nhưng nếu kẻ ấy được một vị đại lực sĩ khoác cánh tay phăng phăng đưa bước tiến tới thì kết quả lên tới đỉnh nào có khó chi!—When responding to this doubt, we should realize that most other methods involve complete reliance on “self-power,” and are therefore bound to be difficult. The Pure Land method characteristically involves two factors, the power of one's own mind and Amitabha Buddha's power of “welcoming and escorting.” Therefore, obtaining results is extremely easy. For example, if someone with weak, hobbled feet wanted to climb a mountain unaided, it would be difficult indeed! However, if he were assisted by a great athlete who took him by the arm and climbed the mountain along with him, head held high, the result would not be that difficult to achieve. c) Về môn Tịnh Độ cũng thế, khi ta chuyên tâm niệm Phật tức là lúc tâm lực phát triển. Niệm đến một lòng không loạn, là lúc tâm lực hoàn toàn hiện bày. Đang khi ấy nghiệp lực bị hàng phục không còn làm chướng ngại, lại được thêm Phật lực tiếp dẫn, nên tuy nghiệp chưa trừ dứt, mà được vãng sanh. Khi sanh về Tây Phương rồi, sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, sự không thối chuyển cho đến khi thành Phật là một điều hiển nhiên dễ hiểu—The same is true of Pure Land. As we earnestly recite the Buddha's name, our mind-power keeps developing. When one-pointedness of mind is achieved, the mind-power manifests itself perfectly. At that point the power of our karma is subdued and is no longer a hindrance. If we add to that Amitabha Buddha's power to “welcome and escort,” we will achieve rebirth in the Pure Land in spite of the fact that not all of our bad karma is extinguished. Once reborn, our lifespan extends over innumerable eons. Non-retrogression until complete Enlightenment and Buddhahood are attained is therefore an easily understandable occurrence. 3) Chúng sanh ít nhân duyên phước đức không thể sanh về Tịnh Độ: Sentient beings lack conditions and merit and therefore cannot achieve rebirth in the Pure Land. a) Cảnh Cực Lạc mầu đẹp trang nghiêm vô lượng, chẳng phải dùng ít nhân duyên căn lành phước đức mà được sanh về. Nhìn gẫm lại mình, căn lành phước đức còn sơ bạc, nghiệp chướng lại nhiều, mong gì đời nầy được duyên tốt vãng sanh?—The Land of Ultimate Bliss is so extremely lofty and beautifully adorned that we cannot rely merely on a few good roots, blessings, virtues, causes and conditions to achieve rebirth in that land. Reflecting upon ourselves, we see that our good roots, merits and virtues are indeed shallow, while our bad karma and obstructions are heavy; how can we expect to attain, in this very life, conditions favorable to rebirth in the Pure Land? b) Xin kính khuyên quý vị muôn ngàn lần chớ nên nghĩ như thế. Bởi khi các vị lần chuỗi niệm Phật được, là căn lành phước đức của quý vị đã sâu dầy rồi. Thử nghĩ lại xem, trên thế gian nầy biết bao nhiêu kẻ không nghe được danh hiệu Phật? Biết bao nhiêu người tuy nghe hồng danh Đức A Di Đà, nhưng mãi tranh danh đoạt lợi, đeo đuổi theo các điều trần nhiễm, không chịu niệm Phật. Nay các vị đã nghe Phật pháp và chí tâm niệm Phật, há không phải là có căn lành phước đức lớn đó sao?—I respectfully beg of you, ten million times, not to have such doubts! For, if you can finger a rosary and recite the Buddha's name, you already have deep roots of merit and virtue. Do think again. How many people are there on this very earth who lack the opportunity to hear the Buddha's name? How many , even after hearing Amitabha Buddha's name, continue to seek fame and profit, chasing after mundane dusts and refusing to recite the Buddha's name? You have now heard the Dharma and recited the Buddha's name in all sincerity. Is this not proof enough that you already have many good roots, merits and virtues? c) Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật bảo ngài Di Lặc Bồ Tát: “Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu Đức Phật kia, vui mừng khấp khởi, cho đến một niệm, nên biết kẻ ấy được lợi lớn, đã đầy đủ phước đức vô thượng.” Lời nầy đủ chứng minh rằng biết niệm Phật tức là đã có nhiều phước đức căn lành rồi. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có dẫn sự tích những người phạm tội cực ác (như Trương Thiện Hòa, Hùng Tuấn, Duy Cung, và các loài súc sanh như chim Bát Kha, Anh Võ, vân vân), chí tâm niệm Phật đều được vãng sanh. Phước đức căn lành của quý vị đã vượt xa hơn những người ác và loại súc sanh kia. Vậy cần chi phải e ngại là ngay trong đời nầy không được sanh về Cực Lạc?—In the Longer Amitabha Sutra, Sakyamuni Buddha said to Maitreya Bodhisattva: “If any sentient being hears the name of Amitabha Buddha and is transported with delight even for a moment, you should know that he has received great benefit and has perfected supreme merit and virtue.” This quote should be proof enough: the very fact that a person practices Buddha Recitation shows that he already has many good roots, merits and virtues. The book, Biographies of Pure Land Sages and Saints, records the life histories of individuals who committed extremely heavy transgressions, yet achieved rebirth in the Pure Land through singleminded recitation of the Buddha's name at the time of death. Your good roots, merits and virtues far surpass those of the evil beings cited in these biographies. Therefore, why should you have doubts about being reborn in the Pure Land in this very lifetime?
ba mục tiêu của tọa thiền
Theo Roshi Philip Kapleau, tác giả của quyển Ba Trụ Thiền, có ba mục tiêu của tọa thiền—According to Roshi Philip Kapleau, author of The Three Pillars of Zen, there are three aims of meditation: 1) Phát Triển Định Lực: Định lực là năng lực hay sức mạnh phát sinh khi tâm được hợp nhất qua sự tập trung. Người đã phát triển định lực không còn nô lệ vào các đam mê, người ấy luôn làm chủ cả chính mình lẫn các hoàn cảnh bên ngoài, người ấy hành động với sự tự do và bình tĩnh hoàn toàn. Tâm của người ấy như trạng thái nước đã lắng trong và tĩnh lặng—Development of the power of concentration, which is the power or strength that arises when the mind has been unified and brought to one-pointedness in meditation concentration. One who has developed the power of concentration is no longer a slave to his passions, he is always in command of both himself and the circumstances of his life, he is able to move with perfect freedom and equanimity. His mind becomes like clear and still water. 2) Giác Ngộ: Kiến tánh ngộ đạo hay nhìn thấy tự tánh chân thật của mình và đồng thời nhìn thấy bản tánh tối thượng của vũ trụ và vạn vật. Ấy là sự hốt nhiên nhận ra rằng: “Xưa nay ta vốn đầy đủ và toàn hảo. Kỳ diệu thay, huyền diệu thay!” Nếu là thấy Phật tánh thì thực chất sẽ luôn luôn giống nhau đối với bất cứ ai kinh nghiệm nó, dẫu người ấy là Phật Thích Ca hay Phật A Di Đà hay bất cứ người nào trong các bạn. Nhưng nói thế không có nghĩa là tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm kiến tánh ở cùng một mức độ, vì trong cái rõ, cái sâu, cái đầy đủ của kinh nghiệm có những khác biệt lớn lao—Awakening or seeing into your True-nature and at the same time seeing into the ultimate nature of the universe and all things. It is the sudden realization that “I have been complete and perfect from the very beginning. How wonderful, hoe miraculous!” If it is true awakening, its substance will always be the same for whoever experiences it, whether he be the Sakyamuni Buddha, the Amitabha Buddha, or any one of you. But this does not mean that we can all experience awakening to the same degree, for in the clarity, the depth, and the completeness of the experience there are great difference. 3) Vô Thượng Đạo Chi Thể Hiện: Thể hiện đạo vô thượng trong cuộc sống hằng ngày. Lúc nầy chúng ta không còn phân biệt cứu cánh và phương tiện nữa. Giai đoạn nầy tương ứng với tối thượng thừa thiền. Khi các bạn ngồi một cách hăng say và không vị kỷ, cũng như hợp với sự dẫn đạo của một bậc chân sư, nghĩa là hợp với tâm mình, mặc dù có ý thức đầy đủ, vẫn hoàn toàn vô niệm như một tờ giấy trắng tinh không một vết bẩn, bây giờ dù các bạn đã ngộ hay chưa, Phật tánh thanh tịnh vốn có của mình vẫn khai mở. Nhưng đây phải nhấn mạnh chỉ với chân ngộ các bạn mới có thể trực nhận được chân thể tánh Phật của mình, và tối thượng thừa thiền là loại thuần khiết nhất, không khác gì loại thiền đã được chư Phật thực hành—Actualization of the Supreme Way in our daily lives. At this point we do not distinguish the end from the means. The highest type of Zen corresponds to this stage. When you sit earnestly and egolessly in accordance with the instructions of a competent teacher, with your mind fully conscious yet as free of thought as a pure white sheet of paper is unmarred by a blemish, there is an unfoldment of your intrinsically pure Buddha-nature whether you have had awakening or not. But what must be mephasized here is that only with true awakening do you directly apprehend the truth of your Buddha-nature and perceive that awakening, the purest type of Zen, is no different from that practiced by all Buddhas. ** For more information, please read The Three Pillar of Zen (Ba Trụ Thiền), Roshi Philip Kapleau, from page 49 to page 52.
ba na sa
Panasa (skt)—Bán Na Sa—Một loại cây như cây mít—The bread-fruit tree—Jaka or jack-fruit.
ba na sa thụ
(波那沙樹) Ba na sa, Phạm,Pàli: Panasa. Còn gọi là Bà na sa thụ, Nẵng già kết thụ, A tát thỏa thụ, Đao sinh quả, Ưu đàm bát thụ. Thuộc họ nhà Dâu, có hai loại: 1. Jack-fruit tree, tên khoa học là Artocarpus integrifolia, Li. Cây cao, có thể cao tới chín đến mười một mét, lá dài cuống, hình tròn và xanh luôn, quả cũng dài cuống và tròn, to, khi chín trông đẹp và ngọt, người Ấn Độ thường lấy làm thức ăn, gỗ có thể đóng đồ dùng, lõi cây có thể chế làm thuốc nhuộm. Trung Quốc gọi là cây Ba la mật (Phạm:Phalasa, dịch ý là quả to). 2. Bread-fruit tree, tên khoa học là Artocarpus incisa. Quả to bằng đầu đứa trẻ (quả mít), xanh có thể kho làm thức ăn với cơm, chín ăn thì ngọt; cây có thể dùng đóng thuyền độc mộc, vỏ cây có thể được biến chế làm nguyên liệu dệt vải. Phần nhiều sản sinh ở Ấn Độ, Tích Lan và các đảo Nam Dương. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.14; Đại đường tây vực kí Bôn na phạt đàn na quốc; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.31].
ba nghiệp
(tam nghiệp): gồm có thân nghiệp (các nghiệp do thân gây ra), khẩu nghiệp (các nghiệp do miệng gây ra, nghĩa là bằng lời nói), và ý nghiệp (các nghiệp do tư tưởng, ý thức gây ra).
; Three karmas Gồm: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
ba nghiệp báo
Xem Tam nghiệp.
ba nghiệp ác của thân
là các nghiệp giết hại, trộm cướp và dâm dục.
ba nghiệp ác của ý
là tham lam, sân hận và si mê (tà kiến).
ba nguyên do niệm hồng danh phật a di đà để cầu vãng sanh cực lạc
Trong mười phương quốc độ, có vô số cõi Phật mầu đẹp tinh sạch trang nghiêm, chẳng hạn như thế giới Tịnh Lưu Ly trong Kinh Dược Sư, thế giới Chúng Hương và Diệu Hỷ trong Kinh Duy Ma Cật. Nhưng tại sao ta không niệm danh hiệu chư Phật để cầu sanh về các Tịnh Độ mười phương, lại chỉ phát nguyện sanh về Cực Lạc? Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, có ba nguyên do khiến người tu Phật niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc hơn là cầu về các cõi Tịnh Độ ở mười phương—In the realm of the ten directions, there are innumerable beautiful and purely adorned Buddha lands, such as the Pure Lapis Lazuli Land mentioned in the Medicine (Healing) Buddha Sutra, or the Land of Many Fragrances and Sublime Joy found in the Vimalakirti Sutra. Why should we restrict ourselves seeking rebirth in the Western Pure Land? According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, there are basically three reasons for Buddhists to recite Amitabha Buddha's name to seek rebirth in the Land of Ultimate Bliss than in other pure lands of the ten directions: 1) Do sự giới thiệu khuyên dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài bảo nên cầu sanh về cõi Cực Lạc. Theo lời cổ đức, thì ngoài sự kiện cõi Cực Lạc có nhiều duyên nhiệm mầu thích hợp cho việc nhiếp hóa chúng sanh căn cơ khác nhau ở các cõi uế độ, Đức Bổn Sư không muốn thuyết minh nhiều về những cõi Tịnh Độ khác, e sợ chúng sanh khởi niệm so sánh phân biệt, mà tâm không được quy nhứt. Do việc đủ duyên nhiệm mầu để nhiếp hóa, mà không những riêng ở tại cõi Ta Bà, các chúng sanh ở vô số thế giói trong mười phương đều cầu về Cực Lạc—Because of the teachings of Sakyamuni Buddha, who exhorted us to seek rebirth in the Land of Ultimate Bliss. Sakyamuni Buddha did not wish to expound at length on the other pure lands, lest sentient beings develop a mind of discrimination, become undecided and have no focal point for their aspirations. Moreover, thanks to the ideal conditions for teaching and transformation in the Western Pure Land, not only do sentient beings from the Saha World seek rebirth there, but sentient beings in countless other worlds do so as well. 2) Do Đức A Di Đà Thế Tôn có 48 lời thệ rộng lớn trang nghiêm cõi Tịnh Độ, nguyện tiếp dẫn từ bậc Bồ Tát, cho đến hàng phàm phu nhiều tội ác—Because Amitabha Buddha has adorned the Western Pure Land with forty-eight lofty Vows. These vows (particularly the eighteenth Vow of “welcoming and escorting”) embrace all sentient beings, from Bodhisattvas to common beings full of evil transgressions. 3) Do vì chúng sanh ở cõi nầy có nhân duyên lớn với Phật A Di Đàvà Bồ Tát Quán Thế Âm ở cõi Cực Lạc. Điều minh chứng là khi các Phật tử gặp nhau đều chào mừng bằng câu 'A Di Đà Phật' và lúc bị tai nạn thường niệm danh hiệu Đức 'Quán Thế Âm.'—Because sentient beings in the Saha World have great affinities with Amitabha Buddha and the Bodhisattva Avalokitesvara. As proof, when Buddhists meet, they usually gret each other with the words “Amitabha Buddha” and when faced with accidents or disasters, they usually recite the secred name of Avalokitesvara.
ba nguyên nhân phát sanh chướng nghiệp
Theo Duy Thức Học, ngoài những trở ngại của ngoại duyên, còn có ba nguyên nhân phát sanh chướng nghiệp cho người tu—According to The Mind-Only School, apart from the obstacles caused by external factors, there are three other causes of karmic obstructions. 1) Sức Phản Ứng Của Chủng Tử Nghiệp: Trong tạng thức của ta có chứa lẫn lộn những nghiệp chủng lành dữ. Khi niệm Phật hay tham thiền, ta huân tập hạt giống công đức vô lậu vào, tất cả nghiệp chủng kia phải phát hiện. Ví như một khu rừng rậm nhiều thú, nếu có cư dân khai hoang, tất cả cây cối bị đốn, các loài thú đều ra. Cảnh tướng và phiền não chướng duyên do nghiệp chủng phát hiện cũng thế—The reaction of evil karmic seeds—Various evil and wholesome karmic seeds are stored randomly in our Alaya consciousness. When we recite the Buddha's name or meditate, we accumulate the seds of transcendental virtue, and therefore, evil karmic seeds have to emerge. For example, if a dense forest full of wild beasts is cleared for habitation, trees and shrubs are cut down, causing these beasts to flee out of the forest. The development of afflictions and obstacles from evil karmic seeds is similar. 2) Tự Gây Chướng Nạn vì không am tường giáo pháp: Có những vị tu hành chẳng am tường giáo lý, không hiểu những tướng của nội tâm và ngoại cảnh đều như huyễn, chưa phát minh thế nào là chân và vọng, nên nhận định sai lầm. Do đó đối với cảnh duyên trong ngoài sanh niệm tham chấp, vui mừng, thương lo, sợ hãi, mà tự gây chướng nạn cho mình—Creating obstacles for themselves due to lack of full understanding of the Dharma—There are cultivators who practice without fully understanding the Dharma, not realizing that the manifestations of the inner mind and the environment are illusory nor discovering what is true and what is false. They therefore have wrong views. Because of this, they develop thoughts of attachment, happiness, love, worry and fear, creating obstacles for themselves when they are faced with objects and conditions within themselves or in the outside world. 3) Không Vững Lòng Bền Chí Nên Thối Lui: Lại ví như người theo họa đồ đi tìm mỏ vàng, đường xá phải trải qua non cao, vực thẳm, đồng vắng, rừng sâu, bước hành trình tất phải nhiều công phu và gian lao khổ nhọc. Nếu người ấy không vững lòng, không biết tùy sức tùy hoàn cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, tất phải thối lui. Hoặc có khi bỏ cuộc ghé vào một cảnh tạm nào đó, hay chết giữa đường. Lộ trình tu tập cũng thế, hành giả tuy y theo kinh giáo mà thực hành, song nếu không biết tùy sức tùy hoàn cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, sự lập chí không bền lâu, tất sẽ thất bại—Not flexible and patient—Take the case of a man who follows a map, hoping to find a gold mind. The path that he takes crosses high mountains, deep ravines, empty open stretches and dense forests, an itinerary naturally requiring much labor, hardship and adversity. If his mind is not steady, and he does not adapt himself to the circumstances and his own strength, he is bound to retrogress. Alternatively, he may abandon his search, stop at some temporary location, or even lose his life enroute. The path of cultivation is the same. Although the practitioner may follow the sutras, if he is not flexible and patient, ready to change according to his own strength and circumstances, and if his determination is weak, he will certainly fail. This obstacle, in the end, is created by himself alone.
ba ngàn oai nghi
Three thousand demeanors—Ba ngàn oai nghi bắt nguồn từ nơi Cụ Túc Giới Tỳ Kheo mà thành. Trong 250 giới cụ túc của Tỳ Kheo, mỗi giới đều có đầy đủ bốn oai nghi “Đi, Đứng, Nằm, Ngồi.” Như vậy 250 giới nhơn cho 4 thành 1.000. Một ngàn oai nghi nầy tương ứng với ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai, tức là 1.000 nhơn cho 3 thành ra 3.000 oai nghi—Three thousand demeanors originate from the Complete Bhiksu Precepts. A Bhiksu maintains 250 Pratimoksa Precepts, each precept is complete with all four demeanors of Walking, Standing, Lying Down, and Sitting. Thus taking these 250 demeanors to multiple with 4 to make 1,000. These 1,000 demeanors transcend across all three periods of Past, Present, and Future. Thus 1,000 demeanors multiply 3 to make 3,000 demeanors—See Tứ Chủng Oai Nghi.
ba nhã
(波若) (562 - 613) Vị tăng đời Tùy. Người nước Cao Cú Li. Là một trong ba mươi hai người theo học ngài Trí Khải ở núi Thiên Thai mà đắc pháp. Đến Trung Quốc vào đời Trần thuộc Nam Triều, đầu tiên nghe các bậc đại đức giảng học tại Kim Lăng. Niên hiệu Khai Hoàng năm đầu, sư đi du học khắp bốn phương. Năm Khai Hoàng 16 (596), sư vào núi Thiên Thai theo ngài Trí Khải học phép Thiền, lên chóp núi Hoa Phong, ngày đêm tinh cần, đạm bạc khổ hạnh, suốt mười sáu năm không ra khỏi núi. Năm Đại Nghiệp thứ 9, thình lình sư đến chùa Quốc Thanh, lễ Phật, từ biệt chúng, rồi nghiễm nhiên ngồi mà hóa, thọ năm mươi hai tuổi.
ba nhĩ cường đa
Parjanya (S)Tên một vị thiên. Tên vị thần mưa.
ba nhĩ ni
(波爾尼) Phạm: Pàịini. Còn gọi là Ba Nhị Ni, Ba Ni Nhĩ, Ba Ni Ni. Là nhà văn pháp trứ danh của Ấn Độ xưa. Người Sa- la-đổ- la (Phạm: Zalàtura) nước Kiện- da-la, sinh từ thế kỉ IV đến thế kỉ III trước Tây lịch. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 mục Kiện- đà- la quốc chép, thì Ba Nhĩ Ni sinh ra đã biết rộng hiểu nhiều, thương đời khinh bạc, muốn tiêu trừ cái phù phiếm, lọc bỏ cái phiền hà, nên lập chí trứ thuật, bèn được Tự Tại Thiên dạy bảo cho, từ đó, suy nghĩ tìm tòi, thu nhặt tất cả các lời mà viết thành Tự Thư. (sách chữ). Sách này cùng suốt xưa nay, tóm thâu văn tự, nhà vua thấy sách quí lạ, ra lệnh cho toàn quốc phải truyền bá học tập, nếu ai đọc thông suốt thì thưởng vàng bạc, vì thế, lúc bấy giờ, thầy trò đều trao truyền cho nhau, khiến cho bộ sách cực thịnh hành. Tương truyền sách này tức là văn điển của luận Tì-già-la (Phạm: Vyàkaraịa) gồm một nghìn bài tụng ba vạn hai nghìn lời, nguyên bản cuốn sách vốn không có tiêu đề, thông thường người ta gọi là Âm thanh giáo (Phạm: Zabdànuzàsana), hoặc là Bát chương thiên (Phạm: Awỉàdhyàyì), làm phương tiện tụng đọc và lấy phép tắc đơn thuần hóa và sự biểu hiện giản dị làm mục đích. Nội dung sách dùng lời nói dễ dàng làm yếu tố phân giải, thuyết minh ngôn ngữ được hình thành như thế nào, trong trường hợp nào phải thêm những lời nói khác mới phát huy được công năng, đồng thời, đối với văn từ biến hóa trong văn chương, nêu ra những qui tắc nhất định, xác lập khuôn phép xưa nhất trong tiếng Phạm cổ điển, là sách tập đại thành ngữ pháp trong văn chương, là sách văn pháp rất có uy tín từ xưa đến nay tại Ấn Độ, phàm các nhà văn học sử dụng ngữ pháp đều không vượt qua qui tắc này, vì thế cho đến nay, nó vẫn là bộ sách ngữ pháp văn chương được Ấn Độ cộng đồng sử dụng. Ngôn ngữ mà Ba Nhĩ Ni sáng chế đã chẳng phải là tiếng Phạm Phệ Đà, cũng chẳng phải là tiếng Phạm cổ điển về sau, mà là tiếng Phạm thuộc thời kì khoảng giữa, và tiếng Phạm này cũng lại không giống với các phương ngôn khác. [X. Đại từ ân tự Tam Tạng pháp sư truyện Q.3; Du Già Sư Địa Luận lược toản Q.6; Nam Hải Kí Qui Nội pháp truyện Q.4].
ba ni
Pana (skt)—Thức uống như nước—Beverage as water.
ba ni bồn
Panila (skt)—Bình chứa nước uống—A drinking vessel.
ba nô
Vidhu (skt)—Mặt trăng—The moon.
Ba nẻo dữ
xem Ba đường ác.
ba nẻo sáu đường
Đức Phật so sánh chúng sanh với những khách lữ hành mù trong đêm tối và những khổ đau trong ba nẻo sáu đường—Three worlds and six realms of life—The Buddha compared sentient beings with travelers who blindly travel in the darkness and suffering of the three worlds and six realms of existence: (A) Ba nẻo: Three worlds: 1) Dục giới: The world of passions (sensuous desires). 2) Sắc giới: The world of Beauty (form). 3) Vô sắc giới: The world of no Beauty (formless). (B) Sáu đường: 1) Thiên: Six realm of Heaven. 2) Nhơn: The realm of human. 3) A-Tu-La: The realm of Asura (Angry spirits). 4) Ngạ quỷ: The realm of Pretas (hungry ghosts). 5) Súc sanh: The realm of animal. 6) Địa ngục: The realm of hell.
Ba nẻo ác
xem Ba đường ác.
ba nễ ni
Panini (skt)—Theo Tây Vực Ký thì đây là tên của một vị cổ tiên Salaturiya, cũng là nhà văn và nhà văn phạm (cú pháp chữ Phạn) nổi tiếng của Ấn Độ vào thế kỷ thứ tư trước Tây Lịch. Ông còn được biết đến với tên Salaturiya: Panini (skt)—According to the Record of the Western Lands, this was the great Indian grammarian and writer of the fourth century B.C. He was also known as Salaturiya.
ba pháp tam-muội
tức ba pháp Tam-muội Không, Tam-muội Vô tướng và Tam-muội Vô tác (cũng gọi là Tam muội Vô nguyện). Ba pháp này cũng còn được gọi là Tam định, Tam đẳng trì, Tam không.
Ba pháp vô vi
(Tam vô vi): Phạn ngữ là tri-asaṃskṛta, chỉ ba nhận thức chân thật về thực tại, bao gồm: 1. Trạch diệt vô vi (pratisaṃkhy-nirodhsaṃskṛta): hay Sổ diệt vô vi, do năng lực trí huệ phân biệt giản trạch tất cả các pháp hữu vi mà đạt đến Diệt đế, thể của tịch diệt tức là Niết-bàn, nên gọi là Trạch diệt vô vi; 2. Phi trạch diệt vô vi (apratisaṃkhy-nirodhsaṃskṛta): hay Phi sổ diệt vô vi, Phi trí duyên diệt vô vi, quán chiếu tất cả các pháp hữu vi do nhân duyên mà có, không dùng đến trí huệ phân biệt giản trạch, chỉ y theo lý nhân duyên, nhân duyên diệt thì tất cả các pháp hữu vi đều diệt, đạt đến chỗ thực thể hiển bày, các tướng hữu vi đều tịch diệt, nên gọi là Phi trạch diệt vô vi; 3. Hư không vô vi (ksaṃskṛta), là vượt ngoài cả hai pháp vô vi nói trên, lấy vô ngại làm thể tánh, vốn không bị ngăn ngại cũng không ngăn ngại pháp khác; thể tánh vô vi này đầy khắp như hư không của thế gian nên gọi là Hư không vô vi. Ba vô vi này thuộc về pháp Tiểu thừa, được đề cập trong Câu-xá luận (quyển 1), Thành Duy thức luận (quyển 2), Đại Tỳ-bà-sa luận (quyển 32), Nhập A-tỳ-đạt-ma luận (quyển hạ), vốn không đồng nhất với những điều Phật giảng về Niết-bàn trong kinh này.
ba phép minh
Gồm: túc mệnh minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh.
ba phả
Prabha-kara-mitra (skt)—Tên của Pháp Sư Tam Tạng, một vị cao Tăng Ấn Độ, đến Trung Quốc khoảng năm 626 sau Tây Lịch—Name of a famous Indian monk, who came to China around 626 A.D.
ba phải
One who says “yes” to everything.
ba phẩm chất đặc biệt của hoa sen
The special qualities (characteristics) of the lotus: 1) Cánh hoa mang gương sen (trái) giống như pháp phương tiện được giảng giải để hiển bày chân lý: The petals are made to bear the fruit, in the same manner with expedient teachings are expounded in order to reveal the true teaching. 2) Khi hoa sen nở, thì gương sen cũng hiện ra ngay bên trong, như chân giáo ẩn tàng trong giáo pháp phương tiện: When the lotus flower opens, the fruit is seen therein, in the same manner we find the true teaching latent in the expedient teachings. 3) Khi gương sen (trái) khô thì cũng là lúc bông rụng, ý nói khi chân giáo đã được thiết lập thì pháp phương tiện không còn cần thiết nữa: When the fruit is ripened, at the same time the flower also falls. In the same manner, when the true teaching is established, the expedient teachings are no longer necessary.
Ba quy y
S: triśaraṇa; P: tisaraṇa; Hán Việt: Tam quy y;|Là quy y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Hành giả niệm ba quy y, tự nhận Phật là đạo sư, Pháp là »thuốc chữa bệnh« và Tăng-già là bạn đồng học. Ba quy y là một phần quan trọng trong mỗi buổi hành Lễ.
Ba quán xứ
Xem Ba chỗ niệm.
ba quân
The whole army.
Ba quả đạo
(Tam đạo quả): là ba trong số bốn thánh quả, trừ ra quả A-la-hán chỉ người xuất gia mới có thể chứng đắc. Các quả vị như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm thì người Phật tử tại gia (cư sĩ) cũng có thể chứng đắc được.
ba sinh
Three lives (past, present and future).
ba sắc thái
của tri kiến tuyệt đối của Như lai về Tứ đế: - tri kiến về Tứ đế - tri kiến có liên quan đến cơ năng của Tứ đế - tri kiến rằng cơ năng của mỗi đế đã được tạo thành. Mỗi đế có 3 săắc thái. Tứ đế có 12 sắc thái gọi là 12 phương thức.
ba sự ham muốn
(Tam dục): 1. Hình mạo dục: ham muốn nhan sắc, thân hình đẹp đẽ của kẻ khác; 2. Tư thái dục: Ham muốn dung nghi cốt cách của kẻ khác; 3. Tế xúc dục: Ham muốn sự xúc chạm mềm mại, êm dịu với kẻ khác.
ba sự điên đảo
(tam đảo hay tam điên đảo): Gồm tưởng đảo: đối với sáu trần bên ngoài sinh khởi những tư tưởng không đúng thật; kiến đảo: đối với sự lý của các pháp nhận hiểu sai lầm, mong cầu điên đảo, cũng gọi là tà kiến; và tâm đảo: chạy theo vọng tâm nhận thức sai lệch về sự vật. Ba điên đảo này là căn bản của tất cả những sự điên đảo khác.
ba tai kiếp lớn
(tam tai): gồm có thủy tai (nạn hồng thủy, lụt lớn), hỏa tai (nạn lửa thiêu) và phong tai (nạn gió bão). Ba tai kiếp này tất yếu phải xảy ra trong quá trình thành, trụ, hoại, không của mỗi thế giới, nên là nhân gián tiếp làm thay đổi môi trường thế giới mà chúng sinh đang sống, khác với nhân trực tiếp là những nghiệp quả do mỗi chúng sanh trực tiếp tạo ra và phải gánh chịu.
ba tam muội
Three samādhis.
ba thu
Three autumns.
Ba thân
S: trikāya; Hán Việt: Tam thân (三 身);|Chỉ ba loại thân của một vị Phật, theo quan điểm Ðại thừa (s: mahāyāna). Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng cho rằng Phật – như Ngài đã xuất hiện trên thế gian để hoằng hoá, tiếp độ chúng sinh – chính là biểu hiện của sự Tuyệt đối, của Chân như và Phật có khi hiện thân thành nhiều hình tướng khác nhau chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Quan niệm ba thân Phật được nêu ra nhằm nói lên quan điểm đó. Ba thân gồm:|1. Pháp thân (法 身; s: dharmakāya): là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là Pháp (s: dharma), là quy luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do đức Phật truyền dạy.|2. Báo thân (報 身; s: saṃbhogakāya), cũng được dịch là Thụ dụng thân (受 用 身): chỉ thân Phật xuất hiện trong các Tịnh độ.|3. Ứng thân (應 身; s: nirmāṇakāya, cũng được gọi là Ứng hoá thân hoặc Hoá thân): là thân Phật xuất hiện trên trái đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người.|Pháp thân được xem chính là Phật pháp (s: bud-dha-dharma) như Phật Thích-ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Sau này người ta mới nói đến hai thân kia. Pháp thân được xem là thường hằng, vô tướng, nhất nguyên, là thể tính chung của các vị Phật, là dạng tồn tại thật sự của chư Phật. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ trường hợp sử dụng. Có lúc người ta xem nó là thể tính của mọi sự (Pháp giới [dharmadhātu, dharmatā], Chân như [s: tathatā, bhūtatathatā], Không [s: śūnyatā], A-lại-da thức [s: ālayavijñāna]) hay xem nó là Phật (Phật, Phật tính [s: buddhatā], Như Lai tạng [s: ta-thāgata-garbha]). Trong nhiều trường phái, người ta xem Pháp thân là thể trừu tượng không có nhân trạng, có trường phái khác lại xem Pháp thân hầu như có nhân trạng (xem kinh Nhập Lăng-già, kinh Hoa nghiêm). Ðạt Trí huệ siêu việt đồng nghĩa với sự trực chứng được Pháp thân.|Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hoá hiện cho thấy – cũng vì vậy mà có lúc được gọi là Thụ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân thường mang Ba mươi hai tướng tốt (s: dvā-triṃśadvara-lakṣaṇa) và tám mươi vẻ đẹp của một vị Phật và chỉ Bồ Tát mới thấy được trong giai đoạn cuối cùng của Thập địa (s: daśabhūmi). Người ta hay trình bày Báo thân Phật lúc ngồi thiền định và lúc giảng pháp Ðại thừa. Các trường phái thuộc Tịnh độ tông cũng tin rằng Báo thân Phật thường xuất hiện trong các Tịnh độ.|Ứng thân là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trên trái đất. Ứng thân do Báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng Từ bi và có mục đích giáo hoá chúng sinh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, nhưng Ứng thân có thần thông như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông. Sau khi chết, Ứng thân tự tiêu diệt.|Ba thân Phật nói ở trên có lẽ đầu tiên được Vô Trước (s: asaṅga) trình bày rõ nhất, xuất phát từ quan điểm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và về sau được Ðại thừa tiếp nhận. Ðáng chú ý nhất là quan điểm Pháp thân nhấn mạnh đến thể tính tuyệt đối của một vị Phật và không chú trọng lắm đến Ứng thân của vị Phật lịch sử. Như thế, Phật là thể tính thanh tịnh của toàn vũ trụ, thường hằng, toàn năng. Các vị Phật xuất hiện trên trái đất chính là hiện thân của Pháp thân, vì lòng từ bi mà đến với con người, vì lợi ích của con người.|Với quan điểm Ba thân này người ta tiến tới khái niệm không gian vô tận với vô lượng thế giới. Trong các thế giới đó có vô số chúng sinh đã được giác ngộ, với vô số Phật và Bồ Tát.|Ðối với Thiền tông thì ba thân Phật là ba cấp của Chân như, nhưng liên hệ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Pháp thân là »tâm thức« của vũ trụ, là thể tính nằm ngoài suy luận. Ðó là nơi phát sinh tất cả, từ loài Hữu tình đến vô tình, tất cả những hoạt động thuộc tâm thức. Pháp thân đó hiện thân thành Phật Ðại Nhật (s: vairocana). Cũng theo Thiền tông thì Báo thân là tâm thức hỉ lạc khi đạt Giác ngộ, Kiến tính, ngộ được tâm chư Phật và tâm mình là một. Báo thân hiện thân thành Phật A-di-đà. Ứng thân là thân Phật hoá thành thân người, là đức Thích-ca Mâu-ni.|Mối liên hệ của Ba thân Phật theo quan điểm Thiền tông được thí dụ như sau: nếu xem Pháp thân là toàn bộ kiến thức y học thì Báo thân là chương trình học tập của một y sĩ và Ứng thân là y sĩ đó áp dụng kiến thức y học mà chữa bịnh cho người.|Trong Kim cương thừa thì Ba thân là ba cấp của kinh nghiệm giác ngộ. Chứng được Pháp thân chính là tri kiến được tự tính sâu xa nhất của muôn vật, và tự tính này chính là tính Không, trống rỗng. Báo thân và Ứng thân là thân của sắc giới, là phương tiện tạm thời giúp hành giả chứng ngộ được tính Không. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem Thân, khẩu, ý của một vị Ðạo sư (s: gu-ru) đồng nghĩa với ba thân nói trên.|Trong Kim cương thừa, quan điểm Ba thân có mục đích phát biểu các tầng cấp khác nhau của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp thân là tính Không, là Chân như tuyệt đối, bao trùm mọi sự, tự nó là Giác ngộ. Báo thân và Ứng thân là các thể có sắc tướng, được xem là phương tiện nhằm đạt tới kinh nghiệm về một cái tuyệt đối. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem thân, khẩu, ý của một vị đạo sư chính là Ba thân, được biểu tượng bằng thần chú OṂ-AH-HUNG (gọi theo tiếng Tây Tạng). Sức mạnh toàn năng của Pháp thân được thể hiện ở đây bằng Phổ Hiền (s: samantabhadra). Các giáo pháp Ðại thủ ấn và Ðại cứu kính (t: dzogchen) giúp hành giả đạt được kinh nghiệm về tâm thức vô tận của Pháp thân. Báo thân được xem là một dạng của »thân giáo hoá.« Các Báo thân xuất hiện dưới dạng Ngũ Phật và được xem là phương tiện để tiếp cận với Chân như tuyệt đối. Báo thân xuất hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau, tịch tĩnh (s: śānta) hay phẫn nộ (s: krodha), có khi được trình bày với các vị Hộ Thần (t: yidam) hay Hộ Pháp (s: dharmapāla).|Ứng thân là một dạng »thân giáo hoá« với nhân trạng. Trong Kim cương thừa, Ứng thân hay được hiểu là các vị Bồ Tát tái sinh (Chu-cô [t: tulku]).|Ba thân nêu trên không phải là ba trạng thái độc lập mà là biểu hiện của một đơn vị duy nhất, thỉnh thoảng được mô tả bằng thân thứ tư là Tự tính (Tự nhiên) thân (s: svābhāvikakāya). Trong một vài Tan-tra, thân thứ tư này được gọi là Ðại lạc thân (s: mahāsukhakāya).
ba thân
Three kāyas, ku sum (T), Trikāya (S).
ba thân phật
Three bodies of the Buddha, Trikāya (S).
ba thâu bát đa
Pasupata (skt)—Phái ngoại đạo khổ hạnh, bôi tro lên khắp thân mình—A particular sect of Sivaites who smeared their bodies with ashes.
ba thí dụ về sự ngộ đạo còn bị thối thất
Như lời Phật huyền ký: “Đời mạt pháp người tu thì nhiều nhưng khó có ai đắc đạo.” Khi chưa chứng đạo nếu còn nghiệp lực dù nhỏ như sợi tơ cũng bị luân hồi. Dù có một vài vị ngộ đạo, nhưng ngộ chưa phải là chứng, chỉ do sức định chế phục nghiệp thức khiến cho lắng đọng lại, nên tạm được khai tâm, lúc chuyển sanh vẫn còn bị hôn mê không được tự tại. Đến kiếp sau duyên tiến đạo thì ít, mà thối đạo thì nhiều, nguyện giải thoát đã thấy khó bảo toàn chắc chắn. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, về sự ngộ đạo còn bị thối thất cổ đức có ba thí dụ. Đời mạt pháp, người tu có mấy ai ngộ đạo? Ngộ đạo không phải là dễ. Như thuở xưa thiền sư Hương Lâm dụng tử công phu trong bốn mươi năm mới thành đạt. Ngài Trường Khánh Nhàn ngồi rách một lố bồ đoàn mới thấy tánh bản lai. Người đời nay, trừ một vài vị Thánh nhân ứng thân thị hiện để dạy dỗ chúng sanh, ngoài ra các vị khác tu thiền, chỉ tạm được thân tâm an tỉnh hoặc thấy thiện cảnh mà thôi. Dù đã ngộ đạo, khi chuyển sanh vẫn còn có thể bị chướng nạn như những điều đã kể trên. Đường sanh tử có nhiều nguy hiểm đáng e ngại với kẻ chưa đắc đạo là thế. Cho nên nếu bảo không sợ sanh tử, đó chỉ là lối suy tư của những kẻ thiển cận mà thôi. Hơn nữa, hiện tại chánh pháp đã lần lần ẩn diệt, trên thế giới nơi nào ngoại đạo phát triển, đạo Phật bị chỉ trích. Đã có nhiều chùa chiền bị hủy phá, kinh sách bị thiêu đốt, tăng ni phải hoàn tục, hàng thiện tín không được tu. Dù cho ngày kia có được phục hồi, cũng phải bị biến thể và tiêu hao một phần lớn. Mong chuyển sanh để tiếp tục tu hành với một nền đạo suy tàn, thiếu bậc cao tăng dìu dắt, lấy đâu làm duyên tốt tiến đạo để giải thoát trong tương lai? Cho nên bảo đảm tâm Bồ Đề không bị thối thất, phải tu Tịnh Độ. Dù tu các môn khác cũng nên niệm Phật phát nguyện vãng sanh về Cực Lạc. Đây là lời khuyến tấn chung của các bậc tiên đức như các ngài Liên Trì, Ngẫu Ích, Kiên Mật và Ấn Quang—As Sakyamuni Buddha predicted: “In the Dharma-Ending Age, cultivators are numerous, but those who can achieve Supreme Enlightenment are few.” And not having achieved it, even with bad karma as light as a fine silk thread, they are subject to Birth and Death. Although there may be a few cultivators who have awakened to the Way, being awakened is different from attaining Supreme Enlightenment. During rebirth, they are bound to be deluded and unfree. In subsequent lifetimes, there may be few conditions for progress and many opportunities for retrogression. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Pure Land Buddhism in Theory and Practice, ancients have provided three analogies concerning retrogression of practitioners who have merely experienced Awakening. Furthermore, in the Dharma-Ending Age, how many cultivators can claim to be awakened to the Way? Awakening to the Way is not easy. Once Zen Master Hsiang-Lin, who practiced with all his might for forty years before he succeeded. Zen Master Tsang-Hsing sat for so long that he wore out more than a dozen of meditation cushions before he saw the Original Nature. As far as today's Zen practitioners are concerned, with the exception of a few saints who have taken human form to teach sentient beings, the majority only manage to achieve a temporary calming of the mind and body; at most they may witness a few auspicious realms! Even if they have awakened the Way, they can still encounter dangerous obstacles during transmigration. The path of Birh and death, filled with fearful dangers for those who have not attained Enlightenment, is the same. Therefore, to claim that we should not fear Birth and Death is merely the viewpoint of shallow minds. Furthermore, in recent times, the Dharma has met with difficulties in some parts of the world, wherever heretics has spread, Buddhism has come under criticism. There are places where pagodas and temples are destroyed, sutras and commentaries burned, monks and nuns forcibly returned to lay life, and common citizens barred from practicing their faith. Even if Buddhism is revived later on, it will have undergone changes and possibly lost some of its vitality. For this reason, we should follow the Pure Land School, to ensure non-retrogression of the Bodhi-Mind. Even if we follow other schools we should, at the same time, practice Buddha Recitation seeking rebirth in the Land of Ultimate Bliss. This is the common exhortation of such eminent sages as Master Lien-Ch'ih, Ou-I, Chien-Mi and Yin-Kuang. 1) Thí dụ thứ nhất: The first analogy—Như dùng tảng đá đè lên cỏ dại, cỏ tuy không mọc được nhưng củ của nó chưa hư thúi; nếu gặp duyên khác tảng đá bị lật lên, cỏ vẫn mọc lại như cũ—When we crush prairie grass with a stone block, though the grass cannot grow, its roots are not yet rotten or destroyed. If conditions arise that cause the stone to be overturned, the grass will continue to grow as before. 2) Thí dụ thứ hai: The second analogy—Như nước lóng trong chum, bùn tuy lắng xuống nằm yên tận đáy, nhưng khi chưa gạn lọc ra được, gặp duyên khuấy động, bùn lại nổi lên—When we pour water into a jar, though the impurities are deposited at the very bottom, they are not yet filtered out. If conditions change and the water is stirred up, the impurities will rise. 3) Thí dụ thứ ba: The third analogy—Như đồ gốm tuy nắn thành hình, nhưng chưa trải qua một phen nung lại cho chắc, gặp mưa xuống tất phải bị tan rã. Trạng huống ngộ đạo khi chuyển sanh dễ bị thối thất, cũng lại như thế—Take the case of clay which is molded into earthernware would certainly disintegrate. The strong probability that those who have merely experienced an Awakening will retrogress during transmigration is similar to the above examples.
ba thú
Pasu (skt)—Loài súc sanh—Any animal.
ba thấp phạt na đà
(巴濕伐那陀) Phạm: Pàrzvanàtha. Tương truyền là tổ thứ 23 của Kì Na Giáo. Cưới công chúa Ba La Bà Ba Để (Phạm: Pra-bhàbatì) nước A Du Đà làm vợ. Tương truyền khi ba mươi tuổi ông làm thầy tu khổ hạnh và sau tám mươi ba ngày tu luyện thì thành đạo, đề ra bốn giới không giết hại, không nói dối, không trộm cắp, không giữ của riêng; Đại Hùng (tên vị giáo chủ của Kì Na Giáo) lại thêm không gian dâm mà thành ra năm giới.
Ba thế giới
S: triloka, traidhātuka; Hán Việt: Tam giới (三 界), Tam hữu (三 有);|Ba thế giới của Vòng sinh tử, là nơi mà loài Hữu tình tái sinh trong Lục đạo (s: gati), có thể hiểu là Vũ trụ quan của đạo Phật. Ba thế giới bao gồm:|1. Dục giới (欲 界; s, p: kāmaloka, kāmadhā-tu), có Ái dục về giới tính và những ái dục khác.|Trong dục giới có những loại Hữu tình sau:|Ngạ quỷ (餓 鬼; preta)|Ðịa ngục (地 獄; naraka);| Loài người (人 世; nāra)| Súc sinh (畜 生; paśu)| A-tu-la (阿 修 羅; āsura)| Sáu cõi Thiên (天; deva):|Tứ thiên vương (四 天 王; cāturmahārājikade-va);|Ðao lị (忉 利) hay Tam thập tam thiên (三 十 三 天; s: trāyastriṃśa-deva);|Dạ-ma (夜 摩; s: yāmadeva) hoặc Tu-dạ-ma thiên (須 夜 摩 天; s: suyāmadeva);|Ðâu-suất thiên (兜 率 天; s: tuṣita);|Hoá lạc thiên (化 樂 天; s: nirmāṇarati-deva);|Tha hoá tự tại thiên (他 化 自 在 天; s: paranirmi-tavaśavarti-deva);|2. Sắc giới (色 界; s: rūpaloka, rūpadhātu): các vị ở đây thuộc nam tính nhưng đã chấm dứt mọi dục tính, ăn uống, nhưng còn có khoái lạc. Ðây là thế giới của các thiên nhân trong cõi Thiền (s: dhyāna). Hành giả tu tập thiền định có thể tái sinh trong cõi sắc.|Sắc giới gồm bốn cõi, mỗi cõi lại được chia làm nhiều cõi thiên khác nhau:| Sơ thiền thiên (初 禪 天) với ba cõi thiên sau:|Phạm thân thiên (梵 身 天; s: brahmakāyika);|Phạm phụ thiên (梵 輔 天; s: brahmapurohita);|Ðại phạm thiên (大 梵 天; s: mahābrahmā).|Có hệ thống ghi thêm cõi thiên thứ tư của Sơ thiền thiên là Phạm chúng thiên (梵 眾 天; s: brahma-parśadya).| Nhị thiền thiên (二 禪 天) với ba cõi sau:|Thiểu quang thiên (少 光 天; parīttābha);|Vô lượng quang thiên (無 量 光 天; apramāṇā-bha);|Cực quang tịnh thiên (極 光 淨 天; abhāsvara, cựu dịch là Quang âm thiên; 光 音 天).| Tam thiền thiên (三 禪 天) bao gồm:|Thiểu tịnh thiên (少 淨 天; parīttaśubha);|Vô lượng tịnh thiên (無 量 淨 天; apramāṇaśu-bha);|Biến tịnh thiên (遍 淨 天; śubhakṛtsna).| Tứ thiền thiên (四 禪 天) gồm có:|Vô vân thiên (無 雲 天; anabhraka);|Phúc sinh thiên (福 生 天; puṇyaprasava);|Quảng quả thiên (廣 果 天; bṛhatphala);|Vô tưởng thiên (無 想 天; avṛha);|Vô phiền thiên (無 煩 天; atapa);|Vô nhiệt thiên (無 熱 天; sudṛśa);|Thiện kiến thiên (善 見 天; sudarśana);|Sắc cứu kính thiên (色 究 竟 天; akaniṣṭha);|Hoà âm thiên (和 音 天; aghaniṣṭha);|Ðại tự tại thiên (大 自 在 天; mahāmaheśvara).|Có sách xếp 2.4.4.- 2.4.9. dưới tên Tịnh phạm thiên (淨 梵 天), không thuộc về Tứ thiền thiên.|3. Vô sắc giới (無 色 界; arūpaloka, arūpa-dhātu): thế giới này được tạo dựng thuần tuý bằng tâm thức và gồm Bốn xứ (arūpasamā-dhi). Vô sắc giới gồm:| Không vô biên xứ (空 無 邊 處; ākāśanantyāyata-na);| Thức vô biên xứ (識 無 邊 處; vijñānanantyāyata-na);| Vô sở hữu xứ (無 所 有 處; ākiṃcanyāyata-na);| Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非 想 非 非 想 處; naivasaṃjñā-nāsaṃjñāyatana)|Hành giả tu học Tứ thiền bát định có thể tái sinh vào bốn xứ này.
Ba thời Phật
Hán Việt: Tam thế Phật (三 世 佛);|Chỉ Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, đó là các vị Ca-diếp (s: kāśyapa), Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni) và Di-lặc (s: maitreya). Có khi tranh tượng trình bày Phật Nhiên Ðăng (s: dīpaṅkara) là Phật quá khứ.
Ba thừa
(Tam thừa): chỉ các giáo pháp quyền thừa mà đức Phật đã thuyết dạy, dẫn dắt chúng sanh đi dần vào Phật thừa. Ba thừa gồm có: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ Tát thừa. Khi nói Hai thừa (Nhị thừa) thì không có Bồ Tát thừa. Thanh văn thừa chỉ chung hàng đệ tử Phật nhờ nghe thuyết giảng giáo pháp Tứ đế mà phát tâm tu tập đạt được sự giải thoát. Quả vị của Thanh văn thừa là Bốn thánh quả, cao nhất là quả A-la-hán, cũng gọi là Niết-bàn của Tiểu thừa hay Hữu dư Niết-bàn. Duyên giác thừa hay Bích-chi Phật thừa, Độc giác thừa là chỉ chung những vị chứng đắc giải thoát nhờ quán xét và tu tập theo Mười hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên) nên gọi là “Duyên giác”, lại có khi do sinh vào thời không có Phật nhưng tự mình đạt được giác ngộ qua sự quán xét này nên gọi là “độc giác”. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa thường hướng đến sự giải thoát tự thân là chính, nên được gọi chung là Nhị thừa hay Tiểu thừa (ví như cỗ xe nhỏ chỉ chở được chính mình). Bồ Tát thừa chỉ những vị tu tập theo hạnh Bồ Tát, phát nguyện độ thoát vô số chúng sanh trước khi tự mình chứng đắc Phật quả, do đó thường được gọi là Đại thừa (ví như cỗ xe lớn chở được nhiều người). Vì thế, các danh xưng Đại thừa hay Tiểu thừa là do sự phân biệt về hạnh nguyện tu tập, không hàm ý phân chia cao thấp. Vị Bồ Tát ngay khi phát tâm ban đầu (phát Bồ-đề tâm) đã luôn hướng đến quả vị Phật, nên con đường tu tập dẫn đến sự giải thoát rốt ráo của các vị được gọi là Phật thừa.
; S: triyāna; Hán Việt: Tam thừa (三 乘);|Ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa (聲 聞 乘; s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (獨 覺 乘; s: pratyekayāna) và Bồ Tát thừa (菩 薩 乘; s: bodhisattvayāna). Ðại thừa gọi Thanh văn thừa là Tiểu thừa (s: hīna-yāna) với sự đắc quả A-la-hán (s: arhat) là mục đích, Ðộc giác thừa là Trung thừa (s: madhyamāyāna) với quả Ðộc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Ðại thừa (s: mahā-yāna) vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác (s: anuttarasamyaksaṃbodhi).|Trong kinh Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇ-ḍarīka-sūtra), đức Phật nói rằng ba cỗ xe nói trên cũng chỉ là thành phần của một cỗ xe (Nhất thừa) và được chỉ dạy tuỳ theo khả năng tiếp thu của các đệ tử. Ba thành phần này được so sánh với ba cỗ xe được kéo bằng con dê, hươu và bò.
ba thừa
See Tam Thừa.
Ba thừa mười hai phần giáo
Hán Việt: Tam thừa thập nhị bộ phần giáo (三 乘 十 二 部 分 教), gọi đúng hơn là Ba thừa mười hai thể loại kinh;|Là ba cỗ xe Thanh văn (Tiểu thừa), Ðộc giác (Trung thừa) và Bồ Tát (Ðại thừa). Mười hai phần giáo là một cách phân loại Tam tạng kinh điển khác của người Trung Quốc.|Mười hai phần giáo bao gồm: 1. Kinh (經; s: sūtra) hoặc Khế kinh (契 經), cũng được gọi theo âm là Tu-đa-la (修 多 羅), chỉ những bài kinh chính đức Phật thuyết; 2. Trùng tụng (重 頌; s: geya) hoặc Ứng tụng (應 頌), gọi theo âm là Kì-dạ (祇 夜). Một dạng kệ tụng mà trong đó nhiều câu được lặp đi lặp lại; 3. Thụ kí (受 記; s: vyākaraṇa), âm là Hoa-già-la-na (華 遮 羅 那), chỉ những lời do đức Phật thụ kí, chứng nhận cho các vị Bồ Tát, đệ tử mai sau thành Phật và những việc sẽ xảy ra…; 4. Kệ-đà (偈 陀; s: gāthā), cũng được gọi là Kí chú (記 註) hay Phúng tụng (諷 頌), những bài thơ ca không thuật lại văn trường hàng, xem Kệ; 5. (Vô vấn) Tự thuyết ([無 問]自 說; s: udāna) hoặc Tán thán kinh (讚 歎 經), âm là Ưu-đà-na (憂 陀 那), chỉ những bài kinh mà Phật tự thuyết, không phải đợi người thỉnh cầu mới trình bày; 6. Nhân duyên (因 緣; s: nidāna) hay Quảng thuyết (廣 說), gọi theo âm là Ni-đà-na (尼 陀 那), chỉ những bài kinh nói về nhân duyên khi Phật thuyết pháp và người nghe pháp…; 7. Thí dụ (譬 喻; s: avadana) hoặc Diễn thuyết giải ngộ kinh (演 說 解 悟 經), âm là A-ba-đà-na (阿 波 陀 那), chỉ những loại kinh mà trong đó Phật sử dụng những thí dụ, ẩn dụ để người nghe dễ hiểu hơn; 8. Như thị pháp hiện (如 是 法 現; s: itivṛttaka) hoặc Bản sự kinh (本 事 經), âm là Y-đế-mục-đa-già (醫 帝 目 多 伽), chỉ những bài kinh nói về sự tu nhân chứng quả của các vị đệ tử trong quá khứ, vị lai; 9. Bản sinh kinh (本 生 經; s: jātaka), gọi theo âm là Xà-đà-già (闍 陀 伽); 10. Phương quảng (方 廣), Phương đẳng (方 等; s: vaipulya) hoặc Quảng đại kinh (廣 大 經), gọi theo âm là Tì-phật-lược (毗 佛 略); 11. Hi pháp (希 法; s: addhutadharma) hoặc Vị tằng hữu (未 曾 有), âm là A-phù-đà đạt-ma (阿 浮 陀 達 磨), kinh nói về thần lực chư Phật thị hiện, cảnh giới kì diệu, hi hữu mà phàm phu không hội nổi; 12. Luận nghị (論 議; s: upadeśa), cũng được gọi là Cận sự thỉnh vấn kinh (近 事 請 問 經) hoặc theo âm là Ưu-ba-đề-xá (優 波 提 舍), chỉ những bài kinh có tính cách vấn đáp với lí luận cho rõ lí tà, chính.
Ba Tiêu
芭 蕉; J: bashō;|Tùng Vĩ Ba Tiêu (松 尾 芭 蕉).
ba tiêu
Bashō (J)Tùng Vĩ Ba Tiêu.
Ba Tiêu Huệ Thanh
(芭蕉慧清, Bashō Esei, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Đường, vị tăng của Quy Ngưỡng Tông Trung Quốc, xuất thân Tân La (新羅), Triều Tiên, pháp từ của Nam Tháp Quang Dũng (南塔光涌). Ông đã từng sống ở Ba Tiêu Sơn (芭蕉山), thuộc Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc).
; 芭 蕉 慧 清; C: bājiāo huìqīng; J: bashō esei; tk. 10; |Thiền sư Triều Tiên, thuộc tông Quy Ngưỡng. Năm 28 tuổi, Sư đến yết kiến Nam Tháp Quang Dũng và được Ấn khả. Nối pháp của Sư có 4 vị, trong đó Hưng Dương Thanh Nhượng và U Cốc Pháp Mãn là hàng đầu. Sư sau trụ trì tại núi Ba Tiêu, rất nhiều người theo học.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nước Ba Tiêu (cây chuối)?« Sư đáp: »Mùa đông ấm mùa hạ mát.« Tăng hỏi: »Thế nào là xuy mao kiếm (吹 毛 劍; kiếm bén thổi sợi lông qua liền đứt)?« Sư tiến ba bước. Hỏi: »Thế nào là Hoà thượng một câu vì người?« Sư đáp: »Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.«|Sư thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng: »Các ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không có gậy thì ta cướp cây gậy các ông.« Sư chống gậy đứng rồi bước xuống toà.|Lời dạy bất hủ này đã được ghi lại trong Vô môn quan, Công án 44.
ba tiêu huệ thanh
Pa chia Huiching (C), BashoYesei (J), Bashō Eshō (J), Pa-chiao Hui-ch'ing (C), Bajiao Huiqing (C), Basho Esai (J)(In the 10th century) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Nam Tháp Quang Dũng. Một Thiền sư Nhật (1644 - 1694).
ba tiêu huệ thanh thiền sư
Zen Master Ba-Jiao-Hui-Qing—See Huệ Thanh Ba Tiêu Thiền Sư.
Ba tra
(波吒): bức bách, chồng chất, nói lên tình trạng khổ não cao độ. Như trong bài thơ của Thập Đắc (拾得) được thâu lục trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 807, có câu: “Phanh trư hựu tể dương, khoa đạo điềm như mật, tử hậu thọ ba tra, cánh mạc xưng oan khuất, Phật ai Tam Giới tử, tổng thị thân nam nữ, khủng trầm hắc ám khanh, thị nghi thùy hóa độ, tận đăng vô thượng đạo (烹豬又宰羊、誇道甜如蜜、死後受波吒、更莫稱冤屈、佛哀三界子、總是親男女、恐沉黑暗坑、示儀垂化度、盡登無上道, nấu heo lại giết dê, khoe đạo ngọt như mật, chết rồi chịu khổ báo, thôi chớ kêu oan khiên, Phật thương con Ba Cõi, đều là nam nữ thân, sợ rớt hầm đen tối, tùy nghi thương hóa độ, thảy chứng đạo vô thượng).” Hay như trong quyển Hạ của Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師拾遺偈頌, CBETA No. 1413) có bài Tống Huệ Thiền Nhân Hành Hóa (送惠禪人行化): “Đại sự viên thành tại đốt ta, mạc sầu đồ lộ khổ ba tra, tam thiên lí ngoại phùng tri kỷ, bút hạ năng khai ngũ diệp hoa (大事圓成在咄嗟、莫愁途路苦波吒、三千里外逢知己、筆下能開五葉花, chuyện lớn tròn thành cũng tại ta, chớ buồn đường sá khổ chi mà, ba ngàn dặm ngoại gặp tri kỷ, dưới bút nở ra năm cánh hoa).”
ba tra lị phất, hoa thị
Pàtaliputra (S). Name of place, actual Patna.
ba trá li thụ
(波咤厘樹) Ba Tra Li, Phạm: Pàỉali. Cũng gọi là Bà Tra La Thụ, Ba La La Thụ, Ba La Lợi Thụ, Ba La Thụ. Dịch ý là cây lá kép, cây hoa kép, cây vông. Tên khoa học là Bignonia Sauveolens. Giống loại cây thu, thân cây cao, mùa xuân hoa nở mầu đỏ tía, mùi rất thơm. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 8, bảo rằng, lúc bắt đầu xây thành Ba Tra Li Tử, Thủ đô của nước Ma Yết Đà, loại cây này được gọi là cây Nữ Tế Thụ [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.45; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.9; kinh Đại Bảo Tích Q.37].
ba trá li tử thành
(波咤厘子城) Ba Tra Li Tử, Phạm: Pàỉaliputra, Pàli: Pàỉaliputta. Là Thủ đô của nước Ma Yết Đà thuộc trung Ấn Độ.Pàỉali, dịch âm là Ba Tra Li; putra, dịch ý là tử (con). Còn gọi là Ba La Lợi Phất Thành, Ba Tra La Thành, Ba Lân Thành. Dịch ý là Hoa Thị Thành. Nằm về nam ngạn sông Hằng. Thành này do vua A Xà Thế xây dựng. [X. luận Đại Trí Độ Q.3; Đại Đường Tây Vực Kí Q.8; Huyền Ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Hoa Thị Thành).
ba trá lị phất thành
Xem Hoa thị thành.
Ba trí huệ
Hán Việt: Tam huệ (三 慧);|Ba dạng hiểu biết, được chia ra như sau:|1. Văn huệ (聞 慧; s: śrutimayō-prajñā), trí huệ đạt được thông qua sách vở; 2. Tư huệ (思 慧; s: cintāmayō-prajñā), trí huệ đạt được sau khi phân tích, suy ngẫm (chính tư duy trong Bát chính đạo); 3. Tu huệ (修 慧; s: bhāvanāmayō-prajñā), trí huệ xuất phát từ Thiền định.
ba trăng
Three months.
ba trĩ
Xem Vua của loài A tu la.
ba trường hợp kẻ nặng nghiệp vẫn được vãng sanh
Theo Quán Kinh Sớ, thì người nghịch ác mà được vãng sanh, là do khi lâm chung, kẻ ấy chí tâm niệm Phật, nên tội chướng được tiêu trừ. Chính vì vậy mà Kinh đề nghị niệm Phật là điều kiện tối quan trọng để được vãng sanh. Có ba trường hợp kẻ nặng nghiệp vẫn được vãng sanh—According to the Treatise on the Meditation Sutra, the rebirth of depraved, evil beings is due to their recitation of the Buddha's name with utmost sincerity at the time of death, as this leads to the dissipation of karmic obstructions. Therefore, the Treatise suggests that Buddha Recitation is the most important condition for rebirth. There are three conditions that evil beings may be reborn in the Pure Land. 1) Trường hợp thứ nhất: The first condition—Hành giả chỉ niệm Phật trong thời gian ngắn ngủi mà có thể thắng nổi nghiệp ác trọn đời, là do nhờ tâm lực rất mạnh mẽ, ý chí cực quyết định; đó gọi là đại tâm. Tình cảnh ấy ví như người bị quân giặc vây khổn, đang lúc nguy cấp, do liều chết không kể đến thân mạng, nên phát được sức dũng mãnh cùng cực, xông phá vượt ra khỏi nanh vuốt của vi trùng—Very strong mind-power and utterly determined will, which allow the practitioner to overcome the evil karma of an entire lifetime by reciting the Buddha's name for only a short period of time. This is called the Great Mind. This situation can be compared to that of a soldier surrounded by enemies ready to harm him. In such dangerous circumstances, boldly risking his life, he musters his utmost power and strength and thus breaks out of encirclement. 2) Trường hợp thứ hai: The second condition—Hành giả tuy có tạo ác, song hoặc hiện đời đã có tu tam muội, nên khi lâm chung nghe người nhắc bảo, định lực được dễ thành. Đây cũng thuộc về hạng người mà trong nhà Phật gọi là Thừa Cấp Giới Hưởn. Nếu hành giả hiện đời không tu tam muội, tất đời trước cũng đã có huân tu. Hạt giống lành ấy nay đến thời kỳ thuần thục, nên khi lâm chung gặp thiện tri thức khuyên bảo, kẻ đó nương nơi túc thiện nghiệp, trong mười niệm mà được thành công—Previous or current good karma. Although the person has created evil karma, he has also practiced samadhi during his curent lifetime. Thus, at the time of death, when he is reminded by others, he easily achieves concentration. If the dying person has not cultivated samadhi in this lifetime, he must have done so assiduously in a previous life. That good seed has now come to maturity. Therefore, thanks to his previous good karma , once he is counselled by a good spiritual advisor, he easily achieves rebirth with just ten thoughts of Amitabha Buddha at the time of death. 3) Trường hợp thứ ba: The third condition—Nếu hành giả không do công tu trong hiện đời hay nghiệp lành về kiếp trước, tất khi lâm chung kẻ ấy đã niệm Phật với lòng sám hối tha thiết cùng cực. Nên Ngài Vĩnh Minh nói: “Vì thể nhân duyên vốn không, nên nghiệp thiện ác chẳng định; muốn rõ đường siêu đọa, phải nhìn nơi tâm niệm kém hơn. Cho nên một lượng vàng ròng thắng nổi bông gòn trăm lượng, chút lửa le lói đốt tiêu rơm cỏ muôn trùng.”—A mind of utterly sincere repentance. If rebirth is not due to efforts at cultivation in this life nor good karma from previous lives, the cultivator, at the time of death, must have recited the Buddha's name with a mind of utterly sincere repentance. Thus, Elder Master Yung Ming has said: “Since the nature of causes and conditions is intrinsically empty, good or bad karma is not fixed. In determining the path of salvation or perdition, we should consider whether the state of mind is slowly transcendental at the time of death. This is analagous to an ounce of pure gold which is worth much more than a hundred times its weight in cotton wool, or a small, isolated flame, which can reduce a pile of straw, enormous beyond reckoning, to ashes.
ba trường hợp đáng bị quở trách của một vị thượng tọa tỳ kheo
Tôn giả Xá Lợi Phất thuyết giảng về “Ba Trường Hợp Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Thượng Tọa Tỳ Kheo” (Ngài Xá Lợi Phất giảng và được Thế Tôn chấp thuận) trong kinh Thừa Tự Pháp trong Trung Bộ Kinh—“The Elder Bhikkhus are to be blamed for three reasons” expounded by Venerable Sariputta in the Dhammadayada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha—Này chư hiền giả, các Thượng Tọa Tỳ Kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách—Friends, elder bhikkhus are to be blamed for three reasons: 1) Trường hợp đáng bị quở trách thứ nhất—The first reason to be blamed for: Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử lại không tùy học viễn ly—As disciples of a Teacher who lives secluded, they do not train in seclusion. 2) Trường hợp đáng bị quở trách thứ hai—The second reason to be blamed for: Những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ—They do not abandon what the Teacher tells them to abandon. 3) Trường hợp đáng bị quở trách thứ ba—The third reason to be blamed for: Những vị nầy sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly—They are luxurious and careless, leaders in backsliding, neglectful of seclusion.
ba trường hợp đáng bị quở trách của một vị trung tọa tỳ kheo
Tôn giả Xá Lợi Phất đã giảng về “Ba Trường Hợp Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Trung Tọa Tỳ Kheo” (các vị mới thọ Tỳ Kheo) trong Kinh Thừa Tự Pháp trong Trung Bộ Kinh—“Three reasons middle bhikkhus are to be blamed” expounded by Venerable Sariputta in the Dhammadayada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: Này chư hiền giả, các Trung Tọa Tỳ Kheo (các vị mới thọ Tỳ Kheo) có ba trường hợp đáng bị quở trách—Friends, middle bhikkhus are to be blamed for three reasons: 1) Trường hợp đáng bị quở trách thứ nhất—The first reason to be blamed for: Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử lại không tùy học viễn ly—As disciples of the Teacher who lives secluded they do not train in seclusion. 2) Trường hợp đáng bị quở trách thứ hai—The second reason to be blamed for: Những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ—They do not abandon what the Teacher tells them to abandon. 3) Trường hợp đáng bị quở trách thứ ba—The third reason to be blamed for: Họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly—They are luxurious and careless, leaders in backsliding. Neglectful of seclusion.
ba trụ
(巴宙) (1918 - ? ) Người Vạn Huyện tỉnh Tứ Xuyên. Ham học Phật từ nhỏ, năm Dân quốc 27 (1938), ông sang Đại học Quốc tế tại Ấn Độ để nghiên cứu văn hóa và ngữ văn Ấn Độ. Sau khi đậu văn bằng Thạc sĩ, ông lại chuyển đến học tại Đại học Bombay. Năm Dân quốc 37, ông làm luận án Tiến sĩ bằng tiếng Anh với đề tài So sánh đối chiếu Ba La Đề Mộc Xoa giữa Phạm, Pàli, Hán, Tạng văn, và đậu Tiến sĩ tại Đại học ấy. Trong thời gian nghiên cứu tại Ấn Độ, ông cũng đã dạy học tại các Đại học Quốc tế và Đại học A Lạp Cáp Ba (Allahabad). Năm Dân quốc 43, ông nhận chức giáo thụ tại Đại học Tích Lan. Sau khi đã dạy mười bốn năm, ông sang nước Mĩ và nhận dạy tại Đại học Ái Hà Hoa (Iowa), chuyên giảng các môn văn hóa Á châu, tôn giáo, triết học và Phật học v.v... Ngoài việc giảng dạy ra, thi thoảng ông lại đi du khảo tại các nước trên thế giới. Từng đến Luân Đôn, Ba Lê để nghiên cứu các bản viết tìm được Cây Ba Tra Li ở Đôn Hoàng. Ông trứ tác rất nhiều, ngoài luận án Tiến sĩ ra, còn có: Nghiên cứu so sánh kinh Đại Niết Bàn và bản Hán dịch, Đôn Hoàng Vận văn tập, và bản dịch Nam truyền Đại Bát Niết Bàn kinh. Các bài viết của ông đã được công bố trong Đại Anh Bách Khoa toàn thư, Tích Lan Phật giáo đại từ điển, Hoa Học nguyệt san và Phật Quang học báo v.v... Đã mấy lần ông tham dự các Đại hội về ông phương học có tính cách quốc tế. Là nhà học Phật nổi tiếng của Trung Quốc ở hải ngoại.
ba tuần
Pàpiyàn (S). Very wicked. Ác ma, the Evil One. Sát giả, the Murderer Màra; because he strives to kill all goodness.
; Papiyan or Papiman (skt)—Một thuật ngữ Phật giáo để chỉ những kẻ cố tình phạm tội—A Buddhist term for those who intentionally commit wrong doings: - Một kẻ cùng hung cực ác: A very wicked. - Ác giả: The evil one. - Sát giả: The murderer. - Ma quân: Ác ma cố gắng cắt đứt thiện căn nơi con người—Mara who strives to kill all goodness in human beings.
; (波旬) Phạm: Pàpìyas hoặc Pàpman, Pàli: Pàpiyahoặc Pàpimant. Còn gọi là Ba Tỉ Chuyên, Ba Chuyên, Ba Bệ, Ba Tỉ, Bá Tì. Trong các kinh điển cũng thường gọi Ma ba tuần (Phạm: Màra-pàpman). Dịch ý là ác giả, ác vật, ác trung ác, ác ái. Chi loài ác ma dứt mất sự sống và gốc lành của con người. Tên ma chúa ở thời đức Phật Thích Ca còn tại thế. Cứ theo kinh Thái Tử Thụy Ứng bản khởi quyển thượng chép, thì Ba Tuần tức là chủ cõi trời thứ sáu ở Dục giới. Luận Đại Trí Độ quyển 56 bảo, ma tên là Tự tại thiên vương. Ma vương này thường theo dõi Phật và các đệ tử, mưu đồ quấy nhiễu; mà tội trái nghịch Phật và nhiễu loạn tăng là tội lớn nhất trong các tội, cho nên ma này còn được mệnh danh là cực ác. Lại có người bảo Ba Tuần là từ dịch sai của chữ Phạm Pàpìyàn, vốn dịch âm là Ba Ti Dạ, Ba Ti Diện, Ba Tuần Du, Ba Tuần. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm chương quyển 6 của ngài Khuy Cơ (Đại 45, 348 trung), nói: Tiếng Phạm là Ma la, Hán dịch là nhiễu loạn chướng ngại, phá hoại; nhiễu loạn thân tâm, chướng ngại thiện pháp, phá hoại việc tốt. (...). Lại nói Ba Ti Dạ, Hán dịch là kẻ ác, tên riêng của Thiên ma, nói Ba tuần là nói sai; ác giả là thành tựu ác pháp, hoài bão ác ý. Lại cứ theo Tuệ Lâm Nhất Thiết Kinh âm nghĩa quyển 10 (Đại 54, 369 thượng) thì nói:Chữ Tuần.. gốc từ chữ mục , âm huyện, viết lầm từ chữ nhật làm chữ tuần.., nay xét trong bản chữ Phạm thì không có âm tuần, chỉ vì viết lầm rồi truyền lầm đã từ lâu. Có nghĩa là từ ngữ Ba Tuần đã bị viết sai và truyền lầm đã từ lâu đời. [X. kinh Tạp A Hàm Q.39; Trung A Hàm Q.30 kinh Hàng Ma; Trường A Hàm Q.2 kinh Du Hành; kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Q.7, Q.9]. (xt. Ác Ma, Ma).
ba tính
Tilakkhaṇa (P), Trilakṣaṇa (S)Tam tướng.
ba tăng
License.
ba tư nặc
See Prasenajit in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ba tư nặc (vương)
Prasenàjit (S). Name of king.
ba tư nặc vương
Prasenājit (S), Pasenadi (P)Thắng quân vương, Hòa Duyệt, Nguyệt Quang, Thắng Quân, Thắng Quang, Thắng Niên. Xem Prasenajit.
; (波斯匿王) Ba Tư Nặc, Phạm: Prasenajit, Pàli: Pasenadi. Còn gọi là Bát La Tê Na Thị Đa vương, Bát La Tẩy Nẵng Dụ Na vương. Dịch ý là Thắng Quân vương, Thắng Quang vương, Hòa Duyệt vương, Nguyệt Quang vương, Quang Minh vương. Là vua nước Kiều Tát La (Phạm: Kauzàla) thuộc trung Ấn Độ, cùng thời đại với đức Thế tôn. Vua ở thành Xá Vệ (Phạm: Zràvastì), là nhà ngoại hộ lớn của giáo đoàn đức Thế tôn, kiêm lãnh nước Ca Thi (Phạm: Kàzi), là một đại cường quốc ngang hàng với nước Ma Yết Đà.Cứ theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 26 chép, thì đức Như Lai thành đạo chưa bao lâu, vua Ba Tư Nặc lên ngôi, muốn cưới con gái giòng họ Thích làm vợ, Ma Ha Nam (Phạm: Mahànà-ma), thuộc giòng Thích Ca, bèn chọn một người tì nữ gả cho, nhà vua lập làm đệ nhất phu nhân, sinh người con đặt tên là Tì Lưu Lặc (Phạm: Viđùđabha). Nhà vua lúc đầu bạo ác, không tin, sau khi qui y Phật, nhờ Phật giáo hóa luôn, nên dốc lòng tin Phật Pháp, từng cùng với phu nhân Ma Lợi Ca (Phạm: Mallikà, tức Mạt Lợi phu nhân) vấn đáp, và rút ra được kết luận là người ta ai ai cũng tự yêu mình hơn cả. Về sau, thỉnh ý đức Thế Tôn chỉ giáo và cuộc đối thoại của Ngài, cho đến nay, vẫn còn được biết đến ở đời. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 26 chép, sau khi nhà vua mệnh chung, Tì Lưu Lặc lên làm vua. Nhưng Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự quyển 8 và Tây Tạng Phật truyện thì lại chép khác, bảo rằng, nhà vua bị thái tử Tì Lưu Lặc cướp ngôi, phải chạy trốn và chết đói giữa đường. [X. kinh Tạp A Hàm Q.42, Q.46; Trung A Hàm Q.60 kinh Ái Sinh; Trường A Hàm Q.6 kinh Tiểu Duyên; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.18, Q.28, Q.43; kinh Xuất Diệu Q.8; luật Tứ Phần Q.15, Q.16; Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự Q.7, Q.26].
Ba tướng
S: trilakṣaṇa; P: tilakkhaṇa; Hán Việt: Tam tướng (三 相);|Ba đặc tính của thế giới hiện tượng là Vô thường (s: anitya), Khổ (duḥkha) và Vô ngã (s: anātman).
ba tướng khổ
(tam khổ tướng) Gồm có: khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. 1. Khổ khổ: tướng khổ vì sự khổ, là các nỗi khổ như tật bệnh, đói khát, nóng lạnh... nối nhau không dứt. Cái khổ này vừa dứt thì cái khổ khác tiếp theo, làm cho chúng sanh đau khổ. 2. Hành khổ: tướng khổ vì các hành, do các hành là vô thường nên vạn vật trong thế gian đều là thường, liên tục biến đổi. Sự vô thường thay đổi của chúng làm cho người ta phải khổ. 3. Hoại khổ: tướng khổ vì hoại diệt, vì vạn vật trong thế gian đều phải hư hoại, bản thân mỗi người cũng như hết thảy những con người và sự vật mình yêu thích đều phải hoại diệt. Điều ấy làm cho chúng sanh phải khổ.
ba tướng trạng của hiện hữu
Trilakṣaṇa (S).
ba tấm pháp y
(tam pháp y): cũng gọi là Tam y, chỉ bộ pháp phục của vị tỳ-kheo gồm ba tấm y là: đại y (hay y tăng-già-lê) là tấm y dùng đắp khi hành lễ hoặc đi ra đường; thượng y (hay y uất-đa-la-tăng) là tấm y dùng đắp khi sinh hoạt thường ngày trong tự viện hoặc khi ở một mình, không hành lễ; nội y (hay y an-đà-hội) là tấm y dùng mặc trong cùng, thay cho áo lót. Theo giới luật thì mỗi vị tỳ-kheo chỉ được dùng một bộ gồm đủ 3 tấm y này, không được tích chứa nhiều hơn. Ngoài các loại y này, người xuất gia không được sử dụng những y phục khác như người thế tục.
ba tị
(巴鼻) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi là Bả Tị, Ba Tí, Bả Tí. Ba, tức cầm, nắm; tị, chi mũi bò. Tức xỏ dây thừng qua mũi bò để dắt điều khiển. Sau chuyển thành nghĩa cái chỗ có thể nắm giữ được, như nói cái giữ lấy làm gốc (căn cứ), nắm lấy cán, chuôi. Bích Nham Lục Tắc 3 (Đại 48, 142 hạ), nói: Chỉ như Mã Đại Sư nói như thế thì ý nằm ở chỗ nào? Có kẻ nói: Điểm bình vị tán nhất trản lai. Có căn cứ gì? (hữu thậm mạ ba tị?) Đến đây phải hiểu thế nào mới bình ổn? [X. Bích Nham tập Phổ Chiếu tự].
Ba tự tính
S: trisvabhāva; Hán Việt: Tam tự tính (三 自 性);|Chỉ cách phân chia đặc điểm của các Pháp theo Duy thức tông.
ba tự tính
Trisvabhāva (P)Tam tướng.
ba xoa
Virupaksa (skt)—Tên của vị Thiên Vương Tây Phương hay Xú Nhãn Thiên Vương, người có đôi mắt xấu xí, đây là một trong tứ Thiên Vương—Name of the West Heaven King who has irregular eyes (Irregular-Eyed Heaven King), one of the four heaven kings.
ba xà ba đề
Prājapati (S), Mahā-prājapati (S), Pajāpati (P)Ma ha Ba xà ba đề, Bát la nhạ, Chúa Tạo vật, Sanh chủ thần, Chúng sanh chủ1- Dì của Phật Thích ca, sau khi hoàng hậu Ma Da hạ sanh được bảy ngày thì qua đời, Ngài được bà Ba xà ba đề nuôi dưỡng cho tới lớn. Sau khi vua Tịnh Phạn thăng hà, bà thọ giới qui y và là nữ đệ tử xuất gia đầu tiên của tăng hội. Bà cũng là người đã thành lập Giáo hội Tỳ kheo ni. 2- Thần tạo vũ trụ trong Ấn giáo. Xem Sikhi.
; Prajàpatì (S). Aunt and nurse of the Buddha.
; Prajapati (skt)—Dì và cũng là nhũ mẫu của Phật Thích Ca—Aunt and nurse of the Buddha—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề.
ba yếu tố khiến cho việc tu tập thiền được thành tựu
Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, có ba yếu tố khiến cho việc tu tập Thiền được thành tựu. Thiếu một trong ba cũng như cái đỉnh gẩy hết một chân, nó sẽ đổ—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Book II, there are three factors making for success in the cultivation of Zen. When any one of the below factors is lacking it is like a caudron with a broken leg, it limps. 1) Tin lớn: Great faith. 2) Chí nguyện lớn: Great resolution. 3) Nghi lớn: Great spirit of inquiry.
ba đan xà lê
Patajali (S)Bàn đạt xà lýHọc giả người Ấn thế kỷ II BC.
; (巴丹闍梨) Phạm:Pataĩjali. Là nhà học giả văn pháp (grammar) Ấn Độ ở thế kỉ thứ II trước Tây lịch. Còn gọi là Bàn-đạt-xà-lí, Bát-đầu-xã-la. Ông viết cuốn sách Ma-ha-ba-hạ (Phạm: Mahàbhàwya), chú giải sách Khải-đề-a-á-na (Phạm: Kàtyàyana) rất tường tận, và từng bổ chính văn điển Ba-nhĩ-ni (Phạm: Pàịini), xác lập khuôn phép văn phạm của tiếng Phạm Ba-nhĩ-ni cho được hoàn bị, lại phê phán đính chính văn điển và, trong phần thuyết minh, có nói nhiều đến cách sinh hoạt xã hội của thời bấy giờ, cho nên nó là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu lịch sử Ấn Độ. Không biết Ba-đan-xà-lê cùng với nhà triết học phái Du-già đã viết cuốn kinh Du-già (Phạm: Yogasùtra) là một người hay khác, thì điều đó không có cách nào biết được. Nội dung kinh Du-già bao hàm triết học, giới luật và phương pháp tĩnh tọa, lấy việc chỉ dẫn người học nhận biết thần tính làm chủ yếu; tác giả kinh Du-già cũng gọi là Ba-đan-xà-lê, nhưng sự tích của ông, về mặt sử thực, không thấy được truyền, và kinh Du-già được viết vào thời đại nào, cũng có nhiều thuyết phân vân, người ta chỉ có thể phỏng đoán là ông đã sống ở khoảng 400 năm trước Tây lịch đến 400 năm sau Tây lịch.
ba điều như lai không cần gìn giữ
Three things a Tathagata has no need to guard against—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba điều mà Đức Như Lai không cần gìn giữ—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three things a Tathagata has no need to guard against. 1) Nầy các hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về thân. Như Lai không có ác hạnh về thân mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in bodily conduct. There is no misdeed of body. 2) Như Lai thanh tịnh thiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in speech. There is no misdeed of speech. 3) Như Lai thanh tịnh thiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in thought. There is no misdeed of thought.
ba điều phật có thể làm được
Three things possible to a Buddha: 1) Khả năng hiểu biết vạn vật: He can have perfect knowledge of all things. 2) Khả năng hiểu biết bản chất thật của vạn hữu: He can have perfect knowledge about the natures of all beings. 3) Khả năng cứu độ vô lượng chúng sanh: He can save countless beings.
ba điều phật không thể làm được
Three things impossible to a Buddha: 1) Không thể loại trừ nhơn quả nghiệp báo cho chúng sanh: He cannot annihilate causality karma. 2) Không thể cứu rỗi vô điều kiện: He cannot save unconditionally. 3) Không thể chấm dứt các đường dữ cho chúng sanh: He cannot end the realm of the living.
ba điều thống thiết tự trách của người tu pháp môn tịnh độ
The Pure Land practitioners should always bitterly reproach themselves for three things—Tu theo Pháp môn Tịnh Độ, ai ai cũng muốn tu làm sao cho niệm niệm nối nhau không dứt. Tuy nhiên, vì định lực chưa thành nên niệm đầu không chủ, hoặc tri giác cũ khó quên, hoặc vọng tưởng nổi dậy, hoặc xúc đối cảnh duyên tự kềm giữ không vững, hoặc tâm tình rối loạn cố ngăn dẹp chẳng kham. Cứ ngồi vào lần chuỗi một lúc là tâm niệm đã chạy hết đông sang tây, bất giác nó đi xa cách mấy ngàn muôn dậm hồi nào cũng không biết. Có khi phải bận lo một việc nào đó nên tâm trí cứ vướng vít cả tháng trời chưa hết. Dẹp trừ tạp niệm còn chưa xong, huống là gián đoạn lúc niệm Phật. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, câu 26, đây là căn bệnh chung của hầu hết người tu. Vì thế nếu người tu không thống thiết tự trách thì khó mà thành tựu được pháp tu Tịnh Độ Vô Gián. Có ba điều thống thiết tự răn—To be a Pure Land practitioner, everyone always wants to cultivate in such a way that thought follows upon thought without interruption. However, having not yet achieved one-pointedness of Mind, we cannot even rein in the first thought, or else, the previous perception is difficult to forget, or deluded thoughts arise. We cannot keep our thoughts from being disturbed by circumstances and conditions. Our Minds and feelings are confused and cannot be stilled. Each time we sit down to finger the rosary for a moment, our thoughts have gone in all directions, suddenly travelling millions of miles without our knowledge or awareness. At times, when we are preoccupied with some problem, we turn it over and over our Minds for days and days, or even for months. It is impossible for us to rid ourselves of such tangled thoughts, not to mention doing away with interruptions in recitation. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Treatise on The Ten Doubts, question number 26, this is the common disease of almost all Pure Land practitioners. If we do not earnestly restrain ourselves, it will be difficult to succeed in the practice of exclusive, uninterrupted cultivation. There are three things that practitioners would bitterly reproach themselves. 1) Báo Ân: Repaying one's obligation—Người tu có rất nhiều trọng ân; hãy tạm gác qua ân Phật và ân Thầy Tổ. Dù là người xuất gia, công ân sanh dưỡng của cha mẹ há chẳng nặng sâu hay sao? Dù đã lìa tục xuất gia, và vì đi học đạo nên phải xa cách quê hương nhiều năm, cha mẹ nhọc nhằn cực khổ cũng không biết, khi già yếu bệnh hoạn lại cũng không hay biết để chăm sóc thuốc thang. Đến lúc cha mẹ mãn phần, cũng không biết, hoặc có nhận được tin cũng về trễ muộn. Khi còn nhỏ, có khi cha mẹ vì nuôi nấng thương lo cho con mà gây tội tạo nghiệp, nên lúc chết bị đọa vào nẻo khổ, hy vọng chúng ta cứu độ, như khát chờ uống, như hạn trông mưa. Nếu chúng ta tu hành chễnh mãng tất tịnh nghiệp không thành; đã không thành thì tự cứu còn chưa xong, làm sao cứu được mẹ cha? Đối với song thân đã lỗi về vật chất, mà còn không cứu độ được phần tâm linh, tức là phụ nghĩa quên ân, là người đại bất hiếu. Theo Phật, tội bất hiếu là một đại tội sẽ bị đọa vào địa ngục. Như thế tâm niệm gián đoạn không chuyên tu để cứu độ mẹ cha cũng chính là nghiệp địa ngục vậy. Lại nữa, chúng ta không biết dệt quần áo để mặc, không cày để ăn, phòng nhà, chăn gối, cơm áo, thuốc thang đều do đàn na tín thí cúng dường. Tổ sư từng dạy răng: “Hàng thiện nam tín nữ vì sùng kính Tam Bảo, đã chia cắt bớt phần của gia đình đem đến cúng dường. Nếu người tu đạo hạnh không tròn, thì dù tấc vải hạt cơm , kiếp sau cũng phải đền trả.” Muốn báo ân đàn na tín thí, chúng ta phải lo chuyên tu tịnh nghiệp để độ mình độ người. Nếu chúng ta sanh một niệm gián đoạn không chuyên, tất đã có phần trong kiếp luân hồi vay trả. Và tam niệm nầy chính là niệm hạ tiện hoặc súc sanh—Cultivators have a number of important obligations. Let us put aside temporarily the debts to the Buddhas and our teachers. Even a monk or nun, do you not think that we owe a profound and heavy debt to our parents for giving our life and raising us? Having left home and all mundane activities, studying the Dharma far from our home for so many years, we were not aware of the hardships and sufferings of our parents. We did not know of our parents' old age and illness, and so did not take proper care of them. When they died, we either had no knowledge, or, if we were aware of it, we probably returned home too late. When we were young, in order to raise and educate us, our parents, at times, committed numerous transgressions. After death, as they descended upon the path of suffering, they hoped that we would come to their rescue, just as a person might wait for a glass of water to assuage his thirst, or for the pouring rain to cease. If our cultivation is haphazard, our Pure Land karma will not bring results. Thus, we cannot even save ourselves, let alone our parents! In such circumstances, we have not only missed the opportunity to take care of their temporal needs, we are now remiss in our obligations to their souls. We are most unfilial sons indeed! The Buddha said: “To be unfilial is to sink into hell.” Thus, the Mind of interruption, of failure to cultivate assiduously, is indeed the karma of hell. Moreoever, we do not weave, yet we wear clothing; we do not plough, yet we eat our fill. Living quarters, bedding, food, clothing, medicine, etc. are all provided by Buddhist followers. The ancient masters have often admonished: “Buddhist followers, out of respect and veneration for the Triple Jewel, parcel out part of their meager family food budget as a donation to monks and nuns. If the latter are not blameless in their cultivation, even an inch of cloth or a grain of rice will have to be paid back in future lifetimes. To repay the favor of our disciples, we should follow the Pure Land path assiduously, to rescue ourselves and others. If we let even a single intrusive thought arise and fail to persevere, we have become enmeshed in Samsara endelessly 'borrowing' and 'repaying.' That very intrusive thought is vile karma or the karma of animality. 2) Chí Quyết Định: The Resolute Will—Người tu hành phải kiên quyết để đi đến kết quả. Một đời tham thiền đã chẳng ngộ thiền, khi học giáo lại chẳng tinh về giáo. Cho đến ngày nay tâm địa lại chưa lắng yên, niệm đầu còn sôi nổi, khi thì muốn làm thơ, lúc muốn tả cảnh, khi thì thuyết giáo, lúc lại đàm thiền, ý chí ly tán đi ba bốn nẻo. Tổ sư đã bảo: “Tâm niệm còn vướng mắc, đó là nghiệp luân hồi. Tình tưởng vừa sanh ra, muôn kiếp bị ràng buộc.” Sở dĩ chúng ta chưa được chánh niệm, là vì còn tình tưởng phân vân, và tình tưởng phân vân bởi nơi chưa quyết chí. Cho nên người tu mà ý chí chưa nhất quyết, đó chính là đầu mối của sự sa đọa vào tam đồ ác đạo vậy. Lại nữa, nếu người tu không có ý chí quyết định thì không thể giữ gìn giới căn. Do ý niệm phân vân nên không thể thâu nhiếp thân và khẩu. Phật dạy: “Thà lấy nước đồng sôi mà rót vào miệng, nguyện không để miệng phá giới khi đang thọ dụng các thức ăn uống của đàn na tín thí. Thà dùng lưới sắt nóng quấn thân thể mình, nguyện không để thân phá giới khi đang thọ dụng những y phục cúng dường của đàn na tín thí.” Huống là các giới không trang nghiêm , nên tâm càng vọng động; nhân sự vọng động ấy mà phần chuyên tu bị gián đoạn. Thế nên một niệm gián đoạn, đâu chỉ là nghiệp nhân của lưới sắt hay nước đồng sôi? Và nếu người tu ý chí không quyết định, tất không nhận rõ tướng đời huyễn giả, dễ chạy theo danh lợi hư phù. Khi danh lợi thuộc về mình thì sanh lòng mê đắm, khi danh lợi thuộc về kẻ khác lại sanh lònh ganh ghét hơn thua. Tổ sư xưa thường dạy: “Tham đắm danh lợi sẽ đi về đường quỷ hay nẻo súc sanh, buông lòng thương ghét đồng vào hầm lửa vạc dầu!” Thế nên một niệm gián đoạn chính là ngạ quỷ hay hầm lửa vậy—The practitioner should be resolute in order to achieve results. As monks and nuns, we have spent a lifetime practicing Zen but have not awakened to its meaning. Nor did we master the subtleties of the Buddhist Canon when we began studying the sutras. Even today, our Mind is not yet empty and calm; our thoughts are still in ferment. At times we want to write poetry, at other times we want to draft commentaries; at times we want to expound the Dharma, at other times we want to indulge in Zen talks. Our thoughts are scattered among three or four areas. The ancient masters have said: "A Mind which is still grasping is precisely the karma of Birth and Death. As soon as feelings and thoughts or attachments arise, we are chained for tens of thousands of eons.” The reason we have not yet achieved right thought is precisely that our felings and thoughts are still unfocussed, and such perplexed feelings and thoughts are due to lack of decisiveness. Thus, cultivating with an irresolute Mind is the beginning of rebirth in the Triple Realm. The Buddha reminded his disciples, as stated in the sutras: “I vow that I would rather pour boiling metal in my mouth than allow such a mouth ever to break the precepts and still partake of the food and drink offered by followers. I would rather wrap my body in a red hot metal net than allow such a body to break the precepts and still wear the clothing offered by disciples.” We need mention that because the precepts are not respected, the Mind grows ever more perturbed, and, because of this perturbation, earnest cultivation is interrupted. Therefore, a single thought of interrupting Buddha Recitation is much more than merely the causal karma of red hot nets and boiling metal. Moreover, if the practitioner's determination is not strong, he cannot fully realize that all mundane dharmas are illusory, and so he easily chases after dreamlike, empty fame and fortune. When the fame and fortune are on his side, he grows deluded and attached. If such fame and fortune belong to others, he evelops hatred and envy. The ancient masters have said: “To be sunk in the pursuit of fame and fortune is to head for the realms of animals and hungry ghosts. To be given to delusive thoughts of love and hate is to be condemned to the firepit and the boiling cauldron. Thus, a thought of interrupting cultivation is precisely the karma of hungry ghosts and hell.” 3) Cầu Sự Ứng Nghiệm: Seeking an Auspicious Response—Người tu Tịnh Độ nên cố gắng làm sao cho có sự ứng nghiệm. Kiếp người mong manh, vô thường chẳng hẹn. Như chúng ta nay tóc đã điểm sương, mặt nhăn. Tướng suy tàn rõ hiện, kỳ lâm chung còn được mấy ngày. Vậy chúng ta nên chuyên tu làm sao cho có triệu chứng vãng sanh chắc chắn. Như khi xưa Huệ Viễn Pháp Sư ở Lô Sơn, ba phen thấy Phật xoa đầu. Lại như Hoài Cảm Pháp Sư chí thành xưng danh hiệu Phật, liền thấy Đức A Di Đà phóng ánh quang minh, hiện ra tướng hảo. Và như Thiếu Khang Pháp Sư khi niệm Phật một câu đại chúng liền thấy một vị Phật từ nơi miệng ngài bay ra, cho đến trăm ngàn câu cũng như thế, tợ hồ các hạt chuỗi nối tiếp nhau. Những sự ứng nghiệm như thế có đến muôn ngàn. Nếu tâm ta không gián đoạn thì thấy Phật rất dễ, như còn gián đoạn tất khó thấy Phật. Đã không thấy Phật thì cùng với Phật không có duyên, và đã không có duyên quyết khó sanh Tịnh Độ. Khi không được sanh về Tịnh Độ, tất sớm muộn gì cũng bị đọa vào ác đạo. Như thế một niệm gián đoạn chính là nghiệp tam đồ, phải nên dè răn và suy nghĩ cho kỹ!—Pure Land followers should strive earnestly for a response. The lives of sentient beings are emphemeral and easily cut short; the ghost of impermanence waits for no one. Our hair is already streaked with white, our face has grown wrinkled. The marks of decay and old age are very clear, and death is but a short time away. Therefore, we should strive to cultivate in earnest, to ensure that some auspicious and reliable signs of rebirth appear. Thus, in ancient China, Elder Master Hui-Yuan of Lu-Shan saw the Buddha rub his crown three times. Another Elder Master earnestly recited the Buddha's name and immediately saw Amitabha Buddha emit rays of light and display auspicious marks. In the case of still another Elder Master, each time he uttered the Buddha's name, the Great Assembly would see a Buddha flying out of his mouth. This was true for hundreds of thousands of his utterances; hundreds of thousands of Buddhas escaped from his mouth, like so many rosary beads, one after another. Such responses are countless. If you recite Amitabha Buddha's name in earnest, without interruption, it is very easy to see Him. Otherwise, it is very difficult. If you do not see the Buddha, you do not have affinities with Him. Without affinities, it is certainly difficult to achieve rebirth. If you are not reborn in the Pure Land, sooner or later you will descend into the evil realms. Thus, a single thought of interrupting recitation is precisely the karma of rebirth on the Three Evil Paths. Everyone should bear this in mind and ponder it carefully!
ba đà
Pada (skt). 1) Bước chân: Step. 2) Dấu chân: Footprint. 3) Vị trí: Position. 4) Một chữ đầy đủ: A complete word.
ba đà kiếp
Bhadra-kalpa (skt)—Hiền Kiếp—The present kalpa.
ba đà la
Patali (skt)—Bát Đảm La. 1) Một loại cây có bông rất thơm—A tree with scented blossoms, the trumpet-flower. 2) Một vương quốc cổ ở Ấn Độ: An ancient kingdom in India.
Ba đường dữ
xem Ba đường ác.
ba đường dữ
See Tam đồ ác đạo.
Ba đường ác
(Tam ác đạo), cũng gọi là Tam đồ, Tam ác thú, Ba nẻo dữ, Ba đường dữ, Ba nẻo ác, Ba cảnh dữ. Chúng sanh do tạo nghiệp ác nên phải thọ sanh vào một trong ba cảnh giới này, đó là: 1. Địa ngục (Hỏa đồ): cảnh giới bị lửa thiêu đốt một cách mãnh liệt. 2. Súc sanh (Huyết đồ): cảnh giới súc sanh, thường bị người giết hại để ăn thịt, hoặc tự ăn thịt lẫn nhau. 3. Ngạ quỷ (Đao đồ): cảnh giới quỷ đói, thường xuyên đói khát mà còn bị bức bách, xua đuổi hoặc hành hạ bằng những khí cụ như đao, kiếm, trượng...
ba đường ác
Three Evil Paths. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
ba đại a tăng kỳ
Three asankhyeya maha kalpas.
ba đạo lý tâm duyên quyết định
Ba lý do khiến vãng sanh Tịnh Độ không tùy thuộc vào ác nghiệp, công hạnh hay thời gian tu tập lâu mau—Three reasons why rebirth in the Pure Land does not necessarily depend on the weight of bad karma, the amount of practice or the duration of cultivation—See Tam Lý Tâm Duyên Quyết Định.
ba đầu ma
Xem hoa sen.
; Padma (S). The red lotus.
; Padma (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus.
ba đầu ma ba ni
Padma-pani (skt)—Bồ tát Quán Âm đang cầm hoa sen, một trong những hình thức của Quán Thế Âm Bồ Tát—One of the forms of Kuan-Yin, holding a lotus.
ba đầu ma liên hoa
Xem Hoa sen.
ba đế
Pati (skt)—Ba Để—Bát Để. 1) Vị Thầy: Master. 2) Vị Chúa: Lord. 3) Người Chủ: Proprietor. 4) Quốc Vương: A king. 5) Người chồng hay gia chủ: Husband or householder.
; (波帝) Phạm: Pati. Còn gọi là Bát-để, Ba-để. Tức chỉ người chồng, chủ, vua, người chi phối. Cứ theo kinh Khởi Thế quyển 10 chép, thì chúng sinh trong kiếp sơ, vì nếm nhiều mùi đất, ăn đất, cây cỏ, lúa gạo, nên dần dần sinh ngã mạn, hình sắc, da thịt và mỡ tủy, hình dáng nam nữ căn, tâm ái dục cũng theo đó mà sinh khởi, do đó, có các chúng sinh đến chỗ vắng vẻ làm việc ái dục bất tịnh, người khác trông thấy chê cười, các chúng sinh ấy liền sinh xấu hổ, rơi vào trong các ác pháp, những nam chúng sinh được gọi là Ba-đế. Ba-đế hàm ý là đọa (rơi), nhưng ở thời nhà Tùy (thời đại kinh Khởi Thế được phiên dịch), đọa lại hàm ý là người chồng, là chủ nhân. [X. Phiên dịch Danh Nghĩa tập Q.2]. (xt. Bà Lê Da).
ba đề mộc xoa
Pratimoksa (skt)—58 cụ túc giới Bồ Tát dành cho chư Tăng Ni—Cũng là 250 giới cụ túc cho chư Tăng trong giới luật giải thoát khỏi luân hồi sanh tử—The 58 Bodhisattva precepts—The full body of Bhiksu or Bhiksuni precepts. Also the 250 rules of the Vinaya for monks for their deliverance from the ground of mortality.
Ba độc
xem Ba mũi tên độc.
; Hán Việt: Tam độc (三 毒);|Một thuật ngữ chỉ ba yếu tố chính trói buộc con người vào Luân hồi (s: saṃsāra), đó là tham (貪; s: rāga, lobha), sân (瞋; s: dveṣa) và Si (痴; s: moha hoặc Vô minh, s: avidyā).
Ba đời
(Tam thế): tức đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai (hay tương lai). Khái niệm ba đời cũng được dùng để chỉ chung dòng thời gian từ vô thủy đến vô chung.
ba đời
Ba đời bao gồm quá khứ, hiện tại và vị lai—Three generations—Three lifespans include past, present and future.
Ba ải
Hán Việt: Tam quan (三 關);|Chỉ thân (s: kāya), khẩu (s: vāk), ý (s: citta), ba động cơ tạo Nghiệp (s: karma) của con người. Việc phòng hộ ba ải này rất được chú trọng trong đạo Phật (Thân, khẩu, ý).
Ba-ba-ha
S: babhaha, bhalaha, bhaṁva, babhani, baha, bapabhati; còn mang biệt danh là »Kẻ đam mê tự tại«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ đệ tử của ai, sống trong thời nào. Ông là một hoàng tử ham mê sắc dục. Lần nọ có một vị Du-già sư đến lâu đài ông khất thực, ông tỏ lòng mến mộ và hỏi vị này có phép tu tập nào kết hợp với nhục dục chăng. Vị Du-già sư ban phép lành và truyền cho ông phép Du-già đặc biệt:|Hãy tìm một phụ nữ,|có khả năng thù thắng.|Hãy trộn trong hoa sen,|Man-đa-la người đó,|tinh sắc trắng của ngươi,|với huyết đỏ của nàng.|Hấp thụ tinh chất đó,|cho nó dâng lên cao,|cho nó chan hoà khắp.|Sự hoan lạc của ngươi,|sẽ không bao giờ dứt.|Rồi Ðại lạc nối tiếp,|cái này sau cái kia.|Quán tưởng Ðại lạc đó,|không hề khác tính Không.|Sau 12 năm liên tục tu tập theo phép này, vị hoàng tử bỗng thấy trong tâm không còn Ô nhiễm và ông đạt Tất-địa. Ông trình bài kệ:|Như con thiên nga trắng,|loại bỏ nước trong sữa.|Lời dạy của Ðạo sư,|làm tinh chất thăng hoa.|Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Dục lạc, lạc tuyệt đối,|vô điều kiện, sở cầu,|Tư duy đã là lạc,|Ôi, Ðại lạc bí ẩn, |Ðại lạc không thấu đạt.
Ba-câu-lô
波 拘 盧; S: bakkula; C: bōjūlú; J: bakuro;|xem Bạc-câu-la (薄 拘 羅).
Ba-câu-lư
[ja] バクロ Bakuro ||| Bakkula; see 薄拘羅. => (s: Bakkula); Xem Bạc-câu-la薄拘羅.
ba-dật-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là ptayantika, Hán dịch nghĩa là đọa, nghĩa là rơi vào chỗ xấu ác. Nói chung, trong giới luật có chín mươi pháp ba-dật-đề, khác với ba mươi pháp ni-tát-kỳ ba-dật-đề là không có liên quan đến tài vật để phải xả bỏ, nên chỉ cần chí thành sám hối trước chúng tăng. Nếu chúng tăng nhận cho sự sám hối đó thì người phạm tội ba-dật-đề chỉ cần tự xét lại tâm mình, quyết lòng hối cải là được.
ba-la
Balā (S)(1) Tên của một cô gái con trưởng làng (2) Tên một La sát nữ.
Ba-la-ca-phả mật-đa-la
波 羅 迦 頗 蜜 多 羅; S: prabhākaramitra, 564-633|Tên có nghĩa là »Minh Hữu«, gọi tắt là Ba-la-phả-mật-đa-la (波 羅 頗 蜜 多 羅) và Ba-phả 波 頗. Tăng sĩ xuất thân từ Ma-kiệt-đà (s: maghada), đệ tử của Giới Hiền (戒 賢; s: śīlabhadra) khi sư theo học với ngài ở chùa Na-lan-đà (那 爛 陀; s: nalanda). Sư sang Trường An năm 627, đầu tiên trở thành thầy dạy đạo cho Hoàng gia, sau đó sư dịch kinh Phật sang tiếng Hán, gồm Đại thừa trang nghiêm kinh luận (大 乘 莊 嚴 經 論; s: mahāyānasūtra-laṃkāra) và Bát-nhã đăng luận (般 若 燈 論).
Ba-la-ca-phả-mật-đa-la 波羅迦頗蜜多羅
[ja] ヒラケハミッタラ Harakaramittara ||| Prabhākaramitra (564-633), who name means "illuminated friend" and is abbreviated as 波羅頗蜜多羅 and 波頗. A monk originally from Maghada, who was a student of Śīlabhadra 戒賢, with whom he studied at Nalanda 那爛陀 temple. He came to Ch'ang-an in 627, first becoming involved as a tutor for the imperial family. He then translated some scriptures into Chinese, including the Mahāyānasūtra-laṃkāra 大乘莊嚴經論 and the 般若燈論. => s: Prabhākaramitra (564-633) Tên có nghĩa là 'Minh Hữu', gọi tắt là Ba-la-phả-mật-đa-la 波羅頗蜜多羅 and và Ba-phả波頗. Tăng sĩ xuất thân từ Ma-kiệt-đà (s: Maghada), đệ tử của ngài Giới Hiền (s: Śīlabhadra 戒賢) khi sư theo học với ngài ở chùa Na-lan-đà (s: Nalanda 那爛陀). Sư sang Trường An năm 627, đầu tiên trở thành thầy dạy đạo cho Hoàng gia, sau đó sư dịch kinh Phật sang tiếng Hán, gồm Đại thừa trang nghiêm kinh luận (s: Mahāyānasūtra-laṃkāra 大乘莊嚴經論) và Bát-nhã đăng luận 般若燈論.
Ba-la-di
波 羅 夷; S: pārājika; P: pārājika; C: bōluóyí; J: harai;|Sự vi phạm bốn giới cấm nghiêm trọng; khi mắc phải tội nầy, tăng ni sẽ bị tẩn xuất khỏi tăng đoàn. Tứ trọng tội (四 重 罪).
ba-la-di
phiên âm từ Phạn ngữ là prjika, Hán dịch là khí, tức là dứt bỏ, cũng dịch là cực ác. Đây là loại tội nặng nề nhất nên cũng thường gọi là bốn tội nghiêm trọng (tứ trọng cấm), hoặc bốn giới cấm nặng. Vị tỳ-kheo nếu phạm vào một trong các tội này phải bị trục xuất, không còn được sống chung trong chúng tăng (bất cộng trụ). Có bốn tội ba-la-di (tứ ba-la-di) là: 1. Đại dâm giới; 2. Đại đạo giới; 3. Đại sát giới; 4. Đại vọng ngữ giới. Đối với đại sát giới được phân biệt là tội giết người, còn nếu vô tình làm chết các loài vật nhỏ chẳng hạn thì không gọi là đại sát giới, chỉ xem là phạm vào sát giới, thuộc về giới thứ 61 trong 90 giới ba-dật-đề. Đối với tội đại vọng ngữ được phân biệt là tội nói dối với người khác rằng mình chứng thánh quả; nói dối về các nội dung khác xếp vào tội vọng ngữ, không phải đại vọng ngữ, thuộc về giới thứ nhất trong 90 giới ba-dật-đề.
Ba-la-di 波羅夷
[ja] ハライ harai ||| The four grave offenses (Skt. pārājika; Pali pārājika), for the commission of which, a monk or nun may be expelled from the sangha. See 四重罪. => (s: pārājika; p: pārājika) Sự vi phạm bốn giới cấm nghiêm trọng; khi phạm giới nầy, tăng ni sẽ bị tẩn xuất khỏi tăng đoàn. Xem Tứ trọng tội 四重罪.
Ba-la-lị-phất đa-la
波 羅 利 弗 多 羅; S: pāṭaliputra; C: bōluólìfú-duōluó; J: hararifutara.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-la-mật
波 羅 蜜; C: bōluómì; J: haramitsu.|Phiên âm chữ pāramitā từ tiếng Phạn, có nghĩa là »đến bờ bên kia«, còn được dịch sang tiếng Anh là »perfection« tức »viên mãn«. Còn được Phiên âm là Ba-la-mật-đa (波 羅 蜜多) và Ba-la-nhĩ-đa (波 囉 弭 多), Hán dịch là Đáo bỉ ngạn (到 彼 岸, qua đến bờ bên kia), Độ vô cực (度 無 極, đến nơi không giới hạn), Độ (度, vượt qua), Sự cứu cánh (事 究 竟, viên mãn rốt ráo sự việc). Thuật ngữ đề cập đến pháp tu tập nền tảng Tính không của hàng Bồ Tát Đại thừa để đưa chúng sinh đến bờ giải thoát. Phật giáo Đại thừa có dạy pháp tu Lục Ba-la-mật và Thập Ba-la-mật để được đến bờ giải thoát.
ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là pramit, cũng đọc là Ba-la-mật-đa, Hán dịch nghĩa là đáo bỉ ngạn, nghĩa là “đến bờ bên kia”. Đây là sáu hạnh lớn của hàng Bồ Tát, bao gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ, gọi chung là Sáu ba-la-mật (Lục ba-la-mật). Xem bờ bên kia.
Ba-la-mật 波羅蜜
[ja] ハラミツ haramitsu ||| Transcription of the Sanskrit pāramitā, which literally means crossing over to the other shore, but is also translated into English as "perfection." Also transcribed as 波羅蜜多 and 波囉弭多, and is translated into Chinese as 到彼岸 (reaching the other shore), 度無極 (reaching the limitless), 度 (crossing over), 事究竟 (the ultimate in phenomena). The term refers to the emptiness-based practices of the Mahāyāna bodhisattva which lead to the other shore of liberation. Mahāyāna Buddhism teaches a set of practices that lead to the other shore, called the six pāramitās 六波羅蜜, and ten pāramitās 十波羅蜜. => Phiên âm chữ pāramitā từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'đến bờ bên kia', còn được dịch sang tiếng Anh là "perfection, viên mãn". Còn được Phiên âm là Ba-la-mật-đa 波羅蜜多và Ba-la-nhĩ-đa 波囉弭多, Hán dịch là Đáo bỉ ngạn 到彼岸 (qua đến bờ bên kia), Độ vô cực度無極 (đến nơi không giới hạn), Độ度 (vượt qua), Sự cứu cánh 事究竟 (việc viên mãn rốt ráo). Thuật ngữ đề cập đến pháp tu tập nền tảng Tính không của hàng Bồ-tát Đại thừa để đưa chúng sinh đến bờ giải thoát. Phật giáo Đại thừa có dạy pháp tu Lục Ba-la-mật và Thập Ba-la-mật để được đến bờ giải thoát.
Ba-la-mật-đa
波 羅 蜜 多; S: pāramitā; C: bōluómìduō; J: haramitta. Cũng được gọi ngắn là Ba-la-mật, dịch nghĩa là »Ðáo bỉ ngạn« (到 彼 岸) – cái đã sang bờ bên kia, hoặc »Ðộ« (度), cái dìu dắt, đưa người qua bờ bên kia;|Một thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, chỉ »mặt kia, mặt chuyển hoá« của hiện tượng. Cũng có thể dịch là »hoàn tất, hoàn hảo, viên mãn.« Những phép Ba-la-mật-đa là những đức hạnh toàn hảo của một Bồ Tát trên đường tu học (Thập địa, Lục độ).
ba-la-mật-đa
xem ba-la-mật.
Ba-la-nhĩ-đa
波 囉 弭 多; C: bōluōmĭduō; J: haramita.|Tiếng phiên âm ít thông dụng của chữ pāramitā trong tiếng Phạn. Phiên âm thường dùng là Ba-la-mật-đa (波 羅 蜜 多).
Ba-la-nhĩ-đa 波囉弭多
[ja] ハラミタ haramita ||| A lesser-used transcription of the Sanskrit pāramitā, more commonly transcribed as 波羅蜜多 〔大般若波羅蜜多經 220.7.990c14〕. => Tiếng phiên âm ít thông dụng của chữ pāramitā trong tiếng Sanskrit. Phiên âm thường dùng là Ba-la-mật-đa 波羅蜜多.
Ba-la-nại
phiên âm từ Phạn ngữ là Vraṇasi, là địa danh thuộc miền Trung Ấn Độ cổ, thuộc lưu vực sông Hằng, nơi đây có khu vườn Lộc Uyển mà đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên.
; 波 羅 奈; S: vārāṇasī; C: bōluónài; J: harana.|Xem Ba-la-nại quốc (波 羅 奈 國).
Ba-la-nại quốc
波 羅 奈 國; S: vārāṇasī; C: bōluónàiguó; J: haranakoku.|Một quốc gia thời Ấn Độ cổ đại, nằm phía Tây xứ Ma-kiệt-đà (摩 掲 陀; s: magadha) và phía Bắc xứ Kośala. Thủ đô còn được gọi là Vārāṇasī, ngày nay là Ba-la-nại (s: benares). Là nơi ban đầu Đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền dạy pháp giác ngộ cho 5 vị đệ tử đầu tiên.
Ba-la-nại quốc 波羅奈國
[ja]ハラナコク Haranakoku ||| Vārāṇasī, an ancient Indian state, located west of Magadha 摩掲陀 and north of Kośala. The capital, also called Vārāṇasī, is the present day Benares. It was here where Śākyamuni first taught the contents of his enlightenment to the original five disciples. => (s: Vārāṇasī) Một quốc gia thời Ấn Độ cổ đại, nằm phía Tây xứ Ma-kiệt-đà (s: Magadha 摩掲陀) và phía Bắc xứ Kośala. Thủ đô còn được gọi là Vārāṇasī, ngày nay là Ba-la-nại (s: Benares). Là nơi ban đầu Đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền dạy pháp giác ngộ cho 5 vị đệ tử đầu tiên.
Ba-la-nại-tư
波 羅 奈 斯 S: vārāṇasī; C: bōluónàisī; J: haranashi.|Xem Ba-la-nại quốc (波 羅 奈 國).
Ba-la-nại-tư 波羅奈斯
[ja]ハラナシ Haranashi ||| Vārāṇasī. See 波羅奈國. => (s: Vārāṇasī). Xem Ba-la-nại quốc 波羅奈國.
Ba-la-phả mật-đa-la
波 羅 頗 蜜 多 羅|Xem Ba-la-ca-phả-mật-đa-la (波 羅 迦 頗 蜜 多 羅).
Ba-la-phả-mật-đa-la 波羅頗蜜多羅
[ja] ヒラハミッタラ Harahamittara ||| See 波羅迦頗蜜多羅. => Xem Ba-la-ca-phả-mật-đa-la波羅迦頗蜜多羅 . .
ba-la-tắc
phiên âm từ Phạn ngữ là prsaka, một trò chơi đặc biệt ở Ấn Độ thời cổ, gồm 2 người chia ra hai phe, cưỡi trên voi hoặc ngựa, xông vào đấu trường để tranh nhau một vị trí định trước, ai đến được trước là thắng. Trong kinh văn Hán tạng đôi khi cũng gọi trò chơi này là tượng mã đấu, nhưng thật ra chỉ là trò chơi cưỡi trên lưng voi, ngựa chứ voi và ngựa thật không đấu nhau.
Ba-la-đề mộc-xoa
波 羅 提 木 叉; S: prātimokṣa; P: pātimokkha; Hán Việt: Biệt giải thoát (別 解 脫), Tuỳ thuận giải thoát (隨 順 解 脫), Cấm giới (禁 戒);|Phiên âm chữ prātimokṣa từ tiếng Phạn và chữ pātimokkha trong tiếng Pāli. Còn phiên âm khác là Bà-la-đề-mộc-xoa (婆 羅 提 木 叉). Hán dịch là Biệt giải thoát và Xứ xứ giải thoát. 1. Chỉ sự giải thoát, sự tự tại đối với mọi phiền não. 2. Giới tướng mà chư tăng ni phải giữ. 227 (250) điều giới của chư tăng và 348 (350) của chư ni phải đọc tụng vào mỗi kì lễ Bố-tát (s: uposatha). Vào những kì lễ nầy, chư tăng ni sám hối khi phạm những điều giới trên.
ba-la-đề đề-xá-ni
phiên âm từ Phạn ngữ là pratideśanỵya, thường gọi tắt là đề-xá-ni, Hán dịch là Đối tha thuyết hướng bỉ hối, nghĩa là người phạm tội phải hướng về người khác cầu sám hối.
Ba-la-đề-mộc-xoa
phiên âm từ Phạn ngữ là prtimokṣa, Hán dịch là Biệt giải thoát (別解脫), cũng gọi là Tùy thuận giải thoát (隨順解脫), tức là phần giới luật căn bản mà Phật đã chế định cho chúng tăng, tỳ-kheo và tỳ-kheo ni đều phải tuân theo.
Ba-la-đề-mộc-xoa 波羅提木叉
[ja] ハラダイモクシャ haradaimokusha ||| A transcription of the Sanskrit prātimokṣa and Pali pātimokkha. Also transcribed as 婆羅提木叉, and translated into Chinese as 別解脱 and 處處解脱. (1) Release, or liberation from all afflictions. (2) The body of precepts to be kept by monks and nuns. A part of the Vinaya that contains the 227 disciplinary rules for monks and 348 nuns that is recited at every uposatha ceremony. At this ceremony, every monk or nun must confess any violations of these rules. => Phiên âm chữ prātimokṣa từ tiếng Sanskrit và chữ pātimokkha trong tiếng Pali. Còn phiên âm khác là Bà-la-đề-mộc-xoa 婆羅提木叉. Hán dịch là Biệt giải thoát và Xứ xứ giải thoát. 1. Sự giải thoát, sự tự tại đối với mọi phiền não. 2. Giới điều mà chư tăng ni phải giữ. Gồm 227 (hoặc 250) giới của chư tăng và 348 (hoặc 350) của chư ni, phải đọc tụng vào mỗi kỳ bố-tát (s: uposatha). Vào những kỳ lễ nầy chư tăng ni phát lồ sám hối nếu phạm những điều giới nầy.
ba-li
1) Phạn ngữ Pali, một trong những ngôn ngữ căn bản trong truyền thống Phật giáo, ngôn ngữ mà trường phái Theravada đã dùng để ghi lại những kinh điển Phật. Ba Li ngữ được Phật giáo phương Nam xem là ngôn ngữ Ma Kiệt Đà mà Đức Phật đã nói trong thời Ngài còn tại thế. So với tiếng Phạn Bắc Ấn, thì âm điệu và văn pháp có phần biến thái và đơn giản hơn—Pali—One of the basic languages in which the Buddhist tradition is reserved—The language adopted by the Theraveda for the reservation of the Dharma—Considered by the Southern Buddhists to be the language of Magadha, such as Magadhi Prakrit spoken by Sakyamuni; their Tripitaka is written in it. It is closely allied to Sanskrit, but phonetically decayed and grammatically degenerate. 2) Ưu Ba Li: See Upali in sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ba-lật-thấp-phược 波栗濕縛
[ja] バリシバ Barishiba ||| Pārśva, the chair of the Fourth Council. See 脅尊者. => (s: Pārśva). Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Xem Hiếp Tôn giả 脅尊者.
Ba-lật-thấp-phọc
波 栗 濕 縛; S: pārśva; C: bōlìshīfú; J: bari-shiba.|Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Hiếp Tôn giả (脅 尊 者).
Ba-lị ngữ 巴利語
[ja] パーリゴ paarigo ||| The Pali language; the scriptural vernacular of Southern India. An Indo-European tongue that developed during the beginning of the middle period of Indian history as one of the variants of Prakrit, around the third century BCE. Later on, Pali's influence would spread to Northwestern India, where it would become an important Buddhist scriptural language. Its grammatical structure and pronunciation are more simple than Sanskrit. The earliest canon of Indian Buddhism was written in Pali. => Tiếng Pāli; ngôn ngữ mẹ đẻ trong kinh văn thuộc miền Nam Ấn Độ. Là ngôn ngữ hệ Ấn Âu phát triển vào giai đoạn đầu trung kỳ lịch sử Ấn Độ như là một biến thể của tiếng Prakrit vào khoảng thế kỷ thứ 3. Sau đó, ảnh hưởng của tiếng Pāli lan rộng đến miền Tây Bắc Ấn Độ, nơi đó nó trở thành ngôn ngữ chủ yếu trong kinh điển Phật giáo. Cấu trúc văn phạm và phát âm đơn giản hơn tiếng Sanskrit. Tạng kinh Phật sớm nhất ở Ấn Độ được viết bằng tiếng Pāli.
ba-lỵ-chất-đa
xem ba-lỵ-chất-đa-la.
ba-lỵ-chất-đa-la
(hay ba-lỵ-chất-đa): cây lớn đặc biệt ở cõi trời Đao-lợi (còn gọi là cõi trời Ba mươi ba) là nơi chư thiên cõi trời ấy thọ hưởng mọi dục lạc.
Ba-mi-yan
S: bāmiyan;|Một vùng hang động ở Afghanistan có nhiều dấu tích đạo Phật. Vùng này được xây dựng trong khoảng giữa 300 và 600 sau Công nguyên. Trên một vách đá dài khoảng 2 km cao thấp khác nhau, có rất nhiều hang động được khắc đẽo công phu, ngày xưa dùng làm nơi tụ họp và thiền định của các vị tăng sĩ. Phật giáo thời này thuộc về Ðại thừa (s: mahāyāna) và bị tàn lụi sau các cuộc chiến tranh ở thế kỉ thứ 13.|Một điểm đặc biệt đáng lưu ý là trần của các hang động được khắc đẽo hình tượng các Tịnh độ và các vị Phật, các hình vẽ đó tạo thành một Man-đa-la. Giữa các hang, người ta tìm thấy hai tượng Phật vĩ đại, cao 35m và 53m, cả hai ngày nay đã bị hư hại nhiều. Ngày xưa, các tượng này được nạm vàng và trang trí nhưng nay khuôn mặt của hai tượng đã mất. Hình tượng cho thấy, các vị Phật được trình bày như là nhân cách hoá của toàn vũ trụ và vô số các tượng Phật khác là dạng xuất hiện của vũ trụ.
Ba-nhã (nhược)
波 若; C: bōruò; J: hannya;|1. Phiên âm chữ prajñā từ tiếng Phạn, có nghĩa là »trí huệ«, đặc biệt là trí huệ trong Phật pháp, nhận ra được nhân không và pháp không; 2. Ba Nhược (562-613?): Tên một vị tăng nguyên thuộc dòng Cao-cú-lệ (k: koguryŏ), được biết sư từng tham học với ngài Trí Khải (智 顗), Tổ sư tông Thiên Thai.
Ba-nhược 波若
[ja] ハニャ hannya ||| (1) A transcription of the Sanskrit prajñā, which means "wisdom" especially the Buddhist wisdom that perceives the emptiness person and objects. (2) (562-613?) The name of an early Koguryŏ monk who is said to have studied under the Tiantai master Zhiyi 智顗. => Phiên âm chữ prajñā từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'trí huệ', đặc biệt là trí huệ trong Phật pháp, nhận ra được nhân không và pháp không. Ba Nhược (562-613?). Tên một vị tăng nguyên thuộc dòng Cao-cú-lệ (k: Koguryŏ), được biết sư từng tham học với ngài Trí Khải (c: Zhiyi 智顗), Tổ sư tông Thiên Thai.
Ba-phả
波 頗;|Viết tắt của Ba-la-ca-phả-mật-đa-la (波 羅 迦 頗 蜜 多 羅; s: prabkaramitra).
Ba-phả 波頗
[ja] ハハ Haha ||| An abbreviation of 波羅迦頗蜜多羅 Prabhākaramitra. => Viết tắt của Ba-la-ca-phả-mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅 s: Prabhākaramitra).
Ba-trá-la
波 吒 羅; C: bōzhàluó; J: hatara.|1. Phiên âm pāṭala, tên một loại cây/hoa có màu sắc. 2. Một cách phiên âm của Pāṭaliputra, Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-la 波吒羅
[ja] ハタラ hatara ||| (1) A transcription of the tree/flower/color name pāṭala. (2) Pāṭaliputra; see 波吒釐. => 1. Phiên âm tên một loại cây/hoa có màu sắc gọi là pāṭala. 2. (s: Pāṭaliputra). Xem Ba-trá-li 波吒釐.
Ba-trá-li
波 吒 釐; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlí; J: hatari.|Tên một thành phố ở Ma-kiệt-đà (摩 竭 陀; s: magadha), nay là thành phố Patna. Tên thành phố nầy xuất phát từ loại cây Pāṭala được trồng nhiều ở đây, đó là một loại cây mà hoa có sắc màu đỏ. Thành phố nầy là nơi kết tập kinh điển lần thứ 3 (Đệ tam kết tập 第 三 結 集).
Ba-trá-li tử
波 吒 釐 子; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlízǐ; J: hatarishi.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-li tử thành
波 吒 釐 子 城; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlízǐ-chéng; J: hatarishijō.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-li 波吒釐
[ja] ハタリ hatari ||| Pāṭaliputra, the name of a city in Magadha 摩竭陀, the site of the present Patna. The name of this city is derived from pāṭala, a tree that has light red flowers. This city was the venue for the Third Council 第三結集. => (s: Pāṭaliputra). Tên một thành phố ở Ma-kiệt-đà (s: Magadha 摩竭陀), nay là thành phố Patna. Tên thành phố nầy xuất phát từ loại cây pāṭala được trồng nhiều ở đây, đó là một loại cây mà hoa có sắc màu đỏ. Thành phố nầy là nơi kết tập kinh điển lần thứ 3 (Đệ tam kết tập 第三結集).
Ba-trá-lê-da
波 吒 梨 耶; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlíyé; J: hatariya.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-lị tử thành 波吒釐子城
[ja] ハタリシジョウ hatarishijō ||| Pāṭaliputra; see 波吒釐. => (s: Pāṭaliputra). Xem Ba-trá-li波吒釐.
Ba-trá-lị-da 波吒梨耶
[ja] ハタリヤ hatariya ||| Pāṭaliputra; see 波吒釐. => (s: Pāṭaliputra). Xem Ba-trá-li波吒釐.
Ba-trá-lị-phất
波 吒 利 弗; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlìfú; J: hatairifutsu.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-lị-phất 波吒利弗
[ja] ハタリフツ hatairifutsu ||| Pāṭaliputra; see 波吒釐. => (s: Pāṭaliputra). Xem Ba-trá-li波吒釐.
Ba-trá-lị-phất-đa-la 波羅利弗多羅
[ja] ハラリフタラ hararifutara ||| Pāṭaliputra; see 波吒釐. => (s: Pāṭaliputra). Xem Ba-trá-li波吒釐.
Ba-tuần
phiên âm từ Phạn ngữ là Ppỵyas, còn gọi là Ba-tuần-du, Ba-ty-diện, tên gọi của Ma vương. Ba-tuần dịch nghĩa là sát giả, ác giả. Ma Ba-tuần là vị Thiên ma ở cõi trời Tha hóa tự tại.
; 波 旬; C: pōxún; J: hajun.|Phiên âm chữ pāpīyas hoặc pāpīyan trong tiếng Phạn, có nghĩa là »ác độc«, »ác ma« hoặc »ma vương«. Là người có những ý định xấu ác. Đồng nghĩa với chữ māra trong tiếng Phạn và Pā-li, có nghĩa là »kẻ giết người«. Xem kinh Thủ-lăng-nghiêm.
Ba-tuần 波旬
[ja] ハジュン hajun ||| Transcription of the Sanskrit pāpīyas or pāpīyan, meaning "devil" "evil demon" or "demon king." A person with evil intentions. Synonymous with the Sanskrit and Pali māra, meaning "killer." See the 首楞嚴經T 945.19.132a-b. => Phiên âm chữ pāpīyas hoặc pāpīyan trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'ác độc', 'ác ma' hoặc 'ma vương'. Là người có những ý định xấu ác. Đồng nghĩa với chữ māra trong tiếng Sanskrit và Pali, có nghĩa là 'kẻ giết người'. Xem kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Ba-tuần-du
xem Ba-tuần
Ba-ty-diện
xem Ba-tuần.
Ba-tư-nặc vương
波 斯 匿 王; S, P: prasenajit;|Vua Ba-tư-nặc của xứ Kosala, ở thành Xá-vệ (s: śrāvastī), sinh cùng năm với Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Vua cùng với Hoàng hậu và Thái tử Kì-đà (s: jeta) con mình, trở thành hàng cư sĩ quan trọng đầu tiên trong tăng đoàn.
Ba-tư-nặc vương 波斯匿王
[ja] ハシノクオウ Hashinokuō ||| King Prasenajit of Kosala, who abode in Śrāvastī of Kosala, and happened to be born the same year as Śākyamuni Buddha. Together with his wife and son (the crown prince Jeta), he became an important lay member of the early sangha. =>(k: Prasenajit) Vua Ba-tư-nặc của xứ Kosala, ở thành Xá-vệ (s: Śrāvastī), sinh cùng năm với Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Vua cùng với Hoàng hậu và con mình là Thái tử Kỳ-đà (s: Jeta) trở thành hàng cư sĩ quan trọng trong tăng đoàn nguyên thuỷ .
ba-tư-nặc-câu-tát-la (vua)
Pasenadi Kosala (P).
Ba-xa
波 奢; S: pārśva; C: bōshē; J: basha.|Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Hiếp Tôn giả (脅 尊 者).
Ba-xa 波奢
[ja] バシャ Basha ||| Pārśva, the chair of the Fourth Council. See 脅尊者. => (s: Pārśva). Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Xem Hiếp Tôn giả 脅尊者.
Ba-xà-ba-đề
波 闍 波 提; S: prajāpati; C: bōshébōtí; J: pajapadai;|Xem Ma-ha Ba-xà-ba-đề (摩 訶 波 闍 波 提).
Ba-xà-ba-đề 波闍波提
=> (s: Prajāpati); Xem Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波闍波提.
Ba-đra-pa
S: bhadrapa; còn mang biệt hiệu là »Bà-la-môn kiêu mạn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một Bà-la-môn quý tộc, sống một cuộc đời sung túc. Ngày nọ lúc đang tắm thì có một Du-già sư (s: yogin) đến khất thực. Ông lên tiếng chê bai vị này dơ bẩn thì nghe trả lời:|Thầy tu như hoàng đế,|Không ai bằng Bồ Tát.|Muốn sạch Thân, khẩu ý,|Ðạo sư dòng giáo hoá,|mới cho sự thanh tịnh,|Tắm rửa thân thể ư?|không mang lại điều gì.|Tâm thức vô sở cầu|là bữa tiệc linh đình |là bữa ăn ngon nhất,|đâu phải sữa, đề hồ.|Những lời đó chấn động tâm tư ông nhưng vì ngại quyến thuộc, ông không cho vị Du-già sư vào nhà mà xin gặp lại ngay tối hôm đó. Vị Du-già sư đòi ông mang theo rượu thịt, thứ mà người theo đạo Bà-la-môn phải tránh xa. Mới đầu ông từ chối nhưng cuối cùng nghe lời, ông cùng ăn thịt uống rượu với vị Du-già sư. Sau đó vị này khai thị, cho ông nhập môn, ở lại và phải làm các công việc hết sức hạ tiện. Dần dần lòng kiêu mạn của ông biến mất, nhường chỗ cho Như thật tri kiến đích thật. Sau sáu năm, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa nhờ biết dẹp bỏ được sự gò bó nội tâm do xã hội quy định.|Tri kiến đã sai lầm,|chỉ có thể thanh lọc |bằng giác ngộ tính Không.|Hành động đã sai trái,|chỉ có thể đối trị |bằng cách quán Từ Bi.|Thiền dẫn đến chứng thật,|rằng trong chốn Thật tại,|cái muôn hình là một,|và mục đích cuối cùng,|chỉ còn có Một vị.
ba-đầu-ma
xem bốn loại hoa sen.
ban
1) Đốm: Spotted—Striped. 2) Nhóm: Band. 3) Thứ lớp: Class—Rank.
ban cho
To give—To award—To bestow—To endow—To grant.
Ban chu tam muội
(般舟三昧) Phạm: Pratyutpanna-samàdhi. Là một loại Định hành. Còn gọi là Thường hành tam muội, Ban chu định, Chư Phật hiện tiền tam muội, Phật lập tam muội. Trong một thời gian nhất định (từ bảy ngày đến chín mươi ngày), tu hành tam muội; được thấy chư Phật. Cứ theo Ban chu tán chép, thì lấy chín mươi ngày làm một kì, thường đi không nghỉ, trừ các bữa ăn ra, đều phải đi, không được nghỉ, từng bước từng tiếng, duy chỉ nghĩ đến Phật A di đà. Ban chu tán còn nói, tu phép định này, cần chính nghiệp thân, miệng niệm danh hiệu Phật, ý quán thể Phật, ba nghiệp tương ứng, vì thế gọi là Tam nghiệp vô gián (ba nghiệp không gián cách, xen hở). Tại Trung quốc, kể từ ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn, đầu tiên họp chúng kết đoàn tu phép định này, về sau các ngài Trí Khải, Thiện Đạo, Tuệ Nhật, Thừa Viễn, Pháp Chiếu nối tiếp phát dương loại định đi này, bèn trở thành phổ biến thịnh hành ở Trung Quốc và Nhật Bản. [X. kinh Ban chu tam muội Q.thượng phẩm Vấn sự, phẩm Hành; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33]. (xt. Niệm Phật Tam Muội).
ban già tuần
(般遮旬) Phạm: Pàĩcàbhijĩà. Dịch ý là năm thần thông, năm tuần. Tức Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông và Như ý thông. [X. luận Đại trí độ Q.5]. (xt. Ngũ Thông).
ban già vu sắt hội
(般遮于瑟會) Phạm: paĩca-vàrwika-maha. Là Pháp hội trong đó nhà vua làm thí chủ, tất cả hiền thánh, đạo tục, sang hèn, cao thấp đều không hạn chế, đều nhận được tài thí, pháp thí một cách bình đẳng. Dịch ý là Vô già đại hội. Còn gọi là Ban xà vu sắt hội, Ban già bạt lợi sa hội, Ban già bà lật ca sử hội. Dịch trực tiếp là Ngũ niên nhất đại hội (năm năm một đại hội); Ngũ niệm công đức hội, Ngũ tuế hội, Ngũ tuế diên. Hội Ban già vu sắt, ngoài ý nghĩa là Đại hội vô già ra, theo luật Thập tụng quyển 5 chép, nó còn mang ý nghĩa kỉ niệm cuộc tập họp trong dịp đức Phật cắt lọn tóc trên đỉnh đầu lúc Ngài lên năm tuổi, vì thế còn gọi là Ngũ tuế hội. Loại pháp hội này được cử hành rộng rãi tại Ấn Độ và các địa phương Tây Vực, phần nhiều mở vào mùa xuân, tập họp chư tăng khắp nơi, làm các thứ cúng dường, kéo dài đến ba tháng. Theo Cao tăng Pháp Hiển truyện Kiệt xoa quốc ghi chép, thì thấy sự tổ chức rất là to lớn. Lại Đại đường tây vực kí quyển 5 Yết nhã cúc xà quốc, luận A tì đàm tì bà sa quyển 14, Tây vực kí quyển 1 Khuất chi quốc, Phạn diễn na quốc v.v... đều có ghi chép về pháp hội này. (xt. Vô Già Hội).
ban hành
To enact—To enforce.
ban khen
To compliment.
Ban la yết đế 般羅掲帝
[ja] ハラギャテイ haragyatei ||| (pāragate). A transliteration of the Sanskrit, which means "go to the other shore." (Heart Sutra) => (s: pāragate). Tiếng Hán phiên âm từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'đáo bỉ ngạn: đến bờ bên kia'(Bát-nhã tâm kinh). [ja] ハンニャ hannya ||| [Buddhism] (1) The transliteration of the Sanskrit prajñā and Pali paññā, meaning "wisdom," but especially the Buddhist wisdom that is based on a realization of dependent origination, no-self, emptiness, etc. Prajñā is the wisdom that is able to extinguish afflictions and bring about enlightenment. (2) Prajñā is also the name of an important translator of Sanskrit Buddhist texts into Chinese, his most significant accomplishment being the forty fascicle translation of the Huayan jing 華嚴經. 1. Tiếng Hán phiên âm chữ prajñā từ tiếng Sanskrit và chữ paññā từ tiếng Pali, có nghĩa là “trí huệ”, nhưng trong Phật học, trí huệ là do sự thực chứng được về lý duyên sinh, vô ngã và tánh không ... Bát-nhã là Trí huệ có thể dập tắt mọi phiền não và đưa đến giác ngộ. 2. Bát-nhã là tên một dịch giả quan trọng đã dịch kinh Phật từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán, thành tựu nổi bật nhất của ngài là bản dịch kinh Hoa Nghiêm gồm 40 cuốn.
ban phước
To bless
ban quản trị
See Ban trị sự.
Ban sài 搬柴
[ja] ハンサイ hansai ||| See 運水搬柴. => Xem Vận thuỷ ban sài 運水搬柴.
ban sơ
See Ban đầu.
ban thiền lạt ma
Pentchen Lama (T),Panchen Lama (T), Pan-chen bla-ma (T),Tashilama (S).Lạt ma giáo tin rằng Ban Thiền Lạt ma là hoá thân của Phật A di đà để gìn giữ đạo Phật và ủng hộ các nhà tu niệm..
; Panchen Lama (Tib). Great tibetan lama.
; Chức Ban Thiền Lạt Ma là chức vị thứ hai sau Đức Đạt Lai Lạt Ma của Phật Giáo Tây Tạng. Vị Ban Thiền Lạt Ma ngự tại điện Tashilhumpo hay Luân Bố Miếu, trong thành Nhựt Cáp Tắc. Vào năm 1640 vị Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, nhờ sự trợ lực của Mông Cổ, đã nắm trọn quyền hành chánh và tôn giáo trong nước, ngài bèn tôn vinh vị Thầy của mình chức Ban Thiền Lạt Ma, và xây dựng điện Trát Thập Luân Bố cho ngài. Khi vị Ban Thiền Lạt Ma nầy thị tịch, một vị khác (một đứa trẻ) được tìm thay thế, giống như trường hợp của chức vị Đạt Lai Lạt Ma, nhưng vị Lạt Ma tương lai sẽ không được dân chúng thừa nhận cho đến khi nào vị nầy qua được những cuộc khảo nghiệm của các ủy viên hội đồng Phật Giáo Tây Tạng—The Tibetan Panchen-Lama ranks second only to the Dalai-Lama among the Grand Lamas of the Gelugpa School of Tibetan Buddhism. His seat is in the Tashilhumpo Monastery at Shigatse. In 1640, the fifth Dalai Lama, with the aid of the Mongols, having acquired temporal as well as spiritual control of the whole country, honoured his own tutor with the title of Panchen Lama (a learned Lama), and built the Tashilhumpo Monastery for him. On the death of the title-holder, the new Lama is found in the body of a small child, as in the case of the Dalai Lama, and no new Lama is recognized as such by the people until examined and appointed by a Tibetan commission appointed for the purpose. ** For more information, please see Dalai- lama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (班禪喇嘛) Tên Tây tạng:Paị-chen-lama. Nhà cải cách Phật giáo Tây Tạng là Tôn Khách Ba, người đã sáng lập phái Hoàng mạo (phái mũ vàng), có hai đệ tử lớn là Căn Đôn Châu Ba và Khải Châu mỗi người đều tự thành lập hệ thống riêng của mình, và đời đời dùng hô tất lặc hãn (ý là hóa thân) để chuyển sinh, đó tức là Đạt lại lạt ma và Ban thiền lạt ma, loại tư tưởng Phật sống chuyển sinh này chỉ có Phật giáo Tây Tạng đặc biệt phát triển. Từ Đạt lại lạt ma đời thứ 5 là A vượng la bốc tàng gia mục thác (Tạng: Gu zfìkhan) nắm quyền chính trị và tôn giáo trên toàn nước Tây Tạng, sau khi đã xác lập chủ quyền tối cao chính trị tôn giáo hợp nhất, Đạt lại lạt ma bèn trở thành Thủ trưởng của phái mũ vàng, thống suất hơn ba nghìn mấy trăm ngôi chùa và khoảng ba bốn mươi vạn tăng lữ. Còn giáo chủ của giáo đoàn thuộc hệ thống chuyển sinh Khải Châu là Ban thiền lạt ma, tuy là một trong hai Phật sống lớn, nhưng về phương diện chính trị, thì chỉ nắm chính quyền ở địa phương mà thôi. Ban thiền, có nghĩa là nhà trí tuệ lớn, nhà bác học lớn; lạt ma, có nghĩa là người trên (thượng nhân). Vào năm Thuận trị thứ 2 (1645) đời vua Thế tổ nhà Thanh, Cố Thủy Hãn, Thủ lãnh của Mông cổ hòa thạc đặc bộ cai trị Vệ và Tạng, suy tôn người đệ tử thứ tư của Tôn Khách Ba Là La Tang Khước Tiếp làm Ban thiền bác khắc đa (bác khắc đa là tiếng Mông cổ, là tiếng tôn xưng người anh tài xuất chúng) và mời trụ trì chùa Trát Thập Luân Bá, đồng thời, cắt bộ phận Hậu tạng sát nhập vào quản hạt của La tang, đó là Ban thiền đời thứ tư (ba đời trước đó do người Hậu tạng suy tôn). Đến Ban thiền đời thứ 5, vua Thánh Tổ nhà Thanh phong hiệu là: Ngạch nhĩ đức ni (Ertini hoặc Erdeni), hàm ý là sáng sủa, sáng rỡ. Người Tây tạng bảo Ban thiền là hóa thân của Kim cương, hoặc là hóa thân của Phật A Di Đà. Đại đô của Ban thiền qua các đời đều đóng ở chùa Trát Thập Luân Bá (Tạng: Bkra-zis Ihum-po) thuộc Nhật khách tắc, Hậu tạng. Dưới đây là pháp danh và năm sinh năm mất của các đời Ban thiền: Đời thứ 1, Khải Châu (Tạng: Mkhas-rab-rje. 1385-1438), đời thứ 2, Tỏa Lãng Tiếp Ngang (Tạng:Bsodnams-phyogs-glan, 1439-1504) đời thứ 3, Ân Soái Ba (Tạng:Dben-sa-pa, 1505-1556), đời thứ 4, La Tang Khước Tiếp (Tạng:Blobzaí-chos-kyi rgyal-mtshan, 567-1662), đời thứ 5 La Tang Ích Tây (Tạng: Blo-bzaí ye-zes, 1663-1737), đời thứ 6 Ban Hưu Ích Hi (Tạng:Dpal-ldan ye-zes, 1738-1779), đời thứ 7 Đăng Tất Ni Ma (Tạng: Blo-bzaí bstan-pahi ĩi-ma 1781-1852), đời thứ 8 Đăng-tất-vương-tu (Tạng: Chos-kyigrags-pa bstan-pa#i lban-p#yug, 1854- 1882), đời thứ 9 La Tang Khước Kinh (Tạng: Blo-bzaí thub - bstan chos-kyi ĩi-ma, 1883-1935), đời thứ 10 Cung Bảo Từ Đan (Tạng: Blo-bzaí phrin-las lhum - grub 1938 -). Mối quan hệ giữa Ban-thiền và Đạt-lại chẳng phải hoàn toàn tốt đẹp, như Ban thiền đời thứ 9 là La tang khước kinh đã từng ở lâu tại nội địa Trung Quốc, mãi đến Đạt lại lạt ma đời thứ 13 là A Vượng La Bốc, truyền ra từ Đơn gia mục thác ngạc hao, đất Tây Tạng, La Tang Khước Kinh mới trở về Tây Tạng, nhưng đã qua đời trên đưòng về. Năm 1944, Ban thiền đời thứ 10 là Cung bảo từ đan bị đưa đến Hậu tạng, chủ quyền thay đổi. Sau khi Tây tạng bị xâm chiếm, toàn quốc đã trở thành một trong các chính quyền địa phương của Cộng sản Trung Quốc, Đạt lại lạt ma đời thứ 14 lưu vong sang Ấn Độ, còn Ban thiền lạt ma thì giữ thái độ dung hòa với Cộng sản để tỏ bày cái lập trường vi diệu của sự phát triển Phật giáo Tây Tạng từ xưa đến nay. [X. Mông Tạng Phật giáo sử (Diệu chu); Thế giới Phật giáo thông sử thượng sách (Thánh nghiêm); Thánh vũ khí đệ ngũ quốc triều phủ tuy Tây tạng kí thượng; L.A.Waddell: Lhasa and its mysteries; W.W.Rockhill: The Dalai Lamas of Lhasa anh their relations with the Manchu Emperors of China].
ban thác ca
Panthaka (S)Một trong 16 vị đại A la hán đước đức Phật cử đi hoằng pháp nước ngoài.
Ban Thích Mật Đế
(般剌蜜帝) Tên Phạm:Pramiti. Dịch ý là Cực lượng. Vị tăng dịch kinh ở đời Đường. Người trung Ấn Độ. Đi du hóa lần lần sang phương Đông, đến Trung Quốc truyền bá Phật pháp. Niên hiệu Thần long năm đầu (705) đời Đường trung tôn, sư đến ở chùa Chế Chỉ thuộc Quảng Châu dịch kinh Thủ lăng nghiêm 10 quyển, do sa môn Di già thước khư người nước Ô Trành dịch lời, cư sĩ Phòng Dung thụ bút, sa môn Hoài Địch chứng nghĩa. Không bao lâu, nhà vua giận vì Ban Thích Mật Đế đã đưa bộ kinh Lăng nghiêm ra khỏi nước, bèn sai người đuổi bắt, Ban Thích Mật Đế liền đáp thuyền về Tây (Ấn Độ). [X. Tống cao tăng truyện Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].
ban thưởng
To reward—To recompense.
ban trị sự
Board of directors.
ban túc vương
Kamamsapada (P), Kalmasapada (S)Bác túc vương, Lộc túc vương, Ca ma sa đà vương, Kiếp ma sa đà vương; Kamamsapada (P). Xem Lộc túc vương.
; Kalmasapada (skt)—Còn gọi là Ca Ma Sa Ba Đà, dịch là Ban Túc Vương hay Lộc Túc Vương, là vị vua có đốm dưới chân, người ta nói ngài là tiền thân của Đức Phật (theo Kinh Hiền Ngu, vị vua nầy từng theo giáo lý của tà sư, muốn lấy được đầu của 1000 vị quốc vương khác để được đắc đạo. Khi đã lấy được 999 đầu, chỉ còn thiếu một đầu nữa thì gặp Phổ Minh Vương. Minh Vương xin gia hạn một ngày để đặc ra hội Bách Thiên Vương. Trong Bách Hội, Phổ Minh nghe được bốn bài kệ vô thường liền chứng được “Hư không đẳng định,” riêng Ban Túc Vương thì chứng “Không tam muội.” Ban Túc Vương chính là tiền thân của Ương Quật Ma La (Anguli-malya)—The king with the marks on his feet, Kalmasapada, said to be the name of a previous incarnation of the Buddha.
; (斑足王) Ban túc, Phạm: Kalmàwapàda, Pàli: Kammà-sapàda. Dịch âm là Cu sa ba đà vương, Kiếp ma sa ba đà vương, Ca ma sa bạt vương, Yết ma sa ba la vương. Còn gọi là Bác túc vương. Lộc túc vương. Là tên vua trong chuyện cổ bản sinh. Về lí do tên ban túc, cứ theo kinh Hiền ngu quyển 11 phẩm Vô não chỉ man chép, thì cha của vua này là Ba la ma đạt đã tư thông với sư tử mà sinh ra vua, hình dáng thì giống người, duy có chân thì loang lổ, nhiều màu sắc, vì thế gọi là Ca ma sa ba đà. Kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 6 phẩm Đoạn thực nhục, gọi là Ban túc, kinh Tạp thí dụ quyển thượng kinh thứ 8, gọi là Đạm nhân vương (vua ăn thịt người), kinh Lục độ tập quyển 4 kinh Phổ minh vương gọi là A quần. Cứ theo kinh Bản sinh 537 bằng văn Pàli truyện Đại tuđàtốma (Mahàsutasomajàtaka) chép thì đồng tử Ba la ma đạt (Brahmadatta-Kumàra) vốn là con vua nước Ba la nại (Bàrànasì). Đã từng với vương tử Tu đà tố ma (Sutasoma) con vua nước Câu lưu (Kuru), du học tại Đức xoa thi la (Takkasilà), nhà vua là Dạ xoa, có thói quen ăn thịt người, nên rất nhiều người đã bị nhà vua ăn thịt. Vì thế mà nhân dân trong nước oán ghét, bèn đuổi vào rừng, song vẫn không bỏ được thói ác ăn thịt người. Một hôm, đuổi bắt một người Bà la môn để ăn, không may bị thương ở chân, nhà vua mới cầu khấn thần cây Ni câu luật đà (Nigrodha), nếu khỏi sẽ hậu tạ thần cây. Chân khỏi, lại bắt cả bạn học cũ và nhiều người khác gồm một trăm linh một người. Sau nhân được nghe một bài kệ của Phật Ca Diếp (Kassapa) do từ cửa miệng một người Bà la môn nói ra, hơn nữa, lại được vua Tu Đà Tố Ma giáo hóa, bèn phóng thích mọi người, không ăn thịt nữa, rồi trở về nước lên ngôi lại. Vua Tu đà tố ma đây tức là tiền thân của đức Thế tôn. Nhưng sự tích Ban túc vương được chép trong kinh Nhân vương bát nhã có khác với truyện được ghi ở trên. Cứ theo kinh Nhân vương bát nhã quyển hạ nói về nhân duyên xuất gia của vua Ban túc nước Thiên la, bảo rằng nhà vua khi còn là Thái tử, từng đã theo một ngoại đạo học tà giáo, muốn lấy đầu của một nghìn ông vua để tế thần voi. Sau khi lên ngôi, đã có được chín trăm chín mươi chín vua rồi, lại đi lên phía bắc gặp vua Phổ Minh, vua Phổ Minh thỉnh Bách pháp sư giảng kinh Bát nhã cho nghe mà tỏ ngộ, rồi đến nước Thiên La, vì chín trăm chín mươi chín vua mà tụng kệ kinh Bát nhã, vua Ban túc cũng nghe pháp, được Không tam muội, bèn xuất gia, chứng Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Bồ tát bản hạnh Q.hạ; kinh Tăng già la sát sở tập Q.thượng; luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Tu Đà Tố Di Vương).
ban tặng
To gratify.
ban xà ca
Xem Đại Quỷ thần vương. Xem Bán chi ca.
ban xà la quốc
(般闍羅國) Ban xà la, Phạm,Pàli:Paĩcàla. Còn gọi là Ban già la quốc, Ban xà đồ quốc, Ban già da quốc, Ban sa la quốc. Là một trong mười sáu nước lớn thuộc Ấn Độ cổ đại. Vị trí tại trung Ấn Độ, cách sông Hằng và đối diện với nước Cư Lâu (Phạm: Kuru). Ban xà la, dịch ý là Ngũ chấp, Ngũ bất động, vốn là tên đất, sau trở thành tên nước, dùng để xưng tụng cái đức tốt đẹp của nhà vua. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18 nói, thì tính vua nước Ban xà la rất nhân từ, bỏ án tử hình, nếu có người phạm tội tử hình, không nỡ giết, chỉ trói lại rồi sai đem bỏ nơi giữa cánh đồng, người thời bấy giờ cho là cử chỉ đẹp, nên lấy Ban xà la làm tên nước. Nước ấy sau chia thành hai phần Nam, Bắc, và đánh nhau luôn. Ở thời đại Phật, vua Nam, Bắc Ban xà la thường công phạt nhau, đức Phật từng đã khuyên can. Vào thời ấy, đô thành nước Ban xà la Nam là Khảm tì lạp (Phạm:Kaôpilla), Đô thành nước Ban xà la Bắc là Khúc nữ thành (Phạm: Kanyàkubja). [X. Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; kinh Soạn tập bách duyên Q.1; luận Đại tì bà sa Q.124].
ban đa già da sa xoa đề ổ lâm
(班多伽耶娑叉提鄔林) Hàm ý là Quỉ tập lâm. Là nơi rừng rậm, trong đó, các quỉ thần bạc phúc tụ họp. Những quỉ thần ấy, vì sự huân tập, nên khiến cho nơi rừng rậm mà chúng tụ họp, xông lên mùi hôi hám thối tha đáng sợ.
ban đà la
(般陀羅) Phạm:Pandara. Là vợ của một Trưởng giả ở nước Ba la nại đời quá khứ. Cứ theo kinh Bách duyên quyển 5 chép, thì Ban đà la từng đã đem đồ đại tiện để cho vị Bích Chi Phật, vì thế mà phải chịu ác báo làm loài quỉ đói hôi thối vô lượng kiếp.
ban đầu
At the beginning—At first.
ban đồ ca
(般荼迦) Phạm,Pàli: paịđaka. Còn gọi là Ban tra, Bán thác, Bán trạch ca. Dịch ý là Hoàng môn, Bất nam. Chỉ người không đủ nam căn, là một trong năm loại bất nam. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.17; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.7 phần cuối]. (xt. Ngũ Chủng Bất Năng Nam).
ban đồ lô già pháp
(般荼盧伽法) Pàli: Paịđuka Lohitaka. Còn gọi là Yết ma kiền độ (Pàli: Kamma-khandaka). Là một trong hai mươi thứ Kiền độ. Ban đồ và Lô già vốn là tên của hai vị Tỉ khưu, hai tỉ khưu này thích đánh nhau với người, Phật muốn cấm, mới chế phép yết ma mắng trách. Luật Thập tụng quyển 31 gọi là Ban đồ lô già pháp, hoặc Khổ thiết yết ma pháp; luật Tứ phần quyển 44 gọi là Ha trách kiền độ. Phép trị tội những người mắc ha trách yết ma, gồm có ba mươi lăm thứ bất ưng tác (không được làm), Ha trách kiền độ như pháp, phi pháp và giải yết ma, gồm có Sấn yết ma (cấm đến nhà tại gia), Bất kiến tội yết ma (không thấy tội), Bất sám hối tội yết ma (không hối tội), Bất xả kiến yết ma (không chịu đổi ý kiến) v.v... cho đến các qui định về phép giải yết ma.
ban ơn
To grant a favor.
Ban 般
[ja] ハン、ハツ han, hatsu ||| Transliteration for the Sanskrit pan or van sound. => Phiên âm âm pan hoặc van trong tiếng Sanskrit .
ban-na
Xem Tuệ.
Ban-thiền Lạt-ma
班禪喇嘛; T: panchen lama;|Danh hiệu Ðạt-lại Lạt-ma thứ 5 tặng cho thầy mình là vị trụ trì chùa Ta-shi Lhun-po trong thế kỉ thứ 17. Vì Ðạt-lại Lạt-ma được xem là hoá thân của Quán Thế Âm nên lúc đó Ban-thiền Lạt-ma được gọi là hoá thân của Phật A-di-đà. Như dòng Ðạt-lai, dòng Ban-thiền cũng được xem là một dòng tái sinh (Chu-cô [tulku]) nhưng Ban-thiền Lạt-ma không có trách nhiệm lĩnh đạo chính trị. Ðến thế kỉ 20, Ban-thiền Lạt-ma mới nhận một số nhiệm vụ này.
Ban-đê-pa
S: bhandepa, bhadepa, bade, batalipa; còn có biệt danh: »Thiên nhân ganh tị«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, có lẽ sống trong cuối thế kỉ thứ 10.|Ban-đê-pa là một thiên nhân (có sách cho rằng ông là một người chuyên vẽ hình thiên nhân) sống tại Xá-vệ, nơi đức Phật Thích-ca lưu trú 25 mùa mưa. Ngày nọ, ông thấy một người toả hào quang rực rỡ, hỏi Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān), chúa tể thiên nhân thì mới biết đó là một vị A-la-hán. Ông phát lòng tu học, đến Kan-ha-pa (s: kāṅhapa) xin học. Vị Ðạo sư hướng dẫn ông vào Man-đa-la của Bí mật tập hội (s: guhyasamāja) và dạy cho ông thực hành Bốn phạm trú: Từ là tri kiến, Bi là thiền định, Hỉ thái độ toàn hảo và Xả là mục đích tu tập. Nhờ tu tập thiền định mà Ban-đê-pa thanh lọc mọi vọng tưởng và ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa.|Khi Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān) thấy ông về lại trên trời, Ngài hỏi ông học được những gì. Ban-đê-pa trả lời:|Ta đã đạt Tri kiến,|thấy Cảnh phi tự thể.|Thiền định không ngôi nghỉ.|Hành động thật toàn hảo,|như cha mẹ thương con.|Và hỏi mục đích ư?|mục đích rỗng như trời.|Bốn thứ đó là một.|Ham muốn dính mắc đâu?|Tuyệt vời thay, Ðạo sư!|Trí giả nên phụng sự.|Ông còn ca tụng Chân như như sau:|Hỉ tột cùng: buông bỏ|Từ tột cùng: chứng thật|Bi tột cùng: hỉ lạc|Xả tột cùng: đạo vị.
bang
(梆) Là cái bảng dùng trong Thiền lâm đánh lên để thông báo đại chúng về giờ ăn, giờ tắm v.v... Cũng gọi là phạn bang (bảng báo giờ ăn cơm), mộc ngư (cá gỗ), ngư cổ (trống cá), ngư bản (bảng hình cá), ngư bang, Minh ngư (cá gáy). Trong các Thiền lâm thời xưa, bảng thường treo ở nhà tắm, đánh, để thông báo đại chúng biết giờ tắm. Thiền lâm tượng khí tiên đệ nhị thập thất loại Bài khí môn, nói: Sa di luật nghi nhập dục nói: Nước lạnh nóng, theo lệ đánh bang, không được gọi to. Bang cũng thường dùng để thông báo đại chúng giờ thụ trai, như hiện nay, trong Thiền gia, bang gỗ khắc đầu rồng mình cá được treo ngoài nhà Tăng hoặc phía ngoài nhà trai. Nhưng, mộc ngư ngày xưa tức là chỉ bang hiện nay. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 8 Pháp khí chương (Đại 48, 1 1 5 6 thượng), nói: Mộc ngư, hai thời cháo, cơm, đánh hai hồi dài, phổ thỉnh tăng chúng, đánh một hồi dài, phổ thỉnh hành giả, hai hồi dài.Ngoài ra, bang còn chỉ một loại bản gỗ dùng để đánh hiệu thông cáo đại chúng trong các cơ quan công quyền ở Trung quốc thời xưa. (xt. Mộc Ngư).
bang giao
Relationship.
bang trợ
To aid—To help.
bao
1) Bâu áo: Lapel. 2) Posadha (skt)—Tán thán—Ngợi Khen—To Praise—Salutation.
bao dung
To tolerate.
bao gồm
To comprise.
bao la
Vast—Immense.
bao nhĩ văn thư
(包爾文書) (THE BOWER MANUSCRIPT) Là bộ sách Phật được khai quật thấy đầu tiên ở Tây vực. Do Thượng úy người Anh là Bao nhĩ (Captain Bower, còn dịch là Bảo nhĩ) tìm thấy những mẩu bản sao bằng vỏ cây hoa, dọc theo dải Khố xa (Cưu tư) thuộc Tân cương Trung quốc. Văn thư này có xuất xứ từ di tích Sa mạc cổ thành, hình gốc là lá bối, trên viết chữ Phạm thuộc cổ văn, nội dung bao gồm kinh Khổng tước vương chú, Dược pháp, Chú pháp, Chiêm bốc pháp, tất cả bảy loại. Bảo nhĩ mang văn thư đó về Gia nhĩ các đáp (Calcutta) thuộc Ấn độ, giao cho nhà học giả người Anh tên là Lỗ đạo phu hoắc nặc nhĩ (Rudolf Hoernle, 1841-1918), sau không bao lâu, Hoắc nặc nhĩ tuyên bố văn thư ấy là kinh điển Phật giáo, viết bằng tiếng Phạm cổ Ấn độ, khoảng thế kỉ thứ IV, thứ V, loại tiếng Phạm đã thất truyền từ lâu tại Ấn độ. Lời tuyên bố của ông gây chấn động quốc tế, các học giả Anh, Nga, Đức, Pháp, Thụy điển, Nhật bản rầm rộ đi Tây vực thám hiểm, bèn mở ra một phương hướng mới nghiên cứu về lịch sử Tây vực và lịch sử Phật giáo. Ngoài ra, cùng thời với Bao nhĩ, Vi bá (F. Weber), cũng tại Khố xa, đã phát hiện những bản vụn viết trên giấy và, qua sự khảo chứng, Hoắc nặc nhĩ xác định những bản vụn ấy là sách thuốc viết bằng tiếng Cưu tư, đời gọi là Vi bá văn thư (The Weber Manuscript).
bao thiền phổ
Pao ch'an P'u (C).
Bàn Khuê Vĩnh Trác
(盤珪永琢, Bankei Yōtaku, 1622-1693): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời kỳ Giang Hộ, vị tổ dời thứ 218 của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy là Nhất Tuệ (一慧), Vĩnh Trác (永琢), hiệu Phật Trí Hoằng Tế Thiền Sư (佛智弘濟禪師), đạo hiệu Đại Châu (大珠), Bàn Khuê (盤珪), nhụ hiệu Đại Pháp Chánh Nhãn Quốc Sư (大法正眼國師), xuất thân vùng Bá Ma (播磨, Harima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), con trai thứ ba của nhà Nho Y Quản Nguyên Đạo Tiết (菅原道節). Năm 1638, ông theo xuất gia với Toàn Tường (全祥) ở Tùy Âu Tự (隨鷗寺) vùng Bá Ma, và kế thừa dòng pháp của Tổ Ngưu (祖牛) ở Tam Hữu Tự (三友寺) thuộc vùng Bị Tiền (僃前, Bizen). Ông đã cải đổi hình thức công án Thiền, tuyên xướng Thiền Bất Sanh độc đáo của mình, thuyết pháp rất bình dị tự do, nên có rất nhiều người tin theo ông. Năm 1661, nhờ sự hỗ trợ của Cao Cực Cao Phong (高極高豐), Phiên chủ của Hoàn Quy Phiên (丸龜藩), ông khai sáng ra Long Môn Tự (龍門寺) ở quê mình. Đến năm 1672, ông được cử làm trú trì Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) ở kinh đô Kyoto. Trước tác của ông có Bàn Khuê Phật Trí Thiền Sư Ngữ Lục (盤珪佛智禪師語錄).
Bách Trượng Hoài Hải
(百丈懷海, Hyakujō Ekai, 749-814): người vùng Trường Lạc (長樂), Phúc Châu (福州, thuộc tỉnh Phúc Kiến ngày nay), họ là Vương (王), hiệu Hoài Hải (懷海), thụy hiệu Đại Trí (大智), Giác Chiếu (覺照), Hoằng Tông Diệu Hạnh (弘宗妙行), v.v., và người đời thường gọi ông là Bách Trượng Thiền Sư. Năm lên 20 tuổi, ông xuất gia với Tây Sơn Huệ Chiếu (西山慧照), rồi thọ cụ túc với Luật Sư Pháp Triều (法朝) ở Nam Nhạc (南岳); sau đọc Đại Tạng Kinh ở Lô Giang (盧江, thuộc Tỉnh An Huy ngày nay), kế đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và được vị nầy ấn khả cho. Từ đó bốn phương chúng đạo tục quy y theo Hoài Hải rất đông, nên ông mới kiến lập một ngôi chùa ở Đại Hùng Sơn (大雄山) thuộc Huyện Phụng Tân (奉新縣), Hồng Châu (洪州, tức Tỉnh Giang Tây ngày nay). Ngôi chùa nầy được lấy tên là Bách Trượng Sơn Đại Trí Thọ Thánh Thiền Tự (百丈山大智壽聖禪寺). Hoài Hải là vị tổ khai sơn chùa, và chính tại nơi đây ông đã cổ xúy Thiền phong của ông rất mạnh mẽ. Trước tác Bách Trượng Cổ Thanh Quy (百丈古清規) của ông hiện chỉ còn lại phần tựa mà thôi, nhưng lịch sử Thiền Tông Trung Hoa không bao giờ quên được rằng chính ông là người sáng lập ra thanh quy của Thiền lâm. Từ đó trở đi, Thiền trở thành một bộ phận gắn liền với sinh hoạt phong thổ Trung Hoa. Đệ tử của ông có rất nhiều bậc long tượng xuất hiện như Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), v.v. Vào ngày 17 tháng giêng năm thứ 9 niên hiệu Nguyên Hòa (元和) nhà Đường, ông thị tịch, thọ thế 66 tuổi. Theo Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳), Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) thì cho rằng ông thọ 95 tuổi.
Bảo Ninh Nhân Dũng
(保寧仁勇, Hōnei Ninyū, ?-?): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống vào khoảng dưới thời nhà Tống, xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Ban đầu ông học giáo lý Thiên Thai, rồi chuyển sang Thiền và đến tham yết Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯). Sau nghe Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) đang tuyên dương giáo pháp tại Vân Cái (雲蓋), ông đến tham học và ngộ được Thiền chỉ. Sau khi Phương Hội qua đời, ông cùng với bạn đồng tham học là Bạch Vân Thủ Đoan (白雲守端) đi du phương đó đây, cuối cùng đến trú tại Bảo Ninh Tự (保寧寺), Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô) và tận lực xiển dương Thiền phong của mình. Đệ tử của ông có Thọ Thánh Trí Uyên (壽聖智淵), Thọ Thánh Sở Văn (壽聖楚文), Bảo Tích Tông Ánh (寶積宗映), Cảnh Phước Nhật Dư (景福日余), v.v. Ông có tác phẩm Bảo Ninh Dũng Thiền Sư Ngữ Lục (保寧勇禪師語錄) 1 quyển với lời tựa của Dương Kiệt (楊傑) ghi năm đầu (1078) niên hiệu Nguyên Phong (元豐). Chính ông và Thủ Đoan đã cùng nhau biên tập bộ Viên Châu Dương Kì Hội Hòa Thượng Ngữ Lục (袁州楊岐會和尚語錄).
Bạch Lạc Thiên
(白樂天): tức Bạch Cư Dị (白居易, 772-846), thi nhân thời Trung Đường, tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu Hương Sơn Cư Sĩ (香山居士), người vùng Hạ Phong (下邽), Thiểm Tây (陝西), người đời thường gọi ông là Túy Ngâm Tiên Sinh (酔吟先生). Khi đang làm chức Tả Thập Di (chức quan chuyên làm quân sư cho nhà vua), ông bị dèm pha vu khống, nên bị đổi đi làm quan Tư Mã ở Giang Châu (江州). Sau ông lại được triệu hồi về kinh và cho làm Hình Bộ Thượng Thư (tương đương với Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp ngày nay). Về thi phong phần nhiều ông chịu ảnh hưởng của thi hào Đỗ Phủ (杜甫), lưu lệ và bình dị, nên được rất nhiều người mến chuộng. Ông có viết bộ Bạch Thị Văn Tập (白氏文集) và tác phẩm tiêu biểu của ông là Trường Hận Ca (長恨歌), Tỳ Bà Hành (琵琶行), v.v. Chính thi phong của ông đã mang lại ảnh hưởng rất lớn cho nền văn học dưới thời đại Bình An của Nhật Bản.
Benāres
: tên gọi của vương quốc Ba La Nại (s: Vārāṇasī, Vāraṇasī, Varāṇasī, Varaṇasī, p: Bārāṇasī, 波羅奈) ngày xưa. Xem Ba La Nại ở trên.
bhavitatta
Bhavitatta (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Bi
悲; S, P: karuṇā;|Lòng thương yêu, đau xót, thông cảm cùng với chúng sinh; một đặc tính quan trọng của Chư Bồ Tát và Chư Phật, là một trong Bốn phạm trú (s, p: brahmavihāra). Lòng thương yêu này trải rộng vô phân biệt đến tất cả các loài Hữu tình, xuất phát từ trí huệ nhận ra rằng tất cả là một, là biểu hiện cu thể của trí huệ đạt được qua Giác ngộ (s, p: bodhi). Vì vậy, lòng bi luôn luôn cùng đi với Trí huệ (s: prajñā). Người ta cho rằng đức Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của lòng Bi và vì vậy, Ngài cũng mang danh hiệu Ðại Bi (s: mahākaruṇika).|Trong Ðại thừa, lòng Từ (s: maitrī; p: mettā) và bi được xem là đức hạnh chính yếu, trong lúc Tiểu thừa xem Trí huệ (s: prajñā) quan trọng hơn trong bước đường giác ngộ. Trong Tịnh độ tông thì lòng từ bi của Phật A-di-đà được xem là cao cả nhất (xem Bất hại)
bi
Karunà, krpà (S). Compassion, pity for another in distress and the desire to help him.
; 1) Tấm bia đá A stone tablet, or monument. 2) Karuna (skt)—Tiếng Phạn là Phả Li Nê Phược, tức là cái tâm hay tấm lòng bi mẫn thương xót cứu vớt người khác thoát khỏi khổ đau phiền não. Lòng bi là lòng vị tha, không vì bản ngã, mà dựa trên nguyên tắc bình đẳng. Khi thấy ai đau khổ bèn thương xót, ấy là bi tâm—Karuna means sympathy, or pity (compassion) for another in distress and desire to help him or to deliver others from suffering out of pity. The compassion is selfless, non-egoistic and based on the principle of universal equality. 3) Lòng “Bi” chính là một trong những cửa ngỏ quan trọng đi đến đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không giết hại chúng sanh—Karuna or compassion is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not kill or harm living beings. 4) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm thứ bảy, Quán Chúng Sanh, Bồ Tát Văn Thù khi đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật có hỏi về lòng “bi” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Seventh, Contemplating on Living Beings, when Manjusri Bodhisattava called on to enquire after Vimalakirti's health, he asked Vimalakirti about “Karuna” as follows - Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật “Sao gọi là lòng bi của một vị Bồ Tát?”—Manjusri asked Vimalakirti “What should be compassion (karuna) of a Bodhisattva?” - Duy Ma Cật đáp “Bồ Tát làm công đức gì cốt để chia xẻ cho tất cả chúng sanh.”—Vimalakirti replied “A Bodhisattva's compassion should include sharing with all living beings all the merits he has won.”
; (悲) Phạm, Pàli: karuịà. Dịch âm : ca lâu na, gia lư na. Là lòng thương xót những nỗi khổ đau của người khác và muốn cứu giúp. Một trong bốn tâm vô lượng. Kinh Đại bátniết bàn (bản Bắc) quyển 15 nói, muốn đem lại cho chúng sinh vô lượng sự lợi lạc, gọi là đại bi. Luận Đại trí độ quyển 20 thì nói, thương nhớ chúng sinh trong năm đường phải chịu những nỗi khổ của thân và tâm, gọi là bi. Còn Đại thừa nghĩa chương quyển thứ 11 thì bảo : từ hay ban vui, bi hay cứu khổ. [X. luận Câu xá Q.27]. (xt. Tứ Vô Lượng Tâm, Từ Bi).
bi cảm
Moving—Touching.
bi hoa kinh
Karuṇā-Pundarika sŪtra (S), Karuṇā-pundarika (S)Tên một bộ kinh trong Phương Quảng bộ.
; Karunà-pundarìka-sùtra (S)
; (悲華經) Phạm: Karuịà-puịđarìka-sùtra. Gồm 10 quyển. Ngài Đàm vô sấm (Phạm: Dharmarakwa) dịch vào đời Bắc Lương. Thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này nói rõ về truyện tiền thân của đức Phật a di đà và Phật Thích ca, dùng phương thức trình bày đối chiếu tư tưởng thành Phật ở cõi Tịnh độ và cõi Uế độ, đặc biệt đề cao lòng đại bi của đức Phật Thích ca ở nơi Uế độ thành Phật. Bộ kinh chia làm 6 phẩm. Phẩm 1 Chuyển pháp luân và phẩm 2 Đà la ni, miêu tả thế giới Liên hoa của đức Liên hoa tôn Như lai (Phạm: Padmottara) tương tự như thế giới cực lạc của đức Phật A di đà. Phẩm Đại thí thứ 3 tường thuật việc bồ tát Tịnh ý (Phạm:Sàntimati) hỏi lý do đức Phật ra đời ở cõi Uế độ. Đức Phật bảo Ngài ra đời ở cõi nước nhơ nhớp là vì lòng đại bi và lời thề nguyền (bản nguyện) ở đời trước, nói nhiều về sự tích vua Vô tránh niệm. Phẩm Chư bồ tát bản thụ ký thứ 4 thuật rõ việc vua Vô tránh niệm, do sự khuyến cáo của đại thần Bảo hải, phát khởi thệ nguyện thành Phật ở cõi Tịnh độ, được đức Bảo tạng Như lai thụ kí sau sẽ thành Phật Vô lượng thọ (Phạm: Amitàyus, Amitàbha, dịch âm A di đà). kế đó, một nghìn người con của vua lần lượt được thụ kí, tên là Quán thế âm, Đắc đại thế chí, Văn thù sư lợi, Phổ hiền, A súc Phật v.v... tám mươi người con của đại thần Bảo hải và 3 ức đệ tử cũng đều phát tâm vô thượng bồ đề và được thụ kí thành Phật ở cõi nước nhơ nhớp. Còn chính đại thần Bảo hải phát khởi năm trăm nguyện lớn, nguyện thành Phật ở cõi đời có năm cái nhơ đục xấu xa. Đức Bảo tạng Như lai thụ kí khi đại thần Bảo hải thành Phật thì có tên là Thích ca mâu ni Như lai, còn gọi Ngài là bồ tát Đại bi. Phẩm đàn ba la mật thứ năm thuật lại những truyện tiền sinh của bồ tát Đại bi, các hạnh tu của Ngài, mà trong đó hạnh bố thí ba la mật là chính yếu. Phẩm nhập định tam muội môn thứ 6 chỉ bày rõ loại tam muội mà đức Phật Thích ca vào định, đồng thời nêu ra mười loại tên kinh. Kinh này hiện có hai loại bản dịch. Ngoài kinh này ra, còn có kinh Đại thừa bi phân đà lợi, gồm 8 quyển 30 phẩm, được dịch vào đời Tần, nhưng đã mất tên người dịch. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 nói, thì có thuyết cho kinh này do Hòa thượng Đạo cung dịch vào đời Đông Tấn. Lại cứ theo Khai nguyên thích giáo lục chép, thì kinh này có tất cả bốn bản dịch, đó là: - kinh Nhàn cư 1 quyển, Ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch ; - kinh Đại thừa bi phân đà lợi, được dịch vào đời Tần, nhưng mất tên dịch giả; - kinh Bi hoa 10 quyển, Ngài Đạo cung đời Bắc Lương dịch. - kinh Bi hoa 10 quyển, Ngài Đàm vô sấm đời Bắc Lương dịch. Ngoài ra, theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 6 Pháp hộ dịch kinh điều chép, thì kinh Nhàn cư có hai bộ 10 quyển và 1 quyển. Kinh một quyển là tách riêng ra từ sinh kinh (cũng do Ngài Pháp hộ dịch), còn kinh 10 quyển thì do bản dịch khác của kinh Bi hoa.Nhưng theo nhận xét của người thời nay, thì sách do Ngài Đạo cung soạn có thể là kinh Đại thừa bi phân đà lợi 8 quyển, còn kinh Nhàn cư 1 quyển đã được sao chép riêng ra từ sinh kinh mà thành, và kinh Nhàn cư 10 quyển cũng không nên coi là bản dịch khác của kinh Bi hoa này. Vả lại kinh Bi hoa này cũng có liên hệ mật thiết với các kinh Tăng nhất a hàm, kinh Vô lượng thọ, kinh A súc phật quốc, kinh Pháp hoa v.v... Năm 1898, ông Das, Bahu Sarat Chandra - học giả Phật giáo Ấn độ - đã ấn hành bản tiếng Phạm của kinh Bi hoa, chia làm 5 phẩm: Chuyển pháp luân, Đà la ni, Khí thí, Bồ tát thụ ki, Bố thí. Vào khoảng thế kỷ thứ IX, các học giả Ấn độ là: Thắng hữu (Phạm: Jinamitra), Thiên chủ giác (Phạm: Surendra-bodhi), Trí tuệ khải (Phạm:Prajiĩà-varman) và viên quan phiên dịch người Tây tạng tên là Trí tuệ quân (Tạng:Ye-ses-sde) v.v... đã cùng dịch kinh Bi hoa này ra tiếng Tây tạng, chia làm 15 quyển, 5 phẩm. Những ghi chép và tường thuật trong bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng đều giống với kinh Bi hoa. Kinh Bi hoa được lưu truyền rộng rãi ở Trung quốc, những bản kinh sao chép cũng nhiều. Trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4 Thất dịch tạp kinh lục và Pháp kinh lục quyển 2 Chúng kinh biệt sinh lục, có liệt kê 19 bộ kinh như: Bảo hải phạm chí thành tựu đại bi v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.14; Tĩnh thái lục Q.2, Q.3; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.3; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.4, Q.14; Tịnh độ giáo chi nghiên cứu ; Tịnh độ giáo chi khởi nguyên cập phát đạt (Vọng nguyệt Tín hạnh)].
bi hoan
Grief and joy.
bi khổ
Deplorable.
bi kịch
Tragedy.
bi môn
Bi tâm của Phật hay con đường dẫn tới cứu độ chúng sanh (bao gồm tất cả các đức lợi tha)—The Buddha-pity or the way of pity directed to others. ** For more information, please see Nhị Môn (D).
bi mẫn bồ tát
Xem Bi triền nhuận Bồ tát.
bi nguyện
The great compassionate vow of Buddha and bodhisattvas to save all beings.
; Đại bi nguyện của chư Phật và chư Bồ tát là cứu độ chúng sanh—The great pitying vow of Buddhas and bodhisattvas to save all beings.
; (悲願) Chỉ cho những lời thề nguyền cứu độ chúng sinh phát xuất từ lòng từ bi của chư Phật và Bồ tát. Cũng gọi Đại bi nguyện lực. Như 24 nguyện, 36 nguyện, 48 nguyện của đức Phật A di đà; 12 nguyện, 44 nguyện của đức Dược sư như lai; 20 nguyện của Phật a súc; 18 nguyện của bồ tát Văn thù và 40 nguyện của Sư tử hương v.v... Luận Thành duy thức quyển 4 có câu Bi nguyện tương ứng với tâm thiện. Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 48, 44 trung) thì nói: Bồ tát Địa tạng mỗi buổi sáng sớm vào hằng sa định, đi khắp pháp giới, cứu khổ chúng sinh, bi nguyện của Ngài vượt hơn các Đại sĩ khác. Ngoài ra, bi nguyện của chư Phật và Bồ tát cũng như thuyền bè đưa người qua biển sống chết, cho nên ví dụ gọi là bi nguyện thuyền. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Nguyện).
bi quan
Pessimism.
bi quán
(悲觀) Một trong năm phép quán. Bi hàm ý thương xót. Nghĩa là thường mang lòng thương xót quan sát chúng sinh mà cứu khổ cứu nạn cho họ. Kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Phổ môn (Đại 9, 58 thượng, nói: Bi quán và từ quán, thường nguyện thường ngửa trông. (xt. Ngũ Quán).
bi quán từ quán
The compassionate contemplation for saving beings from suffering, and the merciful contemplation for giving joy to all beings
; Bi quán nhằm cứu độ chúng sanh; từ quán nhằm ban vui cho mọi loài—The pitying contemplation for saving beings from suffering, and merciful contemplation for giving joy to all beings.
bi sầu
Sad—Melancholy—Grievous
bi thuyền
Phật và Bồ Tát nguyện được ví với chiếc thuyền cứu độ chúng sanh—Buddhas' and Bodhisattvas' vow to save all sentient beings is compared with the boat for ferrying beings to salvation.
bi thương
Mournful and pitiful.
bi thảm
Deplorable—Tragic—Mournful—Drama.
bi thủ
Bàn tay bi mẫn—A pitying hand.
bi toàn nhuận bồ tát
(悲旋潤菩薩) Bi tuyền nhuận, Phạm: Karuịàmređitahê. Cũng gọi Bi mẫn bồ tát, Đại bi triền bồ tát. Vị Bồ tát thứ bảy đặt ở phương đông viện Trừ cái chướng trong Hiện đồ mạn đồ la của Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Bi niệm kim cương. Vị Bồ tát này dùng nước trí đại bi thấm nhuần ruộng chúng sinh khô hạn làm tam muội (chính định); Bồ Tát Bi Tuyền Nhuận vì dùng đại bi buộc tâm, nên gọi là Đại bi triền.Trong hiện đồ mạn đồ la, vị Bồ tát này thân màu vàng lợt, tay trái cầm hoa sen chưa nở, bàn tay phải ngửa lên, để ở trước ngực, ngón cái và ngón giữa bấm vào nhau, ngón út, ngón vô danh co lại, ngồi trên hoa sen đỏ. Hoa sen chưa nở bên tay trái biểu thị hoa sen tâm của tính Phật, ngón giữa (lửa), ngón cái (không) của tay phải bấm vào nhau, ngón vô danh (nước), ngón út (đất) co lại, là tượng trưng sự tưới nước từ bi trong sạch khiến cho tâm hoa sen của chúng sinh nở ra. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
bi triền nhuận bồ tát
Karuṇām-reditah (S)Bi mẫn Bồ tát, Đại bi triền Bồ tátTên một vị Bồ tát.
bi tráng
Dramatic.
bi trí
Compassion and wisdom.
; 1) Bi và trí là hai đặc tính của chư Bồ Tát trên bước đường tu tập đại giác và cứu độ chúng sanh Pity and wisdom, the two characteristics of a bodhisattva seeking to attain perfect enlightenment and the salvation of all beings. a) Bi là dưới thì hạ hóa chúng sanh Karuna or compassion means below is to save sentient beings. b) Trí là thượng cầu Bồ Đề hay Phật đạo Jnana or wisdom means above is to seek Bodhi. 2) Theo Phật Giáo Đại Thừa, điển hình của bi là Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát; còn Ngài Đại Thế Chí là điển hình của trí In Mahayana Buddhism, Pity is typified by Avalokitesvara and wisdom by Mahasthamaprapta. 3) Theo Chân Ngôn Giáo thì Bi là Thai Tạng giới, trong khi Trí là kim cang giới: In the esoteric sects, pity is represented by the garbhadhatu or the womb treasury, while wisdom is represented by the vajradhatu or the diamond treasury.
; (悲智) Chỉ sự lấy lòng từ bi cứu độ chúng sinh và trí tuệ cầu bồ đề. Phật và Bồ tát đầy đủ hai thứ công đức này, gọi chung là hai cửa Bi Trí. Trong Pháp sự tán quyển thượng, ngài Thiện đạo nói, đức Thích ca và chư Phật đều nương theo thệ nguyện rộng lớn mà thực hành cả bi và trí, không bỏ chúng sinh hữu tình. Trong hai cửa bi và trí này, trí tuệ thuộc về lợi mình, từ bi thuộc về lợi người. Nếu phối hợp với hai tay của người, thì bi là tay trái, trí là tay phải. Nếu phối hợp với hai bộ Kim, Thai của Mật giáo, thì bi là Thai tạng giới, trí là Kim cương giới. Nếu phối với hai vị Bồ tát ở hai bên đức Phật a di đà, thi bồ tát Quan âm bên trái biểu trưng bi, bồ tát Đại thế chí bên phải biểu trưng trí. Hoàn toàn thực hiện được hai cửa Bi,Trí này, thì gọi là bi trí viên mãn. Duy có Phật đạt được cảnh giới này mà thôi.
bi trí nhị môn
Pháp môn mở rộng tứ vô lượng tâm. Trí là trên thì cầu quả Bồ đề, Trí la dưới thì hoá độ chúng sanh.
bi tâm
A heart of pity, compassion.
; Karuna (skt)—Bi tâm mở rộng không phân biệt chúng sanh mọi loài. Tuy nhiên, bi tâm phải đi kèm với trí tuệ, để có được kết quả đúng đắn—Compassion—Pity—Active sympathy—A compassionate heart—Compassion extends itself without distinction to all sentient beings. However, Compassion must be accompanied by wisdom in order to have right effect—A heart of pity, of sympathy, or sadness.
Bi tụy
(悲悴, 悲瘁): buồn thương, bi thương, đau xót. Trong Vấn Tiến Sĩ Sách Đề Ngũ Đạo (問進士策題五道) của Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có đoạn: “Nhất nhân chi vi vịnh ca, hoan lạc bi tụy nghi nhược sở hệ giả vị vi trọng hỉ (一人之爲詠歌、歡樂悲瘁宜若所繫者未爲重矣, một người vì vịnh ca, hoan lạc, buồn thương, nên nếu ai bị trói buộc thì vẫn chưa xem là trọng).” Lại nữa, trong Hiền Ngu Kinh (賢愚經) quyển thứ 3, Cứ Đà Thân Thí Phẩm (鋸陀身施品) thứ 15 có đoạn: “Thiên thời thạnh thử, đáo nhiệt sa đạo, thần càn khát phạp, uất chưng dục tử, cùng toan khổ thiết, bi tụy nhi ngôn: 'Thùy hữu từ bi, căng mẫn ngã giả, đương kiến chửng tế, cứu ngã thân mạng (天時盛暑、到熱沙道、唇乾渴乏、鬱蒸欲死、窮酸苦切、悲悴而言、誰有慈悲、矜愍我者、當見拯濟、救我身命, lúc ấy trời nóng bức, sức nóng bốc lên trên đường cát, môi khô khát mệt, hơi bốc muốn chết, hết chua đắng cạn, buồn đau nói rằng: 'Ai có từ bi, thương xót tôi với, thấy vậy cứu vớt, cứu thân mạng tôi).”
Bi vô lượng
xem Bốn tâm vô lượng.
bi vô lượng tâm
Karuṇā Apramana Cittani (S).
; Infinite compassion for all.
; Một trong tứ vô lượng tâm, khởi lòng từ bi vô lượng với hết thảy chúng sanh—Boundless pity—Infinite pity for all, one of the four immeasurable minds (catvari-apramanani). ** For more information, please see Tứ Vô Lượng Tâm.
; (悲無量心) Tâm bi vô lượng. Phạm: Karuịàapramàịa-cittàni. Một trong bốn tâm vô lượng. Bi, hàm ý thương xót, là tâm cứu khổ cho vô lượng chúng sinh. Chỉ cho Bồ tát thương nhớ hết thảy chúng sinh chịu các nỗi thống khổ, thường mang lòng thương xót cứu giúp, khiến tất cả đều được thoát khổ, nên gọi là tâm bi vô lượng (lòng thương xót không tính lường được). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 20 nói, thì duyên theo vô lượng chúng sinh, suy nghĩ lìa khổ mà vào Bi đẳng chí, gọi là tâm bi vô lượng. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 22, thì tâm bi vô lượng có khả năng đối trị hai chướng trong bốn chướng. Ngoài ra, định Đại bi (Phạm, Pàli: mahàkaruịà-samàpatti), là chỉ loại Thiền định của chư Phật vì thương xót hết thảy chúng sinh mà đem tâm đại bi vô lượng rải khắp pháp giới. [X. luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tứ Vô Lượng).
bi điền
The field of compassion, cultivated by helping those in trouble.
; Bi Điền hay ruộng “bi” nơi hành giả thực tập giúp đở người hoạn nạn, một trong những phước điền—The field of pity, cultivated by helping those in trouble, one of the three fields of blessing.
; (悲田) Ruộng tình thương. Một trong ba thứ ruộng phúc. Đem lòng thương xót cứu giúp người nghèo khổ, thì được phúc vô lượng, cho nên, cứu giúp người nghèo khổ, hoặc người nghèo khổ nhận sự cứu giúp, đều gọi là Bi điền. Kinh Tượng pháp quyết nghi nói: ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng là kính điền (ruộng tôn kính), những người nghèo cùng cô độc già cả cho đến con kiến v.v... thì là bi điền. Dựa theo ý nghĩa trên đây, vào thời đại nhà Đường, đã có các viện Bi điền được thiết lập. Cứ theo Cựu Đường thư Vũ tôn kỉ chép, thì khoảng năm Khai nguyên đời Đường, phường Bi điền dưỡng bệnh đã được thiết lập, để thu nhận những người hoàn tục mà nghèo khổ tàn tật không nơi nương tựa, cũng thu nhận cả người nghèo khó nói chung. Đời sau cũng gọi chung những viện dưỡng tế là viện Bi điền. [X. kinh Chính pháp niện xứ Q.61; kinh Ưu bà tắc giới Q.3; luận Đại trí độ Q.12]. (xt. Phúc Điền).
bi đà
Xem Phệ đà.
bi đát
Tragic.
Bi 悲
[ja] ヒ hi ||| (1) Be sad, sorrowful, mournful; be grieved at. (2) Sad, sorrowful, mournful. [Buddhism] (3) Compassion, pity, sympathy (anukampā, paridevayanti, karuṇyā). => 1. Buồn, âu sầu, tang tóc; đau buồn vì. 2. Nỗi buồn, sự âu sầu; nỗi buồn đau. [Phật học] 3. Lòng từ bi, lòng trắc ẩn, sự thông cảm (s: anukampā, paridevayanti, karuṇyā).
bia
Stele.
bia chùa
. Stele.
bia miệng
Public opinion.
Bik-sa-na-pa
S: bhikṣanapa, bhikhanapa, dhikṣana, bhakana; »Tất-đạt hai răng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông sống tại thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra), thừa hưởng một gia tài lớn nhưng ăn tiêu hết sạch. Lần nọ, ông buồn rầu ngồi một nơi vắng vẻ thì một Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra hỏi han. Nữ thần hứa truyền yếu chỉ cho ông để thoả mãn mọi ước nguyện. Khi hỏi ông có thể cúng dường gì thì ông liền nhổ tất cả các răng cúng dường, chỉ dành lại cho mình hai chiếc. (Có sách kể rằng trước đó ông chỉ còn hai chiếc răng và nhổ hai chiếc cuối cùng này cúng dường). Nữ thần truyền cho ông phép thiền định, phối hợp hai mặt Phương tiện và Trí huệ. Sau bảy năm, ông chứng thật sự giao phối này, đạt đại hạnh và sức mạnh của Phật quả. Người đời gọi ông là »Ðạo sư hai răng.« Thánh ca của ông như sau:|Ðại đạo không thể lường,|dẫn đường đến Ðại lạc,|dẫn đến chứng Thánh quả.|Nhờ Ðạo sư khai thị,|Du-già sư khôn khéo,|đạt quân bình tuyệt đối.
binh
1) To defend. 2) Troop—Soldier.
binh thư
Military manual.
biên
1) Bính đuôi sam A plait—A queue. 2) Bờ mé Extreme—Edge—Margin—Border. 3) Biên bản To record. 4) Ghi danh To enroll. 5) Bện kết Thắt bính—To compile or to plait.
biên bản
Minutes—Report.
biên bức
Con dơi—A bat.
biên bức tăng
Ô Thử Tăng—Loại Tăng ngày ngũ đêm đi ăn như dơi (Tăng phạm những tội Ba La Di)—A bat monk—See Tứ Đọa.
biên châu
Những xứ nằm giáp ranh hay bên ngoài Ấn Độ—The countries bordering on, or outside of India.
; (邊州) Châu ở ngoài biên giới. Đối với Phật giáo, Ấn độ được coi là trung tâm của châu Nam diêm phù đề, nên gọi các vùng đất ngoài Ấn độ là Biên châu.
biên chấp kiến
(邊執見) Thành kiến chỉ thấy một bên. Phạm: anta-gràha-dfwỉi, Pàli: anta-ggàhikà. Kiến giải cực đoan chỉ chấp có một bên. Gọi tắt là Biên kiến. Là một trong mười tùy miên, một trong năm kiến. Có hai thứ: 1. Thường kiến, cho rằng sau khi chết, cái ta thường còn không thay đổi. 2. Đoạn kiến, cho rằng sau khi chết, cái ta diệt mất. Hai kiến chấp trên cũng tức là cái thấy sai lầm đối với năm thủ uẩn chỉ chấp một bên đoạn và thường. Biên chấp kiến này duyên theo Tát ca da kiến (thấy có thân ta) mà cố chấp cái ta, cái của ta, rồi dấy sinh hai cái thấy cực đoan đoạn, thường làm chướng ngại Đạo đế trung dung và Diệt đế thoát li. Cái nhận thức cực đoan này lại tùy theo cái thấy có thân ta mà chuyển. Luận Thành duy thức quyển 6 tổng kết biên chấp kiến có 47 thứ, trong đó, bảy thứ chấp đoạn diệt thuộc về đoạn kiến, 40 thứ còn lại thuộc thường kiến. Biên chấp kiến này thuộc về hoặc Biến hành, cũng giống như Hữu thân kiến, đều duyên theo cảnh giới của chính mình, cùng lấy tuệ trong Đại địa pháp làm thể, là loại phiền não mà người tu đến ngôi vị thấy lí của Khổ đế thì dứt hết. [X. luận Đại tì bà sa Q.46, Q.49; luậnTạp a tì đàm tâm Q.4].
biên cương
Boundary.
biên cảnh
Border—Boundary.
biên dịch
To translate.
biên giới
Bound—Boundary—Border—Frontier.
biên khánh
(扁磬) Một loại pháp khí bằng đá, hình dáng giống như vân bản (tấm biển được làm giống như hình đám mây), treo ngoài hành lang nhà Phương trượng (nhà vị trụ trì). Mỗi khi có khách đến muốn gặp vị trụ trì, thì vị Tri khách (người giữ việc tiếp khách) đánh biển khánh 3 tiếng để thông báo.
biên kiến
Antagnaha dṛṣṭi (S)Chấp vào một bên của tương đối như chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn v.v... đều gọi là biên kiến. Một trong Thập sử.
; Chấp vào một bên của tương đối, như chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn… đều gọi là biên kiến.
; Chấp Kiến—One-sided standpoint. - Tình trạng bám víu vào một bên hoặc hai bên trong thế giới tương đối, chẳng hạn như bám víu vào sự thường hằng, vô thường, hiện hữu hay không hiện hữu. Biên kiến còn là một trong ngũ kiến, hoặc là đoạn kiến, hoặc là thường kiến—Extreme views—Biased views—One-sided views—The state of clinging to one of the two extremes in the world of relativity, such as clinging to permanence, impermanence, being or non-being, etc. These views are also the two extreme views of annihilation and personal immortality, one of the five sharp wrong views. - Ý kiến nghiêng về một bên hay cực đoan. Những người theo biên kiến nghĩ rằng người chết đầu thai làm người, thú đầu thai làm thú. Một lối biên kiến khác cho rằng chết là hết, hay không còn gì hết sau khi chết. Lối nầy thuộc tư tưởng của nhóm duy vật triết học, chẳng tin nơi luật nhân quả—This is a biased viewpoint tending to favor one side. Those who conceive this way think that practicing Buddha's teachings is equivalent to not practicing it. Another biased one claims that, after death man will be reborn as man, beast as beast, or that there is nothing left after death. The last view belongs to a materialistic philosophy that rejects the law of causality. ** For more information, please see Ngũ Kiến Vi Tế.
biên lai
Receipt.
biên ngũ đắc
(邊五得) Nghĩa là ở nơi biên cương thì chỉ cần năm người làm phép truyền trao cũng được giới. Là một trong mười loại đắc giới duyên (những điều kiện được giới). Cũng gọi ngũ nhân đắc (năm người được). Theo qui định chính thức, khi truyền giới Cụ túc, phải có mười vị sư (tam sư thất chứng: ba thầy và bảy vị chứng minh), song ở những vùng xa xôi hẻo lánh, có ít tăng sĩ, thì chỉ cần có năm vị (bốn vị tăng và một thầy yết ma) làm phép truyền trao giới Cụ túc cũng được. [X. luật Thập tụng Q.56; luận Tạp tâm Q.3; luận Câu xá Q.14]. (xt. Biên Quốc).
biên ngục
Biên Địa Địa Ngục—The side hells, or lokantarika hells.
biên phát
Bện tóc hay kết tóc—To plait the hair, or roll it into conch-shape.
biên quốc
(邊國) Chỗ biên thùy xa xôi hẻo lánh, nơi Phật pháp ít thịnh hành. Đối lại với Trung quốc (nơi thành thị đô hội). Ở thời kì đầu truyền bá Phật pháp, vì phải thích ứng với tình hình hoằng pháp, nên về phương diện chế giới, chia thành Trung quốc (nơi Phật pháp đã thịnh hành) và Biên quốc (nơi Phật pháp chưa thịnh hành mấy) để qui định nghi thức truyền giới cụ túc. Trong đó, khu vực Trung quốc, ít nhất phải có mười vị tăng, và khu vực Biên quốc ít nhất phải có năm vị. Nơi biên quốc vốn không có tổ chức giáo đoàn, cho nên số người đủ tư cách trao truyền giới pháp rất có hạn, bởi vậy, thông thường ở trung quốc mười người, thì tại biên quốc chỉ cần năm người là đủ để truyền giới. Qui định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những người hâm mộ Phật pháp muốn được xuất gia. Trong các kinh luận có nêu tên những biên quốc thời xưa như: Bôn đồ bạt đạt na, Tốt thổ nô, Ô ba tốt thồ nô, Du na, Đại tần, An tức, An đà la xá bà la (nước ở truồng), Đâu khô la v.v... [X. luật Thập tụng Q.25; Bách nhất yết ma Q.5; luận Đại trí độ Q.25]. (xt. Trung Quốc).
biên soạn
To compile.
biên tên
To register a name.
biên tập
See Biên soạn.
biên tế
Đến cực điểm hay điểm cuối cùng—Utmost limit—Ultimate--Final
biên tế trí
Trí tuệ của Đẳng Giác Bồ Tát (ở cạnh ngôi Diệu Giác)—The perfect wisdom of a bodhisattva who has attained complete enlightenment.
; (邊際智) Là trí tuệ của bồ tát Đẳng giác, vì trí tuệ này ở gần kề ngôi vị Diệu giác, nên gọi là Biên tế trí. Đại thừa nghĩa chương quyển 12 (Đại 44, 700 trung), nói : Biên tế trí là theo cảnh mà đặt tên. Chỗ cùng tột của báo thân gọi là biên tế. Bậc Thánh nhân tu được trí tự tại, ở nơi biên tế này tùy tâm tu tập, gọi là Biên tế trí.
biên tế định
(邊際定) Chỉ cho phẩm cao nhất trong Thiền định thứ tư thuộc cõi Sắc. Biên, nghĩa là không vượt qua, tức là định này thù thắng không có định nào vượt qua được; Tế, nghĩa là loại tột bậc, tức Biên tế định là định cao hơn hết trong các loại thiền định. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 142 trung), nói : Hết thảy địa này, vì tùy thuận khắp cả, vì lên tới tột cùng, nên gọi là Biên tế. Trong đây, cái gọi là Tùy thuận khắp cả tức là hết thảy địa đều lấy việc thuận theo thiền định thứ tư này làm nhân mà phát khởi. Còn Lên tới tột cùng nghĩa là chuyên tu tập vào Thiền định thứ tư, nương theo thứ lớp từ hạ phẩm đến trung phẩm và thượng phẩm. Trong ba phẩm này, mỗi phẩm lại chia làm ba phẩm nữa, từ hạ phẩm lần lượt tu tập sinh ra phẩm thượng thượng cùng tột. Nương theo hai nhân này, nên Thiền định thứ tư thượng thượng phẩm được gọi là Biên tế định.
biên tội
See Tứ Biên Tội.
; (邊罪) Tội ngoài bờ cõi. Tức là tội nặng căn bản: Giết hại, trộm cướp, dâm dục và nói dối mà tăng ni đã phạm phải. Bốn tội nặng căn bản này còn được gọi là bốn Ba la di. Bởi vì tăng, ni đã thụ giới mà lại vi phạm bốn tội nặng này, thì cũng như người ở ngoài bờ Phật pháp, không thể vào lại biển giới trong sạch được nữa, nên gọi là Biên tội. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 3]. (xt. Ba La Di).
biên tức vô biên
(邊即無邊) Nghĩa là cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà tựa hồ như có biên giới, nhưng thực thì không có biên giới. Thông thường, tuy nói cõi Tịnh độ cực lạc ở bên phương Tây cách đây (cõi Sa Bà) mười muôn ức cõi Phật, nhưng tướng của cõi ấy tức là không tướng, sinh tức không sinh, phương tức không phương, biên tức không biên. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 hạ), nói : Cõi nước Tịnh độ bao la rộng lớn, thù thắng nhiệm mầu hơn hết. Lại cõi Tĩnh độ và thế giới Sa bà gần nhau, cho nên tiện việc vãng sinh. Đây là tùy theo cái thấy phân biệt của chúng sinh mà nói Tịnh độ ở phương tây cách thế giới Sa bà mười muôn ức cõi Phật, chứ cảnh tự chứng của trí Phật thì trùm khắp pháp giới mà chẳng rời phương tây, cho nên phương tức vô phương, biên tức vô biên. [X. luận Tịnh độ; Vãng sinh luận chú Q.thượng; An lạc tập Q.thượng].
biên vô biên luận
(邊無邊論) Luận thuyết chủ trương chấp thế gian có biên giới, không biên giới. Đây là loại tà kiến dựa theo quá khứ (tiền tế) mà phát khởi, là một trong 62 tà kiến cố chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Tà kiến này có bốn thứ: 1. Vào định quán xét thế gian, chấp có biên giới. 2. Vào định quán xét thế gian, chấp không có biên giới. 3. Vào định quán xét thế gian, chấp cũng có biên giới, cũng không có biên giới. 4. Dùng trí lanh lẹ quán xét thế gian, chấp chẳng phải có biên giới, chẳng phải không có biên giới. Biên vô biên luận này tương đương với chủ trương của tông Biên vô biên đẳng trong mười sáu tông ngoại đạo. [X. Trường a hàm Q.14 kinh Phạm động; luận Đại tỳ bà sa Q.199; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Lục thập nhị kiến nghĩa]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
biên địa
Border region of the Pure Land Những người tu tịnh độ nhưng lòng còn hồ nghi, có siêng năng tinh tấn tu, nhưng không tin vào nguyện lực của Phật thì sanh cõi biên địa, không thấy Phật, nghe pháp.
; Border land.
; 1) Những xứ nằm bên góc của châu Diêm Phù Đề: The countries bordering on Jambudvipa. 2) Những người được tái sanh vào các xứ biên địa của cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà không gặp được Tam Bảo, không nghe được Phật pháp trong 500 năm: The border land to Amitabha's Pure Land, where the lax and haughty are detained for 500 years. 3) Cũng được gọi là Thai cung hay biên giới (vùng xa xôi hẻo lánh): Also called womb-palace, and border realm.
; (邊地) I. Biên địa. Phạm: mleccha. Dịch âm: di lệ xa. Cũng gọi Biên di vô sở tri giả (người mọi rợ ở biên giới không ai biết đến), Ti tiện. Chỉ cho chủng tộc hạ tiện ở nơi biên giới xa xôi hẻo lánh, không được thấy nghe Phật pháp. (xt. Di Lệ Xa). II. Biên địa. Chỉ nơi biên địa của Tịnh độ cực lạc. Cũng gọi là Nghi thành (thành ngờ vực), Thai cung (cung đầu thai). Những người tu các công đức mà lòng còn ngờ vực, ứng với cơ cảm đó, sau khi chết, sinh về nơi biên địa này, trong 500 năm không được thấy nghe Tam bảo. (xt. Biên Địa Thai Sinh, Biên Địa Giải Mạn).
biên địa [hạ tiện]
chỉ những vùng biên giới, hẻo lánh, đời sống thấp hèn, xa nơi trung tâm văn hiến (trung quốc). Vì thế nên những người sinh ra ở đây có nhiều bất lợi trong việc tu học: điều kiện vật chất thiếu thốn, điều kiện tu tập và hành trì cũng đều khó khăn, lại rất khó gặp được những vị thầy giỏi, bạn tốt. Đây được xem là một trong tám nạn khiến chúng sinh khó tu học Phật pháp.
biên địa giải mạn
(邊地懈慢) Cứ theo Tịnh độ Chân tông của Nhật bản, thì đức Phật A di đà hóa hiện ra hai cõi nước là Biên địa và Giải mạn. Biên địa là cõi nước dành cho những người tu hành mà lòng còn nghi ngờ trí của Phật được sinh đến. Giải mạn là gọi tắt của Giải mạn giới, là nơi dành cho người tu hành yếu môn (pháp môn trọng yếu) được sinh đến. Lại nữa, Biên địa tức là Nghi thành, Thai cung nói trong kinh Vô lượng thọ, là nơi của những người tự lực niệm Phật được sinh tới, đúng với điều nguyện thứ 20 của đức Phật A di đà. Còn Giải mạn giới nói trong kinh Bồ tát xử thai quyển 3, thì là nơi của những người tu muôn hạnh lành được sinh đến, đúng với điều nguyện thứ 19 của đức Phật A di đà. [X. Hiển tịnh độ giáo hành chứng văn loại Q.6].
biên địa ngục
Xem Cô độc địa ngục.
biên địa thai sinh
(邊地胎生) Thụ thai sinh ra ở biên giới. Những người có công đưc mà lòng còn ngờ vực, thì sau khi chết, được sinh ở biên địa của Tịnh độ cực lạc, gọi là Biên địa thai sinh, gọi tắt là Biên thai. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ chép, những người tu các công đức, nguyện sinh về cõi nước cực lạc; nhưng vì không biết rõ trí tuệ của Phật là trí tuệ chẳng thể nghĩ bàn, nên sinh lòng ngờ vực, không tin trí ấy. Tuy nhiên, còn tin tội phúc, tu tập gốc lành, nguyện sinh cõi kia, những chúng sinh này được sinh trong cung điện của nơi biên địa; trong năm trăm năm không được thấy Phật, không nghe kinh pháp, cũng chẳng gặp Bồ tát và các vị Thanh văn. Lại cứ theo kinh Đại a di đà quyển hạ chép, thì người làm việc bố thí cầu vãng sinh, sau lại hối tiếc và sinh tâm nghi ngờ, không biết có được vãng sinh không. Những người như thế, sau khi chết, không được sinh đến chỗ của đức Phật A di đà, mà chỉ thấy cung điện bảy báu của Ngài ở nơi biên giới, lòng sinh vui mừng mà dừng lại ở trong thành, hóa sinh trong ao báu. Thành ấy chu vi hai nghìn dặm, có nhà bảy báu, cũng có ao tắm bảy báu, trong ao tự nhiên hoa thơm, hàng cây bảy báu đều phát ra năm âm thanh (cung, thương, dôc, chủy, vũ ). Đến giờ ăn cơm, tùy theo ý thích, tự nhiên được các thức ăn uống trăm mùi thơm ngon; những sự vui sướng trong thành đều giống như ở cung trời Đao lợi thứ hai. Nhưng, những người ấy chẳng được ra khỏi thành, không được thấy Phật, nghe kinh và gặp các tỉ khưu tăng, cũng chẳng được biết tướng mạo của các Bồ tát, các A la hán ở nước của đức Phật A di đà. Sau năm trăm năm ở biên thai mới được đến chỗ đức Phật A di đà và trí tuệ được mở tỏ dần dần. Về Biên địa thai sinh, giữa các nhà Tịnh độ cũng có nhiều giải thích khác nhau. Cứ theo ngài Đàm loan nói trong Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa, thì người sinh nơi biên địa này, trong năm trăm năm không thấy Tam bảo, nghĩa cũng giống như nạn biên địa trong tám nạn, lại ở vào góc bên cạnh của Tịnh độ cực lạc, nên gọi là Biên địa – Lại như người lúc mới sinh, chưa thành phép người, ví dụ với sự mờ tối của người mới sinh, cho nên gọi là thai sinh. [X. Quán kinh sớ Định thiện nghĩa, Tán thiện nghĩa; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ; Thích tịnh độ quần nghi luận thám yếu kí Q.8; Bồ đề tâm tập Q.thượng].
biến
To change, alter, transmute, transform
; 1) Khắp nơi: Sarvatraga (skt)—On every side—Universal—Everywhere—All—The whole. 2) Biến mất: To disappear—To vanish—To fade away. 3) Biến đổi: To change—To alter—To change into—To transform—To become.
; (變) I. Biến, Phạm: pariịàma. Từ vật A biến đổi thành vật B, gọi là Biến. Phổ thông gọi là biến thành, biến hóa, biến hiện. Tông Duy thức cho rằng hết thảy hiện tượng tồn tại đều do nơi thức sinh ra, do thức biến hiện, gọi là Duy thức sở biến. Cứ theo Thành duy thức luận thuật ký quển 3 phần đầu nói, thì biến có hai thứ là sinh biến và duyên biến: 1. Sinh biến, tức nhân năng biến (Phạm: hetupariịàma), hàm ý là chuyển biến. Tức là tập khí của hai nhân đẳng lưu và dị thục trong thức A lại da thứ tám có khả năng chuyển biến sinh ra các pháp. 2. Duyên biến, tức là quả năng biến (Phạm:phalapariịàma), hàm ý là biến hiện. Tức do hai thứ tập khí đẳng lưu và dị thục trong thức thứ tám biến hiện ra các thức, rồi lại do tự thể của tám thức (năng biến) biến hiện ra kiến phần và tướng phần (Sở biến), trong đây, tướng phần (ảnh tượng) được gọi là Duyên biến, gồm các thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biến hiện ra tướng phần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Lại nữa, thức thứ tám hay nắm giữ hạt giống và căn thân (thân thể), gọi là chấp biến, hàm ý là nhận giữ cả ba thứ Sinh biến, Duyên biến và Chấp biến và gọi chung là Ba biến. Nhưng các nhà chủ trương thuyết một phần, như ngài An tuệ chẳng hạn, thì chỉ thừa nhận phần tự thể của thức, còn kiến phần, tướng phần tuy tương tự pháp y tha, nhưng thực ra là không có pháp, do đó cho nghĩa chuyển biến là biến hiện hoặc biến khác. Đối với thuyết trên đây, tông Pháp tướng dùng pháp bốn phần của ngài Hộ pháp, cho kiến phần và tướng phần là pháp y tha, cho chuyển biến là nghĩa chuyển đổi, tức cho chủ thể của biến là thức năng biến, có nhân năng biến và quả năng biến; còn tướng phần sở biến của thức năng biến cũng có nhân duyên biến và phân biệt biến khác nhau. [X. luận Thành duy thức Q.1, Q.2, Q.7; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu, Q.7, phần cuối]. II. Biến, biến tướng. Tức là các bức tranh, dựa theo sự ghi chép trong các kinh, vẽ lại sự tích tiền thân của đức Phật, sự trang nghiêm của Tịnh độ và các tướng trạng địa ngục... (xt. Biến Tướng).
biến báo
To inform everywhere.
biến chiếu
Hào quang pháp thân Phật chiếu rọi khắp mọi nơi—Universally shining—Everywhere illuminating.
biến chiếu kim cang
Universally Shining Vajrasattva.
biến chiếu như lai
Xem Đại nhựt Như lai.
; Tên gọi khác của Đức Đại Nhật Như Lai—Universally Shining Buddha, or Tathagata, i.e. Vairocana—See Đại Nhựt Như Lai and Vairocana.
biến chu pháp giới
(遍周法界) Tràn khắp pháp giới. Danh từ Pháp được dùng để gọi chung tất cả những cái thuộc có hình tướng, không có hình tướng, bao hàm sự, lí, sắc, tâm. Sự có hạn của Pháp gọi là Pháp giới. Tràn đầy pháp giới, không chỗ nào mà không có, gọi là Biến chu pháp giới. Thông thường, từ ngữ này được dùng để hình dung công đức của pháp thân.
biến chuyển
To change.
biến châu
Khắp nơi—Universal—Everywhere.
biến chất
To denaturize—To change the nature.
biến chế
To embody.
biến chứng
Complication.
biến cái bồ tát
Xem Phổ hiền Bồ tát.
biến cát
Biến Cát là tên khác của Phổ Hiền Bồ Tát—Universally auspicious, another name for Samantabhadra.
biến cải
To transform—To change.
biến cố
Event—Happening—Occurrence.
biến dạng
To transfigure—To transform.
biến dịch
Vikara (S), Transformation.
; To change—To transmute—See Biến Hình.
; (變易) Thay đổi. Biến dịch, hàm ý là nhân dời quả đổi, trước biến sau đổi. Là gọi tắt của Biến dịch sinh tử. Tông Thiên thai cho rằng, không có hình sắc hơn kém, thọ mệnh ngắn dài mà chỉ có giảm dần mê tưởng, tăng dần chứng ngộ. Cái quá trình thay đổi mê ngộ này, gọi là Biến dịch. Nhưng tông Duy thức thì lại chủ trương, bậc Thánh nhân thay đổi thân phần đoạn (chỉ cái thân có hình sắc hơn kém, có tuổi thọ ngắn dài sống chết trong ba cõi, năm ngã) để được thân thù thắng nhiệm mầu không thể nghĩ bàn gọi là Biến Dịch. [X. kinh Tạp a hàm Q.2; luận Câu xá Q.22].
biến dịch sanh tử
Thân biến dịch trong vòng sanh tử—Mortal changes or a body that is being transformed from mortality.
biến dịch sinh tử
(變易生死) Sống chết thay đổi. Cũng gọi Vô vi sinh tử, Bất tư nghị biến dịch sinh tử, Bất tư nghị biến dịch tử, Biến dịch tử. Một trong hai thứ sinh tử. Đối lại với Phần đoạn sinh tử. tức là các bậc A la hán, Bích chi phật và Bồ tát đại lực, lấy hữu phân biệt nghiệp vô lậu làm nhân, lấy Vô minh trụ địa làm duyên mà cảm nhận được thân quả báo nhiệm màu vượt ngoài ba cõi. Thân quả báo này là do sức bi nguyện vô lậu chuyển đổi thân phần đoạn sinh tử thô nặng vốn có trước kia biến thành thân nhỏ nhiệm, không sắc không hình, không hạn định tuổi thọ... nên gọi là thân Biến dịch. Thân này do sức định, sức nguyện giúp thành, diệu dụng của nó khó lường được nên cũng gọi là thân Bất tư nghị (thân không nghĩ bàn được). Lại nữa, vì thân này do ý nguyện đại bi mà thành, nên cũng gọi là thân ý thành, thân Vô lậu, thân vượt ra ngoài ba cõi, lại vì thân này đã do sức định vô lậu chuyển thành, hoàn toàn khác với thân phận trước kia, giống như biến hóa mà được nên cũng được gọi là thân biến hóa. Vì các bậc A la hán, Bích chi Phật và Bồ tát đại lực đã dứt bỏ hết phiền não hoặc chướng của bốn trụ địa, không còn thụ sinh thân phần đoạn trong ba cõi nữa mà thụ sinh thân biến dịch ở ngoài ba cõi. Tuy nhiên, sau đó, các vị ấy lại dùng thân biến dịch này trở lại trong ba cõi mà tu các hạnh Bồ tát trong thời gian dài để mong đạt đến Vô thượng bồ đề. Theo nghĩa của tông Pháp tướng, có bốn hạng người chịu quả báo biến dịch sinh tử: 1. Các bậc Thánh Vô học của Nhị thừa hướng tâm về Đại thừa, sau khi được Niết bàn, liền có thể nhận quả báo thân biến dịch. 2. Các bậc Thánh Hữu học hướng về Đại thừa, từ Sơ địa trở về sau cũng được nhận thân biến dịch. 3. Bồ tát Bi tăng, từ Bát địa trở lên được nhận thân biến dịch. 4. Có một loại bồ tát Trí tăng từ Sơ địa trở lên được nhận thân biến dịch. Tông Pháp tính thì cho rằng Vô học và Nhị thừa và Bồ tát chủng tính trở lên, được tùy theo loại ẩn hiện mà nhận thân biến dịch. Cứ theo thuyết của ngài Cát tạng trong Thắng man bảo quật quyển trung phần cuối, thì biến dịch sinh tử và phần đoạn sinh tử khác nhau ở chỗ: thân phần đoạn sinh tử có hình sắc riêng biệt và hạn định tuổi thọ dài ngắn; còn thân biến dịch sinh tử thì do tâm thức niệm niệm nối nhau, trước biến, sau đổi, cả thân và thọ mệnh đều không có hạn định. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 phần đầu cũng nêu ba nghĩa của biến dịch sinh tử: 1. Lấy sự sinh diệt nhỏ nhiệm làm thân biến dịch sinh tử. 2. Lấy thân Pháp tính duyên chiếu pháp vô lậu làm thân biến dịch sinh tử. 3. Tuy đã chứng pháp thân Như Lai Tạng, nhưng vẫn chưa ra khỏi vòng sinh diệt nên còn phải theo các pháp sống chết vô thường gọi là biến dịch sinh tử. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 phần đầu cũng chia biến dịch sinh tử làm hai loại:1. Biến dịch sinh tử trong Sự thức, thân quả báo do duyên chiếu pháp vô lậu trong sáu thức mà được thân này; lại chia làm 3 loại khác nhau: a. Thân của A la hán và Bích chi Phật cảm nhận. b. Thân của người có chủng tính giải thoát hạnh cảm nhận. c. Thân của Bồ tát Sơ địa trở lên cảm nhận. 2. Biến dịch sinh tử trong vọng thức, là thân quả báo duyên chiếu pháp vô lậu trong thức thứ bảy (thức A đà na) mà được. Thân này cũng có ba loại khác nhau : a. Thân của Bồ tát từ Sơ địa trở về trước cảm nhận. b. Thân của Bồ tát từ Sơ địa trở lên cảm nhận. c. Thân của Bồ tát từ Bát địa trở lên cảm nhận. Thắng man bảo quật quyển trung phần cuối, chia thân biến dịch làm hai loại Tự báo và Vị vật: 1. Tự báo biến dịch, lấy năm ấm vô lậu làm thể, lấy nguyện vô lậu làm nhân, lấy vô minh làm duyên. 2. Vì vật biến dịch, lấy sắc ấm làm thể, lấy bi nguyện làm nhân, lấy căn dục của chúng sinh làm duyên. Ngoài những điểm được trình bày ở trên, về việc thụ sinh thân biến dịch và các giai vị tu hành của thân này, giữa các nhà còn có nhiều thuyết khác nữa. [X. kinh Thắng man chương Nhất thừa; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Thành duy thức Q.8; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 phần trên; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ phần cuối]. (xt. Sinh Tử).
biến dịch thân
Thân biến dịch sinh tử là chánh báo của bậc Thánh nhân Tam Thừa, được hưởng thụ nơi cõi Tịnh Độ—Bodies that are transformed in a Pure Land—Transformed bodies.
; (變易身) Tức là thân biến dịch sinh tử, đối lại với phần đoạn thân. Thân biến dịch sinh tử là chính báo của các bậc Thánh ba thừa A la hán, Bích chi phật và Bồ tát đại lực. Các bậc trên đây cảm nhận thân này ở các Tịnh độ bên ngoài ba cõi. Hoa nghiêm kinh thám huyền ký quyển 6 (Đại 35, 229 trung), nói : Sự cảm nhận thân của các Bồ tát trong ba thừa là: các Bồ tát địa tiền nhận thân phần đoạn, các Bồ tát địa thượng mới nhận thân biến dịch. Thân biến dịch này là do lấy Hữu phân biệt nghiệp vô lậu làm nhân, lấy Vô minh trụ địa làm duyên mà cảm được thân quả báo thù thắng nhiệm mầu. Tức do sức bi nguyện vô lậu biến đổi cái thân phần đoạn sinh tử thô nặng trong ba cõi năm đường, mà được thân chẳng thể nghĩ bàn, thù thắng nhỏ nhiệm, không hình không sắc, không hạn định thọ mệnh. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Biến Dịch Sinh Tử).
biến dụ
(遍喻) Là một trong 8 thứ ví dụ nói trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 29. Cũng gọi Toàn dụ. Nghĩa là đức Như lai nói pháp, từ đầu đến cuối, Ngài đều mượn các ví dụ để làm cho nghĩa lý Ngài nói được sáng tỏ. Như trong kinh nói, ở cõi trời Ba mươi ba (trời Đao lợi) có cây Ba lợi chất đa la, rễ nó bám vào đất sâu năm do tuần, cành lá tỏa ra bốn phía, lá già trở thành màu vàng, vàng ắt rơi rụng, rụng thì đổi màu, đổi màu rồi khô, khô ắt nổi mụt, nổi mụt thì nổ ra. Khi mụt nổ ra thì mùi thơm tỏa khắp, soi sáng tất cả, các trời được thấy liền sinh vui mừng, cứ ba tháng hè các trời đến dưới cây ấy để thụ hưởng các thú vui. Đây là ví dụ đệ tử Phật, lá vàng dụ xuất gia, lá rụng dụ cạo bỏ râu tóc, ba tháng hè dụ ba Tam muội (chính định), các trời thụ hưởng thú vui dụ chư Phật an trụ nơi đại Niết bàn được thường lạc ngã tịnh. [X. kinh Thí dụ; kinh Bách dụ; kinh Tạp thí dụ]. (xt. Thí Dụ).
biến giác
Toàn giác của Đức Phật—The omniscient, absolute enlightenment, or universal awareness of a Buddha.
biến giới
Khắp vũ trụ—The whole universe.
biến hoá
(變化) I. Biến hóa. Phạm:nirmàịa. Hàm ý là biến hóa ra các loại hình tượng. Cũng gọi Biến hiện, Hóa tác, Hóa hiện, Hóa. Tức là Phật và Bồ tát vì giáo hóa chúng sinh mà dùng sức thần thông biến hóa thành các loại hình tượng. Trong đó, nếu Phật vì sự lợi ích của phàm phu địa tiền mà biến hiện ra thân Phật hoặc thân Bồ tát, thì gọi là thân biến hóa, thân ứng hóa hay là Phật ứng hóa. Nếu vì chúng sinh trong năm đường mà biến hiện ra thân quỉ, súc sinh... thì gọi là thân hóa. Còn vốn không gì cả mà bỗng nhiên có hình Phật, hình Bồ tát, hình người, hình chim... thì gọi là Phật hóa, Bồ tát hóa, người hóa, chim hóa. Lại Phật vì giáo hóa phàm phu mà ứng cơ biến hiện ra các cõi nước trong sạch, nhớp nhúa, thì gọi là cõi biến , cõi hóa. Ngoài ra, tâm hay biến hóa, gọi là tâm hóa, việc được biến hóa ra gọi là việc hóa. Phàm phu hoặc Thánh nhân tu tập định căn bản từ Thiền thứ nhất cho đến Thiền thứ tư, được Thần túc thông (Thần cảnh thông) trong sáu thần thông, lấy đó làm chỗ nương mà biến hóa ra các việc (hiện tượng) ở cõi Dục và cõi Sắc, tâm biến hóa này chỉ phát sinh tác dụng ở cõi mình và cõi dưới; tổng cộng có 14 tâm, gọi là 14 tâm biến hóa, 14 biến hóa, 14 tâm hóa, chia ra như sau: - Ở cõi Thiền thứ nhất có hai tâm: Tâm biến hóa những việc ở cõi Thiền thứ nhất và tâm biến hóa các việc ở cõi Dục. - Ở cõi Thiền thứ hai có ba tâm: ngoài hai tâm vừa kể ở trên, cộng thêm tâm biến hóa các việc ở cõi Thiền thứ hai. - Ở cõi Thiền thứ ba có bốn tâm: ngoài ba tâm vừa nói ở trên, cộng thêm tâm biến hóa các việc ở cõi trời thiền thứ ba. - Ở cõi Thiền thứ tư có năm tâm: ngoài bốn tâm nêu ở trên, cộng thêm tâm biến hóa các việc ở cõi trời Thiền thứ tư. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.3; kinh Quán vô lượng thọ; luận Câu xá Q.27; Tứ giáo nghi chú Q.thượng phần cuối]. (xt. Cửu Địa). II. Biến hóa. Chỉ cho loài yêu tinh, quỉ quái. Tức các loài ma quỉ ở trong năm đường hoặc sáu đường chúng sinh luân hồi có uy lực biến hóa tự tại và hình tượng ghê sợ.
biến hoá nhân
(變化人) Người biến hóa. Tức do sức thần thông mà biến hóa hiển hiện ra thân hình người. Như Phật, Bồ tát vì cứu độ các loài chúng sinh, thường tùy cơ biến hóa làm các loại hình người. Kinh Pháp hoa phẩm Pháp sư (Đại 9, 32 trung), nói: Nếu có người sắp bị hại bằng dao gậy ngói đá, thì ta sai người biến hóa bảo vệ cho người ấy. Còn Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 3 thì nêu trường hợp tám bộ quỉ thần như: trời, rồng, a tu la, càn thát bà... biến thành hình người đến nhận giới Cụ túc.
biến hoá sinh
(變化生) Tức là hóa sinh. Một trong bốn sinh. Vì sức nghiệp, chúng sinh được chia làm bốn loại: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hoá sinh. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 nói trong năm đường chúng sinh, thì địa ngục, trời và tất cả thân trung hữu đều thuộc hóa sinh, còn các loại khác thì thông cả thai sinh, noãn sinh và thấp sinh. Như vậy, trong năm đường, loài hóa sinh là nhiều hơn cả. (xt. Hóa Sinh).
biến hoá thân
(變化身) Thân biến hóa. Là một trong ba thân hoặc bốn thân của Phật. Cũng gọi Hóa thân, Biến dịch thân, tức là Ứng thân trong ba thân Pháp, Báo, Ứng, là phân thân hóa Phật của Ứng thân, nghĩa là hình tướng Phật nương nơi Ứng thân mà hóa hiện. Chư Phật vì muốn mang lại sự lợi ích yên vui cho hàng Bồ tát địa tiền, nhị thừa và chúng sinh trong sáu đường, mà do trí Thành sự (trí Thành sở tác), tùy loại biến hiện vô lượng hóa thân, khiến cho họ thoát li đường ác, ra khỏi ba cõi mà vào Sơ địa. [X. Phật địa kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Tam Thân).
biến hoá độ
(變化土) Cõi nước được biến hóa ra. Là một trong ba cõi, một trong năm cõi, hoặc một trong bốn cõi, nơi thân đức Phật ở, do tông Duy thức lập ra. Gọi tắt là Hóa độ. Tức là cõi nước trong đó thân biến hóa của đức Phật cư trú. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 10 nói, thì cõi biến hóa là do nhân duyên các kiếp xa xưa đức Phật tu hành lợi tha, vô lậu, cõi Phật sạch, nhơ nay đã thành thục, nên Ngài dùng sức đại từ đại bi của trí Thành sự (trí Thành sở tác), thích ứng với cơ nghi của hàng Bồ tát chưa lên địa vị, hàng nhị thừa, dị sinh và chúng sinh trong sáu đường mà thị hiện ra các loại cõi nước trong sạch, nhớp nhúa... Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 369 trung), nói: Cõi biến hóa gồm cả cõi trong sạch, cõi nhớp nhúa. [X. Phật địa kinh luận Q.1]. (xt. Hóa Độ).
biến hoại
Hư hoại—Turned bad—Spoilt—Destroyed.
biến hành
Sarvatraga (S)Hoạt động tâm lý lúc phát sanh nhận thức.
; Hoạt động khắp nơi, có mặt khắp nơi—Universally operative—Omnipresent.
; (遍行) Phạm : Sarvatraga. I. Biến hành. Là một trong sáu loại (vị) tâm sở do tông Duy thức lập ra. Đối lại với Biệt cảnh, . Chỉ cho hoạt động tâm lý khi phát sinh tác dụng nhận thức, vì nó có tính phổ biến, nên gọi là Biến hành, gồm xúc, tác ý, thụ, tưởng, tư,..., gọi là năm Biến hành. (xt. Ngũ Biến Hành). II. Biến hành. Đối lại với Phi biến hành. Trong 98 phiền não căn bản, có thể chia làm hai loại lớn là Biến hành và Phi biến hành. Những phiền não này (Biến hành, Phi biến hành) ở trong các pháp của năm bộ (bốn đế, tu đạo) tự giới, tự địa, chúng trải qua biến duyên, biến tùy tăng, biến tùy nhân mà sinh ra pháp nhơ nhớp (phiền não) của khắp năm bộ gọi là Biến hành hoặc (phiền não đi khắp). Biến hành hoặc gồm có 33 thứ phiền não, chia nhau thuộc ba cõi: cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc mỗi cõi đều có 11 thứ. Biến hành hoặc của cõi Dục gồm 11 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, nghi, vô minh (thuộc Kiến đạo từ Khổ đế trở xuống) và tà kiến, kiến thủ, nghi, vô minh (thuộc Tập đế trở xuống). [X. luận Câu xá Q.19].
biến hành nhân
Sarvatraga-hetu (S).
; Sarvatragahetu (skt)—Một trong sáu nhân—Omnipresent causes, one of the sixfold division of causes. ** For more information, please see Lục Nhân (A) (5).
; (遍行因) Phạm: Sarvatraga-hetu. Nghĩa là hoặc (phiền não) là nguyên nhân chung của các pháp nhơ nhuốm. Cũng gọi Nhất thiết biến nhân. Một trong sáu nhân. Tức là tùy miên (phiền não) biến hành đã sinh rồi làm mguyên nhân chung cho các pháp ô nhiễm của bộ mình và các bộ khác sinh ra sau. (xt. Lục Nhân).
biến hành tâm sở
Inseperable mental factors.
biến hình
Bỗng chốc thay hình đổi dạng, đặc biệt là chư Phật và chư Bồ Tát—To transform, to metamorphose, to transfigure, to change into, to become, especially the mutations of Buddhas and Bodhisattvas.
biến hình luận
Transformism.
biến hóa
Nirmāṇa (S), Nimmāna (P), Transformation.
; Nirmàna (S) To transform, change into, become, especially the mutations of Buddhas and bodhisattvas. Metamorphose; evolve, construct.
; See Biến Hình.
biến hóa luận
See Biến Hình Luận.
biến hóa nhân
Biến thành người—Becoming men.
biến hóa pháp thân
Một trong năm Pháp Thân Phật—The dharmakaya in its power of transmutation, or incarnation, one of the five kinds of Buddha's dharmakaya. ** For more information, please see Ngũ Chủng Pháp Thân (B) (3).
biến hóa phật
Nirmàna-Buddha (S).
biến hóa sinh
Birth by transformation, not by gestation.
; Hóa sinh chứ không phải sinh từ trong bào thai (theo Kinh Pháp Hoa thì các chúng sanh đã trừ được dâm dục chỉ thuần nhất là biến hóa sanh)—Birth by transformation, not by gestation—See Hóa Thân
biến hóa thân
Xem Hóa thân.
; Nirmànakayà (S). Transformation-body, or incarnation-body.
; Nirmanakaya (skt)—Một trong ba thân Phật, hóa thân biến hiện thành loài hữu tình trong ba nẻo sáu đường để tế độ chúng sanh—Transformation-body, or incarnation-body, one of the Buddha's threefold body. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
biến hóa độ
The land where Buddhas and bodhisattvas dwell, whether the Pure Land or any impure world where they live for its enlightenment.
; Quốc độ nơi chư Phật và chư Bồ Tát an trụ và giác ngộ, có thể là Tịnh Độ hay bất tịnh độ—The land where they (Buddhas and Bodhisattvas) dwell, whether the Pure Land or any impure world where they live for its enlightenment.
biến khẩu thanh
(遍口聲) Tiếng khắp miệng (khi phát âm, phải há to miệng), cũng gọi Mãn khẩu thanh (tiếng đầy miệng). Trong những phụ âm của bộ chữ cái Tất đàm, ngoại trừ năm tiếng được phát âm từ răng, nướu, cổ họng, lưỡi và môi, chín tiếng khác gọi là Biến khẩu thanh, chẳng hạn như ya, ra, la, trở xuống cho đến kwa (xoa) ... đều thuộc biến khẩu thanh, khi phát những tiếng này không phải chỉ hạn ở một chỗ cổ họng, mà khắp nơi trong miệng đều phát tiếng, nên gọi là Biến khẩu thanh. (xt. Tất Đàm).
biến kế
Parikalpa (S).
; Parikalpita (skt)—Vọng tình của phàm phu, suy tính khắp các pháp và cho rằng chúng có thật—Counting everything as real, the way of the unenlightened.
biến kế chấp
Parikalpana (S), Parikappa (P), False judgement.
Biến kế sở chấp
遍計所執; S: parikalpita;|Là cái »tưởng tượng«, cũng được gọi là huyễn giác, thác giác. Theo Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) thì tất cả những ngoại cảnh, những vật bên ngoài đều là cái chính mình tưởng ra, là thức biến, không thật. Như vậy có nghĩa rằng: thế giới hiện hữu chỉ là huyễn, là Ảo ảnh (Pháp tướng tông). Biến kế sở chấp là một trong ba tính (三自性; Tam tự tính; s: trisvabhāva) của hiện hữu được Duy thức tông nêu ra. Hai tính khác là y tha khởi (s: paratantra) và Viên thành thật (s: pariniṣpanna).
biến kế sở chấp tính
Parikalpita (S)Huyễn giác.
; Parikalpita (S). Wrong judgement, Imaginative construction.
; Parikalpita (skt)—Sự tưởng tượng—Imagination—Vọng tình của phàm phu so đo tính toán hết thảy các pháp (cho vô ngã là ngã, vô pháp là pháp, chỉ nhìn chư pháp bằng dáng vẻ bề ngoài), cho các pháp huyễn giả là thật—The nature of the unenlightened, holding to the tenet that everything is calculable or reliable, or that maintains the seeming to be real, i.e. is what it appears to be—See Tam Tự Tính Tướng (1).
; (遍計所執性) Phạm: parikalpita-svabhàva. Là một trong ba tính do tông Duy thức thành lập. Cũng gọi Biến kế sở chấp tướng, Phân biệt tính, Phân biệt tướng, Vọng kế tự tính, Vọng phân biệt tính. Gọi tắt là Biến kế sở chấp, Kế sở chấp, Sở chấp tính. Phàm phu do vọng tình, chấp pháp y tha khởi (pháp nương vào cái khác mà sinh khởi) mà sinh ra tính chấp bậy là thật có ta, thật có các pháp, gọi là Biến kế sở chấp tính. Cái tướng được hiện ra do tính chấp bậy này chỉ còn trong vọng tình chứ không còn trong lý thực, cho nên gọi là pháp tình có lý không, pháp thể tính đều không. Tính phân biệt chấp bậy này trùm khắp tất cả các cảnh, nên gọi là Biến kế (chấp khắp). [X. kinh Giải thâm mật Q.2; luận Du già sư địa Q.74; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Tam Tính).
biến kế sở khởi sắc
(遍計所起色) Là một trong năm thứ Pháp sở nhiếp sắc do tông Duy thức lập ra. Chỉ cho những bóng dáng nương theo sự phân biệt xằng bậy của ý thức thứ sáu mà biến hiện ra; chúng là những sắc tướng không có thực thể, giống như hoa đốm giữa hư không, mặt trăng dưới đáy nước. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).
biến nhập
Avesa (S). Xem A vĩ xả.
biến nhập bồ tát
Xem Kim Cang Linh Bồ tát.
biến nhứt thiết xứ
Đầy khắp mọi nơi trong hư không, tên tiếng Phạn của Pháp thân Phật Tỳ Lô Giá Na—Pervaiding everywhere—Omnipresent—An epithet or Sanskrit name for Vairocana.
biến phiền não thành bồ đề
Turn afflictions into bodhi.
biến pháp giới thân
Chân thân của Phật (chân thân đó vô lượng vô biên và có khắp trong pháp giới)—The universal dharmakaya, i.e. the universal body of Buddha, pan-Buddha.
biến quán nhất thiết sắc thân tưởng quán
(遍觀一切色身想觀) Là phép quán thứ chín trong 16 phép quán nêu ra trong kinh Quán vô lượng thọ. Có nghĩa là quán tưởng toàn bộ sắc thân Phật, cũng gọi Chân thân quán, Phật thân quán, Phật quán. Là phép quán tưởng tướng tốt đẹp sáng rỡ của chân thân Phật A di đa, bắt đầu từ một tướng tốt, như quán tưởng sợi lông trắng ở giữa hai chân mày khiến cho cực sáng, rồi quán tưởng thân Phật A di đà cao 60 vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần, từ tất cả các lỗ chân lông khắp toàn thân phóng ra ánh sáng như núi Tu di, trong ánh sáng lại có rất nhiều hóa Phật, Bồ tát, mỗi vị đều có đủ tám vạn bốn nghìn tướng tốt đẹp sáng rỡ, mỗi luồng ánh sáng soi khắp mười phương, thu lấy chúng sinh niệm Phật. Đây tức là phép quán tưởng toàn bộ sắc thân của Phật. Bởi vậy, nếu người tu niệm Phật, thành tựu phép quán này, thì tự nhiên thấy được tám vạn bốn nghìn tướng tốt đẹp của đức Phật A di đà, cũng có thể được thấy thân tướng của chư Phật ở khắp mười phương. Thấy được vô lượng chư Phật, tức là được chư Phật hiện tiền thụ kí. Phép quán trên đây được gọi là Chân thân quán là để đối lại với phép quán thứ tám là Tượng quán. (xt. Thập Lục Quán).
biến sở hứa tông
(遍所許宗) Chủ trương được khắp mọi người công nhận. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho phần Tông của người lập luận mà chủ trương hoặc kiến giải đã được mọi người thừa nhận. Biển sở hứa tông là loại Tông (mệnh đề) đã được công chúng thừa nhận, mà người vấn nạn tất cũng cho đó là đúng và vui vẻ chấp nhận. Như vậy, đôi bên không có gì cần tranh luận nữa. Cho nên, Tông này không thể thành Tông chân xác.
biến tham
(遍參) Tham khắp. Tức là đi khắp nơi để tham học. Chỉ cho vị tăng sĩ đi khắp nơi tham học với các bậc thiện tri thức để tăng tiến sự hiểu biết của mình, thấu suốt sự mê ngộ, thực giả của vấn đề sinh tử trọng đại. Như đồng tử Thiện tài đi tham học với 53 vị thiện tri thức, Thiền sư Đại tùy Pháp chân tham hỏi hơn 60 vị thiện tri thức. Trường hợp các tăng sĩ đi du học bốn phương thì tông phái nào cũng có, nhưng riêng với Thiền tông thì phổ biến hơn. Vì cứu xét vấn đề sinh tử trọng đại,Thiền sinh đi tham học khắp nơi để hỏi pháp các bậc tông sư. Trong Thiền lâm, lối tham học khắp nơi này đã trở thành sự rèn luyện quan trọng đối với Thiền tăng trong quá trình cầu ngộ. Trong những công án của Thiền tông, có rất nhiều câu vấn đáp cơ duyên của sự biến tham được ghi chép. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18 Huyền sa Sư bị thiền sư chương; Thiền lâm tượng khí tiên Tham thỉnh môn].
Biến tham 徧參
[ja] ヘンザン henzan ||| To travel around to various teachers to engage with them on questions of enlightenment. => Đi tham học khắp nơi với nhiều vị thầy nhờ họ khai mở cho những vấn nạn để đạt đến chứng ngộ.
biến thiên
Varied, varying, diversified.
; To change.
biến thành
Trở thành hay hoàn thành cuộc tu bằng cách thực hiện hết thảy mọi chi tiết—To fulfil in every detail—To change into—To become—To turn into—To be transformed into—To complete wholly, fulfil in every detail.
biến thành chư hành
(遍成諸行) Thành khắp các hạnh. Đối lại với Đốn thành chư hạnh Bồ tát tu hành, từ khi phát tâm bồ đề cho đến khi thành bồ tát Đẳng giác, trong khoảng thời gian ấy, lần lượt trải qua các giai vị tu hành, nên gọi là Biến thành chư hành.
biến thành nam nhân
Biến hình dạng thành một nam nhân (từ một nữ nhân). Tất cả chư Phật đều có lời nguyện biến tất cả chúng sanh nữ thành chúng sanh nam—To be transformed from a female to a male. Every Buddha is supposed to vow to change all women into men.
biến thành nam tử
See Biến Thành Nam Nhân.
; (變成男子) Biến thành con trai. Hàm ý con gái biến thành con trai. Cùng nghĩa với Chuyển nữ thành nam. Cứ theo các kinh luận chép, thì thân đàn bà có năm thứ chướng ngại, tức không trở thành Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân vương và Phật. Vì có chướng ngại không được thành Phật, cho nên muốn thành Phật, trước hết phải chuyển thân đàn bà thành thân đàn ông. Như kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Đề bà đạt đa có chép việc Long nữ tám tuổi biến thành thân con trai, vãng sinh qua thế giới phương nam mà thành Phật. Bởi thế, chư Phật lập nguyện, cũng có nguyện hết thảy đàn bà sẽ biến thành đàn ông. [X. Trung a hàm Q.28 kinh Cù đàm di; Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức]. (xt. Chuyển Nữ Thành Nam, Biến Thành Nam Tử Nguyện).
biến thành nam tử nguyện
(變成男子願) Nguyện biến thành đàn ông. Cũng gọi Nữ nhân vãng sinh nguyện. Là nguyện thứ 35 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Khi đức Phật A di đà chưa thành Phật, Ngài là vị tỉ khưu hiệu Pháp tạng, từng đã phát nguyện trước đức Thế tự tại vương Như lai rằng, nếu có người đàn bà nào được nghe tên hiệu của Phật, tin ưa bản nguyện, phát tâm bồ đề, thì sau khi mệnh chung, được thân đàn ông, sinh về Tịnh độ cực lạc. Kinh Vô lương thọ quyển thượng, (Đại 12, 268 hạ) chép toàn văn nguyện như sau: Khi con thành Phật, trong vô lượng bất khả tư nghị thế giới của chư Phật ở 10 phương, nếu có người đàn bà nào nghe tên hiệu của con, vui mừng tin ưa, phát tâm bồ đề, nhàm chán thân đàn bà, sau khi chết, nếu còn chịu thân đàn bà trở lại, thì con không lên ngôi chính giác. Nhưng, đặc biệt Mật giáo thì chấp nhận thân đàn bà thành Phật. [X. kinh Dược sư lưu ly quang Như lai bản nguyện công đức; kinh Pháp hoa Q.14 phẩm Đề bà đạt đa].
biến thành vương
Một trong những chúa ngục hay phán quan nơi địa ngục (một trong mười vị Diêm Vương cai quản địa ngục). Vị nầy cai quản ngục Đại Khiếu Hoán dưới núi Ốc Tiêu nơi biển bắc, ngục rộng 500 do tuần, bốn phía có 16 tiểu địa ngục—Pien-Chêng-Wang, one of the kings or judges of Hades.
; (變成王) Vua Biến thành. Cũng gọi Biện thành vương, Biến tính vương. Vị vua thứ sáu trong 10 vị vua ở dưới âm phủ. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương chép, thì người chết xuống âm phủ, đến tuần thất thứ sáu, được đưa đến vị vua này để nhận sự phán xét về các việc thiện hay ác đã làm khi còn sống. Vị vua này là hóa thân của bồ tát Di lặc, giữ chức quan ở âm phủ chuyên về việc khuyên bảo người chết bỏ điều ác làm điều lành. Vị vua này coi điện thứ sáu ở cõi âm, là địa ngục Đại khiếu hoán phía dưới tảng đá ốc tiêu ở hướng chính bắc dưới đáy biển. Theo truyền thuyết, trước khi đến điện thứ sáu, giữa đường có một chỗ khổ nạn gọi là Thiết hoàn sở (chỗ viên sắt), nếu người chết làm nhiều việc ác lúc còn sống, thì ngục tốt áp giải họ đến chỗ này, bắt họ nằm mọp xuống rồi cho tảng đá lớn nện vào mình họ, chết đi sống lại, rồi bị nện nữa, chịu khổ như thế suốt bảy ngày bảy đêm, mới đến được điện thứ sáu. Tiêu chuẩn xử án của vua Biến thành là dựa theo tiêu chuẩn của hai điện thứ tư và thứ năm ở trước, tức là dùng cái cân và tấm gương (soi tội phúc) để tính toán mà quyết định tội phúc nặng nhẹ của người chết. [X. Địa tạng bồ tát tượng linh nghiệm kí Q.1]. (xt. Diêm La Thập Điện).
biến thái
Metamorphosis—Metabolic.
biến thể
Variant—Variation.
biến thị tông pháp tính
(遍是宗法性) Phạm: pakwa-dharmatva.Tiếng dùng trong Nhân minh. Là một trong ba tướng của phần Nhân (lí do). Trong ba phần (Tông, Nhân, Dụ) của Nhân minh, mối quan hệ giữa Nhân và Tông (mệnh đề) là then chốt để kiểm tra xem cái phương thức lập luận có chính xác hay không. Nghĩa là tính chất của phần Nhân lúc nào cũng phải bao hàm trong chủ từ (tiền trần) của phần Tông trong tất cả mọi trường hợp, vì thế gọi là Biến thị tông pháp tính (tính chất bao trùm khắp Tông). Như khi lập luận: Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì có tính sở tác (tính được làm ra). Cái tính chất được làm ra này bao hàm khắp trong tất cả các loại tiếng nói (chủ từ của Tông), không một tiếng nào mà không mang tính chất được tạo ra. [X. luận Nhân minh nhập chính lý; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2].
biến thực chân ngôn
Transforming The Food True Words.
; (變食真言) Là thần chú biến hóa ra các thức ăn cho các trời và quỉ đói. Cũng gọi Biến thực chú, Biến thực đà la ni. Thần chú này được chép trong kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni (Đại 21, 465 thượng) như sau: Na mô tát phạ đát tha nghiệt đa, phạ lô chỉ đế, án, tam ba ra, tam bạt ra hồng. Kinh này ghi chép khi đức Phật nói pháp ở Tăng già lam Ni câu luật na tại Ca tì la, lúc ấy, ngài A nan đang ngồi ở nơi thanh vắng tu tập thiền định, ban đêm, sau canh ba, chính ngài A nan thấy một quỉ đói Diệm khẩu (miệng lửa), thân hình xấu xí gầy đét, trong miệng lửa cháy, cổ họng nhỏ như mũi kim, đầu tóc rối bù, móng tay và răng dài, nhọn hoắt, trông rất đáng sợ. Quỉ Diệm khẩu bảo ngài A nan là 3 ngày sau Ngài sẽ chết và cũng rơi vào loài quỉ đói. A nan rùng mình sợ hãi liền hỏi quỉ đói làm cách nào để thoát được khổ? Quỉ Diệm khẩu mới chỉ bày cho ngài A nan, nói: nếu bố thí cho vô lượng quỉ đói và trăm nghìn tiên Bà la môn, rồi cúng dường Tam bảo cầu cho quỉ đói được sinh lên cõi trời, thì Ngài (A nan) sẽ được sống lâu thêm. Ngài A nan vội đến chỗ đức Phật, đem việc thấy quỉ đói bạch với đức Phật và xin Ngài chỉ dạy. Đức Phật liền vì ngài A nan mà tuyên nói đà la ni có vô lượng uy đức tự tại quang minh thù thắng diệu lực (tức Biến thực chân ngôn). Cứ theo Tiêu thích kim cương khoa nghi hội yếu chú giải quyển 2 chép, thì hành giả niệm chân ngôn này, hoặc ba biến, bảy biến, hoặc 21 biến, thì nhờ sức thần của chân ngôn, các vật cúng tự nhiên biến thành các thức ăn thơm ngon của các trời, đều có năm thứ hương vị và nhiều như cả núi Tu di. Làm phép biến thực này, trước hết dùng chân ngôn Tịnh pháp giới chữ Lam và bắt ấn Cát tường gia trì 21 biến để làm cho thức ăn được trong sạch, kế đó niệm Biến thực chân ngôn và sau cùng niệm Phổ cúng dường chân ngôn (Vạn tục 92, 137 hạ): Án, nga nga nẵng, tam ba phạ, phiệt nhật ra hồng. Ngoài ra, theo Oánh sơn hòa thượng thanh qui quyển hạ của Nhật bản nói, thì chân ngôn rảy nước được trì tụng trong hội cúng thí quỉ đói là (Đại 82, 446 trung): Nam mô tát phạ đát tha nghiệt đa, phạ lô chỉ đế, án, tam ma la, tam ma la hồng. [X. kinh Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu quĩ nghi; Từ giác đại sư thỉnh lai mục lục; Phật môn tất bị khóa tụng bản].
biến tri
(遍知) Biết khắp tất cả. Phạm: Parijĩà. Vốn chỉ cho trí vô lậu hoàn toàn biết rõ đạo lí bốn đế; nếu người ta biết rõ suốt hết tất cả mọi hiện tượng chung quanh, thì có thể được trí vô lậu. Sau gọi cái trí biết rõ khắp tất cả ấy là Trí biến tri, và lại còn lập riêng Đoạn biến tri, nghĩa là Đoạn biến tri dùng Trí biến tri làm nhân mà đoạn trừ phiền não, lấy Trạch diệt làm thể. Đây là quả biến tri, cũng tức là cái quá trình dùng trí biết rõ khắp hết để đoạn trừ tất cả phiền não gọi là Biến tri, thông thường đặc biệt gọi là Biến tri sở duyên đoạn, ý nói thường tình người ta vốn bám dính chặt vào cảnh sở duyên, nhưng nếu có thể giải thoát khỏi sự bám dính này một cách triệt để, thì đó chính là chân nghĩa biến tri. Bởi thế, kinh A hàm nói Biến tri tức là sự diệt bỏ tham, sân, si, hơn nữa, từ biến tri đầu tiên hàm ý là thực tiễn. Luận Câu xá quyển 21, trong đoạn biến tri, lập ra chín biến tri, là chín loại trí dứt trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. [X. luận Phẩm loại túc Q.6; luận A tỳ đạt ma phát trí Q.4; luận Đại tỳ bà sa Q.34, Q.186; Câu xá luận quang kí Q.21]. (xt. Cửu Biến Tri).
biến trí
1) Có thể đến khắp nơi: Universally reaching—Universal. 2) Nhất thiết phổ trí—Universal knowledge, or omniscience.
Biến trí 徧智
[ja] ヘンチ henchi ||| "omniscience;" universal knowledge. Same as [遍智]. => “Sự thông suốt mọi sự”. Trí huệ rộng lớn trùm khắp. Đồng nghĩa với Biến trí [遍智].
biến tính
Degeneration—Devolution—To denature—To denaturize.
biến tướng
Phase, transformation.
; (變相) Chỉ cho các bức tranh dựa vào những ghi chép trong các kinh điển mà vẽ lại sự tích tiền thân (bản sinh) của đức Phật, hoặc cảnh Tịnh độ trang nghiêm và tướng trạng các địa ngục... nhằm phổ biến giáo nghĩa. Cũng gọi Biến tượng, Biến hội, gọi tắt là Biến. Biến, hàm ý là biến động, biến chuyển, tức miêu tả các động thái thực bằng cách vẽ hoặc chạm trổ, như vẽ về cảnh Tịnh dộ của Phật A di đà, thì gọi là Di đà tịnh độ biến; vẽ cảnh Tịnh độ của bồ tát Di lặc trên cung trời Đâu suất, gọi là Di lặc tịnh độ biến, dựa vào kinh Hoa nghiêm mà vẽ bảy chỗ tám hội hoặc bảy chỗ chín hội, gọi là Hoa nghiêm biến tướng; vẽ các cảnh địa ngục gọi là Địa ngục biến tướng... Cứ theo Lạc dương già lam kí quyển 5 chép, thì vị tăng thời Bắc Ngụy là ngài Huệ sinh từng đã bắt chước tháp Tước li ở nước Kiện đà la mà vẽ Thích ca tứ tháp biến (cảnh bốn ngôi tháp của đức Thích ca; Tháp ở các chỗ Phật giáng sinh, thành đạo, chuyển pháp luân, vào Niết bàn). Lại trong các bức chạm trổ và tranh vẽ trên vách cũ ởZànchìvàBhàrhut còn đến nay, cũng có nhiều biến tướng về sự tích tiền thân và tiểu sử của đức Phật; điều đó cho thấy Ấn độ từ xưa đến nay đã có những bức điêu khắc hoặc hội họa về đủ loại biến tướng. Tại Trung quốc và Nhật bản, những biến tướng lúc đầu phần nhiều là cảnh Tịnh độ của đức Phật A di đà, Dược sư, Thích ca, Quan âm, Di lặc và cảnh tiếp dẫn của Phật A di đà, bồ tát Quan âm và Di lặc, về sau đã có những bức tranh vẽ Hoa nghiêm biến tướng, Pháp hoa biến tướng, Địa ngục biến tướng, Thập vương biến tướng... Ngoài ra, những biến tướng trọng yếu khác, còn có bốn biến tướng bản sinh khắc trên bốn mặt tháp của chùa A dục vương ở huyện Mậu: Tát đỏa vương tử biến (cảnh Vương tử Tát đỏa), Xả nhãn biến (cảnh bỏ mắt), Xuất não biến (cảnh cho óc), Cứu cáp biến (cảnh cứu chim bồ câu) và Cổ kim phiên dịch đồ biến Tranh Tịnh Độ Biến Tướng ở Đôn Hoàng (Trung Quốc) (cảnh phiên dịch Niết Bàn Biến kinh xưa nay) vẽ trên vách của nhà dịch kinh ở chùa Đại từ ân. Trong chùa Bồ tát ở phường Bình khang, có Trí độ luận sắc kệ biến và Duy ma biến do Ngô đạo huyền vẽ; trên vách hành lang trong chùa Đông sơn ở núi Hoàng mai có Lăng già kinh biến do Lư trân vẽ v.v...Tại Nhật bản cũng có các loại biến tướng như: Tứ phật tịnh độ, Bản địa thùy tích, Nhị tôn khiển nghinh v.v... Trong các bức biến tướng, có bức chỉ có hai hoặc ba hình tượng, nhưng đại đa số các bức khác thì có tới vài mươi thậm chí cả trăm hình tượng gồm: Phật, Bồ tát, các trời, người và các loại súc sinh, phối với cung điện, lầu gác, núi sông, cây cối, hoa cỏ v.v... nét vẽ và màu sắc rất là phức tạp. Lại tùy theo chất liệu mà có các loại biến tướng khác nhau, như vẽ trên vách, vẽ trên cột, vẽ trên lụa, giấy, hoặc chạm vào gỗ, khắc trên đá, nặn bằng đất v.v... Ngoài ra, tại Nhật bản, Tịnh độ biến tướng cũng được gọi là Tịnh độ mạn đồ la, nhưng đây là do chịu ảnh hưởng của Mật giáo mà gọi lầm, chứ thực ra ý nghĩa biến tướng và mạn đồ la khác nhau rất xa. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3 Hoằng nhẫn truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.10; Cao tăng pháp hiển truyện Sư tử quốc Vô uy sơn tinh xá điều]. (xt. Mạn Đồ La).
biến tịnh
Khắp nơi đều thanh tịnh—Universal purity.
biến tịnh thiên
Subhakiṇṇa (P), Subha-kiṇṇadeva (P), Śubhakṛṭsna (S)Một trong 3 cõi trời Tam thiền. Sự thọ lạc của chư thiên cõi này là tối thắng, sự thanh tịnh trùm khắp: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, do nghiệp thượng phẩm tam thiền mà sinh vào. Đệ III thiền.
; Tên của tầng trời thứ ba trong Tam thiền Thiên thuộc sắc giới (trên cõi trời nầy chỗ nào cũng tỏa khắp một thứ ánh sáng thanh tịnh)—Universal Purity Deva, or the heaven of universal purity, the third of the third dhyana heavens—See Thiên (C) (9).
; (遍淨天) Trời Biến tịnh. Biến tịnh, Phạm: Zubhakftsna, Pàli: Subha-kiịịa hoặc Subhakiịha. Dịch âm: Thủ ha kí na, Thủ ba ngật lật na, Tu ngật, Ma thủ. Cũng gọi Vô lượng tịnh thiên, Quảng thiện thiên, Tịnh nan đãi thiên. Là một trong 18 tầng trời thuộc cõi Sắc, tức là cõi trời cao nhất trong Thiền thứ ba. Người sinh trong tầng trời này thụ hưởng các thú vui đầy khắp, nên gọi Biến tịnh. Luận Lập thế a tì đàm quyển 7 chép, do nghiệp tương ứng với thượng phẩm của Thiền thứ ba mà sinh ở tầng trời này, tuổi thọ là bốn đại kiếp, còn luận Chương sở tri quyển thượng và luận Tạp a tỳ đàm tâm quyển 2 thì bảo tuổi thọ ở đó là 64 kiếp và thân cao 64 do tuần. [X. luận Lập thế a tỳ đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21].
biến tịnh thiên, thiện hiền
Subhadra (S). 3rd heaven of the third dhyàna.
biến tịnh vương
Vua của cõi Trời Biến Tịnh (cõi trời thứ ba trong cõi tam thiền thuộc sắc giới)—King of Univeral Purity. ** For more information, please see Thiên (C) (9).
biến văn
(變文) Là những tác phẩm văn học, chịu ảnh hưởng Phật giáo, được lưu hành từ đời Đường trở đi. Phật giáo dùng loại văn này để trình bày những truyện cổ trong kinh Phật và để giảng giáo nghĩa nói chung. Biến nghĩa là thay đổi, cải biến lối viết. Lối hành văn lấy chất liệu từ những truyện giàu tinh thần biến trong các kinh điển Phật giáo, rồi trong lúc phô diễn, thay đổi làm cho lời văn sống động phổ cập, thích hợp với sự giáo hóa dân chúng, lối văn này gọi là Biến văn. Các học giả Nhật bản thông thường cho Biến là bức tranh biến tướng; pháp hội thuyết minh giảng xướng tranh iến tướng thì gọi là Tục giảng và những lời văn phổ thông dùng trong Tục giảng gọi là Biến văn. Khoảng đời Đường và Ngũ Đại, các chùa viện khi giảng kinh thuyết pháp, thường phối hợp Biến văn và tranh biến tướng với nhau; về sau thì Biến văn là chỉ chung văn học nói, hát dân gian cùng tính chất. Niên đại sản sinh ra Biến văn có thể là thời kì giữa đời Đường. Biến văn xưa nhất hiện còn đến nay là Biến văn Thân ủy ngã hổ (đem thân cho cọp đói ăn). Tổng số các nguyên bản hiện còn bao nhiêu không được rõ, nhưng đại khái có tới 80 hoặc 90 loại và về tên gọi cũng có trường hợp do người đời sau đặt lại. Phạm trù của Biến văn, ngoại trừ tên Biến văn ra, còn tất cả Biến, Duyên khởi (lời mở đầu Biến văn), Truyện, Truyện văn, Áp tọa văn (văn vần đọc trước khi giảng kinh), Xướng văn, Giảng xướng văn, giảng kinh văn, Từ, Từ văn, Ca v.v... đều thuộc Biến văn. Trong đó, sự khác nhau giữa Giảng kinh văn và Biến văn là ở chỗ, hình thức giảng kinh văn có ba đoạn Kinh , Bạch, Xướng, còn hình thức Biến văn thì thường không dẫn văn kinh, hoặc giải nói câu văn kinh, mà chỉ có hai đoạn Bạch, Xướng để cho thích hợp với việc giáo hóa dân chúng phổ thông, cho nên nội dung giảng xướng đều lấy tranh vẽ làm trung tâm, và phương thức tuyên giảng thì không bị gò bó mà là thông tục hóa. Nội dung Biến văn phần nhiều lấy tài liệu trong kinh điển Phật giáo hoặc những truyện cổ có sẵn của Trung quốc. Những Biến văn lấy tài liệu từ các kinh điển Phật giáo thì có: Diệu pháp liên hoa kinh biến văn, A di đà kinh biến văn, Duy ma kinh biến văn, Mục liên cứu mẫu biến văn, Phụ mẫu ân trọng kinh biến văn, Hàng ma biến văn, Địa ngục biến văn, Bát tướng biến, Mục liên duyên khởi, Ôn thất kinh giảng xướng áp tọa văn v.v... Còn Biến văn lấy tài liệu từ các truyện cổ Trung quốc thì có: Vương lăng biến văn, Ngũ tử tư biến văn, Tô vũ Lí lăng chấp biệt từ, Trương hoài thâm biến văn, Vương chiêu quân biến văn, Thuấn tử chí hiếu biến văn v.v... Về hình thức đại khái có ba loại: Văn xuôi và văn vần xen lẫn nhau, toàn văn xuôi, toàn văn vần. Hình thức thứ nhất thường thấy hơn, đối với văn học thông tục về sau như Bảo quyển, Cổ từ, Đàn từ v.v... có ảnh hưởng rõ rệt. Ngoài ra còn có hình thức xướng kinh, Áp tọa văn v.v... như đã nói ở trên. Duy ma kinh biến văn thì trước hết dẫn văn kinh, kế đến dùng văn vần thuật rõ nghĩa kinh để tiện việc ca xướng. Còn như Bát tướng thành đạo biến văn, thì ở sau văn kinh, văn vần lại chú thích nghĩa của văn vần, dùng thể hội thoại để nói rõ thêm. Hoan hỉ quốc vương duyên biến văn thì ngay từ đầu đã trình bày sơ qua về nguyên do của chính văn.Năm Quang tự 25 (1899) đời Thanh, những tư liệu văn học rất giàu tính dân gian ở thời Đường và Ngũ Đại đã được tìm thấy trong hang đá của nhà Nghìn Phật ở núi Minh sa thuộc huyện Đôn hoàng, trong đó có Biến văn. Từ đó về sau, nguyên điển Biến văn được sưu tập, rồi sửa chữa, khắc lại, làm thành mục lục, nghiên cứu giới thiệu v.v... Nguyên điển Biến văn hiện nay phần nhiều được cất giữ trong Đại anh bác vật quán ở Luân đôn, quốc gia đồ thư quán ở Ba lê và Đồ thư quán tại Bắc kinh. [X. Luân đôn bác vật quán đôn hoàng thư mục (La phúc trường biên soạn); Luân đôn sở tàng đôn hoàng quyển tử kinh nhãn mục lục (Hướng đạt biên soạn); Ba lê quốc gia đồ thư quán đôn hoàng thư mục (La phúc trường); Ba lê đồ thư quán đôn hoàng tả bản thư mục (Trần tường); Biến văn cập xướng kinh văn mục lục (Hướng đạt); Đôn hoàng sở xuất biến văn hiện tồn mục lục (Chu thiệu lương); Đôn hoàng linh thập (La chấn ngọc); Đôn hoàng xuyết tỏa (Lưu phục); Đôn hoàng thạch thất tả kinh đề kí dữ đôn hoàng tạp lục (Hứa quốc lâm); Minh sa dư vận (Thỉ xuy Khánh huy); Đại chính tân tu đại tạng kinh tập 85 Cổ dật bộ]. (xt. Đôn Hoàng Biến Văn).
biến xuất ngoại đạo
Một phái ngoại đạo khổ hạnh, thoát ly hoàn toàn khỏi gia đình thế tục (theo Duy Thức Thuật Ký, có phái ngoại đạo tên Ba Lợi Đát La Câu Ca, tức biến xuất hay thoát ly khỏi thế tục)—Ascetics who entirely separate themselves from their fellowmen.
Biến xứ
變處; S: kṛtsnā; P: kasiṇa;|Tên gọi một vật dùng để phát sinh và phát triển sự tập trung để đạt đến bốn định an chỉ (Tứ thiền).|Người tu hành tập trung toàn triệt vào một đối tượng thấy được trước mắt (sắc pháp, ở đây là một biến xứ) gọi là chuẩn bị tướng, như một điểm màu hay một cái dĩa có màu, một miếng đất,… cho đến lúc dù nhắm mắt người ấy vẫn thấy hình ảnh nó trong tâm gọi là thô tướng (hay học tướng; p: uggaha).|Trong khi tiếp tục định tâm vào hình ảnh ấy, hành giả có thể thấy một hình ảnh bất động vô nhiễm khởi lên gọi là quang tướng (p: patibhāga-nimitta) và khi đó sẽ đắc cận hành định (p: upacāra-samādhi). Tiếp tục định tâm trên đối tượng ấy, người tu hành sẽ đạt đến một trạng thái tâm lí, ở đó mọi hoạt động giác quan đều ngưng, không còn thấy, nghe, cảm giác, đó là sơ thiền. Mười biến xứ được kể là: đất, nước, lửa, gió, sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng, Hư không (p: ākāsa) và Thức (p: viññāṇa).
biến xứ
Khắp mọi nơi—Everywhere—Universal.
biến y viên
Ba tính—The three points of view. 1) Tính biến kế sở chấp: Coi những cái không thật là thật—The view which regards the seeming as real. 2) Tính y tha khởi: Coi chư pháp khởi lên từ những cái khác—The view which sees things as derived. 3) Tính viên thành thực: Quan điểm nhìn chư pháp bằng thực tính của chúng—The view sees things in their true nature.
biến y viên tam tính
Svabhàva-laksana-traya (S). Three forms of knowledge.
biến đổi
- Thay đổi—Chuyển hóa: Parinam (skt)—To change—To transform—To alter—To be changed or transformed into. - Sự biến đổi: Parinama (skt)—Sự chuyển hóa—Sự thay đổi—Alteration—Transformation into—Change.
biến động
Crisis.
biến ảo
To change.
Biến 徧
[ja] ヘン hen ||| Universal; universally functioning. (遍, 周, 普). => Khắp mọi nơi, tác dụng trùm khắp. Đồng nghĩa với (Biến遍, Châu周, Phổ 普).
biếng nhác
Lazy—Idle
biếng trể
Lazy and tardy.
biết
- Tánh giác (n): Buddhi (skt)—Knowledge—Awareness—Acquaintance. - Giác (v): Budh (skt)—To know—To be aware of—To be acquainted with. - Biết có sự phân biệt bằng suy nghĩ hay ý thức: Vijanati (p)—Vijna (skt)—To discern—To distinguish. - Sự biết (có sự phân biệt bằng suy nghĩ hay ý thức): Vijananam (p)—Vijnanana (skt)—Discerning—Distinguishing—Knowing—Understanding.
biết cách dụng tâm
To know how to utilize one's mind.
biết cư xử
To know to behave.
biết mình
To know one's own strengths and weaknesses (limitations).
biết mình biết người, trăm trận trăm thắng
Knowing ourselves as well as our adversaries, we win every battle.
biết mình nặng nghiệp
To know one's karma was heavy.
biết nhờ mùi vị
Gandhadvāra (S), Perceptible through odours.
biết rõ tự tánh
To be aware of one's own nature.
biết thuần tịnh
Buddhi-samsuddha (skt)-Biết trong sự tỉnh lặng của vô niệm—Completely purified awareness.
biết thân
To know one's weakness.
biết trước
To foreknow—To know beforehand.
biết vọng
To know (realize) false thoughts.
biết điều
To be reasonable.
biết ơn
Gratitude—To be grateful—To be thankful.
Biền trăn
(駢臻): đến cùng một lúc, cùng đến. Câu “bách phước biền trăn (百福駢臻, trăm điều phước cùng đến)” thường đi đôi với “thiên tường vân tập (千祥雲集, ngàn điều lành vân tập).”
biển
Śāgāra (S), Ocean (S, P)Long vương Hải, Ta già la Long vương, Sa kiệt la, Hàm hảiCòn chỉ một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
biển hữu lậu
The ocean of existence.
biển luân hồi
Sea of births and deaths.
biển lặng
Quiet (calm) sea.
biển nghiệp
Sea of karma.
biển nghiệp mênh mang
Vast ocean of karma.
biển nghiệp mênh mang, không gì khó đoạn bằng ái dục; cõi trần man mác, không gì dễ phạm bằng sát sanh
In the vast ocean of karma, love attachment is the most difficult thing to rid of; in the great wide world, killing is the most common commitment.
Biển ngạch
(匾額): là tấm bảng (thường bằng gỗ) có khắc chữ trên đó, được treo ngay phía trước hướng chính diện của ngôi điện, lầu gác, cung đình, v.v.; dùng để giải thích về danh xưng của kiến trúc ấy. Biển ngạch này xuất hiện ở Trung Quốc cũng như các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v. Loại biển ngạch do đích thân nhà vua ghi bút được gọi là Long Biển (龍匾), phối hợp với hoa văn điêu khắc hình rồng. Về số lượng chữ, thông thường phổ cập nhất là 3 chữ, như Thái Hòa Điện (太和殿), Thích Ca Tháp (釋迦塔). Bên cạnh đó, cũng có loại 2 chữ như Tích Ung (辟雍); hoặc loại 6 chữ như tấm biển Hiển Linh Chiêu Tế Thánh Mẫu (顯靈昭濟聖母) trong ngôi Điện Thánh Mẫu thời nhà Tống. Đặc biệt, dưới thời nhà Thanh (清, 1616-1911), hầu hết những tấm biển ngạch đều có kèm theo dòng chữ Mãn Thanh, viết dọc xuống; như Dưỡng Tâm Điện (養心殿), Khôn Ninh Cung (坤寧宮), v.v. Như trong Lục Đạo Tập (六道集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1645) quyển 5 có đoạn: “Trị mộ, lưỡng sứ Giai Cầu túc miếu trung, kim biển ngạch đề viết 'Sắc Phong Long Mẫu Miếu' (値暮、兩使偕球宿廟中、金匾額題曰、敕封龍母廟, đến tối, hai sứ Giai và Cầu nghỉ lại trong miếu, tấm biển ngạch vàng đề dòng chữ 'Sắc Phong Long Mẫu Miếu').” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 7 lại có đoạn rằng: “Hoặc khất thi văn, hoặc cầu biển ngạch, hoặc giả quyền thế, hoặc sách tiền tài, chung nhật bôn ba, bất tư tĩnh thủ, giai danh ngoại vụ (或乞詩文、或求匾額、或假權勢、或索錢財、終日奔波、不思靜守、皆名外騖, hoặc xin thơ văn, hoặc cầu biển ngạch, hoặc giả quyền thế, hoặc đòi tiền tài, suốt ngày bôn ba, chẳng nhìn lại mình, đều gọi là chạy quanh bên ngoài).”
biển nước mắt
Ocean of tears.
biển phật pháp
The ocean of teachings of all Buddhas.
biển thủ
To embezzle.
biển thức mênh mông
Vast sea of consciousness.
biển tâm
See Tâm Hải.
biển ái
Ocean of love—Ocean of desire
Biểu
(表): là một loại Tấu Chương thời xưa được quần thần dùng để trình cấp lên đế vương; như Xuất Sư Biểu (出師表) của Gia Cát Lượng (諸葛亮) nhà Thục Hán thời Tam Quốc (三國, 221-420), Trần Tình Biểu (陳情表) của Lý Mật (李密, 224-287), v.v. Trong bài tựa Văn Thể Minh Biện của Từ Sư Tằng có giải thích rằng: “Cổ giả hí ngôn ư quân, giai xưng thượng thư, Hán định lễ nghĩa, nãi hữu tứ phẩm, kỳ tam viết Biểu; nhiên đản dụng dĩ trần thỉnh nhi dĩ, hậu thế nhân chi, kỳ dụng tẩm quảng (古者獻言於君、皆稱上書、漢定禮儀、乃有四品、其三曰表、然但用以陳請而已、後世因之、其用寖廣, người xưa nói đùa với nhà vua, đều gọi là dâng thư lên, nhà Hán định ra lễ nghĩa, có bốn loại, loại thứ ba là Biểu; tuy nhiên chỉ dùng để bày tỏ thỉnh cầu mà thôi; đời sau nhân đó, dùng Biểu càng lúc càng rộng rãi).”
biểu
Bày tỏ—To indicate—To express—To manifest—To expose.
biểu bạch
Trước Phật bày tỏ nguyện vọng mục đích xin với Tam bảo chứng giám, hay cáo bạch sự việc lên chư Phật và chư Bồ Tát—To explain—To expound—To clear up—To show one's vows or resolutions in front of a Buddha's image; or to inform, to make clear, especially to inform the Buddhas and Bodhisattvas.
; (表白) Bày tỏ rõ ràng. Khi cử hành pháp hội hoặc trong khoá tu niệm, ở trước đức Phật giải bày nguyện vọng và mục đích của mình để cầu xin Tam bảo chứng giám, gọi là Biểu bạch. Cũng gọi Khải bạch. Nếu bạch lúc bắt đầu cử hành pháp hội thì gọi là Khai bạch, Khai khải. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển trung Hành hương xướng đạo điều và Thích thị yếu lãm quyển thượng Biểu bạch điều chép, thì Biểu bạch bắt nguồn từ sự chú nguyện của Ấn độ, nó đồng nghĩa với từ Xướng đạo thời xưa. Như văn xướng đạo do Giản văn đế nhà Lương soạn vào thời Nam triều được chép trong Quảng hoằng minh tập quyển 15, rất giống hình thức văn Biểu bạch đời sau. Lại trong các tùng lâm Trung quốc, khi quá đường (lên nhà trai thụ trai), Hòa thượng trụ trì có việc cần thông báo cho đại chúng biết, thì gọi là Biểu đường. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; luận Thuyết pháp minh nhãn phẩm Biểu bạch; Thiền lâm tượng khí tiên phúng xướng môn].
biểu chế tập
(表制集) Sách, gồm 6 quyển do ngài Viên chiếu đời Đường biên tập, thu vào Đại chính tạng tập 52. Cũng gọi Đại tông triều tặng Tư không đại biện chính Quảng trí Tam tạng hòa thượng biểu chế tập, Đại Đường Đại hưng thiện tự Đại biện chính Đại Quảng trí Tam tạng biểu đáp bi. Nội dung thu tập các văn Biểu chế, Tạ biểu, Đáp phê, Tế văn, Di thư v.v... của 18 soạn giả: Bất không, Nghiêm dĩnh, Đàm trinh, Phi tích, Tuệ lãng, Nguyên kiểu, Huệ hiểu, Pháp cao v.v... Như: Bái Bất không Tam tạng đặc tiến thí Hồng lô khanh kiêm tứ hiệu chế thư (Thư chúc mừng Tam tạng Bất không được vua phong chức Hồng lô khanh và ban hiệu), Tạ ân tứ nhũ ngưu ngũ đầu tinh độc biểu (Biểu tạ ơn vua đã ban cho năm con bò sữa và bê con) v.v... gồm hơn 180 bài. Sách này sưu tập các văn hiến Mật giáo vào thời kì thịnh nhất ở đời Đường, cho nên trước nay rất được các sử gia xem trọng.
biểu dương
To show—To display.
biểu lộ
See Thị Hiện.
biểu nghĩa danh ngôn
(表義名言) Đối lại với Hiển cảnh danh ngôn. Chỉ cho tên gọi, câu văn, lời nói v.v... có thể diễn tả nghĩa lí một cách rõ ràng. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Biểu nghĩa danh ngôn, tức là danh ngôn có thể giải thích rõ ràng nghĩa lí và sự sai khác của âm thanh. (xt. Danh Ngôn, Danh Ngôn Chủng Tử).
biểu nghĩa danh ngôn chủng tử
(表義名言種子) Đối lại với Hiển cảnh danh ngôn chủng tử . Chỉ cho những chủng tử (hạt giống) do những tên gọi, câu văn, lời nói v.v... huân tập (xông ướp) mà thành. Những chủng tử này có khả năng giải bày nghĩa lí rõ ràng. Chúng cũng là những chủng tử được huân tập từ ngôn ngữ, âm thanh của tất cả các pháp. Trong danh ngôn chủng tử, cái hiển bày thể của các pháp sắc, tâm, biến hiện ra hình tướng ở trước tâm, rồi được huân tập trong thức thứ tám: cái đó tức là Biểu nghĩa danh ngôn chủng tử.
biểu ngữ
Banner—Slogan.
biểu quyết
To decide by vote.
biểu sát
Trụ cờ trên nóc chùa—The flagpole on a pagoda.
biểu sấn
(俵襯) Đem chia vật của thí chủ cúng dường cho đại chúng, gọi là Biểu sấn. Thiền uyển thanh qui quyển 6 trung Diên trai (Vạn tục 111, 454 hạ), nói: Duy na đánh khánh, Thủ tọa phân phối vật cúng dường, hoặc thí chủ chia, hoặc vị Tri sự làm thay. Đại chúng ăn xong, Pháp sự đầu hoặc Duy na đánh khánh, niệm Xử thế giới như hư không v.v..., tóm tắt nghĩa chính trong sớ, hồi hướng, niệm Phật xong, đánh khánh đứng dậy.
biểu sắc
Vijnapti-rùpa. Vô biểu sắc. Avijnapti-rùpa.
; Một trong ba loại hình sắc. Biểu sắc là biểu thị tích cực qua cách đi, đứng, nằm, ngồi, vân vân; hai thứ sắc khác là màu sắc đỏ, xanh, và hình thể dài, ngắn—Active expression, as walking, sitting, standing, bending, stretching, taking, refusing, etc; one of the three forms, the other two being the colours, red, blue, etc., and shape, long, short, etc.
; (表色) Phàm các hình thái động tác của người ta, như: đi, đứng, ngồi, nằm, lấy, bỏ, co, duỗi v.v... hiển nhiên có thể biểu hiện ra bên ngoài, khiến ai ai cũng thấy tức gọi là biểu sắc. Là một trong ba loại sắc cảnh do tông Duy thức lập ra. Các nhà dịch cũ dịch là Tác sắc. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 1 nói, thì có ba thứ sắc: Hiển sắc, Hình sắc, Biểu sắc. 1. Hiển sắc: như xanh vàng đỏ trắng, ánh sáng bóng tối, mây khói bụi sương và hư không v.v.. đều là Hiển sắc. 2. Hình sắc: như dài ngắn vuông tròn, to nhỏ lớn bé, thẳng cong cao thấp v.v... đều là Hình sắc, là những tướng trạng của các sắc pháp. 3. Biểu sắc: những hình thái động tác như đi, đứng, ngồi, nằm, lấy, bỏ, co, duỗiv.v... đều là Biểu sắc. Biểu sắc này theo nhau sinh diệt, vì nhân biến đổi, nên không sinh lại ở cùng một chỗ sinh ra trước đó, mà chuyển dời đến chỗ khác. Hình thái của động tác trước sau hoặc có gián đoạn, hoặc không gián đoạn, hoặc gần, hoặc xa đều vì sai khác mà sinh, hoặc ở ngay chỗ ấy biến đổi mà sinh. Thuyết nhất thiết hữu bộ và tông Câu xá của Tiểu thừa chỉ lập Hiển sắc và Hình sắc chứ không lập Biểu sắc. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 2 trung) chép: Nói sắc có hai: một là Hiển sắc, hai là Hình sắc. Hiển sắc có bốn, (...) Hình sắc có tám. Thuyết nhất thiết hữu bộ đem Biểu sắc nhiếp thuộc vào Hình sắc. Các nhà Duy thức thì ngoài Hiển sắc, Hình sắc, còn lập riêng Biểu sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức liễu nghĩa đăng Q.2; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Hình Sắc, Hiển Sắc).
biểu thuyên
Đây là một thuật ngữ của Pháp Tướng Tông, một trong hai loại “Thuyên”—A term of Dharmalaksana school. One of the two kinds of exposition. 1) Biểu Thuyên: Biểu thị đầy đủ mọi đức tính—Positive or open exposition. 2) Già Thuyên: Ngăn chặn lỗi lầm—Negative or hidden exposition.
; (表詮) Cũng gọi Y thuyên đàm chỉ. Đối lại với Già thuyên. Biểu, là hiển bày tính chất của sự vật; Thuyên, là giải thích rõ ràng về sự và lí của các pháp. Biểu thuyên là trình bày về tính chất của các pháp khiến hai mặt sự và lí của chúng được sáng tỏ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần một (Đại 48, 406 trung): Như khi nói về muối, nếu nói nó không lạt, là cách nói theo Già; nếu bảo nó mặn là lối nói theo Biểu. Khi nói về nước, nếu nói nó không khô là cách nói theo Già; nếu bảo nó ướt là lối nói theo Biểu. Trong các giáo, mỗi khi nói tuyệt bách phi; đều là nói theo Già; nhưng trực tiếp hiển bày chân như tuyệt đối là nói theo Biểu. Không tông chuyên dùng Già thuyên, còn Tính tông thì sử dụng cả hai môn Già và Biểu. Ngoài ra, trong nhân minh, đứng về phương diện khái niệm mà nói, thì Biểu thuyên là khái niệm mâu thuẫn với Già thuyên. [X. Tông kính lục Q.34; Bách pháp vấn đáp sao Q.4]. (xt. Già Thuyên Biểu Thuyên).
biểu thị
Vijapti (S).
; Vijnàpti (S). Information, communicating. Also trình bày.
; Chỉ rõ hay giải thích rõ ràng—To indicate—To explain.
biểu tình
To demonstrate.
biểu tượng
Emblem—To symbolize.
biểu tử
(俵子) Biểu, hàm ý là đưa phẩm vật cho người. Trong các dịp ma chay, người ta thường bố thí các phẩm vật cho người nghèo khó. Trước khi cho, họ được phát những tờ phiếu hoặc những chiếc thẻ, các phiếu và thẻ này gọi là Biểu tử. Đến ngày ma chay, những người nghèo khó mang phiếu hoặc thẻ xuất trình để được cấp phát phẩm vật. [X. Thiền lâm tượng khí tiên loại 23 Bạ quyển môn].
biểu vô biểu
(表無表) Biểu vô biểu là nói tắt của Biểu nghiệp (Phạm: Vijĩapti-karman) và Vô biểu nghiệp (Phạm: Avijĩapti-karman). Cũng gọi Hữu biểu nghiệp vô biểu nghiệp, Hữu biểu sắc vô biểu sắc, Tác vô tác, Giáo vô giáo. Nghiệp biểu hiện ra ở ngoài khiến người khác biết rõ, là Biểu nghiệp; nghiệp không hiển hiện ra bên ngoài và người khác không biết được, là Vô biểu nghiệp. Nghĩa là những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, như động tác của cơ thể, lời nói, âm thanh, khiến người khác thấy được, nghe được, gọi là Biểu nghiệp. Trái lại, nghiệp do thân, ngữ dẫn khởi, nó có công năng cản trở thiện hoặc ác, nhưng người khác không thấy được, gọi là Vô biểu nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa chủ trương: trong ba nghiệp thân, ngữ, ý thì chỉ có thân nghiệp, ngữ nghiệp là có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Và cho rằng thân biểu nghiệp lấy hình sắc làm thể, ngữ biểu nghiệp lấy âm thanh làm thể, Vô biểu nghiệp lấy sắc ở trong pháp xứ làm thể, đều là pháp có thật. Còn đối với Ý nghiệp thì không lập Biểu nghiệp, Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp thông cả ba tính thiện, ác, vô kí, nó do Tầm, Tứ phát khởi, cho nên nó tồn tại ở cõi Dục và Sơ thiền. Vô biểu nghiệp thì chỉ thông với hai tính thiện, ác, nên nó chỉ tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc. Các nhà Duy thức Đại thừa thì cho rằng vì ý nghiệp có khả năng biểu thị tự ngã trong nội tâm, nên không lập vô biểu nghiệp (có thuyết nói cũng lập vô biểu nghiệp) và chủ trương thể của biểu nghiệp và vô biểu nghiệp đều là có giả. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 4 hạ), nói: Thân biểu nghiệp chẳng phải có thật, nhưng vì tâm là nhân, khiến biến hiện ra các sắc tướng nối nhau sinh diệt, chuyển đến các phương khác, tựa hồ như có động tác biểu thị tâm, nên mới tạm gọi là Thân biểu. Ngữ biểu cũng chẳng phải thật có tính của tiếng nói, vì trong một sát na tiếng nói không bày tỏ rõ ràng được, mà phải trải qua nhiều sát na nối tiếp nhau, cho nên tính của tiếng nói chẳng phải có thật. Vì sắc hữu đối ở bên ngoài trước đã bị phá, nhưng vì tâm là nhân, nên thức mới biến ra tựa hồ như có tiếng nói, rồi sinh diệt liên tục dường như có biểu thị, nên tạm gọi là Ngữ biểu. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.6; luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.33; luận Đại tì bà sa Q.122, Q.123; luận Thành duy thức Q.8; luận Du già sư địa Q.53; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối]. (xt. Nghiệp).
biểu vô biểu giới
Tác Giới Vô Tác Giới. 1) Biểu Giới: Người thọ giới bước lên giới trình bày về ba nghiệp thân khẩu ý mà chính mình được thụ đắc—The expressed (letter) moral law. The receiver of commandments will express the commandments on the body, speech and thought which he or she receives. 2) Vô Biểu Giới: Người thọ giới trong thân thể phát ra mà không biểu hiện ở giới thể của ba nghiệp—The unexpressed moral law or the spirit.
biểu đồng tình
To express agreement—To show sympathy—To be in accord with—To agree with
biểu đức
Thể hiện công đức bằng những hành động và tư tưởng thiện lành như đã được giảng dạy trong kinh Hoa Nghiêm, đối lại với đè nén dục vọng hay “già tình.”—To manifest virtue (positive in deeds and thoughts as expounded in the Avatamsaka Sutra—Kinh Hoa Nghiêm), in contrast with to repress the passions.
; (表德) Là một trong 16 cách giải thích huyền môn (cửa sâu kín). Giống như Biểu thuyên (bày tỏ rõ ràng sự lí). Đối lại với Già tình (ngăn sự hiểu biết sai lầm). Biểu đức là trực tiếp chỉ rõ cái tính đức vốn có sẵn trong các pháp. Già tình, Biểu đức được dùng nhiều trong tông Hoa nghiêm, tông Chân ngôn, cònGià thuyên, Biểu thuyên thì được dùng nhiều trong tông Pháp tướng. Già tình, Biểu đức là nói theo Pháp thể (thể của các pháp), còn Già thuyên, Biểu thuyên thì nói theo ngôn thuyên (nói rõ lí sự). [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán (Đỗ thuận)].
biện
Vibhaya (S).
; To discern; to discuss; to judge; to examine; to arrange, prepare.
; 1) Biện biệt: To distinguish—To discriminate. 2) Biện luận: To discuss or argue—To confute. 3) Chuẩn bị: To prepare. 4) Làm việc: To carry out. 5) Một phần của quả dưa: A section, or division of a melon.
biện biệt
To distinguish.
biện bác
To refute—To confute.
biện bạch
To expose clearly.
biện chính luận
(辯正論) Gồm 8 quyển, do ngài Pháp lâm đời Đường soạn. Cũng gọi Biện chính lí luận. Thu vào Đại chính tạng tập 52. Vào thời vua Cao tổ nhà Đường, đạo sĩ Lí trọng khanh (cũng gọi thiếu khanh), soạn luận Thập di cửu mê, Lưu tiến hỉ soạn luận Hiển chính, dèm chê Phật giáo là bỏ lễ nghĩa thân tộc, bất nhân bất hiếu. Phần đông người thời bấy giờ tin theo thuyết ấy. Đáp lời thỉnh của quan Hữu bộc xạ là Đỗ như hối, ngài Pháp lâm mới soạn bộ luận này để bác lại hai bộ luận trên. Trong tác phẩm của mình, ngài Pháp lâm trích dẫn rất nhiều sách sử Phật điển để chứng minh rằng Phật giáo vượt trội hơn Đạo giáo. Nội dung chia làm 12 thiên gồm Tam giáo trị đạo thiên v.v..., nói về lòng tin Phật của các bậc Đế vương, hoàng tộc cho đến các danh thần trải qua các đời, các vấn đề như đạo Phật có trước hay Đạo giáo có trước, rồi đến các kinh điển và giáo lí ngụy tạo của Đạo giáo v.v...Trong 12 thiên thì thiên thứ 5 là Thập dụ và thiên thứ 6 là Cửu châm là nhằm bác lại luận điệu của đạo sĩ Lí trọng khanh trong luận Thập dị cửu mê. Ở cuối quyển có phụ thêm thư của soạn giả gởi quan Thượng thư Hữu bộc xạ Thái quốc công.
biện chơn luận
Tattvasandeśā-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
biện chủ vấn
(辨主問) Cũng gọi Thiên tịch vấn. Một trong Phần dương thập bát vấn. Chủ, chỉ bậc thầy. Người học vì muốn thử bậc thầy mà đưa ra lời chất vấn, gọi là Biện chủ vấn. Thiền sư Thiện chiêu đời Tống, thuộc tông Lâm tế, ở Phần dương, đem những câu hỏi do người học đặt ra với bậc thầy chia làm 18 loại, mà trong Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Trong đó, loại thứ năm gọi là Thiên tịch vấn. Thiên, hàm ý là lệch hẳn về một bên; Tịch, có nghĩa gấp rút, khẩn cấp. Người học lập kiến giải một bên, vội vã chất vấn thầy để thử nghiệm thầy, gọi là Thiên tịch vấn. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. (xt. Phần Dương Thập Bát Vấn).
biện chứng
To prove—To argue.
biện cơ
(辯機) Vị tăng đời Đường. Sư dáng người to lớn, quắc thước, thủa nhỏ đã có hoài bão cao thượng, là đệ tử của ngài Đạo nhạc ở chùa Đại tổng trì tại Trường an. Khi ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về, đem về hơn 600 bộ kinh chữ Phạm. Lúc dịch kinh ở chùa Hoằng phúc tại Trường an, trong dịch trường (viện dịch kinh) có 12 người chứng nghĩa am hiểu kinh luận Đại thừa Tiểu thừa, chín người nhuận sắc (trau chuốt câu văn), một người xem lại các chữ, một người chứng Phạm ngữ và nhiều người ghi chép. Sư Biện cơ là một trong chín người nhuận sắc, bộ Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang cũng chính do sư ghi chép và nhuận sắc mà thành. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.6; Đại đường tây vực kí Q.12].
biện giải
Kathavatthu (P)Thuyết sự, Luận sựMột tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng, gồm 23 phẩm, 217 bài luận. Sách này tương truyền do chính tay Mục Kiền Liên Đế Tu, làm thượng thủ trong kỳ kiết tập kinh điển tại thành Hoa thị, năm 250BC, do vua A Dục triệu tập.
; To explain.
Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận
(辯顯密二敎論, Bengemmitsunikyōron): 2 quyển, do Không Hải soạn, là bộ luận thư tuyên ngôn lập tông, làm sáng tỏ sự phân biệt giữa Hiển Giáo và Mật Giáo, nêu lên điển cứ của 6 bộ kinh và 3 bộ luận, rồi dàn luận trận ngang dọc. Sáu bộ kinh gồm: (1) Ngũ Bí Mật Kinh (五秘密經), (2) Du Kỳ Kinh (瑜祇經), (3) Lược Thuật Kim Cang Du Già Phân Biệt Thánh Vị Tu Chứng Pháp Môn (略術金剛瑜伽分別聖位修証法門), (4) Đại Nhật Kinh (大日經), (5) Lăng Già Kinh (楞伽經), (6) Tam Quyển Giáo Vương Kinh (三巻敎王經). Ba bộ luận là: (1) Bồ Đề Tâm Luận (菩提心論), (2) Đại Trí Độ Luận (大智度論), (3) Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論). Ngoài ra còn có một số kinh điển khác được trích dẫn như Lục Ba La Mật Kinh (六波羅蜜經), Thủ Hộ Kinh (守護經), v.v. Về niên đại thành lập luận thư này, có một vào thuyết khác nhau. (1) Vào năm 813 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 4), nhân dịp Trai Hội trong cung nội, chư tôn thạc đức của 8 tông phái hoạt động mạnh mẽ, nên tác phẩm này ra đời như là động cơ để xác lập tông phái mình. (2) Có thuyết cho là tác phẩm này hình thành vào năm 815 (niên hiệu Hoằng Nhân thứ 6), đồng thời với bộ Tánh Linh Tập (性靈集), v.v. Như vậy chúng ta có thể tưởng tượng được luận thư này ra đời trong khoảng thời gian này. Một số sách chú thích về bộ luận này gồm Huyền Kính Sao (懸鏡鈔, 6 quyển) của Tế Xiêm (濟暹), Cương Yếu Sao (綱要鈔, 2 quyển) của Tĩnh Biến (靜遍), Thính Văn Sao (聽聞鈔) của Giác Noan (覺鑁), Thủ Kính Sao (手鏡鈔, 3 quyển) của Đạo Phạm (道範), Chỉ Quang Sao (指光鈔, 5 quyển) của Lại Du (賴瑜), v.v.
biện hương
Nhang có hình múi giống như những múi dưa—Incense with sections resembling a melon.
; (瓣香) Hình dáng những mẩu hương vụn giống như những hạt dưa châu lại một chỗ trong quả dưa, nên gọi là Biện hương. Ý nói một nén hương. Cũng gọi Nhất biện hương, Hương nhất biện.
biện hộ
To defend—To plead.
biện luận
See Biện (1).
biện lý
Attorney.
biện minh
To explain.
biện minh luận
Bemmeiron (J).
biện nguỵ lục
(辯僞錄) Gồm 5 quyển. Ngài Tường mại soạn vào đời Nguyên. Cũng gọi Chí nguyên biện ngụy lục. Thu vào Đại chính tạng tập 52. Năm Chí nguyên 28 (1291), ngài Tường mại vâng sắc lệnh của vua soạn bộ lục này để bác bỏ ngụy thuyết của Đạo giáo. Nguyên nhân là năm Bảo hựu thứ ba đời vua Lí tông nhà Nam tống (năm Hiến tông thứ 5, 1255 đời Nguyên), thủ lãnh của phái Toàn chân là Khâu xứ cơ cùng với bọn Lí chí thường cưỡng chiếm 842 ngôi chùa viện, phá hủy tượng Phật, tháp báu, biến các chùa viện thành đạo quán, truyền bá ngụy kinh Lão tử hóa hồ và 81 bức tranh hóa của Lão tử, hành động này đã đưa đến việc tranh luận gay gắt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Năm Chí nguyên 28 (1291), vua Thế tổ nhà Nguyên ra lệnh cho Phật giáo và Đạo giáo biện luận về điều thật giả của kinh điển Đạo gia, sau đó đem đốt hết sách của Đạo giáo ngoại trừ Đạo đức kinh và sai ngài Tường mại soạn bộ Biện ngụy lục này. Nửa trước của bộ lục này gồm 14 thiên bài bác thuyết của Đạo gia và Đạo giáo; nửa sau của bộ lục ghi rõ nguồn gốc sự tranh đấu giữa Phật giáo và Đạo giáo từ trước và sau thời kì triều Nguyên định quốc hiệu (1271) và kèm thêm các văn hiến hữu quan.
biện pháp
Measure
biện phát
(辮發) Bím tóc. Phạm: zikhà-jaỉà. Cũng gọi Thi ca phát. Bất động minh vương trong Mật giáo xủ một bím tóc xuống bên vai trái, biểu thị tướng hèn hạ của kẻ tôi đòi. Nhưng theo nghĩa sâu kín thì bím tóc này biểu thị Đệ nhất nghĩa đế, hoặc là nghĩa coi hết thảy chúng sinh đều bình đẳng mà rủ lòng từ bi. Kinh Để lí tam muội da quyển thượng (Đại 21, 15 thượng), nói: Xủ một bím tóc xuống bên trái nghĩa là rủ lòng từ bi thương nhớ chúng sinh chịu nhiều khổ não trong đường ác. [X. Hi lân âm nghĩa Q.5].
biện sự
Sắp xếp công việc—To transact affairs—To attend to—To arrange.
; (辦事) Gọi chung các chức sự trong thiền viện như: người trông coi các phòng tăng, người trông coi nhà dưỡng bệnh, tiếp khách, làm vườn, bửa củi, gánh nước, bếp núc, gặt hái v.v... đều gọi là Biện sự. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4 Liệt chức tạp vụ điều; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].
biện sự chân ngôn
(辦事真言) Cũng gọi Thành biện chư sự chân ngôn. Là bài chú được tụng khi làm các pháp sự trong Mật giáo, như dựng đàn tràng, sửa soạn các vật dâng cúng v.v... để mong hoàn thành công việc. Đây là chân ngôn của Biện sự minh vương. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 621 trung), nói: Ba thời trong ngày, tụng biện sự chân ngôn 108 biến, gia trì chiếc bình này rồi sau mới làm các việc khác. Cũng sớ ấy quyển 5 còn nói (Đại 39, 630 trung): Biện sự chân ngôn diệt trừ các nạn khi đặt các vật cúng dường.
biện sự minh vương
(辦事明王) Trong Mật giáo, vị Minh vương giúp việc cho đức Như lai, gọi là Biện sự minh vương. Đại nhật kinh sớ quyển 5 nói, Bất động minh vương là người hầu hạ để đức Như lai sai làm mọi việc. Lại theo sự khác biệt giữa ba bộ, năm bộ mà Biện sự minh vương cũng khác nhau, như Kim cương bộ lấy Kim cương quân đồ lợi làm Biện sự minh vương, Phật bộ lấy Bất động minh vương làm Biện sự minh vương.
biện thể
(辨體) Tức nói rõ cái ý cốt tủy trong một bộ kinh. Là một trong Ngũ trùng huyền nghĩa (năm lớp nghĩa sâu kín) do ngài Thiên thai Trí khải đặt ra. Khi giải thích các kinh, ngài Trí khải đặt ra năm pháp giải nghĩa gọi là Ngũ trùng huyền nghĩa: Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng và Phán giáo. Như ứng dụng phương pháp Ngũ trùng huyền nghĩa vào việc giải thích kinh Pháp hoa, khi đến trùng Biện thể, thì ngài Trí khải giải thích rõ rằng, thể màu nhiệm (ý cốt tủy) của kinh Pháp hoa là Thực tướng trung đạo, vì thế, lấy thực tướng làm thể mầu nhiệm của toàn bộ kinh. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa).
biện trung biên luận
Madhyāntavibhaga-bhāsya (S), Benchubenron (J).
; Màdhyànta-vibhànga-sàstra (S). Treatise on the Discriminating between the middle and the extremes. Also Trung biên phân biệt luận.
; (辯中邊論) Phạm: Madhyànta-vibhàga-ỉìkà. Gồm ba quyển. Cũng gọi Li tịch chương trung luận. Bồ tát Thế thân soạn, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Bộ luận này là sách chú thích bộ Biện trung biên luận tụng của ngài Di lặc, giải rõ chính hạnh trung đạo của Đại thừa. Nội dung bộ luận được chia làm 7 phẩm: Biện tướng, Biện chướng, Biện chân thực, Biện tu đối trị, Biện tu phận vị, Biện đắc quả và Biện vô thượng thừa. Ngoài ra, còn có bản dịch là Trung biên phân biệt luận 2 quyển do ngài Chân đế đời Trần dịch. Vì hai bản dịch này truyền thừa khác nhau, nên khi giải thích về pháp tướng cũng có chỗ bất đồng. Trong tạng kinh Tây tạng, ngoài Thích luận (luận chú thích) của bồ tát Thế thân và nguyên tác Biện trung biên luận tụng của bồ tát Di lặc ra, còn có Thích luận của ngài An tuệ và Biện trung biên luận. Về các sách chú thích bằng Hán văn thì có: Biện trung biên luận thuật kí 3 quyển của ngài Khuy cơ, Trung biên phân biệt luận sớ 4 quyển (hiện nay chỉ còn quyển 3) của ngài Nguyên hiểu v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.8; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần đầu; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
biện trung biên luận thuật kí
(辯中邊論述記) Gồm ba quyển. Cũng gọi Biện trung biên luận sớ, ngài Khuy cơ đời Đường soạn, thu vào đại chính tạng tập 44. Bản thuật kí này là sách chú thích luận Biện trung biên do ngài Huyền trang dịch và là bản chú thích duy nhất còn đến nay. Luận Biện trung biên còn một bản dịch nữa là Trung biên phân biệt luận của ngài Chân đế và sách chú thích luận này. Trung biên phân biệt luận sớ 4 quyển (chỉ còn quyển ba) do ngài Nguyên hiểu người Tân la soạn. Bản sớ của ngài Nguyên hiểu và bản thuật kí này của ngài Khuy cơ là những tư liệu không thể thiếu trong việc nghiên cứu luận Biện trung biên hoặc luận Trung biên phân biệt. Lúc soạn bộ thuật kí này, ngài Khuy cơ đã từng đối chiếu với ba bản tiếng Phạm, rồi so sánh rất cẩn thận với bản dịch của ngài Chân đế.
biện trung biên luận tụng
Madhyānta-vibhaga-kānkā (S).
; (辯中邊論頌) Phạm: Madhyànta-vibhàga-kàrikà. Có 1 quyển. Cũng gọi Biện trung biên tụng, Trung biên phân biệt tụng, Trung biên tụng. Bồ tát Di lặc soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung gồm 7 phẩm, 113 bài tụng. Theo Biện trung biên luận thuật kí thì 7 phẩm ấy là: Biện tướng phẩm, Biện chướng phẩm, Biện chân thực phẩm, Biện tu đối trị phẩm, Biện tu phận vị phẩm, Biện đắc quả phẩm và Biện vô thượng thừa phẩm. Luận tụng này có bản chú thích của bồ tát Thế thân và có hai bản dịch, một của ngài Chân đế, một của ngài Huyền trang. Đối với bộ Thích luận của bồ tát Thế thân, ngài An tuệ có chú giải thêm, nay chỉ còn những đoạn tiếng Phạm rời rạc, chỉ có bản dịch Tây tạng là hoàn toàn cả nguyên bản. Ở Trung quốc, sách chú giải Thích luận của bồ tát Thế thân thì có Trung biên phân biệt luận sớ 3 quyển của ngài Chân đế, Trung biên phân biệt luận sớ 4 quyển của ngài Nguyên hiểu và Biện trung biên luận thuật kí 3 quyển của ngài Khuy cơ v.v..., nhưng bộ luận sớ của ngài Chân đế đã thất truyền.
Biện Trường
(辨長, Benchō, 1162-1238): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời kỳ Liêm Thương, trú trì đời thứ 2 của Thanh Tịnh Hoa Viện (清淨華院), Tổ khai sơn Thiện Đạo Tự (善導寺), Tổ của Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Biện Trường (辨長), thông xưng là Trấn Tây Thượng Nhân (鎭西上人), Khủng Tử Thượng Nhân (筑紫上人), Thiện Đạo Tự Thượng Nhân (善導寺上人), Nhị Tổ Thượng Nhân (二祖上人); hiệu là Thánh Quang Phòng (聖光房), Biện A (辨阿), thụy hiệu là Đại Thiệu Chánh Tông Quốc Sư (大紹正宗國師); xuất thân vùng Hương Nguyệt (香月), Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]); con của Cổ Xuyên Đàn Chánh Tả Vệ Môn Tắc Mậu (古川彈正左衛門則茂). Ông theo thọ pháp với Thường Tịch (常寂) ở Minh Tinh Tự (明星寺) vùng Trúc Tiền, rồi học giáo học Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 1193, ông bôn ba tận lực tái kiến ngôi tháp 3 tầng ở đây. Rồi đến năm 1197, ông lên kinh đô Kyoto để đặt làm tượng thờ cho ngôi tháp này, nhờ vậy ông gặp Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên), được vị này khai hóa và từ đó ông chuyển sang pháp môn Niệm Phật. Đến năm 1204, ông trở về cố hương; rồi vào năm 1228, ông chuyên tu pháp môn Biệt Thời Niệm Phật (別時念佛) ở Vãng Sanh Viện (徃生院) vùng Phì Hậu (肥後, Higo), viết cuốn Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn (末代念佛授手印) và lập nên huyết mạch của Tịnh Độ Tông. Về sau, ông đi bố giáo khắp các địa phương vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū); lấy Thiện Đạo Tự ở vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo) làm đạo tràng căn bản để tạo cơ sở phát triển. Trước tác của ông để lại cho hậu thế có Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn 1 quyển, Tịnh Độ Tông Yếu Tập (淨土宗要集) 6 quyển, Triệt Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (徹選擇本願念佛集) 2 quyển, Niệm Phật Danh Nghĩa Tập (念佛名義集) 3 quyển, v.v.
biện trường
(辨長) (1162 - 1238) Vị tăng Nhật bản. Tự Biện A, hiệu Thánh Quang Phòng. Cũng gọi Nhị tổ thượng nhân, Trấn tây thượng nhân, Trúc tử thượng nhân. Vua ban thụy hiệu Đại thiệu chính tông quốc sư, là vị tổ dòng Trấn tây, tông Tịnh độ Nhật bản. Ngài là người Trúc tiền huyện Phúc cương. Lúc đầu ngài học tông Thiên thai ở núi Tỉ duệ, sau thờ tổ Pháp nhiên làm thầy, quay sang nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh độ. Sau ngài trở về quê cũ, làm chùa ở nhiều nơi như chùa Thiện đạo v.v... để hoằng dương pháp môn niệm Phật, số người qui y lên tới hơn hai nghìn. Ngài tịch vào niên hiệu Lịch nhân năm đầu, thọ 77 tuổi. Trứ tác có: Tịnh độ tông yếu 6 quyển, Danh mục vấn đáp 3 quyển.
biện tài
Eloquence.
; Citrakathi (p)—Vaco-patu (skt)—Nói năng hay thuyết pháp lưu loát tài giỏi, một trong tứ vô ngại biện tài—Eloquent—Skilled in speech—Ability to discuss, argue or debate, one of the four unobstructed eloquences. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại.
; (辯才) Tài biện luận giỏi. Nói tắt là Biện. Tức là khả năng nói các pháp nghĩa một cách khéo léo trôi chảy. Phật và Bồ tát trong nhiều kiếp, nhờ công đức trang nghiêm khẩu nghiệp mà có đủ các loại Biện tài, như Tứ vô ngại biện, Thất biện, Bát biện, Cửu biện v.v...Tứ vô ngại biện gồm: Pháp vô ngại biện (biện luận về pháp trôi chảy không vấp váp), Nghĩa vô ngại biện (biện luận về nghĩa trôi chảy), Từ vô ngại biện (biện luận về lời trôi chảy), Biện vô ngại biện (biện luận về chính cái tài biện luận cũng trôi chảy). Tứ vô ngại biện còn được gọi là Tứ vô ngại giải, Tứ vô ngại trí, nghĩa là trí hiểu biết được tự tại không vấp váp trong khi biện luận. Và trong Tứ vô ngại biện thì Biện vô ngại biện đặc biệt được xem là Trí tự tại vô ngại, biện thuyết chính xác. Phân tích về Biện vô ngại biện thì có bảy thứ: 1. Tiệp tật biện (Biện luận nhanh chóng), nghĩa là giảng nói hết thẩy các pháp một cách trôi chảy không vấp váp (Vô ngại tự tại). 2. Lợi biện (biện luận lưu loát), nghĩa là thâm nhập thông suốt các pháp. 3. Bất tận biện (biện luận không hết), nghĩa là giảng nói thực tướng của các pháp, lời nói không cùng tận. 4. Bất khả đoạn biện (biện luận không thể dứt), nghĩa là giảng nói thao thao, không một nạn vấn nào cắt ngang được. 5. Tùy ứng biện (biện luận theo yêu cầu), nghĩa là tùy yêu cầu của mọi người mà nói pháp. 6. Nghĩa biện (biện luận về nghĩa), tức là có khả năng nói về các sự ích lợi đạt đến niết bàn. 7. Nhất thiết thế gian tối thượng biện (Biện luận về pháp cao hơn hết trong thế gian), nghĩa là có khả năng nói Đại thừa là pháp tột bậc trong thế gian. Bảy biện kể trên hoặc còn gọi là Tiệp biện, Tấn biện, Ứng biện, Vô sơ mậu biện (biện luận không sơ suất lầm lẫn), Vô đoạn tận biện, Phàm sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện (bất cứ diễn nói pháp nào ý vị cũng rất phong phú), Nhất thiết thế gian tối thượng diệu biện. Bát biện: chỉ cho tài biện luận có tám đặc điểm như sau: không lắp bắp, nói rõ ràng, không sợ hãi, không kiêu căng, nói đủ nghĩa, nói đủ ý vị, lời nói không vụng về khúc mắc, tùy theo lúc mà biện luận. Cửu biện: chỉ cho tài biện luận có chín đặc điểm sau đây: vô trước, vô tận, tương tục, bất đoạn, bất khiếp nhược, bất kinh bố, bất cộng, thiên nhân sở trọng (được trời và người kính trọng), vô biên biện tài v.v... [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.8; kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.55].
biện tài thiên
Sarasvati-devī (S)Diệu âm thiên, Mỹ âm thiên, Tát la tát phạt để, Ta la thất phạt đểThần Địa giới trong kinh Vệ đà. Xem Thiên nữ Biện tài.
; Một trong những chư Thiên trong họ Càn Thát Bà—One of the devas, of the gandharva order—See Biện Tài Thiên Nữ in Vietnamese-English Section, and Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (辯才天) Trời Biện tài. Phạm: Sarasvatì-devì. Là thần nữ Văn nghệ của Ấn độ giáo và của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa. Dịch âm: Tát ra tát phạt để, Sa la thất phạt để. Cũng gọi Đại biện thiên, Đại biện tài thiên nữ, Đại biện tài công đức thiên, Đại thánh biện tài thiên thần, Diệu âm thiên, Mĩ âm thiên. Gọi tắt là Biện thiên. Trong Lê câu phệ đà, Biện tài thiên là tên một con sông, là tên của vị thần sông, hay trừ sự nhớp nhúa của người, ban cho người sự giàu có, con cháu và lòng dũng cảm. Trong Phạm thư và Ma ha bà la đa, Biện tài thiên là nữ thần ngữ ngôn, tri thức, sau là vợ (hoặc con gái) của Phạm thiên. Cứ theo truyền thuyết, thần này là người đặt ra mẫu tự tiếng Phạm và thể Thiên thành (Deva-nàgari), là người trông coi về thi ca, âm nhạc và là người bảo hộ nghệ thuật và khoa học, cuối cùng trở thành vị nữ thần trí tuệ và hùng biện. Có khi thần nữ này cũng được coi là vợ của thần Visnu, cùng với Cát tường thiên được tin thờ khắp mọi nơi. Sau khi Biện tài thiên được Phật giáo thu dụng, thần này bèn thành là người thủ hộ thụ trì kinh Kim quang minh. Cứ theo kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 7 phẩm Đại biện tài thiên nữ chép, Biện Tài Thiên (Thai Tạng Giới Mạn Đồ La) thì thần này có tám tay, các tay cầm những thứ vũ khí như: cung, tên, dao, dáo, búa, chày, vòng sắt, vòng lụa v.v...Trong viện Ngoại kim cương bộ trên Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo, có tượng vẽ Biện tài thiên đang gảy đàn tì bà. Đàn tì bà là tượng trưng cho thần Biện tài thiên. Chủng tử là (su), hình tam muội da là đàn tì bà, chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm tát ra sa phạ để duệ sa ha. Tượng thần Biện tài thiên mà hiện nay tín đồ Ấn độ giáo thờ cúng là tượng cỡi chim nhạn (Phạm:haôsa), có bốn tay, tay thứ nhất bên phải cầm hoa, tay thứ hai cầm quyển sách tiếng Phạm, tay trái thứ nhất cầm vòng hoa của trời Đại tự tại, tay thứ hai cầm quả trống nhỏ. Ngoài ra, còn có tượng vẽ vị nữ thần này được Phạm thiên bồng trong tay, hoặc cỡi chim khổng tước (chim công), gảy đàn tì bà, phía trước có người hầu cầm cờ. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9 phẩm Quảng đại giải thoát mạn noa la; kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên, Q.4 phẩm Mật ấn; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10, Q.14; Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ Q.5].
biện tài thiên nữ
Sarasvati (skt)—Thiên nữ có tài đại biện và âm nhạc—Goddess of speech (eloquence), learning, and music.
biện tài trí tuệ
Eloquent-wisdom.
biện tài vô ngại
Ready-wit.
; Bồ Tát có thể thuyết nói không ngăn ngại hay ngằn mé—Bodhisattva's Power of unhindered discourse (perfect freedom of speech or debate)—See Tứ Vô Ngại.
biện tích bồ tát
Pratibhānakuta (S)Trí Tích Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (辯積菩薩) Biện tích, Phạm: Pratibhàna-kùỉa, dịch âm: Bát la để bà na câu tra. Cũng gọi Trí tích Bồ tát. Một trong 16 vị tôn trong kiếp Hiền. Là vị thứ tư trong bốn vị tôn ở phía bắc trên đàn vuông của viện Ngoài trong các hội: Tam muội da, Vi tế, Cúng dường trong mạn đồ la Kim cương giới. Vị Bồ tát này chủ về Trí đoạn của Như lai giáo hóa chúng sinh. Mật hiệu là Xảo biện Kim cương, Định tuệ kim cương. Chủng tử là (vi) hoặc (va) . Hình tam muội da là Hoa vân. Thân tượng màu xanh nhạt hoặc mầu da trắng. Trong hội Vi tế, tay phải vị Bồ tát này cầm Hoa sen trên có hoa vân, tay trái nắm lại chống vào cạnh sườn, ngồi xếp bằng trên hoa sen. Trong hội Cúng dường thì cả hai tay đều cầm hoa sen, trên hoa sen cũng có hoa vân. Chân ngôn là: Án bát la để bà na câu tra dã sa phạ hạ lam. Phổ thông, vị Bồ tát này được coi như cùng tôn vị với bồ tát Văn thù hoặc bồ tát Vô tận ý. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Kim cương giới thất tập Q.hạ].
biện tông luận
(辯宗論) Có một quyển, do Tạ linh vận đời Lưu Tống soạn. Thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 18 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung bàn về vấn đề thế nào là chân lí cùng tột và về phương pháp đạt đến chân lí ấy, đồng thời, thu chép những vấn đáp luận nạn với các vị Pháp úc, Tăng duy, Tuệ lân, Pháp cương, Tuệ lâm, Vương hoằng v.v... Tạ linh vận cho rằng cái lí mà bậc Thánh nhân Trung quốc thể nhập được và cái lí do bậc Thánh nhân Ấn độ thể nhập được là giống nhau, đối lại với sự tu hành có tính giai đoạn trong Phật giáo, Tạ linh vận chủ trương thánh nhân Trung quốc trong khoảng sát na có thể ngộ được chân lí. Thuyết đốn ngộ này của Tạ linh vận tuy thừa kế thuyết của ngài Đạo sinh, nhưng ông phủ định sự tu hành theo sự tướng mà chủ trương quay trở về với tính xưa nay vốn trong sạch của chính mình. Bối cảnh luận thuyết của ông hàm có tư tưởng Đạo gia.
biện tướng
(辯相) Vị tăng đời Tùy, năm sinh năm mất không rõ. Sư người Doanh châu tỉnh Hà bắc, họ Sử, thờ ngài Tuệ viễn (523 - 592) ở chùa Thiếu lâm làm thầy, nghiên cứu Thập địa kinh luận, hiểu sâu kinh Niết bàn. Năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Văn đế, sư theo thầy vào kinh đô Trường an làm chùa Tịnh ảnh và ở đó hoằng pháp. Về sau, vua Tùy Dạng đế mở đạo tràng tại Lạc dương, triệu thỉnh các bậc cao tăng giảng đạo, trong số đó có sư. Đến đời Đường, sư trụ trì chùa Thắng quang, rất được các vua Cao tổ và Thái tông nể trọng. Đầu năm Trinh quán sư tịch, thọ hơn 70 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.12].
biện viên
Be'en (J)Viên Nhĩ Biện ViênTên một vị sư.
biện vô ngại giải
(辯無礙解) Phạm: prati-bhàna-pratisaôvid. Một trong bốn vô ngại giải. Cũng gọi Biện vô ngại trí, Biện vô ngại biện, Nhạo thuyết vô ngại biện. Nghĩa là trí hiểu biết và tài biện luận của Phật, Bồ tát, tùy theo căn cơ chúng sinh mà nói pháp một cách khéo léo và pháp các ngài nói khế hợp với chính lí không bị trở ngại. Lại đối với pháp, nghĩa, lời v.v... trí Phật đều thông suốt, Phật vì chúng sinh muốn nói thì nói, muốn ngưng thì ngưng, đều được tự tại, không bị trở ngại, cho nên gọi là Nhạo thuyết vô ngại biện. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) Q.15; luận Câu xá Q.27; luận Đại trí độ Q.25]. (xt. Tứ Vô Ngại Giải).
biện ý trưởng giả tử sở vấn kinh
Prati-bhāna-mati-paripṛccha (S)Biện ý trưởng giả tử kinhTên một bộ kinh.
; (辯意長者子所問經) Phạm: Pratibhàna-mati-paripfcchà. Có một quyển. Ngài Pháp tràng dịch vào đời Bắc Ngụy. Cũng gọi Biện ý trưởng giả tử kinh, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kể rõ việc đức Phật đáp lời hỏi của con ông trưởng giả Biện ý mà nói nghĩa chủ yếu của 10 việc: sinh lên cõi trời, sinh vào cõi người, rơi xuống địa ngục, đọa loài quỉ đói v.v... Mỗi việc lại có năm nhân duyên. Sau khi nghe pháp nghĩa của 50 việc ấy, con ông trưởng giả Biện ý vui mừng sung sướng, được mắt pháp trong sạch.
biện đạo
Bendō (J).
; Thực hành giáo pháp hay giới luật trong đạo—To carry out religious duty or discipline.
; (辦道) Hoàn thành sự nghiệp tu đạo. Vào đầu đời Đường, trong Thiền tông chưa có danh từ Biện đạo, mãi đến giữa đời Đường, sau khi năm tông và hai chi phái hình thành thì danh từ này mới được sử dụng rộng rãi. Pháp ngữ của Quốc sư Đại đạt Vô nghiệp trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 444 hạ), nói: Lại mưu đồ cái gì ? các huynh đệ chỉ vì tham dục thành tính, nên bị 25 cõi trói buộc, không có hy vọng thành biện. Hai chữ Thành biện ở đây hàm ý là hoàn thành đạo nghiệp. Tại Nhật bản, tông Tào động vì coi trọng tinh thần tham thiền thực tiễn chỉ quán đả tọa, nên danh từ Biện đạo phần nhiều chỉ cho công phu ngồi thiền. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6 Thị giả tiến thoái điều; Thiền lâm tượng khí tiên Tham thỉnh môn].
biện đạo pháp
Bendōhō (J), Bendōwa (J).
Biện Đạo Thoại
Biện Đạo Thoại (辨道話, Bendōwa): 1 quyển, do Đạo Nguyên (道元, Dōgen) soạn, gọi đủ là Chánh Pháp Nhãn Tạng Biện Đạo Thoại (正法眼藏辨道話), là thư tịch nêu rõ hình thức được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca trở về sau như thế nào, và chỉ rõ con đường tham nhập vào biển Phật pháp ấy. Thiên Thị Chúng (示眾, Dạy Chúng) vào ngày 15 tháng 8 năm thứ 3 (1231) niên hiệu Khoan Hỷ (寛喜). Dị bản có bản Biện Đạo Thoại của Chánh Pháp Tự (正法寺); bản chính được xem như là cảo bản. Nội dung của bản chính được chia làm được chia làm 2 đoạn trước sau. Đoạn trước nói về Phật pháp vốn được truyền thừa đúng đắn từ thời đức Thích Ca, chính bản thân Đạo Nguyên sẽ truyền thừa vào Nhật trong tương lai sau khi hoàn thành xong sứ mạng cầu pháp bên nhà Tống. Chính vì vậy, phần này khẳng định rõ rằng con đường để thâm nhập vào Phật pháp ấy chỉ có Tọa Thiền là đúng đắn thôi. Đoạn sau thì nương vào cương lĩnh của đoạn đầu, lấy hình thức chất vấn ứng đáp, mà nói rõ về lý thú của đoạn đầu. Có thể nói rằng đây là bức thư tuyên ngôn về việc lập giáo truyền đạo của Đạo Nguyên. Nó được thâu tập vào trong Nhật Bản Cổ Điển Văn Học Đại Hệ (日本古典文學大系) 81, Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 12, Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Thượng, Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書).
Biệt
別; C: bié; J: betsu; |1. Phân biệt, phân tích. Sự phân biệt (s: vikalpa); 2. Tách ra, bị chia ra, bị lìa ra; Cái khác, đặc biệt, riêng lẻ, trường hợp ngoại hạng, khác, đặc điểm; 4. Dạy hoặc thuyết giảng riêng.
biệt
Separate, divide, part from; other, different, diferentiate, special.
; 1) Khác Biệt: Separate—Diferent—Differentiate—Part from. 2) Đặc Biệt: Special.
Biệt Am Tánh Thống
(別庵[菴]性統, Betsuan Shōtō, khoảng hậu bán thế kỷ 17): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Biệt Am (別庵[菴]), xuất thân An Nhạc (安岳), Đồng Xuyên (潼川, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Long (龍). Năm lên 11 tuổi, gặp lúc thân phụ qua đời, ông phát tâm theo xuất gia với Tam Sơn Đăng Lai (三山燈來), rồi theo học với Hựu Sơn Tánh Chứng (又山性証)—pháp từ của Tam Sơn. Sau khi thọ Cụ Túc giới, ông đến tham vấn Hành Sơn Đăng Bỉnh (衡山燈炳), rồi cuối cùng trở về đắc pháp của Tam Sơn. Đến năm thứ 24 (1685) niên hiệu Khang Hy (康熙), gặp lúc thầy qua đời, ông kế thế ngôi vị trú trì, lãnh đạo đồ chúng. Năm sau, ông ngao du các vùng Giang Triết (江浙), Gia Hòa (嘉禾), Kính Sơn (徑山), rồi dừng chân trú tại Thiên Đồng (天童), Phổ Đà (普陀) và đến năm thứ 28 cùng niên hiệu trên, ông kiêm nhiệm trú trì Vĩnh Thọ Tự (永壽寺) ở Đông Viên (東園), Võ Lâm (武林). Vào năm thứ 30 (1691) niên hiệu Khang Hy, ông trước tác bộ Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統), 42 quyển. Hoằng Tú (弘秀), người chuyên trách về các thư trạng, đã thâu tập những ngữ cú, cơ duyên của chư vị đồng môn để biên tập thành bộ Phổ Đà Biệt Am Thiền Sư Đồng Môn Lục (普陀別菴禪師同門錄) 3 quyển.
Biệt báo
別報; C: biébào; J: beppō; |Nghiệp báo đặc biệt, cũng được viết là Mãn nghiệp (滿業). Có liên quan đến những hành động dẫn đến những nghiệp báo khác nhau giữa chúng sinh, ví như sinh trong gia đình nghèo hoặc giàu, đẹp hoặc xấu… Biệt báo tương phản với Tổng báo (總報), là những kết quả tổng quát hơn của nghiệp như sinh trong cõi nào, là loài chúng sinh gì…. Cũng gần giống như ý nghĩa của Y báo (衣報, theo Nhị chướng nghĩa).
biệt báo
Differentiated rewards according to previous deeds.
; Quả báo do nghiệp riêng của mỗi người có khác nhau. Biệt báo tùy thuộc vào những hành động đời trước. Sự khác biệt của con người trong đời nầy là hậu quả của những đời trước—Differentiated rewards according to previous deeds. The differing conditions of people in this life resulting from their previous lives.
Biệt báo nghiệp
別報; C: biébàoyè; J: beppōgyō; |Biệt báo (別報).
Biệt báo nghiệp 別報業
[ja] ベツホウゴウ beppōgyō ||| See 別報 above. => Xem Biệt báo 別報.
Biệt báo 別報
[ja] ベッポウ beppō ||| Distinct karmic reward; also written 滿業. Activity--referring to relatively quickly actualized karma which generates more detailed difference between beings, such as the distinction in being born as rich or poor, beautiful or ugly, etc. This is as contrasted with more generalized karmic results, such as the species in which one is born, etc., called 總報. Also similar in meaning to 衣報. 〔二障義HPC 1.795b〕 => Quả báo riêng biệt; còn viết là Mãn nghiệp. sự vận hành liên quan đến hiện nghiệp phát sinh tương đối nhanh thành nhiều chi tiết khác nhau giữa các loài chúng sinh, như sự khác nhau của người sinh ra được giàu có và người nghèo, đẹp và xấu... Điều này khác xa với quả báo chung, như chủng tộc người được sinh ra... , gọi là Tổng báo總報. Còn có nghĩa tương tự là Y báo衣報.
biệt bạng tự
(別蚌寺) Chùa Biệt bạng. Tạng: Hêbras-spuđs. Chùa ở cách Thủ đô Lhasa của Tây tạng độ 6 km về phía tây. Cũng gọi Triết bạng tự là chùa của phái Mũ vàng thuộc Lạt ma giáo, chùa có nhiều quyền lực và đông tăng lữ nhất trong các chùa Lạt ma. Chùa này được kiến trúc theo kiểu chùa Tường cốc tích (Phạm: Zrì-Dhaìnyakaỉa-ka) lừng danh của Mật giáo Ấn độ. (hêbrasspuđs là tiếng Tây tạng dịch từ chữ Phạmdhànya-kaỉaka, hàm ý là nơi chứa nhiều thóc lúa và những điều tốt lành). Chùa này cùng với chùa Cam đan và chùa Sắc lạp là ba chùa lớn ở Thủ đô Tây tạng. Khoảng năm 1417 Tây lịch, đệ tử ngài Tôngkhách ba là Giáp dưỡng Khúc cát (Tạng: Hêjam-dbyaís Chos-rje, 1379- 1448 ) vâng lệnh của thầy mà xây dựng chùa này. Các đức Đạt lai lạt ma đời thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều đóng ở đây và cho cất cung Cam đan trong khuôn viên chùa để nắm hết quyền chính trị và tôn giáo ở Tây tạng. Trong chùa vốn có bảy đại Trát thương (Tăng viện), nhưng sau thu gọn còn bốn đại Trát thương là: Lạc sắc lâm, Quả mãng, Đức dương và Ngạc ba. Những vị tăng ở Lhasa học kinh phần đông vào ở trong Quả mãng trát thương của chùa này. Ở giữa chùa có nhà điện Hoàng kim, lúc hưng thịnh các sư tụ họp chung quanh điện đến bảy nghìn vị trở lên. Hài cốt của bốn đời Đạt lai an tán trong tháp gần đấy. [X. Mông cổ Phật giáo (G. Huth: Geschichte des Buddhismus in der Mongolei, 1893 - 1896); L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet on Lamaism, 1895; Mông Tạng Phật giáo sử (Diệu chu); Thế giới Phật giáo thông sử tập thượng (Thánh nghiêm)].
biệt chúng
Duskrta (skt)—Vì một tội lỗi hay hành động xấu xa phạm phải mà một vị Tăng bị biệt chúng—A monk is to separate oneself in religious duties from his fellow monks for his offence or wickedness.
Biệt cảnh
別境; C: bié jìng; J: bekkyō; S: vibhāvanā.|Chỉ những tâm ý, hoặc các trạng thái tâm thức xuất hiện tuỳ theo những đối tượng hoặc điều kiện mà tâm đang hướng đến. Một chức năng đặc biệt của tâm thức, không tất nhiên phải hiện hành trong bất cứ trạng thái tâm thức nào mà thay vào đó, xuất hiện tuỳ theo Tâm vương nào đang hiện hành. Một tâm trạng có chức năng phán định những đối tượng đặc biệt. Sự bổ sung của những Biến hành (遍行) tâm sở. Theo Pháp tướng tông thì nhóm này thuộc về loại Tâm sở (心所). Biệt cảnh tâm sở bao gồm năm: Dục (欲); Thắng giải (勝解); Niệm (念); Định (定); và Huệ (慧).
biệt cảnh
Different realms, regions, states, or conditions.
; Các cảnh giới riêng biệt khác nhau, cũng là biệt cảnh tâm sở (tâm sở của những cảnh riêng biệt)—Different realms, regions, states or conditions.
; (別境) Một trong các pháp tâm sở do tông Pháp tướng lập ra. Chỉ hoạt động tâm lí do cảnh giới riêng biệt dẫn khởi. Đối lại với Biến hành. Gồm năm biệt cảnh: dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. [X. luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa bách pháp minh môn luận giải]. (xt. Ngũ Biệt Cảnh).
Biệt cảnh tâm sở
別境心所; C: biéjìng xīnsuǒ; J: bekkyō shinsho; |Biệt cảnh (別境).
biệt cảnh tâm sở
Vibhàvanà (S). The ideas or mental states, which arises according to the various objects or conditions toward which the mind is directed, e.g.if toward a pleasing object, then desire arises.
; Vibhavana (skt)—Từ dùng đối lại với “Biến Hành Tâm Sở”—Ý tưởng hay tình trạng tâm thần khởi lên do những đối tượng hay điều kiện khác nhau mà tâm được hướng về, chứ tâm sở không tự dấy lên với tất cả các cảnh (nếu tâm hướng về một đối tượng lý thú thì dục vọng khởi lên)—The ideas or mental states, which arise according to the various objects or conditions toward which the mind is directed (if toward a pleasing object, then desire arises).
Biệt cảnh tâm sở 別境心所
[ja] ベッキョウシンショ bekkyō shinsho ||| See 別境. => Xem Biệt cảnh別境.
Biệt cảnh 別境
[ja] ベッキョウ bekkyō ||| (vibhāvanā): the ideas, or mental states which arise according to the various objects or conditions toward which the mind is directed. A special mental function that does not necessarily arise through all minds but rather accords to the 'mind-king' only in special situations--a mental function that judges special objects. The complement of the 'pervasively functioning' (bianxing 遍行) elements. According to the Faxiang 法相 sect, this group of elements falls under the general category of 'mental function' (心所) elements. 別境 includes five elements, which are desire (欲), verification (勝解), recollection (念), meditation (定) and wisdom (慧). => (s: vibhāvanā) Là ý tưởng, hay tâm hành sinh khởi tùy theo nhiều đối tượng hoặc nhân duyên mà tâm thức hướng đến. Một loại Tâm sở hữu pháp đặc biệt sinh khởi không nhất thiết thông qua các thức mà chỉ tùy thuộc vào "Tâm vương" trong những hoàn cảnh đặc biệt là loại tâm sở hữu pháp chỉ ghi nhận những đối tượng đặc biệt. Là phần bổ sung cho Tâm sở biến hành. Theo Pháp tướng tông, nhóm phần tử nầy rơi vào phạm trù chung "Tâm sở". Biệt cảnh bao gồm 5 thành phần, đó là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
biệt di
(別异) Riêng khác. Từ ngữ Biệt dị thường được dùng trong các kinh điển, nhưng nguyên ngữ tiếng Phạm,Pàli thì có nhiều nghĩa: 1. Phạm: nànàtva, hoặc pfthaktva, hoặcprabheda,chỉ cho mỗi sự vật khác nhau. 2. Phạm: paryàya-vacana, chỉ những cái khác, như tên gọi khác. 3. Paìli: àgatàgamo pabhinnapaỉisambhido, chỉ cho các loại các dạng (hình thức), như những lời giải thích dưới dạng chương, đoạn, câu khác nhau. 4. Phạm:viparyaya, là nghĩa và ý trái ngược nhau. 5. Trong Nhân minh: ngôn ngữ và pháp được thành lập mang ý nghĩa không giống nhau, cũng gọi là dị biệt. [X. kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng; luận Câu xá Q.30; luận Kim thất thập Q.thượng].
biệt giáo
Biệt giáo của trường phái Hoa Nghiêm và Liên Hoa dựa vào Nhất thừa hay Phật thừa. Liên Hoa Tông quyết đoán rằng Tam Thừa kỳ thật chỉ là Nhất Thừa, trong khi Hoa Nghiêm Tông lại cho rằng Nhất Thừa khác với Tam Thừa, vì thế Liên Hoa Tông được gọi là “Đồng Giáo Nhất Thừa,” trong khi đó thì Tông Hoa Nghiêm được gọi là Biệt Giáo Nhất Thừa—The different teaching of the Avatamsaka sect and Lotus sect is founded on One Vehicle, the Buddha Vehicle. The Lotus school asserts that the Three Vehicles are really the One Vehicle, the Hua-Yen school that the One Vehicle differs from the Three Vehicles; hence the Lotus school is called the Unitary, while the Hua-Yen school is the Differentiating school.
; (別教) I. Biệt giáo. Một trong bốn giáo hóa pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập. Biệt giáo tuyên nói ý chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v... Riêng đối với hàng Bồ tát, Biệt giáo nói hằng sa lí Tục đế, như dùng đạo chủng trí dứt trừ ba hoặc trần sa, kiến tư, vô minh (Kiến tư , vô minh thuộc ngoài ba cõi), tu các hạnh ba la mật tự hành hóa tha (tu cho mình hóa độ người khác), lập các ngôi Tam hiền, Thập thánh, lấy định vị như kim cương của đạo vô ngại làm nhân, lấy bốn đức Niết bàn (thường lạc ngã tịnh) của đạo giải thoát làm quả. Giáo này không làm lợi ích chung cho hai thừa Thanh văn, Duyên giác, mà chỉ làm lợi ích riêng cho hàng Bồ tát, vì thế gọi là Biệt giáo (giáo pháp riêng biệt). Lại vì nó không chung với hai thừa nên gọi là Bất cộng giáo (giáo pháp không chung). Trong bốn giáo hóa pháp, Biệt giáo là sự giáo thuộc ngoài ba cõi, cho nên tuy rõ thực tướng Trung đạo, nhưng lí Đãn trung không viên dung tương tức, mà cần phải theo thứ lớp tu ba quán Không Giả Trung, theo thứ lớp chiếu lí ba đế, thứ lớp qua 52 giai vị, thứ lớp phá ba hoặc kiến tư, trần sa và vô minh, để thứ tự được ba trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới, Q.2 phần dưới đến Q.5;Tứ niệm xứ Q.3, Q.4; Tứ giáo nghĩa Q.2, Q.3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Thiên thai bát giáo đại ý; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng huyết Q.6 phần 4]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo). II. Biệt giáo. Từ gọi tắt của Biệt giáo nhất thừa do tông Hoa nghiêm thiết lập. Giáo nghĩa Nhất thừa của Hoa nghiêm khác biệt với căn cơ tam thừa, mà chỉ thích hợp với căn cơ Đại thừa viên đốn, vì thế nên gọi là Biệt giáo nhất thừa. (xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).
Biệt giáo nhất thừa
別教一乘; C: biéjiāo yīshèng; J: bekkyō-ichijō;|Giáo lí của Nhất thừa, khác với giáo lí được dạy theo thuyết Tam thừa. Đây là giáo lí của kinh Hoa Nghiêm.
Biệt giáo nhất thừa 別教一乘
[ja] ベッキョウイチジョウ bekkyō-ichijō ||| The Single Vehicle teaching that is distinct from the three vehicle teaching. This is a teaching of the Huayan jing. => Giáo lý Nhất thừa, khác biệt hẳn với giáo lý Tam thừa. Đây là giáo lý trong Kinh Hoa Nghiêm.
biệt giáo thuyết thính tứ cú
(別教說聽四句) Bốn câu nói nghe của Biệt giáo. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3, sự nói pháp và nghe pháp của Biệt giáo có thể phối hợp thành bốn câu: 1. Chỉ nói không nghe, nghĩa là chúng sinh toàn ở trong tâm chư Phật, Quả môn thu nhiếp hết thảy pháp không sót, cho nên giáo pháp được nói ra, chỉ có Phật hiển hiện, gọi là chỉ nói không nghe (chỉ có người nói, không có người nghe). 2. Chỉ nghe không nói, nghĩa là Phật toàn ở trong tâm chúng sinh, Nhân môn thu nhiếp hết thảy pháp không sót, cho nên giáo pháp nói ra là tự hiện trong tâm chúng sinh, gọi là chỉ nghe không nói (chỉ có người nghe, không có người nói). 3. Nói, nghe đều hiện hữu, nghĩa là chúng sinh và Phật đều hiện diện, nhân quả dung hợp nhau, Phật nói pháp trong tâm chúng sinh, chúng sinh nghe pháp trong tâm Phật, gọi là nói nghe đều hiện hữu. 4. Nói, nghe đều dứt bặt, nghĩa là chúng sinh toàn ở Phật, thì giống Phật chứ chẳng phải chúng sinh; Phật toàn ở chúng sinh, thì giống chúng sinh chứ chẳng phải Phật. Hai hình tướng thu hút nhau, hai địa vị dung hợp nhau, thì chúng sinh trong tâm Phật không nghe, Phật trong tâm chúng sinh không nói, nên gọi là nói nghe đều dứt bặt.
biệt giáo vô lượng tứ đế
(別教無量四諦) Trong bốn giáo hóa pháp do tông Thiên thai phán lập, Biệt giáo là giáo pháp dành riêng cho hàng Bồ tát, khác với Tạng giáo, Thông giáo là các giáo pháp ba thừa cùng tu. Hơn nữa, hành tướng của các pháp môn do Biệt giáo nói là tu hành theo thứ lớp: điều này cũng khác với Viên giáo là giáo viên dung tất cả. Chúng sinh do Bồ tát giáo hóa đã là vô lượng, thì pháp môn được các Ngài dùng để giáo hóa cũng là vô lượng, gọi là Vô lượng tứ đế, tức là: 1. Khổ đế, nghĩa là Bồ tát Biệt giáo xét kĩ các nỗi khổ sống chết của chúng sinh trong mười cõi, vì quả báo khác nhau nên có vô lượng tướng: đó là khổ có vô lượng tướng. 2. Tập đế, nghĩa là Bồ tát Biệt giáo xét kĩ phiền não năm trụ của chúng sinh trong mười cõi đều không giống nhau, do phiền não mà chiêu tập nỗi khổ sống chết, đó là tập có vô lượng tướng. 3. Diệt đế, nghĩa là Bồ tát Biệt giáo xét kĩ hạnh sáu độ có thể chứng lí Niết bàn tịch diệt. Vì các hạnh ba la mật mỗi mỗi khác nhau, nên diệt cũng có vô lượng tướng. 4. Đạo đế, nghĩa là Bồ tát Biệt giáo xét kĩ chúng sinh trong mười cõi nhiều vô lượng, thì các pháp môn lợi mình lợi người mà Bồ tát Biệt giáo dùng cũng có hằng hà sa số, không thể tính đếm được: đó là đạo có vô lượng tướng.
Biệt giáo 別教
[ja] ベッキョウ bekkyō ||| (1)/(2) {T'ien-t'ai meaning--return to this Nakamura 1207}. (3) The 'separate teaching of the Single Vehicle. Transcendent aspect of the single vehicle, that completely transcends the three- vehicle view. This teaching is eventually encompassed in the 'same teaching of the Single Vehicle' 同教一乘. This teaching is elucidated in the Huayan jing. => 1/2. {Nghĩa của tông Thiên thai- Nakamura 1207}. 3. Giáo lý riêng của Nhất thừa. Khía cạnh siêu việt của Nhất thừa, hoàn toàn siêu việt cả ba thừa- Quan niệm về các thừa. Giáo lý nầy bao hàm rốt ráo trong Đồng giáo nhất thừa同教一乘. Giáo lý nầy được giải thích trong kinh Hoa Nghiêm (c: Huayan jing).
biệt giải biệt hành
(別解別行) Hiểu khác làm khác. Chỉ cho sự hiểu và tu hành khác với điều mình làm theo. Như tông Tịnh độ lập ra hai môn: Tịnh độ môn và Thánh đạo môn, trong đó môn Tịnh độ coi trọng việc tu hành cầu tha lực. Bởi thế, nếu đứng trên lập trường của môn Tịnh độ mà nói thì Thánh đạo đặt nặng việc tự lực tu hành, tức là Biệt giải biệt hành. Ngoài ra cũng có thể chỉ cho người cùng trong môn Tịnh độ, nhưng lòng tin sai khác mà có tình chấp tự lực là Biệt giải biệt hành. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
Biệt giải thoát
xem Ba-la-đề-mộc-xoa.
; 別解脱; C: biéjiětuō; J: betsugedatsu;|Hán dịch ý chữ prātimokṣa trong Phạn ngữ. Dịch âm là Ba-la-đề Mộc-xoa (波羅提木叉).
biệt giải thoát giới
Prātimokṣa-saṃvara (S).
; Pràtimoksa (S). Disciplinary code, code of monk's rules. Also Giới bản, Ba la đề mộc xoa.
; Giới giúp chư Phật tử giải thoát bằng cách tránh làm các điều ác—Commandments which help Buddhists liberate by avoidance of evil.
biệt giải thoát kinh
(別解脫經) Tức là Giới bản. Vì trong giới bản nói Biệt giải thoát luật nghi, cho nên gọi là Biệt giải thoát kinh. (xt. Giới Bản).
biệt giải thoát luật nghi
(別解脫律儀) Phạm: pràtimokwa-saôvara. Pàli: pàtimokkha-saôvara.Là giới luật mà bảy chúng nhận giữ để lần lượt xả bỏ các điều ác do bảy chi miệng và thân gây ra. Cũng gọi Ba la đề mộc xoa luật nghi, Y biệt giải thoát giới, Biệt giải thoát giới, Biệt giải thoát pháp, Biệt giải thoát điều phục, Hộ tòng giải thoát, Giới luật nghi, Luật nghi giới, Mộc xoa giới, là một trong ba loại luật nghi. Đối lại với Tĩnh lự luật nghi, Vô lậu luật nghi. Là giới thể phát sinh khi thụ giới ở cõi Dục, vì vậy gọi là Dục triền giới (giới trói buộc ở cõi Dục), thuộc về giới hữu lậu. Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển thượng (Đại 24, 525 thượng) nói: Gọi Biệt giải thoát là do nương theo kinh Biệt giải thoát mà tu hành, dần dần dứt hết các phẩm dưới trong chín phẩm phiền não, vĩnh viễn không trở lui; vì giải thoát các phiền não nên được gọi là Biệt giải thoát. Lại nữa, phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc có nhiều loại, trong đó, cứ tu hành xả bỏ riêng từng phẩm một, gọi là Biệt giải thoát. Luật nghi này có tám thứ: Bật sô luật nghi, Bật sô ni luật nghi, Chính học luật nghi, Cần sách luật nghi, Cần sách nữ luật nghi, Cận sự luật nghi, Cận sự nữ luật nghi, Cận trụ luật nghi v.v... Những luật nghi này cũng chính là những giới mà bảy chúng nhận giữ, bao gồm giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni, 10 giới của sa di, sa di ni, 6 pháp của thức xoa ma na, 5 giới của ưu bà tắc, ưu bà di, 8 giới trai của ô ba bà sa. Tám thứ luật nghi kể ở trên, ngoại trừ 8 giới trai của cận trụ nam, nữ chỉ nhận giữ một ngày đêm, bảy thứ còn lại phải nhận giữ trọn đời. [X. Trung a hàm Q.33 kinh Thích vấn; luận Đại tì bà sa Q.119, Q.120, Q.122; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.14; luận Thành thực Q.8 phẩm Thất thiện luật nghi; luận Đại trí độ Q.22; luận Du già sư địa Q.40 luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới, Ba La Đề Mộc Xoa).
Biệt giải thoát 別解脱
[ja] ベツゲダツ betsugedatsu ||| Chinese translation of the Sanskrit prātimokṣa; see 波羅提木叉. => Tiếng Hán dịch từ chữ prātimokṣa của tiếng Sanskrit. Xem Ba-la-đề-mộc-xoa波羅提木叉.
biệt giải tứ loại thập như thị
(別解四類十如是) Giải thích riêng biệt bốn loại Thập như thị. Nghĩa là từ bốn phương diện (bốn chủng loại lớn) của thập pháp giới, Phật giới, Li hợp, Vị thứ v.v... mà phân biệt giải thích thực tướng các pháp đều có đủ 10 thứ như thị. Đây là thuyết do ngài Trí khải tông Thiên thai lập ra. Kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm phương tiện có nêu ra mười thứ Như thị để hiển bày nghĩa thực tướng của các pháp, gọi là Thập như thị. Nhưng trong kinh chưa giải nói rõ chi tiết Thập như thị là thế nào. Vấn đề này sau cũng có nhiều nhà giải thích, trong đó, các ngài Pháp dao đời Lưu Tống, Huyền sướng đời Tiêu Tề và Pháp vân đời Lương là trọng yếu hơn cả. Tuy nhiên ngài Trí khải cho rằng những điều mà các vị nêu trên giảng giải vẫn chưa đầy đủ, nên ngài mới soạn bộ Pháp hoa văn cú, trong đó ngài chia làm bốn loại lớn để giải thích lại về Thập pháp giới, Phật giới v.v..., gọi là Biệt giải tứ loại. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 3 phần dưới, thì bốn loại Thập như thị được giải thích như sau : I. Thập pháp giới: tất cả các loài chúng sinh trong mười pháp giới được rút lại thành bốn loại; mỗi loại đều có mười như thị khác nhau: 1. Mười như thị chung cho bốn ngả ác: Địa ngục, quỷ đói, súc sinh, Tu la... a. Chúng sinh trong bốn ngả ác rơi vào chỗ bất như ý, thường ở trong chỗ tướng ác và chỗ không vừa ý, khổ tướng này là Như thị tướng (tướng như thế đó) của bốn ngả ác. b. Loại chúng sinh này thường có đủ các thói quen xấu ác, dường như sinh ra đã thành rồi, không thay đổi được, đó là Như thị tính. c. Sắc, tâm thô lỗ xấu ác của chúng sinh này khó có thể điều phục, đó là Như thị thể. d. Chúng sinh trong địa ngục thường chịu nỗi khổ núi dao nhọn, vạc dầu sôi; chúng sinh quỉ đói thường chịu nỗi khổ nuốt viên sắt nóng, lớn ăn bé, khỏe hiếp yếu, rắn, cá cắn lẫn nhau, hoặc kéo xe chở nặng, tất cả đều bởi nghiệp lực mang lại, đó là Như thị lực. đ. Thân, miệng, ý của chúng sinh thường hay tạo tác các nghiệp ác, đó là Như thị tác. e. Các nghiệp ác hữu lậu mà chúng sinh đã tạo tác là nguyên nhân khiến chúng sinh phải chịu quả báo ác; đó là Như thị nhân. g. Các phiền não yêu đương, đắm đuối v.v... trở thành trợ nhân giúp thêm cho việc hình thành nghiệp ác hữu lậu, đó là Như thị duyên. h. Chúng sinh đa dâm chịu thân địa ngục, thấy các loại khổ cụ (dụng cụ tra tấn) lại cho đó là cảnh dâm dục mà khởi tâm yêu đương đắm đuối, đó là Như thị quả. i. Chúng sinh nhiều tham muốn đã rơi vào địa ngục, vào cảnh dâm dục như vừa nói ở đoạn trên, chịu quả báo như nằm giường sắt, ôm cột đồng, đó là Như thị báo. k. Những điều được trình bày trên đây, lấy Như thị tướng làm gốc, Như thị báo làm ngọn, chín Như thị đều là lí mầu nhiệm cuả thực tướng ba đế, tất cả đều không khác mười Như thị của Phật giới, đó là Như thị bản mạt cứu kính đẳng. 2. Mười Như thị chung cho cả hai ngả thiện người và trời a. So với đường ác thì tướng của người trời tự nhiên thanh khiết tốt đẹp hơn, đó là Như thị tướng. b. Những pháp lành mà họ làm ra thuộc tính thiện, đó là Như thị tính. c. Sắc, tâm của họ có thể gọi là yên vui ổn đáng, đó là Như thị thể. d. Họ giữ được năm giới, làm mười điều thiện, đáng được nhận làm pháp khí, đó là Như thị lực. đ. Tất cả hành vi tạo tác của họ có thể dùng để ngăn điều ác làm điều thiện, đó là như thị tác. e. Nghiệp lành như năm giới, mười thiện mà họ giữ gìn và thực hành là những nhân tố mang lại quả báo thiện ở đời sau, đó là Như thị nhân. g. Đã lấy nghiệp thiện làm nhân, lại lấy ái, thủ của tính thiện làm trợ nhân, giúp thêm cho việc hình thành nghiệp thiện, đó là Như thị duyên. h. Họ có thể nhậm vận tự tại mà sinh tâm thiện, đó là như thị quả. i. Nhờ nghiệp thiện cảm được, tự nhiên hưởng thụ sự yên vui của người, trời, đó là Như thị báo. Theo đó có thể biết tướng như thị, tính như thị v.v... của hết thảy người, trời đều là thực tướng, đó là Như thị bản mạt cứu kính đẳng. 3. Mười như thị chung cho hai thừa Thanh văn, Duyên giác. a. Hai thừa đã xa lìa sống chết, chứng được Niết bàn, đó là Như thị tướng. b. Đã thoát khỏi được trói buộc của chướng phiền não, cho nên được tính vô lậu, đó là Như thị tính. Lậu là tên khác của phiền não. c. Có đủ năm phần pháp thân hữu vi vô lậu, đó là Như thị thể. d. Hay chiết phục phiền não, là bậc có đạo đức cao, có thể ra khỏi ba cõi, đó là Như thị lực. đ. Vì muốn đạt đến Niết bàn mà tinh tiến siêng tu 37 phẩm trợ đạo, đó là Như thị tác. e. Có đủ chính trí vô lậu, đó là Như thị nhân. g. Có các duyên lành làm trợ nhân giúp cho đạo nghiệp thêm lớn, đó là như thị duyên. h. Nhờ những nhân lành duyên lành ấy mà tu thành bốn quả sa môn, đó là Như thị quả. i. Nhờ duyên lành, nghiệp lành mà xa lìa phần đoạn sinh tử trong ba cõi, cảm được Biến dịch sinh tử ngoài ba cõi, đó là Như thị báo. k. Cứ theo đó có thể biết, tướng như thị, tính như thị v.v... của tất cả hai thừa đều là thực tướng, đó là Như thị bản mạt cứu kính đẳng. 4. Mười như thị chung cho Bồ tát và Phật giới. a. Bồ đề sẵn đủ của các ngài là Duyên nhân mở tỏ chính tính, giúp cho việc thành phật, đó là Như thị tướng. b. Trí tuệ các ngài là Liễu nhân soi rõ lí và trí, hiển phát pháp thân, đó là Như thị tính.c. Lí thể các ngài vốn đầy đủ, không nhờ tu hành, lí thể ấy là Chính nhân thành tựu quả Phật, đó là Như thị thể. d. Có đủ vô lượng bốn thệ nguyện rộng lớn, đó là Như thị lực. đ. Dùng vô lượng sáu độ muôn hạnh hóa độ chúng sinh, đó là Như thị tác. e. Lấy trí tuệ trang nghiêm không thể nghĩ bàn làm nghiệp nhân cho quả báo vị lai, đó là Như thị nhân. g. Lấy các thứ phúc đức trang nghiêm làm trợ duyên giúp cho đạo nghiệp thêm lớn, đó là Như thị duyên. h. Nhờ nghiệp nhân, trợ duyên mà chứng được quả bồ đề, đó là Như thị quả. i. Chứng vào giải thoát rốt ráo, được đại Niết bàn, đó là Như thị báo. k. Căn cứ vào đó mà biết tướng như thị, tính như thị, thể như thị v.v... của Bồ tát và Phật đều là thực tướng, đó là Như thị bản mạt cứu kính đẳng. II. Phật giới mười như thị: 1. Như thị tướng: chỉ cho muôn điều thiện mà chư Phật đã làm, các điều thiện này cũng chính là Duyên nhân trong ba nhân Phật tính. 2. Như thị tính: chỉ cho trí tuệ nội chiếu (soi bên trong) chứa trong tính Phật; trí tuệ này cũng tức là Liễu nhân trong ba nhân Phật tính. 3. Như thị thể: chỉ cho lí thể của chư Phật trong mười phương tức là tâm tự tính trong sạch. Lí thể này cũng tức là Chính nhân trong ba nhân Phật tính. 4. Như thị lực: chỉ cho thiện căn từ bi của tâm bồ đề mà chư Phật đã có đủ. 5. Như thị tác: chỉ cho lực dụng hiển hiện một cách tự nhiên không cần tạo tác trong sự nhậm vận tự tại của chư Phật. 6. Như thị nhân: tất cả những hạnh chư Phật đã tu ở các kiếp trước đều trở thành nghiệp nhân hiện tại. 7. Như thị duyên: hết thảy thiện duyên đều trở thành trợ duyên giúp cho đạo bồ đề của chư Phật thêm lớn. 8. Như thị quả: chỉ cho quả Diệu giác nhờ vô lượng kiếp quá khứ tu hành chân thực mà đạt được. 9. Như thị báo: chỉ cho đại niết bàn chư Phật đã chứng được. 10. Như thị bản mạt cứu kính đẳng: trong chín thứ như thị nói ở trên, từ Phật tướng phi bản phi mạt (chẳng phải gốc chẳng phải ngọn) cho đến Phật báo là phép Quyền (phép tạm thời) do chư Phật tự làm, còn cứu kính đẳng phi đẳng phi bất đẳng (chẳng phải bằng nhau chẳng phải chẳng bằng nhau) là phép Thực (phép chân thực) của chư Phật tự làm; như vậy là quyền thực tương tức, bình đẳng không hai, đó là Như thị bản mạt cứu kính đẳng của chư Phật. III. Li hợp. Chẳng hạn như đem pháp Quyền và Thực do Phật tự làm và giáo hoá người khác mà bàn về thực tướng các pháp thì: 1. Nếu đứng về phương diện theo ý mình mà nói, thì Thập giới, Thập như được quán chiếu trong tâm Phật đều là tướng vô thượng, tính vô thượng đến quả báo vô thượng; đó tức là Thập như thị của pháp giới Phật duy nhất; giống như biển cả có thể chứa nước trăm sông, cũng tức là Quyền, Thực tự làm. 2. Nếu đứng về phương diện theo ý người khác mà nói, thì có Thập như thị của chín giới, đó tức là Quyền, Thực giáo hóa người khác. 3. Nếu đứng về phương diện theo mình, người mà nói, thì trong Quyền tự mình làm gồm có Thực, trong Thực giáo hóa người khác gồm có Quyền. Bởi thế nên biết, nếu đứng trên quan điểm li hợp mà giải thích rõ chân nghĩa của thực tướng các pháp, thì Thập như thị, nếu mở rộng ra (li) là vô lượng thập như, còn nếu gộp lại (hợp) thì là thập như duy nhất. Tuy nhiên, cái lí này chẳng phải dùng trí lực tầm thường của người ta mà hiểu biết được, chỉ có Phật mới biết được một cách cùng tột. IV. Theo thứ tự tu hành. Dùng Thập như để hiển bày quá trình tu hành hướng thượng: 1. Như thị tướng: tất cả chúng sinh đều có thực tướng bản lai, tức là tướng mạo của Như lai tạng. 2. Như thị tính: chỉ cho trí tuệ tính đức. 3. Như thị thể: là lí của ba đức pháp tính trung đạo, lí này thông cả mười giới. Ba thứ Tướng, Tính, Thể nói trên đây, theo thứ tự là ba nhân của tính đức (là đức không nhờ tu hành mà khi sinh ra đã có rồi), cũng tức Duyên nhân, Liễu nhân, Chính nhân của ba nhân Phật tính, tương đương với Lí tức kiêm Danh tự tức. 4. Như thị lực, Như thị tác, là nghiên cứu và tu hành ba đức về tính cụ mà vào ngôi Thập tín Tương tự tức. 5. Như thị nhân, Như thị duyên, là vào 41 ngôi từ Sơ trụ trở lên. 6. Như thị quả, Như thị báo, chỉ cho sự tu hành đến quả vị Phật địa. Lực và tác, nhân và duyên, quả và báo nói ở trên, là ba nhân tu đức (đức nhờ tu hành mà được). 7. Như thị bản mạt cứu kính đẳng, lấy ba đức tính cụ làm gốc (bản), lấy ba đức do tu hành mà hiển bày làm ngọn (mạt), từ đầu đến cuối đều gọi là ba đức, đó là cứu kính đẳng. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 3 phần trên nói, thì Thập như cùng nghĩa với Lục cảnh: Thập nhị nhân duyên,Tứ đế, Tam đế, Nhị đế, Nhất đế,Vô đế, chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng ra hay gộp chung lại mà thôi. Chẳng hạn như bàn về sự mở rộng ra và gộp chung lại của Thập như và Tứ đế thì: Khổ đế, Tập đế của Tạng giáo, Thông giáo là Thập như của sáu đường, tức khổ là Như thị thể, Như thị quả, Như thị Báo; Tập là như thị tướng, Như thị tính, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên. Diệt đế, Đạo đế là Thập như của Nhị thừa, Bồ tát giới; tức Diệt là như thị thể, Như thị quả, Như thị báo; Đạo là Như thị tướng, Như thị tính, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên. Còn Khổ đế, Tập đế của Biệt giáo, Viên giáo là Thập như của Biến dịch sinh tử ngoài ba cõi của Tứ thánh; tức Khổ là Như thị thể, Như thị quả, Như thị báo; Tập là Như thị tướng, Như thị tính, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên; Diệt đế, Đạo đế là Thập như của Niết bàn, tức Diệt là pháp thân thường trụ Như thị thể, Như thị quả, Như thị báo; Đạo là bát nhã giải thoát Như thị tướng, Như thị tính, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên. Lại cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5 phần dưới nói, thì Thập như cùng nghĩa với tam quĩ (ba phép tắc) đó là: 1. Như thị thể nếu là chủ chất thì tức là Chân tính quĩ. 2. Như thị tính nương bên trong, Như thị lực là Liễu nhân, Như thị nhân là Tập nhân, Như thị quả là Tập quả. Bốn thứ trên đây là Quán chiếu quĩ. 3. Như thị tướng nương bên ngoài, Như thị tác là siêng tu muôn hạnh, Như thị duyên là báo nhân, Như thị báo là Báo quả. Bốn thứ trên đây là Tư thành quĩ. 4. Như thị bản mạt cứu kính đẳng nếu đứng về phương diện không mà nói thì là quán chiếu quĩ; đứng về phương diện giả mà nói thì là Tư thành quĩ; Còn đứng về phương diện Trung mà nói thì là Chân tính quĩ. Ngoài ra cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 phần trên nói, thì Thập như thị trong kinh Pháp hoa có ba cách đọc quay chuyển như sau: 1. Thị tướng như, Thị tính như, cho đến Thị báo như, chuyển làm nghĩa tức không trong ba đế. 2. Như thị tướng, Như thị tính, cho đến Như thị báo, chuyển thành nghĩa tức giả. 3. Tướng như thị, Tính như thị, cho đến Báo như thị, chuyển làm nghĩa tức trung. [X. luận Pháp hoa Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.3; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 phần trên]. (xt. Thập Như Thị, Thông Giải Thập Như Thị).
biệt giản ngũ vị
(別揀五位) Cũng gọi Biệt thời chi giản. Biệt giản nghĩa là phân biệt lựa chọn, tức hàm ý đem những tư tưởng và học thuyết mà các bậc tiền bối đã phân biệt rõ chính, tà rồi lựa chọn lại một lần nữa. Ngài Động sơn Lương giới - tổ khai sáng tông Tào động của Trung quốc đời Đường - có soạn tập sách nhan đề Ngũ vị hiển quyết. Sau đệ tử của ngài là Thiền sư Tào sơn Bản tịch tuyển chọn, phân biệt, giải thích để nêu rõ lí chính của thuyết Ngũ vị, nên gọi là Biệt giản ngũ vị. Nội dung của nó được chép trong Động thượng vân nguyệt lục quyển thượng, và trong Trùng biên Tào động ngũ vị quyển thượng v.v... (xt. Động Sơn Ngũ Vị Hiển Quyết).
biệt hiệu
(別號) Hiệu riêng. Là tên hiệu bày tỏ đức hạnh hoặc phong cách của người. Cũng gọi Biệt xưng. Tức ngoài tên thật ra, người ta tặng cho mình một tên hiệu để nêu rõ đức hạnh hoặc phong cách của mình. Thích thị thông giám quyển 5 (Vạn tục 131, 421 hạ), nói: Pháp sư Chế trung ngoại vô xích tên là Huệ ước, biệt hiệu là Trí giả, biệt hiệu của sa môn cũng bắt đầu có từ đó.
biệt hoặc
See Biệt Kiến.
; (別惑) Hoặc (phiền não) riêng. Đối lại với Thông hoặc (hoặc chung). Chỉ cho Trần sa hoặc và Vô minh hoặc trong ba hoặc. Đây là những hoặc mà Bồ tát Biệt giáo phải dứt trừ, nên gọi là Biệt hoặc. Trong khi giáo hóa chúng sinh, lẽ ra Bồ tát phải thông suốt vô lượng vô số pháp môn nhiều như bụi cát (trần sa), nhưng vì tâm tính mờ tối, không thể thông suốt hết vô số pháp môn như bụi cát này để có thể giáo hóa một cách tự tại, vẫn còn chướng hóa đạo (cản trở việc giáo hóa truyền đạo), cho nên gọi là Trần sa hoặc. Còn vô minh hoặc là hoặc làm mê mất lí thể căn bản mà che lấp lí Trung đạo thực tướng. Dứt trừ được Biệt hoặc này thì có thể thành Phật. [X. luận Đại trí độ Q.27; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.3 phần dưới; Ma ha chỉ quán Q.6]. (xt. Tam Hoặc).
biệt hành
(別行) I. Biệt hành, lưu hành riêng. Từ một bộ kinh lớn trích lấy một phần để làm thành một quyển kinh độc lập lưu hành ở đời, gọi là Biệt hành. Như phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đã được lấy ra làm kinh Quan âm độc lập để lưu hành riêng. II. Biệt hành, tu hành đặc biệt. Đối lại với Bình thường hành. Nghĩa là sự tu hành đặc biệt có ấn định thời gian, như khi nhập thất.
biệt hướng viên tu
Y theo sự phân tích tứ giáo của tông Thiên Thai, những đức hạnh tu hành từ địa vị Biệt Giáo Bồ Tát cho đến Thập Hồi Hướng, sự lý hòa dung, dần dần xứng đáng với đức tính của viên giáo—Based exactly on the analyses of the T'ien-T'ai sect, the Separatist or Differentiating School, is the cultivation of the Perfect School. When the Bodhisattva reaches the stage of the transference of merit, he has reached the stage of cultivation of the perfect nature and observance according to the Perfect School.
; (別向圓修) Cũng gọi Thập hướng viên tu. Tông Thiên thai nói, Bồ tát Biệt giáo ở ngôi vị Thập hồi hướng tu trọn đủ (viên tu) ba quán Không, Giả,Trung. Đến giai vị Thập hồi hướng, hạnh đức của Bồ tát Biệt giáo đã viên dung sự lí, dần dần có đủ tính đức của Viên giáo, nên gọi là Biệt hướng viên tu. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (hội bản) Q.6 đoạn 4].
Biệt hạnh
別行; C: biéxíng; J: betsugyō;|Sai biệt chính hạnh (差別正行; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt hạnh 別行
[ja] ベツギョウ betsugyō ||| See 差別正行. 〔二障義 HPC 1.804a〕 => Xem Sai biệt chính hạnh 差別正行.
biệt kiến
Biệt hoặc hay ảo ảnh khởi sanh sự phân biệt, cho những hiện tượng là thật. Những biệt kiến nầy được các vị Bồ Tát từ từ loại bỏ trong sơ địa Bồ Tát—Unenlightened or heterodox views—Delusion arising from differentiation, mistaking the seeming for the real. These delusions are gradually eradicated by the Bodhisattva during his first stage—See Tà kiến.
biệt kiếp
Antara-kalpas (skt)—Small or intermediate kalpas.
Biệt kí
別記; C: biéjì; J: bekki; K: pyǒlgi.|Viết tắt của Đại thừa khởi tín luận biệt kí (大乘起信論別記).
Biệt Ký 別記
[ja] ベッキ Bekki ||| The Pyŏlgi; an abbreviated reference to the Taesŭng kisillon pyŏlgi 大乘起信論別記. (k: Pyŏlgi) => Tên gọi tắt của Đại Thừa Khởi Tín Luận Biệt Ký大乘起信論別記.
biệt ly
Separated.
biệt lí tuỳ duyên
(別理隨緣) Là thuyết duyên khởi của Biệt giáo thuộc tông Thiên thai do ngài Tri lễ đời Bắc Tống ở núi Tứ minh thành lập. Cũng gọi Đãn lí tùy duyên, Nhất lí tùy duyên. Nghĩa căn bản của Biệt giáo là giáo thuyết ba đế (Không, Giả, Trung) theo thứ tự, cho nên khi bàn về Duyên khởi, Biệt giáo chủ trương nguồn gốc của duyên khởi là lí chân như bình đẳng, vượt ra ngoài những hiện tượng, nghĩa là những hiện tượng sai biệt do vô minh tạo ra, chứ không phải đã có sẵn trong lí chân như. Tức lí chân như của Biệt giáo là trung đạo đế trong ba đế, đã xa lìa hai bên Không, Giả. Chân như bình đẳng của Biệt giáo vượt ngoài các hiện tượng sai biệt, là lí cách biệt, nên gọi là Biệt lí; lí này là lí thiên đãn (chỉ lệch về một bên) nên gọi là Đãn lí; trái với hiện tượng sai biệt, lí này là thuần nhất, nên gọi là nhất lí. Đây là đặc trưng của thuyết Duyên khởi của Biệt giáo.Nghĩa chân như tùy duyên vốn đã được thuyết minh trong luận Đại thừa Khởi tín, khi ngài Hiền thủ của tông Hoa nghiêm chú sớ luận Khởi tín mới lấy chân như tùy duyên này làm giới hạn của ba giáo Tiệm, Đốn, Viên trong năm giáo của tông mình, lấy chân như không tùy duyên làm thủy giáo, lấy sự tùy duyên và không tùy duyên của chân như mà phán Quyền giáo, Thực giáo của Đại thừa. Người đã đem thuyết Duyên khởi ứng dụng vào Thiên thai giáo là ngài Trạm nhiên ở Kinh khê, vị tổ thứ 6 của tông Thiên thai. Ngài Trạm nhiên dựa theo thuyết bất biến tùy duyên trong luận Khởi tín mà phán quyết sự khu biệt tùy duyên giữa Biệt giáo và Viên giáo. Về sau, các nhà học giả Thiên thai ứng dụng khuynh hướng luận Khởi tín ngày càng thịnh, nhưng họ không biết sự sai khác giữa Biệt giáo tùy duyên và Viên giáo tùy duyên, mà đều xem cùng là Viên giáo. Nhưng ngài Tứ minh Tri lễ đã từ thuyết Duyên khởi, nói rõ sự sai khác giữa Biệt giáo và Viên giáo, đặc biệt gọi những điều mà Biệt giáo bàn đến là Biệt giáo tùy duyên. Còn đối với chân như của Viên giáo, tính nó vốn đủ các pháp và tạo ra hết thảy pháp, thì gọi là Lí cụ tùy duyên. [X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2, Q.3].
Biệt môn
別門; C: biémén; J: betsumon;|Đến với sự việt bằng một cách khác biệt; một cách nhìn Phật pháp khác biệt, v.v… thường được một tông phái riêng biệt đề cao, tương phản với Thông môn (通門), cách nhìn chung (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt môn 別門
[ja] ベツモン betsumon ||| A distinct approach to a matter; a special way of looking at a Buddhist doctrine, etc., usually held to by a single school of thought, as contrasted to a "shared approach" (tongmen 通門).〔二障義HPC 1.793a〕 => Cách tiếp cận riêng biệt một vấn đề; phương pháp đặc biệt để tìm hiểu giáo lý đạo Phật..thường được chủ trương bởi một trường phái tư tưởng đơn độc, khác hẳn với Thông môn (c: tongmen 通門).
biệt nghiệp
Differentiated karma (the cause of different resultant conditions)
; Nghiệp nhân riêng biệt của mỗi chúng sanh, đi theo mỗi chúng sanh mà tạo thành các quả báo khác nhau, đối lại với tổng nghiệp—Differentiated karma—The cause of different resultant conditions, in contrast with general karma.
biệt nghiệp vọng kiến
(A) Ý nghĩa của Biệt nghiệp Vọng kiến—The meanings of Specific karma and delusional views—Biệt nghiệp Vọng kiến là cái thấy biết sai lầm khác nhau của mỗi loài tùy theo nghiệp lực và sự thọ thân hiện hữu. Biệt nghiệp tức là tội nghiệp riêng biệt trong quá khứ của một người, một nhóm người, một chúng sanh, hay một nhóm chúng sanh. Vọng kiến là cái thấy biết sai lầm. Đức Phật dạy: “Tùy theo nơi nghiệp lực, tội báo, trí huệ cùng sắc thân, mà mọi loài chúng sanh đều có sự thấy biết khác nhau gọi là “Biệt Nghiệp Vọng Kiến.”—Specific karma and delusional views are the different false perceptions and knowledge of each classification of sentient beings depending on the karmic power and the body each inhabits at the present time. Specific karma means a particular and distinctive actions accumulated from the past of a person, a group of people, a sentient being, or a group of sentient beings. Delusional views mean false and mistaken perception and knowledge. The Buddha taught: “Depending on each individual's karmic power and retribution for transgressions, as well as wisdom and body, each person will have a different perception and knowledge (perspective). That different perception and knowledge is called Specific karma and delusional views.” (B) Phân loại Biệt nghiệp Vọng kiến—Categories of Specific karma and Delusional views: 1) Biệt nghiệp Vọng kiến của súc sanh—Specific karma and Delusional views of Animals: Trong Kinh Nghiệp Báo, Đức Phật dạy: “Chúng sanh xoay vần lên xuống trong ba nẻo sáu đường, kiếp kiếp đều thay dạng đổi hình, nguyên do mắc nợ nần phải trả, hoặc luân hồi đền mạng lẫn nhau. Cho nên vật loại mang lông đội sừng ngày hôm nay, biết đâu chúng nó cũng là loài người trong kiếp trước.” Lại nữa, do nơi nghiệp báo và sự thọ thân sai biệt, hoặc thú, hoặc cầm thú mà các loài súc vật có cái nhìn hoàn toàn khác với loài người—The Karmic Retribution Sutra taught: “Sentient beings are constantly cycling, going up and down in the three worlds and six paths, with each reincarnation faces change and bodies alter in appearance. The reason depends on whether debts need to be repaid, or the cycle of rebirths leads people to repay with their lives, etc. Therefore, animals with furs, horns, and antlers of the present could very well be people in a former life.” Moreover, due to the nature of karmic retributions and inhabiting an animal's body, various animals have different views and perspectives (perceptions and knowledge) from humans. - Như cùng một con mắt thấy, mà loài cá nhìn bùn, đất, sông, nước là nhà nên sống an vui thoải mái nơi đó. Ngược lại khi bị bỏ lên bờ và không khí, chúng sẽ cảm thấy sự khó chịu nóng bức, và chúng không thể nào sống được bao lâu: With the same eyesight, yet fish view mud, dirt, sand, water as their homes. If taken on land and air, they will feel uneasy and hot, and they cannot survive for very long. - Cũng cùng một con mắt thấy, mà loài dã thú như cọp, beo, rắn, rít, khỉ vượn, hươu nai thì xem chốn núi rừng, lùm bụi, hang hóc là nơi cư trú tốt đẹp, mà không hề biết đến các nhà cửa cao rộng nguy nga của loài người: With the same eyesight, yet wild animals, such as tiger, cougar, snake, centipede, monkey, antelope, etc. view mountains, forests, bushes, trees, caves, etc. as large homes and never know of any other kinds of magnificent palaces of the human realm. - Với cùng một con mắt thấy, mà loài chó nhìn đầu tôm xương cá hôi thúi là thức ăn ngon, trong khi loài người thì thấy đó là một chất nhớp nhúa dơ bẩn: With the same eyesight, yet dogs view the foul and odorous matters such as shrimp's head, fish bones, and other fecal material as delicate and delicious foods, whereas people consider those things to be filthy and disgusting. - Cũng cùng một con mắt, mà loài sâu bọ, ruồi muỗi, rận rệp, dòi tửa xem các thứ lá cây, ổ kén, chốn ẩm thấp, chật hẹp, tối tăm, cống rãnh, phân tiểu, vân vân, là nhà cửa hoặc thức ăn ngon, mà không bao giờ nghĩ đến các điều chi khác: With the same eyesight, yet various worms, bugs, mosquitoes, ticks, maggots, etc. view leaves, nest, cocoon, low, moist, and congested areas, darkness, sewer, outhouse as their homes or great tasty foods and never know anything different. 2) Biệt nghiệp Vọng kiến của loài người—Specific karma and Delusional views of Human Beings: Người là một sinh vật tối linh hơn tất cả bởi lẽ trong tâm con người có đầy đủ hạt giống Bồ Đề. Người là chỗ kết tập của phần lớn các nghiệp lành thuộc bậc trung và thượng, cho nên có thể trong hiện đời nếu gặp được minh sư và chánh pháp rồi một lòng tuân giữ và tu tập theo ắt sẽ được chuyển phàm thành Thánh. Vì vậy cho nên loài người đặc biệt có một sự thấy biết cao siêu, hoàn toàn hơn hẳn các loài chúng sanh khác. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng đều thấy biết giống như nhau, mà trái lại còn tùy thuộc vào nơi nghiệp lực, tội báo, hoặc quả vị chứng đắc do công phu tu tập—Human beings are the epitome of all living beings because their minds are complete with the seeds of the Bodhi Mind. Humans are the accumulation of all wholesome karma; therefore, in this present life, if they are able to encounter wise teachers and the proper Buddha Dharma and then sincerely maintain and cultivate what they learn, it is possible to transform themselves from unenlightened beings to enlightened or saintly beings. For this reason, human beings have a unique ability in that their perception and knowledge is the deepest and most complete, unequal to any other realms of existence. However, it is not necessarily true that everyone in the human realm will have the same identical view and perception, but will also depend on each individual's 'armic powers, trasgressions, retributions, or their level of spiritual achievements through cultivation and practice of the former lives. a) Biệt nghiệp Vọng kiến nơi phàm phu—Specific karma and Delusional views in ordinary people: - Loài người chẳng thấy có không khí bao quanh mình và sống an lành nhởn nhơ trong đó, nhưng nếu bị đem bỏ vào nước thì cảm thấy ngộp thở và sẽ chết ít phút sau đó: Human beings do not see the air surrounding them and live peacefully and contentedly in it, yet if put in water they will feel suffocated, lose their breath, and die within minutes if they cannot break free from this medium. - Cũng cùng một con mắt thấy mà loài người nhìn biết đó là món ăn ngon, trong khi loài ngạ quỷ lại thấy đó là sỏi cát, lửa than; còn chư Thiên thì thấy đó là những chất nhơ bẩn, hôi hám trộn lẫn với nhau: With the same eyesight, human beings see something as great delicacies, yet the hungry ghosts view the same objects as dirt, sands, fires, coals, but the Heavenly Beings view those things as a mixture of filthy and odorous matter. - Cũng cùng một cái thấy, nhưng loài người thì bị tường vách làm cản trở, trong khi ma quỷ thì không thấy tường vách làm cho chướng ngại. Người thấy bùa phép không chướng ngại, nhưng loài ma quỷ thì thấy bùa phép ngăn cản họ lại như gặp bức tường cao, hoặc là bị nhốt trong lao ngục: With the same eyesight, human beings see walls and fences as obstructions, yet ghosts and demons do not see such walls to be any kind of an obstruction. People do not see magic and spells as an obstruction, yet ghosts and demons view magic and spells as obstructions similar to being impeded by a high wall or being locked and confined in a space. b) Biệt nghiệp Vọng kiến của bậc Giải Thoát—Specific karma and Delusional views of the Liberated: Bậc thoát tục là những vị tu hành đã được chứng đắc các quả vị giải thoát. Các bậc nầy có một sự biết phi thường mà hàng phàm phu bạt địa chúng ta không thể nào suy lường đến được. Tuy nhiên, cái thấy biết của những bậc phi thường nầy lại còn tùy thuộc vào các công phu tu tập và quả vị chứng đắc cao thấp khác nhau nữa, chớ không phải là luôn luôn đồng nhất: The liberated are cultivated beings who have attained some form of spiritual awakenings. They have an extraordinary knowledge and understanding that we unenlightened beings cannot possibly imagine. Even so, the perception and knowledge of these extraordinary beings will depend on their cultivation and the various levels of their spiritual achievements. Otherwise, they are not always equal in every aspect. - Thần tin chỉ thấy giới hạn trong cõi Bồng Lai—Those who dwell in the realm of gods and fairies, their views are limited to the Fairylands (see Bồng Lai). - Bậc Thiên Tiên hay Tiên đạo được sanh về cõi Trời chỉ thấy giới hạn trong một cõi Trời, một châu thiên hạ mà thôi. Ngoài phạm vi đó ra, các vị ấy không còn thấy biết chi nữa. Đây cũng ví như lấy ống nhỏ nhìn trời thì thấy trời bằng ống nhỏ, nhìn bằng ống lớn thì thấy trời lớn: The views of those who are Heavenly-fairies are limited to a single and one continent of human existence. Outside of those domains, these beings do not see or know of it. This is similar to looking at the sky with a small tube, with a bigger tube, the sky will be large, etc. - Bậc chứng Sơ Quả Tu Đà Hoàn với sự thấy biết rõ ràng chỉ giới hạn trong phạm vi của một tiểu thế giới, gồm A tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, tứ đại châu, một núi Tu Di, một mặt trời, một mặt trăng, lục dục Thiên, và một cõi trời Sơ Thiền: First Fruit of Srotapanna Enlightenment with the clear perception and knowledge limited to a World System, which includes the four unwholesome realms, four great continents, one Mount Sumeru, one sun, one moon, sic Heavens of Desires, a First Dhyana Heaven, and that is all—See Tứ Thánh Quả (1). - Nhị Quả Tư Đà Hàm với sự thấy biết giới hạn trong một tiểu thiên thế giới, bao gồm một ngàn tiểu thế giới: Second Fruit of Sakadagami Enlightenment with the perception and knowledge limited to a Small World System, consisting of 1,000 World Systems—See Tứ Thánh Quả (2). - Tam Quả A Na Hàm với sự thấy biết giới hạn trong một trung thiên thế giới, gồm một ngàn tiểu thiên thế giới: Third Fruit of Anagama Enlightenment with the perception and knowledge limited to a Medium World System, consisting of 1,000 Small World Systems—See Tứ Thánh Quả (3). - Tứ Quả A La Hán với sự thấy biết gồm thâu trong một đại thiên thế giới, bao gồm một ngàn trung thiên thế giới: Fourth Fruit of Arhat Enlightenment with the perception and knowledge limited to a Great World System, consisting of 1,000 Medium World Systems—See Tứ Thánh Quả (4). - Bậc Sơ Địa Bồ Tát với đạo nhãn thấy biết được 100 cõi Phật, 100 Đức Phật, và chứng được 100 tam muội. Phóng hào quang làm rung động 100 cõi Phật, đi khắp cả 100 cõi Phật không bị chướng ngại: First Ground Maha-Bodhisattva with the Dharma Eyes which are capable of seeing and knowing 100 different Buddhalands, attaining 100 samadhi. Their auras shine to all 100 Buddhalnds, and they are capable of traveling to the 100 Buddhalands freely and without any hindrance. - Bậc Nhị Địa Bồ Tát đạo nhãn thấy được 10.000 cõi Phật: Second Ground Maha-Bodhisattva with their Dharma eyes which are capable of penetrating 10,000 Buddhalands. - Bậc Tam Địa Bồ Tát với đạo nhãn thấy được 100.000 cõi Phật: Third Ground Maha-Bodhisattva with their Dharma Eyes which are capable of penetrating 100,000 Buddhalands. - Như thế lần lượt cứ tăng lên gấp 10 lần cho đến Thập Địa Bồ Tát thì thần thông đạo lực của quý ngài không thể nghĩ bàn, bao hàm vô lượng vô biên mười phương quốc độ. Nhưng như thế cũng chưa phải là đủ, vì nếu đem so sự thấy biết của hàng thập địa Bồ Tát nầy với chư Phật thì cũng tỷ như hạt bụi vi trần cực nhỏ sánh với núi Tu Di: Thus, in this way, the Maha-Bodhisattva's spiritual achieving will increase ten times with each succeeding stage until the Tenth Ground Maha-Bodhisattva is reached. At this level , the spiritual and religious power of infinite and endless worlds in the ten directions. Even then that is not truly perfect. When comparing the perception, view, and knowledge of those at the tenth ground Maha-Bodhisattva to the Buddhas, this is similar to using a grain of sand to compare to Mount Sumeru, respectively.
Biệt Nguyên Viên Chỉ
(別源圓旨, Betsugen Enshi, 1294-1364): vị tăng của Phái Hoằng Trí (宏智派) thuộc Tào Động Tông Nhật Bản, xuất thân vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), họ Bình (平). Ông xuất gia lúc còn nhỏ tuổi, theo học với Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) được 11 năm, liễu ngộ đại sự và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 2 (1320) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), ông sang nhà Nguyên cầu pháp, đến tham học với Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Trung Phong Minh Bổn (中峰明本), v.v., và vào năm thứ 2 (1330) niên hiệu Nguyên Đức (元德) thì trở về nước. Trong khoảng thời gian này, năm thứ 2 (1325) niên hiệu Chánh Trung (正中), ông được Trung Phong Minh Bổn ban ấn khả cho. Sau khi về nước, vào năm đầu (1342) niên hiệu Khang Vĩnh (康永), thể theo lời mời của Triêu Thương Quảng Cảnh (朝倉廣景, Asakura Hirokage), ông đến làm tổ khai sơn của Hoằng Tường Tự (弘祥寺, Kōshō-ji) ở Túc Vũ (足羽, Asuwa), Việt Tiền, và ông còn khai sáng Thiện Ứng Tự (善應寺) cũng như Cát Tường Tự (吉祥寺). Bên cạnh đó, ông còn sống qua các chùa như Chơn Như Tự (眞如寺) ở kinh đô Kyoto, Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) theo lời thỉnh cầu của Túc Lợi Nghĩa Thuyên (足利義詮, Ashikaga Yoshiakira) vào năm thứ 3 (1364) niên hiệu Trinh Trị (貞治). Đến ngày mồng 8 tháng 10 cùng năm trên, ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi đời và 56 hạ lạp. Trước tác của ông có Nam Du Tập (南遊集), Đông Quy Tập (東歸集), v.v. Trung Nham Viên Nguyệt (中巖圓月) soạn bản Biệt Nguyên Hòa Thượng Tháp Minh Tinh Tự (別源和尚塔銘並序).
biệt nguyện
Lời nguyện đặc biệt, như là tứ thập bát nguyện của Phật A Di Đà hay thập nhị nguyện của Phật Dược Sư, đối lại với “Tổng Nguyện” của chư Bồ Tát—Special vow, as the forty-eight of Amitabha, or the twelve of Yao-Shih-Fo (Bhaisajya), as contrast with general vows taken by all Bodhisattvas.
; (別願) Thệ nguyện riêng của chư Phật, Bồ tát, gọi là Biệt nguyện. Như 48 điều nguyện của đức Phật A di đà hoặc 12 điều nguyện của đức Phật Dược sư v.v... đều không giống với thệ nguyện của các đức Phật khác. Đối lại bốn thệ nguyện rộng lớn là những điều nguyện chung của chư Phật, Bồ tát thì gọi là Tổng nguyện. (xt. Bản Nguyện, Thệ).
biệt ngũ thời
(別五時) Là một trong hai thứ ngũ thời (Thông ngũ thời và Biệt ngũ thời) do tông Thiên thai phán lập. Trong sách Giáo quán cương tông quyển thượng, ngài Trí húc đem chia giáo pháp của đức Phật nói trong 50 năm làm năm thời, trong đó, Biệt ngũ thời là đức Phật tùy theo cơ nghi của các đệ tử mà nói pháp để hóa độ, tức như từ thời Hoa nghiêm cho đến thời Pháp hoa Niết bàn v.v... Pháp nhiếp hóa của Biệt ngũ thời là chính tắc. Đối lại, Thông ngũ thời là biến tắc. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
biệt ngữ
(別語) Lời nói riêng. Trong đối thoại, khi vị Thiền tăng hỏi người đối thoại một vấn đề nào đó, mặc dù họ đã trả lời rồi, nhưng vị Thiền tăng lại thêm ý kiến của mình vào câu trả lời của họ, gọi là Biệt ngữ. Thông thường được dùng chung với từ đại ngữ (nói thay) gọi là Đại Biệt. (xt. Đại Ngữ).
biệt niệm phật
Niệm hồng danh một vị Phật đặc biệt để tập trung tư tưởng hay nhứt tâm—To intone the name of a special Buddha to gain concentration or singleminded. ** For more information, please see Thông Niệm Phật.
biệt phong tương kiến
(別峰相見) Gặp nhau trên ngọn núi Biệt phong. Tên công án trong Thiền tông. Công án này có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm phẩm Nhập pháp giới đoạn nhân duyên đồng tử Thiện tài gặp tỉ khưu Đức vân ở ngọn núi Biệt phong. Bích nham lục tắc 23 (Đại 48, 164 hạ), chép: Trong kinh nói, ngọn núi Diệu phong cao ngất, tỉ khưu Đức vân trước nay không xuống núi, Thiện tài đến tham vấn, bảy ngày không gặp. Một hôm họ bỗng gặp nhau ở ngọn Biệt phong, gặp rồi Đức vân liền nói cho Thiện tài nghe về pháp môn: Một niệm thấy khắp trí tuệ quang minh của tất cả chư Phật trong ba đời. Đức vân đã không xuống núi, thế tại sao họ gặp nhau ở ngọn Biệt phong?. Tỉ khưu Đức vân không xuống núi là biểu thị Đức vân không rời cảnh giới mầu nhiệm sâu kín của chân như bản lai, là cảnh giới mà đồng tử Thiện tài không thể thấy được. Do đó, sau bảy ngày, Đức vân mới xuống cửa thứ hai, hiện thân trên ngọn Biệt phong, đáp lời thỉnh cầu của Thiện tài mà mở bày pháp môn. [X. kinh Hoa nghiêm phẩm Nhập pháp giới; Tông môn cát đằng tập Tắc 83].
biệt phong vân
(別峰雲) Vị tăng phái Dương kì tông Lâm tế đời Tống. Họ, quê quán và năm sinh năm mất đều không rõ. Là người nối pháp ngài Thử am Thủ tịnh (cũng gọi là Thử am Cảnh nguyên). Sư lần lượt trụ trì các chùa Chi đề, Phúc tuyền ở Phúc châu (Phúc kiến) và chùa Hoa nghiêm ở hưng hóa (Phúc kiến). Sư có soạn Biệt phong vân thiền sư ngữ yếu 1 quyển, nội dung thu chép hơn 50 thiên gồm Thướng đường, Ngữ yếu và Bỉnh phất, Tiểu tham, Niêm cổ, Tụng tán v.v... được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 6. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.1; Tục đăng tồn cảo Q.1].
Biệt pháp
別法; C: biéfǎ; J: beppō;|1. Bản chất riêng, một vật riêng; một hiện tượng cá biệt; 2. Theo thiên Thai tông thì đây Biệt pháp ở đây là một giáo lí riêng biệt (Biệt giáo 別教) dành cho hàng Bồ Tát; 3. Một giáo lí riêng biệt, Tiểu thừa, Đại thừa…; 4. Trong Tam giai giáo thì Biệt pháp chỉ cho những giáo lí riêng lẻ, khác biệt hoặc giáo lí chứa những điểm phân biệt; những giáo lí này tốt dành cho chúng sinh có khả năng tu tập theo Tam thừa hoặc Nhất thừa, nhưng khác biệt với loại Phổ pháp (普法), giáo pháp toàn thể dành cho chúng hữu tình vô minh, mù ám thuộc cấp bậc thứ ba (Tam giai 三階).
biệt pháp
(別法) Đối lại với phổ pháp (phép phổ thông). Biệt pháp chỉ cho giáo pháp có đối tượng hoặc nội dung đặc biệt. Tông Hoa nghiêm cho giáo pháp Tiểu thừa và Tam thừa là Biệt pháp, còn giáo pháp Nhất thừa Hoa nghiêm là một tức hết thảy, dung hợp không sai lệch, gọi là Phổ pháp. Đứng về phương diện đối tượng mà nói, thì có Biệt cơ, Phổ cơ khác nhau. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Phổ Pháp Biệt Pháp).
Biệt pháp 別法
[ja] ベッポウ beppō ||| (1) Separate essence or body; a separate phenomenon. (2) In Tiantai 天台, the "separate teaching" for bodhisattvas (biejiao 別教). (3) Any distinct type of teaching--Hīnayāna, Mahāyāna, etc.[acm] (4) in the Sanjie 三階 doctrine biefa refers to the "separate" or "distinct" teachings or the teachings which make distinctions; these teachings are appropriate for the superior beings with the capacity for the ekayāna and triyāna, distinguished from the pufa 普法 or universal teachings that are appropriate for the blind and ignorant beings of the third level 三階 capacity.[jh] => Có các nghĩa sau: 1. Riêng phần Thể hoặc Tướng, một hiện tượng (pháp) riêng biệt. 2. Theo tông Thiên thai, Biệt pháp là giáo lý dành riêng (Biệt giáo 別教) cho hàng Bồ-tát. 3. Chỉ cho bất kỳ dạng giáo lý riêng biệt nào–Tiểu thừa, Đại thừa,v.v... 4. Theo giáo lý của Tam giai giáo, Biệt pháp nghĩa là giáo lý "riêng biệt" hay "dành riêng"; những giáo lý nầy tương ứng với các chúng sinh căn cơ cao, có khả năng hành trì pháp Nhất thừa và Tam thừa, khác hẳn với Phổ pháp普法, chỉ thích hợp với người mê mờ có căn trí chậm lụt trong hạng căn cơ thứ ba (Tam giai三階).
biệt phó chúc
(別付屬) Giao phó dặn dò riêng. Chỉ sự phó chúc pháp môn trong phẩm Thần lực của kinh Pháp hoa. Cũng gọi bản hóa biệt phó, đối lại với Tổng phó chúc, . (trao phó dặn dò chung), hợp lại gọi là Tổng biệt nhị phó. Phó chúc, nghĩa là trao phó kinh pháp, rồi cứ theo lời dặn dò mà truyền bá, cũng gọi Chúc lụỵ. Kinh Pháp hoa quyển 6 phẩm Như lai thần lực nói, đức Phật thị hiện mười thứ thần lực lớn, đặc biệt đem pháp môn trong phẩm Thọ lượng phó chúc cho các vị Đại bồ tát bản hóa. Ngài Thiên thai Trí khải chia phẩm này làm bốn đoạn: Xưng thán, Kết yếu, Khuyến tưởng và Thích phó chúc. Kết yếu tức là phó chúc năm chữ Diệu pháp liên hoa kinh tâm yếu của kinh pháp hoa, và khi hoằng dương Pháp hoa thì đặc biệt phó chúc năm chữ tâm yếu này cho những người căn cơ thấp kém nhất trong đời mạt pháp. Như vậy, pháp được phó chúc là năm chữ Diệu pháp liên hoa kinh, còn người được phó chúc là hàng Bồ tát bản hóa, đây là Biệt phó chúc.
biệt sinh kinh
(別生經) Kinh được trích riêng ra. Một bộ phận văn kinh được sao chép hoặc trích dịch từ một bộ kinh lớn mà thành và được lưu hành riêng biệt. Cũng gọi Chi phái biệt hành kinh, Chi lưu xuất sinh kinh, Chi phái kinh. Vì kinh điển quá đồ sộ, pháp môn thì mông mênh, nên người sau mới tùy nghi hóa độ, ứng vật thi duyên mà đặt ra, cho nên phần nhiều theo ý mình mà lấy hay bỏ, lược bớt, sao chép một phần văn hoặc những bài kệ nào đó trong bộ kinh lớn để làm thành quyển kinh mà lưu hành riêng. Như kinh Tịnh hành phẩm, kinh Đại bát nhã đệ nhị hội, kinh Bồ tát địa trì v.v... Chẳng hạn như: 1. Kinh Đâu sa 1 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán, là kinh tương đương với phẩm Như lai danh hiệu và phẩm Như lai quang minh giác trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). 2. Kinh Bồ tát bản nghiệp 1 quyển, ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, là kinh tương đương với phẩm Tịnh hạnh và phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). Hai quyển kinh trên đây đều là kinh biệt sinh của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). Xưa nay, các kinh biệt sinh đều không được đưa vào tạng mà chỉ lập mục lục. Trong các bộ kinh lục của Trung quốc, như Pháp kinh lục, Khai nguyên thích giáo lục v.v... đều có liệt kê phần kinh, luật, luận biệt sinh của Đại thừa và Tiểu thừa.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.16; Chúng kinh mục lục Q.2 (ngài Pháp kinh đời Tùy); Tĩnh thái lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.26, Q.27].
biệt tha na
Vestana (skt)—Tên của một vị Trời—Name of a deva.
Biệt thân
別申; C: biéshēn; J: besshin;|Một cách giải thích chi tiết một bài văn, một học thuyết. Giải thích một khía cạnh đặc biệt, chi tiết của một học thuyết.
biệt thân luận
(別申論) Đối lại với Thông thân luận . Biệt thân luận là bộ luận diễn giải ý nghĩa riêng trong một bộ kinh, như luận Đại trí độ, luận Thập địa v.v... Trái lại, bộ luận diễn giải rộng ý nghĩa của các kinh mà đức Phật đã nói trong một đời, thì gọi là Thông thân luận, như Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận v.v... Biệt thân luận và Thông thân luận nói trên là do tông Tam luận phán lập. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thông Thân Biệt Thân).
Biệt thân 別申
[ja] ベッシン besshin ||| The detailed explanation of a text or doctrine. To explain a specific, detailed aspect of a doctrine. => Phần giải thích chi tiết một bản kinh hay một giáo pháp. Giải thích một cách chuyên biệt, giải thích trên phương diện giáo pháp.
biệt thỉnh
Đặc biệt mời một vị Tăng đến nhà Phật tử tại gia là đi ngược lại với nếp sống tịnh hạnh nơi Tịnh xá. Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp thí chủ có thể biệt thỉnh bằng cách không lựa chọn người, mà theo ngôi thứ trong Tăng giới—Special deference paid by singling out or inviting a monk or one member of the community to the house of lay people. This against the monastic life. Howver, in case of emergency, a patron of Buddhism can make a special invitation, not by choosing the person, but invitation in according to their years of ordination. **For more information, please see Tăng Thứ.
; (別請) Mời riêng. Nghĩa là người tại gia thỉnh riêng một vị tăng nào đó nhận sự cúng dường. Còn mời riêng bốn người trở lên trong chúng tăng, thì gọi là Biệt thỉnh chúng thực. Khi tiếp nhận lời mời cúng dường trai phạn của người tại gia, phải theo thứ tự tuổi hạ của chư tăng mà phó trai (đây gọi là Tăng thứ thỉnh, khác với Biệt thỉnh) mới đúng phép, vì thế giới luật cấm nghiêm ngặt việc nhận Biệt thỉnh, vị ti khưu nào nhận thì phạm tội Ba dật đề. Bởi lẽ, lợi dưỡng cúng dường thức ăn thuộc về tăng 10 phương, nếu nhận biệt thỉnh tức là lấy vật của tăng 10 phương, cho nên ngăn cấm. Kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành và kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền cũng có nói, nhận Biệt thỉnh lui mất một quả, hai quả, ba quả, bốn quả. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45; kinh Phạm võng Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.11 phẩm Thánh hạnh; luật Thập tụng Q.48; luật Ma ha tăng kì Q.20; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.3].
biệt thị nhất càn khôn
(別是一乾坤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Biệt thị có hai ý: còn có cái khác, e ngại, là từ ngữ mang ý nghĩa nửa tin nửa ngờ, suy đoán. Biệt thị nhất càn khôn, hàm ý nói còn có trời đất khác. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới mở tỏ, vượt ngoài tình thức phân biệt. Thung dung lục tắc 92 (Đại 48, 287 thượng) chép: Thu quyển dư hoài yếm sự hoa Qui lai hà xứ thị sinh nha (nhai) Lạn kha tiều tử nghi vô lộ Quải thụ Hồ công diệu hữu gia (Biệt thị nhất càn khôn). (Dịch ý: Thu cuốn lại còn ngán việc đời Quay về nhưng nào biết về đâu Tiều phu cán mục ngờ không lối(1) Lơ lửng Hồ công (2) có chỗ mầu.) Lại khi hình dung cái gia phong đặc biệt không có gì có thể so sánh được, thì gọi là Biệt thị nhất gia phong. Bích nham lục tắc 60 (Đại 48, 195 trung) chép: Công án viên lai vấn Triệu châu /Trường an thành lí nhậm nhàn du/Thảo hài đầu đới vô nhân hội(Dã hữu nhất cá bán cá, biệt thị nhất gia phong, minh đầu dã hợp, ám đầu dã hợp). (Dịch ý : Đem công án đến hỏi Triệt chu (châu)/ Trong thành Trường an mặc ngao du/ Giầy cỏ đội đầu không ai biết./ (Cũng có một người vượt trội, có gia phong riêng, sáng cũng hợp, tối cũng hợp).) (1) Đời nhà Tấn bên Tàu có người tên là Vương chất, vào núi đốn củi, đứng xem hai ông tiên đánh cờ, xem hết một ván mà cái cán rìu cầm ở tay đã mục. (2) Hồ công: vị tiên vào đời Hậu Hán bên Tàu. Hàng ngày ông đến chợ ngồi bán thuốc. Khi tan chợ, ông treo cái bình (hồ) đựng rượu trên cây rồi vào đó nằm nghỉ. Trong bình có cả trời đất trăng sao v.v... (Người dịch chú thích).
biệt thời niệm phật
Niệm Phật trong một thời khắc đặc biệt. Đây là một phương pháp thực tiển và hữu hiệu nhứt cho Phật tử, nhứt là Phật tử tại gia. Khi những cách tu tập bình thường không hữu hiệu, nên người tu tịnh độ lấy kỳ hạn một ngày, hai ngày, ba ngày, cho tới bảy ngày, hoặc mười ngày cho tới 90 ngày chuyên cần niệm Phật, như thế gọi là “Biệt Thời Niệm Phật.”—To call upon Buddha at special time. The most practical and effective way for all Buddhists, especially lay followers. When the ordinary religious practicies are ineffective the Pure Land sect call upon Buddha for a period of one to seven days, or ten to ninety days.
; (別時念佛) Thời niệm Phật riêng. Hàm ý là niệm Phật trong thời gian nào đó đã được ấn định. Cũng gọi Như pháp niệm Phật. Đối lại với Tầm thường niệm Phật (niệm Phật theo lệ thường hằng ngày), Lâm chung niệm Phật (niệm Phật lúc hấp hối). Kì gian ngắn là 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, dài thì 90 ngày. Mục đích là tránh cảm giác mệt mỏi biếng nhác do niệm Phật thường ngày sinh ra, nên mới đặt nhật kì niệm Phật nhất định khiến hành giả chuyên tâm niệm Phật, tinh tiến tu hành, mong đạt được chứng ngộ. Đa số chùa viện thuộc Tông tịnh độ đều theo cách tu hành này, đó là chịu ảnh hưởng của phép Thường hành tam muội và Dẫn thanh niệm Phật. [X. Quán niệm pháp môn; Vãng sinh yếu tập Q.trung phần cuối].
biệt thời ý
(別時意) Phạm: kàlàntaràbhipràya. Đức Như lai dùng ý thú biệt thời mà nói pháp. Cũng gọi Biệt thời ý thú, Thời tiết ý thú. Là một trong bốn ý thú. Như nói người nào tụng trì tên hiệu của đức Phật Đa bảo thì, đối với vô thượng bồ đề, quyết định không trở lui, hoặc nói người ta chỉ cần phát nguyện liền được sinh về cõi Phật yên vui v.v... Đây là đức Như lai vì khuyên nhủ những chúng sinh biếng nhác không thích tu hành, nên nói lúc khác (biệt thời) được lợi ích, chứ không nói được liền ngay lúc này. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 6 (Đại 31, 194 trung), nói: Những người căn lành biếng nhác, nhờ tụng trì tên hiệu Phật Đa bảo nên được tiến lên công đức thượng phẩm nhằm khuyên những chúng sinh có công hạnh nông cạn, muốn khiến họ bỏ tính lười biếng, tinh tiến tu hành, chứ không phải chỉ nhờ tụng trì tên hiệu Phật mà được không trở lui, quyết định được ngay vô thượng bồ đề. Ví như từ một đồng tiền vàng nhờ kinh doanh lâu ngày mà được một nghìn đồng, chứ không phải trong một ngày mà được, chính là do ở một lúc khác (biệt thời) mới được như vậy, ý của Phật cũng thế. Một đồng tiền vàng là nhân của nghìn đồng tiền vàng; tụng trì danh hiệu Phật là nhân của sự không trở lui đối với vô thượng bồ đề. [X. Nhiếp đại thừa luận (bản dịch đời Lương) Q.trung; Di lặc thượng sinh kinh sớ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Chư kinh yếu tập Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối]. (xt. Tứ Ý Thú).
biệt thời ý hội thông
(別時意會通) Do Tịnh độ chân tông Nhật bản thành lập. Vào thời đại Tùy, Đường, các học giả của tông Nhiếp luận cho rằng mười niệm vãng sinh nói trong kinh Quán vô thượng thọ tương đương với Biệt thời ý trong bốn ý của luận Nhiếp đại thừa; đó chỉ là thuyết phương tiện thôi. Bởi thế, tuy nói mười niệm vãng sinh là vãng sinh liền, nhưng thực ra không phải thế: mười niệm chỉ thành nhân xa của sự vãng sinh. Trái lại, các sư thuộc tông Tịnh độ hội thông ý trong các kinh luận, chủ trương mười niệm vãng sinh là vãng sinh ngay. Nhóm ngài Nguyên tín v.v... thuộc tông Tịnh độ Nhật bản cũng cùng quan điểm này, Chân tông gọi là Biệt thời ý hội thông. Trong các bậc Đại đức Tổ sư Trung quốc, ngài Đạo xước cho rằng mười niệm được thành tựu là nhờ đã gieo nhân ở đời quá khứ, cho nên chẳng phải Biệt thời ý. Ngài Thiện đạo thì chủ trương nếu chỉ có nguyện không có hành, thì mười niệm vãng sinh là Biệt thời ý; còn nguyện hành đầy đủ thì không phải Biệt thời ý, nghĩa là mười niệm có đầy đủ mười nguyện mười hành. Luận Tịnh độ quyển trung của ngài Ca tài và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 của ngài Khuy cơ v.v... bảo rằng cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà thông cả Báo độ và Hóa độ. Đứng về mặt vãng sinh Hóa độ mà nói, thì nguyện hành đầy đủ nên mười niệm vãng sinh không phải Biệt thời ý; đứng về Báo độ mà nói, thì chỉ có nguyện không có hành hoặc nguyện hành đầy đủ, mười niệm vãng sinh đều là Biệt thời ý. [X. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.6; luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) Q.trung; Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần; Di lặc thượng sinh kinh sớ Q.thượng; Du tâm an lạc đạo; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.thượng phần cuối; Pháp uyển châu lâm Q.15].
biệt thụ bồ tát tăng
(別受菩薩僧) Biệt thụ (nhận riêng) đối lại với Thông thụ, . (nhận chung). Nghĩa là chỉ nhận một phần Nhiếp luật nghi giới, chứ không nhận Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới; khi nhận giới này phải có đủ mười vị sư (tam sư thất chứng: Hòa thượng, Giáo thụ, Yết ma và bảy vị chứng minh) và phải làm phép yết ma. Cứ theo đó, vị Bồtát nhận chung cả (thông thụ) giới Đại thừa và giới Tiểu thừa thì gọi là Thông thụ Bồ tát tăng; còn vị Bồ tát chỉ nhận giới Đại thừa thôi thì gọi là Biệt thụ Bồ tát tăng. [X. Thiền giới quyết Q.trung; Thiền giới quyết chú giải Q.trung]. (xt. Thông Thụ Biệt Thụ).
biệt tin
See Biệt tăm.
biệt tiếp thông
(別接通) Cũng gọi Tiếp nhập biệt. Là một trong ba loại Bị tiếp. Trong số người tu học Thông giáo trong bốn giáo hóa pháp của tông Thiên thai, nếu Bồ tát có lợi căn hiểu được lí Đãn trung của Biệt giáo thì được tiến vào Biệt giáo mà trở thành là người Biệt giáo. Đây gọi là Biệt tiếp Thông, tức Biệt giáo tiếp nhận Thông giáo tiến vào Biệt giáo. (xt. Bị Tiếp).
biệt truyền
Separately handed down; oral tradition; to pass on the teaching from mind to mind without writing, as in Thiền tông or Intuitional school.
; Biệt truyền, bất lập văn tự mà dùng tâm truyền tâm trong truyền thống nhà Thiền—Separately handed down—Mind-to-mind transmission in Zen tradition or oral tradition—To pass on the teaching from mind to mind without writing, as in the Zen or Intuitive school.
Biệt Truyền Tâm Pháp Nghĩa 別傳心法議
[ja] ベツデンシンホウギ Betsuden shinhō gi ||| Biechuanxin fa yi; HTC 949.101.320-323. (c: Biechuanxin fa yi).
Biệt truyền tâm pháp nghị
別傳心法議; C: biéchuán xīnfǎ yì; J: betsuden shinhō gi; |Luận.
biệt truyện tự
(別傳寺) Chùa ở trên triền núi Đan hà huyện Nhân hóa tỉnh Quảng đông. Đây là ngôi chùa danh tiếng ở Bách việt (Quảng đông) và được ví là cửa ải thứ nhất của núi Đan hà. Vào đời Đường có vị cao tăng ở đây, người bấy giờ gọi ngài là Trưởng lão trại. Đến đời Tống, Minh chùa đã có Lục tổ đường của Thiền tông, nhiều nhân văn học sĩ thường đến đây dựng lều đọc sách, khiến cho chùa nổi tiếng một thời. Cuối đời Minh, Tuần phủ Giang tây (Cám nam) là Lí vĩnh mậu đưa gia quyến vào đất Việt (Quảng đông), lấy Đan hà làm nguồn đào ngoài cuộc đời, rồi định cư luôn tại đây. Sau lại có quan Đại thần triều Vĩnh lịch tên là Kim bảo sáng lập chùa Biệt truyền ở núi này. Chùa quy mô rộng lớn, có thể sánh ngang với chùa Nam hoa ở Thiều quan và chùa Hạp sơn ở Thanh viễn.
biệt trụ trung thật
(別住中實) Chỉ cho nghĩa đế trung đạo chân thực thuận theo các pháp sai biệt. Đối lại với Đẳng trụ trung thực. Trung thực là trung đạo chân thực, tức chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế. Luận Thích ma ha diễn quyển 2, khi giải thích về Chân như môn và Sinh diệt môn đã nêu ra mười tên gọi, trong đó, tên thứ 9 tức là Trung thực. Trung thực lại được chia làm hai thứ là Đẳng trụ trung thực và Biệt trụ trung thực. Đẳng trụ trung thực cũng gọi là Chân như sở nhập, dụ cho độc minh châu; Biệt trụ trung thực cũng gọi là Sinh diệt sở nhập, dụ cho thuận minh châu. Biệt trụ nghĩa là trụ nơi sai biệt. Biệt trụ trung thực là chỉ cho trung đạo đệ nhất nghĩa đế trụ nơi pháp sai biệt, hay thuận theo tất cả pháp sai biệt thuộc môn Sinh diệt, ví như các vật khác nhau được để ở trước thuận minh châu, hạt châu ánh hiện các mầu sắc giống với các vật khác nhau ấy. Cũng thế, sinh diệt sở nhập là thuận theo hết thảy pháp sai biệt mà trụ ở trong mỗi pháp ấy, nên gọi là Biệt trụ trung thực. (xt. Đẳng Trụ Trung Thực, Thuận Minh Châu).
biệt tuyển sở cầu
(別選所求) Chọn riêng theo điều mong cầu. Đức Phật Thích ca mâu ni vì bà Vi đề hi mà hiện ra các cõi Tịnh độ của chư Phật, trong Cổng Chùa Biệt Truyền đó, bà Vi đề hi đặc biệt chọn thế giới cực lạc của Phật A di đà và nguyện sinh về thế giới ấy. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
biệt tài
Special talent.
biệt tôn mạn đồ la
(別尊曼荼羅) Cũng gọi Chủ tôn mạn đồ la, Tạp mạn đồ la. Là mạn đồ la lấy chủ tôn của hai bộ Kim cương, Thai tạng, ngoại trừ Đại nhạt Như lai, của Mật giáo làm Trung tôn mà được kiến lập. Sự kiến lập này được căn cứ theo các kinh Bảo lâu các, kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn và kinh Nhất tự kim luân Phật đính. Các Biệt tôn mạn đồ la thuộc các bọ: Như lai, Phật đính, Chư kinh, Quan âm, Bồ tát, Thiên v.v... Như lai bộ có A di đà mạn đồ la, Thích ca mạn đồ la; Phật đính bộ có Phật đính mạn đồ la, Tôn thắng mạn đồ la; Chư kinh bộ có Bảo lâu các mạn đồ la, Bồ đề tràng kinh mạn đồ la, Thỉnh vũ kinh mạn đồ la, Đồng tử kinh mạn đồ la, Lí thú kinh mạn đồ la; Quan âm bộ có Như ý luân mạn đồ la; Bồ tát bộ có Kim cương thủ bồ tát mạn đồ la; Thiên bộ có Diêm ma thiên mạn đồ la, Cát tường thiên mạn đồ la, Bắc đẩu mạn đồ la v.v... (xt. Mạn Đồ La).
Biệt tôn tạp kí
別尊雜記; C: biézūn zájì; J: besson zakki; |Tác phẩm nói về các bậc Thánh, Tôn túc, 57 quyển, được Tâm Giác (心覺; j: shinkaku, 1117-1180) biên tập. Một trong những tác phẩm đồ tượng quan trọng nhất trong truyền thống Mật giáo Nhật Bản, trình bày nhiều vị Thánh thần, những Ấn tâm (印心), Quán pháp (觀法; s: sādhana), Man-đa-la và những hình tượng hệ thuộc. Đứng trên cơ sở Thiên Thai và Chân Ngôn, tập này phân chia những đối tượng được tôn sùng, gọi là Bản tôn (本尊) thành Phật, Bồ Tát, Quan Âm, Minh vương (s: vidhyarāja), Thiên và v.v… Những hình tượng thật hay được gắn kèm vào những đoạn dẫn trích (thường được lặp đi lặp lại) từ những kinh văn bí mật.
biệt tôn tạp kí
(別尊雜記) Trứ tác gồm 57 quyển hoặc 50 quyển, do ngài Tâm giác ở viện Thường hỉ tại Nhật bản soạn. Cũng gọi Yếu tôn tạp kí, Biệt tôn loại tụ sao, Ngũ thập quyển thư, thu vào Đại chính tạng tập 83. Sách này ghi chép tường tận các danh hiệu tiếng Phạm, chủng tử, hình tam muội da của chủ tôn và các kinh pháp thuộc Đông mật; đồng thời, có phụ thêm 300 bức mạn đồ la.
biệt tôn tạp ký
Besson Zakki (C).
Biệt Tôn Tạp Ký 別尊雜記
[ja] ベツソンザッキ Besson zakki ||| The Besson zakki; (Assorted Notes on Individual Divinities). 57 fasc. [TZ.3007.3.57-675], compiled by Shinkaku 心覺 (1117-1180). One of the most important iconographic works in the Japanese esoteric tradition, it documents dozens of divinities, detailing the relevant testimonials 印心, sādhana 觀法, maṇḍalas, and iconography for each. Drawing on both the Shingon and Tendai traditions, it classifies the objects of veneration 本尊 into buddhas, bodhisattvas, avalokiteśvaras, vidyarājas, gods, and so on. Superb illustrations accompany lengthy (and often repetitive) quotes from various ritual texts. => (j: Besson zakki) Sách; 57 quyển; do Tâm Giác (心覺 j: Shinkaku– 1117-1180) biên soạn. Là một tác phẩm quan trọng bằng tranh về Mật giáo Nhật Bản, tác phẩm dẫn chứng 12 vị thần, trình bày tỉ mỉ sự ấn tâm印心, quán pháp (觀法 s: sādhana), mạn-đà-la, và hình ảnh của từng môn. Rút ra từ cả hai truyền thống Chân ngôn và Thiên thai, tác phẩm sắp xếp các Bản tôn chư Phật, Bồ-tát, Quán Thế Âm, các bậc minh chúa (s: Vidyarājas), các thần, v.v... Có những minh họa hùng tráng cùng với những trích dẫn rất dài (thường lặp đi lặp lại) từ nhiều kinh văn khác nhau.
biệt tông
(別宗) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong phương thức lập luận của Nhân minh, phần tử cấu thành Tông thể (mệnh đề) gọi là Biệt tông. Cũng gọi Tông y. Biệt, hàm ý là bộ phận. Y, hàm ý là chỗ nương để cấu thành. Chẳng hạn như Tông Tiếng nói là vô thường là do hai phần tử tiếng nói và vô thường cấu thành. Hai phần tử này đều là một bộ phận của Tông thể, cũng là chỗ nương vào đó mà Tông thể được cấu thành, vì thế gọi là Biệt tông. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích].
biệt tăm
Without news.
Biệt tướng
別相; C: biéxiāng; J: bessō;|Sai biệt, phân biệt theo dạng (s: bheda; t: bye brag); 2. Đoạn, phần, đơn vị; 3. Khía cạnh khác biệt, khía cạnh phân biệt, một tính chất khác biệt có thể được nhận ra của một vật. Một trong Lục tướng trong học thuyết của Hoa Nghiêm tông.
biệt tướng
Visesa (skt)—Dù chư pháp đều có chung một căn bản vô thường, chúng vẫn có những phẩm chất đặc biệt riêng—Particulars—Though all things have the universal basis of impermanence, they have particular qualities.
; (別相) I. Biệt tướng. Tướng riêng, một trong hai tướng, đối lại với Tổng tướng (tướng chung). Hết thảy các pháp đều vô thường, vô ngã, đó là tổng tướng, tức là tướng trạng tổng quát. Nhưng, hết thảy các pháp cũng đều có tướng đặc thù riêng, như ẩm ướt là tướng của nước, cứng chắc là tướng của đất, nóng là tướng của lửa v.v..., đó là biệt tướng, tức là tướng bộ phận. [X. luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Tổng Tướng Biệt Tướng). II. Biệt tướng. Một trong sáu tướng. Sáu tướng là: Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng, Hoại tướng. Tông Hoa nghiêm cho rằng trong một pháp duyên khởi ắt có nhiều yếu tố, như trong một ngôi nhà gồm có đòn tay, rường cột, gạch ngói, vôi cát v.v..., đó là tổng tướng. Nhưng trong những yếu tố ấy mỗi mỗi đều khác nhau, như đòn tay chẳng phải rường cột, gạch ngói không giống vôi cát v.v..., đó là Biệt tướng. (xt. Lục Tướng, Lục Tướng Viên Dung).
biệt tướng niệm trụ
(別相念住) Phạm: Vyasta-lakwaịa-smftyupasthàna, là gia hạnh (sự tu hành chuẩn bị) thứ hai trong bảy gia hạnh mà thừa Thanh văn đã tu hành từ trước khi đến ngôi kiến đạo. Cũng gọi Biệt tướng niệm xứ. Lần lượt tu riêng từng pháp một trong bốn pháp quán niệm trụ: Thân, Thụ, Tâm, Pháp, tức là quán thân bất tịnh, quán thụ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn phép quán này nhằm đối trị bốn cái chấp điên đảo: thường, lạc, ngã, tịnh của chúng sinh. Đây là do tu Ngũ đình tâm vị tiến lên mà đến giai vị này, nếu lại tiến tu nữa thì sẽ đến giai vị Tổng tướng niệm trụ. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 phần dưới; Câu xá luận bảo sớ Q.22; Pháp hoa kinh nhiếp thích Q.2; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.1 phần giữa]. (xt. Thất Hiền, Tứ Niệm Trụ).
biệt tướng tam bảo
(別相三寶) Một trong hai loại tam bảo, một trong ba loại tam bảo, một trong bốn loại tam bảo. Cũng gọi Hóa tướng tam bảo, Biệt thể tam bảo, Chân thực tam bảo, Giai thê tam bảo. Vì bàn về thể tướng sai khác riêng của mỗi loại Tam bảo nên gọi Biệt tướng; lại tùy theo chỗ giáo hóa mà chia ra ngôi thứ Phật ở trên, Pháp ở giữa và Tăng ở dưới, nên gọi là Giai thê tam bảo (giai thê: bậc thang). Về thành phầnTam bảo do Đại thừa và Tiểu thừa lập cũng có khác nhau: Đại thừa lấy ba thân của chư Phật làm Phật bảo, sáu độ làm Pháp bảo, mười thánh làm Tăng bảo. Tiểu thừa thì lấy ứng hóa thân trượng sáu làm Phật bảo, 4 đế, 12 nhân duyên làm Pháp bảo, 4 quả, Duyên giác làm Tăng bảo. Nếu theo năm giáo: Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên của giáo nghĩa Hoa nghiêm, thì có năm thứ Biệt tướng Tam bảo: 1. Tiểu thừa giáo: lấy năm phần pháp thân, thân trượng sáu, thân ứng hóa tùy theo loại làm Phật bảo, bốn đế, nhân không, 37 phẩm trợ đạo, trạch diệt Niết bàn làm Pháp bảo, bốn hướng, bốn quả làm Tăng bảo. 2. Đại thừa thủy giáo: lấy pháp thân thanh tịnh, thân tự thụ dụng, thân tha thụ dụng, làm Phật bảo, chân lí hai không, sáu đô, bốn nhiếp, bồ đề niết bàn làm Pháp bảo, ba hiền, mười thánh làm Tăng bảo. 3. Đại thừa chung giáo: lấy pháp thân, thân tự thụ dụng, thân tha thụ dụng, thân ứng hóa làm Phật bảo, hai không, sáu độ, thủy giác, bản giác làm Pháp bảo, ba hiền, mười thánh làm Tăng bảo. 4. Đại thừa đốn giáo: theo nghĩa tỉnh biết gọi là Phật bảo, theo nghĩa giữ khuôn phép gọi là Pháp bảo, theo nghĩa không trái ngược gọi là Tăng bảo. 5. Đại thừa viên giáo: mười thân dung hợp trong ba thế gian là Phật bảo, Biệt giáo, Nhất thừa, pháp giới viên dung là Pháp bảo, Hải hội bồ tát là Tăng bảo. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.17; kinh Hoa nghiêm phẩm Minh pháp chương Nội lập Tam bảo Q.thượng; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2; Hoa nghiêm hành nguyện phẩm sớ sao Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6].
biệt tướng tam giáo
Ba phép quán được Biệt giáo làm rõ. Vì giữa cái không và cái giả có khoảng cách và không dung hợp với nhau—The three views of the Different Teaching in regard to the absolute, the phenomenal, the medial as void, unreal, as separate ideas.
biệt tướng tam quán
(別相三觀) Là phép quán do Biệt giáo của tông Thiên thai đặt ra. Tức quán từ Giả vào Không, từ Không vào Giả, sau cùng, vào Trung đệ nhất nghĩa đế. Cũng gọi Thứ đệ tam quán, Cách lịch tam quán. Đối lại với Nhất tâm tam quán của Viên giáo Thiên thai.1. Quán từ Giả vào Không, cũng gọi quán hai đế, gọi tắt là Quán không. Giả là Tục đế hư dối, Không là chân đế chắc thực, muốn bỏ tục về chân, vào Chân đế hai không chắc thực, thì trước hết, người tu hành phải quán Giả, biết rõ Giả là hư dối mà nhận hiểu được Chân nên gọi là quán hai đế. Người tu pháp quán này có thể dứt trừ Kiến tư hoặc trong ba hoặc (Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc, Vô minh hoặc), được Nhất thiết trí, và giai vị tu tập thì tương đương với Thập trụ của Biệt giáo. 2. Quán từ Không vào Giả, cũng gọi Bình đẳng quán, gọi tắt là Giả quán. Nghĩa là hành giả không dừng lại ở lí không của Chân đế, mà tiến lên kiến lập Tục đế sai biệt của Giả quán. Nếu dừng lại ở không thì chẳng khác gì hai thừa, chẳng thành Phật pháp, không ích lợi cho chúng sinh. Bởi thế, quán Không chẳng dừng lại ở Không mà vào Giả, đây là do biết bệnh mà biết thuốc, ứng bệnh mà cho thuốc, nên gọi là Quán từ Không vào Giả. Nói Bình đẳng là do quán từ Giả vào Không mà gọi là Bình đẳng. Phép quán trước (số 1) là phá Giả dùng Không, phép quán này thì phá Không dùng Giả, phá và dùng đều bằng nhau nên gọi Bình đẳng quán. Người tu phép quán này có thể dứt trừ hoặc Trần sa trong ba hoặc, được Đạo chủng trí trong ba trí, và giai vị tu tập thì tương đương với Thập hành của Biệt giáo. 3. Quán trung đạo đệ nhất nghĩa đế, gọi tắt là Trung đạo đệ nhất nghĩa quán, Trung đạo quán, Trung quán. Là phép quán dùng Không, Giả phương tiện soi rọi hai đường Chân, Tục. Nghĩa là trước hết hành giả quán sống chết không, kế đến quán niết bàn không, hai hoặc Kiến tư, Trần sa đã hết, tâm không thiên chấp, cho nên được phương tiện che lấp cả hai hoặc, lại vì lần lượt dùng hai phép quán, quán xét hai đế, nên được phương tiện soi rọi cả hai; như vậy thì hiển bày được Phật tính trung đạo, là phép quán Trung đạo năng quán, đế và quán không hai, hoặc và trí là một. Người tu phép quán này có thể dứt trừ hoặc Vô minh trong ba hoặc, được Nhất thiết chủng trí trong ba trí, và giai vị tu tập tương đương với Sơ địa của Biệt giáo. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Quán vô lượng thọ phật kinh sớ diệu tông sao Q.2; Quán vô lượng thọ phật kinh sớ (Trí khải); Pháp hoa huyền nghĩa Q.3].
Biệt tướng 別相
[ja] ベッソウ bessō ||| (1) Distinction, discrimination--according to type. (Skt. bheda; Tib. bye brag) (2) Section, part, unit. (3) Distinctive aspect; discriminable aspect. A distinct characteristic identifiable in a thing or event. One of the six kinds of aspects 六相 in Huayan philosophy. 〔華嚴經、 2T 278.9.545b〕 => Có các nghĩa sau: 1. Sự phân biệt, sự khác biệt–tùy theo loại (s: bheda; t: bye brag). 2. Phần, chương, đơn vị. 3. Khía cạnh riêng biệt, khía cạnh có thể phân biệt được, Khía cạnh đặc biệt của một vật có thể nhận biết được. Một trong sáu tướng (Lục tướng六相) trong triết học Hoa Nghiêm.
biệt tập
(別集) Loại sách do một người biên soạn. Như Xuất tam tạng kí tập quyển 12 (đời Lương) có ghi: Pháp tập lục của Tề Thái tể Kính lăng văn tuyên vương, Pháp tập của Thích tăng hựu v.v... đều là biệt tập. Còn vào đời Đường thì có: Thướng biểu kí của sa môn Huyền trang, Biểu chế tập của ngài Bất không v.v... Đời Tống thì có: Đàm tân văn tập của ngài Khế tung, Thạch môn văn tự thiền của ngài Huệ hồng giác phạm. Đời Minh cũng có: Vân thê pháp vựng của ngài Châu hoành, Tử bách lão nhân tập của ngài Chân khả v.v....
Biệt tập khí
別習氣; C: biéxíqì; J: betsujikke;|Những tập khí khác biệt được tích tụ trong cuộc sống này. Tập khí này thô thiển hơn những loại Thông tập khí (通習氣) và vì vậy, được xếp vào loại Phiềng não chướng (煩惱障), được diệt trừ bởi những hành giả bên dưới cấp bậc Bồ Tát. Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo) đưa ra ví dụ của một người đang có uy thế trong cuộc sống, phát triển, tích tụ Biệt tập khí kiêu mạn trong suốt cuộc đời của mình (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt tập khí 別習氣
[ja] ベツジッケ betsujikke ||| Distinctive habit energies, which are cultivated in this life time. These are coarser than "shared habit energies" 通習氣 and are thus categorized as hindrances of defilement 煩惱障, removable by practitioners who are below the level of bodhisattva. Wŏnhyo gives the example of a person in high social rank who develops the habit energies of pride during his lifetime.〔二障義HPC 1.793c〕 => Tập khí riêng biệt mới huân tập trong đời nầy. Những tập khí này thô hơn Thông tập khí 通習氣, được xếp vào Phiền não chướng煩惱障, nó được giải trừ bởi những hành giả sắp đạt quả vị Bồ-tát. Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo) cao Tăng Cao Ly, đưa ra ví dụ như một người có địa vị cao trong xã hội mà phát sinh tính kiêu hãnh.
biệt tự
(別序) I. Biệt tự, bài tựa riêng, đối lại với Thông tự,..... (tựa chung). Trong phần tựa các kinh, bộ phận đặc biệt chỉ giới hạn nơi nguyên do phát khởi bộ kinh, gọi là Biệt tự. Cũng gọi Phát khởi tự. Thắng man kinh nghĩa sớ (Đại 56, 1 trung) nói : Quán thông cả các kinh, như Lục chủng thành tựu, kinh nào cũng có, gọi là Thông tự. Còn duyên khởi cảm Phật nói pháp thì chỉ kinh này có, các kinh khác không có, nên gọi là Biệt tự. II. Biệt tự. Bài tựa đầu tiên trong sách Hiển Tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại của ngài Thân loan thuộc Tịnh độ Chân tông Nhật Bản, gọi là Tổng tự, còn bài tựa được viết riêng cho quyển Tín thì gọi là Biệt tự, tức đối với bài Tổng tự trong quyển thứ nhất mà gọi là Biệt tự .
biệt viện
(別院) Viện riêng. Ngoài ngôi chúa chính (bản sơn) của một tông ra, các chùa viện được xây cất ở những nơi khác, đều gọi là Biệt viện. Như Phật quang sơn ở Cao hùng, Đài loan, có Biệt viện là chùa Phổ môn ở Đài bắc và Biệt viện là chùa Phổ hiền ở huyện Cao hùng v.v...
biệt vô âm tín
See Biệt Tăm.
biệt xứ
To be exiled.
; (別處) Chỗ riêng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ những viện chi nhánh phụ thuộc các chùa viện lớn ở Nhật bản. Tịnh độ chân tông Nhật bản gọi Biệt xứ là Quải sở, huyền sở (chỗ để treo gậy tích, ý nói treo gậy để nghỉ ngơi). [X. Khảo tín lục Q.5].
biệt y
Nghĩa lý làm chỗ dựa riêng cho một kinh thì gọi là biệt y, đối lại với nghĩa lý làm chỗ dựa cho các kinh thì gọi là tổng y—The secondary texts or authorities, in contrast with the principal texts of a school.
biệt yết ma
(別羯磨) Pàli: Vagga-Kamma. Cũng gọi Biệt chúng yết ma, Biệt chúng. Cùng ở trong một kết giới, vì hoàn cảnh đặc biệt nào đó, một số ít tăng sĩ trong giáo đoàn tách rời đại chúng để làm tác pháp riêng, gọi là Biệt yết ma. Trong 10 việc trái phép mà vốn đã là nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự chia rẽ giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy, Biệt yết ma là việc thứ tư. Thời bấy giờ có phái phản đối cho rằng Biệt yết ma là phạm tội phá tăng. Còn người làm Biệt yết ma gọi là Biệt chúng tăng. Ngoài ra, cứ theo luật Tứ phần quyển 44 chép, thì đức Phật bảo các vị tỉ khưu là tăng có bốn loại: tăng bốn người, tăng năm người, tăng mười người, tăng hai mươi người v.v... Tăng ở thời kì đầu là lấy bốn người xuất gia làm đơn vị cơ bản của chúng hòa hợp, còn gọi một nhóm nhỏ chỉ gồm hai, ba người xuất gia là Biệt chúng. [X. luật Thập tụng Q.30 Chiêm ba pháp; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng].
biệt đàn mạn đồ la
(別壇曼荼羅) Là đàn riêng biệt của mỗi vị tôn trong Mật giáo, đối lại với Đô hội đàn của hai bộ Kim cương giới và Thai tạng giới. Cách vẽ đàn: Lấy vị tôn của một môn làm đài giữa, còn quyến thuộc của bộ môn ấy thì chia ra bày làm lớp thứ hai, lớp thứ ba. [X. kinh Đại nhật phẩm Bí mật mạn đồ la; Đại nhật kinh sớ Q.16].
biệt đãi
To treat exceptionally well.
Biệt đương
別當; C: biédāng; J: bettō;|Từ chỉ vị chủ trì, cai quản một tu viện lớn. Thuật ngữ này không còn thông dụng.
Biệt đường 別當
[ja] ベットウ bettō ||| The abbot, or administrator, of a large temple. This term is no longer used. => Vị trú trì, hay giám viện một ngôi chùa lớn. Thuật ngữ nầy nay không còn dùng nữa.
biệt đồ
(別途) Đường riêng. Giáo thuyết chỉ giới hạn trong một tông, gọi là Biệt đồ. Còn giáo thuyết chung cho cả Phật giáo thì gọi là Thông đồ. Biệt đồ là giáo thuyết thù thắng của riêng một tông, đối với Thông đồ nó được coi là giáo thuyết bàn tới chỗ mầu nhiệm mà chưa tông nào khác bàn đến. Chẳng hạn như phàm phu sinh về cõi Báo độ của tông Tịnh độ bàn tới; lòng tin là nhân chính yếu là Biệt đồ của Tịnh độ chân tông Nhật bản bàn tới.
Biệt 別
[ja] ベツ betsu ||| (1) To distinguish, discriminate. Discrimination, differentiation. (vikalpa) (2) Split, be divided, branch off from. (3) Another, different, particular, separate, exception, difference, distinction. (prthak) (4) To teach, or explain separately. (5) Special, exceptional. => Có các nghĩa sau: 1.Nhận rõ , phân biệt. Sự nhận rõ điều khác nhau, sự phân biệt(s: vikalpa). 2. Tách ra, phân ra, tách ra. 3. Cái khác, khác biệt, riêng biệt, riêng lẻ, ngoại lệ, sự khác nhau, sự phân biệt (s: prthak). 4. Truyền dạy hay giải thích riêng. 5. Đặc biệt, ngoại lệ.
bong bóng
Bubble.
bong bóng nước
A water buble
bung ra
To untretch—To unwind.
buôn thúng bán mẹt
To be a small vendor or merchant.
buôn thần bán thánh
To earn a living from religion.
buông
To let go—To release.
buông bỏ
Nissarana (S), Pahana (S), Vividisha-samnyaśa (S), Release, Let-go.
; Letting go. 1) Giáo pháp căn bản của Đức Phật chỉ dạy chúng ta cách trấn an và khống chế “Ý mã.” Khi chúng ta buồn ngũ, chỉ cần nằm xuống, tắt đèn là buông thỏng thân tâm—A basic teaching of the Buddha on how to calm and rein in the “monkey” mind. When we feel asleep, just lie down in a quiet place, put the lights out and let go our minds and bodies. 2) Theo một câu chuyện về Thiền của Nhật Bản—According to a Japanese Zen story: - Có hai thiền sư Ekido and Tanzan cùng hành trình về Kyoto. Khi đến gần một bờ sông, họ nghe giọng một cô gái kêu cứu. Họ bèn đến nơi thì thấy một cô gái trẻ đẹp đang trôi giạt giữa dòng sông: Zen masters Ekido and Tanzan were on a journey to Kyoto. When they approached the river side, they heard a girl's voice calling for help. When they arrived they saw a young pretty girl, stranded in the river. - Ekido lập tức chạy đến và mang cô an toàn sang bờ bên kia. Nơi đó Ekido cùng Tanzan tiếp tục cuộc hành trình: Ekido immediately jumped down the river and carried the girl safely to the other side where, together with Tanzan, he continued his journey. - Khi mặt trời bắt đầu lặn, họ sắp đặt mọi việc để ổn định chỗ ở qua đêm. Tanzan không thể kềm chế mình được nữa, liền nói toạc ra. “Sao bạn có thể đem cô gái ấy lên? Bạn không nhớ là chúng ta không được phép đụng đến đàn bà hay sao?”—As the sun began to set, and they made arrangements to settle down for the night, Tanzan could no longer contain himself and blurted out: “How could you pick up that girl? Do you remember that we are not allowed to touch women?” - Ekido liền trả lời: “Tôi chỉ đưa cô gái sang bờ bên kia, nhưng bạn vẫn còn mang cô gái ấy đến đây.”—Ekido replied immediately: “I only carried the girl to the river bank, but you are still carrying her.”
buông lung
Licentious.
; Give free rein to one's emotion. Những lời Phật dạy về “Buông Lung”—The Buddha's teachings on “Giving free rein to one's emotion” 1) Không buông lung đưa tới cõi bất tử, buông lung đưa tới đường tử sanh; người không buông lung thì không chết, kẻ buông lung thì sống như thây ma—Heedfulness (Watchfulness) is the path of immortality. Heedlessness is the path of death. Those who are heedful do not die; those who are heedless are as if already dead (Dharmapada 21). 2) Kẻ trí biết chắc điều ấy, nên gắng làm chứ không buông lung. Không buông lung thì đặng an vui trong các cõi Thánh—Those who have distinctly understood this, advance and rejoice on heedfulness, delight in the Nirvana (Dharmapada 22). 3) Không buông lung, mà ngược lại cố gắng, hăng hái, chánh niệm, khắc kỷ theo tịnh hạnh, sinh hoạt đúng như pháp, thì tiếng lành càng ngày càng tăng trưởng—If a man is earnest, energetic, mindful; his deeds are pure; his acts are considerate and restraint; lives according to the Law, then his glory will increase (Dharmapada 24). 4) Bằng sự cố gắng, hăng hái không buông lung, tự khắc chế lấy mình, kẻ trí tự tạo cho mình một hòn đảo chẳng có ngọn thủy triều nào nhận chìm được—By sustained effort, earnestness, temperance and self-control, the wise man may make for himself an island which no flood can overwhelm (Dharmapada 25). 5) Người ám độn ngu si đắm chìm trong vòng buông lung, nhưng kẻ trí lại chăm giữ tâm mình không cho buông lung như anh nhà giàu chăm lo giữ của—The ignorant and foolish fall into sloth. The wise man guards earnestness as his greatest treasure (Dharmapada 26). 6) Chớ nên đắm chìm trong buông lung, chớ nên mê say với dục lạc; hãy nên cảnh giác và tu thiền, mới mong đặng đại an lạc—Do not indulge in heedlessness, nor sink into the enjoyment of love and lust. He who is earnest and meditative obtains great joy (Dharmapada 27). 7) Nhờ trừ hết buông lung, kẻ trí không còn lo sợ gì. Bậc Thánh Hiền khi bước lên lầu cao của trí tuệ, nhìn lại thấy rõ kẻ ngu si ôm nhiều lo sợ, chẳng khác nào khi lên được núi cao, cúi nhìn lại muôn vật trên mặt đất—When the learned man drives away heedlessness by heedfulness, he is as the wise who, climbing the terraced heights of wisdom, looks down upon the fools, free from sorrow he looks upon sorrowing crowd, as a wise on a mountain peak surveys the ignorant far down on the ground (Dharmapada 28). 8) Tinh tấn giữa đám người buông lung, tỉnh táo giữa đám người mê ngủ, kẻ trí như con tuấn mã thẳng tiến bỏ lại sau con ngựa gầy hèn—Heedful among the heedless, awake among the sleepers, the wise man advances as does a swift racehorse outrun a weak jade (Dharmapada 29). 9) Nhờ không buông lung, Ma Già lên làm chủ cõi chư Thiên, không buông lung luôn luôn được khen ngợi, buông lung luôn luôn bị khinh chê—It was through earnestness that Maghavan rised to the lordship of the gods. Earnestness is ever praised; negligence is always despised (blamed) (Dharmapada 30). 10) Tỳ kheo nào thường ưa không buông lung hoặc sợ thấy sự buông lung, ta ví họ như ngọn lửa hồng, đốt tiêu tất cả kiết sử từ lớn chí nhỏ—A mendicant who delights in earnestness, who looks with fear on thoughtlessness, cannot fall away, advances like a fire, burning all his fetters both great and small (Dharmapada 31). 11) Tỳ kheo nào thường ưa không buông lung hoặc sợ thấy sự buông lung, ta biết họ là người gần tới Niết bàn, nhất định không bị sa đọa dễ dàng như trước—A mendicant who delights in earnestness, who looks with fear on thoughtlessness, cannot fall away, he is in the presence of Nirvana (Dharmapada 32). 12) Người nào thành tựu các giới hạnh, hằng ngày chẳng buông lung, an trụ trong chính trí và giải thoát, thì ác ma không thể dòm ngó được—Mara never finds the path of those who are virtuous, careful in living and freed by right knowledge (Dharmapada 57). 13) Chớ nên theo điều ty liệt, chớ nên đem thân buông lung, chớ nên theo tà thuyết, chớ làm tăng trưởng tục trần—Do not follow the evil law, do not live in heedlessness. Do not embrace false views, do not be a world-upholder (Dharmapada 167). 14) Hăng hái đừng buông lung, làm lành theo Chánh pháp. Người thực hành đúng Chánh pháp thì đời nầy vui đời sau cũng vui—Eagerly try not to be heedless, follow the path of righteousness. He who observes this practice lives happily both in this world and in the next (Dharmapada 168). 15) Nếu buông lung thì tham ái tăng lên hoài như giống cỏ Tỳ-la-na mọc tràn lan, từ đời nầy tiếp đến đời nọ như vượn chuyền cây tìm trái—Craving grows like a creeper which creeps from tree to tree just like the ignorant man wanders from life to life like a fruit-loving monkey in the forest (Dharmapada 334).
buông lung thương ghét, là tự kết án mình vào hầm lửa vạc dầu
To let delusive thoughts of love and hate freely arise is to be condemned ourselves to the firepit and the boiling cauldron.
buông lung trong tham đắm dục lạc
To devote onself entirely (wallow) in endless greed and lust.
buông lời
To utter words.
buông xả
Cāga (P), Abandoning, Giving away, Letting-go.
; Detachment—Abandonment—To desert—To drop—To foresake. **For more information, please see Buông Bỏ.
buốt lạnh
Ice-cold.
buồn
Sad—Doleful—Melancholy—Dismal—Disconsolate—Drearye.
buồn bực
Boredom.
buồn chán
Boring.
buồn chân buồn tay
Not to know what to do with one's hands.
buồn hiu
Very sad—Extremely sad.
buồn ngủ
To be sleepy.
buồn nản
Discouraged.
buồn phiền
Soka (S). Sorrow, grief. Also phiền não.
buồn rười rượi
Very sad.
buồn rầu
Domanassa (S), Unpleasant feeling.
; Sorrowful—To feel grief.
buổi giao thời
Period of transition.
buổi họp
Session—Meeting.
buổi lễ
Ceremony.
buổi sơ khai
Beginning.
buổi thiếu thời
Early youth.
buộc
To oblige—To constrain—To compel—To bind—To force.
buộc chặt
To bind tightly.
buộc tâm vào một điểm
To concentrate exclusively on one point; try to focus on this point and nothing else.
buộc tội
To accuse—To indict.
byamaka byamaka
(P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
bà
A dame—A mother—A wife.
; (婆) Chữ Tất Đàm (bha). Là một trong năm mươi chữ cái, một trong bốn mươi hai chữ cái Tất Đàm. Nghĩa tóm tắt như sau:1. Về tướng chữ nông cạn thì giải nghĩa là Hữu...(có), về nghĩa chữ sâu kín thì giải nghĩa là Hữu bất khả đắc.... ..... (có chẳng thể được). Kinh Đại Nhật quyển 2 và kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 bảo, nghĩa hữu(có) là giải thích từ chữ Phạmbhava (phiên âm Bà Phạ). 2. Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 5 và luận Đại Trí Độ quyển 48, giải nghĩa là phá hoại, là giải thích từ chữ Phạm Bhaíga (phiên âm Bà Già) 3. Kinh Niết Bàn (bản Bắc) quyển 8 giải nghĩa là gánh vác, là chuyển thích từ nghĩa chữ Phạm Bharam. 4. Kinh Hoa Nghiêm (bản dịch mới) quyển 76, giải thích là cung điện, là theo nghĩa của chữ Phạm Bhavana. 5. Kinh Đại Nhật quyển 6 và kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni quyển 3, giải nghĩa là tu tập, quán tập, quán tưởng, là giải thích từ chữ Phạm Bhàvanà (phiên âm Bà Phạ Na). [X. kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7 Quán phẩm; Đại Nhật kinh Sớ Q.7]. (xt. Tất Đàm).
bà bà già lợi
Papakarin (skt). 1) Ác giả: Evil-doer. 2) Tên của một vị thái tử: Name of a prince.
bà bà hoà hoà
(婆婆和和) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là bắt chước trạng thái ú ớ của tiếng trẻ con; chuyển dụng để thí dụ lời nói việc làm của Như Lai không thiên vị. Tiếng dùng để thí dụ như Anh Nhi Hành được chép trong kinh Niết Bàn (bản Nam) quyển 18. Thụy Châu Động Sơn Lương Giới thiền sư Ngữ Lục (Đại 47, 526 thượng), nói: Như trẻ con mới sinh, năm tướng đầy đủ, chẳng đi, chẳng lại, chẳng đứng, chẳng ngồi, ú a ú ớ (bà bà hòa hòa), câu được câu chăng, cuối cùng chẳng được cái gì, vì nói chưa rõ. (xt. Anh Nhi Hành).
bà bóng
Beldame.
bà chằng
Ogress.
bà con
Relatives—Kindred.
bà da
Payas (skt)—Nước hay chất lỏng—Water, liquid, or fluid—Juice.
bà già
Bhaga (skt)—Một phần hay một phân chi—A portion, division, fraction.
; (婆伽) Phạm: Bhaíga. Dịch ý là phá, diệt. Còn gọi là Bà Nga, Bạc Già. Luận Đại Trí Độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ), nói: Bà già, Hán dịch là phá. Lại Phạm Ngữ Tạp Danh cũng nói: Bà nga, hàm ý là phá. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.1].
bà già bà
Xem Thế tôn.
; Bhagavat (skt)—Bà Già Phạm. - Tốt Lành: Fortunate. - Tôn Quý: Revered. - Thánh Thiện: Sacred. - Thế Tôn: World Honoured. - Danh Hiệu của Phật: An epithet of a Buddha.** For more information, please see Bạt Già Phạm.
; (婆伽婆) Phạm: Bhagavat. I - Bà Già Bà. Một trong các hiệu chung của chư Phật. Cũng gọi là Bạc Già Phạm, Bà Già Phạm, Bà Già Bạn, Bạc A Phạm, Bà Nga Phạ Đế, Bà Nga Phạ Để, Bạc Già Bạt Đế. Dịch ý là có đức, có công đức lớn, có thanh danh, giúp mọi người, khéo phân biệt, hay phá, Thế Tôn. Tức hàm ý là bậc có đầy đủ mọi đức, được người đời tôn trọng cung kính. Cũng tức là tôn xưng đức Phật. Về ngữ nghĩa của Bà Già Bà, thì trong các kinh luận, như luận Đại Trí Độ quyển 2, Phật Địa Kinh Luận quyển 1, luận Pháp Uẩn Túc quyển 2 phẩm Chứng Tịnh v.v... đều có dẫn dụng hoặc giải nghĩa. Lại cứ theo Phật Địa Kinh Luận quyển 1, Huyền ứng Âm nghĩa quyển 3 chép, thì Bà Già Bà (Bạc Già Phạm) bao nhiếp mọi đức, bởi thế mà được đặt ở đầu các kinh. Đây tức chi chữ Phật, dịch từ Bà Già Bà, trong Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại... đặt ở đầu các kinh. Như thế đủ biết từ ngữ Bà Già Bà được người ta biết rất rộng rãi. Ngoài ra, Bà Già Bà vốn không có nghĩa Thế Tôn, tiếng Thế Tôn thông thường ai ai cũng hiểu một cách dễ dàng, bởi vậy, từ xưa tới nay, các nhà phiên dịch phần nhiều đều cho đó là dịch ý từ tiếng Bà Già Bà. Lại cứ theo Phật Địa Kinh Luận quyển 1 chép, thì Bạc Già Phạm có sáu nghĩa, đó là: 1. Nghĩa tự tại, 2. Nghĩa xí thịnh, 3. Nghĩa đoan nghiêm, 4. Nghĩa danh xưng, 5. Nghĩa cát tường, 6. Nghĩa tôn quí. Lại kinh Niết Bàn (bản Bắc) quyển 18 thì bảo Bà Già Bà có bảy nghĩa, tức là: 1. Hay phá phiền não, 2. Hay thành tựu các pháp lành, 3. Khéo hiểu các pháp nghĩa, 4. Có công đức lớn, không ai hơn được, 5. Có thanh danh lớn, truyền khắp mười phương, 6. Có thể thực hiện những việc huệ thí lớn, 7. Trong vô lượng a tăng kì kiếp không phải chịu nữ căn, bỏ hết sạch các phiền não xấu ác. Ngoài ra, thông thường, người Ấn Độ cũng dùng từ ngữ Bà Già Bà để tôn xưng Thần tiên, quí nhân, trong trường hợp ấy, Bà Già Bà có đủ sáu nghĩa: tự tại, chính nghĩa, li dục, cát tường, danh xưng, giải thoát v.v... (xt. Thế Tôn). II - Bà Già Bà. Một trong ba mươi bảy hiệu của đức Phật A Di Đà. Trong Tán A Di Đà Phật kệ có câu: Ngã đính lễ Bà Già Bà, tức lấy hiệu chung của chư Phật mà đặt tên, vì Bồ Tát trong mười phương cung kính tán thán công đức rộng lớn vô biên của Phật A Di Đà, nên mới dùng Bà Già Bà là từ có đầy đủ ý vị của công đức lớn để ca tụng Phật A Di Đà. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.14; Bách Luận Q.thượng; luận Du Già Sư Địa Q.38; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.20 phần cuối; Dị Bộ Tôn Luân Luận Thuật Kí; Phiên Phạm Ngữ Q.1].
bà già bà, bạc già phạm
Bhagavat (S) Buddha.
bà già phạm
Xem Thế tôn.
bà già tiên
(婆伽仙) Bà Già, Phạm:Bhàrgava. Còn gọi là Bạt Già Bà Tiên, Bà Già Bà Tiên, Bạt Già Tiên. Dịch ý là Ngõa Sư, Vô Bất Đạt. Là người tiên trong rừng Khổ hạnh thuộc nước Tì Xá Li. Nhờ có Thái tử Thích Ca, sau khi vượt thành xuất gia, đến rừng này hỏi đạo nơi ông một đêm mà ông tiên này nổi tiếng. Tuy nhiên, học thuyết của ông này không được rõ. Theo kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển 2 tường thuật, thì ông tiên này và đồng bạn đều tu khổ hạnh để cầu sinh lên trời, mình che cỏ, vỏ cây, ăn hoa quả, hoặc tự nhịn đói, thờ nước lửa, lạy mặt trời mặt trăng, có người chỉ đứng một chân, nằm trên bùn đất, chông gai v.v... Thái tử xem phép tu khổ hạnh ấy, biết chỉ có thể đạt được quả báo sinh lên cõi trời, rồi cùng đàm đạo với tiên Bạt Già và các tiên khác, biết đó không phải là đạo giải thoát chân chính, Thái tử bèn từ biệt mấy ông mà đến nơi tiên A La La (có thuyết nói khi Thái tử đến Tì Xá Li thì giữa đường gặp ông tiên này). [X. kinh Phật Bản Hạnh tập Q.20 phẩm Quán Chư Dị Đạo; luận Đại Trí Độ Q.1].
bà ha
Vaha (skt). 1) Mang: Bearing—Carying. 2) Cuộc sống siêu nhiên: A supernatural life. 3) Đấu (đong lường): A large grain-container of twenty bushels.
; (婆訶) Phạm: Vàha. Dịch ý là cái vựa để lúa. Tức đồ dùng có thể chứa được hai mươi khư lê. Khư lê, tức một hộc, tương đương với mười đấu. Lại có từ Bà Ha Ma, Bà Ha là tên đồ dùng; còn ma.., chi cho hồ ma ......(vừng, mè). Phiên dịch Danh Nghĩa Tập quyển 3 (Đại 54, 1107 thượng), nói: Câu Xá Bảo Thọ Lượng của Át Bộ Đà như một Bà Ha vừng (mè), cứ mỗi trăm năm bỏ ra một hạt, khi nào hết vừng thì thọ lượng cũng hết. Hán dịch là một vựa, hai mươi hộc vừng, cứ một trăm năm lấy ra một hạt, bao giờ vừng hết thì thọ lượng của Át Bộ mới hết. [X. Câu Xá Luận Quang Kí Q.11; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.24].
bà ha ma
See Bà Ha.
bà hoà
(婆啝) Chi sự phát tiếng (oa oa) của trẻ con. Kinh Niết Bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 485 trung), nói: Cái gọi là Bà Hòa, Hòa là hữu vi, Bà là vô vi, ấy là trẻ con. (xt. Đa Đá Bà Hòa).
bà kì xá
(婆耆舍) Pàli: Vaígìsa. Là một trong các đệ tử của Phật. Còn gọi là Bà Kì Sa, Bằng Kì Xá. Là nhà thơ nổi tiếng nhất trong hàng ngũ đệ tử Phật, thường xuất khẩu thành thơ để tán thán đức Phật và các vị đệ tử Thượng Tọa. Ngoài ra, ngài còn giỏi lời lẽ biện luận, không bị vấp váp. Từng làm Yếm Li Kệ để tự khích lệ; đến khi chứng được lậu tận minh thì làm thơ tán thán tam minh (Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh). Về sau, khi bệnh nặng, ngài ngâm Vô thượng kệ mà Bát Niết Bàn. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 (Đại 2, 557 trung), nói: Tôi là tỉ khưu thứ nhất trong hàng Thanh Văn, (...) hay làm thơ tán thán đức Như lai, đó là Tỉ Khưu Bằng Kì Xá; lời lẽ biện luận không vấp váp, cũng là Tỉ Khưu Bằng Kì Xá.
bà la
Vihàrapàla (S). Keeper of the pagoda. Xem Duy na.
; 1) Pala (skt)—Người bảo hộ—Keeper—Guardian—Warden. 2) Viharapala (skt)—Vị sư coi việc kiểm chúng trong tự viện—Warden of a monastery. 3) Bala (skt)—Lực—Power—Strength—See Ngũ Lực, Ngũ Căn, and Thập Lực. 4) Tên của em gái của Ngài A Nan Đa, người đã dâng sữa lên Đức Phật—Name of the sister of Ananda who offered milk to Sakyamuni.
; (婆羅) I - Bà La. Phạm: Vihàrapàla. Nói đủ là Tì-ha-la-ba-la. Dịch ý là thứ đệ, hộ tự (hộ chùa), là gọi riêng chức Duy-na. Tức là chức vụ trông nom sắp đặt thứ tự tăng chúng trong Thiền lâm. Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng truyện quyển thượng, có ghi chế độ chùa tại chùa Na Lan Đà như sau (Đại 51, 5 hạ): Nếu đến phiên trực thì trông nom cửa chùa và hòa Tăng bạch việc, gọi là Tì Ha La Ba La, dịch là hộ tự. [X. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.hạ đoạn 2]. (xt. Duy Na). II - Bà La. Phạm: Bà La. Dịch ý là trẻ con mới sinh, ngu. Đây là dịch đúng, còn có người dịch là lông, là do lầm lẫn với chữ PhạmVàla (phạ la), có nghĩa là lông, mà dịch sai. [ X. Duy Thức Xu Yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Phàm Phu). III - Bà La. Phạm Bà Là Ha . Gọi đủ là Bà La Ha, ý là ngựa mây. Tên vua ngựa. Chỉ ngựa quí báu của Luân vương. Ngựa này có khả năng đi trong hư không một cách nhanh chóng, không trở ngại, vì thế gọi là ngựa mây. [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.8; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.12 ].
bà la a điệt đa vương
(婆羅阿迭多王) Bà La A Điệt Đa, Phạm: Bàlàditya, dịch là Tân Nhật, Ảo Nhật. Còn gọi là Bà La Dật Để Dã Vương. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 9 chép, thì ông này là vua nước Ma Yết Đà ở Ấn Độ, thâm tín Phật Pháp, xây dựng rất nhiều chùa tháp, từng can gián bạo chúa nước Trách Ca và chiết phục bạo chúa này, sau xuất gia làm sa môn. Nhưng cứ theo Bà Tẩu Bàn Đậu pháp sư truyện chép, thì ông này là vua cai trị nước A Du Xà vào thời đại ngài Thế Thân (còn gọi là Thiên Thân), khi còn là Thái tử đã thụ giới nơi Thế Thân, bà mẹ cũng xuất gia làm đệ tử Thế Thân. Sau khi lên ngôi, rước Thế Thân về ở nước A Du Xà để cúng dường. Về cuộc đời của ông vua này, theo Sử Mật Tư (V. A. Smith) cho rằng, vua Tân Nhật chính là vua Sa Mẫu Đà La Cấp Đa (Phạm Samudragupta) thuộc giòng vua Cấp Đa (Phạm Gupta), lúc ông tại vị, gồm hợp cả nước A Du Xà và Ma Yết Đà, vì thế gọi là A Du Xà quốc vương, Ma Yết Đà quốc vương, Thất La Phạt Tất Để quốc vương [X. Thích Ca Phương Chí Q.hạ; Chỉ Quất Dịch Thổ tập Q.19; M. A. Stein: Kalhana’s Chronicle of the Kings of Kazmìr; V. A. Smith: The Early History of India]. (xt. Tân Nhật Vương).
bà la bà xoa
(婆羅婆叉) Phạm: Bàlabhakwa.Một loại quỉ đói. Dịch ý là thực tiểu nhi (ăn trẻ con). Cứ theo kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 16 nói, thì tất cả quỉ đói đều vì kiếp trước hay sinh ác tâm, ghen ghét, phá hoại, thân, khẩu, ý tạo các nghiệp độc ác, nên phải sinh vào đường quỉ đói, bị nghiệp ác dắt dẫn, chịu tất cả khổ não, không thoát khỏi được sống chết. Những món mà loài quỉ đói này ăn, cũng là các chúng sinh đã gây nghiệp giết hại mà sinh vào cõi người. Lại quỉ đói có ba mươi sáu loại, loại thứ hai mươi bốn tức là Bà La Bà Xoa, là quỉ đói ăn thịt trẻ con. [X. kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q.27].
bà la ha
Balahaka (skt)—Vua về ngựa—A king of horses, or possessing horses.
bà la hấp ma bổ la
Brahmapura (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía bắc Ấn Độ, mà những danh hiệu triều đại đều là Nữ Vương, nên còn gọi là Nữ Quốc. Người ta nói bây giờ là vùng Garhwal—An ancient kingdom of Northern India, the dynastic title of which was entailed upon the female line exclusively. Said to be Garhwal.
bà la lưu chi
Xem A xà Thế.
; (婆羅留支) Phạm: Balaruci. Còn gọi là Bà Lưu Chi. Là tên gọi riêng của vua A Xà Thế. Dịch ý là Chiết Chỉ (bẻ gãy ngón tay), Vô Chỉ (không có ngón tay). Khi vua A Xà Thế mới sinh, thầy tướng đoán sẽ hung ác, vua cha bèn sai người ném từ trên lầu xuống mà không chết, chỉ gãy một ngón tay, vì vậy mà có tên riêng là Bà La Lưu Chi. Pháp Hoa Văn Cú Q.hạ phần dưới]. (xt. A Xà Thế Vương).
Bà La Môn
(s, p: brāhmaṇa, 婆羅門): ý dịch là Tịnh Hạnh (淨行), Tịnh Chí (淨志), Phạm Chí (梵志), là một trong bốn dòng họ của chế độ giai cấp xã hội Ấn Độ ngày xưa, đứng đầu trong bốn giai cấp. Giai cấp này được xem như là sanh ra từ miệng của Phạm Thiên, tụng kinh Phệ Đà, hành lễ tế tự, và chuyên về học vấn. Cuộc đời của vị Bà La Môn trãi qua bốn thời kỳ gồm: thời kỳ phạm hạnh, thời kỳ sống ở nhà, thời kỳ sống trong rừng và thời kỳ đi du hành. Vào khoảng 7-8 tuổi người này đến sống ở nhà của thầy và học tập kinh Phệ Đà cũng giống như nghi lễ cúng tế trong vòng 12 năm, đó gọi là thời kỳ phạm hạnh (tức thời kỳ học sinh). Đến khoảng năm 20 tuổi anh ta trở về nhà, lập gia đình, có con nối dòng dõi, thờ cúng vong linh của các vị thần và ông bà tổ tiên, chuyên tâm vào công việc gia đình. Đó gọi là thời kỳ sống ở nhà. Đến lúc tuổi già vị ấy nhường hết gia sản lại cho đứa con nối dõi rồi vào sống ở trong rừng, chuyên thờ cúng các vị thần, chuyên tu tập thiền định. Đó là thời kỳ sống trong rừng. Sau đó vị ấy từ bỏ tất cả mọi ràng buộc của cuộc đời, rời khỏi cuộc đời, sống một cuộc sống khất thực đi lang thang đó đây. Đó là thời kỳ du hành. Như vậy đối với một vị Bà La Môn cũng có sinh hoạt tại gia và xuất gia. Cho nên vị Bà La Môn xuất gia thì được gọi là Phạm Chí. Những người xuất gia cầu đạo ngoài giai cấp Bà La Môn ra thì được gọi là Sa Môn. Từ này được dùng để phân biệt đối với những người Bà La Môn xuất gia.
bà la môn
Brāhmaṇa (S, P), bram dze (T)Bà la môn chủngMột giai cấp có độc quyền về tôn giáo, thần linh ở Ấn độ ngày xưa, cho đến vua cũng phải kiêng nễ và lễ bái.
; Brahmin (S) Giai cấp Bà la môn, Bràhmana caste.
; Brahmins (skt)—Brahmanism—Bà La Hạ Ma Nô—Một đạo giáo cổ truyền của Ấn Độ cách đây trên bốn ngàn năm, do ông Krishna sáng lập. Căn cứ trên Thánh kinh Vệ Đà thì thần Phạm Thiên là vị thần có quyền pháp sáng tạo ra muôn vật. Có bốn giai cấp trong xã hội theo Ấn Độ giáo. Theo đạo Bà La Môn, sống đây là sống gởi. Chết sẽ về với Phạm Thiên đời đời nếu tuân theo đúng chân lý của Phạm Thiên. Bà La Môn là những người thuộc giai cấp cao nhất trong xã hội Ấn Độ dưới thời Đức Phật—This is an age-old religion in India, dated 4,000 years ago, and founded by Krishna. According to the Vedas, Brahma has the power to create all sentient beings and things. There are four castes in Hindu society system. In Brahmanist concept, the present life is temporary while death is the return to Brahma to live an eternal happy life if one obeys Brahma's tenets. Brahmins belong to the highest class in Indian society during the time of the Buddha—See Brahmana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, Tứ Giai Cấp Ấn Độ in Vietnamese-English Section, and Kinh Pháp Cú in Appendix B (Phẩm 16).
; (婆羅門) Phạm: Bràhmaịa. Còn gọi là Bà La Ha Ma Nô, Bà La Hấp Mạt Nô, Một La Hám Ma. Dịch ý là Tịnh Hạnh, Phạm Hạnh, Phạm Chí, Thừa Tập. Là tăng lữ ở địa vị cao nhất trong bốn giai cấp ở Ấn Độ, giai cấp học giả. Là giai cấp lũng đoạn tất cả tri thức ở Ấn Độ xưa, tự nhận là giai cấp hơn hết trong xã hội Ấn Độ. Trường A Hàm quyển 6 kinh Tiểu Duyên, quyển 15 kinh Chủng Đức, Tuệ Lâm âm nghĩa quyển 29, đều chép là giai cấp này từ miệng Phạm thiên sinh ra, hình tướng đẹp đẽ, trong sạch cao thượng, lấy việc học tập kinh Phệ Đà và trông nom việc tế tự làm nghề nghiệp. Theo qui định của Ma Nô Pháp Điển, Bà la môn trong bốn chủng tính có sáu pháp, là học tập kinh Phệ Đà, dạy kinh Phệ Đà, tế lễ cho mình, tế lễ cho người khác, bố thí, nhận của bố thí. Trong bốn chủng tính, trừ chủng tính Thủ Đà La thấp nhất ra, còn ba chủng tính kia đều được tụng kinh Phệ Đà, tự tế lễ cho mình, nhưng làm thầy tế lễ cho người khác, dạy Phệ Đà cho người khác và nhận của bố thí, thì chỉ có Bà la môn được quyền làm mà thôi. Một đời của người Bà la môn chia làm bốn thời kì: 1. Thời kì Phạm Hạnh (Phạm: Brahma-càrin), tám tuổi đi theo thầy, sau đó, trong mười hai năm, học kinh Phệ Đà, tập các nghi thức tế lễ. 2.Gia Trụ(Phạm: Gfha-stha), là thời kì về nhà lấy vợ sinh con, thờ tổ tiên, lo việc đời. 3. Thời kì Thê Lâm (Phạm: Vànaprastha), lúc tuổi già, giao gia sản lại cho con và vào rừng tu khổ hạnh, chuyên tâm tư duy, sống cuộc đời tôn giáo. 4.Thời kì Độn Thế(Phạm: Saônyàsin), dứt sự ham đắm thế tục, mặc áo thô, mang bình nước, chu du khắp nơi. Những hành pháp của Bà la môn trong thời kì Độn Thế (trốn đời), về sau được Phật giáo thu dụng rất nhiều, như du hành, khất thực, ở yên trong mùa mưa (hạ an cư) v.v..., bằng chứng là những người Bà la môn trong thời kì này được gọi là Tỉ Khưu (Phạm: bhikwu), Sa Môn (sramaịa), Người Du Phương (parivràjaka). Kinh Tạp A Hàm quyển 17, quyển 19, Trung A Hàm quyển 48 kinh Mã Ấp, kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 47, lại cho sa môn và Bà la môn là đồng nghĩa. Trường A Hàm quyển 16 kinh Tam Minh, có liệt kê những người Bà la môn tụng trì kinh Phệ Đà, là: A Tra Ma, Bà Ma, Bà Ma Đề Bà, Bà Bà Tất, Tì Bà Thẩm, Y Ni La Tư, Xà Bà Đề Già, Ca Diếp, A Lâu Na, Cù Đàm Ma, Thủ Chi, Bà La Tổn Đà v.v... Luận Du Già Sư Địa quyển 29, lại chia Bà la môn thành ba loại: 1. Người sinh vào nhà Bà la môn chủng, gọi là Chủng tính Bà la môn. 2. Người giả xưng Bà la môn, gọi là Danh tưởng Bà la môn. 3. Người trừ bỏ các pháp ác mà làm các điều thiện, gọi là Chính hành Bà la môn. [X. kinh Tạp A Hàm Q.4; Trường A Hàm Q.5 kinh Điển Tôn; kinh Tăng nhất A Hàm Q.11, Q.46; Kim Cương Châm luận; luận Thành Thật Q.7 phẩm Tam Nghiệp; luận Đại Tì Bà Sa Q.77; Huyền Ứng âm nghĩa Q.18]. (xt. Tứ Tính, Phạm Chí).
bà la môn ba
Brahmanapura (skt)—Thành phố nằm về phía đông bắc kinh thành Malava—A city north-east of the capital Malava.
bà la môn giáo
(婆羅門教) (BRAHMANISM) Là tôn giáo Ấn Độ cổ đại lấy giai cấp Bà la môn làm trung tâm mà phát triển. Là giáo phái bắt nguồn từ tín ngưỡng Phệ Đà xưa, hình thành vào khoảng thế kỉ XII trước Tây lịch, tôn sùng Phệ Đà, tin đa thần, tuân thủ chế độ Tứ tính, chủ trương Bà la môn là cao nhất, coi trọng việc tế lễ, kì vọng được sinh lên Niết bàn trên cõi trời, giáo phái này sau diễn tiến thành Ấn Độ giáo. Người Nhã-lợi-an (Aryan) từ miền Trung Á xâm nhập Ấn Độ, định cư tại các địa phương Ngũ hà thuộc miền thượng du sông Ấn Độ, bấy giờ phần lớn là những người sùng bái các thần tự nhiên, tin rằng nhờ ân huệ của nhiều thần mà có thể được hạnh phúc, rồi những lời ca tụng các thần được biên tập thành Lê Câu Phệ Đà (Phạm: Fgveda). Các thần nói trong Lê Câu Phệ Đà được chia làm ba cõi (tam giới) Trời, Hư không và Đất, A Thát Bà Phệ Đà thì lập riêng một cõi gọi là Quang giới (cõi ánh sáng) ở trên ba cõi, mỗi cõi có mười một tầng trời, mà thành là ba mươi ba tầng trời. Do đó, trời trong Bà la môn giáo cũng như trong Phật giáo, không những là chỉ cho thần trời, mà cũng chi thần hư không và thần đất nữa. I. Các thần cõi trời tương đối trứ danh thì có: 1. Đặc Vưu Tư (Phạm:Dyaus), là thần có hình thái nguyên thủy nhất trong dân tộc Nhã Lợi An, đã xuất hiện từ thời đại các dân tộc Ấn - Âu sống chung, là ánh sáng được thần cách hóa. Đối với mẹ đất mà nói thì vị thần này được gọi là cha trời. Hình tượng của thần này là dáng con bò mộng, cùng với đám mây trút mưa xuống cũng được gọi là bò mộng, có quan hệ. 2. Bà Lâu Na (Phạm:Varuịa), là thần mạnh nhất trong thần giới Phệ Đà, có nguồn gốc rất sớm, là thần tư pháp đầy uy quyền, cũng là thần cách hóa của trời, vì thế, lấy trời làm tòa ngồi, lấy thần lửa làm mặt, lấy nữ thần thái dương làm mắt, lấy thần gió làm hơi thở; thần này là đại vương của vũ trụ, là người bảo hộ các qui luật (Phạm: fta). Tư tưởng Chuyển Luân Vương trong Phật giáo tức đã được diễn hóa từ đặc tính của vị thần này. 3. Mật Đặc La (Phạm: Mitra), đại biểu cho ân huệ của Thái dương, nữ thần Tô Lợi Da (Phạm: Sùrya), đại biểu cho sự thị hiện cụ thể của Thái Dương, Sa Du Đặc Lợi (Phạm: Savitf), đại biểu sinh hoạt của Thái Dương, Bố Hàm (Phạm:Pùwan), đại biểu sự dưỡng dục của Thái Dương, Tì Tu Nô Bà (Phạm: Vaiw-ịava), đại biểu sự mọc đằng đông, lên giữa trời và lặn đằng tây của Thái Dương. 4. Ô Xá(Phạm: Uwas), là nữ thần đại biểu lúc mờ mờ sáng, là con gái của thần trời (cha) Đặc Vưu Tư, là em gái của thần đêm Lạp Thoát Li (Phạm: Ràtri), là mẹ của thần ngày Tô Lợi Da. Tuổi tuy đã già, nhưng ngày ngày trẻ lại, mãi như con gái, là nữ thần đẹp nhất trong Phệ Đà. 5. A Tu Vân (Phạm: Azvin), là thần đường biển và thần y dược, cứu vớt loài người một cách phổ biến, nếu người nào bị trôi dạt vào nơi biển cả đen tối thì lập tức có thuyền lớn đến cứu. Lại hay cho người mù được mắt, người gãy chân được chân, người góa vợ được vợ, người góa chồng được chồng. II. Các thần nổi tiếng trong cõi hư không thì có: 1. Nhân Đà La (Phạm: Indra), là thần hùng mạnh nhất trong cõi thần Phệ Đà, là thần cách hóa của sấm sét, thần này xé hông của mẹ là thần mây bò mộng (Phạm: Gfwỉi) mà sinh ra, vừa sinh ra đã hùng dũng, chấn động trời đất, trong tay thường cầm chày kim cương làm vũ khí, vì thế nên còn gọi là Kim Cương Thủ. 2. La Đặc La (Phạm: Rudra), thần cách hóa của sơn lam, chướng khí và điện lực, 3. Mã Nhĩ Thù(Phạm: Muruts), lấy La Đặc La làm cha, bò khỏe (thần mây) làm mẹ, thông thường hoạt động tập thể, hai mươi mốt hoặc một trăm tám mươi, thực ra là thần cách hóa của cuồng phong. 4. Oa Vưu (Phạm: Vàyu), là thần đại biểu cho gió cuốn. 5. Ba Nhĩ Cường Da (Phạm: Parjanya), là thần đại biểu cho mưa rào. III. Các thần nổi tiếng ở cõi đất thì có: 1. A Kì Ni (Phạm: Agni), là thần cách hóa của lửa. 2. Bột Lợi Cáp Tư Phạ Đế (Phạm: Bfhaspati), là thần tế-đàn. 3. Tô Ma (Phạm: Soma), là thần rượu, về sau diễn biến thành thần mặt trăng, trong Lê Câu Phệ Đà có truyền thuyết thần Tô Ma kết hôn với nữ thần Thái Dương Tô Lợi Da. 4. Tát La Tư Phạt Để (Phạm: Sarasvatì), nguyên là nữ thần sông ngòi, hay trừ sự nhơ bẩn cho loài người, cho người ta được giàu có, mạnh mẽ và con cháu. Về sau lại được coi là thần của ngôn ngữ, rồi lại phát triển mà thành vợ của Phạm Thiên, Thiên nữ Cát Tường, Biện Tài Thiên v.v... Ngoài các thần trong ba cõi, còn có thần cách hóa của động vật, như thần ngựa, thần dê hoang, thần lợn (heo) hoang, thần chim, thần rắn v.v...; thần cách hóa thực vật, như Chúa rừng rậm, nữ thần toàn thể rừng rậm. Lại có thần Ma A Tu La (Phạm: Asura), La Sát (Phạm: Rakwas), Tất Xá Già (Phạm: Pizàca). Ngoài ra, kinh điển Phệ Đà cho loài người đều là con cháu của thần, thần tổ chia thành hai cõi là cõi sống và cõi chết; thần tổ cõi sống là Ma Nu (Phạm: Manu), những người chết đầu tiên là hai người anh Da Ma (Phạm: Yama) và em gái Da Di (Phạm: Yamì), thành là thần tổ của cõi chết, cùng với Ma Nu đều do con gái của thần Biến Chiếu Tì Bà Tư Phạt Đặc (Phạm: Vivasvat) và thần Công Xảo, là Sa Lang Vưu (Phạm: Saraịyu) sinh ra, Ma Nu tức là ông tổ đầu tiên của loài người. Cứ theo Nguyên nhân ca trong Lê Câu Phệ Đà chép, thì chủng tính Bà la môn là từ đầu Nguyên nhân Phạm mà sinh ra, chủng tính Sát Đế Lợi từ vai sinh ra, chủng tính Phệ Xá từ bắp vế sinh ra, chủng tính Thủ Đà La từ bàn chân sinh ra, bốn chủng tính này tức là bốn giai cấp lớn: tế sư, vũ sĩ, công thương và nô lệ, và mỗi giai cấp đều đời đời cha truyền con nối. Ở thời đại thần quyền, người trông coi việc tế thần là nhiều quyền lực nhất, dù có là giai cấp vũ sĩ cũng phải tuân theo sự chỉ đạo của thầy tế, đến nỗi người ta tin rằng những kẻ tiên tri tiên giác đều xuất thân từ giai cấp tế sư, rồi dần dần sản sinh quan niệm giai cấp tế sư là quyền uy tối thượng, do đó đã hình thành cái cơ sở giáo chế của Bà la môn giáo. Qui định của Bà la môn giáo là lấy giai cấp Bà la môn làm trung tâm mà thiết lập ba giai cấp kia, xác định chế độ Tứ tính, qui định địa vị và nghĩa vụ của mỗi tính. Trong Tứ tính, giai cấp Bà la môn được coi như thần thánh ưu việt, có đặc quyền chỉ dạy, trao truyền kinh Phệ Đà, và coi các nghi lễ tế tự của họ có thể chi phối vũ trụ vạn tượng. Do đó, Dạ Nhu Phệ Đà (Phạm: Yajurveda) và các loại Phạm Thư (Phạm: Bràhmaịa) lại được biên thành để giải thích nghĩa tế tự và xác lập ba cương lĩnh lớn của Bà la môn giáo: 1. Chủ nghĩa Phệ Đà Thiên Khải, tức cho các điều được ghi chép tường thuật trong bốn Phệ Đà Là do Đại Phạm Thiên mở bày ra. 2. Chủ nghĩa Bà la môn tối thượng, tức là chủng tính Bà la môn là giai cấp cao nhất, không ai hơn. 3. Chủ nghĩa tế tự vạn năng. Những Thánh điển kinh thư (Sùtra) của Bà la môn giáo được thành lập từ khoảng thế kỉ VI đến thế kỉ II trước Tây lịch, có ba loại liên quan đến Phệ Đà: 1. Pháp kinh (Phạm: Dharma Sùtra), trong đó, ghi chép các qui định về nghĩa vụ xã hội của bốn tính khác nhau và những qui định sinh hoạt hàng ngày. 2. Thiên Khải kinh (Phạm: Zrauta Sùtra), sách đại tế nói rõ các việc mà tế quan trông coi. 3. Gia Đình kinh (Phạm: Gfhya), nói rõ các nghi thức trong gia đình do người gia trưởng thực hành. Đây là chế độ tôn giáo của Bà la môn giáo trong sinh hoạt thực tế, mà sinh hoạt thực tế lấy việc tế lễ làm trọng tâm, mỗi ngày có khóa lễ tế vào giờ nhất định, mỗi tháng có lễ tế đầu tháng và hết tháng, mỗi năm có lệ làm niên tế và nhiều tế lễ bất thường, rồi lại vài năm một lần đại tế. Những nghi thức tế tự, đại thể chia làm ba loại: 1. Gia đình tế, bao gồm các việc thụ thai, sinh nở, đặt tên, dứt sữa, đi chơi, búi tóc, cạo tóc, nhập học, về nhà, kết hôn, tang táng. 2. Cúng dường tế, bao gồm tế đầu tháng, tế cuối tháng, tế lửa, tế tổ tiên, tế lúa mới, tế tháng tư, tế cúng thú. 3. Tô ma tế, ngoài gia đình tế và Cúng dường tế ra, các đại tế khác đều thuộc loại này, như tế khi vua lên ngôi, tế đàn lửa, tế người. Đời xưa dùng người làm vật hy sinh để tế, tế ngựa khi nhà vua mưu việc thôn tính các nước nhỏ lân cận. Người chủ tế trong Gia đình tế là gia trưởng; Cúng dường tế và Tô Ma tế đều là Thiên Khải Tế, cho nên người chủ tế phải là tế quan chuyên môn. Xem thế đủ biết, ngoài những người giai cấp Bà la môn ra, không có chức tư tế có quyền lợi nào, cho nên phàm có việc tế tự đều phải mời giai cấp Bà la môn làm lễ. Để đề cao Phiếm Thần luận của Đa Thần giáo, đồng thời với tín ngưỡng các thần trong Lê Câu Vệ Đà, lại nhận định một thần tối thượng của phiếm thần luận trên các thần và lấy đó làm nguyên lí thống nhất mà thuyết minh vũ trụ vạn hữu. Lúc đầu lấy Sinh Chủ (Phạm: Prajàpati) làm thần tối thượng, kế đó lấy Phạm Thiên (Phạm: Brahman) thay thế, đến thời đại Áo Nghĩa Thư (Phạm: Upaniwad) lại lấy Ngã (Phạm: àtman) làm nguyên lí sinh thành của vũ trụ, sau lại chủ trương luân hồi chuyển sinh, dùng phép thờ lửa để mong được sinh cõi trời. Trong các kinh điển Phật, như Trường A Hàm quyển 13 kinh A Ma Trú, quyển 16 kinh Kiên Cố, kinh Tạp A Hàm quyển 4, quyển 44, kinh Ma Đăng Già quyển thượng phẩm Thị Chân Thực v.v... đều có ghi chép về tín ngưỡng và các pháp tu hành của tín đồ Bà la môn giáo thời bấy giờ. Cứ theo kinh Trường A Hàm quyển 6 chép, thì giai cấp Bà la môn tự cho chủng tính Bà la môn là nhất, còn ba chủng tính kia là thấp kém, chủng tính Bà la môn là trong trắng, ba chủng tính kia đều đen bẩn; giống Bà la môn từ Phạm Thiên mà ra, sinh từ miệng Phạm Thiên, trong hiện pháp được thanh tịnh, sau cũng thanh tịnh. Lại như kinh Trường A Hàm quyển 15 chép, giai cấp Bà la môn có đủ năm pháp thành tựu: 1. Bảy đời trở lại, cha mẹ chân chính, không bị người khác khinh rẻ. 2. Đọc tụng thông suốt các loại sách của các học phái bất đồng, giỏi phân biệt, hiểu thấu chỗ sâu kín của các sách đời, biết hết tướng pháp của các đại nhân, thấy rõ các lễ nghi tế tự lành dữ. 3. Dung nhan đoan chính. 4. Giữ giới đầy đủ. 5. Trí tuệ siêu việt. Bởi thế, pháp điển Ma Nô (Phạm: Mànava-dharma-zàstra) qui định chỉ có giòng Bà la môn mới có thể làm thầy tế, có thể dạy Thánh điển Phệ Đà cho người khác, có thể nhận sự bố thí cơm áo từ người khác, đồng thời, có đặc quyền cưới một người con gái của bốn giai cấp làm vợ và nàng hầu. Còn con trai của giai cấp này, đem chia một đời làm bốn thời kì, mỗi thời kì đều có một nghĩa vụ nhất định. Lại nữa, cứ theo luận Thành Thật quyển 7 phẩm Tam Nghiệp chép, theo quan điểm của Bà la môn giáo, trong thế gian có bốn hạng người, mỗi hạng đều có các phép tắc khác nhau: 1. Bà la môn có sáu pháp: tự làm đền thờ trời, làm thầy tế tế trời, tự đọc Phệ Đà, dạy người khác đọc Phệ Đà, bố thí, nhận sự bố thí. 2. Sát Đế Lợi có bốn pháp: tự làm đền thờ trời, nhưng không được làm thầy tế trời, nhận Phệ Đà từ người khác chứ không được truyền trao Phệ Đà cho người khác, bố thí chứ không được nhận sự bố thí, bảo hộ nhân dân. 3. Phệ Xá có ba pháp: tự làm đền thờ trời mà không được làm thầy tế tế trời, tự đọc Phệ Đà nhưng không được dạy người khác, tự bố thí chứ không được nhận sự bố thí. 4. Thủ Đà La có một pháp: là người cung cấp các thứ nhu yếu cho ba chủng tính trên. Do chế độ giai cấp của Bà la môn giáo bất bình đẳng, mà cái số mục lấy vợ nuôi nàng hầu, cũng có đẳng cấp khác nhau. Khoảng trước sau thời đại đức Phật, vì các học thuyết chống Bà la môn bột phát, nên giới Bà la môn bèn biên tập các loại kinh sách để qui định nội dung tế tự, như Thiên Khải kinh, Pháp kinh và Gia Đình kinh đã tường thuật ở trên, đều đã được hoàn thành vào thời kì này, đồng thời, nghiêm khắc nhấn mạnh sự sai khác giữa các đẳng cấp trong chế độ bốn chủng tính. Về sau, do sự biến thiên của thời đại, dần dần tư tưởng triết học phân hóa mà đưa đến sự xuất hiện các học phái Số Luận, Du Già, Thanh Luận (Di Mạn Tha, Phệ Đàn Đa), trong đó, phái Di Mạn Tha, Phệ Đàn Đa thừa kế Phiếm thần luận, đề xướng Phệ Đà là tuyệt đối thường trụ, thuộc Bà la môn chính thống. Đồng thời với tư tưởng này, các tín ngưỡng sùng bái thần nhân cách Phạm Thiên, Tì Sắt Nô (Na La Diên Thiên) và Thấp Bà cũng hưng khởi. Về sau, sự sùng bái hai thần Tì Sắt Nô và Thấp Bà dần dần thịnh đạt mà hình thành học thuyết Tam thần đẳng vị (tức cùng một thể mà chia làm ba), rồi sau lại phân hóa thành phái Tì Sắt Nô lấy Tì Sắt Nô làm thần tối thượng và phái Thấp Bà lấy Thấp Bà làm thần cao nhất. Thông thường, người ta gọi Bà la môn giáo nguyên thủy là Bà la môn giáo cũ, hoặc chỉ gọi là Bà la môn giáo; còn gọi hai phái Tì Sắt Nô và Thấp Bà là Bà la môn giáo mới; hoặc là Ấn Độ giáo (Hinduism). Thời đại ngài Long Thụ, Bà la môn giáo mới đã được xác lập. Cứ theo Trung Luận quyển 1 chép, thì có thuyết chủ trương vạn vật do trời Đại Tự Tại (tức Thấp Bà) sinh ra, hoặc có người chủ trương do trời Vi Nữu (tức Tì Sắt Nô) sinh. Bách Luận quyển thượng của ngài Đề Bà, trong phẩm Xả Tội Phúc, cũng nói đến trời Vi Nữu, trời Ma Hê Thủ La (Đại Tự Tại), Ca Tì La, Ưu Lâu Ca, Lặc Sa Bà v.v... Trong hai mươi loại ngoại đạo được nói đến trong luận Ngoại đạo Tiểu thừa Niết Bàn, thì luận sư Vi Đà, luận sư Na La Diên, luận sư Y Xa Na, luận sư Nữ nhân quyến thuộc, luận sư Ma Đà La, luận sư Ma Hê Thủ La, tức là các phân phái của Bà la môn giáo mới. Lại trong ba mươi loại ngoại đạo được đề cập trong kinh Đại Nhật quyển 1 phẩm Nhập Chân Ngôn Trụ Tâm và Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1, thì ngoại đạo Tôn quí và ngoại đạo Nho đồng tức là các chi phái của phái Tì Sắt Nô, còn các ngoại đạo Thời, Kiến lập, Lưu xuất, Tự tại thiên, Biến nghiêm và Ý sinh, tức là các chi phái của phái Thấp Bà. Ngoài ra, trong toàn bộ Đại Đường Tây Vực Kí của ngài Huyền trang có nhiều chỗ nói đến tín ngưỡng Đại Tự Tại Thiên đang thịnh hành tại các nước Ấn Độ vào thời ấy, như vậy, ta có thể biết chắc là sau thế kỉ VI, VII trở đi, thế lực phái Thấp Bà cực kì hưng thịnh. Lại Thánh Điển Phú Lan Na (Phạm: Puràịa) của Ấn Độ giáo cũng đã được biên soạn vào khoảng trước hoặc sau thời đại ngài Huyền Trang, trong sách tường thuật về sự sáng tạo và phá hoại của vũ trụ, về hệ thống các thần, các tiên, về trạng thái các thời kì của thế giới, về Vương triều đời xưa và về các nghi thức tông nghĩa của Ấn Độ giáo v.v... Khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, trong học phái Phệ Đàn Đa, có Thương Yết La (Phạm: Zaíkara) ra đời, đề xướng Nhất Nguyên Luận tuyệt đối, mưu đồ phục hưng tư tưởng Bà la môn chính thống, cực lực công kích Phật giáo, do đó, cuộc giáo vận của Bà la môn giáo lại một lần nảy mầm. Về sau, sự phân phái tiếp tục diễn tiến, có người chủ trương Chế Hạn Nhất Nguyên luận, kẻ chủ trương Bất Nhất Bất Dị luận, người chủ trương Thần Nhân Nhị Nguyên luận, kẻ chủ trương Thanh Tịnh Bất Nhị luận v.v... Kịp đến thế kỉ XIX, Lam Mẫu Hán La Y (Ràm Mohan Roy) sáng lập Phạm Hiệp Hội (Bràhma-samàj) chịu ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo, mưu đồ cải chính Ấn Độ giáo, lại có Sa Nhiệt Tư Bà Địa (Dayànanda Sarasvati) cổ xúy tư tưởng phục cổ, chủ trương lấy chủ nghĩa Phệ Đà làm cốt cán, nhấn mạnh tôn giáo dân tộc Ấn Độ thuần túy. [X. Trường A Hàm Q.14 kinh Phạm Động, Q.15 kinh Cứu La Đàn Đầu; luận Đại Tì Bà Sa Q.4, Q.77, Q.199; luận Thành Duy Thức Q.1; Đại Đường Tây Vực Kí Q.2, Q.4, Q.7, Q.11; Ấn Độ Sử Cương Yếu (Lí Chí Thuần); Bà la môn giáo thần quan (Thánh Nghiêm); Bà la môn giáo giáo chế (Thánh Nghiêm); E. W. Hopkins: The Religions of India; J. N. Fargurar: Outline of the Religions Literature of India]. (xt. Tứ Tính, Ấn Độ Giáo, Phệ Đà, Bà La Môn).
bà la môn quốc
Brahmanarastra (skt)—Bà La Môn giới hay nước Ấn Độ (Bà La Môn là giai cấp tôn quý lãnh đạo ở Ấn Độ, nên gọi chung nước nầy là Bà La Môn Quốc)—The realm of Brahmans, India.
; (婆羅門國) Phạm: Bràhmana-deza. Là tên gọi khác của Ấn Độ. Trung Quốc cũng gọi Tích Lan Là Bà la môn quốc. Ngày xưa, các chủng tính ở Ấn Độ chia làm nhiều tộc loại, đặc biệt coi Bà la môn là thanh quí, vì sự thanh quí được truyền lâu thành tục, mà không còn phân biệt ranh giới nữa, nên gọi chung là nước Bà la môn. Lại Thích Ca phương chí quyển thượng chép, từ núi Tuyết về phương nam, gọi là nước Bà la môn, cách tuyệt hẳn với các nước Hồ. Chú thích trong Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện quyển 3 (Đại 54, 222 thượng), nói: Các đất nam Thiên Trúc đều gọi là nước Bà la môn. [X. Đại Đường Tây Vực Kí Q.2].
bà la môn thành
Thành phố của cư dân Bà La Môn, từ thành phố nầy Đức Phật trở về tịnh xá với bát khất thực trống không—A city of Brahmans from which the Buddha returned with his begging bowl empty.
; (婆羅門城) Đức Phật đã từng vào làng xóm Bà la môn này khất thực mà không được, bèn mang bát không trở về. Đó là một trong chín cái phiền não mà đức Phật đã tạo nghiệp nhân trong các kiếp trước và đời nay phải chịu quả báo. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 8 chép, thì sau khi đức Phật rời khỏi nước Xá Bà Đề, ngài A Nan theo Phật du hành các nước, đến thành Bà la môn, nhà vua biết thần đức của Phật hay cảm hóa mọi người, sợ sau đó không ai tín phục nhà vua nữa, ông ta bèn ra lệnh cho dân chúng trong thành, không được cho cơm Phật ăn, không được nghe theo lời Phật nói, đến nỗi Phật phải mang bát không mà về. (xt. Cửu Não).
bà la môn thư
Chữ viết hay mẫu tự Bà La Môn (chữ viết của Ấn Độ và đa số các xứ ở Tây Vực)—Brahman writing; the alphabet.
Bà La Môn Tiên
(婆羅門仙[僊]): còn gọi là Bán Thiên Bà La Môn (半天婆羅門), vị tiên thuộc thế giới quỷ, là một trong những đối tượng được cúng dường thức ăn trong Thí Ngạ Quỷ Hội (施餓鬼會) hay Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn. Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 4 giải thích rằng: “Sở vị khoáng dã quỷ tinh Ha Lợi Đế Mẫu giả, kim vi Phật đệ tử, mỗi thực tất xuất sanh phạn giả thị dã; sở vị Diệm Khẩu Quỷ cập Bà La Môn Tiên giả, kim vi Phật đệ tử, chí tâm sở biện hộc thực giả thị dã (所謂曠野鬼幷訶利帝母者、今爲佛弟子、每食必出生飯者是也、所謂焰口鬼及婆羅門僊者、今爲佛弟子、至心所辨斛食者是也, gọi là quỷ đồng trống cùng với Ha Lợi Đế Mẫu [Quỷ Tử Mẫu Thần], nay trở thành đệ tử Phật, là những vị mỗi khi ăn thì phải xuất sanh cơm cho họ vậy; gọi là Quỷ Miệng Bốc Lửa và Bà La Môn Tiên, nay trở thành đệ tử Phật, là những vị chí tâm phân biệt các hộc thức ăn vậy).” Hay trong Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (佛說救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1313) lại có đoạn rằng: “Như kim nhược năng thí ư bách thiên Na Do Tha Hằng hà sa số ngạ quỷ, cập bách thiên Bà La Môn Tiên đẳng chủng chủng ẩm thực, nhữ đắc tăng thọ (汝今若能施於百千那由他恆河沙數餓鬼、及百千婆羅門仙等種種飲食、汝得增壽, ngươi nay nếu có thể bố thí cho trăm ngàn Na Do Tha Hằng hà sa số ngạ quỷ, cùng với trăm ngàn Bà La Môn Tiên vân vân các loại thức ăn uống, ngươi được tăng tuổi thọ).”
bà la môn tiên
(婆羅門仙) Còn gọi là Bán thiên Bà la môn. Là một quỉ đạo. Là một trong các đối tượng được cho ăn trong hội Thí ngã quỉ. Cứ theo kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngã Qui Đà La Ni chép, thì bố thí cho trăm nghìn na do tha hằng hà sa số quỉ đói và trăm nghìn Bà la môn tiên, mỗi quỉ, mỗi tiên một hộc thức ăn uống, đồng thời, vì chúng mà cúng dường Tam Bảo, thì có thể khiến chúng thoát khỏi cái khổ của loài quỉ đói mà sinh lên cõi trời. Thích Môn Chính Thống quyển 4 (Vạn Tục 130, 401 dưới), nói: Cái gọi là khoáng dã quỉ và Ha Lợi Đế mẫu, nay là người vì đệ tử Phật, mỗi bữa ăn sinh ra cơm; cái gọi là Diệm Khẩu quỉ và Bà la môn tiên, nay là người vì đệ tử Phật dốc lòng sửa soạn thức ăn. (xt. Thí Ngã Quỉ Hội).
bà la môn tăng
(婆羅門僧) Chi người tu hành thuộc giòng Bà la môn ở Ấn Độ, hoặc chi người nguyên trước kia tin theo Bà la môn giáo mà chuyển sang qui y đức Phật và xuất gia theo Phật để học đạo. Chẳng hạn như tôn giả Xá Lợi Phất là trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, thân mẫu là con gái của một người Bà la môn ở thành Vương Xá nước Ma Yết Đà, lúc đầu theo ngoại đạo San Xà Da Tì La Chi Tử xuất gia học đạo, sau gặp đệ tử Phật là A Thuyết Thị (Tỉ Khưu Mã Thắng), nói pháp nhân duyên của Phật cho nghe, bèn quay về xuất gia theo Phật, vào Tăng đoàn Phật giáo. Lại như tôn giả Mục Kiền Liên là thần thông bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, cũng là con của người con gái Bà la môn, lúc đầu cùng với Xá Lợi Phất xuất gia tu học theo ngoại đạo San Xà Da, sau được Xá Lợi Phất nói pháp nhân duyên của Phật cho nghe tức thì cùng với Xá Lợi Phất cùng về qui y đức Phật. Ngoài ra, sau khi Phật giáo được truyền sang Đông, trong các tăng nhân đến Trung Quốc, có Bà la môn tăng Phật Đà Ba Lợi từ nước Kế Tân, Bà la môn tăng Cầu Na Bạt Đà từ nước Vu Điền, Bà la môn tăng Đạt Ma Cấp Đa từ nước Thiên Trúc v.v... đều được sử truyện ghi chép và Bà la môn tăng được đặt ở trước tên người (sa môn). [X. kinh Tạp A Hàm Q.16, Q.23; kinh Trung A Hàm Q.5 đến Q.7, Q.9; Phật Đính Tôn Thắng Đà La Ni kinh tự; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.10, Q.12].
bà la môn tị tử kinh
(婆羅門避死經) Có một quyển. Do ngài An Thế Cao đời Đông Hán dịch vào năm Kiến Hòa 2 đến năm Kiến Ninh 3 (148 - 170). Cũng gọi là Tị Tử Kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập thứ 2. Kinh này tương đương với kinh A Hàm phẩm 30 kinh thứ 4. Nội dung tường thuật bốn người tiên Bà la môn tu hành tinh tiến, được năm thần thông, luôn luôn sợ chết, một người lên giữa hư không, một người lặn xuống biển lớn, một người đi vào hang núi, một người chui xuống đất để trốn cái chết, nhưng đều chết ngay tại các nơi đó. Rồi chỉ dạy nếu muốn giải thoát sống chết thì phải tư duy các hành là vô thường, các hành là khổ, các hành là vô ngã, Niết Bàn tịch tĩnh. Xuất Tam Tạng Kí tập quyển 4, Chúng kinh mục lục (pháp kinh) cũng có ghi kinh này, nhưng không ghi tên người dịch.
bà la môn tử mệnh chung ái niệm bất li kinh
(婆羅門子命終愛念不離經) Có một quyển. Còn gọi là Bà la môn Tử Mệnh Chung Ái Niệm kinh, Ái Niệm Bất Li kinh. Do ngài An Thế Cao đời Đông Hán dịch vào năm Kiến Hòa 2 đến năm Kiến Minh 3 (148 - 170), thu vào Đại Chính Tạng tập 1. Kinh này với Trung A Hàm phẩm 216 kinh Ái Sinh, Trung bộ bản Pàli kinh 87 Piyajàtika Sutta, Tăng Nhất A Hàm phẩm 13 kinh 3, Sinh Kinh phẩm 15 Tử Mệnh quá v.v... là những bản đồng loại. Nội dung tường thuật, khi đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, thành Xá Vệ, có người Phạm chí vì con chết mà đau buồn thương nhớ mãi không thôi, đức Phật bảo ông ta nếu cứ sinh ái niệm thì đau buồn khổ não càng nhiều. Vua Ba Tư Nặc nghe được lời nói ấy, bèn sai Bà la môn Na Lê Ương Già đến xin đức Phật chỉ dạy, nhân đó, đức Phật giải thích rộng ra, vua Ba Tư Nặc liền tín thụ và xin qui y làm Ưu Bà Tắc. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.4; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.1].
bà la na đà
Varanada (skt)—Một loại Dạ Xoa có tiếng rống như bò rống—A bellowing yaksa which makes the loud deep hollow sound as that of a bull.
; (婆羅那馱) Phạm: Varanàda, Pranàda. Là tên Dạ Xoa được nói đến trong kinh Khổng Tước Vương chú quyển hạ. Còn gọi là Ba La Na Đà. Đời Lương thuộc Nam triều dịch là Đại Thanh (tiếng to). Là một trong các anh em Tì Sa Vương. Anh em họ đều có sức thần thông, có ánh sáng lớn. Thống lãnh chủ quân, bảo hộ chúng sinh trong thế gian, diệt trừ tất cả tai hại, não loạn, vì nhiếp thụ giáo hóa mà chu du khắp thế gian. Lại Bát La Nô Đà Dược Xoa (Phạm: Praịàda, ý là Đại Thanh) được chép trong kinh Đại Khổng Tước vương chú quyển trung, tên tiếng Phạm giống với Bà La Na Đà.
bà la ni mật, tha hóa tự tại thiên
Paranirmita-vasa-varti (S). The six and the last of Devalokas.
bà la nại tả
Varanasi (skt)—Một vương quốc cổ, tổng hành dinh của phái Sivaism vào khoảng năm 640 sau Tây Lịch; tên khác của thành Ba La Nại—An ancient kingdom and city, noted as a headquarters of Sivaism around 640 A.D.; another name for Benares.
bà la phù đồ
(婆羅浮屠) (BOROBUDUR) Dịch ý là Tinh Xá trên núi. Cũng gọi là Ba La Phù Đồ, Xà Bà La Phù Đồ. Là Thánh địa Phật giáo cực kì tráng lệ, ở thôn Bà La Phù Đồ thuộc Mã Cát Lãng, Trung Bộ Đảo Java của Ân Ni (Indonesia), có thể sánh ngang với Vạn Lí Trường Thành ở Trung Quốc, Kim Tự Tháp của Ai Cập, Đế Thiên Đế Thích ở Cao Miên, lăng Thái Cơ Ma Cáp (Taj Mahal) ở Ấn Độ, là một trong những kiến trúc vĩ đại của thế giới. Công trình này được xây dựng vào thế kỉ thứ IX Tây lịch, dưới triều vua Tái Lãng Độ Lạp Tư, trải tám mươi năm mới hoàn thành. Bản thân kiến trúc là một bậc thềm giống như Kim Tự tháp. Bề dài bề ngang đều một trăm hai mươi ba mét, cao bốn mươi hai mét, sau vì ngọn tháp nhọn Đại Phật khám bị sét đánh đổ, nên nay độ cao chỉ còn là ba mươi mốt mét rưỡi, chia thành mười tầng. Hình thức kiến trúc biểu lộ sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa và Mật giáo, toàn bộ kiến trúc cũng như một Mạn Đồ La vĩ đại, dưới rộng trên nhọn, không có cửa ra vào, đàn tế và chỗ ngồi cố định. Là chùa lộ thiên, phân biệt tầng trên, tầng giữa, tầng dưới, tượng trưng cho Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới: tầng nền bằng với mặt đất, do một trăm sáu mươi khối đá bản điêu khắc nổi miêu tả Dục giới cấu thành, dùng thủ pháp có tính hí kịch để biểu hiện sự làm ác ở hạ tầng, đậm đà ý vị quả báo thiện ác khuyên răn người đời Thuận theo phương hướng, quanh co trùng Toàn cảnh Tháp Phật ở Bà La Phù Đồ Điệp, đi vòng thang nền mà lên, cộng là năm tầng; trên vách đá đường hành lang của mỗi tầng, trải khắp hơn một nghìn ba trăm tấm đá khối chạm nổi, đại biểu Sắc giới, trên đó khắc hai nghìn sáu trăm bức tranh sự tích bản sinh của Phật, và tượng Phật chạm trổ, lấy thể tài khác nhau trong các kinh điển Đại thừa, như kinh Đại Nghiệp Phân Biệt, kinh Phổ Diệu, kinh Bản Sinh Man, cộng tất cả dài đến năm cây số và chỉ có búa quỉ, thợ thần mới có thể nói hết được cái trân quí của nghệ thuật điêu khắc. Cứ cách vài bước lại có một Phật Khám, trong đặt một tượng Phật ngồi Thiền, tất cả có bốn trăm hai mươi vị. Lại hướng thượng đi lên, chùa đột nhiên từ vuông biến ra tròn, phong cách chạm trổ cũng từ mĩ lệ chuyển sang chất phác. Trên nền ba tầng hình tròn, có bảy mươi hai tòa tháp Phật nhỏ bằng đá giống như cái chõ, trong mỗi tháp đều có một tượng Phật ngồi xếp bằng, các Phật tháp này, như các vì tinh tú chầu về mặt trăng, đi vòng quanh đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trong tháp một tầng hình lọng cao nhất, tất cả cấu thành Vô Sắc giới. Toàn bộ kiến trúc, cộng tất cả có năm trăm lẻ năm pho tượng Phật lớn nhỏ, thủ pháp chạm trổ phần nhiều noi theo cách thức từ thời đại Cấp Đa, nét chạm trổ rất tinh khéo. Đứng về phương diện qui mô mà nói, thì không những thời bấy giờ, mà cả ngày nay nữa, đây là một kiến trúc Phật giáo lớn nhất thế giới. Năm 1006, núi lửa Ma Lạp Thất bộc phát, đưa đến động đất có tính hủy diệt, tro bụi núi lửa rơi xuống che lấp Bà La Phù Đồ khiến bị bỏ quên trong tám trăm năm, nhưng cũng may, nhờ thế mà tránh được tai họa bị cướp bóc đập phá khi Hồi giáo truyền vào Java. Năm 1814, phó Tổng đốc Java là Thang Ma Sĩ Lai phất sĩ bắt đầu sửa sang trên qui mô nhỏ, công việc sửa sang tuy kéo dài hơn một trăm năm, nhưng vì qui mô không lớn nên không có hiệu quả rõ rệt. Năm 1973, được tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc tài trợ kinh phí, mới bắt đầu trên qui mô lớn sửa chữa để bảo trì cái di sản văn hóa quí báu này của nhân loại, đến nay công việc đã hoàn thành và mở cửa toàn bộ cho du khách tham quan. Nhưng rất bất hạnh, ngày 21-1-1985, bọn côn đồ chống chính phủ Indonesia, đã đặt mười một quả lựu đạn trong tháp Phật, chín quả phát nổ, phá hủy chín tòa tượng Phật ngồi rất quí.
bà la sí thụ
(婆羅翅樹) Bà La Sí, Phạm: Balàka, Balàkikà. Còn gọi là Sa La Sí Thụ. Dịch ý là cò trắng. Sức sống của loại cây này rất mạnh, cành và thân dù bị chặt đứt vẫn có thể sinh trưởng, không giống như cây Sa La, sau khi bị chặt, không thể nào sinh lại được nữa. Cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 9 nói, thì cỏ răng ngựa, cây sa la sí, cây ni ca la tuy thân cây và cành bị chặt, nhưng vẫn có khả năng tiếp tục sinh trưởng. Đức Phật dùng cây này để thí dụ chúng sinh cho dù đã phạm bốn giới trọng cấm và năm tội vô gián, nhưng nếu được nghe kinh Niết Bàn thì nhân duyên Bồ Đề cũng có thể tái sinh. [X. Tuệ Lâm âm nghĩa Q.25].
bà la tất lật thác ngật na
Balaprthagjana (skt)—Bà La Tất Lý Tha Ngật Na—Bà La Tất Lỵ Tha Già Đồ Na. 1) Ngu Dị Sinh: Chỉ hạng phàm phu ngu si thấp hèn—Low, foolish people. 2) Tiểu Nhi Biệt Sinh: Trí óc tự nhiên như trẻ con—Natural-minded, as children, of common intelligence and ideas. 3) Người không giác ngộ: A man in his natural state, unilluminated, unenlightened.
; (婆羅必栗托仡那) Phạm: Bàlapfthagjana. Dịch ý là Ngu Tranh khắc nổi trên Tháp Phật (Tượng Ma Da Phu Nhân Thụ Thai) dị sinh. Còn gọi là Bà La Tất Lí Tha Ngật Na, Bà La Tất Lợi Tha Già Xà Na. Bà La, dịch ý là Ngu; Pfthagjana, dịch ý là Dị Sinh (phàm phu). Vì phàm phu ngu dại mê tối, không có trí tuệ, chỉ khởi ngã kiến, không phát được trí vô lậu, theo nghiệp chịu báo, rơi vào các ngả, các loài sắc tâm đều có sai biệt, cho nên gọi là Dị Sinh (sinh ra đã khác nhau). Lại các nhà dịch cũ gọi là Tiểu Nhi Biệt Sinh, Tiểu Nhi Phàm Phu, Anh Ngu Phàm Phu, bởi vì phàm phu dại khờ như trẻ con, nên khác với Thánh Sinh. [X. luận Đại Tì Bà Sa Q.45; Đại Nhật Kinh Sớ Q.1; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.24, Q.25]. (xt. Phàm Phu, Dị Sinh).
bà la xa
Phalasa (skt)—Một loại cây có bông đỏ và trái có bột như bánh mì—The bread-fruit tree with red flowers.
bà la xả khư
Prasakha (skt)—Bát La Xa Khư—Bào thai từ năm đến bảy ngày—A foetus of five to seven days.
bà la đoạ bạt xà
(婆羅墮跋闍) Phạm: Bharadvàja I - Bà La Đọa Bạt Xà. Chi cõi trời Bà La Đọa Bạt Xà. Một trong tám mươi cõi trời. Dịch ý là Trùng Ngữ Thiên. Là một trong tám mươi cõi trời tướng đẹp mà Bồ Tát, vì hóa độ chúng sinh, tu hành. Cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 24 chép, thì Bồ Tát Ma Ha Tát tu trì vô lượng phúc đức, sau khi thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng, lại tu tám mươi thứ vẻ đẹp. Đó là vì ở thế gian có những người phụng thờ tám mươi thứ thần, tức là mười hai vị Nhật thần, mười hai vị Đại thiên, Bà La Đọa Bạt Xà thiên, Công Đức thiên v.v..., vì độ những loại chúng sinh ấy mà Bồ Tát tu tướng đẹp của tám mươi trời để trang nghiêm thân mình. Bồ Tát Ma Ha Tát, nhờ sự tu thân thanh tịnh ấy mà khiến chúng sinh đã tin, đã thấy lại càng tăng thêm kính tín, mà phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. II - Bà La Đọa Bạt Xà. Chi Bà La Đọa, một vị tăng Bà la môn. Cứ theo kinh Trường A Hàm quyển 6 chép, thì khi đức Phật trú tại giảng đường Lộc Mẫu, trong vườn Thanh Tín Lâm ở nước Xá Vệ, có hai người Bà la môn, vì lòng tin vững chắc, đến nơi Phật cầu xin xuất gia tu đạo. Hai người Bà la môn ấy tức là Bà Tất Tra và Bà La Đọa vậy.
bà la đề mộc xoa
Pratimoksa (skt)—See Ba La Đề Mộc Xoa and Pratimoksa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bà lâu na long vương
Varuna (S)Thủy thiên thần, Thuỷ thầnThần Luật pháp, trong kinh Vệ đà. Thần thủ hộ phương tây.
; (婆樓那龍王) Bà Lâu Na, Phạm: Varuịa. Còn gọi là Phọc Rô Noa Long Vương. Dịch ý là Thủy Thiên. Là chúa các loài cá và rồng. Một trong mười hai thiên, một trong Hộ thế bát phương thiên, là thần thủ hộ phương Tây. Trong Thai Tạng Giới Mạn Đồ La của Mật giáo, thần này được đặt ở cạnh bắc cửa phía tây viện ngoài của Kim Cương Bộ, thân hình màu đỏ, trên đầu có bảy đầu rồng, tay phải cầm Luân Sách, tay trái nắm lại, chống vào cạnh sườn. [X. kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Q.58; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.2]. (xt. Ngũ Đại Long Vương, Thủy Thiên).
bà lê
Vari (skt)—Chất lỏng (nước)—Water—Fluid—Fluidity.
bà lê da
(婆梨耶) Phạm: Bhàryà. Dịch ý là phụ (đàn bà). Còn gọi là Bà Lí Dã, Bà Dữu. Tức chi vợ, đàn bà, nàng hầu, con gái, phu nhân v.v... Cứ theo kinh Khởi Thế quyển 10 chép, thì lúc kiếp sơ, trên quả đất có mùi vị đất, có vỏ đất, rừng cây, lúa, bắp v.v..., lần lượt tự nhiên sinh, sắc hương vị đầy đủ, chúng sinh theo nhau ăn các mùi vị ấy, nên hình sắc hiển hiện, ngã mạn dần sinh, rồi mỡ tủy, da thịt, gân xương, máu mủ, mạch máu lưu thông khắp mình, hình dáng nam nữ căn hiện rõ, tâm ái dục cũng theo đó mà sinh, và có đôi trai gái rủ nhau đến chỗ vắng vẻ làm việc dâm dục bất tịnh, người khác trông thấy chê cười, lúc đó chúng sinh (nam) liền xấu hổ, rơi vào các pháp bất thiện, được cái tên là Ba Đế. Vềsau, người đàn bà cùng làm dâm dục đưa cơm đến để cùng ăn, nhưng vì Ba Đế bị rơi vào các pháp ác nên hổ thẹn không vui, thấy người đàn bà kia liền nói (Đại 1, 362 thượng): Ngươi ăn đi! Ngươi ăn đi!, bèn đặt tên là Bà Lê Da. Bà lê da hàm ý là ăn cơm, mà ở thời đại nhà Tùy (tức thời đại kinh Khởi Thế được phiên dịch), từ ngữ ăn cơm tức là ý đàn bà. [X. kinh Khởi Thế Nhân Bản Q.10].
bà lô chi để thấp phạt la
See Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section.
bà lạt nã
(婆剌拏) Phạm:Vàrafa. Cũng gọi Bà La Na. Hán dịch: Lưu Chuyển. Ông từng làm vua nước Mi Hi La, sau theo Tỉ Khưu Ca Chiên Diên xuất gia, vào núi thuộc nước A Ban Địa tu hành. Bấy giờ, vua nước A Ban Địa đem cung nhân vào rừng săn bắn, vì Bà Lạt Noa có dáng vóc đẹp đẽ nên cung nhân vây quanh để ngắm. Nhà vua thấy thế sinh lòng ghen ghét bực tức, đánh Bà Lạt Noa chết đi sống lại mấy lần khiến ông muốn trở về nước dấy binh phục thù. Sau nhờ Tỉ Khưu Ca Chiên Diên dùng sức phương tiện khiến ông thấy cơn ác mộng bị thua và bị bắt, từ đó ông bỏ ý niệm dấy binh phục thù. Tỉ Khưu Ca Chiên Diên nhân thế mới giảng nói cho ông nghe tất cả các pháp như đất nước chỉ là giả danh chứ không có thực, nếu bỏ hết nhà cửa thì không có đất nước, rồi ngài phân tích các thứ nhân duyên hòa hợp cho đến một cực vi cũng không thật có, thì làm gì có mình, người và oán, thân. Sau khi nghe pháp, ông liền ngộ đạo chứng quả. [X. Duy Thức Xu Yếu Q.thượng phần cuối; Nhị Thập Duy Thức Thuật Kí Q.hạ].
bà lợi
Vadisa, Vakri, or Valisa (skt)—Móc câu: A hook.
; (婆利) I - Bà Lợi. Phạm: Vadiza, Valiza. Còn gọi là Áng Cú Xa. Dịch ý là cái móc câu. [X. Phiên dịch Danh Nghĩa tập Q.3]. II - Ba Lợi. Phạm: Vàri. Còn gọi là Bà Lê, Ba Lợi, Bà Da. Tên riêng của nước. Phiên Phạm Ngữ quyển 9 (Đại 54, 1045 hạ), nói: Ba Lợi, dịch là nước. [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.12].
; (皤唎) Phạm: Bali. Dịch ý là thí thực, tế tự, tế thực. Là tên ấn khế Thí dữ nhất thiết thực pháp ấn trong Mật giáo. Khi kết ấn khế này, miệng tụng Đại Tâm chú Án tì lê câu tri câu tri ha. Về phép kết ấn, cứ theo kinh Đà La Ni tập quyển 5 chép (Đại 18, 830 trung), thì: Ngửa hai tay, duỗi tám ngón, hai ngón út sáp nhau, hai đầu ngón cái co lại đặt giữa lòng bàn tay, đó là Nhất Pháp ấn, trong ấn đã đựng các thức ăn, đem bố thí cho các thần hộ pháp và hết thảy chúng sinh, tất cả được ăn đều sinh vui mừng. Năm ấn trước đều tụng chung Đại Tâm chú trên đây, rất hiệu nghiệm.
bà lợi a tu la
Vadisaśurā (S)Một trong những vị A tu la vương.
; (婆利阿修羅) Phạm: Vadizasura. Còn gọi là Bà Lê A Tu La. Là một trong các chúa A Tu La. Cứ theo kinh Phật Bản Hạnh tập quyển 23 chép, thì xưa kia, khi đức Phật còn là Bồ Tát, một ngày nọ, Ngài đi vào thành Vương Xá, các quan dân nước ấy thấy ngài uy nghi hiển hách, liền bảo nhau đó là Thiên Vương, Long Vương, hoặc có người khen ngợi mà cho là Bà tu la Lê A Vương. [X. kinh Phật BảN HạNH tập Q.24].
bà lợi chất đa la
Parijata (skt)—Bà Lị Chất Đa La—Bà Nghi Chất Cấu—Bà Lị Chất La—Bà Li Da Đát La Câu Đà La—Một loại cây tên Hương Biến trên cõi trời Đế Thích (Đao Lợi)—A tree in Indra's heaven.
bà lợi ma ni
Balimani (S)Đại Dạ xoa chuyên bảo hộ chúng sanh đoạn trừ tai ách phiền não.
; (婆利摩尼) Phạm: Balimaịi hoặc Valimaịi. Dịch ý là Châu Lực (sức ngọc). Còn gọi là Bà Trĩ Mạt Nhĩ. Một đại Dạ Xoa bảo hộ chúng sinh. Đại Dạ Xoa này thống lãnh các đoàn quân, có sức thần thông, có ánh sáng lớn, hay đi khắp thế gian, trừ khử hết thảy tai họa não hại. [X. kinh Khổng Tước Vương Chú Q.hạ].
bà lợi sư ca hoa
(婆利師迦花) Bà Lợi Sư Ca, Phạm: Vàrwika. Dịch ý là vũ thời sinh (nở khi mưa), vũ thời, hạ sinh (sinh vào mùa hạ), hạ chí, vũ. Còn gọi là Bà Sư Hoa, Bà Lị Sư Hoa , Bà Lật Sử Ca Hoa, Bà Lị Sử Ca La Hoa. Tên khoa học là Jasminum Sambac, sinh sản ở Ấn Độ, thuộc khoa thực vật mộc tê (cây hoa mộc), hoa mầu trắng, rất thơm. Lí do mà hoa này được đặt tên như trên, là vì cứ đến mùa mưa thì chúng nở, hoặc cứ đến mùa hè thì sinh hoa. [X. Tuệ Lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ Uyển âm nghĩa Q.thượng; Hi Lân âm nghĩa Q.5].
bà lợi xà đa ca
Parijataka (skt)—Một loại hoa của chư Thiên—A deve flower.
bà mụ
nd.1. Người đàn bà đỡ đẻ ở nông thôn ngày trước. 2. Nữ thần nặn ra đứa trẻ và chăm nom, che chở cho trẻ theo mê tín.
bà na
Vana (skt)—Một rừng cây hay lúm cây—A wood—A grove.
bà na bà tư quốc
(婆那婆私國) Bà Na Bà Tư, Phạm: Vanavàsin, Pàli: Vanavàsi. Tên một nước xưa thuộc nam Ấn Độ. Vua A Dục đã từng sai Lặc Khí Đa (Pàli: Rakkhita) đến đây truyền bá Phật Pháp. Vị trí nước này, nay là địa phương Tích Nhĩ Tích Đạt Lỗ Khắc (Sirsi Taluk) ở nam Ấn Độ. [X. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.2; V. A. Smith: Early History of India; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].
bà nga
Bhanga (skt)—Phá vỡ—Breaking.
bà nhĩ la ba a xà lê phái
(婆爾羅巴阿闍梨派) Bà Nhĩ La Ba A Xà Lê, Phạm: Vallabhaàcàrya. Là phân phái của phái Tì Thấp Nô (Phạm: Viwịu) trong Ấn Độ giáo. Người mở đầu là Bà Nhĩ La Ba A Xà Lê. Luật thừa kế qui định chỉ có con trai của ông tổ sáng lập là Uy Đạt Lỗ Nạp Đạt (Phạm: Vitthalnàtha) và con trai của người này, tức cháu nội của ông tổ khai sáng, mới được cầm đầu phái này và chủ quản Tăng viện (chế độ thế tập cha truyền con nối mãi mãi). Đặc sắc của phái này là, đối với ông giáo tổ, phải qui y một cách cuồng nhiệt, tín đồ phải tôn xưng giáo tổ là A Xà Lê (Phạm:Àcàrya), sau lại tôn là Đại Vương (Mahàràja), cung kính tôn thờ như thần tối cao Cát Lật Sắt Nô (Phạm: Kfwịa). Một đặc trưng nữa của phái này là lưu truyền thơ tôn giáo được làm bằng cách dùng các tục ngữ. Bởi thế, lấy nhà thơ mù là Tô Nhĩ Đạt Tư (Phạm: Sùr Dàs) ở hậu bán thế kỉ XVI làm đầu, đã xuất hiện nhiều nhà thơ trữ tình. Khu vực có nhiều người sùng tín giáo phái này hiện nay là các địa phương Cổ Gia Tháp Đặc (Gujarat). Bà Nhĩ La Ba (1479 - 1531), tự xưng là hóa thân của thần lửa A Kì Ni (Phạm: Agni), được sự mở bày trực tiếp của thần Cát Lật Sắt Nô, rồi nhờ tài biện luận với các học giả thuộc phái Thương Yết La mà nổi tiếng. Học thuyết của ông này là Thanh tịnh bất nhị thuyết, cho rằng nhờ cái biết mà được giải thoát, nhấn mạnh phải lấy niềm tin yêu (Phạm: bhakti) mà sùng bái thần tối cao Cát Lật Sắt Nô và thần phối ngẫu (vợ) là La Đạt (Phạm: Ràbhà). Những trứ tác chủ yếu của Bà Nhĩ La Ba là: Anubhàwya,Subhodinì,Tattvadìpa-nibandha, Prakàza, Siddhàntarahasya.
bà ni
(婆尼) Phạm: Bàni. Là quan đại thần của nước Yết Nhã Cúc Xà (tức nước Khúc Nữ Thành) thuộc trung Ấn Độ cổ đại. Còn gọi là Biện Liễu. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 chép, thì vua nước Yết Nhã Cúc Xà Bị nước Yết La Nô Tô Phạt Thích Na (nước Kim nhĩ) ở đông Ấn Độ dụ rồi giết, lúc đó đại thần Ba Ni quyền cao chức trọng, bèn lập người em của nhà vua lên ngôi, hiệu là Thi La A Điệt Đa, tức là vua Giới nhật nổi tiếng.
bà nại la bà nại ma tẩy
Bhadrapadamasa (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (6).
bà phả sa
(婆頗娑) Phạm: Prabhàsa. Dịch ý là Quang Minh (sáng sủa), Quang. Còn gọi là Bà Bà Ta, Phọc Bà Sa. Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ quyển 1 (Đại 39, 180 trung), nói: Nay nói đủ là Tô BạT Na Bà Bà Sa Uất Đa Ma La Xà Tô Đát Lãm. Tô Bạt Na (dịch là kim - vàng) Bà Bà Sa (dịch là quang - sáng), nói quang minh cũng là nói cho tiện.
Bà sa
(婆娑): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Dáng điệu nhảy múa. Như trong Thi Kinh (詩經), bài Trần Phong (陳風), Đông Phong Chi Phần (東門之枌) có câu: “Tử Trọng chi tử, bà sa kỳ hạ (子仲之子、婆娑其下, con của Tử Trọng, nhảy múa bên dưới).” (2) Phe phẩy, đung đưa. Như trong bài Khô Thọ Phú (枯樹賦) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu (北周) có câu: “Thử thọ bà sa, sanh ý tận hỉ (此樹婆娑、生意盡矣, cây này đung đưa, thú vị tột cùng).” (3) Tả dáng vẻ nước mắt ngấn đọng, như “lệ nhãn bà sa (淚眼婆娑, nước mắt lưng tròng).” (4) Tả dáng vẻ duỗi thẳng người ra thoải mái, buông xả. Như trong bài Du Dương Hà Ngạn (遊陽河岸) của Diêu Hợp (姚合, 775-955?) nhà Đường có câu: “Điểu ngữ thôi cô tửu, ngư lai tợ thính ca, túy thời miên thạch thượng, chi thể tự bà sa (鳥語催沽酒、魚來似聽歌、醉時眠石上、肢體自婆娑, chim hót thèm mua rượu, cá về như nghe ca, say rồi tảng đá ngủ, thân thể tự buông tà).”
bà sa
1) Vibhasa (skt)—See Tỳ Bà Thi. 2) Vatsa (skt)—Tên vị sáng lập ra phái Bà Sa Phú Đa La, một tông phái của Đại Chúng Bộ—The founder of the Vatsiputriyah school, a branch of Sarvastivadins.
bà sa ba
Xem Thập lực Ca Diếp.Xem chánh nguyện.
bà sa ba, chính nguyện
Vaspa (S). One of the first five disciples of the Buddha
bà sa cù đa tam minh kinh
Tevijja-Vacchagotta-sutta (P).
bà sa cù đà
Vacchagotta (P).
bà sa cù đà hoả dụ kinh
Vacchagotta-Aggi sutta (P).
bà sa cù đà tương ưng kinh
Vacchagotta-samyutta (P), Ven. Vacchagotta (chapter SN33) Vacchagotta-Aggi sutta Tên một bộ kinh.
bà sa cù đà, hỏa dụ kinh
Vacchagotta-Aggi-sutta (P).
bà sa cù đà, ngữ, lời nói
Vàc, vàca (S). Speech, words.
bà sa luận
Xem A tỳ đạt ma Đại tỳ bà sa luận.
bà sa na bà
Vatsanabha (skt)—Một loại độc dược làm từ một loại rễ cây—A strong poison, from the root of a tree (maybe aconite)
bà sa phú đa la
Vatsiputriyah (skt)—See Bà Sa (2).
bà sa tứ đại luận sư
(婆沙四大論師) Còn gọi là Bà Sa Tứ Bình Gia, Tứ Bình Gia. Thời vua Ca Nị Sắc Ca cai trị nước Ca Thấp Di La, vua triệu tập năm trăm vị La Hán bình giải luận Phát trí, biên soạn luận Đại Tì Bà Sa, trong đó, bốn luận sư lớn là các ngài Pháp Cứu (Phạm: Dharmatràta), Diệu Âm (Phạm: Ghowa), Thế Hữu (Phạm: Vasumitra) và Giác Thiên (Phạm: Buddhadeva), xưa nay được coi là bốn nhà bình giải luận Bà Sa. Bốn luận sư này lập pháp thể hằng hữu, mà khi bàn về ba đời riêng biệt thì lại có những kiến giải bất đồng. Cứ theo luận Đại Tì Bà Sa quyển 77 chép, thì Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ có bốn luận sư lớn đều kiến lập riêng ba đời có khác: Pháp Cứu nói loại có khác, Diệu Âm nói tướng có khác, Thế Hữu nói vị có khác và Giác Thiên Bảo Đãi (đợi) có khác. (xt. Tam Thế Thực Hữu).
bà sa ưu bà sa
Upasaka-Upasika (skt)—Phật tử tại gia gồm nam và nữ cư sĩ—Lay disciples include male and female disciples dwelling at home.
bà san bà diễn để
Vasanta-vayanti (skt)—Vị thần chủ về ban đêm dùng phương tiện để cứu giúp những người xấu lang thang về đêm—Spring-weaving, but the description is of a guardian of the night or of sleep.
bà san bà diễn để chủ dạ thần
(婆珊婆演底主夜神) Bà San Bà Diễn Để, Phạm: Vàsanta Vayanti. Còn gọi là Bà Tản Đa Bà Diễn Để thần, Bà La Bà Tát Na thần, Bà Ta Bà Đà thần, Bạt Tăng Đa thần. Dịch ý là Xuân Hòa thần, Xuân Sinh thần, Xuân Chủ thần, hoặc Y Chỉ Bất Úy Chi thần. Nói tắt là Chủ Dạ thần (thần làm chủ ban đêm), Thủ Dạ thần (thần trông giữ ban đêm). Là thiện tri thức thứ ba mươi hai trong số năm mươi lăm thiện tri thức mà đồng tử Thiện Tài đến tham hỏi, là thần trừ sự sợ hãi trong đêm tối, cứu hộ chúng sinh và lúa mạ, hay sinh muôn vật. Cứ theo kinh Hoa Nghiêm (bản dịch mới) quyển 68 phẩm Nhập Pháp Giới chép, thì thần đêm này ở giữa hư không, ngồi trên tòa sư tử trong Bảo Lâu Các Hương Liên Hoa Tạng, mình mầu vàng ròng, mắt biếc tóc xanh, hình dáng đoan nghiêm, trang sức bằng các thứ anh lạc quí báu, mình mặc áo đỏ, đầu đội mũ Phạm, sáng rực như tất cả tinh tú, các lỗ chân lông trên mình đều hiện hình tượng hóa độ vô lượng vô số chúng sinh trong ác đạo, khiến cho thoát khỏi hiểm nạn. Tục truyền, nếu thấy ác mộng, đọc tên thần này thì hết sợ hãi. [X. kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) Q.1; kinh Hoa Nghiêm (40 quyển) Q.17; Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q.58; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.19].
bà sư
(婆師) 1 - Tên gọi tắt của hoa Bà Lợi Sư Ca. Hoa mầu trắng, rất thơm. (xt. Bà Lợi Sư Ca Hoa). 2 - Nghĩa tán thán, là chuyển âm của Bái Nặc. (xt. Bái).
bà sư ba
Vaspa or Baspa (skt)—Một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật, được người ta coi như là Ngài Đại Ca Diếp—One of the first five disciples of the Buddha, Dasabala-Kasyapa, identified with Maha-Kasyapa.
; (婆師波) Phạm: Vàwpa, Pàli: Vappa. Còn gọi là Bà Thấp Bà, Bà Sa Ba, Bà Phu, Bà Phá, Bà Phả, Bà Phạm, Hòa Phá. Dịch ý là Khởi khí, Trường Khí, Lệ Xuất, Chính Ngữ. Là một trong năm vị Tỉ Khưu được độ trước nhất khi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Lộc Dã. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 phẩm Đệ tử, khi liệt kê các loại Tỉ Khưu bậc nhất trong hàng ngũ đệ tử Phật, bảo (Đại 2, 557 thượng): Thầm lặng giáo hóa, ý không mong vinh dự, đó là Tỉ Khưu Bà Phá. Lại sau đức Phật nhập diệt, cùng với Tôn Giả Đại Ca Diếp, khi kết tập tại hai nơi quật ngoại (bên ngoài hang), quật nội (bên trong hang), Bà Sư Ba là thượng thủ của đại chúng ở quật ngoại, tự lãnh đạo đại chúng ở ngoài giới kết tập ba tạng, trở thành ông tổ của Đại Chúng Bộ. Vị La hán này thường vì thương xót nỗi khổ của chúng sinh mà luôn luôn rơi nước mắt, do đó gọi là Lệ Xuất (nước mắt tràn ra). Trung A Hàm quyển 3 kinh Hòa Phá chép, ở nước Ca Duy La Vệ có một người giòng họ Thích, tên là Hòa Phá, lúc đầu theo Ni Kiền Tử, sau được đức Thế Tôn giáo hóa mà qui y cửa Phật, đây có thể là một người khác với Bà Sư Ba. [X. kinh Phật Bản Hạnh tập Q.34 phẩm Chuyển Diệu Pháp Luân; kinh Tì Ni Mẫu Q.1; Tam Luận Huyền Nghĩa Q.hạ; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm chương Q.2 phần đầu].
bà sư ca
Varsika (skt)—Bà Lợi Sư Ca—Bà Lợi Sứ Ca La—Bà Lợi Sư Ca—Bà Sứ Ca—Bà Lợi Sử Ca La—Bà Sư Ba Lợi—Vũ Thời Hoa—Hoa nở lúc trời mưa (hoa nầy rất thơm, mọc nhiều ở Thiên Trúc, người ta thường nấu hoa lấy dầu thắp đèn trên bàn thờ Phật)—The flower, the aloe, that blooms in the rains.
bà tha
(婆蹉) I - Bà Tha. Là một trong các đệ tử của đức Phật. Còn gọi là Bà Tha. Bà Tha thường tu khổ hạnh, được đức Phật tán thán. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 (Đại 2, 557 hạ), nói: Tỉ Khưu bậc nhất trong chúng Thanh Văn của ta, (...) khổ thân ngồi ngoài trời, không tránh mưa gió, đó là Tỉ Khưu Bà Ta vậy. II - Bà Tha. Là người cùng thời đại với đức Phật. Cứ theo kinh điển A Hàm chép, thì người này đã từng nhiều lần thỉnh ý đức Phật và ngài Mục Kiền Liên về các vấn đề, như: sự quan hệ giữa thân và mệnh, sau khi chết, Như Lai có hay không có, có ngã hay không ngã, thế gian là thường hay vô thường v.v... Kinh Tạp A Hàm quyển 34, khi chép về sự tích của người này, gọi là Bà tha chủng xuất gia(Pàli: Vacchagotta Pribbàjaka). Bà Tha, nguyên là tên của một người thuộc chủng tộc Ấn Độ, nhưng ở đây lại bảo là người xuất gia tu hành thuộc giòng Bà Tha, mà sự qui y xuất gia cũng không phải theo Phật giáo, nhưng là một người xuất gia ngoại đạo. III - Bà Tha. Gọi tắt tên Phạm Vàtsìputrìya. Cũng gọi là Phiệt Tha. Nói đủ là Bà Tha Phú Lâu, Bạt Tư Phất Để Lê Dữ. Dịch ý là Độc Tử Bộ. Tức là một trong hai mươi bộ phái Tiểu thừa. Bộ phái này là từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ mà phân tách ra, chủ trương Phi tức phi li uẩn ngã (cái ta chẳng phải chính là uẩn cũng chẳng phải lìa uẩn), đồng thời, Bất khả thuyết pháp tạng của bộ phái này nằm trong năm Pháp tạng, đã trở thành một đặc sắc lớn của giáo nghĩa bộ này. Cứ theo ý kiến của Xích Chiểu Trí Thiện, một học giả Nhật Bản, thì nguyên do tên gọi của bộ phái này là vì các sư trong bộ phái ấy phần nhiều là các Tỉ Khưu thuộc nước Phiệt Tha (Phạm: Vatsa), một trong mười sáu nước lớn ở Ấn Độ thời bấy giờ, cho nên tên gọi của bộ phái mới là Vàtsiputrìya. Lại tên Bà Tha, hoặc chi bộ phái này, hoặc chi rộng ra một Tỉ Khưu nào đó thuộc trong bộ phái này, nếu là chi Tỉ Khưu thì còn gọi là Phiệt Tha Phạm Chí, Phiệt Tha Tử. (xt. Độc Tử Bộ).
bà tha na bà
(婆蹉那婆) Phạm: Vastsanàbha. Là một loại thuốc độc, dược tính rất mạnh. Cứ theo kinh Đại Bảo Tích quyển 110 nói, thì đức Phật đã từng bảo con của Đại Dược Vương rằng, nếu lấy một lượng nhỏ thuốc độc Bà Tha Na Bà Và Ha La Ha La (Phạm: halahala) chỉ bằng hạt cải thôi mà cho hai đại long vương Nan Đà và Ưu Ba Nan Đà ở núi Tu Di uống, thì cũng có thể chết ngay tức khắc. Bởi thế, chuyện này được dùng để thí dụ thần thức tuy nhỏ xíu, nhưng nếu đủ nhân duyên hòa hợp, sức nghiệp hiển hiện, thì cũng có thể thành tựu quả báo lớn.
bà thành
1) Tòa thành Càn thát bà—A gandharva city. 2) Thành phố ảo tưởng: A mirage, an illusion city.
bà thâu lâu đa kha
(婆收婁多柯) Phạm: Bàhuzrutìya. Dịch ý là Đa Văn Bộ. Là một trong hai mươi bộ Phật giáo Tiểu Thừa. Sau khi Phật nhập diệt, giáo đoàn Phật giáo chia thành hai bộ Thượng tọa và Đại chúng, sau dần dần chia thành bốn, năm cho đến hai mươi bộ phái. Trong giáo nghĩa của bộ phái này, có hình thái triết học Áo Nghĩa Thư. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
bà thê điểu
(婆栖鳥) Tức chim cắt, giống con diều hâu nhưng nhỏ hơn, mầu hoàng thổ, mỏ cũng vàng, là loài chim dữ, ăn thịt. Chim này có cách giấu mình; nó cùng với quạ, ó và dã can đều vây chung quanh Diệm Ma Thiên trong Phong Mạn Đồ La [X. kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bí Mật Mạn Đồ La; Đại Nhật Kinh Sớ Q.16].
bà thí la
(婆施羅) Là vị thiện tri thức thứ hai mươi ba trong số năm mươi lăm thiện tri thức mà đồng tử Thiện Tài đến tham vấn, đó là Thuyền Sư của Lâu Các Thành. Còn gọi là Thuyền Sư, Tự Tại Hải Sư (Phạm:Vairocana, tức trong biển Phật Pháp, biển sống chết, đã thông suốt hết, cho nên nói là tự tại). Đối với câu hỏi của đồng tử Thiện Tài là học hạnh Bồ Tát như thế nào, tu đạo Bồ Tát như thế nào, vị này đã nêu lên nhiều phương tiện giáo hóa chúng sinh và thành tựu hạnh đại bi. Những phương tiện hóa độ chúng sinh là bố thí đồ trân quí, pháp tài, khiến được lợi ích, an vui; dùng thuyền vận chuyển những người đi buôn, khiến cho an ổn, không sợ hãi, lại nói pháp cho nghe, khiến họ vui vẻ, được lợi ích lớn. [X. kinh Hoa Nghiêm (bản 40 quyển) Q.14]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham).
bà trí ca
Sphatika (skt)—See Thủy Ngọc.
bà trĩ a tu la
(婆稚阿修羅) Phạm: Balinasura. Là một trong các chúa A Tu La. Còn gọi là Bạt Trì A Tu La, Bạt Trĩ A Tu La, Mạt Lợi A Tu La. Bà Trĩ, dịch ý là bị trói buộc, bị năm chỗ trói buộc, năm cái ác, tức là bị năm cái xấu ác là: giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối và uống rượu trói buộc, không gỡ ra được. Còn gọi là Hữu Phược (có trói buộc), hàm ý là bị trời Đế Thích trói buộc. Hoặc vì mạnh mẽ cho nên còn dịch là Hữu Lực. [X. kinh Diệu Pháp Liên Hoa Q.1; Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa kinh Q.1; Pháp Hoa Văn Cú Q.2; Pháp Hoa Huyền Tán Q.2; Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao Q.3; Tuệ Uyển âm nghĩa Q.thượng].
Bà Trĩ 婆稚
[ja] バチ bachi ||| Balin. The name of an Asura king. 〔法華經 T 262.9.2a29〕 (c: Balin) =>Tên của một vị vua A-tu-la.
bà tu bàn đầu, bạt tu bàn độ, thiên thân
Vasubhandu (S)
bà tu mât đa
Xem Bà tu mật.
bà tu mật
Vasumitra (S)Thế Hữu, Thiên Hữu, Hoà tu mật đa1- Vị tổ thứ 7, một trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ, thế kỳ thứ I AD, một vị đại luận sư trong số Tứ luận sư. Là Thượng thủ của 500 hiền thánh kết tập kinh điển vào năm 400 sau khi Phật nhập diệt. 2- Tên vị thiện tri thức thứ 25 mà Thiện Tài đồng tử có đến tham vấn.
bà tu mật tổ sư
Vasumātra (S).
bà tu mật đa
(婆須蜜多) Phạm: Vasumitra. Còn gọi là Phạt Tô Mật Đát La, Bà Tu Mật, Bà Tu Mật Đa La, Hòa Tu Mật Đa. Dịch ý là Thế Hữu, Thiên Hữu. I - Bà Tu Mật Đa. Một trong năm mươi lăm thiện tri thức trong kinh Hoa Nghiêm. Là vị thiện tri thức thứ 25 mà đồng tử Thiện Tài đến tham hỏi. Cứ theo kinh Hoa Nghiêm (bản dịch cũ) quyển 50 chép, thì Bà Tu Mật Đa ở trong thành Bảo Trang Nghiêm nước Hiểm Nạn, dung mạo đoan chính, từ nơi thân phát ra ánh sáng lớn, đã thành tựu pháp môn thanh tịnh li dục thực tế, liền vì chúng sinh nói pháp môn li dục để được thanh tịnh. Ma Ha Chỉ Quán quyển 2 phần dưới (Đại 46, 17 hạ), nói: Ngay trong cái xấu ác mà tu quán tuệ; (...) Hòa Tu Mật Đa dâm mà Phạm hạnh thanh tịnh, Đề Bà Đạt Đa tà kiến mà ngay thẳng. [X. kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) Q.68]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham). II - Bà Tu Mật Đa. Vị đại luận sư sau thời đức Phật nhập diệt bốn trăm năm. Một trong bốn nhà nghị luận của hội Bà Sa. Là bậc Thượng thủ đứng đầu năm trăm vị Hiền Thánh trong lần kết tập ba tạng của bộ Tát Bà Đa tại nước Ca Thấp Di La, dưới triều vua Ca Nhị Sắc Ca. (xt. Thế Hữu).
bà tu mật đa, thế hữu
Vasumitra (S) 7th Indian patriarch.
bà tu đạt đa
Xem Hữu thiện thí hạnh.
; (婆須達多) Phạm: Vasudatta. Dịch ý là cho của cải, làm việc thiện thí (giúp đỡ người nghèo khó). Cứ theo kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) quyển 62 chép, thì khi ngài Văn Thù Sư Lợi đến Phúc Thành (kinh Hoa Nghiêm bản 60 quyển, thì là Giác Thành), gần nơi đại tháp miếu, nói pháp, có rất đông Ưu Bà Tắc ở trong thành đến nghe ngài Văn Thù Sư Lợi, Bà Tu Đạt Đa là một trong số đó. [X. kinh Hoa Nghiêm (bản 60 quyển) Q.45; Tuệ Uyển âm nghĩa Q.hạ].
bà tì phệ già
Xem Thanh Biện Bồ tát.
bà tư tiên
Một trong sáu hỏa thiên trong Thai Tạng Giới, nằm về phía đông Kim Cang bộ—One of the six fire devas and his wife in the Garbhadhatu group, located in the east of Vajradhatu group.
; (婆斯仙) Phạm:Vasiwỉha, Pàli: Vàseỉỉha. Dịch âm là Bà Tử Sắt Đà, Bà Tư Sắt Tra, Bà Tư Sắt Sá, Phạ Tỉ Sắt Tha, Phọc Tư Sắt Xá, Bà Tư Sá, Phạ Tư, Bà Tra. Dịch ý là tối thắng, vô thượng. Là một trong bảy vị tiên lớn, một trong mười đại tiên, một trong hai mươi bộ chúng Quan Âm. Người tiên có tính cách đại biểu cho chủng tộc Bà la môn cổ đại vào thời Lê Câu Phệ Đà ở Ấn Độ, tức là tác giả của các bài tán tụng trong Lê Câu Phệ Đà quyển 7. Đồng thời với tiên Hưng Xà Đề (một trong mười tiên) thuộc Ngoại đạo tà kiến. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 16 chép ‘’ Phạ Tự Tiên tức là tiên Bà Tẩu. Tiên Bà Tẩu trong Thai Tạng Giới Mạn Đồ La của Mật giáo, được đặt ở viện Hư Không Tạng và phía đông Viện ngoài. Hình tượng mầu trắng, nửa mình trên để trần, tay phải cầm cành hoa sen và nắm tay đặt nơi cạnh sườn, tay trái cầm tràng hạt và co vào ngang bả vai, đầu gối trái chống thẳng, ngồi trên bệ tròn. [X. kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bí Mật Mạn Đồ La; Tuệ Lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Bà Tư Tra).
bà tư tiên hậu
(婆斯仙後) Bà Tư Tiên Hậu là vợ của Bà Tư Tiên, được đặt ở phương Đông trong Thai Tạng Giới Mạn Đồ La ngoại Kim Cương bộ thuộc Mật giáo, ở phía bắc tiên Bà Tư. Hình tượng là hình đàn bà mầu đỏ, hai tay cầm hoa sen, ngồi trên bệ tròn. Chủng tử là (haô), hình Tam muội da là hoa sen nở. (xt. Bà Tứ Tra).
bà tư tra
Xem Tối Thắng.
; Vasistha (skt). 1) Tên của một vị Bà La Môn, phủ nhận sự thường hằng của Niết Bàn, còn cho rằng cây cũng có đời sống và trí thông minh: A Brahman who is said to have denied the eternity of nirvana, and maintained that plants had lives and intelligence. 2) Tên của một trong bảy vị cổ Tiên trong Kinh Niết Bàn (39)—Nirvana Sutra 39. One of the seven ancient rsis of Brahamanic mythology, one of the champions in the Rgveda of the priesthood. 3) Tên một vị Bà La Môn, bà mẹ của vị nầy vì chôn sáu người con mà phát điên, trần truồng chạy lang thang, nhờ gặp Đức Phật mà trở về được với bản tâm, sau đó phát tâm quy-y và trở thành đệ tử của Phật—Name of a Brahman whose mother lost her six sons, she became mad, wandered naked, met the Buddha, was restored and became a disciple.
bà tư trá
(婆私吒) Phạm: Vasiwỉha. I. Bà Tư Tra. Còn gọi là Bà Tử Sắt Đà, Phọc Tư Tiên, Bà Tư Tiên, Bà Tẩu Tiên Nhân. Gọi tắt là Bà Tư, Bà Tra. Là một trong bảy đại tiên, một trong mười đại tiên, một trong hai mươi tám bộ chúng. Là người tiên vào thời đại Phệ Đà ở Ấn Độ. Bà Tư Tra ở thời đại Lê Câu Phệ Đà, là người tiên đại biểu cho giòng dõi Bà la môn, cũng tức là tác giả những bài ca tán trong Lê Câu Phệ Đà quyển 7. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 3 chép, thì xưa kia vua Bà Tẩu nước Ma Yết Đà vì chán đời mà xuất gia làm tiên nhân. Khi ấy có các Bà la môn tại gia cùng bàn luận với các người tiên xuất gia là, khi tế trời, nên hay không nên sát sinh, ăn thịt. Câu hỏi này được đặt ra cho tiên Bà Tẩu, Bà Tẩu trả lời là nên, những người tiên xuất gia trách cứ và bảo phải nói thực, Bà Tẩu bèn dẫn chứng trong bốn Phệ Đà bảo khi tế trời phải sát sinh, ăn thịt và không thay đổi ý kiến của mình. Bà Tẩu vì thế mà bị tội lớn và toàn thân mất vào trong đất. Lại kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni quyển 1 bảo, người tiên ấy từ địa ngục ra, được liệt vào chúng hội nghe đức Phật nói pháp. Trong Mật giáo, Bà Tư Tra được đặt ở phương đông trong Thai tạng giới Mạn Đồ La Kim Cương bộ. Hình tượng mầu da người, hình vị tiên, nửa trên thân để trần, tay phải cầm hoa sen, nắm tay lại, đặt nơi cạnh sườn, tay trái co lên ngang bả vai và cầm tràng hạt, đầu gối trái dựng thẳng, ngồi trên bệ tròn. Hình Tam muội da là tràng hạt, chủng tử là (va). Còn là thị giả đứng hầu bên trái Thiên Thủ Quan âm trong viện Hư không tạng, là một trong hai mươi tám bộ chúng Tiên Bà Tư Tra (Thai Tạng Giới Mạn Đồ La) của Quan âm. Hình tượng mầu trắng, hình người tiên khổ hạnh, tay phải đưa lên tựa hồ như búng ngón tay, tay trái chống gậy tiên mà đứng. Hình Tam muội da là gậy tiên, chủng tử là (rwaô). [X. Trung a hàm Q.28 kinh Anh vũ; kinh Đại nhật Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; luận Đại tì bà sa Q.14; Đại nhật kinh sớ Q.16]. II. Bà tư tra. Là một trong hàng đệ tử của Phật. Còn gọi là Bà tất tra. Trường a hàm quyển 6 kinh Tiểu duyên chép, ở nước Xá vệ, có người Bà la môn tên là Bà tất tra, cùng với Bà la môn Bà la đọa (Phạm, Bhàradvàja, ) cùng đến nơi Phật, được Phật giáo hóa. Lại kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 phẩm Đệ tử, cho Bà tư tra là tỉ khưu hạng nhất trong chúng Thanh văn, thường ưa tam muội, lấy Thiền duyệt làm thức ăn. III. Bà tư tra. Người đàn bà Bà la môn. Còn gọi là Bà tư sắt đà, Bà tứ tra. Vì chết mất sáu đứa con nên thần trí bà ta thác loạn, thân thể trần truồng chạy nhảy trên đường, sau khi gặp đức Thế tôn thì bà ta trở lại tỉnh táo, và nghe đức Phật nói pháp mà chứng quả vị. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; luận Đại tì bà sa Q.126].
bà tẩu
Vasu (skt)—Theo Luận Trí Độ, Bà Tẩu là tên một vị cổ tiên Ấn Độ, người đầu tiên sát sanh để tế trời nên phải đọa xuống địa ngục, nhưng sau vô lượng kiếp trở thành đệ tử Phật—According to the Maha-Prajna-Paramita-Sastra, Vasu, name of an ancient Indian rsi, who was the first to offer slain sacrifices to Heaven, to have been cast into hell, but after countless kalpas to have become a disciple of Buddha.
; (婆藪) Phạm: Vasu. Còn gọi là Bà Tẩu Phọc Tư. Là người tiên thờ Bà la môn giáo. Xưa kia ông là vua nước Ma Yết Đà, sau xuất gia làm tiên, thường theo lời tán thán pháp Phệ Đà, chủ trương sát sinh để tế trời, sau rơi vào địa ngục; lại nhờ sự răn dạy của Phật mới qui y Tam Bảo, rồi dựng am cỏ ở dưới chân núi Bổ Đà Lạc cúng phụng Quan Âm. Đứng về phương diện tiên Bà Tẩu tuân theo học thuyết Bà la môn giáo mà nói, thì tương đương với thuyết Bà Tư Tra là giòng Bà la môn đại biểu tính tiên, cho nên, thông thường người ta cho tiên Bà Tẩu tức là tiên Bà Tư Tra. Lại Mật giáo đem đặt người tiên này ở phía đông trong viện Kim Cương bộ ngoài trên Thai Tạng Giới Mạn Đồ La. [X. kinh Đại Phương Đẳng Đại Đà La Ni Q.1; luận Đại Trí Độ Q.3]. (xt. Bà Tư Tra).
bà tẩu bàn đậu
Xem Thế Thân Bồ tát.
bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện
(婆藪槃豆法師傳) Có một quyển. Do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần thuộc Nam Triều. Bà Tẩu Bàn Đậu là dịch âm từ tiếng Phạn:Vasubandhu, còn gọi là Bà Tẩu Bàn Đà, Phạt Tô Bàn Đậu, Bà Tu Bàn Đà. Bà Tẩu dịch là Thiên hoặc Thế, Bàn Đậu dịch là Thân, tức là Thiên Thân, Thế Thân. Thu vào Đại Chính Tạng tập 50. Nội dung sách này chép: quốc sư của nước Phú Lâu Sa Phú La thuộc bắc Ấn Độ xưa là Kiều Thi Ca có ba người con đều gọi là Bà Tẩu Bàn Đậu, tên riêng của người con cả là A Tăng Già (dịch là Vô Trước), tên riêng của người con thứ ba là Tỉ Lân Trì Bạt Bà, chỉ một mình người thứ hai (Thế Thân) là gọi theo tên chung Bà Tẩu Bàn Đậu mà được nổi tiếng. Cả ba anh em đều xuất gia theo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, về sau Vô Trước, Thế Thân chuyển sang Đại Thừa và trở nên những người khai sáng Du Già Hành phái của Phật giáo Đại thừa. Sách này chủ yếu tóm tắt truyện về hai ngài Vô Trước và Thế Thân.
bà tẩu thiên
Vatistha (S), Vasudeva (S)Thế Thiên, Phạ Tử TiênẤn độ giáo cho Ngài là cha của thần Krisna. Theo Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp sư truyện, Ngài Bà Tẩu Thiên là con của Visnu, là cha của Bồ tát Thế Thiên. Xem Thế Thân Bồ tát.
; (婆藪天) Phạm: Vasudeva. Dịch ý là Thế Thiên. Tuệ Lâm âm nghĩa quyển 26 dịch ý là thực, địa, vật. Cứ theo Bà Tẩu Bàn Đậu pháp sư truyện chép, thì trời này là con của trời Tì Nữu, Bồ tát Thế Thân (Bà Tẩu Bàn Đậu) tức đã do cầu tự nơi thần này mà sinh, vì thế đặt tên là Bà Tẩu Bàn Đậu. Ấn Độ giáo gọi trời này là cha của thần Cát Lật Sắt Nô (Kfwịa). (xt. Tì Nữu Thiên).
bà tắc yết la phạt ma vương
(婆塞羯羅伐摩王) Bà Tắc Yết La Phạt Ma, Phạm: Bhàskaravarman. Là vua nước Già Malũba ở đông Ấn độ vào thế kỉ VII Tây lịch. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 10 chép, thì vua Bà Tắc Yết La Phạt Ma hiếu học, kính người hiền, tuy không thuần tín Phật Pháp, nhưng rất mến mộ các sa môn bác học; nghe tiếng sa môn Chi na quốc (tức ngài Huyền Trang) tu học Phật Pháp tại chùa Na Lan Đà, nước Ma Yết Đà, nhà vua ân cần mời mọc hai ba lần, đồng thời, bày tỏ lòng mong ước được triều cống nhà Đại Đường.
bà tử quyến thuộc
(婆子眷屬) Tên công án trong Thiền tông. Biểu thị sự tích Thiền nhất thể quán. Cứ theo Thiền uyển mông cầu quyển hạ chép, thì có vị tăng hỏi một bà già ở một mình trong túp lều tranh là bà có họ hàng hay không, thì bà lão trả lời là tất cả cỏ cây trong khoảng sông núi đất liền đều là họ hàng của bà cả. Đây là biểu thị phép quán nhất thể của Thiền tông cho rằng trời đất cùng một gốc, muôn vật cùng một thể vậy.
bà tử thiêu am
(婆子燒庵) Tên công án trong Thiền tông. Còn nói là Bà tử phần am. Ý nói sự tu hành chân thực không những chỉ cần ức chế những ham muốn của mình, mà phải đặc biệt thấy rõ thấu triệt cái mặt mày thật của mình. Ngũ đăng hội nguyên quyển 6 (Vạn Tục 138, 113 thượng), nói: Xưa có một bà già cúng dường một vị chủ am trải hai mươi năm, thường sai một trăm hai mươi tám người con gái mang cơm đến hầu ăn. Một hôm, bà bảo người con gái tên là Bảo định hỏi rằng: Khi tu hành chân chính là thế nào? Chủ am trả lời: Cây khô tựa đá lạnh, ba mùa đông không có hơi ấm. Người con gái về thuật lại, bà già nói: Hai mươi năm qua, ta chỉ cúng dường một gã phàm tục! rồi đến đuổi chủ am ra và đốt am. Công án này biểu thị cái ý chủ am chỉ ức chế những ham muốn của mình mà thành trạng thái cây khô núi lạnh, chứ không phải chân chính tu hành Phật đạo.
bà tử thâu duẫn
(婆子偷笋) Tên công án trong Thiền tông. Tức là công án mà Thiền sư Tùng thẩm ở Triệu châu đời nhà Đường, gặp một bà già giữa đường, mượn cơ duyên hỏi đáp về việc ăn trộm măng mà dẫn phát. Duẫn, tức là măng tre. Cứ theo Thiền uyển mông cầu quyển thượng chép, thì Thiền sư Triệu châu gặp một bà già giữa đường, hỏi bà ta đi đâu, thì bà ta đáp là đi ăn trộm măng của Triệu châu; Triệu châu lại hỏi giả sử gặp Triệu châu thì sẽ ra sao; bà lập tức đưa tay đánh Triệu châu một cái. Ở đây lấy măng của Triệu châu làm nghĩa chân thực của Thiền, bà già lấy đó biểu thị muôn người muôn vật đều bình đẳng, không nệ có của hay chẳng có.
bà tử tác trai
(婆子作齋) Tên công án trong Thiền tông. Chỉ sự tích bà Bàng hạnh cúng trai để diệt trừ tất cả vọng niệm. Bà Bàng hạnh, pháp hệ không rõ. Ngũ đăng hội nguyên quyển 6 (Vạn Tục 138, 113 hạ), chép: Bà Bàng hạnh vào chùa Lộc môn cúng trai, thầy duy na hỏi ý kiến, bà Bàng hạnh cầm lược chải tóc xong, nói: Hồi hướng rồi!, nói đoạn bỏ đi.
bà tỳ phệ già
Bhavaviveka (skt)—Theo Tây Vực Ký, Bà Tỳ Phệ Già là tên một vị Bồ Tát, xuất gia ẩn tu để chờ đợi nhân duyên ra đời của Đức Phật Di Lặc—According to the Records of Western Lands, Bhavaviveka, learned monk who retired from the world to await the coming of Maitreya.
bà xa tư đà
Baśaṣita (S), Vasasuta (S)Tổ đời 25 trong hàng 28 tổ sư Phật giáo ở Ấn độ.Xem Bà xa tư đà..
bà xoa
Vaksu (skt)—Một nhánh nhỏ của sông Hằng—A small branch of the Ganges.
bà xá bạt đề
Vasavartin (skt)—Bà La Ni Mật. 1) Cõi Trời Lục Dục Thiên: Nơi trú ngụ của Ma Vương—The sixth desire-heaven, the abode of Mara: - Ma Tham: The god of lust. - Ma tội lỗi: The god of sin. - Ma Tử: The god of death. 2) Tha Hóa Tự Tại Thiên: Its occupants avail themselves of the merits of others for their own pleasure. 3) Cõi của vị Hỏa Chủ Phạm Vương tên là Thi Khí: The abode of Sikhin (Brahma) as lord of fire.
bà xá tư đa
Basi-Asita or Nasasata (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (25).
; (婆舍斯多) Người nước Kế tân. Vị tổ truyền pháp thứ 25 của Thiền tông. Ngài xuất thân từ dòng Bà la môn. Thân mẫu ngài nằm mộng được thanh gươm thần mà mang thai. Khi đản sinh, tay trái ngài nắm hạt châu, không mở ra. Một hôm gặp Tôn giả Sư tử nói rõ nhân đời trước, ngài liền xin xuất gia làm đệ tử. Tôn giả ghép tên Tư Đa với tên Bà Xá đời trước, đặt tên cho ngài là Bà Xá Tư Đa rồi bí mật trao truyền tâm ấn. Sau, ngài được vua Ca Thắng lễ kính. Vì tôn giả Sư tử bị hại nên ngài ở ẩn trong rừng núi, được quốc vương Thiên đức đương thời cúng dường. Về sau, ngài truyền pháp cho Thái tử Bất Như Mật Đa. Năm Thái Ninh thứ 3 đời Minh đế nhà Đông Tấn ngài thị tịch, không rõ tuổi thọ. [X. Bảo lâm truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2]
bà đa
(婆哆) I - Bà Đá. Chi Phong Đại (gió) mất thăng bằng trong bốn đại không điều hòa. Thân thể người ta do bốn đại (bốn yếu tố lớn) đất, nước, lửa, gió cấu thành, một khi bốn đại mất điều hòa , không quân bình thì sinh ra bệnh tật. Nam Hải Kí Qui Nội Pháp truyện quyển 3 mục Tiến Dược phương pháp, dẫn lời trong kinh Y Phương, bảo rằng, bốn đại mất quân bình là: 1. Lũ rô, 2. Tiếp bả, 3. Tất đá, 4. Bà đá. Bà Đá tức là phong đại không điều hòa, mất quân bình, hơi thở gấp, muốn nghẹt, khiến người khó chịu. [X. kinh Kim Quang Minh Q.3; Pháp Uyển Châu Lâm Q.95]. (xt. Tứ Đại Bệnh Tướng). II - Bà Đá. Tên Trưởng giả. Cứ theo kinh A Dục Vương quyển 7 chép, thì tôn giả A Nan lúc sắp vào Niết bàn, có dặn ngài Xá Na Bà Tư rằng, đức Phật đã nói sau khi Ngài nhập diệt một trăm năm, nên xây ngôi chùa trên núi Ưu Lưu Mạn Đà (núi Đại Đề Hồ) tại nước Ma Thâu La, và những người đàn việt ủng hộ việc xây chùa sẽ là hai người con của vị Trưởng lão nước ấy tên là Na Đá và Bà Đá. BàTư y theo lời dặn bảo của tôn giả A Nan, liền đến nói cho hai người biết, Na Đá và Bà Đá bèn hộ trì việc xây chùa, khi dựng xong, đặt tên chùa là Na Đá Bà Đá.
bà đa ha di thi
(婆多呵彌尸) Dịch ý là Vô Căn. Tức là không có năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Luận Thích Ma Ha Diễn quyển 10 (Đại 32, 664 hạ), nói: Một lòng chuyên nhất, không phân biệt nên làm hay không nên làm, như người Bà Đa Ha Di Thi.
bà đà
Baddha (skt)—See Phược Đà.
bà đàn đà
Bhadanta (skt). 1) Đại Đức: Praised worthy—Blessed, of great virtue. 2) Một từ tôn kính để gọi Đức Phật hay các vị sư: A term of respect for a Buddha, or for monks.
bà đạt
(婆達) Phạm: Vadana. Trong Thanh Minh học, Bà Đạt Chi nghĩa tiếng nhiều lời. Nhân Minh Nhập Chính Lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 94 thượng), nói: Y theo Thanh Minh, một lời gọi là Bà Đạt Na, hai lời gọi là Bà Đạt Nê, nhiều lời gọi là Bà Đạt.
bà đạt la bát đà
Purva and Uttara (skt)—Nguyệt Cung—Naksatras or lunar mansions.
; (婆達羅鉢陀) Phạm: Bhàdrapada. Tên của tháng 6 theo lịch Ấn Độ. Còn gọi là Bà Đạt La Bạt Đà, Bạt Đà La Bạt Đà, Bạt Nại La Bà Na, Bà Nại La Bà Nại, Bà Nại La Bà Nại Ma Tẩy. Dịch ý là hiền tích, mạnh thu. Tương đương từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 7 theo Âm lịch Trung Quốc. [X. kinh Thập Nhị Duyên Sinh Tường Thụy Q.thượng; kinh Tú Diệu Q.thượng; Đại Đường Tây Vực Kí Q.2]. (xt. Lịch).
bà đề
Bhadrika (skt)—Một trong những đệ tử đầu tiên của Đức Phật (một vị vua trong dòng họ Thích gọi là Bạt Đề Thích Vương)—One of the first disciples.
; (婆提) I - Bà Đề. Phạm: Bhadrika, Pàli: Bhaddiya. Còn gọi là Bạt Đề Lê Ca, Bạt Đà La, Bạt Đề. Dịch ý là Tiểu Hiền, Hiền Thiện, Nhân Hiền, Hữu Hiền. Gọi tắt là Hiền. Một trong năm vị Tỉ khưu. Sau khi đức Thế Tôn xuất gia, cùng với nhóm các ông Kiều Trần Như, Bà Đề vâng mệnh vua Tịnh Phạn, đi hầu hạ đức Thế Tôn, cùng tu khổ hạnh. Sau đức Thế Tôn thành đạo, khi chuyển pháp luân lần đầu tiên tại vườn Lộc Dã, Bà Đề là một trong các đệ tử lớn được đạo. Về chủng tính của Bà Đề thì có nhiều thuyết khác nhau, kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 6, bảo sư là hậu duệ của vị Đại thần trong thành Ca Tì La. Trung A Hàm quyển 8 kinh Thị Giả, luật Tứ Phần quyển 4, nói sư là con vua Bạt Đề giòng họ Thích. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 182, Đại Đường Tây Vực Kí quyển 7, trong mục Bà La Nê Tư quốc, bảo sư thuộc một họ với đức Thế Tôn. (xt. Bạt Đề). II - Bà Đề. Phạm: vana. Còn gọi là Bà Na, Phọc Ni. Dịch ý là Lâm (rừng). [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.19; Phạm Ngữ Tạp Danh].
Bà 婆
[ja] バ ba ||| (1) An old lady; grandmother. (2) A transliteration for Sanskrit ba and bha sounds. =>1. Phụ nữ lớn tuổi. Bà (nội, ngoại)2. Phiên âm chữ ba và bha trong tiếng Sanskrit.
Bà-bà 婆婆
[ja]ババ baba ||| Sahassākkha; another name for Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. =>(s: Sahassākkha); tên gọi khác của trời Đế thích (s: Śakra Devānām-indra). Xem Đế thích thiên帝釋天.
Bà-bàn-đậu 婆槃豆
[ja] バハンズ Bahanzu ||| A Chinese transcription of the name of Vasubandhu. See 世親. => Phiên âm Tiếng Hán tên của Vasubandhu. Xem Thế Thân世親.
Bà-ca-bà 婆迦婆
[ja] バガバ bagaba ||| A variant of 婆伽婆 above. => Phiên âm khác của Bà-già-bà婆伽婆 ở trên.
Bà-câu-la 婆拘羅
[ja] バクラ Bakura ||| Bakkula; see 薄拘羅. => (s: Bakkula); Xem Bạc-câu-la 薄拘羅.
Bà-già-bà
phiên âm từ Phạn ngữ là Bhagavat, dịch nghĩa là Thế Tôn, là một trong mười danh hiệu tôn xưng đức Phật.
Bà-già-bà 婆伽婆
[ja] バガバ bagaba ||| A transliteration of the Sanskrit bhagavat. A term commonly used to refer to Śākyamuni Buddha. Bhagavat is a term in ancient Indian religion used to name sages. The term is said to contain six meanings: powerful (aiśvarya); correct meaning (dharma); unaffected by praise (vairāgya); auspicious (śrī); excellent reputation (yaśas) and liberation (mokśa). The Prajñāparamitā-śāstra attributes four kinds of qualities to the Bhagavat: possession of virtue; possession of discrimination; praiseworthiness and the ability to eradicate defilements. Other texts give other sets of meanings. Also rendered in Chinese as 婆迦婆 => Phiên âm chữ bhagavat từ tiếng Sanskrit. Thuật ngữ thường dùng để chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bà-già-bà là thuật ngữ của Ấn Độ giáo thời cổ đại dùng để gọi các bậc thánh. Có 6 nghĩa: 1. Mạnh mẽ (aiśvarya). 2. Chính nghĩa (dharma). 3. Không lay động vì lời khen (vairāgya). 4. Cát tường (śrī). 5. Danh xưng (yaśas). 6. Tự tại (mokśa). Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa quy có 4 loại Bà-già-bà: 1. Hữu đại đức. 2. Xảo phân biệt. 3. Hữu thanh danh. 4. Năng phá (phiền não). Các kinh văn còn có những nghĩa khác. Còn Phiên âm sang tiếng Hán là Ba-ca-bà.
Bà-la-lưu-chi
phiên âm từ Phạn ngữ Balaruci, dịch nghĩa là ‘chiết chỉ’ (gãy ngón tay), là một trong các tên gọi của vua A-xà-thế, do chuyện khi vua còn nhỏ bị ném từ trên lầu cao xuống gãy mất một ngón tay nên có tên gọi này.
Bà-la-môn
婆 羅 門; S, P: brāhmaṇa;|Danh từ chỉ một cấp, một hạng người tại Ấn Ðộ. Thuộc về cấp Bà-la-môn là các tu sĩ, triết gia, học giả và các vị lĩnh đạo tôn giáo. Dân chúng Ấn Ðộ rất tôn trọng cấp người này.|Trong thời đức Phật hoằng hoá, cấp này là cấp thứ hai của bốn cấp (sau thời đức Phật đến bây giờ là cấp cao nhất) trong hệ thống xã hội và vì vậy, họ rất kiêu mạn. Nhiều Bà-la-môn cho rằng, chỉ họ mới mang dòng máu »trắng« là dòng máu trong sạch và tất cả các hạng người còn lại chỉ sống để phụng thờ họ. Trong những bài kinh thuộc văn hệ Pā-li (Bộ kinh), Phật không hề chống đối giai cấp Bà-la-môn nhưng lại bảo rằng, không phải sinh ra trong một gia đình, dòng dõi Bà-la-môn, là tự nhiên trở thành một Bà-la-môn. Người ta »trở thành« một Bà-la-môn với những hành động, những ý nghĩ cao thượng và đó chính là những tiêu chuẩn đích thật. Bất cứ người nào cũng có thể được gọi là Bà-la-môn nếu họ đạt những tư cách nói trên. Ðây là một chiến thuật tuyệt vời của đức Phật khi Ngài chuyển ý nghĩa »giai cấp Bà-la-môn« thành một danh từ đạo đức Bà-la-môn, tức là một người có đầy đủ đức hạnh, vượt mọi giai cấp xã hội thời đó (Tập bộ kinh).|Phật thuyết trong Tiểu bộ kinh (Tự thuyết I. 5, udāna):|Ai lìa bất thiện nghiệp|Ði trên đường thanh tịnh|Tinh tiến, thoát trói buộc|Ta gọi Bà-la-môn
bà-la-môn
xem bốn giai cấp.
bà-la-môn bà-tất-sá
Vāsettha (P)ẩn sĩ Bà-ma-sá.
bà-la-môn chủng đức
Sonadanda (P).
bà-la-môn phí-già-la-bà-la
Pokkharasāti (P).
bà-la-môn sanh lậu
Jānussoni (P).
bà-la-môn thường -già
Canki (P).
bà-la-môn đạo-đề-da
Todeyya (P).
bà-la-môn ương-kỳ-sá
Angirasa (P)ẩn sĩ Ương-kỳ-la.
Bà-la-môn 婆羅門
[ja] バラモン baramon ||| (1) The Brāhmans, the clerical caste among the four castes in India. They are responsible for the study of the scriptures and the administration of religious rituals connected with Hindu belief. (S-P brāhmaṇa brāhmaṇa).(2) In the classical Chinese Buddhist texts, this was often a general term for Indian religious mendicants. => 1. Giai cấp Bà-la-môn, tầng lớp tăng lữ trong bốn giai cấp ở Ấn Độ. Họ được quyền nghiên cứu kinh điển và trông coi các việc tế lễ liên quan đến tín ngưỡng Ấn Độ giáo (s: brāhmaṇa; p: brāhmaṇa). 2. Trong Kinh tạng Hán văn, đây là thuật ngữ chỉ chung cho các vị khất sĩ của các đạo giáo ở Ấn Độ.
Bà-lâu-na 婆樓那
[ja] バロウナ barōna ||| Transcription of the Sanskrit Varuṇa; see 水天. => Phiên âm chữ Varuṇa từ tiếng Sanskrit; Xem Thuỷ Thiên水天.
bà-lưu-va
Vanena (P).
Bà-lật-thấp-bà
婆 栗 濕 婆; S: pārśva;|Tổ thứ 10 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Bà-lợi-ca
xem Vũ Hành.
Bà-lợi-sa-ca-la
xem Vũ Hành.
bà-lợi-sá
Uparittha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
bà-lỵ-sư
phiên âm từ Phạn ngữ là vrṣika, cũng đọc là bà-sư, bà-sư-ca hay bà-lỵ-sư-ca, dịch nghĩa là vũ thời sanh hay hạ sanh, vì hoa này có vào mùa mưa hoặc mùa hạ. Hoa đẹp, màu trắng, rất thơm, tên khoa học là Jasminum sambac, mọc ở vùng Ấn Độ.
bà-lỵ-sư-ca
xem bà-lỵ-sư.
bà-ma
, (ẩn sĩ) Vāmaka (P)Bà-la-môn Bà-ma.
bà-ma -đề-bà
, (ẩn sĩ) Vāmadeva (P)Bà-la-môn Bà-ma-đề-bà.
bà-phù-đà ca chiên nê
Pakudha Kaccāyana (P)Ca La Cư Đà Ca Chiên DiênTên một vị sư.
Bà-sa luận 婆沙論
[ja] バシャロン Basharon ||| Poshalun An abbreviation of the title of the Apidamodapiposhalun 阿毘達磨大毘婆沙論 , T 1545.27.1a-1004a. => (c: Poshalun). Viết tắt của A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa luận (c: Apidamodapiposhalun 阿毘達磨大毘婆沙論).
Bà-sa-bà 婆娑婆
[ja]バサバ basaba ||| Sahassākkha; another name for Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => (s: Sahassākkha); tên gọi khác của trời Đế thích (s: Śakra Devānām-indra). Xem Đế thích thiên帝釋天.
Bà-sa-thoả 婆娑妥
[ja]バサダ basada ||| Sahassākkha; another name for Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => (s: Sahassākkha); tên gọi khác của trời Đế thích (s: Śakra Devānām-indra). Xem Đế thích thiên帝釋天.
bà-sư
xem bà-lỵ-sư.
bà-sư-ca
xem bà-lỵ-sư.
Bà-tu-mật
婆 修 蜜; S: vasumitra; cũng được gọi theo lối dịch nghĩa là Thế Hữu (世 友);|Tổ thứ bảy của Thiền tông Ấn Ðộ, dịch nghĩa là Thế Hữu.
Bà-tu-mật-đa 婆須蜜多
[ja]バシュミッタ Bashumitta ||| Transcription of the name of Vasumitra, which is translated into Chinese as 世友. => Phiên âm tên của Vasumitra. Hán dịch là Thế Hữu.
Bà-xá Tư-đa
婆 舍 私 多; S: baśaṣita;|Tổ thứ 25 của Thiền tông Ấn Ðộ.
bài
(牌) Cái thẻ hoặc cái bảng để niêm yết điều gì. Là cái bảng gỗ được dùng trong Thiền lâm để viết thông báo các việc cho đại chúng rõ. Thông thường dài độ bốn mươi tám phân Tây và rộng khoảng hơn ba mươi tám phân. Nếu căn cứ vào công việc được thông báo mà phân loại, thì có Giới lạp bài, ghi số năm chúng tăng đã thụ giới để sắp xếp ngôi thứ; Xướng y bài, thông báo việc bán đấu giá các di vật của vị tăng đã quá cố; Thướng đường bài, yết thị giờ giảng pháp và treo ở nhà giảng; Tọa thiền bài, ghi giờ giấc ngồi Thiền và treo ở trước nhà Tăng; Tiểu tham bài, ghi việc nói pháp ngoài giờ qui định (phi thời); Phóng tham bài, thông báo việc miễn giờ tham Thiền vì vị trú trì hoặc vị Thủ tọa mắc bận các Phật sự cần thiết khác; Phổ thỉnh bài, ghi việc thỉnh khắp đại chúng; Khai dục bài, thông báo giờ tắm, và Phóng sinh bài, ghi giờ phóng sinh. [X. Bách trượng thanh qui Q.7 Giới lạp bài điều; Thiền uyển thanh qui Q.1, Q.2, Q.4, Q.6; Hư đường trí ngu thiền sư ngữ lục Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Thùy thuyết môn].
bài bác
Apavāda (S)Tranh cải.
; Apavàda (S). Reproach, blaming.
; To criticize—To object.
bài bác nhân quả
To denigrate the rule of “Cause and Effect.”
Bài Cú
(俳句, Haiku): nghĩa là câu thơ hài hước, vui nhộn; là một loại hình thơ ngắn định hình 17 âm thể theo thể 5, 7, 5. Đây là loại thơ kế thừa hình thức phát cú của Liên Ca, là lối xưng hô được phổ biến rộng rãi sau cuộc vận động cách tân thể thơ hài hước của Chánh Cương Tử Quy (正岡子規, Masaoka Shiki, 1867-1902) vào giữa thời Minh Trị; và Bài Cú là cách gọi gồm luôn cả thể thơ hài hước từ đầu thời Giang Hộ trở đi. Cùng với Đoản Ca, Bài Cú trở thành hai trào lưu văn học thơ của Nhật Bản.
Bài cú
排句; J: haiku; cũng được gọi là Bài giới (j: hai-kai), cũng có lúc được gọi là Hài cú;|Một dạng thơ với 17 âm được xếp theo cách 5-7-5. Thi hào nổi danh nhất với dạng Bài cú là Tùng Vĩ Ba Tiêu (j: matsuo bashō, 1643-1715). Những bài Bài cú hay nhất của ông được xem là thước đo cho tất cả những thi hào người Nhật sau này. Chúng thấm nhuần vị Thiền và trình bày một cách trọn vẹn lối nhìn phi nhị nguyên của Thiền tông.
bài cú
Haiku (J).
bài hát
Gīti (S), Song.
bài kinh
Scripture.
bài kệ
Verse, Gītaka (S), Song. Xem phúng tụng
bài luận
Essay—Composition—Theme.
bài pháp đầu tiên
Sau khi Phật đạt được đại giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, Phật đã đi qua khắp nẻo Ấn Độ, khi Ngài đến vườn Lộc Uyển gần thành Ba La Nại, nơi đó Ngài đã thuyết thời pháp đầu tiên cho năm vị tu khổ hạnh. Bài pháp thuyết về Trung Đạo, Tứ Diệu Đế và Bát Thánh Đạo—The first sermon—After the Buddha's enlightenment at Buddha Gaya, he moved slowly across India until he reached the Deer Park near Benares, where he preached to five ascetics his First Sermon. The sermon preached about the Middle Way between all extremes, the Four Noble Truths and the eight Noble Paths.
bài trừ
To get rid of.
Bài Vị
(牌位): tiếng Nhật là Vị Bài (位牌, ihai), là tấm bảng bằng gỗ có khắc ghi tên tuổi, chức vị, pháp danh, v.v., các thông tin liên quan đến người đã quá cố để cúng tế. Bài vị được xem như đồng dạng với Thần Chủ (神主), hay Thần Vị (神位), Thần Chủ Bài (神主牌), được dùng khá phổ biến trong tang lễ của Nho Giáo từ thời Hậu Hán (後漢, 25~220) trở đi. Nguồn gốc phát xuất của Bài Vị vốn là sự tập hợp tập tục cổ xưa cho rằng Bài Vị là nơi nương tựa của vong linh, với tín ngưỡng tháp miếu của Phật Giáo. Đối với Nhật Bản, cùng với Thiền Tông, Bài Vị được truyền vào dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), và đến thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867) thì phổ cập hóa.
bài vị
Inscription board.
; Ancestral tablet
; (牌位) Tấm bảng gỗ hình chữ nhật viết họ tên người chết trên đó để tiện việc cúng tế. Còn gọi là Vị bản, Vị bài, Thần chủ, Thần bài, Thần bản, Chủ bài, Linh bài. Phong tục này bắt nguồn từ nhà Nho; theo lễ nhà Nho, bảng gỗ hình chữ nhật dài từ mười đến bốn mươi phân Tây, trên đó, viết họ tên và chức quan (nếu có) của người chết để linh hồn có nơi trú ngụ. Phong tục này của nhà Nho bắt đầu từ đời Đông Hán, về sau, Phật giáo cũng dùng theo, tức như Thiền gia đời Tống đã dùng. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 Thiên hóa điều (Đại 48, 1129 thượng), nói: Mỗi ngày ba thời dâng trà, họp chúng tụng kinh. Đến khi rước bài vị vào nhà Tổ thì thôi, hoặc đợi tân trú trì đến mới vào nhà Tổ cử hành Phật sự. Phong tục bài vị cùng với Thiền tông đồng thời truyền vào Nhật Bản, lưu hành khoảng từ thời đại Liêm thương trở về sau, mà thịnh nhất là vào thời đại Giang Hộ. Tại Nhật bản, mọi người gọi bài vị là Vị bài, thông thường, người chưa chết mà đặt vị bài trước, gọi là Thọ bài, Lộc bài. Thọ bài của Thiên hoàng Nhật Bản, gọi là Thiên bài; bài cúng vong linh, gọi là Tam giới vạn linh bài; bài cúng hàng ngày, gọi là Nhật bài, mỗi tháng cúng một lần thì gọi là Nguyệt bài. Lại ngôi nhà đặt các vị bài của tín đồ để cử hành các Phật sự, gọi là Vị bài đường. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Đồ bài môn].
bài vị chư tổ
Holy tablets of the Patriarchs.;
bài vị chư tổ.
Holy tablets of the Patriarchs.
bài xích
To boycott
bàn
1) Cái dĩa: A dish—A plate. 2) Tảng đá lớn: A big rock.
bàn cãi
Diliberation—Discussion.
Bàn căn thác tiết 盤根錯節
[ja] バンコンサクセチ bankonsakusetsu ||| A tree with the "roots all twisted up and the knots all pushing into each other." A metaphor for the complications of the deluded mind. => Cây có rễ xoắn lại với nhau và các đốt đâm ra chen lẫn vào nhau. Dụ cho sự phức tạp của tâm vọng tưởng.
bàn cốc
(盤穀) Vị tăng đời Nguyên. Người huyện Hải Diêm tỉnh Triết Giang. Hiệu Lệ Thủy. Chí khí hơn người, đọc rộng kinh sử. Tính ưa sông núi, trong năm Chí Nguyên, đi du ngoạn các danh sơn thắng cảnh, như núi Ngũ Đài, Nga Mi, Phục Ngưu, Thiếu Thất v.v..., từng tự nhủ (Đại 50, 903 hạ): Dấu chân nửa thiên hạ, tiếng Thơ khắp thế gian. Thời ấy, Phò mã Cao Li Phiên Vương, nghe danh đức, thỉnh đến chùa Tuệ Nhân ở Hàng Châu giảng đại ý kinh Hoa Nghiêm, bảy chúng kính phục, Phiên Vương đẹp lòng, từ đó tiếng tăm càng lừng lẫy. Sau đến Tùng Quận, cất Tinh xá, hàng ngày niệm danh hiệu Phật Di Đà. Năm Chí Nguyên thứ 9, không bệnh mà tịch,thọ hơn bảy mươi tuổi. Có tác phẩm Du sơn thi tập 3 quyển. [X. Đại Minh cao tăng truyện Q.1; Tục thích thị kê cổ lược Q.1].
bàn cổ
P'an-ku (C), Pangu (C).
bàn giao
To change over.
bàn già
Vac (skt)—Lời nói—Speech—Talk.
bàn giấy
Desk—Bureau.
bàn hương án
Altar.
bàn khuê hoà thượng
Bankei Ōshō (J)Tên một vị sư.
Bàn Khuê Vĩnh Trác
盤珪永琢; J: bankei yōtaku (eitaku); 1622-1693, cũng được gọi là Bàn Khuê Quốc sư (j: bankei kokushi);|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Diệu Tâm tự (j: myōshin-ji). Sư một trong những Thiền sư danh tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản, là người đã phổ biến thiền học dưới lớp quần chúng.|Sư sinh trưởng trong một gia đình theo Nho giáo, sinh sống bằng nghề y học Trung Quốc. Sư mất cha năm lên mười và một năm sau đó, Sư được gửi vào trường học. Một hôm, nhân lúc đọc quyển Ðại học (j: daigaku) – một trong bốn quyển sách chính (Tứ thư) của Nho giáo – đến câu »Ðại học làm sáng tỏ minh đức«, Sư hỏi thầy: »Minh đức (明德; j: meitoku) là gì?« Thầy trả lời: »Minh đức là tính tốt tự nhiên có sẵn của mỗi người« Sư hỏi đi hỏi lại nhiều lần nhưng những câu trả lời của vị thầy này không làm thoả mãn nỗi thắc mắc của Sư. Cuối cùng, Sư tìm học ở các vị Thiền sư để tìm câu giải đáp.|Ðến Thiền sư Vân Phủ Toàn Tường (雲甫全祥; j: umpō zenjō, 1568-1653), Sư được hướng dẫn vào phương pháp Toạ thiền (j: zazen) và có ngộ nhập nơi đây. Vân Phủ khuyên Sư đến các vị Thiền sư khác để trắc nghiệm sự giác ngộ của mình. Sư vâng lời thầy yết kiến nhiều Thiền sư nhưng không ai có thể Ấn chứng cho Sư. Nhân nghe danh một vị Thiền sư Trung Quốc là Ðạo Giả Siêu Nguyên (道者超元; c: dàozhě chāoyuán; j: dōsha chōgen) – một vị Thiền sư hoằng hoá đồng thời với Ẩn Nguyên Long Kì – đang trụ trì tại Sùng Phúc tự (j: sōfukuji), Sư đến tham học và được vị này ấn khả.|Vì thấy rằng, rất ít người hiểu được những lời thuyết pháp của mình nên Sư ẩn cư nhiều năm trước khi nhập thế hoằng hoá. Môn đệ của Sư sau này có đến cả ngàn người, xuất xứ từ mọi tầng cấp xã hội. Hầu hết tất cả những bài thuyết pháp của Sư đều xoay quanh hai chữ »Bất sinh« (不生; s: anutpāda; j: fushō), »Tâm bất sinh« những danh từ được Sư giảng nghĩa tường tận. Mặc dù Sư nghiêm cấm các đệ tử ghi chép lại pháp ngữ của mình nhưng các bài thuyết pháp của Sư vẫn còn được lưu lại.|Một Cư sĩ trình: »Con chẳng nghi ngờ rằng trong bản tâm không có vọng niệm; nhưng con không tìm thấy sự gián đoạn giữa hai niệm. Con không thể nào trụ trong cõi bất sinh.« Sư dạy: »Ngươi ra đời với chẳng cái nào khác ngoài Phật tâm bất sinh. Chỉ từ khi ngươi trưởng thành, nghe và thấy những người khác hành động trong trạng thái vô minh của họ, ngươi cũng dần dần bước theo vào cõi vô minh…. Theo năm tháng, cái vô minh của ngươi đã chiếm đoạt tất cả. Nhưng không một vọng niệm nào đã tự có sẵn. Vọng niệm tự chấm dứt trong tâm đã tự chứng được sự bất sinh…«|Một vị tăng hỏi: »Con không thể nào khắc phục được những vọng niệm trong tâm. Vậy con nên làm gì?« Sư đáp: »Ý nghĩ ›phải khắc phục những vọng niệm‹ cũng là một vọng niệm. Không một ý nghĩ nào đã có từ đầu. Chỉ vì ngươi khởi tâm phân biệt nên chúng mới xuất hiện.«|Năm 1672, Sư được Vương triều mời trụ trì Diệu Tâm tự tại Kinh Ðô (j: kyōto). Nhờ kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu và tài thuyết pháp xuất chúng của Sư – đặc biệt là lối thuyết pháp theo ngôn ngữ của người bình dân, dễ hiểu, dễ thâm nhập – nên tông Lâm Tế tại Nhật lại phất lên như một ngọn lửa sau một thời gian chết cứng trong các sắc thái bề ngoài. Về mặt này thì Sư chính là vị dẫn đường cho một vị Thiền sư Nhật xuất chúng sau này là Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) – sinh sau Sư 61 năm. Mặc dù môn đệ của Sư rất đông nhưng Sư chỉ ấn khả ít người. Ba năm trước khi viên tịch, Sư được Nhật hoàng phong danh hiệu Phật Trí Hoằng Tế Thiền sư (j: butchi kōsai zenji).|Trước khi quy tịch, các đệ tử thỉnh Sư viết kệ. Sư bảo: »Ta sống 72 năm. 45 năm ta đã giáo hoá chúng. Tất cả những gì ta thuyết trong thời gian này là kệ lưu niệm của ta. Ta sẽ không làm một bài kệ khác nữa chỉ vì tất cả những người khác làm.« Nói xong, Sư ngồi kết già thị tịch. Năm 1740, 47 năm sau khi Sư tịch, Nhật hoàng lại phong danh hiệu khác là Ðại Pháp Chính Nhãn Quốc sư (大法正眼國師; j: daihō shōgen kokushi).
bàn khuê vĩnh trác
Bankei Eitaku (J), Bankei Osho (J), Bankei Yōtaku (J)1623 - 1693, trường phái Rinzai, một trong những thiền sư nổi tiếng nhất nước Nhật.
bàn linh
Altar for the dead.
bàn luận
To discuss—To dispute.
bàn luận xong
To have setled the issue.
bàn phục
(盤袱) Chỉ cho cái mâm và cái khăn, tức trải cái khăn lên mâm để đựng các giấy sớ và con dấu... Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 Thụ pháp y điều (Đại 48, 1122 trung), nói: Đem mâm và trải khăn lên rồi để áo pháp và các tín vật.
bàn sanh
Animal.
bàn soạn
To discuss—To consult.
Bàn Sơn Bảo Tích
(盤山寳積, Banzan Hōshaku, ?-?): vị Thiền tăng sống vào giữa thời nhà Đường, người kế thừa dòng pháp của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一). Ông đã từng sống ở Bàn Sơn (盤山), U Châu (幽州, Tỉnh Hà Bắc), nỗ lực tuyên xướng tông phong của mình. Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Ngưng Tịch Đại Sư (凝寂大師).
; 盤山寶積; C: pánshān bǎojī; J: banzan hōsha-ku; 720-814;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ và người nối pháp Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Sau khi được truyền tâm ấn, Sư đến Bàn Sơn, ngọn núi ở miền Bắc Trung Quốc cạnh biên giới Bắc Triều Tiên. Tắc 37 trong Bích nham lục có nói đến Sư.|Tương truyền rằng, Sư Kiến tính ở giữa chợ, trong lúc theo dõi câu chuyện giữa ông bán thịt và một người khách. Người khách yêu cầu: »Cắt cho tôi một miếng thịt ngon.« Ông bán thịt để dao xuống, khoanh tay đáp: »Miếng nào lại không ngon!« Sư nghe được có chút tỉnh. Nhân sau, lúc chứng cảnh xung quanh một đám ma, nghe người hát câu (T. Phước Hảo & T. Thông Phương dịch):|紅輪決定沉西去。未委魂靈往那方|幕下孝子哭哀哀|Hồng luân quyết định trầm Tây khứ|Vị uỷ hồn linh vãng na phương|Mạc hạ hiếu tử khốc ai ai.|»Vầng hồng quyết định về Tây lặn|Chưa biết hồn linh đến chỗ nào?|Dưới tấm màn hiếu tử khóc hu hu!«|tâm Sư bừng sáng. Về thuật lại Mã Tổ, Tổ liền Ấn khả.
bàn sơn bảo tích
Panshan Baoji (C), P'an-shan pao-chi (C),, Banzan Hōshaku (J)(720-814) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
; (盤山寶積) Vị tăng đời Đường. Pháp tự của ngài Mã tổ Đạo Nhất, ở Bàn Sơn thuộc U Châu, tỉnh Hà Bắc, tuyên dương tông phong, vì thế đời gọi là Bàn sơn bảo tích. Quê quán, năm sinh và năm mất đều không rõ. Thụy hiệu Ngưng tịch đại sư. [X. Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; Liên đăng hội yếu Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
bàn sơn tam giới vô pháp
(盤山三界無法) Tên công án trong Thiền tông. Là lời của sư Bàn Sơn Bảo Tích dẫn dắt người học. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 Bàn sơn bảo tích chương (Đại 51, 253 trung), nói: Các Thiền đức! Hãy tự xét mình, không ai thay thế được đâu. Trong ba cõi chẳng có pháp gì thì tìm tâm ở đâu? Bốn đại vốn không, Phật nương vào đâu mà trú? Cơ trí chẳng động, lặng bặt không lời. Mặt mày rõ ràng, không việc gì khác. Vô pháp, trong tam giới vô pháp, đồng nghĩa với vô tâm, vô sự, nghĩa là các sự tượng trong ba cõi, đứng trên lập trường căn nguyên mà nói, là không tồn tại. Công án này chỉ bày cái phương thức tồn tại vô niệm vô tưởng mới là sự tồn tại chân thực. [X. Bích nham lục Tắc 37; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
bàn sơn tinh để nhục
(盤山精底肉) Tên công án trong Thiền tông. Còn gọi là Bàn sơn nhục án. Là nhân duyên tỉnh ngộ của Bàn sơn Bảo tích. Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 50 hạ), nói: Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích ở U-châu, nhân đi qua chợ, thấy một người khách mua thịt lợn (heo), bảo người hàng thịt: Tinh để, bán cho một cân nào! Người hàng thịt buông con dao, xoa tay nói: Trưởng sử! Cái đó không phải tinh để!, ngay lúc ấy, sư có chỗ tỉnh ngộ. Cái gọi là tỉnh ngộ tức là khế nhập với chân lí vốn đủ tính Phật, cũng tức là tìm ngay trong các sinh hoạt thường ngày, không một cái gì không là tính Phật, không một chỗ nào không hàm lí Phật.
bàn thạch kiếp
Một kiếp rất dài, ví với ngọn núi đá lớn. Có một ngọn núi đá dài 40 dậm, cứ mỗi trăm năm lại lấy vải áo của chư Thiên (Thiên y hay áo trời) chà vào núi một lần rồi thôi, 100 năm sau mới đến chà vào một lần nữa, cứ chà như thế cho đến khi nào núi mòn hết là xong một Bàn Thạch Kiếp—The rock kalpa, a very long kalpa. Let a rock 40 miles in extent be brushed once in a hundred years by a deva garment, that's all and then do it again exactly 100 years later. This practice is continue until the rock is completely worn down to nothing (when brushed away the kalpa is ended). A kalpa as measured by the time it would take to wear away an immense rock by rubbing it with a deva-garment (the time it takes to do this is called a 'rock kalpa.'
bàn thờ
The altar for worshipping the...
bàn thờ phật
Buddha shrine.
; The altar of the Buddha.
bàn thờ tổ
Altar for the patriarch.
bàn toạ
(盤坐) Ngồi xếp bằng, tức là phu tọa. Tục ngữ Trung Quốc nói là tréo gối, tức hai ống chân chồng tréo lên nhau.
bàn tu bàn đầu
Xem Thế Thân Bồ tát.
bàn tán
To discuss and comment.
bàn tọa
Ngồi xếp bằng—To sit with folded legs.
bàn xà la
Xem Ngũ thần thông.
bàn đà
(槃陀) Tên đơn vị đo chiều dài. Còn gọi là Ban Đà. Tức hai mươi tám khuỷu tay. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 1 (Đại 40, 7 thượng), nói: Ranh giới A lan nhã vuông tròn nhỏ nhất là bảy bàn đà. Mỗi bàn đà hai mươi tám khuỷu tay. [X. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.1].
bàn đà già
Panthaka (skt)—See Bán Ca.
bàn đà vị
Vandani (skt)—Tán thán—To praise—To adore.
bàn đại nhi
Xem Bàn đại tử.
bàn đại tử
Bandhyaputra (S)Thạch nữ nhi, Bát đại tử, Bàn đại nhiĐứa con của người đàn bà không thể sinh sàn. Ngụ ý chỉ sự hư huyễn, không thật, như lông rùa, sừng thỏ.
; (槃大子) I.Bàn đại tử. Phạm:bandhyà-putra. Thí dụ cái hư giả không thực như lông rùa sừng thỏ. Kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 2 (Đại 16, 493) trung: Như hư không, sừng thỏ, cùng với bàn đại tử, không mà có nói năng, tính vọng tưởng như thế, do nhân duyên hòa hợp, phàm ngu khởi vọng tưởng, không biết được như thực, vòng quanh nhà ba cõi. Từ ngữ bandhyà-putra, kinh Lăng già a bạt đa la bảo bốn quyển, dịch là Bàn đại tử, nửa trên dịch âm, nửa dưới dịch ý. Nhưng kinh Đại thừa nhập lăng già bảy quyển, thì lại dịch là Thạch nữ nhi (người đàn bà đá), dịch ý này chỉnh hơn. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 (Đại 54, 1083 thượng), nói: Phiến đề la, Hán dịch là Thạch Nữ, vì không có nam nữ căn. Bàn đại tử có xuất xứ từ Lăng già, còn Đại thừa nhập lăng già thì nói là Thạch Nữ nhi. II.Bàn đại tử. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là Ban đại tử, Bàn đại nhi. Nói việc không thể dùng kiến thức tầm thường phổ thông mà đánh giá những người ưu việt siêu phàm, cũng tức là nhân vật vĩ đại vượt hẳn lên trên lí trí và tình cảm thế tục. Hoặc chỉ đức Thế tôn. Trúc Tiên hòa thượng ngữ lục quyển trung (Đại 80, 377 hạ): Tiến rằng: Lúc này có vị tăng hỏi: Bò sinh con, tại sao không nói? Sơn bảo: Cầm đèn lại đây! Cầm đèn lại đây! Lại hỏi: Hiểu thế nào? Đáp: Như ban đại tử.
bàn đạt xà lý
Xem Ba đan xà lê.
bàn đầu
Pandu (skt)—Cha của Vaipasyin, vị Phật thứ 998 của hiền kiếp—Father of Vipasyin, the 998th Buddha of the last kalpa.
bàn đặc
Panthaka (skt)—See Bán Ca.
bàng
Bên cạnh—Near—Adjoining—Side—Dependent—Beside.
bàng bằng nghĩa tông
(傍憑義宗) Chữ dùng trong Nhân minh. Là một trong bốn tông Nhân minh. Trong Nhân minh, khi tranh luận, người lập luận thành lập Tông (mệnh đề), đối với điều mình muốn lập, không nói thẳng ra cho rõ ràng, mà lại mượn việc khác để nói một cách quanh co mập mờ, có tính cách ám chỉ mà thôi, như vậy gọi là Bàng bằng nghĩa tông (bàng, nghĩa đen là một bên; bằng, nghĩa đen là nhờ vào, dựa vào, tức dựa vào nghĩa bên cạnh, chứ không trực tiếp). Chẳng hạn, muốn lập ba mươi hai tướng tròn đầy tốt đẹp của đức Phật, thì trong lời tranh luận, người lập luận chỉ nói Phật là bậc giác ngộ, chủ ý thì không nói thẳng ra, chỉ mong qua câu Phật là bậc giác ngộ mà ý ba mươi hai tướng tự nhiên được thành lập. Như thế thì nghĩa bàng bằng dù có khiến cho đối phương (người vấn nạn) biết được Phật có đủ ba mươi hai tướng qua câu Phật là bậc giác ngộ, thì ý ấy cũng chỉ hàm súc, giấu kín, chưa được bày tỏ ra bằng lời tranh luận, vì thế không thể trở thành tông hoàn toàn, chính xác. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 100 hạ), nói: Nghĩa bằng tông, chẳng phải dùng lời để tranh luận, vậy dùng làm gì? Tranh luận vốn dùng lời nói để mong đối phương hiểu ý mình, đằng này lại quanh co, lập lờ thì làm sao thành được, cho nên không thể cho là chính luận. (xt. Tứ Tông).
bàng cư sĩ
Hō ko-ji (J)Bàng Uẩn.
bàng cư sĩ bất muội bản lai nhân
(龐居士不昧本來人) Tên công án trong Thiền lâm. Là cơ duyên đối thoại giữa Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và Bàng cư sĩ đời Đường về câu nói Bất muội bản lai nhân. Bản lai nhân, tức là chỉ cái tự tính xưa nay vốn trong sạch của người ta, đồng nghĩa với Bản lai thân, Bản lai diện mục. Liên đăng hội yếu quyển 6 (Vạn tục 136 - 262 hạ), nói: Cư sĩ hỏi Mã tổ: Bất muội bản lai nhân, xin thầy nhướng cao mắt. Mã tổ nhìn thẳng xuống. Sĩ nói: Một thứ đàn không dây, chỉ có thầy là gảy được tuyệt diệu. Mã tổ nhìn thẳng lên, Sĩ sụp xuống lạy, tổ liền về phòng. Sĩ theo vào sau, nói: Đùa khéo mà thành vụng! Trong công án này, Bàng cư sĩ hỏi Mã tổ là muốn thấy rõ bản lai diện mục thì phải dụng tâm như thế nào, Mã tổ trả lời bằng cách nhìn xuống, rồi lại nhìn lên, biểu thị ý là hai mắt phải phân minh thì chân tâm thấy được. [X. Đại tuệ phổ giác ngữ lục Q.8].
bàng cư sĩ hảo tuyết phiến phiến
(龐居士好雪片片) Tên công án trong Thiền lâm. Sự tích Bàng cư sĩ đời Đường nhìn tuyết rơi trước mắt, và lại dùng cái đánh để kích thích sự liễu ngộ của Toàn thiền khách. Bích nham lục Tắc 42 (Đại 48, 179 trung), nói: Bàng cư sĩ từ biệt Dược sơn, Sơn sai mười người Thiền khách tiễn chân. Đến đầu ngõ, Sĩ chỉ vào đám tuyết trong không trung, nói: Tuyết rơi đẹp quá, không rơi ở nơi khác. Lúc ấy, có thiền khách Toàn hỏi: Rơi ở nơi nào?, Sĩ liền thụi cho một thụi. Toàn nói: Cư sĩ không được thô lỗ như thế! Sĩ nói: Sao ông lại xưng là Thiền khách, lão già Diêm (vương) chưa tha ông mà! Toàn hỏi: Cư sĩ hiểu thế nào? Sĩ lại thụi cho một thụi nữa, nói: Mắt thấy như mù, miệng nói như câm. Trong Tắc công án này, Bàng cư sĩ lúc đầu nói Tuyết rơi đẹp quá, không rơi ở nơi khác, ý là cảm thán cảnh tuyết rơi lả tả trước mắt rất là đẹp, nhưng Toàn thiền khách không hiểu được ý ấy, mà lầm tưởng ý Bàng cư sĩ muốn hỏi nơi tuyết rơi nên sau một lúc suy nghĩ, mới hỏi Rơi ở nơi nào? Như thế đã chẳng biết cảm thưởng cái cảnh đẹp ngay trước mắt, lại vọng tưởng suy nghĩ lông bông, vì thế mới bị Bàng sư sĩ đánh cho một thụi. Nhưng, dù bị đánh, Toàn thiền khách vẫn không tỉnh ngộ, mà lại nói Cư sĩ không đuợc thô lỗ như thế, lại bị Bàng cư sĩ bồi cho câu lão già Diêm chưa tha ông mà, để hiển bày cái ý trước sau Toàn thiền khách đều chưa thoát được sự cố chấp vào lời nói, rồi lại đánh cho thụi nữa mà mắng là như mù như câm. Không gì đẹp bằng những sợi tuyết trắng tinh đang rơi lả tả trước mặt, giữa đất trời lồng lộng, phong quang tiêu sái, vốn không chấp nhận một tí suy tư tính toán nào, tại sao không lắng hết tâm tư mà tận hưởng cảnh thiên nhiên kì thú ấy, mà lại vọng tưởng suy nghĩ vẩn vơ, tìm hiểu xem tuyết rơi ở nơi này hay ở chỗ khác, như Toàn thiền khách kia, thật là uổng! Bởi thế, đối với cảnh tuyết rơi trước mắt, nhìn mà chẳng thấy (mắt thấy như mù), tuy miệng có thể nói năng, nhưng trước sau vẫn bị lời nói trói buộc, mà chưa thể chỉ trong một lời, nửa câu (miệng nói như câm) lãnh hội được chỗ qui thú của muôn pháp là pháp tự nhiên như thế, cho nên lại bị đánh một lần nữa mà vẫn không thể nhận được cái cá trung hữu ý (chân lí chỉ có thể thể nghiệm được trong im lặng).
Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục
(龐居士語錄, Hōkojigoroku): 3 quyển, do Bàng Uẩn (龐蘊) nhà Đường soạn, Vu Do (于頔) biên, được trùng san vào năm thứ 10 (1637) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎) nhà Minh. Bộ này có quyển thượng gồm các lược truyện và lời vấn đáp với chư vị Thiền khách, quyển trung và hạ là những bài thơ. Bản nhà Tống đã ra đời nhưng hiện tại không còn nữa, cho nên bản nhà Minh trở thành bản xưa nhất.
bàng cư sĩ ngữ lục
(龐居士語錄) Gồm ba quyển. Do Bàng uẩn đời Đường soạn. Vu địch biên. Được in lại vào năm Sùng trinh thứ 10 (1637) đời Minh. Thu vào Vạn tục tạng tập 120. Quyển thượng thu chép cơ duyên đối thoại giữa Bàng uẩn và Mã tổ, Thạch đầu, Đơn hà Thiên nhiên, Phổ tế, Tùng sơn và Đại mai, hiển bày cái tâm hành không không vô tướng, vô vi vô ngã của Bàng uẩn; quyển trung và quyển hạ, chép các bài thơ và tạp cú thể năm chữ, bảy chữ, phần nhiều có thể là tấm gương giúp người học tham ngộ.
bàng già phổ
(旁遮普) (PAĨJÀB) Tức là dịch âm Ngũ hà địa phương thuộc Ấn độ. Trong các chi nhánh của sông Ấn độ, có năm nhánh chảy ra địa phương này. Thời thái cổ, ngưới Á lợi an, đi xuống phía nam, xâm nhập địa phương này, rồi định cư tại đấy mà sản sinh văn hóa Phệ đà (Veda) độc đáo, trong lịch sử văn hóa Ấn độ, là địa khu rất trọng yếu, nay ở vào khoảng bắc bộ tỉnh Bàng già phổ.
bàng hoàng
Confused—Perplexed.
bàng long uẩn
Bàng Long Uẩn, một cư sĩ nổi tiếng. Đây là những bài kệ nổi bậc của ông—Ban-Lung-Yun, a famous lay-follower. Here are his some outstanding verses: - “Thập phương đồng tụ hội cá cá học vô vi Thử thị tuyển Phật trường Tâm không cập đệ qui.” (Mười phương đồng tụ hội Mỗi người học vô vi Đây là trường thi Phật Tâm không thi đậu về). “We have gathered from ten directions To learn the concept of non-birth and non-annihilation. This life is a testing-to-become-Buddha center Those who have acquired the mind of emptiness will return home with glory and joy.” - “Hữu nam bất thú hữu nữ bất giá Đại gia đoàn biến đầu cộng thuyết vô sanh thoại.” (Có con trai không cưới vợ có con gái không gã chồng cả nhà cùng đoàn tụ Đồng nói lời vô sanh). “We have a single son, and an unmarried daughter. The whole family is gathering, To talk about the unborn.”
bàng miết ngữ
(傍瞥語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, khi thầy dạy học trò, không dùng phương pháp nói thẳng để chỉ bày, mà dùng lời nói vắn tắt xa xôi, chỉ hé cho thấy cái ý chỉ chủ yếu. Vì không chỉ thẳng mà là chỉ sang một bên, cho nên gọi là Bàng miết ngữ (bàng, nghĩa đen là một bên, bên cạnh; miết, nghĩa đen là nhìn liếc qua). Bích nham lục Tắc 30 (Đại 48, 169 hạ), nói: Viễn lục công nói: Đây là lời bàng miết.
bàng môn tả đạo
Belonging to external and false cults.
bàng nhân
Bystanders.
bàng quan
Spectator—Looker-on.
bàng sanh
Xem Súc sinh.
bàng sanh thú
Một trong lục thú, con đường của súc sanh—The animal path, that of rebirth as an animal, one of the six gati. ** For more information, please see Lục Đạo.
Bàng sinh
傍生; C: bāngshēng; J: bōshō;|Loài súc vật, một trong 5 (hoặc 6) cõi chúng sinh thụ báo (s: tiryag-yoni).
bàng sinh
Tiryagyoni (skt)—Một trong nhiều hình thức của sanh. Phật gọi súc sanh là bàng sanh, là loại chúng sanh lúc đi thì đi ngang và bụng hướng về mặt đất, do quả báo của những tội lỗi đời quá khứ—One of many forms of birth, rebirth as an animal, born as an animals; born to walk on one side, i.e. belly downwards, because of sin in past existence.
; (旁生) Tức chỉ súc sinh. Trên từ long thú cầm súc, dưới đến thủy lục côn trùng, đều bởi nghiệp mà phải luân hồi trong ngả ác, không phải là đường chính của người, trời, cho nên gọi là bàng sinh. (xt. Súc Sinh).
Bàng sinh 傍生
[ja] ボウショウ bōshō ||| Animals, which are one of the five (or six) destinies (tiryag-yoni). => Loài súc vật, một trong 5 (hoặc 6) cõi giới chúng sinh chịu thọ báo (t: tiryag-yoni)
Bàng Uẩn
龐蘊; C: pángyùn; 740-808/11;|Cư sĩ Trung Quốc nổi danh nhất trong Thiền tông đời Ðường, được phong danh là Duy-ma-cật của Ðông độ. Ông là môn đệ của hai vị Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và Thạch Ðầu Hi Thiên và cũng kết bạn rất thân với Thiền sư Ðan Hà Thiên Nhiên. Những lời vấn đáp và Pháp chiến của ông với các Thiền sư danh tiếng cùng thời đã được ghi chép lại trong Bàng cư sĩ ngữ lục, được xem là những bài văn kệ gây cảm hứng nhất trong Thiền ngữ.|Bàng cư sĩ theo nghiệp Nho gia, sống cuộc đời rất thanh đạm. Vợ và con gái ông cũng chăm chỉ học thiền. Lần đầu yết kiến Thiền sư Thạch Ðầu, ông hỏi: »Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì ?« Thạch Ðầu liền lấy tay bụm miệng ông – ông bỗng nhiên có ngộ nhập. Một hôm Thạch Ðầu hỏi: »Từ ngày ông thấy lão Tăng đến nay hằng ngày làm việc gì?« Ông đáp: »Nếu hỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng« và trình bài kệ sau:|日用事無別。唯吾自偶諧|頭頭非取捨。處處勿張乖|朱紫誰爲貴。丘山絕點埃|神通并妙用。運水及般柴|Nhật dụng sự vô biệt, duy ngô tự ngẫu hài|Ðầu đầu phi thủ xả, xứ xứ vật trương quai|Châu tử thuỳ vi quý, khâu sơn tuyệt điểm ai|Thần thông tịnh diệu dụng, vận thuỷ cập ban sài!|*Hằng ngày không việc khác|Mình ta ta hoà chung|Việc việc không nắm bỏ|Nơi nơi chẳng trệ ngưng|Quan chức có gì quý|Ðồi núi bặt bụi hồng|Thần thông cùng diệu dụng|Gánh nước bửa củi tài!|Sau đó ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi: »Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?« Mã Tổ đáp: »Ðợi miệng ông hút hết nước Tây giang, ta sẽ nói với ông.« Nhân đây ông Ðại ngộ. Sau đó ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương và cất một thất nhỏ để tu hành. Con gái của ông là Linh Chiếu theo hầu hạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán nuôi cha. Ông có làm bài kệ:|有男不婚,有女不嫁|大家團樂頭,共說無生話|Hữu nam bất thú|Hữu nữ bất giá|Ðại gia đoàn biến đầu|Cộng thuyết vô sinh thoại.|*Có trai không cưới|Con gái không gả|Cả nhà chung hội họp|Ðồng bàn lời vô sinh|Ông đến viếng Thiền sư Ðan Hà Thiên Nhiên. Ðan Hà làm thế chạy, ông bèn nói: »Vẫn là thế phóng thân, thế nào là thế tần thân?« Ðan Hà liền ngồi. Ông thấy vậy vẽ dưới đất chữ Thất. Ðan Hà vẽ đáp chữ Nhất. Ông nói: »Nhân bảy thấy một, thấy một quên bảy.« Ðan Hà đứng dậy đi. Ông gọi: »Hãy ngồi nán một chút, vẫn còn câu thứ hai.« Ðan Hà bảo: »Trong ấy nói được sao?« Ông bèn khóc ra đi.|Sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vào cho ông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa: »Mặt trời đã đúng ngọ, mà sao bị sao thiên cẩu ăn mất.« Tưởng thật, ông rời chỗ ngồi bước ra xem thì Linh Chiếu lên toà ngồi chỗ cha, thu thần hoá xác. Ông vào thấy vậy cười nói: »Con gái ta lanh lợi quá« rồi chờ bảy ngày sau mới hoá. Vợ ông hay được, nói: »Con gái ngu si với ông già vô tri, không báo tin mà đi sao đành vậy!« Bà ra báo tin cho con trai ngoài đồng. Người con trai đang cuốc đất nghe tin xong bèn đứng mà tịch. Rồi Long Bà cũng lặng lẽ tịch theo.
bàng uẩn
Pangyun (C), P'ang yun (C); Hokoji (J), P'ang-chu shih (C), Pangjushi (C)(740-808/811) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thạch Đầu Hy Thiên và Mã Tổ Đạo Nhất.
; (龐蘊) (? - 808) Là Thiền giả tại gia trứ danh đời Đường. Đời gọi là Bàng cư sĩ, Bàng ông. Người huyện Hành dương tỉnh Hồ nam. Đời đời theo Nho học, chỉ một mình Uẩn mộ Phật pháp. Năm đầu Trinh nguyên (785 - 804), yết kiến Thạch đầu Hi thiên, có chút lãnh ngộ. Sau mến cái phong thái của Đơn hà Thiên nhiên (739 - 824) mà suốt đời kết bạn. Ngoài ra, cũng đi lại tham vấn các bậc thạc đức trong chốn Thiền lâm, như các ngài Dược sơn Duy nghiễm, Tề phong, Bách kinh, Tùng sơn, Đại mai Pháp thường, Lạc phố và Ngưỡng sơn v.v... Một hôm, Thạch đầu hỏi (Đại 51, 263 trung): Ông hiểu việc làm hàng ngày của lão tăng từ trước đến nay như thế nào? Bàng uẩn trả lời: Nếu hỏi việc làm hàng ngày, thì không có chỗ mở miệng. Rồi trình một bài kệ, hai câu cuối nói: Thần thông cùng diệu dụng, gánh nước và bửa củi. Thạch đầu có ý cho là đuợc, lại hỏi: Ông là tăng? Hay tục? Đáp: Nguyện theo cái mà mình mến chuộng, rồi không xuống tóc, nhuộm áo và suốt đời làm thân phận tại gia, nêu cao phong thái phương ngoại (người ngoài xã hội thường, tức đạo sĩ, Thiền sư). Sau đến Giang tây tham lễ Mã tổ Đạo nhất, hỏi: Không cùng làm bạn lứa với muôn pháp là người thế nào?. Tổ nói: Đợi khi nào ông hớp một hớp cạn hết nước sông Tây giang, tôi sẽ nói cho biết. Ngay sau câu nói đó, Bàng uẩn lãnh hội, đốn ngộ huyền cơ, bèn lưu lại hai năm. Về sau, cơ biện bác sắc bén mau lẹ, khiến các phương đều chú mục. Khoảng năm Nguyên hòa (806 - 820), đi chơi Tương dương miền bắc, vì ưa thích phong thổ nơi đó, nên bỏ hết gia sản rồi cùng vợ con cày ruộng ở chân núi Lộc môn. Những người đến hỏi đạo mỗi ngày mỗi đông, những lời ông nói đều là Thiền cơ, vợ con đều nhờ đó mà triệt ngộ. Ông mất năm Nguyên hòa thứ 3 (có thuyết cho là Nguyên hòa thứ 10, hoặc là khoảng năm Thái hòa). Đời sau gọi tôn là Tương dương Bàng đại sĩ, Đông độ Duy ma, gọi song song với Phó đại sĩ đời Lương. Có để lại Bàng cư sĩ ngữ lục, do Tiết độ sứ Vu địch, người bạn thân lúc sinh tiền, biên tập, được các Thiền lâm qua các đời rất coi trọng, như Tổ đường tập đời Ngũ đại, Tông kính lục đầu đời Tống, Cảnh đức truyền đăng lục v.v... đều có dẫn dụng một phần nội dung. Bản hiện còn đến nay là bản đã được in lại vào năm Sùng trinh thứ 10 đời Minh, cộng có ba quyển. Khi Bàng uẩn sắp nhập tịch, sai con gái là Linh chiếu ra xem mặt trời sớm hay muộn, Linh chiếu xem rồi trở vào báo (Đại 51, 263 hạ): Mặt trời đã lên giữa trời mà có nhật thực. Bàng uẩn bèn ra ngoài cửa xem, thì lập tức Linh chiếu leo lên chỗ ngồi của cha và chắp tay ngồi mà mất. Bàng uẩn cười, nói: Con gái ta nhanh thế!. Rồi kéo dài thêm bảy ngày nữa mới nhập tịch. Truyện này được chép trong các sách Thiền tổ đường tập quyển 15, Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8. Những Thiền cảnh độc đáo của Bàng uẩn trên đây và các truyện tương tự khác như vừa cười vừa nói mà tịch, ngồi mà hóa, đứng mà mất v.v... được ghi chép trong các Thiền lâm, đã trở thành những giai thoại truyền tụng nghìn đời. [X. Phật tổ cương mục Q.32; Cư sĩ truyện Q.17; Bích nham lục Tắc 42, Chiêm bát phương châu ngọc tập Q.thượng].
Bàng Uẩn Cư Sĩ
(龐蘊居士, Hōun Koji, ?-808): vị cư sĩ môn hạ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), tự Đạo Huyền (道玄), thông xưng là Bàng Cư Sĩ (龐居士), xuất thân Hành Dương (衡陽, Tỉnh Hồ Nam). Gia đình ông đời đời sùng tín Nho Giáo, nhưng ông lại lánh xa trần tục, chuyển đến Tương Dương (襄陽, Tỉnh Hồ Bắc), chuyên đan rỗ tre cho con gái đem ra chợ bán kiếm sống qua ngày. Khoảng đầu niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785), ông đến tham yết Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), lãnh ngộ được Thiền chỉ của vị này, rồi sau đó theo tham học với Mã Tổ trong vòng 2 năm. Bên cạnh đó, ông còn trao đổi vấn đáp qua lại với các Thiền tăng đương thời như Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), Tề Phong (齊峰), Bách Linh (百靈), Tùng Sơn (松山), Đại Đồng Phổ Tế (大同普濟), Trường Tì Khoáng (長髭曠), Bổn Hoát (本豁), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Phù Dung Thái Dục (芙蓉太毓), Tắc Xuyên (則川), Lạc Phố (洛浦), Thạch Lâm (石林), Ngưỡng Sơn (仰山), Cốc Ẩn Tư (谷隱孜), v.v. Suốt cả đời ông không mang hình thức tăng sĩ mà chỉ cư sĩ mà thôi, nhưng vẫn đạt được cảnh giới giác ngộ riêng biệt của mình, được gọi là Duy Ma Cư Sĩ của Trung Hoa. Hơn nữa, tương truyền ông còn có việc làm quái dị như đem tài sản chất lên thuyền rồi nhận chìm xuống đáy biển. Ngoài ra, ông còn được dịp tri ngộ vị Sắc Sứ Tương Châu Vu Do (于頔), và ngay khi lâm chung ông nằm kê đầu trên bắp đùi Vu Do mà thác hóa. Sau này chính Vu Do biên bộ Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục (龐居士語錄) 2 quyển để truyền bá Thiền phong độc đáo của Bàng Uẩn. Về năm tháng thị tịch của ông, bộ Tổ Đường Tập (祖堂集) cho rằng ông thị tịch vào ngày nhật thực, và căn cứ vào thời gian nhiệm kỳ Sắc Sứ của Vu Do tại Tương Châu, người ta cho rằng ông thị tịch vào ngày mồng 1 tháng 7 năm thứ 3 (808) niên hiệu Nguyên Hòa (元和). Ngoài ra, con gái ông là Linh Chiếu (靈照) cũng đã từng triệt ngộ Thiền chỉ.
bàng uẩn cư sĩ ngữ lục
P'ang-chu-chih yu-lu (C)Tên một bộ ngữ lục.
bàng vị
(傍位) Ý chỉ những sự tượng hiện thực sai biệt. Đứng về mặt triết học Phật giáo mà nói, thì vạn pháp có thể chia làm bản thể của các pháp và hiện tượng thiên sai vạn biệt, bản thể là lí (ở bên trong), hiện tượng là biểu (bày ra bên ngoài); bản thể là thể, hiện tượng là dụng; bản thể là chính vị, hiện tượng là bàng vị. Tuy nhiên, bản thể và hiện tượng nguyên cũng là nhất thể, hỗ tương dung nhiếp, cho nên, nếu đứng trên lập trường của các sự tượng sai biệt mà nắm bắt các sự tượng, thì các pháp rốt cùng là cái tính tướng giải thoát chân thực. Nếu đứng trên quan điểm đó mà quan sát hiện thực, thì trong hiện thực đều là chân thực. Vì thế nói chúng sinh và Phật, mê vọng và giác ngộ, trên bình diện bản thể, chẳng phải là hai, chẳng phải là khác. [X. Bất năng ngữ ngũ vị thuyết].
bàng y
(傍依) Đối lại với Chính y, . Những kinh luận chủ yếu mà một tông y cứ vào để lập nghĩa của tông, gọi là Chính y; ngoài ra, các kinh khác thì gọi là Bàng y. Nói đủ là Bàng sở y. Chẳng hạn, tông Tịnh độ lấy các kinh luận chính thức nói rõ việc vãng sinh Tịnh độ, như kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ, kinh Di đà, luận Vãng sinh v.v... làm chính y; và lấy các kinh luận chỉ nói phụ qua về việc vãng sinh Tịnh độ, như kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa, luận Đại thừa khởi tín, luận Bảo tính, luận Thập trụ tì bà sa, luận Nhiếp đại thừa v.v... làm bàng y. Nhưng tông Thiên thai và Hoa nghiêm thì lấy các kinh Pháp hoa và Hoa nghiêm làm chỗ sở y, chứ không phân biệt la bàng hay chính. [X. Bát tông cương yếu; Thập tông lược kí]. (xt. Chính Y).
bành thiệu thăng
(彭紹升) (1740-1796) Nhà học giả, cư sĩ đời Thanh. Người Trường châu (Ngô huyện) tỉnh Giang tô. Tự là Doãn sơ, hiệu Xích mộc, hiệu nữa là Nhị lâm cư sĩ. Pháp danh Tế thanh. Xuất thân từ gia đình sĩ tộc, đậu Tiến sĩ năm Càn long, nhưng không chịu làm quan. Thường đọc các sách tiên Nho, thông suốt lí học đời Tống, Minh, giỏi văn cổ. Sau tập thuật tu luyện của đạo sĩ, ba năm không thành, năm hai mươi chín tuổi, nhân đọc sách Phật bèn chuyển hướng mà tin Phật và tự đặt hiệu là Tri qui tử........ (kẻ biết quay về). Hàng ngày lấy việc lễ Phật tụng kinh làm chính, đọc Đại tạng kinh, thụ giới Bồ tát, ăn chay, tịnh hạnh. Lại theo học Định công (1712-1788), thụ giáo nghĩa Tịnh độ, đóng cửa gác Văn tinh tại Tô châu, chuyên tu Nhất hạnh tam muội. Ông rất ham làm việc bố thí, bình sinh dốc toàn lực vào công cuộc truyền bá Tịnh độ, soạn thuật rất nhiều. Luận Nhất thừa quyết nghi của ông chủ trương Phật Nho nhất trí; luận Hoa nghiêm niệm Phật tam muội, chủ trương Thiền, Tịnh dung hợp; Tịnh độ tam kinh tân luận phát huy giáo nghĩa Tịnh độ. Ngoài ra, còn có Cư sĩ truyện, Thiện nữ nhân truyện, Tịnh độ thánh hiền lục v.v... Gần đây, Tịnh độ tông hưng thịnh hơn các tông khác, thực ông đã đóng góp rất nhiều công lao. Ông mất vào tháng giêng niên hiệu Gia khánh năm đầu, thọ năm mươi bảy tuổi. [X. Cư sĩ truyện Q.56; Tịnh độ thánh hiền lục tục biên Q.2].
Bành Thành
彭城|Một trong hai trung tâm Phật giáo quan trọng phía Bắc Trung Quốc ở thế kỉ thứ 2. Trung tâm kia là Lạc Dương. Lạc Dương và Bành Thành phát triển song song với Luy Lâu, thuộc Giao Chỉ (Việt Nam).
Bành Tế Tĩnh
(膨際靖, Hō Saisei, 1740-1796): họ Bành (膨), húy là Tế Tĩnh (際靖), hiệu Tri Quy Tử (知歸子). Ban đầu, ông học sách Nho, luận bác bài xích Phật Giáo; nhưng về sau ông được tiếp xúc với các luận sư như Minh Đạo (明道), Tượng Sơn (象山), Dương Minh (陽明), Lương Khê (梁谿), mới biết rõ sự quy nhất của Tam Giáo. Từ đó, ông bắt đầu đóng cửa cấm túc ở Văn Tinh Các (文星閣), chuyên tu pháp môn Niệm Phật Tam Muội trong vòng hơn 10 năm. Đến năm thứ 40 (1775) niên hiệu Càn Long (乾隆), ông viết xong bộ Cư Sĩ Truyện (居士傳) gồm 56 quyển. Ngoài ra, ông còn trước một số tác phẩm khác liên quan đến Tịnh Độ như Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận (無量壽經起信論) 3 quyển, Vô Lượng Thọ Phật Kinh Ước Luận (無量壽佛經約論) 1 quyển, A Di Đà Kinh Ước Luận (阿彌陀經約論) 1 quyển, Nhất Thừa Quyết Nghi Luận (一乘決疑論) 1 quyển, Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận (華嚴念佛三昧論) 1 quyển, Niệm Phật Cảnh Sách (念佛警策) 2 quyển, Thiện Nữ Nhân Truyện (善女人傳) 2 quyển, v.v. Ngoài ra, ông có hiệu đính Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省菴法師語錄) 2 quyển, và Trùng Đính Tây Phương Công Cứ (重訂西方公據).
bành tổ
Peng-tzu (C), Pengzi C) Theo truyê72n thuyết ông sinh ra vào đời Hạ và mất vào lúc 777 tuổi vào đời Ân.
bào
1) Thai cung hay tử cung—Womb. 2) Y áo: A robe.
bào chữa được
Justifiable.
bào hưu la lan
Bahularatna or Prabhutaratna (skt). 1) Đa bảo: Abundance of precious things. 2) Tên Đức Phật Đa Bảo Như Lai được nói đến trong Kinh Pháp Hoa—Name of the Buddha mentioned in the Lotus Sutra.
; (袍休羅蘭) Phạm: Prabhùta-ratna. Dịch ý là Đại bảo Phật, Bảo thắng Phật, Đa bảo Phật. Là một trong năm đức Như lai, tức chỉ đức Phật ở thế giới Bảo tịnh phương đông. (xt. Đa Bảo Phật).
bào phục
Còn gọi là Báo Thường, quần áo thượng và hạ của chư Tăng Ni—Upper and lower garments.
bào thai
Fetus—Womb.
bào thai, thai tạng
Garbha (S). Womb; embryo.
bào thường
See Bào Phục.
; (袍裳) Còn gọi là Thường bào phục, Bào phục. Y phục của Phật giáo Nhật bản. Ao dài và quần, thông thường may bằng lụa. Bào, vốn chỉ cho Kì chi (một mảnh vải hình vuông, dài, đắp trên vai trái để che bắp tay trái, còn một đầu thì xủ xuống che nách bên phải) và áo che vai, sau hợp làm một và có thêm tay mà thành áo dài. Thường, tiếng Phạm lànivàsana, dịch âm là Niết bàn tăng, tức là quần. [X. Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng].
bào ảnh
Illusion.
; Bong bóng—Bubble and shadow.
; (泡影) Bọt nước và bóng. Thí dụ các pháp thế gian hư giả không thực, cũng như bọt nước và bóng dáng. Bởi vì bọt nước hư ảo vô thường, gió thổi liền tan; bóng dáng gá mượn mà thành không có thực thể. Cho nên kinh điển Phật hay dùng làm thí dụ, để hiển bày các sự vật trong thế gian là giả dối không thật. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung) nói: Hết thảy pháp hữu vi, như chiêm bao, như trò dối, như bọt nước, như bóng dáng, như sương móc và như chớp nháy, nên quán xét như thế.
bá
1) Một trăm: One hundred. 2) Bác: Uncle. 3) Cái rê (để quạt lúa): A winnowing fan. 4) Gieo giống (truyền bá): To sow—To publish. 5) Quạt lúa: To winnow.
bá chúng học pháp
Śikṣākaraniya (S)Đột cát la giớiLà 100 giới nhỏ trong giới Tỳ kheo cần học cho biết.
bá cáo
To publish.
bá du bát đa
Pasupata (skt)—Ba Thâu Bát Đa—Ngoại đạo thờ Ma Hê Thủ La, mình trát đầy tro (tóc có thể cắt hay không cắt, quần áo rách tả tơi)—Followers of the lord of cattle, Siva, who smeared themselves with ashes.
; (播輸鉢多) Phạm:Pàzupata. Còn gọi là Ba Du Bát Đa. Dịch ý là Thú chủ ngoại đạo. Hoặc gọi là Đồ khôi ngoại đạo, Ngưu chủ ngoại đạo. Là một trong các ngoại đạo ở Ấn Độ xưa. Ngoại đạo này thờ trời Đại Tư Tại (còn gọi là Ma hê thủ la thiên, trời này cưỡi bò mà đi), coi là thần sáng tạo muôn vật, học pháp của trời này và lấy đó làm chủ. Vì trời Đại Tự Tại còn được gọi là Thú Chủ (chủ các thú vật,Pazupati), cho nên ngoại đạo này còn có tên là Ngưu Chủ ngoại đạo, Thú Chủ ngoại đạo. Vì mong cầu được sinh lên cõi trời Đại Tự Tại mà Bá Du Bát Đa tu khổ hạnh, lấy tro trát lên người, dùng trấu (vỏ hạt thóc) nấu nước uống, giết dê tế trời, giữ các giới bò, chó, gà, chim trĩ, cho đó là cái nhân của sự giải thoát. Kinh Đại bát Niết bàn (bản Bắc) quyển 16 (Đại 12, 462 thượng), nói: Không ăn muối, không ăn thịt bò (...) trước khi giết dê để tế, đọc chú rồi mới giết, bốn tháng thờ lửa, bảy ngày cúng gió, trăm nghìn ức hoa cúng dường các trời, nhờ thế những điều mong cầu đều được thành tựu. [X. Câu xá luận quang kí Q.9; Huyền ứng âm nghĩa Q.23, Q.24, Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.8].
bá hi hoà
(伯希和) PELLIOT, PAUL (1878 - 1945) Là nhà khảo cổ học và Đông phương học người Pháp. Năm 1900 là nhân viên nghiên cứu trong viện Viễn Đông Học của nước Pháp (École Francaise d’Extrême - Orient), cùng năm, ông đến Bắc Kinh, đúng vào lúc xẩy ra sự kiện Nghĩa Hòa Đoàn, nên phải hết sức phòng ngự Đại sứ quán. Năm 1906 đến 1909, ông tham gia đoàn thám hiểm của nước Pháp đến miền Trung Á Tế Á, năm 1907, vào điều tra trong động Nghìn Phật ở Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc của Trung Quốc, ông đã phát hiện được mấy nghìn quyển kinh sách cổ viết tay, do đó, lừng danh một thời. Tất cả tư liệu được sưu tập lúc ấy đều tàng trữ tại Quốc Dân Đồ thư quán ở Ba Lê và Cát Mĩ (Gime) Bác Vật quán. Năm 1911, Bá Hi Hòa bắt đầu giảng dạy khoa ngôn ngữ, lịch sử và khảo cổ học của miền Trung á tế á tại học viện nước Pháp (Collège de France) và trở thành vị giáo sư đầu tiên về khoa này. Trong thời kì thế giới đại chiến lần thứ nhất, ông giữ chức Tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Pháp ở Bắc Kinh, ngoài công việc chính ra, còn thì giờ ông lại nghiên cứu về Trung Quốc và Mông Cổ. Năm 1920, ông là hội viên viện Học sĩ, năm 1935, giữ chức Hội trưởng Á Châu Học Hội (Société asiatique). Ngoài ra, ông còn được bầu làm Phó hội trưởng hội Địa lí học, đồng thời, là một trong các biên tập viên Đông phương học tạp chí, Thông báo (T’ung Pao). Năm 1945, ông giảng tại Đại học Cáp-phật (Harvard) ở nước Mĩ, sau về Pháp lâm bệnh và mất, thọ sáu mươi tám tuổi. Bá Hi Hòa thông thạo mấy thứ tiếng Đông, Tây, học thức rất rộng, đặc biệt tâm đắc các môn lịch sử miền Trung Á Tế Á, Trung Quốc mục lục học, lịch sử mĩ thuật, lịch sử Mông Cổ và lịch sử bang giao Đông, Tây v.v... Về trứ tác thì Bá Hi Hòa có viết chung với Sa uyển (Emanuel Edouard Chavannes) người Pháp, các sách: Trung Quốc phát hiện Ma Ni giáo di văn khảo thích (Un traité Manichéen retrouvé en Chine, 1913, khảo cứu và giải thích những bản văn còn lại của Ma Ni giáo được tìm thấy tại Trung Quốc), Đôn Hoàng Đồ Lục (Les Grottes de Touen-houang, 1920 - 1926, 6 vols., Những hang động Đôn Hoàng), và viết chung với Vũ Điền Hanh, người Nhật Bản, sách: Đôn Hoàng Di Thư Đệ Nhất tập, 1926 (Những sách còn lại ở Đôn Hoàng tập I, 1926), và các sách báo cáo của đội thám hiểm Bá Hi Hòa nhan đề: La Mission Pelliot en Asie Centrale (Đoàn điều tra Bá Hi Hòa tại Trung Á) được tiếp tục ấn hành từ sau năm 1923. Sự phát hiện các cổ vật tại Đôn Hoàng của ông là một cống hiến cực lớn đối với toàn thể học thuật giới. [X. Vũ điền bác sĩ sử học luận văn học tập hạ, J. J. L. Duyvendak: Paul Pelliot, TP. XXXVIII, 1948).
bá luận
Śata-śāstra (S)Bách luậnMột trong ba bộ kinh luận căn bản của phái Tam luận tông: Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận. Một trong ba bộ kinh chánh (Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận) của phái Tam luận tông.
bá lợi bà la xa ca
Parivrajaka (skt)—Phái tu theo cách quán xác chết trong nghĩa trang—A Sivaitic sect.
bá ma
Upama (skt)—Tượng tự—A resemblance—Simile.
bá mẫu
Aunt (wife of father's elder brother).
bá ni
Pani (skt)—Lòng bàn tay—The palm of the hand.
; (播尼) Phạm: Pàni. Dịch ý là Thủ chưởng (bàn tay) Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 582 thượng), nói: Mười chín Kim cương thủ bí mật chủ, tiếng Phạm gọi là Bá ni, tức là bàn tay cầm kim cương, đồng nghĩa với thủ chấp (tay cầm).
bá nạp y
Y làm bằng những miếng vải cũ víu nạp lại với nhau—A robe of rags—Broken patched robe.
bá phụ
Uncle (brother of one's father).
bá sá
Dây thòng lọng—A snooze.
bá thiên bà la môn
Half-Brahmans (hungry ghost).
bá tánh
The people.
bá tử khắc lí khắc thạch quật
(伯子克裏克石窟) Là chùa Hang Đá nằm ở mỏm núi thè ra sông Mộc nhĩ thác khắc, cách Thổ lỗ phiên bốn mươi lăm cây số về phía đông bắc. Bá Tử Khắc Lí khắc (Bezeklik), nguyên ý là Nhà trang sức. Chùa hang này được xây đắp vào khoảng Nam bắc triều đến đời Nguyên. Hang đá phần nhiều được trang sức bằng các bức vẽ trên vách, các tượng chạm trổ, nhưng đến đời Minh trở đi, tín đồ Hồi giáo xâm nhập, phá hoại hết các bức vẽ trên vách. Đến đầu thế kỉ này, lại bị những người thám hiểm, như Lư Khảo khắc (Albert von Le Coq), Sử thản nhân (Aurel Stein) phá hủy cướp bóc, thành ra chỉ còn lại những cái khám trống không, không có tượng Phật, những tòa ngồi không, và cả những di tích các bức vẽ cũng bị khoét mất.
bá vạn niên
Xem đại kỳ kiếp.
bá xàm bá láp
To speak at random, without rhyme or reason.
bá âm
To broadcast.
bác
Vast; universal; learned, erudite.
; 1) Lột vỏ: To peel—To flay. 2) Sát hại: To kill.
bác bì
1) Theo Đại Trí Độ Luận, người ta nói Đức Thích Ca Mâu Ni Phật trong đời quá khứ, khi còn là vị Phạm Chí tên Lạc Pháp, đã lột da và dùng máu của chính mình mà viết lại một bài kệ Luật Phật (theo Luận Trí Độ: “Như Đức Thích Ca Văn Phật khi xưa còn là một vị Bồ Tát hiệu là Lạc Pháp. Thời ấy không có Phật, chẳng ai nghe được lời lành, cầu pháp khắp nơi, siêng năng chẳng hề biếng nhác mà cũng không gặp. Lúc đó ma quân hiện thành một vị Bà La Môn mà bảo rằng: 'Ta có một bài kệ Phật dạy, nếu ngươi chịu lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, lấy máu làm mực để chép thì ta sẽ đọc lại cho ngươi chép.” Vị Lạc Pháp nghĩ ngay là ta đã mất bao nhiêu đời hết thân mạng nầy đến thân mạng khác mà chẳng hề có cơ hội lợi lạc được nghe một bài kệ của Phật. Nói xong bèn tự lột da, chẻ xương, chích máu để chuẩn bị viết lại bài kệ. Khi ấy Phật dùng thiên nhãn biết được sự thành tâm của Bồ Tát Lạc Pháp nên thị hiện thuyết cho ngài nghe về pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn.”): According to the Commentaries on the Maha-Prajna-Paramita Sutra, in one of the previous incarnations of Sakyamuni, he is said to have written a certain gatha containing the Holy Law on a piece of his own flayed skin with his blood instead of ink. 2) See Bác (1).
; (剝皮) Là một trong những sự tích kiếp trước của đức Phật Thích Ca. Đức Thích Ca Như Lai, trong một kiếp ở quá khứ, khi tu hạnh Bồ tát, tên là Ái pháp Phạm Chí (còn gọi là Nhạo Pháp Phạm Chí). Thời ấy ở thế gian không có Phật, cũng không nghe thấy có thiện pháp. Phạm Chí đi cầu pháp bốn phương, siêng năng chịu khổ, nhưng không tìm đâu được. Lúc ấy, có một con ma biến làm Bà la môn, tự nhận có một bài kệ Thánh pháp, nếu Phạm Chí quả thật có lòng thiết tha cầu pháp, chịu lấy da làm giấy, lấy xương làm bút, lấy máu làm mực để chép bài kệ, thì nó sẽ tặng kệ cho. Ái Pháp Phạm Chí nghe xong, liền tự lột da (bác bì) mình, phơi khô, rồi chích máu viết kệ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16 chép, thì bài kệ ấy là (Đại 25, 178 hạ): Phải tu hành chính pháp, tà pháp không được theo; đời nay và đời sau, người tu pháp an ẩn. Nhờ nhân duyên tinh cần cầu pháp ấy mà Ái Pháp Phạm Chí được Vô sinh pháp nhẫn. [X. luận Đại trí độ Q.49].
bác bẻ
To criticize.
bác bỏ
To reject.
bác học
A learned man.
bác sĩ
Doctorate.
Bác Sơn Cảnh Ngữ
(博山警語, Hakuzankeigo): xem Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ (博山參禪警語, Hakuzansanzenkeigo) bên dưới.
Bác Sơn Hòa Thượng Tham Thiền Cảnh Ngữ
(博山和尚參禪警語, Hakuzanoshōsanzenkeigo): xem Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ (博山參禪警語, Hakuzansanzenkeigo) bên dưới.
Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ
(博山參禪警語, Hakuzansanzenkeigo): 1 quyển, do Vô Dị Nguyên Lai (無異元來) nhà Minh trước tác, Thành Chánh (成正) biên, san hành vào năm thứ 39 (1611) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), nguyên văn là Bác Sơn Hòa Thượng Tham Thiền Cảnh Ngữ (博山和尚參禪警語, Hakuzanoshōsanzenkeigo), gọi tắt là Bác Sơn Cảnh Ngữ (博山警語, Hakuzankeigo). Đây là tác phẩm thâu lục 5 chương văn cảnh tỉnh những Thiền bệnh trong khi công phu tham Thiền và 10 bài kệ tham Thiền. Năm chương gồm 131 hạng mục như lời cảnh ngữ dạy người mới sơ tâm tu tập công phu, lời cảnh ngữ bình xướng những lời thùy thị của chư vị cổ đức, lời cảnh ngữ để làm phát khởi nghi tình, lời cảnh ngữ dạy người hành Thiền tham cứu công án, v.v.
bác sự
See Bác Tướng.
bác túc vương
Xem Ban túc vương.
bác tướng
To reject of form characteristics (deny the existence of appearance)—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ thì Lý chính thật là Chân Không, Sự là phần diệu hữu. Diệu hữu tức chân không. Nếu chưa đạt được lẽ nầy thì thà rằng tu hành theo kiểu “Chấp Có,” chứ đừng cầu “Bác Tướng” hay “Chấp Không” trong khi vẫn còn có gia đình, vợ con, nhà cửa, và mong cầu khỏe mạnh. Vì làm như thế sẽ dễ bị lạc vào ngoan không hay cái “Không” sai lầm. Đây chính là hầm khổ đọa của tất cả những kẻ ỷ mình thông minh hôm nay. Bác Tướng tức là bài bác phần “Sự Tướng Hành Trì.” Kỳ thật, tất cả đều là giả tưởng. Bác tướng là chối bỏ sự tu hành theo hình tướng, thí dụ như những kẻ tu Thiền đời nay, luôn miệng nói “Nhất thiết duy tâm tạo” nên ta không “Chấp Tướng,” và do đó chê người tu theo Tịnh Độ chỉ là sự chấp trước ảo tưởng trong tâm. Tuy nhiên, điều mỉa mai là những kẻ nầy tự họ vẫn còn u mê chấp trước vào vợ, chồng, con cái, cửa nhà. Phật tử thuần thành nên luôn cẩn trọng!—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Theory is truly emptiness, Practice belongs to existence. Existence is Emptiness. If this is not yet attained, it's better to cultivate by being attached to “existence,” or “form,” or “appearance;” but do not claim “nothing exists” or “everything is within the mind” or any such deep theoretical teachings when one is still attached to existence, i.e., family, wife, children, house, or fond of health, etc., for doing these cultivators are easily trapped in the wrong road. Thus, do not say the Pureland is only an illusion manifested within the mind. In reality, in theory, everything is an illusion. To reject of form characteristics is to reject and disregard the “Conducts of form practices.” This practice is often observable with those who cultivate Zen Buddhism in present day. They claim themselves as people who are “unattached to form characteristics” and look down on those who cultivate Pureland as being attached to form characteristics. However, most ironically, they are still ignorantly attached with every part of existence, i.e., having wife, husband, children, house, jobs, etc. Sincere Buddhists should always be careful!
bác ái
Charity (P).
; Philantropical. Lòng bác ái, philantropy.
; Charitable--Philantropy.
; (博愛) Tiếng tương đương với chữ Từ (Phạm: Maitrì, yêu thương), diễn sinh từ chữ Hữu (Phạm:mitra, bạn) trong giáo nghĩa Phật giáo. Từ là tình thương, tức là người bạn yêu thương chân thật của các chúng sinh, nhất luật bình đẳng đối với tất cả mọi người, chứ không phải chỉ thương yêu đặc biệt một người nào. Nếu không có Bi (Phạm: Karuịà, xót thương) thì từ không thành lập được. Từ và Bi phải đi song song với nhau mới có khả năng tác dụng. Bi, vốn là ý rên rỉ, chỉ cái ý xót xa đối trước sự thống khổ của người đời, hoặc đối với cảm giác khổ đau của chính mình. Nếu biết được nỗi đau xót của chính mình một cách sâu xa, thấm thía như thế nào thì đối với nỗi đau đớn của người khác mới có thể phát sinh đồng cảm, thương xót, trước hết đối với bạn bè thân thuộc, rồi mở rộng ra mà đồng cảm và thương yêu tất cả chúng sinh, nhân loại. (xt. Từ Bi).
bác đoá ngoã
(博朵瓦) (1031 - 1105) Tên Tây tạng là Po-to-ba. Tên chính là Nhân Khâm Tái, một vị tăng thuộc phái Cam Đan (Tạng: Bka#-gdams-pa) của Lạt-ma giáo Tây Tạng. Sư từng đã sáng lập chi phái Giáo điển thuộc phái Cam Đan, là một trong ba người học trò lớn của Lạc Mẫu Đông (Tạng:Hbrom-ston, còn gọi là Chủng Đôn Ba), người mở đầu phái Cam Đan. Theo ngài Luân Giới Bồ Đề (Tạng:Glaí-st#ul-byan) xuất gia, sư rất coi trọng nhân quả, từng trông nom chùa Trát Giác (Tạng: (Bragrgyab) trong một năm, trí tuệ rộng lớn, thông hiểu các kinh. Vì muốn đến Tây Khang tìm nơi yên tĩnh chuyên tu, nên năm hai mươi tám tuổi sư đến chùa Nặc Trân (Tạng:Rwa-sgren) bái kiến ngài Lạc Mẫu Đông, sinh lòng tin kính sâu xa, bèn xin ở lại học pháp đến ba mươi năm; cùng với Phác Khung Ngõa (Tạng: Phu chun pa), Cẩn Nga Ngõa (Tạng: Spyan sna ba), được gọi là ba đệ tử lớn, và sau giữ chức vụ Tăng viện trưởng của chùa ấy. Từ năm năm mươi bảy tuổi (có thuyết nói năm mươi mốt tuổi) trở về sau, sư mới đi các nơi hoằng pháp, chú trọng kinh điển giới luật, người theo có đến cả nghìn. Lấy luận Bồ đề đạo đăng làm chủ để giảng, rồi kiêm giảng Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Bồ tát địa, Đại thừa tập Bồ tát học luận, Bồ đề hành luận, Bồ tát bản sinh man luận, Pháp tập yếu tụng luận, gọi chung là Cam đan lục luận (sáu bộ luận của phái Cam đan), nhờ đó mà thanh danh phái Cam đan nổi mạnh. Về cuối đời, sư xây dựng chùa Bác đóa (Tạng:Po to), việc giảng kinh truyền trao cho học trò. Sư thị tịch vào năm 1105 Tây lịch, thọ bảy mươi lăm tuổi (có thuyết nói bảy mươi chín tuổi). Đệ tử nổi tiếng nhất thì có: Giả Vũ Ngõa (Tạng:Bya yul ba), Đóa Ba (Tạng:Dol pa), Lãng Nhật Đường Ba (Glan ri thanpa, 1054 - 1123), Bà Nặc Ngõa (Tạng: Sa ra ba, 1070 - 1141). [X. S. Candra Das: Pag sams jon zang; G. N. Roerich: The Blue Annals].
bác đơn
To reject a request.
bách
Sata (S). A hundred, all.
; 1) Cây bách: Cypress, or cedar, arbor-vitae. 2) Một trăm—Sata (skt)—One hundred.
bách bát
108. Bb sổ châu, 108 beads on a rosary. Bb phiền não, 108 passions and delusions. Bb kết nghiệp, 108 karmaic bonds.
; Một trăm lẽ tám.
bách bát chung
Một trăm lẽ tám tiếng chuông chùa được dóng lên vào buổi sáng và buổi tối (để tán dương công đức của 108 tôn vị cũng như cảnh tỉnh 108 mê muội phiền não)—108 tolls or strokes of the monastery bell (temple bell) struck at dawn and dusk.
; (百八鍾) Chỉ cho một trăm linh tám tiếng chuông mà các chùa viện dóng lên vào mỗi buổi sớm, chiều. Đó là tượng trưng cho sự phá trừ một trăm linh tám cái phiền não, nên gọi là trăm linh tám tiếng chuông. Hành pháp này bắt đầu từ Trung Quốc. Cứ theo Sắc tu Bách Trượng thanh qui quyển 8 chương Pháp khí chép, thì buổi sáng sớm lên chuông là để phá trừ đêm dài, cảnh giác sự mê ngủ, buổi tối lên chuông là để gọi tỉnh người đời khỏi cơn mê muội tối tăm. Lại nói, nâng vồ chuông chầm chậm, dóng tiếng chuông êm ái ngân dài, chia làm ba hồi, mỗi hồi ba mươi sáu tiếng, lúc bắt đầu rung chuông và lúc hồi chuông thì hơi nhanh, cộng tất cả là một trăm linh tám tiếng. Lại cứ theo Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn chép, thì trăm linh tám tiếng chuông chia làm ba hồi, mỗi hồi ba mươi sáu tiếng, mười tám tiếng trước nhanh vừa, mười tám tiếng sau nhanh gấp. Lại đánh tất cả một trăm linh tám tiếng là để phối hợp với mười hai tháng, hai mươi bốn khí, bảy mươi hai hậu. Lại trước khi đi ngủ, dóng một trăm linh tám tiếng chuông, còn được gọi là chuông u minh. Tại Nhật Bản, lúc giao thừa, thỉnh một trăm linh tám tiếng chuông, gọi là chuông trừ tịch. [X. Loại tụ danh vật khảo Q.334].
bách bát kết nghiệp
Bách Bát Phiền Não—108 karmaic bonds.
bách bát ma ni
108 beads on a rosary.
bách bát mâu ni
Bách Bát Tôn—Một trăm lẽ tám vị Mâu Ni trong Kim Cang Giới—The one hundred and eight Honourable Ones in the Vajradhatu.
Bách Bát Phiền Não
(百八煩惱): 108 loại phiền não, còn gọi là Bách Bát Kết Nghiệp (百八結業), vì phiền não thường có thể sinh các loại ác nghiệp. Về nội dung của chúng, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 7, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 6, v.v., có liệt kê 108 loại phiền não chỉ cho 10 Triền (十纒, 10 loại phiền não trói buộc chúng sanh) và 98 Kiết (九十八結, 98 loại phiền não trói buộc và sai khiến chúng sanh). 10 Triền là Vô Tàm (無慚, không biết xấu hổ khi không cung kính người có công đức và đức độ), Vô Quý (無愧, không biết xấu hổ khi phạm tội), Tật (嫉, đố kỵ, ghen ghét), Xan (慳, keo kiệt đối với tài sản bố thí của thế gian và pháp tài của xuất thế gian), Hối (悔, tâm bất an khi hối hận những sai lầm đã tạo ra), Miên (眠, tâm hôn trầm nên không có năng lực tỉnh giác), Trạo Cử (掉舉, khiến cho tâm không yên lắng, không thể thành tựu các Thiền quán), Hôn Trầm (惽沉, thần thức hôn mê, thân tâm không có năng lực an trú các thiện pháp), Phẫn (忿, khi bị làm sai ý mình thì sanh phẫn nộ, mất đi chánh niệm) và Phú (覆, che giấu tội lỗi của mình). 98 Kiết gồm 88 Kiến Hoặc (見惑, sai lầm về cái nhìn, quan điểm) và 10 loại Tu Hoặc (修惑, sai lầm về tu tập) của Ba Cõi. Trong các tự viện, thường đánh 108 tiếng chuông vào buổi sáng sớm cũng như chiều, với ý nghĩa là để tiêu trừ 108 loại phiền não này. Bên cạnh đó, cũng căn cứ vào số phiền não này, có hình thức 108 lần niệm tụng, xâu chuỗi 108 hạt, 108 Tam Muội, v.v.
bách bát phiền não
Bách Bát Kết Nghiệp—108 passions and delusions.
; (百八煩惱) Nghĩa là phiền não của chúng sinh có một trăm linh tám thứ. Còn gọi là Bách bát kết nghiệp, vì phiền não hay sinh các nghiệp ác. Về nội dung phiền não, có nhiều thuyết khác nhau. 1. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 7, Đại thừa nghĩa chương quyển 6 chép, thì trăm linhtám phiền não là chỉ mười triền và chín mươi tám kết. Mười triền tức là không hổ, không thẹn, ghen ghét, keo bẩn, hối tiếc, ngủ say, thô động, trầm trệ, tức giận và che đậy; chín mươi tám kết tức là tám mươi tám Kiến hoặc và mười Tư hoặc trong ba cõi. 2. Cứ theo kinh Minh độ ngũ thập hiệu kế (kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 59), Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5 đoạn 5 (hội bản) chép, thì khi sáu căn mắt, tai, mũi v.v... lấy sáu trần cảnh sắc, thanh, hương v.v... làm đối tượng thì đều có ba loại ưa, ghét, trung bình (không ưa không ghét) khác nhau, hợp thành mười tám loại, lại mỗi mỗi đều có nhơ nhuốm, trong sạch sai khác, hợp thành ba mươi sáu loại, lại phối với ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại hợp thành một trăm linh tám loại phiền não. 3. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5 đoạn 5 chép, thì sáu căn đều có ba cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui, hợp thành mười tám loại, sáu căn mỗi mỗi lại có ba thứ ưa, ghét, trung bình, hợp thành mười tám thứ, tổng cộng ba mươi sáu thứ; lại phối với ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại, hợp thành một trăm linh tám thứ phiền não. Ngoài ra, các chùa viện sớm hôm dóng lên một trăm linh tám tiếng chuông, hàm ý là tiêu trừ một trăm linh tám thứ phiền não. Lại cũng tùy theo con số trăm linh tám phiền não mà có trăm linh tám niệm tụng, trăm linh tám hột tràng hạt, trăm linh tám tam muội và trăm linh tám vị tôn v.v... [X. kinh Mộc hoạn tử; luận Đại trí độ Q.36, Q.68; Thích thị yếu lãm Q.trung].
bách bát sổ châu
(百八數珠) Tức do một trăm linh tám hột châu xâu lại thành một chuỗi tràng hạt. Một trăm linh tám hạt là một loại phổ biến nhất trong các loại tràng hạt. Kinh Mộc hoạn tử (Đại 17, 726), nói: Phật bảo nhà vua, nếu muốn diệt trừ phiền não chướng, báo chướng, thì xâu một trăm linh tám hạt mộc hoạn, thường mang theo mình, lúc đi, lúc ngồi, lúc nằm, luôn luôn chú tâm chí thành xưng niệm Phật, Pháp, Tăng cho đến hết một tràng. (...) Nếu niệm được một trăm vạn lần như thế thì sẽ có thể diệt trừ một trăm linh tám kết nghiệp. (xt. Niệm Châu). BÁCH BÁT TAM MUỘI Bách bát, tức một trăm linh tám; Tam muội (Phạm: Samàdhi), tức trạng thái tĩnh lặng chú tâm vào một cảnh. Cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 3 phẩm Tướng hành, quyển 5 phẩm Vấn thừa, kinh Đại Bát nhã quyển 414, luận Đại trí độ quyển 43, quyển 47 chép, thì có một trăm linh tám thứ Tam muội, gọi là Bách bát Tam muội. Đó là: 1. Thủ lăng nghiêm Tam muội (Phạm: Zùraô-gama), còn gọi là Kiện hành tam muội. Thủ lăng nghiêm, hàm ý là nhiếp trì các pháp một cách bền chắc. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì đối với hành tướng nhiều ít sâu cạn của các tam muội, đều có thể phân biệt một cách rõ ràng, hết thảy ma não không phá hoại được. 2. Bảo ấn tam muội (Phạm: Ratnamudra), Bồ tát trú trong tam muội này, có thể ấn chứng tất cả tam muội; trong các thứ báu, Pháp bảo là thù thắng hơn hết, đời nay đời sau cho đến Niết bàn, đều có thể làm ích lợi. 3. Sư tử du hí tam muội (Phạm: Siôha-vikrìđita), Bồ tát trú nơi tam muội này, thì trong tất cả tam muội ra, vào, chậm, mau đều được tự tại, đối với các ngoại đạo, kẻ cứng cỏi có thể phá được, kẻ tin thì độ cho, cũng như lúc sư tử chơi đùa, có thể chế phục các loài thú. 4. Diệu nguyệt tam muội (Phạm:Sucandra), Bồ tát vào tam muội này, có thể trừ được các pháp tà kiến vô minh che lấp, cũng như trăng tròn trong sáng, có thể phá tan bóng tối. 5. Nguyệt chàng tướng tam muội (Phạm:Candra-dhvaja-ketu), Bồ tát vào tam muội này, thì tất cả các pháp đều thông suốt không ngại, thuận theo hết thảy; cũng như đại tướng, dùng cờ báu làm hình tượng mặt trăng, người thấy tướng ấy đều thuận theo. 6. Xuất chư pháp tam muội (Phạm: Sarva-dharmodgata), còn gọi là Xuất chư pháp ấn tam muội, Nhất thiết pháp dũng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể khiến tất cả tam muội phát sinh và thêm lớn; cũng như các trận mưa đúng thời, khiến cho cây cỏ đều nảy sinh. 7. Quán đính tam muội (Phạm: Vilokita-mùrdha). Bồ tát vào tam muội này, có thể thấy khắp hết thảy tam muội; như đứng trên chóp núi, thấy suốt mọi vật. 8. Tất pháp tính tam muội (Phạm: Dharma-dhàtu-niyata), còn gọi là Pháp giới quyết định tam muội. Thể tính các pháp, vô lượng vô nhị, khó nắm giữ được. Bồ tát vào định này, thì có thể quyết định biết các pháp tính, mà được định tướng; cũng như hư không, chẳng ai ở được, nhưng có sức thần thông, có thể cư trú. 9. Tất chàng tướng tam muội (Phạm: Niyata-dhvaja-ketu), cũng gọi là Quyết định chàng tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tammuội này, có thể quyết định cầm cờ pháp của các tam muội, tôn quí hơn hết đối với các tam muội; cũng như đại tướng cầm cờ, biểu trưng tướng tôn quí to lớn của mình. 10. Kim cương tam muội (Phạm: Vajra), còn gọi là Kim cương dụ tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì trí tuệ kiên cố, có thể phá các tam muội khác, cũng như kim cương cứng chắc không nát, nhưng có khả năng phá tan muôn vật. 11. Nhập pháp ấn tam muội (Phạm: Sarva-dharma-praveza-mudra), như người nhập cảnh nội, có dấu ấn mới được vào, không thì không được vào. Bồ tát trú nơi tam muội này, tức có thể vào thực tướng của các pháp. 12. Tam muội vương an lập tam muội (Phạm:Samàdhi-ràjà-supratiwỉhita), còn gọi là Thiện lập định vương tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì trong tất cả tam muội khác đều được an trú; cũng như đại vương ngồi trên chính điện, sai các quần thần đều phải tuân mệnh. 13. Phóng quang tam muội (Phạm: Razmi-pramukta), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể phóng các thứ ánh sáng, soi các tam muội, tất cả đều rõ ràng. 14. Lực tiến tam muội (Phạm:Balavyùha), còn gọi là Tinh tiến lực tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì trong các tam muội, được sức tự tại, thường hay biến hóa thần thông để độ chúng sinh. 15. Cao xuất tam muội (Phạm: Samudgata), còn gọi là Xuất sinh tam muội, Đẳng dũng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì phúc đức trí tuệ đều được tăng trưởng, được từ nơi tâm xuất sinh tính của các tam muội. 16. Tất nhập biện tài tam muội(Phạm: Niru-kti-niyata-praveza), còn gọi là Nhập nhất thiết ngôn từ tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể biện thuyết tất cả tam muội, đối với thứ tự lời nói của chúng sinh và các văn tự trong kinh sách, đều có thể phân biệt rõ ràng, không ngại trở. 17. Thích danh tự tam muội (Phạm: Adhiva cana-praveza), còn gọi là Nhập danh tự tam muội, Đẳng nhập tăng ngữ tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì có thể giải thích danh tự và pháp nghĩa của các tam muội, khiến người khác hiểu. 18. Quán phương tam muội (Phạm:Digvilo-kita), Bồ tát trú nơi tam muội này, thì ra vào các tam muội khác một cách tự tại vô ngại, cho nên có thể đem lòng thương xót quán chiếu chúng sinh trong mười phương để mà độ thoát. 19. Đà la ni ấn tam muội (Phạm: Àdhàraịa-mudra), cũng gọi là Tổng trì ấn tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể nắm dấu ấn của các tam muội, phân biệt các tam muội. 20. Vô cuống tam muội (Phạm: Asaôpramo-wa), còn gọi là Bất vong tam muội, Vô vong thất tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì không sinh các tà kiến vô minh ái, khuể (yêu, giận), ở trong các tam muội đều không có việc mờ ám. 21. Nhiếp chư pháp hải tam muội (Phạm: Sarva-dharma-samavasaraịasàgara-mudra), cũng gọi là Nhiếp chư pháp hải ấn tam muội, Chư pháp đẳng thú hải ấn tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, pháp ba thừa đều thu vào bên trong tam muội này, như tất cả dòng sông, đều chảy ra biển. 22. Biến phú hư không tam muội (Phạm:Àkàza-spharaịa), Bồ tát trú trong tam muội này, dùng sức tam muội, che khắp hư không vô lượng vô biên, hoặc phóng ánh sáng, hoặc dùng âm thanh vang dội trong đó. 23. Kim cương luân tam muội (Phạm: Vajra-maịđala), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể giữ các tam muội, đạt tới hết thẩy các pháp, không trở ngại; cũng như bánh xe kim cương, đi bất cứ đâu đều không bị ngăn trở. 24. Bảo đoạn tam muội (Phạm:Raịaôjaha), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể trừ diệt tất cả phiền não nhơ bẩn trong tam muội; cũng như có vật quí báu thật thì có thể sửa sang mọi thứ báu cho được trong sáng. 25. Năng chiếu tam muội (Phạm: Vairocana), còn gọi là Năng chiếu diệu tam muội, Biến chiếu tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể dùng trí tuệ soi rọi các pháp; cũng như mặt trời mọc, chiếu khắp thế gian, mọi vật đều rõ ràng. 26. Bất cầu tam muội (Phạm:Aniôiwa), còn gọi là Bất tuần tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể soi tỏ các pháp, đều như huyễn hóa, dứt hết ái dục trong ba cõi, không còn cầu mong gì. 27. Vô trụ tam muội (Phạm:Aniketa- sthita), còn gọi là Tam muội vô xứ trú tam muội, Vô tướng trú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể soi tỏ các pháp, niệm niệm vô thường, không có tướng dừng trụ. 28. Vô tâm tam muội (Phạm:Nizcinta), còn gọi là Bất tư duy tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, các pháp tâm, tâm sở không còn sinh khởi tác dụng nữa. 29. Tịnh đăng tam muội (Phạm: Vimala-pradìpa), còn gọi là Vô cấu đăng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, lìa các phiền não cáu bẩn, nhờ thế, đèn trí tuệ phát sáng trong sạch. 30. Vô biên minh tam muội (Phạm: Ananta-prabha), còn gọi là Vô biên quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể đem ánh sáng trí tuệ, soi khắp chúng sinh trong mười phương thế giới vô biên và vô lượng các pháp đều sáng tỏ. 31. Năng tác minh tam muội (Phạm: Prabhà-kara), còn gọi là Phát quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì hay soi sáng các pháp, cũng như ngọn đuốc trong bóng tối, không một vật gì mà không rõ. 32. Phổ chiếu minh tam muội, còn gọi là Phổ biến minh tam muội, Phổ chiếu tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể chiếu khắp các pháp tam muội môn; cũng như viên ngọc báu của Luân vương, chiếu sáng bốn bên. 33. Kiên tịnh chư tam muội (Phạm: Zuddha-sàra), còn gọi là Tịnh kiên định tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay khiến các tam muội trong sạch bền chắc, không bị tất cả các pháp nhơ nhớp làm hại. 34. Vô cấu minh tam muội (Phạm: Vimala-prabha), còn gọi là Vô cấu quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay lìa sự nhơ nhớp của tất cả tam muội, phá trừ hết thảy phiền não ái dục vô minh, cũng hay soi tỏ tất cả tam muội. 35. Hoan hỉ tam muội (Phạm: Ratikara), còn gọi là Phát diệu lạc tam muội, Tác lạc tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay sinh ra vô lượng vô biên niềm vui với chính pháp. 36. Điện quang tam muội (Phạm: Vidyut-pradìpa), còn gọi là Điện đăng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đối với cái đạo đã mất từ vô thủy đến nay, lại có thể được lại, như ánh chớp vụt hiện, soi đường cho người hành giả. 37. Vô tận tam muội (Phạm:Akwaya), Bồ tát trú nơi tam muội này, diệt tướng vô thường của các pháp mà vào lí chân thực không sinh không diệt. 38. Uy đức tam muội (Phạm:Tejovatì), còn gọi là Cụ uy quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay được vô lượng uy đức tự tại trang nghiêm. 39. Li tận tam muội (Phạm: Kwayàpagata), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể thấy các tam muội không cùng tận, đồng thời, thấu suốt cái lí của các thứ quả báo công đức tương ứng trong vô lượng a tăngkì kiếp, mà xa lìa tất cả cái thấy đoạn diệt. 40. Bất động tam muội (Phạm: Aniĩjya), còn gọi là Vô động tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay biết thực tướng các pháp, rốt ráo vắng lặng, trí tuệ và tam muội tương ứng, đối với tất cả tam muội và tất cả các pháp đều không bàn phiếm. 41. Bất thoái tam muội (Phạm: Avivarta), còn gọi là Trang nghiêm tam muội, Vô hà khích tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thường không chuyển lui, tức là A bệ bạt trí. 42. Nhật đăng tam muội (Phạm:Sùryapra-dìpa), còn gọi là Nhật quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay soi tỏ mọi loại pháp môn và các tam muội; cũng như mặt trời chiếu rọi tất cả thế giới, lại như đèn sáng, hay chiếu phá phòng tối. 43. Nguyệt tịnh tam muội (Phạm: Candra-vimala), còn gọi là Tịnh nguyệt tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, trí tuệ trong sáng, lợi ích chúng sinh, lại hay phá màn vô minh của các tam muội; cũng như vừng trăng tròn sáng, phá màn đen tối. 44. Tịnh minh tam muội (Phạm: Zuddha-prabhàsa), cũng gọi là Tịnh quang tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay thấy rõ các pháp, không bị chướng ngại. 45. Năng tác minh tam muội (Phạm: Àloka-kara), còn gọi là Phát minh tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì cùng với trí Bát-nhã tương ứng mà chiếu soi rỗng suốt các môn tam muội. 46. Tác hành tam muội (Phạm: Kàràkàra) còn gọi là Đại bát-nhã quyết tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay phát khởi những tam muội đã được từ trước. 47. Tri tướng tam muội (Phạm:Jĩànaketu), còn gọi làTrí chàng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì thấy trong tất cả tam muội, có cái tướng của trí tuệ chân thực. 48. Như kim cương tam muội (Phạm: Vajro-pama), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể phá hết thảy phiền não kết sử, không sót một chút nào; cũng như kim cương hay phá các vật, diệt hết không sót. 49. Tâm trú tam muội (Phạm: Cittasthiti), còn gọi là Trú tâm tam muội, tướng tâm của chúng sinh vụt hiện vụt biến, thay đổi luôn luôn, khó chế khó giữ, Bồ tát trú nơi tam muội này, thì có thể thu nhiếp sự tán loạn, tâm không lay động. 50. Phổ minh tam muội (Phạm: Samantàlo-ka), còn gọi là Biến chiếu tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, trong tất cả pháp, thấy tướng ánh sáng, không bị tối tăm, dùng sức thần thông chiếu khắp thế gian, thấy suốt không ngại. 51. An lập tam muội (Phạm: Supratiwỉhita), còn gọi là Thiện trú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, ở trong tất cả công đức thiện pháp, an lập vững chắc, như núi Tu di đứng yên không động. 52. Bảo tụ tam muội (Phạm: Ratnakoỉi), còn gọi là Bảo đính tam muội, Bảo tích tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có khả năng chuyển tất cả những cái mà cõi nước có, đều thành bảy thứ báu. 53. Diệu pháp ấn tam muội (Phạm: Vara-dharma-mudra),Bồ tát trú nơi tam muội này, được các tam muội pháp ấn công đức sâu xa mầu nhiệm của chư Phật, Bồ tát. 54. Pháp đẳng tam muội(Phạm:Sarvadhar-ma-samatà), còn gọi là Nhất thiết pháp bình đẳng tính tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay thấy suốt chúng sinh và hết thảy pháp đều bình đẳng. 55. Đoạn hỉ tam muội (Phạm: Ratijaha),còn gọi là Sinh hỉ tam muội, Xả ái lạc tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán xét các tướng khổ, không, vô thường, vô ngã, bất tịnh, đối với tất cả thế gian, sinh tâm chán xa, không khởi ý tưởng ham vui. 56. Đáo pháp đính tam muội (Phạm: Dhar-modgata), còn gọi là Nhập pháp đính tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay dùng sức phương tiện Bát nhã, lên đến đỉnh núi pháp. 57. Năng tán tam muội (Phạm: Vikiraịa), còn gọi là Phiêu tán tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, cùng với không tuệ tương ứng, hay phá tan các pháp. 58. Phân biệt chư pháp cú tam muội (Phạm: Sarva-dharma-pada-prabheda), còn gọi là Hoại chư pháp xứ tam muội, Phân biệt pháp cú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, phân biệt được các lời nói câu văn của tất cả các pháp, vì chúng sinh mà nói pháp, lời lẽ không bị trở ngại. 59. Tự đẳng tướng tam muội (Phạm: Samà-kwaràvakàra), còn gọi là Bình đẳng tự tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, quán các chữ, các lời, tất cả đều bình đẳng, chửi mắng khen ngợi, không có yêu, ghét. 60. Li tự tam muội (Phạm: Akwaràpagata), còn gọi là Li văn tự tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thấu suốt nghĩa chân như của các pháp, không bị văn chữ lời nói làm chướng ngại, bởi thế, trong biển nghĩa, không có cái vọng kiến văn chữ tồn tại. Tức là đối với văn chữ trong quyển kinh, có thể thấy trực tiếp nghĩa chân thực, mà xa lìa sự chấp chặt vào văn chữ danh tướng. 61. Đoạn duyên tam muội (Phạm: Àramba-ịa-cchedana), còn gọi là Đoạn sở duyên tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể ở cảnh hoan lạc mà không sinh tâm vui mừng, ở trong cảnh đau khổ mà không sinh tâm buồn bực, trong cảnh không khổ không vui, cũng không sinh tâm bám níu, đối với ba cảm thụ ấy đều xa lìa không dính, nên tâm đoạn, duyên diệt. 62. Bất hoại tam muội (Phạm:Avikàra), còn gọi là Vô biến dị tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay thấy rõ pháp tính rốt ráo vắng lặng, bàn phiếm không phá được, vô thường cũng không chuyển được. 63. Vô chủng tướng tam muội (Phạm: Aprakàra), còn gọi là Vô phẩm loại tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, biết rõ các pháp không có tướng, vì thế không thấy có tướng các pháp. 64. Vô xứ hành tam muội (Phạm: Aniketa-càrin), còn gọi là Vô tướng hành tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay biết ngọn lửa ba độc tham, sân, si thiêu đốt ba cõi, vì thế tâm không nương tựa; biết Niết bàn cũng rốt ráo là không, nên cũng không nương tựa. 65. Li mông muội tam muội (Phạm: Timirà-pagata), còn gọi là Li ám tam muội, Li ế ám tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, ở trong các tam muội, chỉ còn một mảy may vô minh, cũng có thể trừ diệt hết. 66. Vô khứ tam muội (Phạm: Càritravatì), Bồ tát trú nơi tam muội này, không thấy tướng đi lại của tất cả các pháp. 67. Bất biến dị tam muội (Phạm: Acala), còn gọi là ất động tam muội, Bất biến động tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán tất cả pháp tam muội; đều không thấy tướng đổi khác. 68. Độ duyên tam muội (Phạm: Viwaya-tìrịa), còn gọi là Độ cảnh giới tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đều diệt hết các phiền não duyên theo sáu trần, có khả năng vượt qua biển lớn sáu trần, cũng có thể vượt qua tất cả trí tuệ duyên sinh tam muội. 69. Tập chư công đức tam muội (Phạm: Sar-va-guịa-saôcaya-gata), còn gọi là Tập chư đức tam muội, Tập nhất thiết công đức tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, tu tập hết thảy thiện căn công đức, lúc đầu đêm, lúc cuối đêm, không ngưng nghỉ, cũng như mặt trời mặt trăng vận chuyển không ngừng. 70. Trú vô tâm tam muội (Phạm: Sthita-niscitta), còn gọi là Vô tâm trú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, chỉ theo trí tuệ chứ không theo tâm thức, ở yên trong thực tướng của các pháp. 71. Tịnh diệu hoa tam muội (Phạm: Zubha-puwpita-zuddhi), Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể trong các tam muội, nở những hoa công đức, để tự tại trang nghiêm, cũng như cây nở hoa, cây tự trang sức. 72. Giác ý tam muội (Phạm: Bodhyaígavatì), Bồ tát trú nơi tam muội này, khiến các tam muội biến thành vô lậu, cùng với bảy giác chi tương ứng. 73. Vô lượng biện tam muội (Phạm: Ananta-pratibhàna), còn gọi là Cụ giác chi tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, được vô lượng biện tài, chỉ nói một câu mà trải vô lượng kiếp cũng không cùng tận. 74. Vô đẳng đẳng tam muội (Phạm: Asama-sama). Bồ tát trú nơi tam muội này, quán hết thẩy chúng sinh đều đồng như Phật, quán tất cả pháp đều đồng Phật pháp, cùng với Vô đẳng đẳng Bát nhã ba la mật tương ứng. 75. Độ chư pháp tam muội (Phạm: Sarva-dharmàtikramaịa), còn gọi là Siêu nhất thiết pháp tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể vào cửa ba giải thoát vượt khỏi ba cõi, hóa độ chúng sinh ba thừa. 76. Phân biệt chư pháp tam muội (Phạm:Pari-cchedakara), còn gọi là Quyết phán chư pháp tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay phân biệt tướng của các pháp thiện, bất thiện, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi v.v... 77. Tán nghi tam muội (Phạm:Vimativiki-raịa), còn gọi là Tán nghi võng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thế trong tất cả pháp, cắt hết lưới ngờ, được thực tướng của hết thảy các pháp. 78. Vô trú xứ tam muội (Phạm: Niradhi-wỉhàna), còn gọi là Vô xứ tam muội, Vô sở trú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì thông suốt các pháp mà không chấp chặt ngưng trệ ở một chuẩn tắc nhất định nào của mỗi pháp. 79. Nhất trang nghiêm tam muội (Phạm:Eka-vyùha), còn gọi là Nhất tướng tam muội, Nhất tướng trang nghiêm tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán thấy các pháp đều là một, bất luận là có tướng hay không, hoặc thấy tất cả pháp đều không, biết rõ cái lí hết thảy tức một, và dùng trí tuệ một tướng mà trang nghiêm tam muội này. 80. Sinh hành tam muội (Phạm: Àkàràbhì-nirhàra), còn gọi là Dẫn phát hành tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán các loại tướng đi, tướng vào, tướng đứng, tướng ra và biết các tướng ấy đều là không. 81. Nhất hạnh tam muội (Phạm: Ekàkàra), còn gọi là Nhất hành tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, cùng với tất kính không tương ứng, không còn thứ tự của hành nào khác nữa. 82. Bất nhất hành tam muội (Phạm: Àkàrà-navakàra), còn gọi là Li hành tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, không thấy tướng đơn nhất của các tam muội, là vì trong tam muội này có thể kiêm tu các loại quán hành khác. 83. Diệu hành tam muội (Phạm: Sucàrin), còn gọi là Diệu hành tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, không thấy các tam muội có từ hai hành tướng trở lên, mà chỉ có một tam muội duy nhất tương ứng với tất kính không, bởi thế, tất cả hí luận đều không phá được. 84. Đạt nhất thiết hữu để tán tam muội (Phạm: Nairvedhika-sarva-bhavatalopagata), còn gọi là Đạt chư hữu để tán hoại tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể dùng trí tuệ vô lậu, thông suốt ba cõi, cho đến tận đáy của cõi Phi hữu tưởng phi vô tưởng, hết thảy các cõi đều khiến tan hoại. 85. Nhập danh ngữ tam muội (Phạm: Saô-keta-ruta-praveza), cũng gọi là Nhập ngôn ngữ tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì có thể biết tất cả danh tự lời nói của hết thảy chúng sinh, hết thảy vật và hết thảy pháp, không một cái gì mà không hiểu. 86. Li âm thanh tự ngữ tam muội (Phạm:Nirghowàksara-vimukta), còn gọi là Giải thoát âm thanh văn tự tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, quán hết thảy các pháp đều không có tiếng tăm lời nói, thường là tướng vắng lặng. 87. Nhiên cự tam muội (Phạm: Jvalanolka), cũng gọi là Cự xí nhiên tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay dùng đuốc trí tuệ, soi sáng tất cả pháp, không một mảy may lầm lạc lẫn lộn; như người đi đêm cầm đuốc, không sa vào hang hầm nguy hiểm. 88. Tịnh tướng tam muội (Phạm: Lakwaịa-parizodhana), còn gọi là Nghiêm tịnh tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, được trong sạch đầy đủ mà trang nghiêm ba mươi hai tướng, lại có thể quán xét các tướng tổng, biệt của mọi pháp đúng như pháp, cũng có thể quán các pháp thanh tịnh không có tướng. 89. Phá tướng tam muội (Phạm: Anabhi-lakwita) còn gọi là Vô tiêu xí tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì không thấy tất cả pháp tướng, cũng không thấy tướng của các tam muội. 90. Nhất thiết chủng diệu túc tam muội (Phạm:Sarvàkàra-varopeta),còn gọi là Cụ nhất thiết diệu tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay lấy các công đức để trang nghiêm Thiền định, khiến được thanh tịnh mà đầy đủ hết thảy diệu tướng. 91. Bất hỉ khổ lạc tam-muội (Phạm: Sarva-sukha-du#kha-nirabhinandì), còn gọi là Bất hí khổ lạc tam muội, Bất hí nhất thiết khổ lạc tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán xét cái vui ở đời có nhiều nỗi đắng cay, hoạn nạn, giả dối đảo điên, chẳng đáng ham thích; quán xét cái khổ ở thế gian, như bệnh tật, như mũi tên đâm vào mình, lòng không ưa muốn. Vì tất cả các pháp đều là hư dối, nên khổ cũng như vui, đều không đáng mừng. 92. Vô tận tướng tam-muội (Phạm: Akwaya-karaịđa), còn gọi là Bất tận hành tam muội, Vô tận hành tướng tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay quán hết thảy pháp, không thường không đoạn, chẳng hoại chẳng hết. 93. Đà la ni tam muội (Phạm: Dhàraịìmat), còn gọi là Đa đà la ni tam muội, Cụ đà la ni tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì hay giữ các tam muội, nên các đà la ni cũng đều tự nhiên mà được. 94. Nhiếp chư tà chính tướng tam muội (Phạm: Samyaktva-mithyàtvasarva-saôgra-haịa), còn gọi là Thủ chư tà chính tướng tam muội, Nhiếp phục nhất thiết chính tính tà tính tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đối với tất cả chúng sinh thuộc chính định tụ, tà định tụ, bất định tụ đều không lìa bỏ, một lòng nhiếp thủ mà không thấy các tướng tà, chính. 95. Diệt tắng ái tam muội (Phạm: Anurodhà pratirodha), cũng gọi là Li tắng ái tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, hay diệt mọi tình yêu ghét, trong các pháp đáng ghét, không sinh tâm tức bực. 96. Nghịch thuận tam muội (Phạm: Sarva-rodha-virodha-saôprazamana), còn gọi là Tĩnh tức nhất thiết vi thuận tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đối với các pháp có thể nghịch, thuận tùy ý, có thể phá tất cả chúng sinh tà nghịch, hay thuận với tất cả chúng sinh có thể cảm hóa được, nhưng lại không chấp vào tướng thuận, nghịch. 97. Tịnh quang tam muội (Phạm: Vimala-prabha), còn gọi là Vô cấu minh tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đối với các tam muội đều được sáng sủa trong sạch, không một mảy may phiền não. 98. Kiên cố tam muội (Phạm:Sàravat), còn gọi là Cụ kiên cố tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, đối với thực tướng của các pháp, trí tuệ tương ứng và rất bền chắc; cũng như hư không, không gì phá hoại được. 99. Mãn nguyệt tịnh quang tam muội (Phạm: Paripùrịa-candra-vimalaprabha), Bồ tát trú nơi tam muội này, có đủ trí sáng suốt thanh tịnh, diệt ngọn lửa vô minh yêu, giận, công đức mát rợi, lợi ích chúng sinh; cũng như vừng trăng tròn mùa thu, phá tan các bóng tối, mát mẻ dịu dàng. 100. Đại trang nghiêm tam muội (Phạm:Mahà-vyùha), Bồ tát trú nơi tam muội này, thì thành tựu đại trang nghiêm, thấy thế giới trong mười phương nhiều như cát sông Hằng, đem hương hoa bằng bảy thứ báu để làm đẹp cõi Phật, công đức trang nghiêm như thế mà tâm không đắm trước. 101. Năng chiếu nhất thiết thế tam muội (Phạm:Sarvàkàra-prabhà-kara), còn gọi là Chiếu nhất thiết thế gian tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, có thể soi rọi tất cả pháp trong chúng sinh thế gian, trụ xứ thế gian và ngũ chúng thế gian. 102. Tam muội đẳng tam muội (Phạm: Samàdhi-samatà), còn gọi là Đẳng tam muội, Định bình đẳng tính tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì hay quán các tam muội một cách bình đẳng, không thấy có sâu cạn cao thấp khác nhau, quán tất cả pháp hữu vi đều do nhân duyên sinh, và cùng với tướng tam muội cũng đều bình đẳng. 103. Nhiếp nhất thiết hữu tránh vô tránh tam muội (Phạm: Araịa-saraịasarva-samavasaraịa), còn gọi là Vô tránh hành tam muội, Hữu tránh vô tránh bình đẳng lí thú tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì trong tất cả pháp có thể thông suốt vô ngại, không thấy pháp này tướng như thế này, không thấy pháp này tướng như thế kia, đối với chúng sinh cũng không tranh cãi xấu, tốt, chỉ theo tâm hành của họ mà nhiếp thủ độ thoát. 104. Bất nhạo nhất thiết trụ xứ tam muội (Phạm: Anilambha-niketa-nirata), còn gọi là Vô trụ xứ tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì không ưa ở thế gian, vì thế gian là vô thường; cũng không ưa trú nơi phi thế gian, là vì chẳng chấp trước vào cái không. 105. Như trụ định tam muội (Phạm: Tatha-tà-sthita-nizcita), còn gọi là Quyết định an trụ chân như tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, thì biết tướng như thực của tất cả pháp, không thấy có pháp nào siêu vượt thực tướng đó. 106. Hoại thân suy tam muội (Phạm: Kàya-kali-saôpramathana), còn gọi là Hoại thân tam muội, Li thân uế ác tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, dùng sức trí tuệ phá trừ các loại tướng suy tự nhiên hoại diệt sắc thân. 107. Hoại ngữ như hư không tam muội (Phạm: Vàk-kali-vidhvaôsanagagana-kalpa),còn gọi là Li ngữ uế ác tam muội. Bồ tát trú nơi tam muội này, không thấy ngữ nghiệp của các tam muội nương vào âm thanh mà có, như hư không, như huyễn hóa, không sinh yêu, ghét. 108. Li trước hư không bất nhiễm tam muội (Phạm: Akàsàsaíga-vimuktinirupalepa), còn gọi là Vô nhiễm trước như hư không tam muội. Bồ tát tu hành Bát nhã ba la mật, quán xét các pháp rốt ráo là không, chẳng sinh chẳng diệt, cũng như hư không. Tuy được tam muội ấy, nhưng đối với tướng của hư không tam muội cũng không nhiễm trước. [X. luận Đại trí độ Q.5].
bách bát tôn
See Bách Bát Mâu NI.
; (百八尊) Chỉ một trăm linh tám đấng tôn Phật Bồ tát, được bày trong Kim cương giới mạn đồ la hội Căn bản thành thân thuộc Mật giáo. Tức là năm đức Phật, bốn Ba la mật, mười sáu đại Bồ tát, bốn Nhiếp, tám Cúng, mười sáu vị tôn Hiền kiếp, hai mươi trời Kim cương bộ ngoài, và ba mươi lăm vị tôn từ năm Đính luân vương trở xuống.
bách bát ái hành
(百八愛行) Bách bát, tức là một trăm linh tám; Ái hành, chỉ Tu hoặc. Luận Du già sư địa quyển 95 chép, Tập đế bao hàm một trăm linh tám thứ ái hành, do bốn loại nhân duyên mà thành: 1. Sự sai biệt do trong, ngoài, chỉ sáu chỗ sở y chia làm sáu chỗ trong, sáu chỗ ngoài. 2. Sự sai biệt do sở y, chỉ sự y chỉ ở sáu chỗ.3. Sự sai biệt do tự tính, chỉ ba phẩm nhuyến (mềm yếu), trung, thượng. 4. Sự sai biệt do thời phận, chỉ đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai.Cái gọi là một trăm linh tám ái hành là, tự tính của hữu ái được chia làm ba phẩm nhuyến, trung, thượng, ba phẩm đều y vào sáu chỗ, cho nên thành mười tám ái hành (3 x 6 = 18), sáu chỗ có trong, ngoài khác nhau, cho nên thành ba mươi sáu ái hành (18 x 2), lại phối với ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai khác nhau, thành ra một trăm linh tám (36 x 3) ái hành. Nhưng kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 60, phẩm Thập phương Bồ tát, bảo tâm, ý, thức đều có năm trăm bốn mươi thứ trăm tám ái hành, lại nói các đối cảnh sắc, thanh v.v... mà năm thức trước mắt, tai, mũi, lưỡi, thân duyên theo, đều có ba thứ ưa, vừa, ghét, cũng đều có năm trăm bốn mươi thứ trăm tám ái hành. Lại luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 4 phẩm Vấn phần tứ thánh đế, bảo do mười tám ái hành khơi mở cái được tạo bên trong, cái được tạo bên ngoài mà thành ba mươi sáu ái hành, có khác với thuyết ái hành của luận Du già sư địa. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; luận Câu xá Q.6, Q.26; Câu xá thích luận Q.5; Câu xá luận quang kí Q.6; Câu xá luận bảo sớ Q.6].
Bách bát 百八
[ja] ヒャクハチ hyakuhachi ||| (astattarapada-sata); "one hundred and eight." A common ancient Indian expression used to indicate a large number of something. For example '108 defilements,' '108 dharma-gates,' etc. => (s: astattarapada-sata); cách diễn đạt thông dụng cuả thời cổ Ấn Độ để chỉ cho số lượng nhiều. Như 108 phiền não, 108 pháp môn.
bách bất tri
Không biết gì cả—To know or perceive nothing—Insensible to surroundings.
bách bổn luận sư
See Bách Bổn Sớ Chủ.
bách bổn sớ chủ
Bách Bổn Luận Sư—Đại Khuy Cơ ở chùa Từ Ân viết sớ giải cho hàng trăm bộ kinh—Lord of the hundred commentaries, title of K'uei-Chi of the Tzu-Ên monastery, because of his work as a commentator.
bách chúng học
Siksakaraniya (skt)—Một trăm giới tiêu biểu mà chư Tăng Ni phải tu niệm (vì giới nầy nghiêm ngặt khó giữ, dễ sai phạm)—One hundred typical rules which all monks and nuns learn, the offence against which is dustra.
; (百衆學) Chúng học, Phạm:Zikwà-karaịi, Pàli: Sikkhà-karaịìya. Dịch ý là ưng đương học (phải nên học), ưng đương tác (phải nên làm). Là giới cấm xúc phạm tội Đột cát la (Phạm:duwkfta, dịch ý là ác tác). Loại giới này tuy nhẹ nhưng lại khó giữ, dễ phạm, cần phải chú ý từng tí, luôn luôn nhớ nghĩ tu học, vì thế, đặc biệt dùng chữ học mà đặt tên. Lại con số Chúng học, các bộ luật nói bất nhất, trong đó, luật Tứ phần nêu tổng quát một trăm giới, cho nên thường gọi là Bách chúng học. [X. luật Tứ phần Q.19]. (xt. Đột Cát La, Chúng Học).
bách chúng học pháp
Siksakaraniya (S).
bách dụ kinh
The sùtra of the 100 parables.
; The Sutra of the 100 parables—See Kinh Bách Dụ.
; (百喻經) Gồm bốn quyển. Còn gọi là Bách cú thí dụ kinh, Bách cú thí dụ tập kinh, Bách thí kinh, Bách dụ tập. Do ngài Tăng Già Tư Na (Phạm:Saíghasena), một vị tăng người Ấn Độ, trứ tác vào thế kỉ V Tây lịch, và do học trò là Cầu na tì địa (Phạm:Guịavfdhi) dịch ra chữ Hán vào năm Vĩnh Minh thứ 10 (492) đời Nam Tề. Thu vào Đại chính tạng tập 4. Kinh này do sự gom góp chép nhặt những sự tích thí dụ về quả báo thiện ác tội phúc mà thành, viết theo hình thức ngụ ngôn, dùng một trăm (nay còn chín mươi tám dụ) trường hợp để thuyết minh giáo lí cơ bản của Phật giáo. Phần lớn sự tích lấy dân chúng phổ thông làm đối tượng, cũng có khi đối với tín đồ ngoại đạo, chúng xuất gia và cả nhà vua mà nói. Nội dung bao gồm: dụ người ngu ăn muối, dụ đàn bà muốn cầu con, dụ vào biển lấy trầm thủy, dụ quỉ Tì Xá Xà, dụ viên thuốc hoan hỉ, dụ miệng tụng pháp đi thuyền mà không hiểu cách dùng v.v... tất cả đều dùng thí dụ dạy bảo để tăng thêm sự hiểu biết. Ngoài ra, tác giả kinh này là ngài Tăng Già Tư Na, còn gọi là Tăng Già Tư, Tăng Già Tiên, là một vị luận sư Đại thừa, người Ấn Độ. Lại trong Đại tạng Hán dịch, các kinh điển được biên soạn cùng một mục đích với kinh này, thì có bốn loại kinh Tạp Thí Dụ, và Chúng kinh soạn tạp Thí dụ. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.9, Q.14; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.20].
bách giới
Thuyết của Thiên Thai Tông nói thập giới từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật, mỗi giới nầy đều có đủ thập giới, nên làm thành “bách giới”—The ten realms of each of ten divisions, so called by the T'ien'T'ai school, i.e. hells, hungry ghosts, animals, asuras, men, devas, sravakas, pratyeka-buddha, bodhisattvas and Buddhas. Each of them has ten qualities, making one hundred qualities.
bách giới chúng học ni
See Hundred Rules of Conduct for Nuns.
bách giới chúng học tăng
Sikkka-karaniya (skt)—Sekhiya (p)—Tiếng Phạn gọi là Thức Xoa Ca La Ni—Theo Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang trong Luật Nghi Khất Sĩ, Thức Xoa Ca La Ni là một trăm giới cần học trong sinh hoạt hằng ngày—According to Most Honorable Master Minh Đăng Quang in the Rules for Mendicant Bhiksus, Sikkka-karaniya includes one hundred rules of conduct which are connected with daily activities. 1) Cái chăn phải vận từ nịch lưng tới nửa ống chân, chứ không được xăn, để phủ trùm rún và hai đầu gối. Nếu ai để chăn xăn lên hay lòng thòng ra ngoài, dù phía trước hay phía sau, đều bị phạm tội Thức Xoa Ca La Ni: A monk should wear the inner robe all round for covering the circle of the navel and the circles of the knees. Whoever out of disrespect dresses with an inner robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing. 2) Bộ áo ba cái phải mặc cho có thứ lớp: A monk should wear the upper robe even al round (whoever out of disrespect puts on an upper robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing). 3) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà xăn áo lên: A monk should not go into lay people's houses with robes hitched up. He should go well covered in lay people's houses (inhabited areas with). 4) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà xăn áo lên: A monk should not sit down in lay people's houses with robes hitched up. He should sit well covered in lay people's houses. 5) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A monk should not go among the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both (if out of disrespect having lifted up the robe on one side or on both, there is an offence of wrong-doing). 6) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A monk should not sit down amidst the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both. 7) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà đội khăn, đội mũ: A monk should not go into the houses of lay people with head covered, either with a towel, a hat, or a cap. 8) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà đội khăn, đội mũ: A monk should not sit down amidst the houses of lay people with head covered, either with a towel, a hat, or a cap. 9) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà vừa đi vừa chạy: A monk should not enter into any lay people's houses, going and running at the same time. 10) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ sau khi vừa đi vừa chạy: After going and running at the same time, a monk should not sit down in lay people's houses. 11) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A monk should not enter any lay people's houses with the arms placed on the hips, or with the hands on both sides and the elbows turned outwards (akimbo). 12) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A monk should not sit down in lay people's houses with the arms akimbo (arms place on the hips, or hands on both sides and elbows turned outwards). 13) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A monk should not go amidst the houses swaying the body. He should hold the body straight. 14) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A monk should not sit down amidst the houses sway the body. He should hold the body straight. 15) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà múa tay: A monk should not go fidgeting amidst the houses (making play with hand or foot). 16) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà múa tay: A monk should not sit fidgeting in inhabited areas (making play with hand or foot in the houses). 17) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A monk should not, out of disrespect, having uncovered the body, go among the houses. 18) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A monk should not, out of disrespect, sit down among the house without proper clothes. 19) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà mắt trông bên nầy, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước chỉ khoảng bề ngang một luống cày: A monk should not go among the houses with eyes glanced around. He should go amidst the houses with eyes cast down looking only a plough's distance ahead. 20) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà mắt trông bên này, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước khoảng bề ngang một luống cày: A monk should not sit down in the houses with eyes glanced around. He should sit down amidst the houses with eyes cast down looking only a plough's distance ahead. 21) Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ: A monk should not crouch down on the heels (sit arms akimbo) in the lay people's houses. 22) Hãy điềm tĩnh khi đi vào nhà cư sĩ: A monk should always keep calm when entering the houses of lay people. 23) Hãy điềm tĩnh khi ngồi trong nhà cư sĩ: A monk should sit calmly in the houses of lay people. 24) Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ: A monk should not go into the houses of lay people with loud laughter. 25) Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ: A monk should not sit down in the houses of lay people with loud laughter. 26) Phải để ý khi lãnh cơm: A monk should accept almsfood attentively. 27) Khi lãnh cơm đưa bát ra cho ngay thẳng đừng để đổ: When accepting rice (from almsfood), a monk should accept in proportion not to overflowing from the capacity of the bowl. 28) Khi lãnh canh đưa bát cho ngay thẳng, đừng để đổ: When accepting almsfood with soup, a monk should accept in proportion not to overflowing the capacity of the bowl. 29) Phải trộn cơm với đồ ăn đã lãnh: A monk should mix the rice with soup before eating. 30) Món nào xúc trước thì ăn trước: A monk should the alms-food working down from the top without making exceptions (choosing or selecting foods). 31) Chẳng nên lựa bên này bên kia, hay giữa bát: A monk should not choose alms-food to eat, i.e., choosing the alms-food in this side, that side, or in the middle of the bowl. 32) Chẳng nên hỏi canh ngon, hoặc món lạ, trừ khi đau yếu phải tùy món cần dùng: A monk should not ask for sauce and/or rice for his own appetizing unless he is sick. 33) Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa: A monk should not hide (cover up) sauce and curries with rice out of dsire to get more. 34) Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng thèm muốn: A monk should not look enviously at another's bowl. 35) Lãnh cơm và đồ ăn đủ rồi, phủ cái bát lại, vừa ăn vừa quán tưởng: After accepting enough alms-food, a monk should cover the bowl; then he should sit straight up, eat and contemplate at the same time. 36) Chẳng nên ăn miếng lớn: When eating alms-food, a monk should not make up too large a mouthful. 37) Chẳng nên há miệng lớn, mà đút đồ ăn (chẳng nên há miệng trước khi miếng đồ ăn được đưa đến miệng): A monk should not open the mouth till the mouthful is brought to it. 38) Chẳng nên nói chuyện, khi ngậm một miệng đồ ăn: A monk should not talk with the mouth full (talk with a mouthful in the mouth). 39) Chẳng nên lấy cơm vò viên, mà thảy vào miệng: When eating alms-food, a monk should not make up a round mouthful (eat tossing up balls of food). 40) Chẳng nên ăn trám vàm đến nỗi rớt ra: A monk should not eat scattering rice or lumps of boiled rice about. 41) Chẳng nên đưa đồ ăn má bên này, qua má bên kia như khỉ: A monk should not eat stuffing out the cheeks like a monkey (stuffed the cheek on one side or on both). 42) Chẳng nên nhai lớn tiếng: A monk should not eat making loud sound or noise. 43) Chẳng nên nút mạnh trong khi ăn: A monk should not suck the alms-food loudly. 44) Chẳng nên lấy lưỡi liếm: A monk should not eat licking or wiping, either the hand or the bowl. 45) Chẳng nên quơ tay trong khi ăn: A monk should not eat shaking the hand about. 46) Chẳng nên lấy tay lượm cơm rớt mà bỏ vào miệng: A monk should not pick up dropping rice to put in his mouth. 47) Chẳng nên cầm bình uống nước mà chẳng rữa tay: A monk should not accept a drinking-water pot or cup with the hands soiled with food. 48) Chẳng nên tạt nước rữa bát ra sân của thí chủ: A monk should not throw out amidst the houses, rinsings of the bowl with lumps of boiled rice (bowl washing water which has rice grains in it). 49) Chẳng nên đại, tiểu tiện, hỉ mũi, khạc nhổ trên rau cỏ: A monk should not go to stool, urinate, blow his nose, or spit saliva on vegetables. 50) Chẳng nên đại, tiểu tiện, hỉ mũi, khạc nhổ trên nước: A monk should not go to stool, urinate, blow his nose, or spit saliva in water. 51) Chẳng nên đứng mà đại, tiểu tiện: A monk should not urinate when standing. 52) Chẳng nên ở và ngủ trong chỗ thờ Phật, trừ khi canh giữ: A monk should not reside and sleep at the Buddha altar. 53) Chẳng nên cất đồ vật tại chỗ thờ Phật, trừ khi bị cướp: A monk should not store anything at the Buddha altar, except in case of robbing. 54) Chẳng nên mang dép vào chỗ thờ Phật: A monk should not wear sandals to enter the place of Buddha altar. 55) Chẳng nên xách dép vào chỗ thờ Phật: A monk should not carry his sandals around the Buddha altar. 56) Chẳng nên mang dép đi chung quanh chỗ thờ Phật: A monk should not wear sandals when going around the Buddha altar. 57) Chẳng nên mang giày vào chỗ thờ Phật: A monk should not wear shoes to enter the place of Buddha altar. 58) Chẳng nên xách giày vào chỗ thờ Phật: A monk should not carry his shoes around the Buddha altar. 59) Chẳng nên ngồi ăn và bỏ đồ dơ thúi dưới chỗ thờ Phật: A monk should not sit eating and leave left-over things at the Buddha altar. 60) Chẳng nên khiêng xác chết, đi dưới chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to carry a corpse around the Buddha altar. 61) Chẳng nên chôn xác chết tại chỗ thờ Phật: A monk should not bury a dead body at the Buddha altar. 62) Chẳng nên thiêu xác chết ngay chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to cremate a corpse at the Buddha altar. 63) Chẳng nên thiêu xác chết gần chỗ thờ Phật để mùi hôi thúi bay tới: A monk should not allow people to cremate a corpse near the Buddha altar because it can emit the burnt smell at the Buddha altar. 64) Chẳng nên thiêu xác chết tại chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to cremate corpses at the Buddha altar. 65) Chẳng nên mang đồ của người chết mà đi dưới chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to carry clothes of the dead around the Buddha altar. 66) Chẳng nên đại, tiểu tiện tại chỗ thờ Phật: A monk should not or should not allow people to go to stool or to urinate at the Buddha altar. 67) Chẳng nên đi vào nhà tiêu mang theo tượng Phật: A monk should not carry the image or statue of the Buddha into the rest room. 68) Chẳng nên đại, tiểu tiện chỗ mà mùi hôi thúi có thể bay tới chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to go to stool or to urinate near the Buddha altar where bad smell can fly over the Buddha altar. 69) Chẳng nên đại, tiểu tiện ngay phía chỗ thờ Phật: A monk should not or should not allow people to go to stool or to urinate at the side of the Buddha altar. 70) Chẳng nên cho phép ai xỉa răng, súc miệng dưới chỗ thờ Phật: A monk should not allow people to pick their teeth or rinse their mouth at the Buddha altar. 71) Chẳng nên tới trước tượng Phật mà xỉa răng hay súc miệng: A monk should not come in front of the Buddha altar to pick his teeth or to rinse his mouth. 72) Chẳng nên đứng bốn phía chỗ thờ Phật mà xỉa răng hay súc miệng: A monk should not or should not allow people to stand around the Buddha altar to pick their teeth or to rinse their mouth. 73) Chẳng nên tại chỗ thờ Phật mà hỉ mũi hay khạc nhổ: A monk should not blow his nose or spit saliva at the Buddha altar. 74) Chẳng nên đứng trước chỗ thờ Phật mà hỉ mũi hay khạc nhổ: A monk should not stand in front of the Buddha altar to blow his nose or to spit saliva. 75) Chẳng nên đứng bốn phía chỗ thờ Phật mà hỉ mũi hay khạc nhổ: A monk should not stand at any sides of the Buddha altar to blow his nose or to spit saliva. 76) Chẳng nên ngồi đưa chân ngay chỗ thờ Phật: A monk should not sit pointing his legs at the Buddha altar. 77) Chẳng nên ở, đứng trên cao hơn chỗ thờ Phật: A monk should not reside or sleep at a place which is higher than the level of the Buddha altar. 78) Chẳng nên nắm tay người khác mà đi dạo: A monk should not promenade or to go for a walk hand in hand with anyone. 79) Chẳng nên leo cây cao khỏi đầu, trừ khi có việc: A monk should not climb high trees (higher than head level), except emergencies. 80) Chẳng nên bỏ bát vào bao mà quảy lên vai, chỗ đầu cây gậy: A monk should not put his bowl in a bag, tie it to one end of his staff and carry along the road. 81) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ; lật áo (phanh cổ): A monk should not teach Dharma to someone with shirt hitched up. 82) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ quấn áo lên cổ: A monk should not teach the law to someone who hangs his shirt around the neck. 83) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ khỏa đầu: A monk should not teach Dharma to someone wearing a head wrapping who is not sick. 84) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ che đầu: A monk should not teach the law to someone with head covered (with a turban on his head) and who is not sick. 85) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A monk should not teach the law to someone with arms akimbo (arms placed on the hips, or hands on both sides and elbows turned outwards). 86) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi guốc: A monk should not teach Dharma to someone mounted on clogs (wooden shoes). 87) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi dép: A monk should not teach Dharma to someone wearing sandals who is not sick. 88) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cỡi ngựa, đi kiệu: A monk should not teach the law to someone in a vehicle who is not sick. 89) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi trong khi mình đứng: A monk should not teach Dharma, standing, to someone who is sitting down, and who is not sick. 90) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, nằm trong khi mình ngồi: A monk should not teach Dharma, sitting, to someone on a bed and who is not ill. 91) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi trên ghế trong khi mình ngồi dưới đất (ngồi chỗ tốt trong khi mình ngồi chỗ xấu): A monk should not sit down on the ground to teach Dharma to someone sitting on a seat and who is not ill. 92) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ cao trong khi mình ngồi chỗ thấp: A monk should not teach Dharma, having sat down on a low seat, to someone sitting on a high seat and who is not ill. 93) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trước mà mình đi sau: A monk should not teach Dharma, going or walking behind, to someone going or walking in front and who is not ill. 94) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trên mà mình đi dưới: A monk should not teach the law, going in a low road, to someone going in a high road. 95) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đứng ở giữa đường mà mình đứng ở bên đường: A monk should not teach Dharma, standing beside (at the side of) a path, to someone standing on a path (in the middle of the path). 96) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, không đau bệnh mà cầm gậy: A monk should not teach Dharma to someone with a stick in his hand and who is not sick. 97) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gươm: A monk should not teach Dharma to someone with a sword (weapon) in his hand. 98) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm giáo: A monk should not teach Dharma to someone with a spear (lance) in his hand. 99) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dao: A monk should not teach Dharma to someone with a knife in his hand. 100) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dù: A monk should not teach Dharma to someone with an umbrella in his hand who is not sick.
bách giới thiên như
One thousand realms—Tính nội tại hay cảnh vực của mỗi trong mười thế giới được nhân lên thành 100 thế giới. Thêm nữa, mỗi cảnh vực có mười sắc thái khác nhau (mười hiện tượng của Như là tướng, tánh, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, và bản mạt cứu cánh). Do khám phá ra mười hiện tượng nầy trong 100 thế giới. Vì thế, tông Thiên Thai đạt đến thuyết về 1000 cõi gọi là Bách Giới Thiên Như—The emmanence of each of the ten worlds in all of them accounts for 100 worlds. Further, each of these realms has ten different features (ten features of Thusness as form, nature, substance, force, action, cause, circumstance, effct, remuneration and the ultimate state). By discovering these ten features in the 100 worlds, the T'ien-T'ai School arrives at the doctrine of 1,000 realms.
; (百界千如) Tông Thiên thai đem phân loại tất cả các pháp trong cảnh mê ngộ sai biệt làm mười cõi (giới) là: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, tu la, nhân gian, Thiên thượng, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Mười cõi này, trong mỗi cõi lại có đủ tự tướng mười cõi, cộng thành một trăm pháp giới. Trăm pháp giới này, trong mỗi pháp giới đều có đủ mười thứ sự lí (thập như thị), là: tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu kính đẳng, cho nên, trăm giới cộng có nghìn như. Nếu đem nhân với ba thế gian thì thành là ba nghìn, đó tức là cái mà tông Thiên Thai gọi là Tam thiên chư pháp(ba nghìn các pháp); quán pháp tam thiên này có đầy đủ trong một niệm, đó tức là phép quán Nhất niệm tam thiên. Vì thế, khi đề cập đến cảnh sở quán, thì gọi là Bách giới thiên như, hoặc gọi là Tam thiên tính tướng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 (Đại 33, 696 thượng), nói: Nếu thuyết minh một cách rộng rãi về Phật pháp, thì Phật đâu có pháp nào khác, chỉ là bách giới thiên như mà thôi: đó là cảnh giới Phật mà chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt cùng tột lí ấy. Lại trong giáo nghĩa của tông Thiên thai, còn thêm tam chuyển độc (đọc theo ba cách) thì có thể hiển bày cái lí ba đế viên dung: không, giả, trung. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên).
Bách hài điều thích 百骸調適
[ja] ヒャクガイチョウテキ hyakugaichōteki ||| Every part of the body in perfect condition. (圓覺經T 842.17.919b.) => Mọi phần của thân thể đều hoàn hảo (theo kinh Viên Giác).
bách hội
1) Phần thượng đỉnh trên đầu nơi mà mọi thứ hội tụ về đây, mọi thứ tinh yếu đều qui vào chỗ nầy—Where all things meet, i.e. the head or the place of centralization. 2) Còn chỉ Đức Phật là trung tâm của trí tuệ—It is applied also to the Buddha as the center of all wisdom.
bách luận
Xem Quảng Bách Luận Bổn. Xem Bá luận.
; Sata-sastra (S). Treatise on the Hundred Verses.
; Sata-Sastra (skt)—Một trong ba bộ luận của trường phái Trung Luận, được gọi là Bách Luận vì gồm một trăm bài kệ, mỗi kệ 32 chữ, được Ngài Đề Bà Bồ Tát soạn (Đề Bà là đệ tử của Ngài Long Thọ). Mục đích của bộ luận nầy là nhằm bác bỏ những tà kiến của Bà La Môn Giáo. Ngài Thiên Thân Bồ Tát giải thích, và được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ, nhưng bản phiên dịch có số câu tăng giảm khác nhau. Cũng có “Quảng Bách Luận Bổn,” là bản triển khai rộng ra của Bách Luận—One of the three sastras of the Madhyamika school, so called because of its 100 verses, each or 32 words; attributed to Deva Bodhisattva (a pupil of Nagarjuna). This treatise is mainly a refutation of the heretical views of Brahmanism. It was written in Sanskrit and explained by Vasubandhu and translated into Chinese by Kumarajiva, but the versions differ. The is also the Catuhsataka-sastrakarita (skt), and expension of the satasastra.
; (百論) Tiếng Phạm: Zatazàstra. Gồm hai quyển. Do ngài Đề Bà (Phạm: Àryadeva, Thánh Thiên), người Ấn Độ, trứ tác vào khoảng thế kỉ III Tây lịch, Bà tẩu khai sĩ chú thích, Cưu Ma La Thập (Phạm: Kumàrajìva) dịch vào năm Hoằng Thủy thứ 6 (404). Thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung luận này thừa kế thuyết trong Trung luận của ngài Long Thụ, dùng nghĩa lí Không, Vô ngã của Phật giáo Đại thừa để luận phá những kiến chấp của các phái ngoại đạo Số luận, Thắng luận, như phái Thắng luận cho các pháp là một mà cũng là khác, phái Số luận thì bảo nhân quả là một và trong nhân có quả. Toàn bộ luận bao gồm:1. Xả tội phúc phẩm. 2. Phá thần phẩm.3. Phá nhất phẩm. 4. Phá dị phẩm. 5. Phá tình phẩm. 6. Phá trần phẩm. 7. Phá nhân trung hữu quả phẩm.8. Phá nhân trung vô quả phẩm. 9. Phá thường phẩm.10. Phá không phẩm. Tất cả có mười phẩm. Ở đầu các phẩm đều có năm bài kệ, sau mỗi bài kệ, có đoạn văn xuôi ngắn của Đề Bà phụ thêm, và tiếp theo đó là văn chú thích của Bà Tẩu Khai Sĩ. Cứ theo Tăng Triệu nói trong bài tựa Bách luận, thì bản Hán dịch chỉ mới dịch được mười phẩm trước của nguyên tác, còn mười phẩm sau thì chưa dịch, nhan đề Bách luận là vì mỗi phẩm có năm bài kệ, hai mươi phẩm thành là trăm kệ. Tuy nhiên, bản Hán dịch chưa nêu rõ cn số bài kệ, và nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây Tạng đều không truyền, vì thế không rõ sự cấu thành của nguyên bản ra sao. Vả lại, Đề Bà còn là tác giả của Tứ bách luận, mà đại cương Tứ bách luận cùng với Bách luận nhất trí, cho nên có người bảo Bách luận là sách cương yếu của Tứ bách luận, hoặc cũng có người bảo Tứ bách luận do phu diễn từ Bách luận mà thành. Lại nữa, trong bản Hán dịch, có một quyển Bách tự luận, được coi là của Đề Bà làm, do Bồ Đề Lưu Chi đời Hậu Ngụy dịch, tức là khái quát từ phẩm Phá thần trở xuống trong Bách luận, tương đương với Bách tự chú (Tạng:Yi-ge brgya-pa shesbya-ba#i #grel-pa) trong bản dịch Tây Tạng, mà Bách tự chú lại được xem là tác phẩm của ngài Long Thụ. Như vậy, Bách tự luận hay Bách tự chú, rốt cùng, là tác phẩm của ngài Đề Bà hay của ngài Long Thụ? Không xác định được. Tuy nhiên, cứ theo quá trình trứ thuật mà suy thì cũng có thể cho là tác phẩm của Đề Bà, là vì, trong khi viết Bách luận, Tứ bách luận, thuận theo thứ tự thêm rộng ra mà hình thành tác phẩm ba bộ Bách luận này. Có nhiều chỗ trong Bách luận cho thấy học thuyết của phái Số luận, phái Thắng luận. Và mối quan hệ mật thiết giữa bản văn kinh Chính lí với học thuyết Thắng luận, bởi thế, đối với tình hình các phái triết học Ấn Độ khoảng thế kỉ III, đặc biệt là sự hình thành của phái Chính Lí, thì Bách luận đã cung cấp một tư liệu trọng yếu. Tại Trung Quốc, Bách luận cùng với Trung luận và Thập nhị môn luận, được gọi song song là Tam luận, là Thánh điển căn bản của tông Tam luận. Các bản chú thích có nhiều thứ, nổi tiếng hơn cả thì có Bách luận sớ ba quyển của ngài Cát Tạng đời Tùy. [X. Đại đường tây vực kí Q.5; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.4]. (xt. Tam Luận).
bách luận bộ
Śata-śāstra (S).
bách luận sớ
(百論疏) Gồm ba quyển. Do ngài Cát Tạng đời Tùy soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 42. Là sách chú thích bản dịch Bách luận của ngài Cưu Ma La Thập. Mở đầu, giải thích bài tựa Bách luận của Tăng Triệu, chia làm mười chương: Thán luận công năng (tán thán công năng của luận), Minh tạo luận thời tiết (nói rõ thời gian làm luận), Thán tạo luận chi nhân (tán thán người làm luận), Trần ngoại đạo hưng thế (tường thuật sự ra đời của ngoại đạo), Thích luận đề mục (giải thích đề mục của luận), Thuật chú luận Bà tẩu (tường thuật về Bà tẩu - người chú thích luận). Tự luận đại tông (trình bày tôn chỉ lớn của luận), Minh phiên luận La Thập (nói rõ về La Thập - người dịch bộ luận), Biện đàn việt Diêu tung (nói về người thí chủ là Diêu tung), Định phẩm kệ đa thiểu (định các phẩm, các bài kệ nhiều hay ít). Chính văn của quyển thượng là phẩm Xả tội phúc, thì trước hết lập sáu khoa: nói rõ phẩm kệ, giải thích nghĩa kệ, xét rõ nhiều ít, giải thích tương sinh, giải thích tên phẩm, chọn Xả, Phá; kế đó, biện minh về số kệ trong nguyên bản và bản dịch, chủng loại của kệ, các phẩm dài ngắn khác nhau, thứ tự tương sinh của các phẩm v.v... Quyển trung có năm phẩm: Phá thần phẩm, Phá nhất phẩm, Phá dị phẩm, Phá tình phẩm, Phá trần phẩm; quyển hạ có bốn phẩm: Phá nhân trung hữu quả phẩm (phá trong nhân có quả), Phá nhân trung vô quả phẩm (phá trong nhân không quả), Phá thường phẩm và Phá không phẩm... Bách luận lấy sự luận phá tà chấp của ngoại đạo làm chủ yếu, vì thế bản sớ này tường thuật rất nhiều về ngoại đạo, lại viện dẫn nhiều thuyết, giá trị nghiên cứu của nó rất cao.
Bách luận 百論
[ja] ヒャクロン Hyakuron ||| Bai lun; the Śata-śāstra. 2 fasc., T 1569.30.168-182a. One of the three main treatises 三論 of the Mādhyamika school. It is attributed to Deva 提婆 , a disciple of Nāgārjuna, as a commentary on Nāgārjuna's Mādhyamika-śāstra 中論 (T 1564). Originally translated by Kumārajīva 鳩摩羅什 in 404, there are various versions of the text, such as the Guangbai lun 廣百論. Its discussion centers on the refutation of the ātman 我 concept and other non-Buddhist ideas from the perspective of emptiness 空. Cf. T 1564, 1570, 1571, 1827. Two non-extant commentaries were written on this text by Wŏnhyo 元曉. => (c: Bai lun; s: Śata-śāstra). 2 quyển. Là một trong 3 bộ luận (Tam luận 三論) chính của Đại thừa, được xem là của Đề-bà (Deva 提婆), đệ tử của Long Thụ. Luận nầy như là một luận giải về Trung luận (s: Mādhyamika-śāstra 中論) của Long Thụ. Ban đầu do Cưu-ma-la-thập dịch năm 404, còn có những bản dịch khác như Quảng bách luận (c: Guangbai lun 廣百論). Nội dung luận nầy tập trung vào sự bác bỏ ý niệm về Ngã và những quan niệm của ngoại đạo về Không. Có 2 luận giải của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉) về luận nầy nhưng nay không còn.
bách lục thập tâm
(百六十心) Là một trăm sáu mươi thứ phiền não vọng tâm mà người tu hành chân ngôn phải vượt qua, được liệt kê trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. Tức chúng sinh do đắm trước năm phiền não căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi, nên các phiền não ấy cứ lần lượt đắp đổi tương sinh cho đến một trăm sáu mươi thứ vọng tâm. Trăm sáu mươi tâm, nói rộng ra, là từ tám vạn trần lao đến vô lượng phiền não; nhưng, nếu nói gọn lại, thì là ba vọng chấp thô, tế, cực tế. Hành giả vượt qua được trăm sáu mươi tâm này mới có thể vào được ngôi vị Sơ địa. Bởi vì, phiền não vọng tâm của chúng sinh luôn luôn chấp chặt lấy hai bên có, không mà mất lí trung đạo, rồi lại sinh thêm ngành lá, cho nên hình thành trăm sáu mươi tâm, cho đến vô lượng phiền não. Ngoài ra, trăm sáu mươi tâm phiền não, thông thường được gọi là trăm sáu mươi vọng chấp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2]. (xt. Tam Vọng Chấp).
bách mục
Một thứ đèn lồng bằng đất với nhiều con mắt hay lỗ trống—An earthernware lantern with many eyes or holes.
bách nghiệp kinh
Karmaśataka (S)Tên một bộ kinh.
Bách Nhan Minh Triết
(百顔明哲, Hakugan Myōtetsu, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, môn hạ dòng Thanh Nguyên, không rõ xuất xứ thế nào. Sau khi xuất gia, ông đến tham vấn Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼) và đắc pháp với vị này. Từ đó ông đến trú tại Bách Nhan (百顔), Ngạc Châu (鄂州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông đã từng vấn pháp với Dược Sơn về việc xem kinh như thế nào và cuộc đối thoại của ông với Động Sơn (洞山) về vị Quan Sát Sứ (觀察使) thì rất nổi tiếng. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) 7 cho rằng có đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) là Bách Nham Bôn (百[栢]巖奔) ở Định Châu (定州, Tỉnh Hà Bắc), tại đó có vị Thiền tăng rất giống Minh Triết. Tuy nhiên, tác phẩm này phủ nhận cuộc vấn đáp giữa Minh Triết và Động Sơn liên quan đến việc xem kinh.
bách nhất
Một phần trăm (mỗi một trên một trăm)—One out of a hundred or every one of a hundred.
bách nhất vật
(百一物) Chỉ những vật cần thiết của chúng tăng. Còn gọi là Bách nhất chúng cụ, Bách nhất cung thân. Tức là ngoài ba tấm áo một chiếc bát ra, các loại đồ dùng cần thiết của tỉ khưu sử dụng hàng ngày, đều chỉ được giữ mỗi thứ một cái mà thôi. Cứ theo Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 5 phần đầu, Thích thị yếu lãm quyển trung chép, thì chữ trăm (bách) ở đây tuyệt chẳng phải là con số một trăm thực sự, mà chỉ là phiếm chỉ con số của các vật dụng thôi. Cứ theo Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 5 chép, thì trăm lẻ một vật là các vật đều được giữ một cái, ngoài trăm lẻ một ra là thuộc về trướng vật . Vì thế, các vật thừa, vượt quá số lượng qui định, gọi là trướng vật. Chẳng hạn như cất giữ nhiều áo ngoài ba tấm áo, hoặc cất giữ nhiều bát ngoài một cái bát, tức là trướng vật. Luật Ngũ phần quyển 20, liệt kê các loại trăm một vật được phép cất giữ, như: ba tấm áo, áo lót mình, áo ngủ, áo mưa, áo che bệnh ngoài da, màn muỗi (để ngồi Thiền), đồ trải chỗ đi kinh hành; vải chắn côn trùng (như con tờ vờ trong tường vách bay ra), vải trải đơn, vải che bụng chân (bọng chân), khăn lau mình, túi đựng kim chỉ, túi lọc nước v.v... Ngoài ra, Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, cũng liệt kê Ni sư đàn (tọa cụ), phu cụ (ca sa), khăn lau tay, áo chu la, áo ba lợi ca la v.v... Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 1 chép, thì thời giáo một đời của đức Phật được phán định làm hai giáo môn là Chế (cấm) và Thính (cho phép), và lấy hai môn này mà phân biệt những vật Tỉ khưu được phép cất giữ là: ba tấm áo và sáu vật khác: đó là những vật do đức Phật chế định, cho nên thuộc về Chế môn; còn trăm một vật và các trướng vật khác là vì phương tiện cho cất giữ, nên thuộc Thính môn. Lại cứ theo Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ quyển 3 phần trên chép, thì đức Phật đã vì căn cơ và quả báo của các tỉ khưu đều bất đồng, nên phương tiện châm chước mà cho phép cất giữ những vật dụng khác nhau. Nếu là Tỉ khưu thượng phẩm, thì chỉ cho phép có một áo hoặc ba áo; nếu là trung phẩm thì cho phép có trăm một vật; nếu là hạ phẩm thì cho phép có trướng vật cho đến các thứ báu, duy người có trướng vật thì trước phải làm phép thuyết tịnh mới được nhận giữ. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4, Q.6; Tứ phần luật khai tông kí Q.3 phần cuối; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. (xt. Chế Thính Nhị Giáo, Trướng Vật).
bách nhất yết ma
(百一羯磨) Gồm mười quyển. Do ngài Nghĩa Tịnh đời Đường dịch. Nói đủ là Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma. Thu vào Đại chính tạng tập 24. Bách nhất, là chỉ nhiều số mục một cách khái quát; yết ma, là chỉ cái tác pháp trong đó khi tăng, ni làm việc phải được sự tán đồng của đại chúng thì công việc mới thành tựu. Nội dung trình bày một trăm linh một thứ pháp yết ma, chia làm ba loại: Đơn bạch, Bạch nhị và Bạch tứ. Đơn bạch yết ma, bao gồm 22 loại từ Đơn bạch sai người đi giáo giới trở xuống; Bạch nhị yết ma, bao gồm 42 loại từ việc bạch kết tiểu giới đàn trở xuống; Bạch tứ yết ma, bao gồm 32 loại từ bạch thụ cận viên trở xuống. Lời Bạt ở cuối quyển cùng trong sách này (Đại 24, 500 trung), nói: Trong yết ma này nói một trăm linh một là chỉ nói về số lớn một cách tổng quát mà thôi, chứ kiểm điểm lại trong luật thì thấy có nhiều ít khác nhau, nhưng về chủng loại thì không sai trái.
bách nhị thập bát phiền não
Một trăm hai mươi tám phiền não của tà kiến và tà tư duy—The one hundred and twenty-eight delusions of views and thoughts.
Bách nhị thập bát phiền não 百二十八煩惱
[ja] ヒャクニジュウハチボンノウ hyakunijūhachi bonnō ||| One hundred and twenty-eight kinds of defilements that arise due to a lack of understanding of the Four Noble Truths within the three realms of desire, form and formlessness. 〔瑜伽論T 1579.30.〕 => 128 phiền não phát sinh do không hiểu được Tứ diệu đế trong dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
bách nhị thập chuyển
(百二十轉) Là tên gọi các con số cực lớn trong phép kế toán ở Ấn Độ cổ đại, tức là con số từ đơn vị ức cứ lần lượt theo thứ lớp tự nhân với nhau mà thành. Có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 29, kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 45. Dịch mới là trăm hai mươi mốt chuyển. Dịch cũ thiếu mất Bát đầu ma chuyển thứ chín mươi chín, vì thế, là trăm hai mươi chuyển. Nay theo tên gọi trong Tân dịch làm lệ, lạc xoa (Phạm:lakwa) gấp bội số lạc xoa là câu chi (Phạm:koỉi), câu chi gấp bội số câu chi là a dữu đa (Phạm: ayuta). Nhưng theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 23, thì lạc xoa tương đương với mười vạn, một trăm lạc-xoa bằng một câu chi. (Tức là: 100.000 x 100 = 10.000.000) Sau đây là những tên gọi của các số: 1. A dữu đa (Phạm: ayuta) 2. Na do đa (Phạm: nayuta), 3. Tần bà la (Phạm:bimbara), 4. Căng yết la (Phạm:kaíkara), 5. A già la (Phạm:agàra), 6. Tối thắng (Phạm:pravara), 7. Ma bà la (Phạm: mavara), 8. A bà la (Phạm:avara), 9. Đa bà la (Phạm:tavara), 10. Giới phần (Phạm:sìmà), 11. Phổ na (Phạm: hùman), 12. Nễ ma (Phạm: neman), 13. A bà hàm (Phạm: avagamam), 14. Di bà già (Phạm:mìvagam), 15. Tì la già (Phạm:vìragam), 16. Tì già bà (Phạm:vigavam), 17. Tăng yết la ma (Phạm: saíkrama), 18. Tì tát la (Phạm:visara), 19. Tì đảm bà (Phạm: vicambha), 20. Tì thịnh già (Phạm:vicaga), 21. Tì tố đà (Phạm:visota), 22. Tì bà sa (Phạm:vivàha), 23. Tì bạc để (Phạm:vibhakti), 24. Tì khư đảm (Phạm: vikhyata), 25. Xứng lượng (Phạm: tulanam), 26. Nhất trì (Phạm: gharanam), 27. Dị lộ (Phạm:vipaza), 28. Điên đảo (Phạm:viparya), 29. Tam mạt da (Phạm: samarya), 30. Tì đô la (Phạm: viturịam), 31. Hề bà la (Phạm:hevara), 32. Tư sát (Phạm:vicàra), 33. Chu quảng (Phạm: vicasta), 34. Cao xuất (Phạm:atyudgata), 35. Tối diệu (Phạm:viziwỉa), 36. Nê bà la (Phạm:nevala), 37. Ha lí bà (Phạm:hariva), 38. Nhất động (Phạm:vikwìbha), 39. Ha lí bồ (Phạm:halibhù), 40. Ha lí tam (Phạm: harìsa), 41. Hề lỗ già (Phạm:heluga), 42. Đạt la bộ đà (Phạm: drabuddha), 43. Ha lỗ na (Phạm: haruịa), 44. Ma lỗ đà (Phạm:maluda), 45. Sám mộ đà (Phạm: kwamuda), 46. Y la đà (Phạm:elada), 47. Ma lỗ ma (Phạm: maluma), 48. Điều phục (Phạm: sadama), 49. Li kiêu mạn (Phạm:vininda), 50. Bất động (Phạm:vaimàtra), 51. Cực lượng (Phạm:pramàtra), 52. A mạ đát la (Phạm:amàtra), 53. Bộ mạ đát la (Phạm:bhramàtra), 54. Già ma đát la (Phạm:gamàtra), 55. Na mạ đát la (Phạm:namàtra), 56. Hề mạ đát la (Phạm:hemàtra), 57. Bề mạ đát la (Phạm:bhemàtra), 58. Bát la mạ đát la (Phạm:paramàtra),59. Thi bà mạ đát la (Phạm:zivamàtra), 60. Ế la (Phạm:ela), 61. Bệ la (Phạm:vela), 62. Đế la (Phạm:tela), 63. Kệ la (Phạm:gela), 64. Tốt bộ la (Phạm:spela), 65. Nê la (Phạm:nela), 66. Kế la (Phạm:kela), 67. Tế la (Phạm:sela), 68. Bề la (Phạm:phela), 69. Mê la (Phạm: mela), 70. Sa la trà (Phạm:sarata), 71. Mê rô đà (Phạm: meruda), 72. Khế lỗ đà (Phạm:kharda), 73. Ma đô la (Phạm: màtula), 74. Sa mẫu la (Phạm: samula), 75. A dã bà (Phạm:ayava), 76. Ca ma la (Phạm: kamara), 77. Ma già bà (Phạm:magava), 78. A đát la (Phạm:atara), 79. Hê lỗ da (Phạm:heluya), 80. Bệ lỗ bà (Phạm:veluva), 81. Yết la bà (Phạm:kalàpa), 82. Ha bà bà (Phạm:havava), 83. Tì bà la (Phạm:vivara), 84. Na bà la (Phạm:navara), 85. Ma la la (Phạm: malara), 86. Sa bà la (Phạm:savara), 87. Mê la phổ (Phạm: meruhu), 88. Giả ma la (Phạm: camara), 89. Đà mạ la (Phạm: dhamara), 90. Bát la ma đà (Phạm: pramada), 91. Tì già mạ (Phạm:vigama), 92. Ô ba bạt đa (Phạm: upavartta), 93. Diễn thuyết (Phạm:nirdeza), 94. Vô tận (Phạm:aksaya), 95. Xuất sinh (Phạm:sambhùta), 96. Vô ngã (Phạm: amama), 97. A bạn đa (Phạm:avànta), 98. Thanh liên hoa (Phạm: utpala), 99. Bát đầu ma (Phạm: padma), 100. Tăng kì (Phạm: saíkhya), 101. Thú (Phạm:gati), 102. Chí (Phạm: upagama), 103. A tăng kì (Phạm: asaíkhya), 104. A tăng kì chuyển (Phạm: asaíkhya-parivartta), 105. Vô lượng (Phạm: aparimàịa), 106. Vô lượng chuyển, 107. Vô biên (Phạm: aparyanta), 108. Vô biên chuyển, 109. Vô đẳng (Phạm: asamanta), 110. Vô đẳng chuyển, 111. Bất khả sổ (Phạm:agaịeya), 112. Bất khả sổ chuyển, 113. Bất khả xưng (Phạm:atulya), 114. Bất khả xưng chuyển, 115. Bất khả tư (Phạm:acintya), 116. Bất khả tư chuyển, 117. Bất khả lượng (Phạm: ameya), 118. Bất khả lượng chuyển, 119. Bất khả thuyết (Phạm: anabhilàpya), 120. Bất khả thuyết chuyển, 121. Bất khả thuyết bất khả thuyết (Phạm:anabhilàpya anablilàpya).
bách niên giai lão
Lời chúc tụng những cặp vợ chồng mới cưới sống bên nhau đến trọn đời---To wish a newly-married couple to live together until both reach one hundred years old.
bách nạp y
A monk's robe made of patches.
; Y bá nạp được làm bằng cách may nối nhiều mảnh lại với nhau—A monk's robe made of patches.
; (百衲衣) Chỉ áo vá, tức áo của nhà tu hành. Do chắp vá những mảnh vải cũ rách khâu lại mà thành. Còn gọi là Tệ nạp y, Đàn nạp y. Vì hay dùng năm mau hoặc nhiều màu sắc lẫn lộn may thành, nên cũng gọi là Ngũ nạp y. Vì tăng lữ mặc áo vá, nên thường tự xưng là Nạp tăng, Lão nạp, Bá tăng, Dã tăng, Chuyết nạp v.v...Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng chép, thì nguồn gốc áo vá có năm thứ: 1. Áo có người cho (thí chủ). 2. Áo không người cho. 3. Áo bọc người chết.4. Áo người chết.5. Áo phẩn tảo (Phạm:Pàôsu-kùla).Áo phẩn tảo, chỉ những mảnh vải rách, vụn người ta đã bỏ đi, có thể chia làm: 1. Áo vứt trên đường đi.2. Áo ở nơi bẩn thỉu.3. Áo bỏ ở bên bờ sông.4. Áo đã bị mối ăn.5. Áo rách nát.Nhưng, sau khi Phật giáo đã thịnh hành thì y phục của tăng, ni không còn như thế nữa.Nguyên ngữ tiếng Phạm về áo vá, thì trong kinh Thập nhị đầu đà, luật Thập tụng quyển 39, Tuệ lâm âm nghĩa quyển 11, đều cho áo vá (nạp y) là tên gọi khác của áo phẩn tảo; kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Khuyến trì thì bảo áo vá, tiếng Phạm là Kanthà, còn luật Tứ phần quyển 43 Ka hi na y kiền độ, luật Ma ha tăng kì quyển 8, luận Giải thoát đạo quyển 2 phần Đầu đà, Đại thừa nghĩa chương quyển 15 Đầu đà nghĩa lưỡng môn phân biệt điều v.v..., đều cho là áo vá và áo phẩn tảo có khác nhau. Vì thế, áo vá và áo phẩn tảo có thể là chỉ cùng một vật, nhưng, đứng về mặt tài liệu mà nói, thì gọi là áo phẩn tảo, còn đứng về mặt cắt may mà nói thì gọi là áo vá. [X. luật Thập tụng Q.4, Q.36, Q.37; luật Tứ phần Q.41 Y kiền độ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 1; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Tổ đình sự uyển Q.3].
bách phi
(百非) Bách (trăm), nói một cách khái quát về số nhiều; phi (chẳng phải), chỉ sự phủ định chẳng có, chẳng không. Còn gọi là Tứ cú bách phi. Có nghĩa là tất cả văn chữ lời nói chẳng phải là thực tại. Ý nhằm quét sạch hết sự mê chấp của chúng sinh, khiến ngộ nhập lí các pháp là vô tướng, bất khả đắc. Kinh Niết bàn (bản Bắc) phẩm Kim cương thân, đã đưa ra thực số bách qui về thân kim cương của đức Như lai. (xt. Tứ Cú Bách Phi).
Bách phi 百非
[ja] ヒャクヒ hyakuhi ||| "one hundred negations." All kinds of doubts; all kinds of arguments. => '100 điều phủ định'. Tất cả các mối nghi, tất cả các lý lẽ.
bách pháp
The hundred divisions of all mental qualities and their agents, of the Duy thức School; also known as ngũ vị bách pháp five groups of the 100 modes, or "things": (1) tâm pháp citta-dharma, mind, the eight consciousnesses; (2) tâm sở hữu pháp caitasika-dharma, fifty one mental functions; sắc pháp rùpa-dharma, eleven form-elements; (4) bất tương ưng hành pháp cittaviprayuktasamskàra-dharma, twenty-four things not associated with Mind; (5) vô vi pháp asamskrta-dharma, six non-created elements.
; Theo Câu Xá Luận, tông Duy Thức dùng bách pháp để thuyết minh về muôn vạn hiện tượng thế gian và xuất thế gian—According to the Kosa Sastra, there are one hundred divisions of all mental qualities and their agents of the Consciousness-Only School, or five groups of ine hundred modes or things: 1) Tâm pháp: Tám Thức—eight perceptions or forms of consciousness. 2) Tâm sở: Hữu pháp—Fifty-one mental ideas—See Năm Mươi Mốt Tâm Sở. 3) Sắc pháp: The five physical organs (eye, ear, nose, tongue, body) and their six modes of sense (matter, sound, smell, taste, touch, things). 4) Bất tương ưng hành (đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng sự, danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính, bất hòa hợp tính): Twenty four indefinites or unconditioned elements. 5) Vô vi: Sáu vô vi (hư không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động, tưởng thọ diệt, chân như)—Six inactive or metaphysical concepts.
; (百法) Chỉ một trăm thứ pháp. Nhà Duy thức đem tất cả pháp hữu vi, vô vi tổng quát lại thành một trăm thứ, tức là: 1. Tám thứ tâm pháp, là tám thức: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại da. 2. Năm mươi mốt thứ Tâm sở hữu pháp, là: tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần (tinh tiến), khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại, tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chính tri, hối, miên (thụy), tầm, tứ. 3. Mười một thứ sắc pháp là: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ sở nhiếp sắc. 4. Hai mươi bốn thứ tâm bất tương ứng hành pháp là: đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng báo (vô tưởng sự), danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính, bất hòa hợp tính. 5. Sáu thứ vô vi pháp là: hư không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động diệt (bất động), tưởng thụ diệt, chân như. Năm loại lớn kể ở trên gọi là năm vị; khi được kể chung với một trăm pháp thì gọi là năm vị trăm pháp. Thuyết trăm pháp có xuất xứ từ luận Đại thừa bách pháp minh môn, luận Thành duy thức, trong đó cũng có điều khác với các nhà khác, chẳng hạn như: 1. Về tâm sở hữu pháp, luận Du già sư địa quyển 1, ngoài năm mươi mốt thứ tâm sở hữu pháp được ghi ở trên ra, còn kể thêm hai thứ nữa là tà dục và tà thắng giải, thành ra năm mươi ba thứ tâm sở hữu pháp; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1, đem ác kiến trong tâm sở hữu pháp tách riêng thành năm là tát ca da kiến, biên chấp kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến, thành ra là năm mươi lăm thứ tâm sở hữu pháp. 2. Về sắc pháp, thì luận Hiển dương Thánh giáo quyển 1, trong sắc pháp còn liệt kê bốn thứ địa, thủy, hỏa, phong, thành ra là mười lăm thứ sắc pháp. 3. Về bất tương ứng hành pháp, thì luận Đại thừa ngũ uẩn, trong bất tương ứng hành pháp duy chỉ kể có mười bốn thứ, tức trong hai mươi bốn thứ pháp ghi ở trên, liệt kê từ đắc đến lưu chuyển là mười bốn hạng mục; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2, thì loại bỏ bất hòa hợp tính, mà thành là hai mươi ba thứ bất tương ứng hành pháp. 4. Về Vô vi pháp, thì luận Du già sư địa quyển 3, lại kể hai thứ nữa là thiện bất thiện pháp vô vi, vô kí pháp vô vi, thành ra là tám thứ vô vi pháp. Lại nữa, Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa, y theo thứ tự sinh khởi của các pháp mà chia chúng thành sắc pháp, tâm pháp, tâm sở hữu pháp, tâm bất tương ứng hành pháp, vô vi pháp v.v..., còn các nhà Duy thức Đại thừa thì lại y theo thứ tự chuyển biến của thức mà phân chia. [X. luận Thành duy thức Q.7; Đại thừa bách pháp minh môn luận giải; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ].
bách pháp giới
Mười Pháp Giới từ địa ngục cho đến Phật, mỗi pháp giới lại có đủ mười như thị nên làm thành “Bách Pháp Giới”—The realm of the hundred qualities (phenomenal realm), the ten stages from Hades to Buddha, each has ten qualities which make up the hundred.
; (百法界) Chỉ mười pháp giới từ địa ngục giới đến Phật giới, trong mỗi pháp giới lại cũng có đủ mười giới, cộng thành một trăm pháp giới. Tông Thiên thai đem chia một cách khái quát tất cả pháp làm mười loại, tức là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, tu la, nhân gian, thiên thượng, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, là mười pháp giới; nhưng mỗi pháp giới không phải tự cô lập, không tương can, mà mỗi mỗi cũng lại đầy đủ mười giới, cho nên cộng là một trăm pháp giới. Lại trong một trăm pháp giới, mỗi một pháp giới đều có đủ mười thứ sự lí (thập như thị), trăm pháp giới tức có một nghìn như thị, gọi là bách giới thiên như (trăm giới nghìn như), đây là dụng ngữ thông thường của tông Thiên thai khi dung nhiếp hết thảy các pháp. (xt. Bách Giới Thiên Như).
bách pháp minh môn
Cửa vào tri thức của thế giới hiện tượng, một trong những giai đoạn đầu tiên của Bồ tát (hay Trí Tuệ Môn mà Bồ Tát tu đắc ở Sơ Địa)—The door to the knowledge of universal phenomena, one of the first stages of bodhisattva.
; (百法明門) Chỉ pháp môn trí tuệ mà Bồ tát đạt được ở ngôi Sơ địa (Hoan hỉ địa). Bách pháp (trăm pháp), là chỉ cho nhiều số mục một cách khái quát; minh, tức là thông suốt; môn, là pháp môn, hàm ý là vào, là sai biệt. Trọn ý tức là cửa trí tuệ tỏ rõ thông suốt trăm pháp. Đối với chữ bách pháp trong Bách pháp minh môn, các nhà cũng có những cách nói khác nhau: 1. Thập địa kinh luận quyển 3 nói, bách pháp, tức chỉ các loại pháp môn.2. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 11 chép, thì bách pháp là chỉ các pháp môn Uẩn, Xứ, Giới, chứ không phải chỉ con số một trăm thực sự. 3. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng phẩm Hiền thánh danh tự chép, thì mười tâm tin là tín tâm, niệm tâm, tinh tiến tâm, tuệ tâm, định tâm, bất thoái tâm, hồi hướng tâm, hộ tâm, giới tâm và nguyện tâm, trong mỗi tâm đều có mười tâm mà thành trăm pháp. Sau khi thành tựu đầy đủ mười tâm mười tín này mới có thể vào địa vị Sơ trụ. 4. Trong Thích quán vô lượng thọ Phật kinh kí của ngài Pháp thông, và trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao quyển 6 của ngài Tri lễ ở núi Tứ minh chép, bách pháp, tức là thuyết Năm vị trăm pháp của tông Pháp tướng. 5. Thích quán vô lượng thọ Phật kinh kí nói, khi một trong mười tâm số pháp là thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, giải thoát, ức, định v.v..., sinh khởi, thì chín tâm kia cũng cùng giúp đỡ mà khởi, nên thành trăm pháp. Còn kinh Nhân vương bát-nhã ba la mật quyển thượng phẩm Bồ tát giáo hóa chép, nếu Bồ tát ở trong một trăm nước Phật, thì làm Tứ thiên vương cõi Diêm Phù, tu trăm pháp môn, tâm nhị đế bình đẳng, giáo hóa hết thảy chúng sinh. Nếu Bồ tát ở trong một nghìn nước Phật, thì làm vua trời Đao Lợi, tu hành nghìn pháp môn. Nếu ở trong mười muôn nước Phật, thì làm Viêm Thiên Vương mà tu hành mười muôn pháp môn, cho đến ở trong bất khả thuyết bất khả thuyết nước Phật, thì làm vua cõi trời Tứ Thiền Đại Tĩnh, là chúa ba cõi, mà tu hành bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn. Lại cứ theo kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ phẩm Phật mẫu chép, thì tâm Thập tín là gốc của các hạnh, từ đó đắp đổi tăng tiến mà thành trăm pháp minh môn, nghìn pháp minh môn. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.23 phẩm Thập địa. kinh Quán vô lượng thọ; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng phẩm Hiền thánh học quán, Q.hạ phẩm Đại chúng thụ học; Nhân vương kinh sớ Q.trung phần đầu; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung đoạn 1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Nguyên chiếu)].
bách pháp minh môn luận
Clear under-standing of the one hundred dharmas.
; Mahàyàna-sata-dharma-vidyàdvara-sastra (S)
; Bộ luận về Bách Pháp Minh Môn, được Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ (1 quyển)—The sastra on the Hundred Divisions of all Mental Qualities, or the door to the knowledge of universal phenomena, translated into Chinese by Hsuan-Tsang (1 book).
Bách pháp minh môn luận 百法明門論
[ja] ヒャクホウミョウモンロン Hyakuhō myōmon ron ||| The Baifa mingmen lun. Abbreviated title of the 大乘百法明門論. => (c: Baifa mingmen lun). Viết tắt của Đại thừa bách pháp minh môn luận (c: Dasheng baifa mingmen lun 大乘百法明門論).
bách pháp pháp tướng tông
Theo tông Pháp Tướng, có một trăm pháp Đại Thừa—According to the Dharmalaksana School, there are one hundred Mahayana Dharmas. (I) Tâm Pháp: Citta-dharma (skt)—Mind. 1) Nhãn thức: Caksur-vijnana (skt)—Eye-consciousness. 2) Nhĩ thức: Srotra-vijnana (skt)—Ear-consciousness. 3) Tỷ thức: Ghrana-vijnana (skt)—Nose-consciousness. 4) Thiệt thức: Jihva-vijnana (skt)—Tongue-consciousness. 5) Thân thức: Kaya-vijnana (skt)—Body-consciousness. 6) Ý thức: Mono-vijnana (skt)—Conscious mind. 7) Mạt Na thức: Manas (skt)—Subconscious mind. 8) A Lại Da thức: Alaya-vijnana (skt)—Ideation store. (II) Tâm Sở Hữu Pháp: Caitasika-dharma (skt)—Mental Functions. (A) Biến Hành: Sarvatraga (skt)—General. 9) Xúc: Sparsa (skt)—Touch. 10) Thọ: Vedana (skt)—Sensation. 11) Tư: Cetana (skt)—Thought. 12) Tưởng: Samjna (skt)—Idea. 13) Tác ý: Manaskara (skt)—Volition. (B) Biệt Cảnh: Viniyata (skt)—Special. 14) Dục: Chanda (skt)—Desire. 15) Thắng giải: Adhimoksa (skt)—Resolve. 16) Niệm: Smrti (skt)—Remembrance. 17) Định: Samadhi (skt)—Concentration. 18) Tuệ: Prajna (skt)—Wisdom. (C) Thiện: Kusala (skt)—Good. 19) Tín: Sraddha (skt)—Belief. 20) Tàm: Hri (skt)—Shame. 21) Quí: Apatrapya (skt)—Bashfulness. 22) Vô tham: Alobha (skt)—Absence of covetousness. 23) Vô sân: Advesa (skt)—Absence of hatred. 24) Vô si: Amoha (skt)—Absence of ignorance. 25) Tinh tấn: Virya (skt)—Energy. 26) Khinh an: Prasrabdhi (skt)—Repose of mind. 27) Bất phóng dật: Apramada (skt)—Vigilance. 28) Hành xả: Upeksa (skt)—Equanimity. 29) Bất hoại: Ahimsa (skt)—Non-injury.(D) Phiền Não: Klesa (skt)—Evil or Affliction. 30) Tham: Raga (skt)—Covetousness. 31) Sân: Pratigha (skt)—Hatred. 32) Si: Mudhi (skt)—Ignorance. 33) Mạn: Mana (skt)—Arrogance. 34) Nghi: Vicikitsa (skt)—Doubt. 35) Tà kiến: Drsti (skt)—False view. (E) Tùy Phiền Não: Upaklesa (skt)—Minor Evil or Minor Affliction. 36) Phẫn: Krodha (skt)—Anger. 37) Hận: Upanaha (skt)—Enmity. 38) Phú: Mraksa (skt)—Concealment. 39) Não: Pradasa (skt)—Affliction. 40) Tật: Irsya (skt)—Envy. 41) Xan: Matsarya (skt)—Parsimony. 42) Cuống: Maya (skt)—Deception. 43) Siễm: Sathya (skt)—Fraudulence. 44) Hại: Vihimsa (skt)—Injury. 45) Kiêu: Mada (skt)—Pride. 46) Vô tàm: Ahrikya (skt)—Shamelessness. 47) Vô quí: Anapatrapya (skt)—Non-bashfulness. 48) Trạo cử: Auddhatya (skt)—Restlessness. 49) Hôn trầm: Styana (skt)—Low-spiritedness. 50) Bất tín: Asraddhya (skt)—Unbelief. 51) Giải đãi: Kausidya (skt)—Sloth. 52) Phóng dật: Pramada (skt)—Negligence. 53) Thất niệm: Musitasmrtita (skt)—Forgetfulness. 54) Tán loạn: Viksepa (skt)—Distraction. 55) Bất chánh tri: Asamprajnaya (skt)—Non-discernment. (F) Bất Định: Aniyata (skt)—Indeterminate. 56) Hối: Kaukrtya (skt)—Repentance. 57) Thụy miên: Middha (skt)—Drowsiness. 58) Tầm: Vitarka (skt)—Reflection. 59) Tứ: Vicara (skt)—Investigation. (III) Sắc Pháp: Rupa-dharma (skt)—Form-element. 60) Nhãn: Caksus (skt)—Eye. 61) Nhĩ: Srota (skt)—Ear. 62) Tỷ: Ghrana (skt)—Nose. 63) Thiệt: jihva (skt)—Tongue. 64) Thân: Kaya (skt)—Body. 65) Sắc: Rupa (skt)—Form. 66) Thanh: Sabda (skt)—Sound. 67) Hương: Gandha (skt)—Smell. 68) Vị: Rasa (skt)—Taste. 69) Xúc: Sprastavya (skt)—Touch. 70) Pháp xứ sở nhiếp sắc: Dharmayata-nikani-rupani (skt)—Forms included in dharma-ayatana or elements as objects of consciousness. a) Cực lược sắc:A substantial form analyzed to utmost , the smallest atom. b) Cực huýnh sắc: An unsubstantial form as aerial space or color analyzed to utmost, the remotest atom. c) Thọ sơ dãn sắc: A perceptive form conceived at ordination, the innermost impression. d) Biến kế sở khởi sắc: A momentary illusive form. e) Định sở sanh tự sắc: A form produced by meditation. (IV) Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp: Citta-viprayukta-samskara (skt)—Things Not Associated with Mind. 71) Đắc: Prapti (skt)—Acquisition. 72) Mạng căn: Jivitendriya (skt)—Life. 73) Chúng đồng phần: Nikaya-sabhaga (skt)—Nature of sharing similar species. 74) Di sanh pháp: Visabhaga (skt)—Nature of making different species. 75) Vô tưởng định: Asamjnisamapatti (skt)—Meditative concentration in thoughtless heaven. 76) Diệt tận định: Nirodhasamapatti (skt)—Meditative concentration in extinction. 77) Vô tưởng quả: Asamjnika (skt)—Facts obtained by thoughtless meditation. 78) Danh thân: Namakaya (skt)—Name. 79) Cú thân: Padakaya (skt)—Word. 80) Văn thân: Vyanjanakaya (skt)—Letter. 81) Sanh: Jati (skt)—Birth. 82) Trụ: Sthiti (skt)—Stability. 83) Lão: Jara (skt)—Age. 84) Vô thường: Anityata (skt)—Impermanence. 85) Lưu chuyển: Pravrtti (skt)—Becoming. 86) Định dị: Pratiniyama (skt)—Distinction. 87) Tương ứng: Yoga (skt)—Union. 88) Thế tốc: Java (skt)—Speed. 89) Thứ đệ: Anukrama (skt)—Succession. 90) Phương: Desa (skt)—Region. 91) Thời: Kala (skt)—Time. 92) Số: Samkhya (skt)—Number. 93) Hòa hợp tánh: Samagri (skt)—Totality. 94) Bất hòa hợp tánh: Anyathatva (skt)—Differentiation. (V) Vô Vi Pháp: Asamskrta-dharma (skt)—Non-created Elements. 95) Hư không vô vi: Akasa (skt)—Space. 96) Trạch diệt vô vi: Pratisamkhya-nirodha (skt)—Extinction obtained by knowledge. 97) Phi trạch diệt vô vi: Apratisamkhya-nirodha (skt)—Extinction not by knowledge but by nature. 98) Bất động diệt vô vi: Aniinjya (skt)—Extinction by a motionless state of heavenly meditation. 99) Tưởng thọ diệt vô vi: Samjna-vedayita-nirodha (skt)—Extinction by the stoppage of idea and sensation by an arhat. 100) Chân như vô vi: Tathata (skt)—True suchness.
Bách pháp 百法
[ja] ヒャッポウ hyappō ||| 'One hundred elemental constructs' ('dharmas'). According to the Yogācāra 瑜伽行派 sect all elemental constructs are divided into the five categories 五位 of: mind (心), elements possessed by the mind (心所), form (色), not corresponding with action (不相應行), not conditioned (無爲). Each of these five are subdivided. In mind (心) there are eight; in 'elements possessed by the mind (心所) there are fifty-one, among which are the five 'pervasive functions' (五遍行), the five 'special environments' (五別境), the eleven 'good elements' (十一善), the six primary afflictions (根本煩惱), the twenty secondary afflictions (二十隨煩惱) and the four indeterminate elements (四不定). In the group of form (色) there are ten, in the group that are not associated with action, there are twenty-four, in the unconditioned, there are six. This altogether totals one hundred. The explanation of these elements appears in the Dasheng baifa mingmen lun 大乘百法明門論. 1 fasc., by Vasubandhu; trans., Xuanzang. T 1614.31.855b-c => 'Một trăm pháp'. Theo Du-già hành phái (Yogācāra 瑜伽行派), mọi cấu trúc của các pháp được phân thành 5 nhóm ( ngũ vị五位): 1. Tâm (心). 2. Tâm sở (心所). 3. Sắc (色). 4. Bất tương ưng hành (不相應行). 5. Vô vi (無爲). Trong mỗi nhóm, còn được phân ra. - Tâm có 8. - Tâm sở có 51, trong đó gồm ngũ biến hành (5), ngũ biệt cảnh (5), thập nhất thiện (11), lục căn bản phiền não (6), nhị thập tuỳ phiền não (20), và tứ bất định (4). - Sắc có 10. - Bất tương ưng hành có 24. - Vô vi có 6. Tổng cọng là 100 pháp. Giải thích nầy xuất phát từ Đại thừa bách pháp minh môn luận (c: Dasheng baifa mingmen lun 大乘百法明門論), 1quyển, của Thế Thân, ngài Huyền Trang dịch.
bách phúc
The hundred blessings, every kind of happiness.
; Trăm phước—The hundred blessings (every kind of happiness).
bách phúc trang nghiêm
(百福莊嚴) Phạm: Zata-puịya-vicitrita. Ba mươi hai tướng của đức Như Lai, mỗi tướng đều do trăm phúc trang nghiêm mà thành. Còn gọi là Bách tư trang nghiêm, Bách phúc đức trang nghiêm. Bách phúc, tức là Bách tư. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 177 chép, thì trong mười thiện nghiệp đạo, từ không giết hại cho đến chính kiến, mỗi nghiệp đạo đều có năm tư như nghiệp đạo không giết hại có: li sát tư (không giết hại), khuyến đạo tư (khuyên dạy không nên giết hại), tán mĩ tư (khen ngợi sự không giết hại), tùy hỉ tư (thấy không giết hại thì vui theo), hồi hướng tư, hợp lại là năm mươi tư. Khi Bồ tát tạo tác một nghiệp tướng, thì trước hết phát khởi năm mươi tư để sửa trị cái thân, tiếp theo, phát một tư để dắt dẫn tướng ấy, sau cùng, lại phát khởi năm mươi tư để viên mãn tướng ấy: đó tức là trăm phúc trang nghiêm. Cũng sách và quyển đã dẫn, còn chép có mấy thuyết nữa về năm mươi tư: 1. Mười nghiệp đạo đều có năm phẩm tư là hạ, trung, thượng, thượng thắng, thượng cực (dưới, vừa, trên, trên hơn, trên hết), hợp lại thành năm mươi tư. 2. Mười nghiệp đạo đều có năm tư: gia hành tịnh, căn bản tịnh, hậu khởi tịnh, phi tầm sở hại, niệm nhiếp thụ, hợp lại thành năm mươi tư. 3. Duyên theo ba mươi hai tướng, ở mỗi tướng, phát khởi ý nghĩ năm mươi sát na chưa từng luyện tập, chuyển xoay liên tục, đó là năm mươi tư. Về lượng của một phúc, cũng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo luận Câu-xá quyển 18 chép, thì: 1. Trừ Bồ tát ra, còn tất cả hữu tình khác, nhờ tu hành mà được quả nghiệp giầu có vui sướng, tức là lượng một phúc. 2. Khi thế giới sắp thành, hết thảy hữu tình cảm được sức nghiệp tăng thượng trong cõi đại thiên, tức là lượng một phúc. 3. Duy có Phật mới biết được cái lượng một phúc. Ngoài ra, nghiệp dị thục của ba mươi hai tướng, phải tu tập trải qua một trăm đại kiếp mới đầy đủ viên mãn, duy có bồ tát Thích ca là cực tinh tiến, nên mới có thể rút ngắn được chín kiếp mà thành tựu ba mươi hai tướng ở kiếp thứ chín mươi mốt. [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.24; kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Phương tiện; luận Đại trí độ Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.9]. (xt. Bách Đại Kiếp).
bách quan
Bá quan—All officials in the court.
bách quang biến chiếu vương
Đức Đại Nhật Như Lai—The king of all light universally shining—Vairocana—See Đại Nhật Như Lai, Đại Uy Đức, and Đại Uy Đức Giả.
bách thiên ấn đà la ni kinh
(百千印陀羅尼經) Có một quyển. Do ngài Thực Xoa Nan Đà đời Đường dịch. Còn gọi là Bách thiên ấn. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này thuộc Tạp Mật kinh, nội dung bao gồm căn bản Đà la ni, Đà la ni tâm chú, Tùy tâm chú... Nếu hành giả viết chép kinh này để thờ trong tháp, thì công đức ngang với tạo lập trăm nghìn ngôi tháp.
bách tháp tự
(百塔寺) Là ngôi chùa nằm tại cửa hang Tiện Tử, chân núi phía bắc núi Chung Nam, thuộc huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây. Vị tổ khai sáng của Tam Giai giáo là sư Tín Hành, sau khi tịch, được chôn cất tại đây; về sau, các pháp tôn của Tam Giai giáo nối nhau đề phần mộ xung quanh tháp xá lợi của Tín Hành. Năm Trinh Quán thứ 5 (631), đệ tử của Tín Hành là Tăng Ung, trước khi tịch, dặn học trò chôn cất ở bên trái tháp của Tín Hành, năm Hiển Khánh thứ 2 (657), sư Tuệ Liễu ở chùa Quang Minh, Thiền sư Tăng Hải ở chùa Hóa Độ, niên hiệu Tổng Chương năm đầu (668), Thiền sư Đạo An, năm Khai Nguyên thứ 4 (716), Thiền sư Pháp Tạng ở chùa Tịnh Vực v.v... đều xây tháp ở đây, khoảng năm Đại Lịch (766-779), mới có tên là chùa Trăm Tháp. Đến năm Thái Bình Hưng quốc thứ 3 (978) đời Tống, chùa được đổi tên là chùa Hưng Giáo. Từ đời Minh, Thanh về sau, chùa này rất là hoang phế, nay chỉ còn lại một gian phòng tăng bé nhỏ. Bên ngoài chùa có một tòa tháp gạch năm tầng, cao khoảng hai mươi mét, hai tòa Tôn thắng đà la ni kinh chàng, trong đó, một tòa được làm vào năm Thái Hòa thứ 5 (831) đời Đường Văn Tông, mặt sau có bài Minh do Tỉ khưu ni Hành Luật làm để kỉ niệm lễ trà tì của sư trưởng là Tổng Tĩnh. Ngoài ra, còn có những phiến đá nhẵn, hình vuông, dài, to, và mấy tòa lọng đá, tòa đá, được làm vào cuối đời Đường, và những phiến đá rơi từ thân tháp đá v.v... Những người thờ phụng trăm tháp đều là chúng tăng thuộc Tam Giai Giáo. Cứ theo văn bia của Trương Phân được thấy trong Kim Thạch Tụy biên chép, thì khu đất dựng chùa trăm tháp là do tướng Bùi Hưu nhà Đường cúng dường. [X. Thiểm tây thông chí; Kim thạch tụy biên Q.57].
Bách tháp tự 百塔寺
[ja] ヒャクトウジ Hyakutō ji ||| Baita si; site of reliquaries for Sanjie jiao 三階教 founder Xinxing 信行 and his disciples on Zhongnan shan 終南山. => (c: Baita si); nơi thánh tích của Tín Hành (Xinxing 信行 ), người sáng lập Tam giai giáo (Sanjie jiao 三階教) và các đệ tử của ngài ở Chung Nam sơn (Zhongnan shan 終南山).
bách thú
Botanical.
bách thảo
Zoological—Hundreds of weeds.
bách thất thập bát giới ba dật đề
Pacittiya (skt)—One hundred seventy-eight rules for mendicant Bhiksunis—Pacittiya (skt)—Theo Luật Nghi Khất Sĩ được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang soạn cho chư Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ, 178 giới Ba Dật Đề dành cho Ni chúng, nếu phạm một trong những tội nầy mà chí thành phát lồ sám hối trước Tăng Ni chúng, thì tội được tiêu khiên. Nếu không chí thành phát lồ sám hối, chẳng những sẽ trở ngại cho việc khởi sanh thiện pháp, mà sẽ còn bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—According to Most Honorable Minh Đăng Quang in the Rules for Mendicant Bhiksus and Bhiksunis, one hundred seventy-eight Pacittiya offences which require confession and repentance. If a nun committed any of them, makes a confession of it before the Sangha (Order of monks and nuns) with clear heart, she will become free from the offence. If she doesn't, the offence itself will not only obstruct her development of wholesome acts, but it will also cause her rebirth in lower realms, i.e., hell, hungry ghosts, or animal. 1) Cấm cho rằng phải một việc sai trái:A nun should not tell a conscious lie (telling a conscious lie means the words, the utterance, the speech, the talk, the language, the intimation, the un-ariyan statement of one intent upon deceiving with words, saying: “I have not seen what I have seen, heard what I have not heard, sensed what I have not sensed, etc). 2) Cấm chê bai làm người rủn chí: A nun should not speak insulting speech to discourage people. 3) Cấm nói lưỡi hai chiều đâm thọc làm cho người ta giận nhau: A nun should not speak slandering speech to cause people to break their harmony. 4) Cấm ở chung nhà với đàn ông trong một đêm: A nun should not lie down in a sleeping place with a man. 5) Cấm ở quá hai đêm chung với người chưa thọ giới nhà sư: A nun should not lie down in a sleeping place with one who is not ordained for more than two nights. 6) Cấm tụng kinh chung và một lượt với người chưa thọ đại giới. Tuy nhiên, nếu cùng bậc thiện hữu tri thức tại gia đọc tụng và nghiên cứu kinh điển thì không phạm giới Ba Dật Đề: A nun should not make one who is not ordained speak dharma line by line. However, if a monk recite in studying together with lay good advisors, there is no offence of Pacittiya. 7) Cấm học tội một vị Tỳ Kheo Ni khác với người chưa thọ đại giới: A nun should not speak of another nun's very bad offence to one who is not ordained. 8) Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông với người chưa thọ đại giới: A nun should not speak of a condition of super powers to one who is not ordained. 9) Cấm một mình thuyết pháp cho đàn ông nghe, dù chỉ năm sáu câu mà không có đàn bà trí thức tham dự: A nun should not teach dharma to men in more than five or six sentences, except a learned woman is present. 10) Cấm đào đất, cuốc đất, hay sai người đào cuốc: A nun should not dig the ground or have it dug. 11) Cấm đốn cây: A nun should not destroy vegetable growth. 12) Cấm tranh cãi nhiều lời làm cho người ta phiền nhiễu: A nun should not argue to disturb other people. 13) Cấm chê bai, nói ác, chỉ trích và thề thốt: A nun should not defame (make derogative remarks) or bad mouth in criticizing other people, and swearing. 14) Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể: A nun should not spread in the open air a chair or a mattress or a stool belonging to the Order, setting forth, but does not removed or have it removed, to cause it destroyed. 15) Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất: A nun should not spread a sleeping place or having it spread in a dwelling belonging to the Order, setting forth, but should neither remove it nor have it removed. 16) Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác: A nun should not lie down in a sleeping place in a dwelling belonging to the Order, knowing that she is encroaching upon the space intended for a nun arrived first. 17) Cấm đuổi hay sai đuổi một vị Tỳ Kheo Ni không hạp ý mình ra khỏi phòng: Out of angry and displeased, a nun should not throw out another nun or cause her to be thrown out from a dwelling place belonging to the Order. 18) Nếu ở phần trên gác, khi giăng mùng lót ván, cấm để cây rớt trúng người: A nun who dwells in a lofty cell with an upper part, in a dwelling place belonging to the Order. She should not cause any boards or removable feet of her couch to fall down to hurt other people. 19) Cấm lấy nước dùng khi biết trong nước ấy có côn trùng: A nun should not sprinkle grass or clay, or should not have them sprinkled if he knows that the water contains life. 20) Khi lợp tịnh xá, cấm dùng đồ quá nhiều chất nặng khiến bị sập làm tổn hại người khác: A nun should not cover her dwelling place with heavy material that collapse to harm other people. 21) Cấm ăn nhiều bữa cơm trong một ngày, trừ khi đau yếu: A nun should not have so many meals a day, except when she is ill. 22) Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội, trừ khi đau yếu, đi xa, trai Tăng, tởi áo, hay phải đi xa bằng tàu đò: A nun should no be absent during the assembly meal (group meal), except when she is ill, and at a right time, i.e., time of illness, time of giving robes, time of being embarked in a boat, etc. 23) Cấm lãnh đồ ăn nhiều mà không chia sớt cho các vị ấy (khi vị Ni đi hay được mời thỉnh đến nhà thí chủ và được cúng dường hai hay ba bát bột nhồi mật để mang về, vị Ni ấy có thể nhận. Nếu muốn nhiều hơn thế là phạm tội Ba Dật Đề. Nếu nhận về tự viện mà không chia lại cho Ni chúng trong tự viện cũng bị phạm tội Ba Dật Đề): When receiving a lot of almsfood, a nun must share them with other nuns in the Order. If not, there is an offence of Pacittiya (If a nun, going up to a family, and was invited to take cakes or barley-gruel, two or three bowlfuls may be accepted by the nun. Should she accept more than that, there is an offence of Pacittiya. Should she accept two or three bowlfuls, take these cakes back from there and would not share with other nuns in the monastery, there is an offence of Pacittiya). 24) Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ hôm sau: A nun should not eat or partake solid or soft food at the wrong time (wrong time means afternoon has passed until sunrise). 25) Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng hôm sau khỏi đi khất thực: A nun should not eat or partake of solid food or soft food that was stored so that she doesn't have to go begging for alms-food the next day. 26) Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường: A nun should not convey to her mouth nutriment not given. 27) Cấm cố ý làm cho mấy vị Tỳ Kheo Ni khác trễ quá giờ ăn: A nun should not cause other nuns to be tardy to the meal. 28) Cấm ăn rồi mà còn ngồi nán lại lâu trong nhà có đàn ông: After eating, a nun should not sit down in a house where there is a man. 29) Cấm lãnh đồ ăn rồi, mà còn ngồi lại chỗ kín, trong nhà có đàn ông: After receiving alms-food, a nun should not sit down in a private place on a secluded seat together with a man. 30) Cấm lãnh đồ ăn rồi, mà còn ngồi lại chỗ kín, trong nhà có đàn ông: After receiving alms-food, a nun should not sit down in a private place on a secluded seat together with a man. 31) Cấm oán ghét, kiếm cớ làm cho một vị ni khác bơ vơ nhịn đói: A nun should not find fault to dismiss another nun from going into a village for alms-food to cause that nun to starve. 32) Cấm lãnh để dành nhiều thuốc: A nun should not store so much medicines. 33) Cấm xem diễn binh tập trận: A nun should not go to see an army fighting. 34) Nếu vì lý do gì đó mà phải đến viếng trại binh, cấm ở chung với quân binh hai ngày: If there is some reason for a nun to go to visit the army, that nun should not stay with the army for two nights. 35) Nếu phải viếng trại binh, cấm đi xem sự tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ: If a nun, staying with the army for less than two nights, she should not go see a sham-fight or to the troops in array or to the massing of the army or to see a review of the army. 36) Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau: A nun should not drink fermented liquor and spirits, nor should she smoke opium, nor should she chew betel. 37) Cấm tắm rữa một cách quá tự do và giỡn cợt: A nun should not freely bathing and playing in the water. 38) Cấm lấy tay chân mà đánh đá người ta: A nun should not kick people with her legs or hands. 39) Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách cản ngăn: A nun should not disrespect any blame or warning from the elder monks or nuns. 40) Cấm dọa nạt làm cho người khác kinh sợ: A nun should not frighten other people. 41) Cấm tắm tới hai lần trong nửa tháng, trừ khi đau yếu, dơ hay nực vào trời hè: A nun should not bathe at intervals of less than half a month, except at a right time, i.e., the time of illness, the body is dirty, or too hot during the summer time. 42) Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau yếu, lạnh lẽo hay trong đêm tối: If he is not ill, a nun should not warm herself, kindle or cause a fire to be kindled. 43) Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi người dấu đồ của người khác (như bát, áo, vải, vân vân): A nun should not hide or cause to hide another nun's bowl or robe or cloth, even in fun. 44) Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi: A nun should not get back things that she already offered to another nun. 45) Cấm mặc dùng chăn áo, màu vải trắng, mà phải nhuộm lại cho xấu trước khi dùng: A nun should not wear a robe (white) that has no disfigurement of black, dark green or muddy colors. 46) Cấm uống nước mà mình biết là có trùng: A nun should not knowingly make use of water that contains living things. 47) Cấm cố ý giết chết mạng thú vật: A nun should not intentionally deprive a living thing of life. 48) Cấm cố ý làm cho người ta buồn mà không khuyên giải: A nun should not cause sadness to other people without comforting them. 49) Cấm dấu tội thô tục, chọc ghẹo, giao dâm của một Tỳ Kheo Ni (tội thô tục nầy liên hệ đến Tứ Ba La Di hay Thập Thất Giới Tăng Tàn): A nun should not knowingly conceal another nun's very bad offence (an offence that involves defeat and the seventeen entailing a formal meeting of the Order). 50) Cấm khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận: A nun should not knowingly open up for a further formal act a legal question already settled according to rule. 51) Cấm đi chung với gian nhân, dầu từ làng nầy tới làng kia cũng vậy: A nun should not have arranged together with a caravan set on theft, should not knowingly go along the same high road, even among villages. 52) Cấm nói lời dâm dục làm ngăn trở sự thành đạo: A nun should not speak lewd words to obstruct the cultivated path. 53) Cấm giao thiệp, đưa đồ, nói chuyện với kẻ nói sái quấy ấy, chẳng hạn như nói sái quấy về Phật Pháp và Đức Phật: A nun should not knowingly frequent, exchange things, speak, be in communion with, or lie down in a sleeping place with a nun who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha. 54) Cấm giữ tại chùa và để hầu mình, kẻ Sa Di Ni nói sái quấy: A nun should not knowingly allow the novice who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha, should not encourage that novice, should not support, should not eat with that novice, nor should he lie down in a sleeping place with that novice . 55) Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại: A nun, being spoken to by nuns regarding a rule, should speak thus: “Your reverences, I will not train myself in this rule of training until I have inquired about it of another experienced monk who is expert in discipline.” There is an offence of Pacittiya. She should say: “Monks, it should be learnt, it should be inquired into, it should be investigated by a nun who is training.” 56) Cấm nói phá rằng đọc giới bổn là phiền hà vô ích: When the Patimokkha is being recited, a nun should not disparaging the rule of training by sayng thus: “On what account are the lesser and minor rules of training recited? They only tend to remorse, to vexation, to perplexity.” 57) Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới bổn: A nun should not avoid being blamed by saying that she does not understand the Patimokkha (Whatever nun, while the Patimokkha is being recited every half-month, should speak thus: “Only now I do understand that this rule is, as is said, handed down in a clause, contained in a clause, and comes up for recitation every half-moth; if other nuns should know concerning this nun has sat down two or three times before, not to say oftener, while Patimokkha was being recited, there is not only no freedom for that nun on account of his ignorance, but he ought to be dealt with according to the rule for the offence into which she has fallen there, and further confusion should be put on her, saying: 'Your reverence, this is bad for you, this is badly gotten by you, that you, while the Patimokkha is being recited, do not attend applying yourself properly.” 58) Cấm nói Giáo Hội nghị xử chẳng công bình: A nun should not say that the Order's decision is not fair. 59) Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị, bằng cách đứng dậy hay bước ra ngoài: A nun should not break or interrupt the meeting, not giving the consent by rising up or departing from her seat when the Order is engaged in decisive talk. 60) Cấm làm cản trở không cho thi hành điều mà giáo hội đã quyết nghị: A nun should not first consent for ligitimate acts, and afterwards engage in criticism. 61) Cấm học đi học lại, chuyện cãi lẫy gây gổ, sau khi đã êm thuận: A nun should not stand overhearing other nuns when they are quarrelling, disputing. 62) Cấm giận mà đánh một vị Tỳ Kheo Ni khác: When angry and displeased, a nun should not give another nun a blow. 63) Cấm giận mà vả, hay vặn tay một vị Tỳ Kheo Ni khác: When angry and displeased, a nun should not raise the palm of the hand against another nun. 64) Cấm cáo gian rằng vị Tỳ Kheo Ni khác phạm giới Tổn Hại Tăng Tàn: A nun should not defame another nun with an unfounded charge of an offence entailing a formal meeting of the Order. 65) Cấm vào cung vua thình lình, không chờ đợi được nghinh tiếp: A nun should not suddenly enter the threshold of the king palace without waiting to be welcome. 66) Cấm lượm, hay sai lượm của quấy vật bỏ rơi, trừ khi nào biết rõ chủ nhân mà muốn cất giùm: A nun should not pick up or cause another to pick up treasure or what is considered to be treasure, except when she knows the owner and picks to set aside for the owner to take it. 67) Cấm vào làng sái giờ, trừ ra có việc của Giáo Hội: A nun should not enter a village at the wrong time, unless the Order instructs her to go for some kind of urgent thing to be done. 68) Cấm ngồi ghế cao (cao hơn tám lóng tay), nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp: A nun should not sit on a couch or chair with the legs higher than eight finger-breadths 69) Cấm dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt: A nun should not have a couch or a chair made covered with good cotton. 70) Cấm ăn ngũ tân như tỏi, hành, hẹ, nén, kiêu: A nun should not eat the five forbidden pungent roots, i.e., garlic, onion, leeks, etc. 71) Cấm bất tuân chẳng cạo chơn mày: A nun should not disobey the law by not shaving the eyebrows. 72) Cấm cười bậy: A nun should not joke or laugh at someone. 73) Cấm nói chuyện thế tục: A nun should not talk worldly affairs. 74) Cấm hai cô dùng tay bỡn cợt (trửng giỡn): Two nuns should not play or trifle with hands. 75) Cấm một Ni một Sư uống nước chung và quạt cho nhau: A nun should not stand with drinking water or with a fan close to a monk while he is eating or drinking. 76) Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng hôm sau khỏi đi khất thực: A nun should not eat or partake of solid food or soft food that was stored so that she doesn't have to go begging for alms-food the next day. 77) Cấm đại, tiểu tiện làm dơ cây cối: A nun should not go to stool or urinate to cause pollution in the area of vegetables, plants or trees. 78) Cấm quăng ra ngoài rào, đồ đại, tiểu tiện khi đêm: A nun should not throw out the excriment or urine or rubbish or remains of food over a wall or a fence. 79) Cấm đi xem hát: A nun should not go to see dancing, singing, or music. 80) Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ vắng vẻ: A nun should not speak with a man in a secluded place (it is not proper for a nun to stand with a man or talk to him alone in a secluded place, i.e., in the dark of the night when there is no light). In doing so, she commits an offence which requires expiation. 81) Cấm gặp và nói chuyện với đàn ông chỗ chán chường: A nun should not meet and talk with a man in a private place. 82) Cấm bảo cô khác đi xa đặng mình tiện bề nói chuyện với đàn ông: A nun should not order another nun to leave so that she can be free to talk to a man. 83) Cấm ở nhà cư gia mà ra đi thình lình không cho chủ nhà hay: A nun should not leave a lay person's house without asking the owner's permision. 84) Cấm vào nhà cư gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi tự tiện ở lại đêm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person without informing the owner, then stay overnight without asking for permision of the owner. 85) Cấm vào nhà cư gia mà chủ nhà không hay biết rồi ngồi nằm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person without informing the householder, and sit or lie down at ease. 86) Cấm vô nhà người, vào phòng kín với đàn ông: A nun should not enter the house of a lay person, then enter a private place with a man. 87) Cấm đọc bậy với kẻ khác lời dạy của bà Thầy dạy học: A nun should not misinterpret the master's instructions. 88) Cấm thề oán tức tối: A nun should not get angry, nor swear. 89) Cấm tranh hơn thua, đấm ngực kêu la: A nun should not argue, nor yell loudly at the same time beat her chest. 90) Cấm hai cô nằm chung, trừ khi đau yếu: Two nuns should not share one couch, except when they are ill. If not, they commit the offence of expiation. 91) Cấm hai cô nằm chung giường trừ khi cần kíp: Two nuns should not share one couch, except in case of emergency. 92) Cấm làm phiền hoặc làm trễ mấy cô khác trong cuộc tụng kinh, hộ niệm, làm lễ, và giảng đạo: A nun should not cause troubles for other nuns, nor should she cause others to be late to sutra-recitation, supportive recitation, ceremonies, or preaching. 93) Cấm chẳng săn sóc người ở gần mình trong cơn đau bệnh: A nun who should neither attend to an ailing woman who lives with her, nor should she make an effort to get her attended to, commits the offence of expiation. 94) Cấm trong mùa mưa đuổi một cô đi chỗ khác, sau khi mình đã tìm xong chỗ ngụ: Whaterver nun, having given quarters to a nun, should, angry, displeased, throw her out or have her thrown out, commits the offence of expiation. 95) Cấm đi xa lúc mùa mưa, vì có thể dẫm lên và giết hại sâu bọ: A nun should not walk on almstour duirng the rains, for she may tread on worms and other insects. 96) Cấm đã hết mùa mưa mà chẳng chịu đi: A nun should not stay at the retreat are after the rainy season. 97) Cấm đi quanh vùng nguy hiểm: A nun should not go on alms-tour within a dangerous region. Her disobeying the rule is the committing of an offence of expiation. 98) Cấm đi quanh xứ lộn xộn: A nun should not go on alms-tour within a chaotic region. 99) Cấm thân cận và ở chung nhà với đàn ông: A nun should not keep company with a man (whatever nun should keep company with a householder or with the householder's son, that nun should be spoken to thus by the nuns: “Do not, lady, keep company with a householder and with a householder's son. Let the lady desist, the Order praises such detachment in a sister.” But if that nun, being spoken to thus by the nuns, should persist as before, that nun should be admonished by the nuns up to the third time for giving up that course. If she should give up, while being admonished up to the third time, that is good. If she should not give up, there is an offence of expiation). 100) Cấm đi xem đền đài cung điện của vua: A nun should not go to see a king's palace, including the king's pleasure house, a picture gallery, a park, or a pleasure grove, or a lotus pond (it is said that if she goes to any of the above mentioned places, she commits the offence of expiation). 101) Cấm tắm dưới nước mà chẳng có choàng tắm: A nun should not bathe naked. It is not advisable for a nun to take a bath without clothes or having no dress at all. If she does so, she commits an offence of expiation. 102) Cấm dùng choàng tắm rộng quá thước tất: A nun should not use a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun. When a bathing cloth is being made for a nun, it must be made to a proper measure. This is the proper meausre: in length four spans, in width two spans. For her who exceeds this measure, should she make or arrange to make a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun, there is an offence of expiation (The Book Of The Discipline, I.B. Horner, 1997). 103) Cấm may một cái áo để quá năm ngày: A nun should neither sew or make effort to have the robe sewn beyond the limit of five days. Whatever nun, having unsewn or having made another unsewn a nun's robe, if she is not afterwards prevented should neither sew it nor should make an effort to get it sewn, except on the fourth and fifth days, there is an offence of expiation. 104) Cấm may áo rồi mà chẳng mặc liền: A nun should not store a ready-to-wear robe. 105) Cấm nhơn danh Giáo Hội, phát áo và vải rồi để dành lại một ít cho mình: A nun should not hold back a legally valid division of robe-material. 106) Cấm mặc đồ của một cô khác mà không hỏi trước: A nun should not wear a robe of someone else without permision. 107) Cấm lấy áo của một cô khác mà cho người: A nun should not give away other nuns' robes. 108) Cấm có ý cản trở sự phát áo của Giáo Hội: A nun should not be an obstacle in the way of a group's receiving robe or in legal distribution of robe material in the Sangha. 109) Cấm dùng lời nói cản trở sự phát áo của Giáo Hội: A nun should not use her speech as an obstacle in the way of a group's receiving robe or in legal distribution of robe material in the Sangha. 110) Cấm làm cách chế cản trở sự phát áo của Giáo Hội: A nun should not use any means to obstruct the way of a group's receiving robe or in legal distribution of robe material in the Sangha. 111) Cấm đã có người hòa giải mà không chịu hòa: There is some legal question to be settled by the Order. If a nun does not agree or does not make effort to get it settled, she commits Expiation offence. 112) Cấm trao tay thí đồ ăn cho kẻ ngoại đạo: A nun should not give with her own hand solid food or soft food to a heretics. According to The Book Of The Discipline, translated into English by I.B. Horner in 1997, if a nun gives with her own hand solid food or soft food to a householder, a male or female wanderer, she commits an offence of expiation. 113) Cấm ra tay làm việc cho người cư gia: A nun should not do household work for a lay person. Leading the holy life, a nun should not do the household work. If she does so, she commits an offence of expiation. 114) Cấm tự mình kéo chỉ quay tơ: A nun should not spin yarn. 115) Cấm ngồi trên giường ván của cư gia: A nun should not make use of a sofa or a divan at the house of a lay person. 116) Cấm nghỉ đêm nơi nhà cư gia mà sáng sớm ra đi không cho chủ nhà hay biết: If a nun must stay overnight at the house of a lay person, the next morning when she leaves, she must inform the owner. If she does not, she commits an offence of expiation. 117) Cấm đọc chú như mấy kẻ pháp phù: A nun should not recite incantation the same way as the heretic magicians do. 118) Cấm dạy người ta đọc chú: A nun should not teach other people to recite incantation. 119) Cấm cho nhập đạo một cô có thai: A nun should not ordain a pregnant woman. In case of doing so, she commits the offence of expiation. 120) Cấm cho nhập đạo một cô còn có con nhỏ: A nun should not ordain a woman giving suck (it is forbidden for a nun to ordain a woman giving suck). In case of violation of the rule, she commits an offence of expiation. 121) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa đúng hai mươi tuổi trọn: A nun should not ordain a maiden under twenty years of age. In case of violation of the rule, she commits an offence of expiation. 122) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa tập sự hai năm: A nun should not ordain a probationer who has not trained for two years in the six rules. Even after reaching the age of twenty years, a married girl is not fit for ordination, if she is not trained for two years in six rules (see Thập Giới II B). 123) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người phạm đại giới, mặc dầu đã đúng tuổi và đã tập sự hai năm: A nun should not ordain a woman who committed Parajikas, even though she is over twenty years of age and she is trained for two years. 124) Cấm không cho nhập đạo hàng Ni cô một người đã đủ điều kiện: A nun should not refuse to ordain a probationer who meets all required qualifications (over twenty years of age and two years of training in six rules). 125) Cấm vội vã cho nhập đạo sớm và chẳng tập sự: A nun should not hurry to ordain a woman and not to train her in six rules. 126) Cấm cho nhập đạo mà chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a married girl without obtaining the permision from the Order, even though the girl has completed twenty years of age and has trained for two years in the six rules. In case of doing so, she commits the offence of expiation. 127) Cấm giấu những sự sơ thất ấy: A nun should not conceal any of the information from 119 to 126. 128) Cấm đã thâu nhận học trò mà không lo dạy dỗ trong hai năm tập sự: After ordaining a woman, a nun should keep her under supervision and should help her for two years in training in six rules. It is a general rule for a nun to give ordained woman instructions for two years. In disobeying this she commits the offence of expiation. 129) Cấm mới nhập đạo chưa được hai năm mà thâu nhận học trò: Ordaining a maiden every year by a nun is committing the offence of expiation. 130) Cấm một cô thiếu sức mà cho người nhập đạo: An unqualified nun should not admit a novice. 131) Cấm một cô thiếu sức mà truyền giới cụ túc cho người: An unqualified nun should not ordain a probationer. 132) Cấm một cô thiếu phép mà truyền giới cụ túc cho người: A nun who is not thorough in Vinaya, should not ordain a probationer. 133) Cấm phiền trách khi Giáo Hội chẳng cho phép truyền giới: A nun should not complain the Order for not allowing her the permision to ordain a probationer. 134) Cấm nhận một kẻ tu tập vào hàng Ni cô thiệt thọ, nếu người nhà kẻ ấy chẳng thuận: A nun should not ordain a probationer without the consent of the parents and husband. If a nun ordain a probationer without such consent, she commits an offence of expiation. 135) Cấm làm cho một thiếu phụ buồn chán, sợ sệt đặng bỏ gia đình nhập đạo: A nun should not cause a woman to feel sad and worry, so that she will leave home to join the Order. 136) Cấm hứa nếu ai dễ dạy thì cho nhập đạo, kế không giữ lời: A nun should not first promise to ordain a trainable probationer, then later breaks her promise. 137) Cấm hứa nếu ai cúng áo thì cho nhập đạo, kế không giữ lời: A nun should not promise another nun for ordination, in a gain of a robe and afterwards breaks her promise, her such doing is an offence of expiation. Whatever nun, having said to a probationer: “If you, lady, will give me a robe, then will I ordain you.” If afterwards, she should neither ordain her nor should she make an effort to get her ordained, there is an offence of expiation.A nun should not promise to ordain a woman who seems to be trainable, and afterwards breaks her promise. 138) Cấm mới nhập đạo chưa được một năm mà thâu nhận người khác cho thọ giới cụ túc: A nun who joined the Order less than a year, should not ordain a probationer. 139) Cấm sau khi thâu nhận một Ni cô mà để qua đêm mới trình diện với Giáo Hội chư Tăng: A nun should not ordain a woman and wait until the next day to inform the Order of monks. 140) Cấm vắng mặt ngày đọc Giới luật, trừ khi đau yếu: A nun should not be absent on the Uposatha Day, except when she is ill. 141) Cấm quên hỏi Giáo Hội cầu thầy thuyết pháp và đọc giới bổn: A nun should not forget her general duty of asking the Order of the monks the dates of the observance day and preaching Dharma day. 142) Cấm đến cuối mùa mưa quên đọc lại với Giáo Hội chư Tăng những điều nghe thấy: After the rainy season retreat, if a nun does not invite the Order of Monks and Nuns in respect of three matters that is what is seen or heard or suspected, she commits the offence of expiation. 143) Cấm họp nhau trong mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng: A nun should not spend the rains in a residence where there is no monk. In case of violation of the instruction and staying during the rainy season in a monastery without monk, she commits the offence of expiation (the Buddha has made the rules for the nuns to enter into rainy season retreat in a monastery whre there are also monks. Probably this has been done with the consideration of providing them guardianship). 144) Cấm vào tịnh xá chư Tăng mà không xin phép trước: a nun should not enter a monastery without asking for advanced permision. 145) Cấm nhiếc mắng mấy Ni cô khác: A nun should not revile or abuse another nun. In doing so she commits the offence of expiation. 146) Cấm dùng lời thô bỉ khêu nên sự rầy rà ở Giáo Hội: A nun should not use coarse words to cause troubles in the Order. 147) Cấm khi bệnh không có Giáo Hội cho phép mà để người khác cắt hoặc bó cho mình: It is not proper for a nun to make a boil or scab that has formed on the lower part of her body to be operated by a man without the permision of the Order; she should not also get it washed or smeared, bound up or unbound by a man. Doing so, she commits the offence of expiation. 148) Cấm ăn no rồi mà còn ăn lại nữa: a nun should not eat or partake of solid food or soft food after her being satisfied. 149) Cấm ganh ghét các Ni cô khác: A nun should not be envious with other nuns. It is not proper for her in her monastic life to harbor jealousy against anyone. If she does so, she commits the offence of expiation. 150) Cấm dồi mài trang điểm thân mình: A nun should not apply any cosmetic powder, nor should she wear ornaments. 151) Cấm dồi phấn xức dầu: A nun should not apply cosmetic powder, nor should she use perfumes. It is not proper for a nun to use perfumes and paints in water for bathing as well as she should not bathe in scented groundsesamum. In case of violation, she commits the offence of expiation. 152) Cấm xúi một Ni cô dồi phấn xức dầu: A nun should not induce another nun to apply cosmetic powder, nor should she induce another nun to use perfumes. 153) Cấm xúi một kẻ tu tập dồi phấn xức dầu: A nun should not induce a cultivator to apply cosmetic powder or to use perfumes. 154) Cấm xúi học trò dồi phấn xức dầu: A nun should not induce a disciple to apply cosmetic powder or to use perfumes. 155) Cấm xúi người tại gia dồi phấn xức dầu: A nun should not induce a lay person to apply cosmetic powder or to use perfumes. 156) Cấm bận áo mỏng thấy mình: A nun should not wear thin robe through which one can see her skin. 157) Cấm lấy y phục của người tại gia mặc vào: A nun should not wear clothes of lay people. 158) Cấm mang giày, cầm dù đi ra đường: A nun should not use a sunshade and sandals. When she does so, she commits the offence of expiation. 159) Cấm đi kiệu, trừ khi đau yếu:A nun should not goes in a vehicle if she is not ill. 160) Cấm vào làng mà chẳng mặc áo Ni cô: A nun should not enter the village without wearing her vest (robe). 161) Cấm khi đêm vào nhà cư sĩ nếu không được mời thỉnh: A nun should not enter the house of a lay person at night without inviation. 162) Cấm vào buổi chiều, mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay: A nun should not open the gate of the temple and go out in the evening without informing other nuns in the temple. 163) Cấm sau khi mặt trời lặn, mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay: After the sun sets, a nun should not open the gate of the temple and go out without informing other nuns. 164) Cấm vắng mặt ngày hội trong mùa an cư kiết hạ: A nun should not be absent in the assembly day of the rainy season retreat. 165) Cấm cho nhập đạo một cô có bệnh khó: A nun should not ordain a woman who has chronic disease. 166) Cấm cho nhập đạo một cô bán nam bán nữ: A nun should not ordain a bisexual person. 167) Cấm cho nhập đạo một cô có bệnh khác thường: A nun should not ordain a woman with unusual disease. 168) Cấm cho nhập đạo một cô mắc nợ hoặc tàn tật: A nun should not ordain a woman who is in debt or handicapped. 169) Cấm học cách bói đoán vận mạng, sanh nhai theo người thế tục: A nun should not learn divination or fortune-telling. 170) Cấm dạy người khác bói đoán vận mạng:
bách toà hộ ma
(百座護摩) Chỉ một trăm lần tu phép Hộ ma. Số lượt tu phép Hộ ma được gọi là tọa hoặc tòa, cho nên một trăm lần tu phép Hộ ma gọi là Bách tọa hộ ma. Chiếu theo qui định, hành giả Mật giáo tu phép Hộ ma không thể thiếu phép tu tế lửa. (xt. Hộ Ma).
Bách Trượng Cổ Thanh Quy
(百丈古清規): xem Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規) bên dưới.
bách trượng duy chánh
Pai-chang Wei-cheng (C)Tên một vị sư.
bách trượng dã hồ
Pai-Chang and the fox—See Bách Trượng Hoài Hải.
; (百丈野狐) Tên công án trong Thiền tông. Là cơ duyên đối thoại giữa con cáo đồng và thiền sư Hoài Hải ở núi Bách Trượng. Công án này nêu lên lí nhân quả rõ ràng. Còn gọi là Bất lạc bất muội, Ngũ bách sinh dã hồ, Bách trượng bất muội nhân quả, Bách Trượng dã hồ đọa thoát. Thung dung lục Tắc 8 (đại 48, 231 hạ), nói: Bách Trượng lên nhà giảng, thường có một ông già đến nghe pháp, nghe xong, theo mọi người giải tán. Một hôm, ông già không đi, Bách Trượng bèn hỏi: Ai đứng đó?. Người già đáp: Vào thời đức Phật Ca Diếp xưa kia, tôi đã từng ở núi này. Có một người đến học đã hỏi: Bậc đại tu hành có còn rơi vào nhân quả nữa không? Tôi trả lời: Không rơi vào nhân quả. Cũng vì câu nói ấy mà tôi đã phải đọa làm thân cáo đồng năm trăm kiếp rồi. Nay xin Hòa thượng thay cho một chuyển ngữ. Bách Trượng nói: Không mờ tối nhân quả. Ngay sau câu nói đó, người già đại ngộ. Trong công án này, người già xưa kia nói: Không rơi vào nhân quả là bác không có nhân quả, tức là phủ nhận lí nhân quả; và do phủ nhận lí nhân quả, cho nên phải đọa vào ác thú. Không mờ tối nhân quả là khẳng định nhân quả, khác với không rơi vào nhân quả, vì khẳng định nhân quả, cho nên thoát li ác thú. Đứng về phương diện giáo thuyết cơ bản của Phật giáo mà nói, thì tin sâu nhân quả là Phật pháp chính truyền, là một loại pháp tắc rất tự nhiên. Vì thế, người ta không thể phân biệt càn bậy, ức đoán, phủ định, nếu tin sâu lí pháp nhân quả tự nhiên ấy rồi theo đó mà tu hành, thì nó sẽ là con đường đưa đến thành Phật. Cho nên, trong tắc công án này, người già nhờ ngài Bách Trượng thay cho chuyển ngữ không mờ tối nhân quả mà phút chốc tiêu sạch cái mê mộng độc đoán ở quá khứ, rồi ngay ở câu nói đó mà đại ngộ, vứt bỏ được thân cáo đồng. Xưa nay, trong Thiền gia phần nhiều gọi những kẻ bác không có nhân quả mà lại tự cho mình là người thấu suốt nhân quả là dã hồ thiền (thiền cáo đồng) chính đã từ điển cố này. [X. Liên đăng hội yếu Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.3; Thiền tông vô môn quan Tắc 2].
Bách Trượng Hoài Hải
百 丈 懷 海; C: bǎizhàng huáihǎi; J: hyakujō e-kai; 720-814;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư danh tiếng nhất đời Ðường, nối pháp Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Học nhân đến Sư tham vấn rất đông, trong đó Hoàng Bá Hi Vận và Quy Sơn Linh Hựu là hai vị thượng thủ.|Sư là người đầu tiên trong Thiền tông lập và kết tập những quy luật hành động hằng ngày của thiền sinh trong một thiền đường. Trước đó tất cả những thiền sinh chỉ là »khách« trong những chùa của tông phái khác – thường là Luật viện (Luật tông) – với những nghi quỹ họ phải tuân theo. Từ lúc Sư lập ra quy luật mới, nhiều thiền đường được thành lập với những điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu của thiền sinh. Sư nhấn mạnh sự kết hợp giữa thiền và các việc lao động trong và ngoài thiền viện như làm ruộng, cuốc đất trồng cây. Câu nói của Sư »một ngày không làm, một ngày không ăn« (一 日 不 作 一 日 不 食; nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực) đã gây ấn tượng đến ngày nay. Theo quy luật mới, thiền sinh làm việc tự nuôi sống (các Tỉ-khâu thời Phật Thích-ca không được phép làm việc) nhưng song song với công việc hằng ngày, Sư vẫn giữ lại truyền thống đi khất thực và cho đó là một phương tiện tu luyện tâm. Những quy luật mới này được ghi lại trong Bách Trượng thanh quy. Mặc dù nguyên bản của quyển sách này đã mất nhưng các quy luật này vẫn còn được tuân hành nghiêm chỉnh cho đến ngày nay.|Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc Châu. Lúc nhỏ theo mẹ đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: »Ðây là gì?« Mẹ bảo: »Phật« Sư nói: »Hình dung không khác gì với người, con sau cũng sẽ làm Phật.« Sư xuất gia lúc còn để chỏm và chuyên cần tu học Giới, Ðịnh, Huệ. Sau, Sư đến tham học với Mã Tổ làm thị giả và được Mã Tổ truyền tâm ấn. Câu chuyện Mã Tổ mở mắt cho Sư rất thú vị: Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vòt trời bay qua, Tổ hỏi: »Ðó là cái gì?« Sư đáp: »Con vòt trời« Tổ hỏi: »Bay đi đâu?« Sư đáp: »Bay qua.« Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo: »Lại nói bay qua đi!« Nghe câu ấy, Sư tỉnh ngộ.|Sư để lại nhiều bài thuyết giảng quý báu trong Bách Trượng quảng lục và Bách Trượng ngữ lục. Trong đó Sư đề cao việc »lìa bỏ tất cả những vọng tưởng tức như như Phật« và khuyên thiền sinh tu tập pháp môn vô phân biệt, Bất nhị:|»Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả phúc đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mệnh sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh, ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phúc cầu trí, đều là ở trong sinh tử, đối với lí đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trong biển sinh tử.«|Có vị tăng hỏi: »Như nay Thụ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, lại làm đủ các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?« Sư đáp: »Ðược ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát.«|Tăng hỏi: »Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?« Sư đáp: »Chẳng cầu Phật, Pháp, Tăng, cho đến chẳng cầu phúc trí tri giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường sợ địa ngục, trói buộc cởi mở không ngại, tức thân tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát. Ngươi chớ có cho ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu biết môn giới định huệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy….|Cố gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ, tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không còn một nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Ðến khi ấy, muốn nghiêm chỉnh tay chân cũng không thể kiềm được, dù có phúc trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác đều thảy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, Lục đạo Ngũ uẩn cả đều hiện tiền. Trang sức, nhà cửa, ghe thuyền, xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tham ái của mình hiện ra, tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tuỳ tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thụ sinh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được…«|Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hoà năm thứ 9 ngày 17 tháng giêng (814), Sư quy tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí Thiền sư.
bách trượng hoài hải
Hyakujo Ekai (J),, Pai chang Huai hai (C), Hyakujo Ekai (J)Tên một vị sư.
; Pai-Chang-Huai-Hai—Bách Trượng Hoài Hải sanh năm 720 sau Tây Lịch. Ông là vị thiền sư đầu tiên thiết lập một cộng đồng tự viện ở Trung Quốc với những luật lệ quy củ rõ ràng và nhấn mạnh đến việc lao động chân tay trong nhà thiền bao gồm trong quyển Bách Trượng Thanh Quy. Ông tịch vào năm 814 sau Tây Lịch—He was born in 720 A.D. He was an outstanding Zen master, the first to establish the Zen community in China with precise rules and regulations and the emphasis on manual labor. He died in 814 A.D. - Một hôm sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua, Mã Tổ hỏi: “Đó là cái gì?” Sư thưa: “Vịt trời.” Mã Tổ hỏi: “Bay đi đâu?” Sư thưa: “Bay qua.” Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi của sư mà vặn mạnh một cái, đau quá sư la thất thanh. Mã Tổ bảo: “Lại nói bay qua đi.” Ngay câu ấy sư tỉnh ngộ. Trở về phòng thị giả. Sư khóc lóc thảm thiết, những người chung phòng nghe được bèn hỏi: Huynh nhớ cha mẹ phải không?” Sư đáp: “Không.” Bị người ta mắng chữi phải không? Sư đáp: “Không.” Vị sư hỏi: Vậy tại sao lại khóc?” Sư đáp: “Lỗ mũi tôi bị Hòa Thượng kéo đau thấu xương.” Vị thị giả kia lại hỏi: “Có nhơn duyên gì không khế hội?” Sư đáp: “Đi hỏi Hòa Thượng đi.” Vị thị giả ấy tới hỏi Hòa Thượng rằng: “Thị giả Hoài Hải có nhơn duyên gì chẳng khế hội, mà đang khóc ở trong phòng, xin Hòa Thượng vì chúng con mà nói.” Mã Tổ bảo: “Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.” Vị thị giả lại trở về phòng hỏi: “Hòa Thượng nói huynh đã hội, nên bào chúng tôi về hỏi huynh.” Sư bèn cười Hả! Hả! Các vị ấy bảo: “Vừa rồi khóc sao bây giờ lại cười.” Sư đáp: “Vừa rồi khóc bây giờ cười cũng vậy thôi.” Các vị ấy mờ mịt không hiểu gì cả. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, có thể có liên hệ nào không giữa các câu chuyện rữa chén của chú tiểu, thổi tắt ngọn đèn và vặn tréo lổ mũi trên? Ta phải nói như Vân Môn Văn Yển: “Nếu không có gì hết, thì làm sao những người ấy đạt được lý Thiền? Nếu có thì mối thân thuộc ra sao? Cái ngộ ấy là gì? Cái nhãn quan mới thấy là gì? Hễ sự quan sát của ta còn bị giới hạn trong những điều kiện của trước thời mở con mắt đạo, có lẽ ta không bao giờ thấy được đâu là chỗ rốt ráo kết thành. Đó toàn là việc diễn ra hằng ngày, và nếu khách quan Thiền nằm ở chỗ thường nhật ấy thì mỗi chúng ta đều là Thiền sư hết mà không biết. Điều nầy rất đúng bởi lẽ không có cái gì giả tạo được xây dựng trong đạo Thiền, nhưng phải có cái vặn mũi, có cây đèn bị thổi tắt, thì mắt chúng ta mới lột hết vảy cá, và ta mới chú ý đến bên trong, và hướng đến sự động dụng của tâm thức; và chính tại đó tiềm ẩn mối liên hệ mật thiết giữa sự thổi tắt đèn hay cái vặn mũi cũng như vô số những việc khác dệt thành tấm màn thế sự của loài người chúng ta—One day Pai-Zhang accompanied Ma-Tzu on a walk. A flock of wild ducks flew past them. Ma-Tzu said: “What's that?” Pai-Zhang said: “Wild ducks.” Ma-Tzu said: “Where'd they go?” Pai-Zhang said: “They flew away.” Ma-Tzu then twisted Pai-Zhang's nose so hard that he cried out. Ma-Tzu said: “So you say they've flown away!” Upon hearing these words, Pai-Zhang attained enlightenment. Returning to the attendant's room, Pai-Zhang cried out loudly. One of the other attendants asked Pai-Zhang: “Are you homesick?” Pai Zhang said: “No.” The attendant said: “Did someone curse at you?” Pai-Zhang said: “No.” The attendant said: “Then why are you crying?” Pai-Zhang said: “Master Ma twisted my nose so hard that the pain was unbearable.” The attendant said: “What di you do that offend him? Pai-Zhang said: “You go ask him.” The attendant went to Ma-Tzu and said: “What did the attendant Huai-Hai do to offend you? He is in his room crying. Please tell me.” The great teacher said: “He himself knows. Go ask him. The attendant returned to Pai-Zhang's hut and said again: “The master says that you already know, so I shouls come here and ask you.” Thereupon Pai-Zhang laughed out loud. The attendant said: “A moment ago you were crying, so why are you laughing now?” Pai-Zhang said: “My crying moment ago is the same as my laughing now.” The attendant was bewildered by Pai-Zhang's behavior. Is there any connection in any possible way between the washing of the dishes and the blowing out a candle and the twistinf of the nose? We must say with Yun-Men: “If there is none, how could they all come to the realization of the truth of Zen? If there is, what inner relationship is there? What is this enlightenment? What new point of viewing things is this? So long as our observation is limited to those conditions which preceded the opening of a disciple's eye we cannot perhaps fully comprehend where lies the ultimate issue. They are matters of everyday occurrence, and if Zen lies objectively among them, every one of us is a master before we are told of it. This is partly true inasmuch as there is nothing artificially constructed in Zen, but if the nose is to be really twisted or the candle blown out in order to take scale off the eye, our attention must be directed inwardly to the working of our minds, and it will be there where we are flying geese and the washed dishes and the blown-out candle and any other happenings that weave out infinitely variegated patterns of human life. - Hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong. Sư bước ra cuốn chiếu, Mã Tổ xuống tòa, sư theo sau đến phương trượng. Mã Tổ hỏi: “Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?” Sư thưa: Hôm qua bị Hòa Thượng kéo chót mũi đau.” Mã Tổ bảo: “Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào?” Sư nói: “Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.” Mã Tổ bảo: “Ngươi hiểu sâu việc hôm qua.” Sư làm lễ rồi lui ra—The next day Ma-Tzu went into the hall to address the monks just when the monks had finished assembling, bai-Zhang rolled up his siting mat. Ma-Tzu got down from his chair and Bai-Zhang followed him to the abot's room. Ma-Tzu said: “Just now I hadn't said a word. Why did you roll up your sitting mat?” Bai-Zhang said: “Yesterday the master painfully twisted my nose.” Ma-Tzu said: “Is there anything special about yesterday that you've noticed?” Bai-Zhang said: “Today, my nose doesn't hurt anymore.” Ma-Tzu said: “Then you really understand what happened yesterday.” Bai-Zhang then bow and went out. - Một hôm, sư thượng đường thuyết pháp. Nhưng sư chỉ bước tới vài bước, đứng yên, rồi mở rộng vòng tay ra, rồi trở về phương trượng. Sau đó đệ tử vào hỏi thì ngài trả lời: “Đó, đại nghĩa của pháp Phật chỉ là vậy.”—One day he entered the hall to preach the Buddha-Dharma. But he merely walked forward a few steps, stood still, and opened his arms, then returned to his room. His disciples came to ask for the reason, he said: “That's all of the great principle of Buddhism.” - Trong số những đại đệ tử của Bách Trượng có Hoàng Bá và Qui Sơn. Một hôm Bách Trượng bảo Tăng chúng: “Phật pháp không phải là việc nhỏ, lão Tăng xưa bị Mã Tổ nạt đến ba ngày lổ tai còn điếc.” Hoàng Bá nghe nói bất giác le lưỡi. Bách trượng bảo: “Con về sau nầy thừa kế Mã Tổ chăng?” Hoàng Bá thưa: “Không. Nay nhơn Hòa Thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đại cơ, đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừa kế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.” Bách Trượng bảo: “Đúng thế, đúng thế, thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cái thấy vượt hơn thầy.” Hoàng Bá liền lễ bái—Foremost among them Bai-Zhang's students were Huang-Bo and Kui-Shan. One day Bai-Zhang said to the congregation: “The Buddhadharma is not a trifling matter. Formerly great Master Ma-Tzu shouted so loudly that I was deaf for three days.” When Huang-Bo heard this, he stuck out his tongue. Bai-Zhang said to him: “In the future, will you carry on Ma-Tzu's Dharma?” Huang-Bo said: “There's no way I could do so. Today, because of what you've said, I've seen Ma-Tzu's great function, but I still haven't glimpsed Ma-Tzu. If I carry on Ma-Tzu's teaching by half, then our descendants will be cut off.” Bai-Zhang said: “Just so! Just so! The one who is his teacher's equal has diminished his teacher by half. Only a student who surpasses his teacher can transmit his teacher's teaching. So how does the student surpass the teacher?” Huang-Bo then bowed. - Mỗi ngày Bách Trượng thượng đường dạy chúng, có một ông già theo chúng nghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi, sư hỏi: “Ông là người gì?” Ông già thưa: “Con chẳng phải là người. Thời quá khứ thuở Đức Phật Ca Diếp, con làm Tăng ở núi nầy, nhơn học trò hỏi: “Người đại tu hành có còn rơi vào nhơn quả chăng?” Con đáp: “Không rơi vào nhơn quả.” Do đó đến năm trăm kiếp đọa làm thân chồn. Nay thỉnh Hòa Thượng chuyển một câu cho con thoát khỏi thân chồn. Bách Trượng bảo: “Ông hỏi đi.” Ông già hỏi: “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả hay không?” Bách Trượng đáp: “Người đại tu hành không lầm (không mê mờ) nhơn quả.” Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa: “Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa Thượng lấy lễ mà an táng như một vị Tăng. Sư vào trong kêu duy na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị Tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán “Đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại sao có việc nầy?” Sau khi cơm xong, sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như một vị Tăng—Every day when Zen master Bai-Zhang spoke in the hall, there was an old man who would attend along with the assembly. One day when the congregation had departed, the old man remained. Bai-Zhang asked him: “Who are you?” The old man said: “I'm not a person. Formerly, during the age of Kasyapa Buddha, I was the abbot of a monastery on this mountain. At that time a student asked me: “Does a great adept fall into cause and effect?” I answered: “A great adept does not fall into cause and effect.” Thereafter, for five hundred lifetimes I've been reborn in the body of a fox. Now I ask that the master say a turning phrase in my behalf, so that I can shed the fox's body. Bai-Zhang said: “Ask the question.” The old man said: “Does a great adept fall into cause and effect or not?” Bai-Zhang said: “A great adept is not blind to cause and effect.” Upon hearing these words, the old man experienced unsurpassed enlightenment. He then said: “Now I have shed the body of a fox. I lived behind the mountain. Please provide funeral services for a monk who has died.” Bai-Zhang then instructed the temple director to tell the monks to assemble after the next meal for funeral services. The monks were all mystified by this, because there was no one who was ill in the temple infirmary, so how could this be? After the meal, Bai-Zhang instructed the monks to assemble beneath a grotto behind the mountain. He then brought out the body of a dead fox on his staff, and proceeded to cremate it according to established ritual. - Thiền sư Bách Trượng thị tịch ngày mười bảy tháng giêng năm 814. Sau khi thị tịch sư được vua ban hiệu “Đại Trí Thiền Sư: và tháp hiệu “Đại Bảo Thắng Luân.”—The master died on the seventeenth day of the first month in 814. He received the posthumous title “Zen Master Great Wisdom.” His stupa was named “Great Treasure Victorious Wheel.”
; (百丈懷海) (720-814) Vị tăng đời Đường. Người huyện Trường Lạc, Phúc Châu, họ Vương (có thuyết cho là họ Hoàng). Từ nhỏ đã thích đến thăm các chùa viện, năm hai mươi tuổi theo ngài Tuệ Chiếu ở Tây Sơn xuất gia, sau theo luật sư Pháp Triêu ở Nam Nhạc thụ giới cụ túc, không lâu, đến Lư Giang (ở Tứ xuyên) đọc Đại tạng. Gặp được ngài Mã Tổ Đạo Nhất Hoằng pháp tại Nam Khang, đem tâm hướng theo và được Đạo Nhất ấn khả. Vì cùng với các sư Trí Tạng ở Tây Đường, Phổ Nguyện ở Nam Tuyền đều được trao truyền phép thiền, nên thời bấy giờ gọi là Tam đại sĩ. Sau ra làm chủ tại Tân Ngô (huyện Phụng tân tỉnh Giang Tây), núi Bách Trượng, tự lập ra Thiền viện, chế định thanh qui, suất chúng tu trì, thực hành sinh hoạt nông thiền (làm ruộng). Sư từng nói (Đại 48, 1119 trung); Một ngày không làm, một ngày không ăn. Năm nguyên hòa thứ 9, nhập tịch, thọ thế chín mươi lăm tuổi. Nhà vua ban thụy Đại Trí thiền sư, tháp hiệu Đại Bảo Thắng Luân. Môn hạ có Hi Vận ở Hoàng Bá, Linh Hựu ở Qui Sơn đứng đầu. Về sau, các vua đời Tống, Nguyên lại ban thụy hiệu Giác Chiếu Thiền Sư, Hoằng Tông Diệu Hành Thiền Sư. Ngoài ra, cứ theo Toàn đường văn quyển 446 Đường hồng châu Bách Trượng Sơn Cố Hoài Hải thiền sư tháp minh tinh tự chép, thì Thiền sư sinh vào năm Thiên Bảo thứ 8 (794) cho nên thọ sáu mươi sáu tuổi. Thanh qui do sư chế đính đời gọi là Bách Trượng thanh qui, không một tùng lâm nào trong thiên hạ mà không làm theo, là công tích vạch ra thời đại của lịch sử Thiền tông. Tống Nho phỏng theo nó mà sáng lập các thư viện, ba triều Nguyên, Minh, Thanh lại lấy thư viện làm Hương Học (trường làng) là nơi dưỡng sĩ (đào tạo kẻ sĩ), đều là ơn của sư. [X. Bách Trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương; Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6]. (xt. Hoài Hải).
bách trượng hoài hải thiền sư ngữ lục
(百丈懷海禪師語錄) Do Thiền sư Hoài Hải (720-814) đời Đường ở núi Bách trượng soạn. Cứ theo Toàn đường văn quyển 446, thì trong Đường Hồng Châu Bách Trượng Sơn Cố Hoài Hải thiền sư tháp minh tinh tự, do Trần Hủ soạn, có nói rằng, người biên tập Bách trượng ngữ lục là môn nhân Thần hành Phạm vân, nhưng Ngữ lục của Bách Trượng đã từng một phen bị thất lạc, đến đời Minh mới được biên tập lại và ấn hành, song không rõ tên họ người biên tập. Bản hiện nay được gọi dưới cái tên Ngữ lục, Quảng lục, thu vào Vạn tục tạng tập 119 (Tứ gia ngữ lục quyển 2, quyển 3) và tập 118 Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1, quyển 2. Nội dung đều là văn xuôi, Bách Trượng dẫn dụng các kinh Báo ân, Niết bàn, Ca diếp, Bảo tích, và những câu nói của Bảo Chí, Phó Hấp, Tăng Triệu, đồng thời, thuật bàn các thuyết trong các kinh Hoa nghiêm, Kim cương, Bát nhã, qua các thuyết ấy, ta có thể thấy một cách khái quát tư tưởng chung của Bách Trượng.
Bách Trượng Hoài Hải 百丈懷海
[ja] ヒャクジョウエカイ Hyakujō Ekai ||| Baizhang Huaihai (720-814); Chan master of the Tang. He was the disciple of Mazu Daoyi 馬祖道一 and teacher of Huangbo Xiyun 黄檗希運 and the early Korean Sŏn leader Toŭi 道義. He is famous for establishing an early set of rules for Chan monastic discipline called the 百丈清規. => (c: Baizhang Huaihai; 720-814). Thiền sư đời Đường, sư là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất (Mazu Daoyi 馬祖道一), là thầy của Hoàng Bá Hy Vận (c: Huangbo Xiyun 黄檗希運) và thầy của thượng thủ Thiền tông Cao Ly là Đạo Nghĩa (k: Toŭi 道義). Sư nổi tiếng trong việc sớm lập ra thanh quy cho thiền viện, gọi là Bách Trượng thanh quy百丈清規.
bách trượng hoài hải.
Pai chang Huai hai (C), Hyakujo Ekai (J). Name
bách trượng phật đồ
(百丈佛圖) Chỉ tòa tháp Phật cao khoảng một trăm trượng. Cứ theo Bắc sử tây vực truyện chép, thì về phía đông thành của nước Tiểu Nguyệt chi mười dặm, có một tòa tháp Phật, chu vi ba trăm năm mươi bước, cao tám mươi trượng, đây tức là Bách Trượng Phật Đồ. Phật Đồ là tên gọi khác của tháp, phần nhiều được kiến tạo bằng gạch, đá và gỗ, thường là nơi thờ phụng xá lợi của đức Phật. [X Huyền ứng âm nghĩa Q.7]. (xt. Tháp). BÁCH TRƯỢNG SƠN Núi nằm về phía tây bắc huyện Phụng Tân tỉnh Giang Tây, gần núi Động. Bằng vào nước từ trên chóp núi chảy xuống, có thể cao tới nghìn thước, vì thế gọi là Bách Trượng; do thế núi vượt hẳn các núi khác, cho nên còn gọi là núi Đại Hùng. Niên hiệu Hưng Nguyên năm đầu (784) đời Đường đức tông, Thiền sư Hoài Hải đến núi này cất am Hương Đạo (tức chùa Bách Trượng) mở rộng thiền phong, thời bấy giờ, có các bậc tài trí như Hi Vận ở Hoàng Bá, Linh Hựu ở Qui Sơn và Niết Bàn ở Bách Trượng vân tập về đây, rồi mở mang kiến thiết thêm các nhà pháp, nhà tăng, đồng thời, chiết trung luật điển Đại thừa, Tiểu thừa mà chế định Thiền lâm thanh qui (Bách trượng thanh qui). Từ đó mới có Thiền viện độc lập, hoàn chỉnh; vì trước đó, Thiền tăng phần nhiều ở trong các chùa Luật tông. Năm Nguyên Hòa thứ 9 (814) đời Hiến Tông, ngài Hoài Hải nhập tịch, môn nhân là Niết bàn thừa kế chức trú trì. Không bao lâu, vâng sắc lệnh của Đường Tuyên Tông, sư Niết Bàn xây dựng chùa Đại Trí Thánh Thiền, trở thành đạo tràng của Thiền tông. Từ đời Tống trở về sau, các Thiền tăng ưu tú xuất hiện đông đảo, như: Minh Chiếu An, Siêu, Đạo Hằng, Bảo Nguyệt, Nguyệt, Duy chính, Nguyên túc, Duy cổ và Tịnh ngộ v.v... nối nhau trú trì. Niên hiệu Chí Thuận năm đầu (1330) đời Nguyên Văn Tông, Đức Huy ở Đông Dương, trùng tu nhà Pháp, trên nhà đặt gác Thiên Hạ Sư Biểu (bậc thầy trong thiên hạ) để thờ tượng của sư Hoài Hải. Niên hiệu Chí Nguyên năm đầu (1335) đời Thuận Đế, Bách trượng thanh qui được biên tập lại và ban hành khắp các Thiền lâm trong toàn quốc, nhờ thanh qui đó mà núi Bách trượng lừng danh ở đời. Năm Chính Thống thứ 7 (1442) đời Minh Anh Tông, sa môn Trung Trí biên lại thanh qui. Khoảng năm Sùng Trinh (1628-1644), Thụy Bạch Minh tuyết trú trì, soạn một thiên Tịch Ngữ, một thiên Tịch Vọng Thuyết, bác bỏ thuyết Thông dung của Phí ẩn. Khoảng năm Thuận Trị (1644-1661) đời Thế Tổ nhà Thanh, Lâm Đạo Bái đến đây hoằng pháp. Những cổ tích hiện còn đến nay, có bia thiền sư Niết Bàn, mả người gỗ, mả chó vàng, núi cáo đồng, đá đại nghĩa và bốn chữ Thiên hạ sư biểu do Liễu Công Quyền viết trên một bia đá lớn. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, Q.9, Q.20, Q.25; Thích môn chính thống Q.3; Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2; Đại Minh nhất thống chí Q.49; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 136]. (xt. Bách Trượng Thanh Qui).
Bách Trượng Thanh Quy
(百丈清規): còn gọi là Bách Trượng Cổ Thanh Quy (百丈古清規), Bách Trượng Tùng Lâm Thanh Quy (百丈叢林清規), do Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) trước tác, là thư tịch ghi rõ những quy cũ trong Thiền lâm được quy định lần đầu tiên. Nguyên bản thì bị thất lạc trong khoang thời gian hai thời đại nhà Đường và Tống, nhưng chúng ta có thể biết được nội dung của nó như thế nào qua bản tựa của Dương Ức (楊億, 973-1020), và bản Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) của Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆). Hơn nữa, sau này còn có bản Thiền Môn Quy Thức (禪門規式) được thâu lục trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) 6. Bản Bách Trượng Cổ Thanh Quy hay cổ thanh quy này khác với Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) do Đông Dương Đức Huy (東陽德輝[煇], ?-?) nhà Nguyên tái biên theo sắc mệnh nhà vua.
bách trượng thanh quy
Baizhangqiunggui (C), Hyakujo Shingi (J),, Pai-chang Ch'ing-kuei (C),, Hyakujo Shingi (J)Tác phẩm viết về các qui cũ trong chùa thiền doĐức Huy biên soạn. Tên một vị sư.
; (百丈清規) Gồm hai quyển. Còn gọi là Sắc tu bách trượng thanh qui. Thu vào Đại chính tạng tập 48. Nguyên là bản Thanh qui (đời gọi là cổ thanh qui) do Thiền sư Bách trượng Hoài hải (720-814) soạn. Lúc Thiền tông mới hình thành, trong Thiền lâm vẫn chưa có chế độ, nghi thức, cho nên bản thanh qui này mới đặt ra các chế độ pháp đường, tăng đường, phương trượng v.v... lại qui định các chức vụ mà chúng tăng đảm trách là Đông Tự, Liêu Nguyên, Đường Chủ, Hóa Chủ... là những phép tắc tất yếu khi mà Thiền tông Trung Quốc thoát li các chùa Luật để duy trì những sinh hoạt Tăng đoàn độc lập vào khoảng thế kỉ VIII, IX Tây lịch. Nội dung sách này chia làm hai quyển thượng và hạ, gồm có chín chương. Quyển thượng có năm chương là Chúc li, Báo ân. Báo bản, Tôn tổ, và Trú trì. Quyển hạ có bốn chương là Lương tự, Đại chúng, Tiết lạp và Pháp khí. Trong đó, chương Chúc li ghi chép các lễ nghi như: Thánh tiết chúc tán (chúc mừng khen ngợi ngày sinh của vua), Cảnh mệnh nhật chúc tán (chúc mừng khen ngợi ngày vua lên ngôi), Tứ trai nhật chúc tán (chúc mừng khen ngợi vào các ngày 1, 15, 8, 23) và Đán vọng chúc tán (chúc tán vào các ngày 1, 15 mỗi tháng), các nghi lễ trên đây được cử hành tại Tạng điện, rồi mỗi nhật chúc tán (chúc mỗi ngày), Thiên thu tiết chúc tán, Thiện nguyệt chúc tán (chúc tán vào ba tháng ăn chay trường là tháng 1, 5 và 9 âm lịch), để cầu nguyện cho nhà vua sống lâu muôn tuổi, đây là các lễ nghi của giáo đoàn tôn giáo dưới sự Thống chế của quyền lực quốc gia. Chương Tôn tổ ghi chép các điển lễ vào những ngày kị (giỗ) của các tổ sư. Chương Đại chúng thu chép những phương pháp ngồi Thiền, các phép tắc sinh hoạt tu nghiệp trong thiền viện. Và những chi tiết khác được chế định trong Bách trượng thanh qui. Nguyên hình bản thanh qui do ngài Hoài Hải soạn đà thất lạc vào đời Tống, mãi đến niên hiệu Chí Nguyên năm đầu (1335) đời Thuận Đế nhà Nguyên, Đức Huy ở Đông Dương vâng mệnh Thuận Đế lấy các bản Thiền uyển thanh qui của Tông Trách, và Tùng lâm hiệu định thanh qui của Duy Miễn làm mẫu để biên tập lại thành bản thanh qui mới này, do Toàn Ngộ Đại Hân hiệu chính, tức là bản Sắc tu bách trượng thanh qui hai quyển hiện nay.
Bách Trượng Tùng Lâm Thanh Quy
(百丈叢林清規): xem Bách Trượng Thanh Quy(百丈清規) bên trên.
bách trượng độc toạ đại hùng phong
(百丈獨坐大雄峰) Tên công án trong Thiền tông. Là công án mà thiền sư Hoài Hải ở núi Bách Trượng đời Đường mượn việc ngồi một mình trên ngọn Đại Hùng để tỏ bày cái yếu chỉ của tông môn. Còn gọi là Bách Trượng độc tọa, Bách Trượng Đại Hùng Phong, Bách Trượng Kì Đặc Sự. Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 44 hạ) nói: Tăng hỏi: việc kì đặc là thế nào? Sư đáp: Ngồi một mình trên ngọn Đại hùng! Vị tăng lễ lạy, sư liền đánh. Độc tọa, có ý là đứng một mình trong vũ trụ, cho đến trên trời dưới trời, chỉ có ta độc tôn. Đại hùng phong, là tên gọi khác của núi Bách Trượng ở Giang Tây. Vì ngài Hoài Hải đến núi này để hoằng dương Thiền Phong nên đời gọi là Bách Trượng Hoài Hải. Độc tọa đại hùng phong, đại khái có nghĩa là ngài Bách Trượng đã nhiều năm ngồi thiền trên ngọn núi Đại Hùng, đã là sự tu hành tối thượng, đứng một mình trong vũ trụ, nhưng cũng lại là một việc bình thường, chẳng có gì kì lạ, phàm sự sinh hoạt của Thiền giả, như đi đứng ngồi nằm nói im động tĩnh, đều là thiền lí thiền hành cả. Vì thế Bách Trượng đặc biệt lấy câu Ngồi một mình trên ngọn Đại Hùng để trả lời câu hỏi Việc kì đặc là thế nào, là pháp cơ linh hoạt, thu vào phóng ra một cách tự như tự tại, quét sạch mọi dấu vết. Vị tăng nghe xong, sụp lạy, là biểu thị việc khéo dùng cơ đầu cơ, lấy ý khiển ý, toàn nhiên lãnh hội cơ pháp của Bách Trượng, cho nên ngài Phật quả Viên Ngộ đã khen (Đại 48, 167) rằng: Vị tăng này lễ lạy khác với tăng tầm thường, phải có con mắt toàn triệt mới được. (...) Vị tăng này lễ lạy cũng giống như vuốt râu hùm (cọp), chỉ giành chỗ xoay mình. Tuy nhiên, lại bị cái đánh của Bách Trượng, là vì Bách Trượng biết vị tăng ấy đã lãnh hội rồi, nhưng vẫn lễ lạy để muốn cầu một việc cao hơn nữa, nên dùng cây gậy để cảnh giác rằng, ngoài việc lãnh hội ra, còn phải gắng sức tu hành thực tiễn nữa.
Bách Trượng 百丈
[ja] ヒャクジョウ Hyakujō ||| See 百丈懷海. => (j: Hyakujō) Xem Bách Trượng Hoài Hải 百丈懷海.
bách tánh
Bá tánh—The people.
bách tâm thành phật
(百心成佛) Tức là mười tâm của Thập địa cuối cùng trong các giai vị tu hành, nếu thành tựu được một trăm tâm này thì có thể đạt đến cảnh địa Phật. Theo thứ tự tu hành, giai vị cuối cùng là mười địa, trong mỗi một địa đều chia làm mười tâm, hành giả sơ tâm vào mỗi địa đến tâm thứ tư, tức là đã đạt đến cảnh giới năm thần thông, từ tâm thứ năm đến tâm thứ tám, thì tiến vào cảnh giới Nhị thừa, đến tâm thứ chín thì tu hành đạo Bồ tát, cuối cùng, đến tâm thứ mười tức thành Phật đạo. Vì mỗi địa trong mười địa đều chia làm mười tâm, cho nên gọi là trăm tâm thành Phật (bách tâm thành Phật). [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].
Bách Tế
(百濟, Kudara): tên 1 trong 3 vương quốc của Triều Tiên ngày xưa, đã chiếm lĩnh vùng Tây Nam bộ bán đảo Triều Tiên. Khoảng giữa thế kỷ thứ 4, nước này đã khuyếch đại thế lực của mình từ nước Mã Hàn (馬韓), rồi năm 371 thì đóng đô ở Hán Sơn Thành (漢山城), sau đó lại dời đô về Tứ Tỷ Thành, tức Trung Thanh Nam Đạo Phù Dư (忠清南道扶余) ngày nay. Người ta cho rằng dòng họ nhà vua nước này là thuộc tộc Phù Dư (扶余) di dân từ vùng đông bắc Trung Quốc sang. Để đối kháng với hai nước Cao Cú Lệ (高句麗) và Tân La (新羅), nước này đã kết thân với vương triều Oa (倭) của Nhật, và chính vương triều này đã truyền bá Nho Giáo cũng như Phật Giáo vào Nhật.
bách tế quan âm
(百濟觀音) Chỉ pho tượng Quan Âm đứng ở thời đại Phi Điểu trong điện Đại Bảo Tạng chùa Pháp Long ở Nhật Bản. Phong cách tạo tượng khác với tượng Phật của phái Chỉ Lợi, thân hình của tượng rất mỏng và thon dài, mấy lọn tóc xõa xuống hai bờ vai trông như những gợn sóng, hình tượng tả thực, thiên y từ hai cổ tay rủ xuống, nếu nhìn ngay chính diện thì không thấy biến hóa, nhưng, nếu nhìn ở hai bên thì thấy như sắp cử động. Mình cao hai mét hai mươi phân, nhìn những đường nét tròn trịa tươi tắn, người ta có thể suy đó là sự mô phỏng kiểu tượng lưu truyền tại miền nam Trung Quốc.
bách tụng thi tập
(百頌詩集) Phạm:Zataka. Còn gọi là Bách thi chương. Trong văn học tiếng Phạm, Bách tụng thi tập không chỉ cho một tác phẩm đặc định nào, mà nó chỉ là tập thơ của các cá nhân gồm khoảng một trăm bài thơ. Trong đó, nổi tiếng nhất có các bài Luyến ái bách tụng (Phạm:Zfígàra-zataka, trăm lần ca tụng sự luyến ái), của Phạt Trí Ha Lợi (Phạm:Bhartfhari) ở khoảng thế kỉ VII Tây lịch. Xử thế bách tụng (Phạm: Nìtizataka, trăm lần ca tụng sự cư xử ở đời), Li dục bách tụng (Phạm: Vairàgya zataka, trăm lần ca tụng sự lìa dục). Tuy nhiên, trong tập thơ cũng có lẫn các bài của một số ít người khác. Luyến ái bách tụng tuy ca tụng mãnh lực của tình yêu và nữ tính, nhưng hàm ý khuyên người ta dứt bỏ phiền não mà tìm cầu giải thoát. Xử thế bách tụng, Li dục bách tụng thì thuật bàn về ý chỉ của đạo đức thực tiễn, về nhân sinh quan và về tư tưởng triết học đề cao sự thoát li phiền não, tìm cầu lí tưởng tối cao. [X. D. D. Kosambi: The Epigrams attributed to Bhartfhari, including the three centuries, Bombay 1948, do. Zataka-trayam of Bhartfhari, Bombay, 1946].
Bách tứ phiền não 百四煩惱
[ja] ヒャクシボンノウ hyakushi bonnō ||| 104 defilements taught in Consciousness-only theory 94 of which are severed during the stage of the path of seeing 見道, and ten of which are severed during the stage of the path of cultivation 修道. 〔二障義HPC 1.799a〕 => 104 phiền não được trình bày trong giáo lý Duy thức, gồm 94 phiền não trong giai vị kiến đạo見道 và 10 trong giai vị tu đạo修道.
bách tứ thập bát bất cộng pháp
Một trăm bốn mươi tám pháp bất cộng của Đức Phật (gồm 32 tướng, 80 chủng hảo hay vẻ đẹp phụ, 4 tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 niệm xứ, 3 bất hộ, Đại Bi, thường bất vong, đoạn phiền não tập, và 4 nhất thiết hạnh tịnh)—One hundred forty special, or uncommon, characteristics of a Buddha.
bách tứ thập bất cộng pháp
The 140 special, or uncommon characteristics of a Buddha
bách tức bách sinh
Một trăm vị niệm Phật là trăm vị được cứu độ—Of one hundred who call on the Buddha, 100 will be saved.
Bách Tử, Bá Tử
(柏子): tức Bá Tử Hương (柏子香), tên một loại hương. Như trong Tú Nhu Ký (繡襦記), bài Trúc Lâm Kỳ Từ (竹林祈嗣), của Từ Lâm (徐霖, 1462-1538) nhà Minh có đoạn: “Thụy thảo mãn dao giai, bạch hạc phi lai, hương phần bá tử bích vân khai (瑞草滿瑤階、白鶴飛來、香焚柏子碧雲開, cỏ lành đầy thềm ngọc, hạc trắng về đây, đốt hương Bá Tử mây xanh bày).” Hay trong bài thơ Túc Giới Đường Phật Từ (宿芥塘佛祠) của Hạ Chú (賀鑄, 1052-1125) nhà Tống cũng có đoạn: “Khai môn vị tảo mai hoa vũ, đãi vãn tiên thiêu Bá Tử hương (開門未掃梅花雨、待晚先燒柏子香, mở cửa mưa hoa mai chưa quét, đợi tối mới xông Bá Tử hương).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) lại có câu: “Lô thiêu Bá Tử đoan nhiên tọa, đối nguyệt tàn kinh hựu triển khai (爐燒柏子端然坐、對月殘經又展開, lò xông Bá Tử an nhiên tọa, trăng dưới hết kinh lại mở xem).”
bách tự chân ngôn
(百字真言) Tức là bài chú gồm một trăm chữ được trì tụng trong Kim cương giới Mật giáo. Nội dung bao quát bản tôn gia hộ thân tâm hành giả được bền chắc và mau chóng thành tựu tất cả điều mong cầu. Cũng gọi là Bách tự minh, Bách tự mật ngữ. Trong năm bộ thuộc Kim cương giới là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ, Bảo bộ và Yết ma bộ đều có Bách tự chân ngôn, gọi chung là Ngũ bộ bách tự chân ngôn. Phàm khi tu đại pháp Kim cương giới, trước khi niệm tụng chính thức, phải tụng Ngũ bộ bách tự chân ngôn chung, hoặc tụng Bách tự chân ngôn của riêng bộ mình tu, rồi mới tụng Căn bản chân ngôn của bộ mình tu. Hoặc cũng có người bảo chỉ có Kim cương bộ trì tụng Bách tự chân ngôn và căn bản chân ngôn. Nhưng cứ theo Bất động sứ giả niệm tụng pháp và kinh Để lí tam muội da (bản ba quyển) chép, thì bài chú này chỉ có bảy mươi lăm chữ. [X. Lược xuất kinh Q.2, Liên hoa bộ tâm quĩ].
bách tự luận
Śatāksara-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Satàksara-sàstra (S)
Bách tự luận 百字論
[ja] ヒャクジロン Hyakujiron ||| The Akṣaraśataka, in Chinese Baizi lun. A single fascicle work by Āryadeva 提婆, translated by Bodhiruci 菩提流支, T 1572 and KT 0631. This text contains a refutation of the mistaken view of the existence of a self, and criticizes theories of non-Buddhist schools such as Sāṃkhya 數論 and Vaiśeṣika 勝論. An abridgment of the Bailun 百論. => (s: Akṣaraśataka; c: Baizi lun). Tác phẩm gồm 1 quyển của Đề-bà (Āryadeva 提婆), do Bồ-đề Lưu-chi (Bodhiruci 菩提流支) dịch. Luận nầy bác bỏ quan niệm sai lầm về sự hiện hữu của bản ngã, và phê phán các học thuyết của ngoại đạo như phái Số luận (Vaiśeṣika 勝論) và Thắng luận (Sāṃkhya 數論).
bách vạn biến
Niệm hồng danh A Di Đà Phật một triệu lần, không ngừng nghỉ trong bảy ngày để được vãng sanh Cực Lạc—To repeat Amitabha's name a million times (to ensure rebirth in Amitabha's paradise; for a seven days' unbroken repetition Paradise may be gained).
bách vạn biến niệm phật
(百萬遍念佛) Có nghĩa là niệm danh hiệu Phật một trăm vạn lần. Tức niệm tụng danh hiệu Phật A Di Đà một trăm vạn lần. Nói tắt là bách vạn biến. Cứ theo kinh Mộc hoạn tử chép thì nếu xưng niệm danh hiệu Tam Bảo Phật, Pháp Tăng đủ một trăm vạn biến thì dứt trừ được một trăm linh tám kết nghiệp mà hướng tới Niết bàn. Cứ theo luận Tịnh độ quyển hạ của Ca Tài chép, thì ngài Đạo Xước đời Đường đã theo kinh Mộc hoạn tử và kinh Di Đà nói mà tu bảy ngày niệm Phật, nghĩa là, trong bảy ngày, niệm Phật trăm vạn lần, thì quyết định được vãng sinh trong nước Cực lạc của Phật A Di Đà. Tại Nhật Bản, có chùa Tri Ân ở Kinh Đô, thuộc tông Tịnh Độ, tăng chúng và tín đồ tập họp lại vừa niệm danh hiệu Phật, vừa đếm hột tràng hạt, đếm đủ một trăm tràng. Thiện a, người kế thừa đời thứ 8 của chùa Tri ân, để chữa trị bệnh dịch, đã trong bảy ngày niệm Phật trăm vạn biến mà có hiệu nghiệm. Sau Thiên hoàng Đề hồ ban hiệu chùa là Bách vạn biến và ban một chuỗi tràng lớn gồm một nghìn linh tám mươi hột. Từ đó về sau, cứ mỗi khi gặp tai ách, lại tu hành niệm Phật trăm vạn biến, bèn trở thành định lệ. Vì thế, Bách vạn biến cũng là tên gọi khác của chùa Tri ân.
bách vạn tháp
(百萬塔) Tức là một trăm vạn ngôi tháp nhỏ, trong có để Mật tạng đà la ni, đặt thờ trong mười ngôi chùa lớn tại Nhật Bản. Cứ theo Tục Nhật Bản kỉ quyển 30 chép, thì năm Thiên bình bảo tự thứ 8 (764), sau khi dẹp tan cuộc nổi loạn của Huệ Mỹ, để trấn giữ đất nước và sám hối diệt tội, Thiên Hoàng Hiếu Đà La Ni Căn Bản trong Bách Vạn Pháp khiêm, theo lời dạy trong kinh Vô cấu thanh tịnh quang đà la ni, làm một trăm vạn ngôi tháp nhỏ ba tầng bằng gỗ, cao bốn tấc năm phân, đường kính nền tháp ba tấc năm phân, trong để các Đà la ni căn bản, Tự tâm ấn, Tướng luân và lục độ. Tháng 4 năm Bảo qui Nguyên niên (770), hoàn thành toàn bộ, số tháp được chia cho mười chùa lớn (bảy chùa lớn ở Nam Đô, chùa Tứ Thiên vương ở Nhiếp tân, chùa Sùng Phúc ở Cận Giang, và chùa Hoằng Phúc ở Đại Hòa), các chùa liền kiến thiết nhà viện để đặt tháp, gọi là Tiểu Tháp Viện, hoặc gọi là Vạn Tháp Viện. Trong đó, hiện nay, ở chùa Pháp Long còn khoảng bốn vạn tòa tháp. Phần thân của các tháp làm bằng gỗ cây cối (cũng là một loại tùng), cao độ hai mươi ba phân tây (một số ít hình lớn thì cao bốn mươi lăm phân tây). Đem tháo bộ phận tướng luân xuống thì thân tháp rỗng, trong đó có để những Đà la ni nói trong kinh Vô cấu thanh tịnh quang đà la ni, in trên giấy thô vàng (có số ít viết tay), dài từ khoảng sáu đến bảy phân tây, rộng khoảng bốn mươi bảy đến sáu mươi phân tây. Cứ theo chỗ suy đoán thì những đà la ni này có thể đã được in trên các bản đồng, là những ấn loát phẩm sớm nhất của Nhật Bản, hoặc cũng có người bảo đây là một trong những vật ấn loát xưa nhất thế giới mà nay hiện còn. [X. Đông đại tự yếu lục Q.1, Q.4; Nguyên hanh thích thư Q.23; Quốc bảo mục lục; Bách vạn tiểu tháp tứ khảo]. (xt. Tháp).
bách vị
All the good tastes or flavours.
bách vị ẩm thực
(百味飲食) Phạm:zata-rasa-bhojana. Chỉ các thức ăn uống thơm ngon. Còn gọi là Bách vị thượng diệu ẩm thực, Bách vị tịnh thực, Bách vị phạn thực. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng chép, thì ở cõi Tịnh độ cực lạc tự nhiên đầy dẫy những thức ăn uống trăm mùi thơm ngon. Về trăm mùi vị, có nhiều thuyết phân vân. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 93 chép, thì Bồ tát dâng trăm vị cúng dường chư Phật và Tăng, về trăm vị ở đây, có thuyết cho là dâng trăm thứ canh cúng dường, gọi là trăm vị; có thuyết bảo bánh có năm trăm thứ, vị của nó có một trăm, gọi là trăm vị; có thuyết nói dùng trăm thứ cây thuốc quả thuốc, chế thành các viên thuốc hoan hỉ, gọi là trăm vị; có thuyết cho rằng các thức ăn uống canh bánh cộng có một trăm vị, gọi là trăm vị; lại có thuyết nói đầy đủ các thức ăn uống, gọi là trăm vị. Còn cứ theo Vu lan bồn kinh sớ quyển hạ của Tông mật nói, thì trăm ở đây không phải con số thực, mà chỉ là nói nhiều số mục một cách khái quát mà thôi. Lại cứ theo luận Đại trí độ cùng quyển ở trên chép, thì các thức ăn uống trăm vị chủ yếu là chỉ thức ăn uống của loài người, thức ăn uống của loài trời có trăm nghìn thứ mùi vị, còn thức ăn uống của Bồ tát là do quả báo phúc đức sinh ra, thức ăn uống do sức thần thông biến hóa, thì có vô lượng mùi vị. Ngoài ra, cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo chép, thức ăn uống trăm vị là chỉ sự nghe Bách pháp minh môn, Vô lượng pháp môn, lấy niềm vui pháp (Pháp hỉ) làm thức ăn. [X. Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; kinh Đạo hành bát nhã Q.4; kinh Đại bát nhã Q.394; kinh Soạn tập bách duyên Q.8; kinh Vu lan bồn; kinh Phạm võng Q.hạ; Quán kinh tự phần nghĩa; Tổ đình sự uyển Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.3; Q.5, Q.42].
bách đại kiếp
(百大劫) Là thời hạn tu hành của Bồ tát. Nói tắt là Bách kiếp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 178, luận Đại trí độ quyển 4, quyển 27 chép, thì Bồ tát trong ba A tăng kì kiếp (nói tắt là tam kì) tu sáu độ muôn hạnh, sau đó khoảng trăm kiếp thì tu hành ngôi vị Đẳng giác, đồng thời, trong kì gian này, gieo hạt giống nghiệp tướng hảo. Nhưng, luận Du già sư địa quyển 48, luận Nhiếp đại thừa quyển hạ, thì chỉ nói ba kì, chứ không lập riêng thuyết trăm kiếp. Vì thế, các ngài Trí khải, Pháp tạng cho rằng, Thuyết tam kì bách kiếp là do các nhà Tiểu thừa lập ra. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.1; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Câu xá Q.18; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung]. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp).
Bái
唄; C: bài; J: bai; |Bài kinh tán thán đức hạnh chư Phật; tán tụng các bài kệ.
bái
1) Bái biệt: To say good-bye. 2) Lạy: To bow—To pay homage to—To pay respect with the hands.
; (唄) Phạm:pàỉha. Còn gọi là Bái nặc, Bà trắc, Bà sư. Dịch ý là khen ngợi, ngưng chỉ. Dùng âm vận dài ngắn trầm bổng ngâm vịnh hợp với khúc hát, là pháp nhạc của cõi Phạm, cho nên gọi là Phạm bái. Tức phúng tụng kinh văn với giọng trầm bổng có khúc điệu. Bắt đầu làm pháp sự, bên ngoài dứt hết các duyên, bên trong ngưng chỉ vọng niệm mới có thể làm được pháp sự. Lại phần nhiều các kệ tụng là khen ngợi các đức của Phật, vì thế gọi là Bái tán. Thời đức Phật còn tại thế, người nào tốt tiếng, bái tán các bài kệ hay, thì gọi là Bái tỉ khưu hoặc Linh thanh ......(như tiếng chuông) tỉ khưu. Phật giáo mới truyền vào Trung Quốc, người Hán chưa biết tán tụng có âm điệu, cứ theo truyền thuyết, đến đời Ngụy, Trần tư vương Tào thực, nhân đến du ngoạn Ngư Sơn, nghe trong không trung vang khúc Phạm thiên, thâm cảm thần lí, mới bắt chước âm thanh tiết điệu ấy mà làm ra khúc hát rồi phổ nhạc, về sau lưu truyền rất rộng [X. Pháp hoa huyền tán Q.4 phần cuối; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 4; Chư kinh yếu tập Q.4 Bái tán thiên; Huyền ứng âm nghĩa Q.6]. (xt. Phạm Bái).
bái chào
To salute.
bái cụ
(拜具) Chỉ các phẩm vật hoặc tiền tài mà hàng tăng lữ trao tặng cho nhau. Phần nhiều dùng vào các giờ lễ thỉnh, lễ tạ và thăm hỏi. Cái nghi lễ trình bạch bái cụ rất là trịnh trọng. [X. Hành trì quĩ phạm Q.2].
bái hỏa giáo
Parsis (S).
bái khí
(唄器) Các pháp khí được dùng trong việc phúng tụng trong Pháp hội, như gậy tích, chuông, khánh, trống... gọi chung là Bái khí.
bái kiến
To pay a visit to a superior.
bái nghênh
To welcome respectfully.
bái phật
To worship the Buddha—To pay homage to the Buddha's image.
bái sám
(拜懺) Còn gọi là Lễ sám. Tụng kinh lễ Phật, vì mình hoặc thay cho người mà sám hối, gọi là Bái sám. Bắt đầu từ Vũ đế nhà Lương đời Nam triều, tức như bộ Lương hoàng sám còn truyền đến nay.
bái sĩ
(唄士) Còn gọi là Bái sư. Người bái tán, xướng Phạm bái hay, hoặc trong Pháp hội, xướng Như lai bái, Vân hà bái v.v...
bái sư
To greet the new teacher respectfully.
bái thần giáo
(拜神教) Đối lại với Bái vật giáo. Là tôn giáo lấy thần linh làm đối tượng sùng bái. Bắt đầu từ hậu kì của xã hội nguyên thủy. Tùy năng lực trừu tượng của nhân loại, và do các vật kiện cá biệt được tổng hợp, năng lực trừu tượng tăng trưởng, các vật kiện được phân biệt minh xác mà dần dần sản sinh quan niệm thần linh. Cái đối tượng mà nhân loại sùng bái là do vật kiện tự thân chuyển làm vật kiện chủ tể, hoặc làm tinh thần thể của một vật kiện nào đó, tức là thần linh. Các tôn giáo của xã hội văn minh, trên cơ bản, phần nhiều thuộc Bái thần giáo, bao gồm Đa thần giáo, Nhị nguyên thần giáo, Nhất thần giáo v.v...
bái tỉ khâu
(唄比丘) Còn gọi là Linh thanh (tiếng chuông) tỉ khưu, Xú lậu (quê mùa xấu xí) tỉ khưu, Diệu thanh (tiếng hay) tôn giả. Thời đức Phật còn tại thế, có một vị tỉ khưu bái tán rất khéo, hình tướng cực xấu xí, nhưng giọng tiếng lại tuyệt hay, tiếng ngâm vịnh Phạm bái có thể cảm động đến cả người và vật, vì thế gọi là Bái tỉ khưu. Ở đời quá khứ, đã từng cúng dường chuông đồng ở nơi tháp Phật mà nay được quả báo tiếng tốt, cho nên gọi là Linh thanh tỉ khưu. [X. kinh Hiền ngu Q.11 phẩm Vô não chỉ man; Tì nại da tạp sự Q.4].
bái tịch
(拜席) I. Bái tịch. Chỉ cái tòa ngồi để lễ bái tụng niệm. Tức chỗ vị trí lễ Phật tụng kinh. II. Bái tịch. Tức cái chiếu trải ra khi lễ Phật. Thiền uyển thanh qui quyển 1 Nhập thất (Vạn tục 111, 442 thượng) nói: Đến giờ nhập thất, thị giả báo các hành giả sửa soạn hương đèn và trải chiếu lễ. (Thiết bái tịch).
bái từ
To leave respectfully.
bái vật giáo
(拜物教) Là tôn giáo của người nguyên thủy sùng bái những vật thể đặc định nào đó mà họ coi như những vật sống động có đủ ý chí và năng lực, khi quan niệm về thần linh chưa được xác định rõ ràng. Đối tượng mà họ sùng bái được gọi là vật thần, có thể là vật tự nhiên, mà cũng có thể là vật nhân tạo (như những công cụ, vũ khí v.v...), Trong các xã hội văn minh ngày nay, sự tin tưởng đối với bùa hộ mệnh, lòng sùng kính đối với di cốt của các bậc Thánh nhân, cũng có thể được xem là các dấu tích của quan niệm bái vật giáo còn sót lại.
bái yết
To visit respectfully.
bái ân
To thank for.
bái đáp
To answer respectfully.
Bái 拜
[ja] ハイ hai ||| (1) Worship, adore, pray to. Bow, kneel to; show reverence. (2) To seek for, ask for. => Tôn kính, tôn sùng, cầu nguyện. Cúi chào, quỳ lạy; tỏ lóng kính ngưỡng. Cầu khẩn, cầu thỉnh.
bám víu
Attachment Grasping, clinging.
; Clinging—To cling to
bám víu vào cuộc sống
Cling to our life
bám víu vào thân xác
Cling to our body—To hold to
bán
Pan (skt)—Pun (skt)—Half.
bán ca
Panthaka (skt)—Bàn Đà Già—Bàn Đặc—Người được sanh ra bên vệ đường, một trong những đại đệ tử của Phật—One who was born on the road, one of the great disciples of Sakyamuni Buddha.
bán chi ca
Xem Mật Chủ.
; (半支迦) Phạm: Pàĩcika. Còn gọi là Bán chỉ ca, Bán chỉ ca đại tướng, Ban chỉ kha, Tán chi, Tán chi ca, Ban xà ca, Đức xoa ca. Là quyến thuộc của Tì sa môn thiên trong Mật giáo, đứng hàng thứ ba trong tám đại Dược Xoa tướng, là chồng của Quỉ tử mẫu. Cứ theo kinh Ha lí để mẫu chép, thì Quỉ tử mẫu tên là Hoan hỉ, duyên dáng xinh đẹp, có năm nghìn họ hàng, thường ở nước Chi na hộ trì thế giới, là con gái của Sa đa đại Dược xoa tướng. Về sau làm vợ đại Dược xoa tướng Bán chi ca, sinh được năm trăm người con. Lại kinh Tạp bảo tạng quyển 9 (Đại 4, 492 thượng), nói: Quỉ tử mẫu là vợ của quỉ thần vương già Ban xà ca. [X. Đại Dược xoa nữ hoan hỉ mẫu tinh ái tử thành tựu pháp; kinh Khổng tước vương Q.hạ; Tì nại da tạp sự Q.31].
bán chung
(半鍾) Tức là quả chuông nhỏ, là một trong sáu vật trong Phật đường, hình dáng chỉ bằng nửa quả chuông lớn. Còn gọi là Hoán chung (chuông báo hiệu), Phạm chung (chuông báo giờ ăn cơm), Hành sự chung (chuông báo giờ làm việc). Thông thường cao khoảng hai thước (Tàu) hoặc hai thước trở xuống, phần nhiều treo ở nhà Tăng, nhà giảng, trong hành lang, để đánh thức chúng tăng, báo hiệu ăn cơm v.v... Lại treo trên điện Phật thì gọi là điện chung, treo ở nhà Tăng thì gọi là Tăng đường chung. Trong Thiền tông, khi vào nhà Tăng, đánh bảy tiếng chuông ở nhà Tăng, báo hiệu giờ thụ trai, thôi ngồi thiền (phóng tham), giờ uống trà v.v... thì đánh ba tiếng. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Pháp khí chương; Khảo tín lục Q.1; Trì bảo thông lãm Q.trung Bán chung điều].
Bán chẩm
(半枕): nằm nữa gối, tựa bên gối. Như trong Tây Du Ký (西遊記) có câu: “Bán chẩm tùng phong trà vị thục, ngâm hoài tiêu sái mãn khang xuân (半枕松風茶未熟、吟懷瀟灑滿腔春, nữa gối gió tùng trà chửa nóng, ngâm buồn thấm đượm khắp trời xuân).” Hay trong bài Tây Sơn Sảng Khí (西山爽氣) của (謝泰定, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Bích thiên mông vũ trạc thu không, nhất Táo trà yên bán chẩm phong (碧天蒙雨濯秋空、一灶茶煙半枕風, trời xanh mưa đỗ tưới sắc thu, ông Táo khói trà tựa gối mơ).”
bán chế đại nhiếp tâm
(半制大攝心) Là qui tắc trong Tùng lâm tại Nhật Bản. Hàng năm, mùa hạ, từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7, là An cư mùa mưa; mùa đông, từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 1 năm sau, là An cư mùa tuyết. Các tông Lâm tế, Tào động tại Nhật Bản, đặc biệt ở khoảng thời gian giữa an cư mùa mưa và an cư mùa tuyết, tức là khoảng thời gian đã chấm dứt mùa mưa, nhưng chưa đến mùa tuyết, hoặc đã chấm dứt mùa tuyết mà mùa mưa chưa bắt đầu, cứ lấy khoảng đó làm một kỳ, cử hành hội ngồi Thiền Tiếp tâm, để chúng tăng thu nhiếp tâm, khiến thâm tâm đạt đến trạng thái ngưng lặng. Vì an cư mùa mưa cũng gọi là Bán hạ đại tiếp tâm, nên qui chế này cũng gọi là Bán chế đại nhiếp tâm. (xt. An Cư, Tiếp Tâm).
bán chỉ ca
Pancika (skt)—Dạ Xoa thứ ba trong Bát Đại Dạ Xoa, là chồng của Quỷ Tử Mẫu—The third of the eight great yaksas, husband of Hariti.
bán chỉ ca đại tướng
Xem Bán chi ca.
bán chỉ la
Pāṇika (S)Cưu Lan Đơn Trà Bán Chỉ LaVị thần đứng trong hàng 8 vị dược xoa đại tướng.
bán cá thánh nhân
(半個聖人) Bán cá (nửa cái), thí dụ số ít, hiếm có. Bán cá Thánh nhân, hàm ý là một nửa bậc Thánh thôi. Trong Thiền lâm, thí dụ bậc có đầy đủ uy đức lớn thì rất hiếm có. Tổ đường tập quyển 14 Thạch củng tuệ tạng chương, chép: Sư liền bỏ cung tên xuống, nói: Ở đây đã ba mươi năm, hôm nay mới bắn được một nửa Thánh nhân. [X. Minh giác thiền sư ngữ lục Q.2 Minh giác Thiền sư hậu lục].
bán già la
Xem Ngũ thần thông.
bán già la đại tướng
Xem Bán chi ca.
; (半遮羅大將) Bán già la, Phạm:Pàĩcàla. Còn gọi là Ban già la đại tướng, Mật nghiêm đại tướng, Giáo lệnh sứ, Ban già la chiên đà (Phạm: Pàĩcàla-caịđa, dịch ý là Ngũ khả úy: năm chỗ đáng sợ), Ban già la kiện đồ (Pàĩcàlagaịđa, dịch ý là Ngũ xứ). Là một trong tám đại Dược xoa tướng, quyến thuộc của Tì sa môn Thiên trong Mật giáo. Cứ theo mạn đồ la do A xà lê truyền chép, thì vị tôn này là vị thứ sáu bày ở phía đông Tì sa môn thiên vương, là vua nước Bán già la, ở Bán già la ngôn nô, nước Đạt di nô. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.hạ; kinh Đại Khổng tước vương chú Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.15].
Bán già phu toạ
半跏趺坐; J: hanka-fusa;|Kiểu ngồi »nửa phần kết già«, chỉ một chân được gác qua bắp vế của chân khác. Bán già phu toạ là thế ngồi thiền dành cho những người không thể ngồi kết già (Kết già phu toạ) lâu được, mặc dù thế ngồi này không cân bằng, vững chắc như thế kết già. Bán già phu toạ cũng được gọi là »Bồ Tát toạ« (j: bosatsu-za).
bán già phu toạ
(半跏趺坐) Là một trong các phép ngồi. Còn gọi là Bán già chính tọa, Bán già tọa, Bán kết già, Bán già, Bán tọa, Hiền tọa. Tục gọi là ngồi tréo một nửa. Tức là phép ngồi tréo một chân, còn chân kia đặt lên trên chân tréo. Nếu cả hai chân tréo vào nhau và đặt trên bắp vế, thì gọi là Kết già phu tọa, Như Lai tọa (ngồi xếp bằng, ngồi kiểu đức Như Lai). Có hai loại ngồi bán già là Cát tường và Hàng ma. Chân phải đặt lên bắp vế bên trái là ngồi bán già Cát tường, Mật giáo phần nhiều dùng phép ngồi này, cũng gọi là Cát tường tọa, Phổ hiền già, Kim cương tát đỏa già, Tát đỏa già. Trong mạn đồ la thuộc hai bộ Kim Cương, Thai tạng, trừ các Bồ tát Hư không tạng, Thiên thủ Quan Âm, Kim Cương tạng vương và Bát nhã ra, còn hơn vài trăm vị tôn Bồ tát đều ngồi bán già trên tòa hoa sen. Và đối ứng phép ngồi này với phép ngồi của Như lai mà gọi là Bồ tát tọa (phép ngồi của Bồ tát). Chân trái đặt trên bắp vế phải là ngồi bán già Hàng ma, cũng gọi là Hàng phục tọa, phần nhiều trong Thiền gia ứng dụng phép ngồi này. Lại cứ theo luật Tứ phần quyển 49 chép, thì ngồi bán già nguyên là kiểu ngồi riêng của tỉ khưu ni được Phật cho phép, để phòng ngừa kinh huyết rịn ra hoặc bị rắn rết xâm hại. Có lẽ chỉ vì lí do ấy mà đời sau đắp vẽ tượng các Bồ tát, phần nhiều đắp vẽ hình đàn bà. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.31; luật Ma ha tăng kì Q.40; Thập bát khế ấn. Thiền uyển thanh qui Q.8 Tọa thiền nghi]. (xt. Kết Già Phu Tọa).
bán già phu tọa
Kiểu ngồi bán già, kiểu ngồi của chư Bồ Tát, bàn chân nầy để lên đùi chân kia, hay ngược lại (chân trái để bên trên đùi phải và chân phải bên dưới đùi trái, hai đầu gối chạm chiếu dưới đất, để giúp hai đầu gối chạm đất dễ dàng chúng ta có thể đặt một cái gối mỏng bên dưới hai đầu gối), khác với kiểu ngồi kiết già của chư Phật (hai bàn chân để lên hai bắp đùi)—A Bodhisattva's form of sitting, one foot on the thigh of the other or vice versa (left foot over right thigh and right foot under left thigh, both knees touching mat, to facilitate the knees resting on the mat, it may be necessary to use a thin suport cushion under the regular round one), different from the completely cross-legged form of a Buddha (with right foot over left thigh and left foot over right thigh).
bán già tư duy tượng
(半跏思惟像) Một loại tượng Phật được tạo hình theo kiểu ngồi tựa. Thông thường chân trái thõng xuống đất, chân phải xếp ngang đặt trên đầu gối trái, tay trái thoải xuống một cách tự nhiên và đặt lên mắt cá chân phải; nửa mình trên hơi cúi xuống, cả năm ngón tay phải hoặc hai ngón trỏ và giữa chống vào má bên phải, tỏ cái dáng đang suy nghĩ điều gì. Loại tượng Phật này, phổ thông nhất, là tượng Thái tử Tất đạt đa tư duy và tượng Di Lặc tư duy. Tác phẩm tạo hình loại này đã được lưu truyền ở Ấn Độ từ xưa, nguyên là biểu hiện cái tư thái của Thái tử Tất Đạt Đa trước khi xuất gia. Đại khái có ba loại: 1. Khi thái tử ngồi dưới gốc cây Diêm phù xem người nông dân đang cày ruộng, đàn chim theo sau, hễ thấy con nèn con dế nào từ trong đất cày bò ra là chúng tranh nhau mổ ăn, thấy thế, Thái tử sinh tâm thương xót và suy tư về cảnh tượng ấy. 2. Để làm nhụt chí xuất gia của Thái tử, vua Tịnh Phạn sai bày những yến tiệc liên miên, cung nhân mĩ nữ ca hát vui nhộn, khi tiệc tàn, Thái tử nhìn vẻ xấu xí của các cung nữ mệt mỏi đang ngủ và ngáy o o, mà nảy sinh tư duy. 3. Thái tử bỏ thành xuất gia, đến rừng khổ hạnh, khi từ biệt con ngựa Kiền Trắc yêu quí mà nảy sinh tư duy. Những tượng tư duy lưu truyền ở Trung Quốc phần nhiều thuộc loại này. Tại Trung Quốc, từ thời Nam Bắc triều trở đi đã có các tác phẩm tượng Bán già tư duy. Từ khoảng thế kỉ thứ V thời Bắc Ngụy, đã thấy xuất hiện kiểu tượng độc lập hình bán già tư duy, sớm nhất là tượng bán già tư duy được tạc bằng đá vào năm Thái bình chân quân thứ 3 (442) đời Thái Vũ Đế; áo của tượng dính sát vào mình, tạo hình tả thực, rõ ràng là đã chịu ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây, vì vào thời ấy, sự qua lại giữa các nước Tây Vực đã rất dễ dàng. Hậu bán thế kỉ thứ V, hang đá Vân Cương lục tục được đục khoét, trong đó tại các hang thứ 6, thứ 7, thứ 8 cũng đã xuất hiện loại tạo hình tượng tương tự. Lại Tây An là điểm giao thông then chốt giữa Đông và Tây vào thời ấy, từ sớm đã là địa phương giáo hóa của ngài Cưu Ma La Thập, văn hóa rất cao, những tượng tư duy được tạo với thể thái trọng hậu, biểu hiện phẩm cách cao thượng. Ngoài ra, còn có tượng bán già tư duy bằng ngọc trắng do Triệu Thị, vợ của Minh Nhung Ái Lạc, tạo vào năm Vũ định thứ 2 (544) đời Đông Ngụy, tượng này là di phẩm tượng bán già ở đời Đông Ngụy đến thời kì đầu đời BắcTề. Vào thời đại BắcTề, cách tạo hình dần dần đi đến hình thức nhất định, nhưng thân tượng hơi gầy (ốm) hơn và đường nét thanh nhã bóng bẩy, cho thấy cái phong thái mĩ lệ ít có trong lịch sử điêu khắc của Trung Quốc, mà đại biểu là tượng bán già tư duy bằng ngọc trắng được tạo vào niên hiệu Vũ bình năm đầu (570) đời Hậu chủ. Ngoài, những tượng bán già tư duy tại Hàn Quốc và Nhật Bản cũng chịu nhiều ảnh hưởng phong cách của Bắc Ngụy, Bắc Tề. Tượng Bán Già Tư Duy Thời Đông Ngụy Tượng Bán Già Tư Duy Thời BắcTề. Tượng tư duy sớm nhất ở nước Hàn, được tạo vào thế kỉ thứ IV, thời đại cổ Tân la. Còn có tượng bán già tư duy bằng kim đồng, mũ, xiêm... được tạo từ khoảng thế kỉ thứ VI đến thứ VII. Tại Nhật Bản thì loại tượng này được lưu hành vào các thời đại Phi điểu (552 - 644), thời đại Bạch phượng (645 - 707). Tại chùa Quảng Long cho đến nay vẫn còn tàng trữ tượng bán già tư duy bằng hai hình thức bảo quan (mũ báu) và bảo kế (tóc quí).
bán giả bồ thiện ni
Pancabhojaniya (skt)—Bán Giả Bồ Xà Ni—Ngũ Hám Thực hay Ngũ Chính Thực hay năm loại thực phẩm chính—The five regular articles of food: 1) Cơm gạo trắng: Rice. 2) Lúa mì: Wheat 3) Cá: Fish. 4) Thịt: Flesh. 5) Bánh: Parched rice or Cakes.
; (半者蒲膳尼) Phạm: Paĩcabhojanìya. Còn gọi là Bán giả bồ xà ni. Bán giả, là số 5; bồ thiện ni, chỉ các đồ ăn. Dịch ý là năm thức ăn, năm thức ăn chính. Cứ theo Hữu bộ tì nại da quyển 36 chép, thì năm thức ăn chính ấy là: cơm, cơm đậu mạch, miến, thịt và bánh. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 5, thì bảo năm bồ thiện ni là: cơm, miến, cơm khô, cá và thịt. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Nhị Ngũ Thực, Bán Giả Kha Đán Ni).
bán giả kha đãn ni
(半者珂但尼) Phạm:paĩcakhàdanìya. Còn gọi là Bán giả khư xà ni, Bán giả khư đán ni. Bán giả, là số năm; Kha đán ni, chỉ các thức ăn cắn nhai. Dịch ý là năm thứ ăn cắn nhai, năm thứ ăn không chính thức. Các bộ luật ghi chép những loại thức ăn này có hơi khác nhau; cứ theo Hữu bộ tì nại da quyển 36 chép, năm thứ ăn cắn nhai không chính thức là: củ, cây, lá, hoa và quả. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 5, thì bảo năm thứ kha đán ni là: cành, lá, hoa, quả và thức ăn nghiền nhỏ. Lại năm thức thực vật này, tuy ăn dùng được, nhưng không đủ no, vì thế không được coi là những thực vật chính thức. Khi đức Phật chế giới đã qui định, nếu đã ăn năm thứ ăn chính xong, no rồi, thì không được dùng năm thứ ăn không chính thức nữa. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Nhị Ngũ Thực).
bán giả kha đản ni
Pancakhadaniya (skt)—Bán Già Khư Đản Ni—Bán Giả Khư Xà Ni—Ngũ tước thực hay năm món ăn phụ có thể dùng răng tước ra mà ăn—The five chewing foods, not regular foods: 1) Rễ: Roots. 2) Thân cây: Stems. 3) Lá: Leaves. 4) Hoa: Flowers. 5) Quả: Fruits.
bán giả khư xà ni
See Bán Giả Kha Đản Ni.
bán giả khư đản ni
See Bán Giả Kha Đản Ni.
bán hạ
(半夏) Tức là ngày ở khoảng giữa ba tháng kết hạ đến giải hạ trong mùa hạ an cư của Thiền lâm. Hạ an cư bắt đầu vào ngày 15 tháng 5 (lịch cũ là 15 tháng 4), gọi là kết hạ; chấm dứt vào ngày 15 tháng 8 (lịch cũ 15 tháng 7), gọi là giải hạ. Vì thế, ngày nửa hạ là 1 tháng 7 (lịch cũ là 1 tháng 6), từ ngày này trở về trước, gọi là nửa hạ trước, về sau, gọi là nửa hạ sau. Vào ngày bán hạ, Hòa thượng đường đầu hoặc vị Thủ tọa, có lời chúc mừng đại chúng, đại chúng ngày hôm ấy, làm thêm rau trái để ăn mừng, tiết ăn mừng này gọi là Bán hạ tiết, cũng gọi là Băng tiết (tiết trong sạch). Nếu an cư vào mùa đông, thì ngày bán hạ tương đương ngày Đông chí. Lâm tế lục (Đại 47, 505 trung), nói: Sư nhân ngày bán hạ, đến Hoàng bá. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.3 Tiết thời môn].
bán khai
Semi-civilized.
bán khai bán hợp
(半開半合) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn nói là Bán hợp bán khai. Vốn là thuật ngữ được dùng để phán định, giải thích về giáo tướng trong Phật học. Khai, có nghĩa hiển bày, hợp, có nghĩa là bỏ bớt. Trong Thiền lâm, thường dùng từ ngữ này để biểu thị một nửa hợp, một nửa khai, chứ không thiên hẳn về một bên nào. Minh Giác thiền sư ngữ lục quyển 2 (Đại 47, 679 trung), nói: Long tuyền và dao búa đồng sắt, sắc bén, cùn lụt khác nhau lắm. (...) Thế đó! Thế đó! Một ra một vào, nửa hợp nửa khai; những ai biết rộng, thử biện đen trắng. [X. Bích nham lục Tắc 18].
bán kệ
(半偈) Chỉ nửa sau của bài kệ Các hành vô thường, là pháp sinh diệt, sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Cứ theo kinh Đại Bát Niết bàn (bản Bắc) quyển 14 nói, thì khi đức Thích ca Như Lai còn là phàm phu trong đời quá khứ, vào núi Tuyết tu hạnh Bồ Tát, trời Đế Thích hóa hiện làm quỉ La sát nói cho nghe nửa trước của bài kệ, Bồ Tát vui mừng xin được nghe nốt nửa sau của kệ, nhưng quỉ La sát không chịu, Bồ tát liền thề bỏ thân cho quỉ mới được nghe hết. Vì lí do ấy nên cũng gọi là Tuyết Sơn bán kệ (nửa bài kệ trong núi Tuyết), hoặc Tuyết Sơn bát tự (tám chữ trong núi Tuyết). Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 295 hạ), nói: Thủa xưa, đức Phật còn là phàm phu, đi vào núi Tuyết cầu Phật đạo; nhiếp tâm mạnh mẽ hăng hái, vì nửa bài kệ mà bỏ cả thân mệnh. Lại nửa bài kệ do quỉ La sát nói ghi ở trên, cũng có thuyết bảo do Dạ xoa nói, vì thế còn gọi là Dạ Xoa nói nửa kệ. [X. Vân môn khuông chân thiền sư Quảng Lục Q.trung]. (xt. Tuyết Sơn Đại Sĩ).
bán liên hoa ấn
(半蓮華印) Thủ ấn trong Mật giáo. Có hai tướng ấn: 1. Nói tắt là Bán liên hoa. Tức là nửa ấn Liên hoa hợp chưởng. Là ấn Phạm thiên được chép trong Thập nhị thiên quĩ, thông thường, người ta quen gọi là ấn nửa hoa sen. Tướng ấn là tay phải nắm lại, đặt vào cạnh sườn bên phải, năm ngón tay trái dính vào nhau và hơi co xuống, rồi giơ lên qua bả vai một chút. 2. Tay phải nắm lại và đặt nơi thắt lưng, ngón cái và ngón vô danh của tay trái dính hai đầu ngón với nhau, làm như dáng ngắt hoa.
bán lạc
(半酪) Chỉ Tu-đa-la trong chín bộ Tiểu thừa. Trong Bán mãn nhị giáo (hai giáo Nửa và Đủ), Tu đa la được thí dụ như Bán tự giáo (giáo nửa chữ); trong năm vị của kinh Niết Bàn, thì được thí dụ như vị lạc (sữa đặc), vì thế hợp cả hai thí dụ mà gọi là Bán lạc. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 phần dưới (Đại 33, 809 dưới), nói: Tu đa la là giáo Bán lạc, nếu bàn riêng thì ở vào thời thứ hai, nếu bàn chung thì cũng ở thời kì sau.
bán lạp thành
(半拉城) Vị trí thành nằm về phía đông bắc Cát Lâm, nơi cách huyện Hồn Xuân về phía tây độ bốn cây số, là di tích ở phủ Long Nguyên, Đông Kinh, nước Bột Hải, người ta suy định nó được kiến tạo vào đầu đời Đường. Bốn chung quanh có một dẫy vách đất dài đến vài trăm mét, trong đó, từ nam đến bắc liên tục có nền đất, trên nền đất có di tích cung điện. Con đường lớn chính giữa thành chia làm hai khu Đông Tây, thấy có nền cũ của ba ngôi chùa, khu đông có hai, khu tây có một. Đồng thời, phát hiện mấy pho tượng hai đức Phật ngồi sánh ngang nhau, được khắc bằng đá, cho thấy ảnh hưởng của tín ngưỡng Pháp hoa. Hiện nay, cứ theo kiểu cách tượng Phật mà suy tính, thì tượng có thể đã được tạc vào cuối thời kì Lục triều, hoặc đã được tạc vào trước thời kì Bột hải và chịu ảnh hưởng của Cao Li.
bán lộ xuất gia
(半路出家) Xuất gia, ra khỏi nhà phiền não trói buộc, tức là tách rời khỏi nếp sống tại gia mà chuyên tâm tu tịnh hạnh của sa môn. Bán lộ xuất gia (nửa đường xuất gia), tức chỉ người tín đồ Phật giáo bỏ tục xuất gia ở tuổi trung niên. Lại thông thường, người ta chuyển dụng từ ngữ nửa đường xuất gia để nói về người thay đổi nghề nghiệp nửa chừng, chứ đã không làm nghề ấy ngay từ đầu, hàm ý là kĩ thuật vẫn chưa được tinh chuyên.
bán mãn giáo
Tiểu Thừa Đại Thừa Bán Mãn Giáo—The half and the complete doctrines—Hinayana and Mahayana.
bán mãn nhị giáo
(半滿二教) Còn gọi là Bán mãn giáo, Bán mãn nhị tự giáo. Tức nói tắt của Bán tự giáo và Mãn tự giáo. Bán tự, nửa chữ, nguyên là chỉ chữ gốc trong tiếng Phạm, tức là tự mẫu; Mãn tự, cả chữ, thì chỉ văn tự đã được làm thành bởi các tự mẫu tập hợp lại. Luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa) của Ấn độ cổ đại, là một cuốn sách về văn pháp nổi tiếng, trong năm chương, chương thứ nhất là Tất đàm nêu rõ bán tự giáo của các tự mẫu, còn nếu trao truyền toàn bộ cả năm chương thì thuộc về mãn tự giáo. Trong Phật giáo, ý ấy được chuyển dụng để chỉ chín bộ kinh của Tiểu thừa Thanh văn là Bán tự giáo, và chỉ các kinh điển Phương đẳng Đại thừa là Mãn tự giáo. Sự phân chia hai giáo Bán, Mãn đại khái cũng giống như cách phân loại hai thừa Đại, Tiểu vậy. Bán tự giáo căn cứ theo lời thí dụ trong kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 5 và quyển 8 mà có; kinh Niết bàn chép, cũng như dạy dỗ con trẻ, trước dạy nửa chữ, sau mới dạy cả chữ trong luận Tì già la. Đức Phật cũng thế, trước nói chín bộ kinh Tiểu thừa, sau mới nói các kinh điển Phương đẳng Đại thừa. Ngoài những nghĩa được ghi trên, cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 1, Niết bàn kinh nghĩa kí quyển 4 phần trên, giải thích là, nói các việc thế gian khiến sinh phiền não, gọi là Bán tự, còn nói các việc xuất thế gian khiến sinh các pháp thiện, gọi là Mãn tự. Xưa nay các sư phần nhiều gọi sự giải thích này là Giáo phán: 1. Tương truyền, Đàm vô sấm đời Bắc Lương và Tuệ viễn đời Tùy, cho tạng Tiểu thừa Thanh văn là Bán tự giáo, tạng Đại thừa Bồ tát là Mãn tự giáo. 2. Do Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy lập ra, bảo giáo pháp mà đức Phật nói trong khoảng mười hai năm sau khi thành đạo, là Bán tự giáo, còn giáo pháp nói từ mười hai năm trở về sau, là Mãn tự giáo. 3. Trí khải và Khuy cơ cho rằng, ý hai giáo Bán, Mãn tức là hai thừa Đại, Tiểu. 4. Trạm nhiên ở Kinh khê thì đem phối với giáo của Thiên thai, tức ba giáo Tạng, Thông, Biệt là Bán tự giáo, chỉ có Viên giáo là Mãn tự giáo. 5. Luận Niết bàn thì đem hai giáo phối với thuyết Tiệm giáo và Đốn giáo, nhưng Tiệm giáo ở đây là chỉ giáo Thanh văn, mà Đốn giáo là chỉ giáo Niết bàn, chứ không liên quan gì đến giáo pháp đốn tiệm của Thiền tông đời sau. Tóm lại, hết thảy Phật giáo có thể được qui nạp thành hai giáo Bán, Mãn, hai giáo Quyền, Thực (quyền giả giáo và chân thực giáo, tức giáo pháp tạm thời và giáo pháp chân thực), vì thế, toàn bộ giáo thuyết Phật giáo cũng có thể được gọi chung là Bán mãn quyền thực. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 phần dưới; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Nhị Giáo, Bán Tự Mãn Tự).
Bán mãn nhị giáo 半滿二教
[ja] ハンマンニキョウ hanmannikyō ||| The division of the Buddha's teaching into the "half-word" 半字 (小乘) teaching and the "full-word" 滿字 (大乘) teaching. => Sự phân loại Phật pháp thành 2 dạng: Bán tự giáo (Tiểu thừa) và Mãn tự giáo (Đại thừa).
bán na bà quả
(半娜婆果) Gọi tắt là Bán na. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì quả hình giống như quả bí đỏ, khi chín thì màu đỏ ửng, trong có mấy chục quả nhỏ, cỡ bằng cái trứng gà, nước quả đỏ và vị rất ngọt. Nhưng Tây vực kí ghi tên gọi là Ban hạch sa quả, tức quả của cây Ba na sa; còn tên Bán na bà quả thì thấy trong Khả hồng âm nghĩa quyển 1, Huyền ứng âm nghĩa quyển 24.
bán nguyệt kỳ tụng giới
Tụng giới mỗi nửa tháng cho chư Tăng Ni và Tại gia Bồ Tát giới. Theo luật tạng, lễ tụng giới bằng cách công khai nhận tội và sám hối. Tuy nhiên, trên thực tế thì nghi thức nầy bị phế bỏ, và sự nhận tội cũng như sám hối thường được tổ chức riêng trước bàn thờ Phật—Semi-monthly service for recitation of precepts, for either the Bhiksu, Bhiksuni or Bodhisattva precepts. According to the Vinaya, the recitation should be preceded by a public confession of transgressions. However, in practice, this kind of service is often omitted, as confession is always done privately before the Buddha Altar.
bán nguyệt mãn nguyệt
(半月滿月) 1. Bán nguyệt, tức là khi mặt trăng hiện nửa hình như cái cung, là hình Tam muội da của Bồ tát Nguyệt quang và Nguyệt thiên thuộc Kim cương giới trong Mật giáo; Mãn nguyệt, tức dụ cái thể tròn sáng của tâm bồ đề trong sạch, đồng thời, đem mười sáu phần của mặt trăng thí dụ với mười sáu vị tôn của Tuệ môn thuộc Kim cương giới. [X. luận Bồ đề tâm]. 2. Chỉ viên ngọc hình bán nguyệt và hình mãn nguyệt. Là vật dùng làm đẹp cung điện hoặc trang sức thân thể. Cứ theo kinh Lí thú chép, thì Vương cung của trời Tha hóa tự tại dùng châu man, anh lạc, bán mãn nguyệt... để trang nghiêm.
bán nguyệt đường nghi
(半月堂儀) Trong Thiền lâm, mỗi tháng, vào ngày 15 và 30 cử hành nghi thức Bố tát tại nhà Tăng, gọi là Bán nguyệt đường nghi (nhà nghi thức nửa tháng). Thông thường thì phần nhiều lễ Bố tát được cử hành trên điện Phật. Thiền uyển thanh qui quyển 1 Thỉnh nhân duyên (Vạn tục 111, 442 hạ), nói: Hoặc nửa tháng đường nghi, hoặc một hai ngày thang trà, đều do người trú trì sắp đặt.
Bán ngôn
(半言): nửa lời, còn gọi là bán kệ (半偈, nửa bài kệ). Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), xưa kia khi Như Lai chưa xuất hiện trên đời, lúc bấy giờ đức Phật Thích Ca thị hiện là một người ngoại đạo Bà La Môn, tinh thông hết thảy các học vấn, hành vi rất nhu hòa, tịch tĩnh, tâm thanh tịnh, vô nhiễm. Vị ấy có chí nguyện muốn tìm học kinh điển Đại Thừa; nhưng trãi qua một thời gian lâu mà không có kết quả. Sau ông vào trong núi Tuyết Sơn tu khổ hạnh, hành Thiền định và chờ đợi đấng Như Lai xuất hiện để được nghe giáo pháp Đại Thừa. Thấy vậy, Trời Đế Thích bèn biến hóa thành một con quỷ La Sát rất hung dữ, đáng sợ, bay đến gần chỗ vị tiên nhân, rồi lớn tiếng tuyên thuyết nửa bài kệ tụng do trước kia đã từng nghe từ đức Như Lai rằng: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt (諸行無常、有生有滅, các hành vô thường, có sinh thì có diệt)”, và đến bên tiên nhân đảo mắt hung tợn nhìn khắp bốn phương. Nghe xong nửa bài kệ này, tiên nhân cảm thấy như có được thuốc hay để trị lành căn bệnh lâu ngày, như rơi xuống nước mà được thuyền cứu vớt, như đất hạn hán lâu ngày gặp nước mưa, như thân hình bị giam hãm lâu ngày nay được phóng thích; nên thân tâm rất hoan hỷ. Tiên nhân đứng dậy nhìn quanh, chỉ thấy con quỷ La Sát thân hình hung tợn, nên rất hồ nghi không biết ai đã tuyên thuyết câu kệ vi diệu như vậy; cuối cùng mới biết do con quỷ La Sát thuyết. Vị tiên nhân chí thành cầu xin con quỷ nói tiếp nửa bài kệ sau; sau nhiều lần thử thách, con quỷ vẫn không bằng lòng; cho nên vị tiên nhân phát nguyện hiến cả thân mạng cho con quỷ đói, chỉ với mục đích là nghe được chánh pháp mà thôi. Nhân đó, quỷ La Sát thuyết nửa bài kệ sau: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (生滅滅已、寂滅爲樂, Sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui)”. Nghe xong, vị Bà La Môn biết câu kệ này rất có lợi ích cho mọi người, liền khắc lên khắp nơi như vách đá, thân cây, v.v., để lưu truyền cho hậu thế. Sau đó, ông leo lên cây cao, buông mình xuống để xả thân cho con quỷ đói ăn, theo như lời phát nguyện. Lúc bấy giờ, trên không trung văng vẳng âm thanh vi diệu, các vua trời cùng Trời Đế Thích hiện nguyên thân hình đón lấy thân thể vị Bà La Môn, cung kính đãnh lễ và cầu xin hóa độ cho họ trong tương lai. Nhờ nhân duyên xả thân mạng để nghe được nửa câu kệ như vậy, sau 12 kiếp tu hành, vị Bà La Môn thành Phật trước cả Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, 彌勒). Hơn nữa, trong Bách Nghiệp Kinh (百業經), có đề cập đến câu chuyện tiền thân của đức Phật là của Tích Phổ Quốc Vương (昔普國王) cũng tương tự như vậy; song nội dung chuyện và văn kệ có phần khác. Đức vua là người có tâm từ bi lớn, chuyên bố thí khắp mọi người, thương yêu thần dân hết mực. Trời Đế Thích thấy vậy muốn thử tâm của nhà vua, bèn biến thành con quỷ La Sát, đến trước vua tuyên thuyết nửa bài kệ rằng: “Chư pháp giai vô thường, nhất thiết sinh diệt tánh (諸法皆無常、一切生滅性, các pháp đều vô thường, tất cả có tánh sinh diệt)”. Nghe xong pháp xong, đức vua sanh tâm hoan hỷ, liền cung kính đãnh lễ La Sát và cầu xin cho nghe nửa bài kệ sau với lời phát nguyện sẽ dâng hiến thịt máu của vua cho con quỷ. Trước lời thỉnh cầu chí thành của nhà vua, quỷ La Sát nói tiếp nửa bài kệ sau là: “Sinh diệt tức diệt tận, bỉ đẳng tịch diệt lạc (生滅卽滅盡、彼等寂滅樂, Sinh diệt đã diệt hết, ấy niềm vui vắng lặng)”. Sau khi nghe được cả bài kệ, đức vua lấy toàn bộ thịt máu của mình dâng cho quỷ La Sát. Lúc bấy giờ, đại địa chấn động, trời người rải hoa cúng dường và tán thán đại nguyện của Tích Phổ Quốc Vương. Sau này, Huyền Trang (玄奘, 602-664) có làm bài “Đề Bán Kệ Xả Thân Sơn (題半偈捨身山)” rằng: “Hốt văn bát tự siêu thi cảnh, bất tích đơn xu xả thử sơn, kệ cú thiên lưu phương thạch thượng, nhạc âm thời tấu bán không gian (忽聞八字超詩境、不惜丹軀捨此山、偈句篇留方石上、樂音時奏半空間, chợt nghe tám chữ siêu thi hứng, chẳng tiếc thân mình bỏ núi non, câu kệ còn lưu trên vách đá, nhạc âm vang vọng nửa không gian)”. Ngoài ra, Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713), tác giả của bài Chứng Đạo Ca (証道歌), cũng có Bán Cú Kệ rằng: “Sanh dã điên đảo, tử dã điên đảo (生也顚倒、死也顚倒, sống cũng điên đảo, chết cũng điên đảo).”
bán quả
(半果) Nửa quả. Chỉ một nửa quả Am malặc (Phạm: àmala) mà vua Adục đã đem cúng dường chúng tăng. Vua Adục lúc về già thập phần vất vả, nhưng vẫn đem tất cả cái gì còn lại để cúng dường. Lúc lâm chung chỉ còn lại có nửa quả am malặc, nhà vua cũng sai đem cúng dường chúng tăng ở chùa Kêđầuma (Phạm:Kurkuỉa), nhờ thế mà được tự tại. Quả am malặc giống như quả Hồ đào, vị vừa chua vừa ngọt, dùng ăn, nhưng cũng có thể dùng làm thuốc. [X. kinh A dục vương thí bán a ma lặc quả nhân duyên; A dục vương truyện Q.3].
bán siêu
Một chúng sanh cõi trời bằng tinh tấn tu hành đã nhảy vọt từ cõi trời thứ nhứt qua cõi trời thứ mười ba trong mười sáu cõi trời sắc giới—A deva who by devotion advances by leaps, escaping from one to thirteen of the sixteen heavens of form.
; (半超) Siêu việt một nửa. Chỉ sự siêu việt chưa hoàn toàn. Quả A na hàm (Phạm: Anàgàmin) thứ ba trong bốn quả Thanh văn, có thể chia làm năm loại, gọi là năm loại Bất hoàn, loại thứ năm là bậc Thượng lưu ban (Phạm:Ùrdhvasrota-parinirvàyin). Thượng lưu ban lại có thể được chia thành ba thứ, mà Bán siêu là một trong ba thứ Thượng lưu ban đó. Bất hoàn, không trở lại, tức đã thoát hẳn sống chết ở cõi Dục, cho nên không còn phải trở lại nhân gian để thụ sinh nữa. Loại này là bậc Thánh quả Bất hoàn ưa thích trí tuệ, trong mười sáu tầng trời cõi Sắc, hoặc vượt qua một tầng, hoặc vượt qua hai tầng cho đến năm ba tầng, nhưng không hoàn toàn vượt hết được, vì thế gọi là Bán siêu. [X. kinhTạp a hàm Q.27; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.17 phần đầu].
bán thiên bà la môn
Chủng loại ngạ quỷ—Half brahmans (a term for hungry ghosts).
; (半天婆羅門) Là thân đơn của Tì sa môn hai thân (Song thân tì sa môn). Tì sa môn hai thân, thông thường là Tì sa môn thiên (Đa văn thiên), cùng với Cát tường thiên chẳng phải hai, trong Mật giáo, phân biệt tượng trưng cho cái lí lí và trí bình đẳng của Thai tạng giới và Kim cương giới. Lại cứ theo Khê lam thập diệp tập quyển 38 chép, thì thủa xưa, Bán thiên Bà la môn và Đa văn thiên cùng phát tâm một lúc với nhau, về sau, Đa văn thiên tu hành tinh tiến, mau chóng thành phúc trí, còn Bán thiên Bà la môn thì biếng nhác ham vui, cho nên còn là địa vị phàm phu. Do đó, Bán thiên Bà la môn tức giận, thề sẽ trở ngại tất cả những ai tu tập theo pháp của Đa văn thiên. Vì thế nên biết, Đa văn thiên biểu thị pháp tính, Bán thiên biểu thị vô minh. Vô minh và pháp tính là các pháp tương phản, cho nên hai thân này đứng xoay lưng vào nhau. Tuy nhiên, vô minh và pháp tính cũng lại là đồng thể, pháp tính vô thể nương vào vô minh, vô minh vô thể nương vào pháp tính, bởi thế hai thân này cũng lại không tách lìa nhau. Ngoài ra, cứ theo Diêm la vương cúng dường thứ đệ (Đại 21, 376 thượng) chép: Năm trăm chúng quỉ đói, các chúng quỉ đói Bán thiên Bà la môn, thì Bán thiên Bà la môn là tên của một người tiên trong cõi quỉ đói, còn gọi là Bà la môn tiên. [X. Thích môn chính thống Q.4].
bán thác ca
Panthaka (skt)—See Bán Ca.
; (半托迦) Phạm: Panthaka. Là một trong mười sáu vị La hán. Còn gọi là Bán tha ca, Bán nhạ ca, Bàn đà già, Ban đặc, Ban thỏ. Hoặc gọi là Ma ha ban thác ca, Ma ha ban đà. Dịch ý là Đạo sinh, Đại lộ biên sinh, Đại lộ. Là con một người Bà la môn ở thành Xá vệ thuộc trung Ấn độ, tức là anh của ngài Chu lợi bàn đặc. Sở trường các cái học thư toán, xướng tụng, tứ minh, lục tác, có trí tuệ lớn, năm trăm đồng tử đến theo học. Sau nghe đức Phật nói pháp mà xuất gia, không bao lâu, đã chứng quả A la hán. Em là Chu lợi bàn đặc thì lại ngu độn, tuy nhiên, sau cũng xuất gia chứng quả. Kinh tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 558 thượng), nói: Nhờ sức thần túc, có thể tự ẩn mình: đó là tỉ khưu Bàn thỏ vậy. Xưa nay, người ta vẽ rất nhiều tượng của vị La hán này, trong đó, Quán hưu đời Đường vẽ ngài trải tọa cụ ngồi trên đá, áo pháp choàng cả hai vai, hai tay cầm quyển kinh đọc tụng. Trong Pháp trụ kí, Đại a la hán Nan đề mật đa la xếp ngài vào vị thứ 10 trong mười sáu La hán. Trong Thập lục La hán tán, Hoàng đế Càn long nhà Thanh, thì đặt ngài vào hàng Lahán thứ 13, gọi là Banạpthápkiết. [X. kinh Alahán cụ đức; Thiện kiến luật tìbàsa Q.16; Hữu bộ tìnạida Q.31; luận Phân biệt công đức Q.5].
Bán thác ca 半託迦
[ja] ハンタクカ Hantaka ||| Panthaka, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => (s: Panthaka) Một trong 16 vị A-la-hán nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì việc truyền bá chính pháp.
bán thể
(半體) Chỉ cái kí hiệu được dùng khi viết các tự mẫu (Ma đa) trong văn Tất đàm bằng thể lược (chữ tắt). Khi dùng chữ phức hợp, thêm kí hiệu đó vào hai bên hoặc trên dưới, vì thế gọi là Bán thể.
bán tiền
(半錢) Thí dụ sự ích lợi của việc tu hành thực tế. Như người nghèo khó đếm tiền hộ người hàng xóm, tuy cũng thích thú, nhưng chính thực thì mình chẳng có đến một nửa đồng tiền. Đây thí dụ những người nghe Thánh giáo của đức Như lai, nhưng nếu chẳng thiết thực gắng sức tu hành, thì sẽ chẳng có mảy may ích lợi nào cả. Kinh Hoa nghiêm quyển 13 (Đại 10, 68 thượng), nói: Như người đếm tiền hộ người khác, chính mình không có đến nửa đồng; đối với pháp chẳng tu hành, nghe nhiều cũng như thế.
bán toà
(半座) Phạm:ardhàsana. Tức nhường một nửa chỗ ngồi cho người khác cùng ngồi, ý cho là địa vị của người ấy cũng ngang bằng với địa vị của mình. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 41, kinh Hoa thủ quyển 1, kinh Phật bản khởi quyển hạ chép, thì vì ngài Ca diếp có đủ đức lớn, nên đức Thế tôn, giữa đại chúng, đã từng chia nửa chỗ ngồi của mình khiến Ca diếp ngồi, là biểu thị nghĩa Nhị thừa và Phật cùng ngồi giường giải thoát. Lại cứ theo kinh Pháp hoa quyển 4 chép, thì khi đức Thế tôn nói kinh Pháp hoa, đức Đa bảo Như lai xuất hiện, chia nửa tòa ngồi cho đức Thế tôn. Đến đời sau, thuyết Hai Phật cùng ngồi ngang nhau đã rất thịnh hành, đến mức đã có các bức vẽ và chạm trổ hai Phật cùng ngồi được lưu truyền ở đời. Trong Trung a hàm quyển 11 kinh Tứ châu thì nói, vì vua Đính sinh có thần thông như ý túc và sức uy đức lớn, nên đã được nửa tòa ngồi của trời Đế thích. Trong Thiền lâm, sự chia tòa nói pháp tức đã do sự tích đức Thế tôn chia nửa chỗ ngồi cho ngài Ca diếp mà có, thông thường phần nhiều để hình dung tình hình vị Thủ tọa thay thế vị trú trì nói pháp cho chúng tăng nghe, vì thế Thủ tọa còn được gọi là Bán tòa chức. Trong tông Tịnh độ, người đã được vãng sinh Tịnh độ ngồi trên đài hoa sen, chừa lại nửa chỗ để dành cho người đồng tu, kiếp sau sẽ cùng đến Tịnh độ mà ngồi, tức biểu tỏ cái ý người có cùng một tâm tin sẽ được cùng một chứng ngộ. [X. kinh Trung bản khởi Q.hạ phẩm Đại ca diếp thủy lai; Pháp hoa kinh luận Q.hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9; Y Quán kinh đẳng minh ban chu tam muội hành đạo vãng sinh tán]. (xt. Phân Tòa).
bán trai
Nửa ngày thọ trai—Half a day's fast (fasting all day but also eat something at night).
; (半齋) 1. Chỉ sự giữ chay tịnh trong nửa ngày, cũng tức là ý phá chay. Bởi vì, phép giữ chay phải lấy một ngày làm chuẩn, nếu chỉ giữ nửa ngày thì việc giữ chay không được trọn vẹn, cũng không khác gì phá chay. Thông thường, phép giữ chay trọn ngày là khoảng thời gian một ngày một đêm, từ lúc sáng rõ ngày hôm nay đến lúc trời sáng rõ ngày hôm sau làm chuẩn, cũng tức là lúc qua chính ngọ ngày hôm nay đến lúc trời sáng rõ ngày hôm sau, không được ăn bất cứ thực vật gì. Nếu đến tối, phá chay mà ăn, thì gọi là Bán trai, là vì chỉ giữ chay nửa ngày từ lúc chính ngọ đến chiều tối mà thôi. Lại giờ phá chay, nếu là ban ngày thì gọi là bán trai, nếu là ban đêm thì gọi là phá trai, nhưng thực thì cả hai đều là ý phá chay cả. Trong các kinh luận, có nhiều chỗ ghi chép về công đức thù thắng của sự trì trai, cho nên, người giữ chay nửa ngày, tuy có cái lỗi phá chay, nhưng, đứng về phương diện quả báo công đức mà nói, thì cũng có phúc đức lớn. Bởi thế, Kinh luật dị tướng quyển 44 Phá trai do đắc sinh thiên điều nói (Đại 53, 229 trung): Phúc giữ nửa chay, cũng được sinh thiên, bảy đời sinh cõi người, thường được tự nhiên; giữ chay một ngày, được sáu mươi vạn năm lương thực tự nhiên. 2. Trong Thiền môn, chỉ khoảng thời gian giữa bữa cháo sáng và bữa cơm ngọ, là Bán trai. Lại chỉ bữa điểm tâm vào khoảng giữa bữa cháo và bữa ngọ là Bán trai điểm tâm; và vào giờ này, hiến trai ở trước Tổ sư, tụng kinh hồi hướng, gọi là Bán trai cúng dường hoặc Bán trai phúng kinh. Thiền lâm tượng khí tiên quyển 3 Tiết thời môn, chép: Xưa nói: Ở giữa bữa cháo và bữa cơm trưa, nên gọi là Bán trai (...) Bán trai là tên gọi thời giờ vậy. Ngoài ra, Bán trai còn nói là Phán trai, vì hai chữ phán và bán thông nhau, vậy Bán trai tức là Phán trai. Phán có ý là phán thích, Phán trai có ý là phán thích hiến trai, vì thế, Bán trai cũng còn chi văn hồi hướng hiến trai trong Thiền gia, hoặc chỉ pháp sự hồi hướng hiến trai. [X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.6; Chư hồi hướng bảo giám Q.2; Thiền lâm tượng khí tiên Q.13 Phúng xướng môn]. 3. Chỉ bữa ăn chính ngọ, lấy lúc chính giữa giờ ngọ làm chính giữa một ngày, đem một ngày đối lại phần nửa chính, cho nên gọi Bán trai. Không hoa đàm tùng quyển 2 nói, trong Luật viện và Thiền viện, gọi Ngọ trai là Bán trai. Vì thế biết Bán trai cũng là tên gọi khác của Ngọ trai. Lại nếu quá giờ ngọ rồi mà còn ăn thì gọi là ăn phi thời, là điều mà giới luật Phật giáo không cho phép. Cái thói quen ấy được gọi là quá ngọ bất thực (quá giờ ngọ không ăn).
bán trang thúc niệm châu
(半裝束念珠) Là một loại tràng hạt. Còn gọi là Bán trang thúc sổ châu. Toàn bộ tràng hạt dùng thuần thủy tinh xâu thành, gọi là Bản trang thúc, hoặc Trang thúc niệm châu, thông thường dùng trong dịp các pháp hội lớn. Còn tràng hạt chỉ có phần nào là thủy tinh, ngoài ra là các chất liệu khác lẫn lộn, thì gọi là Bán trang thúc, loại này thường dùng hàng ngày. (xt. Niệm Châu).
bán trạch ca
(半擇迦) Phạm: paịđaka hoặc kaịđàka. Còn gọi là Bán thích ca, Bán thác, Ban đồ ca, Ban tra. Dịch ý là hoàng môn, bất năng nam. Chỉ người không đủ nam căn hoặc nam căn không được hoàn chỉnh. Trong các kinh luận nói không giống nhau; cứ theo luận Câu xá quyển 3, quyển 15 chép, thì hoàng môn (Phạm: paịđaka) theo nghĩa rộng, bao gồm hai thứ là Phiến sỉ (Phạm: waịđha, người thiếu hẳn nam căn) và Bán trạch ca (Phạm: Kaịđàka, người tuy đủ nam căn, nhưng không hoàn toàn); Phiến sỉ có tiên thiên (bản tính) và hậu thiên (hủy hoại) khác nhau. Bán trạch ca thì có ba loại khác nhau là: bán trạch ca ghen tương, bán trạch ca nửa tháng và bán trạch ca tắm gội. Còn hoàng môn theo nghĩa hẹp thì chỉ nói về Bán trạch ca mà thôi. Ngoài ra, cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 8 chép, thì Bán trạch ca có năm thứ: bán trạch ca sinh tiện, bán trạch ca ghen tuông, bán trạch ca nửa tháng, bán trạch ca tắm gội và bán trạch ca trừ bỏ. Bán trạch ca lại có thể chia: Sinh bán trạch ca (sinh ra đã thiếu căn), bán nguyệt bán trạch ca (khoảng nửa tháng không có khả năng), đố bán trạch ca (nếu không ghen tương thì không có khả năng), tinh bán trạch ca (khi hành dâm thì không có khả năng), bệnh bán trạch ca (sau khi sinh, căn bị hoại) v.v... Năm trường hợp kể trên đây cũng gọi là Ngũ chủng bất năng nam, Ngũ chủng bất nam, Ngũ chủng hoàng môn. Những người bán trạch ca, phiến sỉ và hai căn cùng sinh, theo giới luật qui định, cấm chỉ xuất gia, thụ giới. [X. luật Tứ phần Q.35; luận Thuận chính lí Q.9; luận Du già sư địa Q.53; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng chương 3 đoạn 1]. (xt. Ngũ Chủng Bất Năng Nam).
bán tín bán nghi
To be doubtful—To be undecided.
bán tự
(半字): nửa chữ. Trong tiếng Phạn thì bán tự là các yếu tố của chữ viết khi chưa được ghép lại để thành một chữ có nghĩa. Đây là ví dụ những điều sơ học, chưa đầy đủ. Khi đủ sức học đầy đủ thì học luận Tỳ-già-la. Cũng như thế, Phật trước dùng Tiểu thừa để dẫn dắt những người sơ cơ, thấp trí, rồi sau mới giảng kinh điển Đại thừa.
; 1) Ám chỉ người chưa thọ giới tròn đầy, như Sa Di hay người tại gia chỉ giữ năm hay tám giới mà thôi: The term is used to indicate those who don't receive full-ordination, i.e. lay people or sramaneras, keep only five or eight commandments. 2) Nửa chữ: Half a character, a letter of the alphabet—Half a word—Incomplete word. 3) Tiểu Thừa: Hinayana.
bán tự giáo
Hinayàna (S). Lesser Vehicle.
; Tiểu Thừa Giáo—The Hinayana.
bán tự mãn tự
1) Tiểu Thừa Bán Tự: Hinayana is likened to “Half A Character.” 2) Đại Thừa Mãn Tự: Mahayana is likened to a complete word.
; (半字滿字) Đây có bốn nghĩa. 1. Đứng về phương diện thể chữ mà nói, thì chỉ những chữ gốc trong chương . Tất đàm của tiếng Phạm, như mười hai chữ ma đa (mẫu âm), ba mươi lăm chữ thể văn (tử âm), đều đứng riêng rẽ, chưa thành toàn chữ, vì chưa lọn nghĩa, nên gọi là Bán tự (nửa chữ). Khi ma đa và thể văn hợp lại mà thành toàn chữ, vì nghĩa lí đều đầy đủ, nên gọi là Mãn tự (cả chữ), như luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa, tức sách Văn phạm). Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 5 chép, thì ví như Trưởng giả, duy có một con, Trưởng giả muốn con mình học mau thành công, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên chỉ dạy nửa chữ, chứ không dạy cả chữ Tì già la (luận). Nửa chữ trong thí dụ này là chỉ chín bộ kinh của Tiểu thừa Thanh văn; cả chữ Tì già la (luận) thì chỉ kinh điển Phương đẳng Đại thừa. Cũng kinh trên, quyển 8 chép, đức Phật nói pháp, mới đầu nói nửa chữ để làm căn bản, phàm các loại kí luận, chú thuật, văn chương, các thực pháp chư ấm v.v... đều thuộc nửa chữ căn bản này, phàm phu học để làm nền tảng, rồi sau mới có thể biết rõ và phân biệt được pháp nào đúng pháp nào sai. 2. Đứng về phương diện pháp được nói mà bàn, thì nói thế pháp là nửa, nói xuất thế pháp là cả. Lại trong pháp xuất thế, nói Tiểu thừa là nửa, nói Đại thừa là cả. 3. Đứng về phương diện cái được phát sinh mà nói, thì sinh phiền não là nửa, sinh điều thiện là cả. Lại trong sinh thiện, sinh thế thiện là nửa, sinh xuất thế thiện là cả; lại trong thiện xuất thế, sinh hành giả Tiểu thừa là nửa, sinh hành giả Đại thừa là cả. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 8 nói, nửa chữ là căn bản của các lời nói phiền não, cả chữ là căn bản của hết thảy lời nói thiện pháp. Ví như ở thế gian, người làm ác gọi là bán nhân (nửa người), người tu thiện gọi là mãn nhân (cả người, người hoàn toàn). [X. Niết bàn kinh nghĩa kí Q.4 (Tuệ viễn); Xuất tam tạng kí tập Q.1; Đại Niết bàn kinh sớ (Cát tạng); Tất đàm tạng Q.7 (An nhiên)]. 4. Về phương diện phán giáo, trước nay có các vị Đàm vô sấm, Tuệ viễn, Bồ đề lưu chi, Trí khải, Khuy cơ, Trạm nhiên v.v... dựa theo nghĩa gốc của hai chữ bán mãn mà chuyển dụng thành sự giải thích độc đáo về giáo tướng phán thích. Các thuyết phán lập của các nhà tuy khác nhau, nhưng đại để đều lấy hai giáo này để phân biệt biểu thị hai giáo Đại thừa (mãn), Tiểu thừa (bán). (xt. Bán Mãn Nhị Giáo).
bán vãn
(半晚) Buổi xế trưa. Trong Tùng lâm, thời giờ giữa khoảng sau bữa ngọ trai đến buổi chiều, gọi là bán vãn, độ hai giờ trưa hiện nay. Vào giờ ấy, người coi về việc tắm giặt (gọi là dục đầu), đánh chuông báo cho đại chúng biết để đi tắm giặt. Bị dụng thanh qui quyển 7 Tri dục điều (Vạn tục 112, 55 hạ), nói: Bán vãn, dục đầu thưa Thủ tọa, Phương trượng, Duy na rồi đánh ba hồi trống, (...) đánh trống báo tắm. Còn theo Sắc tubách trượng thanh qui, thì giờ đánh trống báo tắm được làm vào sau ngọ trai. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.3 Tiết thời môn].
bán độc cổ ấn
(半獨股印) Là một trong những ấn khế của Mật giáo. Tức là ấn căn bản bất động. Là nửa ấn một chẽ, còn gọi là Tiểu độc cổ ấn. Ấn này có tác dụng phá hủy, dùng để tiêu trừ kết giới. Về phép kết ấn, cứ theo Để lí tam muội da Bất động sứ giả niệm tụng pháp chép, thì ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của tay phải co xuống nắm lấy đầu ngón cái, còn ngón trỏ duỗi thẳng đứng, là thành ấn. Nếu xoay ấn này về bên phải thì thành kết giới, mà xoay về bên trái thì thành giải giới.
bán ấn
(半印) Phép kết ấn của Mật giáo, hai tay kết một nửa ấn khế, gọi là Bán ấn. Cũng tức là kết ấn bằng một tay, thông thường dùng tay phải kết nửa ấn; nửa ấn dùng vào việc gia trì thì có bốn loại là một chẽ, ba chẽ, năm chẽ và kiếm ấn, phân biệt là nửa ấn một chẽ, nửa ấn ba chẽ, nửa ấn năm chẽ và nửa ấn kiếm (ấn gươm).
báng
To disparage, denigrate; to blaspheme, profane. Chống báng, to oppose, to resist, to go against. Nhạo báng, to laugh at. Phỉ báng, to run down s.o.; to decry, discredit; to vilify. Báng bổ thánh thần, to blaspmeme gods; to utter blasphemies against gods.
; Phỉ báng—To speak ill of—To defame—To ridicule—To slander.
báng pháp
Phỉ báng giáo pháp (một trong hai loại xiển đề, còn gọi là “Đoạn Thiện Xiển Đề”)—To slander the Truth. ** For more information, please see Nhị Chủng Nhất Xiển Đề (1).
báng pháp xiển đề
(謗法闡提) Là một trong hai loại Xiển đề. Còn gọi là Đoạn thiện xiển đề. Chỉ người không thể thành Phật được, vì đã sinh khởi tà kiến sâu đậm, phỉ báng Đại thừa mà dứt hết tất cả căn lành. Xiển đề là gọi tắt của Nhất xiển đề (chỉ người không có tính thành Phật). [X. kinh Nhập lăng già Q.2]. (xt. Nhất Xiển Đề).
báng phật
(謗佛) I. Báng Phật. Chỉ các sự tích phỉ báng gây phương hại cho việc giáo hóa của đức Phật. Sự tích nổi bật nhất là liên quan đến Đề bà đạt đa. Đề bà đạt đa vốn là em con chú bác của Phật, sau xuất gia làm đệ tử Phật. Về cuối đời, định đè lấn Phật để tự thay thế Phật, đồng thời, phá hoại sự đoàn kết của các đệ tử Phật để lôi kéo họ về phe mình, nhưng ý đồ chưa đạt mà thân đã bị rơi xuống địa ngục. Còn có trường hợp Chiên già ma na, vì ghen ghét sự hóa đạo của đức Phật quá thịnh, bèn đến tinh xá Kì viên vu cáo Phật đã cùng nàng tư thông đến mang thai, do đó mà hiện thân Chiên già ma na phải chịu nghiệp báo. Lại có ngoại đạo ở thành Xá vệ, giết chết dâm nữ Tôn đà lợi, rồi rêu rao là do Phật giết để đạt mục đích phỉ báng Phật. (xt. Chiên Già Ma Na, Báng Tam Bảo Giới). II. Báng Phật. Chỉ chung sự dèm chê Phật pháp. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 51, 247 thượng), nói: Sư bèn hỏi: Đại đức nói pháp gì để độ người? Đáp: Giảng kinh Kim cương bát nhã (...) Sư hỏi: Kinh ấy do ai nói? Vị tăng sẵng giọng đáp: Thiền sư đùa giỡn nhau vậy, há không phải là Phật nói sao? Sư đáp: Nếu bảo Như lai có nói pháp, thì là báng Phật, người ấy không hiểu nghĩa ta nói; nếu bảo kinh ấy chẳng phải Phật nói, thì là báng kinh, thỉnh đại đức nói xem. Vị tăng không trả lời được.
báng phật kinh
(謗佛經) Có một quyển. Do Bồ đề lưu chi đời Nguyên Ngụy dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Cùng bản khác dịch với kinh Quyết định tổng trì do Trúc pháp hộ dịch. Nội dung tường thuật bồ tát Sư tử du hí cùng với mười vị đại Bồ tát, đã bảy năm tu phép Đà la ni, tuy hăng hái tu hành mà không thành tựu diệu quả, nhân đó, đối với Phật pháp sinh nghi hoặc, bèn bỏ giới hoàn tục, làm nhiều hành vi bỉ tiện. Khi ấy, vua A xà thế thiết đại thí hội, mười đại Bồ tát có mặt trong hội, bồ tát Vô úy hành liền thỉnh vấn đức Phật về việc mười đại Bồ tát ấy, đức Phật bèn nói rõ nhân duyên báng Phật của họ ở đời quá khứ, đồng thời, nói về sức tiêu diệt nghiệp ác của phép Đà la ni.
báng tam bảo giới
Một trong những giới luật cấm nói xấu Tam Bảo—One of the commandments against speaking falsely of the Three Precious Ones.
; (謗三寶戒) Là một trong mười giới trọng cấm của Hiển giáo. Tức là giới cấm chỉ việc phỉ báng tam bảo Phật, Pháp, Tăng. Còn gọi là Hủy báng tam bảo giới, Trợ báng tam bảo giới, Báng loạn chính pháp giới, Phỉ báng giới, Báng Bồ tát pháp giới, Tà kiến tà thuyết giới. Theo thuyết của Thắng trang trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản thuật kí quyển 2, thì người dèm chê Phật, tức chê Phật chẳng phải là bậc nhất thiết trí, Phật cũng chẳng phải người thực, chê mười hai phần giáo và giáo pháp Tứ đế, bảo trong thế gian chẳng thật có A la hán và Bồ tát tăng. Lại theo Pháp tạng trong Phạm võng bồ tát giới bản sớ quyển 2, thì ý chế giới này có mười nghĩa nghiệp đạo nặng nhất. Bởi vì giới này là giới Báng loạn chính pháp nói trong Bồ tát giới bản do Đàm vô sấm dịch, trong kinh Bồ tát địa trì phẩm Phương tiện xứ giới và kinh Bồ tát thiện giới v.v..., tức là bác không có nhân quả, hủy báng Tam bảo, dèm chê Đại thừa, đều thuộc tội nặng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.48; Lục độ tập kinh kinh Thích gia tất tội; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi phẩm Thế tôn; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Thành thật Q.2 phẩm Lập luận; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.hạ (Trí khải)]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
bánh bằng bột mì
Maṇḍaka (S), Baked flour.
bánh xe pháp, pháp luân
Dharmacakra (S). Wheel of Law.
bánh xe, luân
Cakra (S). Wheel.
Báo
報; C: bào; J: hō; |Có các nghĩa sau: 1. Báo đáp, kết quả (s: phala). Sự báo đáp, sự thưởng phạt. Điều đem lại cho chính mình do những việc làm từ trước; 2. Công bố, tiết lộ, báo tin, tường thuật, tuyên bố; 3. Trả lời, đáp lại, đền ơn, hồi âm; 4. Đối xử, đối đãi; 5. Một trong 10 Như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
báo
Recompense, retribution, reward, punishment, to acknowledge, requite, thank; to report, announce, tell. To give back.
; (A) Nghĩa của Báo—The meanings of Recompenses: 1) Đền bù hay Trả lại: Recompense—To give back—To acknowledge—To requite—Punishment. 2) Báo ân: To thank. 3) Báo cáo: To report. 4) Thông báo: To announce. (B) Phân loại Báo—Có ba loại quả báo—Categories of Recompenses—There are three kinds of recompenses: 1) Hiện báo: Quả báo hiện đời cho những việc làm trong hiện kiếp—Recompense in the present life for deeds done now. 2) Đương báo: Quả báo trong kiếp tái sanh cho những việc làm trong hiện tại—Recompenses in the next rebirth for deeds done now. 3) Hậu báo: Quả báo cho hậu kiếp—Recompenses in subsequent life.
báo chí
Newspapers—Press.
báo chương
See Báo chí.
báo chướng
The veil of delusion which accompanies retribution.
; Một trong ba chướng. Màn vô minh làm ngăn ngại thiên căn hay do phiền não hoặc nghiệp mà phải đọa vào ác đạo—The veil of delusion which accompanies retribution, one of the three hinderers.
báo cáo
Report.
báo cáo hằng ngày
Daily report.
báo cừu
Báo thù—To revenge.
báo cừu, báo hận, báo oán, báo thù
To be revenged, to revenge oneself, to have one's revenge; to return evil for evil; to give s.o. tit for tat.
báo duyên
The circumstantial cause of retribution.
báo hiếu
To be reverent, respecfully devoted to one's parents; to fulfil one's duty of filial piety.
báo hiệu
To sign—To signal—To give a signal.
Báo hoá Phật
報化佛; C: bàohuàfó; J: hōkebutsu; |Báo thân Phật (s: saṃbhoga-kāya) và Hoá thân Phật (s: nirmāna-kāya).
Báo hoá Phật 報化佛
[ja] ホウケブツ hōkebutsu ||| The reward-body buddha (saṃbhoga-kāya) and the transformation-body buddha (nirmāna-kāya). => Báo thân Phật (s: saṃbhoga-kāya) và Hoá thân Phật (s: nirmāna-kāya).
báo hại
To do someone a disservice.
báo hỷ
Wedding announcement—To announce good news.
báo mệnh
Kiếp nầy nhận lãnh phước báo hay sự trừng phạt của những những nghiệp lực đời trước—The life of reward or punishment for former deeds.
báo nghĩa
To return thanks—To render thanks to someone.
báo nguy
See Báo Động.
báo nhân
The cause of retribution.
; Cảm thọ cái nhân thiện ác của quả báo sướng khổ—The cause of retribution.
báo oan hành
(報冤行) Là một trong bốn hành quán của tổ Bồ đề đạt ma. Oan, chỉ tội nghiệp oan trái ở các kiếp trước. Người tu hành, trong khi tu đạo, nếu gặp nghịch cảnh khổ nạn, thì tự nghĩ đó là quả báo của ác nghiệp mà mình đã phạm ở kiếp trước, nay tuy không phạm, nhưng đều là quả ác nghiệp của kiếp trước đã chín, thì cam tâm nhận chịu, không phàn nàn, không kêu oan. Khi tâm ấy sinh khởi thì tương ứng với lí, thể nhận oan mà tiến tu đạo nghiệp, vì thế gọi là Báo oan hành. [X. luận Nhị nhập tứ hành]. (xt. Tứ Hành).
báo phật
To thank the Buddha.
; 1) Báo đáp Phật ân: To thank the Buddha. 2) See Báo Thân.
báo phục
To pay s.o. out, to pay s.o. back in his own coin; to return in kind.
; To retaliate—To return like for like (good for good and evil for evil).
báo quả
The reward-fruit, or consequences of past deeds.
; Kết quả sướng khổ do nghiệp nhân thiện ác trong quá khứ báo đáp—The reward-fruit, or consequences of past deeds.
báo quốc
To fulfil one's dutty towards one's country.
báo quốc tự
(報國寺) I. Báo quốc tự. Vị trí chùa nằm trong cửa Quảng an ở Bắc bình. Sáng lập vào đời Liêu, đến đầu đời Minh thì đổ nát. Năm Thành hóa thứ 2 (1466) đời Hiến tôn, em Chu thái hậu là Cát tường xuất gia ở đây, nên mới sửa lại chùa cũ và đổi tên là chùa Từ nhân; năm Càn long 19 (1754) đời Thanh lại trùng tu, đổi gọi là chùa Đại báo quốc từ nhân. Mé tây chùa có đền Cố xử sĩ, do Hà thiệu cơ và Trương mục góp công của dựng lên vào năm Đạo quang 23 (1843) để kỉ niệm nhà tư tưởng Cố viêm vũ. II. Báo ân tự. Vị trí chùa năm tại chân núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên, là cửa của núi Nga mi. Là chùa thuộc Thiền tông, được xây dựng vào khoảng niên hiệu Vạn lịch đời Thần tôn nhà Minh. Nguyên tên là Hội tôn đường, còn gọi là Hội tôn phường. Được trùng tu vào thời Khang hi nhà Thanh và đổi tên gọi như hiện nay. Trên tấm biển ngoài cổng chùa có ba chữ Báo quốc tự do chính tay Khang hi viết. Các điện đường chủ yếu trong chùa gồm có Di lặc điện, Đại hùng bảo điện, Thất Phật điện, Tàng kinh lâu v.v... từ trước vào sau, cấp bậc cứ cao lên dần. Kiến trúc rất là to lớn, tượng Phật trong các điện đều thếp vàng, rực rỡ chóa mắt. Và tại đây còn tàng trữ pho tượng Phật bằng sứ tráng men từ năm Vĩnh lạc 13 (1415) đời Minh, cao bốn mét hai mươi phân tây. Trước điện Thất Phật có tòa tháp đúc bằng đồng cao bảy mét, nguyên là tháp Phật của chùa Thánh tích đã bị bỏ ở đời Minh, trên tháp đúc hơn bốn nghìn bảy trăm tượng Phật và toàn bộ văn bản kinh Hoa nghiêm, là một kiệt tác rèn đúc tinh xảo.
báo sa
Pausa (skt)—Tháng đầu tiên trong ba tháng mùa đông ở Ấn Độ, từ 16th tháng mười của Trung Quốc—The first of the three Indian winter months, from 16th of the 10th Chinese month. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt (10).
báo sanh tam muội
Mức độ của Bồ Tát Tam muội từ Bát Địa trở lên, trong đó Bồ Tát thành đạt những lực siêu việt, như người nhìn sắc tướng chứ không dùng tâm lực (hiện ra vô số hình tướng, sanh ra vô số công đức)—A degree of bodhisattva samadhi, in which transcendental powers are obtained.
báo sinh
(報生) Còn gọi là Sinh đắc, Quả báo. Có nghĩa là quả báo không do tu tập mà được, tức chỉ quả báo tự nhiên sinh. Khi các Bồ tát từ bát địa trở lên chịu thân biến dịch, thì tự nhiên được định đồng thời phát sinh, gọi là Báo sinh tam muội.
báo sinh tam muội
(報生三昧) Là tam muội mà pháp thân Bồ tát từ địa thứ tám trở lên có được. Đồng nghĩa với Báo định. Tức quả báo của địa thứ tám tự nhiên mà sinh, cho nên gọi là Báo sinh tam muội. Sau khi vào tam muội này, tâm tự nhiên trở thành vô công dụng, có khả năng nhậm vận vô tác mà thị hiện các loại thân để tế độ chúng sinh hoặc cúng dường Phật. Bồ tát địa thứ tám, ngoài việc được báo sinh tam muội ra, cũng còn trụ nơi Như huyễn tam muội. Luận Đại trí độ quyển 50 (Đại 25, 418 trung), nói: Được báo sinh tam muội, như người thấy màu sắc, không dùng đến tâm lực. Trụ trong tam muội này độ chúng sinh thì an ẩn hơn ở trong Như huyễn tam muội, tự nhiên mà thành việc, không cần dùng sức vất vả. Cũng như cầu của cải, có người vất vả mới được, có người tự nhiên mà được. Như thế thì biết sự sai khác giữa Như huyễn tam muội và Báo sinh tam muội là ở chỗ có dùng tâm lực hay không, nhưng sự thuyết pháp độ sinh, cúng dường thì như nhau không khác. Lại theo Vãng sinh luận chú quyển hạ, thì Bồ tát bát địa trở lên, nhờ báo sinh tam muội mà chứng được pháp thân bình đẳng. Tức nhờ thần lực của báo sinh tam muội, có thể trong một lúc một niệm biến khắp mười phương thế giới, thị hiện các loại giáo hóa, thường làm nhiều Phật sự, mà tuyệt không có tưởng đi lại, cúng dường, độ thoát. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.6, luận Vãng sinh; Thập địa kinh luận Q.9].
báo sát
Realm of retribution.
báo tang
To announce a death.
Báo Thân
(s: saṃbhoga-kāya, 報身): chỉ cho thân quả báo của Phật; còn gọi là Báo Phật (報佛), Báo Thân Phật (報身佛), Thọ Pháp Lạc Phật (受法樂佛); hoặc được dịch là Thọ Dụng Thân (受用身), Thực Thân (食身), Ứng Thân (應身); là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật; tức là thân Phật có quả báo nhân vị vô lượng nguyện hạnh, vạn đức viên mãn. Đây cũng là thân kết quả của sự báo ứng các nguyện hạnh đầy đủ của vị Bồ Tát mới phát tâm tu tập cho đến tròn đầy Mười Địa. Như A Di Đà Phật, Dược Sư Như Lai, Lô Xá Na Phật, v.v., đều là Báo Thân Phật. Báo Thân lấy Đại Trí (大智, tức trí tuệ không phân biệt của bậc Thánh), Đại Định (大定, nghĩa là không tác ý) và Đại Bi (大悲, tâm từ bi có thể giúp cứu bạt nỗi khổ của chúng sanh) làm thể; có đầy đủ vô lượng sắc tướng, muôn công đức của Thập Lực (s: daśa-bala, p: dasa-bala, 十力, Mười Lực), Tứ Vô Úy (s: catur-vaiśāradya, p: catu-vesārajja, 四無畏, Bốn Vô Úy), v.v. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 9 cho biết rằng đức Phật co hai thân là Pháp Tánh Thân (法性身, Thân Pháp Tánh) và Phụ Mẫu Sanh Thân (父母生身, thân do cha mẹ sanh ra). Pháp Tánh Thân thì biến khắp cùng hư không, tướng hảo trang nghiêm, có vô lương hào quang sáng rực và vô lượng âm thanh. Quyển 30 cùng điển tịch này còn nêu rõ rằng đức Phật lại có hai thân là Chơn Thân (眞身) và Hóa Thân. Chơn Thân thì cùng khắp hư không, âm thanh thuyết pháp của thân này cũng biến khắp mười phương vô lượng thế giới, nhưng chỉ có vị Bồ Tát ở địa vị Thập Trụ (十住) mới có thể lấy trí lực phương tiện không thể nghĩ bàn mà nghe được. Quyển 33 lại nêu ra hai loại thân khác là Pháp Tánh Sanh Thân (法性生身) và Tùy Thế Gian Thân (隨世間身). Pháp Tánh Sanh Thân thường có vô lượng vô số không thể tính đếm các vị Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ theo hầu. Thông thường thân này chỉ cho Thật Báo Thân (實報身) của Phật. Đối với nội chứng cũng như ngoại dụng của Báo Thân, căn cứ trên nghĩa thọ dụng, Thiên Thai học giả chia Báo Thân thành Tự Thọ Dụng Báo Thân (自受用報身) và Tha Thọ Dụng Báo Thân (他受用報身); rồi căn cứ trên quốc độ cư trú của Báo Thân mà phân thành Chơn Báo Thân Độ (眞報身土) và Ảnh Hiện Báo Thân Độ (影現報身土). Chơn Báo Thân Độ chính là nơi chư vị Bồ Tát thị hiện trên mặt đất, là cõi nước Báo Thân để dùng phương tiện giáo hóa, truyền đạo. Thọ Dụng Thân (受用身) của Pháp Tướng Tông và Duy Thức Tông đồng nghĩa với thân này. Đại Thừa Đồng Tánh Kinh (大乘同性經, Taishō Vol. 16, No. 673) quyển Thượng cho rằng thành Phật nơi cõi uế độ tương đối là Hóa Thân, thành Phật nơi cõi Tịnh Độ là Báo Thân. Trong Phật Tam Thân Tán (佛三身讚, Taishō Vol. 32, No. 1678) có bài kệ về Báo Thân rằng: “Ngã kim khể thủ Báo Thân Phật, trạm nhiên an trú đại Mâu Ni, ai mẫn hóa độ Bồ Tát chúng, xứ hội như nhật nhi phổ chiếu, Tam Kỳ tích tập chư công đức, thỉ năng viên mãn tịch tĩnh đạo, dĩ đại âm thanh đàm diệu pháp, phổ linh hoạch đắc bình đẳng quả (我今稽首報身佛、湛然安住大牟尼、哀愍化度菩薩眾、處會如日而普照、三祇積集諸功德、始能圓滿寂靜道、以大音聲談妙法、普令獲得平等果, con nay cúi lạy Báo Thân Phật, sáng trong an trú đức Mâu Ni, xót thương hóa độ chúng Bồ Tát, khắp chốn như trời chiếu cùng khắp, ba đời tích tập các công đức, mới thể tròn đầy đạo vắng lặng, lấy âm thanh lớn bàn pháp mầu, khiến cho đạt được bình đẳng quả).” Hay trong Triệu Luận Lược Chú (肇論略註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 54, No. 873) quyển 5 có giải thích rằng: “Dĩ tam thế chư Phật khoáng kiếp tu nhân, chứng thử nhất tâm chi thể, danh vi Pháp Thân; dĩ thù quảng đại chi nhân, danh vi Báo Thân; tùy cơ ích vật, danh vi Hóa Thân; nhất thiết chư Phật giai cụ Tam Thân; Pháp Thân vi thể, Hóa Thân vi dụng, hữu cảm tức hiện, vô cảm tức ẩn (以三世諸佛曠劫修因、證此一心之體、名爲法身、以酬廣大之因、名爲報身、隨機益物、名爲化身、一切諸佛皆具三身、法身爲體、化身爲用、有感卽現、無感卽隱, vì ba đời các đức Phật muôn kiếp tu nhân, chứng thể nhất tâm này, nên gọi là Pháp Thân; để báo ứng nhân to lớn này, nên gọi là Báo Thân; tùy cơ duyên mà làm lợi ích muôn loài, nên gọi là Hóa Thân; hết thảy các đức Phật đều có đủ Ba Thân; Pháp Thân làm thể, Hóa Thân làm dụng, có cảm tức hiển hiện, không cảm thì ẩn tàng).” Trong Tứ Phần Luật Sưu Huyền Ký (四分律搜玄錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 41, No. 732) quyển 1 cho biết rằng: “Báo Thân danh Lô Xá Na (報身名盧舍那, Báo Thân có tên gọi là Lô Xá Na).” Vì vậy, có câu cúng dường “Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật (圓滿報身盧舍那佛).”
Báo thân
報身; C: bàoshēn; J: hōshin; S: saṃbhogakāya; cũng được gọi là Thụ dụng thân (受用身);|Báo thân Phật (s: saṃbhoga-kāya). Thân lí tưởng của Đức Phật, đạt được sau khi thành Phật do lời nguyện đã phát ra trong khi thực hành công hạnh Bồ Tát. A-di-đà được xem là Báo thân Phật. Duy thức gọi thân nầy là Thụ dụng thân (受用身). Ba thân.
báo thân
Recompensed Body Sambhogakaya (S)The Buddha's glorious bodily mani-festation as the result of the meritorious acts which he did when he was a bodhisattva.
; Sambhoga-kàya (S) The reward body of a Buddha, in which he enjoys the rewards of his labours.
; 1) Báo thân Phật hay thân tái sanh của Phật: The reward body, the sambhoga-kaya of a Buddha. The incarnation body of the Buddha, or retribution body in which he enjoys the reward of his labours. 2) Thân được lập thành do bởi nghiệp báo của chúng ta gọi là báo thân: Our physical body is called the retribution body because we are on this earth, the Saha World or World of Endurance, as a result of good and evil karma. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
; (報身) I. Báo thân. Phạm: saôbhoga-kàya. Chỉ thân quả báo của Phật. Còn gọi là Báo Phật, Báo thân Phật, Thụ pháp lạc Phật. Hoặc dịch là Thụ dụng thân, Thực thân, Ứng thân. Cũng gọi là Đệ nhị thân. Là một trong ba thân, một trong bốn thân. Tức là quả báo đền trả vô lượng hành nguyện ở nhân vị , là thân Phật tròn đầy muôn đức. Cũng tức là quả thân của Bồ tát lúc mới phát tâm tu tập cho đến khi tu hành đầy đủ mười địa đền đáp những hành nguyện ấy, cho nên gọi là Báo thân. Như Phật A di đà, Dược sư Như lai, Phật Lô xá na v.v... đều là báo thân Phật. Luận Đại thừa khởi tín lấy nghĩa đền nhân cảm quả để giải thích báo thân, nói báo thân là sắc thân mà các Bồ tát ngôi Tam hiền, Thập địa tùy phận được thấy không đều nhau. Báo thân lấy đại trí (thánh trí vô phân biệt), đại định (vô tác ý), đại bi (có thể nhổ hết các gốc khổ cho chúng sinh) làm thể, có đủ vô lượng sắc tướng và vô lượng công đức mười lực, bốn vô úy. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 9 nói, thì Phật có hai thân là thân pháp tính và thân do cha mẹ sinh, thân pháp tính tràn khắp mười phương hư không, tướng tốt đẹp đẽ, có vô lượng ánh sáng và vô lượng âm thanh. Cũng luận trên quyển 30 nêu lên thân Phật có hai thứ là chân thân và hóa thân, chân thân tràn đầy hư không, tiếng nói pháp cũng vang khắp mười phương vô lượng thế giới, nhưng chỉ có các Bồ tát Thập trụ có thể dùng trí lực phương tiện bất khả tư nghị nghe được mà thôi. Quyển 33 thì nêu lên hai thứ là pháp tính sinh thân và Tùy thế gian thân, Pháp tính sinh thân thường có vô lượng vô số a tăng kì Bồ tát nhất sinh bổ xứ theo hầu. Tất cả loại thân vừa kể đều chỉ thân thực báo của đức Phật. Các nhà Thiên thai, đối với phần nội chứng, ngoại dụng của Báo thân, về nghĩa thụ dụng, đem chia báo thân thành Tự thụ dụng thân, Tha thụ dụng thân; rồi theo báo thân và cõi nước báo thân ở mà chia thành cõi báo thân thực và cõi báo thân ảnh hiện. Cõi chân báo thân là vì các Bồ tát địa thượng mà hiện để làm cõi báo thân chứng đạo (thực lí chư Phật đã chứng); đối lại với cõi này, cõi báo thân ảnh hiện là đặc biệt vì những người Địa tiền mà hiện để làm cõi báo thân dạy đạo (đạo phương tiện chỉ dạy). Thân thụ dụng trong ba thân do các nhà Pháp tướng duy thức chủ trương tức đồng nghĩa với thân này. Lại cứ theo luận Nhiếp đại thừa quyển hạ (bản dịch đời Lương), Nhiếp đại thừa luận thích quyển 13 (bản dịch đời Lương), thì Tịnh độ của chư Phật và Bồ tát nghe pháp Đại thừa hoặc vì người khác nói pháp mà thụ hưởng pháp lạc, đều lấy Báo thân Phật làm nhân, đều do Báo thân thành tựu. Kinh Đại thừa đồng tính quyển thượng, đối lại với sự thành Phật ở uế độ là Hóa thân, bảo thành Phật ở Tịnh độ là Báo thân, tức hàm ý là Tịnh độ của chư Phật là lấy báo thân làm nhân mà hiển hiện. Bởi vì Nhiếp đại thừa luận quyển hạ (bản Lương dịch) liệt kê thân Thụ dụng và thân Tự tính có sáu thứ khác nhau, thân biến hóa và thân Tự tính có tám thứ bất đồng. Cũng sách trên, luận thích trong quyển 13 đến quyển 15, thuyết minh hai thân Thụ dụng, Biến hóa đều lấy thân Tự tính làm nơi nương tựa. Pháp thân là phương tiện tự lợi, thụ dụng thân và biến hóa thân là phương tiện lợi tha, có nghĩa là Báo thân chỉ là thân lợi người lợi vật, vì các Bồ tát địa thượng mà hiển hiện, còn Pháp hoa kinh luận thì nói Báo Phật (thân tốt đẹp trang nghiêm do tu hành tròn đầy mười địa được báo đền) và Pháp thân đều là thân tự lợi. Về điểm này, cứ theo ý của Cát tạng trong Pháp hoa huyền luận quyển 9, trong Pháp hoa kinh luận, lấy Phật tính làm Pháp thân, cái mà Phật tính hiển hiện là Báo thân, thân hóa độ chúng sinh là Hóa thân, là y vào nghĩa mở Bản hợp Tích. Trong luận Nhiếp đại thừa hợp Phật tính và cái mà Phật tính hiển hiện làm Pháp thân, hóa Bồ tát là Báo thân, hóa Nhị thừa là Hóa thân, là y vào nghĩa mở Tích hiển Bản. Phật địa kinh luận quyển 7 chia thân Thụ dụng làm hai thân là Tự thụ dụng và Tha thụ dụng, lấy thân Tự thụ dụng làm thực thân của phần tự lợi, thân Tha thụ dụng là Hóa thân vì các Bồ tát Địa thượng mà hiển hiện để nêu tỏ hai phương diện của Báo thân. [X. kinh Hợp bộ kim quang minh Q.1 phẩm Tam thân phân biệt; kinh Vô thượng y Q.thượng; Pháp hoa kinh luận Q.hạ; luận Phật tính Q.4 phẩm Vô biến dị; luận Cứu kính nhất thừa bảo tính Q.4 phẩm Chuyển thanh tịnh thành bồ đề, phẩm Như lai công đức; Kim cương Bát nhã ba la mật kinh luận Q.thượng. Thập địa kinh luận Q.3; Kim cương tiên luận Q.5. Q.8, Q.9, Đại thừa nghĩa chương Q.19, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần đầu]. (xt. Tam Thân, Phật Thân, Thụ Dụng Thân, Tượng Trưng Chủ Nghĩa). II. Báo thân. Chỉ cái thân của chúng sinh vì nghiệp phải chịu báo sinh trong sáu ngả trời, người, a tu la, địa ngục, súc sinh, và ngã quỉ.
báo thân ngũ chủng tướng
(報身五種相) Chỉ Báo thân có năm tướng là Thuyết pháp, Khả kiến, Chư nghiệp bất hưu tức, Hưu tức ẩn một, Thị hiện bất thực thể. 1. Tướng thuyết pháp, nghĩa là Báo thân vì chúng sinh mà nói pháp. 2. Tướng khả kiến, nghĩa là tướng tốt đẹp của Báo thân mà người khác có thể thấy được. 3. Tướng chư nghiệp bất hưu tức, nghĩa là những hành nghiệp Báo thân hóa độ lợi vật không diệt mất. 4. Tướng hưu tức ẩn một, nghĩa là tướng Báo thân tùy cơ cảm mà thị hiện nhập diệt. 5. Tướng thị hiện bất thực thể, tức như thân ứng hóa thị hiện cái thể chẳng thực của Báo thân. [X. Luận Bảo tính Q.4]
báo thân phật
See Báo Thân.
báo thân phật a di đà
The reward body of Amitabha Buddha.
Báo thân 報身
[ja] ホウシン hōshin ||| The reward body of the buddha (saṃbhoga-kāya). The ideal body of a buddha which is produced upon entering buddhahood as the result of vows undertaken during the practices in the bodhisattva path. Amitābha 阿彌陀 is regarded as a reward-body buddha. 〔華嚴經 T 278.9.565b17〕Interpreted in Yogācāra as 受用身. => Báo thân Phật (saṃbhoga-kāya). Thân lý tưởng của Đức Phật chứng được sau khi thành Phật do lời nguyện đã phát ra trong khi thực hành công hạnh Bồ-tát. A-di-đà được xem là Báo thân Phật. Du-già hành tông gọi là Thụ dụng thân (受用身).
báo thông
The supernatural powers that have been acquired as karma by demons, spirits, nagas etc.
; See Nghiệp Thông.
báo thù
To give tit for tat—To take upon vengeance—To avenge.
báo thức
To awake—To wake up.
báo tri
To inform.
báo trước
To foretell—To predict.
báo tạ
To acknowledge and thank.
; (報謝) Thông thường chỉ ý cảm tạ báo đáp ơn Phật, ơn sư trưởng. Ngoài ra, hư tạ lễ cúng dường chư tăng, hoặc khi đi lễ các nơi thánh địa làm việc bố thí, cũng có thể gọi là báo tạ. [X. Chính pháp nhãn tạng ca sa công đức chương (Đạo nguyên); Giáo hành tín chứng hóa độ quyển].
Báo Từ Tấn Anh
(報慈進英, Hōji Shinei, ?-1122): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Thái Hòa (太和), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), họ là La (羅). Ông bị nệnh nặng sắp chết, nghe lời mẹ khuyên đến xuất gia với Động Long (洞隆) ở Tập Thiện Tự (集善寺), cho nên được lành bệnh. Sau đó, ông đi tham học khắp các nơi, được đại ngộ dưới trướng của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ngoài ra, ông còn được Phật Ấn Liễu Nguyên (佛印了元) công nhận tài trí của ông, nên được gọi là Anh Thiết Tuy (英鐵觜). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hựu (元祐, 1086-1094), ông khai đường giáo hóa tại Khai Phước Tự (開福寺), Trường Sa (長沙, Tỉnh Hồ Nam) và sau đó chuyển đến Lương Sơn (梁山). Vào năm thứ 4 (1114) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông làm trú trì Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Hoa Dược Sơn (花藥山), Hành Dương (衡陽, Tỉnh Hồ Nam). Đến tháng 12 năm thứ 4 (1122) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông thị tịch.
báo từ văn khâm
Paotzu Wenchin (C), Hoji Bunkin (J)Tên một vị sư.
báo ân
To acknowledge, or requite favours. To pay a debt of gratitude; to return good for good.
; Báo đáp công ân—To return thanks—To render thanks—Acknowledge or requite favours.
; (報恩) I. Báo ân. Ý là đền trả ân đức. Là một trong ba ruộng phúc. Tức báo đền ơn đức cha mẹ, sư trưởng, tam bảo và quốc vương. Ơn có nhiều thứ khác nhau, trong nhiều kinh điển có nói đến, như kinh Hiếu tử, kinh Phụ mẫu trọng ân, chuyên nói về ơn cha mẹ. Trong kinh Phật thăng đao lợi thiên vị mẫu thuyết pháp, tức ghi chép việc đức Phật vì nhớ ơn mẫu hậu a ha ma da mà lên cung trời Đao lợi nói pháp cho mẫu hậu nghe; kinh Chính pháp niệm xứ quyển 61 nêu lên bốn ơn là ơn mẹ, ơn cha, ơn Như lai, ơn thầy dạy; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 phẩm Báo ân, nêu lên bốn ơn là ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc vương và ơn Tam bảo. Trí giác thiền sư tự hành lục thì nêu bốn ơn là ơn thầy dạy bảo, cha mẹ nuôi nấng, quốc vương giữ gìn và thí chủ cung cấp. Về việc làm để trả ơn thì như kinh Hiếu tử nói, kính khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, qui y Tam bảo, giữ gìn năm giới để còn sống thì được yên vui, sau khi chết được sinh cõi trời, đó là việc làm báo ân; nếu chỉ làm cho miệng, bụng, tai, mắt của cha mẹ được thỏa mãn thì dù có hai vai cõng cha mẹ đi chu du bốn biển cũng không phải là hạnh của người con hiếu. Trong các kinh phần nhiều lấy việc giáo hóa lợi tha làm hạnh báo ân, bố thí, cúng dường, tụng kinh, dựng tháp, tạo tượng cũng là hạnh báo ân. Lại thường mở các pháp hội để báo ân, như Sắc tu bách trượng thanh qui quyển thượng Báo ân chương nêu hai hội Quốc kị và Kì đảo. Báo bản chương nêu các hội Phật giáng đản, Phật thành đạo niết bàn, Đế sư niết bàn (tức Đế sư Bát tư .ba đời Nguyên) v.v... đều là các pháp hội được mở để báo ân Phật tổ, quốc vương. Tại Nhật bản, Tịnh độ chân tông cho việc xưng danh niệm Phật là hạnh báo ân tổng quát. Ngoài ra, các tông phái, hàng năm đến ngày kị Tổ sư, làm các Phật sự gọi là Báo ân giảng. [X. kinh Tạp a hàm Q.47; kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.6; kinh Đại bảo tích Q.87 Đại thần biến hội; kinh Phụ mẫu ân nan báo; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.1, Q.2, Q.7; luận Đại trí độ Q.49; luận Đại tì bà sa Q.66; Pháp uyển châu lâm Q.50 Báo ân thiên]. II. Báo ân(1058-1111). Vị tăng thuộc tông Tào động đời Bắc Tống. Người huyện Lê dương tỉnh An huy, họ Lưu. Đã từng làm quan, sau hâm mộ pháp xuất thế mà xuất gia, tham vấn Thiền sư Nghĩa thanh ở núi Đầu tử thuộc Thư châu, ngộ được tâm yếu. Mở pháp tràng ở chùa Thiếu lâm, Tây kinh (Lạc dương Hà nam), sau dời về Thiền viện Sùng ninh bảo thọ núi Đại hồng (Hồ bắc), đổi Luật viện thánh Thiền viện, làm trú trì đời thứ nhất, phát dương tông phong Tào động. Kết giao thân mật với Vô tận cư sĩ Trương thương anh. Niên hiệu Chánh hòa năm đầu đời Huy tôn thị tịch, thọ năm mươi tư tuổi, tuổi hạ ba mươi hai. Cứ theo truyền thì sư có các trứ tác: Tào động tông phái lục, Thụ Bồ đề tâm giới văn, Lạc phát thụ giới nghi văn, nhưng nay đều đã mất. [X. Liên đăng hội yếu Q.28; Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Gia thái phổ đăng lục Q.3; Tục truyền đăng lục Q.10].
báo ân thí
Alms giving out of gratitude.
; Bố thí để trả ân—Almsgiving out or gratitude.
báo ân tự
(報恩寺) I. Báo ân tự. Vị trí chùa nằm về góc phía bắc Ngô huyện tỉnh Giang tô. Thông thường gọi là Bắc tự, trong chùa có tượng Phật nằm, nên còn gọi là Ngọa Phật tự. Cứ theo Đại thanh nhất thống chí quyển 55 chép, thì chùa Báo ân ở góc phía bắc Phủ thành, vốn là chùa Thông nguyên đời Ngô thời Tam quốc, đời Đường đổi là chùa Khai nguyên, Ngô việt là chùa Báo ân, cũng có khi gọi Bắc tự. Lại cứ theo Ngô địa kí, Ngô quận đồ kinh tục kí chép, thì chùa Thông nguyên là do mẹ Tôn quyền hóa nhà làm chùa; khoảng năm Khai nguyên (713-741) đời Đường, nhà vua ban chiếu chỉ làm chùa Khai nguyên, bèn đổi tên là chùa Khai nguyên. Năm Đồng quang thứ 3 (925) đời Hậu đường, Ngô việt vương Tiền lưu xây lại chùa mới, đồng thời, di tấm biển hiệu Báo ân tự (do Chi độn đời Đông Tấn sáng lập) trên núi Chi hình về đây, cho nên mới gọi là chùa Báo ân. Các kiến trúc trong chùa rất là hoa mĩ tráng lệ, đứng đầu các chùa ở vùng đông nam. Khoảng năm Sùng ninh (1102-1106) đời Bắc Tống, lại thêm hiệu là Vạn tuế khi sư Phật nhật Khế tung trụ trì chùa này, khai giảng Hoa nghiêm kinh sớ, được sắc phong là Hiền thủ giáo tự. Về sau, trải qua các cuộc binh lửa và trùng tu, đến năm Quang tự 33 (1907) đời Thanh, pháp sư Chiêu tam về trụ trì chùa này và đã sửa sang lại rất nhiều. Tháp Bắc tự gồm mười một cấp, bị nạn binh lửa thời Nam tống hủy hoại, về sau Đại Tháp chùa Báo Ân ở huyện Ngô Giang Tô được kiến thiết lại. Tháp Bắc tự hiện còn là tòa tháp lớn tám góc chín tầng, cao tám mươi mét, đường trực kính hơn bảy mét, tầng thứ nhất có lan can bao bọc chung quanh cho người ta cái cảm giác yên định. Bộ phận bên ngoài tháp làm bằng gỗ là được tu bổ, hoàn thành vào năm Quang tự 26, còn bộ phận bên trong bằng gạch thì được coi là do Đại viên kiến tạo vào đầu đời Nam tống. Tháp đại đồng bằng đá và bia Ngô vương ghi công vẽ tượng ở đàng sau tháp, đều được cho là do Trương sĩ thành kiến thiết khi trùng tu chùa Báo ân khoảng năm Chí chính (1341-1376) đời Nguyên. [X. Ngô huyện chí Q.36 Báo ân tự điều; Báo ân vạn tuế hiền thủ giáo tự bi (Nguyên đại diêm phục); Bắc tự trùng tu cửu cấp phù đồ kí (Vương thế trinh); Giang tô chi tháp (Giang tô tỉnh văn vật quản lí ủy viên hội biên); Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.4 (Thường bàn đại định, Quan dã trinh); Chi na đích Phật tháp (Thôn điền trị lang)]. II. Báo ân tự. Vị trí chùa nằm bên ngoài cửa Tụ bảo, phía nam thành Kim lăng, huyện Giang ninh tỉnh Giang tô. Hiệu là Tụ bảo sơn. Nguyên tên là chùa Kiến sơ, do đại đế Ngô tôn quyền đời Tam quốc kiến thiết vào khoảng năm Xích ô (238-251), đồng thời, xây tháp A dục để thờ xá lợi Phật do sa môn Khang tăng hội tặng. Là tòa chùa tháp lâu dài nhất trong suốt dòng lịch sử Giang nam, tương truyền là một trong tám vạn bốn nghìn tháp của vua A dục. Về sau hoang phế, từng được kiến thiết lại làm chùa Trường can, rồi đổi tên một lần nữa là chùa Thiên hỉ. Khoảng năm Chí nguyên (1264-1294) đổi là chùa Nguyên hưng thiên hỉ từ ân tinh trung. Năm Vĩnh lạc thứ 10 (1412), vua Thành tổ nhà Minh hạ lệnh xây lại, ban hiệu chùa Đại báo ân tự. Qua các đời, có các sư Khang tăng hội, Trúc tuệ đạt, Trúc pháp khoáng, Minh triệt, Tăng hựu và Pháp nhãn Văn ích hộ trì, các pháp sư Huyền tắc, Pháp an cũng từng ở đây. [X. Kim lăng Phạm sái chí Q.31; Đại thanh nhất thống chí Q.32]. III. Báo ân tự. Vị trí chùa năm ở góc đông bắc Thọ huyện tỉnh An huy. Tương truyền do đại sư Huyền trang vâng mệnh vua xây dựng vào khoảng năm Trinh quán (627-649) đời vua Thái tông nhà Đường. Nguyên tên là Sùng giáo Thiền viện, Đông thiền viện, Đông thiền tự, đến đầu năm Hồng vũ nhà Minh mới đổi tên như hiện nay. Toàn diện chùa bao quát Sơn môn, Phật điện môn, Đại hùng bảo điện, Thiền đường, khách đường v.v... Trong đại điện thờ các tượng được tạo qua các triều đại, trong đó, tượng khắc bằng gỗ ở đời Đường điềm tĩnh trang nghiêm, tượng chạm bằng gỗ ở đời Tống ngồi nhìn xuống mặc niệm, tượng đồng đời Minh đúc rất điêu luyện, hồn hậu, tượng mười tám La hán đắp bằng đất trong thời Minh, Thanh, tư thái đều khác, tạo hình kì đặc, có thể nói là những tác phẩm nghệ thuật cực kì trân quí. IV. Báo ân tự. Vị trí chùa nằm ngoài cửa tây huyện Vĩnh phong tỉnh Giang tây. Do quan Trung thư thị lang là Từ an chính hóa nhà của mình để làm chùa vào khoảng năm Thiên bảo (742-557) đời Đường, vì tên đất là trấn Báo ân nên chùa cũng gọi là chùa Báo ân. Đời Nguyên bỏ, đến năm Hồng vũ thứ 2 (1369) đời Minh, hậu duệ họ Từ mới xây tháp bên phía hữu của chùa, khoảng những năm Hoàng trị, Vạn lịch đã hai lần được sửa lại. Cây tháp hiện nay là một kiến trúc chín tầng bốn mặt, mỗi tầng cao khoảng ba mét; có sáu góc, hai cửa, đi theo thềm đá vòng quanh, có thể đi thẳng tới tầng năm đến tầng bảy. Mặt bằng tháp hình vuông, tầng trên hết thì hình cột tròn; từ tầng thứ bảy trở xuống, mặt chính mỗi tầng đều đặt một cỗ khám, trong khám có thờ tượng Phật.
báo ân điền
The field for requiting blessings received, e.g. parents.
; Một trong ba loại ruộng phước (phước điền), cha mẹ, sư trưởng, vân vân, những người có công nuôi nấng dạy dỗ chúng ta. Báo đáp được công ân nầy thì chúng ta sẽ có vô lượng công đức—One of the three sources of felicity, the field for requiting blessings received, i.e. parents, teacher, etc.
báo đáp
To compensate—To recompense.
báo đắc thiên nhĩ
Một lối giải thích tương đương khác cho thiên nhĩ thông—Another equivalent interpretation for deva-ear.
báo đền
See Báo Đáp.
báo độ
The land of reward, the Pure Land.
; Còn gọi là Phật độ hay Tịnh Độ là nơi chư Phật ngự trị, còn gọi là Hoa Tạng Thế Giới—The land in which a Buddha himself dwells—The land of reward—The Pure Land. Also called the Pure Land of all Buddhas in their Sambhogakaya. There are two kinds: 1) Tự Thọ Dụng Báo Độ: Một trong bốn “Báo Độ” của Phật, nơi chúng sanh có thể tự tìm cầu giải thoát lấy mình bằng các tuân thủ tu tập theo giáo pháp của Phật—Reward land of a Buddha in which all beings are able to seek salvation on their own, the third of the four Buddha-ksetra or Buddha-domains, that in which there is complete response to his teaching and powers. 2) Tha Thọ Dụng Độ: Reward land of a Buddha, in which all beings receive and obey his truth. ** For more information, please see Hoa Tạng Thế Giới, Phật Độ, và Tứ Độ.
; (報土) Có nghĩa là cõi nước báo đền nghiệp nhân. Tức là cái đất nước y báo do tự nghiệp của chúng sinh cảm được, và cõi Phật trong sạch do nguyện hành của Bồ tát lúc còn ở nhân vị tu hành mà cảm được. I. Báo độ. Đất nước do tự nghiệp chúng sinh chiêu cảm. Còn gọi là Quả báo độ. Cứ theo kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng phẩm Giáo hóa, kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng phẩm Hiền thánh học quán chép, thì cõi Phật ở là Tịnh độ, ngoài ra, các cõi do Tam hiền, Thập thánh cho đến hết thảy chúng sinh ở thì đều do hoặc nghiệp chiêu cảm, cho nên gọi chung là Quả báo độ. Lại cứ theo thuyết trong Tịnh danh huyền luận quyền 8 của Cát tạng, Đại thừa huyền luận quyển 5, thì cõi Quả báo có năm loại khác nhau là: Tịnh độ, Bất tịnh độ, Bất tịnh tịnh độ, Tịnh bất tịnh độ và Tạp độ, Phật vì đã sạch hết hoặc nghiệp cả trong lẫn ngoài ba cõi, nên không có đất nước, nhưng Phật vào đất nước quả báo của chúng sinh để hóa độ, cho nên gọi là ứng độ. Lại vì báo độ năm loại, nên ứng độ cũng theo đó mà có năm loại, cộng thành mười độ. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 19, Tuệ viễn nêu lên ba loại Tịnh độ là Sự tịnh, Tướng tịnh và Chân tịnh, trong Duy ma kinh lược sớ quyển 1, Trí khải nêu bốn loại là Phàm Thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang tịnh độ, trong Đại thừa huyền luận quyển 5, Cát tạng kể bốn loại là Phàm Thánh đồng cư độ, Đại tiểu đồng trụ độ, Độc Bồ tát sở trụ độ và Chư Phật độc cư độ, trong hai quyển Vô lượng thọ kinh tông yếu, Nguyên hiểu, vị tăng người Tân la, nêu lên bốn loại là Nhân quả tương đối, Nhất hướng bất nhất hướng tương đối, Thuần tạp tương đối và Chính định phi chính định tương đối, đây là dựa vào đất nước người ta ở đối với Tịnh độ mà phân loại. Trong đây, ba cõi trước của Trí khải và Cát tạng, ba cõi sau của Nguyên hiểu, hai cõi trước của Tuệ viễn và Chân độ lìa vọng trong Chân tịnh độ, tương đương với Quả báo độ; Thuần tịnh chân độ trong Chân tịnh độ của Tuệ viễn, cõi thứ tư của Trí khải và Cát tạng, cõi đầu của Tuệ viễn, cõi thứ tư của Trí khải và Cát tạng, cõi đầu của Nguyên hiểu, thì là Chân tịnh độ của một mình Phật ở. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ (Trí khải); Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Pháp hoa nghĩa sớ Q.10; Duy ma kinh sớ Am la kí Q.7, Q.8]. II. Báo độ. Là cõi trong đó Báo thân Phật ở. Còn gọi là Thực báo độ, Chân thực báo độ. Đồng nghĩa với Thụ dụng độ. Tức là cõi Tịnh độ được thành tựu để báo đáp lại các hành nguyện của đức Phật khi tu hành nhân vị ở quá khứ. Cho nên, Báo độ của Phật là do các hành nghiệp vô lậu ở nhân vị un đúc mà hiển phát ra cái cõi nước vô lượng trang nghiêm thanh tịnh; cõi này nhiếp trong Đệ nhất nghĩa đế, không thể bị các kiếp hỏa thiêu đốt hết được. Như cõi Tịnh độ cực lạc là Báo độ được thành tựu bởi bốn mươi tám nguyện của tỉ khưu Pháp tạng (tên đức Phật A di đà lúc còn ở nhân vị) vậy. Phật địa kinh luận quyển 1 nói Báo thân Phật có hai loại là Tự thụ dụng thân và Tha thụ dụng thân, do đó, cõi nước mà Ngài ở cũng chia làm Tự thụ dụng thân độ và Tha thụ dụng thân độ. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 10, Cát tạng bảo Ứng thân (tức báo thân) có Nội ứng thân và Ngoại ứng thân, độ cũng có Nội ứng thân độ, Ngoại ứng thân độ. Hai cõi Nội ứng, Ngoại ứng ở đây tương đương với Tự thụ dụng độ, Tha thụ dụng độ nói trong Phật địa kinh luận; trong đó Nội ứng tự thụ dụng thân độ là thường còn, không bị hủy hoại, còn Ngoại ứng tha thụ dụng thân độ thì không thường còn, cuối cùng sẽ bị hủy diệt. Trong luận Tịnh độ quyển thượng, Ca tài cũng nêu hai loại Báo độ là thực báo độ và sự dụng độ, loại trước, người và đất nước là đồng thể, chỉ có Phật thấy được, loại sau người và đất nước khác thể, các Bồ tát từ sơ địa trở lên tùy phần mà được thấy, tùy theo giai vị mà cái thấy có thô, có diệu khác nhau. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 1 thập chủng tịnh độ chương của Trí nghiễm và Pháp uyển nghĩa lâm quyển 15, Du tâm an lạc đạo v.v... đều kể hai loại Báo độ là thực báo độ và sự dụng độ. Nhưng, trong ba loại Tịnh độ do Tuệ viễn lập thành là Sự tịnh, Tướng tịnh và Chân tịnh, thì Chân tịnh độ lại được khu biệt làm hai thứ là cõi Chân lìa vọng do Bồ tát cảm được, và cõi Chân thuần tịnh do Phật chứng đắc; rồi cõi Chân thuần tịnh lại được chia làm ba cõi là Pháp tính, Thực báo và Viên ứng. Trong Duy ma kinh lược sớ quyển 1, thì Trí khải cho rằng ngoài cõi Thực báo do Bồ tát cảm ra, không có riêng cõi Tịnh độ của báo Phật, tức là trong bốn cõi được thành lập, thì lấy cõi Phàm Thánh đồng cư và cõi Phương tiện hữu dư làm cõi Ứng thân Phật cư trụ, cõi Thực báo vô chướng ngại làm cõi Báo thân Phật cư trụ (tức chỗ ở của các Bồ tát đã đoạn hết vô minh), còn cõi Thường tịch quang thì là cõi Pháp thân cư trụ (tức là cõi cư trụ của chư Phật Như lai). Lại trong Tịnh danh huyền luận quyển 8, Cát tạng cũng chủ trương thuyết ứng độ tức là báo độ. [X. Kim cương tiên luận Q.5; luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa huyền luận Q.5; Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.19; Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 phần trên; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên; Nhân vương kinh sớ Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối, luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1; Duy ma kinh sớ Am la kí Q.7]. (xt. Tứ Độ, Thụ Dụng Độ).
báo động
To alert—To alarm.
báo ơn
See Báo Nghĩa.
Báo ứng
報應; C: bàoyìng; J: hōō; |Kết quả, sự đáp lại, sự phản ứng. Hoạt động của nguyên lí nghiệp. Mối quan hệ hoàn thiện của nhân và quả. Tương tự như quả (果).
báo ứng
Time's revenge. Thật điều báo ứng chẳng sai, sát nhân thì giả tử, by one of Time's revenges he is killed who killed.
; Báo Thân—Ứng Thân—Recompense, reward, punishment—See Tam Thân Phật.
; (報應) Chỉ việc hễ có làm tất có báo, có cảm tất có ứng, cho nên cái nhận được ở hiện tại, dù họa hay phúc, đều là báo ứng cả. Như làm các nghiệp thiện phóng sinh, bố thí, phạm hạnh v.v... Tức do gieo nhân lành mà cảm quả lành, trái lại, làm các nghiệp ác như giết hại, trộm cướp, gian dâm v.v... tức do gieo nhân ác mà chiêu cảm báo ác.
báo ứng phật
Vipākabuddha (S)Báo sinh PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
Báo ứng 報應
[ja] ホウオウ hōō ||| Result, response, reaction. The action of the principle of karma. The flawless connection of cause and effect. Similar to 果. => Kết quả, sự đáp lại, sự phản ứng. Hoạt động của nguyên lý nghiệp. Mối quan hệ hoàn thiện của nhân và quả. Tương tự như quả.
Báo 報
[ja] ホウ hō ||| (1) Reward, result (phala). Retribution, recompense. The events that one brings upon oneself due to previous actions. (2) To announce, to tell, to inform, to report, to declare. (3) Answer, response, reward, reply. (4) Handle, deal with. (5) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => Có các nghĩa sau: 1. Báo đáp, kết quả (s: phala). Sự báo đáp, sự thưởng phạt. Điều đem lại cho chính mình do những việc làm từ trước. 2. Công bố, tiết lộ, báo tin, tường thuật, tuyên bố. 3. Trả lời, đáp lại, đền ơn, hồi âm. 4. Đối xử, đối đãi. 5. Một trong 10 Như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị.
Bát
鉢 (缽); S: pātra; P: patta; nguyên âm là Bát-đa-la (鉢多羅); Hán Việt: Ứng lượng khí (應量器), nghĩa là »dụng cụ chứa đựng vừa đủ«;|Chỉ dụng cụ đựng thức ăn khi khất thực của các Tỉ-khâu. Truyền thống ôm bát đi khất thực vẫn còn giữ trong các nước theo Phật giáo Nam truyền. Trong các tranh tượng, bát là dấu hiệu của một vị giáo chủ khi vị này ngồi thế Kết già với tay cầm bát (Bảo Sinh Phật).
bát
Aṣṭa (S), Hatsu (J), Aṭṭha (P), Eight.
; Pàtra (S), Patta (P). Alms bowl. Asta (S). Eight .
; 1) Bát khất thực: Patra Skt)—An almsbowl—See Bát Đa La. 2) Phổ quát: Universal. 3) Rộng lớn: Wide—Widely. 4) Tám: Asta (skt)—Eight. 5) Vạch ra: To spread—To open out—To disseminate—To scatter—To detach. 6) Tách ra: To detach. 7) Tháo rời ra: To disseminate. 8) Nhổ tận gốc (nói về nghiệp): To uproot.
; (鉢) Phạm: Pàtra, Pàli: patta. Là tiếng gọi tắt của Bát đa la, Bát hòa la. Còn gọi là Bát vu. Là đồ dùng mà tăng ni thường mang theo mình (là một trong sáu vật của tỉ khưu, một trong mười tám vật của tỉ khưu), thông thường gọi là thực khí (đồ để đựng thức ăn). Hình tròn, hơi dẹp, đáy bằng, miệng hơi nhỏ. Về nguyên liệu, mầu sắc, cỡ lớn nhỏ, đều có định chế, là thực khí đúng như pháp, là thực khí dùng để nhận sự cúng dường của người, trời, cũng là thực khí đúng với phân lượng mà một người có sức ăn, vì thế còn gọi là ứng khí, ứng lượng khí. Là chiếc bát mà người xuất gia tu hành phải dùng đúng với qui định luật đã chế. Về nguyên liệu, nếu làm bằng sắt thì gọi là thiết bát (Pàli:ayo patta); nặn bằng đất thì gọi là ngõa bát, nê bát, thổ bát. Cái túi để đựng bát thì gọi là Bát nang, Bát đại. Cái đế để giữ cho bát khỏi nghiêng đổ thì gọi là Bát chi; cái bát do đức Thế tôn dùng, gọi là Phật bát (bát đá thì chỉ có đức Phật được dùng). Đời sau cũng có người dùng bát gỗ sơn, nhưng đây là bát của ngoại đạo dùng, không phải trong phạm vi giới luật chế định. Có năm cách sửa chữa cái bát đã thủng, gọi là Ngũ chuế bát (năm cách vá bát). Đó là: 1. Lấy cái đinh nhỏ bít lấy chỗ thủng. 2. Lấy mẩu sắt nhỏ đóng chỗ thủng cho bền. 3. Nếu lỗ thủng chìa ra như răng cưa, thì đóng lại cho trong ngoài giáp nhau. 4. Lấy mẩu sắt mỏng bưng lấy lỗ thủng rồi nện chung quanh. 5. Dùng vụn sắt hoặc vụn đá nghiền. Những bát thủng, nếu thủng từ năm chuế (mỗi chuế dài bằng hai ngón tay, tức khoảng sáu phân tây) trở xuống thì mới vá sửa, nếu năm chuế trở lên thì không cần vá mà có thể yêu cầu đổi bát mới. Sau khi cái bát đã sửa vá mà dùng lại thì gọi là Ngũ chuế bát. Cỡ bát lớn nhỏ, trong các luật điển đều có sai khác, dung lượng tùy theo tên gọi mà cũng khác; thông thường có Thượng bát, Trung bát và Hạ bát khác nhau. Theo luật Thập tụng quyển 43 nói, thì Thượng bát có thể chứa ba bát tha cơm, một bát tha canh và các thực vật khác nửa canh; Hạ bát có thể chứa một bát tha cơm, nửa bát tha canh và các thực vật khác nửa canh; còn dung lượng của Trung bát thì ở khoảng giữa. Lại Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 5 bảo, một bát tha tương đương với ba mươi lạng cơm, như vậy ba bát tha cơm bằng hai thăng, một bát tha rưỡi, thành là một thăng. Ngoài ba bát Thượng, Trung, Hạ ra, còn có: 1. Quá bát, còn gọi là Đại bát, to hơn Thượng bát. 2. Giảm bát, còn gọi là Phi bát, nhỏ hơn Hạ bát. 3. Tùy bát, tức chiếc bát sắt nông, tương đương với bôn tử (một thứ đồ để đựng thức ăn). [X. Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.7 Khất học xứ; luật Tứ phần Q.9, Q.43; luật A tăng kì Q.37; Thiện kiến luật tì bà sa Q.15].
bát ba la di
Tám tội của chư Ni—Eight parajika, in relation to the sins of a nun: (A) Bốn tội đầu xin xem Tứ Đọa—The first four sins, please see Tứ Đọa. (B) Bốn tội sau—The last four sins: 5) Đem lòng dâm chạm vào thân thể người nam: Libidinous contact with a male. 6) Bất cứ hành động không thích hợp nào đưa đến tà dâm với người nam—Any sort of improper association which leads to adultery: - Sờ tay người nam: Touch the arms of a male. - Sờ áo người nam: Touch a male's shirt. - Vào phòng người nam: Enter a male's room. - Đứng một mình với người nam: Stand alone with a male. - Nói chuyện một mình với người nam ở nơi tư riêng: To converse with a male in a private place. - Cùng đi song đôi với người nam vì bất cứ lý do gì: To promenade with a male for whatever reason(s). - Dựa mình vào người nam: To lean one's back on a male's back. - Hẹn nhau với người nam để tính chuyện dâm đảng: To arrange to meet with a male for sexual conduct. 7) Phú tàng tha trọng tội giới: Biết đồng đạo phạm tội mà che dấu—Concealing the misbehaviour of an equal or inferior nun. 8) Tùy thuận bị cử Tỳ Kheo giới: Giao dịch đi lại với Tỳ Kheo không đúng phép—Improper dealings with a monk.
bát biến hóa
Eight supernatural powers of transformation, characteristics of every Buddha: 1-Làm nhỏ lại, to shink self or others, or the world and all things to an atom; 2-Làm lớn ra, to enlarge ditto to fill all space 3-Làn nhẹ đi, to make the same light as a feather; 4-Làm cho tự tại, to make the same any size or anywhere at will; 5-Làm cho có chủ, everywhere and in everything to be omnipotent; 6-Đến bất cứ đâu, to be anywhere at will; 7-Làm chấn động, to shake all things; 8-Tùy theo ý mình, to be one or many and at will pass through the solid or through space, or through fire or water, or transform the four elements at will
; Tám loại biến hóa hay tám thần thông biến hóa của chư Phật—Eight supernatural powers of transformation, characteristics of every Buddha: 1) Năng tiểu: Animan (skt)—Có khả năng làm cho nhỏ lại được—To shrink self or others (to make self or others smaller), or the world and all things to an atom. 2) Năng đại: Mahiman (skt)—Có khả năng làm cho lớn ra được—To enlarge self or others (to make self or others larger than anything in the world), or the world and all things to fill all space. 3) Năng khinh: Laghiman (skt)—Có khả năng làm cho nhẹ đi được—To make self or others, or the world and all things light as a feather (to make self or others lighter). 4) Năng tự tại: Vasitva (skt)—Có khả năng làm cho tự tại được—To make self or others any size or anywhere at will—To make everything depends upon oneself, all at will. 5) Năng hữu chủ: Isitva (skt)—Có khả năng làm cho có quyền vô hạn ở khắp mọi nơi và trên mọi vật—To make everywhere and everthing to be omnipotent—To be able to control all natural laws. 6) Năng viễn chí: Prapti (skt)—Có khả năng đến nơi xa được hay như ý thân—To be anywhere at will, either by self-transportation or by bringing the destination to himself—To reach any place at will. 7) Năng động: Có khả năng làm cho động được—The be able to shake all things. 8) Tùy ý: Prakamya (skt)—Có khả năng làm tùy theo ý mình—To be one or many and at will pass through the solid or through space, or through fire or water, or tranform the four elements at will, i.e. turn earth into water—To be able to assume any shape.
bát biện
Eight characteristics of a Buddha's speaking: never hectoring; never misleading or confused; fearless; never haughty; perfect in meaning; and in flavour; free from harshness; seasonable (or suited to the occasion)
; Tám tài hùng biện của Đức Như Lai—Tám đặc tính của Phật trong lúc nói—Eight characteristics of a Buddha's speaking: 1) Bất tê hát biện (không la ó hò hét): Never hectoring. 2) Bất mê loạn biện (không mê mờ loạn động): Never misleading or confused. 3) Bất bố biện (biện luận không tỏ vẻ khiếp sợ): Fearless. 4) Bất kiêu mạn biện: Biện luận không tỏ vẻ kiêu mạn—Never haughty. 5) Nghĩa cụ túc biện (biện luận với đầy đủ ý nghĩa): Perfect in meaning. 6) Vị cụ túc biện (biện luận với đầy đủ hương vị ý vị): Perfect in flavor. 7) Bất chuyết sáp biện (biện luận lưu loát, chẳng vụng về cứng nhắt): Free from harshness. 8) Ứng thì phân biệt (biện luận đúng lúc đúng thời): Seasonable or suited to the occasion.
; (八辯) Tám thứ tài hùng biện của Bồ tát. 1. Không nói líu nhíu. Nghĩa là uy đức của đám đông không làm cho Bồ tát sợ hãi, nên không nói líu nhíu. 2. Bình tĩnh, thản nhiên, vững chãi, rõ ràng, không bối rối, khiếp nhược. 3. Không sợ hãi, đứng giữa đám đông, như sư tử chúa, dõng dạc, không run sợ, không nao núng. 4. Không kiêu căng, ngạo mạn; trái lại, rất khiêm tốn, nhũn nhặn. 5. Không nói những điều vô nghĩa, nói những lời phù hợp pháp tướng, pháp nghĩa. 6. Có khả năng thông suốt sách luận, văn chương. 7. Không vụng về, thô kịch, những lời nói phương tiện khéo léo đã được tích tập từ nhiều kiếp đến nay. 8. Khéo thuận bốn mùa xuân hạ thu đông và ba phần đầu giữa cuối, không so le hỗn tạp. Tám tài hùng biện trên đây còn được gọi là biện tài trong sạch. [X. Kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1].
bát băng địa ngục
See Bát Hàn Địa Ngục.
bát bảo vô giá
Eight priceless things.
Bát bất
八不; C: bābù; J: hachifu;|Tám phạm trù phủ định của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna): Bất sinh, Bất diệt, Bất thường, Bất đoạn, Bất nhất, Bất dị, Bất khứ, Bất lai.
bát bất
The eight negations of Nàgàrjuna, founder of the Middle School. The four pairs are: 1-Bất sinh bất diệt, neither birth nor death; 2-Bất đoạn bất thường, neither end nor permanence; 3-Bất nhất bất dị, neither identity nor difference; 4-Bất lai bất khứ, neither coming nor going.
bát bất chánh kiến
The eight incorrect views—See Bát Tà Kiến.
bát bất chính kiến
(八不正見) Tám thứ thấy biết trái với lẽ chân chính. Đó là : ngã kiến, chúng sinh kiến, thọ mệnh kiến, sĩ phu kiến, thường kiến, đoạn kiến, hữu kiến, vô kiến. Đại minh tam tạng pháp số quyển 33 giải thích như sau : 1. Ngã kiến, tức chúng sinh chấp bậy rằng, trong năm uẩn có cái ta và cái của ta. 2. Chúng sinh kiến, tức chấp bậy rằng năm uẩn hòa hợp có thể sinh ra chúng sinh thực. 3. Thọ mệnh kiến, tức chấp rằng trong năm uẩn có một kì quả báo hoặc thọ mệnh dài ngắn. 4. Sĩ phu kiến, tức chấp bậy trong ta có cái dụng sĩ phu, có khả năng làm các việc thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp... 5. Thường kiến, tức chấp bậy rằng, cái thân năm uẩn đời này, đời sau, có thể nối tiếp mãi không dứt. 6. Đoạn kiến, tức vọng chấp rằng, thân năm uẩn đời này chết đi, đời sau không sinh ra nữa. 7. Hữu kiến, tức chấp bậy rằng, các pháp do nhân duyên sinh đều là có thật. 8. Vô kiến, tức cho rằng các pháp là rỗng không, không có gì cả. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.25].
bát bất hiển thật
(八不顯實) Nghĩa là cái thể mầu nhiệm của thực tướng các pháp do nơi chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng đi, chẳng đến, chẳng một, chẳng khác, chẳng đoạn, chẳng thường mà được hiển bày. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
bát bất hiển thực
The eight negations of the Madhyamika Doctrine—See Bát Bất Trung Đạo.
bát bất khả tư nghị
The eight inexpressibles, or things surpassing thought.
bát bất khả vượt
See Bát Kính Giáo.
bát bất quá pháp
See Bát Kính Giáo.
bát bất sinh pháp
Anutpattikadharma (skt)—Theo Kinh Lăng Già, có tám cách mà quan niệm vô sinh được thiết lập. Khi tám ý niệm về vô sinh nầy được thể chứng thì người ta đạt tới cái nhận biết về sự vô sanh của vạn hữu—According to Lankavatara Sutra, there are eight ways in which the conception of no-birth is established. When this eightfold notion of no-birth is realized, one attains the recognition of the birthlessness of all things. 1) Chư pháp hay các sự vật chưa từng được sinh ra vì ý niệm sinh và diệt không tồn tại trong thực tính: Things have never born because the idea of birth-and-death does not obtain in reality. 2) Từ cái đi trước mà có cái sau, và không có phân biệt nào giữa những cái trước và những cái sau, cũng như không có sự khởi đầu tuyệt đối nào có thể được quy cho sự vật: From that which precedes there is that which follows, and there is no difference between antecedents and consequents, and no absolute beginning can be assigned to anything. 3) Nếu bất cứ sự vật nào đã hiện hữu ở đây, thì không có cái gì có thể thay thế nó được trừ phi chúng ta tự cho rằng có sự phát nguồn độc lập, điều nầy không thể xãy ra được (theo 12 nhân duyên thì không có cái gì được gọi là sự phát nguồn độc lập cả): If anything is already here, nothing else can take its place unless we assume an independent origin, which is impossible. 4) Ý niệm về tự tính phát xuất từ sự tưởng tượng, là thứ không được đặt căn bản trên thực tính: The notion of self-substance which is not based on reality. 5) Do bởi sự tùy thuộc tương đối hay y tha khởi hay duyên khởi tính (paratantra) mà chúng ta tin là nguồn gốc tự nhiên, nhưng thực ra không có cái gì có thể được gọi là tự tính: Because of relative dependence or paratantra, we assume natural origin, but in reality there is nothing that can be called self-substance. 6) Sự nhất tính tuyệt đối của trí tuệ toàn hảo hay trí viên thành (parinishpanna) loại trừ cái ý niệm về dị biệt: The absolute oneness of perfect knowledge or parinishpanna excludes the idea of otherness. 7) Khi cái trí của sự đoạn diệt hoàn toàn (kshayajnana) được thể chứng thì sẽ không bao giờ còn sự xác định về các phiền não nữa: When the knowledge of complete destruction or kshayajnana is realized, there is never again the assertion of evil passions. 8) Trong Pháp thân của tất cả chư Phật có cái nhất thể toàn hảo và không có sự cá biệt nào phân khác cả: In the Dharmakaya of all Buddhas there is perfect unity, and no differentiating individuation.
bát bất trung đạo
Tám phủ định của Ngài Long Thọ, người sáng lập ra Tam Luận Tông. Bát Bất Trung Đạo phủ nhận tất cả những sắc thái hiện hữu. Sự thực Bát Bất Trung Đạo không có một mục đích nào cả. Chúng ta có thể xem nó như một móc tréo càn quét tất cả tám thứ sai lầm gắn liền với thế giới hiện thể, hay sự đào thải hỗ tương của bốn cặp thiên kiến, hay một chuỗi dài biện luận nhằm gạt bỏ từ sai lầm nầy đến sai lầm khác. Theo cách nầy tất cả những biện biệt về 'tự' hay 'tha,' về 'bỉ' hay 'thử' đều đều bị tuyệt diệt—Middle School (the same as ten negations except the last pair). In the Eight Negations, all specific features of becoming are denied. The fact that there are just eight negations has no specific purport; this is meant to be a whole negation. It may be taken as a crosswise sweeping away of all eight errors attached to the world of becoming, or a reciprocal rejection of the four pairs of one-sided views, or a lengthwise general thrusting aside of the errors one after the other. In this way, all discriminations of oneself and another or this and that are done away with. 1) (2) Bất Sanh Bất Diệt: Neither birth nor death—Bất sanh diệc bất diệt (không sanh không diệt), nghĩa là không có khởi cũng không có diệt; phá hủy ý niệm khởi bằng ý niệm diệt—There nothing appears, nothing disappears, meaning there is neither origination nor cessation; refuting the idea of appearing or birth by the idea of disappearance. 2) (2) Bất Đoạn Bất Thường: Neither end nor permanence—Bất đoạn diệc bất thường (không đoạn không thường), nghĩa là không có trường cửu cũng không có bất trường cửu; phá hủy ý niệm về 'thường' bằng 'đoạn.'—There nothing has an end, nothing is eternal, meaning neither permanence nor impermanence; refuting the idea of 'permanence' by the idea of 'destruction.' 3) (2) Bất Nhất Bất Dị: Neither identity nor difference—Bất nhất diệc bất dị (không giống không khác), nghĩa là không có thống nhất cũng không có phân ly; phá hủy ý niệm về 'nhất' bằng 'dị.'—Nothing is identical with itself, nor is there anything differentiated, meaning neither unity nor diversity; refuting the idea of 'unity' by the idea of 'diversity.' 4) (2) Bất Lai Bất Khứ: Neither coming nor going—Bất lai diệc bất khứ (không đến không đi), phá hủy ý niệm về diệt bằng ý niệm 'đến,' nghĩa là không có đến mà cũng không có đi; phá hủy ý niệm 'đến' bằng ý niệm 'đi.'—Nothing comes, nothing goes, refuting the idea of 'disappearance' by the idea of 'come,' meaning neither coming-in nor going-out; refuting the idea of 'come' by the idea of 'go. ** For more information, please see Thập Bất Trung Đạo.
bát bất trung đạo quán
Thiền quán về tám phủ định—Meditation on the eight negations.
bát bất tư nghì
The eight inexpressibles or things surpassing thought—See Bát Kính Giới.
bát bất tư nghị
(八不思議) Tám việc không thể nghĩ bàn. Cũng gọi A nan bát bất tư nghị. Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 20 chép, thì tôn giả A nan đã theo hầu đức Phật hơn hai mươi năm, có đầy đủ tám việc sau đây: 1. Không nhận lời mời riêng. Nghĩa là nhất cử nhất động, ngài A nan đều theo chúng tăng, không nhận lời mời riêng của thí chủ, không ăn riêng, mà luôn luôn ăn với chúng tăng. 2. Không nhận áo cũ. Nghĩa là dù cho áo cũ rách của Như lai chăng nữa, A nan cũng không dám nhận. 3. Không phải thời, không gặp. Nghĩa là A nan tuy là người theo hầu Phật, nhưng gặp Phật phải đúng giờ giấc. Như khi Đức phật đang nói pháp, hoặc phải thay mặt chúng tăng thưa trình điều gì, thì mới đến chỗ Phật. 4. Thấy đàn bà con gái, không động lòng ham muốn, không có ý tưởng ham muốn, hoàn toàn xa lìa ái dục, không đắm trước. 5. Nghe pháp không hỏi lại. Nghĩa là A nan nghe đức Phật nói mười hai bộ kinh, có khả năng hiểu ngay, không cần hỏi lại. 6. Biết chỗ đức Phật vào định. Nghĩa là A nan thường biết các cõi Thiền định mà đức Như lai đang ở trong đó, và thấy rõ Phật sẽ đối với căn cơ nào mà nói các pháp nghĩa nào. 7. Biết rõ chúng sinh nghe pháp, được lợi ích gì, chứng các tướng gì, đều có thể biết. 8. Biết hết ý đức Phật nói pháp. Nghĩa là ngài A nan nghe các pháp Như lai nói, tuy căn khí người nghe có lớn nhỏ khác nhau, giáo pháp có nông sâu bất đồng, nhưng đều biết được hết ý kín đáo.
bát bất tịnh
The eight things unclean to monks, of which there are different groups. One group is - to keep gold, siver, male slaves, female slaves, cattla, stores or to trade or farm.
; Tám điều bất tịnh cho chư Tăng Ni; tám thứ mà chư Tăng Ni không được sở hữu—The eight impure or unclean things for a monk or a nun; eight things that monks and nuns are not allowed to possess: 1) Giữ vàng: To keep gold. 2) Giữ bạc: To keep silver or money. 3) Giữ nô lệ nam: Mướn đầy tớ nam—To have male slaves, or manservant. 4) Giữ nô lệ nữ: Mướn đầy tớ nữ—To have female slaves, or maidservant. 5) Nuôi gia súc hay gia cầm: To raise cattles, birds, or domestic animals. 6) Dự trữ bất cứ thứ gì: To keep supplies of grain and silk or of anything—To store anything other than the eight appurtenances (tám món cần dùng). 7) Buôn bán trao đổi: To trade, or to do business. 8) Canh nông: To own and farm the land—To own and cultivate the land.
bát bất tịnh vật
xem tám vật bất tịnh.
; (八不淨物) Tám vật không sạch. Chỉ tám việc bị giới luật cấm các tỉ khưu, tỉ khưu ni không được nuôi giữ, tích chứa hoặc làm. Đó là : vàng, bạc, người ở, bò, dê, kho tàng, buôn bán, canh tác v.v... Ngoài ra, một thuyết khác về tám vật không sạch là: ruộng vườn, chăn nuôi, thóc, lụa, người ở, chim, thú, tiền bạc, đồ đồng, ngà voi, vàng, giường trang sức và các vật quí báu. [X. Niết bàn kinh sớ Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.4]. (xt. Bát Uế).
bát bất đạo nhân truyện
(八不道人傳) Có 1 quyển. Là bộ tự truyện của ngài Ngẫu ích Trí húc, người làm rạng rỡ tông Thiên thai vào cuối đời Minh. Về sau, học trò kể thêm các hành trạng của ngài lúc về già và việc ngài viên tịch, thì bộ truyện mới được đầy đủ. Sách được viết theo thể biên niên, ghi thuật lại các việc từ lúc ngài sinh tháng 5 năm Vạn lịch 27 (1599), đến năm 70 tuổi viên tịch vào tháng 1 năm Vĩnh lịch thứ 9 (1655) thì chấm dứt.
Bát bất 八不
[ja] ハチフ hachifu ||| The eight negations of Nāgārjuna 龍樹. Neither arising nor ceasing, neither eternal nor impermanent, neither one nor many, neither coming nor going. => Tám phạm trù phủ định của Long Thụ (s: Nāgārjuna). Bất sinh Bất diệt, Bất thường Bất đoạn, Bất nhất Bất dị, Bất khứ Bất lai.
bát bị thập điều
(八備十條) Đủ tám việc mười điều. Do sa môn Ngạn tông đời Đường đặt ra. Ngạn tông soạn luận Biện chính, đặt ra tám việc mười điều trong việc phiên dịch kinh điển. Tám việc: 1. Thành tâm nhận lãnh pháp, chí cốt làm ích lợi cho người. 2. Sắp bước vào trường sở phiên dịch, chân giới phải vững chắc. 3. Về văn, phải giải bày rõ ba tạng; về nghĩa, phải thông suốt năm thừa. 4. Phải xem nhiều sử sách bên ngoài, trau chuốt lời văn, không được thô kịch, vụng về. 5. Tâm địa rộng rãi, độ lượng bao dung, không ưa chuyên chấp.6. Đậm mùi đạo, nhạt danh lợi, không tâng bốc khoe khoang. 7. Phải biết tiếng Phạm, nhưng không để bị rơi vào cái học ấy. 8. Xem nhiều, đọc rộng và hiểu qua lối viết chữ triện, chữ lệ v.v…... Mười điều: 1. Vần câu. 2. Hỏi đáp. 3. Tên nghĩa. 4. Kinh luận. 5. Ca tụng. 6. Công năng thần chú. 7. Tên phẩm. 8. Chuyên nghiệp. 9. Các bộ chữ. 10. Các tiếng chữ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1; Nghĩa sở lục thiếp Q.9].
bát bố thí
Eight kinds of dana or charity—See Bát Chủng Bố Thí.
bát bố thí sự
Eight bases for giving—See Bát Chủng Bố Thí.
bát bối xả
Astavimoksa (S). Eight stages of release. Also Bát giải thoát.
bát bối xả quán
See Bát Giải Thoát Tam Muội.
bát bồ tát
See Bát Đại Minh Vương.
Bát Bộ
(八部): tức Tám Bộ Chúng trời rồng bảo vệ Phật pháp, còn gọi là Thiên Long Bát Bộ (天龍八部), gồm Trời (s: deva, 天), Rồng (s: nāga, 龍), Dạ Xoa (s: yakṣa, 夜叉), Càn Thác Bà (s: gandharva, 乾闥婆, Hương Thần [香神] hay Nhạc Thần [樂神]), A Tu La (s: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅, Kim Xí Điểu [金翅鳥]), Khẩn Na La (s: kiṃnara, 緊那羅, phi nhân, ca nhân), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽, Đại Mãng Thần [大蟒神]). Vì trong Tám Bộ Chúng này, Trời và Rồng đứng đầu, nên có tên là Thiên Long Bát Bộ. Tuy khác nhau về chủng loại, nhưng họ đều quy phục uy đức của Phật và trở thành quyến thuộc của Ngài để hộ trì Phật pháp. Từ xa xưa, tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có tạo lập tranh tượng của Tám Bộ Chúng này rồi. Trong bài thơ Tống Thâm Pháp Sư Du Nam Nhạc (送深法師游南岳) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thập phương truyền cú kệ, Bát Bộ hội đàn tràng (十方傳句偈、八部會壇塲, mười phương truyền câu kệ, Tám Bộ gặp đàn tràng).” Hay trong Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 7, Phẩm Hộ Ma Tăng Ích (護摩增益品) thứ 7, lại có đoạn: “Nhược hữu hữu tình như pháp tu học, thường sử Tứ Thiên Vương, nhất thiết Thiên Long Bát Bộ quỷ thần, giai đương hộ hựu (若有有情如法修學、常使四天王天、一切天龍八部鬼神、皆當護祐, nếu có hữu tình như pháp tu học, thường khiến cho Tứ Thiên Vương, hết thảy Tám Bộ Trời Rồng quỷ thần, đều sẽ giúp đỡ).”
Bát bộ
八部; C: bābù; J: hachibu;|Tám loại thần thường được giới thiệu ở cuối mỗi bản kinh Phật như là những vị Hộ pháp. Xem Bát bộ chúng (八部衆).
bát bộ
Thiên long bát bộGồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già.
; See Bát bộ Kim Cang hay Thiên Long Bát Bộ.
bát bộ bát nhã
(八部般若) Tám bộ Bát nhã. Trong thời thứ tư, đức Phật đã nói rất nhiều kinh, mà pháp cũng bất nhất, cho nên mới có tên tám bộ. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 31 chép, thì tám bộ Bát nhã là: 1.Đại phẩm bát nhã. Theo đức Phật nói, các pháp năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, ba mươi bảy đạo phẩm, tất cả đều do ba la mật sinh ra, mà trong đó, Bát nhã ba la mật là trên hết, là bậc nhất; nếu không có Bát nhã ba la mật dẫn đường, thì năm độ còn lại không thể được gọi là ba la mật. Vì số kinh quyển quá nhiều, cho nên gọi là Đại phẩm bát nhã. 2.Tiểu phẩm bát nhã. Các pháp được nói trong Tiểu phẩm đại khái cũng giống như trong Đại phẩm, nhưng vì số kinh quyển ít hơn, nên gọi là Tiểu phẩm bát nhã. 3.Phóng quang bát nhã. Đức Thế tôn vào Thiền định, từ tướng bánh xe nghìn nan hoa ở chân, phóng ra ánh sáng lớn, rồi từ trên đỉnh đầu và các lỗ chân lông, đều phóng hào quang, soi khắp các cõi nước trong mười phương, vì các Bồ tát mà nói kinh này. Do đó, gọi là Phóng quang bát nhã. 4.Quang tán bát nhã. Quang, nghĩa là sáng sủa; tán, hàm ý giảng nói. Tức là đức Phật từ nơi lưỡi phóng ra vô số ánh sáng, chiếu khắp ba nghìn thế giới. Trong ánh sáng ấy, tự nhiên hiện ra vô số bông sen vàng, và trên các hoa sen ấy đều có chư Phật giảng nói kinh này. Vì thế gọi là Quang tán bát nhã. 5.Đạo hạnh bát nhã. Nghĩa là dức Phật nói pháp, khiến các chúng sinh nghe rồi vui mừng, lần lượt bảo nhau theo đó tu học mà thành tựu đạo hạnh, cho nên gọi là Đạo hạnh bát nhã. 6.Kim cương bát nhã. Chất kim cương rất cứng, rất sắc, có khả năng chặt đứt những vật khó chặt, có thể phá vỡ mọi vật. Bởi thế, dùng nó để ví dụ với Bát nhã không tuệ, có khả năng đoạn trừ các phiền não khó đoạn của chúng sinh, vì vậy gọi là Kim cương bát nhã. 7. Thắng thiên vương bát nhã. Kinh này do Thắng thiên vương hỏi mà đức Phật nói ra, cho nên gọi là Thắng thiên vương bát nhã. 8.Văn thù vấn bát nhã. Kinh này do bồ tát Văn thù hỏi mà Phật nói ra, vì thế gọi là Văn thù vấn bát nhã.
Bát bộ chúng
八部衆; C: bābù zhòng; J: hachibuju;|Tám loài hữu tình trong thần thoại Phật giáo. Trước kia họ hung ác, nay được đức Phật chuyển hoá, họ trở thành những vị hộ trì Phật pháp. Đó là: 1. Thiên (天; s: deva): loài ở trời; 2. Long (龍; s: nāga): vua loài rắn (rồng); 3. Dạ-xoa (夜叉; s: yakṣa): quỷ thần phi hành ban đêm; 4. Càn-thát-bà (乾闥婆; s: gandharva): bán quỷ thần âm nhạc; 5. A-tu-la (阿修羅; s: asura): Á thần tính hung dữ; 6. Ca-lâu-la (迦樓羅; s: garuḍa): chim cánh vàng (kim sí điểu) thường ăn rồng; 7. Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara): nhạc thần, chẳng phải người chẳng phải không phải người (mình người đầu ngựa); 8. Ma-hầu-la-già (摩睺羅迦; s: mahoraga): rắn thần.
bát bộ chúng
The eight classes of supernatural beings in the Lotus sùtra:Thiên devas, Long nàga, Dạ xoa yaksa, Càn thát bà gandharva, A tula asura, Ca lầu la garuda, Khẩn na la kinnara, Ma hầu la già mahoraga
; See Bát bộ Kim Cang.
; (八部衆) Tám bộ chúng. Chỉ các thần giữ gìn pháp của Phật. Cũng gọi là Thiên long bát bộ, Long thần bát bộ, Bát bộ. Đó là: Trời (Phạm: deva), Rồng (Phạm:nàga), Dạ xoa (Phạm: yakwa), Càn thát bà (Phạm:gandharva ……- thần hương hoặc thần âm nhạc), A tu la (Phạm:asura), Ca lâu la (Phạm: garuđa - chim kim sí), Khẩn na la (Phạm: kiônara - không phải người, ca sĩ), Ma hầu la già (Phạm:mahoraga - thần trăn). Các loài trên đây đều do đức của Phật cảm hóa mà qui phục và trở thành quyến thuộc của Phật, thường ở các cõi Thụ dụng của chư Phật để che chở, giữ gìn Phật pháp. Cũng chỉ riêng tám bộ tộc do bốn vua trời cầm đầu. Đó là: Càn thát bà, Tì xá bà, Cưu bàn đồ, Bệ lệ đa, Rồng, Phú đan na, Dạ xoa, La sát. Trong các kinh điển cũng thấy ghi chép lẫn lộn về tám bộ trời rồng và tám bộ Càn thát bà. Ở Trung quốc, từ xưa đã có ghi chép về việc đắp vẽ hình tượng của tám bộ chúng. Xuất tam tạng kí tập quển 12 Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục ghi: Minh đế nhà Tống, Văn hoàng, Văn tuyên nhà Tề làm tượng tám bộ quỉ thần. [X. kinh pháp hoa Q.2 phẩm Thí dụ; kinh Đại bát nhã Q.600; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2].
Bát bộ chúng 八部衆
[ja] ハチブシュ hachibuju ||| Eight kinds of beings from Indian mythology. Formerly they were evil, but now having been converted by the Buddha, they protect his dharma. They are: (1) devas 天 [gods], (2) nāgas 龍 [snake kings], (3) yakṣas 夜叉 [spirits of the dead who fly about in the night] , (4) ghandharvas 乾闥婆 [half-ghost music masters], (5) asuras 阿修羅 [demigods of evil disposition], (6) garuḍa 迦樓羅 [golden-winged birds which eat dragons], (7) kiṃnara 緊那羅 [heavenly music masters who are neither human nor not human] and (8) mahoraga 摩睺羅迦 [snake spirits]. => Tám loài hữu tình trong thần thoại Ấn Độ. Trước kia họ hung ác, khi được Đức Phật giáo hóa, họ trở thành những vị hộ trì Phật pháp. Đó là: 1. Thiên (s: devas): loài ở trời. 2. Long (s: nāgas): vua loài rắn (rồng). 3. Dạ xoa (s: yakṣas): quỷ thần phi hành ban đêm. 4. Càn-thát-bà (s: ghandharvas): bán quỷ thần âm nhạc. 5. A-tu-la (s: asuras ): Á thần tính hung dữ. 6. Ca-lâu-la (s: garuḍa): chim cánh vàng (kim sí điểu) thường ăn rồng. 7. Khẩn-na-la (s: kiṃnara): nhạc thần, chẳng phải người, chẳng phải không phải người (mình người đầu ngựa). 8. Ma-hầu-la-già (s: mahoraga): rắn thần.
bát bộ kim cang
Tám chúng sanh siêu nhân trong Kinh Liên Hoa—The eight classes of supernatural beings in the Lotus Sutra—The Eight Vajra Deities: 1) Thiên: Deva. 2) Long: Naga. 3) Dạ Xoa: Yaksa. 4) Càng Thát bà: Gandharva. 5) A-Tu-La: Asura. 6) Ca-Lâu-La: Gadura. 7) Khẩn-Na-La: Kinnara. 8) Ma-Hầu-La Già: Mahoraga. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ.
bát bộ lực sĩ
Sankara (S)Thưởng ca la, Cốt tỏa thiên, hài cốtVị thiên thần bộ thuộc của ngài Quán thế âm, thống lãnh bát bộ.
bát bộ quỉ chúng
The eight groups of demon-followers of the four mahàrajas, i.e. gandharvaa, pisàcas, kumbhàndas, pretas, nàgas, pùtanas, yaksas, and ràksasas.
bát bộ quỷ chúng
Tám bộ quỷ chúng—The eight groups of demon-followers of the four maharajas: 1) Càn Thát Bà: Gandharvas. 2) Tì-Xá-Xả: Pisacas. 3) Cưu Bàn Trà: Kumbhandas. 4) Tiết Lệ Đa (Ngạ quỷ): Pretas. 5) Chư Long: Nagas. 6) Phú Đan Na (Xú Ngạ Quỷ): Putanas. 7) Dạ Xoa (Dũng Kiện Quỷ): Yaksas. 8) Tiệp Tật Quỷ (La Sát): Raksasas.
; (八部鬼衆) I.Tám bộ quỉ chúng. Tức tám loại quỉ thần do bốn vua trời cầm đầu. 1. Càn thát bà (Phạm: Gandharva), dịch là hương ấm. Loài này không ăn thịt, uống rượu, chỉ dùng mùi thơm (hương) để nuôi thân, tức là thần âm nhạc của trời Đế thích. 2. Tì xá xà (Phạm: Pizàca), dịch là đạm tinh khí. Nghĩa là ăn tinh khí của người và ăn năm giống hạt thực vật. 3. Cưu bàn đồ (Phạm: kumbhàịđa), dịch là úng hình .. Vì thân hình giống như cái hũ, cái vò, cho nên gọi là úng hình, tức là yếm vị quỉ. 4. Bệ lệ đa (Phạm:preta), dịch là ngã quỉ. Vì suốt kiếp không từng được nghe tên nước và thức ăn, thường bị đói khát bức bách. 5. Các rồng (Phạm:nàga). Rồng có bốn loại: a. Giữ cho cung điện cõi trời đừng rơi xuống. b. Làm mây làm mưa để mang lại lợi ích cho nhân gian. c. Mở thông sông ngòi. d. Giữ gìn kho báu cho vua Chuyển luân và các nhà có phúc lớn. 6. Quỉ đói hôi hám (Phạm: Pùtana) hoặc quỉ chủ về bệnh nhiệt. 7. Dạ xoa (Phạm: Yakwa), quỉ mạnh mẽ. Có ba loại: dạ xoa trên mặt đất, dạ xoa trong hư không, dạ xoa trên trời. 8. La sát ( Phạm: ràkwasa), quỉ nhanh nhẹn, còn gọi là quỉ đáng sợ. Vì tính hung bạo của loài quỉ này rất đáng sợ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. II. Tám bộ chúng quỉ. Cũng chỉ tám bộ chúng trời, rồng…... [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.23]. (xt. Bát Bộ Chúng).
Bát bộ 八部
[ja] ハチブ hachibu ||| Eight kinds of spiritual beings which are usually introduced at the end of Buddhist scriptures as protectors of the dharma. See 八部衆. => Tám loại thần thường được giới thiệu ở cuối mỗi bản kinh Phật như là những vị hộ pháp. Xem Bát bộ chúng.
bát bội xả
xem tám giải thoát.
; See Bát Giải Thoát Tam Muội.
bát bửu phật đài
Bát Bửu Phật Đài là một Phật Tháp nổi tiếng, tọa lạc giữa một cánh đồng thơm bát ngát mênh mông, trong quận Bình Chánh, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Phật Đài được kiến tạo vào năm 1955, nhưng đến năm 1965 bị hư hỏng hoàn toàn vì chiến tranh. Năm 1968, Bát Bửu Phật Đài được trùng tu và mở mang. Nay đã trở thành một khu văn hóa và du lịch nổi tiếng với tên “Phật Cô Đơn.” Trên đỉnh tháp là tượng Phật cao 5,5 mét, được đặt trên đế cao 1,2 mét. Bát Bửu Phật Đài được kiến trúc theo hình bát giác, tầng trên cùng tôn trí tượng Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, hướng ra cánh đồng. Bên dưới là điện Phật. Chánh điện thờ Tam Thế: Phật Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí. Mặt sau thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma (ngài là vị tổ thứ 28 bên Ấn Độ, và cũng là sơ tổ của dòng Thiền Trung Hoa). Hai bên chánh điện thờ Diệm Ma Vương, Hộ Pháp, kế tiếp là các điện thờ Phật Di Lặc, Bồ tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ tát Địa Tạng—A famous Buddha Stupa, located within a vast field of pineapples in Bình Chánh district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1955; however, it was totally destroyed in 1965 due to the war. It was rebuilt and enlarged in 1968. Now it has become a famous cultural tourist spot called “Solitary Buddha.” On the top of the stupa, there is a Buddha statue cast at Xá Lợi Pagoda in 1961, the statue itself is 5.5 meters high, situated on a 1.2 meters pedestal. The Buddha Stupa of Eight Precious Objects is an octagonal building. On the upper floor is placed the statue of sakyamuni Buddha facing the field. The Buddha Shrine is situated on the lower floor. The Three Noble Ones are worshipped in the Main Hall: Amitabha Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Mahasthama Bodhisattva. In the back of the Main Hall, Patriarch Bodhidharma is enshrined (he was also the twenty-eighth Indian Patriarch and the founder of the Chinese Ch'an Buddhism). On both sides of the Main Hall are worshipped the statues of Yama of Hell and a Dharma Guardian, followed by those of Maitreya Buddha, Cundi Bodhisattva, Avalokitesvara Bodhisattva, and Ksitigarbha Bodhisattva adored in other shrines of the Main Hall.
bát chi
See Bát Chánh Đạo.
; (八支) I. Bát chi. Tám đạo chính được chia ra làm tám thứ, gọi là tám chi. Tức là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định. (xt. Bát Chính Đạo). II. Bát chi. Chỉ tám bộ luận do các ngài Vô trước và Thế thân soạn. Đó là: luận Nhị thập duy thức, luận Tam thập duy thức, luận Nhiếp đại thừa, luận Đối pháp, luận Biện trung biên, luận Duyên khởi, luận Đại thừa trang nghiêm, luận Uy nghiệp. (xt. Bát Luận, Thập Chi Luận). III. Bát chi. Chỉ tám thứ trai giới: giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, uống rượu, bôi nước hoa, nghe xem múa hát, ngồi giường cao rộng, ăn trái giờ. Đó là tám việc phi pháp. (xt. Bát Quan Trai Giới).
bát chi trai
Xem bát quan trai.
bát chu
Pratyutpanna (skt)—Hiện tiền (chư Phật hiện tiền)—Present.
; (般舟) I. Ban chu. Phạm: pratyutpanna. Dịch ý là Phật lập (Phật đứng), thường hành (thường đi). Nguyên là ý hiện tại, hiện tiền. Vì tu Tam muội này, có thể được hết thảy chư Phật hiện ra trước mắt, cho nên gọi như thế. II. Ban chu. Tiếng gọi tắt của Ban chu tam muội. (xt. Ban Chu Tam muội).
bát chu tam muội
Pratyutpanna-samadhi (skt)—Loại tam muội mà khi thực hành thì chư Phật hiện ra trước mặt. Còn được gọi là Thường Hành Đạo hay Thường Hành Tam Muội vì phải thực hành không gián đoạn từ 7 đến 90 ngày—The samadhi in which the Buddhas of the ten directions are seen as clearly as the stars at night. Also called as the prolonged samadhi, because of the length of time required, either seven or ninety days.
bát chu tam muội kinh
Pratyutpaa-buddha-saṃmukhā-vasthita-samādhi-sūtra (S)Thập phương hiện tại Phật Tất tại tiền lập định kinhTên một bộ kinh.
; Pratyutpanna-samadhi Sutra (skt)—The sutra explaining about the prolonged samadhi—See Bát Chu Tam Muội.
; (般舟三昧經) Phạm: Pratyutpanna-buddhasamukhàva-sthita-samàdhi-sùtra. Gồm ba quyển. Còn gọi là Thập phương hiện tại Phật tất tại tiền lập định kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 13. Do Chi Lâu Ca Sấm dịch vào năm Quang hòa thứ 2 (179) đời Linh đế nhà Đông Hán. Toàn bộ kinh chia làm mười sáu phẩm. Nội dung tường thuật việc đức Phật thuyết pháp cho Bồ tát Hiền hộ nghe. Bản tiếng Phạm của kinh này đã thất lạc. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục chép, kinh này vốn có bảy loại bản Hán dịch, nhưng hiện còn thì chỉ có bốn bản, trong số bốn bản, thì Bạt pha Bồ tát kinh (mất tên người dịch) là bản dịch sớm nhất. Lại theo kinh Đại tập phận Hiền hộ phẩm Giới hạnh cụ túc ghi chép, một trăm năm thứ năm sau Phật nhập diệt, khi chính pháp gần diệt, các nước công phạt lẫn nhau, thì chính lúc đó, kinh này lưu hành ở cõi Diêm phù đề. Nói cách khác, kinh Ban chu tam muội được biên soạn vào khoảng thế kỉ I trước hoặc sau Tây lịch. Ban chu (Phạm: pratyutpanna) hàm ý là hiện tiền, Phật đứng. Tức nói những người tu Ban chu tam muội có thể thấy chư Phật mười phương đứng ngay trước mắt. Trong các kinh điển hiện còn của Đại thừa, kinh này là tác phẩm ở thời kì sớm nhất có liên quan đến kinh điển về Di đà. Ngoài ra, kinh này là tiên khu của các kinh điển Tịnh độ, cho nên được đặc biệt chú ý. Các bản chú sớ của kinh này, tương đối trọng yếu thì có Ban chu tam muội hành pháp (Trí khải) và Ban chu tam muội kinh sớ (Nguyên hiểu). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Q.12; Đại Đường nội điển lục Q.6, Q.9; Phật giáo kinh điển sử luận (Xích chiểu trí thiện)].
bát chu tán
(般舟贊) Có một quyển. Nói đủ là Y quán kinh đẳng minh Ban chu tam muội hành đạo vãng sinh tán. Cũng gọi là Ban chu tam muội vãng sinh tán. Do ngài Thiện đạo đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 47. Sách này y cứ vào kinh Quán vô lượng thọ, kinh Di đà, kinh Vô lượng thọ, kinh Ban chu tam muội mà làm thành văn khen ngợi sự vãng sinh, chỉ bày rõ phương pháp tu Ban chu tam muội. Chia làm ba khoa Tự văn, Chính tán, Kết khuyến. Trong bài tựa, lấy việc khuyên mình khuyên người làm nhân chính yếu cho sự vãng sinh Tịnh độ, đồng thời, tán thán rộng các thứ trang nghiêm ở cõi Tịnh độ. Phần chính tán, có mười bảy bài kệ tán, thể bảy chữ, gồm hai trăm tám mươi mốt hàng rưỡi, đều xướng họa câu trênthêm nguyện vãng sinh, câu dưới thêm vô lượng lạc v.v... để tán rộng các tướng đẹp đẽ của y báo, chính báo và ba hạng chín phẩm vãng sinh ở cõi Tịnh độ cực lạc. Những câu kệ cuối cùng trong phần kết khuyến (Đại 47, 456 thượng) nói: Các hành giả hãy gắng sức gắng sức, chăm chỉ mà làm, thường phải hổ thẹn, kính tạ ơn Phật, nên biết. Trong kệ, luôn luôn nêu cao sự báo đáp từ ân của đức Thích ca, đức Di đà, đây là ý chính để soạn ra sách này.
bát chu đại tạng
Pāṇḍuka (S)Một trong bốn đại tạng của nước Tỳ đề ha, chủng tộc Bạt kỳ.
bát chuyển thanh
Tám chuyển thanh trong Phạn ngữ (subanta)—Eight cases of nouns in Sanskrit: 1) Thể thanh: Chủ cách nói chung về vật thể—Nirdesa (skt). 2) Nghiệp thanh: Mục đích cách—Upadesana (skt). 3) Cụ thanh: Từ biểu thị công cụ của cái năng tác—Kartrkarana (skt). 4) Sở vi thanh: Từ biểu thị sở đối với cái năng tác—Sampradana (skt). 5) Sở tòng thanh: Từ biểu thị vật đó từ đâu tới—Apadana (skt). 6) Sở thuộc thanh: Từ biểu thị vật chủ cách—Svamivacana (skt). 7) Sở y thanh: Từ biểu thị chỗ sở y của vật—Samnidhanartha (skt). 8) Hô thanh: Từ biểu thị cách gọi vật thể—Amantrana (skt).
; (八轉聲) Tám tiếng chuyển. Phạm: awỉa vibhaktaya#. Pàli: aỉỉha vibhattì. Là tám loại vĩ ngữ biến hóa của danh từ, đại danh từ và hình dung từ trong tiếng Phạm. Cũng gọi là Bát chuyển, Bát thanh, Bát lệ. Tức là: 1. Thể cách (Phạm: mirdeze), cũng gọi là Thể thanh, Phiếm thuyết thanh. Ngày nay gọi là chủ cách, như ......... là. 2. Nghiệp cách (Phạm:upadewaịe), còn gọi là Sở tác nghiệp thanh, Dụng cách. Ngày nay gọi là Thụ cách, như cầm ....... 3. Cụ cách (Phạm:kartfkaraịe), cũng gọi là Năng tác cụ thanh. Hoặc gọi Tác cách. Ý là nương vào ....... 4. Vi cách (Phạm: sàmpradànike). Cũng gọi là Sở vi thanh, hoặc gọi là Dữ cách thanh. Như là ....... 5. Tòng cách (Phạm: apàdàne). Còn gọi là Sở âm thanh. Hoặc gọi là Đoạt cách, như theo ....... 6. Thuộc cách (Phạm: svàmivacane). Nay gọi là Sở hữu cách. Ý là ...... của. 7. Ư cách (Phạm: saônidhànàrthe), cũng gọi là Sở y thanh. Hoặc gọi là Y cách, ý là ở ....... 8. Hô cách (Phạm : àmantraịe), cũng gọi là Hô triệu thanh. Ý là ......a !. Trừ hô cách ra, còn bảy cách kia được gọi là câu bảy lệ, bảy lệ, bảy câu bàn nói. Những cách biến hóa của các vĩ ngữ thuộc danh từ trên đây cũng còn gọi là Tô mạn đa thanh. Tô mạn đa là dịch âm từ tiếng Phạmsubanta, cũng đọc Tô bàn đa, hàm ý ở cuối chữ có vần SU. Cách biến hóa của những động từ thì gọi là Để ngạn đa thanh, trái ngược hẳn với Tô mạn đa thanh.. Để ngạn đa là dịch âm của chữ PhạmTiíanta, cũng gọi Đinh ngạn đá, hàm ý là đuôi chữ có vần TI. Động từ chia làm hai loại là nói về mình và nói về người, mỗi loại đều gọi một người, gọi hai người, gọi ba người khác nhau, và có ba cách biến hóa là số đơn, số kép, số nhiều. Như vậy là có chín tiếng chuyển và cộng hai loại nói về mình, nói về người lại, thì thành mười tám tiếng chuyển biến (18 chuyển, 29 vần). [X. luận Du già sư địa Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Nam hải ký qui nội pháp truyện Q.4 Tây phương học pháp].
bát chánh
Sammatta (p)—Eight right factors—See Bát Chánh Đạo.
Bát Chánh Đạo
(s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇa-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga,八正道 hay 八聖道): là 8 con đường chân chánh, đúng đắn để cầu về cõi Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃), còn gọi là Bát Thánh Đạo (八聖道), Bát Chi Chánh Đạo (八支正道), Bát Thánh Đạo Phần (八正道分), Bát Đạo Hạnh (八道行), Bát Trực Hạnh (八直行), Bát Chánh (八正), Bát Đạo (八道), Bát Chi (八支), Bát Pháp (八法), Bát Lộ (八路). Đây là pháp môn thật tiễn, tiêu biểu nhất của Phật Giáo, là phương pháp hay con đường tắt chính xác để hướng đến giải thoát, Niết Bàn. Khi đức Phật tuyên thuyết bài pháp đầu tiên, ngài đã dạy nên xa lìa hai thái cực thọ hưởng dục lạc và tu khổ hạnh, nên hướng về con đường Trung Đạo, tức ám chỉ pháp môn Bát Chánh Đạo này, gồm: (1) Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見): hay còn gọi là Đế Kiến (諦見), tức thấy khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo (Tứ Đế), có nghiệp thiện ác thì có quả báo của nghiệp thiện ác ấy, có đời này đời kia, có cha mẹ, trên đời có bậc chân nhân đến chỗ an lành, bỏ điều thiện cũng như hướng đến điều thiện, nơi đời này và đời kia tự giác ngộ và tự chứng thành tựu. (2) Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟): hay còn gọi là Chánh Chí (正志) Chánh Phân Biệt (正分別), Chánh Giác (正覺), nghĩa là suy nghĩ đúng đắn, chân chánh. Khi đã thấy được lý của Tứ Đế, hành giả tư duy để làm cho tăng trưởng trí tuệ chân thật. Nó lấy tâm vô lậu làm thể. (3) Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語): còn gọi là Chánh Ngôn (正言), Đế Ngôn (諦言), tức xa lìa nói dối, nói lời hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt, dùng trí tuệ để sửa đổi khẩu nghiệp, không nói những lời phi lý. Nó lấy giới vô lậu làm thể.(4) Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業): còn gọi là Chánh Hạnh (正行), Đế Hạnh (諦行), tức xa lìa sát sanh, trộm cắp, tà dâm, v.v., dùng trí tuệ đúng đắn để trừ tất cả những việc làm không đúng của thân và sống với thân trong sạch. Nó lấy giới vô lậu làm thể.(5) Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命): còn gọi là Đế Thọ (諦 受), tức xả bỏ cuộc sống không đúng như dùng chú thuật, v.v., và mong cầu đúng pháp những vật dụng trong sinh hoạt hằng ngày như áo quần, thức ăn uống, giường ghế, thuốc men, v.v. Nó lấy giới vô lậu làm thể.(6) Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進): còn gọi là Chánh Phương Tiện (正方便), Chánh Trị (正治), Đế Pháp (諦法), Đế Trị (諦法), tức phát nguyện đoạn trừ các điều ác mình đã tạo, làm cho không sinh khởi những điều ác mà mình chưa làm, làm cho sinh khởi những điều thiện mà mình chưa làm, và làm cho tăng trưởng những điều thiện mà mình đã từng làm. Nó lấy sự siêng năng vô lậu làm thể. (7) Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念): còn gọi là Đế Ý (諦意), tức quán 4 đối tượng thân, thọ, tâm và pháp, lấy trí tuệ chân chánh nghĩ nhớ đến chánh đạo để dẹp trừ các suy nghĩ không đúng. Nó lấy niệm vô lậu làm thể. (8) Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定): còn gọi là Đế Định (諦定), dùng trí tuệ chân chánh để nhập vào Thiền định thanh tịnh vô lậu, xa lìa các pháp bất thiện, thành tựu từ Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền. Bát Chánh đạo này có công lực làm cho chúng sanh từ bờ bên này của cõi mê sang qua được bờ bên kia của giác ngộ. Cho nên nó lấy thuyền, bè làm lời thệ nguyện. Ngược lại, Tà Kiến (邪見, thấy không đúng), Tà Tư (邪思, suy nghĩ không đúng), Tà Ngữ (邪語, nói lời không đúng), Tà Nghiệp (邪業, làm việc không đúng), Tà Mạng (邪命, sống không đúng), Tà Tinh Tấn (邪精進, tinh tấn không đúng), Tà Niệm (邪念, nghĩ nhớ không đúng), Tà Định (邪定, định không đúng) được gọi là Bát Tà (八邪, tám pháp không đúng).
Bát Chánh đạo
xem Tám Thánh đạo.
bát chánh đạo
, Āryaṣtāṅgikamārga (S), Ariya aṭṭhaṅgikamagga (P), Aṭṭhāṅgika-magga (P), Aṣṭāngika-mārga (S), Aṣṭa-mārga (S), The Eightfold Noble Path, The noble eightfold path, Eight Noble Paths Trong 37 phẩm trợ đạo. Gồm: chánh kiến (correct views, samma-ditthi), chánh tư duy (correct thought, samma-sankappa), chánh ngữ (correct speech, samma-vaca), chánh nghiệp (correct conduct, samma-kammanta), chánh mạng (correct livelihood, samma-sati), chánh tinh tấn (correct efforts, samma-vayama), chánh niệm (correct mindfulness, samma-sati), chánh định (correct meditation, samma-samadhi). Xem Ariya-tthangika magga.
; Astangika-marga (skt)—Ashtangika-Magga (p). (I) Nghĩa của Bát Chánh Đạo—The Meanings of Astangika-marga: Bát Chánh đạo—Tám con đường đúng—Con đường dẫn tới sự chấm dứt đau khổ, mục đích của diệu đế thứ ba trong tứ diệu đế (Đạo đế). Bát Chánh Đạo là tám nẻo trong 37 nẻo bồ đề. Tu tập Bát Chánh Đạo sẽ đưa đến những lợi ích thực sự như tự cải tạo tự thân, vì tu bát chánh đạo là sửa đổi mọi bất chính, sửa đổi mọi tội lỗi trong đời sống hiện tại, đồng thời còn tạo cho thân mình có một đời sống chân chánh, lợi ích và thiện mỹ; cải tạo hoàn cảnh vì nếu ai cũng tu bát chánh đạo thì cảnh thế gian sẽ an lành tịnh lạc, không còn cảnh khổ đau bất hạnh gây nên bởi hận thù, tranh chấp hay chiến tranh giữa người với người, giữa nước nầy với nước kia, hay chủng tộc nầy với chủng tộc khác, ngược lại lúc đó thanh bình sẽ vĩnh viễn ngự trị trên quả đất nầy; tu bát chánh đạo còn là căn bản đầu tiên cho sự giác ngộ, là nền tảng chánh giác, là căn bản giải thoát, ngày nay tu bát chánh đạo là gieo trồng cho mình những hạt giống Bồ Đề để ngày sau gặt hái quả Niết Bàn Vô Thượng—The noble Eightfold Path—The eight right (correct) ways. The path leading to release from suffering, the goal of the third in the four noble truths. These are eight in the 37 bodhi ways to enlightenment. Practicing the Noble Eight-fold Path can bring about real advantages such as improvement of personal conditions. It is due to the elimination of all evil thoughts, words, and actions that we may commit in our daily life, and to the continuing practice of charitable work; improvement of living conditions. If everyone practiced this noble path, the world we are living now would be devoid of all miseries and sufferings caused by hatred, struggle, and war between men and men, countries and countries, or peoples and peoples. Peace would reign forever on earth; attainment of enlightenment or Bodhi Awareness. The Noble Eigh-fold Path is the first basic condition for attaining Bodhi Consciousness that is untarnished while Alaya Consciousness is still defiled: 1) Chánh Kiến (hiểu đúng): Samyag-drsti (skt)—Samma-ditthi (p). - Chánh kiến là nhận thấy một cách khách quan ngay thẳng; thấy thế nào thì ghi đúng thế ấy, không bị thành kiến hoặc tình cảm ảnh hưởng mà làm cho sự nhận xét bị sai lệch; biết phân biệt cái thật cái giả; nhận thức đạo lý chân chánh để tiến tới tu hành giải thoát: Right view is viewing things objectively; seeing them and reporting them exactly as they are without being influenced by prejudice or emotion. Right view helps differentiate the true from the false, and determines the true religious path for attaining liberation. - Không bị ảo giác. Hiểu biết đúng về tứ diệu đế về khổ, vì sao có khổ, làm cách nào diệt khổ và con đường dẫn tới diệt khổ. Hiểu rõ về tính vô ngã của sự tồn tại—Correct or Right View or Perfect View—freedom from the common delusion. Understanding correctly of the four noble truths of suffering, of the origin of suffering, of the extinction of suffering, and of the path leading to the extinction of suffering. Understand correctly on the non-ego of existence (nonindividuality of existence). 2) Chánh Tư Duy (nghĩ đúng): Samyag-samkalpa (skt)—Samm-sakappa (p). - Chánh tư duy là suy nghĩ đúng với lẽ phải, có lợi cho mình, và có lợi cho người khác. Suy nghĩ những hành vi lầm lỗi, những tâm niệm xấu xa cần phải cải sửa. Suy nghĩ giới định tuệ để tu tập giải thoát. Suy xét vô minh là nguyên nhân của mọi sự đau khổ, là nguồn gốc của mọi tội ác; suy nghĩ tìm phương pháp đúng để tu hành giải thoát cho mình và cho người: Right thought means that our reflection must be consistent with common sense, useful both to others and ourselves. We must strive to correct our faults, or change our wicked opinions. While meditating on the noble formula of “Precept, Concentration, and Wisdom,” we must realize that 'ignorance' is the main cause of suffering, the root of all wicked acts; therefore, we must look for a way to get rid of suffering for us and for others. - Nghĩ đúng là ý nghĩ từ bỏ mọi dục vọng tham sân si. Nghĩ đúng là luôn nghĩ về lòng khoan dung và nhân từ với mọi loài—Correct or Right Thought or Perfect Resolve—A mind free from sensual lust, ill-will and cruelty. Right thought means resolve in favour of renunciation, goodwill and nonharming of sentient beings. 3) Chánh Ngữ (nói đúng): Samyag-vac (skt)—Samma-vaca (p)—Correct or Right Speech or Perfect Speech. - Chánh ngữ là nói lời thành thật và sáng suốt, nói hợp lý, nói không thiên vị, nói thẳng chứ không nói xéo hay xuyên tạc, nói lời thận trọng và hòa nhã; nói lời không tổn hại và có lợi ích chung: Right speech implies sincere, sound, impartial, direct, not distorting, cautious, affable, harmless, useful words and discourses. - Nói đúng là không nói dối, không ba hoa, tán gẫu hay dèm pha—Avoidance of lying, slander and gossip (false and idle talk)—Abstaining from lying, tale-bearing, harsh words, and foolish babble. 4) Chánh Nghiệp (làm đúng): Samyag-karmanta (skt)—Samm-kammanta (p). - Chánh nghiệp là hành động chân chánh, đúng với lẽ phải, có ích lợi chung. Luôn luôn hành động trong sự tôn trọng hạnh phúc chung; tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình; không làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh dự, và tính mạng của người khác; giữ gìn thân khẩu ý bằng cách luôn tu tập mười nghiệp lành và nhổ dứt mười nghiệp dữ: Right action involves action beneficial to both others and ourselves. We must always act for the happiness of the community, conforming to our sense of duty, without any ulterior motive for damaging others' interests, occupations, positions, honors, or lives. We must also keep strict control of our "“ction, speech, and mind," carrying out ten meritorious actions and avoiding ten evil ones. - Chánh nghiệp còn có nghĩa là tránh những hành động tà vạy, sống thanh khiết, không làm gì tổn hại đến tha nhân, không trộm cắp, không tà dâm—Correct or Right Deed or Action (conduct)—Perfect conduct means getting rid of all improper action—To dwell in purity—Right action also means to abstain from injuring living beings, from stealing and from unlawful sexual intercourse. Perfect conduct also means avoidance of actions that conflict with moral discipline. 5) Chánh Mạng (mưu sinh đúng): Samyag-ajiva (skt)—Samma-ajiva (p). - Chánh mạng có nghĩa là sinh sống chân chính và lương thiện; không làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác; không đối xử tệ bạc với người khác; không sống bám vào người khác; không mê tín dị đoan; không sống bằng miệng lưỡi mối lái để kiếm lợi: Right livelihood means to lead a decent and honest life. We must keep from exploiting or mistreating others or sponging on them. Do not be superstitious; do not act as a go-between to take profit. - Chánh mạng còn có nghĩa là mưu sinh đúng là tránh những nghề gây phương hại cho những chúng sanh khác như đồ tể, đi săn, buôn bán vũ khí, buôn bán xì ke ma túy, v.v. Mưu sinh đúng còn có nghĩa là chối bỏ mọi lối sống tà vạy—Correct or Right Livelihood or perfect Livelihood— Correct occupation also means avoid professions that are harmful to sentient beings such as the five immoral occupations (slaughterer, hunter, dealer in weaponry, or narcotics, ect)—Perfect livelihood also means rejecting all wrong living. 6) Chánh Tinh Tấn (nỗ lực đúng): Samyag-vyayama (skt)—Samma-vayama (p). - Chánh tinh tấn có nghĩa là chuyên cần siêng năng làm lợi mình và lợi người; không làm những việc bất chính như sát hại, gian xảo, đàng điếm, cờ bạc, ác độc và bỉ ổi, vân vân; ngược lại phải chú tâm làm những việc lành, tạo phước nghiệp: Right effort means we must be always hard-working, helpful to others and ourselves. Do not kill, cheat, or lead a wanton, gamble life. On the contrary, always try to perform good deeds for having good karma. - Chánh tin tấn còn có nghĩa là nỗ lực đúng có nghĩa là cố gắng không cho phát khởi những điều tà vạy, cố gắng vượt qua những tà vạy đang mắc phải, cố gắng làm nẩy nở những điều thiện lành chưa nẩy nở, cố gắng phát huy những điều thiện lành đã phát khởi. Chánh tinh tấn còn có nghĩa là vun bồi thiện nghiệp cùng lúc nhổ bỏ ác nghiệp—Correct (Right or Perfect) Zeal or Effort or Energy also means to try to avoid the arising of evil, demeritorious things have not yet arisen. Try to overcome the evil, demeritorious things that have already arisen. At the same time, try to produce meritorious things that have not yet arisen and try to maintain the meritorious things that have already arisen and not let them disappear, but to bring them to growth, to maturity and to the full perfection of development. Right effort also means cultivation of what is karmically wholesome and avoidance of what is karmically unwholesome. 7) Chánh Niệm (chú tâm đúng): Samyag-smrti (skt)—Samma-sati (p). - Chánh niệm là nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình và cho người: Right mindfulness means to give heed to good deed for our own benefit and that of others. - Chánh niệm còn có nghĩa là ức niệm hay nghĩ nhớ tới cảnh quá khứ, nhớ đến lỗi lầm cũ để sửa đổi, nhớ ân cha mẹ thầy bạn để báo đáp, nhớ ân tổ quốc để phụng sự bảo vệ; nhớ ân chúng sanh để giúp đở trả đền; nhớ ân Phật Pháp Tăng để tinh tấn tu hành: Right mindfulness also means remembrance including old mistakes to repent of and deep gratitude towards parents, country, humankind, and Buddhist Triple Gems. - Chánh niệm còn có nghĩa là quán niệm hay quán sát cảnh hiện tại và tưởng tượng cảnh tương lai. Chúng ta nên quán tưởng đến cảnh đời đau khổ, bệnh tật, mê mờ của chúng sanh mà khuyến tu; tưởng niệm làm những điều lợi ích chung, không thối lui, không e ngại khó khăn nhọc nhằn: Right mindfulness also means the reflection on the present and future events or situations. We must meditate upon human sufferings that are caused by ignorance and decide to work for alleviating them, irrespective of possible difficulties and boredom. - Chánh niệm còn có nghĩa là chú tâm đúng là tưởng đến sự thật và chối bỏ tà vạy. Lúc nào cũng tỉnh táo dẹp bỏ tham lam và buồn khổ của thế tục. Chánh niệm còn có nghĩa là lúc nào cũng tỉnh giác về thân thể, cảm xúc, tư tưởng cũng như những đối tác bên ngoài—Correct (Right or Perfect) Remembrance or Mindfulness—Correct Memory which retains the true and excludes the false—Dwell in contemplation of corporeality. Be mindful and putting away worldly greed and grief. Correct mindfulness also means ongoing mindfulness of body, feelings, thinking, and objects of thought 8) Chánh Định (tập trung tư tưởng đúng): Samyag-samadhi (skt)—Samma-samadhi (p). - Chánh định là tập trung tư tưởng đúng là tập trung vào việc từ bỏ những điều bất thiện và tập trung tinh thần được hoàn tất trong bốn giai đoạn thiền định—Correct (Right or Perfect)—Meditation—Correct Concentration. Detached from sensual objects, detached from unwholesome things, and enters into the first, second, third and fourth absorption. - Chánh định còn có nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì để thấy cho rõ ràng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình và cho người: Right concentration means a strong concentration of our thoughts on a certain subject in order to set it clearly, consistent with Buddhist doctrine and for the benefit of others and ourselves. (II) Những lời Phật dạy về “Bát Chánh Đạo” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Astangika-marga in the Dharmapada Sutra: 1) Bát Chánh Đạo là đạo thù thắng hơn các đạo. Tứ đế là lý thù thắng hơn các lý. Ly dục là pháp thù thắng hơn các pháp. Cụ nhãn là bậc thù thắng hơn các bậc Thánh hiền—The best of paths is the Eightfold Path. The best of truths are the Four Noble Truths. Non-attachment is the best of states. The best of men is he who has eyes to see (Dharmapada 273). 2) Chỉ có con đường nầy, chẳng còn con đường nào khác có thể làm cho tri kiến các ngươi thanh tịnh. Các ngươi thuận làm theo, thì bọn ma bị rối loạn—This is the only way. There is no other way that leads to the purity of vision. You follow this way, Mara is helpless before it (Dharmapada 274). 3) Các ngươi thuận tu theo Chánh đạo trên này, thì khổ não sẽ dứt hết, và biết rằng Đạo ta nói có sức trừ diệt chông gay—Entering upon that path, you will end your suffering. The way was taught by me when I understood the removal of thorns (arrows of grief) (Dharmapada 275). 4) Thận trọng lời nói, kềm chế ý nghĩ, thân không làm ác, ba nghiệp thanh tịnh, là được Đạo Thánh Nhơn—Be watchful of speech, control the mind, don't let the body do any evil. Let purify these three ways of action and achieve the path realized by the sages (Dharmapada 281).
bát chánh đạo kinh
Buddha-bhasita-astanga-samyan-marga-sutra (skt)—Kinh nói về Bát Chánh Đạo do ngài An Thế Cao dịch vào thời Đông Hán, một dịch phẩm sớm từ Kinh Tạp A Hàm—Composed by An-Shih-Kao of the Eastern Han Dynasty, an early translation of the Samyuktagama.
bát châu
See Bát Chu.
Bát chính đạo
八正道; C: bāzhèngdào; J: hasshōdō; S: aṣṭāṅ-gika-mārga; P: aṭṭhāṅgika-magga;|Con đường tám nhánh giải thoát khỏi Khổ (s: duḥkha), là chân lí cuối cùng của Tứ diệu đế. Bát chính đạo là một trong 37 Bồ-đề phần hay 37 giác chi (s: bodhipākṣika-dharma).|Bát chính đạo bao gồm:|1. Chính kiến (正見; p: sammā-diṭṭhi; s: samyag-dṛṣṭi): gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí Vô ngã; 2. Chính tư duy (正思唯; p: sammā-saṅkappa; s: samyak-saṃkalpa): suy nghĩ hay là có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm; 3. Chính ngữ (正語; p: sammā-vācā; s: sam-yag-vāc): không nói dối, nói phù phiếm; 4. Chính nghiệp (正業; p: sammā-kammanta; s: samyak-karmānta): tránh phạm giới luật; 5. Chính mệnh (正命; p: sammā-ājīva; s: sam-yag-ājīva): tránh các nghề nghiệp mang lại giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện; 6. Chính tinh tiến (正精進; p: sammā-vāyāma; s: samyag-vyāyāma): phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu; 7. Chính niệm (正念; p: sammā-sati; s: sam-yag-smṛti): tỉnh giác trên ba phương diện Thân, khẩu, ý; 8. Chính định (正定; p: sam-mā-samādhi; s: samyak-samādhi): tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian (s: arūpa-samādhi, Bốn xứ).|Bát chính đạo không nên hiểu là những »con đường« riêng biệt. Theo Ba môn học, hành giả phải thực hành Giới (chính đạo 3-5), sau đó là Ðịnh (chính đạo 6-8) và cuối cùng là Huệ (chính đạo 1-2). Chính kiến (1) là điều kiện tiên quyết để đi vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) và đạt Niết-bàn.|Phật giáo Ðại thừa hiểu Bát chính đạo có phần khác với Tiểu thừa. Nếu Tiểu thừa xem Bát chính đạo là con đường dẫn đến Niết-bàn thì Ðại thừa đặc biệt coi trọng sự giải thoát khỏi Vô minh để giác ngộ tính Không (s: śūnyatā), là thể tính của mọi sự. Trong tinh thần đó, Luận sư Thanh Biện (s: bhāva-viveka) giải thích như sau: 1. Chính kiến là tri kiến về Pháp thân (Ba thân), 2. Chính tư duy là từ bỏ mọi chấp trước, 3. Chính ngữ là thấu hiểu rằng, pháp vượt trên mọi ngôn ngữ, 4. Chính nghiệp là tránh mọi hành động tạo nghiệp, kể cả thiện nghiệp, 5. Chính mệnh là tri kiến rằng, tất cả các Pháp (s: dharma; p: dhamma) không hề sinh thành biến hoại, 6. Chính tinh tiến là an trú trong tâm thức vô sở cầu, 7. Chính niệm là từ bỏ mọi thắc mắc về có (Hữu), không (vô), 8. Chính định là giữ tâm vô phân biệt bằng cách vô niệm.
bát chính đạo
Aryà stàngika màrga (S). The eightfold Path: (1) Chính kiến samyak-drsti, right view; (2) Chính tư duy samyak-samkalpa, right thought; (3) Chính ngữ samyak-vàcà, right speech; (4) Chính nghiệp samyak-karmànta, right action; (5) Chính mệnh samyak-àjìva, right livehood; (6) Chính tinh tiến samyak-vyàyàma, right effort; (7)-Chính niệm samyak-smrti, right mindfulness; (8) Chính định samyak-samàdhi, right concentration.
; (八正道) Phạm: Àryàwỉàígika-màrga. Tám con đường chân chính đạt tới Niết bàn. Cũng gọi Bát thánh đạo, Bát chi chính đạo, Bát thánh đạo phần, Bát đạo hành, Bát trực hành, Bát chính, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp. Bát lộ. Là pháp môn thực tiễn tiêu biểu nhất cho lời Phật dạy trong 37 đạo phẩm, tức là tám phương pháp hoặc tám con đường chính xác thông suốt tới Niết bàn giải thoát. Khi quay bánh xe pháp, đức Thích tôn bảo phải xa lìa hai cực đoan khoái lạc và khồ hạnh mà hướng tới con đường chính giữa, tức chỉ tám con đường Bát Chỉ Đầu Đà chân chính này. 1.Chính kiến, cũng gọi đế kiến. Tức thấy khổ là khổ, thấy tập là tập, thấy diệt là diệt, thấy đạo là đạo; có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời khác, có cha mẹ, đời có các bậc chân nhân đi đến các nơi tốt lành, đi từ thiện đến thiện, ở đời này đời khác, tự giác, tự chứng thành tựu. 2. Chính tư duy, còn gọi chính chí, chính phân biệt, chính giác hoặc đế niệm. Có nghĩa là không nghĩ đến tham muốn, không nghĩ đến giận tức, không nghĩ đến việc tổn hại người khác. 3.Chính ngữ, cũng gọi chính ngôn, đế ngữ. Tức không nói dối, nói hai lưỡi, nói độc ác, nói thêu dệt v.v…... 4.Chính nghiệp, còn gọi chính hành, đế hành, tức không giết hại, không trộm cướp... 5.Chính mệnh, cũng gọi đế thụ. Tức không sinh nhai bằng những nghề nghiệp bất chính, như bói toán, bùa chú v.v.. mà phải sống đúng như pháp bằng cách xin các thức cơm ăn, áo mặc, giường nằm, thuốc thang v.v... 6.Chính tinh tiến, cũng gọi chính phương tiện, chính trị, đế pháp, đế trị. Phát nguyện là các pháp ác đã sinh rồi thì trừ diệt ngay, pháp ác chưa sinh thì làm cho không sinh; các pháp lành chưa sinh, làm cho phát sinh, pháp lành đã sinh rồi thì làm cho lớn thêm và đầy đủ. 7.Chính niệm, cũng gọi đế ý. Tức dùng tự tướng cộng tướng mà quán xét thân, thụ, tâm, pháp. 8.Chính định, còn gọi đế định. Tức xa lìa các pháp tham dục xấu ác mà thành tựu Sơ thiền đến Tứ thiền. Tám con đường chân chính trên đây là cái sức giúp chúng sinh từ cõi mê ở bờ bên này mà vượt qua đến cõi tỉnh ở bờ bên kia, vì thế dùng thuyền hoặc bè làm ví dụ mà có tên là tám thuyền, tám bè. Lại như cái bánh xe, nhờ có trục xe, vành xe và nan hoa xe hỗ trợ nhau mà chiếc xe chuyển động, cho nên cũng ví tám chính đạo như tám bánh xe. Lại đây là chỗ các bậc Thánh du hành, cho nên cũng gọi là tám du hành. Trái lại, tà kiến, tà tư, tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh, tà tinh tiến, tà niệm, tà định, gọi là tám tà, tám hạnh tà. [X. Trung a hàm Q.7 kinh Phân biệt thánh đế; luận Tứ đế Q.4; luận Đại tì bà sa Q.96].
bát chính đạo kinh
(八正道經) Có 1 quyển. Ngài An thế cao đời Hậu Hán dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 2. Kinh này nói tên tám tà đạo, tám chính đạo, và nói rõ nội dung của tám chính đạo là: đế kiến, đế niệm, đế ngữ, đế hành, đế thụ, đế trị, đế ý, đế định... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1]. (xt. Bát Chính Đạo).
Bát chính đạo 八正道
[ja] ハッショウドウ hasshōdō ||| The correct (noble) eightfold path, taught by Śākyamuni in his first sermon, and which remains one of the cornerstones of Buddhist practice. Also written 八聖道. Eight types of practices used in conjuction with each other to lead sentient beings to liberation. These are: (1) right view 正見; (2) right thought 正思惟, (3) right speech 正語; (4) right action 正業; (5) right livelihood 正命; (6) right effort 正精進; (7) right mindfulness 正念 and (8) right concentration 正定. (āryāṣṭāṅgo-mārgo) => (s: āryāṣṭāṅgo-mārgo) Con đường chân chính tu đạo gồm tám phần, do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giảng trong bài thuyết pháp đầu tiên, được xem là nền tảng trong việc tu tập Phật pháp. Còn gọi là Bát Thánh Đạo. Mỗi dạng thực hành đều có sự liên kết với các pháp khác để đưa chúng sinh đến nơi giải thoát. Đó là: 1. Chính kiến; 2. Chính tư duy; 3. Chính ngữ; 4. Chính nghiệp; 5. Chính mạng; 6. Chính tinh tiến; 7. Chính niệm; 8. Chính định.
bát chúng
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám chúng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are eight assemblies: 1) Chúng Sát Đế Lợi: The assembly of Khattiyas. 2) Chúng Bà La Môn: The assembly of Brahmains. 3) Chúng Gia Chủ: The assembly of Householders. 4) Chúng Sa Môn: The assembly of ascetics. 5) Chúng Tứ Đại Thiên Vương: The assembly of devas of the Realm of the Four Great Kings. 6) Chúng Tam Thập Tam Thiên: The assembly of the Thirty-Three Gods. 7) Chúng Thiên Ma: The assembly of maras. 8) Chúng Phạm Thiên: The assembly of Brahmas.
; (八衆) Tám chúng. Tức là tám loài hữu tình thuộc người và trời. Đó là: chúng Sát lợi, chúng Bà la môn, chúng cư sĩ, chúng sa môn, chúng Tứ thiên vương, chúng Đao lợi thiên, chúng ma, chúng phạm thiên... [X. kinh Trường a hàm Q.3; luận Tập dị môn túc Q.18; luận Đại trí độ Q.25].
bát chỉ đầu đà
(八指頭陀) (1851 - 1912) Người huyện Tương đàm tỉnh Hồ nam, họ Hoàng, tên Kính an, tự Kí thiền. Là thầy của đại sư Thái hư. Bảy tuổi mất mẹ, mười một tuổi mất cha. Năm Đồng trị thứ 7 (1868), theo Hoà thượng Đông lâm ở chùa Pháp hoa huyện Tương âm xuất gia, y vào luật sư Hiền khải chùa Chúc thánh núi Nam nhạc thụ giới Cụ túc. Sau đến Kì sơn theo thiền sư Hằng chí tham học năm năm, rồi từ Kì sơn xuống chùa A dục lễ xá lợi Phật, tự cắt thịt ở cánh tay, lại đốt hai ngón bên tay trái và tự gọi là: Bát chỉ đầu đà (Người có tám ngón tay tu hạnh đầu đà). Sau nối pháp ngài Lạp vân ở núi Nhạc lộc, hành cước mười năm, qua khắp các chùa. Thời đó đang ở vào cuộc cách mạng Tân hợi, giáo giới hoang mang, sư bèn kết hợp những người có chí ở Giang tô và Triết giang, tổ chức thành lập Tổng hội Phật giáo Trung quốc, với niềm hi vọng thống nhất Tăng giới. Sư được bầu làm Hội trưởng. Năm 1912, thỉnh cầu chính phủ lâm thời ở Nam kinh bảo hộ các chùa. Nhưng chưa bao lâu đã phát sinh xung đột với chính phủ mới ở Bắc kinh, sư bi phẫn quá mà chết tại chùa Pháp nguyên. Chính nhờ biến cố này mà Quốc vụ viện buộc phải thừa nhận chương trình hoạt động của Tổng hội Phật giáo Trung quốc. Sư bình sinh có tài làm thơ, ham học không biết mỏi mệt. Người đương thời đã so sánh sư với thi sĩ Giả đảo đời Đường. Sư giao du thân mật với Vương tương ỷ, Dương độ. Làm rất nhiều thơ, nổi tiếng khắp nước. Có Bát chỉ đầu đà thi tập 8 quyển, Tước mai ngâm cảo 1 quyển.
bát chủng biệt giải thoát giới
Differentiated rules of liberation for the eight orders - monks; nuns; mendicants; novices male; and female; disciples male; and female; and the laity who observe the first eight commandments.
; Tám loại biệt giải thoát giới—Differentiated rules of liberation for the eight orders: 1) Tỳ Khưu giới: Monks. 2) Tỳ Khưu Ni giới: Nuns. 3) Mendicants: Khất Sĩ giới. 4) Sa Di giới: Novice male. 5) Sa Di Ni giới: Novice female. 6) Ưu Bà Tắc giới: Upasaka or Male disciples. 7) Ưu Bà Di giới: Upasika or Female disciples. 8) Cận Trụ giới: The laity who observe the first eight commandments.
; (八種別解脫戒) Tám loại giới biệt giải thoát. Nghĩa là tám loại giới luật của tám chúng. Tức là: giới tỳ khưu, giới tỳ khưu ni, giới chính học, giới sa di, giới sa di ni, giới ưu bà tắc, giới ưu bà di và giới cận trụ.
bát chủng biệt giải thoát luật nghi vô biểu sắc
(八種別解脫律儀無表色) Vô biểu sắc biệt giải thoát luật nghi do phát động tính thiện nơi thân và miệng mà sinh trong khi thuận theo phép nhận giới, gồm có tám loại khác nhau. 1.Bật sô luật nghi vô biểu sắc, nương vào tỉ khưu nhận giới Cụ túc mà phát. 2.Bật sô ni luật nghi vô biểu sắc, nương vào bật sô ni nhận giớiCụ túc mà phát. 3.Chính học luật nghi vô biểu sắc, nương vào thức xoa ma na (tức chính học nữ) nhận sáu pháp mà phát. 4.Cần sách luật nghi vô biểu sắc, nương vào sa di (tức cần sách) nhận mười giới mà phát. 5.Cần sách nữ luật nghi vô biểu sắc, nương vào sa di ni nhận mười giới mà phát. 6.Cận sự luật nghi vô biểu sắc, nương vào ưu bà tắc nhận tám giới mà phát. 7.Cận sự nữ luật nghi vô biểu sắc, nương vào ưu bà di nhận tám giới mà phát. 8.Cận trụ luật nghi vô biểu sắc, nương vào ưu bà tắc, ưu bà di nhận năm giới mà phát.
bát chủng bất tịnh chi vật
Eight kinds of impure things.
bát chủng bố thí
Eight causes of giving - convenience; fear; gratitude; reward seeking; traditional (or customary); hoping for heaven; name and fame; personal virtue.
; (A) Theo Câu Xá Luận, có tám loại bố thí—According to the Kosa Sastra, there are eight causes of dana or giving: 1) Tùy chí thí: Có người đến nên bố thí—Chỉ bố thí được sự tiện ích ở chỗ gần—Giving of convenience or to those who come for aid—One gives as occasion offers. 2) Bố úy thí: Vì sợ mà bố thí (Vì sợ tai ách mà bố thí)—Giving out of fear—Giving for fear of evil—One gives from fear. 3) Báo ân thí: Bố thí để trả ân (vì người ấy đã cho tôi nên tôi bố thí lại)—Giving out of gratitude—Giving in return for kindness received—One gives, thinking: “He gave something.” 4) Cầu báo thí: Bố thí với ý mong cầu được báo đáp về sau nầy—Seeking-reward Giving or anticipating gifts in return—One gives, thinking: “I give him something now, he will give me back something in the future.” 5) Tập tục thí: Bố thí vì thể theo tập tục của tổ tiên cha ông (hay vì nghĩ rằng bố thí là tốt)—Giving because of tradition or custom—Continuing the parental example of giving (one gives, thinking: “It is good to give.”). 6) Hỷ Thiên thí: Vì mong được sanh lên cõi trời mà bố thí—Giving because of hoping to be reborn in a particular heaven. 7) Yếu danh thí: Vì danh tiếng mà bố thí (nghĩ rằng bố thí sẽ có tiếng đồn tốt)—Giving for gaining name and fame—Giving in hope of an honoured name (one gives, thinking: “If I make this gift I shall acquire a good reputation). 8) Công đức thí: Bố thí để giúp cho tâm được trang nghiêm, tập hạnh buông xả và dọn đường cho công cuộc tu hành giải thoát—Giving for personal virtue or for the adornment of the heart and life. (B) Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám loại bố thí—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are eight bases for giving: 1) Tùy Chí Thí: One gives as occasion offer—See Bát Chủng Bố Thí (A) (1). 2) Bố Úy Thí: One gives from fear—See Bát Chủng Bố Thí (A) (2). 3) Báo Ân Thí: One gives, thinking: “He gave me something.”—See Bát Chủng Bố Thí (A) (3). 4) Cầu Báo Thí: One gives, thinking: “He will give me something.” 5) Bố Thí vì nghĩ rằng Bố Thí là tốt: One gives, thinking: “It is good to give.” 6) Bố thí vì nghĩ rằng: “Ta nấu, họ không nấu. Thật không phải, nếu ta nấu mà ta đem bố thí cho kẻ không nấu.”: One gives, thinking: “I am cooking something, they are not. It would not be right not to give something to those who are not cooking.” 7) Yếu Danh Thí: One gives, thinking: “If I make this gift I shall acquire a good reputation—See Bát Chủng Bố Thí (A) (7). 8) Bố Thí vì muốn trang nghiêm và tư trợ tâm: One gives, thinking to adorn and prepare one's heart.
bát chủng chúc
Tám loại cháo mà người ta có thể cúng dường cho Phật và giáo đoàn khi các ngài đang an cưu kiết hạ trong tịnh xá Trúc Lâm—Eight kinds of congee, or gruel served by the citizens to the Buddha and his disciples when in retreat in the bamboo grove of Kasi: 1) Bơ: Butter. 2) Mở: Fats. 3) Hạt gai: Hempseed. 4) Sữa: Milk. 5) Đậu non: Peas. 6) Đậu hạt khô: Beans. 7) Hạt mè: Sesamum. 8) Cháo trắng: Plain gruel.
; (八種粥) Tám thứ cháo. Có lần đức Phật cùng với các vị tỉ khưu an cư trong vườn trúc ở nước Ca thi. Lần ấy, có các cư sĩ nấu các thứ cháo đưa cúng dường Phật và chư tăng, vì thế có tám thứ cháo khác nhau. 1.Tô chúc....., dùng tinh sữa bò, tinh sữa ngựa hòa lẫn với gạo nấu thành cháo. Tô có hai thứ sinh tô và thục tô, là từ tinh sữa chế thành. 2. Du chúc....., dùng dầu đậu, dầu vừng (mè), trộn lẫn với gạo nấu thành cháo. 3.Hồ ma chúc........, dùng hạt vừng trộn lẫn với gạo nấu cháo. 4.Nhũ chúc....., dùng sữa bò, sữa ngựa trộn với gạo nấu cháo. 5.Tiểu đậu chúc........, dùng đậu xanh, đậu đỏ lẫn với gạo nấu cháo. 6.Ma sa đậu chúc ..........., ma sa đậu có lẽ là đậu to, trộn với gạo nấu cháo. 7.Ma tử chúc........, dùng hạt cây hoàng ma lẫn với gạo mà nấu cháo. 8.Bạc chúc....., dùng gạo hoặc hột lật mà nấu cháo xoàng. [X. luật Thập tụng Q.26].
bát chủng cánh dược
(八種更藥) Tám thứ nước uống: 1. Nước mơ chua (Phạm: coca). 2. Nước chuối chín (Phạm: moca). 3. Nước táo chua (Phạm:kurakà). 4. Nước hột bồ đề (Phạm:azvattha). 5. Nước quả mận (Phạm: udumbara). 6. Nước hột anh úc (Phạm:parùwa). 7. Nước quả nho (Phạm: mfvikà). 8. Nước quả khát thụ la (Phạm: kharjùra), dáng như quả táo nhỏ. [X. Bách nhất yết ma Q.5; luật Thập tụng Q.26].
bát chủng công đức
(八種功德) Tám thứ công đức nghe kinh. Cứ theo kinh Phương quảng đại trang nghiêm chép, thì tám thứ công đức ấy là: 1. Sắc thêm đẹp đẽ, không có tướng xấu xí, khó coi. 2. Sức lực khỏe mạnh, hàng phục tất cả mà không khiếp nhược. 3. Tâm trí thông suốt, hiểu thấu hết thảy pháp tướng, không bị ngăn ngại. 4. Có tài hùng biện, có thể trong một câu mà giải nghĩa rộng đến vô cùng. 5. Thu liễm ý niệm, không khởi vọng tưởng, vào sâu trong Thiền định. 6. Trí tuệ sáng láng, soi rọi suốt hết, không bị trở ngại. 7. Xuất gia học đạo vượt trội, truyền pháp làm lợi ích mọi người. 8. Quyến thuộc cường thịnh. Nghĩa là những người nghe kinh của Phật, lại hay nương vào kinh mà nói cho người khác nghe, nhờ công đức ấy mà pháp thân của người khác được phát sinh, tức thành quyến thuộc, đắp đổi truyền dạy, mỗi ngày thêm thịnh.
bát chủng dị thục nhân quả
(八種異熟因果) Tám thứ nhân quả dị thục. Có nghĩa là gieo nhân ở đời này đến đời khác (dị thế) quả của nó mới chín (thục). Vì nghiệp thông cả ba đời, như những nhân gieo ở đời trước đều tốt lành, thì đời này được hưởng phúc báo. Trái lại, nếu đời trước gây nhân bất thiện, thì đời này phải chịu ác báo. Còn nếu đời này tạo những nhân tốt, xấu khác nhau, thì đời sau quả báo thiện, ác cũng bất đồng. Bởi thế, loại nhân quả này mới có tám thứ. 1.Thọ lượng viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối với chúng sinh khởi tâm thương xót, không bao giờ có ý giết hại. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo sống lâu dài, không bị tồn giảm, tu tập thiện pháp, lợi mình lợi người. 2.Sắc tướng viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối trước hình tượng của chư Phật và Bồ tát ở các nơi tối tăm, thắp đèn nến lên làm cho sáng sủa. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo sắc tướng đầy đủ, kiến thức cao sáng, mọi người kính mến, không dám sinh tâm khinh nhờn. 3.Chủng tộc viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối với đồng loại nhịn nhục nhu hòa, tâm thường khiêm tốn. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được qủa báo sinh trong dòng quí tộc, được người đời tôn trọng, thuận theo lời dạy. 4.Tự tại viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối với những người nghèo khó, tùy theo khả năng, giúp đỡ những nhu cầu cần thiết. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo giàu có, họ hàng đông, tùy ý làm gì cũng được tự tại. 5.Tín ngôn viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, thường dùng lời chân thật dịu dàng để giáo hóa chúng sanh. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo nói ra chân thật, hễ quyết đoán điều gì, ai cũng tin chịu. 6.Đại thế viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối trước Phật, Pháp, Tăng, cha mẹ, thầy dạy, thường sinh tâm hèn kém, kính thờ hiếu dưỡng. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo hào phú tự tại, có thế lực lớn, nói ai cũng theo. 7.Trượng phu tướng viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, đối với chư Phật, Bồ tát sinh tâm kính ngưỡng, đối với nữ nhân, tâm thường chán xa. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo thân đàn ông, các căn đầy đủ, không bị sứt mẻ. 8.Dũng lực viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tu hành, thường đem thân sức của chính mình để phụng sự chúng sinh, cấp cho thức ăn uống, khiến hơi sức của họ thêm mạnh. Lấy đó làm nhân, đời khác sẽ được quả báo sức đạo mạnh mẽ, tu tập hết thảy pháp lành, dũng mãnh tinh tiến, cầu đạo vô thượng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.32].
bát chủng dụ
Eight kinds of exemple.
bát chủng khổ
Eight kinds of sufferings—See Bát Khổ.
bát chủng ma
xem tám thứ ma.
; Xem bát ma.
bát chủng mậu
(八種謬) Tám thứ sai lầm xằng bậy, hay làm cho chúng sinh gây ra các phiền não để rồi bị trói buộc và vòng quanh trong ba cõi. 1. Tính sai lầm. Nghĩa là đối với sắc, luôn nghĩ tưởng về sắc, gọi là tính sai lầm. 2. Phân biệt sai lầm. Nghĩa là phân biệt sắc là sắc, chẳng phải sắc, sắc có thể thấy không thể thấy, sắc có đối hay không có đối v.v... gọi là phân biệt sai lầm. 3.Tích tụ sai lầm. Nghĩa là ở trong sắc thấy ta, thấy chúng sinh, sĩ phu, mệnh sống, nhà cửa, bốn chúng, quân đoàn, áo, ăn, hoa sen, xe cộ, cây cối, tích chứa, ... cứ thế trong các thứ ấy đều nghĩ tưởng một tướng, gọi là tích tụ sai lầm. 4. Sai lầm về cái ta. 5. Sai lầm về cái của ta. Đối với các pháp hữu lậu chấp ta, của ta, trong vô lượng kiếp thường sinh chấp trước ta, của ta, gọi là sai lầm về ta, của ta. 6. Sai lầm về yêu đương. Nghĩa là đối với các thứ nhớp nhúa, lòng sinh đắm đuối. 7. Sai lầm về không ưa thích. Nghĩa là đối với các vật nhớp nhúa, sinh tâm tức giận. 8. Sai lầm về chẳng phải ưa thích chẳng phải không ưa thích. Nghĩa là đối với tất cả các vật sạch không sạch sinh tâm tham đắm và tức giận. Ba thứ sai lầm đầu (1,2,3) là cội rễ của hết thảy sự sai lầm, chấp tính, chấp tên là do không hiểu rộng, từ đó đắp đổi sinh ra vô lượng sai lầm. Sai lầm về ta, của ta gọi là ngã kiến (thấy có ta); ngã kiến lại là gốc của các kiến. Hai cái sai lầm này là căn nguyên của các kiến. Ba thứ sai lầm sau (6,7,8) là do tham sân si mà sinh. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.2].
bát chủng ngôn
(八種言) Ngôn, chỉ tiếng nói. Theo Du già sư địa quyển 81, thì vị pháp sư nói pháp trong chúng, phải có đủ tám đặc điểm về tiếng nói. 1. Vị pháp sư nói pháp lấy văn kinh làm chứng cứ, với người chưa hiểu thì dùng thí dụ nói cho họ hiểu. Câu văn phải thanh nhã, lời nói phải rõ ràng, làm cho người nghe đều thích thú muốn nghe. 2. Vị pháp sư nói pháp phải phát hiện nghĩa sâu kín cho được rõ ràng, lại cũng phải tìm ra ý sâu xa mầu nhiệm ngụ ở trong nghĩa thô cạn, khiến mọi trình độ đều được ích lợi. 3. Phải giải thích chỗ khó hiểu hoặc còn ngờ vực. Tức người nghe còn có chỗ khó hiểu, khả nghi thì vị pháp sư phải giải thích một cách khéo léo, khiến nghĩa lý được rõ ràng, dễ hiểu. 4. Vị pháp sư nói pháp phải có tài biện bác trôi chảy, có thể trong một pháp mà dùng các lời nói khéo léo phân tích thành vô lượng nghĩa lý. 5. Vị pháp sư nói pháp, phải thuận theo kinh Phật, giảng giải rõ ràng, khiến người nghe đều tin thuận mà vào chính đạo, chứ không trích dẫn những tà luận của ngoại đạo khiến người nghe hoang mang. 6. Vị pháp sư nói pháp, về nghĩa nếu chưa thông suốt thì phải dẫn lời nói trong các kinh khác để minh chứng cho điều mình nói, khiến người nghe tin nhận. 7. Vị pháp sư nói pháp, phải dùng tài biện luận ưu việt để phân biệt hết thảy nghĩa lý, khiến người nghe không còn chỗ nghi nan. 8. Vị pháp sư nói pháp, phải thuận theo tông nghĩa, giải thích đúng như lý, khiến người nghe hiểu rõ pháp yếu.
bát chủng nhân quả
(八種因果) Tám loại nhân quả. Là tám loại báo nhân của Bồ tát và do đó mà được tám loại quả. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1 chép, thì Bồ tát có bảy chỗ phải học, trong đó, chỗ lợi mình lợi người nói sơ qua có mười thứ, quả của mười thứ ấy bao nhiếp chỗ lợi mình lợi người có ba loại nhân ba loại quả : Báo nhân báo quả là một trong ba loại đó. Rồi lại chia nhỏ nữa làm tám loại nhân tám loại quả, gọi là Bát chủng nhân quả. 1.Thọ nhân thọ quả. Thọ, là sống lâu. Không giết các sinh vật, không có tâm làm thương tổn sự sống của chúng, gọi là nhân thọ (nhân của sự sống lâu); nhờ đó mà được sống lâu, thì gọi là thọ quả. 2.Sắc nhân sắc quả. Sắc tức là sắc thân. Thắp đèn sáng cúng Phật, hoặc đem vật trong sạch cho người, gọi là sắc nhân. Nhờ thế mà được dáng mặt sáng bóng, sắc hình ngay thẳng, thì gọi là sắc quả. 3. Chủng tính nhân chủng tính quả. Chủng, là giống loài; tính, là giòng họ. Lìa bỏ lòng kiêu mạn, gọi là chủng tính nhân; nhờ lìa bỏ kiêu mạn mà được sinh vào dòng dõi cao sang, gọi là chủng tính quả. 4.Tự tại nhân tự tại quả. Đem những thứ cần dùng ban phát cho người, khiến họ được tự tại, gọi là tự tại nhân. Nhờ đó được giàu to, họ hàng đông vui, được đại tự tại, thì gọi là tự tại quả. 5.Tín ngôn nhân tín ngôn quả. Xa lìa bốn tội của miệng, gọi là tín ngôn nhân (cái nhân nói người ta tin); nhờ đó mà lời mình nói ra, người ta đều tin, thì gọi là tín ngôn quả. 6.Đại lực nhân đại lực quả. Lực, tức là sức dùng. Tạo công đức lớn, lập thề nguyền lớn. Cung kính Tam Bảo, hiếu dưỡng cha mẹ, gọi là đại lực nhân. Nhờ đó mà tiếng tăm lừng lẫy, phúc đức to lớn, được mọi người kính trọng, thì gọi là đại lực quả. 7. Trượng phu nhân trượng phu quả. Ưa pháp trượng phu, lại hay nói pháp trượng phu, lợi ích người khác, gọi là trượng phu nhân. Nhờ thành tựu pháp trượng phu, đời sau được thân con trai, thì gọi là trượng phu quả. 8.Lực nhân lực quả. Tùy khả năng làm những việc đúng luật pháp để giúp đỡ người khác, gọi là lực nhân. Nhờ thế mà ít bệnh ít phiền, làm được việc lớn, tu các pháp lành, gọi là lực quả.
bát chủng pháp
See Bát Giới.
; (八種法) Tám loại pháp. Tức là ba Tam muội, bốn Thiền định, bốn tâm Vô lượng, bốn định Vô sắc, tám Bối xả, tám Thắng xứ, chín định Thứ đệ, mười Nhất thiết xứ..., gộp chung lại là năm mươi pháp. Trong đây, bốn Thiền và bốn tâm Vô lượng thuộc Thiền định cõi Sắc. [X. luận Câu xá Q.29]. (xt. Ngũ Thập Pháp).
bát chủng phát bồ đề tâm
See Tám Cách Phát Tâm Bồ Đề.
Bát chủng phân biệt
八種分別; C: bāzhǒng fēnbié; J: hasshu fun-betsu;|Tám thứ vọng tưởng phân biệt trong tư tưởng triết học Duy thức. Còn gọi là Bát vọng tưởng (八妄想). Đó là: Tự tính phân biệt (自性分別); Sai biệt phân biệt (差別分別; Tổng chấp phân biệt (總執分別, còn gọi là Nhiếp thụ tích tụ vọng tưởng 攝受積聚妄想); Ngã phân biệt (我分別); Ngã sở phân biệt (我所分別); Ái phân biệt (愛分別); Bất ái phân biệt (不愛分別), và Ái bất ái phân biệt (愛不愛分別, theo Nhị chướng nghĩa 二障義, Du-già luận 瑜伽論 và Hiển dương luận 顯揚論).
Bát chủng phân biệt 八種分別
[ja] ハッシュフンベツ hasshu funbetsu ||| Eight kind of discrimination in the Yogācāra soteriological thought. Also called the 八妄想: the discrimination of self-nature 自性分別; the discrimination of differentiation 差別分別; the discrimination of general attachment 總執分別, also called 攝受積聚妄想; the discrimination of a self 我分別; the discrimination of objects of a self 我所分別; the discrimination of attached love 愛分別; the discrimination of lack of attached love 不愛分別, the discrimination of attached love and its lack as different from each other 愛不愛分別. 〔二障義、 HPC 1.799c; 瑜伽論T 1579.30.489c12-15; 顯揚論, T 1602.31.458b10〕 => Tám thứ vọng tưởng phân biệt trong tư tưởng, triết học Duy thức. Còn gọi là Bát vọng tưởng. Đó là: Tự tính phân biệt; Sai biệt phân biệt; Tổng chấp phân biệt, còn gọi là Nhiếp thọ tích tụ vọng tưởng; Ngã phân biệt; Ngã sở phân biệt; Ái phân biệt; Bất ái phân biệt, và Ái bất ái phân biệt.
bát chủng thanh
xem tiếng nói có tám loại âm thanh.
; Xem bát âm.
; (八種聲) I.Bát chủng thanh (tám loại tiếng). Cứ theo luận Câu xá quyển 1, thì tiếng phát ra từ loài hữu tình do bốn đại chủng (bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió) cấu thành, gọi là tiếng lấy đại chủng làm nhân (như tiếng phát ra từ miệng lưỡi người ta). Tiếng phát ra từ loài phi hữu tình (loài không có tình thức) do bốn đại chủng tạo thành, gọi là tiếng không nhận đại chủng làm nhân (như tiếng phát ra từ gỗ đá). Hai loại tiếng này đều có lời nói và không phải lời nói, gọi là tên hữu tình, tên chẳng phải hữu tình. Tiếng chấp nhận bốn đại chủng làm lời nói mà phát ra là tiếng thông thường; tiếng không là lời nói, thì như tiếng vỗ tay. Còn tiếng không chấp nhận bốn đại chủng làm lời nói, thì như tiếng nói của người hóa, do sức thần thông của Phật biến hóa ra; tiếng không là lời nói, thì như tiếng của khe nước. Bốn thứ tiếng trên đây lại chia làm hai tiếng hay, và không hay hợp chung lại làm tám thứ tiếng. II. Bát chủng thanh. Chỉ tám thứ tiếng trong sạch. (xt. Bát Âm).
bát chủng tháp
(八種塔) Tám loại tháp. Còn gọi là tám hạng người được xây tháp. Nghĩa là Như lai, Bồ tát, Duyên giác, A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn, Chuyển luân vương, v.v..., sau khi nhập diệt, đều được xây tháp để cúng dường, gọi là Bát chủng tháp. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển thượng chép, tám loại ấy là : 1. Tháp Như lai. Như lai muôn đức đều đủ, ba giác (tự giác, giác tha, giác hành viên mãn) tròn đầy, trời, người đều kính ngưỡng, cho nên, sau khi Ngài nhập diệt, người ta đã xây tháp để cúng dường. 2. Tháp Bồ tát. Bồ tát trên cầu đạo Phật, dưới hóa chúng sinh, tùy loại hiện thân, độ thoát vô lượng, cho nên, sau khi các Ngài nhập diệt đều đã được xây tháp cúng dường. 3. Tháp Duyên giác. 4. Tháp A la hán. 5. Tháp A na hàm. 6. Tháp Tư đà hàm. 7. Tháp Tu đà hoàn. Năm hạng người Duyên giác, A la hán, A na hàm, Tư đà hàm và Tu đà hoàn ghi trên đây đều đáng được nhận sự cúng dường của người và trời, làm ruộng phúc cho đời, bởi thế được dựng tháp để cúng dường. 8. Tháp vua Chuyển luân. Chuyển luân thánh vương, tuy chưa dứt phiền não, chưa ra khỏi ba cõi, nhưng nhờ sức phúc đức, trị bốn thiên hạ, lại dùng mười điều thiện nuôi dạy chúng sinh, được người đời tôn kính, cho nên, sau khi chết, đáng được xây tháp cúng dường.
bát chủng thí
(八種施) Tám thứ bố thí. Tức là : 1. Tùy theo người gần mình mà cho. 2. Sợ hãi tai ách, vì muốn được yên ổn mà cho. Lại thấy của cải sắp tiêu tan và tự nghĩ chẳng thà đem cho đi còn hơn để mất mà bố thí. 3. Trước kia được người ta giúp đỡ, bây giờ biếu lại để trả ơn. 4. Nay cho người ta, hy vọng một ngày nào đó họ sẽ đền trả lại. 5. Noi theo phép nhà do tiên tổ truyền lại mà làm nhiệm vụ bố thí. 6. Mong ước được sinh lên cõi trời mà cho. 7. Mong được người ta khen ngợi, tán tụng mà bố thí. 8. Vì trang nghiêm tâm, giúp cho Thiền định để được niết bàn mà bố thí. [X. luận Câu xá Q.18].
bát chủng thắng pháp
Tám loại thắng pháp. Những ai thọ trì bát trai giới sẽ được tám loại công đức thù thắng—The eight surpassing things. Those who keep the forst eight commandments receive eight kinds of reward: 1) Chẳng đọa địa ngục: They escape from falling into the hells. 2) Chẳng làm ngạ quỷ: They escape from becoming pretas. 3) Chẳng tái sanh vào cõi súc sanh: Not to be reborn in the realm of animals. 4) Chẳng rơi vào cõi A-Tu-La: They escape from falling into the realm of asuras. 5) Sanh vào cõi người và xuất gia tu hành đắc đạo: They will be reborn among men, become monks, and obtain the truth. 6) Tái sanh vào cõi trời dục giới: To be reborn in the heavens of desire. 7) Hằng sanh vào cõi Phạm Thiên hay vào thời gặp Phật: To be reborn in the Brahma Heaven or meet a Buddha. 8) Chứng đạo quả Bồ Đề: To obtain perfect enlightenment. ** For more information, please see Bát Giới.
; (八種勝法) Tám thứ pháp hơn. Chỉ tám thứ công đức thù thắng do nhận giữ tám trai giới mà được. Đó là: 1. Không rơi vào địa ngục. 2. Không rơi vào quỉ đói. 3. Không rơi vào đường a tu la. 4. Không rơi vào loài súc sinh. 5. Thường được sinh trong loài người, xuất gia, được đạo niết bàn. 6. Nếu được sinh cõi trời, thì thường làm Phạm thiên. 7. Được gặp Phật ra đời; xin Phật nói pháp. 8. Được vô thượng chính đẳng chính giác. [X. kinh Thụ thập giới].
bát chủng thọ ký
Tám loại thọ ký—Eight kinds of prediction: 1) Chỉ mình biết, người khác không biết: made known to self, not to others. 2) Mọi người đều biết, chỉ mình không biết: Made known to others, not to self. 3) Mọi người và mình đều biết: Made known to self and others. 4) Mình và mọi người đều chưa biết: Unknown to self or others. 5) Gần thì biết, xa không biết: The near made known, but the remote not. 6) Xa biết nhưng gần không biết: The remote made known, but not the intermediate. 7) Gần xa đều biết: Near and remote both made known. 8) Gần xa đều không biết: Near and remote both not made known.
bát chủng thụ kí
(八種授記) Tám phương pháp thụ kí (trao ghi). Thụ kí, nghĩa là đối với chúng sinh phát tâm tu hành, đức Phật trao cho lời ghi nhận trước là trong vị lai, nhất định được thành Phật. Căn cứ vào sự hay biết hoặc không hay biết mà chia làm tám phương pháp : 1. Mình biết người khác không biết. Nghĩa là phát tâm mà mới tự mình phát thề nguyền, chứ chưa rộng đến người khác, chưa được bốn chỗ không sợ, chưa được phương tiện khéo léo. 2. Mọi người biết hết, chỉ có mình không biết. Nghĩa là phát tâm rộng lớn, được chỗ không sợ, được gốc lành. 3. Mình và mọi người đều biết. Nghĩa là ở vào ngôi thứ bảy được không sợ, được phương tiện khéo léo, được không quán. 4. Mình và mọi người đều không biết. Nghĩa là chưa vào được ngôi thứ bảy, chưa được không quán, chưa được hạnh không chấp trước. 5. Gần biết xa không biết. Nghĩa là các căn đầy đủ không bỏ hạnh vô trước của Như lai, như bồ tát Di lặc. 6. Xa biết gần không biết. Nghĩa là chưa có khả năng diễn nói các hạnh của Thánh hiền, như ngài Sư tử ưng. 7. Gần xa đều biết. Nghĩa là các căn đầy đủ, không sợ bỏ hạnh vô trước, đi khắp các thế giới trong mười phương, làm các việc không thể nghĩ bàn để hiển bày thần đức của Phật, như bồ tát Nhu thuận. 8. Gần xa đều chưa biết. Nghĩa là chưa được giác ngộ, đều không thể biết hết các hạnh ẩn kín của Như lai, như bồ tát Đẳng hành. [X. Pháp hoa văn cú Q.7 thượng]. (xt. Thụ Kí).
bát chủng thụ ký
The eight kinds of prediction - made known to self, not to others; to others not to self; to self and others; unknown to self or others; the near made known but the remote not; the remote made known but not the intermediate steps; near and remote both made known; near and remote both not made known.
bát chủng toàn chuyển thích
(八種旋轉釋) Tám giải thích chuyển quanh. Tức là phương pháp được Mật giáo dùng để giải thích văn kinh. Đó là: một chữ giải nhiều, nhiều chữ giải một, một chữ thành nhiều, nhiều chữ thành một, một chữ phá nhiều, nhiều chữ phá một, chuyển quanh xuôi, chuyển quanh ngược v.v... (xt. Thập Lục Huyền Môn).
bát cung dưỡng
(八供養) Tám cúng dường. Tức là bốn vị Bồ tát cúng dường ở phía trong và bốn vị Bồ tát cúng dường ở phía ngoài. Cúng dường phía trong, có nghĩa là đức Đại nhật Như lai ứng với đức của các bậc Như lai ở bốn phương đã chứng Tam ma địa (Thiền định) mà, từ nơi trong tâm, sinh ra bốn vị Bồ tát để cúng dường. Tức là bốn bồ tát Hi ( chơi giỡn), Man (vòng hoa), Ca (hát), Vũ (múa) chia nhau cúng dường các đức A súc Như lai ở phương đông, Bảo sinh Như lai ở phương nam, Di đà Như lai ở phương tây và Bất không thành tựu Như lai ở phương bắc. Bốn Bồ tát cúng dường phía ngoài là bốn đức Như lai ở bốn phương sinh ra để cúng dường Đại nhật Như lai. Tức A súc Như lai đem bồ tát Hương để cúng dường, Bảo sinh Như lai đem bồ tát Hoa cúng dường, A di đà Như lai đem bồ tát Đèn cúng dường, Bất không thành tựu Như lai đem bồ tát Hương hoa cúng dường. Tám Bồ tát cúng dường trên đây cùng với bốn Bồ tát Nhiếp và bốn Bồ tát Ba la mật, đều thuộc cửa Định và đối lại với mười sáu Bồ tát thuộc cửa Tuệ, gọi là mười sáu vị tôn cửa Định.
bát cát đế
Prakrti (skt). 1) Đàn bà: Woman. 2) Tên người nàng Bát Cát Đế tại giếng nước đã dụ dỗ ngài A Nan, nhưng sau nầy trở thành một Ni Sư: Prakrti, name of the woman at the well who supplied water to Ananda, seduced him, but later became a nun.
bát câu nghĩa
Tám nguyên tắc căn bản, của trực giác hay liên hệ trực tiếp với tâm linh của trường phái Thiền Tông—The eight fundamental principles, intuitional or relating to direct mental vision of the Zen School. 1) Chánh Pháp Nhãn Tạng: Correct Law Eye-Treasury. 2) Niết Bàn Diệu Tâm: Nirvana of Wonderful and Profound Mind—See Diệu Tâm. 3) Thực Tướng Vô Tướng: Reality is nullity. 4) Vi Diệu Pháp Môn: The Door of Abhidharma. 5) Bất Lập Văn Tự: It is not relying on books, or not established on words. 6) Giáo Ngoại Biệt Truyền: It is a special transmission outside the teachings. 7) Trực Chỉ Nhân Tâm: It points directly to the human mind. 8) Kiến Tánh Thành Phật: Through it one sees one's own nature and becomes a Buddha.
bát công đức hạnh
Aṭṭhacariya (P), Beneficial conduct.
bát công đức thuỷ
(八功德水) Nước tám công đức. Tức là nước có đủ tám thứ công đức thù thắng. Cũng gọi Bát chi đức thủy, Bát vị thủy (nước có tám mùi vị), Bát định thủy. Bên cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà có ao tám công đức, chứa đầy nước tám công đức ở trong. Tám công đức thù thắng của nước trong ao là : lặng trong, sạch mát, ngọt ngào, mềm nhẹ, thấm nhuần, an hòa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn. Đồng thời, bảy biển bao quanh núi Tu di cũng đầy nước tám công đức. Như : ngọt, mát, mềm, nhẹ, trong, sạch, không có mùi hôi, uống không đau cuống họng, uống không đau bụng ... Tức có đủ tám tính chất đặc biệt. [X. kinh Di lặc đại thành Phật; luận Đại tỳ bà sa Q.133; luận Câu xá Q.11].
bát công đức thủy
xem nước tám công đức.
; Water of eight merits.
; Water of eight merits and virtues.
; Eight kinds of water of virtues, or eight virtues—Còn gọi là Bát Công Đức Trì, hay Bát Vị Thủy, tức là nước tám công đức. Người ta nói đây là tánh đặc thù của nước trong những ao hồ nơi cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—Eight waters of merit and virtue. It is said that these are characteristics of water in the lakes and ponds in the Pure Land of Amitabha Buddha 1) Trừng Tịnh: Trong sạch hay lắng sạch—Clarity and cleanliness. 2) Thanh Lãnh: Trong trẻo và mát mẻ—Coolness. 3) Cam Mỹ: Ngọt ngào—Sweetness—Sweet. 4) Khinh Nhuyễn: Nhẹ dịu—Lightness. 5) Nhuận Trạch: Uy lực rưới mát mọi vật—Moisturing power. 6) An Hòa: Có khả năng làm an lạc và êm dịu mọi tình huống—Ability to give comfort. 7) Có khả năng làm dịu những khao khát: Ablity to quench thirst. 8) Có khả năng cải tiến sự khang kiện và bổ khỏe các căn: Ability to improve health and nourishing all roots. ** See Eight Virtues in English-Vietnamese Section.
Bát cú nghĩa
八句義; C: bājùyì; J: hachikugi;|Tám câu diễn đạt tinh thần tự thể hiện yếu tính của Thiền, quan tâm đến sự thực chứng, hơn là học hỏi tri thức: 1. Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏); 2. Niết-bàn diệu tâm (涅槃妙心); 3. Thật tướng vô tướng (實相無相); 4. Vi diệu pháp môn (微妙法門); 5. Bất lập văn tự (不立文字); 6. Giáo ngoại biệt truyền (教外別傳); 7. Trực chỉ nhân tâm (直指人心); 8. Kiến tính thành Phật (見性成佛).
bát cú nghĩa
(八句義) Nghĩa tám câu. Tám câu biểu hiện nghĩa mầu nhiệm sâu thẳm của Thiền tông. Tám câu ấy là : Chính pháp nhãn trạng (con mắt chính pháp). Niết bàn diệu tâm (tâm Niết bàn mầu nhiệm). Thực tướng vô tướng (thực tướng không tướng). Vi diệu pháp môn (cửa pháp xa thẳm). Bất lập văn tự (không lập văn chữ). Giáo ngoại biệt truyền (truyền riêng ngoài giáo). Trực chỉ nhân tâm (chỉ thẳng lòng người). Kiến tính thành Phật (thấy tính thành Phật).
Bát cú nghĩa 八句義
[ja] ハチクギ hachikugi ||| The 'eight phrases' which express the Chan tradition's self-described fundamental characteristics, which are related to direct perception of reality, rather than academic study: (1) zhengfayancang 正法眼藏 - Treasury of the eye of the true dharma. (2) niepanmiaoxin 涅槃妙心 - The subtle mind of nirvāna. (3) shixiangWuxiang 實相無相 - True marks are no marks. (4) weimiaofamen 微妙法門 - The extremely subtle dharma-gate. (5) buliwenzi 不立文字 - No establishment of words and letters. (6) jiaowaibiechuan 教外別傳 - The distinct transmission outside of the teachings. (7) zhizhirenxin 直指人心 - Directly pointing to the mind of man. (8) jianxingchengfo 見性成佛 - Seeing the nature is the attainment of Buddhahood. => Tám câu diễn đạt tinh thần tự thể hiện yếu tính của Thiền, quan tâm đến sự thực chứng hơn là tri thức kinh viện: 1. Chính pháp nhãn tạng (c: zhengfayancang). 2. Niết-bàn diệu tâm (c: niepanmiaoxin). 3. Thực tướng vô tướng (c: Shixiang Wuxiang). 4. Vi diệu pháp môn (c: weimiaofamen). 5. Bất lập văn tự (c: buliwenzi). 6. Giáo ngoại biệt truyền (c: jiaowaibiechuan). 7. Trực chỉ nhân tâm (c: zhizhirenxin). 8. Kiến tính thành Phật (c: jianxingchengfo).
bát cấm
See Bát Giới.
bát danh kinh
(八名經) Kinh tám tên. Có một quyển. Gọi tắt của kinh Bí mật bát danh đà la ni. Do ngài Pháp hiền đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này dođức Phật nói chobồ tát Kim cương thủ ngheở trong vườn của ông Cấp cô độc. Trước hết, Ngài nói có người nhận giữ đà la ni này sẽ được những lợi ích gì. Kế đó, Ngài nói về tám tên gọi kín đáo trong Tối thắng trì minh tạng thuộc Kim cương bộ và giải rõ tám tên là : tai voi, trang nghiêm mầu nhiệm, biển báu công đức, không động, mây chân thật, sắc tướng đáng mến, ánh sáng, màu sắc tuyệt đẹp. Rồi nói đà la ni, cuối cùng, Phật bảo những người nhận giữ đọc tụng tên Kinh kín đáo và đà la ni này sẽ không bị rơi vào địa ngục, khi chết, chư Phật Bồ tát hiện thân nói pháp an úy, sau khi chết, được sinh vào cõi trời Đâu suất. Kinh Bát danh phổ mật đà la ni 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch là cùng bản mà khác dịch của kinh này.
Bát danh phổ mật đà-la-ni kinh
八名普密陀羅尼經; C: bāmíng pǔmì tuó-luóní jīng; J: hachimyō fumitsu darani kyō;|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 654. Nội dung Đức Phật giảng dạy 8 loại đà-la-ni cho Bồ Tát Kim Cương Thủ (金剛手; s: vajrasattva).
Bát Danh Phổ Mật Đà-La-Ni Kinh 八名普密陀羅尼經
[ja] ハチミョウフミツダラニキョウ Hachimyō fumitsu darani kyō ||| The Baming pumi tuoluoni jing (Sutra of the Dhāranī of the Universal and Esoteric Eight Names). One fascicle, T 1365.21.883-884. Translated in 654 by Xuanzang. The Buddha teaches eight kinds of dhāraṇī to the bodhisattva Vajrasattva 金剛手. => Kinh; 1 quyển; Huyền Trang dịch năm 654. Nội dung Đức Phật giảng dạy tám môn đà-la-ni cho Bồ-tát Kim Cương Thủ (s: Vajrasattva).
bát danh tam muội
(八名三昧) Tam muội tám tên. Nói đủ là Bát danh kinh Tam muội. Tức là pháp hội lấy bồ tát Di lặc làm vị tôn chính (bản tôn), đọc tụng kinh Bí mật bát danh đà la ni.
bát diệp
(八葉) Diệp, hàm ý là thời, là đời. Bát diệp, tức là tám thời, tám đời. Hoặc hàm ý hàng cháu pháp tám đời. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 8 thiên hạ sư biểu các kí (Đại 48, 1157 trung), nói : Sau đại sư Bồ đề đạt ma tám đời, có vị tỉ khưu lớn, ở núi Bách trượng thuộc Hồng châu, người ta gọi là Bách trượng thiền sư.
bát diệp liên hoa
(八葉蓮華) Hoa sen tám cánh. Ở khu chính giữa của mạn đồ la thuộc Thai tạng giới vẽ một hoa sen tám cánh, gọi là Trung đài bát diệp viện (viện tám cánh đài giữa). Vẽ đức Đại nhật Như lai ở chính giữa, trên tám cánh hoa sen ở bốn chung quanh, vẽ bốn đức Phật và bốn vị Bồ tát, gọi là tám cánh (hoa) chín vị tôn. Trong các phép quán của Mật giáo, cũng có phép quán hoa sen tám cánh. (xt. Bát Diệp Liên Hoa Quán).
bát diệp liên hoa quán
(八葉蓮華觀) Quán tưởng hoa sen tám cánh. Là phép quán của người tu Mật tông, quán tưởng trái tim của mình là đóa hoa sen tám cánh hiện bày chín vị tôn của Thai tạng giới. Bởi vì, nói theo giáo nghĩa của Mật giáo, trái tim của hết thảy chúng sinh là nhân để thành tựu Liên hoa tam muội (Thiền định hoa sen), nhưng vì nó chưa được làm cho nở ra, nên bị các phiền não trói buộc, mà không biết rõ được cái tướng của tâm mình một cách như thực. Bởi thế, trước phải soi rọi tâm này, quán tưởng nó là đóa hoa sen tám cánh, khiến các nhị hoa nở ra đầy đủ, quán tưởng chữ (a) nằm ở chính giữa đài sen. Tại sao phải quán tưởng hoa sen tám cánh? Vì hai nghĩa sau đây: 1. Quán tam muội, nơi tâm hết thảy phàm phu tuy chưa thể tự biết rõ, nhưng trên đó tự nhiên đã có tám cánh như hình dạng bông sen cúp, quán chiếu tâm này, khiến nó nở ra, tức là quán tam muội. 2. Nhị hoa đầy đủ, nghĩa là tâm tam muội hoa sen này, khi đã nở rộ, thì đầy đủ vô lượng pháp môn, không thiếu một pháp môn nào. [X. Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.12; Tông kính lục Q.26].
bát diệp liên đài
(八葉蓮台) Đài hoa sen tám cánh. Chỉ cái đài ở chính giữa viện thứ nhất trong mạn đồ la thuộc Thai tạng giới Mật giáo, vì có vẽ đóa hoa sen tám cánh, cho nên gọi Bát diệp liên đài. Cũng gọi Bát diệp trung đài. Đức Đại nhật Như lai ngồi ở chính giữa hoa sen, gọi là trung tôn của tám cánh. Bốn chung quanh tám cánh lần lượt phối với bốn đức Phật Bảo sinh, Khai phu hoa vương,Vô lượng thọ, Thiên cổ lôi âm, và bốn vị Bồ tát Phổ hiền, Văn thù, Quan âm, Di lặc v.v... , gộp chung lại là chín vị tôn, là tướng trái tim của người ta khi ứng hợp với thân mật, ngữ mật và ý mật. [ X. kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.4].
bát diệp nhục đoàn tâm
(八葉肉團心) Trái tim thịt tám cánh. Hình thể trái tim của phàm phu giống như hoa sen cúp, nếu tu quán tưởng Du già mà in nhau với thân mật, ngữ mật và ý mật thì trái tim mở ra giống như hoa sen tám cánh, hiện chứng chín vị tôn ở tám cánh đài giữa, cho nên gọi Bát diệp nhục đoàn tâm. Nhục đoàn tâm, tiếng Phạm: hfdaya, dịch âm : hãn lật đà, ô lật đà, chỉ trái tim của người ta, là tiếng đối lại với tâm nghĩ biết. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 623 thượng), nói : Hình dáng tâm ô lật đà của phàm phu giống như hoa sen chưa nở, có gân mạch cấu tạo thành tám phần, con trai hướng lên, con gái hướng xuống. Trước hết, quán tưởng sen này, khiến nó nở ra làm tòa sen trắng tám cánh. (xt. Tâm).
bát diệp ấn
(八葉印) Ấn tám cánh hoa. Một loại ấn tay. Hai tay chụm lại, lòng bàn tay để rỗng, hai ngón cái và hai ngón út sáp vào nhau, làm thành tướng ấn tám cánh hoa sen đang nở rộ. Đây là ấn của đức Phật A di đà. Cũng là khế ấn thứ tư trong mười tám đạo, là ấn Tam muội da của bộ Liên hoa. [X. Thai tạng giới mạn đồ la đại sao Q.3].
bát dụ
(八喻) I.Bát dụ. Tám ví dụ. Là tám phép tắc được sử dụng trong kinh điển Phật để ví dụ. 1. Thuận dụ. Nghĩa là đức Phật nói pháp thuận theo thứ tự của đời thường, từ nhỏ tới lớn, tức thuận theo thứ tự dấy sinh của sự vật mà nói. 2. Nghịch dụ, ngược với thuận dụ. Tức ngược với thứ tự của đời thường, ví dụ từ lớn tới nhỏ. 3. Hiện dụ. Ví dụ như sự thật ở trước mặt. 4. Phi dụ. Tức Phật nói pháp, giả đặt lời làm ví dụ, chứ không phải việc đó có thực. 5. Tiên dụ. Tức trước đặt giả dụ, rồi sau mới nêu việc thực tế kết hợp. 6. Hậu dụ. Tức trước nói pháp, rồi sau mới đặt ví dụ để làm rõ. 7. Tiên hậu dụ. Tức khi Phật nói pháp, điều nói trước nói sau đều là ý ví dụ. 8. Biến dụ (dụ khắp). Tức toàn là ví dụ. Tức Phật nói pháp, đầu cuối đều mượn ví dụ để hiển bày. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.29 phẩm Sư tử hống bồ tát]. (xt. Thí Dụ). II. Bát dụ. Tám ví dụ. Dùng tám sự tượng làm tám ví dụ để chỉ bày rõ thân người là không, là vô thường. Kinh Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa nêu ra tám thứ như sau: ánh sao, đom đóm mắt, ánh đèn, ảo thuật, sương móc, bọt nước, tia chớp, mây. Kinh Đại bát nhã quyển 11 thì nêu: ảo thuật, chiêm bao, tiếng vang, bóng dáng, giợn nắng, bóng sáng, biến hóa, thành tìm hương. [X. kinh Đại bát nhã Q.48, Q.41]. (xt. Thí Dụ).
bát giác
(八覺) Tám ý nghĩ xấu. Cũng gọi Bát chủng ác giác, Bát bất thiện giác. Nghĩa là chúng sinh hay nảy ra tám ý xấu xa. Đó là: tham muốn, tức giận, làm hại người, xóm làng thân, đất nước, không chết, giòng họ, khinh khi. Dịch mới dịch là Tầm tư (tìm nghĩ), cũng dịch là niệm. 1. Dục giác, là ý nghĩ tham muốn. 2. Sân giác, ý nghĩ tức giận. 3. Hại giác, cũng gọi kiêu giác, ý nghĩ hại người. 4. Thân lí giác , thường nhớ nghĩ xóm làng, người thân. 5. Quốc độ giác, thường nghĩ đến sự an nguy của đất nước. 6. Bất tử giác, chứa góp của báu, thường nghĩ đến sự sống mãi không chết. 7. Tộc tính giác, thường nghĩ đến giòng họ cao sang. 8. Khinh vũ giác, có ý cậy mình tài đức mà khinh rẻ người khác. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Du già sư địa Q.40; luận Thành thực Q.14; Hoa nghiêm kinh sớ Q.13; Đại minh tam tạng pháp số Q.31].
bát giái trai
Xem bát quan trai.
bát giáo
Eight classifications of Sakyamuni teachings.
bát giáo nhiếp bất
(八教攝不) Có bao nhiếp tám giáo không? Là danh mục của tông Thiên thai bàn về kinh Pháp hoa có bao nhiếp tám giáo không. Tám giáo, tức là bốn giáo hoá nghi: Đốn giáo, Tiệm giáo, Bí mật giáo, Bất định giáo và bốn giáo hoá pháp: Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo. Về vấn đề kinh Pháp hoa có báo quát tám giáo trên đây không, thì có nhiều thuyết khác nhau, mà trong Nhị bách đề quyển 15 của tông Thiên thai bảo là không. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa văn cú kí Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.Thượng]. (xt. Siêu Bát Đề Hồ).
Bát giải thoát
八解脫; C: bā jiětuō; J: hachigedatsu;|Xem Tám giải thoát.
bát giải thoát
xem tám giải thoát.
; Aṣṭa-vimokṣa (S), Eight forms of liberation Aṭṭha-vimokkha (P)- Khi tâm tham dục dấy lên thì cách quán xét sự vật và nhận chân tánh hư huyễn, - Khi không tâm tham dục nổi lên vẫn quán xét sự vật như trên, - Bằng cách quán xét để nhận chân sự trạng thái thường hằng ở đó không có dục vọng chi phối, - Bằng cách quán triệt sự bất cùng tận của không gian hay thể phi vật chất, - Bằng cách nhận chân được trí huệ vô biên, - Bằng cách quán triệt tính không, - Bằng trạng thái tâm không có niệm cũng không vắng niệm, - Bằng tâm không phân biệt xúc thọ (vedana)và tưởng (sanja).
; Asta-vimoksa (S). Liberation, deliverance, freedom, emancipation, escape, release in eight forms: 1-Nội hữu sắc tưởng ngoại quán sắc giải thoát, liberation, when subjective desire arises,by examination of the object, or of all things and realization of their filthiness; 2-Nội vô sắc tưởng ngoại quán sắc giải thoát, liberation, when no subjective desire arises, by still meditating as above; 3-Tịnh thân tác chứng cụ túc trú giải thoát, liberation by concentration on the pure to the realization of a permanent state of freedom from all desire. The above three correspond to the four dhyànas; 4-Không vô biên xứ giải thoát, liberation in realization of the infinity of space; 5-Thức vô biên xứ giải thoát, liberation in realization of infinite knowledge; 6-Vô sở hữu xứ giải thoát, liberation in realization of nothingness, or nowhereness; 7-Phi tưởng phi phi tưởng giải thoát, liberation in the state of mind where there is neither thought nor absence of thought. These four arise out of abstract meditation in regard to desire and form, and are associated with the tứ không thiên; 8-Diệt thụ tưởng định giải thoát, liberation by means of a state of mind in which there is final extinction, nirvàna, of both sensation, vedanà, and consciousness, samjnà.
; (八解脫) Tám giải thoát. Phạm: awau vimokwà#, Pàli: aha vimokkhà. Nghĩa là dựa vào tám loại sức định mà diệt bỏ lòng tham muốn đối với sắc và không sắc. Cũng gọi Bát bối xả, Bát duy vô, Bát duy vụ. 1. Nội hữu sắc tưởng quán chư sắc giải thoát. Nghĩa là diệt trừ ý tưởng có sắc ở trong tâm, và tu phép quán chẳng sạch đối với các sắc ở bên ngoài. 2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát. Nghĩa là tuy đã trừ diệt hết ý tưởng về sắc ở trong lòng, nhưng vì sự tham muốn ở cõi Dục khó dứt, cho nên phải quán xét cái tướng chẳng sạch ở bên ngoài, khiến sinh tâm chán ghét mà đoạn trừ. 3. Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ. Nghĩa là sự tu luyện căn lành đã thành tựu, vứt bỏ tâm quán chẳng sạch ở trước, mà tu quán xét tướng sạch của cảnh sắc bên ngoài, làm cho phiền não không nảy sinh, thân chứng sự an trụ trong giải thoát thanh tịnh đầy đủ. 4. Siêu chư sắc tưởng diệt hữu đối tưởng bất tư duy chủng chủng tưởng nhập vô biên không không vô biên xứ cụ túc trụ giải thoát, vượt các ý tưởng về sắc, diệt hết ý tưởng có đối đãi, không suy nghĩ về các loại ý tưởng, vào chỗ không biên giới, trụ nơi giải thoát đầy đủ. Nghĩa là diệt hết ý tưởng về sắc có đối đãi, tu hành tướng không vô biên xứ nhập vô biên để thành tựu không vô biên. 5. Siêu nhất thiết không vô biên xứ nhập vô biên thức thức vô biên xứ cụ túc trụ giải thoát, vượt hết thảy chỗ không không biên tế, vào cõi thức không biên giới, trụ chỗ giải thoát đầy đủ. Nghĩa là vứt bỏ tâm không không vô biên giới, mà tu tướng thức không bờ bến để thành tựu thức vô biên . 6. Siêu nhất thiết vô biên xứ nhập vô sở hữu vô sở hữu xứ cụ túc trụ giải thoát, vượt hết thảy chỗ thức vô biên, vào nơi vô sở hữu, trụ chỗ giải thoát đầy đủ. Nghĩa là vứt bỏ tâm thức vô biên, tu tướng vô sở hữu mà thành giải thoát. 7. Siêu việt nhất thiết vô sở hữu xứ nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ cụ túc trụ giải thoát, vượt tất cả chỗ vô sở hữu mà vào cõi chẳng phải tưởng chẳng phải không tưởng, trụ nơi giải thoát đầy đủ. Nghĩa là bỏ tâm vô sở hữu, không có tưởng minh thắng, trụ nơi tướng chẳng phải không tưởng mà thành tựu giải thoát. 8. Siêu nhất thiết phi tưởng phi phi tưởng xứ nhập thụ tưởng diệt thân tác chứng cụ túc trụ giải thoát, vượt hết thảy chỗ chẳng phải tưởng chẳng phải không tưởng, vào chỗ diệt hết tưởng thụ, thân chứng giải thoát đầy đủ. Nghĩa là bỏ cảm thụ và tưởng tượng v.v... mà vào định diệt tận, trừ bỏ hết thảy các pháp tâm và tâm sở. Trong tám giải thoát trên đây, hai giải thoát trước nương vào Thiền đầu và Thiền thứ hai mà đối trị lòng tham về hiển sắc. Giải thoát thứ ba nương vào Thiền thứ tư mà tu quán trong sạch, đều lấy không tham làm tính chất. Giải thoát thứ tư đến thứ bảy, theo thứ tự, lấy bốn định vô sắc làm tính chất. Giải thoát thứ tám nương cõi trời có nóc, lấy tâm diệt hết chỗ duyên theo làm tính chất. Lại nữu, hai giải thoát đầu đều chia làm hai, giải thoát thứ ba chia làm bốn, gom chung lại gọi là tám thắng xứ. [X. Trung a hàm Q.24 kinh Đại nhân; luận Câu xá Q.29; luận Phẩm loại túc Q.7]. (xt. Bát Thắng Xứ).
Bát giải thoát 八解脱
[ja] ハチゲダツ hachigedatsu ||| Eight kinds of liberation, based on meditational efforts. These eight can vary according to the text. The set listed in the Yogācārabhūmi-śāstra is: (1) 内有色想觀外色解脱; (2) 内無色想觀外色解脱; (3) 淨身作證具足作解脱; (4) 空無邊處解脱; (5) 識無邊處解脱; (6) 無所有處解脱; (7) 非想非非想處解脱; (8) 滅盡定解脱. 〔瑜伽論T 1579.30.328c17-21〕 => Tám môn giải thoát, căn cứ vào kết quả của sự tinh tiến trong thiền định, tám môn nầy có thể khác nhau tùy theo từng kinh văn. Trong Du Già Sư Địa Luận liệt kê như sau: 1. Nội quán sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát. 2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát. 3. Tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát. 4. Không vô biên xứ giải thoát. 5. Thức vô biên xứ giải thoát. 6. Vô sở hữu xứ giải thoát. 7. Phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát. 8. Diệt tận định giải thoát.
bát giới
Eight abstinences. Xem bát quan trai.
bát giới trai
Xem bát quan trai.
; Atthanga Sila. Eight commandments, precepts.
bát hoà la
(鉢和羅) Phạm: pravàraịà. Pàli: pavàraịà. Dịch âm: bát lạt bà lạt nô. Cũng gọi bạt hòa la, bát hòa lan. Dịch ý là tự tứ, việc tùy ý. Tức là nghĩa thỏa mãn, vui vẻ, đẹp lòng. Nghĩa là, ngày 15 tháng 7 là ngày kết thúc thời kì ở yên (an cư), các tỉ khưu tự dãi bày những tội lỗi mà mình đã phạm phải trong thời gian an cư để xin sám hối, sám hối xong được trong sạch mà sinh lòng vui mừng. Ngày kết thúc an cư, gọi là ngày tự tứ. Vào ngày này, dâng cơm cúng dường Tam bảo, gọi là cơm bát hòa la, dịch ý là cơm tự tứ. Lại trong Vu lan bồn kinh sớ quyển hạ, Ngũ tổ tông Hoa nghiêm là ngài Tôn mật cho rằng bát hoà la là truyền lầm từ chữ bát đa la (ứng lượng khí: lượng bát đủ cho sức của một người ăn). [X. luật Ma ha tăng kì Q.27; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng 4 thiên Tự tứ tông yếu]. (xt. An Cư, Tự Tứ).
bát hoàn biện kiến
(八還辯見) Hoàn, nghĩa là trở lại. Các tướng biến hóa ở thế gian đều trở lại nơi gốc mà từ đó chúng đã phát ra, gồm có tám loại, gọi là Bát hoàn. Biện, nghĩa là phân biệt. Kiến, tức là tính hay thấy. Bát hoàn biện kiến, là dùng tám loại cảnh (đối tượng) bị thấy (sở kiến) có thể trở lại, hoặc trả về để biện minh cho tính hay thấy (năng kiến) không trở lại, không thể trả về. Cứ theo Kinh lăng nghiêm quyển 2 chép, thì tôn giả A nan không biết được cái lí Cảnh trần (cảnh bụi) có sinh diệt, tính thấy thì không lay động, mà nhận lầm duyên trần, theo trần phân biệt, nên đức Như lai mới dùng tâm, cảnh để biện minh chân, vọng. Nói về tâm thì Như lai bảo Ta sẽ chỉ cho ông biết không có chỗ trở về. Nói về cảnh thì Như lai bảo Nay ta trả nó trở lại nơi mà từ đó nó đã xuất phát, để hiển bày cảnh bị thấy có thể trả về, còn tính hay thấy thì không thể trả về. Cho nên mới dùng tám loại tướng biến hóa để biện minh. 1. Sáng trả về mặt trời. Có mặt trời thì sáng, không mặt trời thì tối, như vậy, sáng là từ mặt trời, cho nên lại trả về mặt trời. Nhưng sáng là trần cảnh (Cảnh bụi = đối tượng) bị trông thấy, chứ không phải tính hay thấy. Vì trần cảnh thì có sinh diệt, còn tính thấy thì vốn không sinh diệt, cho nên cái sáng bị thấy có thể trả về, còn cái tính hay thấy thì không thể trả về. 2. Tối trả về tháng đen (hắc nguyệt = từ ngày 16 đến ngày 29 hoặc 30), vì tháng trắng (bạch nguyệt = từ ngày 1 đến ngày 15) thì sáng, tháng đen thì tối. Như vậy, tối là từ tháng đen, lại trả trở về tháng đen. Cho nên biết cái tối bị thấy có thể trả về, còn cái tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy có thể trả về thì, khi không tối, cũng lại không thấy sáng. 3. Thông thoáng trả về cửa sổ. Vì có cửa sổ nên thấy thông thoáng, nếu không có cửa sổ thì không thấy thông thoáng. Như vậy, thông thoáng thuộc về cửa sổ, cho nên trả về cửa sổ. Bởi thế nên biết, cái thông thoáng bị thấy thì có thể trả về, mà tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy cũng có thể trả về, thì ở chỗ không thông thoáng, cũng lại không thấy cái lấp bít. 4. Lấp bít trả về tường vách. Vì có tường vách nên thấy lấp bít, nếu không có tường vách thì không có lấp bít. Như vậy, lấp bít thuộc về tường vách, cho nên lại trả về tường vách. Bởi thế nên biết, cái lấp bít bị thấy có thể trả về, nhưng cái tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy cũng có thể trả về, thì khi không lấp bít, cũng lại không thấy cái thông thoáng. 5. Các duyên trả về cho phân biệt. Duyên, là nghĩa buộc, là thuộc với nhau. Nghĩa là có chỗ phân biệt đối đãi, thì có tướng được duyên theo, nếu không có năm trần (sắc thanh hương vị xúc) làm đối tượng, thì không có tướng duyên theo (mắt tai mũi lưỡi thân) để phân biệt. Như vậy, duyên thuộc phân biệt, cho nên lại trả về phân biệt. Bởi thế nên biết cái tướng duyên bị phân biệt có thể trả về, còn cái tính hay phân biệt thì không thể trả về. Nếu tính hay phân biệt cũng có thể trả về, thì khi không duyên theo cảnh, cũng lại không biết có phân biệt. 6. Không hay biết, không hình tướng, trả về hư không. Nghĩa là không có hình tướng thì không bị trở ngại, có thể tràn khắp hư không. Nếu có hình tướng, thì không thấy khoảng rỗng không. Như vậy, không hình tướng lại trả về không. Bởi thế nên biết, cái rỗng không có thể trả về, còn tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy cũng có thể trả về, thì khi rỗng không, cũng lại không thấy hình tướng. 7. Vì có bụi, nên có bụi mù, nếu không có bụi thì không có bụi mù. Như vậy, bụi mù thuộc về bụi, cho nên trả về bụi. Bởi thế nên biết, bụi mù được trông thấy có thể trả về, còn tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy cũng có thể trả về, thì khi không có bụi , cũng chẳng thể thấy cái sáng rõ. 8. Quang đãng thì thấy sáng sủa, âm u thì không thấy sáng sủa. Như vậy, sáng sủa thuộc về quang đãng, vì thế lại trả về quang đãng. Cho nên biết cái sáng sủa thuộc về quang đãng, vì thế lại trả về quang đãng. Cho nên biết cái sáng sủa được trông thấy có thể trả về, nhưng tính hay thấy thì không thể trả về. Nếu tính hay thấy cũng có thể trả về, thì khi không sáng sủa cũng lại chẳng thấy sự u ám. [X. Lăng nghiêm kinh giảng nghĩa (Viên anh); Lăng nghiêm đại nghĩa kim thích (Nam hoài cẩn)].
Bát Hoành
(八紘): hay Bát Huyền. Hoành (紘), đồng nghĩa với chữ duy (維), nghĩa là phương, góc. Thời cổ đại, người ta xem Bát Hoành là thiên hạ. Trong Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1261) quyển 3 có giải thích rõ rằng: “Hoài Nam Tử vân: 'Thiên hữu Cửu Bộ Bát Kỷ, địa hữu Cửu Châu Bát Quế; Cửu Châu chi ngoại hữu Bát Duyên, Bát Duyên chi ngoại hữu Bát Hoành; Đông Bắc phương chi hoành viết Hoang Thổ; Đông phương chi hoành viết Tang Dã; Đông Nam phương chi hoành viết Chúng An; Nam phương chi hoành viết Phản Hộ; Tây Nam phương chi hoành viết Hỏa Thổ; Tây phương chi hoành viết Ốc Dã; Tây Bắc phương chi hoành viết Sa Sở; Bắc phương chi hoành viết Ủy Vũ; cố viết tứ phương tứ giác vị chi Bát Hoành. Bát Hoành chi ngoại hữu Bát Cực; hựu Cửu Di, Bát Địch, Thất Nhung, Lục Man, vị chi Tứ Hải' (淮南子云、天有九部八紀、地有九州八桂、九州之外有八埏、八埏之外有八紘、東北方之紘曰荒土、東方之紘曰桑野、東南方之紘曰眾安、南方之紘曰反戶、西南方之紘曰火土、西方之紘曰沃野、西北方之紘曰沙所、北方之紘曰委羽、故曰四方四角謂之八紘、八紘之外有八極、又九夷、八狄、七戎、六蠻、謂之四海, Hoài Nam Tử cho rằng: 'Trời có Chín Bộ Tám Kỷ, đất có Chín Châu Tám Quế; ngoài Chín Châu có Tám Duyên, ngoài Tám Duyên có Tám Hoành; góc phương Đông Bắc gọi là Hoang Thổ; góc phương Đông gọi là Tang Dã; góc phương Đông Nam gọi là Chúng An; góc phương Nam gọi là Phản Hộ; góc phương Tây Nam gọi là Hỏa Thổ; góc phương Tây gọi là Ốc Dã; góc phương Tây Bắc gọi là Sa Sở; góc phương Bắc gọi là Ủy Vũ; cho nên bốn phương bốn góc được gọi là Tám Hoành. Ngoài Tám Hoành lại có Tám Cực; và Chín Di, Tám Địch, Bảy Nhung, Sáu Man được gọi là Bốn Biển').” Trong bài Đề Phi Vân Đình (題披雲亭) của Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Quảng Lục (希叟紹曇禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1390), quyển 8 có đoạn: “Đại địa hắc man man, nhật nguyệt cửu thao thao, sơn đằng liêu nhất huy, thần dữ cảnh tương hội, Bát Hoành tịnh vô trần, vạn tượng kính trung ế, thiên ngoại xuất đầu khán, tiếu phách lan can toái (大地黑漫漫、日月久韜韜、山藤聊一揮、神與境相會、八紘淨無塵、萬象鏡中翳、天外出頭看、笑擘闌干碎, đại địa tối mù mịt, trời trăng dài mênh mông, dây leo buồn rũ cánh, thần với cảnh gặp nhau, đất trời không gợn bẩn, muôn vật ảnh trong kính, ngoài trời thò đầu ngắm, cười chẻ lan can vụn).” Hay trong Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục (宏智禪師廣錄, Taishō Vol. 48, No. 2001) cũng có câu: “Nhất ngôn tận thập phương, vạn quyển cai bất đắc, nhất bộ châu Bát Hoành, tứ mã truy bất cập (一言盡十方、萬卷該不得、一步周八紘、駟馬追不及, một lời khắp mười phương, muôn quyển thâu chẳng được, một bước vòng tám hướng, ngựa hay đuổi không kịp).” Trong Thiền môn, vào thời khóa Lạy Thù Ân Chúc Tán, thường có xướng câu: “Bát Huyền an hữu đạo chi trường, Tứ Hải lạc vô vi chi hóa (八紘安有道之長、四海樂無爲之化, Tám Phương yên có đạo trường tồn, Bốn Biển vui vô vi chuyển hóa).” Đặc biệt trong Đệ Nhị Thế Chiến, quân đội của Nhật Hoàng có dùng khẩu hiệu “Bát Hoành nhất vũ (八紘一宇, thế giới một nhà).” Cụm từ này được tìm thấy trong điều Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇), quyển 3 của Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki): “Yểm Bát Hoành nhi vi vũ (掩八紘而爲宇, che tám phương mà làm nhà).”
bát hàn địa ngục
Eight cold narakas, or hells: 1-Ngạch bộ đà, arbuda,tumours, blains; 2-Ni thích bộ đà, nirarbuda, enlarged tumours, blains 3-Ngạch chiết xá, atata, chattering (teeth); 4-Hoắc hoắc bà, hahava, or ababa, the only sound possible to frozen tongues; 5-Hổ hổ bà, ahaha, or hahava to frozen throats; 6-Ổn bát ma, utpala, blue lotus flower, the flesh being covered with sores resembling it; 7-Bát đặc ma, padma, red lotus flower, ditto; 8-Phân đà lợi, pundarika, the great lotus, ditto.
; (八寒地獄) Tám địa ngục lạnh. Là tám loại địa ngục lạnh lẽo băng giá. Trong các kinh luận có nhiều tên gọi và sự giải thích khác nhau. I. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, luận Thuận chính lí quyển 31, luận Du già sư địa quyển 4, luận Đại tì bà sa quyển 172 nêu, thì tám địa ngục là: 1. Át bộ đà (Phạm:Arbuda), cũng gọi At phù đà. Dịch là phồng lên, phỏng lên. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì giá buốt như cắt, nên da thịt phồng lên. 2. Ni thích bộ đà ( Phạm: Nirarbuda), cũng gọi Nê lại phù đà. Dịch là nứt nẻ. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì rét buốt quá mà nốt phồng trên da thịt nứt nẻ ra. 3. Át tích tra (Phạm:Aỉaỉa), cũng gọi A tra tra. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì giá rét quá đến nổi môi không cử động được, lưỡi chỉ nói được tiếng tra tra! 4. Hoắc hoắc bà (Phạm: Hahava), cũng gọi A ba ba. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì rét đến cực độ, nên lưỡi cứng đơ, không cử động được, chỉ có thể phát ra tiếng ba ba như trên. 5. Hổ hổ bà (Phạm: Huhuva). Ba loại địa ngục nêu trên, đều vì giá buốt quá mà phát ra các tiếng khác lạ như thế. 6. Ôn bát la (Phạm: Utpala), dịch là hoa sen xanh. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì cực rét buốt, nên da thịt nứt ra, giống như hoa sen xanh. 7. Bát đặc ma (Phạm:Padma), cũng gọi Ba đầu ma. Dịch là hoa sen hồng. Nghĩa là chúng sinh chịu tội, vì rét buốt quá nên da thịt đỏ ửng, trông như hoa sen hồng. 8. Ma ha bát đặc ma (Phạm: Mahàpadma), dịch là hoa sen hồng lớn. Nghĩa là chúng sinh chịu khổ, vì rét đến cực độ, da thịt nứt nẻ, toàn thân đỏ ửng, trông giống như một bông sen hồng lớn. II. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 11 phẩm Hiện bệnh thì nêu tám loại: A ba la, A tra tra, A la la, A bà bà, Ưu bát la, Ba đầu ma, Câu vật đầu, Phân đà lợi. Bốn loại trước biểu thị chúng sinh chịu khổ, vì rét quá khó chịu nổi mà phát ra những tiếng ú ớ; bốn loại sau dùng bốn thứ hoa sen để thí dụ tướng nứt nẻ trên thân thể của chúng sinh chịu khổ. III. Luận Đại trí độ quyển 16, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7, thì nêu: At phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu (ba loại trên đều biểu thị cái giọng nói bị rét buốt), Âu ba la (có nghĩa là tường vách phía ngoài của địa ngục trông giống như hoa sen xanh), Ba đầu ma (tội nhân sinh trong hoa sen hồng để chịu khổ), Ma ha ba đầu ma. IV. Kinh Trường a hàm quyển 19 phẩm Địa ngục thì liệt kê mười tên: Hậu vân (mây dày), Vô vân (không mây), Ha ha (cười ha hả, hà hơi cho ấm), Nại hà (làm sao được), Dương minh (dê kêu), Tu càn để, Ưu bát la, Câu vật, Phân đà lợi và Bát đầu ma. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 nói, thì vị trí của tám địa ngục lạnh này nằm ở phía dưới châu Diêm phù, bên cạnh tám địa ngục nóng. Nói về tuổi thọ của chúng sinh ở địa ngục At bộ đà, thì có hai mươi hộc hạt vừng (mè), cứ mỗi trăm năm bỏ đi một hạt, cho đến khi hết hai mươi hộc hạt vừng, thì các chúng sinh đó mới chết được. Còn số tuổi thọ của các chúng sinh ở các địa ngục lạnh, từ Thích bộ đà trở xuống, thì gấp hai mươi lần số tuổi thọ ở At bộ đà!.
Bát Hòa La Phạn
(缽和羅飯): xem Hòa La Phạn (和羅飯) bên dưới.
Bát Hải
(八海): tám biển, tên gọi chung của các biển. Như trong bài Thủy Tiên Phú (水仙賦) của Đào Hoằng Cảnh (陶弘景, 456-536) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Miểu mạn Bát Hải, hoằng mịch Cửu Hà (淼漫八海、汯汨九河, mênh mông Tám Biển, mịt mù Chín Sông).”
bát hộc thực
(八斛食) Tám hộc (mười đấu) thức ăn. Gọi tắt của Bát hộc tứ đẩu (tám hộc bốn đấu). Lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, người thợ gốm tên Thuần đà dâng cúng đức Phật tám hộc bốn đấu gạo tám thơm của nước Ma kiệt đà. Đức Phật dùng thần thông bố thí hết thảy đại chúng trong pháp hội khiến đều được no đủ. Đây là lần cúng dường cuối cùng. [X.kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.10].
bát khiển
(撥遣) Hàm ý là mời đi. Cũng gọi Phát khiển. Trong Mật giáo, khi tu phép, trước hết, mời rước chư Phật và Bồ tát ở các thế giới phương khác về đàn tràng chứng minh. Sau khi hoàn tất phép tu, lại triệu thỉnh các Ngài trở về chỗ cũ, đồng thời, cũng thỉnh đức Phật mà mình quán tưởng trong lòng, lại trở về trong nội tâm của mình như trước. Như thế gọi là bát khiển. Về ấn khế và chân ngôn bát khiển, thì tùy loại phép tu mà có khác. Lại khi sửa sang tượng Phật, cũng dùng phép Bát khiển. Tức trước hết, thỉnh Phật tạm thời rời khỏi tượng, đợi khi sửa sang xong, lại rước Phật về. Ngoài ra, đức Thích ca Như lai khuyên chúng sinh cõi Sa ba cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, cũng gọi là phát khiển. Quán huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 trung) nói: Ngưỡng mong Thích ca phương này phát khiển, liền được Di đà cõi kia đến đón. [X. kinh Đà la ni tập Q.11; kinh Tô tất địa yết la Q.hạ phẩm Tăng uy; Đại nhật kinh sớ Q.9].
bát khí
(八棄) Tám bỏ. Tức là tám tội Ba la di của tỉ khưu ni. Cũng gọi Ni bát khí giới, Bát khí giới. Đó là: Phi phạm hạnh (dâm dục), Bất dữ thủ (ăn trộm), Sát (giết hại người và gia súc), Thượng nhân pháp (nói dối mình đã chứng được Thánh quả, mình là Thánh nhân), Ma xúc (đụng chạm, xoa vuốt thân thể con trai), Bát sự thành trọng (động lòng dâm mà cầm tay đàn ông, nắm lấy áo, đến chỗ vắng vẻ, đứng chung, nói chuyện với nhau, cùng đi với nhau, dựa mình vào nhau, hẹn hò làm dâm), Phú tỉ khưu ni trọng tội ( biết rõ một tỉ khưu ni khác phạm tội nặng mà cố tình che dấu, không nói cho các tỉ khưu ni khác biết), Tùy thuận bị cử tỉ khưu vi ni tăng tam gián (một tì khưu tăng đã bị lên án vì phạm tội, mà lại hùa theo, hoặc cung cấp các thứ cần dùng, hoặc cùng trò chuyện, mặc dù các tỉ khưu ni khác đã can gián đến ba lần mà vẫn không nghe). (xt. Luật).
bát không quyên sách quan âm
Amoghapasa-Avalokiteśvara (S)Bát Không Quyên Sách Quán Thế ÂmTên một vị Bồ tát.
bát không quyên sách quán thế âm
Xem Bát Không Quyên Sách Quan Âm.
bát khất thực
Pātra (S), Patta (P)Ứng lượng, Bát đa la.
Bát khổ
xem Tám nỗi khổ.
; 八苦; C: bākǔ; J: hakku;|Tám loại khổ được Phật Thích-ca Mâu-ni trình bày khi giảng về Tứ đế (四諦). Thường được gọi là Tứ khổ Bát khổ (四苦八苦, xem mục nầy để được giải thích rõ hơn).
bát khổ
Eight kinds of unsatisfactoriness, Eight sufferings.Tám loại khổ gồm: - sanh khổ - lão khổ - bệnh khổ - tử khổ - tăng hiềm hội khổ - ái biệt ly khổ - cầu bất đắc khổ - ngũ uẩn xí thạnh khổ (ngũ uẩn không đều thì khổ).
; Eight distresses. Sinh, birth; lão, age; bệnh, sickness; tử, death; ái biệt ly, parting with what we love; oán tắng hội thượng, meeting with what we hate; cầu bất đắc, unattained aims; ngũ ấm xí thịnh, all the ills of the five skandhas.
; (八苦) I. Bát khổ. Tám khổ. Là tám thứ quả khổ mà chúng sinh vòng quanh trong sáu đường phải lãnh chịu, là nội dung chủ yếu của Khổ đế trong bốn đế. 1. Sinh khổ. Có năm thứ: a. Thụ thai, nghĩa là khi thần thức gá vào thai mẹ, ở trong bụng mẹ chật chội dơ bẩn. b. Chủng tử, nghĩa là khi thần thức được gá vào di thể (tinh trùng và trứng) của cha mẹ, hạt giống thức phải tùy thuộc hơi thở ra vào của người mẹ, không được tự tại. c. Tăng trưởng, nghĩa là ở trong bụng mẹ chín tháng mười ngày, nóng bức nung nấu, thân hình lớn dần, dưới ruột non trên ruột già, khoảng giữa chật hẹp như tù ngục. d. Xuất thai, nghĩa là khi mới sinh, có gió lạnh gió nóng thổi vào thân mình và quần áo cọ xát vào da mỏng mềm nhũn, đau rát như đâm như cắt. e. Chủng loại, nghĩa là về nhân phẩm có giàu sang, nghèo hèn, về tướng mạo thì có đầy đủ, khiếm khuyết, xinh đẹp, xấu xí v.v... 2. Lão khổ. Có hai thứ: a. Tăng trưởng, nghĩa là từ trẻ thơ đến trai tráng đến già cả, khí lực suy yếu, đi đứng không vững. b. Diệt hoại, nghĩa là thịnh đi suy đến, tinh thần hao mòn, mệnh sống qua mau, dần dần hoại diệt. 3. Bệnh khổ. Có hai thứ: a. Thân bệnh, nghĩa là khi bốn đại (bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió) mất thăng bằng thì tật bệnh phát sinh. Như khi đất mất thăng bằng thì thân nặng trĩu, gió không điểu hoà thì toàn thân tê cứng, nước mất thăng bằng thì thân thể phù thũng, lửa không điều hoà thì khắp mình nóng bức. b. Tâm bệnh, nghĩa là trong lòng khổ não, lo buồn thương đau. 4. Tử khổ. Có hai thứ: a. Thân tử, nghĩa là vì hết số nên đau ốm mà chết. b. Ngoại duyên tử, nghĩa là hoặc gặp duyên ác, hoặc gặp các tai nạn nước, lửa mà chết. 5. Ái biệt li khổ, nghĩa là những người thân yêu mà phải chia lìa, không được sống chung 6. Oán tắng hội khổ, nghĩa là những kẻ cừu thù oán ghét, mình muốn xa lánh mà không được, trái lại, cứ phải chung sống bên nhau. 7. Cầu bất đắc khổ, nghĩa là hết thảy sự vật trong thế gian, lòng mình ưa thích, mà cầu mong không được. 8. Ngũ ấm thịnh khổ, nghĩa là sắc, thụ, tưởng, hành, thức gọi là năm ấm. Âm, có nghĩa che lấp; tức năm ấm hay che lấp chân tính, không cho hiển lộ ra. Thịnh, có nghĩa thịnh vượng, dung chứa. Tức là tất cả các nỗi khổ của sinh, lão, bệnh, tử kể ở trên tụ tập lại, cho nên gọi là ngũ ấm thịnh khổ. [X. Trung a hàm Q.7; luận Đại tì bà sa Q.78; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6]. II. Bát khổ. Luận Du già sư địa quyển 44 còn nêu ra tám nỗi khổ khác nhau như sau: khổ vì rét, khổ vì nóng, khổ vì đói, khổ vì khát, khổ vì mất tự do, khổ vì tự mình giày vò mình, khổ vì người khác ức hiếp, khổ vì phải sống dưới một loại quyền uy nào đó trong một thời gian dài.
Bát khổ 八苦
[ja] はっく hakku ||| The eight kinds of suffering taught by Śākyamuni in his exposition of the Four Noble Truths 四諦. Also commonly expressed as 四苦八苦 (see that entry for full explanation). => Tám món khổ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trình bày khi giảng về Tứ đế. Thường được gọi là Tứ khổ Bát khổ (xem mục nầy để được giải thích rõ hơn).
bát kiêu
The eight kinds of pride or arrogance, resulting in domineering: because of strength; of clan, or name; of wealth; of independance, or position; of years, or age; of cleverness, or wisdom; of good, or charitable deeds; of good looks.
; (八憍) Tám kiêu. Kiêu, hàm ý ngạo mạn, khoe khoang. Nghĩa là người có tính hay khoe mình hơn người, như loài chim bay trên cao mà khinh thường những gì ở dưới. Bởi thế, Pháp hoa văn cú quyển 6 mới dẫn kinh Văn thù vấn, đem tám thói kiêu phối với tám giống chim: 1. Thịnh tráng kiêu như si (con cú tai mèo). Nghĩa là kẻ cậy mình mạnh khoẻ to lớn mà lấn lướt người yếu kém, như con cú tai mèo, cậy mạnh hiếp yếu. 2. Tính kiêu như kiêu (loài chim cú vọ). Nghĩa là kẻ cậy giòng giống của mình to mạnh, mà khinh khi lấn lướt người khác, như loài chim kiêu bất hiếu, ăn thịt mẹ nó. 3. Phú kiêu như điêu (chim cắt). Nghĩa là kẻ cậy mình giàu có, nhiều của, mà lấn lướt người khác, như loài chim cắt cậy thế mạnh, bắt nạt các chim khác. 4. Tự tại kiêu như thứu (chim ưng), nghĩa là kẻ cậy mình to lớn, làm theo ý muốn mà được tự tại, lấn lướt người khác, như loài chim ưng ăn ở trong rừng, đi, ở tự do. 5. Thọ mệnh kiêu như ô.., nghĩa là kẻ cậy mình tuổi cao, khinh khi người khác, như loài quạ mớm mồi cho quạ già, sống lâu không chết. 6. Thông minh kiêu như thước .., nghĩa là cậy mình sáng suốt lanh lợi, lấn lướt người khác, như tính chim khách rất thông minh, hay báo tin lành, dữ cho người. 7. Hành thiện kiêu như cưu .., nghĩa là kẻ cậy mình làm được chút việc tốt, liền khinh dễ người có đức, như chim tu hú tuy hiền, nhưng không tự biết mình vụng về. 8. Sắc kiêu như cáp.., nghĩa là kẻ cậy mình có nhan sắc, khinh thường lấn lướt người khác, như loài chim bồ câu, tuy đẹp hơn các loài khác, nhưng lại đa dâm, vì thế gọi là sắc kiêu như cáp.
bát kiết tường
Aṣṭamaṅgala (S).
bát kiền độ
(八犍度) Tám kiền độ. Kiền độ, Phạm: Khandha, hàm ý chứa nhóm, tích tụ, chia đoạn, tức là ngài Ca chiên diên đem các pháp môn, theo từng loại, mà chia làm tám tụ, gọi là Bát kiền độ luận. Bát kiền độ là chỉ tám thiên chương trong luận. Bát kiền độ, cũng gọi là Bát uẩn, Bát tụ. Tức là: 1. Tạp kiền độ, như kinh vì Thanh văn mà nói các pháp bốn thiện căn, bốn quả Thánh, hữu dư, vô dư Niết bàn v.v... không nhất định một pháp nào nên gọi là Tạp kiền độ. 2. Kết sử kiền độ, kết là ràng buộc, sử là sai khiến. Nghĩa là các hoặc (phiền não) ba kết, năm cái, năm phần trên, năm phần dưới v.v... tổng cộng không ngoài một trăm linh tám phiền não. Các phiền não hoặc nghiệp này trói buộc, sai khiến tâm thần người tu hành, khiến phải trôi lăn trong ba cõi, vì thế gọi là kết sử kiền độ. 3. Trí kiền độ, trí là trí tuệ. Nghĩa là những người quả đầu tiên, quả thứ hai, quả thứ ba, quả thứ tư, nhờ tu các đạo phẩm giới định tuệ, dứt trừ hoặc chướng, mà phát ra trí tuệ vô lậu. 4. Hành kiền độ. Hành, là các hành động thiện ác, do ba nghiệp thân miệng ý phát khởi. Tức thân không giết hại, không trộm cướp, không dâm dục; miệng không nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác; ý thì không tham sân si, như thế gọi là thiện hành. Còn ác hành thì, trái lại, thân giết hại, trộm cướp, dâm dục; miệng nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác; ý thì tham sân si v.v... 5. Tứ đại kiền độ. Tứ đại là đất, nước, lửa, gió. Vì không đâu là không có bốn yếu tố đó, nên gọi là đại (to lớn). Đứng về phương diện ba đời quá khứ vị lai hiện tại mà bàn về cái sắc thiện, sắc ác do bốn đại tạo thành, nên gọi là Tứ đại kiền độ. 6. Căn kiền độ. Căn là sáu căn, năm căn v.v..., đứng về phương diện bốn quả ba đời mà nói sáu căn, năm căn. 7. Định kiền độ. Định, là các định ở cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc và các định mà Thanh văn, Duyên giác tu tập, có nhiều loại khác nhau. 8. Kiến kiền độ. Kiến, tức là hai cái thấy đoạn, thường của phàm phu ngoại đạo, và sáu mươi hai thứ kiến giải khác nhau.
bát kiền độ luận
(八犍度論) Gồm 30 quyển. Là tên gọi tắt của A tì đàm bát kiền độ luận. Cũng gọi Ca chiên diên a tì đàm. Ngài Ca đa diễn ni tử soạn, do các sa môn Tăng già đề bà và Trúc phật niệm cùng dịch vào năm Kiến nguyên 19 (383) đời Phù Tần. Thu vào Đại chính tạng tập 26. Toán bộ luận chia làm tám thiên: Tạp, Kết Sử, Trí, Hành, Tứ đại, Căn, Định, và Kiến. Bộ sách này là bản dịch khác của luận A tì đạt ma phát trí, nhưng vì luận Phát trí được lưu hành quá rộng, nên ít có người biết đến sách này.
bát kính giới
Eight commands given by Sakyamuni Buddha to his foster mother when she was admitted to the Order and which remain as commands to nun
; (八敬戒) Tám giới kính. Pàli: Aỉỉha garudhammà. Cũng gọi bát kính pháp, bát trọng pháp, bát tôn trọng pháp, bát tôn sư pháp, bát bất khả việt pháp, bát bất khả vi pháp, bát bất khả quá pháp. Nói tắt là bát kính. Là tám phép của tỉ khưu ni tôn trọng cung kính tỉ khưu tăng. Sau khi đức Như lai thành đạo được mười bốn năm, người dì của Ngài là bà Ma ha ba xà ba đề, cùng với năm trăm phụ nữ xin đức Phật cho xuất gia, đức Phật không chấp nhận, vì lí do: nếu cho phụ nữ xuất gia, thì lẽ ra chính pháp được một nghìn năm, sẽ bị giảm mất năm trăm năm. Tôn giả A nan thỉnh cầu ba lần thay cho bà Ma ha ba xà ba đề, đức Phật mới chế định pháp Bát kính, bảo A nan nói cho bà dì biết, nếu giữ được thì Phật sẽ cho xuất gia. Bà Ma ha ba xà ba đề và các phụ nữ cúi đầu tin nhận, bèn được xuất gia thụ giới. Và do mười duyên thụ giới mà chính pháp lại được đủ một nghìn năm. Tám giới kính ấy là: 1. Ni trăm tuổi lễ chân tỉ khưu một hạ. Nghĩa là, một vị tỉ khưu ni tuy đã trăm tuổi, nhưng thấy một vị tỉ khưu mới thụ giới, cũng phải đứng dậy đón rước, lễ bái và trải toà ngồi sạch sẽ mời ngồi. 2. Không được mắng chưởi tỉ khưu, tức tỉ khưu ni không được mạ lị tỉ khưu. 3. Không được nói lỗi của tỉ khưu, nghĩa là tỉ khưu ni không được cử tội tỉ khưu, nói những lỗi lầm của họ. Trái lại, tỉ khưu được phép nói lỗi của ni. 4. Theo tăng nhận giới Cụ túc, tức là, thức xoa ma na (học pháp nữ), sau khi học giới pháp xong, phải theo chư tăng mà xin thụ đại giới. 5. Có lỗi phải theo tăng sám hối: nghĩa là nếu tỉ khưu ni phạm tội tăng tàn, thì trong nửa tháng, phải ở trong hai bộ tăng (và ni), mà làm ma na đỏa. 6. Nửa tháng theo tăng dạy bảo. Nghĩa là cứ mỗi nửa tháng, tỉ khưu ni đến theo tăng cầu xin dạy bảo 7. Ba tháng an cư nương tựa nơi tăng. Nghĩa là tỉ khưu ni không nên ở nơi không có tỉ khưu mà hạ an cư. 8. Hạ xong, theo tăng tự tứ. Nghĩa là tỉ khưu ni hạ an cư xong, phải đến trong tỉ khưu tăng cầu xin ba việc để tự tứ sám hối. [X. Trung a hàm Q.28 kinh Cù đàm di; luật Tứ phần Q.48; luật Thiện kiến tì bà sa Q.18].
Bát Kính Pháp
(p: aṭṭha garudhammā, 八敬法): còn gọi là Bát Kính Giới (八敬戒), Bát Kính (八敬), Bát Trọng Pháp (八重法), Bát Tôn Trọng Pháp (八尊重法), Bát Tôn Sư Pháp (八尊師法), Bát Bất Khả Quá Pháp (八不可過法), Bát Bất Khả Việt Pháp (八不可越法), Bát Bất Khả Vi Pháp (八不可違法), là 8 loại pháp được định ra cho vị Tỳ Kheo Ni phải cung kính tôn trọng vị Tỳ Kheo Tăng. Bát Kính Pháp này được đức Phật chế ra khi chấp thuận cho bà dưỡng mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, p: Mahāpajāpatī, 摩訶波闍波提) xuất gia. Sau khi thành đạo được 14 năm, bà dì của đức Phật đã cùng với 500 người nữ khác đến yêu cầu xin xuất gia, nhưng Phật không chấp thuận, vì chánh pháp ngàn năm nếu độ người nữ xuất gia thì chánh pháp ấy sẽ giảm đi 500 năm. Nhân đó, tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) bèn thay thế mấy vị này ba lần khẩn xin đức Phật, cuối cùng ngài chế ra Bát Kính Pháp, nếu họ chấp thuận tuân thủ thì đức Phật mới cho phép xuất gia. Khi ấy bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng với mấy người kia cung kính thọ trì, nên có được giới pháp, và nhờ đạt được 10 duyên của giới pháp nên chánh pháp trở lại 1.000 như cũ. Trong Ngũ Phần Luật (五分律) có nêu rõ 8 điều cho một vị Tỳ Kheo Ni phải làm như sau: (1) Vào mỗi nửa tháng phải xin Tỳ Kheo giáo giới, (2) Khi An Cư (s: varṣa, p: vassa, 安居) bắt buộc phải nương vào Tỳ Kheo, (3) Khi Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣) phải đến thỉnh cầu Tỳ Kheo chỉ cho các tội được thấy, nghe và nghi ngờ, (4) Thọ giới Cụ Túc giữa hai bộ chúng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, (5) Không được nhục mạ Tỳ Kheo, (6) Không được nêu tội của Tỳ Kheo, (7) Nếu phạm tội Tăng Tàn (s: saṅgāvaśeṣap:saṅghādisesa, 僧殘) thì phải sám hối giữa hai bộ chúng, và (8) Cho dầu vị Tỳ Kheo Ni có thọ giới 100 tuổi đi nữa cũng phải lễ lạy vị Tỳ Kheo mới thọ giới.
bát kính pháp
Eight unsurpassed rules of a nun.
bát kính đắc
(八敬得) Tám kính được. Cũng gọi thụ trọng pháp đắc (nhận pháp kính trọng mà được), bát pháp đắc (nhờ tám pháp mà được), sư pháp đắc, kính trọng đắc, kính đắc, bát bất khả việt đắc (không thể vượt qua tám pháp mà được). Là một trong mười duyên được giới Cụ túc của tỉ khưu ni. Các tỉ khưu ni nhờ vào tám pháp tôn kính (ni trăm tuổi lễ chân tỉ khưu một hạ, không được chê bai chửi mắng tỉ khưu, không được bắt lỗi tỉ khưu, theo tăng nhận giới Cụ túc, có lỗi theo tăng sám hối, nửa tháng theo tăng dạy bảo, nương vào tăng trong ba tháng an cư, hạ xong theo tăng tự tứ) mà được giới, gọi là Bát kính đắc. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3]. (xt. Bát Kính Giới, Đắc Giới Xả Giới).
bát kỉnh pháp
l. Ni dù trăm hạ phải lễ bái tỳ kheo sơ hạ; 2. Không được mắng, báng tỳ kheo ; 3. Không được cử ti tỳ kheo ; 4. Ni thọ giới cụ túc phải thọ với hai b Tăng (Nam, Nư); 5. Ni phạm ti tăng-tàn phải sám trừ với hai b Tăng ; 6. Mỗi nữa tháng phải thỉnh cầu tỳ kheo dạy bảo ; 7. Kiết hạ an cư chẳng được cùng chung mt chỗ với Tỳ kheo, cũng chẳng được quá xa chỗ ở của Tỳ kheo (đại khái cách 500 m); 8. Giải hạ nên cầu tỳ kheo chứng kiến ba thứ: kiến, văn, nghi để tự kiễm thảo. Đây là điều kiện của Phật cho người nữ xuất gia.
; 1. Ni dù trăm hạ cũng phải lễ Tỳ kheo sơ hạ; 2. Không được mắng, báng Tỳ kheo; 3. Không được cử tội Tỳ kheo; 4. NI thọ giới Cụ túc phải thọ với hai bộ Tăng (nam, nữ); 5. Ni phạm tội Tăng tàn phải sám trừ với hai bộ Tăng; 6. Mỗi nửa tháng phải thỉnh cầu Tỳ kheo dạy bảo; 7. Kiết hạ an cư chẳng được cùng chung một chỗ với Tỳ kheo, cũng chẳng được quá xa chỗ ở của Tỳ kheo (đại khái cách 50m); 8. Giải hạ nên cầu Tỳ kheo chứng kiến ba thứ: Kiến, Văn, Nghi, để kiểm thảo. Đây là điều kiện của Phật cho người nữ xuất gia.
bát la da già quốc
(鉢邏耶伽國) Bát la da già, Phạm: Prayàga. Tên một nước xưa ở trung Ân độ. Nằm về phía tây nước Ba la nại, là điểm giao lưu giữa sông Hằng và sông Diệm mâu na (Phạm: Yamnà). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, thì nước Bát la da già chu vi hơn năm nghìn dặm, Đô thành nằm ở cửa giao lưu giữa hai con sông, rộng hơn hai mươi dặm. Lúa mạ xanh tốt, cây quả thì thưa thớt. Khí hậu hoà dịu, phong tục tốt, dân ham học nghề, tin ngoại đạo. Có hai ngôi chùa, rất ít chư tăng, đều học tập giáo pháp Tiểu thứa. Lại có tới vài trăm đền thờ trời, vô số dị đạo. Ở nước này có nhiều nơi di tích của Phật giáo. Trong vườn hoa Chiêm bác ca ở phía tây nam Đô thành, có một tòa tháp do vua A dục xây dựng để đánh dấu nơi đức Phật đã hàng phục ngoại đạo; bên cạnh tháp có ngôi chùa cũ là nơi bồ tát Đề bà đã ở để soạn luận Quảng bách bắt bẻ Tiểu thừa và hàng phục ngoại đạo. Lại trên bờ sông phía đông Đô thành có một Thí trường lớn, là nơi vua chúa và các nhà giàu có làm việc bố thí. Khi ngài Huyền trang ở Ân độ, tại Thí trường này, vua Giới nhật đã bỏ của cải tích góp trong năm năm để cúng dường Tam bảo và cho những mgười nghèo khó đi xin ăn. Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 897 hạ), nói: Phía đông Thí trường giáp cửa sông, mỗi ngày có tới vài trăm người nhảy xuống sông tự tử. Phong tục xứ này tin rằng, nếu muốn cầu sinh lên cõi trời, thì đến đây nhịn ăn, rồi nhảy xuống sông tắm gội trầm mình cho sạch tội. Do vậy mà những người ở các nước khác cũng đến đây, ngồi nhịn ăn bảy ngày rồi tuyệt mệnh. Nhân đó có thể biết, nơi này từ xa xưa đã là đất Thánh tích phồn thịnh. Lại tên của nước này là Bát la da già, có nghĩa là nơi hi sinh cúng dường. [X. Đại từ ân tựtam tạng pháp sư truyện Q.3].
bát la na xa pha ri đại đà la ni kinh
Prāṇasabalin sūtra (S)Tên một bộ kinh.
bát la nhạ
Xem Chúng sanh chủ.
; Prajàpati (S). The Lord of all created beings. Also Chúng sinh chủ.
bát la xa khư
(鉢羅奢佉) Phạm: Prazàkhà, Pàli: sàkha. Cũng gọi Bạt la xa khư, Bà la xả khư, Ba la xả khư. Dịch ý là chi chi....., chi tiết (chân tay mình mẩy). Là giai đoạn thứ năm trong năm giai đoạn ở trong bào thai, tức là tuần lễ thứ năm từ sau khi thụ thai; chân tay mình mẩy đã đầy đủ. Pháp hoa huyền tán quyển 4 (Đại 34, 725 thượng), nói: Trong năm tuần lễ, gọi là Bát la xa khư, Hán dịch là giai đoạn thành hình: một thân, hai tay và hai chân, cũng như cục đất năm phần liền nhau; gió trong thồi ra, kích thích phát sinh hình tướng các căn khác nhau,tức cục thịt trước đây, giờ lớn thêm mà hình thành các bộ phận của thân thể. [X.luận Tập dị môn túc Q.9; luận Câu xá Q.9 ; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
Bát lan na xa phược lý đại đà-la-ni kinh 鉢蘭那賖嚩哩大陀羅尼經
[ja] ハツランナシャハクリダイダラニキョウ Hatsuranna shahakuri daidarani kyō ||| The Bolanna shemóli da tuoluoni jing (T 1384.21.904), ; one of the translations of the Yeyi guanzizai pusa jing 葉衣觀自在菩薩經. => (k: Pallanna sabakri taetarani kyŏng; j: Hatsuranna shahakuri daidarani kyō; c: Bolanna shemóli da tuoluoni jing). Là một bản dịch khác của Diệp y Quán Tự Tại Bồ-tát kinh (c: Yeyi guanzizai pusa jing 葉衣觀自在菩薩經).
bát lan sa phược la đại đà la ni
Parṇasavari-dhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
bát loát
(鉢刷) Cái bàn chải cọ bát. Tức sau các bữa ăn, dùng bàn chải để cọ rửa những hạt cơm còn dính trong bát. Nó rộng khoảng hai phân tây, dài độ hai mươi phân, một đầu hình tròn, có sơn phủ. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1 Phó chúc phạn; Thiền lâm tượng khí tiên khí vật môn].
bát luận
(八論) I. Bát luận. Tám luận. Chỉ tám luận trong mười tám bộ luận lớn của ngoại đạo. 1. Luận Kiên vong bà (hoặc là luận Mi vong sa), lựa chọn các pháp đúng hay sai. 2. Luận Na tà tì tát (Phạm: Nayavistara?), nói rõ đạo lí của các pháp. 3. Luận Y để ha bà (Phạm: Itihàsa), nói rõ các việc trong truyện kí đời trước. 4. Luận Tăng khư (Phạm: Sàôkhya), nói rõ hai mươi lăm lí chân thực. 5. Luận Khóa già (Phạm:Garga?), nói rõ phương pháp thu nhiếp tâm. 6. Luận Đà nâu (Phạm: Dhanur), giải thích phép dùng binh khí. 7. Luận Kiền thát bà (Phạm: Gangharva), nói rõ phép âm nhạc. 8. Luận A du (Phạm:Àyur), giải thích về y học. [X. Bách luận sớ Q.thượng]. II. Bát luận. Tám luận. Chỉ tám luận khen ngợi và trình bày nghĩa của luận Du già sư địa. Là tám chi luận của Pháp tướng. 1. Luận Duy thức nhị thập, ngài Thế thân soạn, ngài Từ ân làm Thuật kí 2 quyển. 2. Luận Duy thức tam thập, ngài Thế thân làm văn vần, mười vị luận sư soạn văn xuôi, ngài Từ ân viết Thuật kí 20 quyển. 3. Luận Nhiếp đại thừa, ngài Vô trước soạn, các ngài Thế thân, Vô tính giải thích, các ngài Chân đế, Đạt ma cấp đa, Huyền trang dịch. 4. Luận Đối pháp, ngài Vô trước soạn, ngài Sư tử giác giải thích, ngài An tuệ tập hợp, ngài Từ ân soạn sớ. 5. Luận Biện trung biên, bồ tát Di lặc soạn tụng, ngài Thế thân giải thích. 6. Luận Duyên khởi. 7. Luận Đại trang nghiêm, ngài Vô trước soạn, ngài Ba la phả giá la mật đa la dịch 8. Luận Thành nghiệp, ngài Thế thân soạn. Trong tám luận trên đây, tuy cũng có do người khác soạn, nhưng đều qui công cho ngài Vô trước, bởi thế mới gọi chung là Vô trước bát chi luận. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. III. Bát luận. Tám luận. Là tám bộ luận về Nhân minh do ngài Trần na soạn. 1. Luận Quán tam thế, chưa dịch. 2. Luận Quán tổng tướng, do ngài Nghĩa tịnh dịch. 3. Luận Quán cảnh, ngờ là luận Quán sở y, do ngài Huyền trang dịch. 4. Luận Nhân minh, chưa dịch. 5. Luận Tự nhân minh, chưa dịch. 6. Luận Lí môn, do ngài Huyền trang dịch. 7. Luận Thủ sự thi thiết, chưa dịch. 8. Luận Tập lượng, ngài Nghĩa tịnh dịch. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
bát lạt mật đế
Paramiti (S)Tên một nhà sư Ấn độ đời Đường dịch kinh Thủ lăng Nghiêm sang chữ Tàu.
bát lạt ế ca phật đà
(鉢剌翳迦佛陀) Phạm: Pratyekabuddha. Dịch cũ: Bích chi phật, dịch mới: Độc giác, Duyên giác. Khi mới phát tâm, gặp Phật ra đời, nghe pháp tư duy, sau được thân đạo; ra đời không gặp Phật, thì tính ưa nơi vắng vẻ, không thích ở chung, tu đầy đủ gia hạnh, không thầy không bạn chỉ dạy, tự nhiên một mình ngộ đạo, vĩnh viễn ra khỏi thế gian; tu hành bậc trung, chứng quả bậc trung, cho nên gọi là Độc giác (giác ngộ một mình). Lại vì quán xét các duyên đối đãi mà ngộ quả Thánh, cho nên cũng gọi là duyên giác. [X. Du già luận kí Q.8 thượng].
bát lạt ế già phật đà
Xem Duyên Giác.
bát lệ ê già phật đà
Xem Độc giác Phật.
bát lộ la quốc
(鉢露羅國) Bát lộ la, Phạm: Bolor. Tên một nước xưa ở bắc Ấn độ. Cũng gọi Bát lô lặc quốc, Ba lộ quốc, Bá lộ quốc, Bột lộ quốc. Nằm về phía bắc nước Ca thấp di la. Ở thời nhà Đường của Trung quốc, nước Bát lộ la được chia làm hai phần Tiểu bột luật và Đại bột luật. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì nước này chu vi hơn bốn nghìn dặm, nằm giữa núi Đại tuyết, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp. Sản xuất nhiều lúa mạch và đậu, khoáng sản có nhiều vàng bạc, nước rất giàu có. Khí hậu lạnh giá, tính người thô bạo, không chuộng nhân nghĩa, không có lễ tiết. Tướng mạo xấu tệ, mặc áo lông thú. Chữ viết giống Ấn độ, tiếng nói thì khác các nước. Có vài trăm ngôi chùa, với vài nghìn chư tăng, học hành không chuyên, giới luật lỏng lẻo. Lại trong bài tựa kinh Đại nhật, Thôi mục có nói: Ở lưng chừng núi Đại thạch trong nước Bột rô la thuộc bắc Thiên trúc, có cái hang, trong có một tạng pháp bí mật; người ta bảo, kinh Đại nhật đã từ hang này được truyền ra. Nước Bột rô la nói trong đây, là chỉ Bột luật, cũng tức là nước Bát lộ la. [X. Đại đường trinh nguyên tân dịch Thập địa đẳng kinh kí; Lạc dương già lam kí Q.5; Đường thư tây vực liệt truyện 146 hạ].
bát lục tứ nhị vạn thập thiên kiếp
(八六四二萬十千劫) Tám muôn, sáu muôn, bốn muôn, hai muôn, một muôn kiếp. Các bậc Thánh Tiểu thừa, sau khi hướng tâm quay về Đại thừa, đến khi vào được giai vị của tăng kì đầu, số kiếp phải trải qua trong thời gian ấy, thì có tám muôn kiếp, sáu muôn kiếp, bốn muôn kiếp, hai muôn kiếp và một muôn kiếp khác nhau, nói tắt là Bát lục tứ nhị vạn thập thiên kiếp. (xt. Bát Vạn Kiếp Tiểu Thừa).
bát ma
xem tám thứ ma.
; The eight màras, destroyers: 1-Phiền não ma, the màras of the passions; 2-Ấm ma, the skandha-màras; 3-Tử ma, death-màras; 4-Tha hóa tự tại Thiên ma, the màra-king; 5-Vô thường ma, the màras of impermanence; 6-Vô lạc ma, the màras of joylessness; 7-Vô ngã ma, the màras of impersonality; 8-Bất tịnh ma, the màras of impurity.
bát mê
The eight misleading terms, which form the basis of the logic of the trung quán luận, i.e. sinh birth; diệt death; khứ past; lai future; nhất identity; dị difference; đoạn annihilation; thường perpetuity (or eternity)
; (八迷) Tám mê. Đây là tông Tam luận tóm thu tất cả sự mê chấp của chúng sinh. Cũng gọi bát kế, bát mậu, bát sự. Tám cái mê này là sự hiểu biết xằng bậy trái với lí chân chính, bởi thế cũng gọi Bát mê hí luận. Tức là tám cái thấy biết sai lầm, chấp mê các pháp có sinh, diệt, đi, lại, một, khác, đoạn, thường v.v..., có thể dùng Bát bất trung đạo để đối trị. [X. Tam luận huyền nghĩa Q.1]. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
bát môn
Eight kinds of syllogism in buddhist logic nhân minh luận.
bát môn lưỡng ích
(八門兩益) Tám cửa hai ích. Tiếng dùng trong Nhân minh. Luận sư của nền Nhân minh (Luận lí học) mới của Ấn độ là ngài Thương yết la chủ tóm thu lí chính xác của Nhân minh làm tám nghĩa môn. Tám nghĩa này lại có thể tổng quát làm hai loại lợi ích. Tám nghĩa là: năng lập, năng phá, tự năng lập, tự năng phá, hiện lượng, tỉ lượng, tự hiện lượng, tự tỉ lượng. Hai ích cũng gọi hai ngộ: ngộ tha (Phạm: paràrtha-làm cho người khác hiểu rõ) và tự ngộ (Phạm: svàrtha làm cho chính mình hiểu rõ). Trong tám nghĩa thì bốn nghĩa trước có tác dụng khiến người khác hiểu rõ, còn bốn nghĩa sau thì có tác dụng khiến chính mình hiểu rõ. Trong đây, năng lập, năng phá có thể khiến cho người vấn nạn (Địch giả) hiểu rõ, tự năng lập, tự năng phá có thể nhờ vào sự chỉ trích của người vấn nạn mà hiển bày sự sai lầm của năng lập, năng phá. Điều đó có thể giúp người lập luận (Lập giả) tự hiểu rõ, nhưng cũng có hiệu năng giúp các người khác (người vấn nạn và người chứng nghĩa v.v...) hiểu rõ, vì thế bốn nghĩa này (năng lập, năng phá, tự năng lập, tự năng phá) được gọi chung là Ngộ tha môn. Hiện lượng và tỉ lượng là chính người lập luận biết rõ đối tượng một cách chính xác cả về lí và sự, còn tự hiện lượng và tự tỉ lượng thì là lượng tính đối tượng một cách sai lầm cả về lí lẫn sự. Tuy có chính xác và tương tự khác nhau, nhưng bốn môn này (hiện lượng, tỉ lượng, tự hiện lượng, tự tỉ lượng) đểu chỉ có thể làm cho chính mình hiểu rõ, chứ không thể dùng để khiến cho người khác hiểu rõ được. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu]. (xt. Nhị Ngộ, Nhân Minh, Nhân Minh Bát Môn).
bát mạn
The eight kinds of pride, màna, arrogance, or self-coceit: 1-Như mạn, though inferior, to think oneself equal to others (in religion); 2-Mạn mạn, to think oneself superior among manifest superiors; 3-Bất như mạn, to think oneself not so much inferior among manifest superiors; 4-Tăng thượng mạn, to think one has attained more than is the fact; 5-Ngã mạn, self-superiority; 6-Tà mạn, pride in false views, or doings; 7-Kiêu mạn, arrogance; 8-Đại mạn, extreme arrogance.
bát nang
(鉢囊) Túi bát, cũng gọi là bát đại, bát lạc, lạc nang. Là cái túi đựng bát (ứng lượng khí) để tiện mang đi theo mình. Luật Tứ phần quyển 12 (Đại 22, 953 thượng) nói: Tay mang bát, cầm khó, đức Phật dạy: Cho khâu cái túi mà đựng. Không buộc túi, bát rơi ra, Phật bảo: Phải buộc miệng túi lại. Túi không, khó cầm bát, Phật bảo: Nên làm quai đeo vào vai. [X. Tì nại da tạp sự Q.4; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.12 Tàng tha y bát học xứ] .
bát nghiệp
(八業) Tám nghiệp. Nghĩa là nghiệp thiện ác dị thục, căn cứ theo thời gian có định hay không định và quả báo có định hay không định, mà phân biệt làm tám thứ. Tức là, với thuận hiện nghiệp có thời gian quả báo đều định và thời gian định quả báo không định, với thuận sinh nghiệp, thuận hậu nghiệp cũng đều có hai thứ như trên, hợp làm sáu nghiệp. Thêm nghiệp không định cũng có hai thứ là thời gian không định quả báo định và thời gian quả báo đều không định, hợp là tám nghiệp. Người chú thích luận Câu xá, gọi các nhà chủ trương thuyết này, là Bát nghiệp gia. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
bát nghĩa
(八義) Tám nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là tám hạng mục nghiên cứu Nhân minh. Cũng gọi là bát môn. Tức là : (1) Năng lập, (2) Năng phá, (3) Tự năng lập, (4) Tự năng phá, (5) Hiện lượng, (6) Tỉ lượng, (7) Tự hiện lượng, (8) Tự tỉ lượng. Trong đây, bốn nghĩa (1), (2), (5), (6) là chính xác, cũng gọi Tứ chân (bốn chân xác, đúng); còn bốn nghĩa (3), (4), (7), (8) là tương tự, cũng gọi Tứ tự (bốn tương tự, sai). Bốn chân bốn tự làm tám nghĩa. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhị Ngộ, Bát Môn Lưỡng Ích, Nhân Minh Bát Môn).
bát nghĩa chứng hữu bản thức
(八義證有本識) Tám nghĩa chứng minh có thức gốc. Bản thức, chỉ thức thứ tám, nghĩa là thức thứ tám là gốc nguồn sinh ra tất cả các pháp thiện ác. Luận Du già sư địa quyển 51, dùng tám nghĩa để minh chứng tướng của thức thứ tám. Tức là: 1. Nương tựa chấp nhận, nghĩa là thức này có khả năng làm chỗ nương tựa cho các pháp nhơ sạch, nó nắm giữ các pháp ấy, không để mất. 2. Dấy sinh đầu tiên, nghĩa là khi gá thai trong bụng mẹ, thì thức này dấy sinh trước tiên, như từ thạch hút sắt (Từ thạch ví dụ thức, sắt ví dụ tinh cha huyết mẹ). 3. Có tính sáng suốt, nghĩa là đối với ba tính thiện, ác, vô kí (không thiện không ác) của hết thảy các pháp, thức này biết rõ ràng sáng tỏ, không mờ tối. 4. Có tính hạt giống, nghĩa là thức này có khả năng nắm giữ hạt giống của các pháp thế gian xuất thế gian, không để mất mát. 5. Nghiệp dụng sai khác, nghĩa là thức này theo duyên nhơ nhớp mà tạo nghiệp ác, theo duyên sạch sẽ mà tạo nghiệp thiện, sai khác không đồng. 6. Thân phận khác nhau, thân nghĩa là tích tụ. Thức này có thể chứa nhóm tất cả các pháp, vì thế gọi là thân. Do hay nhận lãnh các duyên nhơ sạch được hun ướp bởi thức mạt na thứ bảy, mà đối với các pháp thiện ác không trộn lẫn với nhau, vì thế gọi là thân phận khác nhau. 7. Ở trong định không tâm, nghĩa là người vào định không tưởng hoặc định diệt hết, tuy tâm thụ tưởng đã diệt, hơi thở ra vào đã dứt, mà thức này không diệt. 8. Thức lúc hấp hối, nghĩa là lúc sắp chết, tất cả lạnh dần, chỉ có thức này giữ được thân, nếu thức này bỏ, thì bốn đại tan rã.
bát ngũ tam nhị
(八五三二) Tám năm ba hai. Đây dùng số mục bằng chữ để hiển bày pháp môn của tông pháp tướng. Tức nói về tám thức, năm pháp, ba tính và hai vô ngã, đã được thuyết minh trong kinh Lăng già và Luận thành duy thức. Tám thức là các thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và a lại da. Năm pháp là tướng, danh, phân biệt, như như và chính trí. Ba tính là tính vọng kế, tính duyên khởi và tính viên thành. Hai vô ngã là nhân vô ngã, pháp vô ngã.
Bát nhiệt địa ngục
八熱地獄; C: bārè dìyù; J: hachinetsu jigo-ku;|Tám địa ngục nóng: 1. Đẳng hoạt địa ngục (等活地獄; s: saṃjīva-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình, chết rồi sống lại và chịu tội báo như những lần trước; 2. Hắc thằng địa ngục (黒繩地獄; s: kāla-sūtra-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị trói bằng dây sắt; 3. Chúng hợp địa ngục (衆合地獄; s: saṃghāta-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị (núi đá) ép chặt; 4. Hào khiếu địa ngục (號叫地獄; s: raurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la thảm thiết; 5. Đại khiếu địa ngục (大叫地獄; s: mahāraurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la rất thống thiết; 6. Viêm nhiệt địa ngục (炎熱地獄; s: tāpana-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng thiêu đốt; 7. Đại nhiệt địa ngục (大熱地獄; s: pratāpana-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng sự thiêu đốt rất khổ sở; 8. Vô gián địa ngục (無間地獄; s: avīci-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình liên tục không gián đoạn, tội nhân không thể chết, phải bỏ thân nầy thụ thân khác trả quả báo cho đến khi hết sạch.
bát nhiệt địa ngục
Xem Bát đại địa ngục.
; (八熱地獄) Tám địa ngục nóng. Gọi chung các địa ngục trong đó tội nhân phải chịu cái khổ của sức nóng nung nấu. Cũng gọi Bát đại địa ngục, Bát đại nại lạc ca. Luận Đại tì bà sa quyển 172 chép, ở phía dưới châu Nam thiệm bộ, chỗ cách hơn năm trăm do tuần, có một khu địa ngục. Khu này, có mười sáu địa ngục lớn chia làm tám địa ngục lạnh, tám địa ngục nóng. Mỗi địa ngục lớn đều có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh, ăn thông với bốn cửa. Những chúng sinh chịu tội, khi vào các địa ngục nhỏ, thì nỗi khổ lại thêm dần lên, bởi thế cũng gọi là Du tăng ngục. Tám địa ngục nóng là: 1. Tưởng địa ngục (Phạm: Sàôjìva), cũng gọi Đẳng hoạt địa ngục. Chúng sinh chịu khổ trong địa ngục này, tay mọc móng sắt, móng tay dài, sắc, mỗi khi tức giận, mang ý tưởng độc hại, dùng móng tay cào cấu, vồ bắt lẫn nhau, máu chảy thịt rơi, hoặc bị chặt đâm xay giã, tưởng là chết rồi. Nhưng gió lạnh thổi đến, da thịt lại lành, thấy mình sống lại, vì thế gọi là Tưởng địa ngục. Những người phạm tội giết hại sinh vật, rơi vào ngục này. 2. Hắc thằng địa ngục (Phạm: Kàlasùtra), cũng gọi ngục dây đen. Trong ngục này, ngục tốt dùng dây sắt nóng, quấn thân người tội, đốt da nấu thịt, nung xương nấu tủy, đau đớn muôn bề, cho nên gọi là Hắc thằng địa ngục. 3. Đôi áp địa ngục (Phạm: Saôghàta), cũng gọi Chúng hợp địa ngục. Trong địa ngục này có núi đá lớn, sau khi tội nhân đi vào, núi tự khép lại, đè ép thân tội nhân, xương thịt nhừ nát, vì thế gọi là Đôi áp địa ngục (địa ngục đè ép). Những kẻ phạm tội sát sinh, trộm cướp, gian dâm, phải ở ngục này. 4. Khiếu hoán địa ngục (Phạm: Raurava - địa ngục kêu gào). Nghĩa là chúng sinh chịu tội, khi đến ngục này, ngục tốt liền ném vào vạc dầu lớn đang sôi để nấu. Vì đau đớn quá nên kêu gào khóc lóc, bởi thế gọi là Khiếu hoán địa ngục. Những kẻ phạm tội giết hại, trộm cướp, gian dâm, uống rượu phải rơi vào địa ngục này. 5. Đại khiếu hoán địa ngục (Phạm Mahàraurava). Nghĩa là khi ngục tốt đã nấu tội nhân trong vạc dầu sôi rồi, gió nghiệp liền thổi, làm cho sống lại, rồi lại bị ném vào chảo sắt nóng để rang, chiên. Đau đớn đến cùng cực, cất tiếng kêu lên thật to, nên mới gọi là Đại khiếu hoán địa ngục. Những kẻ phạm tội giết hại, trộm cướp, tà dâm và nói dối phải ở trong địa ngục này. 6. Thiêu chích địa ngục (Phạm: Tapana - địa ngục đốt, nướng). Cũng gọi Tiêu nhiệt địa ngục,Viêm nhiệt địa ngục. Địa ngục này được bao bọc bằng thành sắt, lửa cháy bốc lên ngùn ngụt, trong ngoài đốt nướng, da thịt nát nhừ, đau đớn vô cùng, cho nên gọi Thiêu chích địa nguc. 7. Đại thiêu chích địa ngục (Phạm: Pratàpana), cũng gọi Đại thiêu chích nhiệt địa ngục, Đại cực nhiệt địa ngục. Nghĩa là ngục tốt đem tội nhân để trong thành sắt, lửa nóng đốt thành, trong ngoài đều đỏ, đốt nướng tội nhân. Lại có hầm lửa, như lò than hồng; trên hai bờ hầm, còn có núi lửa, ngục tốt cầm cái xoa sắt, xâu lấy tội nhân, ném vào trong lửa, da thịt nhừ nát, đau đớn cùng cực, vì thế gọi là Đại thiêu chích địa ngục. 8. Vô gián địa ngục (Phạm:Avìci), cũng gọi A tị địa ngục, Vô cứu địa ngục. Nghĩa là chúng sinh có tội, chịu khổ trong địa ngục này, không bao giờ gián đoạn, không bao giờ thôi nghỉ, cho nên gọi là vô gián, là địa ngục cực khổ. Những kẻ tạo năm tội nghịch (tội trái với luân thường đạo lí) và phỉ báng Đại thừa, phải rơi vào ngục này. Luận thành thực nêu rõ năm loại vô gián: 1. Thú quả vô gián, những kẻ phạm tội cực nặng, chịu quả báo ở địa ngục này, không bao giờ hết. 2. Thụ khổ vô gián, nghĩa là chịu các khổ ở đây, không bao giờ hết. 3. Thời vô gián, nghĩa là thời gian chịu khổ ở địa ngục này, không bao giờ hết. 4. Mệnh vô gián, nghĩa là sống ở địa ngục này một trung kiếp, không gián đoạn. 5. Hình vô gián, nghĩa là chúng sinh chịu khổ ở địa ngục này, sinh ra rồi chết, chết rồi sinh lại, không bao giờ cùng. [X. kinh Trường a hàm Q.19 phẩm Địa ngục; luận Câu xá Q.11; luận Thuận chính lí Q.13].
Bát nhiệt địa ngục 八熱地獄
[ja] ハチネツジゴク hachinetsu jigoku ||| The eight burning hells: 1) 等活地獄 děnghuódìyù Saṃjīva-naraka, the Hell in which beings are tortured, killed, and reborn again into the same conditions; 2) hēishéngdìyù 黒繩地獄 Kāla-sūtra-naraka, the Hell in which beings are restrained with iron chains; 3) 衆合地獄 zhònghédìyù Saṃghāta-naraka, where beings are crushed together; 4) hàojiàodìyù 號叫地獄 Raurava-naraka, the Hell of Screaming; 5) dàjiàodìyù 大叫地獄 Mahāraurava-naraka, the Hell of Great Screaming; 6) 炎熱地獄 yánrèdìyù Tāpana-naraka, the Scorching Hot Hell; 7) 大熱地獄 dàrèdìyù Pratāpana-naraka, the Extremely Scorching Hot Hell; and 8) 無間地獄 wújiāndìyù Avīci-naraka, the Hell of Uninterrupted torture, where beings do not die until the karma that put them there is finally brought to full fruition. => Tám địa ngục nóng: 1. Đẳng họat địa ngục (s: Saṃjīva-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình, chết rồi sống lại và chịu tội báo như những lần trước. 2. Hắc thằng địa ngục (s: Kāla-sūtra-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị trói bằng dây sắt. 3. Chúng hợp địa ngục (s: Saṃghāta-naraka):địa ngục nơi chúng sinh bị (núi đá) ép chặt. 4. Hiệu khiếu địa ngục (s: Raurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la thảm thiết. 5. Đại khiếu địa ngục (s: Mahāraurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la rất thống thiết. 6. Viêm nhiệt địa ngục (s: Tāpana-naraka ): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng thiêu đốt. 7. Đại nhiệt địa ngục (s: Pratāpana-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng sự thiêu đốt rất khổ sở. 8. Vô gián địa ngục (s: Avīci-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình liên tục không gián đoạn, tội nhân không thể chết , phải bỏ thân nầy thọ thân khác trả quả báo cho đến khi hết sạch.
Bát nhân
八仁; C: bārén; J: hachinin;|Còn gọi là Bát nhẫn (八忍). Giai vị thứ ba trong Thập địa. Bát nhân địa (giai vị tu 8 pháp nhẫn để đoạn Kiến hoặc).
bát nhân địa
Aṣṭamaka-bhūmi (S)Bát Địa, Đệ Bát ĐịaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã.
; (八人地) Tám pháp nhẫn. Tông Thiên thai lập bốn giáo hóa pháp: Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Bát nhân địa là địa thứ ba trong mười địa của Thông giáo. Nhân, có nghĩa là nhẫn: Tức là hàng ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng từ Thế đệ nhất pháp (hạnh cuối cùng trong bốn gia hạnh) vào mười sáu tâm kiến đạo, tức giai vị tu tám pháp nhẫn để chính thức dứt trừ Kiến hoặc. Tám pháp nhẫn là: Khổ pháp trí nhẫn, tập pháp trí nhẫn, diệt pháp trí nhẫn, đạo pháp trí nhẫn, khổ loại trí nhẫn, tập loại trí nhẫn, diệt loại trí nhẫn, đạo loại trí nhẫn v.v... [X. Chỉ quán phụ hành truền hoằng quyết Q.6].
Bát nhân 八人
[ja] ハチニン hachinin ||| Also written 八忍. The third of the ten bhūmis. The stage of the eight tolerances. => Còn gọi là Bát nhẫn. Giai vị thứ ba trong Thập địa. Bát nhân địa(giai vị tu 8 pháp nhẫn để đoạn Kiến hoặc).
Bát Nhã
(s: Prajñā, 般若, 734-?): tức Bát Nhã Tam Tạng (般若三藏), vị cao tăng dịch kinh dưới thời nhà Đường, còn gọi là Bát Lạt Nhã (般剌若); xuất thân người nước Ca Tất Thí (迦畢試, Kế Tân [罽賓]), họ là Kiều Đáp Ma (喬答摩). Năm lên 7 tuổi, ông xuất gia, đến 20 tuổi thì thọ Cụ Túc Giới. Năm 23 tuổi, ông đến Na Lan Đà Tự (娜爛陀寺) ở miền trung Ấn, nương theo ba vị đại luận sư Trí Hộ (智護), Tấn Hữu (進友), Trí Hữu (智友), chuyên nghiên cứu về Duy Thức, Du Già, Trung Quán, Kim Cang Kinh, Ngũ Minh, v.v. Sau đó, ông lên thuyền chu du khắp các nước vùng Nam Hải, vào năm 781 (Kiến Trung [建中] 2) đời vua Đức Tông (德宗, tại vị 779-805) nhà Đường, ông đến Quảng Châu, rồi vào kinh đô Trường An. Vào năm 788 (Trinh Nguyên 4), ông dịch được Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh (大乘理趣六波羅密多經) 10 quyển. Đến tháng 7 năm 790, ông phụng sắc chỉ theo sứ sang nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅). Không bao lâu sau, ông được ban cho hiệu Bát Nhã Tam Tạng và Tử Y. Về sau, ông còn dịch thêm một số kinh điển khác như Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), Tứ Thập Hoa Nghiêm (四十華嚴), Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經), Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh (守護國界主陀羅尼經), v.v.
; (s: prajñā, p: paññā, 般若): âm dịch là Ba Nhã (波若), Bát Nhã (鉢若), Bát La Nhã (般羅若); ý dịch là tuệ, trí tuệ. Với tác dụng của tâm, đây là trí tuệ lấy sự liễu đạt làm tánh, biết cảnh của Tứ Đế và đoạn trừ hết thảy phiền não sanh tử. Nó còn là trí tuệ đoạn trừ phiền não chướng, sở tri chướng và biết tất cả các pháp hữu vi cũng như vô vi. Là một trong Sáu Ba La Mật, Bát Nhã được tán thán như là mẹ của chư Phật, là yếu tố quan trọng nhất để đạt được quả vị Phật. Nó còn là một trong những hạnh của vị Bồ Tát, là trí tuệ để tạo nhân thành Phật. Từ thời Huệ Năng (慧能hay惠能, Enō, 638-713) trở đi, nó được xem đồng nghĩa với Thiền định.
bát nhã
Prajā (S), Hannya (J).Trí huệ của tự tánh (khác với trí huệ của b óc) sẵn đầy đủ khắp không gian thời gian, chẳng có thiếu sót, chẳng có chướng ngại, cái dụng tự đng chẳng cần tác ý, tùy cơ ứng hiện chẳng sai mảy may.
; Prajnà (S), Panna (P). Wisdom. Also Tuệ, Huệ, Trí tuệ.
; Trí huệ của tự tánh (khác với trí huệ của bộ óc) sẵn đầy đủ khắp không gian thời gian, chẳng có thiếu sót, chẳng có chướng ngại, cái dụng tự động chẳng cần tác ý, tùy cơ ứng hiện chẳng sai mảy may.
; (般若) Phạm: Prajĩà. I. Bát nhã. Cũng gọi ba nhã, bát la nhã, bát lạt nhã. Dịch ý là tuệ, trí tuệ, minh, hiệt tuệ (tuệ sáng). Tức là trí tuệ chân thực nhờ tu tâm chính đạo và các ba la mật mà phát được. Trí tuệ cao sâu, thấy suốt hết thảy sự vật và đạo lý, thì gọi là Bát nhã. Để đạt đến chỗ cùng tột rốt ráo và trọn vẹn, Bồ tát phải tu sáu hạnh, gọi là sáu ba la mật. Trong đó, Bát nhã ba la mật (trí tuệ ba la mật), được coi là mẹ của chư Phật, trở thành căn cứ cho năm ba la mật kia và chiếm địa vị trọng yếu nhất. Nói về chủng loại, thì Bát nhã có hai loại, ba loại, năm loại khác nhau. Về hai loại thì có ba bát nhã sau đây : 1. Cộng bát nhã và Bất cộng bát nhã. Cộng bát nhã tức là bát nhã nói chung cho cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Còn Bất cộng bát nhã thì chỉ là bát nhã nói riêng cho hàng Bồ tát. 2. Thực tướng Bát nhã và Quán chiếu bát nhã. Thực tướng bát nhã là cái tướng chân thực tuyệt đối của hết thảy sự tượng do trí tuệ bát nhã soi rọi. Đây tuy không phải là bát nhã, nhưng có thể khơi nguồn cho bát nhã nên gọi là Bát nhã. Quán chiếu Bát nhã là trí tuệ hay soi rọi tướng chân thực tuyệt đối của tất cả các pháp. 3. Thế gian bát nhã và Xuất thế gian bát nhã. Thế gian bát nhã tức là bát nhã thế tục, tương đối. Xuất thế gian bát nhã tức là bát nhã siêu thế tục, tuyệt đối. Về ba loại bát nhã, nếu thêm Phương tiện bát nhã hoặc Văn tự bát nhã vào Thực tướng và Quán chiếu, thì gọi là ba bát nhã. Phương tiện bát nhã là dùng trí tương đối mà suy luận phán đoán để thấy rõ sự khác nhau giữa các pháp. Còn Văn tự bát nhã là các kinh điển Bát nhã bao hàm cả Thực tướng và Quán chiếu bát nhã. Về năm loại bát nhã, nếu thêm Cảnh giới bát nhã (tất cả các pháp đối tượng khách quan của trí tuệ bát nhã) và Quyến thuộc bát nhã (các phương pháp tu hành, đi đôi với bát nhã để giúp đỡ sáu ba la mật) vào Thực tướng, Quán chiếu và Văn tự, thì gọi là năm bát nhã. II. Bát nhã(734-?). Vị tăng dịch kinh ở đời Đường. Cũng gọi Bát lạt nhã. Người nước Ca tất thí (Kế tân) thuộc miền bắc Ấn độ, họ Kiều đáp ma. Bảy tuổi xuất gia, hai mươi tuổi thụ giới Cụ túc. Hai mươi ba tuổi đến chùa Na lan đà ở trung Ấn độ, theo các ngài Trí độ, Tiến hữu, Trí hữu v.v... học tập nghiên cứu Duy thức, Du già, Trung biên, kinh Kim cương, Ngũ minh v.v... Sau đáp thuyền đi khắp các nước vùng biển Nam. Năm Kiến trung thứ 2 (781) đời vua Đức tôn nhà Đường, sư đến Quảng châu, rồi từ đó vào Trường an. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư dịch kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa 10 quyển, năm sau, lại dịch phần chân ngôn ấn khế và pháp môn trong kinh ấy. Năm Trinh nguyên thứ 6, tháng 7 sư vâng lệnh vua đi sứ nước Ca thấp di la. Sau đó, sư được vua ban danh hiệu Bát nhã tam tạng và áo đỏ. Về sau, sư dịch lại các kinh Bát nhã ba la mật đa tâm, Hoa nghiêm (bản 40 quyển), Đại thừa bản sinh tâm địa quán, Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni v.v... Sư tịch ở Lạc dương, được an táng tại gò phía tây Long môn, không rõ tuổi thọ. [X. Tống cao tăng truyện Q.2, Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].
bát nhã ba la mật
Prajā-pāramitā (S)Một trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật. Xem Trí huệ Ba la mật.
; (般若波羅蜜) Phạm: Prajĩà-pàramità.Cũng gọi Bát nhã la ba la mật đa, Bát la nhã ba la mật. Dịch ý là tuệ đáo bỉ ngạn (tuệ đến bờ kia), trí độ (trí vượt qua), minh độ, phổ trí độ vô cực. Hoặc gọi là tuệ ba la mật đa, trí tuệ ba la mật. Là một trong sáu ba la mật, một trong mười ba la mật. Tức là đại trí tuệ của Bồ tát, soi rọi rõ thực tướng các pháp, cùng suốt biên tế của hết thảy trí tuệ, vượt bờ sống chết bên này mà qua đến bờ Niết bàn bên kia, gọi là bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật là gốc của sáu ba la mật, là nguồn của tất cả pháp lành, cho nên cũng gọi mẹ của chư Phật. Bát nhã tức là tuệ, Thanh văn, Duyên giác tuy có chỗ được, nhưng họ chỉ cần mau tới Niết bàn, chưa đến chỗ tận cùng của trí, vì thế không thể được bát nhã ba la mật. Duy có Bồ tát cầu hết thảy trí, nhờ đó tới được bờ bên kia, gọi là đầy đủ bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật này, khi thành Phật, chuyển làm nhất thiết chủng trí, bởi thế, bát nhã ba la mật không thuộc về Phật, không thuộc Thanh văn, Bích chi phật, cũng chẳng thuộc phàm phu, mà chỉ thuộc về Bồ tát. Về tự tính của Bát nhã ba la mật, luận Đại trí độ quyển 11 nêu ra nhiều thuyết. Còn Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 8, trình bày về tự tính, nhân, quả, nghiệp, tương ứng và phẩm loại của nó, bảo bát nhã ba la mật lấy pháp chân chính xuất thế gian làm tự tính, lấy định làm nhân, lấy thiện giải thoát làm quả, lấy sự lựa chọn chân chính làm sự sống, lấy chính thuyết chính pháp làm nghiệp, lấy tất cả pháp trên hết làm tương ứng, lấy thế gian, xuất thế gian, đại xuất thế gian làm phẩm loại. Về phép tu tập bát nhã ba la mật, các kinh nêu ra rất nhiều. Như kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 nêu năm phép, kinh Đại thừa bảo vân quyển 2 nêu mười phép. Còn như kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 7 phẩm ba la mật đa, luận Trí độ quyển 4, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 8 phẩm Tán hoa v.v... cũng có bàn đến. Lại trong các kinh, phần nhiều cũng khen ngợi bát nhã ba la mật, và nêu các tên khác của nó. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.14 phẩm Phật mẫu; kinh Lục độ tập Q.8; kinh Phóng quang bát nhã Q.4 phẩm Ma ha diễn; luận Đại trí độ Q.18, Q.43]. (xt. Bát Nhã).
bát nhã ba la mật bồ tát
Ārya-prajā-pāramitā (S)Huệ Bát nhã Ba la mật Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (般若波羅蜜菩薩) Phạm: Àrya-prajĩà-pàramità. Cũng gọi Ba la mật bồ tát. Là một trong mười bồ tát Ba la mật. Ngồi ở phía nam bồ tát Hư không tạng trong viện Hư không tạng trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Mật hiệu là Đại tuệ kim cương. Hình tượng của vị Bồ tát này là toàn thân màu da người, tay phải để ở cạnh sườn, cầm gươm; bàn tay trái dựng thẳng, co ngón trỏ, ngón giữa, ba ngón còn lại thì duỗi ra. Đầu gối phải hơi dựng lên. Trên áo ngoài, mặc một tấm áo ca sa. Ấn khế: năm ngón tay trái duỗi thẳng, ngửa lên để ở dưới trái tim, rồi lấy tay phải úp lên trên tay trái. Chân ngôn: Án (oô) địa (dhi-hạt giống) thất lí (zri-tốt lành) du rô đa (zruta-nghe) vĩ nhạ duệ (vijaya-thù thắng) sa phạ ha (svàhà). Kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ chép, kết ấn tụng chú của vị Bồ tát này có thể diệt hạt giống nghiệp ngu si của vô lượng kiếp, mà được ba tuệ là tuệ nhân không vô phân biệt, tuệ pháp không vô phân biệt và tuệ nhân pháp đều không vô phân biệt. Đồng thời, được trí tuệ bát nhã ba la mật tròn đầy thông sáng, nhờ đó hiểu rõ pháp thế gian, xuất thế gian, thấu suốt lí năm minh rất sâu. (xt. Bát Nhã Bồ Tát).
bát nhã ba la mật kinh
Prajāpāramitā sūtra (S)Tên một bộ kinh.
bát nhã ba la mật thủ
(般若波羅蜜手) Tay bát nhã ba la mật. Chỉ cho tay phải, đối lại với tay trái là Định thủ (tay định). Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 619 hạ), nói: Vì bát nhã ba la mật thủ luôn luôn phóng ra năm lực.
bát nhã ba la mật đa
Prajnà-pàramita (S). Perfection of wisdom.
bát nhã ba la mật đa căn bản ấn
(般若波羅蜜多根本印) Cũng gọi Kinh đài ấn. Là ấn chung của Bát nhã. Khi kết ấn này, hai mu bàn tay dựa vào nhau, thu hai ngón trỏ, hai ngón út co vào trong lòng bàn tay, dùng hai ngón cái đè lên đầu hai ngón út, đặt ở trên chỗ trái tim, rồi tụng bảy biến đà la ni trong kinh. Cứ theo Nhân vương bát nhã niệm tụng pháp nói, thì người tu hành kết ấn và tụng đà la ni này, liền có thể biến thành bồ tát Bát nhã ba la mật, là mẹ của hết thảy chư Phật. Kinh Đà la ni tập quyển 3 thì nói, đặt yên tạng kinh, kết ấn và tụng chú này, một lòng chuyên niệm, thì hết thảy tạng kinh đều từ ấn này mà ra, và tất cả đều vào trong tâm.
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
(s: Prajñāpāramitā-hṛdaya, t: çes-rah sñiṅ-po bshugs-so, c: Pan-jo-po-lo-mi-to-hsin-ching, j: Hannyaharamittashinkyō, 般若波羅蜜多心經): nói cho đủ là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (摩訶般若波羅蜜多心經), còn gọi là Bát Nhã Đa Tâm Kinh (般若多心經), Bát Nhã Tâm Kinh (般若心經), Tâm Kinh (心經), 1 quyển, hiện còn, Taishō 8, 848, No. 251, Huyền Trang (玄奘, 602-664) dịch vào năm 649 hay 648 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 23 hay 22) nhà Đường. Có 6 dịch bản khác của kinh này:(1) Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh (摩訶般若波羅蜜大明呪經), do Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. (2) Bát Nhã Ba La Mật Đa Na Đề Kinh (般若波羅蜜多那提經), do Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) dịch. (3) Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), do Bát Nhã (s: Prajñā, 般若, 734-?), Lợi Ngôn (利言, khoảng thế kỷ thứ 8) dịch.(4) Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (普遍智藏般若波羅蜜多心經), do Pháp Nguyệt (s: Dharmacandra, 法月, 653-743) dịch.(5) Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), do Trí Huệ Luân (智慧輪) dịch. (6) Thánh Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (聖佛母般若波羅蜜多心經), do Thí Hộ (s: Dānapāla, 施護, khoảng thế kỷ thứ 10) dịch. Nếu so sánh các bản trên, bản dịch của Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập được lưu truyền rộng rãi nhất. Phạn bản của kinh này hiện còn ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) của Nhật Bản; năm 1884 F. Max Müller và Bunyū Nanjō (文雄南條) đã cùng hiệu đính, xuất bản; đến năm 1894 nó được dịch sang Anh ngữ. Ngoài ra, vào năm 1864, học giả người Anh là Beal Samuel cũng đã dịch sang Anh ngữ bản dịch của Huyền Trang. Nếu so bản tiếng Sanskrit và bản Hán dịch của Huyền Trang, chúng có nội dung tương đồng. Còn bản được phát hiện ở thạch động Đôn Hoàng là tư liệu rất quý trọng đối với giới học thuật. Về phần chú sớ của kinh này cũng có rất nhiều bản, trong đó quan trọng nhất là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh U Tán (般若波羅蜜多心經幽贊) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Tán (般若波羅蜜多心經贊) của Viên Trắc (圓測, 613-696), Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Sớ (般若波羅蜜多心經略疏) của Pháp Tạng (法藏, 643-712), và Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Sớ (般若波羅蜜多心經疏) của Huệ Tịnh (慧淨, 578-?), v.v.
bát nhã ba la mật đa tâm kinh
Prajāpapāramitā-hṛdaya-sūtra (S), Hannya Shingyō (J)Tên một bộ kinh.
; Mahàprajnàpàramità-hridaya-sùtra (S). Heart sùtra.
; (般若波羅蜜多心經) Phạm: Prajĩàpàramità-hfdayasùtra. Có 1 quyển. Nói đủ là Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh. Nói tắt Bồ Tát Bát Nhã Ba La Mật là Bát nhã tâm kinh, Tâm kinh. Ngài Huyền trang dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 8. Tâm (Phạm:hfdaya),chỉ trái tim, hàm ý là tinh yếu, tâm tủy. Kinh này đem đúc kết nội dung rộng lớn của kinh Bát nhã, mà thành cuốn kinh biểu hiện tinh thần Bát nhã đều không một cách ngắn gọn trong sáng. Toàn kinh nêu ra năm uẩn, ba khoa, mười hai nhân duyên và bốn đế để trình bày lí các pháp đều không một cách tổng quát. Câu Sắc tức thị không, không tức thị sắc đã có xuất xứ từ kinh này. Kinh có tất cả sáu bản dịch khác nhau: Bát nhã ba la mật đại minh chú kinh (Cưu ma la thập), Bát nhã ba la mật đa na đề kinh (Bồ đề lưu chi), Bát nhã ba la mật đa tâm kinh (Bát nhã, Lợi ngôn), Phổ biến trí tạng bát nhã ba la mật đa tâm kinh (Pháp nguyệt), Bát nhã ba la mật đa tâm kinh (Trí tuệ luận), Thánh phật mẫu bát nhã ba la mật đa kinh (Thí hộ). Trong các bản dịch kể trên, bản dịch của ngài Cưu ma la thập nổi tiếng hơn cả, và cũng là bản dịch được lưu truyền rộng rãi nhất. Bản tiếng Phạm của kinh này, hiện nay có bản Bí tạng ở chùa Pháp long bên Nhật bản. Năm 1884, Max Müller và Nam điều Văn hùng cùng sửa chữa và xuất bản. Năm 1894, Max Müller đã dịch ra tiếng Anh và xuất bản. Ngoài ra, năm 1864, nhà học giả Phật giáo học người Anh là ông Samuel Beal cũng dịch Bát nhã tâm kinh - bản dịch của ngài Huyền trang ra Anh văn và xuất bản. Kinh này cũng còn bản dịch âm tiếng Phạm ra âm chữ Hán, gọi là Đường Phạm phiên đối tự âm bát nhã ba la mật đa tâm kinh (kinh Bát nhã ba la đa tâm phiên âm Đường (Hán) Phạm đối chiếu), tương đương với bản của ngài Huyền trang. Bản dịch này do Stein tìm được ở động đá Đôn hoàng, là tư liệu trọng yếu của học thuật Phật giáo. Kinh này có rất nhiều bản chú sớ, trọng yếu hơn cả thì có: Bát nhã ba la mật đa tâm kinh lược sớ (Pháp tạng), Bát nhã ba la mật đa tâm kinh u tán (Khuy cơ), Bát nhã ba la mật đa tâm kinh tán (Viên trắc), Bát nhã ba la mật đa tâm kinh sớ (Tuệ tịnh) v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.2, Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.8, Q.9, Q.11, Q.14; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4].
bát nhã ba la mật đa tâm kinh lược sớ
(般若波羅蜜多心經略疏) Có 1 quyển. Gọi tắt: Bát nhã tâm kinh lược sớ. Do ngài Pháp tạng soạn. Thu vào đại chính tạng tập 33. Là sách chú sớ Bát nhã tâm kinh. Sách chia làm bốn môn: Giáo hưng, Tạng nhiếp, Tông thú, Thích đề. Đầu quyển sách có bài tựa của soạn giả. Những bản chú sớ về sách này có: Đề chính kí 3 quyển (Trọng hi), Liên châu kí 2 quyển (Sư hội), Thám yếu sao 2 quyển (Phổ tịch) v.v...
bát nhã ba la mật đa tâm kinh u tán
(般若波羅蜜多心經幽贊) Gồm 2 quyển. Gọi tắt: Tâm kinh u tán. Ngài Khuy cơ đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 33. Sách này là sách chú thích Bát nhã tâm kinh sớm nhất. Toàn sách nương theo ý nghĩa của Pháp tướng duy thức, rồi theo văn mà giải thích nội dung của Tâm kinh. Trước hết, dẫn phán giáo 3 thời của kinh Giải thâm mật, và kệ tụng của phẩm Bát Nhã Tâm Kinh (bằng tiếng Phạm viết trên lá bối). Biện tướng trong luận Biện trung biên để tán thán nghĩa trung đạo. Kế đến, giải thích tên kinh, và trình bày ý nghĩa của năm loại bát nhã và bảy tối thắng. Sau cùng, giải bày nghĩa của văn kinh. Các bản chú sớ về sách này thì có: Không đồng kí 3 quyển (Thủ thiên), Giải tiết kí 6 quyển (Hộ mệnh) v.v...
bát nhã bồ tát
Prajā-bodhisattva (S)Tên một vị Bồ tát.
; Prajnà-bodhisattva (S).
; (般若菩薩) Phạm: Prajĩà-pàramità. Gọi đủ là Bát nhã ba la mật đa Bồ tát. I. Bát nhã bồ tát. Dịch ý là dùng trí tuệ vượt sang bờ bên kia. Là tên gọi chung các bậc thánh loại này. Kinh Đà la ni tập quyển 8 (Đại 18, 852 hạ) nói: Phật, Bát nhã, Bồ tát hoặc Kim cương, tùy nơi ý muốn mà làm pháp hội. II. Bát nhã bồ tát. Một trong mười Bồ tát Ba la mật, là quyến thuộc của Quan âm nghìn tay. Ngồi ở chính giữa viện Trì minh trong Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo, hoặc được đặt ở mé nam trong viện Hư không tạng. Bồ tát Kim cương ba la mật đa trong kinh Nhân vương bát nhã là cùng một thể với vị tôn này. Mật hiệu là Đại Tuệ Kim Cương, là vị tôn trong viện Trì minh của Thai tạng giới mạn đồ la. Hình tượng vị này là ba mắt sáu tay, đầu đội mũ báu, mình màu da người, mặc áo giáp. Khuỷu tay trái thứ nhất co lại, cầm Phạm khiếp để ngang ngực; bàn tay thứ hai ngửa lên đặt ở dưới rốn, ngón áp út của tay thứ ba co lại, bốn ngón còn lại thì duỗi thẳng. Ngón trỏ của tay phải thứ nhất co lại, bốn ngón kia dựng thẳng, tay thứ hai thõng xuống đặt trên đầu gối, duỗi năm ngón và mở ra, làm ấn ban nguyện ước; cánh tay thứ ba co lại, bàn tay dựng lên, ngón áp út co lại, bốn ngón kia duỗi thẳng, ngồi trên hoa sen đỏ. Vị tôn trong viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la, thì bàn tay trái dựng thẳng, hai ngón trỏ, giữa co lại, tay phải cầm gươm, đầu gối phải hơi dựng đứng, ngồi trên hoa sen đỏ. [X. Nhân vương kinh nghi quĩ; Bí tạng kí Q.cuối].
bát nhã bộ
(般若部) Là một trong năm bộ lớn của giáo pháp Đại thừa. Gọi chung kinh Đại bát nhã và các kinh từ đó được rút riêng ra, cùng tất cả kinh điển Bát nhã thuộc các chi phái khác. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 16 nói; thì Bát nhã là mẹ của chư Phật, cho nên bát nhã bộ được đặt ở đầu năm bộ lớn, gồm 21 bộ 736 quyển. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 20 thì ghi 32 bộ 757 quyển. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 1 thì ghi 40 bộ 794 quyển. Duyệt tạng tri tân của sa môn Trí húc, dựa theo thuyết năm thời giáo của tông Thiên thai, đổi vị trí của Bát nhã bộ, đem đặt vào hàng thứ ba trong năm bộ lớn, và ghi tất cả có 28 bộ 756 quyển. Đại chính tân tu đại tạng kinh hiện nay, tổng thu kinh điển bát nhã, gồm 42 bộ 776 quyển. Trong Cam châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng, lập riêng Bát nhã bộ (Tạng :zerphyin). [X. luận Kim cương tiên Q.1; Đại phẩm kinh du ý; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.20 ; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.1; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục Q.1; Đại tạng mục lục Q.thượng]. (xt. Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh).
bát nhã chuyển giáo
(般若轉教) Có nghĩa là, trên hội Bát nhã, đức Phật sai các vị Thanh văn Tu bồ đề, Xá lợi phất thay Phật mà diễn nói pháp môn Bát nhã cho hàng Bồ tát nghe. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).
bát nhã cúc đa
Prajāgupta (S)Tên một vị sư.
bát nhã học
(般若學) Một trong các học phái của Phật giáo Trung quốc. Vào những năm cuối đời Đông Hán, sau khi ngài Chi lâu ca sấm dịch kinh Bát nhã đạo hành phẩm, thì các kinh điển Bát nhã mới lục tục được truyền vào Trung quốc, và qua đời Ngụy Tấn đến Nam Bắc triều đã hình thành học phong một thời và ảnh hưởng nền huyền học lúc bây giờ. Đến đời Hậu Tần, về phương diện phát triển tư tưởng Bát nhã, đã hình thành cái gọi là sáu nhà bảy tông (lục gia thất tông) rồi. Sau, nhờ có ngài Cưu ma la thập truyền dịch và giới thiệu học thuyết Trung quán của các bồ tát Long thụ, Đề bà một cách có hệ thống mà cái học Bát nhã đã đạt đến cao trào. Phổ thông, sự nghiên cứu về nghĩa lí của Bát nhã, được gọi là Bát nhã học, là lí luận nền tảng của Phật giáo ở thời kì Ngụy Tấn Nam Bắc triều, và đã ảnh hưởng đến tông phái hữu quan ở các đời Tùy, Đường như tông Tam luận chẳng hạn, đã trực tiếp noi theo truyền thống của Bát nhã học. (xt. Lục Gia Thất Tông).
bát nhã kim cương
(般若金剛) Là mật hiệu của bồ tát Kim cương lợi của Kim cương giới và bồ tát Trì kim cương lợi của Thai tạng giới trong Mật giáo.
bát nhã kinh thập dụ
(般若經十喻) Mười dụ của kinh Bát nhã. Để hiển bày tính không của các pháp, kinh Bát nhã nêu ra mười ví dụ. Tức ví dụ các pháp như trò ảo thuật, như ánh lửa, như trăng dưới nước, như hư không, như vang tiếng, như thành kiện thát bà, như chiêm bao, như bóng, như hình trong gương, như hóa v.v... [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.17; kinh Đại phẩm bát nhã Q.4; luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Thí Dụ).
bát nhã kinh điển
(般若經典) Gọi chung tất cả kinh điển thuyết minh lí cao sâu của Bát nhã ba la mật. Dịch cũ là Bát nhã ba la mật kinh, dịch mới là Bát nhã ba la mật đa kinh. Có mấy chục bộ, như kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Tiểu phẩm bát nhã, kinh Đại bát nhã, kinh Bát nhã tâm, kinh Kim cương v.v... đều thuộc loại này. Về sự truyền bá kinh Bát nhã, ở Ấn độ, sau đức Phật nhập diệt khoảng năm trăm năm, Tiểu phẩm bát nhã đã thịnh hành tại miền bắc Ấn độ, lấy ngài Tu bồ đề làm vị chủ nói pháp, ngài Xá lợi phất cũng thường lên tòa diễn giảng. Về sau, Đại phẩm bát nhã được thành lập, các ngài Xá lợi phất và Tu bồ đề đắp đổi cứu xét lí không. Văn thù bát nhã thì lấy các ngài Văn thù, Ca diếp làm chủ. Các bản Đại phẩm được lưu thông rộng rãi. Từ khoảng sáu trăm năm sau đức Phật nhập diệt trở đi, các phẩm loại bộ hệ đã được thành lập. Về các luận chú thích kinh điển Bát nhã ở Ấn độ, thì sau đức Phật nhập diệt khoảng bảy trăm năm, có các bồ tát Long thụ, Đề bà thuộc học phái Đại thừa Trung quán Không tông soạn các luận. Về Đại phẩm bát nhã, bồ tát Long thụ soạn Ưu bà đề xá mười vạn kệ (tức là luận Đại trí độ do ngài Cưu ma la thập dịch) luận Vô úy, luận Trung quán, luận Thập nhị môn. Bồ tát Đề bà thì soạn luận Quảng bách, luận Bách, luận Bách tự bản kệ v.v... Đối lại với các ngài Long thụ, Đề bà, có các ngài Di lặc, Vô trước thuộc Du già hữu tông. Ngài Di lặc soạn Kim cương bát nhã tụng (Phạm: Aryasina), ngài Vô trước soạn luận chú thích Kim cương bát nhã của ngài Di lặc và luận Thuận trung v.v... Các ngài Thế thân, Thanh biện, Nguyệt xưng v.v... cũng nối tiếp nhau soạn các luận. Kinh điển Bát nhã được truyền dịch ở Trung quốc, thì bắt đầu với kinh Bát nhã đạo hạnh phẩm do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời vua Linh đế nhà Đông Hán. Về sau sa môn Chu sĩ hành thỉnh được Phóng quang bát nhã tại nước Vu điền. Vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, do quan điểm của các học giả bàn về tông yếu của Bát nhã có khác nhau, mà đã hình thành thuyết sáu nhà bảy tông. Đến khi ngài La thập sang Đông độ (Trung quốc), đúng vào lúc Phóng quang, Đạo hành bát nhã đang thịnh, ngài La thập bèn phiên dịch các Bát nhã Đại Tiểu phẩm, Tâm kinh, Kim cương và Nhân vương v.v... đồng thời, ngài cũng dịch các luận chú thích của bồ tát Long thụ, Đề bà v.v... xiển dương Bát nhã không môn, càng khiến ánh sáng Bát nhã tỏa ra bốn phương rực rỡ. Các vị đệ tử của ngài La thập là Tăng triệu, Đạo dung, Tăng duệ, Đạo sinh v.v... đua nhau tôn sùng Bát nhã, đặc biệt luận Bảo tạng, luận Triệu của sư Tăng triệu đã rút tỉa được nghĩa sâu xa mầu nhiệm nhất của Bát nhã. Rồi học trò của các sư Tăng duệ, Tăng triệu thành lập tông Tam luận, lấy các luận Trung quán, luận Bách, luận Thập nhị môn làm chỗ y cứ. Về bộ hệ của kinh điển Bát nhã, luận Kim cương tiên Q.1, do ngài Bồ đề lưu chi dịch, nêu ra tám bộ Bát nhã: Bộ thứ nhất mười vạn kệ (Đại phẩm), bộ thứ hai hai vạn năm nghìn kệ (Phóng quang), bộ thứ ba một vạn tám nghìn kệ (Quang tán), bộ thứ tư tám nghìn kệ (Đạo hành), bộ thứ năm bốn nghìn kệ (Tiểu phẩm), bộ thứ sáu hai nghìn năm trăm kệ (Thiên vương vấn), bộ thứ bảy sáu trăm kệ (Văn thù), bộ thứ tám ba trăm kệ (Kim cương bát nhã). Sáu trăm quyển Đại bát nhã do ngài Huyền trang dịch chính là đại thành của Bát nhã căn bản và Bát nhã tạp bộ. Đại bát nhã là gốc, còn các bát nhã khác, đều là Bát nhã ngọn được rút riêng từ các hội Bát nhã gốc. (xt. Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh).
bát nhã lí thú kinh
(般若理趣經) Phạm: Prajĩà-pàramità-nayazatapaĩ-càzatikà. Có một quyển, gọi đủ là Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da kinh. Gọi tắt là Lý thú kinh. Ngài Bất không đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 8. Đại lạc kim cương bất không là tên khác của Kim cương tát đóa, biểu thị Tát đóa tự chứng niềm vui lớn trong việc giáo hóa người khác, việc giáo hóa bền chắc không gián đoạn cũng như kim cương. Tam ma da là nghĩa thệ nguyện gốc. Kinh này do pháp thân Trí của đức Đại nhật Như lai, vì bố tát Kim cương tát đóa, tuyên nói lý thú trong sạch của bát nhã, đồng thời, bồ tát Kim cương tát đóa cũng nói lên thệ nguyện gốc chân thật của mình. Toàn kinh được cấu thành bởi ba phần Duyên khởi, Chính tông và Lưu thông, trong đó, phần Chính tông được chia làm 17 đoạn, lần lượt giảng nói 17 pháp môn: Đại lạc pháp môn, Chứng ngộ, Hàng phục, Quán chiếu, Phú, Thực động, Tự luân, Nhập đại luân, Cúng dường, Phẫn nộ, Phổ tập, Hữu tình gia trì, Thất mẫu thiên, Tam huynh đệ, Tứ tỉ muội, Các cụ, Thâm bí, v.v... để nêu tỏ việc xây dựng nước Phật trong sạch ngay trong cuộc sống ngày thường, là cực ý ngay thân này thành Phật trong Mật giáo. Các tông phái Mật giáo đều nương dùng kinh này và sớm hôm đều đọc tụng. Kinh này còn năm bản dịch khác dưới đây: 1. Đệ thập hội Bát nhã lý thú phần, 1 quyển, trong kinh Đại bát nhã, ngài Huyền trang dịch, thu vào Đại chính tạng tập 8. 2. Thực tướng bát nhã ba la mật kinh, một quyển, ngài Bồ đề lưu chi đời Đường dịch, thu vào Đại chính tạng tập 8. 3. Kim cương đính du già lý thú bát nhã kinh, một quyển, ngài Kim cương trí đời Đường dịch, thu vào Đại chính tạng tập 8. 4. Biến chiếu bát nhã ba la mật kinh, 1 quyển, ngài Thí hộ đời Tống dịch,thu vào Đại chính tạng tập 8. 5. Tối thựơng căn bản kim cương bất không tam muội đại giáo vương kinh, 7 quyển, ngài Pháp hiền đời Tống dịch, thu vào Đại chính tạng tập 8. Ngoài ra, còn có bản tiếng Phạm, bản Tây tạng, bản dịch tiếng Nhật v.v... Kinh này cũng có rất nhiều chú sớ, nổi tiếng hơn cả thì có: Lý thú thích, 1 quyển, Thập thất tôn nghĩa thuật 1 quyển của ngài Bất không, Lý thú kinh văn cú 1 quyển của ngài Không hải v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8, Q.11; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
bát nhã lí thú phần
(般若理趣分) Chỉ hội thứ mười trong mười sáu hội của kinh Đại bát nhã. Nội dung trình bày ý chí sâu xa của thực tướng Bát nhã. Phần Bát nhã lý thú này sau được dùng làm khóa tụng hàng ngày, và ý chỉ sâu xa của nó cũng đã được giải thích rõ trong sách Lý thú phần thuật tán 3 quyển của ngài Từ ân. Giáo thuyết trong phần này cũng gần giống như giáo thuyết trong kinh Bát nhã lý thú trong Mật tạng, bởi thế, các nhà Mật giáo, mỗi khi đề cập đến Lý thú phần, thì cho đó là sự giải nói về hành tướng nông cạn, sơ lược trong kinh Lý thú. Những bản dịch khác của kinh này còn có: Thực tướng bát nhã ba la mật kinh do ngài Bồ đề lưu chi dịch, Kim cương đính du già lý thú bát nhã kinh do ngài Kim cương trí dịch, Đại lạc kim cương bất không chân thật tam ma da kinh do ngài Bất không dịch và Biến chiếu bát nhã ba la mật kinh do ngài Thí hộ dịch. Về con số các bài tụng trong nguyên bản tiếng Phạm của kinh này, thì phổ thông có hai thuyết: một thuyết bảo có ba trăm tụng (Pháp uyển châu lâm, Khai nguyên thích giáo lục), còn thuyết kia thì nói có một trăm năm mươi tụng (Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục). Năm 1917, hai ông Tuyền phương cảnh và Mẫu vĩ tường vân - người Nhật bản - đã đem hợp chung cả nguyên bản Phạm văn, bản dịch Tây tạng và bản Hán dịch lại, rồi xuất bản.
bát nhã lý thú kinh
Prajāpāramitā- Nayasata-panca śātīka (S)Đại lạc Kim cang Bất không chân thật Tam ma đa kinhTên một bộ kinh.
Bát Nhã Lưu Chi
(般若流支) Phạm: Prajñāruci. Dịch ý là Trí hi (Trí hiếm có). Cũng gọi Cù đàm Bát nhã lưu chi, Cù đàm lưu chi. Người thành Ba la nại ở nam Ấn độ, họ Cù đàm, giòng Bà la môn. Sư đến Trung quốc vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy, ở thủ đô nhà Ngụy tại đất Nghiệp. Khoảng năm 538 đến năm 543, cùng với các sư Đàm diệu, Bồ đề lưu chi dịch chung kinh Chính pháp niệm xứ, luận Thuận trung v.v... Gồm 14 bộ 85 quyển. Từ đó về sau như thế nào, không được biết. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Tục cao tăng truyện; Bồ đề lưu chi truyện].
bát nhã lưu chi
Prajāruci (S)Trí HyCao tăng Ấn độ đời Bắc Ngụy.
bát nhã nhị chủng tướng
(般若二種相) Hai loại tướng Bát nhã. Cứ theo kinh Địa tạng thập luân quyển 10 phẩm Phúc điền tướng chép, thì Bát nhã có hai tướng thế gian và xuất thế gian: 1. Bát nhã thế gian, nghĩa là các Bồ tát chỉ nương vào sự đọc tụng, viết chép, lắng nghe, rồi vì người khác mà nói giáo lý trung đạo của ba thừa, khuyên họ tu hành chân chính để diệt trừ phiền não hoặc nghiệp. Nhưng đây chưa phải là Bát nhã tịch lặng chân thực, mà là Bát nhã có thấy có tướng (tức trí thế gian), cho nên vẫn còn bám dính, đắm trước, đó là Bát nhã thế gian. 2. Bát nhã xuất thế gian, nghĩa là khi các Bồ tát siêng năng tu tập đạo Bồ đề, tùy sức đọc tụng, viết chép, lắng nghe, rồi vì người khác, diễn nói chính pháp ba thừa, song trong lòng cũng như hư không, bình đẳng, rỗng lặng, lìa các danh tướng, cho nên không có chỗ bám dính, đắm trước, đó là Bát nhã xuất thế gian. (xt. Bát Nhã).
bát nhã phong
(般若鋒) Mũi nhọn Bát nhã. Trí tuệ Không của Bát nhã có khả năng chặt đứt hết các loại phiền não, cho nên dùng mũi nhọn để ví dụ. Chứng đạo ca (Đại 48, 396 trung) nói: Đại trượng phu, cầm gươm tuệ, mũi nhọn Bát nhã và ngọn lửa Kim cương.
bát nhã phương tiện quyết định thành tựu pháp
Prajāpaya-Viniscaya-Siddhi (S).
bát nhã phật mẫu
(般若佛母) I. Bát nhã Phật mẫu. Bát nhã là mẹ của Phật. Bát nhã là mẹ của các đại Bồ tát, hay sinh ra chư Phật, giữ gìn các Bồ tát. Vì giữa cha mẹ, thì công của mẹ là sâu nặng nhất, cho nên Phật lấy Bát nhã làm mẹ. [X. kinh Đại phẩm bát nhã phẩm Tát đà ba luân; luận Đại trí độ Q.34]. II. Bát nhã Phật mẫu. Bát nhã Phật mẫu trong Mật giáo được chia làm hai vị tôn, một của một môn và một của khắp các môn. Vị trước chỉ Bồ tát bát nhã trong viện Hư không tạng và viện Trí minh của Thai tạng giới, còn vị sau thì chỉ đức Đại nhật Như lai.
bát nhã quán tự tại
(般若觀自在) Một trong bốn mươi Quan âm. Cũng gọi Bảo kinh Quan âm. Hình tượng: tay phải để ở trước ngực, trên tay cầm kinh Bát nhã lý thú do ấn trí sinh ra; tay trái kết ấn Quyền (ấn nắm tay). Chân ngôn: Án (ọm) phạ nhật ra đạt ma (vajradharma-pháp Kim cương) bát ra nhã (parjĩà-trí tuệ) tố đát lam (sùtraô-kinh) Ma ha na dã (mahodaya lớn rộng) sa phạ hạ (svàhà). Người nào muốn cầu nghe nhiều, nên tu phép Bát nhã quán tự tại. [X. kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp].
bát nhã quán đảnh
Prajṣabhisheka (S), Wisdom initiation.
bát nhã sa di phật giáo sử
(般若沙彌佛教史) Pàli: Zàsanavaôsa. Vốn gọi là Phật giáo sử. Do tỉ khưu Bát nhã sa di (Pàli: Paĩĩasàmi) của Miến điện soạn. Nội dung chủ yếu tường thuật cuộc đời đức Phật, ba lần kết tập kinh điển Phật giáo ở Ấn độ và sự phát triển Phật giáo tại Miến điện. Đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa Phật giáo với quốc gia bắt đầu từ vua A nô luật đà, và sự liên quan giữa Phật giáo Miến điện và Phật giáo Tích lan, có dẫn ra hơn một trăm tác phẩm về Phật giáo. Trong tác phẩm này tác giả có giành khoảng một phần ba các chương để tường thuật lịch sử Phật giáo tại các nơi Tất la ha, Kim địa, Du na ca, Phạt na bà tư, A ba nan đà và Ca thấp di la.
Bát Nhã Tam Tạng
(般若三藏): xem Bát Nhã(s: Prajñā, 般若, 734-?) bên trên.
bát nhã thang
(般若湯) Nước sôi Bát nhã. Tiếng lóng dùng trong Thiền lâm để gọi rượu. Đông pha chí lâm: Các tăng sĩ gọi rượu là nước sôi Bát nhã, cá là thoi (để dệt cửi) lội nước, gà là rau xuyên qua bờ rào.
bát nhã thuyền
(般若船) Trí tuệ Bát nhã ví như thuyền bè đưa chúng sinh vượt qua biển sống chết, đến bờ Bồ đề, cho nên gọi là Bát nhã thuyền. [X. Thiên thủ kinh nhị thập bát bộ chúng thích].
bát nhã thập lợi
(般若十利) Mười điều lợi ích do tu Bát nhã mà được. Cứ theo kinh Nguyệt đăng tam muội quyển 6 chép, thì Bát nhã nghĩa là trí tuệ; Bồ tát nhờ tu hành Bát nhã mà thông suốt không ngại và được mười lợi ích sau: 1. Bồ tát soi rõ muôn pháp đều vắng lặng, cho nên tuy làm việc bố thí, nhưng không có ý tưởng về người bố thí, cũng không bám dính vào các vật dùng để bố thí, mà cũng chẳng thấy có người nhận của bố thí. 2. Bồ tát tuy giữ giới trong sạch, không hủy phạm; nhưng dùng tuệ Không soi rọi, nên không thấy có tướng người giữ, người phạm. 3. Bồ tát an trú nơi sức nhẫn, tuy hóa độ chúng sinh, nhưng nhờ tuệ Không soi rọi, nên không dấy lên ý tướng chúng sinh được độ. 4. Bồ tát đối với các phạm hạnh (hạnh trong sạch) tuy dũng mãnh tinh tiến, nhưng nhờ tuệ Không soi rọi, nên không thấy có tướng thân tâm tinh tiến. 5. Bồ tát tuy ở trong Thiền định, nhưng nhờ tuệ Không soi rọi, nên đối với tất cả công đức Thiền định, tâm không bám dính đắm trước. 6. Bồ tát hay dùng tuệ Không soi rọi, thấy suốt bản tính các pháp rỗng lặng, cũng biết rõ giữa Phật và ma thể vốn không khác, vì thế khi ma hiện tướng, Bồ tát vẫn không sợ hãi. 7. Bồ tát đối với hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian, không một pháp nào mà không thông suốt tỏ rõ, cho nên đối với các lời bàn luận của mọi người đều biện biệt được chính tà phải trái, mà không bị mê hoặc. 8. Bồ tát chiếu rọi các pháp, thấy suốt ngọn nguồn sống chết, không còn bị luân hồi làm chìm đắm. 9. Bồ tát tuy quán hết thảy tính không, nhưng thường đem lòng thương xót rộng lớn, thề cứu khổ cho hết thảy chúng sinh, khiến được giải thoát. 10. Bồ tát biết rõ pháp hai thừa Thanh văn, Duyên giác còn chìm nơi lí rỗng lặng mà chưa cùng tột, cho nên chỉ cầu đạo vô thượng bồ đề để được giải thoát.
bát nhã thời
(般若時) Là thời thứ tư trong năm thời giáo do tông Thiên thai đặt ra. Tức sau khi đã nói các kinh Phương đẳng, đức Phật bắt đầu tuyên thuyết các bộ kinh Bát nhã; thời kì này kéo dài khoảng 20 năm, bởi thế, y theo tên kinh mà gọi là thời Bát nhã. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
bát nhã tâm kinh
Hannya Shingyō (J)Tên một bộ kinhXem Ma ha Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh.
bát nhã tận tịnh hư dung
(般若盡淨虛融) Bát nhã, chỉ kinh Bát nhã. Tận tịnh (hết sạch), chỉ các pháp đều là không. Hư dung (rỗng không), vì các pháp đã là không thì không có tự tính cho nên có thể dung thông nhau và hòa nhập vào nhau mà không trở ngại. Nghĩa là kinh Bát nhã nói về lí các pháp đều không. (xt. Tận Tịnh Hư Dung).
bát nhã tự
(般若寺) Chùa Bát nhã. Vị trí chùa ở Lâu quan cốc ngọn núi phía đông của núi Ngũ đài thuộc tỉnh Sơn tây. Cứ theo truyền, sư Vô trước - người Ô châu - đời Đường đã từng đến đây để bái kiến bồ tát Văn thù, người đời sau mới xây chùa ở chỗ ấy. Khoảng năm Thành hóa đời Minh, pháp sư Lập thiền trụ trì chùa này, đạo hạnh rất thịnh, triều đình cho tiền của để làm lại phòng nhà. Ở sườn núi phía trái Lâu quan cốc có động Kim cương, t r o n g động có tàng trữ răng của bồ tát Văn thù. Đây là trung tâm tín ngưỡng của Phật giáo từ xưa, nay thuộc về chùa Lạt ma.
bát nhã đa la
Prajnàdhàra (S) 27th Indian patriarch.
; (般若多羅) (? - 457) Phạm:Prajĩàtàra. Là tổ thứ 27 trong 28 tổ ở Tây thiên (Ấn độ) do Thiền tông lập. Cũng gọi Anh lạc Đồng tử. Người đông Thiên trúc, dòng Bà la môn. Cha mẹ mất sớm, thường đi rong trong làng xóm, hành động gần giống như Thường bất khinh Bồ tát. Khoảng hai mươi tuổi, gặp tổ thứ 26 Bất như mật đa, nhận sự phó chúc mà trở thành tổ thứ 27 ở Tây thiên. Sau khi được pháp, tổ đến nước Hương chí ở miền nam Thiên trúc, độ cho người con thứ ba của nhà vua là Bồ đề đa la (tức Bồ đề đạt ma) và giao phó pháp. Sau đó không lâu, tổ tự thiêu mà tịch, không rõ tuổi thọ. Sau, ngài Bồ đề đạt ma đông du đến Trung quốc, là tổ đầu tiên của Thiền tông Trung quốc. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.9 ; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
bát nhã đào thải
(般若淘汰) Bát nhã gạn lọc. Theo giáo phán do tông Thiên thai thành lập, thì kinh Bát Nhã tuyên nói lý các pháp đều không là để gạn lọc gột bỏ tư tưởng chấp pháp của Thanh văn. Lại kinh Bát nhã hội thông hết thảy pháp làm pháp Đại thừa, muốn dùng pháp Đại thừa dung thông tình chấp của hai thừa, vì thế mới dùng bốn chữ Dung thông đào thải để giải rõ ý của Bát nhã bộ.
bát nhã đăng luận
Prajāpradīpa (S)Do ngài Thanh Biện trước tác.
; (般若燈論) Gồm 15 quyển. Cũng gọi Bát nhã đăng luận thích, Bát nhã đăng. Ngài Thanh biện (Phạm: Bhavya) soạn, sa môn Na la phả ca la mật đa la đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung sách này là ngài Thanh biện đã đứng trên quan điểm của phái Trung quán tự lập (Phạm: Madhyamaka-svàtantrika) để chú thích các chương trong luận Trung quán của bồ tát Long thụ mà thành. Đặc trưng tư tưởng trong sách này là lấy việc giữ gìn một cách nghiêm túc cái học Trung quán của bồ tát Long thụ đã được truyền nối từ trước đến nay làm nền tảng, cho nên, không những chỉ luận phá tà kiến của ngoại đạo và Tiểu thừa, mà còn phê phán ngay cả học thuyết của luận sư Phật hộ là người cùng trong phái Trung quán nữa. Một đặc điểm khác, đối với lập trường của phái Du già, chủ trương của sách này trái hẳn với quan điểm của các học giả Trung quán trước nay, nhất là kiến giải đối với Thế tục đế và Thắng nghĩa đế, thì ý thú lại càng khác xa. Ngoài ra, tác giả sách này còn vận dụng luận lí Nhân minh rất thạo. Trong suốt bộ sách, phương thức biện luận một cách sắc bén, khéo léo, các chi Tôn Nhân Dụ hoàn chỉnh cân đối, dùng chúng để đánh phá lập luận của đối phương: đó là điểm độc đáo của sách này. Nguyên văn tiếng Phạm của tác phẩm này hiện nay đã mất, bản Hán dịch thì không được hoàn bị, bản dịch Tây tạng được thu vào Đan châu nhĩ, đề tên là: Bát nhã đăng căn bản trung luận tụng (Phạm: Prajĩàpradìpa-mulamadhyamaka-vftti), đến nay vẫn còn, được các học giả coi trọng hơn bản Hán dịch. Trong các bản chú sớ sách này, bản nổi tiếng hơn cả là: Bát nhã đăng sớ (Phạm: Prajĩàpradìpa-ỉìkà) của Quan thệ (Phạm: Avalokitavrata), là tư liệu trọng yếu để tìm hiểu về phái Trung quán và phái Du già ở thời kỳ cuối tại Ấn độ. [X. luận Biện chính Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
bát nhã đăng luận kinh
Prajnàdipà-sàstra-kàrika (S).
bát nhã đăng luận thích
Prajnādipā śāstra kārika (S)Do ngài Thanh Biện biên soạn. Prajāpradīpa-ṭīkā (S)Do ngài Quan Âm Cấm trước tác (đệ tử của ngài Thanh Biện).
bát nhã đường
Hannya-dō (J).
bát nhã đầu
(般若頭) Một chức vị trong Thiền viện, trông coi việc đọc tụng kinh Bát nhã, khuyến hóa đàn việt (tín đồ) giúp đỡ Thiền lâm để mở rộng ruộng phúc. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4 mục Nhai phường thủy đầu thán đầu].
Bát nhẫn
八忍; C: bārěn; J: hachinin;|Tám loại nhẫn nhục, kết hợp với Tám trí (Bát trí 八智) để cấu thành Mười sáu tâm (Thập lục tâm 十六心). Mỗi loại nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó có tương quan. Những loại nhẫn nầy được trải qua trong giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp nhẫn (苦法忍); 2. Khổ loại nhẫn (苦類忍); 3. Tập pháp nhẫn (集法忍); 4. Tập loại nhẫn (集類忍); 5. Diệt pháp nhẫn (滅法忍); 6. Diệt loại nhẫn (滅類忍); 7. Đạo pháp nhẫn (道法忍); 8. Đạo loại nhẫn (道類忍).
bát nhẫn bát trí
(八忍八智) Tám nhẫn tám trí. Nghĩa là ở ngôi Kiến đạo quán xét lí bốn đế, mà sản sinh nhẫn, trí vô lậu, đều có tám thứ. Đây cũng là mười sáu tâm kiến đạo. Cũng gọi bát nhẫn bát quán. Trong tám nhẫn thì bốn nhẫn trước là nhịn chịu và ấn chứng bốn phép nhẫn của bốn đế ở cõi Dục, tức là khổ pháp nhẫn, tập pháp nhẫn, diệt pháp nhẫn và đạo pháp nhẫn. Còn bốn nhẫn sau là nhịn chịu và ấn chứng bốn loại nhẫn của bốn đế ở cõi Sắc và cõi vô Sắc, tức là khổ loại nhẫn, tập loại nhẫn, diệt loại nhẫn và đạo loại nhẫn. Vì tám nhẫn trên đây chính thức diệt trừ kiến hoặc trong ba cõi, cho nên là đạo vô gián. Kiến hoặc đã bị dứt hết, sự quán chiếu trở nên rõ ràng, thì là tám trí, tức khổ pháp trí, tập pháp trí, diệt pháp trí, đạo pháp trí, khổ loại trí, tập loại trí, diệt loại trí, đạo loại trí v.v... là đạo giải thoát. Nhẫn là nhân của trí, trí là quả của nhẫn. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Lục Tâm, Kiến Đạo).
Bát nhẫn 八忍
[ja] ハチニン hachinin ||| Eight tolerances, which, together with the eight wisdoms 八智, constitute the sixteen minds 十六心. Each one of the tolerances (or causes) precedes an insight with which it is associated. These are experienced in the Path of Seeing 見道. They are: (1) the tolerance of the dharma of suffering 苦法忍; (2) the tolerance of kinds of suffering 苦類忍; (3) the tolerance of the dharma of arising 集法忍; (4) the tolerance of kinds of arising 集類忍; (5) the tolerance of the dharma of cessation 滅法忍; (6) the tolerance of kinds of cessation 滅類忍; (7) the tolerance of the Way 道法忍; (8) the tolerance of kinds of the way 道類忍. => Tám món nhẫn nhục, kết hợp với Tám trí (Bát trí) để cấu thành Mười sáu tâm (Thập lục tâm). Mỗi món nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó kết hợp. Những món nhẫn nầy được trải qua trong giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp nhẫn 2. Khổ loại nhẫn. 3. Tập pháp nhẫn. 4. Tập loại nhẫn. 5. Diệt pháp nhẫn. 6. Diệt loại nhẫn. 7. Đạo pháp nhẫn. 8. Đạo loại nhẫn.
bát nhẫn, bát trí
The eight ksànti, or powers of patient endurance. In the dục giới desire-realm and the two realms above it sắc giới realm of form, vô sắc giới realm of formless, it is necessary to acquire the full realization of the truth of the Tứ Đế Four Noble Truths; these four give rise to the Tứ pháp nhẫn i.e. Khổ, tập, diệt, đạo pháp nhẫn, the endurance or patient pursuit that results in their realization. In the realm of form and the formless, they are called the Tứ loại nhẫn. By patient meditation the kiến hoặc false or perplexed views will cease, and the bát trí eight kinds of jnàna or gnosis be acquired; therefore trí results from nhẫn. The bát trí are khổ, tập, diệt, đạo pháp trí and khổ, tập, diệt, đạo loại trí.
bát niết bàn
Xem Nhập Niết bàn.
; Parinirvàna (S). Complete Nirvàna; eternal peace.
Bát niết-bàn 般涅槃
[ja] ハツネハン hatsunehan ||| (parinirvāna). Perfect nirvāna. Perfect awakening. The death of Śākyamuni. The entrance into extinction that removes one from the cycle of saṃsāra.〔法華經 T 262.9.35a08〕 Perfect tranquility. => (s: parinirvāna). Niết-bàn viên mãn. Cứu cánh giải thoát. Sự viên tịch của Đức Phật Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Thể nhập vào tịch diệt, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Tịch tĩnh.
bát niệm
Eight lines of thought in the Trí độ luận, for resisting Màra-attacks and evil promptings during the meditation on impurity, etc: 1-Niệm Phật, thought of Buddha; 2-Niệm pháp of the Law; 3-Niệm tăng the fraternity 4-Niệm giới the commandments; 5-Niệm xả equanimity; 6-Niệm trời devas 7-Niệm hơi thở breathing; 8-Niệm chết death.
; (八念) I. Bát niệm. Tám niệm. Niệm, tức là nhớ nghĩ ở trong tâm. Luận Đại trí độ quyển 21 chép, các đệ tử Phật ở những nơi vắng vẻ, cho đến rừng núi hoặc đồng không mông quạnh, khéo tu phép quán nhơ bẩn, chán ngấy thân mình, chợt sinh sợ hãi, lại bị ác ma làm những việc xấu, não loạn tâm mình, khiến càng thêm sợ hãi, bởi thế, đức Như lai vì các đệ tử ấy mà nói phép Bát niệm. Nếu trong tâm thường giữ tám niệm này, thì sự lo sợ sẽ tan biến. 1. Niệm Phật, nghĩa là người tu Thiền quán, khi gặp những chướng ngại sợ hãi, thì phải nhớ đến chư Phật từ bi cứu giúp chúng sinh, công đức vô lượng, một lòng như thế, niệm niệm không bỏ, thì chướng nạn sợ hãi sẽ tự tiêu trừ. 2. Niệm pháp, sức pháp rộng lớn, thông suốt vô ngại, có khả năng diệt trừ phiền não. Một lòng nhớ nghĩ như thế, niệm niệm không bỏ, thì chướng ngại sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. 3. Niệm tăng, tăng là đệ tử của Phật, hay tu đạo chính, khéo chứng quả Thánh, là ruộng phúc ở đời. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không rời, thì chướng ngại sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. 4. Niệm giới, giới là gốc của vô thượng bồ đề, có khả năng ngăn ngừa mọi điều ác, được nơi an ổn. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không rời, thì chướng ngại sẽ tự tiêu diệt. 5. Niệm xả, xả có hai thứ: thí xả (cho không tiếc), có thể sinh công đức lớn; xả phiền não (vứt bỏ phiền não), nhờ thế được trí tuệ lớn. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không rời, thì chướng ngại sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. 6. Niệm thiên (nhớ nghĩ trời). Trời tức Tứ thiên vương cho đến trời Tha hóa tự tại, quả báo trong sạch, lợi ích tất cả. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không bỏ, thì chướng nạn sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. 7. Niệm xuất nhập tức (theo dõi hơi thở ra vào). Hơi thở ra vào từ hai lỗ mũi, là phương thuốc thần diệu chữa bệnh tán loạn, là con đường dẫn dắt tới Thiền định. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không thôi, thì chướng nạn sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. 8. Niệm tử (nhớ tới cái chết). Chết có hai thứ: chết vì quả báo đã hết, gọi là tự chết. Chết vì duyên khác, tức gặp tai nạn mà chết. Hai cái chết này, ngay từ lúc sinh ra, đã thường đeo theo thân người, không có chỗ trốn tránh. Nếu một lòng nhớ nghĩ, niệm niệm không thôi, thì chướng ngại sợ hãi sẽ tự tiêu diệt. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.1 phẩm Tựa ; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, thượng]. II. Bát niệm. Chỉ tám niệm của bậc đại nhân. (xt. Bát Đại Nhân Giác).
bát nê hoàn
Xem Nhập Niết bàn.
; Xem Bát Niết bàn.
; (般泥洹) Phạm:parinirvàịa. Còn gọi là Bát Niết bàn. Chỉ trạng thái dập tắt hoặc thổi tắt. Sau khi lửa phiền não đã bị dập tắt, thổi tắt hết, thì đạt đến hoàn thành trí tuệ mà tới cảnh giác ngộ, Phật giáo lấy việc đạt đến cảnh giới này làm mục đích cuối cùng. Niết bàn tịch tĩnh là một trong ba ấn. (xt. Niết bàn, Thường Lạc Ngã Tịnh).
bát năng lập
(八能立) Tám năng lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là tám yếu tố lập luận trong Nhân minh xưa, cũng gọi Bát thành lập nhân. Có hai thuyết: luận Du già sư địa quyển 15 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 11, nêu tám phần: Tông, Nhân, Dụ, Đồng loại, Dị loại, Hiện lượng, Tỉ lượng, Thánh giáo lượng, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập thì dùng Hợp và Kết thay cho Đồng loại và Dị loại. Tông, là đoán án của lập luận, tức nay là Mệnh đề. Nhân là lý do của Tông. Dụ là ví dụ. Như tiếng là vô thường (Tông), vì nó được tạo ra (Nhân), như cái lọ (Dụ). Như vậy, vô thường được tạo ra là đồng; trái lại thì là dị loại. Hiện lượng là trực giác hiện trước; tỉ lượng là so sánh suy lý; Thánh giáo lượng là căn cứ nơi Thánh điển. Ba lượng này là nền tảng đề ra lập luận về mặt tri thức. Hợp, là chỗ Tôn Nhân Dụ hợp thành, như cái lọ có tính được tạo tác, lọ là vô thường, tiếng có tính được tạo tác, tiếng cũng vô thường. Đây gọi là phương pháp năm chi (phần): Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.1 phần cuối; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1, Q.5]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp).
Bát Nạn
Bát Nạn (s: aṣṭa-akṣaṇa, p: aṭṭha akkhaṇā, 八難): ý dịch là Bát Nạn Xứ (八難處), Bát Nạn Giải Pháp (八難解法), Bát Vô Hạ (八無暇), Bát Bất Nhàn (八不閑), Bát Phi Thời (八非時), Bát Ác (八惡); là 8 loại nạn xứ, tức là 8 loại cảnh giới mà một vị tu hành không thấy được Phật, không được nghe chánh pháp, không tu phạm hạnh để hướng đến đạo Bồ Đề. Đó là: (1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄); (2) Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生); (3) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼); (4) Trường Thọ Thiên (s: dīrghāyu-deva, p: digghāyu-deva, 長壽天, còn gọi là [無想天], tuổi thọ của chư thiên trên cõi trời này còn nhiều hơn tuổi thọ ở Bắc Cu Lô Châu [s: Uttara-kuru, 北俱盧洲], không có duyên gặp Phật, nghe pháp và thấy chư tăng); (5) biên địa (s; pratyanta-janapada, p: paccanta-janapada, 邊地); (6) manh lung ám á (s: indriya-vaikalya, p: indriya-vekalla, 盲聾瘖啞, mù, điếc, câm, ngọng, các căn bị hủy hoại, mất đi chức năng của chúng); (7) thế trí biện thông (s: mithyā-darśana, p: micchā-dassana, 世智辯聰, tức tà kiến, nhận thức, quan điểm không đúng); và (8) Phật tiền Phật hậu (s: tathāgatānāṁ anutpāda, p: tathāgatānāṁ anuppāda, 佛前佛後, sanh ra trước Phật hay sau Phật). Như trong Thập Thượng Kinh (十上經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō No. 1) quyển 9, có giải thích rằng: “Vân hà Bát Nan Giải Pháp ? Vị Bát Bất Nhàn phương tu phạm hạnh, vân hà bát ? Như Lai chí chơn xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hữu nhân sanh Địa Ngục trung, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, nhi hữu chúng sanh tại Súc Sanh trung, Ngạ Quỷ trung, Trường Thọ Thiên trung, biên địa vô thức, vô Phật pháp xứ, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hoặc hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, nhi hữu tà kiến, hoài điên đảo tâm, ác hạnh thành tựu, tất nhập Địa Ngục, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hoặc hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, lung manh ám á, bất đắc văn pháp, tu hành phạm hạnh, thị vi bất nhàn xứ; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác bất xuất thế gian, vô hữu năng thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, nhi hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, bỉ chư căn cụ túc, kham thọ Thánh giáo, nhi bất trị Phật, bất đắc tu hành phạm hạnh, thị vi Bát Bất Nhàn (云何八難解法、謂八不閑妨修梵行、云何八、如來至眞出現於世、說微妙法、寂滅無爲、向菩提道、有人生地獄中、是爲不閑處、不得修梵行、如來至眞出現於世、說微妙法、寂滅無爲、向菩提道、而有眾生在畜生中、餓鬼中、長壽天中、邊地無識、無佛法處、是爲不閑處、不得修梵行、如來至眞等正覺出現於世、說微妙法、寂滅無爲、向菩提道、或有眾生生於中國、而有邪見、懷顛倒心、惡行成就、必入地獄、是爲不閑處、不得修梵行、如來至眞等正覺出現於世、說微妙法、寂滅無爲、向菩提道、或有眾生生於中國、聾盲瘖啞、不得聞法、修行梵行、是爲不閑處、如來至眞等正覺不出世間、無有能說微妙法、寂滅無爲、向菩提道、而有眾生生於中國、彼諸根具足、堪受聖敎、而不值佛、不得修行梵行、是爲八不閑, thế nào là Tám Pháp Khó Giải Quyết ? Tức là Tám Điều Không Yên làm trở ngại cho việc tu phạm hạnh, thế nào là tám ? Đức Như Lai chí chơn xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, nếu có người sanh vào trong Địa Ngục, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, mà có chúng sanh nào trong cõi Súc Sanh, trong cõi Ngạ Quỷ, trong cõi Trường Thọ Thiên, biên địa không biết, nơi chẳng có Phật pháp, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, hoặc có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, mà có tà kiến, mang tâm điên đảo, thành tựu hạnh ác, tất vào Địa Ngục, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, hoặc có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, bị điếc, đui, câm, ngọng, không thể nghe pháp, tu hành phạm hạnh, là nơi không yên ổn; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, không xuất hiện giữa đời, không thể nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, mà có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, các căn người đó đầy đủ, có thể thọ Thánh giáo, mà không gặp được Phật, không thể tu hành phạm hạnh; đó là Tám Điều Không Yên).” Hay như Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō No. 1909) quyển 7 cũng giải thích tương tự: “Bát Nạn, nhất giả Địa Ngục, nhị giả Ngạ Quỷ, tam giả Súc Sanh, tứ giả biên địa, ngũ giả Trường Thọ Thiên, lục giả tuy đắc nhân thân lung tàn bách tật, thất giả sanh tà kiến gia, bát giả sanh Phật tiền, hoặc sanh Phật hậu, hữu thử Bát Nạn (八難、一者地獄、二者餓鬼、三者畜生、四者邊地、五者長壽天、六者雖得人身癃殘百疾、七者生邪見家、八者生佛前、或生佛後、有此八難, Tám Nạn, một là Địa Ngục, hai là Ngạ Quỷ, ba là Súc Sanh, bốn là biên địa, năm là Trường Thọ Thiên, sáu là tuy được thân người nhưng bị tàn tật trăm bệnh, bảy là sanh vào nhà tà kiến, tám là sanh ra trước Phật, hoặc sanh sau Phật, có Tám Nạn này).” Tắm Phật cũng có công đức xa lìa được Tám Nạn này, như trong Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō No. 698) có dạy: “Trường từ Bát Nạn, vĩnh xuất khổ duyên (長辭八難、永出苦緣, từ bỏ Tám Nạn, mãi ra khỏi duyên khổ).” Hoặc trong Di Sơn Phát Nguyện Văn (怡山發願文) của Thiền Sư Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, Isan Kōnen, ?-?) cũng có câu: “Chấp trì cấm giới, trần nghiệp bất xâm, nghiêm hộ oai nghi, quyên phi vô tổn, bất phùng Bát Nạn, bất khuyết Tứ Duyên (執持禁戒、塵業不侵、嚴護威儀、蜎飛無損、不逢八難、不缺四緣, vâng giữ giới cấm, trần nghiệp chẳng xâm, gìn giữ oai nghi, bọ bay chẳng hại, không gặp Tám Nạn, không khuyết Bốn Duyên).” Ngoài ra, theo giải thích của thế tục, Tám Nạn là 8 thứ tai ách: đói, khát, lạnh, nóng, lửa, nước, đao, binh.
Bát nạn
xem Tám nạn.
; 八難; C: bānán; J: hachinan; S: aṣṭāvakṣanā;|Là tám nạn, tám trường hợp không may có thể xảy ra trên con đường đạt giác ngộ của một tu sĩ. Bát nạn bao gồm:|1. Ðịa ngục (地獄; s: naraka); 2. Súc sinh (畜生; s: tiryañc); 3. Ngạ quỷ (餓鬼; s: preta); 4. Trường thọ thiên (長壽天; s: dīrghāyur-deva), là cõi trời thuộc sắc giới với thọ mệnh cao. Thọ mệnh cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc hành giả, làm hành giả dễ quên những nỗi khổ của sinh lão bệnh tử trong Luân hồi; 5. Biên địa (邊地; s: prat-yantajanapāda), là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học chính pháp; 6. Căn khuyết (根缺; s: indriyavaikalya), không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, điếc…; 7. Tà kiến (雅見; s: mithyādarśana), những kiến giải sai lệch, bất thiện; 8. Như Lai bất xuất sinh (如來不出生; s: tathāga-tānām anutpāda), nghĩa là sinh sống trong thời gian không có Phật xuất hiện hoặc giáo pháp của Ngài.
bát nạn
Aṣṭvākṣanā (S), Eight misfor-tunesXem Tám hoàn cảnh buồnGồm: địa ngục - ngạ quỉ - bàng sanh - câm ngọng đui điếc - sanh vào thời không có Phật pháp - sanh ở Bắc cu lư châu - sanh ở cỏi Vô thưởng thiên - Thề trí biện thông.
; Eight calamities; eight conditions in which it is difficult to see a Buddha or hear his dharma: 1-Địa ngục, hell; 2-Ngạ quỉ, hungry ghosts; 3-Súc sinh, animals; 4-Bắc cu lư châu, uttarakara where all is pleasant 5-Trường thọ thiên (Vô tưởng), long life heavens; 6-Mù, điếc, câm ngọng, blind, deaf, dumb; 7-Thế trí biện thông, worldly philosopher; 8-Sinh trước Phật, sau Phật, born in the intermediate period between a Buddha and His Successor.
; I. Bát nạn. Tám nạn. Phạm: awỉàv akwaịàøø#, Pàli: aỉỉakkhaịà. Là tám loại chướng nạn khiến không được gặp Phật, không được nghe chính pháp. Cũng gọi bát nạn xứ, bát nạn giải pháp, bát vô hạ, bát bất nhàn, bát phi thời, bát ác, bát bất văn thời tiết. Trường a hàm quyển 9 kinh Thập thượng, Trung a hàm quyển 29 kinh Bát nạn, nêu tám nạn như sau: 1. Nạn ở địa ngục, vì gây các nghiệp ác, chúng sinh phải rơi vào địa ngục, đêm dài mờ mịt, chịu khổ không ngớt, không được thấy Phật nghe pháp. 2. Nạn ở trong quỉ đói. Có ba loại quỉ đói:- Quỉ đói nghiệp nặng nhất, suốt kiếp không được nghe tên nước uống. - Quỉ đói nghiệp nặng vừa, chỉ ở nhân gian rình mò kiếm được máu mủ phẩn giải để ăn. - Quỉ đói nghiệp nhẹ, thỉnh thoảng được bữa no, nhưng bị đánh đập xua đuổi, bị ngăn sông lấp biển, chịu vô lượng khổ. 3. Nạn ở trong súc sinh, súc sinh có nhiều loại, nhưng cũng đều theo nhân chịu báo, hoặc được người ta nuôi, hoặc ở núi rừng biển cả, thường bị đánh đập giết hại, hoặc ăn nuốt lẫn nhau, chịu khổ vô cùng. 4. Nạn ở cõi trời sống lâu, cõi trời này sống lâu năm trăm kiếp. Tức là trời Vô tưởng trong Thiền thứ tư ở cõi Sắc. Vô tưởng, có nghĩa là tâm tưởng không hoạt động nữa, như côn trùng tôm cá dưới lớp băng đóng cứng; những người tu hành ngoại đạo phần nhiều sinh vào cõi này, nên bị ngăn không được thấy Phật nghe pháp. 5. Nạn sinh vào Uất đơn việt. Uất đơn việt, dịch là nơi sung sướng. Những người sinh nơi đây, sống một nghìn tuổi, không ai chết non, tham đắm hưởng lạc, không nhận sự dạy bảo, nên Thánh nhân không sinh vào đây, không được thấy Phật nghe pháp. 6. Nạn mù điếc câm ngọng, những người này tuy được sinh ở trung quốc (chỉ vùng Ma kiệt đà ở trung bộ Ấn độ xưa), nhưng nghiệp chướng sâu nặng, mù điếc câm ngọng, các giác quan không hoàn toàn, tuy gặp Phật ra đời, nhưng không thấy được Phật, không nghe được Ngài nói pháp. 7. Nạn thế trí biện thông, nghĩa là tuy khôn ngoan lanh lợi, nhưng chỉ đắm theo kinh sách ngoại đạo, không tin chính pháp xuất thế. 8. Nạn sinh ra trước Phật sau Phật, nghĩa là do nặng nghiệp ít phúc, nên sinh trước Phật sau Phật, không được thấy Phật nghe pháp. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 nói, thì vâng giữ pháp tám trai giới, có thể đối trị tám nạn trên đây. Còn theo luận Thành thực quyển 2 nói, thì dùng bốn luân để đối trị tám nạn. Tức là: a. Trụ nơi thiện, có thể được sinh nơi trung quốc. b. Nương nơi người thiện, có thể sinh gặp đời có Phật. c. Tự phát nguyện chân chính, có thể đầy đủ chính kiến. d. Đời trước trồng căn lành, có thể được các căn toàn vẹn. [X. luận Đại trí độ Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.8; kinh Duy ma, Q.hạ phẩm Hương tích Phật]. II. Bát nạn. Khi thụ giới, tự tứ v.v... nếu xảy ra tám nạn, thì được phép nói tự tứ vắn tắt. Tám nạn ấy là: nạn vua quan, nạn giặc cướp, nạn lửa cháy, nạn nước lụt, nạn đau ốm, nạn người, nạn chẳng phải người, nạn trùng độc. [X.luật Tứ phần Q.34, Q.38].
Bát Nạn Giải Pháp
(八難解法): xem Bát Nạn bên trên.
Bát Nạn Xứ
(八難處): xem Bát Nạn bên trên.
Bát nạn xứ
xem Tám nạn.
Bát nạn 八難
[ja] ハチナン hachinan ||| 'Eight difficulties.' Eight circumstances in which it is difficult to see the Buddha or hear his teaching: (1) The condition of a hell-being; (2) Hungry ghost; (3) Animal; (4) In the long-life heavens (where life is long and easy); (5) In Uttara-kuru (the northern continent where all is pleasant); (6) As deaf, blind or dumb; (7) As a worldly philosopher; (8) In the intermediate time between the life of a Buddha and his successor. => Tám hoàn cảnh trong đó khó được gặp Phật và nghe Phật pháp: 1. Sống trong địa ngục. 2. Sinh làm ngạ quỷ (quỷ đói). 3. Chịu thân súc sinh. 4. Sinh trong cõi trời Trường thọ (mạng sống lâu dài, đời sống dễ chịu) 5. Sinh vào Uất-đan việt (s: Uttara-kuru; Bắc Câu lư châu), nơi cuộc sống rất thoải mái. 6. Làm người bị đui mù, điếc, câm, ngọng. 7. Thế trí bịên thông. 8. Sinh trước hay sau thời Đức Phật.
bát nột đắc ca vương
Xem Mã Đầu vương.
Bát Phong
(八風): tám ngọn gió, còn gọi là Bát Pháp (八法), Bát Thế Phong (八世風); là 8 pháp hay ngọn gió được thế gian yêu, ghét, có thể làm động nhân tâm, nên lấy gió làm ví dụ. Tám ngọn gió ấy gồm: (1) Lợi (利), tức lợi ích; phàm có lợi ích đối với mình, đều gọi là lợi. (2) Suy (衰), tức suy diệt; phàm có sự suy tổn đối với mình, đều gọi là suy. (3) Hủy (毀), tức hủy báng, vì nhân ghét người nào đó, dùng lời không tốt để nói xấu họ. (4) Dự (譽), tức khen ngợi, tán thán, nghĩa là do vì yêu thích người nào đó, cho dù chưa hề gặp mặt, cũng lấy lời lẽ tốt đẹp mà khen ngợi. (5) Xưng (稱), xưng dương, nêu cao; nghĩa là do vì tôn trọng người nào đó, thường xưng dương họ trước mọi người. (6) Cơ (譏), tức quở trách, chê bai; nghĩa là do vì ghét người nào đó, dù không có chuyện gì, cũng dối làm cho thành sự thật, chê bai, trình bày trước mọi người. (7) Khổ (苦), tức có ý nghĩa bức bách; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh không tốt mà thân tâm phải chịu bức bách, khổ não. (8) Lạc (樂), ý là vui mừng; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh tốt mà thân tâm đều vui mừng, hoan hỷ. Trong Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門, Taishō Vol. 85, No. 2834) có câu: “Thân thể cập thủ túc, tịch nhiên an bất động, Bát Phong xuy bất động (身體及手足、寂然安不動、八風吹不動, thân thể và tay chân, vắng lặng yên chẳng động, Tám Gió thổi chẳng động).” Hay như trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (禪門諸祖師偈頌, CBETA No. 1298), phần Tô Khê Hòa Thượng Mục Hộ Ca (蘇溪和尚牧護歌) lại có câu: “Sanh dã do như trước sam, tử dã hoàn đồng thoát khố, sanh tử vô hỷ vô ưu, Bát Phong khởi năng kinh bố (生也猶如著衫、死也還同脫袴、生死無喜無憂。八風豈能驚怖, sống cũng giống như mặc áo, chết chẳng khác gì cởi quần, sống chết chẳng vui chẳng buồn, Tám Gió tại sao kinh sợ).” Hoặc như trong Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, CBETA No. 1449) có đoạn rằng: “Phổ Hóa Hàn Sơn Thập Đắc chi lưu, chỉ yếu đương nhân thời thời tỉnh bộ, bất tùy Bát Phong sở phiêu, hốt nhiên nhất niệm tương ưng, tức thị đáo gia thời tiết (普化寒山拾得之流、只要當人時時省捕、不隨八風所漂、忽然一念相應、卽是到家時節, dòng Thiền của Phổ Hóa, Hàn Sơn, Thập Đắc, chỉ cần người ấy luôn luôn tỉnh giác nắm bắt, chẳng bị Tám Gió cuốn theo, đột nhiên một niệm tương ưng, tức là đến lúc về nhà).” Tương truyền thi sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) có làm một bài thơ thể hiện chỗ sở ngộ của ông và trình lên cho Thiền Sư Phật Ấn (佛印) xem, trong đó có hai câu rằng: “Bát Phong xuy bất động, đoan tọa Tử Kim Đài (八風吹不動、端坐紫金台, Tám Gió thổi chẳng động, ngồi yên Vàng Tía Đài).”
Bát phong
xem Tám pháp.
; 八風; S: aṣṭalokadharma; Nghĩa là tám ngọn gió.|Chỉ tám sự việc ràng buộc người vào thế gian, lay chuyển lòng người, đó là: 1./2. Ðược (利; lợi; s: lābha), mất (衰; suy; s: alābha); 3./4. Vinh (稱; xưng; s: yaśa), nhục (譏; cơ; s: ayaśa); 5./6. Khen (譽; dự; s: praśaṅsa), chê (毀; huỷ; s: nindā); 7./8. Vui (樂; lạc; s: sukha), khổ (苦; khổ; s: duḥkha).
bát phong
Aṣṭalokadharma (S), Eight winds= bát thế phong Là được (lợi), mất (suy), khen (dự), chê (hủy), vinh (xưng), nhục (cơ), khỗ (khổ), vui (lạc).
; The eight winds, or influences which fan the passions, i.e. lợi gain, suy loss; hủy defamation, dự eulogy; xưng praise, cơ ridicule; khổ sorrow, lạc joy.
; Là được, mất, khen, chê, vinh, nhục, khổ,vui.
; (八風) Tám gió. Cũng gọi bát pháp, bát thế phong. Nghĩa là tám pháp này là những cái người đời yêu và ghét, hay khêu động lòng người, cho nên dùng gió để ví dụ, gọi là bát phong. Nếu tâm có chủ, ở yên nơi chính pháp, không bị cái yêu cái ghét mê hoặc làm cho tâm loạn, thì không bị tám gió lay động. Tám gió là : 1. Lợi, là lợi ích. Hễ cái gì có ích cho ta, đều gọi là lợi cả. 2. Suy, là suy diệt, phàm cái gì tổn hại cho ta, đều gọi là suy cả. 3. Hủy, là chê bai, vì ghét người ta mà dùng lời nói khác lạ để chê bai. 4. Dự, là khen ngợi, khi thích một người nào đó thì, tuy không có mặt người ấy, cũng dùng những lời tốt đẹp để khen ngợi. 5. Xưng, là tán tụng, vì tôn sùng một người nào đó, nên ở chỗ đông người đều tán tụng điều hay của người ấy. 6. Cơ, là dèm pha, nghĩa là vì ghét một người nào đó, nên vốn chẳng có chuyện gì cũng đặt điều như thật để dèm pha họ trước công chúng. 7. Khổ, nghĩa là gặp duyên ác, trong cảnh ngộ éo le, cảm thấy buồn khổ. 8. Lạc, hàm ý vui sướng. Nghĩa là gặp duyên tốt, cảnh ngộ tốt, thâm tâm đều vui sướng. Đại thừa vô sinh phương tiện môn (Đại 85, 1274) nói: Thân thể và tay chân, lặng yên không động đậy, tám gió thổi chẳng lay. [X. Phật địa kinh luận Q.5; Hành tông kí Q.1].
Bát pháp
xem Tám pháp.
bát pháp
The eight dharmas, things or methods. There are three groups: 1-idem Bát phong; 2-Tứ đại and tứ vi; 3-The eight essential things, i.e. giáo instruction; lý doctrine; trí knowledge, or wisdom attained; ly cutting away of delusion; hành practice of the religious life; vị progressive status; nhân producing; quả the fruit of saintliness.
; (八法) I. Bát pháp (tám yếu tố). Bốn yếu tố cực lớn (tứ đại) đất, nước, lửa, gió và bốn yếu tố cực nhỏ (tứ vi) sắc, hương, vị, xúc gọi chung là bát pháp. 1. Đất, tính của đất cứng chắc, nghĩa là mắt tai mũi lưỡi thân thuộc đất. Như tóc lông móng răng, da thịt gân xương v.v... đều thuộc đất. 2. Nước, tính của nước ướt át, như bọt nước, nước mắt, máu, mủ, mồ hôi, nước miếng, đờm, dãi, tinh khí, đại, tiểu tiện v.v... đều thuộc nước. 3. Lửa, tính của lửa là cháy nóng, tức hơi ấm trong người thuộc lửa. 4. Gió, tính của gió là chuyển động, tức hơi thở ra vào, và sự chuyển động của thân thể người ta thuộc về gió. 5. Sắc vi, nghĩa là mắt thấy các loại sắc, vì sắc nhỏ nhiệm vi tế, cho nên gọi là vi. 6. Hương vi, nghĩa là mũi ngửi các mùi thơm, vì nó nhỏ nhiệm, nên cũng gọi là vi. 7. Vị vi, nghĩa là lưỡi nếm các mùi vị, mùi vị cũng nhỏ nhiệm. 8. Xúc vi, nghĩa là thân thể cảm biết sự đụng chạm, cọ xát, vì nó nhỏ nhiệm, nên gọi là xúc vi. [X. kinh Viên giác]. II. Bát pháp. Chỉ tám pháp ở thế gian. Tức là lợi, không lợi, tiếng tăm, không tiếng tăm, bàn cãi, không bàn cãi, khổ, sướng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.39; kinh Ấm trì nhập]. III. Bát pháp. Gọi tắt của Bát chính đạo. Tức: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định. (xt. Bát Chính Đạo).
bát pháp giới
jik ten ch gyī (T), Eight worldly dharmas
bát phúc sinh xứ
The eight happy conditions in which he may be reborn who keeps the ngũ giới five commands and the thập thiện ten good ways and bố thí bestows alms: 1-Trong cõi người giàu sang, rich and honourable among men; 2-Trời Tứ thiên vương, in the heavens of the four deva-kings; 3-Trời Đao lợi, the Indra heavens; 4-Trời Dạ ma, the Suyàma heavens; 5-Trời Đâu suất, the Tusita heaven; 6-Trời Hóa lạc, the nirmànarati heaven 7-Trời Tha hóa the paranirmita-vasavartin heaven; 8-Trời Phạm thiên, the brahma heaven
; (八福生處) Tám nơi sinh đến nhờ có phúc báo. Nghĩa là tu hành giữ năm giới, làm mười điều thiện và tập các nghiệp phúc, như bố thí, phóng sinh, v.v... , có hơn, có kém khác nhau, nên những nơi quả báo được đến cũng có cao, có thấp bất đồng, gọi là bát phúc sinh xứ. 1. Người giàu sang giữa mọi người. Nghĩa là trong khoảng trời đất, chỉ có con người là quý. Đã được làm người mà lại giàu sang, thì chắc hẳn cái nghiệp phúc đã tu phải hơn người khác, cho nên đời này mới được phúc báo như thế. 2. Bốn vua trời ở bốn phương. Tức là vua trời Trì quốc (giữ nước) ở phương đông, vua trời Tăng trưởng (thêm lớn) ở phương nam, vua trời Quảng mục (mắt rộng) ở phương tây và và vua trời Đa văn (nghe nhiều) ở phương bắc. Bốn vua trời này ở lưng chừng núi Tu di, nhờ tu hai loại nghiệp phúc hơn hết là bố thí và giữ giới mà cảm quả được sinh vào các cõi đó. 3. Trời Đao lợi, cũng gọi trời ba mươi ba. Xưa kia, có ba mươi ba người cùng tu nghiệp hơn hết, cùng được sinh vào cõi trời này, ở trên đỉnh núi Tu di. Bốn góc đều có tám cung, chính giữa là điện Đế thích, Đế thích là chủ cõi trời này. Trời này nhờ tu hai nghiệp phúc bố thí và giữ giới còn hơn cả bốn vua trời, cho nên cảm báo được sinh vào đây. 4. Trời Dạ ma. Trời này thường nói là mình vui sướng. Do tu hai nghiệp phúc bố thí và giữ giới còn hơn cả trời Đao lợi, cho nên cảm quả báo được sinh vào đây. 5. Trời Đâu suất. Trời này hưởng đầy đủ năm món dục lạc vi diệu, nhờ tu hai nghiệp phúc bố thí và giữ giới còn hơn cả trời Dạ ma, cho nên được quả báo sinh vào cõi trời này. 6. Trời Hóa lạc, nghĩa là khi muốn có năm dục lạc thì trời này tự biến hóa ra để vui chơi với nhau. Do tu hai nghiệp bố thí và giữ giới hơn cả trời Đâu suất, mà cảm quả báo sinh vào trời này. 7. Tha hóa thiên (trời khác biến hóa ra). Nghĩa là khi người trời này muốn được cảnh vui sướng, thì người ở cõi trời khác biến hóa ra cho họ, mượn cái vui của trời khác hóa ra làm cái vui của mình. Trời này tức là chủ của trời cõi Dục. Nhờ tu hai nghiệp phúc bố thí và giữ giới còn hơn cả trời Hóa lạc, nên cảm quả báo được sinh vào đây. 8. Trời Phạm, nghĩa là đã xa lìa sự nhớp nhúa ở cõi Dục mà lên cõi Sắc, nên gọi là Phạm. Phạm, hàm ý là sạch sẽ, trong trắng. Nhờ tu hai nghiệp phúc bố thí và giữ giới còn hơn cả trời Tha hóa, lại gồm tu cả Thiền định, nên cảm quả báo được sinh vào cõi này. [X. luận Du già sư địa Q.3].
bát phúc điền
Eight fields of merit: 1-Phật Buddha; 2-Thánh nhân Holy persons; 3-Hòa thượng Most Venerable; 4-A xà lê Acarya; 5-Tăng Monks and nuns; 6-Cha father; 7-Mẹ mother; 8-Người bệnh sick, ill persons.
; (八福田) I. Bát phúc điền. Tám ruộng phúc. Nghĩa là ba bậc Phật, Thánh nhân và Tăng là ruộng kính. Bốn bậc hòa thượng, a xà lê, cha, mẹ là ruộng ơn. Cứu giúp người bệnh là ruộng bệnh hoặc gọi là ruộng thương. Tám thứ kể trên, đều có thể gieo được hạt giống phúc, cho nên gọi là ruộng. Nếu người nào hết sức phụng sự tám bậc trên đây, thì cũng như người nhà nông ra sức làm ruộng, sẽ thu hoạch lợi lớn. 1. Phật điền. Phật, tiếng Phạm: Buddha, dịch âm: Phật đà, dịch nghĩa là giác (tỉnh biết). Nghĩa là giác đạo tròn đủ, chứng ngôi cực quả, cả thế gian và xuất thế gian, không có gì so sánh được. Nếu ai cung kính cúng dường, sẽ có thể được tất cả phúc và diệt hết thảy tội, cho nên gọi là Phật điền. 2. Thánh nhân điền, các bậc Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn đã ra khỏi ba cõi, giác ngộ đạo Thánh, đầy đủ vô lượng công đức trí tuệ. Nếu cung kính cúng dường thì sẽ được phúc, vì thế gọi là Thánh nhân điền. 3. Tăng điền. Tăng, tiếng Phạm: Saôgha, dịch âm: Tăng già, dịch nghĩa là chúng hòa hợp. Tức trên từ bậc hòa thượng, dưới đến hàng chúng tăng, đối với nhau, cung kính thuận hòa, không tranh giành cãi cọ, đó là đệ tử của Phật. Nếu người nào cung kính cúng dường, sẽ được phúc lợi, cho nên gọi là tăng điền. 4, Hòa thượng điền. Hòa thượng, tiếng Phạm: Upàdhyàya, là thầy dạy bảo. Nghĩa là người xuất gia, nhờ sức thầy dạy dỗ mà pháp thân được nuôi lớn, ơn ấy rất to. Nếu ai cung kính cúng dường sẽ được phúc lợi. Vì thế gọi là Hòa thượng điền. 5. Xà lê điền. Xà lê, Phạm: Àcarya. Dịch âm: a xà lê, dịch ý là chính hạnh. Vì hay sửa chính các hành vi của học trò, tức là vị thầy dạy răn về giới, dựa vào giới mà có được Thiền định và trí tuệ, ơn ấy thật là sâu nặng. Nếu ai cung kính cúng dường sẽ được phúc lợi. Cho nên gọi là A xà lê điền. 6. Phụ điền. Cha là người đầu tiên cho ta cái thân hình, có đức sinh thành, từ bé đến lớn, dạy dỗ nuôi nấng, ơn ấy như trời. Là con, cố nhiên phải hết sức phụng dưỡng, vâng lời, chứ đâu phải chỉ có ý niệm cầu phúc? Giả sử tâm chí thành, hiếu chí thuận, thì tự nhiên cũng được phúc, bởi thế gọi là phụ điền. 7. Mẫu điền, mẹ từ lúc mang thai, sinh nở, đến lúc bú mớm, nuôi nấng, che chở vất vả, thương mến nâng niu, ơn ấy như biển. Là con, cố nhiên phải hết lòng phụng dưỡng, chứ đâu phải chỉ có ý niệm cầu phúc? Giả sử tâm chí thành, hiếu chí thuận, thì tự nhiên cũng được phúc, bởi thế gọi là mẫu điền. 8. Bệnh điền, nghĩa là thấy người ốm đau, cảm thông nỗi đau khổ của họ, đau lòng thương xót cứu chữa, thì sẽ được phúc, vì thế gọi là bệnh điền. [X. kinh Ma ha ma da Q.hạ; Phạm võng kinh giới bản sớ Q.3; Pháp uyển châu lâm Q.21]. II. Bát phúc điền. Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 5 có nêu tám loại ruộng phúc: 1. Bên cạnh những con đường cái dài, giữa nơi đồng không mông quạnh, đào những giếng nước, phòng khi những khách bộ hành qua lại, nếu khát thì có nước uống: đó là ruộng phúc. 2. Trên những sông ngòi nương lạch không có cầu cống, thì xây cống bắc cầu, giúp người qua lại khỏi lội lặm vất vả: đó là ruộng phúc. 3. Nếu trên đường có những ổ gà lỗ hổng nguy hiểm, thì san lấp cho bằng; hoặc chỗ quá chật hẹp thì mở rộng thêm ra, để dành cho người đi lại khỏi bị nạn sa ngã: đó là ruộng phúc. 4. Cha mẹ là gốc sinh ra thân thể, nuôi nấng dạy dỗ, yêu dấu nâng niu, phải hết lòng phụng dưỡng, kính thương cha mẹ để đền đáp công ơn khó nhọc, vâng lời cha mẹ để cha mẹ vui lòng. 5. Phật, pháp, tăng là ba ngôi báu, có đầy đủ các công đức lớn, cứu độ khắp chúng sinh, đưa đến bờ giác ngộ giải thoát, vì thế nên quy y cung kính: đó là ruộng phúc. 6. Những người ốm đau, khổ sở vô cùng, giúp họ thuốc thang và những thứ cần dùng khiến họ hết bệnh, thân được yên vui: đó là ruộng phúc. 7. Những người nghèo khó, thiếu thốn đủ thứ, đói khổ bức thiết, không biết kêu ai. Nên khởi lòng thương, tùy theo khả năng, chu cấp cho họ những thứ cần dùng: đó là ruộng phúc. 8. Tổ chức đại hội phổ độ (vô già), khiến tất cả hồn phách chìm đắm, đều nhớ sức từ bi của Tam bảo, được thoát khỏi các ngả ác, sinh vào cõi thiện: đó là ruộng phúc.
bát phương thiên
(八方天) Trời tám phương. Chỉ các thần kì hộ pháp làm chúa tể tám phương. Hành giả Mật giáo, khi kiến lập mạn đồ la cần phải biết, đó là: trời Đế thích làm chủ phương đông, trời Y xá na làm chủ phương đông bắc, trời Diệm ma làm chủ phương nam, trời Lửa làm chủ phương đông nam, trời Nước làm chủ phương tây, trời La sát làm chủ phương tây nam, trời Tì sa môn làm chủ phương bắc, trời Gió làm chủ phương đông bắc. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 630 hạ) nói: Hành giả nên biết tám vị giữ tám phương, hễ làm mạn đồ la, phải theo đó mà chuyển: phương Nhân đà la, theo thứ tự chuyển đến phương nam Diệm ma la, phương tây Phạ rô noa, phương bắc Tì sa môn, phương đông Y xá ni, đông nam là Hộ ma, tây nam Niết lí đế, tây bắc là Phạ dữu. [X. Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
bát phương tiện
(八方便) Tám phương tiện. Chỉ tám thứ phương tiện: tắm gội áo sạch, kính lễ, sám hối, vui theo, khuyên mời, hồi hướng, phát nguyện và từ bi. Bát tự văn thù quĩ nói rằng, để làm phương tiện tụng niệm, trước hết phải tu tám phương tiện này. Bát tự văn thù quĩ nói rằng: Tắm gội mặc áo sạch, thoa hương thơm thân thể, quy mệnh niệm chân ngôn, chí thành cung kính lễ, thắp hương sám hối tội, vui theo và khuyên mời, hồi hướng phát nguyện lớn, sinh khởi lòng đại bi. Tám phương tiện như trên, phải chăm làm chớ quên, sau đó sạch ba nghiệp, theo phép mà trì niệm.
bát phạt đa quốc
(鉢伐多國) Bát phạt đa, Phạm Parvata. Tên một nước nhỏ ở tây Ấn độ vào thế kỷ VII Tây lịch. Cứ theo Đại đường tây vực ký quyển 11 chép, thì nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, dân cư đông đúc, lệ thuộc nước Trách ca. Khí hậu ôn hòa, phong tục chất trực, tính người nhanh nhẹn, nói năng đôi khi quê mùa, nghề học sâu rộng, tín ngưỡng chính tà lẫn lộn. Có hơn mười ngôi chùa với hơn một nghìn chư tăng, học tập cả Tiểu thừa và Đại thừa. Có bốn cây tháp do vua A dục xây cất. Bên cạnh đô thành có ngôi chùa to, chư tăng học giáo pháp Đại thừa, tức là nơi mà xưa kia luận sư Thận na phất đát la (Tối thắng tử) đã ở để soạn bộ Du già sư địa thích luận; và cũng là nơi, ở đó, các luận sư Hiền ái, Đức quang đã xuất gia. Theo sự khảo cứu thì vị trí nước Bát phạt đa ở Harappa, chỗ vị trí cũ của sông Ravi, cách Montgomery khoảng 25 cây số về phía nam tỉnh Panjab hiện nay. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].
bát phật
(八佛) Tám Phật. Đáp lời thỉnh vấn của tôn giả Xá lợi phất, đức Phật đã nói về tên hiệu của tám đức Phật phương đông, Ngài bảo người nghe, nếu nhận giữ đọc tụng tám tên hiệu ấy, thì đối với bồ đề, không trở lui nữa. 1. Thiện thuyết xưng công đức Như lai của thế giới Nan hàng phục ở phương đông. 2. Nhân đà la chàng tinh vương Như lai, thế giới Vô chướng ngại phương đông. 3. Phổ quang minh công đức trang nghiêm Như lai, thế giới An lạc ở phương đông. 4. Thiện đấu chiến nan hàng phục siêu việt Như lai, thế giới Phổ nhập phương đông. 5. Phổ công đức minh trang nghiêm Như lai, thế giới Tinh tụ phương đông. 6. Vô ngại dược thụ công đức xưng Như lai, thế giới Vô độc chủ phương đông. 7. Bộ bảo liên hoa Như lai, thế giới Trắc tắc hương mãn phương đông. 8. Bảo liên hoa thiện trụ sa la thụ vương Như lai ở thế giới Diệu âm minh phương đông [X. kinh Bát Phật danh hiệu].
bát phật đỉnh
(八佛頂) Tám Phật đính. Là năm Phật đính và ba Phật đính gộp chung lại. Đó là: Bạch tản Phật đính, Thắng Phật đính, Tối thắng Phật đính, Quang tụ Phật đính, Xả trừ Phật đính, Quảng đại Phật đính, Cực quảng đại Phật đính, Vô biên âm thanh Phật đính. Năm Phật đính trước biểu trưng đức dụng năm trí của Thích ca Như lai, ba Phật đính sau biểu trưng các đức thuộc ba bộ của Như lai. [X. kinh Đại nhật Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.16].
Bát quan trai
xem Tám giới trai.
bát quan trai
Aṭṭhanga śīla (P), Aṣṭanga-śamanvatgatopavasa (S), Atthanga Samma-gatan posatha (P), Upavasatha-śīla (S), Upo-satha-sīla (P), Eight precepts.Bát giới trai, Bát chi trai, Bát giớIGồm: không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không láo xược, không uống rượu, không năm giường cao, không dùng hương thơm, không ăn sai giờ.
Bát Quan Trai Giới
(s: aṣṭāṅga-samanvāgatopavāsa, p: aṭṭhaṅga-samannāgata uposatha, aṭṭhaṅgika uposatha, 八關齋戒): các giới điều tạm thời xuất gia được đức Phật chế ra cho hàng Phật tử tại gia. Người thọ trì các giới điều này cần phải một ngày một đêm rời khỏi gia đình, đến trú xứ của chư tăng để học tập về nếp sống sinh hoạt của người xuất gia. Bát Quan Trai Giới còn gọi là Trưởng Dưỡng Luật Nghi (長養律儀), Cận Trú Luật Nghi (近住律儀), Bát Giới (八戒), Bát Chi Tịnh Giới (八支淨戒), Bát Chi Trai Pháp (八支齋法), Bát Chi Trai Giới (八支齋戒), Bát Phần Giới Trai (八分戒齋), Bát Giới Trai (八戒齋), Bát Trai Giới (八齋戒), Bát Cấm (八禁), Bát Sở Ưng Ly (八所應離). Bát (八) ở đây có nghĩa là hành trì 8 loại giới; Quan (關) là cánh cửa đóng chặt 8 điều ác, khiến cho Ba Nghiệp không sanh khởi những điều sai lầm; Trai (齋) ở đây đồng nghĩa với tề (齊), tức là cùng đoạn trừ những điều ác, cọng tu các điều thiện; bên cạnh đó, quá ngọ không ăn được gọi là trai. Giới (戒) có tác dụng ngăn ngừa điều sai trái và chận đứng điều ác. Nói chung, thọ trì 8 loại Trai Giới thì có thể đóng chặt 8 điều ác, không cho sanh khởi sai lầm, ngăn chận những ác nghiệp của thân miệng ý; cũng nhờ từ đây mà tạo cánh cửa mở thông con đường xuất gia và đóng chặt cánh cửa luân hồi sanh tử. Cho nên, Bát Quan Trai Giới là cánh cửa vi diệu hướng đến con đường thiện, là con đường tắt dẫn vào Phật đạo. Thọ trì Bát Quan Trai Giới có thể giúp cho hàng tín đồ Phật tử tại gia huân tập, nuôi lớn căn lành xuất thế, nên mới có tên gọi là Trưởng Dưỡng Luật Nghi. Người thọ trì Bát Quan Trai Giới bắt buộc phải một ngày một đêm xa lìa gia cư, đến sống nơi chốn già lam, gần Tam Bảo, chư vị A La Hán; vì vậy mới có tên gọi là Cận Trú Luật Nghi. Về nội dung, theo Tát Bà Đa Luận (薩婆多論), Bát Quan Trai Giới là 8 loại giới luật, hay nói cho đúng là Bát Giới Nhất Trai (八戒一齋, tám giới và một giới trai), gồm: (1) Bất sát sanh (不殺生, không giết hại sinh mạng), (2) Bất thâu đạo (不偷盜, không trộm cắp), (3) Bất dâm dật (不淫泆, không dâm đãng phóng túng), (4) Bất vọng ngữ (不妄語, không nói dối), (5) Bất ẩm tửu (不飲酒, không uống rượu), (6) Bất trước hoa man cập hương du đồ thân (不著華鬘及香油塗身, không mang tràng hoa và dùng dầu thơm xoa lên mình), (7) Bất ca vũ xướng kỷ cập vãng quan thính (不歌舞倡伎及往觀聽, không đàn ca xướng hát và đến xem nghe), (8) Bất tọa ngọa cao quảng đại sàng (不坐臥高廣大床, không ngồi nằm giường cao rộng lớn), (9) Bất phi thời thực (不非時食, không ăn phi thời). Tuy thực tế là 9 giới, nhưng thường được gọi là Bát Quan Trai Giới, trong Bát Quan Trai Pháp (八關齋法, CBETA Vol. 60, No. 1130) có giải thích lý do rõ rằng: “Phù Bát Trai Pháp, tinh quá trung bất thực, nãi hữu Cửu Pháp, hà dĩ Bát Sự đắc danh; Phật ngôn, trai pháp quá trung bất thực vi thể, bát sự trợ thành trai thể, cọng tương chi trì, danh Bát Chi Trai Pháp; thị cố ngôn Bát Trai, bất vân cửu dã (夫八齋法、并過中不食、乃有九法、何以八事得名、佛言、齋法過中不食爲體、八事助成齋體、共相支持、名八支齋法、是故言八齋、不云九也, phàm Tám Pháp Quan Trai cọng với việc không ăn quá ngọ, thành ra Chín Pháp, tại sao có tên gọi Tám Pháp; đức Phật dạy rằng pháp không ăn quá ngọ là thể, Tám Pháp giúp cho thành tựu thể ấy, cùng nâng đỡ nhau, nên gọi là Tám Chi Trai Pháp; vì vậy gọi là Tám Pháp Trai, chứ không gọi là chín).” Trong 5 giới đầu của Bát Quan Trai Giới có nội dung tương đương với Ngũ Giới, chỉ khác giới “bất tà dâm (不邪淫, không tà dâm)” đổi thành giới “bất dâm (不淫)” hay “bất dâm dật (不淫泆)”. Cho nên, khi thọ trì Bát Quan Trai Giới, hành giả không những đoạn tuyệt quan hệ hợp pháp vợ chồng, mà còn tuyệt đối nghiêm thủ không dâm dục trong một ngày một đêm; vì vậy người thọ trì pháp tu này được gọi là “Tịnh Hạnh Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di”. Đức Phật chế rằng người Phật tử tại gia nên thọ trì Bát Quan Trai Giới vào 6 ngày trai của mỗi tháng. Đại Thiên Nại Lâm Kinh (大天捺林經) của Trung A Hàm (中阿含經) quyển 14, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經) quyển 16, v.v., cho rằng mỗi tháng vào 6 ngày trai giới là mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (nếu nhằm tháng thiếu Âm Lịch thì có thể thay đổi vào ngày 28 và 29). Người chuyên thọ trì Bát Quan Trai Giới có được những công đức, lợi ích như: (1) Xa lìa nỗi khổ bệnh hoạn; như trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光如來本願功德經, Taishō No. 450) có giải thích rằng: “Nhược hữu bệnh nhân, dục thoát bệnh khổ, đương vi kỳ nhân, thất nhật thất dạ, thọ trì Bát Phần Trai Giới (若有病人、欲脫病苦、當爲其人、七日七夜、受持八分齋戒, nếu có người bệnh, muốn thoát khỏi nỗi khổ của bệnh, nên vì người ấy, trong bảy ngày bảy đêm, thọ trì Tám Phần Trai Giới)”. (2) Tiêu trừ tội chướng; phàm những ai muốn sám hối tội chướng, đều phải nên thọ trì tám pháp này; như trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經, Taishō No. 1488) quyển 5, phẩm Bát Giới Trai (八戒齋品) thứ 21 có giải thích rằng: “Nhược năng như thị thanh tịnh quy y thọ bát giới giả, trừ Ngũ Nghịch tội, dư nhất thiết tội tất giai tiêu diệt (若能如是清淨歸依受八戒者、除五逆罪、餘一切罪悉皆消滅, nếu người nào có thể quy y thọ tám giới thanh tịnh như vậy, thì trừ được Năm Tội Nghịch, hết thảy các tội khác tất đều tiêu diệt).” Hay như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō No. 374) quyển 19 có nêu ra câu chuyện của Quảng Ngạch (廣額): “Ba La Nại quốc hữu đồ nhi, danh viết Quảng Ngạch, ư nhật nhật trung, sát vô lượng dương, kiến Xá Lợi Phất tức thọ Bát Giới Kinh nhất nhật nhất dạ, dĩ thị nhân duyên, mạng chung đắc vi Bắc phương thiên Tỳ Sa Môn tử (波羅捺國有屠兒、名曰廣額、於日日中、殺無量羊、見舍利弗卽受八戒經一日一夜、以是因緣、命終得爲北方天王毘沙門子, tại nước Ba La Nại có người đồ tể tên Quảng Ngạch, trong mỗi ngày giết vô lượng con dê, khi gặp Xá Lợi Phất liền thọ Bát Giới Kinh một ngày một đêm, nhờ nhân duyên ấy mà sau khi qua đời thì được làm con trai của Tỳ Sa Môn ở cõi trời phương Bắc).” (3) Phước báo không cùng, như trong Ưu Ba Di Đọa Xá Ca Kinh (優陂夷墮舍迦經, Taishō No. 88) cho biết rằng: “Lục nhật trai giả, thí như hải thủy bất khả hộc lượng; kỳ hữu trai giới nhất nhật nhất dạ giả, kỳ phước bất khả kế (六日齋者、譬如海水不可斛量、其有齋戒一日一夜者、其福不可計, sáu ngày trai giới, giống như nước biển không thể nào đong đếm được; người nào có trai giới trong một ngày một đêm, phước của người đó không thể nào tính được).” (4) Xa lìa các đường ác, như Thọ Thập Thiện Giới Kinh (受十善戒經, Taishō No. 1486) cho biết rằng: “Trì thử thọ trai công đức, bất đọa Địa Ngục, bất đọa Ngạ Quỷ, bất đọa Súc Sanh, bất đọa A Tu La, thường sanh nhân trung, chánh kiến xuất gia, đắc Niết Bàn đạo (持此受齋功德、不墮地獄、不墮餓鬼、不墮畜生、不墮阿修羅、常生人中、正見出家、得涅槃道, công đức hành trì Tám Trai Giới này, không đọa vào đường Địa Ngục, không đọa vào đường Ngạ Quỷ, không đọa vào đường Súc Sanh, không đọa vào đường A Tu La, thường sanh vào cõi người, có chánh kiến xuất gia, chứng đạo Niết Bàn).” (5) Đạt được niềm vui vô thượng, như trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh quyển 5, phẩm Bát Giới Trai thứ 21 dạy rằng: “Phàm thị trai nhật, tất đoạn chư ác phạt lục chi sự; nhược năng như thị thanh tịnh thọ trì Bát Giới Trai giả, thị nhân tắc đắc vô lượng quả báo, chí vô thượng lạc (凡是齋日、悉斷諸惡罰戮之事、若能如是清淨受持八戒齋者、是人則得無量果報、至無上樂, phàm ngày trai này, tất dứt hết những việc ác hình phạt, chém giết; nếu người nào có thể thọ trì Tám Giới Trai thanh tịnh như vậy, người ấy ắt đạt được quả báo vô lượng, cho đến niềm vui vô thượng).” (6) Sanh lên các cõi trời, như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) quyển 16, Cao Tràng Phẩm (高幢品) thứ 24 dạy rằng: “Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, trì Bát Quan Trai giả, thân hoại mạng chung, sanh thiện xứ thiên thượng, diệc sanh Hê Thiên, Đâu Thuật Thiên, Tha Tự Tại Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, chung bất hữu hư, sở dĩ nhiên giả, dĩ kỳ trì giới chi nhân sở nguyện giả đắc (若善男子、善女人、持八關齋者、身壞命終、生善處天上、亦生豔天、兜術天、化自在天、他化自在天、終不有虛、所以然者、以其持戒之人所願者得, nếu có người thiện nam, tín nữ nào hành trì Tám Giới Trai, sau khi thân hoại mạng hết, sanh vào nơi tốt lành trên trời, cũng được sanh lên cõi Ma Hê Thủ La Thiên, Đâu Suất Thiên, Tha Tự Tại Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, dứt khoát không hư dối, vì sao đúng như vậy; vì do sở nguyện của người trì giới mà đạt được).” Bên cạnh những điều nêu trên, còn có một số công đức khác như sanh vào đời sau được mọi người tôn quý, trợ duyên cho vãng sanh, khi lâm chung được an lạc, có tướng mạo tốt đẹp, tạo duyên lành để thành Phật đạo, v.v.
Bát quan trai giới
xem Tám giới trai.
bát quan trai giới
Atthanga-sìla (P). The eight precepts. Fasting day in observing the 8 precepts
; (八關齋戒) Tám giới chay tịnh. Phạm: Awỉàígasamanvà- gatopavàsa, Pàli:aỉỉhaígasamannàgata uposatha, hoặc aỉỉhaígika uposatha. Là giới pháp đức Phật đặt ra cho hàng đệ tử tại gia để tu xuất gia trong thời gian ngắn. Những người nhận lãnh giới này, phải ra khỏi gia đình, đến ở trong chùa một ngày một đêm để học tập đời sống của người xuất gia. Cũng gọi Trưởng dưỡng luật nghi, Cận trụ luật nghi, Bát giới, Bát chi trai giới, Bát phần trai giới, Bát giới trai, Bát cấm, Bát sở ưng li. Bát chỉ sự giữ tám giới; quan, hàm ý là đóng cửa; giới, có tác dụng ngăn ngừa những hành vi xấu ác của ba nghiệp thân, miệng, ý và nhờ thế, có khả năng đóng cánh cửa của ngả ác lại. Trong tám giới, bảy chi trước là giới, chi cuối cùng không ăn ngoài giờ quy định là trai, gộp chung lại gọi là Bát quan trai giới. Tám pháp này đức Phật chế định để nhận giữ vào sáu ngày trai trong mỗi tháng tức là vào các ngày 8,14,15,23,29,30 hàng tháng (nếu là tháng thiếu, thì tính ngày 28 và 29). Phật giáo tuy có hai hạng đệ tử xuất gia và tại gia, nhưng Phật pháp lấy việc xuất thế giải thoát làm mục đích, và coi việc xuất gia là hơn, cho nên nhận giữ tám trai giới là muốn cho người tại gia học Phật, ươm và nuôi lớn mầm thiện căn xuất thế, vì vậy mà gọi là Trưởng dưỡng luật nghi. Lại vì những người nhận giữ tám giới này phải xa gia đình một ngày một đêm, đến ở gần các vị tăng già hoặc A la hán, cho nên cũng gọi là Cận trụ luật nghi (luật nghi ở gần). Tám trai giới ấy là: (1) Không giết hại. (2) Không trộm cắp. (3) Không dâm dục. (4) Không nói dối. (5) Không uống rượu . (6) Không đeo đồ trang điểm, như vòng hoa, vàng bạc, không múa hát hoặc không xem nghe múa hát. (7) Không ngồi tòa cao hoặc giường cao rộng lộng lẫy. (8) Không ăn phi thời (ăn ngoài giờ quy định). Những người nhận giữ tám trai giới, trong một ngày một đêm, giữ giới không dâm dục, cho nên được gọi là Tịnh hạnh ưu bà tắc hoặc Tịnh hạnh ưu bà di. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.15; Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; luận Đại tì bà sa Q.124; luận Câu xá Q.14; luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Trai Giới).
bát quan trai kinh
(八關齋經) Có một quyển .Thư cừ kinh thanh đời Lưu Tống dịch, thu vào Đại chính tạng tập 1.Kinh này vàkinh Ưu bà di đọa xá ca (mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 1) là cùng một bản mà dịch khác. Điểm khác nhau giữa hai kinh này là: kinh Ưu bà di đọa xá ca chép rằng, đức Phật dạy Tì xá khư lộc tử mẫu tám trai giới, thụ trì vào sáu ngày trong mỗi tháng, và bảo công đức trì trai cũng to lớn như công đức đem của báu trong mười sáu nước mà bố thí cho chư tăng. Còn kinh Bát quan trai thì đã đơn giản hóa điều này, lại đối tượng nói pháp chỉ là tỉ khưu, và công đức trì trai thì được so sánh với lượng nước của năm con sông lớn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.8].
Bát Quái
(八卦): là khái niệm triết học cơ bản của Trung Quốc cổ đại. Nguyên lai có hai khái niệm khác nhau: (1) Khái niệm gọi là “Vô Cực sanh Hữu Cực, Hữu Cực thị Thái Cực, Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng diễn Bát Quái, bát bát lục thập tứ quái (無極生有極、有極是太極、太極生兩儀、兩儀生四象、四象演八卦、八八六十四卦, Vô Cực sanh ra Hữu Cực, Hữu Cực là Thái Cực, Thái Cực sanh ra Lưỡng Nghi [tức âm và dương], Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng [tức Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm], Tứ Tượng diễn thành Bát Quái, tám tám sáu mươi bốn quẻ).” Đây được gọi là Phục Hy Bát Quái (伏羲八卦) hay còn gọi là Tiên Thiên Bát Quái (先天八卦). (2) Là học thuyết càn khôn của Chu Văn Vương (周文王). Ông cho rằng trước có trời đất, trời đất giao nhau sinh ra vạn vật; Thiên là Càn (乾), Địa là Khôn (坤); còn lại 6 quẻ kia là các con của nhà vua. Quẻ Chấn (震) là con trai đầu, Khảm (坎) là con trai giữa, Cấn (艮) là con trai út, Tốn (巽) là con gái đầu, Ly (離) là con gái giữa, Đoài (兌) là con gái út. Đây được gọi là Văn Vương Bát Quái (文王八卦) hay Hậu Thiên Bát Quái (後天八卦). Thông thường phù hiệu Bát Quái được kết hợp với Thái Cực Đồ (太極圖), đại diện cho chân lý chung cực mang tính tín ngưỡng truyền thống của Trung Quốc—Đạo (道). Bát Quái được hình thành do ba vạch, thể hiện ý tượng theo thứ tự: tên quẻ, tự nhiên, tánh tình, gia đình, thân thể, phương vị. Càn (乾, ☰, Trời, khỏe mạnh, cha, đầu, Tây Bắc); Đoài (兌, ☱, đầm nước, vui mừng, thiếu nữ, Tây); Ly (離, ☲, lửa, tươi đẹp, gái giữa, miệng, Nam); Chấn (震, ☳, sấm sét, cử động, trưởng nam, chân, Đông); Tốn (巽, ☴, gió, đi vào, trưởng nữ, bắp đùi, Đông Nam); Khảm (坎, ☵, nước, vùi lấp, trai giữa, lỗ tai, Bắc); Cấn (艮, ☶, núi, dừng lại, thiếu nam, tay, Đông Bắc); Khôn (坤, ☷, đất, thuận hòa, mẹ, bụng, Tây Nam). Từ hình tượng phù hiệu của các quẻ như trên, Chu Hy (朱熹, 1130-1200) nhà Nam Tống đã đặt ra bài ca cho các em nhỏ dễ nhớ: “Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phú oản, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn (乾三連、坤六斷、震仰盂、艮覆碗、離中虛、坎中滿、兌上缺、巽下斷, quẻ Càn ba vạch nối liền, quẻ Khôn ba vạch đứt thành sáu đoạn, quẻ Chấn có hai vạch trên đứt đoạn, quẻ Cấn có hai vạch dưới đứt đoạn, quẻ Ly có vạch giữa đứt đoạn, quẻ Khảm có vạch giữa liền nhau, quẻ Đoài có vạch trên đứt đoạn, quẻ Tốn có vạch dưới đứt đoạn).” Tại Trung Quốc, đồ hình Bát Quái thường được treo trước cửa nhà để trấn trừ tà ma, quỷ mị, bên trong có cái kính, gọi là “Chiếu Yêu Kính (照妖鏡).” Nó có ảnh hưởng đến các phương diện bói toán, phong thủy, y học, võ thuật, âm nhạc, v.v. Tại Việt Nam, tư tưởng Bát Quái cũng có ảnh hưởng và phổ cập trong dân gian. Trong tác phẩm Chu Dịch Dịch Chú (周易譯注) của Chu Chấn Phủ (周振甫) nhận định rằng Bát Quái có mối quan hệ giống như 4 nguyên tố hình thành vạn vật của Ấn Độ cũng như Hy Lạp cổ đại là đất, nước, gió và lửa. Ông cho rằng Bát Quái có thể phân thành 4 loại: đất hòa với núi tương thông, nước hòa với sông hồ tương thông, gió hòa với trời tương thông, lửa hòa với sấm sét tương thông. Hơn nữa, Bát Quái cũng có mối quan hệ rất mật thiết với Ngũ Hành (五行) của truyền thống Trung Quốc: Càn là trời, thuộc về Kim; Đoài là sông hồ, thuộc về Kim; Ly là lửa, thuộc về Hỏa; Chấn là sấm sét, thuộc về Mộc; Tốn là gió, thuộc về Mộc; Khảm là nước, thuộc về Thủy; Cấn là núi, thuộc về Thổ; Khôn là đất, thuộc về Thổ. Về mối quan hệ với Cửu Cung (九宮), Cửu Cung là 9 phương vị được quy định trong Lạc Thư (洛書). Nhìn chung, người ta thường lấy hậu thiên bát quái đặt vào phương vị trong Lạc Thư, hình thành nên cái gọi là Cửu Cung Bát Quái (九宮八卦). Tại Đài Loan rất thịnh hành thuyết Bái Quái này, như dưới thời nhà Thanh có xuất hiện Bát Quái Hội (八卦會), lãnh đạo nông dân khởi nghĩa và hiện tại vẫn còn địa danh Bát Quái Sơn (八卦山). Trong dân gian Việt Nam cũng rất thịnh hành một loại Bát Quái Đồ gọi là Bát Quái Đồ Trừ Tà, hay thường gọi là Bùa Bát Quái, người Tàu vẽ sẵn, bán ở các tiệm kiếng. Loại Bát Quái Đồ Trừ Tà này gồm các quẻ giống hệt Bát Quái Tiên Thiên, nhưng sắp thứ tự các quẻ theo chiều quay ngược lại. Trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 87 có đoạn liên quan đến Cửu Cung Bát Quái: “Tống Giang tùy tức điều khiển quân mã xuất thành, ly thành thập lí, địa danh Phương Sơn, địa thế bình thản, kháo sơn bàng thủy, bài hạ Cửu Cung Bái Quái trận thế, đẳng hầu gian, chỉ kiến Liêu binh phân cố tam đội nhi lai (宋江隨卽調遣軍馬出城、離城十裏、地名方山、地勢平坦、靠山傍水、排下九宮八卦陣勢、等候間、只見遼兵分做三隊而來, Tống Giang vâng lời liền điều khiển quân mã ra khỏi thành, rời thành được mười dặm, có vùng đất tên Phương Sơn, địa thế bằng phẳng, nương núi tựa sông, bèn bày trận thế Cửu Cung Bái Quái; chờ đợi một lúc, chỉ thấy quân Liêu chia thành ba đội tiến đến).”
bát quái
Pa-kua (C), Eight trigrams.
bát quải giáo
(八卦教) Là một trong những tôn giáo dân gian ở đời nhà Thanh bên Trung quốc. Tôn giáo này tổ chức theo hình thức tám quẻ (càn, khảm, cấn, chấn, tốn, li, khôn, đoài) của Trung quốc đời xưa, giáo đồ được chia bày xếp theo tám quẻ, cho nên gọi là Bát quái giáo. Cũng gọi Thiên lí giáo, một chi phái của Bạch liên giáo. Khoảng năm Khang hi, Lưu tá thần ở huyện Đơn, tỉnh Sơn đông, sáng lập Tu nguyên giáo (cũng gọi Ngũ huân đạo), có truyền một cuốn sách về thuyết tám quẻ, nhưng nội dung đến nay đã không thể khảo cứu được. Về sau, đồ chúng của Lưu tá thần ở huyện Lâm dĩnh tỉnh Hà nam, buộc Vương trung lãnh quẻ Chấn trong tám quẻ và làm chủ quẻ này. Năm Càn long 38 (1773), Vương trung bị bắt, tra trong các kinh sách thu được, có câu Bình giặc Hồ công ai khác hơn họ Lưu, họ Chu, vào năm Mậu thìn, Kỉ tị sẽ khởi sự. Đây là ghi chép về Bát quái giáo tương đối sớm. Năm Càn long 51, giáo chủ Lưu hồng (cháu bốn đời của Tá thần), bị bắt, giáo đồ khởi nghĩa ở Ứng thành, bị đàn áp mạnh. Năm Gia khánh 18 (1813), Lâm thanh, Lí văn thành lại dùng danh nghĩa Thiên lí giáo (tên khác của Bát quái giáo) để khởi sự. Giáo này được lưu truyền ở các tỉnh Hà bắc, Sơn đông, Hà nam, Sơn tây v.v... Về cách chia giáo theo tám quẻ, thì quẻ Khảm đứng đầu tám quẻ, thống lãnh bảy quẻ kia. Trong giáo cũng chia làm quẻ văn, quẻ vũ. Quẻ Li, quẻ Chấn trong giáo này, sau trở thành các giáo phái độc lập ở các tỉnh Sơn đông, Hà bắc, Hà nam v.v... như Li quái giáo, Chấn quái giáo... Ngoài ra, như Kim đan bát quái giáo, Nhất chú hương li quái giáo, Nghĩa hòa môn li quái giáo v.v... đều thuộc hệ thống Bát quái giáo.
bát sư
The eight teachers -murder, robbery, adultery, lying, drinking, age, sickness and death.
; (八師) Chỉ tám việc giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói láo, uống rượu, già, bệnh, chết v.v... Đức Phật làm thầy tám pháp này mà tu đạo, cho nên gọi là bát sư. [X. kinh Bát sư].
bát sắc phan
(八色幡) Phan (một loại cờ) tám màu. Cũng gọi Lễ đường phan, Lễ đường chàng. Là tám lá phan được treo trong trường giới tam muội da (nhà lễ) Quán đính của Mật giáo. Kinh Cù hi quyển trung phẩm Phụng thỉnh cúng dường (Đại 18,767 thượng) nói: Cần phan phải ngay thẳng và dài, phải đặt đúng phép ở tám phương nơi cách trường giới không xa. Phương đông treo phan màu trắng, đông nam phan màu hồng, chính nam phan màu đen, tây nam phan màu khói, phương tây phan màu đỏ, tây bắc phan màu xanh, chính bắc phan màu vàng, đông bắc phan đỏ lợt. Tám màu như thế, tùy phương mà đặt. [X. kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên].
bát sự tùy thân
Eight requisites.
; The eight appurtenances of a monk - three garments, bowl stool, filter, needle and thread, and chopper.
bát tai hoạn
(八灾患) Tám tai nạn. Chỉ bốn cảm giác lo, mừng, buồn, vui làm trở ngại việc tiến vào Thiền định thứ tư ở cõi Sắc, và bốn cái chướng cho việc tu đạo là tìm kiếm, dò xét, thở ra, thở vào v.v... Đối lại với các tai nạn ở bên ngoài, như nạn lửa, nạn nước, bão gió v.v... mà nói, thì tám tai nạn nêu ở trên, gọi là tai nạn bên trong. Chúng có khả năng làm rối loạn sự an hòa của lòng người và chướng ngại cho việc tu Thiền định. Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 78 (Đại 29, 762 hạ) nói: Tụng: Thứ tư gọi là chẳng động, lìa tám tai hoạn. Tám tai hoạn là: tìm kiếm, dò xét, bốn cảm giác, thở vào, thở ra. Luận: Ba tĩnh lự dưới gọi là có động, vì có tai họan. Tĩnh lự thứ tư gọi là chẳng động, vì không tai hoạn. Tai hoạn có tám; tám ấy là gì? Là: tìm kiếm, dò xét, bốn cảm giác (bốn thụ), thở vào, thở ra. Tám tai hoạn này, (Thiền) thứ tư đều không có. [X. luận Câu xá Q.28].
bát thiên
(八天) Tám cõi trời. Chỉ bốn cõi trời Thiền ở cõi Sắc và bốn nơi không ở cõi Vô sắc. Tức là: trời Thiền đầu, trời Thiền hai, trời Thiền ba, trời Thiền bốn, nơi Không vô biên, nơi Thức vô biên, nơi Không chỗ có, nơi Chẳng phải tưởng chẳng phải không tưởng. (xt. Tứ Thiền Thiên, Vô Sắc Giới).
bát thiên mai hộ ma cung
(八千枚護摩供) Hộ ma đốt tám nghìn thanh gỗ. Là phép tu Hộ ma đốt tám nghìn thanh gỗ có tẩm sữa. Cũng gọi Thiêu bát thiên mai cúng. Kinh Kim cương thủ quang minh quán đính phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quỹ pháp (Đại 21, 5 thượng) chép: Lại nói pháp môn Vô tỉ lực thánh giả vô động tâm, có khả năng thành tựu tất cả sự nghiệp, ăn chay niệm tụng, đủ mười vạn biến, nhịn ăn một ngày đêm, rồi mới bày lễ đại cúng dường. Khi làm lễ Hộ ma, nên chọn lựa thật kỹ những thanh gỗ, bôi bơ vào hai đầu, đốt đủ tám nghìn thanh. Hạnh ban đầu đã làm xong, những điều mà lòng người mong cầu, đều được thành tựu. Đây là phép Hộ ma lấy Bất động minh vương làm vị tôn chính, đốt tám nghìn thanh gỗ có tẩm sữa. Còn về cách thức tu phép Hộ ma, làm trước, số ngày, v.v... thì tùy theo chỗ các phái truyền mà có khác.
bát thiên tiểu chú
Abhisamayālaṇkārasphut-artha (S)Tên một bộ luận kinh.
bát thiên tụng
Aṣṭasāhaśrīkā (S)Tên một bộ luận kinh.
bát thiên tụng bát nhã ba la mật kinh
Astasàhasrikàprajnàpàramità-sùtra (S)
bát thiên tụng bát nhã kinh
Xem Tiểu phẩm Bát nhã Ba la mật kinh.
bát thiên tụng bát nhã thích hiện quán trang nghiêm kinh
Aṣṭasāhaśrīkā-prajā-paramita-vyakhya (S)Tên một bộ luận kinh.
bát thiên đại chú
Abhisamayālaṇkāraloka (S)Tên một bộ kinh.
bát thuỷ
(八水) Tám sông. Tức là tám con sông lớn ở Ấn độ đưọc ghi chép trong kinh Niết bàn: 1. Sông Hằng (Phạm: Gaígà) 2. Sông Diêm ma la (Phạm: Yamunà) 3. Sông Tát la (Phạm: Sarabhu) 4. Sông A di la bạt đề (Phạm:Aciravatì) 5. Sông Ma ha (Phạm: Mahì) 6. Sông Tân đầu (Phạm: Sindhu) 7. Sông Bác xoa (Phạm:Vakwu) 8. Sông Tất đà (Phạm:Sìtà). [X. kinh Niết bàn (bản Nam) Q.3 phẩm Trường thọ].
bát thành kinh
Atthakanàgara-sutta (P).
bát thánh
(八聖) I. Bát thánh. Tám bậc Thánh nhân. Tức bốn hướng bốn quả của thừa Thanh văn. Cũng gọi là Bát bối. Đó là: 1.Tu đà hoàn hướng (Phạm: Srotàpattipratipannaka) 2. Tu đà hoàn quả (Phạm: Srotàpanna) 3. Tư đà hàm hướng (Phạm: Sakfdàgàmi-pratipannaka) 4. Tư đà hàm quả (Phạm: Sakfdàgàmin) 5. A na hàm hướng (Phạm: Anàgàmipratipannaka) 6. A na hàm quả (Phạm: Anàgàmin) 7. A la hán hướng (Phạm: Arhatpratipannaka) 8. A la hán quả (Phạm:Arhat). [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.27; luận Câu xá Q.23, Q.24; luận Đại trí độ Q.32; Nhân vương kinh sớ Q.thượng]. (xt. Tứ Quả Tứ Hướng). II. Bát thánh. Chỉ tám đạo Thánh, tức chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định. [X. Tam tạng thánh giáo tự]. (xt. Bát Chính Đạo).
bát thánh ngôn
(八聖言) I. Bát thánh ngôn. Tám lời nói của bậc Thánh. Tức lời nói chân thực ngay thẳng. Đó là: không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không hay nói không hay, không biết nói không biết, hoặc nói đúng sự thật điều mình thấy, nói đúng sự thật điều mình nghe, nói đúng sự thật điều mình hay, nói đúng sự thật điều mình biết. Như thế gọi là bát thánh ngôn. Trái lại, thì gọi là phi thánh ngôn. II. Bát thánh ngôn. Ngôn ngữ của Ấn độ đời xưa (tức tiếng Phạm), là tiếng nói tiêu chuẩn của trung Thiên trúc.
Bát Thánh đạo
xem Tám Thánh đạo.
Bát thánh đạo
八聖道; C: bāshèngdào; J: hasshōdō; S: āryā-ṣṭāṅgo-mārgo;|Con đường chân chính tu đạo gồm tám phần, được Phật Thích-ca Mâu-ni giảng trong bài thuyết pháp đầu tiên, và vẫn còn là nền tảng trong việc tu tập Phật pháp. Bát chính đạo (八正道).
bát thánh đạo
Xem Bát chính đạo.
bát thánh đạo phần
Xem bát đạo phần thánh thiện.
Bát thánh đế
八聖諦; C: bāshèngdì; J: hachishōtai;|Bát đế (八諦).
Bát thánh đế 八聖諦
[ja] ハッショウタイ hachishōtai ||| See 八諦. => Xem Bát đế八諦
bát thảo chiêm phong
(撥草瞻風) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi là bát thảo tham huyền. Bát thảo chiêm phong, nghĩa đen là trừ diệt hết đám cỏ um tùm để ngẩng trông lên mà hóng làn gió mát. Nghĩa bóng là diệt trừ cỏ dại vô minh để ngẩng lên trông ngọn gió huyền diệu của Phật tổ. Ý là diệt trừ hết vọng tưởng để tham cứu chỗ nhiệm mầu sâu kín. Cũng hàm ý là vượt suối băng ngàn, bất chấp hiểm nguy, để chiêm ngưỡng cái đức phong của bậc thiện tri thức. Động sơn ngữ lục (Đại 47, 507 trung) nói: Từ đây đến Lễ lăng rất xa, núi non trùng điệp, có đạo nhân Vân nham ở ẩn nơi đó; nếu ai trừ diệt được vọng tưởng, tham cứu tới chỗ mầu nhiệm (bát thảo chiêm phong), thì chắc chắn sẽ được Ngài coi trọng.
bát thập
Asìti (S) Eighty.
bát thập bát phật
(八十八佛) Tám mươi tám Phật. Tức là 53 Phật và 35 Phật cộng chung lại. Năm mươi ba Phật có xuất xứ từ kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát, ba mươi lăm Phật có xuất xứ từ kinh Đại bảo tích quyển 98 phẩm Ưu bà di. Văn đại sám hối trong các khóa tụng buổi chiều trong các tùng lâm, cũng gọi tắt là tám mươi tám Phật được thu vào văn sám hối để lễ niệm.
Bát thập bát sử
八十八使; C: bāshíbā shǐ; J: hachijūhasshi;|88 tâm trạng phiền não của thế giới hữu vi.
Bát thập bát sử 八十八使
[ja] ハチジュウハッシ hachijūhasshi ||| The eighty-eight afflicted mental states of the conditioned world. => 88 thứ kiến hoặc, trạng thái phiền não của tâm trong hiện tượng giới.
Bát thập chủng hảo
八十種好; C: bāshízhǒng hăo; J: hachijisshu gō;|Tám mươi vẻ đẹp phụ trên thân đức Phật (s: aśīty-anuvyañjanāni), tương truyền các tướng tốt nầy cần phải tu hành một trăm đại kiếp mới đạt được. Bản liệt kê 80 vẻ đẹp nầy không thấy ghi trong các kinh văn nguyên thuỷ, nhưng rất thường thấy đề cập trong tiểu sử đức Phật và các kinh văn Đại thừa. Có lẽ nó có xuất xứ từ các đại biểu của Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng nó lại được sử dụng thường xuyên trong văn học Đại thừa.|I. Kinh văn đầu tiên liệt kê đầy đủ 80 vẻ đẹp có lẽ được tìm thấy trong Phật bản hạnh tập kinh (佛本行集經; s: abhiniṣkramaṇa-sūtra), là bản ghi trọn vẹn lịch sử đức Phật nhất trong Hán tạng. Bản dịch tóm tắt của S. Beal ghi 80 vẻ đẹp như sau: |1. Móng tay màu như đồng; 2. Móng tay mềm dịu; 3. Móng tay nổi bật; 4. Móng tay tròn đều; 5. Ngón tay thon gầy; 6. Các ngón tay phát triển cân xứng; 7. Các tĩnh mạch ẩn kín; 8. Các tĩnh mạch dãn ra; 9. Mắt cá chân ẩn kín; 10. Lòng bàn chân bằng phẳng; 11. Dáng đi như sư tử; 12. Dáng đi như voi chúa; 13. Dáng đi như ngỗng chúa; 14. Dáng đi như trâu chúa; 15. Dáng đi thường hướng về bên phải; 16. Dáng đi tự tại; 17. Dáng đi vững chãi; 18. Thân thể tròn đầy; 19. Thân thể mềm dịu; 20. Thân thể cân đối; 21. Thân thể thanh tịnh; 22. Thân thể dịu dàng; 23. Thân thể không tì vết; 24. Bộ phận sinh dục hoàn chỉnh; 25. Thân thể tráng kiện, các chi thanh nhã; 26. Bước đi khoan thai; 27. Thân thể khỏe mạnh; 28. Thân thể an khang; 29. Thân thể đoan nghiêm; 30. Thân thể nghiêm túc, viên mãn; 31. Tứ chi cân đối với các phần thân thể; 32. Thị lực trong sáng; 33. Thân tướng viên mãn; 34. Thân tướng nhẹ nhàng; 35. Thân tướng cân đối; 36. Bụng phẳng; 37. Rốn sâu; 38. Rốn cuộn theo chiều kim đồng hồ; 39. Làm vui lòng mọi người khi giao tiếp; 40. Giới hạnh thanh tịnh; 42. Da không bị cháy nắng và tàn nhang; 43. Chỉ tay rất đẹp; 44. Chỉ tay sâu; 45. Chỉ tay dài; 46. Miệng không quá rộng; 47. Môi đỏ như trái tần-bà (bimba); 48. Lưỡi mềm mại; 49. Lưỡi mỏng và nhỏ; 50. Lưỡi màu đỏ; 51. Tiếng nói như voi gầm hoặc sấm rền; 52. Tiếng nói rõ ràng, lôi cuốn và hoà nhã; 53. Răng cửa tròn; 54. Răng cửa nhọn; 55. Răng cửa trắng; 56. Răng cửa bằng phẳng; 57. Răng cửa đều đặn; 58. Mũi cao; 59. Mũi gọn và đẹp; 60. Mắt sáng; 61. Mắt lớn; 62. Lông mi đen; 63. Lòng trắng và đen của mắt đẹp (như) những cánh hoa sen trắng và xanh sẫm; 64. Lông mày dài; 65. Lông mày mềm; 66. Lông mày phẳng; 67. Lông mày mịn; 68. Tai dài và dày; 69. Tai bằng phẳng; 70. Thính giác nguyên toàn; 71. Trán cân đối; 72. Trán cao; 73. Đầu rất nở nang; 74. Tóc đen như ong chúa; 75. Tóc dày; 76. Tóc mềm; 77. Tóc đều đặn, vén khéo; 78. Tóc xoăn, mềm; 79. Tóc có mùi thơm; 80. Lòng bàn tay, lòng bàn chân có có những hình chữ śrīvatsa, (chữ vạn 卍) svastika, nadyavarta, và lalita.|II. Dưới đây là bản liệt kê 80 vẻ đẹp bằng tiếng Hán trong Phật Quang đại từ điển (đã được dịch): 1. Chỉ trảo hiệp trường, bạc nhuận quang khiết (指爪狹長,薄潤光潔): Móng tay thon dài, mảnh và sáng bóng; 2. Thủ túc chi chỉ viên nhi tiêm trường, nhu nhuyễn (手足之指圓而纖長、柔軟): Ngón tay, ngón chân tron, thon dài, mềm dịu; 3. Thủ túc các đẳng vô sai, chư chỉ gian giai sung mật (手足各等無差,諸指間皆充密): Tay chân cân xứng, các ngón khi khép lại thì kín đầy; 4. Thủ túc quang trạch hồng nhuận (手足光澤紅潤): Tay chân sáng bóng, tươi hồng; 5. Cân cốt ẩn nhi bất hiện (筋骨隱而不現): Gân xương ẩn kín, không lộ ra; 6. Lưỡng khoả câu ẩn (兩踝倶隱): Hai mắt cá chân ẩn kín; 7. Hành bộ trực tiến, uy nghi hoà mục như long tượng vương (行歩直進,威儀和穆如龍象王): dáng di hướng thẳng phía trước, uy nghi khoan thai như rồng chúa, voi chúa; 8. Hành bộ uy dung tề túc như sư tử vương (行歩威容齊肅如獅子王): Dáng đi oai vệ như sư tử chúa; 9. Hành bộ an bình do như ngưu vương (行歩安平猶如牛王): Dáng đi bình thản nhr trâu chúa; 10. Tiến chỉ nghi nhã uyển như nga vương (進止儀雅宛如鵝王): Phong thái tiến, dừng thanh nhã, uyển chuyển như ngỗng chúa; 11. Hồi cố tất giai hữu toàn như long tượng vương chi cử thân tùy chuyển (迴顧必皆右旋如龍象王之舉身隨轉): Quay nhìn đều theo bên phải như voi chúa nhấc mình để di chuyển; 12. Chi tiết quân vân viên diệu (肢節均勻圓妙): Các khớp tay chân đều tròn và đẹp; 13. Cốt tiết giao kết do nhược long bàn (骨節交結猶若龍盤): Các đốt xương liên kết nhau như rồng cuốn; 14. Tất luân viên mãn (膝輪圓滿): Đầu gối tròn đầy; 15. Ẩn xứ chi văn diệu hảo thanh tịnh (隱處之紋妙好清淨): Chỗ ẩn vân tốt đẹp và thanh tịnh; 16. Thân chi nhuận hoạt khiết tịnh (身肢潤滑潔淨): Thân và tay chân tươi nhuận, trơn láng, thanh tịnh; 17. Thân dung đôn túc vô uý (身容敦肅無畏): Phong thái đôn hậu, vô uý; 18. Thân chi kiện tráng (身肢健壯): Thân thể tráng kiện; 19. Thân thể an khang viên mãn (身體安康圓滿); 20. Thân tướng do như tiên vương, chu táp đoan nghiêm quang tịnh (身相猶如仙王,周匝端嚴光淨): Thân tướng như tiên chúa, toàn thân đoan nghiêm sáng sạch; 21. Thân chi chu táp viên quang, đản tự nhiên diệu (身之周匝圓光,恒自照耀): Có hào quang thường chiếu sáng quanh thân; 22. Phúc hình phương chính, trang nghiêm (腹形方正、莊嚴): Bụng vuông vức, trang nghiêm; 23. Tề thâm hữu toàn (臍深右旋): Rốn sâu, xoay về hướng phải; 24. Tề hậu bất ao bất đột (臍厚不凹不凸): Rốn đầy, không lõm không lồi; 25. Bì phu vô giới tiển (皮膚無疥癬): Da không ghẻ lác; 26. Thủ chưởng nhu nhuyến, túc hạ an bình (手掌柔軟,足下安平): Bàn tay mềm mại, lòng bàn chân bằng phẳng; 27. Thủ văn thâm trường minh trực (手紋深長明直): Chỉ tay sâu, dày, rõ ràng; 28. Thần sắc quang nhuận đan huy (唇色光潤丹暉): Môi đỏ thắm, sáng và tươi nhuần; 29. Diện môn bất trường bất đoản, bất đại bất tiểu như lượng đoan nghiêm (面門不長不短,不大不小如量端嚴): Mặt không dài không ngắn, không lớn không nhỏ, vừa vặn, đoan nghiêm; 30. Thiệt tướng nhu nhuyễn quảng trường (舌相軟薄廣長): Lưỡi mềm, dài, rộng; 31. Thanh âm uy viễn thanh triệt (聲音威遠清澈): Tiếng nói oai hùng, vang xa, trong suốt; 32. Thanh vận mĩ diệu như thâm cốc hưởng (音韻美妙如深谷響): Âm vận hay đẹp như tiếng vang nơi hang sâu; 33. Tỉ cao thả trực, kì khổng bất hiện (鼻高且直,其孔不現): Mũi cao và thẳng, lỗ mũi kín; 34. Xỉ phương chỉnh tiên bạch (齒方整鮮白): Răng đều đặn, trắng đẹp; 35. Nha viên bạch quang khiết phong lợi (牙圓白光潔鋒利): Răng trắng tròn, sáng sạch, bén nhọn; 36. Nhãn tịnh thanh bạch phân minh (眼淨青白分明): Mắt trong, lòng đen lòng trắng phân minh; 37. Nhãn tướng tu quảng (眼相脩廣): Mắt dài rộng; 38. Nhãn tiệp tề chỉnh trù mật (眼睫齊整稠密): Lông mi đều và dày; 39. Song mi trường nhi tế nhuyễn (雙眉長而細軟): Lông mày dài và mịn; 40. Song mi trình cam lưu li sắc (雙眉呈紺琉璃色): Lông mày xanh biếc như lưu li; 41. Mi cao hiển hình như sơ nguyệt (眉高顯形如初月): Lông mày cách xa mắt và cong như trăng lưỡi liềm; 42. Nhĩ hậu quảng đại tu trường luân đoá thành tựu (耳厚廣大脩長輪埵成就): Vành tai rộng, đoá tai dài thòng xuống; 43. Lưỡng nhĩ tề bình, li chúng quá thất (兩耳齊平,離衆過失): Hai vành tai bằng nhau, không có sai khuyết; 44. Dung nghi linh kiến giả giai sinh ái kính (容儀令見者皆生愛敬): Phong cách uy nghi, khiến người thấy liền sinh kính mến; 45. Tảng quảng bình chính (額廣平正): Trán rộng, bằng phẳng; 46. Thân uy nghiêm cụ túc (身威嚴具足): Thân đầy đủ tướng oai nghiêm; 47. Phát tu trường cam thanh, mật nhi bất bạch (髮脩長紺青,密而不白): Tóc dài xanh biếc, dày mà không bạc; 48. Phát hương khiết tế nhuận (髮香潔細潤): Tóc mịn, toả hương thanh khiết; 49. Phát tề bất giao tạp (髮齊不交雜): Tóc ngay ngắn không rối; 50: Phát bất đoạn lạc (髮不斷落): Tóc không đứt rụng; 51. Phát quang hoạt thù diệu, trần cấu bất trước (髮光滑殊妙,塵垢不著): Tóc trơn bóng, bụi không dính; 52. Thân thể kiên cố sung thật (身體堅固充實): Thân thể vững chắc đầy đặn; 53. Thân thể trường đại đoan trực (身體長大端直): Thân thể cao lớn đoan chính; 54. Chư khiếu thanh tịnh viên hảo (諸竅清淨圓好): Các huyệt thanh tịnh tròn đẹp; 55: Thân lực thù thắng vô dư đẳng giả (身力殊勝無與等者): Sức mạnh thù thắng, không ai sánh bằng; 56. Thân tướng chúng sở lạc quán (身相衆所樂觀): Thân tướng được mọi người ưa nhìn; 57. Diện như thu mãn nguyệt (面如秋滿月): Khuôn mặt như trăng tròn mùa thu; 58. Nhan mạo thư thái (顏貌舒泰): Vẻ mặt thư thái; 59. Diện mạo quang trạch vô hữu tần xúc (面貌光澤無有顰蹙): Gương mặt sáng bóng không vết nhăn; 60. Thân bì thanh tịnh vô cấu, thường vô xú uế (身皮清淨無垢,常無臭穢): Da sạch không cáu ghét, thường không có mùi hôi; 61. Chư mao khổng thường xuất diệu hương (諸毛孔常出妙香): Các lỗ chân lông thường toả hương thơm; 62. Diện môn thường xuất tối thù thắng hương (面門常出最上殊勝香): Diện môn thường toả mùi hương thù thắng; 63. Tướng chu viên diệu hảo (相周圓妙好): Tướng tròn đầy tốt đẹp; 64. Thân mao cam thanh quang tịnh (身毛紺青光淨): Lông trên mình xanh biếc sạch sẽ; 65. Pháp âm tùy chúng, ứng hiện vô sai (法音隨衆,應理無差): Pháp âm tùy theo đại chúng mà ứng hiện, bình đẳng không sai biệt; 66. Đỉnh tướng vô năng kiến giả (頂相無能見者): Tướng đỉnh đầu không ai thấy được; 67. Thủ túc chỉ cương phân minh (手足指網分明): Đường vân của ngón tay, ngón chân phân minh; 68. Hành thời kì túc li địa (行時其足離地): Khi đi, hai chân đều cách mặt đất; 69. Tự trì bất thị tha vệ (自持不待他衛): Tự giữ gìn, không nhờ người khác hộ vệ; 70. Uy đức nhiếp nhất thiết (威德攝一切): Uy đức nhiếp phục hết thảy; 71. Âm thanh bất ti bất kháng, tùy chúng sinh ý (音聲不卑不亢,隨衆生意): Thanh âm nói ra không thấp không cao, vừa sự tiếp thu của chúng sinh; 72. Tùy chư hữu tình, nhạo vi thuyết pháp (隨諸有情,樂為説法): Tùy theo sự ưa thích của chúng sinh mà thuyết pháp; 73. Nhất âm diễn thuyết chính pháp, tùy hữu tình loại các linh đắc giải (一音演説正法,隨有情類各令得解): Diễn thuyết chính pháp chỉ bằng một âm thanh, tùy các loài chúng sinh nghe đều được giải thoát; 74. Thuyết pháp y thứ đệ, tuần nhân duyên (説法依次第,循因縁): Thuyết pháp theo thứ lớp, tùy nhân duyên; 75. Quán hữu tình, tán thiện huỷ ác nhi vô ái tắng (觀有情,讚善毀惡而無愛憎): Quán sát chúng sinh, khen thiện chê ác, nhưng không có tâm yêu ghét; 76. Sở vi tiên quán hậu tác, cụ túc quỹ phạm (所為先觀後作,具足軌範): Trước quan sát kĩ các việc rồi sau mới làm, tuân thủ đúng quy tắc; 77. Tướng hảo, hữu tình vô năng quán tận (相好,有情無能觀盡): Tướng tốt đẹp, chúng sinh không thể nào thấy hết được; 78. Đỉnh cốt kiên thật viên mãn (頂骨堅實圓滿): Xương đầu cứng chắc, tròn đầy; 79. Nhan dung thường thiếu bất lão (顏容常少不老): Dung nhan trẻ mãi không già; 80. Thủ túc cập hung ức tiền, câu hữu cát tường hỉ toàn đức tướng (手足及胸臆前,倶有吉祥喜旋德相): Nơi chân tay và trước lồng ngực đều có tướng tốt cát tường hỉ (chữ Vạn 卍) xoay vần.
bát thập chủng hảo
Anuvyajana (S)Bát thập tùy hảo tướngBát thập tùy hảo: 80 tướng tốt phụ theo 32 tướng trang nghiêm của Phật.
; Anuvyanjana (S). Eighty minor characteristics of the Buddha.
; (八十種好) Tám mươi vẻ đẹp. Tiếng Phạm: Azìtyanu-vyaĩjanàni. Nghĩa là thân tướng của Phật và Bồ tát có tám mươi vẻ đẹp. Cũng gọi là bát thập tùy hình hảo, bát thập tùy hảo, bát thập vi diệu chủng hảo, bát thập chủng tiểu tướng,chúng hảo bát thập chương. Trong thân của Phật và Bồ tát có đủ các tướng dáng thù thắng, đặc biệt; những nét rõ rệt dễ thấy thì có ba mươi hai thứ, gọi là ba mươi hai tướng; còn những nét nhỏ nhiệm kín đáo khó thấy thì có tám mươi thứ, gọi là tám mươi vẻ đẹp. Gọi chung hai thứ là tướng tốt đẹp. Chuyển luân thánh vương cũng có thể đầy đủ ba mươi hai tướng, nhưng tám mươi vẻ đẹp thì đặc biệt chỉ có Phật và Bồ tát mới có. Về thứ tự và tên gọi của tám mươi vẻ đẹp có nhiều thuyết phân vân. Nay cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 381 chép, thì tám mươi vẻ đẹp ấy là: 1. Các móng tay thon dài, mỏng nhẵn bóng láng. 2. Ngón tay ngón chân tròn trịa, thon dài, mềm mại. 3. Các ngón tay ngón chân đều bằng nhau, không so le, giữa khoảng các ngón đều đầy kín. 4. Chân tay bóng láng đỏ mịn. 5. Gân xương không nổi rõ. 6. Hai mắt cá chân đều bằng phẳng ẩn kín. 7. Dáng đi đĩnh đạc, uy nghi, nghiêm trang như rồng chúa. 8. Bước đi đường bệ tề chỉnh như sư tử chúa. 9. Bước đi chậm rãi an bình giống như trâu chúa. 10. Đi đứng uyển chuyển khoan thai như ngỗng chúa. 11. Lúc ngoái nhìn lại thì bao giờ cũng quay về bên phải, như rồng chúa, voi chúa lúc sắp chuyền mình cất bước. 12. Các khớp tay và chân đều đầy đặn, tròn trịa. 13. Các đốt xương giao kết như rồng cuộn. 14. Đầu gối tròn đầy. 15. Vân chỗ kín xinh đẹp trong sạch. 16. Mình và tay chân trơn bóng sạch sẽ. 17. Dáng mình nghiêm túc không sợ. 18. Thân thể mạnh khỏe. 19. Thân thể yên lành đầy đặn. 20. Thân tướng giống như vua tiên, toàn thân đoan nghiêm sáng sạch. 21. Chung quanh thân hình có hào quang chiếu sáng. 22. Bụng vuông vức đẹp đẽ. 23. Rốn sâu và xoay về bên phải. 24. Rốn dày, không lõm không lồi. 25. Da dẻ không ghẻ lở. 26. Bàn tay mềm mại, dưới chân bằng phẳng. 27. Chỉ tay sâu dài rõ thẳng. 28. Môi thắm sáng mọng. 29. Mặt không dài không ngắn không to không nhỏ, xinh xắn vừa vặn. 30. Tướng lưỡi mềm mỏng rộng dài, không to không nhỏ, xinh xắn vừa vặn. 31. Tiếng nói oai nghiêm vang xa trong suốt. 32. Âm vận rất hay, như tiếng vang trong hang sâu. 33. Mũi cao mà thẳng, lỗ mũi kín đáo. 34. Hàm răng đều đặn trắng muốt. 35. Răng nanh tròn, trắng, bóng, bén nhọn. 36. Mắt trong, đen trắng rõ ràng. 37. Tướng mắt dài rộng. 38. Lông mi đều đặn, dài và dày. 39. Đôi mày dài và mịn màng. 40. Hai mi xanh biếc như mầu lưu li. 41. Lông mày nằm cao trên mắt và cong như trăng lưỡi liềm. 42. Vành tai dày rộng, trái tai dài chấm vai. 43. Hai tai bằng nhau, không có khiếm khuyết. 44. Dung nhan khiến người thấy đều yêu kính. 45. Trán rộng bằng phẳng. 46. Thân uy nghiêm đầy đủ. 47. Tóc dài xanh biếc, dày mượt. 48. Tóc mượt mà thơm phức. 49. Tóc đều, không rối. 50. Tóc không rụng. 51. Tóc sáng bóng rất đẹp, không dính bụi bặm. 52. Thân thể cứng chắc đầy đặn. 53. Thân thể cao lớn, ngay thẳng. 54. Các lỗ trong sạch tròn đẹp. 55. Sức mình thù thắng không ai sánh bằng. 56. Thân tướng ai cũng thích nhìn. 57. Mặt tròn như trăng tròn mùa thu. 58. Nét mặt thư thái. 59. Da mặt sáng bóng, không có nét nhăn. 60. Da dẻ sạch sẽ không có cáu ghét, thường không hôi hám. 61. Các lỗ chân lông thường toát ra mùi thơm. 62. Trên mặt thường tỏa ra hương thơm ngào ngạt nhất. 63. Thân tướng tròn trặn đẹp đẽ. 64. Lông trên mình xanh biếc sáng sạch. 65. Tiếng pháp theo mọi người, hợp lý không sai. 66. Tướng đỉnh đầu không ai trông thấy được. 67. Ngón tay ngón chân có mạng rõ ràng. 68. Khi đi chân không sát mặt đất. 69. Tự mình giữ gìn không nhờ người khác hộ vệ. 70. Uy đức bao trùm hết thảy. 71. Tiếng nói không thấp, không cứng, tùy theo ý của chúng sinh. 72. Tùy các hữu tình, thường vì họ mà nói pháp. 73. Một tiếng diễn nói chính pháp, hữu tình tùy theo loại đều có thể hiểu được. 74. Nói pháp theo thứ lớp, tùy nhân duyên. 75. Xem xét hữu tình, khen thiện chê ác, nhưng không có tâm yêu ghét. 76. Bất cứ làm điều gì, xem xét trước rồi sau mới làm, đầy đủ khuôn phép. 77. Tướng tốt đẹp, loài hữu tình không thể xem hết được. 78. Xương chỏm đầu cứng chắc tròn đầy. 79. Dung nhan thường trẻ không già. 80. Chân tay và trước lồng ngực, đều có đức tướng tốt lành vui mừng xoay vòng (tức chữ.. ).
Bát thập chủng tử 八十種好
[ja] ハチジッシュゴウ hachijisshu gō ||| The eighty minor marks of the Buddha's body (aśīty-anuvyañjanāni), which are said to take one hundred great kalpas to develop. The list of the eighty characteristics are not found in the early sutras but is referred to quite often in the Buddha biographies and the Mahayana sutras. It may have own its origin to the Sarvastivadins, but it is much more frequently used in the Mahayana literature. {I} The first sutra in which the full list of the eighty characteristics is found is perhaps the Abhiniṣkramaṇa-sūtra 佛本行集經, the most comprehensive Buddha biography in the Chinese Buddhist canon. There is a summary translation by S. Beal, which goes as follows. 1. finger-nails of copper colour, 2. smooth finger-nails, 3. prominent finger-nails, 4. rounded finger-nails, 5. lender fingers, 6. well developed fingers, 7. concealed veins, 8. unknotted veins, 9. concealed ankles, 10. even feet, 11. gait of a lion, 12. gait of an elephant, 13. gait of swan, 14. gait of a bull, 15. gait of swaying towards the right, 16. pleasing gait, 17. steady gait, 18. rounded body, 19. smooth body, 20. regular body, 21. pure body, 22. tender body, 23. stainless body, 24. sex organs complete, 25. body with broad and graceful limbs, 26. even pace, 27. youthful body, 28. zestful body, 29. lofty body, 30. well-composed body, 31. well-proportioned limbs and their parts, 32. clear and pure sight, 33. rounded sides of the body, 34. smooth sides of the body, 35. not bulging sides of the body, 36. slim abdomen, 37. deep navel, 38. clockwise coiled navel, 39. agreeable in all respects, 40. pure conduct, 41. body free from freckles and black spots, 42. delicate hands like cotton, 43. fine hands lines, 44. deep hands lines, 45. long hand lines, 46. not too enlongated mouth, 47. the mouth resembling the bimba (fruit), 48. pliable tongue, 49. slender tongue, 50. red tongue, 51. voice of a roaring elephant or thoudering clouds, 52. articulate, attractive and gentle speech, 53.rounded canine teeth, 54. sharp canine teeth, 55. white canine teeth, 56. even canine teeth, 57. regular canine teeth, 58. prominent nose, 59. neat nose, 60. clear eyes, 61.large eyes, 62. thick eyelashes, 63. (the white and dark section of) the eyes beatifully (contrast) like the petals of a white and dark lotus, 64. long eyebrows, 65. soft eyeborws, 66. even eyebrows, 67. smooth eyebrows, 68. thick and long ears, 69. even ears, 70.unimpaired hearing, 71. well-formed forehead, 72. broad forehead, 73. well-developed head, 74. black hair like the black bee, 75. thick hair, 76. soft hair, 77. undishevel-led/untousled head, 78. pliable hair, 79. fragrant hair, 80. the palms and soles marked with srivatsa, svastika, nadyavarta, and lalita symbols. {II} Below is a list in Chinese from the Fokuang Shan dictionary (to be translated): (1) Long and thin fingernails, delicate and smooth, emitting pure light 指爪狹長,薄潤光潔。(2) Round, long and tender toes and fingers 手足之指圓而纖長、柔軟。(3) 手足各等無差,諸指間皆充密。(4) 手足光澤紅潤。(5) Sinews and bones which are covered and not visible 筋骨隱而不現。(6) 兩踝倶隱。(7) A stride that is straightforward, with a deportment that is harmonious like a dragon king 行歩直進,威儀和穆如龍象王。(8) 行歩威容齊肅如獅子王。(9) 行歩安平猶如牛王。(10) 進止儀雅宛如鵝王。(11) 迴顧必皆右旋如龍象王之舉身隨轉。(12) 肢節均勻圓妙。(13) 骨節交結猶若龍盤。(14) Kneecaps that are round and full 膝輪圓滿。(15) 隱處之紋妙好清淨。(16) 身肢潤滑潔淨。(17) 身容敦肅無畏。(18) 身肢健壯。(19) 身體安康圓滿。(20) 身相猶如仙王,周匝端嚴光淨。(21) 身之周匝圓光,恒自照耀。(22) 腹形方正、莊嚴。(23) 臍深右旋。(24) A full navel that neither protrudes nor forms a hole 臍厚不凹不凸。(25) Skin that lacks any irritation 皮膚無疥癬。(26) Tender palms and flat soles 手掌柔軟,足下安平。(27) 手紋深長明直。(28) 唇色光潤丹暉,(29) 面門不長不短,不大不小如量端嚴。(30) 舌相軟薄廣長。(31) 聲音威遠清澈。(32) 音韻美妙如深谷響。(33) 鼻高且直,其孔不現。(34) 齒方整鮮白。(35) 牙圓白光潔鋒利。(36) 眼淨青白分明。(37) 眼相脩廣。(38) 眼睫齊整稠密。(39) 雙眉長而細軟。(40) 雙眉呈紺琉璃色。(41) 眉高顯形如初月。(42) 耳厚廣大脩長輪埵成就。(43) 兩耳齊平,離衆過失。(44) 容儀令見者皆生愛敬。(45) 額廣平正。(46) 身威嚴具足。(47) 髮脩長紺青,密而不白。(48) 髮香潔細潤。(49) 髮齊不交雜。(50) 髮不斷落。(51) 髮光滑殊妙,塵垢不著。(52) 身體堅固充實。(53) 身體長大端直。(54) 諸竅清淨圓好。(55) 身力殊勝無與等者。(56) 身相衆所樂觀。(57) 面如秋滿月。(58) 顏貌舒泰。(59) 面貌光澤無有顰蹙。(60) 身皮清淨無垢,常無臭穢。(61) 諸毛孔常出妙香。(62) 面門常出最上殊勝香。(63) 相周圓妙好。(64) 身毛紺青光淨。(65) 法音隨衆,應理無差。(66) 頂相無能見者。(67) 手足指網分明。(68) 行時其足離地。(69) 自持不待他衛。(70) 威德攝一切。(71) 音聲不卑不亢,隨衆生意。(72) 隨諸有情,樂為説法。(73) 一音演説正法,隨有情類各令得解。(74) 説法依次第,循因縁。(75) 觀有情,讚善毀惡而無愛憎。(76) 所為先觀後作,具足軌範。(77) 相好,有情無能觀盡。(78) 頂骨堅實圓滿。(79) 顏容常少不老。(80) 手足及胸臆前,倶有吉祥喜旋德相(即卍字). => Tám mươi vẻ đẹp phụ trên thân Đức Phật (s: aśīty-anuvyañjanāni), tương truyền các tướng tốt nầy cần phải tu hành một trăm đại kiếp mới đạt được. Bản liệt kê 80 vẻ đẹp nầy không thấy ghi trong các kinh văn nguyên thủy, nhưng rất thường thấy đề cập trong tiểu sử Đức Phật và các kinh văn Đại thừa. Có lẽ nó có xuất xứ từ các nhà Nhất thiết hữu bộ (s: Sarvastivadins), nhưng lại được sử dụng thường xuyên trong văn hệ Đại thừa. {1}. Kinh văn đầu tiên liệt kê đầy đủ 80 vẻ đẹp có lẽ được tìm thấy trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (s: Abhiniṣkramaṇa-sūtra), là bản ghi trọn vẹn lịch sử Đức Phật nhất trong Hán tạng. Bản dịch tóm tắt của S. Beal ghi 80 vẻ đẹp như sau: 1. Móng tay màu như đồng. 2.Móng tay mềm dịu. 3.Móng tay nổi bật. 4. Móng tay tròn đều. 5. Ngón tay mềm mại. 6. Các ngón tay phát triển cân xứng 7. Các tĩnh mạch ẩn kín. 8. Các tĩnh mạch dãn ra. 9. Mắt cá chân ẩn kín. 10. Lòng bàn chân bằng phẳng. 11. Dáng đi như sư tử. 12. Dáng đi như voi chúa. 13. Dáng đi như ngỗng chúa. 14. Dáng đi như trâu chúa. 15. Dáng đi thường hướng về bên phải. 16. Dáng đi tự tại. 17. Dáng đi vững chãi. 18. Thân thể tròn đầy. 19. Thân thể mềm dịu. 20. Thân thể cân đối. 21. Thân thể thanh tịnh . 22. Thân thể dịu dàng. 23. Thân thể không tỳ vết. 24. Bộ phận sinh dục hoàn chỉnh. 25. Thân thể tráng kiện, các chi thanh nhã. 26. Bước đi khoan thai. 27. Thân thể khỏe mạnh. 28. Thân thể an khang 29. Thân thể đoan nghiêm. 30. Thân thể nghiêm túc, viên mãn. 31. Tứ chi cân đối với các phần thân thể. 32. Thị lực trong sáng. 33. Thân tướng viên mãn. 34. Thân tướng nhẹ nhàng. 35. Thân tướng cân đối. 36. Bụng phẳng. 37. Rốn sâu. 38. Rốn cuộn theo chiều kim đồng hồ. 39. Làm vui lòng mọi người khi giao tiếp. 40. Giới hạnh thanh tịnh. 42. Da không bị cháy nắng và tàn nhang. 43. Chỉ tay rất đẹp. 44. Chỉ tay sâu. 45. Chỉ tay dài. 46. Miệng không quả rộng. 47. Môi đỏ như trái tần-bà (s: bimba) 48. Lưỡi mềm mại. 49. Lưỡi mỏng và nhỏ. 50. Lưỡi màu đỏ. 51. Tiếng nói như voi gầm hoặc sấm rền. 52. Tiếng nói rõ ràng, lôi cuốn và hòa nhã. 53. Răng cửa tròn 54. Răng cửa nhọn. 55. Răng cửa trắng 56. Răng cửa bằng phẳng. 57. Răng cửa đều đặn. 58. Mũi cao. 59. Mũi gọn và đẹp. 60. Mắt sáng. 61. Mắt lớn. 62. Lông mi đen. 63. Lòng trắng và đen của mắt đẹp (như) những cánh hoa sen trắng và xanh sẫm. 64. Lông mày dài. 65. Lông mày mềm. 66. Lông mày phẳng. 67.. Lông mày mịn. 68. Tai dài và dày. 69. Tai bằng phẳng. 70. Thính giác nguyên toàn. 71. Trán cân đối. 72. Trán cao. 73. Đầu rất nở nang. 74. Tóc đen như ong chúa. 75. Tóc dày. 76. Tóc mềm. 77. Tóc đều đặn, vén khéo. 78. Tóc xoăn, mềm. 79. Tóc có mùi thơm. 80. Lòng bàn tay, lòng bàn chân có có những hình chữ srivatsa, (chữ vạn ) svastika, nadyavarta, và lalita {II}. Dưới đây là bản liệt kê 80 vẻ đẹp bằng tiếng Hán trong Từ điển của nhóm Phật Quang Sơn (đã được dịch); 1.Chỉ trảo hiếp trường, bạc nhuận quang khiết: Móng tay thon dài, mảnh và sáng bóng. 2. Thủ túc chi chỉ viên nhi tiêm trường, nhu nhuyến: Ngón tay, ngón chân tron, thon dài, mềm dịu. 3. Thủ túc các đẳng vô sai, chư chỉ gian giai sung mật: Tay chân cân xứng, các ngón khi khép lại thì kín đầy. 4. Thủ túc quang trạch hồng nhuận: Tay chân sáng bóng, tươi hồng. 5. Cân cốt ẩn nhi bất hiện: Gân xương ẩn kín, không lộ ra. 6. Lưỡng khỏa câu ẩn: Hai mắt cá chân ẩn kín. 7. Hành bộ trực tiến, oai nghi hòa mục như long tượng vương: dáng di hướng thẳng phía trước, oai nghi khoan thai như voi chúa. 8. Hành bộ oai dung tề túc như sư tử vương: Dáng đi oai vệ như sư tử chúa. 9. Hành bộ an bình do như ngưu vương: Dáng đi bình thản nhr trâu chúa. 10. Tiến chỉ nghi nhã uyển như nga vương: Phong thái tiến, dừng thanh nhã, uyển chuyển như ngỗng chúa. 11. Hồi cố tất giai hữu tuyền như long tượng vương chi cử thân tùy chuyển: Quay nhìn đều theo bên phải như Voi chúa nhấc mình để di chuyển. 12. Chi tiết quân vân viên diệu: Các khớp tay chân đều tròn và đẹp. 13. Cốt tiết giao kết do nhược long bàn: Các đốt xương liên kết nhau như rồng cuốn. 14. Tất luân viên mãn: Đầu gối tròn đầy. 15. Ẩn xứ chi văn diệu hảo thanh tịnh. Chỗ ẩn vân tốt đẹp và thanh tịnh. 16. Thân chi nhuận hoạt khiết tịnh: Thân và tay chân tươi nhuận, trơn láng, thanh tịnh. 17. Thân dung đôn túc vô úy: Phong thái đôn hậu, vô úy. 18. Thân chi kiện tráng: Thân thể tráng kiện. 19. Thân thể an khang viên mãn. 20. Thân tướng do như tiên vương, châu táp đoan nghiêm quang tịnh: Thân tướng như tiên chúa, toàn thân đoan nghiêm sáng sạch. 21. Thân chi châu táp viên quang, đản tự nhiên diệu: Có hào quang thường chiếu sáng quanh thân. 22. Phúc hình phương chính, trang nghiêm: Bụng vuông vức, trang trang nghiêm. 23. Tề thâm hữu tuyền: Rốn sâu, xoay về hướng phải. 24. Tề hậu bất ao bất đột: Rốn đầy, không lõm không lồi. 25. Bì phu vô giới tiển. Da không ghẻ lác. 26. Thủ chưởng nhu nhuyến, túc hạ an bình: Bàn tay mềm mại, lòng bàn chân bằng phẳng. 27. Thủ văn thâm trường minh trực: Chỉ tay sâu, dày, rõ ràng. 28. Thần sắc quang nhuận đan huy: Môi đỏ thắm, sángvà tươi nhuần. 29. Diện môn bất trường bất đoản, bất đại bất tiểu như lượng đoan nghiêm: Mặt không dài không ngắn, không lớn không nhỏ, vừa vặn, đoan nghiêm. 30. Thiệt tướng nhu nhuyến quảng trường: Lưỡi mềm, dài, rộng. 31. Thanh âm oai viễn thanh triệt: Tiếng nói oai hùng, vang xa, trong suốt. 32. Thanh vận mỹ diệu như thâm cốc hưởng. Âm vận hay đẹp như tiếng vang nơi hang sâu. 33. Tỷ cao thả trực, kỳ khổng bất hiện: Mũi cao và thẳng, lỗ mũi kín. 34. Xỉ phương chỉnh tiên bạch: Răng , đều đặn, trắng đẹp. 35. Nha viên bạch quang khiết phong lợi: Răng trắng tròn, sáng sạch , bén nhọn. 36. Nhãn tịnh thanh bạch phân minh: Mắt trong, lòng đen lòng trắng phân minh. 37. Nhãn tướng tu quảng: Mắt dài rộng. 38. Nhãn tiệp tề chỉnh trù mật: Lông mi đều và dày. 39. Song mi trường nhi tế nhuyễn: Lông mày dài và mịn. 40. Song mi trình cam lưu ly sắc: Lông mày xanh biếc như lưu ly. 41. Mi cao hiển hình như sơ nguyệt: Lông mày cách xa mắt và cong như trăng lưỡi liềm. 42. Nhĩ hậu quảng đại tu trường luân thùy thành tựu: Vành tai rộng, thùy tai dày thòng xuống. 43. Lưỡng nhĩ tề bình, ly chúng quá thất: Hai vành tai bằng nhau, không có sai khuyết. 44. Dung nghi linh kiến giả giai sinh ái kính: Phong cách uy nghi, khiến người thấy liền sinh kính mến. 45. Tảng quảng bình chỉ: Trán rộng, bằng phẳng. 46. Thân oai nghiêm cụ túc: Thân đầy đủ tướng oai nghiêm. 47. Phát tu trường cam thanh, mật nhi bất bạch: Tóc dài xanh biếc, dày mà không bạc. 48. Phát hương khiết tế nhuận: Tóc mịn, tỏa hương thanh khiết. 49. Phát tề bất giao tạp: Tóc ngay ngắn không rối. 50: Phát bất đoạn lạc: Tóc không đứt rụng. 51. Phát quang hoạt thù diệu, trần cấu bất trước: Tóc trơn bóng, bụi không dính. 52. Thân thể kiên cố sung thực: Thân thể vững chắc đầy đặn. 53. Thân thể trường đại đoan trực: Thân thể cao lớn đoan chính. 54. Chư khiếu thanh tịnh viên hảo: Các huyệt thanh tịnh tròn đẹp. 55: Thân lực thù thắng vô dư đẳng giả: Sức mạnh thù thắng, không ai sánh bằng. 56. Thân tướng chúng sở nhạo quán: Thân tướng được mọi người ưa nhìn. 57. Diện như thu mãn nguyệt. Khuôn mặt như trăng tròn mùa thu. 58. Nhan mạo thư thái: Vẻ mặt thư thái. 59. Diện mạo quang trạch vô hữu tần xuất: Gương mặt sáng bóng không vết nhăn. 60. Thân bì thanh tịnh vô cấu, thường vô xú uế: Da sạch không cáu ghét, thường không có mùi hôi. 61. Chư mao khổng thường xuất diệu hương: Các lỗ chân lông thường tỏa hương thơm. 62. Diện môn thường xuất tối thù thắng hương: Diện môn thường tỏa mùi hương thù thắng. 63. Tướng châu viên diệu hảo: Tướng tròn đầy tốt đẹp. 64. Thân mao cam thanh quang tịnh: Long trên mình xanh biếc sạch sẽ. 65. Pháp âm tùy chúng, ứng hiện vô sai: Pháp âm tùy theo đại chúng mà ứng hiện, bình đẳng không sai biệt. 66. Đảnh tướng vô năng kiến giả: Tướng đảnh đầu không ai thấy được. 67. Thủ túc chỉ cương phân minh: Đường vân của ngón tay, ngón chân phân minh. 68. Hành thời kỳ túc ly địa: Khi đi, hai chân đều cách mặt đất. 69. Tự trì bất thị tha vệ: Tự giữ gìn, không nhờ người khác hộ vệ. 70. Oai đức nhiếp nhất thiết: Oai đức nhiếp phục hết thảy. 71. Âm thanh bất ty bất kháng , tùy chúng sinh ý: Thanh âm nói ra không thấp không cao, vừa sự tiếp thu của chúng sinh. 72. Tùy chư hữu tình, nhạo vi thuyết pháp: Tùy theo sự ưa thích của chúng sinh mà thuyết pháp. 73. Nhất âm diễn thuyết chính pháp, tùy hữu tình loại các linh đắc giải: Diễn thuyết chính pháp chỉ bằng một âm thanh, tùy các loài chúng sinh nghe đều được giải thoát. 74. Thuyết pháp y thứ đệ, tuần nhân duyên: Thuyết pháp theo thứ lớp, tùy nhân duyên. 75. Quán hữu tình, tán thiện hủy ác nhi vô ái tắng: Quán sát chúng sinh, khen thiện chê ác, nhưng không có tâm yêu ghét. 76. Sở vi tiên quán hậu tác, cụ túc quỹ phạm: Trước quan sát kỹ các việc rồi sau mới làm, tuân thủ đúng quy tắc. 77. Tướng hảo, hữu tình vô năng quán tận: Tướng tốt đẹp, chúng sinh không thể nào thấy hết được . 78. Đảnh cốt kiên thật viên mãn: Xương đầu cứng chắc, tròn đầy. 79. Nhan dung thường thiếu bất lão: Dung nhan trẻ mãi không già. 80. Thủ túc cập hung ức tiền, câu hữu cát tường hỷ tuyền đức tướng: Nơi chân tay và trước lồng ngực đều có tướng tốt (chữ Vạn) xoay vần.
bát thập hảo tướng
Xem Tám mươi tùy hình hảo.
bát thập nhất khoa
(八十一科) Tám mươi mốt khoa. Chỉ 81 khoa danh tướng Bát nhã được chép trong Đại tạng nhất lãm tập quyển 3. Đó là: năm uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu duyên sở sinh, bốn duyên, sáu đại, mười hai nhân duyên, sáu độ, ngã giả, sinh giả, thọ giả, mệnh giả, hữu tình giả, dưỡng dục giả, chúng số giả, tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thụ giả, sử thụ giả, kiến giả, tri giả, hai mươi không, bốn đế, chân như, pháp giới, pháp tính, bất hư vọng tính, bất biến dịch tính, bình đẳng tính, li sinh tính, pháp định, pháp trụ, thực tế, xứ không giới, bất tư nghị giới, bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định, tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, bốn niệm xứ, bốn chính cần, mười biến xứ, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi giác, tám chi thánh đạo, không giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô nguyện giải thoát môn, Bồ tát thập địa, năm nhãn, sáu thông, mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, mười tám pháp bất cộng, vô vong thất pháp, hằng trụ xả tính, nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí, nhất thiết đà la ni môn, nhất thiết tam ma địa môn, dự lưu quả, nhất lai quả, bất hoàn quả, a la hán quả, độc giác bồ đề, nhất thiết bồ tát ma ha tát hạnh (nhân tròn quả đầy) v.v... tất cả tám mươi mốt khoa.
bát thập nhất pháp
The eighty-one divisions in the Đại Bát nhã kinh comprising sắc form; tâm mind; ngũ ấm the five skandhas; thập nhị nhập twelve means of sensation; thập bát giới eighteen realms; tứ đế four truths; thập nhị nhân duyên twelve nidànas; thập bát không eighteen sùnya; lục độ six pàramità; and tứ trí four jnàna.
; (八十一法) Tám mươi mốt pháp. Giáo thừa pháp số quyển 12 tổng hợp các pháp môn được nói trong kinh Đại bát nhã làm tám mươi mốt khoa là: sắc, tâm, năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, bốn đế, mười hai nhân duyên, mười tám không, sáu độ, bốn trí v.v... hợp làm tám mươi mốt pháp.
bát thập nhất phẩm tư hoặc
The eighty-one kinds of illusion, or misleading thoughts, arising out of desire, anger, foolishness and pride - nine grades in each of the nine realms of desire, of form and beyond form.
bát thập tùy hình hảo
The eighty notable physical characteristics of Buddha.
bát thập tùy hảo
Xem Bát thập chủng hảo.
bát thập tùy hảo tướng
Xem Bát thập chủng hảo.
bát thập tụng luật
(八十誦律) Tám mươi lần tụng luật. Là tạng luật căn bản của Phật giáo. Sau khi đức Phật nhập diệt, các vị đệ tử kết tập ba tạng, tỉ khưu Ưu ba li tụng tạng Luật tám mươi lần (mục đích để mọi người thuộc lòng) trong một mùa hạ, vì thế nên gọi là Bát thập tụng luật. Về sau, các luật Tứ phần, Ngũ phần đã dựa vào đây mà được thành lập, thì luật Thập tụng không còn nữa. [X. Bồ tát giới sớ nghĩa Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.3 Tân tập luật lai hán địa tứ bộ tự lục].
bát thập vô tận
(八十無盡) Tám mươi không hết. Chỉ cho tám mươi pháp môn không hết do bồ tát Vô tận ý nói. Quan âm nghĩa sớ quyển thượng (Đại 34, 921 hạ) nói: Bát thập vô tận, có thể chứa đựng hết thảy Phật pháp, do đó mà có tên vô tận ý (ý không hết). [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.27 phẩm Vô tận ý bồ tát; kinh A sai mạt bồ tát].
bát thập ức kiếp
(八十億劫) Tám mươi ức kiếp. Ý nói vì tội nghiệp mà phải trôi lăn trong giòng sống chết qua số kiếp lâu dài như thế. An lạc tập quyển thượng. (Đại 47, 4 trung) nói: Nếu một niềm xưng tên đức Phật A di đà, thì có thể diệt trừ tội sống chết của tám mươi ức kiếp. Một niệm đã vậy, huống là tu thường niệm?
Bát thắng giải
八勝解; C: bāshèngjiě; J: hachishōge;|Tám loại giải thoát thù thắng. Như Bát giải thoát (八解脫).
Bát thắng giải 八勝解
[ja] ハチショウゲ hachishōge ||| The eight excellent liberations. Same as 八解脱. => Tám môn giải thoát thù thắng. Như Bát giải thoát.
bát thắng xứ
The eight victorious stages, or degrees, in mediatation for overcoming desire, or attachment to the world of senses.
; (八勝處) Tám chỗ vượt hơn. Tiếng Phạm: Awỉàvabhibhv-àyatanàni, Pàli: Aỉỉha abhibhà-yatanàni. Cũng gọi là bát trừ nhập, bát trừ xứ. Tức là tám giai đoạn quán tưởng sắc xứ (chỗ màu sắc) và hình tướng ở cõi Dục để khắc phục mà trừ bỏ lòng tham. Thắng xứ, nghĩa là chỗ nương vào đó để chiến thắng phiền não mà dẫn đến nhận biết Phật giáo. 1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ (trong có sắc tưởng, ngoài quán ít sắc). Nghĩa là, nếu trong tâm có ý tưởng về sắc, thì đó là vì tâm quán tưởng về đạo chưa được lớn mạnh; trong trường hợp ấy, nếu quán tưởng nhiều sắc, sẽ khởi tâm tham dục, thì khó mà giữ được tâm đạo, cho nên phải quán tưởng ít sắc để diệt trừ tham muốn. 2. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại đa sắc thắng xứ (trong có sắc tưởng, ngoài quán nhiều sắc). Nghĩa là tâm quán tưởng đạo dần dần đã lớn mạnh, thành thục, trong trường hợp này, có quán tưởng nhiều sắc bên ngoài, cũng không có gì trở ngại. Như quán tưởng kỹ một xác chết, cho đến mười trăm nghìn vạn cái xác chết, và tiến lên chiến thắng nhiều sắc xứ. 3. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ (không có tưởng sắc bên trong, quán tưởng ít sắc bên ngoài). Nghĩa là tâm quán tưởng về đạo dần dần nhỏ nhiệm thù thắng, trong tâm không còn ý tưởng về sắc, nhưng bên ngoài quán tưởng ít sắc để thắng nó. 4. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc đa thắng xứ (trong không sắc tưởng, ngoài quán nhiều sắc). ghĩa là cũng như trên, chế phục và chiến thắng nhiều sắc. 5. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc thanh thắng xứ. Nghĩa là trong không có ý tưởng về sắc, ngoài quán sắc xanh. 6. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc hoàng thắng xứ. Nghĩa là, trong không có sắc tưởng, ngoài quán sắc vàng. 7. Nội vô sắc tưởng ngoại quán sắc xích thắng xứ. Nghĩa là trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc đỏ. 8. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc bạch thắng xứ. Nghĩa là trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc trắng. Các mục số 5, 6, 7, 8 trên đây là trong tâm không còn ý tưởng về sắc nữa, mà bên ngoài lại quán tưởng các màu xanh vàng đỏ trắng của sắc, khắc phục và chiến thắng để đối trị tham muốn. Tám thắng xứ trên đây đều lấy căn lành không tham làm tính chất, bốn thắng xứ đầu đều nương vào Thiền thứ nhất và Thiền thứ hai, bốn thắng xứ sau thì đều nương vào Thiền thứ tư, chứ không nương vào Thiền thứ ba, vì Thiền thứ ba quá vui sướng nên tâm trì độn. Còn về mối quan hệ giữa tám thắng xứ và tám giải thoát, thì luận Câu xá quyển 29 (Đại 29, 151 hạ) nói: Trong tám thắng xứ, hai thắng xứ đầu giống như giải thoát thứ nhất, hai thắng xứ kế tiếp giống với giải thoát thứ hai; bốn thắng xứ cuối giống như giải thoát thứ ba. Như vậy, tám thắng xứ khác với ba giải thoát ở chỗ nào? Trước tu giải thoát chỉ có thể buông bỏ, sau tu thắng xứ mới có thể chế phục các duyên, tùy chỗ ưa thích mà quán xét, cuối cùng phiền não không khởi lên nữa. Nghĩa là tu giải thoát, đối với các duyên, chỉ có thể theo thứ tự mà buông bỏ, đến bỏ lòng tham thì thôi, nhưng chưa được tự tại. Bởi thế lại phải tu tám thắng xứ mới có thể chế phục các duyên, khiến phiền não dứt bặt, không khởi lên nữa, tức chế phục đối cảnh mà được tự tại. [X. kinh Nhân vương Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Đại tì bà sa Q.85; Pháp giới thứ đệ Q.trung hạ]. (xt. Bát Giải Thoát).
bát thế duyên
Eight wordly conditions.
bát thế phong
Xem Bát Phong.
bát thời
(八時) Tám thời. Phép chia thời khắc của Ấn độ. Ngày đêm được chia làm tám thời, ngày bốn thời, đêm bốn thời, và mỗi thời lại đều có bốn phần. Nhưng trong Thánh giáo thì chỉ lấy sáu thời làm khuôn phép, chứ không theo thế tục. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải ký qui nội pháp truyện Q.3].
bát thủy công đức
Eight excellent qualities of the water.
Bát thức
八識; C: bāshì; J: hachishiki;|Tám thức (s: aṣṭa-vijñānāni), tên gọi sự lập thành lĩnh vực cốt tuỷ và đặc biệt nhất trong giáo lí của Du-già hành tông Phật giáo, được biết đến ở Đông Á với tên Pháp tướng tông (法相) và Duy thức tông (唯識). Theo giáo lí của tông nầy, mỗi chúng sinh đều có 8 lớp thức riêng biệt, năm thức đầu tiên tương ứng với 5 giác quan, thức thứ 6 tương ứng với tâm hay suy nghĩ (ý thức 意識), thức thứ 7, Mạt-na thức (末那識) tương ứng với ý niệm về bản ngã, thức thứ 8 (A-lại-da thức) là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình. Vì 7 thức đầu sinh khởi y cứ vào thức thứ 8, nên được gọi là chuyển thức (轉識). Ngược lại, thức thứ 8 được gọi là Bản thức (本識), Tạng thức (藏識) hay Chủng tử thức (種子識; theo Thành duy thức luận 成唯識論).
bát thức
Eight levels of consciousnesses, Eight consciousnesses, nam shī tsog gye (T)Gồm: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na, a lại da thức.
; The eight kinds of cognition, perception, or consciousness: 1-Nhãn thức, caksur-vijnàna, eye-consciousness; 2-Nhĩ thức, srotra-vijnàna, ear-consciousness; 3-Tỷ thức, ghràna-vijnàna, nose- consciouness; 4-Thiệt thức, jihvà-vijnàna, tongue-consciousness; 5-Thân thức, kàya-vijnàna, body-consciousness; 6-Ý thức, mano-vijnàna, conscious-mind; 7-Chấp ngã thức, manas-vijnàna, subconscious-mind; 8-Tàng thức, àlaya-vijnàna, ideation store.
; (八識) Tám thức. Phạm: aṣṭau vijñānāni. Tám thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da thuộc tâm pháp trong năm vị pháp của hành phái Du già và tông Pháp tướng. Trong đây, sáu thức mắt, tai v.v... là theo căn mà đặt tên; thức a lại da dựa vào nghĩa thu giữ nhân quả của các pháp, cũng tức là theo tự tính của nó mà đặt tên. Hoặc gọi năm thức mắt, tai v.v... là năm thức trước, thức ý là thức thứ sáu, thức mạt na là thức thứ bảy, thức a lại da là thức thứ tám. Lại nữa, từ thức mắt đến thức mạt na đều do thức a lại da sinh ra và chuyển đổi, nên được gọi chung là chuyển thức hoặc bảy chuyển thức, vì thức a lại da là nhân của bảy chuyển thức nên gọi là thức gốc (căn bản thức), thức hạt giống (chủng tử thức). Lại có thuyết chia tám thức làm ba thức năng biến: thức a lại da gọi là năng biến thứ nhất, thức mạt na là năng biến thứ hai, sáu thức đầu là năng biến thứ ba. Nếu đứng về phương diện tính của tám thức mà nói, thì tính của sáu thức đầu là phân biệt các pháp một cách rõ ràng, duyên theo sáu đối tượng (cảnh) sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, và có đủ cả ba tính thiện, ác, vô ký (không thiện không ác); tính của thức mạt na là thường xét nét suy nghĩ, là tính hữu phú vô ký (tính vô ký hay che lấp tâm tính), chỉ duyên theo kiến phần của thức a lại da làm nội ngã (cái ta ở bên trong) của mình; tính của thức a lại da là vô phú vô ký (tính vô ký không che lấp tâm tính), vì hành tướng của nó nhỏ nhiệm duyên với khí thế giới (thế giới vật lý), chủng tử, và căn thân do chính nó biến ra. Các nhà Địa luận chủ trương a đà na (thức mạt na) là thức mê vọng, a lại da là thức chân thực. Các nhà Nhiếp luận thì cho a lại da là thức mê vọng, rồi lập riêng thức thứ chín gọi là vô cấu tịnh thức (thức trong sạch không cáu bẩn). Các nhà Duy thức thì bảo chỉ có tám loại thức mà thôi, và các thức này đều là tính y tha khởi, tức chẳng phải là thức chân thường trong sạch. [X. kinh Nhập lăng già Q.8 phẩm Sát na; luận Thành duy thức Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối].
bát thức duyên cảnh quảng hiệp
(八識緣境廣狹) Tám thức duyên cảnh rộng hẹp. Tám thức do tông Duy thức thành lập, các cảnh (đối tượng) mà tám thức duyên theo có rộng, hẹp khác nhau: 1. Thức mắt, duyên theo cảnh duy thực duy lượng, nghĩa là khi mắt thấy sắc, thì liền có thức sinh, duyên theo sắc có thực như xanh, vàng, đỏ, trắng, gọi là tính cảnh (cảnh có thực hiện thấy ở trước). Thức này đối cảnh, gọi là hiện lượng (thấy sắc hiện trước mà hay đo lường). Vì mắt chỉ thấy sắc, chưa khởi phân biệt, nên cảnh được duyên theo hẹp. 2. Thức tai, duyên theo cảnh duy thực duy lượng, nghĩa là khi tai nghe tiếng thì liền có thức sinh, hay nghe tiếng nói có thực, gọi là tính cảnh. Thức này đối cảnh gọi là hiện lượng. Vì tai chỉ nghe tiếng, chưa khởi phân biệt, nên cảnh được duyên theo hẹp. 3. Thức mũi, duyên cảnh duy thực duy lượng, nghĩa là khi mũi ngửi mùi, thì liền có thức sinh, ngửi mùi có thật, như thơm hôi, gọi là tính cảnh. Thức này đối cảnh, gọi là hiện lượng. Vì nó chỉ ngửi mùi, chưa khởi phân biệt, nên cảnh được duyên theo hẹp. 4. Thức lưỡi, duyên cảnh duy thực duy lượng, nghĩa là khi lưỡi nếm vị thì liền có thức sinh, nếm vị có thật như mặn, chua, đắng, lạt, gọi là tính cảnh. Thức này đối cảnh, gọi là hiện lượng. Vì nó chỉ nếm vị, chưa khởi phân biệt, nên cảnh được duyên theo hẹp. 5. Thức thân, duyên cảnh duy thực duy lượng, nghĩa là khi thân chạm biết, liền có thức sinh, duyên sự va chạm có thật, như trơn, mịn, ráp, cứng v.v..., gọi là tính cảnh. Cái mà thức này duyên theo, được gọi là hiện lượng. Vì nó chỉ mới chạm biết, chưa khởi phân biệt, nên cảnh được duyên theo hẹp. 6. Thức ý, duyên khắp tất cả, thông suốt hai lượng giả và thật. Nghĩa là tâm thức này duyên khắp cảnh hiện trước có thật, rồi trên những cảnh thật ấy, phân biệt tướng dài, ngắn, vuông, tròn v.v... gọi là giả. Thức này đều duyên theo ba cảnh (tính cảnh, độc ảnh cảnh, đới chất cảnh) và đủ cả ba lượng (hiện lượng, tỉ lượng, phi lượng). Vì thức này có thể phân biệt khắp các cảnh giả thật, cho nên cảnh được duyên theo rộng. 7. Thức thứ bảy, kiến phần duy giả duy thực. Nghĩa là thức này không phân biệt thể tướng, nương vào thức thứ tám mà dấy sinh, lại duyên kiến phần của thức thứ tám mà làm tướng phần, phân biệt tính lường, thường bám lấy thức thứ tám làm ta, tâm hay duyên theo là giả, cảnh được duyên theo là thật. Vì thức này chỉ khởi ngã chấp, sinh các tập khi, không thể duyên khắp các cảnh, nên cảnh được duyên theo rất hẹp. 8. Thức thứ tám, duyên theo căn thân, khí giới duy thực duy lượng. Căn thân, tức là các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân v.v...; Khí giới, là giới đồ dùng, tức thế giới giống như đồ dùng để chứa đựng. Nghĩa là thức căn bản này chứa đựng hết thảy hạt giống của các pháp nhơ, sạch, tất cả căn thân khí giới đều nương vào thức này mà dấy sinh. Thân căn và khí giới này là tướng phần của tám thức, là đối tượng (cảnh) để tám thức duyên theo, là lượng hiện trước có thật, cho nên cảnh được duyên theo rất rộng.
bát thức ngũ trùng
(八識五重) Năm lớp tám thức. Là phép quán do tông Pháp tướng đặt ra. Tức dựa vào tám thức để quán tưởng năm lớp duy thức. Nghĩa là quán tưởng lý muôn pháp duy thức từ nông đến sâu. (xt. Ngũ Trùng Duy Thức).
bát thức quy củ bổ chú
(八識規矩補注) Gồm 2 quyển. Ngài Phổ thái đời Minh soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 45. Văn gọn, nghĩa sâu, có thể được coi là tinh tủy của Duy thức học. Bồ tát Thế thân đã rút lấy phần tinh túy trong luận Du già 100 quyển mà cô đọng thành 30 bài tụng, mở đường cho người sau dễ vào Duy thức học.Về sau, qua mười vị luận sư như ngài Hộ pháp v.v... giải thích quá rộng, nên đã trở thành phức tạp khó hiểu. Bởi vậy, sau khi từ Thiên trúc (Ấn độ) về nước, ngài Huyền trang đã tổng hợp một trăm bản luận của các luận sư mà soạn thành luận Thành duy thức 10 quyển, đến đây, Duy thức học mới được đại thành. Sau, ngài Huyền trang lại rút lấy phần tinh túy, soạn thành Bát thức qui củ 1 quyển 4 chương, 12 bài tụng, 48 câu, văn tuy giản lược nhưng nghĩa rất sâu xa, đời sau có nhiều bản chú giải, nhưng chỉ sách Bát thức qui củ bổ chú là ngắn gọn và sáng sủa hơn cả. Nội dung của bản chú giải này là vấn đề Tâm, Ý, Thức. Cả bộ gồm 12 bài kệ tụng: ba bài đầu giải thích rõ về tâm vương, tâm sở và sự tương ứng sinh khởi của năm thức trước; ba bài kế tiếp giải rõ ba tính, ba lượng và những tâm sở tương ứng của thức thứ sáu; ba bài tiếp nữa giải rõ thức thứ bảy, và ba bài cuối cùng giải thích rõ thức thứ tám.
Bát thức quy củ tụng
八識規矩頌; C: bāshì guījǔ sòng; J: hasshiki kiku shō;|Tác phẩm của Huyền Trang (玄奘). Kinh văn nầy không thấy trong Đại chính tân tu đại tạng kinh, tuy nhiên luận giải về bản tụng nầy của Phổ Thái (普泰) lặp lại rằng bản gốc của Tụng bản nầy được tìm thấy trong mục số Đại chính 1865.45.467-476, nhan đề là Bát thức quy củ bổ chú (八識規矩補註), nhưng được sắp xếp khác hơn. Bản dịch tiếng Anh về bản gốc của Huyền Trang của Ronald Epstein có thể được tìm thấy trên mạng quốc tế.
bát thức quy củ tụng
(八識規矩頌) Gồm 4 chương 12 bài tụng 48 câu. Ngài Huyền trang đời Đường soạn. Trình bày một cách đại khái về học thuyết Duy thức, chú trọng nói rõ vấn đề tâm thức là trung tâm của học thuyết Duy thức. Nội dung: ba bài tụng đầu nói về năm thức trước, bài 4 đến 6 nói về thức thứ sáu, bài 7 đến 9 nói về thức thứ bảy, ba bài cuối nói về thức thứ tám. Sách này ở đời Minh, có rất nhiều bản chú thích, trong đó, các bản sau đây được xem như nổi tiếng hơn cả: - Bát thức qui củ bổ chú của Phổ thái (2 quyển). - Bát thức qui củ bổ chú chính nghĩa của Minh dục (1 quyển). - Bát thức qui củ trực giải của Trí húc (1 quyển). Bát thức qui củ toản thích của Quảng ích (1 quyển).
Bát thức quy củ tụng 八識規矩頌
[ja] ハッシキキクショウ Hasshiki kiku shō ||| (Verses on the Structure of the Eight Consciousnesses). By Xuanzang 玄奘. This text is not found in the Taishō, though a commentary on it by P'u-t'ai 普泰 that reiterates the root text is found at T 1865.45.467-476, entitled Bashi guiju buzhu 八識規矩補註. It covers similar topics to the Cheng weishi lun 成唯識論, but organized somewhat differently. An English translation of Xuanzang's root text by Ronald Epstein can be found on his Web site: http://userwwwṣfsu.edu/~melville/Welcome.html. => Của Huyền Trang. Kinh văn nầy không thấy trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tuy nhiên luận giải về bản tụng nầy của Phổ Thái (c: P'u-t'ai 普泰) lặp lại rằng bản gốc của Tụng bản nầy được tìm thấy trong mục số T 1865.45.467-476, nhan đề là Bát Thức Quy Củ Bổ Chú ( c: Bashi guiju buzhu 八識規矩補註), nhưng được sắp xếp khác hơn. Bản dịch tiếng Anh về bản gốc của Huyền Trang của Ronald Epstein có thể được tìm thấy trên Web site: http://userwwwṣfsu.edu/~melville/Welcome.html.
bát thức tâm vương
(八識心王) Tám thức mắt, tai v.v... đều có tâm vương và tâm sở. Bản thể của thức là tâm vương, tương ứng với tâm vương mà khởi lên tác dụng riêng là tâm sở, tức như tác ý, xúc, thụ v.v... là tâm sở hữu pháp, gọi tắt là tâm sở (tác dụng của tâm).
Bát thức 八識
[ja] ハチシキ hachishiki ||| The eight consciousnesses (aṣṭa-vijñānāni), the articulation of which forms one of the most seminal and distinctive aspects of the doctrine of the Yogācāra 瑜伽行派 school of Buddhism, known in East Asia as Dharma-character 法相 school and Consciousness-only 唯識 school. According to this doctrine, sentient beings possess eight distinct layers of consciousness, the first five 五識 corresponding the sense perceptions, the sixth 意識 to the thinking mind, the seventh 末那識 to the notion of ego, and the eighth 阿頼耶識 as repository of all the impressions from one's experiences. As the first seven of these arise based on the eighth, they are called the transformed consciousnesses 轉識. In contrast, the eighth is known as the base consciousness 本識, store consciousness 藏識, or seed consciousness 種子識. 〔成唯識論 T 1585.31.〕 => Tám thức (s: aṣṭa-vijñānāni), tên gọi sự lập thành lĩnh vực cốt tủy và đặc biệt nhất trong giáo lý của Du-già hành tông Phật giáo, được biết dến ở Á Đông với tên Pháp tướng tông và Duy thức Tông. Theo giáo lý của tông nầy, mọi chúng sinh đều có tám lớp thức riêng biệt, năm thức đầu tiên tương ứng với năm giác quan, thức thứ sáu tương ứng với tâm hay suy nghĩ (ý thức), thức thứ bảy tương ứng với ý niệm về bản ngã, thức thứ tám (A-lại-da thức) là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình. Vì bảy thức đầu sinh khởi y cứ vào thức thứ tám, nên được gọi là chuyển thức. Ngược lại, thức thứ tám được gọi là Bản thức, Tạng thức hay Chủng tử thức ( theo Thành Duy thức luận).
bát tiên
Pa-hsien (C), Eight immortals.
Bát Tiết
(八節): tám tiết chính trong một năm, gồm: (1) Tiết Xuân (春, đầu năm), (2) Tiết Nguyên Tiêu (元霄, tức Thượng Nguyên [上元], nhằm đêm rằm tháng Giêng âm lịch, còn gọi là Nguyên Tịch [元夕], Nguyên Dạ [元夜]), (3) Tiết Thanh Minh (清明, vào tháng 3 âm lịch, nhằm ngày 5, 6 tháng 4 dương lịch), (4) Tiết Đoan Ngọ (端午, vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi là Đoan Ngũ [端五], Đoan Dương [端陽], Trùng Ngũ [重五]), Tiết Quỷ (鬼, tức Trung Nguyên [中元], vào ngày rằm tháng 7 âm lịch), (5) Tiết Trung Thu (中秋, vào ngày rằm tháng 8), (6) Tiết Trùng Dương (重陽, vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là Trùng Cửu [重九]), (7) Tiết Hạ Nguyên (下元, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch), (8) Tiết Lạp (臘, tiết cuối năm vào tháng 12 âm lịch). Cũng có thuyết khác cho rằng Bát Tiết là Lập Xuân (立春), Lập Hạ (立夏), Lập Thu (立秋), Lập Đông (立冬), Xuân Phân (春分), Hạ Chí (夏至), Thu Phân (秋分) và Đông Chí (冬至). Như trong Chu Bễ Toán Kinh (周髀算經) quyển hạ có đoạn: “Phàm vi Bát Tiết Nhị Thập Tứ Khí (凡爲八節二十四氣, phàm là Tám Tiết, Hai Mươi Bốn Khí).” Hay trong Hàn Sơn Thi (寒山詩) cũng có câu: “Tứ Thời chu biến dị, Bát Tiết cấp như lưu (四時周變易、八節急如流, Bốn Thời xoay đổi khác, Tám Tiết nước chảy nhanh).” Hoặc như trong Tây Du Ký (四游記), phần Hoa Quang Lai Thiên Điền Quốc Hiển Linh (華光來千田國顯靈) có câu: “Hữu Tứ Thời bất tạ chi hoa, Bát Tiết trường xuân chi cảnh (有四時不謝之花、八節長春之景, có Bốn Thời hoa chẳng rụng, Tám Tiết cảnh sắc trường xuân).”
bát tiệm kệ
(八漸偈) Tám kệ dần dần. Bạch cư dị đời Đường đã dựa vào tám chữ quán, giác, định, tuệ, minh, thông, tế, xả, mà làm tám bài kệ tụng, mỗi chữ một bài. Tám chữ này là cửa đưa vào đạo dần dần, cho nên gọi là Bát tiệm kệ. Tám kệ ấy là: 1. Quán: dùng mắt trong tâm, quán tướng ngoài tâm, từ đâu mà có? Do đâu mà mất? Xét đi xét lại, thì rõ chân vọng. 2. Giác: chân tâm vẫn đó, vì vọng che lấp, nếu rõ chân vọng, trong đó giác sinh, chẳng hề lìa vọng, mà được chân không. 3. Định: chân nếu không diệt, vọng liền chẳng sinh, nguồn của sáu căn, như nước phẳng lặng, đó là thiền định, thoát khỏi sống chết. 4. Tuệ: dùng định chuyên chú, định còn ràng buộc, dùng tuệ giúp sức, tuệ không trệ ngại, như ngọc trên mâm, mâm định ngọc tuệ.5. Minh: định tuệ hợp nhau, trở nên sáng tỏ, soi rọi muôn vật, vật hiện nguyên hình, như gương tròn lớn, có ứng không tình. 6. Thông: tuệ cực thì sáng, sáng tức không tối, sáng cực liền thông, thông thì không ngại, không ngại là sao? Biến hóa tự tại! 7. Tế: sức thông chẳng thường, ứng niệm mà biến, tướng biến chẳng có, tùy cầu mà thấy, là đại từ bi, dùng một từ bi, cứu giúp muôn người. 8. Xả: đã hết các khổ, đại bi cũng bỏ, khổ đã chẳng thật, bi cũng là giả, bởi thế chúng sinh, thật không ai độ. [Cảnh đức truyền đăng lục Q.29].
bát toàn kinh
Baduajin (C), Pa-tuan chin (C), Baduajin (C), Eight Elegant exercises Loạt bài tập thể lực của Đạo gia.
Bát trai giới
xem Tám giới trai.
bát triền
(八纏) Tám phiền não gốc. Triền (trói buộc), là tên gọi khác của phiền não, vì phiền não trói buộc chúng sinh trong lao ngục sống chết, cho nên gọi phiền não là triền. Tám phiền não ấy là: 1. Không thẹn: đối với tội lỗi đã gây ra, không biết tự thẹn. 2. Không hổ: đối với tội ác mình đã gây ra, không biết xấu hổ với người khác. 3. Ghen ghét: đối với việc tốt của người, lòng mình không vui. 4. Bỏn xẻn: đối với của cải và pháp bảo, sinh tâm bỏn xẻn. 5. Hối tiếc: đối với việc lành đã làm, sinh ra hối tiếc. 6. Ngủ: ngủ nhiều khiến tâm mờ tối. 7. Thô động: cử chỉ thô động, khiến tâm tán loạn, không yên tĩnh. 8. Li bì: tâm thường mơ màng nặng nề. [X. luận Câu xá Q.21; luận Đại tì bà sa Q.47, Q.50].
bát trung châu
(八中洲) Tám châu cỡ trung bình (cỡ vừa). Phạm: Awỉadvìpa.Ở bên cạnh bốn châu lớn: Nam thiệm bộ, Đông thắng thần, Tây ngưu hóa và Bắc câu lô, đều có hai châu cỡ vừa phụ thuộc mỗi châu, cộng thành tám Trung châu: 1. Hai Trung châu của châu Nam thiệm bộ: Giá mạt la châu (Phạm:Càmara), dịch là Miêu ngưu châu; Phiệt la giá mạt la châu (Phạm: Varacàmara), dịch là Thắng miêu ngưu châu. 2. Hai Trung châu của châu Đông thắng thân: Đề ha châu (Phạm: Deha), dịch là Thân châu; Tì đề ha châu (Phạm: Videha), dịch là Thắng thân châu. 3. Hai Trung châu của châu Tây ngưu hóa: Xá đế châu (Phạm:Sàỉha) dịch là Siểm châu; Ốt đát la mạn đát lí noa châu (Phạm: Uttaramantrìịa), dịch là Thượng nghi châu. 4. Hai Trung châu của châu Bắc câu lô: Củ lạp bà châu (Phạm: Kurava), dịch là Thắng biên châu; Kiêu lạp bà châu (Phạm: Kaurava) dịch là Hữu thắng biên châu. Kinh điển Phật nói rằng các châu này, đều có người ở. [X. Câu xá luận tụng sớ Q.11].
bát trá
(鉢咤) Phạm: Paỉỉa. Một bức lụa lớn không có nẹp (như những điều của ca sa), gọi là bát tra, dùng để che thân. Dịch ý: bức lụa, áo không khâu may. Hữu bộ tì nại da quyển 23 (Đại 23, 748 trung) nói: Dệt lụa làm bát tra (bát tra là bức lụa lớn bằng khổ ca sa, nhưng không có điều nẹp. Ở Trung quốc không có loại áo này, mà chỉ có áo vải mịn. Áo, bản tiếng Phạm đều gọi là bát tra, Hán dịch là mạn điều) (áo không văn sức). Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 123 thượng) nói: Lụa gọi là bát tra.
Bát trí
xem Tám trí.
; 八智; C: bāzhì; J: hacchi;|Tám trí, kết hợp với Tám nhẫn (Bát nhẫn 八忍) để cấu thành Mười sáu tâm thức (Thập lục tâm 十六心). Mỗi loại nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó kết hợp. Những loại nhẫn nầy được trải qua trong giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp trí (苦法忍); 2. Khổ loại trí (苦類忍); 3. Tập pháp trí (集法忍); 4. Tập loại trí (集類忍); 5. Diệt pháp trí (滅法忍); 6. Diệt loại trí (滅類忍); 7. Đạo pháp trí (道法忍); 8. Đạo loại trí (道類忍).
bát trí
Eight kinds of jnàna or gnosis.
Bát trí 八智
[ja] ハッチ hacchi ||| Eight wisdoms, which, together with the eight tolerances 八忍, constitute the sixteen minds 十六心. Each one of the tolerances (or causes) precedes an insight with which it is associated. These are experienced in the Path of Seeing 見道. They are: (1) the wisdom of the dharma of suffering 苦法智; (2) the wisdom of kinds of suffering 苦類智; (3) the wisdom of the dharma of arising 集法智; (4) the wisdom of kinds of arising 集類智; (5) the wisdom of the dharma of cessation 滅法智; (6) the wisdom of kinds of cessation 滅類智; (7) the wisdom of the Way 道法智; (8) the wisdom of kinds of the way 道類智. => Tám trí, kết hợp với Tám nhẫn (Bát nhẫn) để cấu thành Mười sáu tâm (Thập lục tâm). Mỗi thứ nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó kết hợp. Những thứ nhẫn nầy có được qua giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp trí 2. Khổ loại trí. 3. Tập pháp trí . 4. Tập loại trí . 5. Diệt pháp trí . 6. Diệt loại trí . 7. Đạo pháp trí . 8. Đạo loại trí . Bát chính đạo 八正道 [ja] ハッショウドウ hasshōdō ||| The correct (noble) eightfold path, taught by Śākyamuni in his first sermon, and which remains one of the cornerstones of Buddhist practice. Also written 八聖道. Eight types of practices used in conjuction with each other to lead sentient beings to liberation. These are: (1) right view 正見; (2) right thought 正思惟, (3) right speech 正語; (4) right action 正業; (5) right livelihood 正命; (6) right effort 正精進; (7) right mindfulness 正念 and (8) right concentration 正定. (āryāṣṭāṅgo-mārgo) => (s: āryāṣṭāṅgo-mārgo) Con đường chân chính tu đạo gồm tám phần, do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng trong bài thuyết pháp đầu tiên, và vẫn còn là nền tảng trong việc tu tập Phật pháp. Còn gọi là Bát Thánh Đạo. Mỗi dạng thực hành đều có sự liên kết với các pháp khác để đưa chúng sinh đến nơi giải thoát. Đó là: 1. Chính kiến; 2. Chính tư duy; 3. Chính ngữ; 4. Chính nghiệp; 5. Chính mạng; 6. Chính tinh tiến; 7. Chính niệm; 8. Chính định.
Bát tà
八邪; C: bāxié; J: hachija; |Tám thứ vọng kiến sai lầm: Tà kiến, Tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh, tà niệm, tà tinh tiến, tà định.
bát tà
The eight heterodox or improper practices, the opposite of the eight correct paths bát chính đạo.
bát tà hạnh
(八邪行) Tám hạnh tà. Trái với Bát chính đạo. Tức ba nghiệp thân, miệng, ý phạm tám thứ sai lầm. Cũng gọi bát tà chi, bát tà pháp. Gọi tắt bát tà. 1. Tà kiến, chỉ sự thấy biết không tin có nhân quả, công đức, cha mẹ, Thánh nhân v.v... 2. Tà chí, cũng gọi tà tư duy. Chỉ sự suy tư về ham muốn, giận tức, làm hại... 3. Tà ngữ, tức nói dối, nói hai lưỡi, nói độc ác, nói thêu dệt. 4. Tà nghiệp, tức giết hại, trộm cướp, gian dâm. 5. Tà mệnh, mưu sinh trái với đạo đức, nhân nghĩa. 6. Tà phương tiện, cũng gọi là tinh tiến, tức hăng hái, sốt sắng làm việc ác. 7. Tà niệm, nhớ nghĩ bậy, quán niệm phi pháp. 8. Tà định, định tâm sai lầm, chẳng phải chính định. Tám điều trên đây, những người phàm phu và ngoại đạo thường làm, những người mong cầu giải thoát niết bàn thì phải tránh xa. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Trung a hàm Q.49; kinh Bát chính đạo; kinh Duy ma phẩm Đệ tử ]. (xt. Bát Chính đạo).
bát tà đạo
Eight wrong paths.
Bát tà 八邪
[ja] ハチジャ hachija ||| Eight kinds of evil (errors). Wrong view, wrong thought, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong mindfulness, wrong effort, wrong concentration. The opposite to the Eightfold Noble Path. => Tám thứ vọng kiến sai lầm: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà niệm, tà tinh tiến, tà định.
bát tâm
(八心) Chỉ tám giai đoạn của tâm thiện theo thứ tự trở nên chín mùi. 1. Tâm hạt giống, người phàm phu nảy ra ý tưởng tiết chế ăn uống, giữ trai mà tu hành, là giai đoạn gieo giống nghiệp thiện bắt đầu. 2. Tâm hạt giống nứt mầm, lòng hiếu dưỡng cha mẹ, giúp đỡ họ hàng, thân thích v.v... là giai đoạn hạt giống nghiệp thiện bắt đầu nứt mầm. 3. Tâm mầm hạt giống lớn lên, lòng giúp đỡ lại mở rộng thêm đến những người ngoài họ hàng thân thuộc, là giai đoạn thân của cái mầm lớn lên. 4. Tâm hạt giống nảy lá, đặc biệt lựa chọn những người đạo đức cao mà cúng dường, là giai đoạn cái mầm nảy sinh ra lá. 5. Tâm nở hoa, sự giúp đỡ đạt đến sự lựa chọn đặc biệt là cúng dường những người kỹ nhạc hoặc các bậc tôn túc trong thế gian, là giai đoạn tâm nở hoa. 6. Tâm thành quả, là giai đoạn đầy đủ tâm từ ái làm việc bố thí cũng như quả trở nên chín. 7. Tâm hạt giống hưởng thụ, giữ giới được lợi ích, sau khi chết sinh cõi trời, là giai đoạn hưởng thụ quả chín mùi. 8. Tâm trẻ con, tuy sống trong thế giới mê hoặc, nhưng lòng không sợ hãi, là giai đoạn trên hết trong thế gian. Tám tâm trên đây, thêm hai giai đoạn tâm thù thắng, tâm quyết định nữa, gọi là mười tâm.
bát tông
(八宗) I. Bát tông. Tám tông. Chỉ tám tông phái của Phật giáo Đại thừa lưu truyền ở Trung quốc. Đó là: Luật tông, Tam luận tông, Tịnh độ tông, Thiền tông, Thiên thai tông, Hoa nghiêm tông, Pháp tướng tông và Mật tông. II. Bát tông. Tám tông do ngài Khuy cơ(Từ ân) thuộc tông Pháp tướng đời Đường lập ra để phán định và giải thích Phật pháp Tiểu thừa và Đại thừa, gọi là Từ ân bát tông. Đó là: Ngã pháp câu hữu tông, Hữu pháp vô ngã tông, Pháp vô khứ lai tông, Hiện thông giả thực tông, Tục vọng chân thực tông, Chư pháp đãn danh tông, Thắng nghĩa giai không tông, Ứng lí viên thực tông. III. Bát tông. Tám tông phái Phật giáo lưu truyền ở Nhật bản: Hoa nghiêm, Pháp tướng, Tam luận, Thành thực, Câu xá ở Nam đô (Nara) và Thiên thai, Chân ngôn ở Bình an (Heian).
Bát tông cương yếu
八宗綱要; C: bāzōng gāngyào; J: hasshūkōyō; |Tác phẩm của Ngưng Nhiên (凝然; j: gyōnen); hoàn thành năm 1286. Là một giới thiệu tổng quát phác hoạ về lịch sử, giáo pháp và những Tổ sư của 8 tông phái Phật giáo được lưu truyền đến Nhật Bản trong thời kì Phật giáo Nại Lương (j: nara). Phổ biến như một giới thiệu về Phật giáo cho các sinh viên khoa tôn giáo ở Nhật Bản đến ngày nay. Tác phẩm nầy, trong khi giá trị của nó như một nguồn tài liệu, có khuynh hướng rất nồng nhiệt, lại hoàn toàn không đề cập đến vai trò của Hàn Quốc trong việc truyền thừa Phật giáo từ Trung Hoa đến Nhật Bản. Tác phẩm nầy đã được Leo Pruden dịch sang tiếng Anh trong chương trình Numata với nhan đề The Essentials of the Eight Traditions.
bát tông cương yếu
(八宗綱要) Gồm hai quyển. Ngài Ngưng nhiên ở chùa Đông đại Nhật bản soạn. Nội dung ghi chép một cách đại lược về sáu tông: Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm, Luật, Thành thực ở Nam đô (Nara) và Thiên thai, Chân ngôn ở Bình an (Heian). Quyển thượng trình bày sơ lược về lịch sử Phật giáo của ba nước Trung hoa, Nhật bản, Ấn độ và đại khái về ba tông Câu xá, Thành thực, Luật v.v... Quyển hạ tường thuật tóm tắt về các tông Pháp tướng, Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Chân ngôn v.v... Cuối quyển bàn thêm về Thiền tông và Tịnh độ tông. Sách này được viết theo thể tài hỏi đáp, nội dung trình bày sơ lược về mỗi tông, như tên tông, kinh điển nương theo, hệ thống truyền thừa và giáo nghĩa. Lời văn rất gọn gàng sáng sủa, trước nay ở Nhật bản, sách này được những người mới học Phật pháp dùng làm sách nhập môn và được lưu truyền rộng rãi. Những sách chú sớ về tác phẩm này có Khải mông lục 5 quyển của Tiềm long, Khảo chứng 2 quyển của ngài Huyền châu, Quan đạo 5 quyển của Xuân đổng, Tư kí 2 quyển của Nghĩa thành và Giảng nghĩa 3 quyển của Giác thọ.
Bát tông cương yếu 八宗綱要
[ja] ハッシュウコウヨウ Hasshūkōyō ||| The Hasshūkōyō (Outline of the Eight Schools), by Gyōnen 凝然. 2 fasc., completed in 1286. A broad introductory sketch which gives the history, doctrine and major teachers of the eight schools which were transmitted to Nara Buddhism in Japan. Popular as an introduction to Buddhism for serious students in Japan down to the present day. This work, while valuable as a source of facts, contains a strong bias, in that it complete omits the discussion of Korea in the transmission of Buddhism from China to Japan. Translated into English by Leo Pruden in the Numata project with the title The Essentials of the Eight Traditions. => (j: Hasshūkōyō ; e: Outline of the Eight Schools); của Ngưng Nhiên (凝然j: Gyōnen); hoàn thành năm 1286. Là một giới thiệu tổng quát phác họa về lịch sử, giáo pháp và những Tổ sư của 8 tông phái Phật giáo được lưu truyền đến Nhật Bản trong thời kỳ Phật giáo Nại Lương (j: Nara ). Phổ biến như một giới thiệu về Phật giáo cho các sinh viên khoa tôn giáo ở Nhật Bản đến ngày nay. Tác phẩm nầy, trong khi giá trị của nó như một nguồn sự kiện, có khuynh hướng rất nồng nhiệt, lại hoàn toàn bỏ qua sự đề cập của Cao Ly đến sự truyền thừa Phật giáo từ Trung Hoa đến Nhật Bản. Tác phẩm nầy đã được Leo Pruden dịch sang tiếng Anh trong chương trình Numata với nhan đề The Essentials of the Eight Traditions.
bát tông tổ sư
(八宗祖師) Tổ sư tám tông. Chỉ bồ tát Long thụ. Sự ra đời của ngài Long thụ là ứng hợp với lời đoán trước (huyền kí) trong kinh Lăng già, sẽ là người làm rạng rỡ nền Phật giáo Đại Viên Nhân Thành Lập * Kim cương giới: Đại nhật - Kim tát - Long mãnh - Kim trí - Bất không -Thuận hiểu -Tối trừng * Thai tạng giới: Đại nhật - Kim tát - Vô úy - Nghĩa lâm - Thuận hiểu - Tối trừng * Tạp bộ: Thích ca - Bồ đề lưu chi - Vô cực cao - Giang bí - Linh quang - Duy tượng - Tối trừng * Kim cương giới: Đại nhật - Kim tát - Long thụ - Long trí - Bất không - Nhất hạnh - Tuệ quả - Huệ định - Nghĩa tháo * Thai tạng giới: Đại nhật - Kim tát - Long trí - Vô úy - Nhất hạnh - Huệ lãng *Tô tất địa pháp: Đại nhật - Kim tát - Long trí - Kim trí - Vô úy - Bất không -Nhất hạnh - Huệ định - Nghĩa tháo Tối Trừng Thành Lập thừa và quả đã như thế. Học thuyết của ngài rất rộng, có quan hệ giáo nghĩa với các tông Phật giáo Đại thừa, cho nên tất cả tám tông Đại thừa đều tôn ngài làm tổ sư. [X. Bát Tông Cương Yếu].
bát tư ba
(八思巴) (1239-1280) Tên Tây tạng: Chos-rgyal-hphags-pa. Cũng gọi Phát tư bát, Phát hợp tư ba, Bát hợp tư ba, Bạt tư phát, Phạ khắc tư ba. Vị tăng học giả của Lạt ma giáo Tây tạng, là tổ sư đời thứ năm của phái Tát ca. Sư sinh ra trong một giòng họ của phái Tát ca, mười lăm tuổi đã làm thầy truyền giới cho vua Thế tổ nhà Nguyên là Hốt tất liệt, đồng thời, trở thành vị cố vấn về tôn giáo. Năm mười chín tuổi, sư đã dùng quan điểm Phật giáo để phê phán kinh Lão tử hóa hồ và biện luận phá đạo sĩ. Sau, Bát tư ba vào Mông cổ, được Hốt tất liệt tôn làm Quốc sư, thống lĩnh Tổng chế viện, quản lí Phật giáo toàn quốc và công việc của địa khu Tây tạng, nghiễm nhiên trở thành vị lãnh đạo Phật giáo Trung quốc. Sư lại được giao sứ mệnh sáng chế văn tự Mông cổ. Sư lấy chữ Tây tạng làm nền tảng để đặt ra chữ Mông cổ, tức là văn Bát tư ba, vua ban hiệu cho sư là Đại bảo pháp vương. Sư từng giảng luận Chương sở tri 2 quyển (bản Hán dịch hiện còn) cho Thái tử Chân kim nghe. Năm Chí nguyên 13 (1276), sư trở về Tây tạng, mở ra pháp hội khúc di, tự giữ ngôi Pháp vương đời thứ nhất của chùa Tát ca. Các tác phẩm soạn thuật của sư gồm hơn 30 loại, trong đó, Tát ca ngũ tổ tập được lưu truyền rất rộng. Sư còn xúc tiến việc giao lưu văn hóa giữa Trung quốc và Tây tạng, như đem kĩ thuật ấn loát, nghệ thuật hí kịch truyền vào Tây tạng, đem kĩ xảo kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc của Tây tạng truyền đến Trung quốc. Do đó, sau thời đại Bát tư ba, nhà Nguyên mới có sự qua lại mật thiết với phái Tát ca. Đệ tử của sư là Đảm ba (Tạng: Dampa, 1230-1303), lúc làm quan dưới thời Hốt tất liệt và Nguyên thành tông, đã hết sức chấn hưng Phật giáo. [X. Phật tổ thống kỉ Q.48; Nguyên sử liệt truyện 89]
bát tướng
(八相) Tám thứ tướng uy đức. Cũng gọi Thích ca bát tướng, Bát tướng thành đạo, Như lai bát tướng, Bát tướng thị hiện, Bát tướng tác Phật. Là tám tướng thành Phật và cũng là tám nghi thức giáo hóa chúng sinh trong một đời của Phật. Đó là : 1. Tướng từ cung trời Đâu suất xuống. Lúc Bồ tát từ cung trời Đâu suất sắp giáng thần, Ngài xem thấy nước Ca tì la vệ trong cõi Diêm phù đề là nơi chư Phật thời quá khứ đều sinh ra ở đấy, khi ấy Bồ tát liền hiện ra năm điềm lành: a. Phóng ánh sáng lớn b. Quả đất chấn động c. Cung điện của các vua bị che khuất không hiện d. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú không chiếu sáng nữa e. Hàng trời, rồng v.v... đều kinh sợ. Hiện những điềm lành ấy rồi, Bồ tát mới hạ sinh. 2. Tướng gá thai. Lúc sắp gá thai, Bồ tát xem thấy vua Tịnh phạn tính hạnh hiền từ, Ma da phu nhân 500 đời trước đã từng làm mẹ Bồ tát, nên Ngài đến đó gá thai. Người có căn cơ lớn thấy Bồ tát ngồi trong lầu gác bằng gỗ chiên đàn, người căn cơ nhỏ thì thấy Ngài cỡi voi trắng sáu ngà, và vô lượng chư thiên trỗi các kĩ nhạc, đi vào hông bên phải của Ma da phu nhân, thân ánh ra ngoài sáng như ở trong ngọc lưu li. 3. Tướng giáng sinh. Ngài sinh ra vào ngày mồng tám tháng tư, lúc ấy Ma da phu nhân ở trong vườn Lâm tì ni, tay đang vin cành vô ưu thì Bồ tát dần dần từ hông bên phải sinh ra, lúc ấy dưới gốc cây mọc lên bảy hoa sen to bằng bánh xe, Bồ tát đứng trên hoa đi vòng bảy bước, đưa tay phải lên, nói (Đại 50, 16 thượng) : Trong tất cả các trời người, ta là bậc tôn quí hơn hết. Bấy giờ, Long vương Nan đà và Long vương Bạt nan đà ở giữa hư không tuôn xuống hai thứ nước ấm và mát rưới lên mình Thái tử, lúc ấy thân Ngài lộ ra mầu vàng ròng, đầy đủ 32 tướng, phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp ba nghìn thế giới đại thiên. 4. Tướng xuất gia. Đến năm 19 tuổi, Thái tử đi dạo bốn cửa thành, thấy tướng già, bệnh, chết, chán cõi đời vô thường, tâm nghĩ đến việc xuất gia, bèn đến thưa vua cha xin cho xuất gia, vua cha không bằng lòng, ngày mồng 7 tháng 2, thân Ngài phóng ra ánh sáng chiếu tới cung trời Tứ thiên vương và cung trời Tịnh cư. Chư thiên thấy rồi, đến chỗ Thái tử, đầu mặt lễ dưới chân Ngài, bạch rằng (Đại 50, 24 thượng): Từ vô lượng kiếp đến nay Ngài đã tu các hạnh nguyện, nay chính là lúc đã thành thục. Vào lúc đêm khuya, Thái tử lên ngựa đến rừng khổ hạnh của ông tiên Bạt già cạo bỏ râu tóc. 5. Tướng hàng ma. Lúc sắp thành đạo dưới gốc cây bồ đề, quả đất rúng động, Bồ tát phóng ánh sáng lớn che khuất cung điện của ma. Khi ấy, ma Ba tuần liền sai ba người con gái đến làm loạn tịnh hạnh của Ngài, Bồ tát dùng sức thần biến ba con ma trẻ đẹp thành các bà già. Ma vương nổi giận, hạ lệnh cho tất cả quân ma nổi sấm sét, mưa tuôn xuống những viên sắt nóng, bánh xe dao, gậy gộc, cung tên bắn ra để hại Thái tử, nhưng các thứ ấy đều dừng lại giữa hư không và biến thành hoa sen, không hại được Thái tử. Bọn ma vương buồn rầu, thất vọng và giải tán. Từ dưới lên trên : Đản Sinh, Hàng Ma, Thành Đạo, Sơ Chuyển Pháp Luân, Niết Bàn. 6. Tướng thành đạo. Sau khi hàng phục quân ma, Bồ tát phóng ánh sáng lớn rồi vào định. Trong định, Ngài thấy suốt hết các việc thiện ác đã làm ở các kiếp quá khứ, việc sinh đây chết kia... Ngày mồng 8 tháng chạp, lúc sao mai mọc, Ngài hoát nhiên đại ngộ, được đạo Vô thượng, thành tối chính giác. 7. Tướng nói pháp. Sau khi thành đạo, Bồ tát muốn nói pháp để độ chúng sinh, nhưng lại tự nghĩ (Đại 50, 36 hạ): Các chúng sinh không thể tin nhận được đạo của ta (...), nếu ta ở đời cũng không có ích lợi gì, chi bằng vào Niết bàn vô dư thì hơn. Ngay khi ấy, Phạm thiên đến trước bạch Phật (Đại 50, 37 trung): Bạch Thế tôn! Ngày nay biển pháp đã đầy, cờ pháp đã dựng, trống pháp đã đặt, tất cả đều sẵn sàng nay đã đúng lúc, tại sao Ngài lại định bỏ hết thảy chúng sinh mà vào Niết bàn, không chịu nói pháp?. Bấy giờ, đức Như lai nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, Ngài liền đến vườn Lộc dã, trước hết vì năm ông Kiều trần như quay bánh xe pháp Tứ đế, rồi về sau lần lượt nói các giáo pháp Đại thừa, Tiểu thừa. 8. Tướng Niết bàn. Đức Như lai hóa độ thế gian được 45 năm thì vào Niết bàn. Ngày 15 tháng 2 Ngài ở thành Câu thi na, giữa hai cây sa la, nằm trên giường bảy báu, khu rừng bỗng nhiên biến thành mầu trắng giống như bạch hạc. Bấy giờ, đức Thế tôn nhận bữa cơm cuối cùng do Trưởng giả Thuần đà cúng dường rồi Ngài bảo bồ tát Văn thù sư lợi (Đại 50, 70 hạ): Các thiện nam tử hãy tự tu tâm, cẩn thận chớ buông thả!. Thế rồi, vào nửa đêm đức Như lai nhập Niết bàn. Bấy giờ là năm 383 trước kỉ nguyên. Sau khi đức Phật vào Niết bàn, các trời người dùng nghìn tấm lụa quấn quanh thân Ngài, làm áo quan bằng bảy thứ báu, tẩm đầy dầu thơm, chất các cây thơm, châm lửa để đốt; đốt xong, thu lấy xá lợi chia làm tám phần, xây tháp cúng dường. Trên đây là tám tướng nói trong Tứ giáo nghi quyển 7 và Thích ca phổ quyển 1 đến quyển 4, thông thường gọi là Tiểu thừa bát tướng (Tám tướng Tiểu thừa). Còn luận Đại thừa khởi tín thì không có tướng Hàng ma mà thay vào đó bằng tướng Trụ thai và gọi là Đại thừa bát tướng, hoặc Bát tướng thành đạo theo Phật giáo Bắc truyền. Ngoài ra, Phật giáo Nam truyền còn có thuyết Tứ đại sự (bốn việc lớn), như trong Phật truyện bằng bia đá đã khắc bốn tướng: Giáng đản, Thành đạo, Sơ chuyển pháp luân, nhập Niết bàn, gọi là Tứ đại sự. Còn những nơi thành tựu Tứ đại sự này thì gọi là Tứ thánh địa. [X. Thập địa kinh luận Q.3; Tổ đình sự uyển Q.8]. (xt. Phật Diệt Niên Đại, Thích Ca Mâu Ni).
bát tướng thành đạo
Eight aspects of Buddha's life: 1-Đâu suất lai nghi, descent into and abode in the Tusita heaven; 2-Lâm tì ni viên giáng sinh, birth from mother's side in Lumbini; 3-Tứ môn du quan, excursion out of the royal palace. 4-Du thành xuất gia, leaving home as a hermit. 5-Tuyết sơn thị tu, ascetic practices on the Snow Mountain. 6-Bồ đề thụ hàng ma, enlightenment under the Bodhi tree. 7-Lộc dã uyển chuyển pháp luân, rolling the Law-wheel at the Deer-Park; 8-Ta la lâm hạ Bát Niết bàn, entering Nirvana at the Sala tree forest.
Bát tạng
八藏; C: bāzàng; J: hachizō;|Theo Nakamura, đó là Thai hoá tạng (胎化藏), Trung ấm tạng (中陰藏), Ma-ha-diễn phương đẳng tạng (摩訶衍方等藏), Giới luật tạng (戒律藏), Thập trú tạng (十住藏), Tạp tạng (雜藏), Kim cương tạng (金剛藏) và Phật tạng (佛藏).
bát tạng
(八藏) I. Bát tạng. Thánh giáo do đức Phật nói ra được chia làm tám thứ: 1. Thai hóa tạng, là các kinh Phật hóa hiện nói ở trong thai. 2. Trung ấm tạng, kinh nói giữa khoảng từ lúc chết đến đời sống kế tiếp (trung ấm). 3. Ma ha diễn phương đẳng tạng, tức các kinh Đại thừa. 4. Giới luật tạng, tức luật điển. 5. Thập trụ bồ tát tạng, các kinh Đại thừa nói việc Bồ tát tu nhân, chứng quả. 6. Tạp tạng, các kinh Đại, Tiểu thừa nói việc ba thừa, người, trời, tu nhân chứng quả. 7. Kim cương tạng, các kinh nói việc Bồ tát đẳng giác, tu nhân chứng quả. 8. Phật tạng, các kinh Đại thừa nói việc chư Phật thuyết pháp, biến hiện thần thông để hóa độ chúng sinh. [X. kinh Bồ tát xử thai Q.7 phẩm Xuất kinh]. II. Bát tạng.Tám tạng. Đại thừa. Tiểu thừa đều có bốn tạng Kinh, Luật, Luận, Tạp, hợp chung lại, gọi là Bát tạng. Đó là: 1. Kinh tạng, tức bốn kinh A hàm. 2. Luật tạng, tức là luật Tứ phần (pháp tỷ khưu, pháp tỷ khưu ni, phép thụ giới, phép diệt tránh), luật Thập tụng v.v... 3. Luận tạng, tức luận A tì đàm v.v... 4. Chú tạng, tức đà la ni trừ tất cả tật bệnh, đà la ni diệt trừ các việc ác v.v... (trên đây là bốn tạng Thanh văn Tiểu thừa). 5. Kinh tạng, tức kinh Diệu pháp liên hoa, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm. 6. Luật tạng, tức kinh Bồ tát giới, kinh Phạm võng v.v... 7. Luận tạng, tức Đại trí độ luận, Thập địa kinh luận v.v... 8. Chú tạng, tức chú Lăng nghiêm, chú Đại bi v.v... (trên đây là bốn tạng Bồ tát Đại thừa). [X. Đại thừa nghĩa chương Q.13 Tạng nghĩa].
Bát tạng 八藏
[ja] ハチゾウ hachizō ||| According to Nakamura, these are 胎化藏, 中陰藏, 摩訶衍方等藏, 戒律藏, 十住藏, 雜藏, 金剛藏 and 佛藏. => (j: hachizō). Theo Nakamura, đó là Thai hóa tạng, Trung ấm tạng, Ma-ha-diễn phương đẳng tạng, Giới luật tạng, Thập trú tạng, Tạp tạng, Kim cương tạng và Phật tạng.
Bát tắc mạc 鉢塞莫
[ja] ハソマ hasoma ||| A rosary (japa-māla). See 數珠. => Xâu chuỗi hạt (s: japa-māla). Xem Sổ châu 數珠.
bát tổ tương thừa
(八祖相承) I. Bát tổ tương thừa. Tám tổ nối nhau. Thuyết này do tông Tịnh độ Nhật bản lập. Trong Tịnh độ chân tông phó pháp truyện, Kiến thánh cảnh đã dựa theo những sách luận của các ngài Mã minh, Long thụ, Thiên thân, Bồ đề lưu chi, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo và Nguyên không nói về Tịnh độ, mà lập thành hệ thống Bát tổ tương thừa.1. Ngài Mã minh soạn luận Đại thừa khởi tín, kiến lập phương tiện sinh về Tịnh độ không trở lui. 2. Ngài Long thụ soạn luận Đại trí độ, trình bày rõ nghĩa sự tướng cõi Tịnh độ của PhậtA di đà; và trong luận Thập trụ tì bà sa phẩm Dị hành, ngài chia rõ hai đường tu hành dễ và khó, rồi lại định ra mười hai cách thức lễ bái để cầu sinh về nơi an dưỡng. 3. Ngài Thiên thân soạn Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá (cũng gọi luận Vô lượng thọ) nói rõ về hành nghiệp vãng sinh. 4. Bồ đề lưu chi dịch nhiều kinh luận, trong số đó có luận Vô lượng thọ. Ngài Lưu chi đem pháp trường sinh bất tử là kinh Quán vô lượng thọ trao cho ngài Đàm loan. 5. Ngài Đàm loan chú giải luận Vãng sinh, soạn Di đà kệ phụng tán đại kinh (kinh Vô lượng thọ bản 2 quyển) và An lạc độ nghĩa nói rõ về tướng Tịnh độ, và lại dựa theo thuyết khó làm, dễ làm của bồ tát Long thụ mà nói rõ tự lực khó làm, tha lực dễ làm, rồi ra sức khuyên mọi người cầu sinh về Tịnh độ. 6. Ngài Đạo xước vốn chuộng kinh Niết bàn, mở rộng tông chỉ Phật tính, giảng kinh Niết bàn hai mươi bốn lần, vào sâu nơi huyền nhiệm, kiêm việc truyền bá Tịnh độ, soạn An lạc tập. 7. Ngài Thiện đạo yết kiến ngài Đạo xước, nhận lãnh kinh Quán vô lượng thọ, rồi soạn Quán kinh sớ định rõ khuôn phép xưa nay, còn định các nghi thức tu niệm để cầu vãng sinh, như Pháp sự tán, Vãng sinh lễ tán, Quán niệm pháp môn, Ban chu tán v.v... 8. Ngài Nguyên không đọc Quán kinh sớ thâm tâm thích của ngài Thiện đạo, thình lình tỉnh ngộ về bản nguyện của đức Phật A di đà, bèn chuyên tu niệm Phật, chép Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập 1 quyển, thành lập tông Tịnh độ giáo rất thịnh hành ở Nhật bản. II. Bát tổ tương thừa. Thuyết này do tông Chân ngôn của Nhật bản lập. Lấy đức Đại nhật Như lai, bồ tát Kim cương tát đỏa và các ngài Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả, Không hải v.v... làm Phó pháp bát tổ (tám tổ trao phó pháp cho nhau). Trong tám tổ trên đây, trừ đức Đại nhật Như lai, bồ tát Kim cương tát đỏa ra, thêm hai ngài Thiện vô úy và Nhất hạnh vào, thì thành là Truyền trì bát tổ (tám tổ truyền nối nhau mà giữ gìn). Sự truyền nối huyết mạch của hai bộ một đôi này, gọi là Đẳng diệp. Ngoài ra, còn có người cho thuyết hai bộ truyền riêng, thuyết ba bộ truyền thừa, chỉ có Kim cương giới thì thêm ngài Văn thù vào giữa Kim cương tát đỏa và Long mãnh là có khác. Thai tạng giới thì bỏ Long mãnh mà thêm Huyền siêu, và cho ba ngài Kim cương trí, Bất không và Nhất hạnh là bàng hệ (không phải hệ phái chính). Thuyết ba bộ truyền ba có hai loại: ngài Tối trừng lập ba bộ Kim cương giới, Thai tạng giới và Tạp bộ. Ngài Viên nhân lập ba bộ Kim cương giới, Thai tạng giới và Tô tất địa pháp. (có biểu đồ)
bát tử
(八子) Tám con. Tức bốn ông vua giòng Thích ca ở Ấn độ, mỗi vua sinh ra hai con, cộng là tám người con. Cũng gọi Tứ vương sinh bát tử (bốn vua sinh tám con). Cứ theo Thích ca phổ quyển 1 chép, thì bốn vua là: Tịnh phạn vương, Bạch phạn vương, Hộc phạn vương và Cam lộ phạn vương, đều là con của vua Sư tử giáp. Tám người con của bốn vua là: 1. Vua Tịnh phạn: con trưởng là Tất đạt đa (tức Phật Thích ca mâu ni), con thứ là Nan đà. 2. Vua Bạch phạn: con trưởng là Điều đạt, con thứ là A nan. 3. Vua Hộc phạn: con trưởng là Ma ha nam (theo Phật xuất gia và là người được độ đầu tiên ở vườn Lộc dã), con thứ là A na luật (Thiên nhãn bậc nhất). 4. Vua Cam lộ phạn: con trưởng là Bà sa, con thứ là Bạt đề (theo Phật xuất gia, cũng được độ đầu tiên ở vườn Lộc dã).
bát tự bố tự
(八字布字) Xếp đặt tám chữ. Tức là phép xếp đặt tám chữ nói trong kinh Đại nhật phẩm A xà lê chân thực trí và trong Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 12 phẩm A xà lê chân thực trí. Tám chữ là: 1. Chữ (a), đặt ở trong tâm, là chỗ ở của hết thảy Phật bộ. 2. Chữ (sa), đặt ở dưới ngực, là chỗ ở của hết thảy Liên hoa bộ. 3. Chữ (hùô), đặt ở giữa khoảng chân này, là chỗ ở của hết thảy Chấp kim cương. 4.Chữ (a), đặt ở dưới lưng,là địa luân đệ nhất mệnh. 5. Chữ (va), đặt ở rốn, quán tưởng buộc cùng với thủy luân. 6. Chữ (ra), đặt ở tâm, quán tưởng cùng với hỏa luân. 7. Chữ (hùô), đặt ở trán, quán tưởng cùngvới phong luân tất cả phẫn nộ trì minh. 8. Chữ (kha), đặt trên chỏm đầu, quán tưởng cùng với không luân.
bát tự văn thù
(八字文殊) Văn thù tám chữ. Cũng gọi Bát tự văn thù bồ tát. Vị tôn này lấy tám chữ (oô), (à#), (vì), (ra), (hùô), (kha), (ca), (ra#) làm chân ngôn, vì thế gọi là Bát tự văn thù. Lại trên đầu có tết tám búi tóc, cho nên cũng gọi Bát kế văn thù bồ tát. Trong trường hợp cầu tiêu trừ tai nạn hoặc ác mộng, thì trì tụng chân ngôn này. Hình tượng của vị tôn này phóng ra ánh sáng mầu vàng, ngồi trên tòa sư tử vương, tay phải cầm gươm trí tuệ, tay trái cầm hoa sen xanh, trên đài sen để chày trí tuệ dựng thẳng. Mạn đồ la (đàn tràng) của vị tôn này được kiến lập làm ba lớp hoặc năm lớp, gọi là Bát tự văn thù mạn đồ la. [X. kinh Văn thù sư lợi pháp bảo tạng đà la ni].
bát uế
Eight things unclean to a monk: buying land for self, not for Buddha or the fraternity; ditto cultivating; ditto laying by or storing up; ditto keeping servants (or slaves); keeping animals (for slaughter); treasuring up gold, etc.; ivory and ornaments; ustensils for private use.
; (八穢) Tám thứ nhơ bẩn. Chỉ cho tám hành vi của tỉ khưu không phù hợp với giới luật: 1. Tậu ruộng làm nhà, tỉ khưu nên ở chung với chư tăng, siêng tu đạo xuất thế vô vi trong sạch, nếu tậu ruộng làm nhà riêng để sống tự túc, thì đó là điều nhơ nhớp. 2. Trồng trọt hoa mầu, tỉ khưu nên chăm tu đạo nghiệp, đối với việc mưu sống ở thế gian, không sinh tham đắm, nếu không vì chúng tăng, mà lo trồng trọt ruộng vườn riêng cho mình, trở ngại việc tu đạo, thì đó là điều nhơ nhớp. 3. Tích chứa thóc gạo, tỉ khưu nên xin ăn để nuôi thân, sống đời trong sạch, nếu không vì chúng tăng, mà chứa thóc gạo riêng, thì đó là điều nhơ nhớp. 4. Nuôi dưỡng tôi tớ, tỉ khưu nên ở nơi vắng vẻ, nhiếp tâm tu đạo, làm hạnh yên vui, nếu không vì chúng tăng mà nuôi tôi tớ, sai khiến họ làm việc, thì đó là điều nhơ nhớp. 5. Nuôi dưỡng súc vật, tỉ khưu nên giữ giới cấm, tâm từ không giết, nếu nuôi các loài trâu ngựa, làm bẩn hạnh thanh tịnh, thì đó là điều nhơ nhớp. 6. Tích chứa vàng bạc của báu, tỉ khưu nên nêu cao đời sống thanh nhã, mình không giữ nhiều vật dụng, nếu tham chứa vàng bạc của cải ở thế gian, cho vay lấy lãi, thì đó là điều nhơ nhớp. 7. Cất chứa những vật chạm trổ bằng ngà voi, tỉ khưu nên vâng giữ giới của Phật, chí sống giản dị, đối với các vật tốt đẹp, không sinh tham luyến, mặc áo vải, ngồi chiếu cỏ, thường nghĩ biết đủ. Nếu tham đắm những vật trang diện hiếm có ở thế gian, thì đó là điều nhơ nhớp. 8. Tích chứa nồi chảo bằng đồng, sắt để tự nấu nướng, tỉ khưu ở trong chúng tăng, nên cùng ăn chung với mọi người, hoặc xin ăn để tự nuôi mình, gắng giữ phạm hạnh, thành tựu đạo nghiệp. Nếu cất giữ nồi chảo để tự nấu nướng, thì đó là điều nhơ nhớp.
bát viên
Eight fundamental characteristics of a Viên giáo complete or perfect school of teaching.
; (八圓) Tám viên dung. Tông Thiên thai nói pháp của Viên giáo có tám thứ viên dung là: giáo, trí, đoạn, hạnh, vị, nhân, quả v.v.... 1. Giáo viên, là giáo nói phiền não tức bồ đề, sinh tử tức Niết bàn, hoặc nói hoặc, nghiệp, khổ là lí mầu nhiệm bí tàng của ba đức pháp thân, bát nhã, giải thoát; hoặc bàn về thực tướng của các pháp, phàm thánh như một, chúng sinh và chư Phật chẳng hai, đó là tướng của viên giáo. 2. Lí viên, lí mầu nhiệm của ba đế (không, giả, trung) trung đạo không thiên lệch, đó là tướng lí viên. 3. Trí viên, trí nhất thiết chủng chiếu rọi trung đạo, là trí viên. 4. Đoạn viên, một đoạn, tất cả đều đoạn, đoạn một hoặc (phiền não) thì tất cả hoặc đều đoạn, lại đoạn mà chẳng đoạn, là đoạn viên. 5. Hạnh viên, là hạnh quán một tâm ba quán, một niệm ba nghìn, là hạnh tu khi tu một hạnh là tu hết thảy mọi hạnh, đó là hạnh viên. 6. Vị viên, là giai vị cùng lúc có đầy đủ các giai vị khác, một giai vị có đầy đủ công đức của các giai vị khác, đó là vị viên. 7. Nhân viên, chiếu rọi chân đế và tục đế song song, tự nhiên đi vào quả địa, đó là nhân viên. 8. Quả viên, quả ba đức (pháp thân, bát nhã, giải thoát) của Diệu giác chẳng thể nghĩ bàn, không dọc không ngang, là quả viên. [X. Tứ giáo nghĩa Q.1].
bát vu
(鉢盂) Cũng gọi bạt vu . Bát, dịch âm của tiếng Phạm; vu là tiếng Hán. Vậy bát vu là tên gọi do cả tiếng Phạm và tiếng Hán ghép lại. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 Biện đạo cụ điều (Đại 48, 1139 thượng) nói: Tiếng Phạm là bát đa la, Hán dịch ứng lượng khí, nay gọi tắt là bát, cũng gọi bát vu, tức là tên gọi do cả tiếng Phạm và tiếng Hán ghép lại. (xt. Bát).
bát vô ngại
(八無礙) Tám vô ngại. Chỉ cho sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong mười tám giới và ý căn trong sáu căn, pháp giới trong sáu cảnh. Trong đây, sáu thức và ý căn gọi là bảy tâm giới. Vì tám pháp trên đây đều không chướng ngại, nên gọi là vô ngại. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 9 trung) nói: Bát vô ngại, là bảy tâm giới, một pháp giới.
bát vô nhân quả
(撥無因果) Bát, hàm ý phủ nhận, bác bỏ. Bát vô nhân quả tức là phủ định đạo lí nhân quả. Là tà kiến trong năm kiến. Kinh Địa tạng thập luân quyển 7 (Đại 13, 757 hạ) nói: Bát vô nhân quả, dứt tuyệt gốc lành. Quảng bách luận thích quyển 5 (Đại 30, 215 trung ) nói: Nếu không có thiện ác, thì khổ vui cũng không, như thế là phủ nhận tất cả nhân quả. [X. luận Câu xá Q.17; Tuệ lâm âm nghĩa Q.72].
bát vương nhật
(八王日) Tám ngày vua. Chỉ tám ngày: lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí. Tám ngày này là những ngày mà các thần và âm dương trong trời đất tiếp xúc và thay thế cho nhau. Trong thời gian này, nếu những ai hay giữ gìn trai tịnh, thì sẽ được thêm tuổi thọ và nhiều lợi ích. [X. kinh Tịnh độ tam muội; Pháp uyển châu lâm Q.88].
bát vương tử
(八王子) Tám con vua. Phạm: awtauràjakumàrà#. Tức là tám người con của đức Phật Nhật nguyệt đăng minh ở quá khứ khi Ngài chưa xuất gia. 1. Hữu ý vương tử (Phạm: Mati), cũng gọi Hữu chí vương tử. 2. Thiện ý vương tử (Phạm:Sumati). 3. Vô lượng ý vương tử (Phạm: Anantamati), cũng gọi Gia khuyến vương tử. 4. Bảo ý vương tử (Phạm:Ratna-mati), cũng gọi Bảo chí vương tử. 5. Tăng ý vương tử (Phạm: Vizewamati), cũng gọi Trì ý vương tử. 6. Trừ nghi ý vương tử (Phạm: Vimatisamudghatin), cũng gọi Trừ mạn vương tử. 7. Hưởng ý vương tử (Phạm: Ghowamati). 8. Pháp ý vương tử (Phạm:Dharma-mati) Kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm Tựa chép, vô lượng kiếp quá khứ có Phật hiệu là Nhật nguyệt đăng minh, sau có hai vạn Phật mang cùng tên nối tiếp nhau ra đời. Đức Phật Nhật nguyệt đăng minh sau cùng, khi chưa xuất gia, có tám người con. Tám người này, nghe vua cha xuất gia thành chính giác, cũng đều bỏ ngôi vua đi tu, theo Bồ tát Diệu quang (tiền thân của ngài Văn thù sư lợi) học đạo Phật, và cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức Phật. Về sau, tám vương tử đều thành Phật. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.3 thượng].
bát vạn
An abbreviation for bát vạn tứ thiên. A great number.
bát vạn kiếp tiểu thừa
(八萬劫小乘) Tám muôn kiếp Tiểu thừa. Chỉ cho quả Dự lưu thứ nhất trong bốn quả Thanh văn. Người đã chứng được quả này, trải qua tám muôn kiếp liền phát tâm hướng tới Đại thừa, vì thế gọi là Bát vạn kiếp Tiểu thừa. (xt. Tu Đà Hoàn).
bát vạn thập nhị
(八萬十二) Tám vạn mười hai. Chỉ tám vạn bốn nghìn pháp tạng và mười hai bộ kinh. Tám vạn bốn nghìn pháp tạng biểu thị toàn bộ giáo pháp do đức Phật nói; còn mười hai bộ kinh là dựa theo hình thức và nội dung của những giáo pháp do đức Phật nói mà chia thành mười hai thể loại kinh. [X. kinh Pháp hoa phẩm Kiến bảo tháp]. (xt. Bát Vạn Tứ Thiên Pháp Tạng).
bát vạn tế hạnh
(八萬細行) Tám muôn hạnh nhỏ nhiệm. Những hành vi của một vị tỉ khưu hành sử hằng ngày cần phải chú ý, được phối hợp thành con số 84.000. Tức là: bốn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm đều có hai trăm năm mươi giới, tính là một nghìn (4x250=1000). Nếu thu vào ba tụ tịnh giới, thì thành ba nghìn (1000x3=3000). Lại phối với bảy chi giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói hai lưỡi, nói độc ác, nói dối, nói thêu dệt, thì thành hai vạn một nghìn (3000x7=21.000). Lại phối hợp với bốn phiền não tham, sân, si, đẳng phần (đủ cả tham sân si), thì thành tám vạn bốn nghìn (21.000x4=84.000). Nếu chỉ lấy số chẵn thôi, thì gọi Bát vạn (80.000) tế hạnh. Tịnh tâm giới quán pháp nói về sự khác biệt giữa giới Đại thừa và giới Tiểu thừa, bảo giới Bồ tát có tám vạn uy nghi, giới Thanh văn có ba nghìn uy nghi. [X.Thủ lăng nghiêm kinh văn cú Q.5]. (xt. Tam Thiên Uy Nghi Bát Vạn Tế Hạnh).
bát vạn tứ thiên
(八萬四千) Tám vạn bốn nghìn. Là tiếng hình dung số lượng rất nhiều. Cũng gọi bát vạn. Chủng loại phiền não rất nhiều, mượn số tám vạn bốn nghìn để ví dụ mà gọi tám vạn bốn nghìn phiền não, tám vạn bốn nghìn trần lao. Giáo pháp do đức Phật nói và ý nghĩa của nó rất là phức tạp, cho nên cũng gọi chung là tám vạn bốn nghìn pháp môn (tám vạn pháp môn), tám vạn bốn nghìn pháp tạng (tám vạn pháp tạng), tám vạn bốn nghìn pháp uẩn (tám vạn pháp uẩn). Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ chép, thì đức Phật A di đà có tám vạn bốn nghìn tướng, mỗi tướng đều rất trang nghiêm tốt đẹp, có thể phóng ra tám vạn bốn nghìn ánh sáng. Ngoài ra, địa ngục Vô gián ngang dọc mỗi chiều tám vạn do tuần, chúng sinh trong đó phải chịu tám vạn bốn nghìn thứ khổ, vì thế cũng gọi tám vạn địa ngục. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng].
bát vạn tứ thiên bệnh
(八萬四千病) Tám vạn bốn nghìn bệnh. Tức là tám vạn bốn nghìn phiền não. Dùng bệnh ví dụ phiền não. Mà phiền não của phàm phu thì vô cùng, khó có thể tính đếm được, bởi thế, gọi một cách tổng quát là tám vạn bốn nghìn. Đức Phật nói pháp là để chữa trị các bệnh của chúng sinh, cho nên có tám vạn bốn nghìn pháp môn.
bát vạn tứ thiên pháp tạng
(八萬四千法藏) Tám vạn bốn nghìn pháp tạng. Chỉ cho toàn bộ giáo pháp do đức Phật nói. Cũng gọi bát vạn tứ thiên độ môn, bát vạn tứ thiên pháp tụ, bát vạn tứ thiên pháp uẩn. Nêu số chẵn thì gọi Bát vạn pháp tạng, Bát vạn tạng. Tạng, nghĩa là chứa đựng, bao hàm. Đứng về phương diện giáo pháp do đức Phật nói gọi là pháp tạng, đứng về phương diện ý nghĩa của giáo pháp gọi là pháp môn. Chúng sinh có tám vạn bốn nghìn bệnh phiền não, đức Phật nói tám vạn bốn nghìn pháp môn để đối trị bệnh của chúng sinh. Cứ theo Duy ma nghĩa kí quyển 7 của ngài Tuệ viễn nói, thì cái gọi là tám vạn bốn nghìn độ môn là trong ba trăm năm mươi môn công đức của Phật, mỗi môn đều có sáu độ bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, cộng lại thành 2100 (350x6) độ môn. Đối với các phiền não tham dâm sân si mà chia thành bốn loại chúng sinh, mỗi loại đều dùng 2.100 độ môn này mà giáo hoá mở bày, hợp lại thành 84.000 (2.100x4) độ môn, một biến làm mười (84.000x10), thành tám vạn bốn nghìn độ môn. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.1; luận Câu xá Q.1].
bát vạn tứ thiên tháp
(八萬四千塔) Tám vạn bốn nghìn tháp. Nghĩa là rất nhiều chùa tháp. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 nói, thì sau khi đức Phật nhập diệt, vua A dục đã xây tám vạn bốn nghìn tháp báu để thờ xá lợi của Ngài. Pháp hiển truyện và Đại đường tây vực kí cũng đều ghi chép thuyết này. [X. kinh A dục vương Q.1; kinh Pháp hoa phẩm Dược vương; A dục vương truyện Q.1]. (xt. A Dục Vương Tháp).
bát vạn tứ thiên trần lao
(八萬四千塵勞) Tám vạn bốn nghìn trần lao. Chỉ cho tám vạn bốn nghìn phiền não của chúng sinh. Trần lao (bụi bặm, nhọc nhằn), tên gọi khác của phiền não. Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 9 thượng) nói: Mỗi một trần có tám vạn bốn nghìn cửa trần lao. Vì phiền não hay làm bẩn chân tính của người ta, khiến mọi người phiền nhọc, cho nên gọi trần lao. Cũng tức là chúng sinh bị phiền não tà kiến sai khiến không ngừng, vòng quanh sống chết, không bao giờ hết. Bàn về cội gốc trần lao, thì không ngoài mười sử. Trong mười sử đều lấy một sử làm chính, chín sử còn lại làm phụ, thì thành một trăm sử (10x10=100). Tính theo ba đời, mỗi đời có một trăm sử cộng thành ba trăm sử (3x100=300 sử). Đời hiện tại một trăm, vì thời gian qua nhanh, nên không bàn đến vấn đề phụ trợ, đối với hai đời quá khứ, vị lai có hai trăm, đều lấy một sử làm chính, chín sử làm phụ, cộng thành hai nghìn, hợp với một trăm của đời hiện tại thì thành hai nghìn một trăm sử (200x10=2.000+100=2.100 sử). Lại phối với bốn loại chúng sinh nhiều tham, nhiều sân, nhiều si và đẳng phần (tức ba tâm tham sân si đồng loạt nổi dậy), mỗi loại đều có hai nghìn một trăm, cộng thành tám nghìn bốn trăm sử (2.100x4=8.400 sử). Rồi phối với bốn đại (đất, nước, lửa, gió), sáu suy (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp hay làm suy tổn các pháp tốt lành) là mười yếu tố, mỗi yếu tố đều có tám nghìn bốn trăm sử, tổng cộng thành tám vạn bốn nghìn trần lao (10x8.400=84.000 sử=84.000 trần lao). [X. luận Đại trí độ Q.59; Câu xá luận kí Q.1; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3].
bát vạn tứ thiên tướng hảo
(八萬四千相好) Tám vạn bốn nghìn tướng tốt đẹp. Đức Phật Vô lượng thọ có tám vạn bốn nghìn tướng, mỗi tướng đều có tám vạn bốn nghìn nét tốt đẹp. Xét về liệt ứng thân (tức hóa thân của Phật), thì có ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp còn thắng ứng thân thì có tám vạn bốn nghìn tướng và vẻ đẹp. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
bát vạn địa ngục
(八萬地獄) Tám muôn địa ngục. Là tên gọi khác của địa ngục A tị. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5 (Đại 15, 668 hạ) nói: Địa ngục A tị dọc ngang tám nghìn do tuần. Bảy lớp thành sắt, bảy lớp lưới sắt giăng bên trên, ở dưới có mười tám khu cho tội nhân ở, bảy lớp rào bao quanh, đều là rừng dao. (...) Mỗi khu tội nhân ở, có tám vạn bốn nghìn con trăn và rắn sắt phun độc phun lửa. (...) Năm trăm ức côn trùng, loài trùng có tám vạn bốn nghìn mỏ, đầu mỏ phun lửa như mưa xuống phía dưới, tràn ngập thành A tị. Khi những côn trùng này bay xuống, thì lửa mạnh ở ngục A tị bốc cháy dữ dội, ánh lửa chiếu soi đỏ rực tám vạn bốn nghìn do tuần. Kinh còn nói thêm: Thành này có tám nghìn tỉ sự khổ, khổ trong mọi cái khổ đều tập trung ở thành này. Địa ngục A tị còn gọi là Bát vạn địa ngục. [X.luận Câu xá Q.11; luận Đại tì bà sa Q.172]. (xt. Địa Ngục, A Tị Địa Ngục).
bát vị
The eight savours (or pleasures) of the Buddha's nirvana: Thường trụ perpetual abode, Tịch diệt extinction (of distresses, etc.), Bất lão eternal youth, Bất tử immortality, Thanh tịnh purity, Hư thông absolute freedom (as space), Bất động imperturbility, and Khoái lạc joy.
; (八位) Ngôi thứ sắp bát. Cũng gọi hành bát vị. Trong nhà tăng, sáng dùng cháo, trưa thụ trai, sắp đến giờ ăn, chúng tăng sắp đặt chỗ ngồi tùy theo ngôi thứ. Trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 7 có bản vẽ chỉ bày rõ ràng. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 6 Phó trai chúc điều; Tăng đường thanh qui Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Tọa vị môn]. (xt. Bị Vị).
; (八味) I. Bát vị. Tám hương vị. Tức là tám pháp vị của đại Niết bàn mà đức Như lai đã chứng được: 1. Thường trụ; nghĩa là lí của Niết bàn này thường còn suốt ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai và thường ở khắp mười phương. 2. Tịch diệt, nghĩa là lí Niết bàn này tuyệt đối vắng lặng vô vi, các khổ đau đều diệt hết. 3. Bất lão, nghĩa là lí Niết bàn này không đổi dời, không thêm bớt. 4. Bất tử, nghĩa là lí Niết bàn này từ xưa không sinh, nay cũng không diệt. 5. Thanh tịnh, nghĩa là lí Niết bàn này an trụ mát mẻ, sạch hết các chướng. 6. Hư thông, nghĩa là lí Niết bàn này rỗng suốt linh thông, viên dung vô ngại. 7. Bất động, nghĩa là lí Niết bàn này vắng lặng không động, mầu nhiệm vô vi. 8. Khoái lạc, nghĩa là lí Niết bàn này không còn khổ sống chết bức bách, mà có cái vui chân thường vắng lặng. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.3; kinh Đại ban nê hoàn Q.2]. II. Bát vị. Tám mùi vị: ngọt, cay, mặn, đắng, chua, lạt, chát, không mùi vị v.v.... [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.1, Q.4; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Chư thừa pháp số Q.2].
; (鉢位) Tám giai vị. Những giai vị tu hành của Viên giáo Pháp hoa. Viên giáo lấy sáu tức làm thứ lớp, nhưng vì giai vị Phần chân tức trong sáu tức dài quá nên phải mượn 52 giai vị của Biệt giáo để phối hợp mà lập thành tám giai vị, trong đó, không bao gồm Lí tức và Danh tự tức của Ngoại phàm. Tám giai vị đó là: Ngũ phẩm đệ tử vị, Thập tín vị, Thập trụ vị, Thập hành vị, Thập hồi hướng vị, Đẳng giác vị, Diệu giác vị. Trong đây, giai vị đầu là Ngũ phẩm đệ tử vị được lập theo kinh Pháp hoa, còn bảy giai vị kia được lập theo kinh Anh lạc. (Có biểu đồ)
bát vị thai tạng
(八位胎藏) Tám thời kì bào thai thành hình trong bụng mẹ. Cũng gọi Thai tạng bát vị. Đó là: 1. Yết la lam vị (Phạm: kalala), tinh huyết đọng lại thành cục lùng nhùng. Chỉ khoảng thời gian bảy ngày sau khi thụ thai. 2. Át bộ đàm vị (Phạm: arbuda) vết phỏng. Hai tuần lễ sau khi thụ thai, hình bào thai giống như vết phỏng. 3. Bế thi vị (Phạm:pezi), khối máu hoặc thịt mềm. Ba tuần lễ sau khi thụ thai, hình dáng nó giống như cục máu. 4. Kiện nam vị (Phạm: Ghana), cục dày. Bốn tuần lễ sau khi thụ thai, hình dáng dần dần cứng chắc, có hai căn thân và ý, nhưng chưa đủ bốn căn mắt, tai, mũi, lưỡi. 5. Bát la xa khư vị (Phạm: Prawàkha), sau khi thụ thai được năm tuần lễ, khối thịt lớn thêm, bắt đầu hiện hai tay hai chân và mình. 6. Phát mao trảo vị (thời kì mọc tóc, lông, móng tay móng chân). Sáu tuần lễ sau khi thụ thai, đã mọc lông, tóc và móng tay móng chân. 7. Căn vị, bảy tuần lễ sau khi thụ thai, bốn căn mắt, tai, mũi, lưỡi đã đầy đủ. 8. Hình vị, thụ thai đến tuần thứ tám trở đi, hình tướng đầy đủ. [X. luận Du già sư địa Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.69].
bát vị thủy
xem nước tám công đức.
bát vị tằng hữu
(八未曾有) Tám pháp chưa từng có. Cứ theo bộ Tăng chi tập 8 kinh 21 chép, thì ở thành Tì xá li có một cư sĩ tên Úc già, đã thành tựu được tám điều hiếm có là: 1. Mới thấy đức Thế tôn từ xa tới, tâm liền sáng suốt trong sạch. 2. Đem tâm trong sạch sáng suốt lễ kính đức Thế tôn, Ngài liền theo thứ tự nói các pháp bố thí, giữ giới, sinh cõi trời, những tai họa của sự tham muốn, tà hại, nhơ nhớp tạp nhạp, và những công đức xa lìa các thứ ấy cho ông nghe, khiến ông sinh tâm nhận lãnh, tâm nhu thuận, tâm lìa chướng, tâm vui mừng, tâm sáng sạch. Sau đó, đức Thế tôn lại nói về chân lí của bốn đế khổ tập diệt đạo. Cư sĩ Úc già nghe xong liền thấy pháp, được pháp, biết pháp, ngộ pháp, hết ngờ, trừ do dự, được đại vô úy và qui y Phật Pháp Tăng, nhận giữ năm giới. 3. Cư sĩ Úc già có bốn người vợ trẻ, ông đều đáp ứng những điều họ mong muốn là: hoặc cho ở lại nhà, hoặc đi lấy chồng khác, hoặc về nhà người thân, mà tâm ông không hối tiếc. 4. Cư sĩ đem chia gia tài cho những người giữ giới Cụ túc, những người tu các pháp lành cùng hưởng. 5. Ông hầu hạ tỉ khưu rất cung kính. 6. Nếu các trưởng lão nói pháp cho ông, thì ông cung kính lắng nghe. Nếu các trưởng lão không nói pháp cho ông nghe, thì ông nói pháp lại cho các trưởng lão nghe. 7. Các trời tuy thường đến chỗ ông ở để thảo luận về Phật pháp, nhưng ông không vì thế mà khởi tâm kiêu mạn. 8. Đức Thế tôn nói cho ông nghe về năm kết sử ở cõi dưới (cõi Dục) là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, ông liền dứt sạch. [X. Trung a hàm Q.9 kinh Úc già trưởng giả] . Lí tức (chưa nghe Phật pháp) Danh tự tức (đã nghe Phật pháp) Quán hành tức (Ngoại phàm) ........................ Ngũ phẩm đệ tử Tương tự tức (Nội phàm) ....... Thập tín vị Thập trụ vị Thập hành vị Phần chứng tức (phần chứng) Thập hồi hướng vị (phần chân tức) Thập địa vị Đẳng giác vị Cứu kính tức (cực chứng) .........Diệu giác vị Lục tức 52 giai vị.
Bát vị 鉢位
[ja] ハツイ ホイ hatsui hoi ||| The order for seats at the table for Chan monks. => Thứ đệ ngồi trong bàn của các thiền sư khi thọ trai.
Bát vọng tưởng
八妄想; C: bāwàngxiǎng; J: hachimōsō;|Tám thứ vọng tưởng. Xem Bát chủng phân biệt (八種分別, theo Hiển dương luận 顯揚論).
bát vọng tưởng
Eight wrong views, non-buddhist views.
; (八妄想) Tám vọng tưởng (ý tưởng xằng bậy). Tức là tám thứ vọng tưởng nói rõ trong Tông kính lục quyển 76. Đó là: 1. Tự tính vọng tưởng, nghĩa là chấp các pháp căn, trần đều có thể tính riêng rẽ, không lẫn lộn với nhau. 2. Sai biệt vọng tưởng, nghĩa là chấp bậy rằng sắc có thể thấy có thể tiếp xúc, sắc không thể thấy có thể tiếp xúc, sắc không thể thấy không thể tiếp xúc. (Sắc có thể thấy có thể tiếp xúc, tức là các mầu xanh, vàng v.v..., mắt có thể thấy, mà cũng có thể tiếp xúc. Sắc không thể thấy có thể tiếp xúc, là bốn thứ thanh hương vị xúc, tuy không trông thấy, nhưng có thể tiếp xúc với tai, mũi, lưỡi, thân. Sắc không thể thấy không thể tiếp xúc, tức là ý thức duyên theo cảnh đã thấy ở quá khứ, đều không thể thấy, cũng không thể tiếp xúc). 3. Nhiếp thụ tích tụ vọng tưởng, nghĩa là vọng chấp pháp năm uẩn: sắc thụ tưởng hành thức, hòa hợp với nhau mà tạo thành hết thảy chúng sinh. 4. Ngã kiến vọng tưởng, nghĩa là trong pháp năm uẩn, chấp bậy là có ta. 5. Ngã sở vọng tưởng, nghĩa là trong pháp năm uẩn, chấp bậy thân ta và các vật ta dùng đều thuộc của ta. 6. Niệm vọng tưởng, nghĩa là phân biệt một cách xằng bậy cảnh (đối tượng) sạch sẽ đáng yêu, rồi duyên theo tưởng nhớ không thôi. 7. Bất niệm vọng tưởng, nghĩa là vọng phân biệt cảnh đáng ghét, không khởi tâm duyên theo nhớ tưởng. 8. Niệm bất niệm câu tương vi vọng tưởng, nghĩa là đối với cảnh yêu ghét nghĩ hoặc không nghĩ, hai niệm phân biệt đều trái lí. [X. Tam tạng pháp số Q.33].
Bát vọng tưởng 八妄想
[ja] ハチモウソウ hachimōsō ||| Eight kinds of deluded perception. See 八種分別. 〔顯揚論, T 1602.31.558b14-19〕 => Tám thứ vọng tưởng. Xem Bát chủng phân biệt八種分別.
bát xiển bố
(鉢闡布) Tên gọi chức quan tăng tham chính ở nước Thổ phồn (Tây tạng) vào thời kì cuối. Cũng gọi Bát xiết bộ. Đường thư (mới và cũ) gọi chức quan này là Quốc chính Phồn tăng, nghĩa là vị tăng Phật giáo tham dự việc nước của nước Thổ phồn. Theo sự khảo cứu, nay được biết đã có hai người đảm nhận chức vụ này: 1. Thầy của vua Tán phổ xích đức tùng tán (ở ngôi 796-815) là sa môn Nương định ai tăng. 2. Thầy của vua Tán phổ xích tổ đức tán (ở ngôi 815-838) là sa môn Bột lan già bối cát vân đan. Ngài Bột lan già bối cát vân đan đã từng chủ toạ cuộc họp liên minh giữa Đường (Trung quốc) và Phồn (Tây tạng) vào năm Trường khánh thứ 2 (822) đời Đường, tại vườn Đông triết đôi ở La ta (Lhasa ngày nay). Tên ngài được khắc trong tấm bia Đường Phồn liên minh đứng đầu danh sách các quan chức chủ trương liên minh với Trung quốc.
bát xúc
Là tám thứ cảm giác : đau, ngứa, nặng, nhẹ, lạnh, ấm, trơn, rít. Thực ra còn nhiều cảm giác khác như : mềm, cứng, kiến bò, điện giựt, quên thân, bay bổng v.v... đều là quá trình lúc tĩnh tọa thường có.
; Là tám thứ cảm giác của thân: động, ngứa, nặng, nhẹ, lạnh, ấm, trơn, rít. Thực ra còn nhiều cảm giác như: mềm, cứng, kiến bò, điện giựt, quên thân, bay bổng… đều là quá trình lúc tĩnh tọa thường có.
; (八觸) Tám xúc. Tức tám thứ cảm xúc sinh ra ở trong mình, lúc sắp được định đầu tiên. Đó là: 1. Động xúc, khi ngồi thiền, bỗng thấy trong mình có trạng thái động loạn. 2. Dưỡng xúc, bỗng chốc cảm thấy mình ngứa ngáy, không yên. 3. Khinh xúc, thình lình thấy mình nhẹ như mây, như bụi, có cảm giác như bay đi. 4. Trọng xúc, bỗng chốc thấy mình nặng như tảng đá, không nhúc nhích được. 5. Lãnh xúc, tự nhiên chợt thấy mình lạnh toát như băng giá. 6. Noãn xúc, thình lình thấy mình nóng rực như lửa. 7. Sáp xúc, thi thoảng thấy mình ráp, sít như vỏ cây. 8. Hoạt xúc, chốc lát lại thấy mình trơn trượt như sữa. Nguyên nhân phát sinh tám xúc này, là khi sắp được định Thiền đầu tiên, cực vi ở cõi trên vào cực vi ở cõi Dục, trạng thái giao tiếp và thay thế nhau của hai cõi khiến cho đất nước lửa gió trong mình rối loạn phát động. Người không rõ tướng pháp này bỗng thấy sợ hãi, cho là phát bệnh, tâm rong ruổi không ngừng, đường khí huyết lưu thông rối loạn, trở thành điên khùng. [X. Ma ha chỉ quán Q.8, Q.9].
bát y
(八依) Tám chỗ nương tưạ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 50 Hữu dư y địa 16 trong phần Bản địa chép, thì bát y là: 1. Thi thiết y, thi thiết có nghĩa kiến lập. Tức là người ta nương vào năm uẩn, tạm dùng lời nói, kiến lập ta và chúng sinh, mỗi mỗi khác nhau, nào là loài sống như thế, giòng giống như thế, tên chữ như thế, khổ, vui, sống lâu, chết non như thế v.v... 2. Nhiếp thụ y, nhiếp thụ nghĩa là thu nhận dung chứa. Chỉ cho người nương tựa cha mẹ, vợ con, tôi đòi v.v... Cho đó là chỗ dung chứa mình, vì thế gọi là nhiếp thụ. 3. Trụ trì y, người ta nương vào bốn cách ăn đoạn thực, xúc thực, tư thực, thức thực, để nuôi dưỡng và duy trì các căn, cho nên gọi trụ trì y. 4. Lưu chuyển y, chỉ cho người nương vào bốn tâm thụ, tưởng, hành, thức trong năm uẩn, khởi các nghiệp nhân phiền não, sống chết trôi lăn trong ba cõi, cho nên gọi lưu chuyển y. 5. Chướng ngại y, các thiên ma ngoại đạo, hễ chỗ nào có người tu các pháp lành, thì đến trước người ấy, để gây chướng ngại, vì thế gọi chướng ngại y. 6. Khổ não y, người nương vào cõi Dục, nhận lãnh tất cả nỗi lo khổ, không sinh tâm nhàm chán xa lìa, cho nên gọi là khổ não y. 7. Thích duyệt y, người nương vào các thiền định, dứt bặt suy nghĩ, thân tâm lặng lẽ, được pháp vui mừng, cho nên gọi thích duyệt y. 8. Hậu biên y, chỉ bậc A la hán đã dứt hết hoặc nghiệp trong ba cõi, không còn sinh lại nữa, và thân sau cùng này của ngài an trụ nơi hữu dư Niết bàn, vì thế gọi là Hậu biên y.
bát âm
Eight qualities of tones.
; The eight tones of a Buddha's voice - beautiful, flexible, harmonious, respect-producing, not effeninate, unerring, deep and resonant.
; Tám âm thanh của Phật—The eight tones of a Buddha's voice: 1) Cực hảo âm: beautiful voice. 2) Nhu nhuyễn âm: Flexible voice. 3) Hòa thích âm: Harmonious voice. 4) Tôn huệ âm: Respect-producing voice. 5) Bất nữ âm: Not effaminate voice. 6) Bất ngộ âm: Unerring voice. 7) Thâm viễn âm: Deep voice. 8) Bất kiệt âm: resonant voice.
; (八音) Tám tiếng. Còn gọi là tám thứ tiếng trong sạch. Có nghĩa là khi đức Như lai phát âm, thì tiếng nói trong trẻo hòa nhã, có đủ tám thứ công đức thù thắng, khiến chúng sinh nghe xong thì hiểu rõ ngay. Tám thứ tiếng nói ấy là: 1. Tiếng rất tốt. Cũng gọi là tiếng êm tai. Nghĩa là tất cả các trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát v.v... tuy đều có tiếng tốt, nhưng chưa đạt đến cực điểm. Duy có tiếng nói của đức Phật là có khả năng làm cho người nghe không chán, được vào đạo nhiệm mầu. 2. Tiếng êm dịu. Nghĩa là tâm đức Phật hiền lành, cho nên tiếng Ngài nói ra rất êm dịu, thuận với tình cảm của mọi người, có thể khiến người nghe bỏ tính ương ngạnh, bướng bỉnh. 3. Tiếng hòa nhã. Nghĩa Bát Bằng Đồng Xanh là đức Phật thường giữ đạo trung chính, vì thế tiếng Ngài nói ra hòa nhã nhẹ nhàng, làm cho người nghe cảm thấy thoải mái. 4. Tiếng trí tuệ tôn quí. Cũng gọi là tiếng vào lòng. Nghĩa là đức của Phật ở ngôi tôn quí, tâm trí tuệ sáng láng, tiếng Ngài nói ra khiến người nghe tôn trọng và trí hiểu biết được mở mang. 5. Không là tiếng đàn bà. Nghĩa là đức Phật ở trong định Thủ lăng nghiêm, có đức đại hùng, cho nên tiếng Ngài nói ra khiến tất cả người nghe đều kính và sợ, các ma trời, ngoại đạo đều qui phục. 6. Tiếng không lầm. Cũng gọi là tiếng rõ ràng. Nghĩa là trí của Phật tròn sáng, soi rọi không bị ngăn ngại, cho nên tiếng Ngài nói ra sâu xa chân thật, không có sai sót, khiến mọi người nghe đều được thấy hiểu ngay thẳng. 7. Tiếng sâu xa. Nghĩa là trí tuệ của Phật sâu thẳm, hành vị cao tột, vì thế tiếng Ngài nói ra như từ gần mà xa, suốt đến mười phương, khiến tiếng nói gần mà chẳng to, xa mà không nhỏ, đều hiểu được lí sâu xa thăm thẳm. 8. Tiếng không hết. Nghĩa là nguyện hành của đức Như lai vô tận, ở trong pháp tạng vô tận, cho nên tiếng Ngài nói ra khiến người nghe mà tìm nghĩa của tiếng ấy thì vô cùng, vô tận. Trên đây là nói về cái đức của âm thanh của Phật. Mặt khác, trong kinh Tối thắng vấn bồ tát thập trụ trừ cấu đoạn kết quyển 8, có nêu ra tám thứ âm thanh là: chẳng phải tiếng đàn ông, không phải tiếng đàn bà, chẳng phải tiếng cứng, không phải tiếng mềm, chẳng phải tiếng trong, không phải tiếng đục, chẳng phải tiếng mạnh, không phải tiếng yếu. Đây là nói về thể của âm thanh của Phật. Cũng kinh đã dẫn quyển 7, còn nêu ra tám thứ tiếng là: thấy khổ, hướng khổ, thấy tập, hướng tập, thấy diệt, hướng diệt, thấy đạo, hướng đạo. [X. Trung a hàm Q.14 kinh Phạm ma; kinh Phạm ma du; luận Đại tì bà sa Q.17; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần cuối].
bát đa la
Xem Ứng lượng khí.
; Xem bát.
bát đa la thụ
(八多羅樹) Gấp tám cây đa la. Là hình dung từ được dùng trong các kinh điển để biểu thị nghĩa rất cao lớn. Cây đa la là loại cây to, cho nên gọi một vật gì cao là cây bát đa la, hàm ý là cao gấp tám lần cây đa la. Như kinh Pháp hoa phẩm Phân biệt công đức chép, dùng chiên đàn đỏ làm các nhà điện, cao gấp tám cây đa la. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
bát điên đảo
The eight upside-down views: heretic believe in thường lạc ngã tịnh permenence, pleasure, personality, and purity. The two Hinayàna vehicles deny these both now and in nirvàna. Mahayàna denies them now but asserts them in nirvàna.
; (八顛倒) Tám điên đảo. Chỉ tám thứ điên đảo mà người phàm phu và Thanh văn, Duyên giác mê chấp. Gọi tắt là Bát đảo. Tức phàm phu thủ chấp các pháp hữu vi là thường còn, là vui thú, là có ta, là sạch sẽ; còn Thanh văn, Duyên giác thì chấp pháp vô vi Niết bàn là chẳng phải thường còn, chẳng phải vui sướng, chẳng phải có ta, chẳng phải sạch sẽ, bởi thế cũng gọi là tám điên đảo của phàm phu và Tiểu thừa. 1. Thường điên đảo, nghĩa là đối với các pháp vô thường ở thế gian, khởi lên cái thấy thường còn mãi. 2. Lạc điên đảo, nghĩa là sự vui sướng của năm dục của thế gian đều là nhân dẫn đến khổ đau, nhưng người phàm phu không thấy rõ lý ấy, nên chấp bậy là vui sướng. 3. Ngã điên đảo, thân này là do bốn đại hòa hợp giả tạm mà thành, vốn không có ta, phàm phu không rõ điều đó, nên chấp có ta làm chủ. 4. Tịnh điên đảo, thân mình thân người, đều có năm thứ dơ bẩn, phàm phu không rõ lý ấy, lại sinh tham đắm mà chấp càn là sạch sẽ. 5. Vô thường điên đảo, nghĩa là đối với pháp thân thường trụ của Như lai thì cho là tướng có sinh diệt đổi khác. 6. Vô lạc điên đảo, nghĩa là đối với niềm vui trong sạch của Niết bàn thì lại cho rằng không vui. 7. Vô ngã điên đảo, nghĩa là trong cái ta chân thật của tính Phật lại chấp không có ta. 8. Vô tịnh điên đảo, nghĩa là thân thường trụ của Như lai chẳng phải thân ăn uống tạp nhạp, chẳng phải thân phiền não, chẳng phải thân máu thịt, chẳng phải thân gân xương nối kết. Vì Thanh văn, Duyên giác không rõ lý ấy, nên cho là không trong sạch. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.2; luận Câu xá Q.19; Ma ha chỉ quán Q.2].
bát đoạn
(八段) Tám đoạn. Cách chia loại trong giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni. Như hai trăm năm mươi giới của tỉ khưu được chia làm tám luật là: Ba la di, Tăng tàn, Bất định, Xả đọa, Đơn đề, Đề xá ni, Chúng học, Diệt tránh. [X. Bát tông cương yếu Q.thượng].
bát đàm ma hoa
(鉢曇摩華) Hoa Bạt đàm ma. Phạm: Padma. Cũng gọi Ba đầu ma hoa, Bát đặc mang hoa. Dịch là hoa sen đỏ.Thuộc họ thụy liên. Tên khoa học là Nelumbium Speciosum, Will. Sinh sản ở Ấn độ, bán đảo Mã lai, Trung quốc, Nhật bản, Úc châu v.v... Lá tròn, đường trực kính khoảng 60 đến 100 phân tây. Trồng tại các nơi đầm lầy, ruộng nước sâu, thân cây mập mạp, có thể ăn được. Về mùa hạ, cuống hoa nhô lên khỏi mặt nước vài thước (Tàu). Nở hoa to, mầu trắng, đỏ lợt, hạt to bằng hạt đậu oản, trong mỗi đài hoa có chừng mươi hạt, ăn rất ngon. Trong các kinh luận, hoa này thường được đặt ngang hàng với hoa Ưu bát la và các loại sen khác. Được dùng làm tòa ngồi hoặc để trang nghiêm thân của chư Phật và Bồ tát. [X. Đại nhật liên hoa thường kinh sớ Q.15].
Bát Đại Bồ Tát
(八大菩薩): bên cạnh hai Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照) và Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照), còn có 8 vị Bồ Tát khác cũng thường hầu cận bên đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) là: (1) Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), (2) Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), (3) Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至), (4) Bảo Đàn Hoa (寶壇華), (5) Vô Tận Ý (無盡意), (6) Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王), (7) Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上), và(8) Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒).
bát đại bồ tát
(八大菩薩) Tám Bồ tát lớn. Là tám vị Bồ tát giữ gìn chính pháp, che chở chúng sinh. Cũng gọi Bát bồ tát. Về tên hiệu có nhiều thuyết khác nhau. Chẳng hạn: 1. Kinh bát chu tam muội nêu : Bát đà hòa, La lân na kiệt, Kiều nhật đâu, Na la đạt, Tu thâm, Ma ha tu tát hòa, Nhân đê đạt và Hòa luân điều. 2. Kinh Dược sư thì nêu: Văn thù sư lợi, Quan thế âm, Đắc đại thế, Vô tận ý, Bảo đàn hoa, Dược vương, Dược thượng, Di lặc. 3. Kinh Lí thú nêu: Kim cương thủ, Quán tự tại, Hư không tạng, Kim cương quyền, Văn thù sư lợi, Tài phát tâm chuyển pháp luân, Hư không khố, Tối nhất thiết ma. 4. Bát đại bồ tát mạn đồ la nêu : Quan thế âm, Di lặc, Hư không tạng, Phổ hiền, Kim cương thủ, Diệu cát tường, Trừ cái chướng và Địa tạng. Pháp tu nương vào các kinh này mà tu, gọi là Đại bồ tát pháp. Ngoài ra, kinh Thất Phật bát bồ tát, kinh Đại phương quảng Bồ tát tạng, Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ v.v... cũng đều nói khác.
bát đại bồ tát kinh
(八大菩薩經) Có 1 quyển. Ngài Pháp hiền đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Trong kinh này, đức Phật nói với tôn giả Xá lợi phất rằng, nếu người nào hay một lòng nhớ nghĩ tới tên hiệu của năm đức Phật ở phương đông là: Thiện tinh tiến cát tường Như lai ở nước Vô năng thắng, Phổ chiếu Như lai ở nước Vô ngã, Cát tường Như lai ở nước Thiện ái, Ấn nại la kế đô đặc phạ nặc vương Như lai ở nước Tịch tĩnh tạng, Hỉ công đức quang tự tại vương Như lai ở nước Li trần, hoặc viết chép, đọc tụng giảng nói kinh này, thì người ấy sẽ không rơi vào ngã ác, hoặc trong nơi hạ tiện, mà được sinh lên cõi trời Trường thọ, thoát khỏi năm trọc, ba tai, tám nạn………... và có thể thành đạo tột bậc. Tên kinh này được đặt theo tên của tám vị Đại bồ tát ở ngay đầu kinh (Diệu cát tường, Thánh quán tự tại, Từ thị, Hư không tạng, Phổ hiền, Kim cương thủ, Trừ cái chướng, Địa tạng), vì thế gọi là kinh Bát đại bồ tát.
Bát Đại Bồ Tát Man-đồ-la kinh
八大菩薩曼荼羅經; C: bā dàpúsà màntúluó jīng; J: hachi daibosatsu mandara kyō; S: aṣṭa-maṇḍalaka; t: ['phags pa] dKyil 'khor brgyad pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo.|Có 2 bản dịch tiếng Hán cùng tên: 1. Bất Không (s: amoghavajra) dịch, 1 quyển; 2. Pháp Hiền (法賢) dịch, 2 quyển.
bát đại bồ tát mạn đồ la kinh
(八大菩薩曼荼羅經) Có 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung trình bày phương pháp kiến lập Bát mạn đồ la, và nói rõ người tu hành nên nương theo pháp nào thì mau chứng bồ đề. (xt. Bát Đại Mạn Đồ La Kinh).
Bát Đại Bồ-tát Mạn-đồ-la Kinh 八大菩薩曼荼羅經
[ja] ハチダイボサツマンダラキョウ Hachi daibosatsu mandara kyō ||| The Ba dapusa mantuluo jing; Skt. Aṣṭamaṇḍalaka; Tib. ['phags pa] dKyil 'khor brgyad pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo [To.644/882, P.158/507]; (Maṇḍala of the Eight Great Bodhisattvas). There are two Chinese translations, each bearing the same title: (1) 1 fasc. (T 1167.20.675-676), trans. Amoghavajra 不空. (2) 2 fasc. (T 1168a.20.676), trans. Faxian 法賢. (s: Aṣṭamaṇḍalaka; t: ['phags pa] dKyil 'khor brgyad pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo) => Có 2 bản dịch tiếng Hán cùng tên: 1. Do Ngài Bất Không (s: Amoghavajra ) dịch; 1quyển. 2. Do Ngài Pháp Hiền (c: Faxian ) dịch: 2 quyển.
bát đại dạ xoa
(八大夜叉) Tám dạ xoa lớn. Dạ xoa, Phạm: Yakwa. Là loại thứ ba trong tám bộ chúng. Cùng với la sát đều là họ hàng của Tì sa môn thiên vương. Cũng gọi là Bát đại dược xoa, Dạ xoa bát đại tướng, Bát đại thiên vương, Tì sa môn bát huynh đệ (tám anh em Tì sa môn). 1. Ma ni bạt đà la (Phạm: Maịibhadra) tức là Bảo hiền. 2. Bố rô na bạt đà la (Phạm: Pùrịabhadra) tức là Mãn hiền. 3. Bán chỉ ca (Phạm:Pàĩcika) tức là Mật chủ, Mật thân. 4. Sa đa kì li (Phạm:Zatagiri), tức là Uy thần, chúng đức. 5. Hê ma phọc đa (Phạm: Himavanta), người ở núi Tuyết, tức Ứng niệm. 6. Tì sái ca (Phạm:vizakha), tức là Đại mãn, Trì pháp. 7. A tra phạ ca (Phạm:Àỉavaka),tức là Vô tỉ lực,Vô tỉ thân. 8. Bán già la (Phạm:Pàĩcala), tức là Mật nghiêm. [X. Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.5]
bát đại kim cương đồng tử
(八大金剛童子) I. Bát đại kim cương đồng tử (tám đại kim cương lớn). Chỉ các sứ giả của Bất động minh vương. Cũng gọi là Bát đại đồng tử. Tức là: Tuệ quang, Tuệ hỉ, A nậu đạt, Chỉ đức, Ô câu bà nga, Thanh tịnh, Căng yết la, Chế tra ca. [X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp]. II. Bát đại kim cương đồng tử. Chỉ tám đồng tử theo hầu bồ tát Văn thù. Đó là: Quang võng, Địa tuệ tràng, Vô cấu quang, Bất tư nghị tuệ, Thỉnh triệu, Kế thiết ni, Cứu hộ tuệ, Ô ba kế thiết ni. [X.Thai mạn đại sao Q.4]. III. Bát đại kim cuơng đồng tử. Là tám đồng tử kim cương rất được phái Tu nghiệm đạo Nhật bản tôn sùng. Về tên gọi của các đồng tử này có nhiều thuyết khác nhau, phổ thông, những tên sau đây là đại biểu: Trừ ma, Hậu thế, Từ bi, Ác trừ, Kiếm quang, Hương tinh, Kiểm đăng, Hư không. Gốc của tám đồng tử lớn kể trên , theo thứ tự là tám đức Phật: Thích ca, Sư tử âm, Vân tự tại, A di đà, Đế tướng, Chiên đàn hương, A súc, Hư không trụ. [X. Linh dị tương thừa tuệ ấn nghi quĩ].
bát đại linh tháp
(八大靈塔) Tám tháp thiêng liêng lớn. Là tám tòa tháp lớn được xây dựng ở tám nơi thiêng liêng của một đời đức Thế tôn. Gọi tắt là tám tháp. 1. Tháp ở vườn Lâm tì ni thành Ca tì la, nơi đức Phật giáng sinh. 2. Tháp ở gốc cây bồ đề bên bờ sông Ni liên nước Ma già đà, nơi đức Phật thành đạo. 3. Tháp ở vườn Lộc dã thành Ba la nại nước Ca thi, nơi đức Phật quay bánh xe pháp. 4. Tháp ở vườn Kì đà nước Xá vệ, nơi đức Phật hiện đại thần thông. 5. Tháp ở thành Khúc nữ nước Tang già thi, là nơi đức Phật từ thềm bảy báu bước xuống, sau khi an cư trên cung trời Đao lợi trở lại nhân gian. 6. Tháp ở thành Vương xá, nơi Đề bà đạt đa phá tăng, khiến chúng tăng chia làm hai nơi, đức Phật cảm hóa trở về một mối. 7. Tháp ở thành Quảng nghiêm, nơi đức Phật nghĩ về tuổi thọ sắp vào niết bàn. 8. Tháp ở rừng Sa la thành Câu thi na nơi đức Phật vào niết bàn Truyền thuyết xây dựng tám đại linh tháp là dựa theo truyện A dục vương quyển 2 ghi chép việc vua A dục xây cất các tháp nơi Phật sinh, cây bồ đề, nơi quay bánh xe pháp, nơi ban Niết bàn. Lại theo Thập địa kinh luận quyển 3, luận Đại thừa khởi tín có nêu thuyết tám tướng thành đạo, thêm vào bốn tháp ở bốn nơi, như ở Kì viên hiện thần thông v.v... mà diễn biến thành tám đại linh tháp. Vào khoảng thế kỉ thứ VII, thứ VIII tây lịch việc đi chiêm bái tám linh tháp lớn này rất thịnh. Hoặc lấy bốn tháp ở nơi Phật sinh, nơi thành đạo, nơi quay bánh xe pháp, nơi vào niết bàn, gọi là bốn tháp lớn, hoặc là bốn tháp ở cõi người, để đối lại với bốn tháp Đế thích gọi là bốn tháp trên cõi trời. [X. kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.1; Bát đại linh tháp phạm tán].
bát đại linh tháp danh hiệu kinh
(八大靈塔名號經) Có 1 quyển. Ngài Pháp hiền đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 32. Kinh này tường thuật khi đức Phật còn tại thế, chính ngài đã nêu tên của tám linh tháp lớn và khuyên người nghe cúng dường tháp. Kinh tuy nhỏ nhưng ở cuối quyển có phụ thêm phần biên niên sử về cuộc đời đức Phật, kinh Thập nhị du và kinh Tăng già la sát v.v... là tư liệu quý báu dể nghiên cứu truyện đức Phật. (xt. Bát Đại Linh Tháp).
bát đại linh tháp phạn tán
Aṣṭamahāśrīcaitya-saṁskṛta-stotra (S)Tên một bộ luận kinh.
bát đại long vương
(八大龍王) Tám vua rồng lớn. Tám vị long vương này là những thiên thần hộ pháp được nói đến trên hội Pháp hoa. Cũng gọi là Bát long vương 1. Nan đà long vương (Phạm: Nanda), dịch ý là vua rồng vui mừng, là vị đứng đầu trong các thần rồng hộ trì Phật pháp. 2. Bạt nan đà long vương (Phạm: Upananda), cũng gọi là Ưu ba nan đà long vương, dịch ý là vua rồng hiền vui, là anh em với long vương Nan đà ở trên. 3. Sa già la long vương (Phạm: Sàgara), dịch ý là vua rồng biển. Cũng gọi là Sa kiệt la long vương. Là vị tôn chính trong phép cầu mưa xưa nay, cũng là một trong hai mươi tám vị bộ chúng Quan âm. 4. Hòa tu cát long vương (Phạm: Vàsuki), dịch ý là vua rồng có của báu, vua rồng nhiều đầu, vua rồng chín đầu. Cũng gọi là Bà tu thụ long vương, Phiệt tô chỉ long vương, có thể quấn quanh núi diệu cao (Tu di), và lại ăn rồng con. 5. Đức xoa già long vương (Phạm: Takwaka), dịch ý là vua rồng nhiều lưỡi; vua rồng hai lưỡi, vua rồng hiện độc, vua rồng hay tồn hại người. Một cái nhìn tức giận của rồng này cũng khiến người và súc vật chết ngay. 6. A na bà đạt đa long vương (Phạm: Anavatapta), dịch ý là vua rồng không nhiệt não. Cũng gọi là vua rồng A nậu đạt. Ở trong ao A nậu đạt trên đỉnh núi Tuyết. 7. Ma na tư long vương (Phạm: Manasvin), dịch là vua rồng ý lớn, vua rồng ý cao, vua rồng lòng từ, vua rồng đức lớn, vua rồng thân lớn. Cũng gọi là Ma na tô bà đế long vương. 8. Ưu bà la long vương (Phạm: Utpalaka), dịch ý là vua rồng sen xanh.Vì ở trong ao hoa sen xanh, cho nên gọi là thanh liên long vương. [X. kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Tựa; Đà la ni tạp tập Q.3; Pháp hoa kinh văn cú Q.2 hạ].
bát đại minh vương
(八大明王) Tám minh vương lớn. Cứ theo kinh Đại diệu kim cương chép, thì Bát đại minh vương là do tám vị Bồ tát lớn thị hiện làm tám minh vương kim cương. Tức là: Hàng tam thế, Đại uy đức, Đại tiếu, Đại luân, Mã đầu, Vô năng thắng, Bất động, Bộ trịch. Tám bồ tát lớn thì theo thứ tự là: Kim cương thủ, Diệu cát tường, Hư không tạng, Từ thị, Quán tự tại, Trừ cái chướng, Phổ hiền. Hoặc bỏ Bất động minh vương mà thêm Uế tích kim cương thay vào, gọi là Bát đại minh vương, lấy làm quyến thuộc của Bất động. Hoặc có thuyết thêm Uế tích (Ôsôsama), Vô năng thắng, Mã đầu vào năm đại minh vương Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa mà thành Bát đại minh vương.
bát đại mạn nã la kinh
(八大曼拿羅經) Có 1 quyển. Ngài Pháp hiền đời Tống dịch. Cũng gọi Bát đại ma nô la kinh, Đại thừa bát đại mạn nô la kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Là pháp của tám vị Bồ tát lớn. Nội dung là đại minh tâm căn bản của tám đại bồ tát: Quán tự tại, Từ thị, Hư không tạng, Phổ hiền, Kim cương thủ, Mạn thù sư lợi, Trừ cái chướng và Địa tạng.
bát đại nhân giác
(八大人覺) Tám thứ giáo pháp của bậc đại nhân. Cũng gọi Đại nhân bát niệm, Bát sinh pháp. Là tám thứ giáo pháp vào đạo bồ đề mà các bậc thánh (đại nhân) Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát phải tỉnh biết và ghi nhớ. Cứ theo kinh Bát niệm trong Trung a hàm quyển 18, thì bát đại nhân giác là: 1. Ít muốn, người tu đạo không tham cầu nhiều thứ. 2. Biết đủ, lòng luôn thỏa mãn với cái mình đã có. 3. Xa lìa, thân lìa khỏi sự trói buộc của thế gian, tâm thoát ly mọi phiền não. 4. Tinh tiến, làm chính cần, tu thiện pháp không biếng nhác. 5. Giữ ý niệm ngay thẳng, đối với thân, thụ, tâm, pháp, thường tu chính niệm. 6. Định tâm chân chính, tu tập thiền định, dẹp hết loạn tưởng. 7. Trí tuệ chân chính, dùng mắt trí tuệ mà nhìn Phật pháp, tỉnh biết chính đạo. 8. Không bàn phiếm, xa lìa sự bàn nói lông bông, trụ nơi chính ngữ. Còn theo kinh Bát đại nhân giác nói, thì tám điều tỉnh biết là: biết cõi đời là vô thường, biết tham muốn nhiều là đau khồ, biết tâm luôn mong cầu, biết lười biếng là rơi rụng, biết sống chết là ngu dại, biết nghèo khổ nhiều oán, biết năm dục là tai họa, biết sống chết bốc cháy là khổ não. [X. luận Thành thực Q.5 phẩm vô tương ứng; Di giáo kinh luận ký Q.trung]. (xt. Đại Nhân Bát Niệm).
bát đại nhân giác kinh
(八大人覺經) Có 1 quyển. Ngài An thế cao đời Hậu Hán dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này nói rõ tám pháp mà các bậc đại nhân, như chư Phật, Bồ tát biết rõ và ghi nhớ. Đệ tử của Phật phải xem xét và hiểu rõ tám điều mà các bậc đại nhân đã biết để tu hành mà tự giác, giác tha. Bát đại nhân giác trong kinh này là chỉ: biết thế gian vô thường, biết nhiều tham muốn, biết tâm không chán, biết lười biếng, biết ngu si, biết nghèo oán, biết muốn là tai họa, biết sống chết. Bát đại nhân giác trong kinh A hàm, kinh Phật di giáo và trong luận Thành thực đều có bàn nói rộng rãi, về thứ tự, tên gọi tuy có khác, nhưng về ý chỉ thì giống nhau. Ngài Trí húc đời Minh có soạn Bát đại nhân giác kinh lược giải. [X. Bát đại nhân giác chi nguyên thủy nghiên cứu (Tăng vĩnh Linh phượng)]. (xt. Bát Đại Nhân Giác).
bát đại quan âm
(八大觀音) Các kinh nói về tên của tám vị Quan âm lớn có khác nhau, mà hai thuyết sau đây là phổ biến hơn cả: Thuyết thứ nhất, tám Quan âm là: Bất không quyên sách, Tì câu chi, Thập nhất diện (mười một mặt), Mã đầu (đầu ngựa), Phẫn nộ câu, Như ý luân, Bất không câu và Nhất kế la sát. Thuyết thứ hai, tám Quan âm là: Như ý luân, Quán tự tại, Đắc đại thế, Đa la, Tỳ câu chi, Bạch xứ, Nhất kế la sát và Mã đầu. [X. kinh Như ý luân đà la ni phẩm Đàn pháp].
bát đại sơn nhân
(八大山人) Người Giang tây cuối đời Minh. Nổi tiếng về hội họa, là một trong bốn vị tăng ở cuối đời Minh hoặc một trong bốn vị tăng đầu đời Thanh trong lịch sử hội họa của Trung quốc. Là hậu duệ của Chu quyền, tôn thất nhà Minh. Vốn tên Chu hấp, tự Tuyết cá, hiệu Lư, Cá sơn lư, Truyền khể, Thập đắc, Tuyết nạp, Nhân ốc... Tám tuổi đã biết làm thơ, tính tình độc lập khác thường, hay khôi hài, chữ viết đẹp, khắc chữ triện, đặc biệt giỏi vẽ: vẽ những tranh non nước chim hoa mà người đời cho là thần tác. Năm hai mươi tuổi, vua Tư tông nhà Minh chết, Sơn nhân bi phẫn rồi tự làm khổ mình, vào trong rừng sâu núi thẳm mấy năm, vì uất hận quá mà hóa điên. Sau xuất gia làm tăng, lúc ấy khoảng hai mươi ba tuổi, giả câm giả ngọng. Năm hai mươi tám tuổi bắt đầu giảng kinh Phật, số người đến theo học thường hơn trăm. Sơn nhân thường giữ kinh Bát đại nhân giác, do đó tự hiệu là Bát đại sơn nhân. Lại trông nom đạo quán Thanh vân phồ, giao du với nhiều vị tăng, như Đạm tuyết, Thạch đào đều là bạn chí thân, và sánh ngang các họa sĩ trong Thiền lâm, như Quán hưu, Tề kỉ... Sau dời Thanh vân phồ, đến ở Ngụ ca thảo đường tại Nam xương. Sư mất năm Khang hi thứ 44, thọ 80 tuổi. [X. Bi truyền tập Q.126; Quốc triều tiên chính sự lược Q.48].
bát đại sư
Eight ornaments.
bát đại thành
(八大城) Tám thành lớn. Chỉ tám tòa đô thành của Ấn độ đời xưa. Đó là: Xá vệ, Sa kì, Chiêm ba, Ba la nại, Câu thiểm di, Tì xá li, Vương xá, Ca tì la vệ. [X. luật Ma ha tăng kì Q.33].
bát đại thần tướng
(八大神將) Tám thần tướng lớn. Chỉ tám vị tướng thần được bày chung quanh tạng kinh bánh xe, tức là: Phạm thiên, Đế thích, Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục, Đa văn và hai vị lực sĩ Mật tích, Kim cương (tục gọi là Nhân vương). Tám vị này đều là các thiện thần giữ gìn Phật pháp. [X. Thích môn chính thống Q.3; Thiền lâm tượng khí tiên đệ ngũ loại Linh vương môn].
bát đại tổng trì vương kinh
(八大總持王經) Có 1 quyển. Ngài Thí hộ đời Tống dịch. Nói đủ là Trì minh tạng bát đại tổng trì vương kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này tuy nêu tám tổng trì lớn trong tạng Trì minh, nhưng cũng nêu cả tâm chú, cùng ghi mười thứ chân ngôn. Những chân ngôn này không có tên gọi đăc biệt, chủ ý ở chỗ người trì chú có thể gặt hái được lợi ích ở hiện tại. Chẳng hạn như đàn bà không có sữa sẽ có sữa, không có con sẽ được con...
bát đại tử
Xem Bàn đại tử.
bát đại tự tại
Eight great powers of personality or sovereign independance.
bát đại tự tại ngã
(八大自在我) Cái ta có tám thứ tự tại lớn. Ngã, là nghĩa tự tại không ngại, một trong bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh trong kinh Niết bàn. Đại ngã tức là pháp thân của Như lai, đầy đủ tám thứ đại tự tại, cho nên gọi là Bát đại tự tại ngã. Cũng gọi Bát tự tại, Bát biến hóa, Bát thần biến. Đó là: 1. Có thể hiển bày một thân làm nhiều thân. 2. Hiển bày thân một mảy bụi đầy khắp ba nghìn thế giới. 3. Thân to lớn, nhưng nhẹ nhàng lướt đi xa. 4. Hiện vô lượng loại thường ở. 5. Các căn được dùng lẫn cho nhau, tức mắt có thể nghe, tai có thể thấy... 6. Được hết thảy pháp nhưng không có ý tưởng được. 7. Nói nghĩa của một bài kệ trải vô lượng kiếp. 8. Thân biến khắp nơi cũng như hư không. Tuy nhiên, các kinh nói hơi khác nhau. Cứ theo Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển hạ chép thì: 1. Có thể dùng sức biến hóa làm cho thân mình thân người và thế giới trở thành hạt bụi cực nhỏ. 2. Có thể dùng sức biến hóa làm cho thân mình thân người và thế giới tràn đầy cõi hư không cực lớn. 3. Có thể dùng sức biến hóa làm cho thân mình thân người và thế giới trở nên cực nhẹ như mảy lông hồng 4. Có thể dùng sức biến hóa lớn nhỏ dài ngắn... chuyển hóa một cách tự tại. 5. Có thể dùng sức biến hóa tự biến mình thành người lớn, người nhỏ, nhưng lòng không cao thấp, hàng phục hết thảy, nhiếp thụ tất cả. 6. Dùng sức biến hóa có thể đến nơi xa xôi bằng bốn cách: bay đi nơi xa, lặn ở đây hiện ở kia, dời xa lại gần không đi mà tới, trong một niệm biến khắp mười phương. 7. Dùng sức biến hóa khiến quả đất nổi lên sáu thứ chấn động hoặc mười tám thứ chấn động. 8. Dùng sức biến hóa có thể một thân làm ra nhiều thân, nhiều thân thu vào một thân, đi qua vách núi thẳng đứng, dẫm lên nước lửa, đi trong hư không, chuyển bốn đại, biến đất làm nước, biến đá làm vàng... đều được như ý. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.23; Đại minh tam tạng pháp số Q.21].
bát đại địa ngục
The eight naraka, or hot hells: 1-Đẳng hoạt, sànjiva, hell of rebirth; 2-Hắc thằng, kàla sùtra, black cords or chains; 3-Chúng hợp, sanghàta, in which all are squeezed into a mass between two mountains falling together; 4-Hào khiếu, raurava, crying and wailing; 5-Đại hào khiếu, mahà raurava, great crying; 6-Viêm nhiệt, tapana, hell of burning; 7-Đại nhiệt, pratàpana, fierce heat; 8-Vô gián, avici, unintermitted rebirth into its sufferings with no respite.
bát đại đồng tử ấn ngôn
(八大童子印言) Ấn khế và chân ngôn của tám đồng tử lớn, sứ giả của Bất động tôn. 1. Tuệ quang; Ấn: Kim cương hợp chưởng, nhẫn, nguyện, ngón tay giữa bên trái và bên phải chắp lại, dựng thẳng như hình cây kim. Chân ngôn: Án (oô) phạ nhật ra (vajra, kim cương) ma đế nhân phược la (matijvala, tuệ quang) bồ địa chất đa (bodhicitta, bồ đề tâm) nẵng (na, chủng tử). 2.Tuệ hỉ, Ấn: Kim cương hợp chưởng, hai ngón giữa chắp lại dựng thẳng như hình báu. Chân ngôn: Án (oô) la đát nẵng (ratna, bảo) ma đế sa độ (matisàdhu, tuệ hỉ) ma ha ma ni (mahàmani, đại bảo châu) mạc (ma#, chủng tử). 3. A nậu đạt, Ấn: Kim cương hợp chưởng, hai ngón giữa như lá sen. Chân ngôn: Án (oô) bát nạp ma (padma, hoa sen) tát phạ na hạ (sarvadaha, nhất thiết não nhiệt) bát la xả nhĩ nẵng (prazamina, trấn áp) ma ha đạt ma (mahàdharma, đại pháp) tam (saô, qui mệnh chủng tử của Bất động tôn). 4.Chỉ đức, Ấn: Kim cương hợp chưởng, hai ngón giữa chập lại để trong lòng bàn tay. Chân ngôn: Án (oô) yết la ma (karma, tác nghiệp) ma ha phệ lí da (mahàvairya, đại vô úy) bát lí bố la ca (paripùraka, mãn nguyện), mãn (maô, chủng tử). 5. Ô câu bà nga, Ấn: Kim cương hợp chưởng. Chân ngôn: Án (oô) phạ phật la (vajra, kim cương) tát đỏa bà (sattva, hữu tình) ô câu bà nga (ukubhaga, siêu việt trụ thế) ma ha táo xí da (mahàsaukhya, đại hạnh phúc) đa (ta, chủng tử). 6.Thanh tịnh tỉ khưu, Ấn: Phạm khiếp, bàn tay trái ngửa lên, đầu ngón hướng về bên phải; bàn tay phải úp lên bàn tay trái, đầu ngón hướng về trái. Chân ngôn: Án (oô) ma ni (maịi, bảo châu) vĩ du đà đạt ma câu rô (vizudhadharmaguru, thanh tịnh pháp sư) la khất xoa đạt ma (rakwa dharma, hộ pháp) phạ (va, chủng tử). 7. Căng yết la, Ấn: Liên hoa hợp chưởng. Chân ngôn: Án (oô) đạt rô ma (dharma, pháp) căng yết la (kiíkara) để sắt tra (tiwỉa, phát khởi) nhật la (jra, chủng tử). 8.Chế tra ca, Ấn: Ngoại phọc ngũ cổ. Chân ngôn: Án (oô) yết rô ma (karma, tác nghiệp) chế tra ca (ceỉaka) hồng hồng (hùô hùô, khủng bố) phát tra (phaỉ, phá hoại) nam (ịaô, qui mệnh chủng tử của Bất động tôn). [X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp; Bất động sứ giả pháp].
bát đạo
Eightfold Path.
bát đạo phần thánh thiện
Eight sagely way shares Bát thánh đạo phần.
bát đảo
Chấp có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh là thật có ấy là bốn thứ điên đảo của phàm phu ; chấp không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh là thật không, ấy là bốn thứ điên đảo của nhị thừa, nói chung là bát đảo.
; Tám thứ chấp điên đảo. Chấp có “thường, lạc, ngã, tịnh” là thật có, ấy là bốn thứ điên đảo của phàm phu; chấp không có “thường, lạc, ngã, tịnh” là thật không, ấy là bốn thứ điên đảo của nhị thừa, nói chung là bát đảo.
bát đầu ma (hoa)
Padma (S). Lotus.
bát đầu ma hoa
(鉢頭摩華) Bát đầu ma, Phạm : Padma, Pàli: Paduma. Dịch ý là hoa sen đỏ, hoa sen đỏ lợt. Cũng gọi là Bát đặc ma hoa, ban đầu ma hoa. Tên khoa học: Nelumbium speciosum. Là loài thực vật thuộc họ thụy liên (sen ngủ), sinh sản ở các miền đông Ấn độ, Ba tư, Tây tạng, Trung quốc, Miến điện, bắc Úc đại lợi và vùng đầm lầy ở Nhật bản. Thân cây to mập có thể dùng làm thức ăn, tơ nhỏ trong thân cây có thể làm tim đèn. Ấn độ từ xưa đến nay, coi hoa này là hoa cao quý nhất trong các loài thực vật sống dưới nước, trong sách Phật, thường được liệt làm một thứ quý báu trong bảy thứ quý báu. Trong các kinh luận cũng thường được đề cập song song với các hoa câu vật đầu, ưu bát la, phân đà lợi. Ngoài ra cũng là tòa báu của Phật, Bồ tát, hoặc là vật cầm tay của bồtát Quan thế âm để trang nghiêm thân. [X. Trường a hàm Q.1 kinh Đại bản; Đại nhật kinh sớ Q.15; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng, Q.hạ]. (xt. Liên Hoa).
bát đầu ma địa ngục
(鉢頭摩地獄) Bát đầu ma, Phạm: Padma, Pàli: Paduma. Cũng gọi Ba đầu ma địa ngục, Bát đặc ma địa ngục, Ba đầu địa ngục. Là một trong tám địa ngục lạnh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 4 chép, thì những người sống trong địa ngục này, bị cái lạnh kinh hồn làm cho toàn thân đỏ lừng, da thịt nứt cứng, cho nên gọi là sen hồng (Padma). Còn theo luận Lập thế a tì đàm quyển 1 phẩm Địa động chép, thì địa ngục Bát đầu ma là thứ mười trong mười địa ngục lạnh, vì phỉ báng các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên mà tỉ khưu Cù già li phải rơi vào địa ngục này. Nhưng kinh Trường a hàm quyển 19 phẩm Địa ngục thì cho địa ngục này là một địa ngục nóng, trong ngục đều là màu đỏ, như màu của hoa bát đầu ma (hoa sen hồng), cho nên gọi Bát đầu ma. Lại nói về lửa địa ngục này bốc cháy ngùn ngụt. Các tội nhân đứng cách ngọn lửa một trăm do tuần, thì nóng sém da; cách sáu mươi do tuần, thì điếc cả hai tai, cách năm mươi do tuần thì mù hai mắt, không còn thấy được nữa. [X. kinh Đại lâu thán Q.2 phẩm Nê lê; kinh Khởi thế Q.4 phẩm Địa ngục].
bát đặc ma
Xem hồng liên địa ngục.
bát đặc ma na lạc ca
Xem hồng liên địa ngục.
Bát đế
八諦; C: bādì; J: hachitai;|Tám sự thật, Tám chân lí, còn gọi là Bát thánh đế. |I. Như được dạy trong kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra), số 8 có được là do sự hợp thành của 2 cách giải thích Tứ diệu đế, gọi là Hữu tác tứ đế (有作四諦) và Vô tác tứ đế (無作四諦). Loại trước được hiểu một cách không hoàn chỉnh bởi hàng Nhị thừa, loại sau là nhận thức đúng đắn của hàng Bồ Tát (theo phẩm Pháp thân trong kinh Thắng Man, Nhân vương bát-nhã kinh sớ, quyển 3 勝鬘經法身品、仁王般若經疏卷三); |II. Như được dạy trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra): 1. Hành khổ đế (行苦諦): các pháp hữu vi sinh khởi, đoạn diệt không ngừng; 2. Hoại khổ đế (壞苦諦): Chúng sinh đau khổ vì các pháp mình ưa thích bị tan hoại; 3. Khổ khổ đế (苦苦諦): Thường phải gặp điều không ưa thích; 4. Lưu chuyển đế (流轉諦): là phần đoạn sinh tử (分段生死); 5. Lưu tức đế (流息諦): tức Niết-bàn; 6. Tạp nhiễm đế (雜染諦): là phiền não (煩惱); 7. Thanh tịnh đế (清淨諦): khi đã giải trừ được phiền não, nhận rõ bản tính (thanh tịnh) vô vi của mình; 8. Chính phương tiện đế (正方便諦; theo Du-già sư địa luận, quyển 46. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương, quyển nhị, mạt 瑜伽師地論卷四十六、大乘法苑義林章卷二末).
bát đế
The eight truths, postulates, or judgements of the Pháp tướng tông Dharmalaksana school.
; (八諦) Tám đế. Cũng gọi là tám Thánh đế. I. Bát đế. Tức gọi chung bốn đế hữu tác và bốn đế vô tác. Cứ theo Thắng man bảo quật quyển hạ của ngài Cát tạng nói, thì bốn đế hữu tác là phép quán bốn chân lí của Tiểu thừa, phép quán này chưa được rốt ráo, sau còn cần có chỗ dụng công tu hành, vì thế gọi là hữu tác (có làm). Bốn đế vô tác là phép quán bốn chân lý của Đại thừa, sau không còn cần dụng công tu tác nữa, cho nên gọi là vô tác (không làm). Lại trí lực của hai thừa (Thanh văn, Duyên giác) có hạn lượng, nên còn gọi là có lượng; trí của Phật thì không có hạn lượng, cho nên cũng gọi là vô lượng. [X. kinh Thắng man phẩm Pháp thân; Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.3]. (xt. Tứ Đế). II. Bát đế. Mở rộng bốn đế làm tám thứ: 1. Hành khổ đế, các hành hữu vi sinh diệt, đổi dời, trôi chảy không dừng. 2. Hoại khổ đế, các pháp như ý mình muốn bị hoại. 3. Khổ khổ đế, luôn luôn gặp các pháp không như ý. 4. Lưu chuyển đế, chỉ phân đoạn sinh tử. 5. Lưu tức đế, chỉ Niết bàn, cũng gọi là hoàn diệt đế. 6. Tạp nhiễm đế, chỉ phiền não, nghiệp, sinh, ba pháp này rất nhơ nhớp. 7. Thanh tịnh đế, chỉ pháp vô vi đã đạt được do đoạn trừ các pháp tạp nhiễm. Pháp vô vi này cực kì trong sạch. 8. Chính phương tiện đế, có nghĩa là hết thảy đạo vô lậu thực là con đường đưa đến Niết bàn. Bốn đế đầu là khổ đế, đế thứ năm là diệt đế, đế thứ sáu thông cả hai đế khổ, tập, đế thứ bảy thông cả hai đế diệt, đạo, đế thứ tám là đạo đế. [X. luận Du già sư địa Q.46; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. III. Bát đế. Là tám đế nói trong kinh Nhân vương. Trong tác phẩm Nhân vương kinh sớ quyển trung phần đầu của mình, sa môn Viên trắc đã rút tám đế sau trong mười bốn đế nói trong kinh Thập địa ra, để giải thích tám đế trong kinh Nhân vương như sau: 1. Nhờ hiểu rõ tự tướng, cộng tướng của pháp mà thấu suốt chân lý của các tướng. 2. Hiểu rõ sự sai biệt của các pháp, nên mới thấu suốt chân lý của sự sai biệt. 3. Hiểu rõ sự sai biệt của năm ấm, mười tám giới, mười hai nhập, nên thấu suốt được chân lý của sự nói thành. 4. Hiểu rõ sự khổ não của thân tâm, nên thấu suốt chân lý của sự. 5. Hiểu rõ sự sinh trong các đường là tương tục, nên thấu suốt chân lý sự sinh. 6. Hết thảy nhiệt não được diệt trừ, nên thấu suốt chân lý của tận trí, vô sinh trí. 7. Phát khởi hạnh chẳng hai, nên thấu suốt chân lý của trí đạo. 8. Hiểu rõ một cách chân chính tướng của các pháp, nên thấu suốt lý chân thật thành tựu hết thảy địa vị Bồ tát theo thứ lớp và thấu suốt chân lý thành tựu trí Như lai. [X. kinh Nhân vương Q.thượng phẩm Bồ tát giáo hóa].
Bát đế 八諦
[ja] ハチタイ hachitai ||| The eight noble truths, also written as 八聖諦. {I} As taught in the Śrīmālā-sūtra, the number eight is attained on combining two kinds of interpretations of the Four Noble Truths, the so-called created four noble truths 有作四諦 and uncreated four noble truths 無作四諦. The former are understood as incomplete understandings of the four noble truths held by the practitioners of the two vehicles 二乘, and the latter are complete understandings possessed by bodhisattvas 菩薩. 〔勝鬘經法身品、仁王般若經疏卷三〕 {II} As taught in the Yogācārabhūmi-śāstra, (1) the truth of suffering of transience 行苦諦,wherein all conditioned existence arises and ceases without interruption. (2) the truth of suffering by destruction 壞苦諦,wherein one suffers by the disappearance of desirable objects. (3) the truth of everyday suffering 苦苦諦,wherein one meets disagreeable objects. (4) the truth of transmigration 流轉諦,or fragmentary saṃsāra 分段生死. (5) the truth of the cessation of transmigration 流息諦,or nirvana 涅槃. (6) the truth of defilement 雜染諦,or affliction 煩惱. (7) the truth of purity 清淨諦,where one eliminates afflictions upon ascertaining their unconditioned nature. (8) the truth of correct expedient means 正方便諦. 〔瑜伽師地論卷四十六、大乘法苑義林章卷二末〕 => Tám sự thực, Tám chân lý, còn gọi là Bát thánh đế. 1. Như được dạy trong Kinh Thắng man (s: Śrīmālā-sūtra), số 8 có được là do sự hợp thành của 2 cách giải thích Tứ Diệu Đế, gọi là Hữu tác Tứ đế và Vô tác Tứ đế. Mục trước được hiểu một cách không hoàn chỉnh bởi hàng Nhị thừa. Mục sau là nhận thức đúng đắn của hàng Bồ-tát .(Theo Phẩm Pháp thân trong Kinh Thắng man, Nhân Vương Bát-nhã Kinh Sớ, quyển 3) . 2. Như được dạy trong Du Già Sư Địa Luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra): 1. Hành khổ đế: các pháp hữu vi sinh khởi, đoạn diệt không ngừng. 2. Hoại khổ đế: Chúng sinh đau khổ vì các pháp mình ưa thích bị tan hoại. 3. Khổ khổ đế: Thường phải gặp điều không ưa thích. 4. Lưu chuyển đế: là phần đoạn sinh tử. 5. Lưu tức đế: tức Niết-bàn. 6. Tạp nhiễm đế: là phiền não. 7. Thanh tịnh đế: khi đã giải trừ được phiền não, nhận rõ bản tính (thanh tịnh) vô vi của mình. 8. Chính phương tiện đế. Theo Du-già Sư Địa Luận, quyển 46. Đại thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương, quyển hai, bản mạt.
Bát địa
八地; C: bādì; J: hachiji;|Giai vị thứ tám trong Thập địa. Giai vị khắc nghiệt trong quá trình tu đạo, qua đây, mọi phiền não hiện hành đều được giải trừ (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
bát địa
Xem Bát Nhân Địa.
Bát địa 八地
[ja] ハチジ hachiji ||| The eighth of the ten bhūmis. A critical stage of practice, during which all remaining manifest 現行 defilements are eliminated.〔二障義HPC 1.804c〕 => Giai vị thứ tám trong Thập địa. Giai vị then chốt nhất trong quá trình tu đạo, qua giai vị nầy, mọi phiền não hiện hành đều được giải trừ.
bát định
The eight degrres of fixed abstraction.
; (八定) Tám định. Định, có nghĩa thu nhiếp tâm tán loạn mà đưa nó về trạng thái lặng yên bất động. Cõi Sắc, cõi Vô sắc, ở mỗi cõi có bốn định, vì thế gọi là tám định. 1. Sơ thiền thiên định (định ở trời Thiền đầu), nghĩa là khi người tu tập thiền định ở cõi Dục, chợt thấy thân tâm lắng yên, hơi khe khẽ động, như mây như bóng. Lại cảm biết hơi thở ra vào qua khắp các lỗ chân lông trên toàn thân, vào không tích tụ, ra không phân tán, gọi là Sơ thiền thiên định. 2. Nhị thiền thiên định (định trời Thiền hai); nghĩa là đã được định Sơ thiền thiên rồi, tâm chán Sơ thiền, chán giác quán động tán, nhân đó thu tâm vào định, giác và quán liền diệt, điềm nhiên lặng yên. Nhờ vậy, niềm vui của thắng định phát sinh. Cũng như người từ căn phòng tối tăm đi ra, trông thấy mặt trời mặt trăng sáng rỡ, quang đãng trong suốt, gọi là Nhị thiền thiên định. 3. Tam thiền thiên định (định trời Thiền ba), nghĩa là đã được định Nhị thiền thiên rồi, lại chán Nhị thiền, Tâm vui mừng xung động, làm cho định không bền chắc, nhân đó, thu tâm quán xét kĩ, lòng mừng liền diệt, từ đó lặng yên vào định, niềm vui liên miên phát ra từ trong tâm. Pháp lạc tăng thêm, tràn khắp trong thân, là niềm vui bậc nhất trong thế gian, gọi là Tam thiền thiên định. 4. Tứ thiền thiên định (định trời Thiền bốn), nghĩa là đã được định Tam thiền rồi, lại thấy niềm pháp lạc ở Tam thiền làm cho tâm nhiễu loạn, không được thanh tịnh, bèn sinh chán lìa, cố gắng không ngừng được an ủi, hơi thở ra vào dứt bặt, lâng lâng trong sáng như gương, như nước lắng trong, chiếu soi vằng vặc, muôn tượng đều hiện, dứt mọi vọng tưởng, chính niệm kiên cố, gọi là Tứ thiền thiên định. 5. Không xứ thiên định, Không tức là hư không. Đã được định Tứ thiền thiên rồi, nhưng chán nỗi thân tâm còn bị ràng buộc, không được tự tại, bèn vận dụng thêm công sức, quán xét thân mình cũng như lụa là, trong ngoài thông suốt, một lòng nghĩ không. Chỉ thấy hư không, không thấy sắc tướng, tâm mình sáng trong, tự tại vô ngại, như chim ra khỏi lồng, tự do tự tại, gọi là Không xứ thiên định. 6. Thức xứ thiên định. Thức, hàm ý là tâm. Nghĩa là đã được định Không xứ thiên rồi, liền dùng thức tâm duyên khắp hư không, mà hư không thì không có bờ bến. Vì không có bờ bến, nên tâm định lại tán, do đó, lại bỏ hư không, chuyển tâm duyên theo thức, cùng thức ứng nhau, tâm định chẳng động. Thức ở hiện tại, quá khứ, vị lai, tất cả đều hiện trong định, ứng hợp với định, tâm không phân tán. Định này yên ổn, trong sạch tĩnh lặng, gọi là định Thức xứ thiên. 7. Vô sở hữu xứ thiên định (định không có nơi chốn). Nghĩa là lìa không xứ, thức xứ ở trên, nên gọi là vô sở hữu xứ. Đã được định thức xứ thiên rồi, dùng tâm duyên với thức ở ba đời hiện tại, quá khứ, vị lai, vô lượng vô biên, như thế có thể làm hỏng định, nên chỉ có chỗ không có tâm thức, tâm không chỗ nương tựa, mới là yên ổn. Do đó, liền bỏ thức xứ mà buộc tâm vào vô sở hữu xứ, tinh cần không biếng nhác, một lòng lắng trong, tuyệt nhiên vắng lặng, không khởi các tưởng, gọi là định Vô sở hữu xứ thiên. 8. Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên định (định không phải tưởng không phải chẳng tưởng). Nghĩa là thức xứ ở trước là có tưởng. Đến đây, bỏ hữu tưởng ở trước, gọi là Phi tưởng; bỏ vô tưởng ở trước gọi là Phi phi tưởng. Vì đã được định Vô sở hữu xứ thiên rồi, lại cảm thấy nơi ấy như dại như say, như ngủ như ám, do vô minh che lấp, không còn biết gì, như thế chẳng đáng ưa thích. Vì vậy, một lòng tinh chuyên, thường niệm chẳng có chẳng không, thì định vô sở hữu xứ liền diệt. Lại cố gắng không ngừng, hốt nhiên phát ra định chân thực, không còn thấy tướng hữu vô, an nhiên rỗng lặng, thanh tịnh vô vi, không thấy tướng định trong ba cõi, gọi là phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên định. [X. luận Câu xá Q.28; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.9].
Bát Đức
(八德): tức Bát Công Đức Thủy (八功德水), là nước có đầy đủ 8 loại công đức thù thắng; còn gọi là Bát Vị Thủy (八味水), Bát Chi Đức Thủy (八支德水), Bát Định Thủy (八定水). Cõi Tịnh Độ của chư Phật có hồ đầy đủ 8 công đức, trong đó có đầy ắp nước 8 công đức. Tám loại đó là: lắng sạch, trong lạnh, ngọt ngon, nhẹ mềm, tươi mát, an hòa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn. Đồng thời, nơi 7 dòng biển bao quanh núi Tu Di, cũng có đầy đủ nước 8 công đức, gồm: ngọt, lạnh, mềm, nhẹ, trong sạch, không hôi, uống vào không gây tổn thương cổ họng, uống vào không gây tổn thương bụng. Trong Xưng Tán Tịnh Độ Kinh (稱讚淨土經) giải thích rằng: “Hà đẳng danh vi Bát Công Đức Thủy ? Nhất giả trừng tịnh, nhị giả thanh lãnh, tam giả cam mỹ, tứ giả khinh nhuyễn, ngũ giả nhuận trạch, lục giả an hòa, thất giả ẩm thời trừ cơ khát đẳng vô lượng quá hoạn, bát giả ẩm dĩ định năng trưởng dưỡng chư căn Tứ Đại, tăng ích chủng chủng thù thắng thiện căn, đa phước chúng sanh, trường lạc thọ dụng (何等名爲八功德水、一者澄淨、二者清冷、三者甘美、四者輕軟、五者潤澤、六者安和、七者飲時除饑渴等無量過患、八者飲已定能長養諸根四大、增益種種殊勝善根、多福眾生、長樂受用, thế nào là Nước Có Tám Công Đức ? Một là lắng sạch, hai là trong lạnh, ba là ngọt ngon, bốn là nhẹ mềm, năm là tươi mát, sáu là an hòa, bảy là khi uống trừ được vô lượng sai lầm, âu lo như đói khát, v.v., tám là uống rồi được định, có thể nuôi lớn các căn, Tứ Đại, làm cho tăng ích các loại căn lành thù thắng, chúng sanh có nhiều phước sẽ vui mừng thọ dụng lâu dài).” Hay trong Hồi Hướng Văn (迴向文, Taishō No. 2848) lại có câu: “Bát Công Đức Thủy khử cấu trừ tai, Thất Tịnh Diệu Hoa trang nghiêm pháp thể (八功德水去垢除災、七淨妙花莊嚴法體, Nước Tám Công Đức khử nhớp trừ tai, Bảy Hoa Sạch Mầu trang nghiêm pháp thể).” Hơn nữa, trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經) cũng có câu: “Hựu Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, hữu Thất Bảo Trì, Bát Công Đức Thủy, sung mãn kỳ trung (又舍利弗、極樂國土、有七寶池、八功德水、充滿其中, lại nữa Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc có Ao Bảy Báu, có Nước Tám Công Đức, tràn đầy bên trong).” Ngoài ra, trong bài xướng Sái Tịnh có câu: “Phù thử thủy giả, Bát Công Đức Thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, biến nhập Tỳ Lô Hoa Tạng giới (夫此水者、八功德水自天眞、先洗眾生業垢塵、徧入毘盧華藏界, phàm loại nước này, là Nước Tám Công Đức, xuất xứ từ nguồn chơn của trời đất, trước hết rửa sạch bụi dơ nghiệp của chúng sanh, chuyển nhập vào thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật).”
Bát 鉢
[ja] ハツ、ハチ hatsu, hachi ||| A bowl. The bowl that a monk uses when he goes begging for food. => Bình bát chư tăng thường dùng để đi khất thực.
bát-kiện-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Pakkhandin, cũng đọc là bát-kiện-đề, tên gọi một loại thần có sức mạnh.
bát-kiện-đề
xem bát-kiện-đà.
Bát-la-nhược 鉢羅若
[ja] ハラニャ haranya ||| A transliteration of the Sanskrit prajñā 般若. => Phiên âm chữ prajñā ( ban-nhược/bát-nhã 般若) từ tiếng Sanskrit.
Bát-nhã
phiên âm từ tiếng Sanskrit là Prajñā (Pali: pañña), chỉ trí tuệ có thể giúp chúng sanh đạt đến sự giải thoát.
; 般若; S: prajñā; P: pañña; danh từ dịch âm, dịch nghĩa là Trí huệ, Huệ, Nhận thức;|Một khái niệm trung tâm của Phật giáo Ðại thừa, chỉ một thứ trí huệ không phải do suy luận hay kiến thức mà có (Trí), mà là thứ trí huệ chớp nhoáng lúc trực nhận tính Không (s: śūnyatā), là thể tính của vạn sự. Ðạt được trí Bát-nhã được xem là đồng nghĩa với Giác ngộ và là một trong những yếu tố quan trọng của Phật quả. Bát-nhã là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa mà một Bồ Tát phải đạt đến (Thập địa).
Bát-nhã ba-la-mật
tức là Trí tuệ ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật, cũng gọi là Trí độ hay Tuệ độ.
Bát-nhã ba-la-mật 般若波羅蜜.
[ja] ハンニャハラミツ hannyaharamitsu ||| Transcription of the Sanskrit The perfection of wisdom; the supreme, perfect wisdom of emptiness that allows the bodhisattva to perceive reality. One of the six paramitas 六度. Also written as 般若波羅蜜多. => Phiên âm chữ prajñā-pāramitā từ tiếng Sanskrit (Pali: pañña-pāramitā). Có nghĩa là Trí huệ viên mãn, trí huệ cứu cánh, trí huệ rốt ráo về tánh không khiến cho hàng Bồ-tát trực nhận được thực tại. Là một trong Lục độ六度. Còn viết là Bát-nhã ba-la-mật-đa 般若波羅蜜多. [ja] ハンニャハラミッタ hannyaharamitta ||| Transcription of the Sanskrit prajñā-pāramitā (Pali pañña-pāramitā). See 般若波羅蜜.
Bát-nhã ba-la-mật-đa
般若波羅蜜多; S: prajñāpāramitā; dịch nghĩa là Huệ đáo bỉ ngạn (慧到彼岸), Trí độ (智度), Trí huệ độ người sang bờ bên kia;|Tên của một thể loại kinh nhấn mạnh về tính Không của các Pháp Hữu vi, (Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh).
Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh
般若波羅蜜多經; S: prajñāpāramitā-sūtra; cũng được gọi là Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, dịch nghĩa là Huệ đáo bỉ ngạn kinh, »Kinh với trí huệ đưa người qua bờ bên kia,«|Là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Ðại thừa được gọi chung dưới tên này với nội dung, mục đích hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát-nhã (s: prajñā). Bộ kinh này là một phần quan trọng của bộ kinh Phương đẳng (s: vaipulya-sūtra), có lẽ được ghi lại khoảng đầu Công nguyên. Ngày nay, phần lớn kinh này chỉ còn trong dạng chữ Hán hoặc chữ Tây Tạng, không mấy còn trong dạng Phạn ngữ (sanskrit). Trong bộ kinh này thì hai tập Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (s: vajracchedikā-prajñāpāramitā-sū-tra) và Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh (s: mahāprajñāpāramitā-hṛdaya-sūtra) là nổi tiếng nhất, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả Anh, Pháp và Ðức ngữ. Luận sư quan trọng nhất của kinh Bát-nhã là Long Thụ.|Bộ kinh này có tính giáo khoa rất cao, tương tự như các bộ kinh văn hệ Pā-li. Phần lớn các bài kinh là những lời khai thị cho Tu-bồ-đề (s, p: subhūti), được Phật thuyết giảng trên đỉnh Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Phần cổ nhất của kinh này là Bát-nhã bát thiên tụng (s: aṣṭasāhasrikā) – cũng được gọi là Tiểu phẩm bát-nhã – một bộ kinh gồm 8000 câu kệ Phật giảng cho nhiều đệ tử cùng nghe. Ðây cũng là cơ sở cho tất cả bộ kinh Bát-nhã khác, mỗi bộ gồm từ 300-100 000 câu kệ với vô số bài luận và phiên dịch. Bản dịch chữ Hán đầu tiên ra đời khoảng năm 179.|Những kinh điển trong Bát-nhã bộ còn nguyên văn Phạn ngữ: 1. Adyardhaśatikā-prajāpāramitā: Bát-nhã lí thú phần; 2. Aṣṭasāhasrikā-p. : Bát thiên tụng bát-nhã hay Tiểu phẩm bát-nhã; 3. Mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya: Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh; 4. Mañjuśrīparivarta-p. = Saptaśatikā-p.: Văn-thù Sư-lị sở thuyết bát-nhã ba-la-mật kinh, gọi ngắn là Văn-thù bát-nhã kinh; 5. Pañcaviṃśatisāhasrikā-p.: Nhị vạn ngũ thiên bát-nhã tụng hoặc Ðại phẩm bát-nhã kinh hoặc Phóng quang bát-nhã; 6. Śata-sāhasrikā-p.: Ðại bát-nhã sơ phần; 7. Suvikrānta-vikrāmīparipṛcchā-p. = Sārdhadvisāhasrikā-p.: Thắng Thiên vương bát-nhã ba-la-mật kinh; 8. Va-jracchedikā-p. = Triśatikā-p.: Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa.
Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅蜜多心經
[ja] ハンニャハラミッタシンギョウ Hannya haramitta shingyō ||| Panruo boluomiduo xinjing; the Heart Sutra. A very short Mahāyāna sutra that contains a terse articulation of the meaning of emptiness. Of the seven Chinese translations, by far the most popular are the renditions by Kumārajīva 鳩摩羅什 and Xuanzang 玄奘. Very popular in China, Korea and Japan, this version has been chanted daily throughout East Asia by clerics and laypeople for over a thousand years. There are many English translations. Usually referred to by the short title of 心經. T 251.8.848c. => (j: Hannya haramitta shingyō, c: Panruo boluomiduo xinjing; e: Heart Sutra) Bản kinh Đại thừa tóm tắt chứa đựng tinh yếu ý nghĩa của tánh không. Trong 7 bản dịch tiếng Hán, thông dụng nhất là bản của ngài Cưu-ma-la-thập và Huyền Trang. Kinh nầy rất thông dụng ở Trung Hoa. Triều Tiên và Nhật Bản, kinh nầy được chư tăng và cư sĩ Á đông tụng hằng ngày cả ngàn năm nay. Có rất nhiều bản dịch tiếng Anh. Thường có tên gọi tắt là Tâm kinh心經.
Bát-nhã Lưu-chi 般若流支
[ja] ハンニャルシ Hannyarushi ||| Prajñāruci. Translator of Buddhist texts, including the (j: Hannyarushi; s: Prajñāruci). => Dịch giả kinh Phật, gồm Giải thoát luật kinh (c: Jietuolu jing 解脱律經).
Bát-nhã tam muội 般若三昧
[ja] ハンニャザンマイ hannya zanmai ||| (1) The prajñā-samādhi, in which one realizes the emptiness of all elemental constructs. (2) Prajñā and samādhi; wisdom and concentration. => 1. (s: prajñā-samādhi) Trí huệ nhận thức tánh không trong toàn thể cấu trúc vật chất. 2. Bát-nhã và Tam muội; huệ và định.
Bát-nhã tâm kinh 般若心經
[ja] ハンニャシンギョウ Hannya shingyō ||| the Heart Sutra. See 般若波羅密多心經. => Kinh Bát-nhã tâm yếu. Xem Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經.
Bát-nhã Ða-la
般若多羅; S: prajñādhāra hoặc prajñātā-ra;|Tổ thứ 27 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Bát-nhã đáo bỉ ngạn 般若到彼岸
[ja] ハンニャトウヒガン hannya tōhigan ||| The perfection of wisdom. See 般若波羅蜜. => Trí huệ viên mãn. Xem Bát-nhã ba-la-mật 般若波羅蜜.
bát-nhã-đa-la
Prajādhārā (S)Tổ thứ 27 giòng Ấn.
Bát-niết-bàn
般涅槃; S: parinirvāṇa; P: parinibbāna;|Ðồng nghĩa với Niết-bàn (s: nirvāṇa). Thường thường người ta hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn vô dư, nhưng cũng có người hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn hữu dư, thậm chí có người hiểu cái chết một vị tăng, ni cũng là Bát-niết-bàn.
bát-đầu-ma
xem bốn loại hoa sen.
bân tông
(斌宗) (1911-1958) Người Lộc cảng, huyện Chương hóa, Đài loan, họ Thi. Năm 14 tuổi, sư làm lễ xin xuất gia nơi Thiền sư Nhàn vân ở núi Sư đầu (đầu sư tử). Năm 17 tuổi, sư kết am ở Biện phong tu khổ hạnh sáu năm. Năm 23 tuổi, sư về đại lục (Trung quốc trên đất liền), đi khắp các chùa danh tiếng. Năm Dân quốc 23 (1934), sư lễ ngài Viên anh ở chùa Thiên đồng xin nhận giới Cụ túc. Sau, sư đến núi Thiên thai nương nơi lão hòa thượng Tĩnh quyền chuyên học về giáo quán của Thiên thai, Pháp hoa và bốn giáo nghi, lĩnh hội hết ý chỉ sâu xa của Tam quán Thập thừa. Năm Dân quốc 28 (1939), chiến tranh chống Nhật bùng nổ, sư trở về Đài loan, sáng lập Pháp nguyên giảng tự ở chân núi Cổ kì huyện Tân trúc và xây dựng viện Nghiên cứu Phật học. Sau lại mở viện Hoằng pháp ở Đài bắc, cất chùa Pháp tế tại Tân trúc, sư dốc sức giảng kinh hoằng pháp, mở rộng giáo nghĩa Thiên thai. Đại lục đổi chủ, các vị tăng trẻ dời đến Đài loan đều nương tựa nơi sư. Năm Dân quốc 40 (1951), sư đóng cửa đọc Đại tạng. Năm 43 (1954), sư mở cửa ra thất, nhận lời mời của các nơi, sư nói pháp không biết mệt mỏi. Tháng 2 năm Dân quốc 46 (1957), sư tịch ở viện Hoằng pháp, thọ 48 tuổi. Những trứ tác của sư gồm có: Bát nhã tâm kinh yếu thích, Lăng nghiêm kinh nghĩa đăng, Ngã nhân sinh tử chi do lai, Vân thủy thi thảo v.v... Người sau biên thành Bản tông pháp sư di tập để lưu hành ở đời.
bãi
Ngừng—To cease—To stop—Mark of finality.
bãi bỏ
To abolish—To annul—To cease—To stop—Mark of finality.
bãi bối phái
(擺垻派) Là một giáo phái Phật giáo Tiểu thừa ở khu vực hạ du sông Lan Thương thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Chủ yếu lưu truyền ở vùng Phật Hải, lấy Tùng Liệt Mãnh Hỗn Phật Da làm đầu và lấy chùa Mãnh Hỗn Phật làm trung tâm tín ngưỡng. Phái này lúc đầu không có chùa Phật, chỉ che rạp cỏ trong rừng núi để thay chùa, Tăng lữ đều lìa xa làng xóm, ở ẩn trong rừng rậm, buổi sáng sớm đi vào làng xóm hóa duyên (khất thực), chỉ ăn ngày một bữa, lấy da con hoẵng (con kỉ) làm nệm, vỏ cây làm chăn, đá làm gối, sống thanh đạm khổ hạnh, trọn đời ở một mình.
bãi giảng trai
(罷講齋) Bãi giảng, chỉ sự kết thúc khóa giảng kinh văn. Thông thường, người thuộc giáo gia (tức các nhà tu học nghiên tập theo kinh giáo) tham Thiền có chỗ tỉnh ngộ, bèn thôi, không giảng kinh giáo nữa, rồi đặt một bữa trai soạn cúng dường chúng tăng, gọi là Bãi giảng trai. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 989 hạ) nói: Tọa chủ Lương Toại đến tham Ma Cốc, Cốc thấy đến, vác bừa đi bừa cỏ. Hôm sau lại đến, Cốc liền đóng cửa, Toại nhân đó tỉnh ngộ, bèn nói: Hòa thượng đừng lừa dối Lương Toại này nghe! Nếu không đến gặp Hòa thượng, thì Toại sẽ bị mười hai phần giáo khiến cho sai lầm cả một đời! Toại bèn đem bán phòng liêu rồi làm một bữa trai bãi giảng. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Tế cúng môn].
bãi tham
To dismiss the assembly.
; (罷參) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là thôi, nghỉ tham Thiền. Chỉ người tham học trong Thiền lâm đã khai ngộ, việc lớn đã xong, không phải tu đạo tham Thiền nữa. Bích nham lục Tắc 96 (Đại 48, 219 thượng), nói: Nếu ông thấu suốt được ba bài tụng này thì cho ông bãi tham. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 262 thượng) nói: Từ khi bãi tham đại tịch, đi chơi đến Hải Xương. Lại khi tham Thiền xong rồi (tức tỉnh ngộ rồi), thiết trai cúng dường đại chúng, gọi là Bãi tham trai. Người tu hành đi khắp các nơi, đã hoàn thành sự hiểu biết, hoặc người đã đạt đến kiến giải khai ngộ, gọi là Bãi tham hội. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Bích nham lục Tắc 89; Thiền quan sách tiến tự; Thiền lâm tượng khí tiên Tham thỉnh môn].
bãi trang phái
(擺莊派) Là một tông phái Phật giáo Tiểu thừa của giống người Thái ở khu vực Đức Hoằng thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Còn gọi là Cảnh long phái. Phái này được người ta tin theo rất đông, tín đồ không cần giữ năm giới một cách nghiêm khắc. Giai cấp tăng lữ chia làm bốn bậc là Kiết bị, Triệu thương, Triệu môn và Triệu cát. Kiết bị là con trẻ mới vào chùa hoc văn tự, học ba qui y và năm giới; Triệu thương là tăng lữ sơ cấp do Kiết bị đã qua các nghi thức Phật giáo mà được thăng tiến; Triệu môn là tăng lữ trung cấp, hai mươi tuổi trở lên, có thể tuân thủ các qui luật Phật giáo và học tập kinh điển; Triệu cát là người lãnh đạo tối cao trong chùa do Triệu môn đưa lên, cần phải tinh thông kinh điển và chí thành với sự nghiệp Phật giáo.
bãi tôn phái
(擺孫派) Là một giáo phái Phật giáo Tiểu thừa ở khu vực hạ lưu sông Lan Thương thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Còn gọi là Điền viên phái. Giới luật của phái này lỏng lẻo hơn của phái Bãi bái. Các chùa viện đều dựng ở trong làng. Chủ yếu lưu truyền ở vùng Xa lí. Giống người Thái ở địa phương tin thờ phái này chiếm ưu thế.
bão phúc tử
Pao-p'u tzu (C)Quyển bách khoa tự điển dạy những phương pháp đạt sự bật tử, do Cát Hồng biên soạn.
bão tùng lâm
(飽叢林) Có nghĩa là trường kỳ tham thiền, làm việc đạo trong Tùng lâm. Đối lại với Thiểu tùng lâm. Lại người trường kỳ chuyên tham thiền tu nghiệp, cũng gọi là Bảo tùng lâm, hoặc gọi là Cự tham, Lão tham, Cửu tham. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 39 (Vạn tục 118, 332 hạ), nói: Cho nên Triệu châu đã tám mươi tuổi mà còn tự đi hành cước, đó chỉ là bảo tùng lâm, chứ không phải gánh trách nhiệm.
bè
Kaula (skt)—Raft—A ferryboat—Trong Phật giáo Đại thừa, giáo pháp Phật giống như chiếc bè; khi đã đến đích, thì bè cũng nên bỏ lại. Giáo pháp chỉ là phương tiện chứ không là cứu cánh—In Mahayana Buddhism, the teaching is likened a raft; when the goal, the other shore, is reached, then the raft is left behind—The form of teaching is not final dogma but an expedient method.Bè Lũ: Clique.
bèo mây
Lentil and clout—To be unstable.
bén gót
Theo bén gót—To follow someone closely.
bên bị cáo
Accused.
bên giáo
Christian.
bên kia bờ sông hằng
Gaṅgāpattrī (S), Opposite bank of the Ganges.
bên lương
Pagan.
bên ngoại
Maternal side (on the mother's side).
bên nguyên cáo
Accuser.
bên nội
Paternal side (on the father's side).
bêu xấu
Phỉ báng—To dishonor—To huminliate—To discredit—To disgrace.
bì
Da—Skin.
bì chỉ
(皮紙) Giấy da. Tức dùng da trên thân người làm giấy mà viết văn kinh. Tông kính lục quyển 26 (Đại 48, 562 thượng), nói: Giấy da bút xương, viết chép nhận giữ (Bì chỉ cốt bút, thiện tả thụ trì).
bì cách
Da thuộc—Leather—Hide.
bì cách kiền độ
(皮革犍度) Pàli:Camma-khandhaka. Kiền độ thứ năm trong hai mươi kiền độ. Là phép quy định có được dùng và cất giữ những vật dụng làm bằng da, như giầy dép, đồ nằm, giường chiếu v.v…... tức nói rõ việc các tỉ khưu mặc đồ bằng da trên mình có hợp pháp hay không. Chẳng hạn ở xứ lạnh lẽo, thì trong tình huống đặc biệt ấy, tỉ khưu được phép mặc áo bằng da thú. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
bì khả lậu tử
See Bì Xác Lậu Tử.
bì kịp
Comparable—To catch up with.
bì phiền não chướng
(皮煩惱障) Chướng phiền não da. Một trong ba thứ chướng phiền não: da, da mỏng, xương. Chỉ cho tư hoặc trong ba cõi, tức các hoặc tham, sân, si... Loại phiền não này đối với sáu trần sắc, thanh, hương v.v... ở bên ngoài mà dấy sinh, cũng như lớp da bao bọc ngoài thân, cho nên gọi là Bì phiền não chướng. Cũng gọi là Bì chướng, Bì thô trọng, Bì quá. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Du già sư địa Q.48, Q.72; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.7 phần cuối]. (xt. Tam Thô Trọng, Tam Chướng).
bì xác lậu tử
Bì Khả Lậu Tử. 1) Vỏ da rò rỉ Thân thể hình hài của con người—The body—Skin and shell leaking. 2) Bao đựng thư Mail bag.
bì xác lậu tử thiền
(皮殼漏子禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bì xác lậu tử, cúng nghĩa với bì đại (cái túi da), ví dụ sự cứng chắc, không vỡ. Trong Thiền tông, cụm từ Bì xác lậu tử thiền được chuyển dụng để chỉ thiền cơ nhậm vận tự tại. Cũng gọi Bì khả lậu tử thiền. Xác, là vỏ trứng, ví dụ thân xác người ta. Lậu, là sự bài tiết phân và nước tiểu. Xác lậu tử là chỉ thân xác con người. Cũng gọi khả lậu tử. Bích nham lục tắc 98 (Đại 48, 222 thượng) nói: Nếu muốn nhậm vận tự tại, chỉ tham Bì xác lậu tử thiền, dẫu có bị xô xuống từ trên núi cao cũng không vỡ, không nát. (xt. Khả Lậu Tử).
bì y
1) Quần áo bằng da thuộc—Clothing of hide. 2) Tên y phục của chư Tăng Ni, ám chỉ sự thô thiển và đơn giản—A name for a monk's garments, implying their roughness and simplicity.
; (皮衣) Áo da. Tức áo may bằng da hươu nai. Cũng gọi lộc bì y (áo da nai). Là sự tích của Thái tử Tất đạt đa, khi vào núi, mặc áo da nai. Cứ theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng chép, thì khi Thái tử Tất đạt đa vào núi tu đạo, gặp hai người thợ săn, bèn tự nghĩ: Mình đã xuất gia, thì không nên mang áo sang trọng như người phàm phu, vì như thế là còn ham muốn. Nghĩ thế, Thái tử liền cởi áo quý báu của mình để đổi lấy chiếc áo da nai của người thợ săn, mặc vào rồi đi. [X.kinh Dị xuấtbồ tát bản khởi; Ma ha chỉ quán Q.4].
bì đại
Cái túi da, ám chỉ thân người—Skin bag, implies the body.
; (皮袋) Cái túi da. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức chỉ cho cái thân thịt. Ý nói thân thể người ta cũng giống như cái túi da, chứa đựng tất cả xương thịt, tim phổi, ruột non, ruột già, lá lách, gan thận v.v.., cho nên cũng gọi Xú bì đại (túi da thối), Xú bì nang (đãy da thối). Thung dung lục tắc 18 (Đại 48, 238 trung) chép, Tăng hỏi Triệu châu: Con chó có tính Phật không? Châu đáp: Có! Tăng nói: Đã có, tại sao lại chui vào cái túi da (bì đại) ấy?.
Bì đại 皮袋
[ja] ヒタイ hitai ||| A "leather sack." A disparaging term for the human body, or a human being. => 'Túi da'. Thuật ngữ chỉ sự miệt thị con người hoặc thân xác con người.
bình
Even, level, tranquil; ordinary.
; 1) Bằng: Even—Level. 2) Bèo: Duckweed. 3) Bình bồng: Floating. 4) Bình định: To turn away—To expel—To exclude. 5) Bình luận: To discuss. 6) Bình phong: Screen. 7) Bình yên: Tranquil. 8) Bình thường: Ordinary. 9) Phê bình: To criticize.
; (瓶) Bình là thứ đồ đựng, chứa làm bằng sành, sứ hoặc kim loại. I. Bình. Phạm: Kalaza, dịch âm: ca la xa. Chiếc bình đựng ngũ cốc, nước thơm v.v... được dùng khi cúng dường Phật và Bồ tát. Lại vì bình thường được dùng để chứa cất của quí báu, có thể đáp ứng lòng mong cầu của người khác, làm cho họ được đầy đủ, nên gọi là Đức bình, Như ý bình, Mãn bình v.v... (xt. Hiền Bình). II. Bình. Phạm: Kuịđikà, dịch âm: Quân trì, Quấn trĩ ca.Là một trong 18 vật dụng mà vị tỉ khưu thường mang theo bên mình để đựng nước. Cũng gọi Thủy bình, Tháo bình (bình đựng nước rửa). Có hai loại: Tịnh bình và Xúc bình. Nước đựng trong Tịnh bình là nước sạch dùng để uống; ước đựng trong Xúc bình là nước dùng để rửa tay. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 nói, có hai loại bình: bình sứ hoặc sành dùng để chứa nước sạch; bình đồng hoặc sắt thì dùng để đựng nước rửa. (xt. Quân Trì).
bình an
Peace.
bình an vô sự
To be safe and sound.
bình bát
Ōryoko (J).
; Bowl.
bình bát trong tay
With bowl in hand.
bình ca sa
(平袈裟) Một trong các loại ca sa được giới Phật giáo Nhật bản sử dụng. Dùng gấm vóc lụa là, bất cứ loại nào, để may thành, khác với nạp ca sa nhiều màu sắc, loại ca sa này chỉ có một mầu. Cũng gọi Nhất sắc thất điều (ca sa một mầu bảy nẹp), Tố ca sa (ca sa lụa). Đối lại với nạp ca sa. Bình ca sa được coi là quí, Nạp ca sa được xem là thường.
bình chú
Phê bình—To criticize—To comment on.
bình cà sa
Nhất sắc thất điều sà sa—One coloured robe of seven pieces.
bình cát tường
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
bình cử
(平舉) Tức khi tụng kinh, tụng ngay vào bản văn của kinh chứ không tụng đề hiệu của kinh văn. Ngoài ra, khi cử hành lễ chôn người chết, vị Duy na không xướng văn khải thỉnh, mà trực tiếp xướng Na mô tát đát tha, cũng gọi là Bình cử. Vì không xướng văn khải thỉnh nên cũng đọc Ma ha bát nhã ba la mật. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 6 Đại dạ niệm tụng điều (Đại 48, 1148 trung), nói: Vị tri khách bình cử (tụng ngay) chú Lăng nghiêm.
Bình doanh
(屛營): bồn chồn, tâm bất an. Ngô Ngữ (呉語) có đoạn rằng: “Bình doanh bàng hoàng ư sơn lâm chi trung (屛營彷徨於山林之中, tâm bất an, bàng hoàng trong núi rừng).”
bình dân
Popular.
Bình Dã Quốc Thần
(平野國臣, Hirano Kuniomi, 1828-1864): một trong những nhân vật thuộc Phái Tôn Nhương (尊攘派) quá khích, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; thông xưng là Thứ Lang (次郎); sinh ra trong gia đình của Bình Dã Túc Kinh (平野足經) thuộc Phiên Phước Cương (福岡藩, Fukuoka-han). Ông là người thông hiểu quốc sử. Năm 1858 (An Chính [安政] 5), gia đình ông rời khỏi Phiên và lên kinh đô. Trong vụ Đại Ngục An Chính (安政の大獄), ông tạm thời lưu lạc ở các địa phương Tát Ma (薩摩, Satsuma), Phì Hậu (肥後, Higo), Hạ Quan (下關); rồi đến năm 1862 (Văn Cửu [文久] 2), ông định tạo chuyện ở vùng Bắc Cửu Châu (北九州, Kitakyūshū) thì bị bắt tống vào ngục thất, và năm sau thì ra khỏi ngục. Vào tháng 10 năm này, ông tham gia vào vụ biến loạn Sanh Dã (生屋, Ikuno), nhưng thất bại và bị bắt lần nữa; đến năm 1864, trong vụ biến loạn Cấm Môn (禁門), ông bị xử tử hình ở kinh đô.
bình dị
Simple—Easy—Plain.
bình giang thao
(平江縧) Sợi dây thắt lưng được sản xuất ở Bình giang. Thao (sợi dây tết bằng tơ) cũng gọi là đới (cái đai, giải áo). Nghĩa là sợi dây bện bằng tơ, hai đầu có tết nút. Vì nó được sản xuất ở Bình giang huyện Lâm an tỉnh Triết giang, nên gọi là Bình giang thao.Thiền tăng dùng dây này làm thắt lưng, thòng hai nút xuống hai bên phải trái. Dây có ba kiểu nẹp, vuông hoặc tròn. [X.Thiền lâm tượng khí tiên phục chương môn].
bình giao
(平交) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho việc giao tế bình đẳng không phân biệt trên dưới. Hoặc chỉ cho người mà đạo đức, tư cách và tuổi tác bằng vai với mình. Thiền uyển thanh qui quyển 5 (Vạn tục 111, 453 thượng), nói: Như bình giao hoặc tuổi hạ ngang nhau (hoặc là loại pháp quyến, em, cháu) thì chỉ chào hỏi thôi. Còn đối với vị Thủ tọa mà tuổi tác, tư cách, đức hạnh ngang bằng với mình, thì gọi là Bình giao thủ tọa. [X. Oánh sơn thanh qui Q.hạ Niên trung hành sự].
bình hữu đức
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
bình kiết tường
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
bình luận
Xem Luận giải.
; Arthakathà (S). Explanation, commentary.
; To discuss.
bình như ý
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
bình phục
To recover—To recuperate—To get well again.
bình quyền
Equal rights.
bình sa
Bimbisara (skt)—See Bình Sa Vương in Vietnamese-English Section, and Bimbisara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bình sa (vua)
Bimbisàra (S) Cũng viết: Tần bà sa la. King of Magadha.
bình sa vương
Bimbisāra (S, P).
; Bimbisara (skt)—Vị vua của vương quốc Ma Kiệt Đà trong thời Phật còn tại thế. Ông là một Phật tử thuần thành và là người đã cúng dường Trúc Lâm Tịnh Xá cho Phật và giáo đoàn—Bimbisara is the name of the king who ruled the ancient kingdom of Magadha during the Buddha's time. He was an enthusiastic supporter of Buddhism and presented the Bamboo Grove Monastery to the Buddha for the use of the assembly of Buddhist monks—See Bimbisara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bình sanh
Throughout life—During one's life time—All one's life.
bình sinh nghiệp thành
(平生業成) Trong các sinh hoạt hàng ngày vẫn có thể hoàn thành nhân vãng sinh Tịnh độ. Đây chính là chủ trương của các sư thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản, như Hạnh tây, Chứng không, Thân loan v.v... Đối lại với Lâm chung nghiệp thành. Cứ theo chủ trương của tông Tịnh độ, khi hấp hối niệm danh hiệu Phật, thì Phật và Bồ tát chắc chắn từ Tịnh độ đến đón rước, lúc ấy hành giả quyết định được sinh về Tịnh độ. Nhưng Tịnh độ chân tông thì cho rằng, ở ngay trong cuộc sống hàng ngày mà tin chắc vào thệ nguyện của Phật A di đà, thì tức đã được độ rồi. (xt. Nghiệp Sự Thành Biện).
Bình Thanh Thạnh
(平清盛, Taira-no-Kiyomori, 1118-1181): vị Võ Tướng sống vào cuối thời Bình An, trưởng tử của Bình Trung Thạnh (平忠盛, Taira-no-Tadamori), còn gọi là Bình Tướng Quốc (平將國), Tịnh Hải Nhập Đạo (淨海入道), Lục Ba La Mật Điện (六波羅蜜殿), v.v. Sau hai vụ loạn Bảo Nguyên (保元), Bình Trị (平治), ông thay thế dòng họ Nguyên (源, Minamoto) nắm toàn bộ thế lực, càng lúc càng thăng tiến, thậm chí làm quan cho đến chức Tùng Nhất Vị Thái Chính Đại Thần (從一位太政大臣). Con gái ông là Đức Tử (德子) được làm Hoàng Hậu của Cao Thương Thiên Hoàng (高倉天皇, Takakura Tennō, tại vị 1168-1180), rồi con trai người này là An Đức Thiên Hoàng (安德天皇, Antoku Tennō, tại vị 1180-1185) cũng được trao truyền ngôi vị; cho nên ông rất tự hào về thế lực ngoại thích của Hoàng Thất. Con cháu ông đều hiển đạt làm quan chức, cho nên đã có biết bao người rắp tâm muốn trừ khử thế lực của ông, nhưng không thành, mãi cho đến sau khi ông qua đời mấy năm, hàng cháu dòng họ Bình (平, Taira) mới thật sự diệt vong.
bình thành thiên hoàng
(平城天皇) Vị Thiên hoàng đời thứ 51 của Nhật bản. Niên hiệu Đại đồng năm đầu (806) nối ngôi Thiên hoàng Hoàn vũ lên làm vua. Ông có tư chất thông minh lanh lợi, xem nhiều kinh sách và giỏi về văn chương. Trong thời gian làm vua, ông rất chăm chỉ trong việc trị dân, nhưng sau khi nhường ngôi, ông lại tham dự cuộc sống dấy loạn của Đằng nguyên Trọng thành, sau thất bại bèn xuất gia. Năm Hoằng nhân 13 (822), ông theo ngài Không hải vào đàn thụ Quán đính. Đó là vị đế vương Nhật bản đầu tiên nhận phép Quán đính của Mật giáo. Niên hiệu Thiên trường năm đầu sư tịch, thọ 51 tuổi.
bình tháp
(瓶塔) Phạm: Drona-stùpa. Bình, chỉ cái bình dùng để chia xá lợi của đức Phật, Bình tháp tức là ngôi tháp trong đó có thờ chiếc bình này. Cũng gọi Anh tháp, Kim bình tháp (tháp bình vàng). Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 4 và Phật sở hành tán quyển 5 chép, thì sau khi đức Phật vào Niết bàn, những người Mạt la ở thành Câu thi na thiêu thân Phật, rồi Bà la môn Hương tính đem xá lợi của Phật chia đều cho tám nước, tám nước đều xây tháp thờ xá lợi Phật. Riêng Bà la môn Hương tính thì được cái bình chia xá lợi và đem về nước dựng tháp để thờ, gọi là Bình tháp. Còn nhân dân của thôn Tất bát thì thu hốt những tro than còn lại ở chỗ trà tì (hỏa táng) đem về xây tháp để thờ, gọi là Khôi thán tháp (tháp thờ tro than). Như vậy cộng tất cả là mười tháp thờ xá lợi Phật. Nhưng, tên của người Bà la môn được cái bình chia xá lợi này, trong các kinh ghi chép khác nhau. Còn vị trí của Bình tháp thì Đại đường tây vực kí quyển 7 ghi là ở nước Chiến chủ. [X. kinh Nê hoàn Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn phần sau Q.hạ; Đại đường tây vực kí Q.6].
bình thường
Ordinary—Usual—Comon.
bình thường tâm
Bản thể của tự tánh bình thường cùng khắp không gian thời gian, nơi phàm chẳng bớt, nơi Thánh chẳng thêm. Tâm này bình đẳng như thường, chẳng sanh chẳng diệt, chúng sanh y theo tâm này ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, nên gọi bình thường tâm là đạo vậy.
Bình thường tâm thị đạo
平常心是道; J: heijōshin kore dō;|»Tâm bình thường tức là Ðạo,« một câu nói nổi tiếng của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện.|Câu này là một phần của một cuộc Vấn đáp giữa Nam Tuyền và môn đệ thượng thủ là Triệu Châu Tòng Thẩm, được Thiền sư Vô Môn Huệ Khai lưu lại trong Vô môn quan, Công án 19:||H 17: »Tâm bình thường là Ðạo«, lời khai thị của sư Nam Tuyền Phổ Nguyện cho Thiền sư Triệu Châu (bút pháp của Thiện Thuận).|»Triệu Châu hỏi: ›Thế nào là đạo?‹. Nam Tuyền đáp: ›Tâm bình thường là đạo.‹ Triệu Châu lại hỏi: ›Nhắm hướng đến đó được không?‹. Nam Tuyền đáp: ›Hướng đến càng xa.‹ Triệu Châu hỏi: ›Nếu không nghĩ đến thì sao biết được đó là đạo?‹. Nam Tuyền đáp: ›Ðạo không thuộc về biết hay không biết. Biết là biết sai, không biết là vô kí. Nếu thật sự đạt đạo thì bấy giờ cũng như thái hư, trống rỗng thênh thang, còn gượng chấp phải trái sao?‹ Ngay câu này, Triệu Châu Ðốn ngộ.«
bình thường tâm thị đạo
(平常心是道) Tâm ngày thường là đạo. Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Triệu châu bình thường tâm thị đạo, Bình thường thị đạo. Đây là câu nói của Thiền sư Nam tuyền Phổ nguyện khi tiếp hóa ngài Triệu châu Tùng thẩm. Ngài Triệu châu hỏi Thiền sư Nam tuyền: - Thế nào là đạo? - Tâm bình thường là đạo. - Có thể hướng tới không? - Có chỗ hướng tới liền sai trái. - Không chỗ hướng tới làm sao biết là đạo? - Đạo không thuộc biết, cũng chẳng thuộc không biết; biết là vọng giác, chẳng biết là vô kí. Nếu đạt được đạo này thì cũng như thái hư bao la rỗng lặng, há có thể cưỡng nói là phải, là trái được chăng? Ngài Triệu châu nghe câu nói ấy, ngộ liền ý chỉ mầu nhiệm, tâm như vừng trăng tỏa sáng. Rồi làm bài tụng (Đại 48, 295 trung): Xuân hữu bách hoa, Thu hữu nguyệt, Hạ hữu lương phong, Đông hữu tuyết ; Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu Tiện thị nhân gian hảo thời tiết (Dịch ý: Xuân có trăm hoa, thu có trăng, Hè có gió mát, đông có tuyết; Bằng không bận rộn, lòng thanh thản, Còn thú nào hơn: đạo giữa trờí!) Trong Thiền lâm, Tâm bình thường là đạo trở thành câu nói đã quen. Thấy các việc sinh hoạt tầm thường hàng ngày, như uống trà, ăn cơm, bổ củi, gánh nước v.v...đều là cùng một thể với đạo. Tâm bình thường là chỉ các động tác đi, đứng, ngồi, nằm, vì bốn uy nghi này là Thiền chân thực. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 ghi lại những lời Thiền sư Giang tây Đại tịch Đạo nhất dạy đại chúng như sau (Đại 51, 440 thượng): Đạo không cần tu, chỉ đừng ô nhiễm. Thế nào là ô nhiễm? Hễ có tâm sinh tử, tạo tác, hướng tới đều là ô nhiễm. Nếu muốn hiểu ngay được đạo thì tâm bình thường ấy là đạo. Nghĩa là tâm bình thường không tạo tác, không phải trái, không lấy bỏ, không đoạn thường, không phàm không thánh (…...), chỉ như đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật đều là đạo. [X.Triệu châu Chân tế thiền sư ngữ lục tinh hành trạng Q.thượng; Vô môn quan tắc 19; Tổ đình sự uyển Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.4 Triệu châu chương; Quang minh tạng Q.trung].
bình thể vô thật
(瓶體無實) Thể của cái bình không có thật. Tông Thành thực dùng từ ngữ này để ví dụ các pháp vô ngã. Nghĩa là thân năm uẩn là giả hòa hợp chứ không có thực thể. Nhưng người phàm phu thì không biết được điều đó, cứ tưởng thân này là có thật.
bình triển
(平展) Là phương pháp dạy người học trong Thiền lâm. Đối lại với Đề trì. Bình triển hàm ý là hình dáng thế nào thì hiện ra nguyên như thế. Thiền gia mượn từ này để chỉ cái phương pháp thả lỏng (phóng hành) mà thầy dùng để chỉ dạy học trò. Tức là thầy thừa nhận sự hiểu biết của học trò, và để mặc cho học trò tự do phát triển cơ ngộ đạo của họ. Bích nham lục tắc 22 (Đại 48, 162 hạ), nói : Nếu ông bình triển, cứ việc bình triển; nếu ông đả phá, mặc sức đả phá. (xt. Đề Trì).
bình trung vô thuỷ
(瓶中無水) Trong bình không có nước. Là từ ngữ mà tông Tam luận dùng để ví dụ phép Không quán. Nghĩa là trong năm uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) không có nhân ngã (ý nói năm uẩn tạm thời hòa hợp, chỉ có tên giả chứ không có thể thật).
bình tăng
(平僧) Chỉ cho vị tăng đã cạo tóc xuất gia, nhưng chưa được xếp vào hàng tăng lữ phổ thông. Cùng nghĩa với Phàm tăng. Lại vị tăng chưa được nối pháp của thầy cũng gọi là Bình tăng. [X. Oánh sơn thanh qui Q.thượng Nguyệt trung hành sự]. (xt. Phàm Tăng).
bình tĩnh
Calm—Unruffled.
Bình Xướng
(評唱, Hyōshō, giảng bình): có nghĩa là phê phán một cách công bình từng câu hỏi câu trả lời trong các Cổ Tắc Công Án của cổ nhân, tự mình thêm vào ý kiến của mình và xướng hòa theo. Trong Tùng Dung Lục (從容錄) của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) có những lời bình xướng như vậy, còn trong Bích Nham Lục (碧巖錄) của Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) cũng có bình xướng như vậy.
Bình Điền Đốc Dận
(平田篤胤, Hirata Atsutane, 1776-1883): nhà Quốc Học, Thần Đạo, tư tưởng gia, y sĩ, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; xuất thân Phiên Cửu Bảo Điền (久保田藩, Kubota-han), Xuất Vũ (出羽, Dewa); sau khi thành nhân là con nuôi của Bình Điền Đốc Ổn (平田篤穩), nhà binh học của Phiên Tùng Sơn (松山藩, Matsuyama-han), Bị Trung (僃中, Bicchū). Tên lúc nhỏ của ông là Chánh Cát (正吉); thông xưng là Bán Binh Vệ (半兵衛); hiệu Khí Xuy Xá (氣吹舍), Đại Giác (大角), Đại Hác (大壑); gia hiệu là Chơn Quản Nãi Ốc (眞菅乃屋). Với tư cách là nhà y học, ông dùng tên Huyền Trác (玄琢) và sau khi qua đời thì được nhà Bạch Xuyên (白川, Shirakawa) tặng cho danh hiệu là Thần Linh Năng Chơn Trụ Đại Nhân (神靈能眞柱大人). Ông là người hình thành hệ thống gọi là Phục Cổ Thần Đạo (復古神道, tức Cổ Đạo Học), cùng với Hà Điền Xuân Mãn (河田春滿), Hạ Mậu Chơn Châu (加茂眞洲), Bổn Cư Tuyên Trường (本居宣長), được liệt vào Quốc Học Tứ Đại Nhân. (國學四大人). Ông học ở Giang Hộ, rồi sau Bổn Cư Tuyên Trường qua đời, ông tự xưng là “môn nhân sau khi chết” của vị này. Ông cấu tưởng vũ trụ luận mang tính quốc học vốn phát xuất từ Thiên Địa Khai Tị Luận (天地開闢論, luận trời đất mở mang), chỉnh lý trật tự các Thần và hình thành Thần Đạo Thần Học. Trên cơ sở xã hội quan mới mẻ thông qua khái niệm gọi là “sản linh (産靈)”, ông lấy quan niệm U Minh Giới (幽冥界, cõi sau khi chết) để thêm vào tính tôn giáo trong quốc học. Bình Điền Học Phái (平田學派) phát triển rộng rãi trong tầng lớp người nông dân giàu có cũng như Thần Quan, hình thành một học phái lớn ở trung tâm vùng Trung Bộ, Quan Đông và đã đem đến ảnh hưởng không nhỏ cho cuộc vận động Tôn Vương (尊王) vào cuối thời Mạc Phủ. Trước tác của ông có rất nhiều như Cổ Đạo Đại Ý (古道大意), Linh Năng Chơn Trụ (靈能眞柱), Cổ Sử Trưng (古史徴), Quỷ Thần Tân Luận (鬼神新論), Cổ Kim Yêu Mị Khảo (古今妖魅考), Mật Giáo Tu Sự Bộ Loại Cảo (密敎修事部類稿), Cổ Dịch Thành Văn (古易成文), Tiên Cảnh Dị Văn (仙境異聞), Cổ Dịch Đại Tượng Kinh Thành Văn (古易大象經成文), Y Xuy Ư Lữ Chí (伊吹於呂志), Thần Đồng Bằng Đàm Lược Ký (神童憑談略記), Cổ Dịch Đại Tượng Kinh Truyện (古易大象經傳), Đồng Mông Nhập Học Môn (童蒙入學門), Tam Dịch Do Lai Ký (三易由來記), Tam Thần Sơn Dư Khảo (三神山余考), Tượng Dịch Chánh Nghĩa (象易正義), Tục Thần Đạo Đại Ý (俗神道大意), Thái Hạo Cổ Dịch Truyện Thành Văn (太昊古易傳成文), Tây Tịch Khái Luận (西籍概論), Vụ Đảo Sơn U Hương Chơn Ngữ (霧島山幽郷眞語), Xuất Định Tiếu Ngữ (出定笑語), Xích Huyện Thái Cổ Truyện (赤縣太古傳), Khâm Mạng Lục (欽命錄), Ca Đạo Đại Ý (歌道大意), Thiên Trụ Ngũ Nhạc Khảo (天柱五嶽考), Thái Hạo Cổ Lịch Truyện (太昊古曆傳), Khí Xuy Xá Ca Văn Tập (氣吹舍歌文集), Cổ Lịch Nhật Bộ Thức (古曆日歩式), Chí Đô Năng Thạch Ốc (志都能石屋), Ngũ Nhạc Chơn Hình Đồ Thuyết (五嶽眞形圖說), Y Tông Trọng Cảnh Khảo (醫宗仲景考), Cát Tiên Ông Văn Túy (葛仙翁文粋), Xuân Thu Lịch Bổn Thuật Thiên (春秋曆本術篇), Đại Đạo Hoặc Vấn (大道或問), Cát Tiên Ông Truyện (葛仙翁傳), Hoàng Đế Truyện Ký (黃帝傳記), Hoằng Nhân Lịch Vận Ký Khảo (弘仁歷運記考), Ngưu Đầu Thiên Vương Lịch Thần Biện (牛頭天王曆神辨), v.v. Môn đệ của ông có Đại Quốc Long Chánh (大國隆正), Linh Mộc Trùng Dận (鈴木重胤), Lục Nhân Bộ Thị Hương (六人部是香), Sanh Điền Vạn (生田萬), Quyền Điền Trực Trợ (權田直助), v.v.
bình đạo giáo
(平道教) Bình đạo giáo là giáo pháp thuận ứng với đạo lí pháp tính bình đẳng mà được nói ra, chứ không phải giáo pháp phương tiện thiện xảo tùy theo căn cơ của chúng sinh mà được nói ra. Là một trong hai giáo do pháp sư Ấn hoặc pháp sư Mẫn ở đời Đường lập ra. Cũng gọi Bình đẳng đạo giáo. Đối lại với Khuất khúc giáo (Giáo cong co). Chẳng hạn như kinh Hoa nghiêm do đức Phật Lô xá na nói là giáo pháp thuận theo pháp tính tự tại mà nói ra. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 (Đại 45, 481 thượng), nói: Pháp sư Mẫn ở Giang nam lập ra hai giáo: 1. Kinh Thích ca, là khuất khúc giáo, vì tùy theo căn cơ của chúng sinh mà phá trừ chấp trước, như kinh Niết bàn v.v... 2. Kinh Lô xá na, là bình đẳng đạo giáo, vì thuận theo pháp tính tự tại mà được nói ra, như kinh Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].
bình đẳng
Byōdō (J), Sama (S), Samatā (S), Evenness Nhất thể tánh.
; Sama, samatà (S). Level, even, everywhere the same, universal, without partiality; it especially refers to the Buddha in his universal, impartial, and equal attitude towards all beings.
; Sama or samata (skt). 1) Bình Đẳng: Không có sự phân biệt cao thấp, cạn sâu, hơn kém (đối lại với phân biệt)—Equality—On the same level—Equal—Equalized—Everywhere the same—Universal—Without partiality. 2) Phật có thái độ bao dung, không thiên vị, và bình đẳng với chúng sanh mọi loài: The Buddha in his universal, impartial, and equal attitude towards all beings.
; (平等) Phạm,Pàli: sama. Nghĩa là ngang bằng đều nhau, không cao thấp nông sâu. Chỉ hết thảy hiện tượng cùng chung một tính, hoặc tính không, tính Duy thức, tính tâm chân như. Đối lại với Sai biệt. Như đức Thích tôn đã phủ nhận chế độ giai cấp ở Ấn độ đã có từ thời đại Phệ đà và chủ trương Tứ tính bình đẳng. Trong các kinh luận có rất nhiều tư tưởng và dụng ngữ về bình đẳng, chẳng hạn như cho rằng Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và Tâm Phật, chúng sinh trên bản chất đều không có sai khác, cho nên nói là bình đẳng; hoặc hiển bày tướng mạo của bản thể thế giới, gọi là không bình đẳng, Chân như bình đẳng. Lại như kinh Đại bát nhã quyển 409 đã nói rõ về sự bình đẳng giữa Bát nhã ba la mật, Tam ma địa và Bồ tát. Luận Đại trí độ quyển 100, thì thuyết minh lí pháp bình đẳng và Chúng sinh bình đẳng. Kinh Đại nhật quyển 1 thì nói ba mật: thân mật, ngữ mật, ý mật là bình đẳng. Vãng sinh luận chú quyển thượng nói, bình đẳng là thể tướng của các pháp, trí tuệ đã đạt đến thể tướng bình đẳng thì không còn phân biệt, chủ quan và khách quan cũng không sai khác: đây gọi là Trí bình đẳng. Đối với chúng sinh cũng phải coi là đồng đẳng, không phân biệt cao thấp oán thân, đáng được thương xót ngang nhau, vì đều có tính Phật giống như nhau: đây gọi là Chúng sinh bình đẳng. Lại nữa, Phật gọi là bình đẳng giác, Tự tính pháp thân gọi là Bình đẳng pháp thân. Ngoài ra, pháp Nhất thừa biểu thị đại tuệ ngang bằng với trí tuệ của Phật, gọi là Bình đẳng đại tuệ. Yêu thương khắp tất cả không phân biệt, gọi là Bình đẳng đại bi. Tâm đối với tất cả đều bình đẳng, tỏ ngộ chân lí mà không dấy lên cái thấy biết sai khác, gọi là Bình đẳng tâm. Trong ba phép quán Không, Giả, Trung, quán từ Không vào Giả, cũng gọi là Bình đẳng quán, Quán thân mật, ngữ mật, ý mật là bình đẳng không sai khác, gọi là Tam bình đẳng quán. Chẳng kể oán, thân, tất cả đều thương yêu như nhau, gọi là Oán thân bình đẳng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 53 phẩm Li thế gian nói, Bồ tát có đủ mười thứ bình đẳng: 1. Hết thảy chúng sinh bình đẳng, 2. Hết thảy pháp bình đẳng, 3. Hết thảy cõi nước bình đẳng, 4. Hết thảy tâm sâu xa bình đẳng, 5. Hết thảy thiện căn bình đẳng, 6. Hết thảy Bồ tát bình đẳng, 7. Hết thảy nguyện bình đẳng, 8. Hết thảy Ba la mật bình đẳng, 9. Hết thảy hạnh bình đẳng, 10. Hết thảy Phật bình đẳng. Nếu Bồ tát an trụ nơi pháp này, thì được tất cả pháp bình đẳng vô thượng của chư Phật. Cùng kinh đã dẫn quyển 30 phẩm Thập hồi hướng còn nêu ra 10 thứ bình đẳng, như Nghiệp bình đẳng, Báo bình đẳng v.v... Còn kinh Đại phương đẳng, đại tập quyển 50 cũng nêu ra 10 thứ bình đẳng: Chúng sinh bình đẳng, Pháp bình đẳng, Thanh tịnh bình đẳng, Bố thí bình đẳng, Giới bình đẳng, Nhẫn bình đẳng, Tinh tiến bình đẳng, Thiền bình đẳng, Trí bình đẳng và Nhất thiết pháp thanh tịnh bình đẳng. Nếu chúng sinh có đầy đủ 10 thứ bình đẳng trên đây, thì có thể mau chóng được vào đại thành vô úy. [X. Tạp a hàm Q.20; kinh Đại bát nhã Q.570 phẩm Bình đẳng; kinh Đại bảo tích Q.60; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; Phật địa kinh luận Q.5]. (xt. Sai Biệt).
bình đẳng chánh giác
Samyak-sambodhi—Trí tuệ hay chính giác toàn thiện của chư Phật hay đại giác tuyệt đối, chánh giác nầy không phân biệt cao thấp, cạn sâu—Complete perfect knowledge—Buddha-knowledge—Omniscience—The bodhi of all Buddhas—Absolute universal enlightenment.
bình đẳng chúng sanh giới
The universal realm of living beings.
bình đẳng giác
A Buddha's universal and impartial perception, his absolute intuition above the laws of differentiation.
; Tánh giác tuyệt đối hay chánh giác của chư Phật vượt ra ngoài luật phân biệt cao thấp nông sâu thường tình—A Buddha'a universal and impartial perception (his absolute intuition above the laws of differentiation).
; (平等覺) I. Bình đẳng giác, cũng gọi Bình đẳng chính giác. Chỉ cho chính giác của đức Phật và từ này được dùng làm biệt hiệu của Phật. Vì Phật đã chứng được lí các pháp bình đẳng, không có cao thấp nông sâu sai khác, Ngài trụ trong đại giác, ba nghiệp thân, ngữ, ý đều rỗng lặng, nên gọi là Bình đẳng giác. Kinh Trì tâm phạm thiên sở vấn quyển 3 (Đại 15, 22 thượng), nói: Bình đẳng giác, nghĩa là chẳng có chứng được gì, không nói năng hành động gì (...) Như lai hiểu rõ hết thảy pháp đều vốn thanh tịnh, tự nhiên nhi nhiên, chẳng có cội nguồn, được bình đẳng giác, cho nên gọi là Bình đẳng chính giác. II. Bình đẳng giác, là một trong 37 tên hiệu của đức Phật A di đà. Tán A di đà kệ (Đại 47, 421 thượng), nói: Mông quang xúc giả li hữu vô Thị cố khể thủ Bình đẳng giác (Tạm dịch: Ánh sáng soi tới lìa có không Cúi đầu lạy đấng Bình đẳng giác). [X.Vãng sinh luận chú Q.thượng].
bình đẳng giác kinh
(平等覺經) Kinh, gồm 4 quyển. Cũng gọi Vô lượng thanh tịnh bình bẳng giác kinh, Vô lượng thanh tịnh kinh. Ngài Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 12, là một bản dịch khác trong năm bản dịch kinh Vô lượng thọ hiện còn. Về dịch giả của kinh này xưa nay có mấy thuyết: Khai nguyên thích giáo lục quyển một nói là do ngài Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán dịch. Nhưng trong các bộ kinh lục trước Khai nguyên thích giáo lục thì có thuyết cho là do ngài Bạch diên đời Ngụy dịch, lại có thuyết bảo do ngài Trúc pháp hộ dịch. Trong năm bản dịch kinh Vô lượng thọ hiện còn, thì kinh này cùng với kinh Đại a di đà do ngài Chi nghiêm dịch giống nhau, đều ghi chép lời phát nguyện của tỉ khưu Pháp tạng gồm có 24 nguyện. Nội dung kinh này chủ yếu nói rõ về nhân nguyện, quả thành, công đức trang nghiêm của y báo, chính báo và bi nguyện nhiếp thụ chúng sinh v.v... của đức Phật A di đà. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.1]. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
bình đẳng giáo
Một trong hai trường phái được Ngài Ấn Pháp Sư sáng lập vào đầu đời nhà Đường (chỉ Phật Tỳ Lô Giá Na thuyết Kinh Hoa nghiêm thuyết về Nhất Phật Thừa, một cách bình đẳng cho chúng sanh mọi loài, chứ không thuyết vì căn cơ sai biệt)—One of the two schools founded by Yin-Fa-Shih early in the T'ang dynasty.
Bình đẳng giáo 平等教
[ja] ビョウドウキョウ byōdō kyo ||| The "teaching of equality." One of the teachings established at the beginning of the Tang by Dharma master Yin (印師). According to the experience of emptiness, the direct teaching of the equality of all existences, without the use of expedient means. => 'Giáo lý bình đẳng'. Một giáo lý do Pháp sư Ấn Sư xiển dương vào đầu đời Đường. Theo sự thể nhận tính không, sự khai thị thẳng tắt về tính bình đẳng của mọi hiện tượng là không dùng các phương tiện.
bình đẳng lực
Universal power, or omnipotence.
; 1) Khả năng cứu độ chúng sanh của chư Phật là siêu việt và bình đẳng—Universal power or omnipotence to save all beings (Buddha). 2) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha.
; (平等力) Là một trong 37 tên hiệu của đức Phật A di đà. Phật A di đà chứng được các pháp bình đẳng, có đủ sức đại bi bình đẳng cứu độ chúng sinh, vì thế có hiệu này. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 422 thượng), nói: Thân như hư không, thể vô cực, Nên đính lễ đấng Bình đẳng lực.
bình đẳng nghĩa
Tánh chân như nơi chư pháp là bình đẳng ở khắp mọi nơi—The meaning of universal, that bhutatathata (chân như) is equally and everywhere in all things.
; (平等義) Là một trong 10 nghĩa của hư không. Nghĩa là thể tính bình đẳng của chân như đối với hết thảy pháp đều bình đẳng không có sai khác. Tông kính lục quyển 6 (Đại 48, 446 hạ), nói; Hư không có 10 nghĩa, thể của nó tuy giống nhau,nhưng nghĩa và sự thì mỗi mỗi sai khác. (...) Nghĩa thứ ba là nghĩa bình đẳng, vì hư không không có chọn lựa. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3]. (xt. Hư Không)
bình đẳng nguyện
Phổ nguyện của chư Phật—The universal vows common to Buddhas.
bình đẳng pháp
The universal or impartial truth that all become Buddha.
; Nhất thiết chúng sanh bình đẳng thành Phật—The universal or impartial truth that all becomes Buddha.
bình đẳng pháp thân
Universalized dharmakàya, a stage in Bodhisattva development above the eighth trên bát địa.
; Pháp tính pháp thân Bồ Tát từ bát địa trở lên (tịch diệt bình đẳng)—Universalized dharmakaya (a stage in bodhisattva development above the eighth).
; (平等法身) Chỉ cho Tự tính pháp thân. Tức các Bồ tát từ địa vị thứ tám trở lên đã chứng được chân như bình đẳng tịch diệt, nhậm vận tự nhiên, tuy không cần gia công dụng hạnh, nhưng cũng có thể đồng thời thị hiện các loại giáo hóa, làm các Phật sự trong khắp mười phương thế giới, mà không có ý tưởng đi lại, cũng không có ý tưởng tạo tác, cho nên gọi là Bình đẳng pháp thân. Bồ tát từ địa vị thứ bảy trở xuống, tuy đã chứng chân như, nhưng còn cần phải có gia công dụng hạnh mới thành. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
bình đẳng quan
Byōdō-kan (J).
bình đẳng quán
1) Quán sát sự không thật và vô thường của chư pháp—The beholding of all things as equal (as unreal and immaterial). 2) Một trong ba pháp quán của tông Thiên Thai. Giả quán hay quán sự hòa nhập vào lý một cách bình đẳng. Từ nầy cũng có nghĩa là “Không Quán” hay quán về tánh không tuyệt đối của vạn hữu—One of the three T'ien-T'ai meditations. The phenomenal being blended with the noumenal or universal. The term is also used for meditation on the universal, or absolute.
; (平等觀) Quan niệm về sự bình đẳng. Chỉ cho thuyết Tứ tính bình đẳng do đức Thích tôn chủ trương. Bà la môn giáo Ấn độ chỉ cốt chi phối giai cấp, chứ không quan tâm đến vấn đề phúc lợi của dân chúng, do đó, giai cấp vua chúa và thứ dân đã hình thành một cách mau chóng. Rồi những tư tưởng tôn giáo mới, cũ đối chọi nhau, cũng do thiên kiến về giai cấp mà phát sinh. Tư tưởng của đức Thích tôn vượt lên trên thiên kiến giai cấp, coi trọng ý nghĩa đạo đức, không chấp nhận giai cấp mà chủ trương bốn chủng tính đều bình đẳng. Sự sang hèn của người ta không phải do sinh ra hoặc do giòng họ, mà là do chính hành vi của người ta làm cho họ cao quí hay ti tiện; vì thế, lí tưởng bình đẳng, trước tiên, đã được đức Thích tôn thể hiện ngay trong giáo đoàn của Ngài. Tinh thần bình đẳng được biểu lộ qua từ bi; Phật giáo Đại thừa vốn đã chịu ảnh hưởng sâu xa của tinh thần này, cho bản chất của các pháp là không, tất cả sự tồn tại đều bình đẳng. Tư tưởng này phát triển tới Trung quốc thì thành là tư tưởng Tức (sự đồng nhất của tính tuyệt đối) của Phật giáo. Như tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm chủ trương tướng tuyệt đối của các pháp là Lí, tướng cá biệt của chúng là Sự. Lí là bình đẳng, Sự là sai biệt, khi cả hai tương tức thì có mối quan hệ Lí tức Sự, Sự tức Lí, vì thế các tông trên cũng chủ trương bình đẳng. Bản thân Phật giáo đã thành là tôn giáo rất phổ biến, cho nên Phật giáo đã dung hợp các kiến giải bất đồng để biểu tỏ thái độ thống nhất, và dựa vào đó, ở Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản,Tây tạng v.v...Phật giáo đã có khả năng dung hợp được với các tôn giáo dân tộc cố hữu của các quốc gia ấy mà phát triển. Giáo lí Hết thảy chúng sinh đều có tính Phật là sự biểu hiện tư tưởng bốn chủng tính đều bình đẳng triệt để; và chủ trương mình người chẳng hai, lợi mình lợi người cũng lấy hạnh Bồ tát Đại thừa làm nền tảng. Luận kim cương châm (Phạm: Vajrasùcì) là tác phẩm tiêu biểu cho việc phê phán chế độ bốn giai cấp. Sách này đứng trên lập trường của đức Phật mà công kích quan niệm cho Bà la môn là ưu việt. Còn đứng về phương diện chính trị để thực hiện lí tưởng bình đẳng thì có nền chính trị Pháp (Dharma: chính pháp) của vua A dục, đồng thời, có Bảo hành vương chính luận (Phạm:Ratàvalì) của ngài Long thụ trình bày quan điểm của Ngài về nền nhân chính mà nhà vua cần thi hành. Nhà tập đại thành tông Thiên thai là ngài Trí khải (538-597) lấy tư tưởng kinh Pháp hoa làm nền tảng, nêu rõ giáo nghĩa Mở hội (thống nhất tuyệt đối) nhấn mạnh giáo nghĩa Phật giáo mỗi mỗi đều có đủ tính đặc thù, đồng thời, cũng có tính tuyệt đối, nghĩa là mỗi mỗi giáo pháp đều có đủ lí do tồn tại bình đẳng. Như chủ trương mỗi pháp giới trong mười pháp giới đều có đủ địa ngục, quỉ đói, súc sinh, a tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật v.v..., tức chứng minh tất cả pháp bình đẳng, đầy đủ tính Phật.Lại nữa, khi tín ngưỡng Tịnh độ được phổ cập, thì đối tượng cứu độ của Phật A di đà cũng được mở rộng, bởi thế đa số đoàn thể tôn giáo giữa các giai cấp cũng dần dần hình thành. Về phương diện thực tiễn, tư tưởng Thiền cũng được phổ biến hóa. Trong các thanh qui qui định sự sinh hoạt của Tăng đường, những điều khoản đã được đại chúng quyết nghị thì mọi người đều phải tuân thủ: đó là biểu hiện tinh thần bình đẳng trong giáo đoàn về mặt luân lí. Vào thế kỉ thứ V Tây lịch, khi kinh Niết bàn được truyền dịch, đã diễn ra cuộc tranh luận đối nghịch nhau về hai vấn đề Tất hữu Phật tính (Tất cả đều có tính Phật) và Ngũ tính các biệt (Năm chủng tính đều khác nhau). Vào tiền bán thế kỉ VII, ngài Huyền trang truyền bá học thuyết của phái Du già hành ở Trung quốc, khi thành lập tông Pháp tướng thì ngài theo thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương trong chúng sinh cũng có kẻ không có tính Phật, do đó, đã đưa đến cuộc tranh luận giữa các tông Thiên thai, Hoa nghiêm phủ định thuyết Ngũ tính các biệt và tông Pháp tướng thừa nhận thuyết này. Về sau, cuộc tranh luận lan sang cả Nhật bản, lấy ngài Tối trừng làm trung tâm, học giả các tông tranh luận với nhau, cuối cùng, những người phủ định thuyết Ngũ tính các biệt và khẳng định thuyết Tất hữu Phật tính đã thắng, lí do là vì quan niệm tôn giáo này đã thấm sâu vào lòng tín chúng phổ thông rồi. Ngoài ra, lấy tinh thần Phật giáo làm cơ sở, điều 17 trong Hiến pháp của Nhật bản đã đả phá chế độ xã hội thị tộc mà xúc tiến việc thống nhất quốc gia: đó chính là sự biểu hiện cách cụ thể tư tưởng bình đẳng của Thái tử Thánh đức vậy. Là tên khác của Giả quán trong ba phép quán (Không, Giả, Trung) của tông Thiên thai. Nếu phá Tục đế (tức Giả) mà dùng Chân đế (tức Không) thì chẳng gọi là bình đẳng. Bởi vì Không quán là ở trong quán biết Giả chẳng phải Giả mà phá Giả vào Không, và trong Giả quán thì biết Không chẳng phải Không mà phá Không vào Giả. Như vậy, Không, Giả cùng phá mà dùng lẫn nhau, nên gọi là bình đẳng. Duy ma kinh huyền sớ quyển 2 (Đại 38, 525 hạ), nói: Nếu trước phá tục dùng chân, thì chẳng gọi bình đẳng; phép quán này phá cả Không, Giả mà dùng lẫn nhau, nên gọi bình đẳng. Lại Không quán cũng được gọi là Bình đẳng quán, vì Không là bình đẳng mà mỗi mỗi tướng đều riêng khác. (xt. Tam Quán).
bình đẳng quả
Nhân nào quả nấy, nhân tốt thì quả tốt, nhân xấu thì quả xấu—Like effects arise from like causes (good from good, evil from evil).
bình đẳng tam muội
A meditation to develop the impartial mind.
bình đẳng tam nghiệp
(平等三業) Ba nghiệp bình đẳng. Nghĩa là ba nghiệp thân, miệng, ý đã xa lìa các thứ phân biệt phải trái, đẹp xấu, lành dữ, kia đây v.v... mà được bình đẳng. Đó là những nghiệp mà chư Phật và Bồ tát đã thành tựu. Vãng sinh luận chú quyển hạ nói, đức Phật A di đà dùng nghiệp ý bình đẳng đại từ bi, nghiệp thân bình đẳng soi sáng, nghiệp miệng bình đẳng nói pháp để đối trị ba nghiệp hư dối bất bình đẳng của chúng sinh, khiến cho chúng sinh thành tựu ba nghiệp bình đẳng. Đây là sự diệu dụng đặc thù của ba nghiệp của Phật A di đà.
bình đẳng trí
Samatajnana (skt). - Trí hiểu biết sự vật hay trí nhìn sự vật một cách bình đẳng như nhau—Common knowledge, which only knows phenomena—Wisdom of universality or sameness. - Trí nắm lấy nguyên lý của sự bình đẳng: The knowledge that grasps the principle of sameness.
Bình đẳng trí 平等智
[ja] ビョウドウチ byōdōchi ||| See 平等性智. => Xem Bình đẳng tính trí.
bình đẳng tánh trí
Samatajāna (S), Sama-tāāṇa (P).
bình đẳng tâm
An impartial mind, "no respecter of persons", not loving one and hating another.
; Equality Mind. 1) Bản chất tinh thần giống nhau nơi tâm của mọi chúng sanh—Equal mind—Mind of the same mental characteristics—The universal mind common to all. 2) Tâm bình đẳng là tâm không phân biệt hay thiên vị, không thương người nầy mà lại ghét người kia: An impartial mind, not loving one and hating another. 3) Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Bình Đẳng Tâm hay tâm ngang bằng như nhau. Tại sao chúng ta phải có Bình Đẳng Tâm? Vì Đức Phật có dạy: “Tất cả chúng sanh đều cùng có chung một Phật tánh, là cha mẹ lẫn nhau trong đời quá khứ và cũng sẽ là chư Phật ở thuở vị lai.” Vì vậy cho nên—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, the Buddha taught about the equality mind as follows: “The Buddha Nature is common to all sentient beings; they are the fathers and mothers of each other in the past and are the Buddhas of the future." Therefore: a) Đối với các chúng sanh khác chúng ta phải sanh tâm bình đẳng và tôn trọng, xem họ như là những vị Phật tương lai: While associating with other sentient beings, we must develop an equal and respectful mind to look upon them as the Buddhas of the future. b) Nếu làm được như vậy, ắt sẽ dứt trừ được nghiệp chướng 'phân biệt và khinh mạn': If this is done, the karmic obstructions of 'discriminations and egotism' will be eliminated. c) Và sanh ra được các 'tánh đức lành.': And doing so will give rise to various 'wholesome and virtuous characteristics.”
; (平等心) Chỉ cho tâm từ bi đã chứng ngộ lí các pháp bình đẳng, đối với hết thảy chúng sinh không khởi cái thấy oán, thân sai khác. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 2 phần cuối (Đại 39, 211 trung): Tâm ngay thẳng lấy gì làm gốc? Đáp: Lấy tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh làm gốc. Đây ý nói tâm bình đẳng thương xót hết thảy hữu tình không phân biệt kẻ oán người thân.
bình đẳng tâm kinh
Samacitta suttanta (P)Tên một bộ kinh.
bình đẳng tính
Xem Chúng sanh bình đẳng.
; Samatà (S). The universal nature, i.e. the chân như.
; Tánh Chân Như bình đẳng nơi mọi chúng sanh—The universal nature (Chân như—bhutatathata).
; (平等性) Là một trong 12 chân như. Tức là thể tướng bình đẳng bao trùm hết thảy các pháp. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 828 hạ): Bình đẳng là thể tướng của các pháp. Luận Du già sư địa quyển 43 (Đại 30, 528 hạ): Đối với hết thảy pháp, ngộ tính bình đẳng, vào đại tổng tướng, thấu suốt cùng tột bờ mé của tất cả cái biết, xa lìa hai bên tăng thêm, giảm bớt mà thuận vào trung đạo.
Bình đẳng tính trí
平等性智; S: samatājñāna;|Trí giúp người nhận thức rằng, không có sự khác biệt giữa ta và vật đối tượng, xem Năm trí.
bình đẳng tính trí
Samatà-jnàna (S). Even handedness.
; 1) Samata-jnana (skt)—Cái trí vượt ra ngoài sự phân biệt Tôi Anh, do đó mà dứt bỏ được cái ý niệm về ngã: The wisdom of rising above such distinction as I and Thou, thus being rid of the ego idea. 2) Cái trí xem mọi sự mọi vật đều bình đẳng như nhau: Wisdom in regard to all things equally and universally. 3) Quán Đảnh Trí: Mật Giáo thì gọi là Quán Đảnh trí hay trí của Bảo Sanh Phật ở phương Nam—The esoteric school calls it the Ratnasambhava wisdom. ** For more information, please see Ngũ Trí (3).
; (平等性智) Phạm: samatà-jĩàna. Cũng gọi Bình đẳng trí. Là một trong bốn trí tâm phẩm, một trong năm trí. Chỉ cho trí biết rõ mình, người bình đẳng. Tức là trí tuệ do chuyển thức mạt na thứ bảy mà có được. Nhờ trí tuệ này mà biết rõ hết thảy sự tướng và mình, người đều bình đẳng, do đó nảy sinh lòng đại từ bi. Luận Phật địa quyển 3 nói rằng, Bình đẳng tính trí là trí quán xét mình, người tất cả đều bình đẳng, đại từ đại bi thường hằng khế hợp với nhau, không lúc nào gián đoạn, cho nên kiến lập cõi Phật Vô Trụ Niết Bàn (cõi Niết bàn không trụ nơi sống chết, cũng không trụ nơi Niết bàn), mà tùy theo sự ưa thích của hữu tình, thị hiện các thứ hình bóng của Tự thụ dụng thân, Tha thụ dụng thân và Tự thụ dụng độ, Tha thụ dụng độ v.v... Đối với hàng Bồ tát sơ địa trở lên, thị hiện Tha thụ dụng thân, Tha thụ dụng độ, thường làm các việc giáo hóa lợi ích với tâm đại từ đại bi. Kinh Tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298 hạ) nói: Bình đẳng tính trí là do chuyển thức chấp có ta mà được; là vì trí tuệ này đã chứng ngộ tính của hai vô ngã (Nhân vô ngã, Pháp vô ngã) và thấy rõ lí mình, người bình đẳng, nên gọi là Bình đẳng tính trí. Ngoài ra, Bình đẳng tính trí trong năm trí do Mật giáo kiến lập, còn được gọi là Quán đính trí, là trí của đức Phật Bảo sinh ở phương nam. Bí tàng kí quyển thượng phần đầu (Đại 86, 2 trung), nói: Bình đẳng tính trí là nước trí trong sạch, vì không phân biệt hữu tình, phi tình, vì kia, đây như nhau, vì thường còn chẳng biến đổi, nên gọi là Bình đẳng tính trí. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí, Tâm Phẩm).
Bình đẳng tính trí 平等性智
[ja] ビョウドウショウチ byōdōshōchi ||| The 'Wisdom of knowing the nature of (essential) identity. The wisdom of understanding the equality of all things, due to the realization of emptiness. The wisdom of embodying the equality of self and others, transforming the defiled seventh consciousness into wisdom (samatā-jñāna). Depending on this wisdom one arises the mind of great compassion (bodhicitta). It is one of the 'four wisdoms' 四智 in Consciousness-only theory. The four defilements of self-love, self view, pride and ignorance are extinguished. => Trí tuệ nhận biết thể tính bình đẳng của các pháp. Trí tuệ nhận biết sự bình đẳng của các pháp nhờ vào trực nhận về Tính không. Trí tuệ thể hiện tính bình đẳng của ngã và pháp, chuyển thức nhiễm ô thứ bảy thành trí (s: samatā-jñāna). Nương vào trí nầy mà chúng sinh phát khởi tâm đại bi (Bồ-đề tâm; s: bodhicitta). Là một trong Tứ trí四智 theo giáo lý Duy thức. Là trí khi bốn thứ phiền não chướng; ngã ái, ngã kiến, ngã mạn và vô minh được tiêu sạch.
bình đẳng tương tục
Of the same nature or character—Connected as cause and effect.
bình đẳng tương tục [sở sanh] khổ
xem ba loại khổ.
bình đẳng từ
Universal or equal mercy toward all beings without distinction.
Bình đẳng viện 平等院
[ja] ビョウドウイン Byōdōin ||| A temple in Uji, Kyoto, affiliated with the two sects of Tendai 天台宗 and Jōdo 淨土宗. Founded by Fujiwara Yorimichi in 1052, and was used for a time as a villa of the Fujiwara clan. Its famous main room is called the Phoenix Hall 鳳凰堂. => Một ngôi chùa ở Uji, Kyoto, liên kết với cả hai tông Thiên Thai và Tịnh độ, do Fujiwara Yorimichi thành lập năm 1052, một thời được dòng họ Fujiwara dùng làm lâu đài. Căn phòng chính nổi tiếng trong đó là Phụng hoàng đường鳳凰堂.
bình đẳng vương
Yama, the impartial or just judge and awarder.
; Yama (skt). 1) Biệt danh của Diêm Ma Vương, vị nầy làm nhiệm vụ coi xét về tội phước—The impartial or just judge and awarder. 2) Đây cũng ám chỉ tên của một trong Thập Ngục Vương, khác với Diêm Ma Vương—The name is also applied to one of the Ten Rulers of the underworld, distinct from Yama. 3) Người lập ra dòng dõi Sát Đế Lợi của họ Thích Ca—Name of the founder of the Ksatriya caste, to which the Sakyas belonged.
; (平等王) I. Bình đẳng vương: Là vị vua thứ tám trong mười vị vua ở cõi âm. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương chép, thì vị vua này là hóa thân của bồ tát Quan thế âm, là ông vua cõi âm cai quản các linh hồn người mới chết trong vòng 100 ngày. Vì lẽ vua này xem xét nghiệp tội phúc rất công bằng, nên gọi là Bình đẳng vương. Tín ngưỡng Bình đẳng vương đã lưu hành ở Trung quốc từ đời Đường. Trong sách Ngũ hội pháp sự tán quyển đầu, ngài Pháp chiếu đời Đường đã nói (Đại 47, 480 trung): Nếu niệm Phật mà được vào sâu trong chính định, thì không còn sợ Bình đẳng vương nơi ba đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh). Lại như điều phụ chú trong sách Phật tổ thống kỉ quyển 33 (Đại 49, 322 trung) ghi: Hoa nghiêm cảm ứng truyện nói, Quách thành lượng bị sứ giả lôi đến chỗ Bình đẳng vương, nhờ tụng bài kệ bốn câu Nhược nhân dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ưng quán pháp giới tính, Nhất thiết duy tâm tạo v.v... mà được tha về. Ngoài ra, Tông kính lục quyển 74 của ngài Diên thọ cũng có nêu tên Bình đẳng vương. Nhưng Tuệ lâm âm nghĩa quyển 5 thì cho tên Bình đẳng vương là tên khác của Diêm ma vương. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 5 (Đại 54, 338 hạ), nói: Tiếng Phạm là Diêm ma, dịch Bình Đẳng Vương nghĩa là Bình đẳng vương. [X. Địa tạng bồ tát tượng linh nghiệm kí]. (xt. Diêm La Thập Điện, Diêm Ma Vương). II. Bình đẳng vương. Chỉ ông thủy tổ của dòng Sát đế lợi. Ma ha tam ma đa (Phạm: Mahàsammata) làm vua thủa kiếp sơ, gọi là Đại bình đẳng vương, coi việc trách phạt lòng tham muốn của chúng sinh và chia đều những vật như thóc lúa thu hoạch được. Phật tổ thống kỉ quyển 30 (Đại 49, 298 hạ) chép: Bàn bạc lập ra một Bình đẳng vương thưởng thiện phạt ác. Hoặc có thuyết cho Bình đẳng vương là tên của Diêm ma vương. Thuyết này có lẽ đã do đời sau lầm lẫn vua thủa kiếp sơ (Bình đẳng vương) với Diêm ma vương chăng? [X. kinh Trường a hàm Q.22 phẩm Thế bản duyên; kinh Đại lâu thán Q.6; kinh Khởi thế Q.10; luận Đại trí độ Q.21].
bình đẳng ý thú
(平等意趣) Phạm: samatàbhipràya. Là một trong bốn ý thú của đức Như lai khi ngài nói pháp. Cũng gọi Bình đẳng ý, Pháp đồng ý thú. Nghĩa là đức Như lai y cứ vào cái ý chỉ bí mật và cái lí bình đẳng mà nói pháp. Chẳng hạn như khi Như lai nói pháp, chỉ rõ ra rằng đức Phật Tì Bà thi ở quá khứ nay tức là Phật Thích ca, là Ngài đã căn cứ vào lí Phật Phật bình đẳng mà nói lời này. Bởi vì duyên của hai đức Phật ở đời trước tuy có khác nhau, nhưng pháp thân bình đẳng mà hai Ngài đã chứng thì không khác. Hoặc có chúng sinh thấy việc Phật Thích ca giáng sinh trong cung vua, thành đạo dưới gốc cây mà ngờ là công đức huân tu của Ngài nông cạn. Để đánh tan mối ngờ vực Khinh Phật này mà đức Như lai tuyên nói ý thú bình đẳng. Lại bình đẳng ý thú có hai thứ chung và riêng khác nhau. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.trung (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.6]. (xt. Tứ Ý Thú).
bình đẳng đại bi
Universal Great Wisdom.
; (平等大悲) Chỉ cho lòng từ bi bình đẳng của Phật và Bồ tát. Tức lòng từ bi thương xót hết thảy chúng sinh như nhau, không phân biệt. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ quyển 30 (Đại 35, 725 thượng), nói: Vì có nhiều phương tiện, nên tuy khéo tu Không, Vô tướng, mà lòng từ bi của Bồ tát không bỏ chúng sinh, cho nên gọi là Bình đẳng đại bi.
bình đẳng đại huệ
Bình đẳng đại huệ đã được một vị cổ Phật trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa tuyên bố, mọi chúng sanh rồi sẽ đạt được trí huệ Phật—Universal great wisdom (the declaration by the ancient Buddha in the Wonder Lotus-Sutra, that all would obtain the Buddha-wisdom).
; (平等大慧) Hàm ý là chỉ có Phật tuệ nhất thừa, tức là thực trí mà đức Phật đã tuyên nói trong kinh Pháp hoa, mà cũng là thực trí của chư Phật. Bởi vì trí này có khả năng chứng được lí tính bình đẳng, nên gọi là bình đẳng. Vả lại, chúng sinh cũng đều có thể chứng được trí này, cho nên gọi là Bình đẳng. Kinh Pháp hoa phẩm Kiến bảo tháp (Đại 9, 32 trung), nói: Lúc bấy giờ, từ trong bảo tháp vang ra tiếng nói, khen rằng: Lành thay!Lành thay! Đức Thích ca mâu ni thế tôn đã dùng bình đẳng đại tuệ vì đại chúng mà nói kinh Diệu pháp hoa là pháp dạy hàng Bồ tát được chư Phật hộ niệm. Pháp hoa kinh Khoa chú quyển 4 (Vạn tục 48, 454 hạ), nói: Bình đẳng có hai thứ: một là Pháp bình đẳng, tức là lí trung đạo dùng đại tuệ quán xét; hai là chúng sinh bình đẳng, nghĩa là hết thảy chúng sinh đều dùng lí từ nhân đến quả, cũng được Phật tuệ.
Bình đẳng đại huệ 平等大慧
[ja] ビョウトウダイエ byōdō daie ||| Great universal wisdom; great undifferentiating wisdom. The wisdom based on an insight into the equality of phenomena in their emptiness. 〔法華經、T 262.9.32c1〕 => Trí huệ rộng lớn trùm khắp; trí huệ rộng lớn không phân biệt. Trí huệ phát xuất từ sự thể chứng không tính bình đẳng của các hiện tượng.
Bình đẳng 平等
[ja] ビョウドウ byōdō ||| (sāmānya). (1) "Equality," which, in Buddhism refers to the lack of discrimination between things when they are seen from the standpoint of emptiness. (2) An equal person. Someone almost the same (sadrśa); equality between high and low (rank, etc.). (3) Transcendence of love, hate, good, evil, etc. (4) Peace, harmony, equanimity. Harmony of the compositional elements of the body. (5) Realm or view of non-discrimination. The absolute reality that penetrates all manifest phenomena. Absolute reality (samatā). => (s: sāmānya). 1. Thuật ngữ Phật học đề cập đến quan niệm không phân biệt các pháp khi chúng được nhìn từ quan điểm Tính không. 2. Người ngang nhau. Người hầu như giống nhau (s: sadrśa); cao, thấp (tầng lớp v.v...). 3. Siêu việt yêu ghét, tốt xấu v.v... 4. Hoà bình, hài hoà, thanh thản. Hài hoà với các thành phần tạo nên cơ thể. 5. Cảnh giới hay quan niệm vô phân biệt. Thực tại tuyệt đối siêu việt mọi hiện tượng. Thực tại tuyệt đối (s: samatā).
Bình 平
[ja] ビョウ byō ||| (1) Level, flat, peaceful, tranquil, smooth, calm, just, equal. (2) To calm, to bring peace, to subjugate, to end strife, to control, to regulate. (3) Average, ordinary, common. => 1. Bằng, phẳng, bình yên, yên bình, phẳng lặng, êm đềm, công bằng, bình đẳng. 2. Trầm tĩnh lại, làm yên tĩnh, chinh phục, chấm dứt bất hoà, bình định, điều hoà. 3. Trung bình, bình thường, thông thường.
bí
Secret, occult, esoteric, hidden, opposite of hiển exoteric.
; 1) Bí mật: Secret—Occult—Esoteric--Profound. 2) Bón Constipated. 3) Quả bí Pumpkin—Squash. 4) Tối ám Obstructed.
bí bảo
(秘寶) Của báu bí mật. Trong tâm người tu hành Mật giáo có đầy đủ công đức của bí tạng Phật đức mạn đồ la, cũng giống như của báu bí mật trong kho quan phủ, cho nên gọi là Bí bảo.
bí danh
Secret name.
bí giáo
Esoteric Doctrine Mật giáo.
; The esoteric teaching. Xem Bí mật giáo.
bí hiểm
Mysterious and dangerous.
bí kinh
(秘經) Kinh điển bí mật. Nói theo nghĩa rộng, chỉ chung cho các kinh điển Mật giáo. Nói theo nghĩa hẹp, thì đặc biệt chỉ ba bộ kinh bí mật hoặc năm bộ kinh bí mật, là những bộ kinh mà ý nghĩa cực kỳ sâu kín trong các kinh điển Mật giáo. Ba bộ kinh bí mật, tưc là kinh Đại nhật (7 quyển), kinh Kim cương đính đại giáo vương (3 quyển), kinh Tô tất địa (3 quyển). Còn năm bộ kinh bí mật là ba bộ kinh vừa kể ở trên cộng thêm kinh Yếu lược niệm tụng (1quyển) và kinh Du kì (2 quyển). Có thuyết cho rằng kinh Yếu lược niệm tụng tức là bản dịch khác của kinh Đại nhật quyển 7, vốn đã nằm trong kinh Đại nhật rồi, nên phải thay thế bằng kinh Lược xuất niệm tụng (4 quyển).
bí kinh nghĩa nhập môn
Tantrarthavatāra (S).
Bí Ma Nham Thường Ngộ
(秘魔巖常遇, Himagan Jōgū, 817-888): xuất thân vùng Phạm Dương (范陽, Tỉnh Hà Bắc), họ là Âm (陰). Ông xuất gia ở An Tập Tự (安集寺) vùng Yến Bắc (燕北, Tỉnh Hà Bắc). Sau ông trốn vào trong núi rừng, xa lánh thế tục, rồi đến tham vấn Linh Thoan (靈湍) ở Vĩnh Thái Tự (永泰寺, Tỉnh Hồ Bắc), và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 4 (850) niên hiệu Đại Trung (大中), ông lên Ngũ Đài Sơn (五臺山), đến viếng thăm Bồ Tát Đường của Hoa Nghiêm Tự (華嚴寺), khi thấy tượng Văn Thù, ông liền cúng dường ngón tay giữa bên phải của mình. Rồi ông đến Bí Ma Nham (秘魔巖), nơi tương truyền đức Văn Thù hay giáng thế cứu độ, kết thảo am và sống ở đó trong vòng 17 năm trường. Ông thường dùng cái nạnh bằng cây để giáo hóa kẻ đến tham học. Vào ngày 18 tháng 7 năm đầu (888) niên hiệu Văn Đức (文德), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 51 hạ lạp.
bí mật
Guhya (S).
; Secret, occult, esoteric, mysterious, profound.
; Bí là bí áo, nghĩa là sự huyền diệu sâu sắc của pháp môn. Mật là ẩn mật, nghĩa là việc không dễ dãi dạy cho người khác—Secret—Esoteric—Occult—Mysterious—Profound.
; (秘密) Phạm: guhya, Pàli: guyha. Những điều sâu xa ẩn kín mà người ta không thể hiểubiết một cách dễ dàng. Chẳng hạn như sức thần thông của đức Như lai, hoặc như ý kín đáo của Ngài chưa từng nói ra. Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung nói, ý của Như lai gồm có bốn thứ bí mật (cũng gọi là Tứ bí mật, Tứ chủng hợp nghĩa, Tứ tiết,Tứ y): 1. Khiến vào bí mật, vì dẫn dắt chúng sinh đi vào trí chân thực, nên trước hết tùy theo cách suy tưởng của thế tục mà giảng nói. 2. Tướng bí mật, vì chỉ bày hết thảy pháp không có tự tính, chẳng sinh chẳng diệt, nên nói ba tính Biến kế sở chấp v.v... 3. Đối trị bí mật, vì đối trị nhiều thứ lỗi lầm mà nói nhiều thứ pháp. 4. Chuyển biến bí mật, ý nghĩa bên trong và sự trình bày bằng ngôn ngữ, văn tự bên ngoài hoàn toàn khác nhau; ý nghĩa chân thực ẩn chứa ở bên trong, không thể diễn tả bằng lời nói. Ngoài ra, Phật giáo còn được chia thành giáo hiển lộ (Hiển giáo) và giáo bi mật (Mật giáo). Còn ngài Trí khải đời Tùy thì chủ trương rằng, khi đức Phật nói pháp, tuy cũng nghe giáo pháp của Phật, nhưng người nghe thì mỗi người hiểu mỗi khác, không ai giống ai, cho nên gọi là bí mật (giáo bí mật trong bốn giáo hóa nghi). [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; luận Đại trí độ Q.4, Q.65; Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.15; Hoa nghiêm kim sư tử chương; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2].
bí mật bát ấn
(秘密八印) Tám ấn bi mật. Là tám thứ ấn ngôn nói trong phẩm Bí mật bát ấn của kinh Đại nhật. Tám ấn này là ấn minh của tám vị tôn trong viện Bát diệp, là ấn Quán đính bí mật của Đại nhật Như lai, biểu trưng đức bốn trí bốn hạnh của Đại nhật Như lai. Bởi thế, trong các kinh và nghi quĩ đều cấm ngặt việc trao truyền tám ấn bí mật này cho những người mới phát tâm tu hành. 1. Ấn Thế tôn đại uy đức sinh. Ân này do uy đức lớn của Đại nhật Như lai sinh ra (thế lực của tâm bồ đề trong sạch), nên gọi Đại uy đức sinh. Ân này cũng là ấn của Bảo chàng Như lai ở phương đông. Phương đông chủ về đức của tâm bồ đề trong sạch, vì thế gọi là đại uy đức sinh. Tướng ấn này là hai tay chắp lại, lòng bàn tay để rỗng, hai ngón út, hai ngón trỏ mở thẳng đứng. Ân ngôn là Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm (namahê samanta buddhànàm: kính lạy khắp cả chư Phật) Ram lạc (raư rahê: từ tâm Bồ đề sinh ra muôn đức) sa ha (svàhà: thành tựu). 2. Ấn Thế tôn kim cương bất hoại. Trí của đức Đại nhật Như lai bền chắc không hoại, ví như kim cương, nên gọi là kim cương bất hoại. Ấn này cũng là ấn của đức Bảo sinh Như lai ở phương nam. Phương nam là địa vị đạt đến kim cương chân thực, bởi thế gọi là kim cương bất hoại. 3. Ấn liên hoa tạng. Cũng gọi Như lai tạng ấn, là ấn của đức A di đà Như lai ở phương tây. Phật A di đà là chủ của Liên hoa bộ, nên gọi là liên hoa tạng. Tạng có nghĩa chứa Đại bi mạn đồ la. Tướng ấn là ấn tám cánh hoa sen. Ân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm sam sách (chân lí) sa ha. 4. Ân Như lai vạn đức trang nghiêm. Cũng gọi ấn nội ngoại trang nghiêm. Các đức trong ngoài của Như lai đều đầy đủ, cho nên gọi là vạn Đức trang nghiêm. Ân này cũng là ấn của đức Thiên cổ lôi âm Như lai ở phương bắc. Đức của đấng Như lai này là chủ về việc hoàn thành trọn đủ sự nghiệp lợi mình lợi người, nên cũng gọi nội tạng trang nghiêm. Tướng ấn này là chắp hai tay thành hình hoa sen, hoặc chắp hai tay để lòng bàn tay rỗng, hai ngón út co vào trong bàn tay. Ân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm hàm hạc (haô hahê: nhân duyên sinh) sa ha. 5. Ấn Như lai nhất thiết chi phần sinh. cũng gọi ấn tòng Phật chi phần sinh. Cũng là ấn của bồ tát Phổ hiền phương đông. Chi phần sinh, ý nói từ các bộ phận thân thể của đức Phật mà sinh ra, tức chỉ cho bồ tát Phổ hiền. Phổ hiền chủ về đức của tâm bồ đề, là con trưởng của các đức Như lai, vì thế gọi là Chi phần sinh. Tướng ấn là hai tay chắp lại thành hình hoa sen, hai ngón cái duỗi ra dựng thẳng, đầu ngón tay hơi co lại, giống như ấn Nhập Phật tam muội da. Ân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm ám á (aô ahê) sa ha. 6. Ân Thế tôn đà la ni. Cũng là ấn của bồ tát Quán tự tại ở phương đông bắc. Vị tôn này là chủ của Pháp bộ, nên gọi là Đà la ni. Đà la ni nghĩa là tổng trì (tóm giữ tất cả), đó là thể tính của pháp môn. Tướng ấn dùng ấn Chi phần sinh, co hai ngón giữa, hoặc co vào trong lòng bàn tay, đâu lưng vào nhau, hoặc làm như hình cái móc câu đối nhau. Ân ngôn: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm bột đà đà la ni (buddhà dhàraịi: Phật tổng trì) sa một lật để mạt la đà na yết li (smfiti vala dhanakari: sức niệm làm lợi ich) đà la dã tát vam (dharaya satvaô: nắm giữ hữu hình) bạc già phạ để a ca la phạ để (dhagavati akàravati: đức thế tôn đủ các hình tướng) tam ma duệ (samaye: lời thề gốc) sa ha. 7. Ấn Như lai pháp trụ. Cũng là ấn của bồ tát Văn thù sư lợi ở phương tây nam. Văn thù là chủ về cửa trí tuệ, có đức ở lâu nơi tất cả pháp môn, nên gọi là pháp trụ. Về tướng ấn, cứ theo Đại nhật kinh sớ, là chắp hai tay để lòng bàn tay rỗng, hai ngón út, hai ngón cái bấm vào nhau để trong lòng bàn tay, hai ngón giữa dựng đứng, đầu ngón vô danh và ngón trỏ sáp vào nhau. Nhưng trong các kinh và nghi quĩ còn có các thuyết khác. Ân ngôn: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm a(à) phệ na vĩ nê (Veda vide: đã đủ hết thảy trí và ban lợi ích cho người khác) sa ha. 8. Ân Thế tôn tấn tật trì. Cũng là l2 ấn của bồ tát Di lặc ở phương tây bắc. Tấn tật trì, biểu thị sức thần thông bí mật của đức Như lai gia trì một cách nhanh chóng. Tướng ấn là dùng hai tay chắp lại, trước dùng bàn tay phải đặt lên rồi xoay nó sang bên trái. Khi đó bàn tay trái úp lên bàn tay phải, rồi lại chuyển nó sang bên phải. Lúc đó bàn tay phải lại úp lên bàn tay trái. Ân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm ma ha du già du nghĩ ninh (mahà yoga yogini: đại du già du già) du nghệ sân phạ lí (yoge wvari: tự tại du già) khiếm nhã lị kế (khaô jari ke: không sinh tác) sa ha [X. kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.17; Thai tạng thứ đệ yếu tập kí; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.55].
bí mật bất phiên
(秘密不翻) Vì bí mật nên không phiên. Đây là một trong năm trường hợp không nên phiên dịch khi dịch kinh điển. Nguyên tắc này do ngài Huyền trang đặt ra. Khi dịch kinh chữ Phạm ra chữ Hán, có năm trường hợp chỉ nên phiên âm chứ không nên dịch nghĩa, như Đà la ni chẳng hạn, thuộc loại bí mật bất phiên. Những đà la ni trong kinh là lời nói bí mật của Phật, nhiệm mầu sâu kín, không thể nghĩ bàn, cho nên không phiên. (xt. Ngũ Chủng Bất Phiên).
bí mật chú
The mantra or incantation of the esoteric (Diamond) vehicle.
; Tên gọi chung Chân Ngôn Đà La Ni hay mật chú được dùng trong trường phái Mật Tông—The mantras or incantations of the Yogacara sect (Mật tông).
; (秘密咒) Tức gọi chung tất cả chân ngôn đà la ni. Đà la ni là văn chú bí mật, cho nên cũng gọi bí mật chú. (xt. Chân Ngôn).
bí mật chủ
Vajirasattva (S). King of Yaksas and guardian of the secrets of Buddha.
; Vajrasattva (skt)—Tên gọi đầy đủ là Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ, tức là ngài Kim Cương Tát Đỏa, vua của loài Dạ Xoa, và cũng là vị hộ trì những bí mật của chư Phật (theo Đại Nhật Kinh Sớ, Kim Cương Bí Mật Chủ, bàn tay cầm cây chày Kim Cương. Ở tây phương gọi Dạ Xoa là bí mật, bởi thân khẩu ý của ngài nhanh chóng, ẩn kín, khó có thể biết được. Ngài Bí Mật Chủ tức là Dạ Xoa Vương, tay cầm chày Kim Cương, đứng thị vệ bên Phật)—King of Yaksas and guardian of the secrets of Buddhas.
; (秘密主) Gọi đủ là Kim cương thủ bí mật chủ. Tức là Kim cương tát đỏa. Trong các kinh, danh từ kim cương thủ và bí mật chủ được nêu chung. Kim cương tát đỏa được gọi là bí mật chủ, có hai nghĩa: nếu theo sự giải thích nông cạn và vắn tắt, thì bí mật chủ là tên khác của vua Dạ xoa, thân, miệng, ý của Dạ xao mau lẹ bí ẩn, khó lường biết được. Kim cương tát đỏa hiện thân làm vua Dạ xoa, tay cầm chày kim cương, thường làm người hầu và bảo vệ chư Phật, cho nên gọi là kim cương thủ bí mật chủ. Còn nếu theo sự giải thích sâu xa bí mật, thì Dạ xoa tức là hiện thân mật, khẩu mật, ý mật của Như lai, chỉ có Phật với Phật mới có thể biết rõ được, mà Kim cương tát đỏa nắm giữ bí mật của chư Phật, vì thế gọi là Bí mật chủ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
bí mật chủ bồ tát
Xem Kim Cang Thủ Bồ tát.
bí mật chủ tam muội
(秘密主三昧) Là tam muội (chính định) của Kim cương bộ trong Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 654 trung), nói: Đối với Tuệ ấn kim cương, một lòng không rối loạn, gọi là Bí mật chủ tam muội.
Bí mật danh nghĩa nghi quỹ 祕密名儀軌
[ja] ヒミツミョウギキ Himitsumyō giki ||| The Mimiming yigui; see Yijia mimi zuishang mingyi dajiaowangyigui 一切祕密最上名義大教王儀軌 => (c: Mimiming yigui); Xem Nhất thiết bí mật tối thượng danh nghĩa đại giáo vương kinh (c: Yijia mimi zuishang mingyi dajiaowangyigui 一切祕密最上名義大教王儀軌).
bí mật du già
The yoga rules of the esoteric sect; also a name for the sect.
; 1) Tên gọi chung các pháp môn của Chân Ngôn tông The Yoga rules of the esoteric sect. 2) Tên gọi của Du Già tông A name for the Yogacara, or esoteric sect.
; (秘密瑜伽) Du già, hàm ý tương ứng (ưng nhau). Phép chân ngôn lấy ba mật (thân mật, khẩu mật, ý mật) ứng nhau làm chủ yếu. Khi ba mật ứng nhau thì có thể thành tựu quả vị mình mong muốn, cho nên phép chân ngôn được gọi là Du già. Tuy nhiên, danh từ Du già được dùng chung cho cả Mật giáo và Hiển giáo, bởi thế mới đặc biệt gọi Du già của Mật giáo là Bí mật du già.
bí mật du già đàn
(秘密瑜伽壇) Là đàn tràng của hành giả Mật giáo tu phép Du già bí mật, tức là mạn đồ la của hai bộ Kim cương và Thai tạng. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La, Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
bí mật giáo
The esoteric teaching; the esoteric sect; one of the four modes of teaching defined by Tông Thiên Thai; a name for the Viên giáo.
; 1) Mật Giáo The teaching of the esoteric sect—See Mật Giáo. 2) Một trong bốn tông được Thiên Thai đề cập trong Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo One of the four modes of teaching defined by T'ien-T'ai—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo (3). 3) Tên khác của Thiên Thai Viên Giáo Another name for the T'ien-T'ai's Complete or Final teaching—See Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo (4).
bí mật giới
The commandments of the esoteric vehicle.
; Giới luật của Mật giáo, hay Mật tam muội da giới—The commandments of the esoteric sect.
bí mật giới mạn đà la
Guhysadhātu-maṇdala (S).
bí mật hiệu
tên gọi khác của bài chú Đà La Ni được dùng trong Mật giáo—Dharanis used in the esoteric sects.
; (秘密號) Là tên khác của Đà la ni. Đà la ni là chân ngôn bí mật, cho nên gọi là bí mật hiệu. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Chân Ngôn).
bí mật kinh
The sùtras of the esoteric sect.
; Kinh điển của Mật giáo, hay Chân Ngôn tông—The sutras of the esoteric sect.
bí mật kết tập
The collection of mantras, dhàranis etc and of the Vajradhàtu Kim cương giới and Garbhadhàtu Thai tạng giới literature, attributed to Ananda or Vajrasattva, or both.
; Cuộc kết tập kinh điển của Bí Mật bộ, gồm mật chú và tổng trì Đà La Ni trong Kinh Đại Thừa của các bộ Kim Cang và Thai Tạng giới, do ông A Nan và ngài Kim Cang Thủ Bồ Tát kết tập—The collection of mantras, dharanis, etc., and of the Vajradhatu and Garbhadhatu literature, attributed to Ananda, or Vajrasattva, or both.
bí mật mạn đồ kim cương tâm điện
(秘密曼荼金剛心殿) Là nơi ở của đức Đại nhật Như lai, vị giáo chủ của Mật giáo. Đại nhật kinh khai đề (Đại 58, 3 thượng), nói: Đến như bi mật mạn đồ kim cương tâm điện, thì là nơi ở của Tự tính pháp thân của đức Tì lô giá na, bậc cùng tột rốt ráo Tâm vương Như lai.
bí mật mạn đồ la
(秘密曼荼羅) I. Bí mật mạn đồ la. Cũng gọi Bí mật đàn. Gọi chung tất cả mạn đồ la của Mật giáo. Bởi vì, trong Mật giáo, mạn đồ la được dùng để hiển bày tất cả các phép bí mật. Cứ theo đó, trong các phép tu Mật giáo, tùy nhu cầu, kiến lập đàn tràng mà tu hình tam muội da của chư tôn, những đàn tràng được kiến lập như vậy, đều có thể gọi là Bí mật mạn đồ la. Lại trong các loại bí mật đàn, đàn tu phép Hộ ma gọi là Hộ ma đàn, đàn làm lễ quán đính gọi là Quán đính đàn, đàn bố trí mạn đồ la gọi là Mạn đồ la đàn.II. Bí mật mạn đồ la. Chỉ cho mạn đồ la hiện ra ở trong thiền định của vị A xà lê đã chứng được Du già tất địa nhờ công hạnh sâu dày, tức là tam muội da thứ năm trong năm thứ tam muội da. Trong Mật giáo, với hạng người có căn cơ đặc biệt vượt trội, khi trao cho đàn Quán đính bí mật, thì không cần phải làm những việc cụ thể, như chọn đất, làm đàn v.v... mà là do vị Du già a xa lê ở trong thiền định hiện ra đàn bí mật, chẳng hạn như dùng đàn Tâm quán đính, Bí mật quán đính v.v.., cũng như Chi phần sinh mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật và Thai tạng đô hội cùng mạn đồ la của Biệt đàn nói trong phẩm Bí mật mạn đồ la đều thuộc dạng này. [X. Đại nhật kinh sớ Q.14; Thai tạng giới mạn đồ la sao Q.thượng].
bí mật nhất thừa
(秘密一乘) Chỉ cho Mật giáo. Các tông Thiên thai, Hoa nghiêm được gọi là Hiển giáo nhất thừa, để đối lại, Mật giáo được gọi là Bí mật nhất thừa.
bí mật pháp giới tâm điện
(秘密法界心殿) Là cung Kim cương pháp giới và điện Tâm quang minh gọi chung lại. Cung Kim cương pháp giới là hội tòa tuyên thuyết kinh Đại nhật, điện Tâm quang minh là hội trường tuyên thuyết kinh Kim cương đính. Hợp chung cả hai lại, là chỉ cho điện Tâm quang minh trong cung Pháp giới. Hội trường này thật chẳng phải là nơi mà hạng phàm phu, nhị thừa hoặc hàng Thập địa Đẳng giác của Hiển giáo có thể nghe thấy hiểu biết được, vì thế gọi là Bí mật pháp giới tâm điện.
bí mật phật thừa thập trụ tâm
(秘密佛乘十住心) Trong mười trụ tâm do tông Chân ngôn nói, không lập ra pháp hơn kém sâu nông, vì chân ngôn là nghĩa thực, nên các loài người, trời, quỉ, súc v.v... tất thảy đều là pháp thân bình đẳng. Đây có hai nghĩa: 1. Mười trụ tâm chủng tính mạn đồ la, biểu thị tính của chúng sinh vốn bình đẳng và đều là pháp thân. 2. Mười trụ tâm của muôn đức phổ môn, hiển bày muôn đức phổ môn mà đức Đại nhật Như lai đã chứng được.
bí mật quán đỉnh
(秘密灌頂) Rưới đầu bí mật. Gồm hai nghĩa: 1. Nói theo nghĩa rộng: Bí mật quán đính gọi chung lễ quán đính (lấy nước rưới lên đầu) do Mật giáo cử hành. Quán đính nguyên là nghi thức được cử hành ở Ấn độ vào dịp vua lên ngôi hoặc lập Thái tử. Cũng như trong Phật giáo Đại thừa, Bồ tát tiến vào hạnh vị cuối cùng, chư Phật dùng nước trí rưới lên chỏm đầu, chứng minh vị Bồ tát đó kế thừa ngôi vị Pháp vương. Về sau, ý nghĩa này trở thành phép làm trọng yếu của Mật giáo, dùng nước tượng trưng năm trí của Như lai rưới lên chỏm đầu của vị đệ tử, biểu thị sự truyền thừa ngôi vị Phật. 2. Nói theo nghĩa hẹp: Bí mật quán đính chuyên được dùng để gọi Tam muội da thứ năm trong năm loại Tam muội da, là quán đính bí mật sau khi nhận ngôi vị a xà lê truyền pháp. Quán đính này là quán đính của vị a xà lê kiến đế (đã thấy rõ chân lí) và là quán đính bí mật nhất. [X. kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.52]. (xt. Quán Đính).
bí mật tam muội kinh
(秘密三昧經) Kinh, gồm 4 quyển. Gọi đủ là Bí mật tam muội đại giáo vương kinh. Ngài Thí hộ đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung ghi chép các phép bí mật của Kim cương thủ bồ tát, Kim cương giới đại mạn noa la, Kim cương hàng tam thế mạn noa la, cho đến trời Ba mươi ba hiện tập hội đại mạn noa la v.v...
Bí mật tam muội đại giáo vương kinh 祕密三昧大教王經
[ja] ヒミツサンマイダイキョウオウキョウ Himitsu sammai daikyōō kyō ||| The Mimi sanmei dajiaowang jing (Mahāsamayatattva-tantrarāja). 4 fasc. (T 883.18.446-463), alt. Guhyasamaya-tantra*, tr. Dānapāla 施護. Identified by Sakai (1955) as the thirteenth text of the Vajraśekhara corpus 金剛頂經. => (c: Mimi sanmei dajiaowang jing; s: Mahāsamayatattva-tantrarāja). 4 quyển. Tên gọi khác là Bí mật tập hội tan-tra (s: Guhyasamaya-tantra). Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch. Sakai (1955) nhận ra bản kinh trên đồng nhất với kinh thứ 13 trong Kim cương đỉnh kinh (s: Vajraśekhara corpus 金剛頂經).
bí mật thượng thừa
Tiếng gọi giáo pháp của tông Chân Ngôn, tức Thừa Giáo Bí Mật Tối Thượng—The esoteric superior vehicle, i.e. the esoteric sect, a name for the Shingon.
bí mật thừa
(秘密乘) Chỉ cho chân ngôn Mật giáo. Gọi tắt: Mật thừa. Giáo thuyết chân ngôn pháp môn tam mật (thân mật, ngữ mật, ý mật) là thừa giáo rất sâu xa kín nhiệm, nên gọi là Bí mật thừa. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 671 trung) chép: Nói cách vắn tắt thì pháp có bốn thứ, nghĩa là ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) và Bí mật thừa (xt. Mật Tông).
bí mật trang nghiêm tâm
(秘密莊嚴心) Hành giả của tông Chân ngôn tu quán mầu nhiệm ba mật năm tướng, dùng thể bí mật của pháp giới làm đẹp thân mình để mở bày trụ tâm cuối cùng của trí chân thực. Đó là trụ tâm thứ 10 trong 10 trụ tâm, tức là trụ tâm của Chân ngôn nhất thừa. Đây là trụ tâm của người tu hành chân ngôn khi ở địa vị đầu tiên của Bồ tát. Ngài Không hải, vị tăng người Nhật cho rằng, trong 10 trụ tâm, 9 trụ tâm trước đều thuộc Hiển giáo, chỉ có trụ tâm thứ 10 là bí mật. Chín trụ tâm trước đều là nhân, riêng trụ tâm thứ 10 là quả rất mực sâu xa mầu nhiệm. Vả lại, trụ tâm này vượt khỏi vọng chấp cực nhỏ nhiệm trong ba kiếp, đoạn trừ được vô minh, được hết thảy pháp tự tính bình đẳng vô úy trong 6 vô úy, xa lìa tất cả ách nạn trói buộc, từ đó mở ra tâm bồ đề trong sạch như hư không, tiến vào địa vị Sơ địa. (xt. Thập Trụ Tâm).
bí mật tông
The esoteric Matra, or Yogacara sect—See Mật Giáo.
; (秘密宗) Tên khác của Mật giáo, hoặc chỉ cho tông chỉ của Mật giáo. [X.Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Mật Tông).
bí mật tương
(秘密箱) Cái rương (hòm) bí mật. Gọi đủ là Bí mật đạo cụ tương. Là cái rương đựng những đạo cụ bí mật, như chày kim cương, gậy, mũ báu, vòng đeo tay, lược vàng, phất trần, quạt và đồ đựng hương bột v.v... của vị Đại a xà lê dùng khi làm lễ quán đính trong Mật giáo. [X. Mật giáo pháp cụ tiện lãm].
Bí mật tướng kinh 祕密相經
[ja] ヒミツソウキョウ Himitsusō kyō ||| The Mimixiang jing Skt. Guhyama_nitilaka Tib. gsang ba nor bu thig le [To.493]; 3 fasc. [T 884.18.463-469], tr. Dānapāla 施護.) => (c: Mimixiang jing; s: Guhyama nitilaka; t: gsang ba nor bu thig le); 3 quyển. Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
bí mật tạng
The treasury of the profound wisdom, or mysteries, variously interpreted.
; Tạng trí huệ thâm diệu nói về diệu pháp của chư Phật—The treasury of the profound wisdom, or mysteries, variously interpreted.
; (秘密藏) Pháp tạng (kho pháp) rất sâu xa bí ẩn, duy có Phật với Phật mới biết rõ được, chứ chẳng phải pháp môn phổ thông mà mọi người đều hiểu biết. Lại vì là pháp kín nhiệm được đức Như lai đặc biệt hộ niệm, nếu không phải người có căn khí, thì giữ kín không nói ra, cho nên gọi là Bí mật tạng. Bởi vậy, Bí mật tạng là tên chung của các kinh hiển bày nghĩa rất sâu, bí ẩn. Trong Hiển giáo, kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam và bản Bắc) lấy pháp thân, bát nhã, giải thoát là chẳng một chẳng khác làm Bí mật tạng.Nhưng, theo ý của Mật giáo, thì tất cả giáo pháp do hóa thân đức Thích ca nói là Hiển giáo, còn riêng giáo pháp do pháp thân đức Đại nhật nói mới là Bí mật tạng, cũng là tên gọi chung Chân ngôn nhất thừa. Không chỉ là pháp môn sâu kín, mà còn là pháp nội chứng cực kỳ bí mật của Như lai, vì thế, đối với ngưới chưa quán đính, quyết không tuyên nói chỉ bày. Cũng giống như Thanh văn thừa, đối với người chưa thụ giới, không thể nói giới kinh cho họ nghe, bởi vậy, gọi giới kinh là Bí mật tạng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].
Bí mật tạng 祕蜜藏
[ja] ヒミツゾウ himitsuzō ||| The 'secret (dharma) store.' Teachings that unenlightened people cannot easily understand. In the Esoteric Teaching, that which is explained by the dharma-body of Mahāvairocana. => 'Tạng bí mật'. Giáo lý mà hàng phàm phu không thể lĩnh hội được. Theo Mật giáo, dó là giáo pháp do pháp thân của Đại Tỳ-lô-giá-na giảng thuyết.
bí mật tập hội
Guhyasamaij (S), Guhya-samāja-tantra (S), sang pa dus pa (T)Do Tổ Long Thọ biên soạn.
; (秘密集會) Phạm: Guhyasamàja-tantra, hoặc Tathàgat-aguhyaka. Cũng gọi Bí mật tập hội quĩ, Như lai bí mật. Bộ sách này được biên soạn trong hai giai đoạn: giai đoạn đầu biên soạnPùrvàrdha 18 chương; giai đoạn sau biên soạn Paràdha khoảng 15 chương. Nguyên bản được thành lập vào thế kỉ thứ III, nhưng từ thế kỉ thứ III trở về sau thì bộ sách mới được hoàn thành đầy đủ. Nội dung bộ sách, trước hết, trình bày về vị giáo chủ nói kinh là đức Đại tì lô giá na Như lai ở nơi cảnh giới trong sạch. Khi đức A súc Như lai cùng ở một chỗ với đức Đại tì lô giá na gia trì Đại tam muội da, thì mạn đồ la của chư Phật lần lượt từ trong đức Đại tì lô giá na Như lai hiện ra. Kế đến, bàn về ý nghĩa tâm bồ đề của chư Phật. Đứng về phương diện thực tiễn mà nói, thì tuy đức Đại tì lô giá na Như lai là vị chủ biểu hiện thân, ngữ, ý của tất cả các đức Như lai, nhưng tâm bồ đề của chư Phật cũng phải có đầy đủ tính chất nội tại thuộc nguyên lí thực tiễn của Bồ tát, cho nên nói tâm bồ đề cần phải được thấu qua thân, ngữ mới thể hiện đầy đủ. Những điều này đều do đức Đại tì lô giá na Như lai tóm thu hết. Sau cùng, nói rõ hành giả muốn đạt đến cảnh giới trên đây, thì phải nhờ vào các loại Du già hành, đặc biệt là Cáp đạt du già có đầy đủ nghệ thuật khéo léo, trong đó, lấy đức Đại tì lô giá na của Đại tam muội da mạn đồ la làm đối tượng quán tưởng, để đạt tới Du già nhỏ nhiệm ở giai đoạn tột cùng hoặc quán tưởng cao nhất. Sách này hiện còn nguyên bản tiếng Phạm, bản dịch Tây tạng và bản Hán dịch (ngài Thí hộ dịch: Phật thuyết nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương kinh, 7 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 18). Sách chú thích bản tiếng Phạm và tiếng Tây tạng rất nhiều. Đây là bộ sách Mật giáo trước đây được truyền bá rộng rãi tại các nước Phật giáo.
Bí mật tập hội tan-tra
祕密集會; S: guhyasamāja-tantra, cũng được gọi là Tam nghiệp bí mật kinh;|Tan-tra đầu tiên của Phật giáo, được biên soạn giữa thế kỉ 3 và 7, được xếp vào Vô thượng du-già tan-tra.
bí mật vương tam muội
(秘密王三昧) Là một trong năm tên của kinh Viên giác. Pháp tu hành nói trong kinh Viên giác rất sâu xa kín nhiệm, thu tóm muôn hạnh, là pháp sâu kín nhất trong các pháp sâu kín, cho nên gọi là Bí mật vương. Đứng về phương diện pháp tu mà gọi là Tam muội.
bí mật đàn
Đàn tràng tu bí mật pháp (gồm hộ ma đàn, quán đảnh đàn, và mạn đồ la đàn)—The altars of the Esoteric sect.
bí mật đạo thứ đệ luận
(秘密道次第論) Cũng gọi Thắng giả phổ biến kim cương trì đạo thứ đệ, Nhất thiết bí mật tinh yếu khai hiển. Tác phẩm của ngài Tông khách ba (Tạng:Tsoí-khàpa, 1357-1419). Nội dung bộ luận này mênh mông, những bản tóm lược và các sách nhập môn rất nhiều, là sách chủ yếu cơ bản của Mật giáo Tây tạng và Mông cổ. Bộ luận này chia Phật giáo Đại thừa làm Ba la mật đa thừa và Mật chú thừa. Mật chú thừa lại được chia làm bốn phần: Tác (Phạm:kriyà), Hạnh (Phạm:caryà), Du già (Phạm:yoga), Vô thượng du già (Phạm: anuttarayoga), hai phần sau đặc biệt được coi là trọng yếu hơn. Du già tức là nói rõ năm thứ hiện chứng bồ đề và phép quán năm tướng thành thân. Toàn bộ sách tuy có phân biệt thuyết minh ba hệ thống Tiểu thừa, Đại thừa, Mật giáo, nhưng đặc biệt chú trọng về Mật giáo hơn.
bí mật ẩn hiển câu thành môn
(秘密隱顯俱成門) Một trong Thập huyền môn (mười cửa sâu kín) của tông Hoa nghiêm, môn này nói về duyên. Hết thảy mọi hiện tượng đều có đủ quan hệ biểu lí, mặt ẩn là lí (bên trong), mặt hiển là biểu (bên ngoài), biểu lí cùng chung một thể, cho nên ẩn không lìa hiển, hiển chẳng lìa ẩn, ẩn và hiển đồng thời, như mảnh trăng thu giữa bầu trời, tối sáng cùng lúc. Mảnh trăng một nửa sáng, một nửa tối. Nửa sáng ví dụ cho hiển, nửa tối ví dụ cho ẩn, bầu trời mùa thu thì ví dụ biển tính (tính hải); hai phần sáng tối cùng lúc của mặt trăng thí dụ các duyên khởi. Biển tính duyên khởi có thể khiến tất cả mọi pháp đều dung thông, cho nên ẩn và hiển đồng thời thành tựu mà không chướng ngại nhau. Vả lại, sự ẩn hiện vô ngại này chứa kín thu kín, sâu xa mầu nhiệm. Cái hay chứa kín (năng bí) là hiển, cái bị thu kín (sở bí) là ẩn, ẩn và hiển cùng là bí mật của nhau, không cái nào trước, cái nào sau, vì thế môn này được gọi là môn Bí mật ẩn hiển câu thành. Hãy lấy sư tử bằng vàng làm ví dụ: khi nhìn sư tử chỉ là sư tử, chứ không là vàng, thì vàng ẩn, sư tử hiển; nếu nhìn vàng chỉ là vàng, chứ không là sư tử, thì vàng là ẩn, sư tử là hiển. Nếu cùng lúc nhìn cả hai chỗ, thì đều ẩn đều hiển. Lại nếu lấy một người làm ví dụ, thì đối với cha mẹ xưng là con, đối với em xưng là anh, đối với vợ xưng là chồng. Như vậy, đối với cha mẹ xưng con là hiển, còn những tiếng chồng, anh là ẩn; đối với vợ, xưng chồng là hiển, những từ con, anh là ẩn. Trong một người mà đồng thời có thể là con, anh, chồng, tức là nghĩa ẩn hiển đều thành tựu cùng một lúc. Mục đích của môn Bí mật ẩn hiển câu thành này là nhằm giải tan mối ngờ vực của chúng sinh cho rằng, tại sao đức Phật dùng một tiếng nói pháp mà người nghe lại mỗi người được lợi ích khác nhau? [X. các phẩm Dạ ma, Nhập pháp giới, Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung; Hoa nghiêm kinh Tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
Bí mật 祕密
[ja] ヒミツ himitsu ||| (1) Secret, occult, esoteric, mysterious, hidden, profound; teachings that are not readily understandable without a deep insight into the nature of Buddhist reality, or without a special instruction or initiation. The opposite of this is the readily apprehensible 顯了teaching. (2) The teachings of Mahāvairocana Tathāgata 大日; esoteric teaching. (3) According to Zhiyi 智顗, one of the four types of the Buddha's teaching, wherein the listener is made to think that only he is hearing the sermon and the level of understanding among those in the audience (who are unaware of each other) is different. => 1. Bí quyết, huyền bí, bí truyền, thần bí, ẩn mật, sâu mầu; giáo lý không dễ dàng lĩnh hội nếu không có nội chứng sâu thẳm về thực tế đạo Phật, hoặc khuynh hướng có sự điểm đạo hay những chỉ dẫn đặc biệt. Ngược lại là giáo lý dễ lĩnh hội (hiển giáo). 2. Giáo pháp của Đại Nhật Như Lai (s: Mahāvairocana Tathāgata 大日); Mật giáo. Theo Trí Khải, đó là một trong bốn dạng giáo lý của Đức Phật, trong đó thính chúng được dạy rằng chỉ có riêng họ là người đang được nghe giảng pháp, và mức độ lĩnh hội của thính chúng trong pháp hội (mọi người không biết nhau) là không đồng
bí ngô
Pumpkin.
bí pháp
The mysteries of the esoteric sect.
; Những giáo pháp bí mật của Mật giáo (có hai loại Thông và Biệt. Thông giáo chỉ chung các việc hộ ma, tụng niệm mà không để cho người khác thấy. Biệt giáo gồm Đại pháp, Chuẩn Đại pháp, Bí pháp, và Thông Đồ pháp)—The mysteries of the esoteric sect.
; (秘法) Phép kín đáo. Trong Mật giáo, cử hành pháp Hộ ma, xướng tụng chân ngôn của chư tôn v.v..., vì không hiển bày cho người ta biết rõ được, nên gọi là Bí pháp. Đồng nghĩa với Tu pháp, Ý pháp. Nói theo nghĩa hẹp, bí pháp là pháp bí mật của người thầy không thể truyền trao một cách dễ dãi. Thông thường phép tu có thể được chia làm ba thứ là Đại pháp, Bí pháp và Phổ thông pháp. Bí pháp là phép thứ hai trong ba pháp trên. Tại Nhật bản, phép tu bí mật này, cũng tùy dòng phái khác nhau mà có chỗ bất đồng: như có phái truyền trao pháp Tô tất địa, Pháp năm bí mật v.v…...; cũng có phái sau khi nhận quán đính rồi mới truyền trao bí pháp. (xt. Tu Pháp).
bí phật
(秘佛) Phật kín. Tức là tượng Phật không bày công khai. Thông thường, tượng Phật được đặt trong cỗ khám thờ hoặc trong cung kín, cách thờ phụng này là chịu ảnh hưởng của Mật giáo mà Phật giáo Nhật bản đặc biệt xem trọng. Chẳng hạn như Bản tôn của Mộng điện Nhật bản, mãi đến thời Minh trị mới chấm dứt. Bản tôn được bọc rất kín bằng nhiều lớp lụa, sắc thái chế tác từ thời đó, đến nay vẫn còn. Thông thường, trong các chùa viện Mật giáo, có rất nhiều tượng Phật được bọc kín.
bí quyết
Secret method.
; Khẩu quyết bí mật—Secret method, or magical incantations.
bí sự
(秘事) Việc kín. Tức việc bí mật mà thầy trò truyền miệng cho nhau. Cũng gọi Bí truyền, Bí thuyết. Từ này chủ yếu dùng về sự tướng trong Mật giáo. Toàn bộ Nghệ tôn pháp, có đặt bí sự, các bộ phận của Nghệ tôn pháp như chủng tử, tam hình, tôn hình, ấn tướng, chân ngôn, quán hạnh... cũng có đặt bí sự.
bí thuật
Magic, wizardry, mystery.
; Magic art.
bí thư
Private secretary.
bí truyền
Esoteric; secretly transmitted.
; Esoterical.
bí tích
Secret prestige.
bí tông
Mật giáo—Trường phái Mật Tông xem Phật Tỳ lô Giá Na là vị Phật chính để thờ phượng—The esoteric Mantra or Yogacara sect which considered Vairocana as the chief object of worship—See Mật Giáo.
bí tạng
(秘藏) Kho kín đáo. Giấu kín không truyền cho người, gọi là bí; chứa đựng ở bên trong, gọi là tạng. Bí tạng có nghĩa là pháp mầu nhiệm của chư Phật, được chư Phật khéo giữ gìn, không tuyên nói một cách cẩu thả bừa bãi.
Bí tạng bảo dược 祕藏寶鑰
[ja] ヒゾウホウヤク hizōhōyaku ||| Hizōhōyaku T 2426.77.363-374; Gilded Key to the Secret Vault. The abridged (1 fasc.) and more widely studied version of Kūkai's 空海 seminal treatise, 'The Ten Strata of Realization' 十住心論 [T2425], completed in 825. It opens with a statement of the problem: countless texts of every religious inclination have been published and studied, and though we may pore over these until our deaths, how can we get to the root of it all? (内外縑緗千萬軸。。。書死、諷死、本何爲。) Living things endure a wide range of hardships and it is for this reason that there are so many kinds of remedies, reasons Kūkai, who proceeds to classify these paths to deliverance -- synonymous with degrees of realization -- in ten ascending stages: 1. A goatlike mind 異生羝羊心 fixated on lust and hunger 但念婬食. 2. A retarded yet moderate mind 愚童持薺心, showing an emergent tendency to be charitable 施心萌動. 3. An infantile mind which fears not, 嬰童無畏心 held by heretics going to heaven 外道生天. 4. A mind which recognises transitory aggregates but no permanent self, 唯蘊無我心 as articulated in the entire Pāli canon 羊乘三藏. 5. A mind purged of karmic seeds, 拔業因種心 having mastered the twelvefold causation 修身十二. 6. A mind interdependent with others, that of the Mahāyāna, 他縁大乘身 in which great compassion first manifests 大悲初發. 7. A mind aware that it is unborn, 覺心不生心 serene from comprehending emptiness in an instant 心原空寂. 8. A mind which knows Truly the One Way 如實一道心境. 9. A mind utterly without self-nature 極無自性心, just as the water's surface has no intrinsic nature 水無自性. 10. The hidden and lavish mind 祕密莊嚴心, revealed by the way of mantras when conventional medicines have cleared the dust 顯樂拂塵、眞言開庫. Kūkai further identifies the ten stages with different religious schools and the samādhi 三昧 of particular divinities, but reiterates that all were taught by the "Great Awakened, the Compassionate Father" 大覺慈父. The notion of "kinds of minds" draws on discussions in the first chapter of the Vairocanābhisaṃbodhi 大日經 => (j: Hizōhōyaku; e: Gilded Key to the Secret Vault). Bản toát yếu (1 quyển) và là bản mở rộng chuyên luận tinh yếu Thập trụ tâm luận 十住心論của Không Hải (j: Kūkai's 空海), được hoàn thành năm 825. Được mở đầu với luận đề: Vô số kinh văn của nhiều khuynh hướng tôn giáo đã được in ra và được nghiên cứu, qua đó chúng ta có thể chiêm nghiệm ra cho đến khi ta chết, làm sao ta có thể đạt được căn để của mọi sự. Chúng sinh chịu đựng quá nhiều sự gian khổ, và vì lý do nầy mà có rất nhiều phương thuốc chữa trị, đó là nguyên nhân mà Không Hải thu thập và phân loại những con được giải thoát nầy–đồng nghĩa với những cấp độ chứng ngộ–thành 10 giai đoạn từ thấp đến cao: 1. Tâm như con dê chỉ tham đắm dâm dục và ăn uống. 2. Chậm phát triển tinh thần, nhưng tâm ôn hoà, thể hiện khuynh hướng nổi bật khoan dung độ lượng. 3. Tâm trẻ thơ không sợ sệt, mang tâm niệm ngoại đạo muốn sinh ở cõi trời4. Tâm duy uẩn vô ngã khế hợp với kinh luận trong tam tạng. 5. Tâm thanh tịnh các chủng tử tạo nghiệp, thông đạt 12 nhân duyên6. Tâm nương theo các duyên Đại thừa, sơ phát tâm đại bi. 7. Tâm giác ngộ rằng tâm không sinh, nguồn tâm nguyên vốn không tịch8. Tâm nhận ra cảnh giới của tâm là Nhất đạo như thật9. Tâm hoàn toàn không tự tính, như mặt nứơc, không có tự thể riêng biệt 10. Tâm bí mật trang nghiêm, được hiển lộ bởi chân ngôn khi bí pháp đã tẩy sạch bụi trầnKhông Hải còn đồng nhất 10 giai đoạn trên với các pháp môn khác với Tam muội của các vị thần thánh cá biệt, nhưng lặp lại rằng họ đều thọ giáo với Đấng Đại giác Từ phụ . Ý niệm các 'loại tâm' xuất phát từ thảo luận trong chương đầu của Đại Nhật kinh.
Bí Tạng Bảo Thược
(秘藏寶鑰, Hizōhōyaku): 3 quyển, gọi tắt là Bảo Thược (寶鑰), Lược Luận (略論), tác phẩm của Không Hải (空海, Kūkai). Thể theo sắc mệnh của Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764), trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Trường (天長, 824-833), những bậc học tượng của các tông phái dâng trình lên triều đình Tông nghĩa của họ; Không Hải thì viết Thập Trụ Tâm Luận (十住心論), sau đó tóm tắt nội dung của tác phẩm đó và viết nên bộ này. Với ý nghĩa của đề tác phẩm là chìa khóa khai mở tận cùng của Phật tánh vốn có đầy đủ trong chúng sanh, lấy Đại Nhật Kinh (大日經), Bồ Đề Tâm Luận (菩提心論), Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論), v.v., trước tác này triển khai pháp môn của Thập Trú Tâm (十住心) giống như Thập Trụ Tâm Luận, giảm thiểu việc trích dẫn các kinh luận đến mức tối thiểu, giản lược 14 câu vấn đáp, giải thích sự sâu cạn của cảnh giới trú tâm thứ 9 mà thôi. Sách chú thích của tác phẩm này có rất nhiều như Văn Đàm Sao (聞談鈔, 4 quyển) của Đạo Phạm (道範), Ngu Thảo (愚艸, 5 quyển) của Lại Du (賴瑜), Bí Tạng Bảo Thược Sao (秘藏寶鑰鈔, 6 quyển) của Cảo Bảo (杲寶), Bí Tạng Bảo Thược Sao (秘藏寶鑰鈔, 40 quyển) của Hựu Khoái (宥快), Khai Tông Ký (開宗記, 10 quyển) của Huệ Hi (慧曦), v.v.
bí tạng bảo thược
(秘藏寶鑰) Chìa khóa báu của kho bí mật. Tên sách, gồm ba quyển. Gọi tắt là Bảo thược, Lược luận. Tác phẩm của ngài Không hải người Nhật. Thu vào Đại chính tạng tập 77. Là sách tóm lược của luận Thập trụ tâm (Quảng luận) 10 quyển do ngài Không hải vâng mệnh vua mà biên soạn. Nội dung nói về phán giáo Thập trụ tâm, là một trong 10 quyển (chương) của Quảng luận. Sách này được lưu hành khá rộng rãi, bản khắc gỗ rất nhiều, sách chú thích cũng có tới vài chục bản.
bí tạng kí
(秘藏記) Bản sơ lược có một quyển, bản bàn rộng có 2 quyển. Thu vào Đại chính tạng tập 86. Tương truyền là tập bút kí của ngài Không hải - vị tăng người Nhật - ghi chép những lời của sư phụ là A xà lê Huệ quả truyền miệng, niên đại trứ tác không được rõ. Nội dung có liên quan đến khẩu quyết (sách truyền miệng) của Mật giáo, có khoảng một trăm điều mục, ghi chép nhiều thứ; giải nói về sự tướng (hành pháp), giáo tướng (giáo lí) của Mật giáo.
Bí tạng 祕藏
[ja] ヒゾウ hizō ||| (1) 'Secret store.' 〔法華經 T 262.9.35b18〕 (2) Tathāgatagarbha 如來藏. (3) A reference to the 如來藏經. => 1. Tạng bí mật 2. Như Lai tạng (s: Tathāgatagarbha 如來藏). 3. Đề cập đến Như Lai tạng kinh如來藏經.
bí văn
Secret document.
bí yếu
The essence, the profoundly important. Secret and important.
; Pháp môn thiết yếu—The profoundly important—The essence—Secret and essence—Secret and important.
; (秘要) Là pháp môn thiết yếu không được chỉ bày cho người một chách cẩu thả bừa bãi. Đây chỉ cho những pháp gia trì, cầu đảo của Mật giáo. [X. kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện; kinh Duy ma phẩm Quán chúng sinh]. (xt. Tu Pháp).
Bí yếu 祕要
[ja] ヒヨウ hiyō ||| The mysterious crux; the difficult-to-understand, but essential point (Skt. rahasya; Tib. gsaṇ ba). 〔法華經 T 262.9.52a19〕 => Điểm then chốt huyền diệu; khó lĩnh hội, nhưng là điểm chủ yếu (s: rahasya; t: gsaṇ ba).
bí áo
Bí mật—Mysterious—Secret.
; (秘奧) Tức pháp môn bí mật sâu kín, nói chung về Mật giáo. [X. kinh Đại bảo tích Q.61; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.thượng].
bí ấn
Ấn khế bí mật do Mật giáo lưu truyền—Esoteric signs or seals.
; (秘印) Ấn bí mật. Chỉ những ấn khế. Ấn khế là bản thệ nội chứng của chư Phật, Bồ tát, bao hàm ý nghĩa rất bí mật sâu xa, nên gọi là bí ấn.
bí ẩn
Hidden—Concealed—Occult—Mysterious.
Bí 祕
[ja] ヒ hi ||| (1) Spiritual, wondrous. (2) Secret, hidden, profound. This ideograph is interchangeable with 秘, the latter being more common in later works. => 1. Thuộc tinh thần, thiêng liêng, vi diệu. 2. Bí mật, ẩn mật, sâu mầu. Chữ nầy thường dùng chung với chữ Mật秘.
bích
1) Bức tường A wall—Partition-wall—Screen. 2) Màu xanh biếc Jade-green, or blue.
bích chi ca la
Xem Độc giác Phật.
bích chi ca phật đà
Prateyka-Buddha (S). Solitary Enlightened One. Also Bích chi Phật, Duyên giác Phật, Độc giác Phật.
bích chi phật
Pratyeka-buddha (S), Solitary Buddha Pacceka-Buddha (P), rang sang gye (T)Duyên giác Phật, Bích Chi Phật, Bích chi Ca la, Bát lệ ê già Phật đà, Nhân duyên giác Bích chi Ca la, Độc giác PhậtĐộc giác Phật. Do quán 12 nhơn duyên được ngộ nên gọi là Bích Chi Phật, cũng là Độc Giác Phật, là Duyên Giác Phật. Không gặp thời Phật giáng sinh mà tu giác ngộ thành Phật gọi là Độc giác Phật. (Phật Quang Đại từ diễn ghi: Duyên Giác Phật tức là Bích chi Phật, Bích Chi Ca la Phật, Bát lệ ê già Phật đà, ngày nay gọi là Độc giác Phật, hay Độc giác Bích chi Ca la, Nhân duyên giác Bích chi ca la Phật vì nhờ nghe 12 nhân duyên mà thành Phật Bích Chi.). Xem Độc giác PhậtXem Duyên Giác Phật.
; Prateyka-Buddha (S).
; Pratyeka-buddha—See Chi Phật and Pratyeka-buddha.
; (辟支佛) Phạm: Pratyeka-buddha. Dịch ý là Duyên giác, Độc giác. Cũng gọi Bối chi ca, Bích chi. Là một trong hai thừa, một trong ba thừa. Chỉ cho bậc Thánh không có thầy mà tự giác tự ngộ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 và Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu, thì Bích chi phật có hai nghĩa: 1. Sinh vào thời đại không có Phật, lúc ấy Phật pháp đã diệt, nhưng nhờ nhân duyên tu hành đời trước, nương vào trí tuệ của chính mình mà được đạo. 2. Tự mình giác ngộ chứ không nghe theo người khác, nhờ quán xét và giác ngộ lí 12 nhân duyên mà được đạo. [X. luận Du già sư địa Q.34; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Duyên Giác).
bích chi phật thừa
Xem Duyên giác thừa.
; Một trong tam thừa, trung thừa—The middle vehicle, that of the pratyeka-buddha, one of the three vehicles.
bích hà nguyên quân
Pi-hsia Yuan-chun (C), Bixia yuanjun (C)Một vị thần trong Đạo gia, con gái thần núi Thái sơn.
Bích lạc
(碧落): nguyên nghĩa là trời ở phía Đông, từ đó nó có nghĩa là trời xanh. Trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có câu rằng: “Thượng cùng bích lạc hạ Huỳnh Tuyền (上窮碧落下黃泉, trên khắp trời xanh dưới thấu suối vàng).”
Bích Nham Lục
(碧巖錄, Hekiganroku): 10 quyển, trước tác do Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) biên tập lại bản Tụng Cổ Bách Tắc (頌古百則) mà Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) đã từng thuyết giảng khắp nơi, được san hành vào năm thứ 4 (1300) niên hiệu Đại Đức (大德), gọi đủ là Phật Quả Viên Ngộ Thiền Sư Bích Nham Lục (佛果圜悟禪師碧巖錄, Bukkaengozenjihekiganroku) hay còn gọi là Bích Nham Tập (碧巖集, Hekiganshū). Tên bộ này phát xuất từ bức ngạch nơi Giáp Sơn Linh Tuyền Thiền Viện (夾山靈泉禪院) mà Khắc Cần đã từng trú trì. Mỗi tắc công án được hình thành bởi các phần như Thùy Thị (垂示, lời tựa), Bổn Tắc (本則, công án); Bình Xướng (評唱) đối với Bổn Tắc, Tụng Cổ (頌古) và Bình Xướng đối với Tụng Cổ. Bổn Tắc và Tụng Cổ thì thuộc về phần của Tuyết Đậu Trùng Hiển, vốn là người được xem như là vị tổ thứ 3 của Vân Môn Tông, các Tụng Cổ của ông rất phong phú về tính chất văn học có truyền thống, cho nên được rất nhiều người ưa chuộng. Việc Khắc Cần tiến hành giảng nghĩa bộ này cũng là nhằm đáp ứng trào lưu đương thời. Bản Tụng Cổ Bách Tắc của Tuyết Đậu Trùng Hiển vừa hàm chứa sự châm biếm, mà cũng thể hiện tràn đầy niềm yêu thương đối với các bậc Thiền sư ngày xưa. Viên Ngộ đã thêm vào đó những lời giáo giới cho hàng đệ tử mình cũng như những giai thoại trong lịch sử Thiền Tông mà người tu hành cần phải khắc cốt ghi tâm bằng các câu Thùy Thị và Bình Xướng. Đối ứng với Bổn Tắc và Tụng Cổ, Viên Ngộ đã thêm vào lời phê bình cay chua dưới hình thức gọi là Trước Ngữ, cho nên ba nhân vật là Thiền giả xuất hiện trong công án, cùng Tuyết Đậu và Viên Ngộ, vốn có các tánh khác nhau, đã được nối kết lại với nhau, và đây là tác phẩm rất hy hữu mang âm hưởng về mối quan hệ căng thẳng chồng chất lên nhau. Chính vì lẽ đó, khi tác phẩm này xuất hiện, đã được người đời tuyên truyền ngay lập tức, nhưng tương truyền đệ tử của Viên Ngộ là Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) lại cho rằng nó có hại cho người tu hành nên ông cho tập trung tất cả ấn bản rồi đem đốt hết. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tác phẩm này quá to lớn, một số tập công án khác có hình thức tương tợ như vậy lại thay nhau ra đời như Tùng Dung Lục (從容錄, năm 1224, Tụng Cổ của Hoằng Trí Chánh Giác [宏智正覺], bình xướng của Vạn Tùng Hành Tú [萬松行秀]), Không Cốc Tập (空谷集, năm 1285, Tụng Cổ của Đầu Tử Nghĩa Thanh [投子義清], trước ngữ của Đơn Hà Tử Thuần [丹霞子淳], và bình xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân [林泉從倫]), Hư Đường Tập (虛堂集, Tụng Cổ của Đơn Hà Tử Thuần, bình xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân), v.v. Thiền của Nhật Bản là sự di nhập của Thiền nhà Tống, cho nên Bích Nham Lục cũng được xem như là "thư tịch số một của tông môn", được đem ra nghiên cứu, giảng nghĩa, và từ thời Nam Bắc Triều trở đi thỉnh thoảng có khai bản ấn hành. Ngoài ra, Viên Ngộ Khắc Cần còn có trước tác Phật Quả Viên Ngộ Kích Tiết Lục (佛果圜悟擊節錄, Niêm Cổ của Tuyết Đậu Trùng Hiển, trước ngữ và bình xướng của Viên Ngộ Khắc Cần) và nó cũng được lưu hành rộng rãi. Còn Thỉnh Ích Lục (請益錄, năm 1230, Niêm Cổ của Hoàng Trí Chánh Giác, trước ngữ và bình xướng của Vạn Tùng Hành Tú) là bản mô phỏng theo tác phẩm Phật Quả Viên Ngộ Kích Tiết Lục này. Bản Bích Nham Lục hiện tồn là bản do Trương Minh Viễn (張明遠) nhà Thục san hành vào năm thứ 4 niên hiệu Đại Đức (大德), có khác với Tụng Cổ Bách Tắc về thứ tự của các tắc công án. Tại Nhật Bản, Bản Ngũ Sơn cũng là bản khắc lại nguyên hình bản của Trương Minh Viễn. Tuy nhiên, trong bản này có lời hậu tựa của Quan Vô Đảng (關無黨) ghi năm thứ 7 (1125) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), và lời tựa của Phổ Chiếu (普照) ghi năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), chúng ta biết được rằng trước đó đã có san hành rồi. Như trong lời hậu tựa của Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) có đoạn: “Ngu trung Trương Minh Viễn, ngẫu hoạch tả bản hậu sách, hựu hoạch Tuyết Đường san bản cập Thục bản, hiệu đính ngoa suyễn, san thành thử thư (嵎中張明遠、偶獲寫本後册、又獲雪堂刊本及蜀本、校訂訛舛、刊成此書, Trương Minh Viễn tình cờ có được quyển sau của tả bản trong hẽm núi, lại có thêm san bản của Tuyết Đường và bản nhà Thục, bèn hiệu đính những chỗ sai lầm, in thành sách này)” và san bản của Tuyết Đường Đạo Hạnh (雪堂道行) cũng nói lên vấn đề trên.
Bích nham lục
碧巖錄; C: bíyánlù; J: hekigan-roku;|Tên của tập Công án quan trọng nhất trong Thiền tông song song với Vô môn quan, được mọi người hâm mộ trong giới thiền gọi là »Tông môn đệ nhất thư« (宗門第一書). Quyển sách này được biên soạn dưới tay Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả ở đầu thế kỉ 12 và được truyền lại đến ngày nay dưới dạng này.|Nhưng nguồn gốc chính của sách này xuất phát từ Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển. Sư chọn lựa trong nội điển, ngoại điển và văn sử một trăm tắc công án và viết thêm vào những câu tụng để hướng dẫn những người hiếu học, được gọi là Tuyết Ðậu tụng cổ (雪竇頌古). Những lời tụng này là những tuyệt tác trong thiền ngữ và văn thơ Trung Quốc. Thiền sư Viên Ngộ lấy trứ tác này làm sườn và bổ sung thêm. Nhìn chung, cấu trúc của mỗi công án trong Bích nham lục có thể được nêu như sau:|1. Thuỳ thị (垂示; j: suiji), lời dẫn của Thiền sư Viên Ngộ nhằm giúp thiền sinh hướng tâm về nội dung chính của bản công án; 2. Bản tắc (本則; j: soku), bản công án chính của Thiền sư Tuyết Ðậu, thỉnh thoảng cũng được kèm theo lời bình; 3. Trước ngữ (著語; j: jakugo), những câu bình của Viên Ngộ xen vào công án của Tuyết Ðậu; 4. Bình xướng (評唱; j: hyōshō), lời bình giải của Viên Ngộ, nêu rõ chi tiết, thời điểm, nguyên do công án này được hình thành…; 5. Tụng (頌; j: ru), chỉ bài tụng của Tuyết Ðậu về công án; 6. Trước ngữ của sư Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Ðậu; 7. Bình xướng của Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Ðậu.|Vì cấu trúc của bản văn có nhiều tầng lớp nên Bích nham lục cũng nổi danh là một quyển sách cực kì phức tạp trong tất cả các loại thiền ngữ. Về sau, đồ đệ của Viên Ngộ là Phổ Chiếu biên chép lại để tên là Bích nham lục – vì tấm bảng trên ngạch trượng thất tại viện Linh Tuyền đề là Bích Nham.||H 16: Công án thứ 27 trong Bích nham lục: »Một vị tăng hỏi sư Vân Môn Văn Yển: ›Ðó là thời điểm nào, khi cây cỏ thay màu, khi muôn lá rơi rụng?‹ Sư đáp: ›Lúc ấy chính là lúc mà ngọn gió vàng hiện bày cái thể của nó‹ (Thể lộ kim phong)« (bút pháp của Thiện Thuận).|Chính vì tinh hoa và trình độ văn chương quá tuyệt hảo của Bích nham lục nên nhiều Thiền sư sau này không thích dùng nó chỉ dạy thiền sinh mà chú trọng quyển Vô môn quan hơn. Khả năng đam mê chữ nghĩa khi đọc Bích nham lục của những thiền sinh rất lớn và chính đệ tử của Viên Ngộ là Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo cũng đã nhận thấy điều này. Sư chứng kiến được cảnh đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú trong sách làm nhu yếu biện luận tri giải mà quên lời dạy của những Tổ sư »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.« Vì thế, Sư đem tất cả những bản có sẵn ra đốt sạch và hai trăm năm sau đó ít ai thấy được quyển sách này. Ðầu thế kỉ 14 có vị Cư sĩ tên Trương Minh Viễn góp nhặt các bản còn sót mọi nơi, tham khảo bổ túc qua lại và cũng từ đây Bích nham lục lại được ra mắt độc giả.|Văn hào nổi danh của CHLB Ðức Hermann Hesse viết như sau về Bích nham lục sau khi đọc bản dịch của giáo sư W. Gundert, xuất bản năm 1960: »Tác phẩm vĩ đại này là một món quà thượng thặng với những nội dung huyền diệu mà tôi không thể nào thưởng thức trọn vẹn trong đoạn đời còn lại. Mà ngay cả một cuộc đời trinh nguyên cũng không đủ để thực hiện điều này. Những tâm hồn cao cả nhất, sùng đạo nhất của Trung Quốc và Nhật Bản đã uống nước nơi nguồn này hơn 800 năm nay, nhưng vẫn không uống cạn, đã nghiên cứu quyển sách này đến tận cùng, nhai đi nhai lại những lời nói bí ẩn trong đây, nếm được vị ngọt ngào của nó, họ chỉ biết âm thầm tôn kính mức độ thâm sâu và đáp lại những nét hóm hỉnh của nó với một nụ cười am hiểu.«
bích nham lục
HekiganshŪ (J), Pi-yen-lu (C), Hekigan-roku (J), Biyanlu (C), Hekiganshu (J), Blue-green Cliff Records Tên một bộ sưu tập công án Thiền do Viên Ngộ Khắc Cần biên soạn vào nửa đầu thế kỷ 12.Đại Tuệ, học trò của Viên Ngộ, khi thấy học trò mình say sưa với văn bản này hơn thực hành giáo pháp, đã ra lệnh thu hồi và đốt tất cả các bản Bích Nham Lục do thầy ông là Viên Ngộ biên soạn. May mắn là đại bộ phận của văn bản ấy, dù không toàn vẹn, vẫn còn có thể được Trương Minh Viễn khôi phục lại vào thế kỷ 14.
; Pi-Yen-Lu—Blue Rock Collection—Một trong những tập sách thiền nổi tiếng nhứt của Thiền phái Lâm Tế, gồm một trăm công án do thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển (980-1052) soạn, với lời bình bằng kệ đi kèm của thiền sư Phật Quả Viên Ngộ (1063-1135). Tập sách lấy tên theo một cuộn giấy có viết hai chữ Hán “Bích” (xanh) và “Nham” (đá), ngẫu nhiên treo nơi chùa nơi mà nó được biên soạn, nên thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển đã dùng hai chữ đó làm nhan đề cho tác phẩm của mình (see Trùng Hiển Tuyết Đậu Thiền Sư)—One of the most famous Zen book of Lin-Chi Zen sect, consisting of one hundred koans compiled by Zen master Hsueh-Tou-Ch'ung-Hsien (980-1052), with is own commentary in verse accompanying each koan, by Zen master Yuan-Wu (1063-1135). The book derived its name from a scroll containing the Chinese characters for “blue” and “rock” which happened to be hanging in the temple where the collection was compiled, and which the compiler decided to use as a title for his work.
Bích nham lục 碧巖録
[ja] ヘキガンロク Hekigan roku ||| Biyan lu The "Blue Cliff Record." Also written as Biyan ji 碧巖集 and 碧岩録, with the full title being 佛果圓悟禪師碧巖録. 10 fasc. A collection of one hundred kongan 公案, originally compiled by the 4th-generation Yunmen 雲門 monk Xuedou zhongxian 雪竇重顯 (980-1052) and later commented on by the 11th century monk Yuanwu keqin 圜悟克勤 (1063-1135). Considered as an outstanding representative of Chan literary quality, this text became a central object of study for later kuan-hwa (看話) practitioners. In it are included 100 "cases" for kongan 公案 practice; T 2003.48.139a-292a. translated into English by Thomas and J.C. Cleary. => (c: Biyan lu; e: The Blue Cliff Record). Còn gọi là Bịch nham tập (c: Biyan ji 碧巖集và 碧岩録) , tên gọi đầy đủ là Phật quả Viên Ngộ Thiền sư Bích nham lục (佛果圓悟禪師碧巖録), 10 quyển. Gồm 100 công án, ban đầu được sưu tập bởi Tuyết Đậu Trọng Hiển (雪竇重顯c: Xuedou zhongxian; 980-1052) , thuộc hệ truyền thừa thứ tư của dòng Thiền Vân Môn (c: Yunmen 雲門 ), về sau đến thế kỷ thứ 11, được Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤c: Yuanwu keqin; 1063-1135) bình chú. Tác phẩm được xem là tiêu biểu nổi bật nhất của văn học Thiền, trở thành đối tượng trung tâm cho người sau tu tập theo pháp môn khán thoại đầu (kuan-hwa 看話) . Tác phẩm bao gồm 100 'tắc' công án. Đã được Thomas và J.C. Cleary dịch sang tiếng Anh. [ja] ヘキガンシュウ Hekigan shū ||| Biyan ji; An alternative title of the Biyan lu 碧巖録. [ja]メドウ medō ||| See 碼碯.
bích nham tập
(碧岩集) Gồm 10 quyển. Ngài Viên ngộ Khắc cần đời Tống biên soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 48. Cũng gọi là Bích nham lục, Viên ngộ lão nhân bích nham lục, Viên ngộ Bích nham tập. Gọi đủ là Phật quả viên ngộ thiền sư bích nham lục. Sách này, đầu tiên do ngài Trùng hiển (980-1052) ở núi Tuyết đậu chọn lấy 100 tắc trọng yếu nhất trong số 1.700 tắc công án của Cảnh đức truyền đăng lục, rồi thêm văn tụng vào. Về sau, ngài Viên ngộ Khắc cần (1063-1135) lại thêm phần thùy thị, bình xướng và trứ ngữ v.v... thì sách này mới được hoàn thành. Lúc đó là năm Tuyên hòa thứ 7 (1125). Các Tắc, trước hết là thùy thị (những lời ngắn gọn, sáng sủa nêu rõ điểm chủ yếu), kế đó nêu ra công án chính, tiếp đến là cổ tụng (bài kệ tụng xưa), dưới mỗi câu có thêm trứ ngữ (lời bàn ngắn) và tiểu sử của người nêu ra công án, rồi đến bình xướng (lời giải thích) cơ phong, tự làm tụng và bình xướng tổng quát. Khi ngài Viên ngộ làm lời bình xướng ở viện Linh tuyền trên núi Giáp thuộc châu Lễ, trên tấm biển nơi nhà Phương trượng của ngài, ngài đề hai chữ Bích nham. Hai chữ này có xuất xứ từ câu thơ của Thiền sư Thiện hội – người khai sáng núi Giáp – bày tỏ cảnh giới ngộ đạo của mình như sau: Viên bảo nhi qui thanh chương hậu Điểu hàm hoa lạc Bích nham tiền. (Nghĩa đen: Vượn bồng con về sau non xanh, Chim ngậm hoa rơi trước núi biếc.) Khoảng năm Kiến viêm (1127-1130), đệ tử của ngài Viên ngộ là Thiền sư Đại tuệ Tông cảo, theo đúng tông chỉ truyền riêng ngoài giáo, chẳng lập văn chữ (giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự), đem đốt bộ sách này ở trước mọi người, bởi thế, trong khoảng 200 năm sau đó, trong các tùng lâm, không ai còn được thấy tác phẩm này. Cho mãi đến đời Nguyên, khoảng năm Đại đức (1297-1307), ông Trương minh viễn mới in lại, nó được coi là bộ sách quí nhất của Thiền tông, từ đó mới được thịnh hành trong giới xuất gia và tại gia.
bích nhãn hồ
Người Hồ mắt biếc, chỉ ngài Bồ Đề Đạt Ma—The blue-eyed barbarian, Bodhidharma.
bích nhãn hồ tăng
(碧眼胡僧) Tăng Hồ mắt biếc. Gọi tắt là Bích nhãn, Bích nhãn hồ. Từ ngữ này vốn được dùng để chỉ những vị tăng từ các nước Tây vực, nhưng, trong Thiền lâm, nó được chuyển dụng để gọi Sơ tổ Bồ đề đạt ma. Bích nham lục tắc 24 (Đại 48, 180 thượng), nói: Ngay cả Bích nhãn hồ tăng (tổ Đạt ma) cũng khó biện biệt; Bích nhãn Hồ tăng mà còn khó biện biệt, thì bảo sơn tăng này nói cái gì? [X. Tổ đình sự uyển Q.4].
bích quán
Pikouan (J)Tên một vị sư.
; 1) Tên của một loại Thiền của Thiền tông Trung Quốc Name for the meditation of the Ch'an school in China. 2) Ngài Bồ Đề Đạt Ma ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, quay mặt vào tường tọa thiền trong suốt chín năm liền. Ngài nói “Khi tinh thần ngưng trụ trong cái định của 'Bích Quán' thì không còn thấy có ta có người. Thánh phàm một bực như nhau; nếu một mực kiên cố không lay chuyển, rốt ráo không lệ thuộc vào văn giáo và không còn tâm tưởng phân biệt nữa—The wall-gazer, applied to Bodhidharma, at Tsao-Linn monastery in Tsung Shan mountain, who is said to have gazed at a wall for nine years. He said “When concentration in the 'Meditating facing the wall,' one will see neither selfhood nor otherness, that the masses and the worthies are of one essence. If one firmly holds on to this belief and never moves away from it, he will not be depended on any literary instructions, free from conceptual discrimination.”
; (壁觀) I. Bích quán. Ý là quay mặt vào vách mà yên lặng quán xét. Thời nhà Lương, tổ Bồ đề đạt ma ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn (núi Tung), quay mặt vào vách chín năm, người đời gọi ngài là Bích quán bà la môn. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chép, thì lúc ngài Đạt ma mới đến Kiến nghiệp, cùng với Lương vũ đế đàm đạo, ngài thấy Vũ đế chưa hiểu Phật pháp, nên từ biệt, rồi đến ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn. Suốt ngày, ngài ngồi im lặng quay mặt vào vách, người ta không lường được ý ngài, mới gọi là Bích quán bà la môn, Bích quán Hồ tăng. [X. Ngũ đăng hội nguyên Bồ đề đạt ma chương]. II. Bích quán. Một lòng ngồi thiền quán xét, thân tâm như tường vách, tịch lặng chẳng động, hết thảy vọng tưởng đều dứt bặt. Tức chỉ phép thiền do Sơ tổ Bồ đề đạt ma truyền dạy. Tổ đạt ma chủ trương người ta ai cũng có sẵn tính thật, nhưng vì nhận thức sai lầm, nên cho giả là thật. Nếu người muốn đạt đến chân lí Phật giáo, thì phải tu thiền. Cứ theo Thiếu thất lục môn chép, thì phương pháp tu thiền là (Đại 48, 36 Q.hạ): Quay mặt vào vách, tĩnh lặng quán xét, không mình không người, phàm thánh như một, ngồi yên vững chắc, không đổi không dời, lại không theo văn chữ trong giáo, đây tức là ngầm hợp với lí, không có phân biệt, vắng lặng vô vi. Nói ngầm hợp lí, tức là khế hợp với tính Phật sẵn có của chính mình. Còn quay mặt vào vách, tĩnh lặng quán xét thì chính là phương pháp tu hành để đạt đến mục đích này. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển 2 nói, tổ Đạt ma dùng phương pháp quay mặt vào vách để dạy người ta an tâm, ngoài dứt các duyên, trong tâm không thở, tâm như tường vách, mới vào được đạo. An tâm tức tâm ở yên nơi đạo. Ngoài dứt các duyên tức là hoàn toàn chấm dứt tất cả nhận thức đối với thế giới bên ngoài. Trong tâm không thở có nghĩa là ngay cả hơi thở của mình, mình cũng không cảm thấy nữa. [X. Tục cao tăng truyện Bồ đề đạt ma truyện; Thích môn chính thống Q.8].
bích quán bà la môn
Một danh hiệu của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—Wall-gazing Brahman, a title of Bodhidharma. ** For more information, please see Bích Quán (1), and Bồ Đề Đạt Ma in Vietnamese-English Section.
bích thủy
Greenish water.
bích định
Bức tường định kiên cố thì ác phong không thể lọt vào được—Wall meditation, steady not restless meditation, no way any wind of evil can penetrate.
; (壁定) Định vách, ví dụ sức thiền định chắc chắn như tường vách, nên gọi là Bích định. Định như vách, ác giác như gió, vách định chắc chắn thì gió ác giác (chỉ cho tám thứ gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc) không thể lùa vào được. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 58 thượng), nói: Chỉ là Bích định, tám gió ác giác không thể xâm nhập. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5].
Bích-chi Phật
辟支佛; S: pratyekabuddha; P: paccekabuddha; dịch nghĩa Hán Việt: Duyên Giác Phật, Ðộc Giác Phật.|Ðộc Giác Phật
Bích-chi Phật thừa
xem Ba thừa.
Bích-chi-ca
xem Phật Bích-chi.
Bích-chi-ca Phật-đà
辟支迦佛陀; S: pratyekabuddha; P: pacceka-buddha; dịch nghĩa Hán Việt: Duyên Giác Phật, Ðộc Giác Phật.|Ðộc giác Phật
bính
1) Cái cán: A handle. 2) Lửa: Fire. 3) Quyền bính: Power—Authority. 4) Sức nóng: Heat. 5) Hướng Nam: South. 6) Can thứ ba trong mười can: The third of the ten stems.
bính hương lô
(柄香爐) Lư hương có cán cầm. Cũng gọi Bính hương lữ, Thủ lư (lư hương cầm tay), Bính lư, Đề lư. Là lư hương bằng kim loại có cán cầm. Cán dài từ bảy tấc đến một thước (Tàu). Có nhiều kiểu, kiểu cổ thì đầu ở cuối cán có hình sư tử. Có loại đúc có loại dọt, hoặc bằng đồng, hoặc bằng thâu thạch. Kinh Tịnh phạn vương bát niết bàn chép (Đại 14, 783 thượng): Đích thân Như lai, tay cầm hương lư đi trước đám tang. Gần đây, ông Le Coq người Pháp đã tìm thấy cái lư hương bằng thau ở vùng Trung á, đây là di vật có vào khoảng thế kỉ II, III Tây lịch. Lại trong các bức tranh Phật do ông A. Stein người Anh phát hiện ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, có tượng Bồ tát Dẫn đường, tay trái cầm hoa sen, tay phải bưng lư hương có cán cầm. Ngoài ra, ở Chính thương viện ngự vật của Nhật bản có chứa rất nhiều vật hình dáng mặt bằng có cán dài, người ta suy đoán đó là những chiếc lư hương có cán cầm được sử dụng ở Trung quốc thời xưa. [X. Cổ kim đồ thư tập thành khảo công điển 236; A. Stein: The Thousand Buddhas, plates XXXVIII; Le Coq: Die Buddhistische Sp@tantika in Mittelasien, Text].
bính linh tự thạch quật
(炳靈寺石窟) Chùa hang đá Bính linh. Là chùa hang xưa nhất hiện còn của Trung quốc. Chùa ở trong núi Tiểu thạch tích; núi này ở phía tây nam Lan châu tỉnh Cam túc, mạn tây huyện Vĩnh tĩnh, bắc ngạn Hồng sa nham thượng du sông Hoàng. Nghệ thuật ở đây chủ yếu là khắc đá, nhưng cũng có những tượng đắp bằng đất và các bức tranh vẽ trên vách. Tượng ở đây được tạc qua nhiều thời, nhưng tượng được tạc vào đời Đường là nhiều hơn cả. Thời gần đây, một bài văn nguyện rất xưa khắc trên vách đá đã được phát hiện ở chùa này, nội dung như sau: Năm Diên xương thứ 2 (513) đời đại Bắc Ngụy, Quí sửu tháng 6 Giáp thân ngày 15 Canh tuất, Thái hạ quận, Vũ dương quận Trung chính là Tào tử nguyên đục mở một khu hang đá. Nguyện cầu Hoàng đế bệ hạ, trăm quan, nhân dân, cha mẹ bảy đời, cha mẹ hiện tại, sáu thân quyến thuộc, được sinh phương Tây, sống trong diệu lạc, các loài hàm linh, đều cùng được phúc. Nhớ bài văn nguyện trên đây mà biết được niên đại của chùa hang Bính linh đã rất xưa, đến nay khu hang đá do Tào tử nguyên phát nguyện đục mở vẫn còn. Tại ba vách tây, nam, bắc, có những tượng rất đẹp được tạc vào thời đại Bắc Ngụy. Các bức tranh vách đã được vẽ mới lại vào đời Minh. Theo suy đoán, hang đá này đã được đục mở trước năm 513 và các pho tượng Lư Hương có cán cầm Toàn cảnh chùa Bính Linh cũng bắt đầu được tạc vào thời ấy, phong cách có hơi khác với tượng ở các hang Vân cương, Long môn, Đôn hoàng v.v.….. Trên vách đá có đục rất nhiều khám thờ Phật, phần nhiều bắt chước kiểu tháp bát úp ở Ấn độ. Theo thống kê, hang đá hiện còn 36 hang, 88 khám thờ Phật. Chùa Bính linh chia làm hai chùa trên và dưới, khoảng giữa hai chùa là những hang động nhỏ và các dòng suối chảy róc rách. Chùa trên được xây vào đời Đường, vốn gọi chùa Long hưng; đời Tống đổi tên là chùa Linh nham. Chùa dưới được cất vào năm Diên xương thứ 2 (513) đời Bắc Ngụy, là nơi tập trung nhiều hang và khám nhất. Bính linh nguyên là tiếng Tây tạng, có nghĩa là Nghìn Phật, Vạn Phật, từ đời Nguyên, chùa này là chùa Lạt ma của Mật giáo Tây tạng. Đến giữa đời Thanh chùa suy đồi dần, rồi trải qua hơn trăm năm, nhờ phát hiện được nghệ thuật trong hang đá, nên nay rất được xem trọng. [X. Pháp uyển châu lâm Q.39; Thủy linh chú Hà thủy Q.2 (Lịch đạo nguyên)].
bính ngữ
Bài tiểu tự của các sớ đọc trong nhà chùa—Authoritative or pivotal words.
; (柄語) Là lời tựa ngắn viết ở đầu lá sớ của sơn môn khuyến thỉnh vị tân trụ trì nhập tự, hoặc là sớ của các sư đồng môn chúc mừng tân trụ trì. Vì lời tựa ngắn này để ở đầu lá sớ cũng như cái cán của một vật dụng, nên gọi là Bính ngữ (lời cán).
bính đinh
A junior.
bính đinh đồng tử
Người thiếu niên tham dự vào buổi lễ rước đèn (liên hệ với 'lửa')—The boy who attends to the lamps which are associated with the fire.
; (丙丁童子) Cậu bé coi việc đèn lửa. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bính đinh, tức là Bính và Đinh trong Thiên can, phối hợp với ngũ hành thì thuộc về hỏa (lửa), vì thế dùng bính đinh ví dụ lửa. Thiền lâm thường dùng câu Bính đinh đồng tử lai cầu hỏa (cậu bé Bính đinh đến tìm lửa) để ví dụ chúng sinh vốn đủ tính Phật lại đi tìm Phật ở bên ngoài. Bởi vì tự thân mình là lửa (bính đinh) mà lại hướng ra ngoài tìm lửa, như vậy tự mình quên mất bản tính của mình, rồi đi tìm ở bên ngoài thì là hành vi ngu mê. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.25 Báo ân viện Huyền tắc điều; Bích nham lục tắc 7 Bình xướng].
bít
To close up
bó buộc
To bind—To chain—To enfetter.
bóc lột
To exploit—To take advantage of someone—To clean someone out
bói toán
Divination—Fortune teller.
bóng
Abhasa (skt)—Shadow.
bóng dáng
Abha or Paribimba (skt)—Shadow—Reflected image.
bóng ảo tưởng của vũ trụ
The bubble of the universe
bóp méo
To distort
bô đa ngoại đạo
(餔多外道) Tức là Đồ khôi ngoại Đạo (Phạm : Bhasman). Là một trong những ngoại đạo thờ trời Đại tự tại ở Ấn độ thời xưa. Họ lấy tro (khôi) bôi (đồ) khắp mình, trông giống như con mèo ngủ trong bếp. Họ tu khổ hạnh, giữ giới bò (bắt chước bò ăn cỏ), giữ giới chó (ăn phân!) với hi vọng được sinh lên cõi trời Đại tự tại. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.16 phẩm Phạm hạnh; Tứ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4].
Bô-rô-bu-đua
E: borobudur;|Dấu tích Phật giáo nổi tiếng tại Java/Nam Dương. Bô-rô-bu-đua được xây dựng vào thế kỉ thứ 9, trình bày con đường giác ngộ bằng các Man-đa-la (s: maṇḍala), tổng cộng gồm các sân lộ thiên, vô số hình tượng đức Phật và 72 Tháp. |||H 18: Man-đa-la tại Bô-rô-bu-đua (borobudur).|Man-đa-la tại đền Bô-rô-bu-đua được nhận ra rõ với thứ tự của các vị Phật trên bốn sân đầu tiên của đền: Phật Bất Ðộng tại phía Ðông, Phật Bảo Sinh ở phía Nam, Phật A-di-đà ở phía Tây và Phật Bất Không Thành Tựu ở phía Bắc. Phật trung tâm là Ðại Nhật được đặt tại sân thứ năm, nhìn ra bốn phía. Cách kiến trúc của nền làm cho khách thăm viếng cảm thấy mình dần dần lên cấp bậc cao hơn của giác ngộ. Tầng thấp nhất gồm có các tranh tượng nói về dục giới (Ba thế giới) và địa ngục. Tầng trên đó gồm nhiều tranh tượng diễn tả Phật Thích-ca đang thuyết pháp; trên đó nữa là hình ảnh bảo tháp và biểu tượng của tầng trời sắc giới. Cao hơn là sân hình tròn tượng trưng cho vô sắc giới và tính Không.
bôi
Cái tách—A cup.
bôi bẩn
To blur.
bôi bỏ
To delete—To cross out.
bôi lọ
To dishonor—To discredit.
bôi độ
Pei-Tu—Một vị sư vào thế kỷ thứ năm. Tương truyền sư thường qua sông bằng một cái tách hay một cái chén, nhân đó người ta gọi ông là Bôi Độ—A fifth century Buddhist monk said to be able to cross a river in a cup or a bowl, hence his name.
; (杯渡) (? - 426) Vị tăng đời Tấn, người Kí châu, năm sinh, họ và tên đều không rõ. Sư thường ngồi trên một cái chén (bôi) bằng gỗ để qua sông (độ), nên người thời bấy giờ gọi sư là Hòa thượng Bôi độ, Thiền sư Bôi độ. Sư bất chấp uy nghi tế hạnh, uống rượu ăn thịt, nhưng có thần lực lớn. Có lần sư ngủ trọ ở một nhà tại miền Bắc, lấy trộm tượng vàng của chủ nhà rồi đi. Chủ nhà đuổi theo, mặc dầu thấy sư đi chậm, nhưng ông ta thúc ngựa rượt theo mà chẳng kịp, đến bờ sông Mạnh tân, sư thả chiếc chén gỗ xuống nước, rồi ngồi lên chén đi qua sông. Sư từng ở nhà cư sĩ Hoàng hân tại Bành thành, nhà này rất nghèo, chỉ ăn cơm độn với ngô mà thôi, nhưng sư vẫn ăn ngon lành. Nửa năm sau, bỗng một hôm sư bảo Hoàng hân đi lấy 36 hạt cây lau mang về, sư gói kín lại, rồi trao cho Hoàng hân bảo mở ra; khi Hoàng hân mở ra thì thấy toàn là tiền bạc lụa là rất nhiều, ông đem dùng làm việc công đức hết. Qua một năm, sư từ biệt ra đi, Hoàng hân chuẩn bị lương thực cho sư mang theo, sáng hôm sau, Hoàng hân thấy lương thực vẫn còn đó, nhưng không thấy sư đâu. Vì sư có rất nhiều điều thần biến kì lạ nên người đời khó biết được lai lịch của sư. Sư có tác phẩm Nhất bát ca 1 quyển lưu hành ở đời. [X. Lương cao tăng truyện Q.10].
bôi độ sơn
(杯渡山) Núi Bôi độ. Núi ở phía nam huyện Bảo an tỉnh Quảng đông. Còn gọi là Đồn môn sơn, nay là Thanh sơn ở Hồng kông. Trên núi có chùa Thanh sơn, phía sau Đại hùng bảo điện hiện còn hang Bôi độ, trong hang có tượng bằng đá của thiền sư Bôi độ đang ngồi. Cứ theo Dư địa kỉ thắng chép thì thiền sư Bôi độ vượt biển đến trú ngụ ở huyện Đông hoàn. Còn Quảng châu phủ chí Đông hoàn huyện chép, núi Bôi độ cách huyện thành 190 dặm về mạn nam; thời Nam Hán, vua ban tên là núi Thụy ứng (núi ứng điềm lành), vì trên núi có hang Thụy ứng. Vì thời xưa, thiền sư Bôi độ đã từng có lần đến ở núi này, cho nên gọi là núi Bôi độ. (xt. Bôi Độ, Thanh Sơn Thiền Viện)
bôn
Chạy trốn—To run away.
Bôn giáo
T: bon; nguyên nghĩa của chữ Bôn là »thỉnh cầu«, »tụng niệm«;|Danh từ dùng chỉ các trường phái tôn giáo khác nhau trước khi đạo Phật được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) đưa vào Tây Tạng. Danh từ Bôn-pô (t: bonpo) ban đầu được dùng để chỉ các Ðạo sư với những chức năng khác nhau như gọi thần phù hộ, thực hành nghi lễ mai táng… Dần dần về sau, một hệ thống lí thuyết được thành lập với sự ảnh hưởng lớn của các người du nhập từ phương Tây. Shang-Shung – được xem là một miền đất phía Tây của Tây Tạng – đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Bôn giáo. Bắt đầu từ thế kỉ 11, Bôn giáo chính thức xuất hiện như một tông phái tự lập. Sự khác biệt chính của giáo phái này với các tông phái Phật giáo tại đây chính là sự gìn giữ, tiếp nối truyền thống của Bôn giáo thời xưa của phái này. Ngày nay, Bôn giáo vẫn còn lưu hành và có nhiều điểm tương đồng với giáo lí của phái Ninh-mã (t: nyingmapa).|Truyền thống Tây Tạng quan niệm rằng, dân Tây Tạng – đặc biệt là nhà vua – được ba nhóm sau đây hộ trì trước khi Phật pháp được truyền sang: 1. Những người theo đạo Bôn, được gọi là Bôn-pô (bonpo); 2. Những thi hào với những bài thơ, bài hát của họ và 3. Những trò chơi, những câu đố đặc biệt. Dần dần, bản phận của các vị Bôn-pô thay đổi, được mở rộng và trong thời gian sau, người ta phân biệt ba thời kì.|»Bôn giáo sơ khởi« là giai đoạn đầu, chưa lập văn tự. Trong thời gian này, các vị Bôn-pô sử dụng những phương tiện khác nhau để »dưới chinh phục ma quỷ, trên cầu chư thiên, ở giữa làm sạch bếp lửa.« Các phương pháp tiên tri như sử dụng dây cầu xin, vấn linh được áp dụng thường xuyên và các lời giải đáp được xem như là quyết định của »Bề trên.«|Với sự giết hại của Tri-gum – một vị vua được nhắc đến trong truyền thuyết – thời »Bôn giáo đổi hướng« bắt đầu. Bản phận của các vị Bôn-pô trong thời này là việc mai táng nhà vua theo đúng nghi lễ. Cũng trong thời gian này, các vị Bôn-pô ở đây bắt mối liên hệ với những Bôn-pô nằm ngoài Tây Tạng, phần lớn xuất xứ từ phía Tây. Giáo lí của họ được mở rộng và hệ thống hoá.|Trong thời »Bôn giáo chuyển biến« hệ thống triết lí của đạo Bôn thâu nhập rất nhiều thành phần của Phật pháp nhưng vẫn giữ những yếu tố truyền thống. Thời gian này trùng hợp với giai đoạn hoằng hoá Phật pháp của hai vị Ðại sư Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh, bắt đầu từ thế kỉ thứ 8 và kéo dài đến thế kỉ thứ 10. Một nhân vật quan trọng của Bôn giáo xuất hiện trong thời gian này, đó là Shen-rab, được nhiều người xem là người chính thống sáng lập Bôn giáo.|Trong thời gian sau, giáo lí căn bản của Bôn giáo được hệ thống hoá và kết tập trong một Ðại tạng vối cấu trúc tương tự như Ðại tạng của Phật giáo Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ). Shen-rab chia giáo lí của đạo Bôn thành chín thừa. Bốn thừa đầu được gọi là »Nhân thừa« (因乘), bốn thừa kế tiếp được gọi là »Quả thừa« (果乘) và song song với dòng Ninh-mã, họ cũng có một hệ thống Ðại cứu kính (t: rdzogchen) riêng biệt.
bôn na già
Puspanaga (skt)—Cây Long Hoa hay Long Thọ, mà dưới gốc nó Đức Phật Di Lặc đã giác ngộ thành Phật—The flowering dragon-tree under which Maitreya is said to have attained enlightenment.
bôn na phạt đàn na quốc
(奔那伐彈那國) Bôn na phạt đàn na, Phạm: Puịđravardhana. Pàli: Puịđra-varddhana. Cũng gọi Bôn đồ bạt đà na quốc, Phân na bà đà na quốc, Bôn đà lâm quốc. Dịch ý: Mãn phú quốc, Mãn tăng quốc, Phúc tăng quốc, Phúc trường quốc. Tên một nước xưa ở miền đông Ấn độ, nằm về phía tây nam nước Ca ma lũ ba. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì ngày xưa nước này có hơn hai mươi ngôi chùa với hơn 3000 vị tăng tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Có trên 100 đền thờ trời, ngoại đạo ở lẫn lộn, đông nhất là ngoại đạo ở trần Ni kiền tử. Về phía tây thủ đô có chùa Bạt thủy bà, trong đó có hơn 700 vị tăng học thuần giáo pháp Đại thừa. Thuở xưa, phần nhiều các bậc thạc học danh tăng ở miền đông Ấn độ đều tập trung ở chùa này. Bên cạnh chùa còn cái nền tháp do vua A dục xây, tương truyền đó là nơi ngày xưa đức Thích tôn nói pháp. Mahàsthàna ở phía bắc nhà ga Bogra thuộc đông Bengal hiện nay là nơi thành cũ của nước này. [X. Tạp a hàm Q.33; kinh Tăng nhất a hàm Q.22; kinh A dục vương Q.3; T. Watters: On Yuan Chwang, vol.II; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India; N. L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].
bôn na phạt đơn na
Pundra-vardhana (skt)—Một vương quốc cổ trong xứ Bengal—An ancient kingdom and city in Bengal.
bôn nhưỡng sá la
Punyasala (skt)—Nhà tế bần hay nơi trú ngụ cho người
bôn tử
Cái bát sắt bé và nông. Là tên gọi chung cho ba loại bát lớn, nhỏ, vừa. Hình dáng Bôn tử hơi khác với ứng lượng khí (đầu bát) mà giống như cái chén thông thường. Theo truyền thuyết, khi đức Thế tôn thành đạo, ngài nhận bốn chiếc bát do Bốn vua trời dâng cúng, chồng xếp lên nhau thành một bát, ngoài có bốn cái môi. Ngày nay, bôn tử là ba cái bát nhỏ lồng vào trong ứng lượng khí (bát chính) làm thành bốn cái môi: đó là theo sự tích xưa của đức Thế tôn. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Thiền lâm tượng khí tiên khí vật môn].
bôn đồ lợi (ca)
Pundrika (skt). 1) Bạch liên hoa—The white lotus. 2) Địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục lạnh lớn: The last of the eight great cold hells.
bù lại
To off-set—To make up for—To recover.
bù trừ
To compensate.
bù xù
Untidy.
bùa
Fu-lu (C).
; Talisman.
bùa mê
Charm.
bùa yêu
Love potion.
Bùi Hưu
(裴休, Haikyū, 797-870): xuất thân Văn Hỷ (聞喜), Hà Đông (河東, Tỉnh Sơn Tây; trong Đường Thư [唐書] cho là người vùng Tế Nguyên [濟源], Mạnh Châu [孟州]), tự là Mỹ (美), được gọi là Hà Đông Đại Sĩ (河東大士). Ông vốn là quan lại dưới thời nhà Đường, nhưng thường đến tham học Hoa Nghiêm với Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) dưới hình thức cư sĩ. Bên cạnh đó, ông còn cung thỉnh Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運) đến Long Hưng Tự (龍興寺) và Khai Nguyên Tự (開元寺), 2 ngôi chùa nơi ông nhậm chức, để ngày đêm tham học, cho nên ông thông triệt tâm ấn chư tổ và bác thông cả giáo tướng. Ông viết cuốn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm (勸發菩提心), biên tập ngữ lục của Hoàng Bá gọi là Truyền Tâm Pháp Yếu (黃檗傳心法要) và viết lời tựa cho các trước tác của Khuê Phong. Ông đã từng làm các chức quan như Binh Bộ Thị Lang, Trung Thư Môn Hạ Chương Sự, Tuyên Võ Quân Tiết Độ Sứ và nhậm chức ở những địa phương như Chiêu Nghĩa (昭義), Hà Đông (河東), Phụng Tường (鳳翔), Kinh Nam (荆南). Ông qua đời vào năm thứ 11 niên hiệu Hàm Thông (咸通), hưởng thọ 74 tuổi.
; 裴休; C: péixīu; J: haikyū;|Một vị Cư sĩ có duyên lớn với cuộc đời hoằng hoá của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và là người biên tập tác phẩm Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu.|Năm Hội Xương thứ hai đời Ðường Vũ Tông (842), ông giữ một chức quan ở huyện Chung Lăng (nay là huyện Tiến Hiền, tỉnh Giang Tây), thỉnh Sư về mở pháp hội tại chùa Long Hưng. Năm Ðại Trung thứ hai đời Ðường Tuyên Tông (848), cư sĩ đổi về huyện Uyển Lăng (nay là huyện Nghi Thành, tỉnh An Huy), lại thỉnh Sư về đó mở pháp hội tại chùa Khai Nguyên. Trong hai lần pháp hội này, ông đã ghi chép lại những lời dạy của Sư mà ngày nay được biết dưới tên Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Ngoài ra, ông cũng đến tham học với các vị danh tiếng cùng thời như Khuê Phong Tông Mật và Quy Sơn Linh Hựu.
bùi hưu
Haikyu (J), Peihsiu (C), P'ei Hsiu (C), Haikyu (J)Tên một vị sư.
; (裴休) (797-870) Ông là người huyện Tế nguyên, Mạnh châu (Hà nam), đời Đường, cũng có thuyết cho là người huyện Văn hỉ tỉnh Hà nam (Văn hỉ Sơn tây). Ông đậu Tiến sĩ khoảng năm Trường khánh (812-824). Khoảng năm Đại trung (847-859), ông được quan Binh bộ thị lang tiến cử làm Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Sau giữ chức Tiết độ sứ Tuyên vũ quân, rồi lần lượt làm Tiết độ Chiêu nghĩa, Hà đông, Phượng tường, Kinh nam v.v... Ông là người điềm đạm, phong độ nhàn nhã, hành xử nghiêm túc, vua Tuyên tông thường gọi ông là chân Nho giả (nhà Nho chân chính). Ông giỏi văn chương, viết chữ rất ngay thẳng đẹp đẽ. Ông vốn tin Phật giáo, theo ngài Khuê phong Tông mật học Hoa nghiêm. Ngài Tông mật soạn kinh sớ thường nhờ ông viết tựa. Ông từng tiếp ngài Hoàng bá Hi vận ở Uyển lăng, cùng nhau bàn về đạo Thiền, ông ghi những lời Thiền sư Hoàng bá nói rồi soạn thành Uyển lăng tập, lưu hành rất rộng rãi. Đời vua Vũ tông và Tuyên tông, Phật giáo gặp đại nạn mới, với tư cách một đại thần trọng yếu, ông đứng ra bênh vực Phật giáo, nhờ thế, chỉ trong vài năm, Phật giáo được hưng thịnh trở lại. Từ trung niên về sau, ông ăn chay, thắp hương tụng kinh, người đời gọi ông là Đại sĩ Hà đông. Ông có các tác phẩm: Khuyến phát bồ đề tâm văn 1 quyển, Truyền tâm pháp yếu 1 quyển (Biên tập ngữ yếu của Thiền sư Hi vận). [X. Tống cao tăng truyện Q.6, Q.11, Q.20, Q.25; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, Q.8, Q.9, Q.12, Q.13; Cư sĩ truyện Q.13; Đường thư liệt truyện 107].
bùi ngùi
Melancholy—Sad.
bùi phất lược
Vaipulya (skt)—See Phương Quảng, and Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh in Vietnamese-English Section.
bùi tai
Pleasant to hear.
bùn
Mud.
bùn lầy
Muddy.
bùng nổ
To break out.
búa rìu
Hammer and hatchet.
bút
Cây viết—A pen.
bút ký
Note.
bút pháp thâm thúy
Abstruse manner.
bút tháp
Tên của một ngôi chùa, tên khác của chùa Ninh Phúc, chùa tọa lạc về hướng tây của thôn Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội chừng 17 dậm. Đây là một trong những ngôi chùa cổ trong tỉnh Hà Bắc. Chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple, another name for Ninh Phúc Tự, located in the west of Bút Tháp hamlet, Đình Tổ village, Thuận Thành district, about 17 miles from Hanoi. This is one of the ancient temples in the area. It has been rebuilt so many times.
bút thọ
1) Ghi lại: To record. 2) Nhận được bằng văn bản: To receive in writing. 3) Viết chánh tả: Write down from dictation.
bút thụ
(筆受) Tức là ở trong trường sở dịch kinh, người cầm bút dùng Hán văn ghi chép những văn kinh mà người dịch đã dịch từ nguyên văn ra. Bởi vì kinh Phật được truyền sang Trung quốc đều bằng tiếng Phạm, cần phải phiên dịch ra Hán văn thì người Trung quốc mới có thể đọc và hiểu được. Nhưng người thông thạo chữ Hán chưa chắc đã giỏi tiếng Phạm, và ngược lại, người biết tiếng Phạm chưa chắc đã hiểu Hán văn cho nên cả hai phải phối hợp với nhau mới thành việc được.[X. Sự vật kỉ nguyên Q.7].
bút đàm
Pen conversation.
băng ca la thiên
Xem Tần già la.
băng thượng nhiên hoả dụ
(冰上燃火喻) Dụ đốt lửa trên nước đá. Ví dụ hiển bày việc phàm phu nhờ niệm danh hiệu của đức Phật A di đà mà được vãng sinh. Trong Vãng sinh luận chú quyển hạ, ngài Đàm loan – một vị đại đức của Tịnh độ giáo Trung quốc – sau khi giải thích rõ về mười bảy thứ y báo trang nghiêm, khuyên rằng, người nào sinh niềm tin trong sạch chân thực, thì chắc chắn sẽ sinh về Tịnh độ, chứng được lí sinh tức không sinh. Ngài Đàm loan lại sợ rằng người đời sinh ngờ là phàm phu trụ nơi thấy biết thật có sinh mà không được vãng sinh; tức dù có vãng sinh, cũng không suốt trí vô sinh, cho nên ngài mới đặt ra ba thí dụ để nói rõ lí vãng sinh : 1. Ví như đem ngọc ma ni trong sạch bỏ vào nước đục, nước ấy trong ngay. Cũng thế, phàm phu tuy có tội nhơ đục trong vô lượng kiếp sống chết, nhưng nếu xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà cũng có thể vãng sinh. 2. Ví như dùng lụa mầu vàng sẫm gói ngọc ma ni rồi để vào trong nước, thì nước sẽ hiện mầu vàng. Cũng thế, nếu phàm phu đã được vãng sinh, thì cũng nhờ công đức của cõi Tịnh độ mà không dấy sinh mê lầm thấy có sinh. Thấy có sinh (Kiến sinh), nghĩa là người mong cầu vãng sinh, hoặc đã được vãng sinh, do bám dính vào tình cảnh thù thắng của sự vãng sinh ấy, nên không thấu suốt được lí sinh tức không sinh. 3. Ví dụ đốt lửa trên nước đá. Tức gom cả hai thí dụ trên lại mà giải thích chung. Theo Tịnh độ luận chú quyển hạ nói, ví như đốt lửa trên nước đá, lửa mạnh thì nước tan, nước tan thì lửa tắt. Cũng thế, ví như người hạ phẩm vãng sinh, tuy không biết lí pháp tính không sinh, nhưng chỉ nhờ sức xưng niệm danh hiệu Phật A di đà, khởi ý vãng sinh, nguyện sinh Tịnh độ cực lạc. Lại vì Tịnh độ cực lạc vốn là cõi không sinh, người vãng sinh đến đó thì lửa thấy có sinh tự nhiên tắt. Qua các thí dụ trên đây có thể biết, lòng tin nguyện sinh là do niệm danh hiệu Phật A di đà mà khởi, còn tình thức của người vãng sinh tuy bám dính vào cái thấy biết thực có sinh, nhưng vẫn có khả năng sinh vào thế giới không sinh. Bởi vì, một khi đã được vãng sinh, thì nhờ công đức của cõi Tịnh độ liền có thể dập tắt ngọn lửa tình thức thấy có sinh mà thành tựu được trí không sinh. Thí dụ này đã trở thành một trong những luận đề quan trọng của Tịnh độ chân tông Nhật bản khi bàn rộng về vấn đề vãng sinh.
băng tưởng
(冰想) Quán tưởng băng giá cứng chắc. Đây là một phương tiện quán để vào chính quán, nhờ phép quán này có thể tiến vào chân quán của thế giới cực lạc. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói : Thấy nước lắng trong, phải thấy cho rõ ràng, không để ý phân tán. Thấy nước rồi, nên khởi băng tưởng. Thấy băng cứng sáng choang, thì tưởng đó là lưu li.
băng yết la thiên
Xem Tần già la.
; (冰揭羅天) Trời Băng yết la. Băng yết la, Phạm: Piígala. Là con cưng của thần Quỉ tử mẫu Ha lí để (Phạm:Hàrìtì). Cũng gọi Băng ca la thiên, Băng nga la thiên, Băng nghiệt la thiên, Tất lí dựng ca thiên, Băng yết la thiên đồng tử. Là một trong hai mươi vị trời bày ở phía nam (mé bên mặt của viện Ngoài trong hội Thành thân trên Hiện đồ Kim cương giới mạn đồ la Mật giáo). Chủng tử của vị trời này là (la), hình tam muội da là ngọn lửa. Đại dược xoa nữ hoan hỉ mẫu tinh ái tử thành tựu pháp (Đại 21, 289 thượng) chép: Phép khắc tượng Tất lí dựng ca, lấy hương chiên đàn trắng nhẵn nhụi, dài sáu ngón hoặc một gang tay, nhờ thợ giỏi chạm trổ thành hình tượng đồng tử, (...) lấy nhiều thứ hoa rải lên đàn, cháo sữa, quả ngọt, cơm sữa và hoan hỉ đoàn v.v…... cúng dường đúng như pháp, đốt hương trầm thủy, đối trước tượng ấy, tụng đủ mười vạn biến đà la ni, thì chắc chắn Ái tử Tất lí dựng ca sẽ hiện thân đến. Nếu nhận giữ phép đà la ni này, thì tất cả quỉ thần ác không quấy phá được, mà Tất lí dựng ca lại hiện thân làm bạn với người trì tụng, và những điều mong cầu đều được như ý. Về hình tượng của vị trời này, theo Ái tử thành tựu pháp nói, thì trên chỏm đầu có năm búi tóc đỏ tía, tướng tốt tròn đầy, nhiều chuỗi anh lạc làm đẹp thân hình, ngồi xếp bằng trên lá sen. Tay phải cầm một quả tốt lành, làm ra dáng như đang ban cho người, tay trái thõng xuống ngửa bàn tay hướng ra ngoài, năm ngón duỗi thẳng xuống (đây là tay mãn nguyện). Nhưng theo kinh Băng yết la thiên đồng tử nói, thì tay trái cầm quả, tay phải thõng xuống, bàn tay hướng ra ngoài làm tay mãn nguyện. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.trung; Hiền kiếp thập lục tôn; Kim cương giới thất tập Q.hạ; Đồ tượng sao Q.hạ].
băng yết la thiên đồng tử kinh
Piṅgala sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (冰揭羅天童子經) Có 1 quyển. Ngài Bất không đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung trình bày về phép tụng niệm, phương pháp tạc tượng, phép Đà la ni và Ấn khế v.v... của Băng yết la thiên đồng tử.
bĩ thái
Misfortune and fortune.
bĩ vận
Bad luck—Misfortune.
bưng
To carry with both hands.
bưng mắt
To blindfold—To blind the eyes.
bưng tai
To stop the ear.
bước
Step—Pace.
bước dài
To walk with big strides.
bước lui
To step back.
bước lên
To step up.
bước mau
To hasten—To quicken.
bước một
Step by step.
bước ngắn
Short step.
bước ra
To step out.
bước thong thả
To step leisurely.
bước thấp bước cao
To limp.
bước tới
To step forward.
bước xuống
To step down.
bước đầu
To be preliminary.
bướng
To be stubborn.
bạ xà tử tỳ kheo
Vṛjiputra-bhikṣu (S)Tên một vị sư.
bạc
Kaladhūta (S), Silver.
; 1) Bạc hà: The herb mint. 2) Khinh bạc: To slight—To despite. 3) Mỏng: Thin. 4) Nghèo: Poor. 5) Rách rưới: Shabby.
bạc ca phạm
Bạc Già Phạm—Thế Tôn—World-honoured—See Bhagavat in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bạc chứng
Sự chứng đắc nông cạn—Shalow insight, weak in mystic experience.
; (薄證) Chỉ sự chứng ngộ nông cạn mỏng manh. Ma-ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 46, 99 hạ), nói: Đoan tâm chính quán, mới chứng được một chút Thiền mỏng manh đã lấy làm mừng, vậy mới thấy một chút điều ác có lấy làm lo không?
Bạc Câu La
(s: Vakkula, Bakkula, Bakula, Vakula, p: Bakkula, Bākula, 薄拘羅): còn gọi là Bạc Cự La (薄炬羅), Bạc Câu La (薄俱羅), Ba Cưu Lãi (波鳩蠡), Bà Câu La (婆拘羅), Ba Câu Lô (波拘盧), Phược Củ La (縛矩羅), v.v. Hán dịch là Thiện Dung (善容), Vĩ Hình (偉形), Trùng Tánh (重姓). Pháp Hoa Văn Cú (法華文句, tức Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú [妙法蓮華經文句, Taishō No. 1718]) quyển 2 cho biết rằng: “Bạc Câu La giả, thử phiên Thiện Dung, hoặc Vĩ Hình, hoặc Đại Phì Thịnh, hoặc Lăng Đặng, hoặc Mại Tánh; nhiên nhi sắc mạo đoan chánh cố ngôn Thiện Dung dã; niên nhất bách lục thập tuế vô bệnh vô yểu, hữu ngũ bất tử báo (薄拘羅者、此翻善容、或偉形、或大肥盛、或楞鄧、或賣性、然而色貌端正故言善容也、年一百六十歲無病無夭、有五不死報, Bạc Câu La, Tàu dịch là Thiện Dung, hoặc Vĩ Hình, hoặc Đại Phì Thịnh, hoặc Lăng Đặng, hoặc Mại Tánh; tuy nhiên vì có sắc mạo đoan chánh nên gọi là Thiện Dung; sống đến 160 tuổi, không bệnh, không chết yểu, nhờ quả báo của 5 điều bất tử).” Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 22 lại giải thích rằng: “Bạc Câu La, Trung Quốc dịch là Thiện Dung, do trì giới không sát sanh mà được 5 điều bất tử.” Kinh Bạc Câu La (薄拘羅經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō No. 26) quyển 8 cho hay rằng: “Ngã ư thử chánh pháp, Luật trung học đạo dĩ lai bát thập niên, vị tằng hữu bệnh, nãi chí đàn chỉ đầu thống giả, vị tằng ức phục dược, nãi chí nhất phiến Ha Lê Lặc (我於此正法、律中學道已來八十年、未曾有病、乃至彈指頃頭痛者、未曾憶服藥、乃至一片訶梨勒, ta ở trong chánh pháp, Luật, học đạo đến nay đã 80 năm, mà chưa từng có bệnh, cho dù là đau đầu trong khoảng thời gian một cái khảy móng tay; chưa từng uống thuốc dù là một miếng Ha Lê Lặc).” Vì trong thời quá khứ của Tỳ Bà Thi Phật (s: Vipaśyin-buddha, p: Vipassin-buddha, 毘婆尸佛), Tôn Giả đã từng lấy thuốc Ha Lê Lặc dâng cúng cho một vị tăng chứng quả Bích Chi Phật. Từ đó đến nay, trãi qua 91 kiếp, ông đều được phước báo không bệnh tật, và không chết yểu. Hơn nữa, nhân hành trì giới không sát sanh, ông được quả báo 5 điều bất tử (không bị lửa thiêu đốt cháy chết, nước sôi không làm cho phỏng chín thân, không bị chết chìm trong nước, không bị cá cắn, không bị đao chém thây). Tương truyền lúc nhỏ, bà kế mẫu đã từng rắp tâm sát hại ông 5 lần mà không thành (tức 5 điều bất tử), do vì đời trước ông đã từng tinh tấn hành trì giới không sát sanh. Sau khi lớn lên xuất gia, chỉ trong 3 ngày, ông chứng quả A La Hán. Ông không bị quả báo khổ đau vì bệnh tật, thọ 160 tuổi, được xưng tụng là Trường Thọ Đệ Nhất. Theo A Dục Vương Kinh (阿育王經), A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) là người thâm tín Phật pháp, thi hành nhân chính, thống nhất thiên hạ, kiến lập vương triều Khổng Tước (孔雀). Có hôm nọ, nhà vua cùng với Tôn Giả Ưu Ba Cấp Đa (s: Upagupta, 優波笈多) tham bái các ngôi tháp, tiến hành bố thí cúng dường. Khi đến bên tháp của Bạc Câu La, Tôn Giả Ưu Ba Cấp Đa thưa nhà vua rằng đây là tháp của Bạc Câu La, nhà vua nên cúng dường. A Dục Vương bèn hỏi rằng vị Tôn Giả này có công đức thù thắng nào mà đáng cúng dường như vậy ? Ưu Ba Cấp Đa trả lời rằng vị Tôn Giả này là người không có bệnh tật số một trong các đệ tử của Phật, yên lặng tu hành, thiểu dục tri túc. Nghe vậy, nhà vua lấy một đồng tiền cúng dường nơi tháp. Tuy nhiên, đồng tiền kia lại bay đi, trở lại bên chân của A Dục Vương. Khi ấy, nhà vua bảo rằng: “Vị A La Hán này có năng lực công đức thiểu dục, cho đến khi chứng quả Niết Bàn mà vẫn không thọ nhận một đồng tiền.”
bạc câu la
Bakkula (S), Vakula (S)Thiện dung, Mại Tánh, Trọng Tánh, Bạc LaĐệ tử La hán của Phật.
; Vakkula (S)
; See Vakkula in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (薄拘羅) Phạm: Vakkula, Bakkula, Bakula, Vakula. Pàli: Bakkula, Bàkula. Là một trong các đệ tử của Phật. Còn gọi là Bà Câu La, Ba Câu Lư, Phạ Củ La, Bạc La. Dịch ý là Trọng Tính, Mại Tính, Thiện Dung. Lúc nhỏ, mẹ kế (dì ghẻ) mưu sát năm lần mà không thành. Sau khi xuất gia, suốt đời sư không đau ốm, sống một trăm sáu mươi tuổi, đời gọi là Trường thọ đệ nhất. [X. Trung A Hàm Q.8 kinh Bạc Câu La; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.13; luận Đại Trí Độ Q.22, Q.29; Pháp Hoa kinh văn cú Q.2; Trung Luận Sớ Q.10 phần cuối].
bạc già bà
Bharnaua (S).
bạc già chí tôn
Ratnakara (S) Buddha.
bạc già phạm
Xem Thế tôn.
; Bhagavat (S) Buddha.
; Bhagavan or Bhagavat (skt)—Thế Tôn—World-honoured—See Bhagavat in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (薄伽梵) Phạm:Bhagavat, Pàli: Bhagavà hoặc Bhagavant. Là một trong mười hiệu của đức Phật, một trong hiệu chung của chư Phật. Còn gọi là Bà già bà, Bà già phạm, Bà nga phạ đế. Dịch ý là Hữu đức, Năng phá, Thế tôn, Tôn quí. Tức hàm ý là người có đức được đời tôn trọng. Tại Ấn Độ, từ này được dùng để tôn xưng các vị thần có đức hoặc các bậc Thánh giả, trong trường hợp ấy, nó có đầy đủ sáu nghĩa: tự tại, li dục, cát tường, chính nghĩa, danh xưng và giải thoát. Trong Phật giáo, đó là từ tôn xưng đức Phật. Lại vì đức Phật có đầy đủ các đức như: có đức, hay phân biệt, được mọi người tôn kính, có thể phá trừ phiền não, cho nên, Bạc già phạm cũng có đủ bốn ý nghĩa là: có đức, khéo phân biệt, có danh tiếng, và có khả năng phá trừ các phiền não. Lại cứ theo Phật địa kinh luận, quyển 1 chép, thì Bạc già phạm có đủ sáu nghĩa là: tự tại, xí thịnh, đoan nghiêm, danh xưng, cát tường và tôn quí. Ngoài ra, cũng có người đem chép chung Phật và Bạc già phạm làm một mà gọi là Phật bạc già phạm. [X. luận Đại trí độ Q.2; Thanh tịnh đạo luận Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.20]. (xt. Thế Tôn, Bà Già Bà).
bạc già phạm ca
(薄伽梵歌) Phạm: Bhagavad-gìtà. Còn gọi là Thánh bà già phạm ca. Dịch ý là Thế Tôn Ca. Là thơ tôn giáo của Ấn Độ cổ đại. Tức là bộ phận trong Đại tự sự thi (Phạm: Mahàbhàrata, dịch âm: Ma ha bàla đa) từ chương 25 đến chương 42 trong quyển 6 phẩm Tì tu ma.Tác giả cũng như tác phẩm được viết vào thời đại vào đều không rõ, người ta chỉ có thể suy định nó đã được viết vào khoảng thế kỉ thứ I Tây lịch. Đây là các bài ca Thần Thánh, là Thánh kinh của phái Tì thấp nô thuộc Ấn Độ giáo, mà đến nay, tín đồ Ấn Độ giáo trên toàn quốc đều đọc tụng. Nội dung chủ yếu tiếp thu tư tưởng triết học và quan niệm luân lí của ba phái Số luận, Du già và Phệ đàn đa, ứng dụng phương pháp tu luyện Du già, khiến cho linh hồn cá thể là Ngã và linh hồn vũ trụ là Phạm kết hợp với nhau, để đạt đến cảnh giới tối cao (Niết bàn) mà thoát khỏi luân hồi sinh tử. Tức dựa vào cuộc đối thoại giữa vương tử A Nhĩ Nhu Na (Phạm: Arjuna) và hóa thân của Tì Thấp Nô Là Cát Lật Sắt Nô (Phạm: Kfwịa) mà nhấn mạnh hành vi không chấp trước là con đường duy nhất mà loài người nên theo, tức nương vào chính trí mà triển khai tư tưởng trí, hành hợp nhất, coi đó là con đường giải thoát vậy. Mà nếu muốn tu đạo giải thoát một cách dễ dàng, thì phải tuyệt đối tin yêu (Phạm:bhakti) thần duy nhất, thuyết này là nguồn gốc phát triển của phái Tì Thấp Nô. Sự phát triển tư tưởng triết học của Ấn Độ giáo, thường là do hình thức chú thích các bài ca Bạc già phạm. [X. F. Edgerton: The Bhagavad-Gìtà, 2 vols., 1945; Thánh bà già phạm ca (Cao nam thuận thứ lang)].
bạc già phạm tháp phái
(薄伽梵塔派) Phạm: Bhàgavata-sampradàya. Là một chi phái trong phái Tì Thấp Nô thuộc Ấn Độ giáo. Nói theo nghĩa rộng, chỉ phái Tì Thấp Nô tôn xưng thần Tì Thấp Nô là Bạc già phạm (Phạm:Bhagavat, thế tôn). Nói theo nghĩa hẹp, thì là phái Phan Ca Lạp Đóa Lạp (Phạm:Pàĩcaràtra) đặc biệt chỉ các phái lấy các bài ca tán Phạm y khải na tát (Phạm:Vaikhànasa-saôbhità) làm căn cứ. Phái này noi theo nghi thức tế tự trong Phệ đà, thừa nhận Tì Thấp Nô và Thấp Bà là một thể tính, đồng thời, thừa kế Nhất nguyên luận của Thương yết la, nhấn mạnh thuyết tín ái (bhakti). Hiện còn sinh hoạt tại nam Ấn Độ. (xt. Tì Nữu Thiên Giáo).
bạc già thinh
Xem Thế tôn.
bạc hạnh
Bad luck—Ill luck.
bạc khư la
Bactria, Bukhara, or Kusana (skt)—Tên nước Nguyệt Chi, nằm về phía tây bắc của Ấn Độ, cũng như dãy Hy Mã Lạp Sơn—Name of Yueh-Chih, a country north-west of India and Himalayas.
bạc la
Xem Bạc câu La.
bạc màu
Discoloured.
bạc mệnh
Bad destiny.
bạc nghĩa
Ungrateful—Thankless-Unthankful.
bạc phúc
(薄福) Phạm: Alpa-puịya. Có nghĩa là đức mỏng, phúc ít. Kiếp này phúc đức mỏng manh là do đời trước làm ác nhiều, làm thiện ít, đời trước không gốc lành, cho nên khổ nhiều, vui ít, không được thấy, nghe Tam Bảo. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 10 (Đại 10, 52 thượng), nói: Loài hữu tình ngu muội, tạp nhiễm lo sợ lớn, khổ nhiều mà vui ít, vì phúc đức mỏng manh. [X. kinh Đại Bát Niết bàn (bản Nam) Q.9].
bạc phước
Alpapuṇya (S).
; Unhappy lot—Unfortunate—Poor condition due to poor karma—Ill-luck.
Bạc phước thiểu đức 薄福少徳
[ja] ハクフクショウトク bakufukushōtoku ||| "Shallow in merit and weak in virtue." => Phước mỏng đức ít.
bạc phận
Unhapphy fate.
bạc tình
Faithless-Unfaithful.
bạc đen
White and black—Changing
bạc đãi
To ill-treat—To maltreat.
bạc đề
Bhaddiya (P)Ông là một trong năm người Bà la môn cùng tu khổ hạnh với đức Phật như: Kiều trần Như (Kodanna), Bạc đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Vappa), Ma ha Nam (Mahanama) và ác Bệ (Assaji). Ông cũng là một trong những đệ tử đầu tiên và đắc quả A la hán đầu tiên của đức Phật.
bạc địa
Tanu-bhūmi (S)Vị Dục Địa, Nhu Nhuyến ĐịaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã.
; Quốc độ nghèo nàn và đầy trắc trở—Poor land, i.e. the world, as full of trouble.
; (薄地) I. Bạc Địa. Ý là địa vị thấp kém hèn mọn. Chỉ địa vị phàm phu hèn kém. Trong Tịnh tâm giới quán pháp quyển hạ của ngài Đạo Tuyên (Đại 45, 826 hạ), nói: Phàm phu bạc địa, thân thối (thúi) quê mùa, quả báo hèn hạ. Thông thường dẫn dụng những từ ngữ như Bạc địa phàm phu, Bạc địa để hạ phàm phu. Bạc có ý bức, vì phàm phu ở trong địa vị luôn bị các khổ đau và phiền não bức bách, cho nên gọi là Bạc địa. Lại bạc có ý là bác, bởi vì địa vị phàm phu quá nhiều, quá rộng, cho nên gọi là Bạc địa (Bác địa). Ngoài ra, tông Tịnh độ đem chia địa vị phàm phu làm ba loại là Nội phàm vị, Ngoại phàm vị và Bạc địa, tức Tam hiền vị gọi là Nội phàm, Thập tín vị gọi là Ngoại phàm, trở xuống gọi là Bạc địa. II. Bạc Địa. Là một trong Tam thừa cộng Thập địa. Thập địa là: Càn tuệ địa, Tính địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Li dục địa, Dĩ tác địa, Bích chi phật địa, Bồ tát địa, Phật địa. Trong địa vị này (Bạc địa), người ba thừa quán Tư hoặc tức không, phát sáu trí vô ngại, dứt trừ sáu phẩm trong chín phẩm hoặc thuộc Dục giới, do đó mà dục hoặc trở nên nhẹ, mỏng, cho nên gọi là Bạc địa. Địa vị này cũng giống như quả Tư-đà-hàm của Tiểu thừa. [X. luận Đại trí độ Q.49, Q.75].
Bạc 薄
[ja] ハク haku ||| (1) Small, trifling, light, insipid, thin, slight. Shallow, shallowminded. (2) Poor, mean, stingy, contemptuous, careless. (3) To reach to, to extend to. (4) A curtain or screen. (5) To gather. (6) Initial particle ah, so. => 1. Nhỏ, tầm thường, nhẹ mỏng, nhạt, mảnh, yếu ớt. Nông cạn, tâm ý cạn cợt. 2. Nghèo, bần tiện, keo kiệt, tầm thường, không để ý. 3. Đến, đến mức. 4. Bức màn che hay bình phong. 5. Gom lại. 6. Tiền tố: À! Vậy!
Bạc-ca-phạm 薄迦梵
[ja] バガボン hakukabon ||| A variant rendering of 薄伽梵. => Tên gọi khác của Bạc-già-phạm 薄伽梵.
Bạc-câu-la 薄拘羅
[ja] バックラ Bakkura ||| Skt. Vakkula, Bakkula, Bakula, Vakula; Pali Bakkula, Bākula. One of the Buddha's direct disciples, who was known for his ability to overcome disease and live a long life of 160 years. 〔法華經 T 262.9.01c26〕 (j: Bakkura; s: Vakkula, Bakkula, Bakula, Vakula; p: Bakkula, Bākula). => Một trong những đệ tử của Đức Phật, vị nổi tiếng có năng lực hàng phục bệnh tật và sống đến 160 tuổi.
Bạc-già 薄伽
[ja] バガ baga ||| See next 薄伽梵. => Xem Bạc-già-phạm 薄伽梵.
Bạc-già-phạm 薄伽梵
[ja] バガボン bagabon ||| A transliteration of bhagavān or bhagavat, meaning "holy one" or "worldhonored one", the Buddha. One of the ten epithets of the Buddha. According to Hsüantsang, bhagavat has six meanings: one who possesses auspicious marks; one who destroys illusion and evil; one who is provided with such auspicious virtues of freedom as the Law, fame, good marks, desire and intelligence; one who has completely understood the Four Noble Truths; one who accepts and maintains various excellent practices and one who has abandoned the wandering of transmigration. => Phiên âm từ chữ bhagavān hoặc bhagavat, có nghĩa là 'Đấng tôn quý' hoặc 'Thế tôn', Đức Phật. Là một trong 10 tôn hiệu của Đức Phật. Theo ngài Huyền Trang, Bạc-già-phạm có 6 nghĩa: 1. Người có được các tướng cát tường. 2. Người đã tiêu trừ sạch mọi phiền não nhiễm ô. 3. Người có đủ những đức tính tốt, không vướng bận bởi danh vọng, tiếng khen, tham dục, và thế trí. 4. Người hiểu rõ về Tứ diệu đế. 5. Người biết thọ trì các thiện pháp. 6. Người không còn bị luân hồi sinh tử.
Bạc-la 薄羅
[ja] バクラ Bakura ||| Bakkula; see 薄拘羅. =>(s: Bakkula); Xem Bạc-câu-la 薄拘羅.
bạch
Avadata (S), White Màu trắng, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; White, pure, clear; made clear, inform.
; 1) Màu Trắng: White. 2) Thanh Khiết: Pure. 3) Trong Sạch: Clean. 4) Bộc Bạch: Làm cho rõ ràng—To make clear. 5) Tác Bạch: To inform to a higher authority or monk.
bạch báo
Pure reward, or the reward of a good life.
; Quả báo của cuộc sống thiện lành—Pure reward or the reward of a good life.
; (白報) Chỉ quả báo trong sạch nhờ bạch nghiệp (nghiệp thiện) mà cảm được. Tương đối với hắc báo. Bạch nghiệp cảm được bạch báo, tức quả báo như ý; hắc nghiệp (nghiệp ác) cảm được hắc báo, tức quả báo bất như ý.
bạch bạch nghiệp
(白白業) Thông thường chỉ thiện nghiệp ở Sắc giới. Còn gọi là Bạch bạch báo nghiệp, Bạch bạch dị thục nghiệp (Phạm: Karmaô suklaô zukla-vipàkaô, Pàli: Kammaô zukkaô sukka-vipàkaô). Là một trong bốn nghiệp (hắc hắc dị thục nghiệp, bạch bạch dị thục nghiệp, hắc bạch hắc bạch dị thục nghiệp, phi hắc phi bạch dị thục nghiệp); bốn loại nghiệp này y cứ vào nghiệp thiện và bất thiện mà khu biệt bốn loại nghiệp quả báo ứng. Bạch bạch nghiệp là nghiệp thứ hai trong bốn nghiệp, vì tính chất của nghiệp này là thiện, không lẫn phiền não ô uế và xấu ác, nên quả báo cũng thanh tịnh, tức nhân là thiện nên cảm quả vui, nghĩa là thiện thì có thiện báo. Vì nghiệp trong trắng, dị thục (quả báo) cũng trong trắng, cho nên gọi là Bạch bạch nghiệp (nghiệp trắng phau). Trong ba cõi, thiện nghiệp ở cõi Dục phần nhiều có lẫn lộn các pháp xấu ác, ô uế, nên thông thường không được gọi là bạch bạch nghiệp; còn thiện nghiệp ở cõi Vô sắc có được gọi là bạch bạch hay không thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo luận Thành thực nói, thì người và trời ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và một phần cõi Dục, có thể cảm được những chỗ không khổ não, tức là bạch bạch nghiệp; cứ theo đó thì thiện nghiệp ở cõi Vô sắc cũng có thể gọi là Bạch bạch nghiệp. Nhưng luận Đại tì-bà-sa quyển 114 có chép hai thuyết, một thuyết cho rằng, thiện ở cõi Vô sắc tuy cũng được gọi là bạch nghiệp, nhưng vì cõi Vô sắc còn thiếu Trung hữu, sắc nghiệp, hai nghiệp thân, khẩu, nên tuy có thể chiêu cảm dị thục, song không thể gọi là bạch dị thục, cho nên không được nhận là Bạch bạch nghiệp. Còn một thuyết thì bảo thiện ở cõi Vô sắc cũng gọi là Bạch bạch. [X. luận Câu xá Q.16; luận Thành thực Q.8; luận Thuận chính lí Q.41]. (xt. Tứ Nghiệp).
Bạch bảo khẩu sao 白寶口鈔
[ja] ビャクホウクショウ Byakuhokku shō ||| The Byakuhokku shō; (Record of the Precious Spoken Tradition). 167 fasc. in total [fasc. 1-95: TZ.3119.6.343ff, fasc. 96-167: TZ.3119.7.1-385], compiled by Ryōson 亮尊 in the 13th century as a record of the teachings passed down by his master Ryōzen 亮禪 (1258-1341). It employs a question-and-answer format, as indicated by the "precious spoken tradition" of the title. Each divinity is fully described from named textual sources, giving their Sanskrit name 梵號, esoteric name, bīja, samāya form 三形, procedure for visualising the bodhimaṇḍa 道場觀, iconographic features, mantra, and so on. It emphasises iconography and symbolism in the context of the dual-maṇḍala system . => (j: Byakuhokku shō; e: Record of the Precious Spoken Tradition). Toàn thể gồm 167 quyển, do Lượng Tôn (j: Ryōson 亮尊) sưu tập vào thế kỷ thứ 13, là ngữ lục được truyền lại bởi sư phụ là Lượng Thiền (j: Ryōzen 亮禪; 1258-1341). Sách dùng lối hỏi đáp, như được ghi là 'lời dạy quý báu' (bảo khẩu寶口) ở đề sách. Mỗi thánh hiệu đều được ghi nguyên văn nguồn gốc và tên bằng tiếng Sanskrit, danh hiệu bí truyền, tam hình (s: samāya 三形), nghi thức để quán tưởng đạo tràng, tranh tượng, chân ngôn v.v...Nhấn mạnh vào tranh ảnh và biểu tượng trong phạm vi hệ thống Lưỡng bộ mạn-đà-la兩部曼荼羅.
bạch chiến
Cuộc chiến không có vũ khí—A fighting without weapons.
bạch chiết
Giết bằng tay không—Killing with bare hands.
bạch chuỳ
(白槌) Đánh kiểng để thông báo công việc. Bạch, tức là cáo bạch, là thông báo, là tâu bày. Trùy, là một khí cụ (như cái kiểng chẳng hạn) trong các viện luật, thông thường được dóng lên để thông báo cho đại chúng biết giờ phút trang nghiêm im lặng. Người bạch trùy gọi là Bạch trùy sư, phần nhiều giao cho vị tôn túc thông thạo luật pháp đảm trách. Lúc xưa, phàm đánh trùy để thông báo công việc, đều gọi là Bạch trùy, nhưng, đặc biệt trong Thiền lâm, chỉ khi nào khai đường hoặc chúc quốc (như lễ tân trú trì nhập tự, đồng thời, nhân dịp ấy, cử hành nghi lễ trọng đại cầu nguyện quốc thái dân an và chúc mừng Thánh thọ, đặc biệt có thuyết pháp giảng đạo) thì mới đánh kiểng, gọi là Bạch trùy. Thoạt tiên, Bạch trùy sư đánh một hồi kiểng kéo dài, để lắng hết sự ồn ào, cho đại chúng chuẩn bị y phục nghiêm trang và giữ im lặng, rồi mới bạch chúng (Đại 48, 1126 thượng), nói: Pháp diên chúng long tượng, đương quán đệ nhất nghĩa (đại chúng trong đạo tràng này đều là các bậc như rồng, như voi, bởi thế luôn phải quán xét chân lí tuyệt đối), gọi là Bạch trùy. Kế đó, sau khi vị trưởng lão đã kết thúc lời đáp, Bạch trùy sư lại đánh một hồi kiểng, rồi bạch: Đế quán pháp vương pháp, pháp vương pháp như thị (Hãy xét kĩ pháp của Pháp vương, pháp của Pháp vương là như thế), gọi là kết trùy. Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 118 hạ), nói: Bạch trùy, là luật nghi của đức Thế tôn. Muốn làm các Phật sự, trước tiên phải tâu bày, là phép hòa kính đại chúng. Ngày nay việc bạch trùy trong Tông môn phải giao cho bậc tôn túc biết rõ luật pháp đảm nhiệm. Bạch trùy sư, quan sát đại chúng ngồi đâu vào đấy rồi, mới bạch rằng: Chúng Pháp diên long tượng, nên quán đệ nhất nghĩa. Sau khi vị Trưởng lão trong Pháp hội đã trả lời rồi, Bạch trùy sư lại nói: Xét kĩ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế. Đây là phép tắc đích thực của các bậc tiên đức, đều không trái với ý của đức Phật. Vả thấy các Tùng lâm phần nhiều nhắc việc Thế tôn thăng tòa, Văn thù bạch trùy. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.thượng Trú trì chương nhập viện khai đường chúc thọ điều; Thiền uyển thanh qui Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Q.13 Phúng xướng môn]. (xt. Trùy Chiêm).
Bạch chuỳ 白槌
[ja] ビャクツイ byakutsui ||| An announcement. To call an assembly to order by sounding with a wooden hammer. => Sự thông báo. Triệu tập tăng chúng bằng cách gõ vào bảng gỗ.
bạch chân
Đưa ra những tin tức xác thực—To lay a true information.
; (白真) Hàm ý là tán thán tượng thực của Tổ sư. Còn gọi là Thán chân. Chân, chỉ cho tượng đắp hoặc vẽ của Tổ sư, hoặc của Phật, Bồ tát. Ngày kị (giỗ) các Tổ sư, trước khi hồi hướng, đọc một bài văn xuôi hoặc văn kệ để bày tỏ trước hình tượng (chân), cho nên gọi là Bạch chân. [X. Bị dụng thanh qui Q.1 Đạt ma tổ sư kị; Động thượng tăng đường thanh qui hành pháp sao Q.4 Chư sớ pháp]. BẠCH CHIÊM (NIÊM) TẶC Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nói tắt là Bạch chiêm. Bạch, nghĩa là không, trống trơn; chiêm, dùng ngón tay cầm lấy vật. Tức tay không cầm vật nhọn mà dùng ngón tay nhọn để lấy trộm, lại không để lại một dấu vết gì cả, gọi là Bạch chiêm tặc, chỉ kẻ trộm có ngón khéo nhất. Một thuyết cho bạch là ý ban ngày, tức là giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt mọi người mà kẻ cắp lấy của người ta một cách tài tình, nhanh chóng, cũng là chỉ cái ngón cực khéo của kẻ cắp. Trong Thiền lâm, từ ngữ Bạch chiêm tặc được chuyển dụng để chỉ cái thời cơ nhanh chóng khéo léo mà thầy dùng để tiếp dẫn học trò. Liên đăng hội yếu quyển 9 (Vạn tục 136, 289 hạ), chép: Tuyết Phong nói: Lâm Tế rất giống bạch chiêm tặc (...) Tuyết đậu nói: Kẻ tài ăn cắp, đến quỉ thần cũng không biết. Đã bị Tuyết Phong trông thấy, Lâm Tế không phải là tay giỏi. [X. Bích nham lục Tắc 73].
Bạch chỉ
白 紙; J: hakushi; nghĩa là »trang giấy trắng«;|Một danh từ chỉ một tâm trạng đạt được qua quá trình Toạ thiền (j: zazen) và một trong những yếu tố để đạt Giác ngộ. Bạch chỉ là một tâm trạng – nói theo nhà hiền triết châu Âu Eckart – »trống rỗng không có một vật«. Ðể đạt được tâm trạng này thì tất cả những ý nghĩ, thành kiến, hình ảnh… phải biến mất, như chư vị Thiền sư thường nhấn mạnh.|Bạch Vân An Cốc – một vị Thiền sư hiện đại người Nhật – khuyên rằng: »Nếu đầu óc, thâm tâm của quý vị còn chức đựng bất cứ một cái gì, ghi lại một cái gì thì quý vị sẽ không bao giờ Kiến tính. Quý vị phải buông xả tất cả. Tâm của quý vị phải trống rỗng, không một dấu vết như một tờ giấy trắng trong sạch, Bạch chỉ!«
Bạch chử
(白楮): giấy trắng làm bằng vỏ cây. Như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), quyển 2, văn sớ Thu Kỳ Tình (秋祈晴) có đoạn: “Vân giá phù hoàng hỷ hữu thu thành chi hầu, vũ hoa thùy bạch nãi vô hưu tức chi thời, viên sư đơn trung, kính trình bạch chử (雲稼浮黃喜有收成之侯、雨花垂白乃無休息之時、爰攄丹衷、敬呈白楮, lúa tốt ửng vàng mừng có thu hoạch ấy dịp, mưa hoa trắng xóa lại không yên nghĩ thời kỳ, bày tấc lòng thành, kính trình giấy trắng).”
bạch cung
The White House.
bạch cái
(白蓋) Tức chỉ cái lọng trời may bằng tơ lụa mầu trắng che trên đỉnh đầu đức Phật. Ý là đem lòng từ bi trong trắng che khắp pháp giới chúng sinh, cũng như cái lọng che trên đầu người. Trong Mật giáo, khi làm lễ quán đính, sử dụng lọng Tản cái hành đạo, tại Kim cương giới dùng lọng đỏ, ở Thai tạng giới dùng lọng trắng. Lọng đỏ có xuất xứ từ kinh Đà la ni tập, quyển 4, quyển 12, lọng trắng có xuất xứ từ Đại nhật kinh sớ quyển 8 và kinh Nhất tự Phật đính luân vương quyển 5. Ngoài ra, A xà lê dùng lọng trắng che cho đệ tử là biểu thị sự gia trì đại bi của Đại Nhật Như Lai; màu trắng tức là màu của Đại Nhật. Lại hình Tam muội da của Bạch tản cái Phật đính tôn ở Thai tạng giới là chiếc lọng màu trắng. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.35; Truyền pháp quán đính sơ dạ tác pháp lí kí Q.hạ]. (xt. Tản Cái Hành Đạo).
bạch cư dị
(白居易) (772 – 846) Thi nhân đời Đường. Tự Lạc Thiên, hiệu Hương sơn cư sĩ, Túy Ngâm tiên sinh. Người huyện Hạ Khuê (phía đông bắc huyện Vị Nam), tỉnh Thiểm Tây. Xuất thân nhà Nho, thông tuệ hơn người. Năm Trinh Nguyên 14 (798) đậu tiến sĩ, năm Nguyên Hòa 2 (807) giữ chức Hàn lâm học sĩ, năm Nguyên Hòa 9, giữ chức Thái tử tả tán thiện đại phu. Viết Thưởng hoa và Tân tỉnh thi (thơ giếng mới) thuật bày sự phù hoa và dua nịnh của người đời, bèn bị giáng chức làm Tư mã châu Giang. Sau lại đổi làm Tư môn viên ngoại lang. Khoảng năm Hội Xương, giữ chức Thượng thư bộ Hình, sau khi mất, được truy phong Thượng thư hữu bộc xạ. Những văn phẩm còn lại, có Bạch thị văn tập 75 quyển, Bạch thị lục thiếp sự loại tập 30 quyển. Lúc trung niên, họ Bạch qui Phật, gần gũi các bậc cao Tăng, thụ tịnh giới, tập Thiền pháp. Lòng thành kính thờ Phật và tư tưởng Phật giáo của ông có thể được thấy trong các văn tập của ông. Cứ theo Túy ngâm tiên sinh mộ chí minh (bài minh khắc trên bia mộ của Túy ngâm tiên sinh) do ông tự soạn vào lúc cuối đời chép, thì chí bình sinh của ông đại khái là bên ngoài dùng Nho để tu thân, bên trong dùng Thích (Phật) để sửa tâm, khoảng còn lại thì lấy núi sông gió trăng thơ ca đàn rượu để vui chí. Ông thường tán thán Phật: Mười phương thế giới, trên trời dưới trời, con nay biết hết, không ai bằng Phật, rờ rỡ vòi vọi, là thầy trời người, nên con lễ chân, tán thán qui y. Năm Thái Hòa thứ 6 (832), ông trùng tu chùa Hương Sơn ở Lạc Dương, đồng thời, cùng với vị tăng chùa Phật Quang ở Lạc Dương là Như Mãn kết hội Hương hỏa để sửa sang việc Phật, phát nguyện vãng sinh Tây phương, không biếng không nhác, cho đến trọn đời. Năm Hội Xương thứ 6 ông qua đời, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15, Q.16; Đại Thanh nhất thống chí Q.163; Lư sơn chí Q.13; Lư sơn cổ kim du kí tùng sao; Cựu Đường thư Q.166; Đường thư Q.119]. Bạch Cư Dị
Bạch Cư Dị 白居易
[ja] ビャクキョイ Byakukyoi ||| Bo juyi (772-846); a noted poet, literatus, and friend of Zongmi 宗密. (Gregory-1995: 220) => (c: Bo juyi; 772-846); nhà thơ, nhà văn học nổi tiếng, bạn của Thiền sư Tông Mật (Zongmi 宗密).
bạch cư tự
(白居寺) Chùa nằm tại huyện Giang Tư thuộc Tây Tạng. Do Nhiêu đan cống tang và Lạt Ma Khắc Chủ Kiệt ở Giang Tư cùng kiến thiết vào đầu thế kỉ XV. Nguyên trước thuộc phái Tát Ca (Hoa giáo) của Phật giáo Tây Tạng, sau bị các phái Bá Giáo, Cách Lỗ (Hoàng Giáo) lần lượt đến chiếm cứ, bèn trở thành chùa viện chung của các phái. Trong chùa có một tòa tháp, tiếng Tây Tạng gọi là Bối Khảo Khúc Đăng, tục gọi là tháp tám góc. Tháp cao mười một tầng, tầng nền tháp rộng hai nghìn hai trăm mét vuông, tạo hình cực đẹp, hùng vĩ cứng chắc. Bên trong tháp còn giữ được các bức bích họa và điêu khắc rất tinh mĩ, phong cách dung hợp những đặc điểm của nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ, Ni Bạc Nhĩ (Nepal), Khách thập mễ nhĩ (Kashmìna) và nghệ thuật Phật giáo Hán tộc, hình thành phong cách nghệ thuật độc đáo của địa khu Giang Tư.
bạch cốt
Xương trắng của người quá vãng—Bones of the dead.
bạch cốt quán
xem quán xương trắng.
; (白骨觀) Phạm: Asthi-saôjĩà. Còn gọi là Tưởng tướng sinh, Cốt tưởng, Khô cốt tưởng. Là một trong các phép quán tưởng, tức là cốt tưởng trong chín tưởng quán (nói tắt là chín tưởng). Quán (Phạm: vipazyanà), hàm ý là dùng trí tuệ chuyên tâm nhất trí quán xét, tưởng niệm Phật, Pháp hay một đối tượng đặc định nào, mà dốc sức vào việc chứng ngộ, là một phương pháp tu hành thực tiễn phổ thông trong Phật giáo, Bạch cốt quán tức là một trong những phép quán trọng yếu ấy. Đây là phép quán tưởng cái trạng thái nhơ bẩn của xác chết gân đứt xương lìa, hình hài tan rữa, xương trắng vung vãi, nhờ đó mà biết lẽ vô thường, dứt trừ niệm tham dục đắm đuối. Đệ tử đức Phật là ngài Ưubanisađà nhờ phép quán này mà thành đạo. Kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 125 hạ), nói: Quán tướng nhơ bẩn, sinh tâm nhàm chán, ngộ các sắc tính, từ nơi bất tịnh, xương trắng bụi nhỏ, trở về hư không, không sắc đều không, thành đạo Vô học. (xt. Cửu Tưởng).
bạch diên
(白延) Vị tăng đời Tam Quốc. Người nước Cưu Tư. Tư chất thông minh, giỏi hai thứ tiếng Tấn, Hồ, đọc sách rất rộng, kiêm thông nội, ngoại điển. Sư đến Lạc Dương vào đời Tào Ngụy dưới triều phế đế Mao (254 - 260), ở chùa Bạch Mã. Có dịch các kinh Thủ lăng nghiêm, Tu lại, Trừ tai hoạn, Bồ tát tu hành và Bình đẳng giác. Năm sinh năm mất đều không rõ. Lại cứ theo Thủ lăng nghiêm hậu kí trong Xuất tam tạng kí tập quyển 7 chép, thì vào niên hiệu Ninh Khang năm đầu (374) đời vua Giản Văn Đế nhà Đông Tấn, vương tử nước Cưu Tư là Bạch Diên, cùng với Chi Thi Luân, từng ở Châu Lương, cùng dịch các kinh Thủ lăng nghiêm, Tu lại, Thượng kim quang thủ và Như huyễn tam muội v.v... Hai người tuy cùng tên là Bạch Diên, dịch kinh cũng giống nhau, nhưng e rằng có hai người khác nhau. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.13; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
bạch diện thư sinh
Inexperienced student
bạch dương giáo
(白陽教) Tôn giáo dân gian đời Thanh. Hưng khởi vào khoảng năm Đạo Quang (1821 - 1850), giáo chủ là Vương pháp trung, từng theo học tập giáo lí với Thân lão tự ở huyện Thiệp, tỉnh Hà Nam. Thân Lão tự xướng hiệu Nam Mô Thiên Quốc A Di Đà Phật, truyền trao Vinh hoa kinh, Vị lai tinh đẩu đồ, Hà đồ, Lạc thư v.v... Vương pháp trung lại đặt ra thuyết Kì môn tức Phật môn, truyền giáo ở Bắc Kinh, các tín đồ phần nhiều ở các địa phương Hà Nam, Hà Bắc và Sơn Đông.
bạch dương tự
(白羊寺) Chùa dê trắng. Vị trí chùa nằm ở núi Bạch Nham, quận Trường Thành, tỉnh Toàn La Nam, nước Đại Hàn (Triều Tiên). Nguyên tên là chùa Bạch Nham. Là một trong ba mươi mốt núi chính ở nước Hàn. Do sư Như Huyễn sáng lập vào thời Bách Tế Vũ Vương năm thứ 33 (632, năm Trinh Quán đời Đường Thái Tông). Cao Li Tông năm thứ 3 (1034), sư Trung Diên mở rộng bằng cách xây dựng thêm hơn tám mươi ngôi nhà, hết sức hoằng dương pháp môn Tịnh độ, nên đổi lại tên chùa là chùa Tịnh Độ. Về sau, môn đồ của Trung Diên trú trì chùa này. Sau một thời rực rỡ, sư Giác Nghiễm, đời thứ 13 của chùa Tùng Quảng, cùng với môn nhân và các bậc thạc đức trong sơn môn hiệp lực xây lại cửa chùa, điện Phật, nhà trù, nhà kho v.v... chùa Tịnh Độ bèn trở thành một đại Thiền uyển ở phương nam nước Hàn (Triều Tiên). Vì pháp bảo chưa đầy đủ, nên theo lời đề nghị của Tướng quốc Hồng Công Tuy, các sư Tâm Bạch và Trí Phù được phái đi Trung Quốc thỉnh Đại tạng kinh. Cung mẫn vương năm thứ 2 (1353), để báo đáp Thánh ân, nhà vua thỉnh hơn một nghìn vị Trưởng lão về đây tu các Phật sự, ban ngày đọc ba tạng, ban đêm bàn Tổ giáo, giảng đạo, tu Thiền, sáu thời tu pháp. Khoảng đời Nghi Tổ (1567 - 1607), khi ngài Hoán Tỉnh Chí An mở tràng thuyết pháp, có con dê trắng đến nghe, vì thế mới đổi lại tên chùa như hiện nay (tức chùa dê trắng). Chùa hiện còn điện Đại hùng, điện Cực lạc, điện Minh phủ, lầu Song khê v.v... [X. Triều tiên tự sái sử liệu Q.thượng; Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên tự sái tam thập nhất bản sơn tả chân trướng].
bạch giao hương
(白膠香) Phạm: Sarja-rasa, tiếng Tây Tạng: Sra, rtsi-phog. Tức là nhựa cây sa la. Là một trong năm thứ hương mà Mật giáo thắp khi tu pháp kinh Khổng tước. Theo kinh Khổng tước nói, tu pháp kinh Khổng tước là để trừ tai họa và cầu mưa. Khi tu pháp này, năm phương trên đại đàn thắp năm thứ hương, trong đó, hương bạch giao thắp ở phương đông. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ].
bạch giáo lạt ma
Kargyutpa (S).
bạch giới tử
(白芥子) Chỉ hạt cải màu trắng. Giới tử, nguyên là hạt của cây rau cải, vì tính nó cay, chắc, có đủ sức dụng hàng phục, nên Mật giáo coi nó như vật tương ứng hàng phục. Từ xưa đã có truyền thuyết Bồ tát Long Mãnh (Long Thụ) dùng bảy hạt cải trắng để mở toang tháp sắt Nam thiên mà được nhận Mật giáo. Ngoài ra, còn có sự tích luận sư Thanh biện đã dùng bảy hạt cải trắng để mở hang đá của thần Chấp kim cương ở nam Ấn Độ rồi đi vào đó để chờ Bồ tát Di Lặc ra đời. Lại Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma, đem hạt cải trắng bỏ vào lửa để đốt, gọi là giới tử thiêu, có thể đuổi tà, trừ bệnh. Lại khi tu pháp Đà đô, đặt hạt cải trắng cúng dường bản tôn, gọi là giới tử cúng. Bởi vì pháp Đà đô là pháp bảo châu như ý, mà khi bảo châu tràn lan thì tất có các ma rình rập chung quanh, vì để xua đuổi các ma nên làm phép cúng này. Cách làm phép là: lấy hạt cải đựng vào một chiếc bình đất hoặc bình đồng nhỏ, đặt ở bên cạnh bình hoa trước bình át già (bình nước công đức cúng Phật); sau khi cúng dường rồi, lấy bình hạt cải ra, thư vào đó chữ (raô), để gia trì, và chữ (oô) dâng cúng, xong lại đặt vào chỗ cũ, đừng để người khác thấy. Nếu lúc có đông người, thì chỉ để trong bình hoa mà cúng dường thôi. Phép làm này cũng còn có nhiều truyền thuyết khác. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.hạ phẩm Chư tôn gia bị thành tựu; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Kim cương đính kinh nghĩa quyết; Đại đường tây vực kí Q.10]. (xt. Giới Tử). Đông - .Phổ Hiền .Kim cương thủ .Văn Thù Sư Lợi .Hư không tạng .Tì lô giá na .Trừ cái chướng .Từ thị .Quán tự tại .Địa Tạng – Tây.
bạch hoà
(白和) Có nghĩa là bày tỏ ra và hòa hợp nhau. Bạch, là cáo bạch; hòa, hòa hợp. Tức là trong chùa khi làm các việc pháp, triệu tập chúng tăng lại để trình bày rõ ràng việc ấy để chúng tăng biết và tán đồng.
Bạch Hà Thiên Hoàng
(白川天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086): vị Thiên Hoàng sống vào giữa thời Bình An, con thứ 3 của Hậu Tam Điều Thiên Hoàng (後三條天皇, Gosanjō Tennō, tại vị 1068-1072), tên là Trinh Nhân (貞仁, Sadahito), còn gọi là Lục Điều Đế (六條帝). Năm 1086 (Ứng Đức [應德] 3), ông nhường ngôi và làm Thượng Hoàng, lần đầu tiên ông mở ra chế độ Viện Chính (院政, Insei), rồi nắm quyền bính trong tay suốt 43 năm, trãi qua 3 đời Thiên Hoàng là Quật Hà (堀河, Horikawa, tại vị 1086-1107), Điểu Vũ (鳥羽, Toba, tại vị 1107-1123) và Sùng Đức (崇德, Sutoku, tại vị 1123-1141). Năm 1096 (Vĩnh Trường [永長] nguyên niên), ông xuất gia và trở thành Pháp Hoàng.
bạch hà thiên hoàng
(白河天皇) (1053 - 1129) Là Thiên Hoàng đời thứ 72 của Nhật Bản. Niên hiệu Thừa lịch năm đầu (1077), khai sáng chùa Pháp Thắng ở Bạch Hà, không bao lâu, tu hội Đại thừa ở chùa Pháp Thắng, hội Pháp hoa ở chùa Viên Tôn, định chế độ Tăng cương và giảng sư cho hai hội. Năm Ứng Đức thứ 2 (1085), thụ Pháp hoa ở trong cung. Sau nhường ngôi cho Thiên hoàng Quật hà và vào niên hiệu Vĩnh trường năm đầu (1096) xuất gia, từng dùng chữ vàng để viết Đại tạng kinh, mấy lần lên thăm các đại đạo tràng trên núi Cao Dã, Hùng Dã, cúng dường tượng Phật, xây tháp Phật rất nhiều. Lại nghiêm cấm sát sinh, thả hết chim trong lồng, đình chỉ các nước dâng cá và đốt hơn tám nghìn tấm lưới cá. Năm Đại trị thứ 4 nhập tịch, thọ bảy mươi bảy tuổi. [X. Nguyên hanh thích thư Q.25; Đại Nhật bản sử Q.44].
Bạch hào
(s: ūrṇa, p: uṇṇa, 白毫): lông mày trắng, tức bạch hào tướng (s: ūrṇa-lakṣana, p: uṇṇa-lakkhaṇa, 白毫相, tướng lông mày trắng), một trong 32 tướng tốt của đức Phật; còn gọi là Hào Mi (毫眉), Hào Tướng (毫相), Bạch Mao Tướng (白毛相), Mi Gian Bạch Mao Tướng (眉間白毛相), Bạch Hào Trang Nghiêm Diện Tướng (白毫莊嚴面相), Bạch Hào Mao Quang Tướng (白毫毛光相), Mi Gian Hào Tướng (眉間毫相), v.v. Giữa hai hàng chân mày của đức Thế Tôn, có lông mày trắng nhỏ mịn, mềm mại như bông Đâu La (s, p: tūla, 兜羅), kéo ra rất dài (khi sơ sanh là 5 tấc, khi thành đạo là 1 trượng 5 tấc), khi thả lỏng ra thì uyển chuyển xoay về bên phải như trôn ốc. Lông mày trắng này có thể phóng ra ánh sáng, nên có tên gọi là bạch hào quang (白毫光). Chúng sanh nào gặp được ánh sáng này thì có thể tiêu trừ nghiệp chướng và thân tâm an lạc. Theo Vô Thượng Y Kinh (無上依經) quyển hạ có giải thích rằng khi đức Phật đang còn tu nhân hạnh Bồ Tát, mỗi khi thấy chúng sanh nào tu tập Tam Học Giới, Định, Tuệ, ngài thường xưng dương, tán thán; cho nên có được tướng tốt này. Hơn nữa, Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 1, 2, Phẩm Quán Tướng (觀相品) còn cho rằng bên cạnh vô lượng tướng tốt của đức Như Lai, tướng này được xem như là thù thắng nhất. Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) có đề cập rằng lông mày trắng giữa hai hàng chân mày của đức Phật Vô Lượng Thọ giống như 5 ngọn núi Tu Di; người nào thấy được tướng này, thì tự nhiên thấy được toàn bộ tám vạn bốn ngàn tướng tốt. Trong bài kệ tán dương đức Phật A Di Đà có câu: “A Di Đà Phật thân kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân, bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải (阿彌陀佛身金色、相好光明無等倫、白毫宛轉五須彌、紺目澄清四大海, Phật A Di Đà thân vàng sắc, tướng tốt chói sáng không sánh bằng, mày trắng uyển chuyển năm Tu Di, xanh mắt trong suốt bốn biển lớn).” Hay như trong Phổ Đà Lạc Già Tân Chí (普陀洛迦新志) quyển 1 có đoạn: “Đàn chỉ năng siêu, tiện Tây phương chi vô lượng, cầu Thế Tôn phóng bạch hào chi quang, trực thú an lạc (彈指能超、羨西方之無量、求世尊放白毫之光,直趣安乐。求世尊放白毫之光、直趣安樂, trong khoảng khảy móng tay có thể vượt qua, lòng ham thích Tây phương vô lượng, cầu mong Thế Tôn phóng ánh sáng nơi lông mày trắng, và trực tiếp đến cõi an lạc).” Ngoài ra, có thuật ngữ “bạch hào chi tứ (白毫之賜)” được dùng để chỉ các đồ vật thọ dụng của chư tăng. Ngay trong kinh điển của đạo giáo cũng có xuất hiện từ hào quang này, như trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經) có đoạn: “Ngọc Nữ bổng hương hoa, ngũ sắc tường vân nội, phóng xuất bạch hào quang, chiếu nhất thiết thiên hạ, hiển thân cứu chúng sanh (玉女捧香花、五色祥雲內、放出白毫光、照一切天下、顯身救眾生, Ngọc Nữ nâng hương hoa, trong mây lành năm sắc, phóng ra ánh bạch hào, chiếu hết thảy thiên hạ).”
bạch hào
Ūrṇā (S), White curl of hair between the eyebrows.
; Theo kinh điển Đại Thừa, thì đây là ánh hào quang giữa đôi mày của Phật, từ nơi đó Phật phóng ra những hào quang chiếu rọi khắp các thế giới—According to the Mahayana sutras, this is the curl between Sakyamuni's eyebrows, from where he sends out a ray of light which reveals all worlds.
bạch hào chi tứ
Như Lai để lại một phần công đức của tướng bạch hào để cúng dường các đệ tử ở thời Mạt Pháp—A gift from the White-curled One for his disciples in the Ending-Dharma Age.
; (白毫之賜) Hàm ý là vật thụ dụng của chúng tăng. Bạch hào, chỉ sợi lông trắng ở khoảng giữa chân mày của đức Thế tôn, tướng này gọi là tướng Bạch hào, là tướng tốt đẹp hơn hết trong các tướng của Như lai. Bạch hào chi tứ (cái ơn mà tướng Bạch hào ban cho), có nghĩa là sau khi đức Như Lai diệt độ, do một phần phúc đức trong tướng bạch hào của Như Lai, hết thảy đệ tử xuất gia ở đời mạt pháp, nếu dốc lòng siêng năng tu đạo, thì ăn mặc đều có thừa, thụ dụng không hết, vì thế cũng gọi là Hào tướng nhất phần. Kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 802 thượng), nói: Người chỉ cần chăm chỉ một lòng tu đạo, thì trọn đời sẽ không phải lo đến việc ăn mặc. Tại sao vậy? Là vì kho tàng phúc đức của Như Lai vô lượng vô tận. Này Xá Lợi Phất! Sau khi Như Lai nhập diệt, trăm nghìn ức phần trong tướng Bạch hào, để ra một phần cúng dường xá lợi và các đệ tử. Xá Lợi Phất! Giả sử tất cả người thế gian đều xuất gia thuận theo chính pháp, gắng sức tu hành, thì cũng không thụ dụng hết một phần trong trăm nghìn ức phần của tướng bạch hào. Này Xá Lợi Phất! Như Lai có vô lượng phúc đức như thế đấy, nếu các Tỉ khưu chí tâm hành đạo thì sự ăn uống và các vật cần dùng đều được đầy đủ. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 391 hạ), nói: Như Lai lưu lại một phần công đức Bạch hào để cúng dường các đệ tử đời mạt pháp.
bạch hào tướng
Xem Bạch hào.
; The curl between Sakyamuni's eyes.
; (白毫相) Phạm: Ùrịa-lakwana, Pàli: Uịịalakkhaịa. Còn gọi là Hào mi, Hào tướng, Bạch mao tướng, Bạch hào trang nghiêm diện tướng, Bạch hào mao quang tướng, Mi gian bạch hào quang tướng, Mi gian bạch hào tướng, Mi gian hào tướng, Ngạch thượng hào tướng công đức mãn túc tướng, Mi gian sinh mao khiết bạch hữu oanh tướng, Mi gian bạch hào trường hảo hữu toàn tướng, Mi gian bạch hào nhuyến bạch đâu la miên tướng. Là một trong ba mươi hai tướng của đức Như Lai. Đức Thế Tôn có một sợi lông trắng mềm mại ở giữa hai chân mày, kéo ra thì dài một tầm (có thuyết bảo khi mới sinh dài năm thước (Tầu), khi thành đạo dài một trượng năm thước), buông ra thì cuốn vòng quanh về bên phải, cũng như xoáy ốc, tươi tắn sáng sạch, như viên ngọc quí, như mặt trời giữa trưa, có thể phóng ra ánh sáng, gọi là bạch hào quang. Nếu chúng sinh gặp được ánh sáng ấy, thì có thể tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm yên vui. Cứ theo kinh Vô thượng y quyển hạ nói, diệu tướng này là do đức Phật, khi còn ở địa vị tu nhân, thấy chúng sinh thiện căn tu tập giới, định, tuệ thì ca tụng tán thán mà cảm được tướng này, biểu thị cái đức tiêu trừ trọng tội sinh tử hàng trăm ức na do đà hằng hà sa kiếp. Lại kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1, quyển 2 phẩm Quán tướng nói, Như lai có vô lượng tướng tốt, nhưng tướng này là thù thắng hơn hết trong các tướng. Ngoài ra, không phải chỉ có Phật mới có tướng này, mà nổi tiếng nhất, thì như kinh Quán vô lượng thọ chép, sợi lông trắng ở giữa chân mày của Phật Vô lượng thọ như năm núi Tu di, người nào thấy tướng ấy thì tự nhiên được tám vạn bốn nghìn tướng tốt. Lại trong tượng các Bồ tát cũng có tướng bạch hào, như nạm ngọc trắng, thủy tinh ở giữa chân mày tượng để biểu thị tướng này. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.381; luận Đại tì bà sa Q.177; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3 (Gia tường); Hoa nghiêm thám huyền kí Q.3]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng).
bạch hương tượng bồ tát
Gandha-kunjaranāga (S)Tên một vị Bồ tát.
bạch hạ
(白夏) Hàm ý là trong ba tháng hạ an cư, ngày ngày cáo bạch đại chúng khuyến khích tinh tiến. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 4 (Đại 40, 239 hạ), nói: Vào bữa ăn sáng, Duy na đánh kiểng bạch rằng: Bạch đại chúng! An cư đã qua một ngày, còn lại tám mươi chín ngày nữa, hãy siêng năng tinh tiến, cẩn thận đừng buông lung! (ngày khác cứ theo đó mà gia giảm). Ngoài ra, từ Bạch hạ cũng là tên gọi khác của Hạ an cư. Cũng gọi là Hạ hành, Hạ kinh, Hạ lung, Hạ thư, Hạ đoạn, Tọa lạp, Tọa hạ. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 4; Thiền lâm loại tập Q.14; Thiền lâm tượng khí tiên Q.3 Tiết thời môn]. (xt. An Cư).
bạch hạc
White cranes.
bạch hắc
White and dark.
bạch hắc bố tát
1) Light and dark uposatha. 2) The observing of the waxing and the waning moon.
; (白黑布薩) Chỉ hai kì thuyết giới (bố tát) vào ngày cuối cùng (ngày thứ 15) của tháng trắng (bạch nguyệt) và ngày cuối cùng (ngày thứ 14 hoặc 15, tức ngày cuối tháng) của tháng đen (hắc nguyệt). Vào hai ngày này, chúng tăng tụng giới kinh để được thanh tịnh. Nếu có người phạm giới thì phải ra trước mọi người để sám hối. Đây là một chế độ nghiêm khắc trong các viện Luật. (xt. Bố Tát, Bạch Nguyệt, Hắc Nguyệt).
bạch hắc luận
(白黑論) Còn gọi là Quân thiện luận, Quân thánh luận. Do Sa môn Tuệ Lâm soạn. Là bộ luận chủ yếu tranh cãi về vấn đề Thần diệt hay không diệt trong giới Phật giáo ở thời Nam Bắc Triều. Tác giả Tuệ Lâm là một cao tăng thời Lưu Tống, là học trò của ngài Đạo Uyên, tài cao nhưng kiêu ngạo, bác thông nội ngoại điển, đặc biệt giỏi về cái học Lão Trang và rất thạo môn hài hước. Khoảng năm Nguyên Gia 10 (433), sư soạn luận Bạch hắc, chủ trương thân thể một khi đã rữa nát thì tâm thần cũng theo đó mà tan diệt; khi luận này ra đời đã gây chấn động trong giới Phật giáo. Thời đó, Thái thú Hành Dương là Hà Thừa Thiên cũng soạn Đạt tính luận để đáp ứng phụ họa với thuyết của Tuệ lâm, rồi cứ lục tục soạn mấy thiên luận văn nữa biện luận thay cho Tuệ Lâm. Lâm, Hà hai người cùng đi lại xướng họa, chê bai Phật giáo. Những người thâm tín Phật giáo thời đó, thấy thế rất bất bình, bèn cùng nhau viết văn bác lại luận điểm của hai người một cách gay gắt. Trong các trứ tác đó, nổi tiếng hơn cả thì có Thích Hà Hành dương Đạt tính luận của Nhan Diên, Thái thú Vĩnh Gia, Minh Phật luận và Nạn Bạch hắc luận của Tôn bính, đệ tử ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn. Thuyết Thần tùy hình diệt (Tinh thần diệt theo thể xác) của Tuệ Lâm và Hà thừa thiên, tuy một thời đã lắng xuống vì bị các nhà nhiệt tâm bảo vệ đạo pháp công kích thường xuyên, nhưng nó đã tạo ra một cuộc tranh luận về tâm thần còn hay mất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, mà trải qua các đời Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam Triều vẫn không suy, trong đó, trứ danh nhất là Thần diệt luận của Phạm chẩn đã đưa đến cuộc luận chiến kịch liệt. [X. Lương cao tăng truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.36; Hoằng minh tập Q.2, Q.3, Q.4; Quảng hoằng minh tập Q.5, Q.7; Phá tà luận Q.thượng; Tống thư liệt truyện thứ 57 Thiên trúc Ca tì lê quốc truyện]. (xt. Tam Giáo Luận Hành, Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).
bạch hắc nghiệp
Good and evil deeds or karma. a) Bạch Nghiệp: Good karma. b) Hắc Nghiệp: Evil karma.
bạch hắc nhị thử
Hai con chuột trong bài ngụ ngôn, ví với ngày và đêm, mặt trời và mặt trăng (theo Tân Đầu Tư Đột La Xà Vị Ưu Đà Diên Vương Thuyết Pháp Kinh, ngày xưa có người đi trên khu đất rộng hoang vắng gặp một con voi dữ đuổi riết theo. Người ấy cuống cuồng chạy trốn, đang khi không biết ẩn nấp vào đâu bỗng gặp một cái giếng, anh ta liền bám vào rễ cây định tụt xuống để ẩn nấp, không ngờ có đôi chuột, một trắng, một đen, đang cắn gốc cây, bốn phía bên dưới có bốn con rắn độc phóng tới định cắn anh ta. Ở dưới đáy giếng lại có con rồng đang chờ đợi, xung quanh thì sợ bốn con rắn, dưới đáy thì sợ rồng dữ, cái cây đang bám lại bị hai con chuột gặm sắp đứt. Lúc đó từ trên cây có ba giọt mật ong rơi vào miệng anh ta. Vì cây lay động đến tổ ong nên bầy ong bay ra chích tới tấp vào anh ta, bỗng chốc có lửa ở đâu ào tới đốt cháy cành cây. Khu đất rộng ví với sanh tử, người đàn ông ví với phàm phu, con voi ví với vô thường, cái giếng ví với thân người, cái cây ví với mạng người, chuột đen trắng ví với đêm ngày, gốc cây bị cắn ví với thời gian vùn vụt bay đi, bốn con rắn ví với tứ đại, mật ong ví với ngũ dục, đàn ong ví với giác quan, lửa ví với già nua, và rồng dữ ví với sự chết)—The two mice in the parable , one white, the other black, gnawing at the rope of life, i.e. day and night, or sun and moon.
Bạch hắc 白黒
[ja] ビャクコク byakukoku ||| (1) Good and evil (activity). See 黒白業. (Pali kaṇha-sukka) (2) A reference to the clergy and the laity. => 1. Tốt và xấu (hành vi). Xem Hắc bạch nghiệp 黒白業. (p: kaṇha-sukka). 2. Đề cập đến giới tăng lữ và cư sĩ.
bạch học hắc học
(白學黑學) Chỉ Nho học và Phật học. Từ ngữ này được dùng trong Bạch hắc luận của sa môn Tuệ Lâm ở thời đại Lưu Tống Nam Triều. Trong Bạch hắc luận, bạch học dùng để dụ Nho học; hắc học ví dụ Phật học. Trong luận có đoạn: Có ông Bạch học cho bậc Thánh nhân Trung Quốc có đức rộng lớn, kinh luân trăm đời! Trí khắp vạn biến, lí trời, người biết hết! Đạo Không ẩn ý, giáo không úp mở, thông suốt sáng láng, nào kém gì đâu! Có nhà đạo sĩ Hắc Học nông cạn lại chê là không chiếu rọi được con đường tối tăm, chưa biết được cái hóa trong kiếp sau, tuy chuộng hư tâm nhưng còn chấp sự, chưa bằng cái sâu xa của Tây Vực. Trong đoạn văn trích dẫn trên đây, Có ông Bạch Học tức chỉ người sùng thượng đạo Chu Công, Khổng Tử, còn Đạo sĩ Hắc Học là chỉ người theo giáo nghĩa Phật giáo. Trong Bạch hắc luận, Tuệ lâm dùng Bạch học tiên sinh và Hắc Học đạo sĩ đối đáp cật vấn nhau để diễn bày các vấn đề chủ yếu. Quan điểm trong luận, cho hình hài rữa nát thì tâm thần cũng tan diệt theo, đồng thời, nhấn mạnh nhân nghĩa của Chu Khổng, vô dục của Lão Trang, cũng giống như từ bi hóa nhiếp của Thích Ca, cho nên, kết quả của cuộc đối thoại giữa hai nhân vật Hắc, Bạch đã được an bài là Bạch học tiên sinh thắng, do đó, đi đến kết luận Lục độ và Ngũ giáo tịnh hành, tín thuận và từ bi tề lập, khác đường mà cùng về. Khi quan điểm trên đây được tung ra, giới Phật giáo đương thời đã công kích kịch liệt, và nhân đó, cũng đã mở ra cuộc tranh luận về tâm thần còn hay mất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. [X. Hoằng minh tập Q.2, Q.3; Tống thư liệt truyện thứ 57 Thiên trúc Ca tì lê quốc truyện]. (xt. Bạch Hắc Luận, Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).
Bạch Hổ
(白虎): hổ trắng, trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, là tên gọi của 1 trong 4 vị thần. Căn cứ học thuyết Ngũ Hành (五行), đây là con linh thú đại biểu cho phương Tây, hình tượng là con hổ màu trắng, đại diện cho mùa Thu. Trong Nhị Thập Bát Tú (二十八宿), nó là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Tây gồm: Khuê (奎), Lâu (婁), Vị (胃), Mão (昴), Tất (畢), Tuy (觜) và Sâm (參). Cho nên trong Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 của Đạo Giáo gọi Bạch Hổ Tây Đẩu Tinh Quân (白虎西斗星君) là: “Khuê Tú Thiên Tướng Tinh Quân, Lâu Tú Thiên Ngục Tinh Quân, Vị Tú Thiên Thương Tinh Quân, Mão Tú Thiên Mục Tinh Quân, Tất Tú Thiên Nhĩ Tinh Quân, Chuy Tú Thiên Bình Tinh Quân, Tham Tú Thiên Thủy Tinh Quân (奎宿天將星君、婁宿天獄星君、胃宿天倉星君、昴宿天目星君、畢宿天耳星君、觜宿天屛星君、參宿天水星君).” Người thời nhà Hán xem con hổ là tượng trưng cho vua của trăm thú. Tương truyền khi một con hổ sống đến 500 tuổi thì lông của nó tự nhiên biến thành màu trắng; cho nên hổ trắng được xem như là đại diện cho một loại linh vật. Khi bậc đế vương có đủ tài đức hay lúc thiên hạ thái bình thì loại thần thú này xuất hiện. Vì màu trắng đại biểu cho phương Tây, nên hổ trắng là thần bảo vệ phương Tây. Trong Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Tây phương Bạch Hổ thượng ứng Chuy tú, anh anh tố chất, túc túc thanh âm, uy nhiếp cầm thú, khiếu động sơn lâm, lai lập ngô hữu (西方白虎上應觜宿、英英素質、肅肅聲音、威攝禽獸、嘯動山林、來立我右, hổ trắng phương Tây trên ứng với sao Chuy, tinh túy nguyên chất, nghiêm nghị âm thanh, uy nhiếp cầm thú, rống động núi rừng, đến bên phải ta).” Hổ trắng là chiến thần, tức là thần sát phạt, do tinh tú biến thành, có đủ quyền năng thần lực như trừ tà, giải trừ tai ương, cầu no đủ, trị ác, khuyến thiện, ban tài lộc, kết lương duyên, v.v. Sở dĩ hổ trắng đại diện cho phương Tây vì trong Ngũ Hành, phương Tây thuộc về Kim, màu trắng. Cho nên tên gọi Bạch Hổ không phải căn cứ vào màu sắc, mà vốn có do Ngũ Hành. Đạo Giáo cũng lấy hổ trắng làm thuật ngữ luyện đơn, như trong Vân Cấp Thất Hy (雲笈七羲) quyển 72 có dẫn bài Cổ Kinh (古經), cho rằng: “Bạch Hổ giả, Tây phương Canh Tân Kim Bạch Kim dã, đắc chân nhất chi vị (白虎者、西方庚辛金白金也、得眞一之位, Bạch Hổ là Kim, Bạch Kim thuộc Canh Tân ở phương Tây, đắc chân vị số một).” Ngoài ra, Bạch Hổ còn là hình tượng của một hung thần; như trong Hiệp Kỷ Biện Phương (協紀辨方) có dẫn nhân Nguyên Bí Xu Kinh (元秘樞經): “Bạch Hổ giả, tuế trung hung thần dã, thường cư tuế hậu Tứ Thần, sở cư chi địa, phạm chi, chủ hữu tang phục chi tai (白虎者、歲中凶神也、常居歲後四辰、所居之地、犯之、主有喪服之災, Bạch Hổ là hung thần trong năm, thường cư bốn mùa sau một năm; vùng đất ngài sống, nếu phạm phải, chủ yếu có tai họa tang phục).” Thuật Phong Thủy chỉ Bạch Hổ là địa hình phía bên phải huyệt núi; như trong Táng Kinh (葬經) của Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đông Tấn có cho rằng: “Địa hữu tứ thế, khí tùng bát phương, cố táng giả dĩ tả vi Thanh Long, hữu vi Bạch Hổ (地有四勢、氣從八方、故葬者以左爲青龍、右有白虎, đất có bốn thế, khí từ tám hướng, cho nên người chôn cất gọi bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ).” Hay Bạch Hổ còn là tên gọi của con đường lớn bên phải, như trong Dương Trạch Thập Thư (陽宅十書) quyển 1 có câu: “Phàm trạch, hữu hữu trường đạo vị chi Bạch Hổ (凡宅、右有長道謂之白虎, phàm nhà phía bên phải có đường dài, được gọi là Bạch Hổ).” Trong Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) có đề cập đến hiệu của Bạch Hổ là “Giám Binh Thần Quân (監兵神君).”
bạch kim
Platinum.
Bạch Liên
(s, p: puṇḍarīka, 白蓮): âm dịch là Phân Đà Lợi Ca (分陀利迦), Bôn Trà Lợi Ca (奔茶利迦), Phân Trà Lợi Ca (分茶利迦); là một loại hoa sen màu trắng. Theo Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết rằng loại hoa này tuyết trắng như bạc, sáng rực có thể làm hoa mắt, hương của nó rất thơm, chủ yếu sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達); con người ít khi thấy được nó, vốn sanh từ trong bùn ra, nhưng không nhiễm ô mùi bùn; vì vậy hoa này thường được ví cho Phật tánh, tuy ở trong phiền não nhưng không bị phiền não làm cho ô nhiễm. Như trong phần bạt hậu của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經) có giải thích rằng loại hoa này khi chưa nở thì gọi là Khuất Ma La (屈摩羅), khi sắp rụng cánh là Ca Ma La (迦摩羅) và khi đang nở rộ là Phân Đà Lợi (分陀利). Kinh này ví diệu pháp của Phật như là hoa sen trắng lớn. Quẻ bói thứ 22, Bính Ất (丙乙), loại thượng cát (上吉, rất tốt) của Đạo Giáo, tên là Lý Thái Bạch Ngộ Đường Minh Hoàng (李太白遇唐明皇) có câu: “Bích ngọc trì trung khai bạch liên, trang nghiêm sắc tướng tự thiên nhiên, sanh lai cốt cách siêu phàm tục, chánh thị nhân gian đệ nhất tiên (碧玉池中開白蓮、莊嚴色相自天然、生來骨骼超凡俗、正是人間第一仙, bích ngọc hồ trong nở trắng sen, trang nghiêm sắc tướng tự thiên nhiên, sanh ra cốt cách siêu phàm tục, quả đúng trên đời đệ nhất tiên).” Thi sĩ Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-881) nhà Đường có làm bài thơ tựa đề Bạch Liên như sau: “Tố hoa đa mông biệt diễm khi, thử hoa đoan hợp tại Diêu Trì, vô tình hữu hận hà nhân kiến, nguyệt hiểu phong thanh dục đọa thì (素花多蒙別艷欺、此花端合在瑤池、無情有恨何人見、月曉風清欲墮時, hoa thẹn thùng che đẹp chớ khi, hoa này rất hợp ở Diêu Trì, vô tình mang hận không người thấy, gió mát trăng thanh lại rụng đi).”
bạch liên
Puṇḍarīka (S), White lotus Phân đà lợiMột loại hoa cõi trời.
; White lotus. Bạch liên giáo, the White Lily Society. Bạch liên hoa, Phân đà lợi, Pundarika (S), the white lotus. Bạch liên xã, a society formed early in the fourth century AD by Tuệ Viễn who with 123 notable literati, swore to a life of purity before the image of Amitàbha, and planted white lotus in symbol.
; White Lotus.
bạch liên giáo
Một giáo phái (có thể là tà giáo?), được thành lập vào cuối đời nhà Nguyên, nói rằng Phật Di Lặc sẽ hạ sanh với bông sen trắng nở, và ngày cứu đời. Giáo phái nầy phát triển thành một cuộc cách mạng ảnh hưởng đến sự đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa và sự thiết lập Minh Triều về sau nầy. Dưới thời nhà Thanh, giáo phái nầy sống lại dưới những tên khác nhau (Thanh Thủy, Bát Quái, Vinh Hoa, Hồng Dương, Bạch Dương, Thanh Liên, Hồng Liên) và đã gây ra những cuộc nổi dậy chống Thanh Triều—The White Lily Society, set up near the end of the Yuan dynasty, announcing the coming of Maitreya, the opening of his white lily, and the day of salvation at hand. It developed into a revolution which influenced the expulsion of the Mongols and establishment of the Ming dynasty. Under the Ch'ing dynasty it was resurrected under a variety of names, and caused various uprisings.
; (白蓮教) Là giáo hội bí mật, thuộc trong hệ thống Tịnh Độ giáo, kết đoàn với bọn giáo phỉ, mượn danh Di Lặc giáo hỗn hợp với Ma Ni giáo, Đạo giáo, Bạch Liên Tôn và tín ngưỡng dân gian, lưu hành trong ba đời Nguyên, Minh và Thanh. Trong đó, Di Lặc giáo là đoàn thể tôn giáo tại gia thờ phụng Phật Di lặc, từ sau thời Tùy, Đường, những phần tử tham vọng thường mượn tên Di Lặc ra đời để mưu đồ tạo phản. Ma Ni giáo được truyền vào Trung Quốc trong thời Vũ Hậu nhà Đường, nhân việc Đường Vũ Tôn bài Phật, Ma Ni giáo cũng bị cấm, nên rút vào bí mật, vì đạo này sùng bái ánh sáng, vị thần được sùng bái gọi là Minh Vương, cho nên đổi tên là Minh giáo. Trong giáo nghĩa của Di Lặc giáo và Ma Ni giáo đều hàm chứa hiện trạng bất mãn, tư tưởng mong cầu tương lai, rồi những nghi thức như thắp hương, ăn chay v.v... cũng có nhiều chỗ tương đồng, cho nên, sau khi hai đạo tiếp xúc với nhau, tự nhiên đưa đến sự dung hợp. Mỗi khi xảy ra hiện tượng chính trị khiến trăm họ thất vọng, thì những truyện đồng dao Di Lặc, Minh Vương xuất thế lại được lan truyền rộng rãi. Ngoài ra, Đạo giáo là tín ngưỡng cố hữu của Trung Quốc, nên Di Lặc giáo, Minh Giáo lưu truyền ở dân gian không thể không chịu ảnh hưởng. Bởi thế, về sau, Bạch Liên giáo hưng khởi vào thời nhà Nguyên, cũng dung hợp cả ba thứ tín ngưỡng Di Lặc giáo, Minh giáo và Đạo giáo. Ngoài điều này ra, Bạch Liên giáo còn có một nguồn gốc nữa, đó là Bạch Liên Xã. Vị cao tăng đời Đông Tấn là ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn, sáng lập Bạch Liên Xã chuyên tu niệm Phật tam muội, cầu nguyện vãng sinh Tây phương Tịnh Độ. Vào những năm đầu đời Nam Tống, Từ chiếu Tử Nguyên (Mao Tử Nguyên), sùng mộ di phong lập Bạch Liên xã của ngài Tuệ Viễn, bèn sáng lập một đoàn thể thứ dân niệm Phật, tức là Bạch Liên Tôn (tín đồ được gọi là Bạch Liên Thái), nhưng vì môn nhân là Tiểu Mao Xà Lê làm cho giáo lí sai lệch, đến nỗi vào những năm cuối đời Tống bị coi là một thứ tà tông, thịnh hành ở một giải Giang Nam. Còn cái tên Bạch Liên hội thì vào năm Chí Nguyên 18 (1281) đời Nguyên Thế Tổ, do Đỗ Vạn Nhất tập họp thành lập mà có. Thời đó, hội này có liên quan gì với tín đồ Bạch Liên tông thuộc hệ thống Tử nguyên hay không thì không rõ, nhưng có thực hành các Phật sự Bạch Liên. Hội Bạch Liên này, vào thời Nguyên, bị coi là giặc, nên bị đàn áp, và có sắc lệnh cấm tên gọi hội Bạch Liên và tất cả thủ thuật mượn đạo làm loạn đời. Thời ấy, Ưu đàm phổ độ, vị tăng Bạch Liên tôn, ở chùa Đông Lâm, núi Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, soạn Lư sơn liên tông bảo giám 10 quyển, nói rõ chân nghĩa của Bạch Liên tông do Tử Nguyên sáng lập, đồng thời, bác bỏ những lời nói và việc làm tà bậy của hội Bạch Liên đương thời. Đến niên hiệu Chí đại năm đầu (1308), vì việc làm trái phép của Bạch Liên đạo nhân ở Bạch Liên đường, Hậu Sơn, Lộ Kiến Ninh, tỉnh Phúc Kiến, nên lại bị đàn áp và cấm chỉ. Nhưng, nhờ Ưu Đàm Phổ Độ đích thân lên kinh đô cố gắng vận động phục giáo, vào khoảng vua Nhân Tông lên ngôi (1312), lại được cho phép hoạt động lại. Về sau, năm Chí trị thứ 2 (1322) đời Anh tông, lại ba lần bị cấm chỉ. Đến thời Thuận Đế, cha con Hàn Sơn Đồng ở Loan Thành, nói láo là hoa sen trắng nở, Di Lặc ra đời, rồi chính thức thành lập hội Bạch Liên, dựa vào Phật giáo mà viết ra những kinh sách phù lục truyền bá trong dân gian, vào năm Chí chính 11 (1351), cầm đầu dân ngu làm loạn, không bao lâu, đều bị xử tử, đó tức là Hồng cân tặc (giặc khăn đỏ). Thời Minh Thái Tổ cũng cấm ngặt. Từ đời Minh trở về sau, hội Bạch Liên chịu ảnh hưởng của La Giáo (do La thanh đời Minh sáng lập, tông chỉ gần giống như Nam phái Thiền tông), hấp thu tư tưởng Chân không gia hương, vô sinh phụ mẫu (quê hương là chân không, cha mẹ là vô sinh), thờ mẹ già Vô sinh là chúa sáng thế, tuyên bố mẹ già Vô sinh sai thần Phật Di Lặc xuống phàm để bắt hết con gái đã mê mất trong hồng trần đưa trở về quê hương chân không. Từ đó về sau, các giáo phái mọc lên như nấm, các phái không ai chịu ai, giáo chủ thu tóm hết quyền trong tay, cha chết con nối; đẳng cấp nghiêm khắc, khi tín đồ nhập đạo, phải cử hành nghi thức nhất định, giao nạp tiền của, định kì hội họp, thắp hương lễ bái, tuyên giảng kinh quyển, dạy tập đánh đá. Đến khoảng năm Vạn Lịch đời Thần Tông, Từ Hồng nho và Vương Sâm lại khởi lên, đề xướng Bạch Liên giáo, tên gọi Bạch Liên giáo bắt đầu từ đó. Tuy nhiên, nếu bàn về nguồn gốc tư tưởng Di Lặc chuyển thế trong Bạch Liên giáo, thì phải bắt đầu từ đời Tùy, Đường; còn nếu đứng về phương diện hình thái hỗn hợp các tín ngưỡng mà nói, thì nó hình thành từ đời Nam Tống hay đời Nguyên. Vương Sâm vì đã được mùi thơm khác lạ của con chồn ma quái nên tự xưng là Văn hương giáo chủ, đốc thúc dân chúng mưu phản, lan tràn các tỉnh Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Thiểm Tây, nhưng cũng bại vong. Khoảng năm Càn Long đời Thanh, Bạch Liên giáo lại trỗi dậy, giáo chủ là Lưu Tùng, người tỉnh An Huy, bị bắt sung quân đưa đi Cam Túc, lại mưu phản, việc bại lộ, bị giết. Về sau, Lưu Chi Hiệp, Tống Chi Thanh, Vương Tam Hòe và Lãnh Thiêm Lộc lại nổi dậy, kêu gọi tín đồ, mưu dấy binh lật đổ nhà Thanh, việc bị phát giác, lần lượt bị giết. Quan lại ra sức càn quét và rất nhiều người vô tội đã bị vạ lây. Những người khác ở Kinh Châu, Tương Dương, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Cam Túc, vì bị quan lại ép buộc phải thú nhận là làm phản, bèn ùn ùn gậy gộc nổi lên, lan tràn khắp năm tỉnh, thời bấy giờ gọi là Xuyên sở giáo đồ chi dịch (quân lữ giáo đồ Xuyên Sở). Quân nhà Thanh đánh không lại, bèn thi hành chính sách thanh dã (đưa hết dân quê vào thành để tránh sự tiếp tế cho địch); sau nhờ Ngạch Lặc Đăng Bảo, Dương Ngộ Xuân, và Dương Phương dần dần bình định được. Nhưng cái gốc của Bạch Liên giáo vẫn chưa bị tuyệt diệt. Xét tổng quát, trong quá trình phát triển, cái tên gọi Bạch Liên giáo đã nhiều lần biến thiên, chi phái thì nhiều danh mục phồn tạp, tuy nhiên, về phương diện giáo nghĩa, tổ chức, qui tắc và phương thức hoạt động, thì phần nhiều vẫn như nhau, cho nên có thể gọi chung là Bạch Liên giáo. Từ đời Minh, Thanh đến Dân Quốc, số giáo phái kể có tới một trăm thứ trở lên. Như đời Minh có Hồng dương Tịnh không, Vô Vi, Tây Đại Thừa, đời Thanh đến Dân Quốc có Hoằng Dương, Hỗn nguyên, Thu Nguyên, Lão Quan Trai, Long Hoa, Bát Quái, Thiên Lí, Nhất Quán Đạo, Hòa Nghĩa đoàn, Hồng Thương hội, Đại Đao hội, Tiểu Đao hội, Thiên Môn hội, Vô Cực hội, Khoái đạo, Phiến Tử hội, Diệu Đạo hội, Hồng Đăng hội, Cửu Tiên hội, Thiên Hoàng hội, Lục Li hội, Phương Đạo hội, Đại Đạo môn, Báo Đức môn, Thập Tổ môn, Kim Đan đạo, Lão Sư đạo, Tọa Công đạo, Lão Phật Môn, Học Hảo giáo, Hiền Thánh giáo, Đại Phật giáo v.v... [X. Đại nguyên thông chế điều cách 28; Nguyên điển chương Q.33 Lễ bộ 5; Lư sơn liên tôn bảo giám; Lư sơn phục giáo tập].
bạch liên hoa
Pundarika (skt)—Phân Đà Lợi—Bông sen trắng—The white lotus. ** For more information, please see Phân Đà Lợi.
; (白蓮華) Phạm: Puịđarìka. Dịch âm là Phần đà lợi hoa. Tức hoa sen trắng. Nói tắt là bạch liên. Nguyên là một loại sen sản sinh ở Ấn Độ, cùng với một loại sen khác nữa là hoa Câu vật đầu, đều được gọi là hoa sen trắng. Để phân biệt giữa hai loại, hoa phần đà lợi được gọi là Đại bạch liên. Hoa sen trắng lớn này có năm đặc tính: 1. Mùi thơm lan xa. 2. Một khóm một hoa. 3. Hoa và hạt đồng thời. 4. Không nhuốm bùn nhơ. 5. Ong mật bu lại.
bạch liên hoa tọa
Tòa sen trong đệ nhất viện của Thai Tạng giới—The lotus throne in the first court of Garbhadhatu.
Bạch liên hoa xã
白 蓮 華 社|Xem Tịnh độ tông.
bạch liên hoa xã
Bạch Liên Chi Giao—Liên Xã—Bạch Liên Xã—Do Pháp Sư Huệ Viễn đời nhà Tấn thành lập vào khoảng đầu thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch. Ông cùng 123 vị khác thề trước bàn thờ Phật để tu Tịnh Độ Tây Phương, và trồng sen trắng làm biểu tượng. Bạch Liên Xã quy tụ hơn 3.000 người, trong đó có 123 vị được tôn là bậc Hiền. Trong số 123 bậc Hiền lại có 18 bậc Thượng Thủ gọi là Đông Lâm Thập Bát Đại Hiền—A society formed early in the fourth century A.D. by Hui-Yuan, who with 123 notable, literati, swore to a life of purity before the image of Amitabha, and planted white lotuses in symbol. The White Lotus Congregation composed of more than 3,000 Buddhists. Among them, 123 were honored as the Vitruous and eighteen of them were considered as the Highest Virtues. They were often referred as Đông Lâm Temple's Eighteen Greatly Virtuous Beings. ** For more information, please see Đông Lâm Thập Bát Đại Hiền.
bạch liên hội
White Lotus Society.
; White Lotus society.
bạch liên thái
Một trường phái ăn chay vào đời nhà Tống của Mao Tử Nguyên—The Sung vegetarian school of Mao-Tzu-Yuan.
bạch liên tông
Pai-lien tsung (C), School of White Lotus Bailianzong (C)Một phân nhánh của Tịnh độ tông do Mao Tử Nguyên sáng lập vào thế kỷ thứ 12.
; (白蓮宗) Là một phái thuộc tông Tịnh Độ của Phật giáo Trung Quốc. Do Mao Tử Nguyên sáng lập vào đầu năm Thiệu Hưng đời Cao Tông Triều Nam Tống. Tử nguyên, còn gọi là Từ Chiếu Tử nguyên, lúc đầu thờ ngài Tịnh Phạm ở chùa Diên Tường, Ngô quận, làm thầy, học giáo nghĩa Thiên Thai, tập Thiền pháp Chỉ quán. Nhân hâm mộ di phong lập Bạch Liên xã của ngài Tuệ Viễn đời Đông Tấn, nên khuyên nhủ sĩ dân qui y Tam Bảo, giữ năm giới, niệm Phật A Di Đà năm tiếng để chứng năm giới, biên thành Liên tông thần triêu sám nghi (nghi thức sám hối buổi sớm mai), thay cho pháp giới chúng sinh lễ Phật sám hối, cầu nguyện chúng sinh vãng sinh Tịnh Độ. Sau đến hồ Điển Sơn ở Bình Giang (nay ở phía tây huyện Thanh phố tỉnh Giang Tô, phía nam huyện Côn Sơn), sáng lập Bạch liên sám đường, tự xưng là Bạch liên đạo sư, tu Tịnh nghiệp, soạn Viên dung tứ độ tam quán tuyển Phật đồ, đề xướng nghĩa mới bèn thành một phái. Thời đó có ngưòi chê bai cho là sư thờ ma, sư mới dời đến Châu Giang (huyện Cửu Giang tỉnh Giang Tây), song vẫn khuyến hóa xa gần, không hề mệt mỏi. Năm Kiền đạo thứ 2 (1166) đời Hiếu Tông nhà Nam Tống, sư vâng mệnh vua, vào điện Đức Thọ diễn thuyết về pháp môn Tịnh Độ, được ban hiệu là Từ chiếu tông chủ. Không bao lâu, sư lại về Bình Giang, lấy Phổ giác diệu đạo làm tên tông, chủ trương Thiền, Tịnh nhất trí, Di đà tức là bản tính của chúng sinh, Tịnh độ tức ở trong tâm chúng sinh, chỉ cần tín nguyện niệm Phật, thì dù chẳng dứt được phiền não, chưa bỏ duyên đời, không tu Thiền định, sau khi mệnh chung, cũng có thể được vãng sinh Tịnh độ. Trứ tác có: Di đà tiết yếu, Pháp hoa bách tâm, Kệ ca tứ cú, Phật niệm ngũ thanh, Chứng đạo ca, Phong nguyệt tập v.v... (nay phần lớn đã thất truyền), một thời tông phong đại thịnh. Phật tổ thống kỉ nguyên 47 chép, tông này cấm tín đồ ăn hành tỏi, uống sữa, giữ giới nghiêm túc, không sát sinh, không uống rượu, tên hiệu là Bạch liên thái (rau sen trắng), còn gọi là Nhự mao xà lê thái (Mao xà lê ăn rau). Sau đó có Tiểu mao xà lê kế thừa giáo pháp của Tử Nguyên, thịnh hành ở phương nam, dần dần phát sinh tệ đoan, phong tục bại hoại, nhiễu loạn. Đến niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Vũ Tông Triều Nguyên, vào tháng năm, nhà vua xuống lệnh cấm Bạch Liên Xã; thời ấy, có Ưu Đàm Phổ Độ (? - 1330) ở chùa Đông Lâm, Lư Sơn, soạn Lư sơn Liên tôn bảo giám 10 quyển, xiển minh nghĩa chân thực của Bạch Liên tông do Tử Nguyên sáng lập, sau chịu mệnh vua, làm giáo chủ, đời gọi là Ưu Đàm Tông chủ. Vì Ưu Đàm dốc sức vào việc vận động khôi phục Bạch Liên tôn, nên vào năm vua Nhân Tông lên ngôi (1312) lại được phục giáo, nhưng các mối tệ vẫn chưa cải thiện. Lại tín đồ Bạch Liên tông xưa nay cứ tập họp vào ban đêm, tạo cơ hội cho những phần tử bất bình với xã hội thẩm nhập, mưu đồ phản loạn; vì e sợ mầm mống gây rối loạn xã hội; nên vào năm Chí Trị thứ 2 (1322) đời Anh Tông lại bị nhà vua cấm đoán. Về sau dung hợp với tín ngưỡng Di Lặc và gọi là Bạch Liên giáo, trở thành một trong những tôn giáo dân gian bí mật, lưu truyền khá rộng rãi. Hồng quân (giặc khăn đỏ) của Hàn Sơn Đồng ở cuối đời Nguyên và Chu nguyên chương dấy binh mưu phản cũng đều lợi dụng Bạch liên giáo; trong đời Minh, Thanh tuy bị nghiêm cấm, nhưng vẫn ngấm ngầm lưu hành trong dân gian. [X. Thích môn chính thống Q.4; Minh sử liệt truyện thứ 10, thứ 145]. (xt. Bạch Liên Giáo).
bạch liên tự
(白蓮寺) Vị trí chùa nằm về phía tây huyện Thanh phố tỉnh Giang Tô, phía nam huyện Côn Sơn, ở bên cạnh hồ Điển Sơn và núi Điển Sơn. Tên hồ vốn là Bệ Điển, núi nguyên ở giữa hồ, hiện nay vì ứ đọng nên gần liền với bờ. Chùa do Tử Nguyên sáng lập trong năm Long Hưng (1163 - 1164) đời Tống, lúc đầu đặt tên là Bạch Liên quán đường. Tử nguyên cầm đầu bốn chúng đệ tử ở trong chùa tu pháp môn Thập lục quán, cầu sinh Cực Lạc Tịnh Độ, vì thế còn gọi là Bạch Liên sám đường. Trong năm Kiền đạo, vua Nhân tông ban hiệu là Bạch liên tự. Trong năm Đại đức đời nhà Nguyên, chùa bị hủy, đến niên hiệu Chí Chính năm đầu lại trùng hưng, dưới thời Minh, Thanh đều là ngôi chùa lớn, nhưng trong năm Hàm Phong (1851 - 1861), chùa bị phá hủy bởi cuộc chiến Thái bình quân.
bạch liên xã
(白蓮社) Là đoàn thể được kết hợp để tu hành niệm Phật. Nói đủ là Bạch Liên Hoa xã. Gọi tắt là Liên Xã. Nguồn gốc là đoàn thể niệm Phật do ngài Tuệ Viễn đời Đông Tấn sáng lập, nay trở thành tên gọi chung cho các đoàn thể thuộc loại này. Năm Thái Nguyên thứ 9 (384) ngài Tuệ Viễn đến Lư Sơn, ở chùa Đông Lâm tại Hổ Khê, tăng, tục từ bốn phương qui tụ về đây cầu đạo. Niên hiệu Nguyên hưng năm đầu (402) vào tháng 7, Tuệ Vĩnh, Tuệ Trì, Đạo Sinh, Lưu Di Dân, Tôn Bính, Lôi Thứ Tông v.v... gồm một trăm hai mươi ba người, tụ họp tại chùa Đông Lâm, trước tượng Phật Vô Lượng Thọ trên đài Bát-nhã, kiến trai lập thệ, chuyên tu niệm Phật tam muội, nguyện cầu vãng sinh Tây phương. Vì trong ao chùa trồng nhiều sen trắng, lại cũng vì đoàn thể nguyện cầu sinh cõi hoa sen, cho nên gọi là Bạch Liên xã. Về sau, người đến theo mỗi ngày một nhiều, mở đầu sự hưng thịnh của Tịnh Độ giáo. Đặc biệt được thịnh hành vào cuối đời Đường, đầu đời Tống. Mỗi khi kết hợp những người cùng chí hướng để dựng đạo tràng Tịnh Độ, chuyên tu tịnh nghiệp, thì lại lấy ngài Tuệ Viễn làm vị thủy tổ của Liên xã, lấy kinh Ban chu tam muội làm tư tưởng chủ yếu cho Liên xã niệm Phật, lấy việc thấy Phật vãng sinh làm mục đích. Niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, Liên xã bị cấm, thời ấy, Ưu đàm phổ độ (? - 1330) ở chùa Đông Lâm, dâng mười quyển Lư sơn liên tôn bảo giám xiển minh ý chỉ của Liên tông, bèn được giải tỏa, đồng thời, chịu mệnh vua, Ưu đàm làm giáo chủ. Về sau, trải qua các đời Minh, Thanh đến nay, vẫn còn có những người kết đoàn niệm Phật. Lại phong khí kết đoàn niệm Phật cũng truyền đến Nhật bản, Triều tiên và rất thịnh hành. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.15; Lương Cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.9, Q.12, Q.45, Q.47].
bạch liên xã thất tổ
(白蓮社七祖) Chỉ bảy người gồm các ngài Tuệ Viễn, Thiện Đạo v.v…... Pháp sư Thạch Chi Tông hiểu ở núi Tứ Minh (tỉnh Triết Giang) đời Tống, chọn lựa các bậc cao đức ở các thời đại khác nhau, nhưng cùng tu tịnh nghiệp, mà lập thành bảy vị tổ Liên xã. Tức là: thủy tổ là Tuệ Viễn ở Lư Sơn, đời Tấn; tổ thứ hai là Thiện Đạo ở Trường An, đời Đường; tổ thứ ba là Thừa Viễn ở Hành Sơn, đời Đường; tổ thứ tư là Pháp Chiếu ở núi Ngũ Đài, đời Đường; tổ thứ năm là Thiếu Khang ở núi Ô Long, đời Đường; tổ thứ sáu là Diên Thọ ở Vĩnh Minh, đầu đời Tống; tổ thứ bảy là Tỉnh Thường ở Tây Hồ, đời Tống. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26].
bạch liên xã thập bát hiền
(白蓮社十八賢) Trong Bạch liên xã do ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn sáng lập, số nhân tài xuất chúng gồm cả tăng và tục, có mười tám người, gọi là mười tám bậc hiền. Đó là: Tuệ Viễn, Tuệ Vĩnh, Tuệ Trì, Đạo Sinh, Đàm Thuận, Tăng Duệ, Đàm Hằng, Đạo Bính, Đàm Tân, Đạo Kính, Giác Minh, Phật Đà Bạt Đà, Lưu Trình Chi, Trương Dã, Chu Tục Chi, Trương Thuyên, Tôn Bính, Lôi Thứ Tông. [X. Phật tổ Thống kỉ Q.26; Lư sơn Liên tôn bảo giám Q.4].
bạch lạc thiên
Pai-Yueh-T'ien—Một nhà thơ lớn đời nhà Đường. Khi làm quan, trong huyện có một thiền sư nổi tiếng với biệt danh là Ô Sào Thiền Sư, vì sư thường hay tọa thiền trên các cành cây chi chít. Thấy vậy Bạch Lạc Thiên bèn bảo vị thiền sư: “Chỗ thầy ngồi trên cây thật là nguy hiểm.” Sư đáp: “Chỗ của ông còn nguy hiểm hơn nhiều.” Bạch Lạc Thiên đáp lại: “Tôi là quan tri huyện, tôi thấy chỗ ấy có gì là nguy hiểm?” Sư đáp: Vậy là tại ông không biết đó thôi. Khi lòng dục ông bừng lên và tâm ông không vững, thì còn gì nguy hiểm hơn?” Thế rồi Bạch Lạc Thiên lại hỏi tiếp: Phật giáo dạy điều gì?” Sư tụng bốn câu kệ nổi tiếng: “Không làm các điều ác, Làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Ấy lời chư Phật dạy.” Tuy nhiên, Bạch Lạc Thiên phản đối nói rằng: “Cái đó đứa trẻ lên ba cũng biết và nói được.” Thiền sư ngồi trên cây bèn đáp lại: “Ờ thì đứa trẻ lên ba cũng biết và nói được, nhưng ông lão tám mươi vẫn chưa làm được.” —Pai Yueh-T'ien was a great poet during the T'ang dynasty. When he was a governor in a district, there was a Zen master who was living within his jurisdiction popularily known as the “Bird's Nest,” for he used to practice his meditation on a seat made of thickly growing branches of a tree. Seeing this Pai-Yueh-T'ien told the Zen master: “What a dangerous seat you have up in the tree!” Yours is far worse than mine, retorted the master. Pai-Yueh-T'ien responded: “I am the governor of this district and I don't see what danger there is in it.” “Then you don't know yourself! When your passions burn and your mind is unsteady, what is more dangerous than that?” Pai-Yueh-T'ien then asked: “What is the teaching of Buddhism?” The master recited this famous stanza: “Not to commit evils, To practice all good, and to keep the heart pure, This the teaching of the Buddhas. Pai-Yueh-T'ien, however, protested: “Any child three years old can know and say that.” “Yes, any child three years old may know and say it, but even an old man of eighty years finds it difficult to practice.” So concluded the Zen master up in the tree.
bạch lạp
(白鑞): kim loại pha lẫn giữa chì và thiếc, dễ nóng chảy, dùng trong việc hàn các kim loại khác.
bạch lộ trì
Ao Cò Trắng trong thành Vương Xá, một cảnh nổi tiếng khi Đức Thế Tôn giảng phần thứ 16 từ quyển 593 đến quyển 600 trong Kinh Bát Nhã, nên còn gọi là Bạch Lộ Trì Kinh—The White Heron Lake in Rajagrha, the scene of sakyamuni's reputed delivery of part of the Mahaprajnaparamita-sutra, from book 593 to book 600, the last of the 16 assemblies of this sutra, which is also called The White Heron Lake Sutra.
; (白鷺池) Vị trí hồ nằm trong vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá. Đức Phật tuyên thuyết sáu trăm quyển kinh Bát nhã ba la mật đa, cộng mười sáu hội trải qua bốn nơi, trong đó, quyển năm trăm chín mươi ba đến quyển sáu trăm đã được nói ở đây, tức là trong mười sáu hội, đây là hội thứ mười sáu. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 593 (Đại 7, 1065 hạ) nói: Tôi nghe như vầy: một thời kia, đức Bạc Già Phạm trú tại thành Vương Xá, trong vườn Trúc Lâm, bên cạnh hồ Bạch Lộ (hồ cò trắng) cùng với chúng đại Bật sô đủ một nghìn hai trăm năm mươi người, vì lí do đó mà kinh Bát nhã còn được gọi là Bạch lộ trì kinh.
bạch lộ trì kinh
The White Heron Lake Sutra—See Bạch Lộ Trì.
Bạch mã
(白馬): ngựa trắng. Tương truyền dưới thời vua Minh Đế (明帝, 57-75 tại vị) nhà Hậu Hán, nhóm Ca Diếp Ma Đằng (s: Kāśyapamātaṅga, 迦葉摩騰, ?-73) lần đầu tiên mang một số kinh điển Phật Giáo như Tứ Thập Nhị Chương (四十二章), v.v., từ bên Tây Vực (Ấn Độ) sang, chở trên lưng con bạch mã, đến trú tại Hồng Lô Tự (鴻臚寺, nơi dùng để tiếp đãi các sứ đoàn ngoại quốc). Nhân đó, nhà vua cho xây dựng Bạch Mã Tự (白馬寺) tại kinh đô (nay là Lạc Dương, Tỉnh Hà Nam) để an trí các kinh điển này. Nguyên lai chữ tự (寺) vốn có nghĩa là sảnh đường làm việc của quan, nhưng từ khi có ngôi Bạch Mã Tự này, chữ này bắt đầu có thêm nghĩa là ngôi chùa Phật Giáo.
bạch mã
(白馬) I. Bạch Mã. Tức là con ngựa màu trắng. Về con ngựa trắng trong Phật giáo, có hai mẩu truyện nổi tiếng, đó là: 1. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 1 chép, thì ngày xưa bên Thiên Trúc (Ấn Độ) có ngôi chùa tên là Chiêu Đề, nước ấy có ông vua tàn ác, tham lam hiếu lợi, muốn phá hủy ngôi chùa Chiêu Đề để lấy của. Nhưng, trước khi nhà vua thực hiện ý định thì có một con ngựa trắng cứ chạy vòng quanh cây tháp mà kêu suốt đêm, vua bèn hối ngộ và đổi tên là chùa Bạch Mã. 2. Cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 1, Lạc Dương già lam kí quyển 4 chép, thì vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời vua Minh Đế nhà Đông Hán, các ngài Ca Diếp Ma Đằng (Nhiếp Ma Đằng) và Trúc Pháp Lan, mang tượng Phật và Kinh điển cỡi ngựa trắng từ phương Tây đến, trú tại Lạc Dương, đây là sự tích sớm nhất về việc Phật giáo truyền vào Trung Quốc. Bởi vậy, từ ngựa trắng đối với ý nghĩa lịch sử Phật giáo và việc Phật giáo truyền vào Trung Quốc có mối quan hệ rất mật thiết. II. Bạch Mã. Là vị tăng thuộc tông Tào Động ở cuối đời Đường. Năm sinh năm mất không rõ. Là người nối pháp tổ Động Sơn Lương Giới của tông Tào động. Pháp danh là Độn Nho, ở chùa Bạch Mã tại Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) khá lâu, khiến cho tông phong vang dội, đời gọi là Bạch Mã Độn Nho. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Liên đăng hội yếu Q.22; Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
bạch mã chủ
Svetavajin—Lord of white horses (drawn by white horses).
bạch mã nhập lô hoa
(白馬入蘆花) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cảnh giới siêu việt sự phân biệt đối đãi. Bởi vì, ngựa trắng đi vào lùm hoa lau, trên phương diện thị giác, không có phân biệt, ngựa trắng và hoa lau cùng một màu, hồn nhiên hợp nhất. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cảnh giới siêu việt mọi thứ thấy biết phân biệt mình người, lớn nhỏ, cao thấp, và đẹp xấu. Bích nham lục Tắc 13 (Đại 48, 153 hạ) nói: Vị tăng hỏi Ba Lăng: Thế nào là tông Đề bà? (Ngựa trắng vào hoa lau, nói làm sao?).
bạch mã pháp thân
(白馬法身) Tên công án trong Thiền tông. Bạch Mã, chỉ Thiền sư Bạch Mã Độn Nho thuộc tông Tào động ở cuối đời Đường. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 chép, thì một ngày nọ, có vị Thiền tăng hỏi: (Đại 51, 338 hạ): Thế nào là việc Pháp thân hướng thượng?. Thiền sư Độn Nho đáp: Con ễnh ương dưới đáy giếng nuốt mặt trăng. Trong công án này, vị Thiền tăng hỏi: Việc Pháp thân hướng thượng tức là việc lớn triệt ngộ thành Phật. Vì hết thảy chúng sinh đều có tính Phật, vốn có thể thành Phật, chỉ vì tình kiến phân biệt, mê chấp đảo điên, nên dần dần xa lìa con đường thành Phật. Độn Nho không trả lời thẳng vào câu hỏi của Thiền tăng, mà lại bảo con ễnh ương dưới đáy giếng nuốt mặt trăng trên trời, mới nghe thì tựa hồ như không trả lời, song bản ý của Độn Nho là ở chỗ ám thị cảnh giới triệt ngộ, vốn là một thứ cảnh giới phi tư lự, lìa tứ cú, tuyệt bách phi, phải dứt bỏ hết mọi khái niệm tư duy mới có thể lãnh hội được. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Liên đăng hội yếu Q.22].
Bạch Mã tự
白 馬 寺; C: báimǎ-sì;|Chùa cổ nhất Trung Quốc gần Lạc Dương, được xây dựng từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên. Chùa được tu bổ nhiều lần, lần cuối vào đời nhà Minh. Chùa thuộc về Thiền tông, là nơi bộ kinh Tứ thập nhị chương được hai Cao tăng Ấn Ðộ là Ca-diếp Ma-đằng (迦 葉 摩 騰; s: kāśyapa mātaṅga) và Trúc Pháp Lan (竺 法 蘭; gobharaṇa hoặc dharmarakṣa) dịch ra chữ Hán. Ðây là bộ kinh đầu tiên được dịch sang Hán ngữ. Tháp của hai vị còn đứng bên cạnh chùa này.
bạch mã tự
Pai-ma ssu (C), Baimasi (C)Tên một ngôi chùa.
; Chùa Bạch Mã được vua Hán Minh Đế dựng lên và cho người sang Ấn Độ tìm hai vị sư nổi tiếng là Matanga và Gobharana về trụ trì vào khoảng năm 64 sau Tây Lịch thời Hậu Hán. Chùa tọa lạc trong thành Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam, về phía tây của cổ thành, phía đông của thành mới bây giờ. Theo tương truyền thì vào cuối thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, những kinh mang về từ Ấn Độ được chở trên những xe ngựa trắng nên từ đó chùa có tên là Bạch Mã. Đây cũng là nơi mà giáo đoàn truyền giáo đầu tiên của đạo Phật lưu trú. Cũng có truyền thuyết cho rằng chùa nầy được dựng lên để tưởng nhớ hai vị A La Hán Tỳ Kheo đã đến Trung Hoa hoằng Pháp bằng ngựa trắng—The White Horse Temple (Monastery) recorded as given to the Indian monks, Matanga and Gobharana, who are reputed to have been fetched from India to China in 64 A.D. The temple was in Honan, in Lo-Yang, the capital; it was west of the ancient city, east of the later city in Later Han dynasty. According to tradition, originating at the end of the second century A.D., the White Horse Temple was so called because of the white horse which carried the sutras they brought back from India. Also according to tradition, the first missionaries dwelt. Some said this temple was built in memory of the two Arhat Bhikshus who came to China on 'white horses' to propagate the Buddha-Dharma.
; (白馬寺) I. Chùa Bạch Mã. Vị trí chùa nằm về phía Đông huyện Lạc Dương tỉnh Hà Nam (phía tây thành Lạc Dương cũ). Được kiến tạo vào thời Minh Đế nhà Đông Hán, có thuyết nói xây dựng vào năm Vĩnh bình thứ 18 (75) thời Minh Đế. Tương truyền là ngôi chùa cổ nhất tại Trung Quốc. Vì có hai vị tăng người Thiên Trúc (Ấn Độ) là Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, cỡi ngựa trắng mang kinh điển từ Tây Vực đến Trung Quốc, có thuyết bảo hai vị đến TRUNG quốc vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67) nên vua Minh Đế hạ lệnh kiến tạo Tinh xá ở ngoài cửa Tây Ung (cửa Tây Dương) của thành Lạc Dương gọi là chùa Bạch Mã để hai vị ở. Lạc Dương già lam kí quyển 4 (Đại 51, 1014 trung), nói: Chùa Bạch Mã do Minh Đế nhà Hán xây dựng, lần đầu tiên Phật đến Trung Quốc; chùa nằm ngoài cửa Tây Dương cách ba dặm, phía Nam Ngự đạo (đường đắp để vua đi chơi). Vua mộng thấy thần vàng, cao trượng sáu, đằng sau gáy và lưng sáng chói như mặt trời mặt trăng; thần vàng, hiệu là Phật. Nhà vua sai sứ sang Tây Vực tìm cầu, bèn được kinh và tượng. Lúc ấy ngựa trắng chở kinh đến, nhân thế đặt tên là chùa Bạch Mã. Minh Đế băng, trên lăng dựng kì hoàn; từ đó về sau trăm họ có người làm phù đồ (tháp) ở trên mộ. Hòm kinh để trên chùa, đến nay vẫn còn, thường thắp hương cúng dường. Hòm kinh đôi khi phóng ra ánh sáng, chiếu khắp điện đường, thấy thế, đạo tục lễ kinh, như chiêm ngưỡng chân dung. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 1 chép, tương truyền nước Thiên Trúc có ngôi chùa tên là Chiêu Đề. Nhà vua thường phá hủy các chùa, duy chùa Chiêu Đề chưa kịp phá, sau vì có con ngựa trắng ban đêm chạy quanh chùa tháp kêu thảm thiết, nhà vua bèn không phá nữa và đổi tên chùa là Bạch Mã. Cho nên có thuyết nói vua Minh Đế nhà Đông Hán, khi làm chùa Phật đầu tiên tại phía Tây thành Lạc Dương, nhân theo điển tích trên đây mà gọi là chùa Bạch Mã. Tương truyền kiểu chùa bắt chước Tịnh xá Kì Viên ở Ấn Độ, trong chùa có tháp, trên điện có các bức bích họa, Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan từng ở đây dịch kinh Bốn mươi hai chương, là kinh được dịch sớm nhất trong các kinh điển Phật dịch ra chữ Hán. Hai bên cổng chùa có mộ của hai vị Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Lại phía Đông Nam chùa này, có một chùa tháp, gọi là Đông Bạch mã tự, một tên nữa là Tề Vân tự (có thuyết nói là Trai Vân tự) do Đường Trang tông (ở ngôi 923 - 925) tạo dựng, kiểu tháp là tháp chín tầng bằng gỗ, sau bị nạn binh lửa Tĩnh khang đời Tống phá hủy, đến năm Đại định thứ 15 (1175) pháp sư Ngạn Công dựng lại, năm Gia khánh thứ 3 (1798) đời Thanh, pháp sư Viên Lãng lại tu bổ, hiện còn đến nay là tòa tháp gạch mười ba tầng. Niên đại chùa Bạch Mã quá lâu xa, vả lại thường bị nạn binh lửa, cho nên, vào khoảng các năm Thùy củng đời Đường, Thuần hóa đời Tống, Chí thuận đời Nguyên, Hồng vũ đời Minh đã lần lượt khôi phục. Vào cuối đời Đường và thời Ngũ đại, các sư Thiền tông hoằng hóa tại đây. Thời Kim mạt thì là nơi hoằng hóa của các sư tông Hoa Nghiêm, giảng đạo rất thịnh, qua các đời, pháp duyên đều không suy. Các ngài Khang Tăng Khải, Đàm Đế, Bạch Diên thời Tào Ngụỵ, Trúc Pháp Hộ thời Tây Tấn, Đàm Ma Lưu Chi, Phật Đà Phiến Đa đời Bắc Ngụỵ, Phật Đà Đa La đời Đường v.v... các vị cao tăng trên đây đều đã từng dịch kinh ở chùa này. Vua Chân Tông nhà Tống cũng đã từng đến đây và lễ bái di tích cũ của Nhiếp Ma Đằng. Có thể nói, từ thời Bắc Ngụỵ trở đi, chùa Bạch Mã đã là trung tâm Phật giáo của Bắc triều. Năm Dân quốc thứ 17 (1928) chùa bị quân phiệt Phùng ngọc tường phá hủy. Năm Dân quốc 20, nhà hộ pháp Đái Quế Đào và Đỗ Nguyệt sanh ở Thượng Hải đứng ra xây dựng lại. [X. Phật tổ thống kỉ Q.53; Hoằng minh tập Q.1; Độc sử phương dư kỉ yếu (Hà nam phủ, Lạc Dương huyện); Đại Minh nhất thống chí Q.29; Đại Thanh nhất thống chí Q.163]. II. Chùa Bạch Mã. Vị trí chùa nằm ở huyện Tây An tỉnh Thiểm Tây. Do Mẫn Đế (ở ngôi 313 - 316) nhà Tây Tấn kiến thiết. Đời đời đều là đạo tràng giảng học, đến đời Tùy thì bỏ hẳn. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4]. III. Chùa Bạch Mã. Vị trí chùa ở Nam kinh tỉnh Giang Tô. Được sáng lập vào năm Thái hưng thứ 2 (319) đời Nguyên Đế nhà Đông Tấn. Pháp Bình, Tăng Nhiêu, Đàm Bằng đời Lưu Tống Nam triều và Tăng Mân đời Lương đều đã từng hoằng pháp tại đây. Cảnh Thiều, Trí nghiêm, Trí Thông đời Trần đều cũng đã ở chùa này. IV. Chùa Bạch Mã. Vị trí chùa ở huyện An Dương tỉnh Hà Nam. Do Phật đồ trừng thời Hậu Triệu kiến tạo, lúc đầu là tháp bằng gỗ. Cuối năm Vũ bình (570 - 575) đời Bắc Tề vua xuống lệnh trùng tu, tương truyền đào được ba viên xá lợi ở dưới đất. V. Chùa Bạch Mã. Vị trí chùa ở huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc. Cứ theo truyền thuyết, thì đầu đời Tấn, An Thế Cao, nhân đi hóa độ, qua một ngôi miếu thờ thần ở ấp Cung mà được của cải, bèn kiến thiết chùa này ở góc Đông Nam kinh thành. Không bao lâu, Đạo An từ Tương Dương đến đây, bảo chùa quá chật hẹp, cho nên lại sang lập chùa Đàn Khê. Theo truyền thuyết sa môn Huyền Trang đời Đường cũng đã từng ở chùa này. [X. Kinh châu kí (Sưu trọng ung)].
bạch nghiệp
Dù làm thiện mà chẳng cho là thiện, dù không làm ác cũng chẳng cho là không làm ác, thiện ác đều chẳng suy nghĩ, tâm chẳng phân biệt hay dở, tốt xấu v.v... như tờ giấy trắng nên gọi là bạch nghiệp.
; Clean karma.
; Dù làm thiện mà chẳng cho là thiện, dù không làm ác cũng chẳng cho là không làm ác, thiện ác đều chẳng suy nghĩ, tâm chẳng phân biệt hay dở, tốt xấu… như tờ giấy trắng nên gọi là bạch nghiệp.
bạch nghiệp hắc nghiệp
(白業黑業) Là nghiệp trắng và nghiệp đen nói gộp lại. Nghiệp tính thiện, gọi là nghiệp trắng; nghiệp tính bất thiện, gọi là nghiệp đen, nghiệp đen tối. Cái mà nghiệp trắng cảm được gọi là báo trắng, tức là báo như ý, báo thiện; cái mà nghiệp đen cảm được gọi là là báo đen, tức là báo không như ý, báo ác. [X. kinh Niết Bàn (bản Nam) Q.34; luận Tập dị môn túc Q.7]. (xt. Tứ Nghiệp).
Bạch nghiệp 白業
[ja] ビャクゴウ hakugō ||| Literally "white karma" which connotes good actions--deeds which invite future good fortune. The opposite of 黒業.〔倶舎論、 T 1558.29.84a〕 => 'Nghiệp trắng', có nghĩa là những việc làm tốt– đem lại sự thịnh vượng tốt đẹp trong tương lai.
bạch nguyệt
xem tuần trăng tối.
; Śuklapakṣa (S), Sukkapakkha.
; Suklapaksa (S). First fornight of a lunar month.
; Suklapaksa (skt)—Bạch Phần—Trăng sáng, thường chỉ ánh trăng của nửa tháng đầu, đối lại với hắc phần hay ánh trăng tối của nửa tháng sau (từ ngày bắt đầu có trăng đến ngày trăng tròn)—The bright moon, usually the moon light during the first half of the month, in contrast with the krsnapaksa dark or latter half.
; (白月) Phạm: zukla-pakwa, Pàli: sukkapakkha. Dịch âm là Thú ca la bác khất-sử. Chính tên là Bạch bán (nửa trắng). Cũng gọi là Bạch nguyệt phần (phần tháng trắng), bạch phần (phần trắng). Chỉ cho khoảng thời gian từ trăng mới nhú đến trăng tròn. Đối lại với Hắc nguyệt. Lịch pháp Ấn Độ, theo sự tròn, khuyết của mặt trăng mà lập tên trắng, đen. Và cách ghi tháng của Ấn Độ là đen trước trắng sau, vì thế tháng trắng là nửa phần đầu của tháng, tương đương với ngày mồng 1 đến 15 mỗi tháng âm lịch của Trung Quốc và Nhật Bản. Đại đường Tây Vực kí quyển 2 (Đại 51, 875 hạ) nói: Trăng nhú đến tròn đầy gọi là phần trắng; trăng khuyết đến tối đen, gọi là phần đen. Phần đen có mười bốn ngày hay mười lăm ngày, vì có tháng đủ, tháng thiếu. Đen trước trắng sau, gộp làm một tháng. [X. kinh Tú diệu Q.thượng; luận Lập thế a tì đàm Q.6; Câu xá luận quang kí Q.11]. (xt. Hắc Nguyệt).
bạch ngưu
A white ox.
bạch ngưu vô giác
A hornless white ox or a white horse.
bạch ngưu xa
Xe Trâu Trắng—Nhứt Thừa cứu độ chúng sanh—White bullock cart—The one universal vehicle of salvation. ** For more information, please see Hỏa Trạch.
Bạch Ngọc
(白玉): loại ngọc quý màu trắng mỡ, rất hiếm có màu xanh nhạt, hay vàng sữa. Loại có chất lượng cao nhất xuất phát từ vùng Hòa Điền (和田), Tân Cương (新疆), Nội Mông. Dưới thời nhà Minh, Thanh của Trung Quốc, khi nói đến từ Bạch Ngọc, tức ám chỉ loại ngọc trắng của vùng Hòa Điền, Tân Cương. Hiện tại, ngoài loại ngọc màu trắng chúng ta thường thấy, còn có Tân Sơn Ngọc (新山玉), Mật Ngọc (密玉), Độc Sơn Ngọc (獨山玉), Thanh Hải Bạch Ngọc (青海白玉), cũng như Bạch Ngọc của Hàn Quốc, v.v. Đây là loại ngọc rất quý hiếm, có độ bền cao; nên thường được dùng để làm đồ trang sức, điêu khắc thành tượng Phật, xâu chuỗi, khám thờ, v.v. Câu “Bạch ngọc giai tiền, hàm thọ Đề Hồ chi vị (白玉階前、咸受醍醐之味)” ở trên có nghĩa là trước thềm ngọc trắng thọ nhận trọn vẹn vị Đề Hồ (diệu pháp). Trong bài cúng linh được chư tăng ở Huế thường dùng cũng có có câu với ý nghĩa tương tự như vậy: “Bạch Ngọc giai tiền văn diệu pháp, Huỳnh Kim điện thượng lễ Như Lai (白玉階前聞妙法、黃金殿上禮如來, Ngọc Trắng trước thềm nghe diệu pháp, vàng ròng trên điện lễ Như Lai).” Hơn nữa, trong hồi thứ 29 của Tây Du Ký (西遊記) cũng có đoạn: “Các đới tùy thân binh khí, tùy kim bài nhập triều, tảo đáo Bạch Ngọc giai tiền, tả hữu lập hạ (各帶隨身兵器、隨金牌入朝、早行到白玉階前、左右立下, mỗi người đều mang theo binh khí tùy thân, đem tấm kim bài vào triều, đi nhanh đến trước thềm Ngọc Trắng, đứng yên hai bên phải trái).”
Bạch Nham Tịnh Phù
(白巖淨符, Hakugan Jōfu, ?-?): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Vị Trung (位中), pháp từ của Thạch Vũ Minh Phương (石雨明方), sống tại Bạch Nham (白巖), Tiền Đường (錢唐, Tỉnh Triết Giang) và khai đường thuyết pháp tại đây trong vòng 30 năm. Bản Pháp Môn Sừ Quĩ (法門鋤宄) do ông biên soạn vào năm thứ 6 (1667) niên hiệu Khang Hy (康熙) và bản Tổ Đăng Đại Thống (祖燈大統) được biên tập vào năm thứ 11 (1672) cùng niên hiệu trên là các tác phẩm đính chính những sai lầm về thuyết huyết thống chư tổ. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm khác như Nhân Thiên Nhãn Mục Khảo (人天眼目考) 1 quyển, Tụng Thạch Trích Châu (頌石摘珠) 1 quyển, Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集) 4 quyển. Pháp từ của ông có Hương Mộc Trí Đàn (香木智檀) là kiệt xuất nhất.
bạch nhất (nhị) kiết ma
Jnaptidvitìyà karma-vàcanà (S). To discuss with and explain to the body of monks the proposals or work to be undertaken. Bạch tứ kiết ma. To consult the body of monks on matters of grave moment and obtain its complete assent.
bạch nhất yết ma
Jnaptidvitiya-karmavacana (skt)—Bạch Nhị Yết Ma. 1) Bạch Nhất: Một lần bạch—Mỗi khi trong tự viện có pháp sự thì Tăng chúng họp lại để đệ trình đề nghị—To meet with the body (assembly) of monks to submit the proposal or work to be undertaken during a ceremony. 2) Yết Ma: Tăng chúng họp bàn, cân nhắc và giải thích xem coi đề nghị có nên được thực hành hay không—The assembly of monks discuss, consider and explain as to how the proposal or work would be undertaken.
bạch nhị yết ma
See Bạch Nhất Yết Ma.
; (白二羯磨) Phạm: Jĩaptidvitiyà-karmavacanà. Còn gọi là Bạch nhất yết ma, Bạch nhị pháp. Là một trong ba pháp (pháp đơn bạch, pháp bạch nhị, pháp bạch tứ) của chúng tăng. Bạch (Phạm: jĩapti) tức là cáo bạch, là công bố cho mọi người biết. Yết ma (Phạm: karma) dịch ý là nghiệp, làm việc, thủ tục làm việc. Ở trong chùa, khi làm việc, tùy theo công việc, phải triệu tập chúng tăng trong chùa họp bàn để quyết định, lịch trình quyết định là một bạch yết ma. Như khi tiến hành nghi thức thụ giới, thì trên đàn giới, thầy yết ma đối trước chúng tăng, đọc văn biểu bạch một lần, trình bày lý do của việc thụ giới, kế đó, lấy một yết ma (một lần trình bày để trưng cầu ý kiến xem chúng tăng có tán đồng hay không) xét xem việc đó có được không, nếu không có ai phản đối thì công việc được thành. Vì đây là một lần trình bày, một lần quyết nghị, nên gọi là Bạch nhất yết ma; gộp cả lại thì gọi là Bạch nhị yết ma. Bạch nhất và Bạch nhị là ý tương đồng, chứ không phải chỉ cho hai thứ thủ tục khác nhau. Lại cứ theo luật Tứ phần chép, thì Bạch nhị yết ma có năm mươi bảy thứ, gồm có lìa áo, ngày nhận v.v…, nhưng luật Thập tụng thì chỉ liệt kê có bốn mươi bảy thứ. [X. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng Chương 1 đoạn 5]. (xt. Bạch Tứ Yết Ma, Yết Ma).
bạch nhựt
Daylight.
bạch nạp
(白衲) Chỉ áo các sư, màu trắng. Còn gọi là bạch ca sa. Cứ theo luật Tứ phần quyển 16, luật Thập tụng quyển 15, luật Ngũ phần quyển 9 chép, thì đức Phật chế màu ca sa là ba màu xanh, đen, đỏ là màu đúng phép, còn các màu khác là không hợp với chính pháp của Phật, vì thế, ca sa màu trắng là màu trái phép. Đại Tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 238 thượng), nói: Gần đây có kẻ mặc áo màu trắng, rất là sai trái. Đức Phật đã nói ca sa biến trắng, không chịu nhuộm màu, như vậy không là trái phép hay sao? (...) Thiền khách phương nam phần nhiều đắp áo trắng. Song chư Tôn trong mạn đồ la thuộc Mật giáo, các Bồ tát Hư Không Tạng, Bạch Y, Mã Minh v.v... đều mặc áo trắng. Hơn nữa, trong Du già quĩ, Chuẩn đề quĩ, ca sa trắng là thể áo tương ứng với pháp trừ tai, cho nên, các hành giả Chân ngôn, khi tu pháp trừ tai, mặc ca sa trắng, vì mầu trắng biểu thị nghĩa trong sạch tĩnh lặng.
bạch pháp
dùng để chỉ chung các thiện pháp, pháp lành; trái với hắc pháp là những pháp xấu ác, bất thiện.
; Good dharma.
; (白法) I. Bạch Pháp. Chỉ pháp lành trong sạch. Đối lại với hắc pháp (pháp tà ác nhơ nhớp). Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 thượng) nói: Sau khi ta nhập diệt trong năm trăm năm, các tỉ khưu còn trong pháp của ta được giải thoát kiên cố. (...) Năm trăm năm kế tiếp, các tỉ khưu ở trong pháp ta đấu tranh giành giật, bạch pháp ẩn mất, tổn hại kiên cố. Lại luận Cứu kính nhất thừa bảo tính quyển 4 (Đại 31, 847 hạ) nói: Kẻ ngu không tin bạch pháp, tà kiến và kiêu mạn, do nghiệp báng pháp ở quá khứ, cứ chấp chặt những cái mà nghĩa lí không rõ ràng, tham đắm sự cúng dường cung kính, duy chỉ thấy các pháp tà. Đây là lấy chính pháp do đức Phật nói làm bạch pháp, pháp do ngoại đạo nói làm hắc pháp. cho nên, đến đời mạt pháp, tất cả giáo pháp của Phật đã diệt hết, thì gọi là bạch pháp ẩn trệ (pháp lành ẩn mất). Lại nếu nói theo nghiệp thì hết thảy pháp có thể chia làm hắc pháp, bạch pháp, phi hắc bạch pháp. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển 11, quyển 13 chép, thì các pháp phiền não bất thiện là hắc pháp, các pháp thiện hữu lậu (lậu, tức là tên gọi khác của phiền não) là bạch pháp, còn các pháp thiện vô lậu là pháp phi hắc bạch, cũng tức là Đệ nhất nghĩa đế, không dính dấp một mảy may tạp nhiễm nào của hắc hay bạch pháp. Lại hai thứ bạch pháp là chỉ thẹn và hổ. Có nghĩa là hai thứ này có thể khiến cho các hành động được sáng sủa sạch sẽ, cứu độ chúng sinh, cho nên gọi là bạch pháp. Cứ theo Hoa Nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 44 chép, thì: 1. Tàm bạch pháp, nghĩa là bên trong tự thẹn thùng không dám làm điều xấu ác. 2. Quí bạch pháp, nghĩa là bên trong tự thấy xấu hổ sợ hãi, rồi dãi bày tội lỗi không dám làm lại nữa. Vì thế, bảo người tu hành đạo Phật phải tu trì bạch pháp, vứt bỏ hắc pháp, tức phải tu tập pháp lành, dứt trừ hạnh ác. Ngoài ra, bốn thứ bạch pháp là chỉ dục bạch pháp, hành bạch pháp, mãn túc công đức bạch pháp, chứng bạch pháp. Thắng tư duy Phạm thiên sở vấn kinh luận quyển 1 nói rằng, người tu hạnh Bồ tát, phải tập tất cả pháp lành trắng sạch, xa lìa hắc pháp bốn ngả (tu la, ngã quỉ, súc sinh, địa ngục). Bởi thế, người tu hạnh Bồ tát phải tu tập: 1. Dục bạch pháp, nghe chính giáo của đức Phật, tâm sinh vui thích không muốn bỏ trong giây phút nào. 2. Hành bạch pháp, siêng năng tu hành sáu độ, chỉ nhằm làm lợi ích cho thế gian, cho hết thảy chúng sinh, chứ không cầu quả báo cho chính mình. 3. Mãn túc công đức bạch pháp, tinh tiến dũng mãnh, tu khắp mọi hạnh, khiến cho các công đức tròn đầy. 4. Chứng bạch pháp, hạnh trong sạch đã thành, công đức đã đủ, chứng ngộ được quả Phật. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.19; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Câu xá Q.16]. (xt. Hắc Pháp). II. Bạch Pháp. Chỉ cách biểu bạch. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 3 (Đại 40, 25 thượng), nói: Không tác bạch đúng bạch pháp, không làm việc đúng yết ma pháp.
bạch pháp tộ
(帛法祚) Vị tăng thời Ngụy Tấn. Người Hà Nội (huyện Thấm Dương tỉnh Hà Nam), họ Vạn. Là em của sa môn Bạch Viễn. Lúc thiếu thời đã sớm nổi danh, đã từng từ chối không nhận chức quan Bác sĩ. Hai mươi lăm tuổi xuất gia, thông suốt lí Phật, nổi tiếng như cồn. Thứ sử châu Lương là Trương Quang bắt phải hoàn tục, sư không chịu, bèn bị hại, thọ năm mươi bảy tuổi. Năm sinh năm mất không rõ. Có viết: Phóng quang Bát nhã kinh chú, Hiển tông luận v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.1].
bạch phạn
Svetodanna (S)Bào đệ của vua Tịnh Phạn, thân phụ của Đề bà đạt đa và A nan đà.
bạch phạn vương
Sukkodāna (S), Sukkodana (P)Du câu lô na, Thiết tinh vươngCon thứ hai của Sư tử giáp (Simha Hanu), em của vua Tịnh Phạn.
; Suklodana-raja (skt)—Hoàng tử con thứ hai của vua Sư Tử Giáp Vương; em trai vua Tịnh Phạn; là cha của Đế Sa, Đề Bà Đạt Đa, và Nan Đề Ca—A prince of Kapilavastu, second son of Simhahanu; younger brother of King Suddhondana (father of Siddhartha); father of Tisya, Devadatta and Nandika.
; (白飯王) Bạch phạn, Phạm: Zuklodana, Pàli: Sukkodana, dịch âm là Du câu lô na. Còn gọi là Thiết tịnh vương. Là con thứ hai của Sư Tử Giáp vương (Phạm: Siôhahanu, có thuyết nói là Ni hiu la vương), là em của Tịnh Phạn vương, chú ruột của đức Phật. Về vấn đề con cái của nhà vua, thì các kinh ghi chép khác nhau; cứ theo luật Ngũ phần, thì có A Nan Đà, Đề Bà Đạt Đa v.v... [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.5 phẩm Hiền kiếp vương chủng; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.3; Thích ca phổ Q.1].
bạch phất
(白拂) Nói theo nghĩa rộng, là chỉ tất cả chổi phất trần làm bằng lông thú màu trắng; còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ cái chổi phất trần làm bằng lông đuôi của con mao ngưu (một loài bò đuôi rất dài), còn gọi là Mao ngưu phất, Bạch mao phất. Bạch mao ngưu (Phạm:càmara, hoặc camara) là loài bò lông dài, sống ở núi Hỉ mã lạp nhã, phất trần làm bằng lông đuôi của loài bò này là quí nhất trong các loại phất trần, thông thường cùng với bạch mã vĩ phất (phất trần làm bằng lông đuôi ngựa trắng) đều gọi là Bạch phất. Phất trần, nguyên là một dụng cụ mà ngưòi Ấn độ dùng để xua đuổi mòng muỗi. Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 32, Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 chép, thì đức Phật đã cho phép các tỉ khưu dùng loại phất trần thông thường, và cấm chỉ dùng các loại phất hoa mĩ trân quí như loại bạch mao phất chẳng hạn. Ngoài ra, trong các kinh luận thường có chép các Bồ tát hoặc trưởng giả tay cầm bạch phất, như kinh Đà la ni tập quyển 6 có chép, tay trái Quan Âm, tay phải Phổ Hiền cầm bạch phất; trong số bốn mươi tay của Thiên thủ Quan Âm, có một Bạch phất thủ (tay cầm bạch phất). Lại khi đức Phật lên cung trời Đao Lợi nói pháp cho mẫu hậu nghe xong, trở về, Phạm thiên thường cầm bạch phất đứng hầu bên phải đức Phật. Mật giáo thì khi truyền pháp quán đỉnh trong đàn nhỏ, bạch phất cùng với bảo phiến (quạt báu) đều là pháp cụ quét sạch những phiền não, trừ hết chướng nạn. Trong Thiền tông Trung Quốc, trú trì và người đại diện trú trì, tay cầm phất tử lên nhà giảng nói pháp cho đại chúng, đó tức là cái được mệnh danh là Bỉnh phất. Tại Nhật Bản, ngoài Chân tông ra, các tông khác cũng dùng phất tử làm một trong các vật trang nghiêm. (xt. Phất Tử).
bạch phần
Suklapaksa (skt)—See Bạch Nguyệt.
bạch phật
To tell the Buddha.
; To tell the Buddha.
; (白佛) Hướng lên đức Phật để tâu bày. Như các từ ngữ Bạch Phật ngôn (bạch Phật rằng), Bạch Thế tôn ngôn thường được dùng trong kinh điển. Hoặc dùng ở đầu tờ sớ và văn hồi hướng, là lời tán thán Phật. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 1 Thánh tiết (Đại 48, 113 trung), nói: Duy na bạch Phật đọc sớ rồi, Tri khách quỳ xuống nhận lấy để đi hóa. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.13].
bạch quan âm
(白觀音) Là hóa thân của Bồ tát Quan Thế Âm. Là một trong những vị tôn chính của Phật giáo Tây Tạng.
bạch quán tự tại bồ tát
Xem Bạch thân quán tự tại Bồ tát.
bạch sắc
(白色) Màu trắng, là một trong năm màu. Trong sáu đại (sáu nguyên tố lớn) nói trong Mật giáo, màu trắng là màu của thủy đại. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 chép, thì sạch trắng là màu Tịnh pháp giới của đức Tì lô giá na, cội nguồn của hết thảy chúng sinh cũng sạch trắng như Tịnh pháp giới, vì thế, màu trắng cũng có thể được giải thích là màu đầu tiên. Trong năm đức Phật, thì màu trắng là màu của Đại nhật Như Lai; trong năm bộ, thì màu trắng thuộc Như lai bộ; trong bốn loại phép tu của Mật giáo, thì màu trắng tương ứng với phép trừ tai, là vì màu trắng là màu trong sạch, tượng trưng xa lìa các cáu bẩn và dứt tuyệt hết thảy lí luận. Nếu đem năm màu phối trí với năm căn năm lực, thì màu trắng phối với tín căn, tín lực. Trong hai bộ Kim Cương, Thai tạng của Mật giáo, thông thường lấy màu đỏ làm màu tương ứng với Kim Cương bộ. Nhưng nói một cách rốt ráo, thì màu trắng là màu tương ứng dùng cho cả hai bộ Kim Cương và Thai tạng [X. Đại nhật kinh sớ Q.12].
bạch sắc bạch quang
White colored white light.
bạch thi lê mật đa la
(帛尸梨密多羅) Phạm: Zrìmitra. Cũng gọi là Thi lê mật đa la. Dịch ý là Cát hữu (bạn tốt). Một vị tăng người Tây Vực ở đời Tấn. Năm sinh năm mất không rõ. Nguyên là con vua nước Cưu Tư, sau nhường ngôi cho em để xuất gia. Suốt thông kinh luận, giỏi cả pháp bí mật. Đến Trung Quốc khoảng năm Vĩnh gia, gặp thời loạn, qua sông ở chùa Kiến Sơ huyện Kiến Khang. Vì thiên tư cao sáng, thần thái siêu việt, được nhà vua kính phục, do đó, danh tiếng chùa ngày càng nổi, những hiền sĩ tranh nhau đến làm bạn. Lúc đầu, miền Giang Đông chưa có chú pháp, sư bèn dịch kinh Khổng tước vương, nói rõ các thần chú. Lại truyền cho học trò phép xướng Phạm bái mà vẫn còn truyền đến nay không dứt. Người thời bấy giờ gọi sư là Cao Tọa. Khoảng năm Hàm khang (335 - 343) viên tịch, thọ hơn tám mươi tuổi, chôn ở phía đông gò Thạch Tử. Thành đế nuối tiếc phong độ của sư, bèn dựng chùa ở nơi mộ phần, sau có sa môn cũng làm chùa ở cùng một chỗ, gọi là chùa Cao Tọa. Các kinh mà sư dịch lúc sinh thời, cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chép, thì có Khổng tước vương thần chú, Khổng tước vương tạp thần chú, mỗi thứ một quyển; Lịch đại tam bảo kỉ quyển 7 thì lại thêm kinh Quán đính 9 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.13; Lương cao tăng truyện Q.1; Pháp kinh lục Q.1].
bạch thiện (núi)
Pāṇḍava (P).
bạch thuỷ a di đà đường
(白水阿彌陀堂) Vị trí nằm trong chùa Nguyện thành Bồ tát Bạch Thân Quán Tự Tại thuộc phái Trí Sơn, tông Chân ngôn, tại thị trấn Nội Hương, huyện Phúc Đảo, Nhật Bản. Còn gọi là Biến chiếu quang viện. Do vợ của Bình Tắc Thông, người Nhật, để cầu siêu cho chồng, đã kiến thiết A di đà đường theo kiểu Đằng nguyên vào niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1160). Kiến trúc theo kiểu bảo hình tạo ba gian vuông, bên trong có bốn cột thiên trụ phân chia đại điện, là kiểu kiến trúc A di đà đường được lưu hành ở thời kì sau của thời đại Bình an tại Nhật Bản. Trên Phật đàn bày ba pho tượng A di đà Tam tôn bằng gỗ và hai pho tượng đứng của Trì Quốc Thiên và Đa Văn Thiên cũng bằng gỗ. Các bức bích họa và sắc thái trong chùa, đến nay tuy đã phai mờ và tróc lở, nhưng vẫn còn là một trong những di tích văn hóa trọng yếu của Nhật Bản. Nhà A di đà này là kiến trúc quí báu được đặc biệt bảo hộ. [X. Nhật bản cổ mĩ thuật án nội (Lang tinh nhất); Quốc bảo đồ lục đệ nhị tập giải thuyết (Nhật Bản văn hóa tài hiệp hội)].
bạch thánh
(白聖) (1904 - ?) Người huyện Ứng thành tỉnh Hồ Bắc, họ Hồ. Tên tự là Khiết Nhân. Năm mười tám tuổi, y vào ngài Long Nham ở chùa Kì Viên núi Cửu Hoa thuộc tỉnh An Huy xuất gia, không bao lâu, được thụ giới Cụ túc. Đã từng tu học nơi các sư Độ Ách, Từ Chu và Diệu Trí. Sau đến Hồng Sơn thuộc Vũ Xương đóng cửa ba năm đọc Đại Tạng, sau đó, tất nghiệp tại viện Phật học Pháp tạng ở Thượng Hải. Sau nữa, đến chùa Cao Mân ở Giang Tô để được gần Thiền sư Lai Quả. Rồi đi chu du bốn phương, bái yết các đạo tràng nổi tiếng của Phật giáo. Đã từng giữ các chức Trị sự trưởng phân hội Phật giáo Triết Giang, Thượng Hải, Giám đốc viện Phật học Lăng nghiêm Thượng Hải, trụ trì chùa Phượng Lâm ở Tây Hồ, Hàng Châu, Giám viện chùa Tĩnh An kiêm Viện trưởng viện Phật học ở Thượng Hải v.v... Năm Dân quốc 37 (1948), ra Đài Loan, tổ chức hội Phật giáo Trung Quốc và giữ chức Trị sự trưởng trong nhiều năm. Lại giữ chức trú trì chùa Thập Phổ ở Đài Bắc, chùa Lâm Tế hộ quốc, chùa Cực Lạc ở Mã Lai Á, sáng lập học viện Tam tạng Phật giáo Trung Quốc, Viện nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc. Đã từng truyền giới nhiều lần ở Đài Loan và Mã Lai Á. Lại mở Đại hội Hoa tăng thế giới, đoàn kết lực lượng Hoa tăng bảo vệ đất nước và đạo pháp. Năm Dân quốc 70, sư đứng ra triệu tập Đại hội Tăng già Phật giáo thế giới lần thứ 3. Có viết các sách: Thập mạ thị Phật giáo, Tự viện trú trì thủ sách, Lăng nghiêm kinh biểu giải, Tứ phần giới bản biểu giải, Học Thiền phương tiện đàm, Thiền tông sử luận tập, Phạm võng kinh Bồ tát giới bản giảng kí, Duy ma cật kinh giảng lục v.v... lưu hành ở đời.
Bạch tháp kháp lý á
(帕塔恰裏亞) Vidhushekhara Bhatacharya (1878-1959) Học giả Phật giáo Ấn độ, người huyện Mã nhĩ đạt hách thuộc bang Bengal. Lúc đầu, ông học tiếng Phạm, Nhân minh, Triết học Phệ đàn da... Sau ông học chữ Hán, Tây tạng, Pàlivà chuyên nghiên cứu Phật học. Ông từng giữ các chức Giáo sư tiếng Phạm tại trường Đại học Vishwa- Bhàràti (Đại học Quốc tế), Chủ nhiệm bộ môn văn học tiếng Phạm của viện Nghiên cứu thuộc Đại học Calcutta, đồng thời được tặng bằng Tiến sĩ danh dự của trường Đại học Calcutta và danh hiệu Giáo thụ quốc gia do Chính phủ Ấn độ tặng. Ông chủ yếu đem các bộ luận Hán dịch như: Quảng bách luận của ngài Đề bà và Đại thừa nhị thập tụng của bồ tát Long thụ dịch lại bằng tiếng Phạm để bảo tồn nguyên văn. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ Ấn độ Phật giáo bộ phái sử luận, những kinh điển do vua A dục khắc trên vách núi, những văn tuyển Phạm, Tạng..., đồng thời, hiệu đính các bộ luận Biện trung biên, Nhân minh nhập chính lí...
bạch thân bồ tát
Xem Bạch thân quán tự tại Bồ tát.
bạch thân quán tự tại bồ tát
Sveta-bhagavati (S)Thi phệ đa ba nga phược để, Bạch thân Bồ tát, Đại bạch Bồ tát, Bạch quán tự tại Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (白身觀自在菩薩) Phạm: Zveta-bhagavatì. Dịch âm là Thi phệ đa ba nga phạ để. Còn gọi là Thấp phệ đa Bồ tát, Bạch thân Bồ tát, Ma ha thấp phế đa Bồ tát, Thấp phế đa bạch thân Bồ tát, Đại bạch Bồ tát, Bạch thân Quan âm, Bạch tôn giả, Bạch Quán tự tại Bồ tát. Bạch, nghĩa là bạch tịnh đại bi; thân, có nghĩa tụ tập. Vì thế, bạch thân tức là ý tập hợp bạch tịnh đại bi. Là vị thứ hai được bày ở phương trên hàng thứ ba trong viện Quan Âm thuộc Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Mật hiệu là Phổ hóa kim cương. Chủng tử là (sa). Hình Tam muội da là hoa sen chớm nở. Hình tượng toàn thân mầu vàng lợt, tay trái cầm hoa sen, tay phải duỗi năm ngón hướng bàn tay vào vai, co cánh tay đặt trên đầu gối bên phải, đầu gối bên phải hơi dựng lên, ngồi trên hoa sen màu đỏ. Về ý nghĩa bao hàm trong hình tượng của vị Tôn này, thì thân hình màu vàng lợt, tay trái cầm hoa sen, là biểu thị cái đức xưa nay vốn thanh tịnh; nhờ tu hành thành tựu nên hiển bày trí Phật; tay phải đặt trên đầu gối, biểu thị sự giáo hóa khắp chúng sinh. Ấn khế của vị Tôn này là ấn hợp chưởng phổ thông của bộ Liên hoa. Lại kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 4 nói có ấn Đại bạch Quan thế âm, trong quyển 23 lại chép có năm thứ ấn của vị Tôn này. Cứ theo kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 4 chép, thì Chân ngôn của vị Tôn này là: Án (Oô) ma ha (mahà, đại) bát đầu mê (padme, hoa sen) thấp phế đang nghê (zvetàíge, mình trắng) hổ rô hổ rô (huru huru, che che) sa phạ ha (svàhà). Ngoài ra, trong các kinh quĩ thường đem vị Tôn này hợp làm một với Bạch y Quan âm làm một Tôn. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9, Q.15, Q.30; A sa phọc sao Q.94; Thai tạng hiện đồ mạn đồ la]. (xt. Bạch Y Quan Âm).
Bạch Thố
(白兔): thỏ trắng, xưa kia người ta xem con thỏ trắng là điềm báo trước cho hòa bình. Nó còn có nghĩa là mặt trăng, dựa trên truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có con thỏ trắng, đồng nghĩa với Ngọc Thố (玉兔, thỏ ngọc). Trong truyện cổ tích về Hằng Nga của Việt Nam, Bạch Thố là con Thỏ Ngọc Trắng giã thuốc tiên. Theo dân gian Việt Nam cũng cho rằng Bạch Thố là cái bóng trên mặt trăng, còn được gọi là Thiềm Thừ (蟾蜍, con cóc). Thơ Hồ Xuân Hương (khoảng cuối tk 18 và đầu tk 19) có câu rằng: “Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi, hở chị Hằng Nga đã mấy con ?” Trong bài thơ “Bả Tửu Vấn Nguyệt (把酒問月, Mượn Rượu Hỏi Trăng)” của thi hào Trung Quốc, Lý Bạch (李白, 701-762), cũng có đoạn rằng: “Bạch Thố đảo dược thu phục xuân, Thường Nga cô thê dữ thùy lân (白兔擣藥秋復春、嫦娥孤棲與誰鄰, Thỏ Trắng giã thuốc thu lại xuân, Hằng Nga giường lẽ có ai thương ?)”. Trong dân gian lưu truyền nhiều truyền thuyết về Ngọc Thố như: (1) Trong cung trăng có một con thỏ ngọc màu trắng, đó chính là hóa thân của Thường Nga (嫦娥, tức Hằng Nga). Nhân sau khi Hằng Nga đùa giỡn với mặt trăng xong, xúc phạm đến Ngọc Đế, cho nên làm cho nàng biến thành con thỏ ngọc; cứ mỗi độ trăng tròn, thường ở tại cung trăng mà giã thuốc để trừng phạt. (2) Tương truyền có 3 vị thần tiên, hóa thân thành 3 lão già rất đáng thương, thường nhắm chồn cáo, khỉ và thỏ để xin ăn. Chồn cáo và khỉ thì lấy thức ăn tiếp tế cho mấy ông lão, chỉ có thỏ thì không cho mà còn đem thức ăn ném vào trong lửa nóng rồi bỏ đi. Nhân đó, chư vị thần tiên bèn bắt thỏ tống vào Quảng Hàn Cung (廣寒宮) và trở thành thỏ ngọc. Từ đó về sau, thỏ ngọc thường làm bạn với Hằng Nga ở Quảng Hàn Cung, chuyên giã chế thuốc trường sanh bất lão. (3) Xưa kia, có một con thỏ tu hành đã ngàn năm, đắc đạo thành tiên. Nó có 4 con thỏ cái rất dễ thương, mỗi con đều trắng tinh và lanh lợi. Một hôm nọ, Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) cho mời con thỏ đực lên Thiên Cung. Chú thỏ liền từ bỏ vợ con, đạp mây bay lên Thiên Cung. Ngay khi mới đến Nam Thiên Môn, chú thỏ thấy Thái Bạch Kim Tinh cùng các tướng trời đang giải giáp Hằng Nga đi ngang qua. Thỏ tiên chẳng biết chuyện gì xảy ra, bèn hỏi vị thiên thần đang canh gác cổng trời. Nghe xong, thỏ tiên mới biết Hằng Nga bị tội oan, biết sức mình không làm gì được, lại thương cho Hằng Nga phải chịu cảnh cô đơn, lạnh lẽo trong cung trăng, chẳng có ai bầu bạn, rồi chợt nhớ đến vợ con mình, nên thỏ tiên liền bay trở về nhà. Thỏ tiên đem câu chuyện gặp Hằng Nga kể lại cho vợ thỏ nghe và khuyên nên đưa một đứa con lên làm bạn với Hằng Nga. Mặc dù được sự đồng tình của vợ thỏ, mấy thỏ con vẫn không chịu rời xa cha mẹ; nên con nào cũng khóc lóc thảm thiết. Thấy vậy, thỏ tiên bảo rằng: “Nếu như ta cô độc như vậy, các con có đến bầu bạn với ta chăng ? Hằng Nga đã vì bá tánh mà phải chịu lụy hình, chúng ta không biết cảm thương sao ? Này các con ! Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến bản thân mình mà thôi.” Sau khi hiểu được tâm nguyện của cha, bầy thỏ con phát nguyện ra đi. Cả nhà quyết định nhường cho con thỏ nhỏ nhất ra đi. Từ đó, thỏ con lên cung trăng làm bạn hằng ngày với Hằng Nga. (4) Có thuyết khác cho rằng thỏ ngọc là Hậu Nghệ (后羿). Nhân khi Hằng Nga chơi với mặt trăng, lại nhớ đến Hậu Nghệ; thấy Hậu Nghệ tình nguyện biến thành một con động vật rất dễ thương là thỏ ngọc để làm cho nàng được vui; nhưng tiếc thay Hằng Nga vẫn không biết chính con thỏ ngọc là Hậu Nghệ mà ngày đêm mình thương nhớ. Trong Nghĩ Thiên Vấn (擬天問) của Phó Huyền (傅玄) nhà Tấn có câu: “Nguyệt trung hà hữu, bạch thố đảo dược (月中何有、白兔擣藥, Trong trăng có gì, thỏ trắng giã thuốc)”. Thuyết cho rằng “có thỏ ngọc” đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Cho nên, xưa kia, cứ mỗi dịp tháng 8 Trung Thu, trên các đường phố đều có bán các đồ chơi như “ông thỏ con (兔兒爺)”, “thỏ ngọc giã thuốc (玉兔擣藥)”, “thố sơn (兔山)”, v.v. Trong dân gian vẫn thường dùng từ “bạch thố xích ô (白兔赤烏, thỏ trắng quạ đỏ)” để ví dụ cho thời gian trôi qua rất nhanh. Như trong bài thơ Khuyến Tửu Thi (勸酒詩) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Thiên địa điều diêu tự trường cửu, bạch thố xích ô tương sấn tẩu (天地迢遙自長久、白兔赤烏相趁走, trời đất xa xăm vốn dài lâu, thời gian thấm thoắt trôi qua mau).”
bạch thủy thành
Isfijab—Thành phố nằm bên dòng Bạch Thủy, một phụ lưu của sông Jaxartes ở Turkestan—White-river town in Turkestan, situated on a small tributary of the Jaxartes.
bạch thử dụ
(白鼠喻) Còn gọi là Nhị thử khiết đằng dụ (hai con chuột nhấm giây cây leo). Thất dụ. Hoặc nói tắt là Bạch hắc nhị thử. Thử, tiếng Phạm làmùwika. Dùng hai con chuột trắng, đen để thí dụ tháng trắng, tháng đen trong một tháng, hoặc thí dụ ngày, đêm trong một ngày. Hàm ý bảo rằng đời người như ánh sáng qua mau. Tháng trắng tức khoảng thời gian từ ngày mồng 1 trăng mới đến ngày trăng tròn 15; tháng đen từ ngày 16 sau trăng tròn đến ngày 30 trước trăng mới. Lại nhật (mặt trời) chỉ ngày, nguyệt (mặt trăng) chỉ đêm. Vì thế, chuột trắng thí dụ tháng trắng và ngày, chuột đen thí dụ tháng đen và đêm. Cứ theo kinh Tân đầu lư đột la xà vị Ưu đà diên vương thuyết pháp chép, thì thủa xưa có một người đang đi trên đường vắng, giữa đồng không mông quạnh, chợt gặp một con voi lớn rất dữ tợn, bị voi đuổi, bèn sợ hãi tháo chạy, mà không nơi trú ẩn. Đang lúc khốn cùng, người ấy thấy một cái giếng bên gò đất và có rễ cây thòng xuống giếng, anh ta bèn bám lấy rễ cây chuyền xuống giếng để trốn tránh. Lúc đó, có hai con chuột trắng và đen đang nhấm rễ cây; bốn bên bờ giếng có bốn con rắn độc, muốn mổ anh ta, và dưới đáy giếng lại có một con rồng độc. Anh ta đã sợ bốn con rắn ở bờ giếng, lại cũng sợ con rồng độc dưới đáy giếng, mà cái rễ cây anh ta bám lấy lại đang rung rung. Cùng lúc ấy có ba giọt mật rơi vào miệng anh. Vì anh ta bám rễ cây làm cho cành cây rung động mà vỡ tổ ong, đàn ong bay ra tán loạn, cứ nhằm anh ta mà đốt, hơn nữa, cây lại đang bị lửa đồng đốt cháy. (Đại 32, 787 trung): Đồng không mông quạnh, thí dụ sống chết; người đàn ông kia, thí dụ phàm phu; voi dụ vô thường, gò giếng dụ thân người, rễ cây dụ mệnh sống. Chuột trắng đen dụ ngày đêm; nhấm rễ cây dụ niệm niệm diệt, bốn rắn độc dụ bốn đại, mật dụ ngũ dục, đàn ong dụ ác giác quán, lửa cháy cây dụ sự già, rồng độc dưới đáy giếng dụ sự chết. Lại kinh Duy Ma quyển thượng phẩm Phương tiện, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 5, kinh Thí dụ do ngài Nghĩa tịnh dịch... đều có chép thí dụ trên đây. Trong truyện cổ thí dụ này, cũng có chỗ lấy hổ (cọp) thay cho voi, gọi là hổ vô thường. [X. Tính linh tập Q.4; Thái bình kí]. (xt. Bạch Nguyệt, Hắc Nguyệt).
bạch trùy
Kiền trùy để gõ mỗi khi muốn thưa việc hay muốn giữ sự im lặng trong tự viện—The informing baton or hammer, calling attention to a plaint, or for silence to give information in a monastery.
bạch tán
Tán thán Đức Như Lai—To speak praises to the Buddha.
; (白贊) Là tiếng tâu bày khen ngợi đức của Phật, hoặc là lời văn xướng, tụng tán trước đức Phật. Còn gọi là Bạch Phật thán Phật tán, Thán Phật, Tán Phật, Bạch Phật. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6 Bệnh tăng niệm tụng; Thiền lâm tượng khí tiên Q.13 Phúng xướng môn].
bạch tán cái phật đảnh
Uṣnīṣasitapattra (S)Tên một vị Bồ tátXem Tất đát tha bát đát ra.
bạch tâm
A clear heart or conscience.
; Một cái tâm hay lương tâm trong sáng—A clear heart or conscience.
bạch túc
(白足) Một vị Tăng khác lạ ở thời đại Lưu Tống. Người Quan Trung, họ Trương. Thờ ngài Cưu Ma La Thập làm thầy. Cuối năm Thái nguyên (376 - 396) đời Tấn Vũ Đế, sư đem mấy chục bộ kinh luật đến Liêu Đông tuyên giảng, đó là đầu mối của người Cao Cú Li nghe đạo. Sư có nhiều dấu tích kì lạ, có thuyết nói sư hơn năm mươi năm chưa từng ngủ nằm. Lại mu bàn chân thì trắng, tuy lội vào bùn cũng không bị lấm, nhưng lại càng trắng tươi, người thời bấy giờ gọi là Bạch Túc thiền sư, Bạch Túc hòa thượng hoặc là Bạch Cước sư (thầy chân trắng). Quảng hoằng minh tập quyển 2, Phá tà luận quyển thượng, khi chép về sự tích của sư, đều gọi là Bạch túc a luyện, Bạch túc a luyện nhã. Người đời sau, nhân thế mà gọi thầy chân trắng. Thái Vũ đế nhà Bắc Ngụy diệt đạo, giết các tăng lữ, sư đến can, Thái Vũ đích thân chém đầu, nhưng sư không Tranh Dụ Chuột Trắng chết, nhà vua sợ hãi, tạ tội (446). Sau không biết sư tịch ở đâu. Lại Phật tổ thống kỉ quyển 38, chép pháp hiệu của sư là Đàm Thủy, nhưng, Quảng hoằng minh tập thì ghi là Huệ Thủy, Phá tà luận chép là Tuệ Thủy. [X. Lương cao tăng truyện Q.10; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9; Phật tổ lịch đại thông tải Q.8; Kê chích tập].
bạch túc hòa thượng
Vị hòa thượng chân trắng, đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập—The white-foot monk, a disciple of Kumarajiva.
Bạch tượng
(白象): voi trắng toàn thân, vì con voi có uy lực lớn nhưng tánh tình nhu thuận, cho nên khi vị Bồ Tát vào mẫu thai thường cỡi con voi trắng có sáu ngà hay hiện thân hình con voi trắng, biểu thị tánh của vị Bồ Tát khéo nhu hòa nhưng có oai lực vĩ đại. Bên cạnh đó, 6 ngà voi thể hiện tinh thần Lục Độ (六度), 4 chân là Tứ Như Ý (四如意). Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) cỡi con voi trắng 6 ngà cũng thí dụ cho oai lực vô song như vậy. Như trong Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát (普賢菩薩勸發品) thứ 28 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka,妙法蓮華經) có giải thích rằng: “Thị nhân nhược tọa, tư duy thử kinh, nhĩ thời ngã phục thừa bạch tượng vương, hiện kỳ nhân tiền, kỳ nhân nhược ư Pháp Hoa Kinh, sở hữu vong thất nhất cú nhất kệ, ngã đương giáo chi, dữ cọng độc tụng, hoàn linh thông lợi (是人若坐、思惟此經、爾時我復乘白象王、現其人前、其人若於法華經、有所忘失一句一偈、我當敎之、與共讀誦、還令通利, người ấy nếu ngồi, suy nghĩ kinh này, lúc bấy giờ ta lại cỡi vua voi trắng, hiện trước mặt người đó, nếu người đó đối với Kinh Pháp Hoa, bị sai mất một câu một bài kệ, ta sẽ chỉ cho, cùng với người đó đọc tụng, khiến được thông lợi).” Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō 3, 624) quyển 1 có đoạn rằng: “Nhĩ thời, Bồ Tát quán giáng thai thời chí, tức thừa lục nha bạch tượng phát Đâu Suất cung; vô lượng chư thiên tác chư kỷ nhạc, thiêu chúng danh hương, tán thiên diệu hoa, tùy tùng Bồ Tát (爾時、菩薩觀降胎時至、卽乘六牙白象發兜率宮、無量諸天作諸伎樂、燒眾名香、散天妙花、隨從菩薩, lúc bấy giờ, Bồ Tát quán sát đã đến lúc giáng xuống bào thai, liền cỡi con voi trắng sáu ngà từ trên cung trời Đâu Suất xuống; vô lượng các vị trời trỗi những thứ âm nhạc, đốt các loại hương thơm, rãi hoa trời tuyệt diệu, theo Bồ Tát xuống)”. Bên cạnh đó, Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō 46, 14) quyển 2 có giải thích rằng: “Ngôn lục nha bạch tượng giả, thị Bồ Tát vô lậu lục thần thông; nha hữu lợi dụng như thông chi tiệp tật, tượng hữu đại lực, biểu pháp thân hà phụ, vô lậu vô nhiễm, xưng chi vi bạch (言六牙白象者、是菩薩無漏六神通、牙有利用如通之捷疾、象有大力、表法身荷負、無漏無染、稱之爲白, voi trắng sáu ngà là vị Bồ Tát có sáu thần thông vô lậu; ngà có mũi nhọn có thể xuyên qua rất nhanh; voi có sức mạnh phi thường, thể hiện cho pháp thân gánh vác nặng; không bị rỉ ra, không bị nhiễm ô, cho nên gọi nó là trắng)”.
bạch tượng
The six-tusked white elephant which bore the Buddha on his descent from the Tusita heaven into Màyà's womb.
; Voi sáu ngà đã đưa Phật Thích Ca vào bụng Hoàng Hậu Ma Da từ cung trời Đâu Xuất. Tất cả chư Phật đều giáng trần bằng phương cách nầy—The six-tusked white elephan which bore the Buddha on his descent from the Tusita heaven into Maya's womb, through her side. All Buddhas descend the world in similar fashion.
; (白象) Chỉ con voi toàn thân thuần màu trắng. Vì con voi có uy sức lớn mà tính tình lại hiền hòa, nên khi Bồ tát vào thai mẹ, hoặc cỡi voi trắng sáu ngà, hoặc mang hình voi trắng, là biểu thị Bồ tát tính tình hiền hòa mà có uy thế lớn; hơn nữa, sáu ngà của voi trắng biểu thị sáu độ, bốn chân biểu thị bốn như ý. Bồ tát Phổ hiền cỡi voi trắng, tức thí dụ sức đại từ của Ngài. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 (Đại 3, 624 thượng), nói: Lúc bấy giờ, Bồ tát thấy giờ giáng thai đã đến, liền cỡi voi trắng sáu ngà, ra khỏi cung Đâu suất. Vô lượng chư thiên, nổi các kĩ nhạc, đốt các thứ hương quí, tung các thứ hoa trời, đi theo Bồ tát. Ma ha chỉ quán quyển 2 phần trên (Đại 46, 14 thượng), chép: Nói voi trắng sáu ngà, là chỉ sáu thần thông vô lậu của Bồ tát. Ngà có nghĩa nhanh chóng như thần, voi có sức lớn, biểu thị gánh vác Pháp thân. Vô lậu vô nhiễm, gọi là trắng. [X. kinh Thụy ứng bản khởi Q.thượng; luận Dị bộ tông luân].
bạch tản cái phật đảnh
Tàng lọng trắng trên đỉnh đầu của Phật mang ý nghĩa tịnh đức của Phật là vị chuyển luân vương che mát tất cả chúng sanh—The white umbrella or canopy over the head of Buddha, indicating him as a cakravarti, or wheel-king.
bạch tản cái phật đảnh luận vương
Xem Tất đát tha bát đát ra.
bạch tản cái phật đỉnh
(白傘蓋佛頂) Phạm:Sitàtapatrowịìwa, Sitàtapatra. Dịch âm là Tất đát đa bát đát la. Dịch ý là Bạch tản cái (cái lọng trắng). Lọng trắng (tàn trắng), có nghĩa là đem cái đức trong sạch của Phật mà che cho tất cả. Còn gọi là Bạch tản Phật đính, Bạch tán cái Phật đính luân vương, Bạch tản cái đính luân vương Bồ tát. Là một trong năm Phật đính, cũng là một trong tám Phật đính. Là vị thứ nhất được bày ở bên phải, hàng dưới, trong viện Thích ca thuộc Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Là quyến thuộc của đức Thích ca, đem cái lọng từ bi trắng sạch mà che chở cho chúng sinh làm bản thệ. Mật hiệu là Dị tướng Kim cương. Chủng tử là (laô), biểu thị cái ý dùng ánh sáng trí tuệ vô tướng bất khả đắc mà che cho pháp giới chúng sinh. Hình Tam muội da là cái lọng trắng trên hoa sen, hoặc gọi là cái lọng. Hình tượng mầu vàng, tay trái cầm bông sen, trên bông sen có cái lọng, cánh tay phải gấp lại, năm ngón tay co lại, ngón tay cái, ngón tay trỏ chập vào nhau, ngồi xếp bằng trên tòa sen màu đỏ. Cũng có hình tượng tay cầm lọng trắng, phóng ra ánh sáng trắng, ngồi trên hoa sen trắng lớn, hoặc năm ngón tay mở ra, đầu ngón cái và ngón vô danh chạm nhau làm thành hình cái vòng, các kinh chép đều khác nhau. Về chân ngôn của vị Tôn này, các kinh quĩ nói cũng không giống nhau. Cứ theo Tứ bộ nghi quĩ chép là: Qui mệnh lam (laô, chủng tử) tất đát đa bát dát la (sitàtapatra, bạch tản cái) ô sắt ni sái (uwịìwa, Phật đỉnh) sa phạ hạ (svàhà). Về ấn khế của vị Tôn này, các kinh quĩ cũng chép khác nhau, vì đều mang hình trạng cái lọng, loại ấn khế này được gọi là Tản cái ấn. Cứ theo kinh Đại Nhật phẩm Mật ấn và Tứ bộ nghi quĩ chép, thì bàn tay trái duỗi thẳng và úp xuống, tay phải nắm lại, một ngón tay trỏ giơ lên chống vào giữa lòng bàn tay trái, thành hình cái lọng; trong đó, năm ngón tay trái biểu thị năm đại của chúng sinh, ngón trỏ của tay phải biểu thị trí của Phật giới, ý tức là dùng cái lọng Sinh Phật bất nhị (Chúng sinh và Phật chẳng phải là hai) mà che chở cho chúng sinh. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7]. (xt. Bát Phật Đỉnh, Ngũ Phật Đính).
bạch tản cái thần chú
(白傘蓋神咒) Chỉ Đà la ni do Phật đính tôn nói ra. Còn gọi là Phật đính chú. Bạch tản cái (Phạm:Sitàtapatra), dịch âm là Tất đát đa bát đát la. Là tên của Phật đính tôn, vì thế, chú được gọi là Bạch tản cái thần chú. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7 nói là có bốn trăm hai mươi bảy câu. Trong đó, tám câu cuối cùng, gọi là Tâm chú, Chính chú, tức là (Đại 19, 141 trung): Án a na lệ tì xá đề bệ la bạt xà la đà rị bàn đà bàn đà nễ bạt xà ra báng ni phán hổ hồng đô lô ung phán sa bà ha. Nếu một lòng trì tụng chú này, thì không sợ các độc hại nước, lửa, đồng thời, có thể được sự che chở của các quỉ dữ Tì na dạ ca.
bạch tản phật đảnh
Xem Tất đát tha bát đát ra.
bạch tặc
Cướp bằng tay không và không để lại dấu vết gì cả—Robbing with bare hands and without leaving a trace.
bạch tịnh (vương), tịnh phạn
Sudhodana (S).
bạch tịnh thức
Xem Như lai tạng.
bạch tứ yết (kiết) ma
Hội đồng tứ Tăng về những vấn đề nghiêm trọng (trong Tăng chúng khởi hành sự vụ hay thọ giới, trước hết báo cáo với Tăng chúng về sự việc ấy gọi là bạch; sau đó dò hỏi ba lần xem sự việc ấy nên chăng rồi mới làm gọi là tam yết ma)—To consult with an assembly of four monks on matters of grave moment and obtain their complete assent.
bạch tứ yết ma
(白四羯磨) Phạm: jĩapticaturtha-karman, Pàli: ĩatti-catuttha-kamma. Còn gọi là Bạch tứ, Bạch tứ pháp, Nhất bạch tam yết ma. Bạch (Phạm:jĩapti) tức là ý thông báo, tâu bày; yết ma (Phạm:Karma), dịch ý là nghiệp (sự tạo tác), tác pháp (phép làm). Bạch tứ yết ma, nghĩa là khi thi hành các sự vụ trong tăng chúng, như phép thụ giới chẳng hạn, khi thụ giới Cụ túc, qui định là thầy yết ma trong ba thầy, có nhiệm vụ trình bày trước với chúng tăng là những ai đã xin được xuất gia, đây tức là bạch (tức là văn trình bày, tường trình). Kế đó, thầy yết ma hỏi chúng tăng ba lần xem có bằng lòng (tán thành) hay không, gọi là Tam yết ma (Phạm: tftìya karmavàcanà). Nếu không có ai phản đối thì nhận cho được thụ giới làm tăng. Gộp một lần trình bày và ba lần hỏi (yết ma), cho nên gọi là Bạch tứ yết ma, là một cách làm việc (tác pháp) hết sức thận trọng. Tất cả các việc khác, như việc sám hối tội nặng, việc xử phạt, việc can gián, việc dập tắt sự tranh cãi v.v….., tóm lại, các việc lớn nhỏ đều phải theo cách làm này để hỏi ý kiến chúng tăng. Yết ma sớ quyển 1 phần trên (Vạn tục 64, 270 thượng), nói: Vì sự tình nặng nề, sự đồng ý khó khăn, như sám hối tội nặng, phạt nặng trục xuất, nên phải một lần trình bày, ba lần gạn hỏi, việc mới thành được, vì thế gọi là Bạch tứ. Cũng lấy một bạch ba yết ma gộp làm bốn. [X. luật Tứ phần hành sự sao tư trì kí Q.thượng chương 1 đoạn 5]. (xt. Nhất Bạch Tam Yết Ma).
bạch tứ yết-ma
(jđapticaturthaṃ-karman): quy tắc hành xử quan trọng nhất trong Tăng đoàn, được áp dụng để đưa ra quyết định cuối cùng của tập thể về những sự việc quan trọng. Quy tắc này phân làm hai phần, trước hết đương sự có liên quan đến vấn đề đứng ra trình bày rõ sự việc với tăng chúng, gọi là tác bạch (jđapti); sau đó vấn đề được lặp lại 3 lần để tăng chúng đưa ra ý kiến quyết định, gọi là tam yết-ma (tṛtỵyakarmavcan). Cả hai phần này (hỏi và đáp) được gộp chung gọi là bạch tứ yết-ma. Vì thế, cũng có nơi gọi chuẩn xác hơn là “nhất bạch tam yết-ma”.
bạch viễn
(帛遠) Là vị tăng đời Ngụy Tấn. Người Hà Nội (Thấm Dương......, Hà Nam), họ Vạn. Tên chữ là Pháp Tổ, vì thế còn gọi là Bạch Pháp Tổ. Phát tâm đạo từ lúc thiếu thời, xin cha cho xuất gia, lời lẽ rất khẩn thiết, cha đành phải chấp nhận, bèn đổi y phục vào đạo. Tài trí tuyệt luân, mỗi ngày sư tụng kinh tám, chín nghìn lời, học tập kinh Phương đẳng, ngộ triệt lí huyền, kiêm bác thông kinh điển nội ngoại. Kiến tạo Tinh xá tại Trường an, chuyên việc diễn giảng, số tăng tục đến học kể có nghìn người. Cuối năm Huệ Đế nhà Tấn, Thái tể Hà Gian Vương ngung trấn thủ Quan Trung, đối với sư thập phần cung kính, mỗi buổi tối đều đến hỏi đạo. Lại sư thường cùng với quan Tế Tửu là Vương Phù tranh luận về lẽ tà chính của Phật và Đạo gia, Vương phù thường bị núng thế, phẫn uất bèn viết Lão tử hóa Hồ kinh để phỉ báng Phật pháp. Sư từng chú thích kinh Thủ lăng nghiêm, lại giỏi tiếng Hồ, dịch các kinh như Phật ban Nê hoàn, gồm mười sáu bộ, mười tám quyển. Về sau, Thứ sử Tần Châu là Trương Phụ......xin sư hoàn tục để làm quan, sư kiên quyết cự tuyệt mà bị hại, cuối cùng, bị đánh đến chết, lúc đó mới là tráng niên nhưng không rõ bao nhiêu tuổi. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.6; Xuất Tam tạng kí tập Q.2; Lương cao tăng truyện Q.1].
bạch vân
Pai-yun (C)Tên một ngôi chùa.
; (白雲) Mây trắng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lấy sự đi lại tự do của mây trắng mà ví dụ sự tự tại vô ngại của một người đã liễu ngộ hết thảy đều là không, không chấp không trước; lại thông thường thí dụ người ở ẩn. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 309 hạ), nói: Đạo ngộ hỏi: Đại ý Phật pháp là thế nào? Sư đáp: Không được biết. Ngộ nói: Con đường hướng thượng lại có khúc quanh nữa hay không? Sư nói: Khoảng không chẳng ngại mây trắng bay.
Bạch Vân An Cốc
白雲安谷; J: hakuun yasutani; 1885-1973;|Thiền sư Nhật Bản, là vị Thiền sư đầu tiên giảng dạy ở Mĩ. Xuất gia năm 11 tuổi, Sư tu tập dưới sự hướng dẫn của nhiều vị Thiền sư. Sau khi làm thầy giáo (trường phổ thông) 16 năm, Sư được Ðại Vân Tổ Nhạc Nguyên Ðiền (j: daiun sōgaku harada) nhận làm môn đệ và được ấn chứng (1943).|Sư đến Mĩ nhiều lần (1962-1969) và hướng dẫn nhiều thiền sinh Mĩ và các nước khác tu tập. Những bài luận về Bích nham lục, Vô môn quan và Thong dong lục của Sư rất được phổ biến. Phương pháp giảng dạy của Sư được truyền bá rộng rãi ở Tây phương qua quyển sách The Three Pillars of Zen của Philip Kapleau (Việt ngữ: Ba Trụ Thiền).
bạch vân an cốc
Hakuun Yasutani (J)Tên một vị sư.
Bạch Vân Huệ Hiểu
(白雲慧曉, Hakuun Egyō, 1228-1297): vị tăng của Phái Thánh Nhất thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tự là Bạch Vân (白雲), người vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [香川縣]). Lúc nhỏ ông đã lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山) học giáo học Thiên Thai, rồi đến nghe giới luật ở Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Sennyū-ji), sau đến Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) gặp được Viên Nhĩ (圓爾, Enni), theo hầu hạ vị này trong vòng 8 năm, có chỗ khế ngộ. Vào năm thứ 3 (1266) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), ông sang nhà Tống cầu pháp, đi ngao du khắp đó đây, cuối cùng được đại ngộ dưới trướng của Hy Tẩu Thiệu Đàm (希叟紹曇). Sau ông trở về nước, và vào năm thứ 5 (1292) niên hiệu Chánh Ứng (正應), thể theo lời thỉnh cầu ông đến trú trì Đông Phước Tự. Vào ngày 25 tháng 12 năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Nhân (永仁), ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi đời và 54 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Phật Chiếu Thiền Sư (佛照禪師). Ông có để lại các tác phẩm như Huệ Hiểu Hòa Thượng Ngữ Lục (慧曉和尚語錄) 2 quyển, Bạch Vân Hòa Thượng Ngữ Lục (白雲和尚語錄).
bạch vân huệ hiểu
Hakuun Egyō (J)Tên một vị sư.
Bạch Vân Hòa thượng ngữ lục 白雲和尚語録
[ja] ハクウンオウショウゴロク Hakūn oshou goroku ||| The Paegun hwasang ŏrok;; the teaching record of the influential late Koryŏ Sŏn monk Kyŏnghan 景閑, HPC 6.637a-668c=> (k: Paegun hwasang ŏrok). Ngữ lục của Thiền sư Cảnh Nhàn, vị tăng có ảnh hưởng đền Thiền tông Cao Ly sau nầy.
bạch vân môn
See Bạch Vân Tông.
bạch vân quán
Pai-yun kuan (C), Baiyun quan (C)Tu viện Đạo giáo xây dựng vào năm 739.
Bạch Vân Thủ Ðoan
白雲守端; C: báiyún shǒuduàn; J: hakuun shu-tan; 1025-1072;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc phái Dương Kì tông Lâm Tế đời thứ 9. Sư là pháp tự của Dương Kì Phương Hội Thiền sư. Người nối pháp danh tiếng nhất của Sư là Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Cát, quê ở Hàn Dương. Thuở nhỏ học Nho, đến 20 tuổi theo Úc Sơn Chủ ở Trà Lăng xuất gia. Sư đến tham vấn Dương Kì. Một hôm Dương Kì hỏi: »Bản sư ngươi là ai?« Sư thưa: »Hoà thượng Úc ở Trà Lăng«. Dương Kì bảo: »Ta nghe ông ấy qua cầu bị té có tỉnh, làm một bài kệ kì đặc, ngươi có nhớ chăng?« Sư tụng lại bài kệ:|我有明珠一顆。久被塵勞關鎖|今朝塵盡光生。照破山河萬朵|Ngã hữu minh châu nhất khoả|Cửu bị trần lao quan toả|Kim triêu trần tận quang sinh|Chiếu phá sơn hà vạn đoá|*Ta có một viên minh châu|Ðã lâu vùi tại trần lao|Hôm nay trần sạch sáng chiếu|Soi tột núi sông muôn thứ.|Dương Kì cười rồi đi. Sư ngạc nhiên suốt đêm không ngủ. Hôm sau Sư đến thưa hỏi, gặp ngày cuối năm, Dương Kì hỏi: »Ngươi thấy mấy người hát sơn đông hôm qua chăng?« Sư thưa: »Thấy« Dương Kì bảo: »Ngươi còn thua y một bậc.« Sư lấy làm lạ thưa: »Ý chỉ thế nào?« Dương Kì bảo: »Y thích người cười, ngươi sợ người cười.« Nhân đây Sư liễu ngộ.|Sư thượng đường: »Cổ nhân để lại một lời nửa câu, khi chưa thấu sờ đến giống hệt vách sắt, bỗng nhiên một hôm sau khi nhìn được thấu, mới biết chính mình là vách sắt. Hiện nay làm sao thấu?« Sư lại nói: »Vách sắt! Vách sắt!«|Niên hiệu Hi Ninh thứ năm Sư viên tịch, thọ 48 tuổi.
Bạch Vân Thủ Đoan
(白雲守端, Hakuun Shutan, 1025-1072): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Hành Dương (衡陽, Tỉnh Hồ Nam), họ Châu (周). Ông theo xuất gia thọ giới với Trà Lăng Nhân Úc (茶陵仁郁), sau đó đi tham học khắp các nơi, kế đến tham yết Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó, ông bắt đầu khai đường thuyết pháp tại các nơi như Thừa Thiên Thiền Viện (承天禪院), Viên Thông Sùng Thắng Thiền Viện (圓通崇勝禪院) ở Giang Châu (江州, Tỉnh Giang Tây), Pháp Hoa Sơn Chứng Đạo Thiền Viện (法華山証道禪院), Long Môn Sơn Càn Minh Thiền Viện (龍門山乾明禪院), Hưng Hóa Thiền Viện (興化禪院), Bạch Vân Sơn Hải Hội Thiền Viện (白雲山海會禪院) ở Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy). Đến năm thứ 5 (1072) niên hiệu Hy Ninh (熙寧), ông thị tịch, hưởng thọ 48 tuổi. Nhóm Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演) môn nhân của ông biên tập bộ Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (白雲守端禪師語錄) 2 quyển, Bạch Vân Đoan Hòa Thượng Quảng Lục (白雲端和尚廣錄) 4 quyển; ngoài ra còn có tác phẩm Bạch Vân Đoan Hòa Thượng Ngữ Yếu (白雲端和尚語要).
bạch vân thủ đoan
Pai yun Shou tuan (C), Hakuun Shutan (J), Baiyun Shouduan (C), Hakuun Shutan (J)(1025-1075) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Dương Kỳ Phong Hội.
; See Thủ Đoan Bạch Vân Thiền Sư.
bạch vân thủ đoan thiền sư quảng lục
(白雲守端禪師廣錄) Gồm bốn quyển. Còn gọi là Bạch vân Đoan hòa thượng ngữ lục. Do vị tăng đời Tống là Bạch Vân Thủ Đoan (1025 - 1072) soạn, nhóm Xử ngưng biên chép. Thu vào Vạn tục tạng tập 120. Sách này do học trò của Thủ đoan biên tập những lời nói của thầy trong khi thầy xây dựng các Thiền viện tại sáu nơi là: Viên thông sùng thắng Thiền viện ở Châu Giang (tỉnh Giang Tây), Thừa thiên Thiền viện và Chứng đạo Thiền viện trên núi Pháp hoa ở châu Thư (tỉnh An huy), Càn minh Thiền viện trên núi Long Môn, Hưng Hóa Thiền viện, Hải hội Thiền viện trên núi Bạch vân, cho đến Tổ đường cương kỉ tự, Kệ tụng, Tụng cổ gồm một trăm mười Tắc.
bạch vân tông
Một tông phái Phật giáo được thành lập tại Am Bạch Vân thuộc tỉnh Hàng Châu vào đời nhà Tống; môn đệ của tông phái nầy được gọi là Bạch Vân Thái (vì tất cả đệ tử trong am Bạch Vân đều trường chay)—A Buddhist school formed in the White Cloud monastery during the Sung dynasty; its folowers were known as the White Cloud vegetarians.
; (白雲宗) Còn gọi là Vân Tông. Là một phái thuộc tông Hoa Nghiêm. Từ đời Tống về sau, lưu hành ở vùng Giang Nam. Do tăng Thanh Giác (1043 - 1121) chùa Bảo Ứng ở Tây Kinh (nay là Lạc Dương) sáng lập vào khoảng năm Đại quan (1107 - 1110) đời Huy tôn nhà Bắc Tống. Vì sư Thanh Giác trú trì am Bạch Vân ở Hàng Châu, lấy chỗ ở mà đặt tên, nên gọi là Bạch Vân tông. Tín đồ của tông này ăn chay cả nên người ta gọi là dân đạo ăn rau, còn gọi là rau Bạch Vân, rau Thập Địa. Thanh Giác có viết Chứng tông luận, Tam giáo biên, Thập địa ca, Sơ học kí và Chính hành tập, phát huy giáo nghĩa tông Hoa Nghiêm. Tông này lấy kinh Hoa Nghiêm làm chỉ qui của giáo pháp một đời của đức Phật, lập giáo tướng Thập địa tam thừa đốn tiệm nhị giáo làm giáo thuyết. Tông này chia quả vị tu hành làm mười ngôi (mười bậc), tức là: 1. Tu đà hoàn quả. 2. Tư đà hàm quả. 3. A na hàm quả. 4. A la hán quả. 5. Bích chi phật quả. 6. Viễn hành địa. 7. Bất động địa. 8. Thiện tụê địa. 9. Pháp vân địa.10. Diệu giác địa. Trong đó, bốn ngôi trước là Thanh văn thừa, ngôi thứ năm là Duyên giác thừa, ngôi thứ sáu đến thứ chín là Bồ tát thừa, ngôi thứ mười là Phật thừa. Đem phối trí ngôi thứ nhất với Sơ thiền, ngôi thứ hai với Nhị thiền, ngôi thứ ba với Tam thiền, ngôi thứ tư với mười ba Phạm thiên trong Tứ thiền, ngôi thứ năm với mười tám Phạm thiên, bốn ngôi từ thứ sáu đến thứ chín với bốn Vô sắc thuộc Không vô biên xứ.., năm ngôi sau lần lượt phối với Bát nhã, Duy thức, Pháp hoa, Thiền, Hoa nghiêm, và cho rằng chín ngôi trước là Tiệm giáo, ngôi thứ mười là Đốn giáo; so sánh thì ngôi thứ chín còn thua ngôi thứ mười một bậc, cho nên gọi ngôi thứ mười là Đẳng giác Đại thừa. Lấy Hoa Nghiêm làm Đốn giáo Phật thừa mà chê Thiền tông và Pháp Hoa là Tiệm giáo, đặc biệt bài xích Thiền tông. Tông này đề xướng thuyết ba giáo Nho, Thích, Đạo là đồng nhất, coi trọng đức trung hiếu từ thiện, tín đồ sớm hôm tụng kinh lễ bái, làm ruộng để sống, không chuộng rượu thịt, không lấy vợ, các cuộc hội họp của tông đoàn đều cử hành vào ban đêm. Tông này bị Thiền đồ đương thời coi là đảng tà và rất bài xích. Chứng tông luận của Thanh giác bị vạch ra là có tính cách ngang ngược đối với triều chính, cho nên, vào năm Chính hòa thứ 6 (1116), Thanh Giác bị đưa đi đày ở Quảng Nam thuộc Ân Châu. Đến năm Tuyên hòa thứ 2 (1120) được tha, tháng chín năm sau thì tịch, thọ bảy mươi chín tuổi. Được đưa về táng tại Dư Hàng, Nam Sơn, dựng tháp Bạch Vân, cất viện Phổ An (tức sau này là chùa Đại phổ Ninh). Học trò là Chính Bá, Tuệ Năng thừa kế sự nghiệp của thầy, vẫn noi theo phong độ cúng dường Pháp bảo, làm ruộng để sống, đồ chúng càng đông. Đến thời Ninh tôn nhà Nam Tống, có Trầm trí nguyên, ở am Bạch Vân, tự xưng là Đạo Dân. Năm Gia thái thứ 2 (1202), tâu xin nhà vua ban cho tên Ngạch, nào ngờ có một viên quan tâu vua về việc ăn rau thờ ma, gian dân kết bè đảng, sáng lập am riêng, mê hoặc ngu dân, nhà vua hạ lệnh phá am, Trầm Trí Nguyên phải chạy trốn đến nơi khác. Sau khi nhà Nam Tống mất, tông này, khác với Phật giáo phổ thông, là các Tăng quan, đặt sở Tổng quản trị của tông Bạch Vân, đặt ti Tăng lục của tông, sai Đạo An ở chùa Phổ ninh tại Nam sơn làm chức Tăng lục. Đến đời Nguyên, phát triển thành đại Giáo đoàn. Năm Chí nguyên thứ 14 (1277) đời Thế tồ, trú trì Đạo An và tín đồ chùa Đại Phổ Ninh ở Nam Sơn của tông Bạch vân, khuyến hóa in Đại tạng kinh; đến năm Chí nguyên thứ 27 thì hoàn thành, tức đời gọi là Nguyên tạng, còn gọi là bản Đại Phổ ninh tự. Năm Diên hựu thứ 6 (1319) đời Nhân tông nhà Nguyên, đài Ngự sử tâu nhà vua là các tăng thuộc sở Tổng quản trị của tông Bạch vân để tóc, không nuôi cha mẹ, trốn dịch, hại dân. Cùng năm ấy, vào tháng 10 (có thuyết nói tháng 7), Trung thư tỉnh lại tâu Tổng quản Trầm minh nhân đoạt hai vạn khoảng ruộng của dân, dụ dỗ ngu tục mười vạn người, phong tước càn bậy. Vua bèn tịch thu sách, ấn của Trầm Minh Nhân, rồi đuổi về làm dân, phá bỏ sở Tổng quản trị, và các ty Tăng lục, Tăng chính..., tăng phải hoàn tục hết, cấm chỉ không được lưu truyền. Vua Thái Tổ nhà Minh (ở ngôi 1368 - 1398) cũng hạ lệnh nghiêm cấm tông này. Trở về từ năm Nguyên hựu thứ 8 (1093), Thanh Giác khai sáng tông đến đây cộng tất cả là hai trăm hai mươi bảy năm, và từ đó, tông Bạch vân tuyệt tích. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.47, Q.54; Nguyên sử bản kỉ thứ 21 đến 27].
Bạch Vân 白雲
[ja] ハクウン Hakūn ||| Paegun; see 景閑 =>Paegun; Xem Cảnh Nhàn 景閑 .
bạch xà ấn
(白蛇印) Là ấn tướng trong Mật giáo, thông dụng đối với tất cả các rồng, vì thế còn gọi là Chư long ấn, Nhất thiết long ấn. Thông thường dùng trong phép Thủy thiên. Tướng ấn là hai tay mười ngón duỗi xòe ra, hai ngón tay cái giao nhau, ngón phải đè lên ngón trái như hình rắn bò, rồi đặt trước ngực. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 721 trung), nói: Xòe duỗi mười ngón, hai ngón cái giao nhau.
bạch xứ quan âm
Xem Bạch Y Quan Âm Bồ tát.
bạch xứ quán âm
See Đại Bạch Y.
bạch y
White clothing, said to be that of Brahmans and other people, hence it is term for common people.
; 1) Avadata-vasana (skt)—Hàng áo trắng (nói về Phạm thiên và những người thuộc giai cấp cao), nhưng bây giờ danh từ nầy là dành cho người thường, đặc biệt là những người Phật tử tại gia—White clothes (said to be that of Brahmans and other high-class people), but now the term is used for common people, especially laity or lay men. 2) Bạch Y Quán Âm: See Đại Bạch Y.
; (白衣) Phạm:Avadàta-vasana,Pàli:odàtavasana. Nguyên ý là áo màu trắng, được chuyển dụng mà gọi người mặc áo trắng, tức chỉ những người tại gia. Thông thường, người Ấn Độ đều cho áo màu trắng tinh là sang, cho nên, ngoài tăng lữ ra, tất cả đều mặc áo trắng, từ đó, gọi người tại gia là bạch y, trong kinh Phật phần nhiều cũng dùng từ ngữ bạch y để thay cho người tại gia. Đối lại với bạch y, sa môn thì gọi là truy y .(áo thâm), nhiễm y (áo nhuộm). Lại thông thường, những người Tây Vực tại gia cũng mặc áo trắng, cho nên cũng gọi là bạch y. Nhưng theo phục chế ở Trung Quốc và Nhật Bản thì lại khác. Cứ theo Phật tượng tiêu xí nghĩa đồ thuyết kí chép, thì tại Trung Quốc, những người mặc áo trắng là người thấp hèn, như người đầy tớ, người giúp việc. Trái lại, ở Nhật Bản, nếu không phải là người cao quí thì không được mặc áo trắng; người bình dân, chỉ trong các dịp tế lễ, tang lễ mới mặc áo trắng, để tiêu biểu sự chay tịnh trong sạch. Vì đó là quốc phong của Nhật Bản, cho nên, các sa môn tuy mặc áo nhuộm, nhưng khi lễ Phật, nghe pháp, cũng phải mặc áo trắng dưới áo pháp. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.14; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Truy Y).
bạch y bái tướng
(白衣拜相) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bạch y, trong Phật giáo, phần nhiều chỉ những người tại gia, nhưng ở đây, chỉ chung những người dân quê mùa vô danh tiểu tốt. Bạch y bái tướng, có nghĩa là một người dân quê vốn chẳng có quan chức địa vị gì, mà bỗng nhiên được phong làm Tể tướng! Trong Thiền lâm, từ ngữ trên đây được chuyển dụng để chỉ ý hoát nhiên đại ngộ,..., chuyển phàm thành Thánh. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 990 thượng), nói: Kẻ đại trượng phu, bậc người như thế, tại sao không dạy người ta xổ lồng, tháo cũi, cũng hệt như bạch y bái tướng vậy?.
bạch y phái
Svetambara (S)Thuộc Kỳ na giáo, Ấn độ.
; (白衣派) Phạm:Zvetàmbara. Là một trong các phái thuộc Kì na giáo tại Ấn Độ. Vì tín đồ của phái này mặc áo trắng, tượng trưng cho sự liêm khiết, nên có tên gọi như thế. Nhưng, tín đồ Phật giáo thì gọi họ là những người ngoại đạo áo trắng. Cứ theo truyền thuyết, thì tổ thứ hai mươi bốn của Kì na giáo là kiền đà nhã đề tử (một thuyết bảo là Khai tổ). Sau khi Ni Kiền Tử qua đời được hơn hai trăm năm, thì giữa tín đồ, nảy sinh vấn đề: có nên dùng áo trắng quấn mình không, rồi mỗi người chấp mỗi ý kiến mà thành đầu mối của sự chia rẽ, rồi trong khoảng một thế kỉ đã phân hóa thành phái áo trắng, lấy Trưởng lão Thánh Phổ Đức Vĩ Ca Á (Phạm:Saôbhutavijaya) làm đầu, và phái áo trời (Phạm: Digambara, Thiên y) lấy Trưởng Lão Ba Đức Lạp Ba Hồ (Phạm: Bahadra-bàhu) làm đầu. Tôn chỉ của phái áo trời là ở chỗ quán xét các nỗi khổ của kiếp người, tu khổ hạnh để diệt trừ nghiệp nhân ở các kiếp trước, chủ trương không tạo tác nghiệp thân, không khởi các phiền não để cầu chứng ngộ mà đạt giải thoát. Còn phái áo trắng thì ngoài việc tu khổ hạnh ra, còn chủ trương nam nữ bình đẳng. Nghi thức tôn giáo của phái này hạn định chỉ được cử hành trong các đền miếu của Kì na giáo. Cho phép tín đồ được có một cái áo dài trắng, một chiếc quạt, một khăn che miệng để đề phòng vi trùng vào mồm. Phái này có nhiều ảnh hưởng tại khu vực Mại sách nhĩ thuộc bắc Ấn Độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3 Tăng ha bổ la quốc (nước Tăng ha bổ la nằm về phía bắc Ấn Độ, là nơi mà bản sư của phái áo trắng bắt đầu truyền bá giáo pháp) điều chép, thì giáo đồ phái này tu khổ hạnh, uy nghi luật hạnh rất giống với phép của tăng chúng Phật giáo, duy có điều khác là họ để một ít tóc, và khỏa thân hoặc có mặc áo thì là mầu trắng. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 68, dùng các từ ngữ cầu vui và khổ hạnh để phân biệt chỗ khác nhau giữa phái áo trắng và phái áo trời, có nghĩa là phái áo trắng cầu vui, cho nên cất giữ nhiều thứ áo. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng chương 1 đoạn 1, thì dùng có và không để nói sự sai khác của hai phái, tức là phái áo trắng chấp trước có. Sau khi Phật giáo hưng thịnh thì phái áo trắng dần dần suy vi, chỉ còn lưu hành ở một vùng tây nam Ấn Độ. Đến thế kỉ XI, XII, Phật giáo bị Hồi giáo phá hoại, đi đến chỗ suy vong, thì phái áo trắng mới bắt đầu vãn hồi được thế lực và tiến tới dung hợp với Ấn Độ giáo, sùng bái Thấp bà và Tì thấp nô. Thời xưa, các chi phái của phái áo trắng, có tới tám mươi tư chi phái. Sùng bái tượng Tổ sư thì có các phái Tháp ba (Phạm:Tapa), Tạp la tháp la (Phạm:Kharatara), và An khế la (Phạm: Ancara). Khoảng thế kỉ XV, từ phái áo trắng tách ra phái nữa là Tư đặc na ca ngõa tây (Phạm:Sthànaca-vàsì), đề xướng phục cổ, bài xích sự sùng bái ngẫu tượng. Ngoài ra, còn có phái Mục nhĩ để bá trát (Phạm: Mùrtipùja), phái Đặc la ban đề (Phạm: Terapanthì) v.v... Về sau, vì sự chia rẽ nội bộ mà thế lực của phái này cũng tiêu tan. [X. kinh Tạp a hàm Q.21; Trung a hàm Q.4 kinh Ni kiền, Q.25 kinh Khổ ấm, Q.52 kinh Chu na; Trường a hàm Q.12 kinh Thanh tịnh; kinh Tăng nhất a hàm Q.35; luận Du già sư địa Q.7; luận Hiển dương Thánh giáo Q.10]. (xt. Thiên Y Phái, Kì Na Giáo).
Bạch Y Quan Âm
白衣觀音; J: byakue-kannon;|Một dạng hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tại Nhật, Quán Thế Âm cũng hay được trình bày dưới dạng »Phật bà« Quan Âm và là một đối tượng quan trọng trong nền hội hoạ của Thiền tông Nhật Bản.
bạch y quan âm
Xem Bạch Y Quan Âm Bồ tát.
; (白衣觀音) Bạch y, Phạm:Pàịđaravàsinì. Tên Tây Tạng: Gos-dkar-mo, dịch âm là Bạn đà na phọc tự ni, Bán nô la phạ tất ninh, Bán nô la phạ tất nễ, Bạt nô phọc tất ni. Dịch ý là Bạch xứ, Bạch trụ xứ. Chỉ vị tôn thứ sáu trong ba mươi ba Quan âm, thường mặc áo trắng ngồi trên hoa sen trắng. Trắng, biểu hiệu tâm bồ đề, hàm ý là trú nơi tâm bồ đề trắng sạch. Bởi thế vị tôn này được gọi là Đại Bạch y Quan âm, Bạch xứ tôn Bồ tát, Bạch xứ Quan âm, Phục bạch y Quan âm, Bạch y Quán tự tại mẫu. Chủng tử là (paô). Mật hiệu là Li cấu (hoặc Li khổ) kim cương. Hình Tam muội da là Bát đàm ma hoa. Bày ở ngôi thứ bảy hàng thứ ba trong viện Quan âm trên Thai tạng giới mạn đồ la thuộc Mật giáo. Về hình tượng thì trong các kinh quĩ chép không giống nhau, nếu cứ theo Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la ghi chép, thì thân hình tượng mầu vàng lợt, mặc áo trắng, tay trái cầm hoa sen trắng cầu nguyện trừ tai, tay phải làm hình dáng ban nguyện, tức duỗi năm ngón tay ra, bàn tay hướng ra ngoài, đặt bên cạnh sườn phía trước, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ. Lại cứ theo kinh Đại nhật phẩm Mật ấn chép, thì ấn khế là hai tay chắp lại để rỗng lòng bàn tay, hai ngón vô danh co vào trong lòng bàn tay, hai ngón cái cũng co lại và chạm vào hai ngón vô danh, biểu thị vị tôn này là bộ mẫu của Liên hoa bộ, có thể sinh ra các vị tôn của Liên hoa bộ. Còn chân ngôn thì được chép rõ trong kinh Đại nhật phẩm Chân ngôn tạng và phẩm Mật ấn. Lại phép tu lấy vị tôn này làm bản tôn thì gọi là Bạch y Quan âm pháp, Bạch xứ tôn pháp, tu phép này để xin sống lâu và trừ tai. Còn một thuyết nói Quan âm này có hai vị là Bạch y và Đại bạch y, Đại bạch y tức là Bạch xứ Quan âm, Bạch y tức là Đại minh bạch thân quan âm, bày ở ngôi thứ sáu, hàng thứ nhất trong viện Quan âm. Vị tôn này mặc áo trắng ngồi trên đá là đề tài rất thú vị cho các bức vẽ thủy mặc từ xưa đến nay. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8, Q.30; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Đồ tượng sao Q.7; Biệt tôn tạp kí Q.20].
bạch y quan âm bồ tát
Pāṇḍravāsinī (S)Đại Bạch Y, Bạch xứ Quan Âm, Bạch Y Quan ÂmTên một vị Bồ tát.
bạch y quán âm
The white-robed form of Quán âm. (Compassion Buddha)
bạch y đại bi chú
(白衣大悲咒) Chỉ Đà la ni của Bạch y Quan âm, tức là Chân ngôn được nói trong phẩm Phổ thông chân ngôn tạng và phẩm Mật ấn của kinh Đại nhật. Cũng tức là: Nam mạ tam mạn đa bột đà nâm (nama # samanta buddhànàm, qui mệnh phổ biến chư Phật) đát tha nghiệt đa vi sái dã (tathàgata viwaya, Như lai đối tượng) tam bà phệ (sambhave, sinh) bát đàm ma ma lũ nễ (padmamàlini, hữu liên hoa man giả) sa ha (svàhà). Cả bài chú có nghĩa là: Xin qui mệnh bậc đã từ nơi cảnh giới Như lai sinh ra và lấy công đức của Phật làm tóc trang nghiêm. Tu phép Bạch y Quan âm mà trì chú Bạch y đại bi thì có thể tiêu trừ nạn chiến loạn và các tai họa do thiên nhiên gây ra.
bạch y đại sĩ
Pandaravasini (skt)—Bán Nã La Phạ Tất Ninh—Bạch Y Quán Âm trên Bạch Liên Hoa (thường mặc áo trắng ngự trên đóa sen trắng)—The white-robed form of Kuan-Yin on a white lotus—See Đại Bạch Y.
Bạch y 白衣
[ja] ビャクエ byakue ||| Literally "white clothes," referring to secular people, who, in ancient India, wore white clothes in contrast to the darker clothes of religious practitioners. (avadāta-vāsanā, ārāmika). (2) The name of a female bodhisattva in the Zhenyan sect (Pāndurā). => 'Y phục màu trắng', đề cập đến người thế tục, theo Ấn Độ thời xưa, họ mặc áo trắng, khác với giới tăng lữ măc y phục màu hoại sắc (avadāta-vāsanā, ārāmika). Tên một nữ bồ-tát thuộc dòng Zhenyan (s: Pāndurā).
bạch đinh
Commoner.
bạch đàn
White candana, or white sandal-wood.
; Loại gỗ chiên đàn trắng—White sandal wood.
; (白檀) Là một loại chiên đàn (Phạm:candana). Còn gọi là Bạch chiên đàn, Bạch chiên hương thụ. Chiên đàn là một loại cây thơm, sinh sản ở các vùng nhiệt đới, như Ấn Độ, có các loại vàng, trắng, đỏ, tía. Vì thân cây mầu trắng nên gọi bạch đàn. Loại cây này phần nhiều được dùng làm thuốc, đàn đỏ trừ phong thũng, đàn trắng trị bệnh nhiệt. Ngoài ra còn có thể dùng làm hương, hương đàn trắng là thơm nhất, gọi là bạch đàn hương, bạch chiên đàn hương. Nhưng Tuệ lâm âm nghĩa quyển 8 lại bảo hương đàn đỏ là tốt nhất. Mật giáo cho rằng thắp hương đàn trắng, mùi thơm có thể diệt trừ tội chướng, và cho là một trong năm hương, được sử dụng khi tu pháp. Còn phong tục Ấn Độ thì dùng gỗ bạch đàn để tạc tượng Phật. [X. kinh Mạt lợi tử đề bà hoa man; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.18; Đại nhật kinh sớ Q.7; Pháp uyển châu lâm Q.36 thiên Hoa hương; Đại đường tây vực kí Q.10 Mạt la củ tra quốc điều; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34]. (xt. Chiên Đàn Thụ).
bạch đàn mạn đồ la
(白檀曼荼羅) Trong Mật giáo, trước khi tạo lập Đại mạn đồ la thì làm Bạch đàn mạn đồ la trước, là đàn Tiền phương tiện. Là mạn đồ la được làm vào ngày thứ tư trong bảy ngày làm Pháp đàn, thông thường dùng làm giới đàn Tam muội-da khi hành lễ quán đính. Khi làm đàn, trước hết, lấy bùn trộn lẫn với hương bạch đàn, đắp một đàn tròn cỡ bằng mười hai ngón tay ở chính giữa để làm tòa Ngũ Phật, sau đó lần lượt đắp các đàn tròn của chư Tôn khác. Các Tôn vị được bày trong mạn đồ la, theo kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên liệt kê là: Ngũ Phật vị, Chư cứu thế, Phật mẫu, Liên hoa thủ, Chấp kim cương, Bất động tôn, v.v….. nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì lại nói khác. Ngoài ra, trong Tôn thắng đà la ni nghi quĩ, do ngài Bất không dịch, liệt kê danh xưng và vị trí của các Tôn vị cũng khác với thuyết trong kinh Đại nhật, như được đồ biểu sau đây: . Phổ hiền . Kim cương thủ . Văn thù sư lợi . Hư không tạng . Tì lô giá na . Trừ cái chướng . Từ thị . Quán tự tại . Địa tạng
bạch đạo
White path.
; White path—Thiện đạo
bạch đức thế tôn
World Honoured One !
Bạch Ẩn Huệ Hạc
白 隱 慧 鶴; J: hakuin ekaku; 1686-1769;|Thiền sư Nhật Bản, một trong những Thiền sư quan trọng nhất của tông Lâm Tế (j: rin-zai). Mặc dù dòng Lâm Tế đã có từ lâu tại Nhật, nhưng Sư là người đã phục hưng, cải cách lại thiền phái này, vốn đã bắt đầu tàn lụi từ thế kỉ thứ 14. Sư là người tổng kết lại các Công án và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Toạ thiền vì Sư nhận thấy rằng nhiều người đã ham thích suy tư về công án mà quên hẳn tu tập thiền định. Công án »Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?« của Sư là công án nổi tiếng nhất của một Thiền sư Nhật. Con người thiên tài này không phải chỉ là một vị Thiền sư mà là một hoạ, văn và nghệ sĩ tạc tượng xuất chúng. Các tranh mực tàu của Sư là những kiệt tác của thiền hoạ Nhật (Mặc tích).|Người ta kể lại rằng, hồi lên 7, 8, Sư cùng mẹ viếng chùa. Lần đó, Sư nghe các vị tăng tụng kinh tả lại cảnh Ðịa ngục. Cảnh đau khổ đó làm Sư không bao giờ quên và quyết đi tu, học để đạt tới cảnh »vào lửa không cháy, vào nước không chìm.« Mặc dù cha mẹ không cho đi tu, Sư vào chùa năm 15 tuổi, suốt ngày lo tụng kinh niệm Phật. Năm 19 tuổi, nhân khi đọc tiểu sử Thiền sư Trung Quốc Nham Ðầu Toàn Hoát (Sư bị giặc cướp đâm, rống lên một tiếng thật to vang xa mười dặm rồi tịch), Sư nghĩ rằng, cả Thiền sư đắc đạo cũng có người không thoát một cái chết đau khổ và mất lòng tin nơi Phật pháp, tìm thú vui nơi văn chương|Năm 22 tuổi, nhân nghe một câu kinh, Sư bỗng có ngộ nhập, càng quyết tâm đi tìm phép »an tâm« và tập trung vào công án »Vô«. Sư thuật lại như sau trong Viễn la thiên phủ (j: orategama):||H 12: Bạch Ẩn Huệ Hạc (tranh tự hoạ)|»… Một đêm nọ, khi nghe tiếng chuông chùa vang, ta hoát nhiên nhiên tỉnh ngộ… Ta tự biết, chính mình là Thiền sư Nham Ðầu, chẳng mang thương tích gì trong tam thế. Tất cả mọi lo sợ đeo đuổi từ xưa bỗng nhiên biến mất. Ta gọi lớn ›Tuyệt vời! Tuyệt vời! Chẳng cần vượt khỏi sinh tử, chẳng cần giác ngộ. Một ngàn bảy trăm công án chẳng có giá trị gì‹«.|Kinh nghiệm lần đó quá lớn lao, Sư tưởng mình là người duy nhất giác ngộ trong thiên hạ. Về sau Sư kể lại: »Lòng tự hào của ta vọt lên như núi cao, lòng kiêu mạn tràn như thác đổ.« Sư đến tham vấn Thiền sư Ðạo Kính Huệ Ðoan (道 鏡 慧 端; j: dō-kyō etan) để kể lại kinh nghiệm giác ngộ của mình. Huệ Ðoan nhận ra ngay lòng kiêu mạn đó và không ấn chứng cho Sư nhưng nhận Sư làm môn đệ. Trong những năm sau, Sư chịu đựng một thời gian tham thiền khắc nghiệt và cứ mỗi lần Sư trình bày sở đắc của mình lại bị thầy chê là »một chúng sinh đáng thương sống trong địa ngục.« Ðạo Kính Huệ Ðoan chính là người đã nhận ra tài năng xuất chúng của Sư, và đã thúc đẩy Sư càng tiến sâu vào những tầng sâu giác ngộ. Chính vì vậy ông từ chối không ấn chứng gì cho Sư cả. Mãi đến sau khi Huệ Ðoan chết, Sư mới hiểu hết giáo pháp của thầy mình và ngày nay người ta xem Sư chính là truyền nhân của Ðạo Kính.|Với những đệ tử quan trọng như Ðông Lĩnh Viên Từ (東 嶺 圓 慈), Nga Sơn Từ Ðiệu (峨 山 慈 掉), Tuý Ông Nguyên Lư (醉 翁 元 盧)… (xem biểu đồ cuổi sách), phép tu thiền của Bạch Ẩn Thiền sư ngày nay còn truyền lại trong dòng Thiền Lâm Tế Nhật Bản, gọi là phái Học Lâm. Theo Sư, hành giả cần 3 yếu tố sau đây mới toạ thiền thành công: Ðại tín căn, Ðại nghi đoàn và Ðại phấn chí. Sư coi trọng phép quán công án và xếp đặt các công án trong một hệ thống mà hành giả cần giải đáp theo thứ tự nhất định. Công án »Vô« của Triệu Châu và »bàn tay« được Sư xem là những bài học hay nhất. Sau quá trình giải công án, hành giả được ấn chứng và tiếp tục sống một đời sống viễn li cô tịch trong một thời gian vài năm để chiêm nghiệm và tiếp tục đạt thêm những kinh nghiệm giác ngộ. Sau đó hành giả mới được giáo hoá với tính cách một Thiền sư.|Sư cũng coi trọng một đời sống nghiêm túc trong thiền viện với giới luật nghiêm minh cũng như lao động hằng ngày (Bách Trượng Hoài Hải), xem lao động cũng là một phần của thiền định.|Trong tác phẩm Viễn la thiên phủ (遠 羅 天 釜; j: orategama), Sư viết như sau về »Thiền trong hoạt động«:|»… Ðừng hiểu sai ta và cho rằng cần dẹp bỏ toạ thiền và tìm một hoạt động nào đó. Ðiều đáng quý nhất chính là phép quán công án, phép này không cần quan tâm đến việc các ông đang yên tĩnh hay đang hoạt động. Thiền sinh nếu quán công án khi đi không biết mình đi, khi ngồi không biết mình ngồi. Nhằm đạt đến chiều sâu nhất của tâm và chứng ngộ cái sống thật sự của nó thì trong mọi tình huống không có cách nào khác hơn là đạt một tự tâm lắng đọng sâu xa ngay trong những hoạt động của mình.«|Sư chăm lo, quản lí hướng dẫn nhiều thiền viện, những nơi mà ngày nay vẫn còn mang đậm tính Thiền của Sư. Sư cũng để lại nhiều tác phẩm đặc sắc, mang lại niềm cảm hứng bất tận cho giới hâm mộ thiền ngày nay.|Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán|白 隱 禪 師 坐 禪 和 讚; J: hakuin zenji zazen wasan;|Một bài ca tụng Toạ thiền (j: zazen) của vị Thiền sư Nhật Bản nổi danh Bạch Ẩn Huệ Hạc, được tụng nhiều trong các Thiền viện tại Nhật. Bắt đầu bằng câu »Tất cả chúng sinh bản lai là Phật«, Sư tán tụng toạ thiền là phương pháp tối trọng để thức tỉnh, về đến chân lí của đạo Phật.|Nguyên văn Toạ thiền hoà tán (bản dịch của Trúc Thiên & Tuệ Sĩ từ bản Anh ngữ, trích từ Thiền luận của D. T. Su-zu-ki):|Tất cả chúng sinh bản lai là Phật|Cũng như băng với nước|Ngoài nước, không đâu có băng|Ngoài chúng sinh, tìm đâu ra Phật?|Ðạo gần bên mình mà chẳng biết|Bao người tìm kiếm xa vời – Ðáng thương!|Ðó cũng như người nằm trong nước|Gào khát cổ xin được giải khát|Ðó cũng như con trai của trưởng giả|Lang thang sống với phường nghèo khổ|Nguyên do ta luân hồi trong sáu cõi|Là tại ta chìm đắm trong vô minh|Mãi lạc xa, xa mãi trong u minh|Biết bao giờ thoát li sinh tử?|Pháp môn toạ thiền của Ðại thừa|Ta không đủ lời để tán tụng|Những pháp hạnh cao quý như bố thí và trì giới|Như niệm hồng danh Phật, sám hối và khổ hạnh|Và biết bao công đức khác|Tất cả đều là kết quả của toạ thiền|Thậm chí những người chỉ ngồi qua một lần|Cũng diệt trừ được tất cả ác nghiệp|Không đâu tìm thấy ác đạo nữa|Mà Tịnh độ vẫn sát kề bên|Xin hãy cung kính nghe nói cái thật ấy|Dầu chỉ một lần|Hãy tán thán, hãy hoan hỉ ôm choàng lấy|Và sẽ được muôn vàn phúc huệ|Ví như người tự mình phản tỉnh|Chứng vào cái Thật của Tự tính|Cái Thật của Tự tính là Vô tự tính|Người ấy thật đã thoát ngoài điên đảo vọng tưởng|Ðã mở ra cánh cửa đồng nhất của nhân và quả|Và thênh thang con đường pháp phi nhị phi tam|Trụ nơi Bất dị giữa những cái dị|Dầu tới dầu lui cũng không bao giờ động|Nắm cái Vô niệm trong cái niệm|Trong mọi thi vi đều nghe tiếng pháp|Trời tam-muội lồng lộng vô biên|Trăng Tứ trí sáng ngời viên mãn|Ấy là lúc họ thiếu gì đâu?|Ðạo (chân lí) bản lai thanh tịnh hiện thành|Thế giới này là thế giới của Liên hoa tạng|Và thân này là Pháp thân của Phật.
bạch ẩn huệ hạc
Hakuin (C), Hakuin ekaku (J)Thuộc tông Lâm Tế là một thiền sư thông minh xuất chúng nhất trong những thiền sư Nhật bản.
; Hakuin 1686-1769. - Bạch Ẩn Huệ Hạc sanh năm 1686. Ông là một trong những vị thiền sư nhiều tài năng và sáng chói nhất của Nhật Bản. Bạch Ẩn thường được gọi là cha đẻ của phái Lâm Tế thời bấy giờ, lý do chỉ một tay ông đã làm sống lại giáo lý Lâm Tế đã tàn lụi dần, qua sự hệ thống hóa các công án của ông. Bạch Ẩn chẳng những là một thiền sư xuất chúng, mà ông còn là một nhà họa sĩ đại tài, một người viết chữ Hán như rồng bay phượng múa, và một nhà điêu khắc. Sekishu hay “tiếng vỗ của một bàn tay là cái gì?” Đây là một công án nổi tiếng do ông thiết lập. Bài “Tọa Thiền Ca” (Zazen Wasan) phổ biến của ông thường được tụng trong các chùa hay thiền viện. Bài ca bắt đầu: “Tất cả chúng sanh vốn là Phật” và kết thúc: “Chính chốn nầy là đất sen, chính thân nầy là Phật.”—Bai-In (Hakuin Ekaku) was born in 1686. He was one of the most versatile and brilliant of the Japanese Zen masters. Hakuin is often called the father of Linn-Chih Sect (Rinzai) at that time by reason of the fact that he single-handedly revitalized the Linn-Chih's teachings, which had been steadily declining, through his systematization of the koans. Not only was Hakuin an outstanding master, he was a highly accomplished painter with great talents, calligrapher, and sculptor. Sekishu, or “What is the sound of one hand?” which he devised, is the best known koan by a Japanese master. His popular Chant in Praise of Zazen, frequently recited in Zem temples, begins: “From the beginning all beings are Buddha” and ends: “This earth where we stand is the pure lotus land, and this very body, the body of Buddha.” - Nham Đầu Toàn Khoát là một cao Tăng đời Đường, bị bọn cướp giết, khi chết , tiếng rống của ngài nghe xa đến mấy dậm. Khi Bạch Ẩn mới học Thiền, bi kịch ấy diễn ra trong đời một cao Tăng Thiền đạo hạnh vượt ngoài tất cả tội lỗi của thế nhân khiến ngài bị chấn động cả tâm thần và tự hỏi: 'Thiền có thật là bộ kinh cứu khổ không.'—Yen-T'ou was one of the great Zen teachers in the T'ang dynasty. But he was murdered by an outlaw, when his death-cry is said to have reached many miles around. When Pai-In first studied Zen, this tragic incident in the life of an eminent Zen master who is supposed to be above all human ailments, troubled him very much, and he wondered if Zen were really the gospel of salvation. - Cũng như Cao Phong (see Cao Phong Diệu Tổ), Bạch Ẩn đã ôm chữ 'Vô' như một công án, cho đến chiều kia khi nghe tiếng chuông chùa từ xa vọng lại làm cho tất cả sụp đổ tan tành. Bạch Ẩn cho rằng đây chẳng khác nào như đập bể một bồn nước đá, hoặc xô ngã một ngôi nhà ngọc. Phút chốc ngài thức tỉnh, và thấy mình chính là Nham Đầu, vị tổ sư thuở trước. Mọi điều ngờ vực hoang mang từ trước bỗng tiêu tan như băng tuyết gặp vầng dương. Ngài reo to: “Kỳ thay! Kỳ thay! Không có sanh tử luân hồi nào phải thoát ra, cũng không có Bồ Đề nào phải dụng tâm cầu được. Tất cả cát đằng kim cổ một ngàn bảy trăm câu thật chẳng đáng bỏ công đề xướng.”—His situation was the same as that of Zen master Kao-Fen-Miao-Tsu's. He had nothing in his mind but Chao-Chou's Wu. Until one evening a temple-bell struck, which upset the whole thing. It was like smashing an ice-basin, or pulling down a house made of jade. When he suddenly awoke, he found himself was Yen-T'ou, an old master. Whatever doubts and indecisions he had before were completely dissolved like a piece of thawing ice. He called out loudly: “How wondrous! How wondrous! There is no birth and death from which one has to escape, nor is there any supreme knowledge (Bodhi) after which one has to strive. All the complications past and present, numbering one thousand seven hundred are not worth the trouble of even describing them.” - Bạch Ẩn là một nhà canh tân lớn của Thiền phái Lâm Tế. Ông cũng tự coi mình thuộc dòng hậu duệ của Thiền sư Viên Ngộ. Người ta biết đến ông chủ yếu qua việc công bố hai bộ sưu tập nổi tiếng Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Những chú giải và nhận xét của ông về khoảng 100 công án thiền do Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển thu thập, trong đó mỗi công án đã có một lời ca ngợi, đã làm cho Bích Nham Lục trở thành một trong những tác phẩm chính của văn học Thiền và một trong những phương tiện đào tạo có hiệu quả nhất—Hakuin, the great renewer of Linn-Chih Zen in Japan, was in the lineage of transmission stemming from Yuan-Wu. Yuan-Wu himself is known primarily as the editor of the Pi-Yen-Lu, together with the Wu-Men-Kuan, one of the best known koan collections. His instructions, incidental remarks, and explanations on the hundred koans collected and provided with praises by Master Ch'ung-Hsien make the Pi-Yen-Lu one of the greatest works of Zen literature and one of the most helpful for training students. - Ông thị tịch vào năm 1769—He died in 1769 A.D.
; (白隱慧鶴) (1685 - 1768) Là vị tăng thuộc tông Lâm Tế của Nhật Bản. Hiệu Hạc Lâm. Người Tuấn Hà (huyện Tĩnh Cương). Mười lăm tuổi xuất gia ở chùa Tùng Ấm (huyện Tĩnh Cương, quận Tuấn Đông, Đinh Nguyên), nối pháp của ngài Tín Nùng (huyện Trường Dã), ở núi Phạn, đứng đầu trong chùa Diệu Tâm. Bình sinh sư không thích danh lợi, từng du lịch nhiều nước, thích đời sống nông dân, suốt đời ở trong ngôi chùa nghèo nàn tại đồng quê. Đời gọi là Tổ Trung Hưng tông Lâm Tế, hoặc là cha của tông Lâm Tế hiện đại. Sinh bình đề xướng giảng diễn để mở rộng Phật pháp. Ngoài việc phục hưng chùa Tùng Ấm ra, sư còn khai sáng chùa Quan Âm trên núi Diệu Trí, chùa Tân Vô Lượng, chùa Tam Đảo Long Trạch v.v... Năm Minh Trị thứ 5, sư nhập tịch ở chùa Tùng Ấm, hưởng thọ tám mươi tư tuổi. Có Ngữ lục gồm 103 quyển, Hòe an quốc ngữ 7 quyển, Tức canh lục 1 quyển, Viễn la thiên phũ, Dạ thuyền nhàn ngữ và Bích sinh thảo tự truyện, đều thu vào Bạch Ẩn Thiền sư toàn tập (sáu tập), trong đó có chép cả thi văn, thư họa. Thụy hiệu là Thần cơ độc diệu Thiền sư. Chính tông quốc sư. Trong số đệ tử nối pháp, nổi tiếng nhất là Viên Từ ở Đông Lĩnh, Nguyên Lô ở Toại Ông, Từ Trạo ở Nga Sơn, Huệ Đào ở Linh Nguyên, Nguyên Minh ở Lương Tai, Nghi Vận ở Thượng Hải, Đại Hưu, Khoái Nha, Viên Trụ, Ngoan Cực v.v... Từ vài trăm năm trở lại đây, trong số các Thiền sư Nhật Bản, Bạch Ẩn Tuệ Hạc là người Dĩnh Ngộ siêu quần, nhiều tài nghệ nhất, trọn đời dốc sức vào việc hệ thống hóa các công án, và đơn thương độc mã phục hưng tông Lâm Tế đang mỗi ngày một suy vi. Công án Tiếng vỗ của một bàn tay do sư sáng lập, là công án nổi tiếng nhất trong số những công án do người Nhật tự đặt ra. Ngoài ra, Tọa Thiền hòa tán do sư trứ tác, cũng được các Thiền viện đời sau tụng tập một cách phổ biến. [X. Chính tông quốc sư niên phổ; Cận thế thiền lâm tăng bảo truyện Q.thượng; Tục Nhật Bản cao tăng truyện Q.8].
Bạch Ẩn 白隱
[ja] ハクイン Hyakuin ||| Hakuin (1685-1768), known as the second founder of the Japanese Rinzai sect 臨濟宗 and after Dōgen perhaps the best known Japanese Zen master. Born in the village of Hara into a family of the Nichiren faith 日蓮宗. He was at first impressed by the Lotus Sutra 法華經 and the magical power of the Nichiren formulas, but eventually lost interest in these. He began to study Zen at the age of fifteen, receiving the name of Ekaku 慧鶴. He subsequently spend many years in wandering, finally settling down at Myōshinji 妙心寺 where he received the name of Hakuin, and began to attract disciples in large numbers. He is most important within the Rinzai tradition for the deep attention he paid to the study and revivification of kōan 公安 practice. He also lectured extensively on numerous scriptures, including the Diamond Sutra 金剛經 and Vimalakirti Sutra 維摩經. He furthermore distinguished himself as a painter and poet, and was known for his tireless efforts in working together with the common people. Most important of his disciples were Tōrei, Suiō, and Gazan. Among his works are the Keisō dokuzui 荊叢毒蘂, Kaian kokugo, Hakuin hōgo 白隱法語, and the Sendai kimon. => (j: Hyakuin, Hakuin;1685-1768), được xem là Tổ thứ nhì của tông Lâm Tế Nhật Bản. Sau Thiền sư Đạo Nguyên, sư có lẽ là Thiền sư nổi tiếng nhất Nhật Bản. Sư sinh ở làng Hara trong một gia đình theo Nhật Liên tông. Ban đầu sư rất cảm kích kinh Pháp Hoa và năng lực kỳ diệu của pháp tu Nhật Liên tông, nhưng về sau sư không còn quan tâm đến pháp nầy nữa. Sư bắt đầu tập thiền từ lúc 15 tuổi, nhận được pháp danh Huệ Hạc (j: Ekaku 慧鶴), sau đó sư dành nhiều năm hành cước, sau cùng dừng chân ở Diệu Tâm tự (Myōshinji 妙心寺), ở đó sư được ban pháp danh là Bạch Ẩn, và bắt đầu thu hút nhiều đệ tử từ khắp nơi. Ngài là Thiền sư quan trọng nhất trong tông Lâm Tế do đã chú tâm nghiên cứu và làm sống dậy pháp tu tập công án. Sư còn giảng giải sâu rộng nhiều bộ kinh, gồm kinh Kim Cương và kinh Duy-ma-cật. Sư còn là nhà thơ và nhà thư pháp xuất sắc, nổi tiếng là nỗ lực không mệt mỏi trong sinh hoạt với giới bình dân. Những đệ tử lớn của sư là Đông Lãnh (Tōrei), Toại Ông (Suiō), và Nghi Sơn (Gazan). Các tác phẩm của sư là Kinh Tòng Độc Nhị (Keisō dokuzui 荊叢毒蘂), , Bạch Ẩn pháp ngữ (Hakuin hōgo 白隱法語), Kaian kokugo và Sendai kimon.
Bạch 白
[ja] ハク、ビャク haku, byaku ||| (1) White. (2) Westerly, autumn. (3) Undecorated, plain, simple. (4) Well lit, bright. (5) To say, to speak. (6) In Taoism, the outward manifest world of phenomena. => 1. Trắng. 2. Về phía Tây, mùa thu. 3. Không tô vẽ, chất phác, đơn giản. 4. Sáng rõ, sáng ngời. 5. Nói, trình bày. 6. Theo đạo Lão, là biểu hiện bên ngoài của thế giới hiện tượng
bại
Failure—Subvert—Defeat—Spoiled—Ruin—Destroy.
bại chủng
See Bại Căn.
bại căn
Còn gọi là Bại Chủng. Rễ mục, có nghĩa là căn hay chủng tử xấu, chỉ những kẻ không tu hành Phật quả, mà chỉ an lòng với những quả báo khổ hạnh—Spoiled roots or seed, i.e. those who do not seek Buddhahood, but are content with the rewards of asceticism.
; (敗根) Còn gọi là Bại chủng, Bại chủng nhị thừa, Tiêu chủng. Đại thừa chê trách hai thừa Thanh văn, Duyên giác, bảo hai thừa này như hạt giống của cây cỏ đã bị hỏng, hoặc rễ đã thối nát, để thí dụ vĩnh viễn họ sẽ không thể thành Phật. Nhị thừa an trú nơi Niết bàn khôi thân diệt trí, tự nhận mãi mãi không thành Phật, lại cũng không có chí cầu vô thượng Bồ đề, vì thế Đại thừa chê trách, ví như hạt giống cây cỏ đã hư hỏng, hoặc như hạt giống đã bị đốt cháy, dù có được tưới bằng nước cam lộ đi nữa thì trăm nghìn muôn kiếp cũng không thể nảy mầm được. Duy có tông Thiên thai thì bảo thuyết này là thuyết của các bộ kinh Phương đẳng trước thời Pháp hoa, đến thời Pháp hoa mới hiển bày lại cái nghĩa chân thực Nhị thừa thành Phật mà lấy bại căn tô sinh, (rễ hư sống lại) làm chân lí mầu nhiệm. [X. kinh Đại ban Niết bàn (bản Bắc) phẩm Như lai tính; Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền nghĩa Q.9 phần dưới].
bại hoại
Corrupted—Spoiled.
bại hoại bồ tát
Bồ Tát không thành Phật mà lại sanh vào những cảnh giới thấp như vua, thái tử hay long vương—Bodhisattvas who defeat their proper end of becoming Buddha, and who are reborn in lower positions, e.g. as kings or princes, or as dragon-kings, etc.
; (敗壞菩薩) Đối lại với Thành tựu Bồ tát. Chỉ Bồ tát đã làm hư hỏng hạt giống Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 29 chép. Thì Bại hoại Bồ tát là người vốn đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nhưng vì không gặp duyên lành, năm cái..... (ngũ cái) che tâm, tu các hạnh tạp nhiễm, đời sau được giàu sang lớn, hoặc làm quốc vương hay đại quỉ thần vương, long vương v.v... vì vốn tạo các nghiệp thân khẩu ý không trong sạch, nên không được sinh nơi chư Phật và chốn vô tội của trời, người. Trái lại, Thành tựu Bồ tát thì không mất tâm A nậu đa la tam niệu tam bồ đề và lại thương xót chúng sinh.
bại luân
Immoral—Corrupted morals.
bại sự
Failed affair.
bại tục
Corrupted customs.
bại vong
Loss.
Bạn
伴; C: bàn; J: han;|Có các nghĩa: 1. Đi cùng, đi kèm; được hộ tống, bị liên luỵ vào; 2. Bầu bạn, tùy tùng, bạn, người cộng sự; 3. Thính chúng trong một pháp hội thuyết giảng Phật pháp.
bạn
1) Bạn bè: Friends—Companion—Associate. 2) Bờ: A path between fields, or boundary.
bạn chân thang
(伴真湯) Trong Thiền lâm, vào các ngày giỗ (kị) Tổ sư, Trú trì xuất tiền cho người giữ kho sắm sửa trai nghi cúng dường, sau giờ ngọ trai, đặc biệt thỉnh các vị ở Tây đường, Lưỡng tự dâng nước trà nóng cúng dường trước tượng Phật và tượng các Tổ sư để cùng uống trà, gọi là Bạn chân thang. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 Tự pháp sư kị điều (Đại 48, 119 thượng), nói: Nên thỉnh riêng làm bạn chân thang (sau bữa ngọ trai, Phương trượng khách đầu thỉnh các vị ở Tây đường, Lưỡng tự, buổi chiều đối trước tượng cùng uống trà).
bạn cùng tu
See Bạn đồng tu.
bạn cố tri
Old friend.
bạn dạ
Đêm trước lễ Trà Tỳ (hỏa táng) là đêm chư Tăng trong tự viện quan sát thần thức của vị Tăng mới tịch nầy (đêm dài không ngủ của chư Tăng vì kết bạn với thần linh)—To watch with the spirit of a departed monk the night before the cremation.
; (伴夜) Trong Thiền lâm, đối với vị tăng đã quá cố, một đêm trước khi hỏa thiêu (trà tì), các sư nhỏ thức suốt đêm, đứng bên cạnh vị tăng quá cố để túc trực cúng dường, gọi là Bạn dạ. Còn gọi là Vãn dạ. Tục gọi là Thông dạ - Cứ theo Thiền lâm tượng khí tiên loại thứ 4 Tiết thời môn - trích dẫn Đại giám thanh qui nói, cái đêm mà vị tăng nhập diệt gọi là Đương dạ, đêm thứ hai gọi là Vãn dạ, ngày thứ ba trà tì (hỏa táng). Vãn dạ còn gọi là Đại dạ, vì chỉ còn để lại một đêm này mà thôi, ngày mai ra đi thì không trở về nữa, vì thế ân cần cúng dường, các sư nhỏ dứng vòng quanh một bên, suốt đêm không ngủ, cho nên gọi là Bạn dạ, đêm ấy chỉ tụng kinh Kim cương và đánh khánh.
Bạn hoán
(伴奐): chỉ trạng thái ung dung, tự tại, không bị ràng buộc gì cả. Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bạn hoán, tự túng thỉ chi ý dã (伴奐、自縱弛之意也, bạn hoán có nghĩa là tự buông thả).” Như trong Thi Kinh, chương Đại Nhã (大雅) có câu: “Bạn hoán nhĩ du hĩ (伴奐爾游矣, thong dong người rong chơi vậy).”
bạn hạc tuỳ phong đắc tự do
(伴鶴隨風得自由) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên chỉ mây, hạc bay giữa hư không, chẳng nghĩ gì khác, theo ngọn gió đưa, tự do tự tại. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để thí dụ cái cảnh giới của Thiền giả, cũng lâng lâng tự tại như mây, như hạc, chẳng có gì cản trở. Thung dung lục Tắc 19 (Đại 48, 239 trung), nói: Cửa biển xanh rờn, mây trắng bay chơi. (bạn hạc theo gió được tự do).
bạn liêu
(伴寮) Trong Thiền viện, chỉ ý có thể tự do ra vào phòng liêu. Thông thường chỉ có Thủ tọa là có quyền bạn liêu. Thiền uyển thanh qui quyển 10 Bách trượng qui thằng tụng điều (Vạn Tục 111, 467 hạ), nói: Chỉ Thủ tọa có quyền bạn liêu, ngoài ra phải được phép của chủ liêu mới được ra vào, đại chúng phải tuân theo qui định này.
bạn thiền
(伴禪) Cũng gọi là Bồi Thiền. Tức chỉ vị trú trì, sau năm canh lễ bái, vào nhà Tăng cùng ngồi Thiền với đại chúng. Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển thượng Trú trì điều (Đại 81, 690 trung), nói: Trú trì bạn cùng đại chúng ngồi Thiền, đây gọi là Bồi thiền. [X. Thiền lâm tượng khí tiên loại thứ 9 Tùng quĩ môn].
bạn thân
Intimate friend.
bạn trai
(伴齋) Tức ý là phụ giúp vị tân trú trì sửa soạn trai nghi trong bữa ăn trưa. Tại Thiền viện, bạn trai, là chỉ bữa ngọ trai, hoặc khi làm Phật sự, chỉ việc cúng dường ăn uống. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 Thỉnh tân trú trì điều (Đại 48, 1124 trung), nói: Sau khi đại chúng nhận sấn vật xong, về chỗ bạn trai.
bạn tăng
Các vị Tăng đồng tu—Associate or accompanying monks.
; (伴僧) 1. Còn gọi là phiên tăng, trợ tu. Là vị tăng theo thầy tu tập trong phép tu của Mật giáo.2. Còn gọi là dịch tăng, chỉ vị tăng giúp vị trú trì trong các việc tụng kinh lễ bái, trong Tịnh độ chân tông của Nhật bản. 3. Còn gọi là tòng tăng, là tăng theo hầu vị trú trì.
bạn xuất gia
Dharma colleagues or friends.
bạn đi đường
Fellow-traveller.
bạn điệp bà
Vatya (skt)—Đại phong tai—A great calamitous wind.
bạn đạo
Dharma friends.
bạn đồng tu
Fellow cultivator.
Bạn 伴
[ja] ハン han ||| (1) To accompany, bring with; be accompanied by; be involved in. (2) Companion, follower, comrade, associate. (3) The audience at a Buddhist sermon. => Có các nghĩa: 1. Đi cùng, đi kèm; được hộ tống, bị liên lụy vào. 2. Bầu bạn, tùy tùng, bạn, người cộng sự. 3. Thính chúng trong một pháp hội thuyết giảng Phật pháp.
bạng cáp thiền
(蚌蛤禪) Thiền trai hến.Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con trai khi mở mồng mới thấy ruột, thí dụ Thiền đem chân diện mục trình bày với thầy mình. Vô môn quan Tắc 18 (Đại 48, 295 trung), nói: Ông già Động sơn đã tham cứu được Bạng cáp Thiền.
bạo bịnh
Fatal (grave) illness.
bạo bịnh bạo tử
Grave illness and sudden death.
bạo hành
Cruel acts.
Bạo lưu
暴流; C: bàoliú; J: bōru;|Dòng chảy siết của con suối hoặc sông (s: ogha; t: chu bo). 1. Theo A-tì-đạt-ma thì đây là thuật ngữ chỉ phiền não; 2. Theo Du-già hành tông, đó là dòng chảy không ngừng của A-lại-da thức trong vòng luân hồi.
bạo lưu
(瀑流) Dòng thác. Cũng gọi Bạo lưu. Tên khác của phiền não. Nghĩa là phiền não trong ba cõi hay cuốn trôi những cái thiện, giống như nước lũ cuốn trôi mất nhà cửa cây cối. Vì bộc lưu có nghĩa cuốn trôi, xoáy tròn, chìm nghỉm, phiền não cũng thế, có khả năng cuốn trôi chúng sinh và nhận chìm họ trong dòng sống chết của ba cõi sáu đường, nên dùng Bộc lưu để ví dụ. Những phiền não đó là: Dục bộc lưu, Hữu bộc lưu, Kiến bộc lưu và Vô minh bộc lưu, gọi là 4 bộc lưu. Tông Duy thức ví dụ thức A lại da thứ tám như bộc lưu, vì thức này hoạt động thường xuyên, liên tục không ngừng. Duy thức tam thập luận tụng (Đại 31, 60 trung), nói: Sơ a lại da thức, dị thục nhất thiết chủng, (…...) hằng chuyển như bộc lưu, A la hán vị xả. Nghĩa là thức A lại da là hạt giống của tất cả quả dị thục, nó thường xuyên hoạt động chuyển biến, y như dòng thác chảy xiết, chừng nào chúng quả A la hán thì mới bỏ thức a lại da, tức chuyển nó thành trí. [X. luận Đại tì bà sa Q.48; luận Câu xá Q.20]. (xt. Tứ Bạo Lưu).
; (暴流) Phạm, Pàli: Ogha. Còn gọi là Bộc lưu. I. Bạo lưu. Là tên gọi khác của phiền não. Dịch cũ là Bạo hà. Khi nước lớn dâng lên dữ dội, có thể cuốn trôi cả người, súc vật và nhà cửa, phiền não cũng thế, có thể cuốn mất những đức tốt, phẩm hạnh tốt của người ta, cho nên gọi là Bạo lưu (dòng nước chảy xiết). Trong các kinh, khi dùng bạo lưu để thí dụ phiền não, thì thông thường chia làm bốn loại là dục bạo lưu, hữu bạo lưu, kiến bạo lưu và vô minh bạo lưu. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.23; kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.27]. (xt. Tứ Bạo Lưu, Phiền Não). II. Bạo lưu. Theo Duy thức nói, thì trong khoảng luân hồi vô tận, thức A lại da vẫn nối tiếp không dứt, cũng như dòng nước chảy xiết. [X. Duy thức tam thập tụng; luận Thành duy thức Q.2].
Bạo lưu 暴流
[ja] ボウル bōru ||| The flow of a violent stream or river (Skt. ogha; Tib. chu bo). (1) In Abhidharma Buddhism, a term for the afflictions 煩惱. (2) In Yogācāra, the unstopping flow of the ālaya-vijñāna 阿頼耶識 through cyclic existence. 〔顯揚論, T 1602.31.480c〕 => Dòng chảy siết của con suối hoặc sông (s: ogha; t: chu bo). Theo A-tỳ-đạt-ma Phật giáo, đó là thuật ngữ chỉ cho phiền não. Theo Du-già hành tông, đó là dòng chảy không ngừng của A-lại-da thức trong vòng luân hồi.
bạo lực (a)
Violent—Violence (n).
bạo phong
Destroyer-wind.
bạo tử
Sudden death.
bạo ác
Xem Dạ xoa.
bạo ác quỷ
xem dạ-xoa và la-sát.
bạo động
Violence—Riot.
bạt
(鈸) Một loại nhạc khí gồm hai cái (tục gọi chập chọe). Là một trong những pháp khí của Phật giáo, cũng gọi đồng bạt, đồng bạt tử, đồng bát tử. Được đúc bằng đồng, hình tròn như cái mâm, ở chính giữa lồi lên, có lỗ xỏ dây để dễ mang đi. Khi cầm hai cái đập vào nhau thì phát ra tiếng. Thông thường, bạt này cùng với cái nạo, gọi là nạo bạt. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.14; luật Thập tụng Q.19; Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Pháp khí chương Nạo bạt điều]. (xt. Nạo Bạt).
bạt già bà
Bhārgava (S)Một trong những vị thầy học đạo của Thái tử Tất Đạt Đà sau khi xuất gia.
bạt già bà, ngõa sư
Bhàrgava (S). The first rsi prince Siddharta met when left home.
bạt già phạm công đức bảo tập tụng nạn thích ngữ
Bhagavad-ratnaguṇa-sancaya-gāthāna-mapajika (S)Tên một bộ luận kinh.
bạt già sa tiên
(跋伽娑仙) Tiên Bạt già bà. Bạt già bà, Phạm: Bhàrgava, Pàli: Bhaggava. Cũng gọi Bà già bà tiên, Bà già tiên, Bạt già tiên. Dịch ý là Ngõa sư, Vô bất đạt. Người tiên tu trong rừng khổ hạnh thuộc nước Tì xá li. Sau khi xuất gia, đức Thích ca đã đến thẳng rừng này để hỏi đạo nơi tiên Bạt già bà, nhờ thế mà vị tiên này nổi tiếng. Về học thuyết của tiên này như thế nào, thì không được rõ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 2 chép, thì vị tiên này và các vị tiên tu hành khác, đều tu khổ hạnh cầu sinh lên cõi trời. Dùng cỏ và vỏ cây che thân, ăn hoa quả, hoặc thực hành phép nhịn đói, thờ nước lửa, mặt trời mặt trăng, hoặc đứng một chân, nằm trên bụi đất, gai gốc v.v... Do đó, có thể biết vị tiên này thuộc Ngoại đạo khổ hạnh. Những sự tích khác nhau về vị tiên này không được rõ. [X. kinh Phật bản hạnh Q.2 phẩm Bình sa vương vấn sự; kinh Phật bản hạnh tập Q.20 phẩm Quan chư dị đạo; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.3].
bạt khổ dữ lạc
(拔苦與樂) Cứu khổ ban vui. Nguyện lực của chư Phật và Bồ tát là chặt hết gốc khổ phiền não cho chúng sinh, mang lại niềm yên vui phúc lợi cho họ. Bạt trừ khổ não gọi là đại bi, ban cho phúc lạc gọi là đại từ. Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 15 nói, thì đại từ là diệt trừ tất cả những việc không có lợi ích cho chúng sinh. Đại bi là mang lại cho chúng sinh vô lượng sự lợi lạc. Phật và Bồ tát đem nguyện lực này cứu giúp cho chúng sinh phiền não thoát khỏi bể khổ. [X. luận Đại trí độ Q.20, Q.27]. (xt. Từ Bi).
Bạt Kỳ
(跋祇) Phạm: Vṛji, Pàli: Vajji. Một trong mười sáu nước lớn ở Ấn độ vào thời đức Phật. Cũng gọi Bạt xà, Tì lê kì, Việt kì, Tì li tử, Phất lật thị. Dịch ý là Tăng thắng (thêm hơn), Tị (tránh đi), Tụ (họp lại). Cũng là tên gọi một chủng tộc ở bắc bộ trung Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7 chép, thì chu vi nước này hơn bốn nghìn dặm, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp. Đất đai mầu mỡ, hoa quả xanh tốt, khí hậu hơi lạnh, tính người hấp tấp nóng nảy. Dân trong nước phần đông thờ kính ngoại đạo, ít tin Phật pháp, chúng tăng tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Thủ đô nước này là Chiêm thú noa, nhưng phần nhiều đã đổ nát. Phía tây thành cũ có tháp vua A dục và tháp thờ tóc, móng tay của Phật. Bên bờ sông phía tây thành có di tích đức Phật cứu độ con cá lớn và người đánh cá. Cứ theo Trường a hàm quyển 2 kinh Du hành chép, thì khi vua A xà thế (Phạm: Ajātaśatru) nước Ma yết đà muốn đánh chiếm nước Bạt kì, vua sai đại thần Vũ xá (Phạm: Varṣakāra) đến xin đức Phật chỉ dạy, Ngài bảo, người nước Bạt kì có đủ bảy pháp vững mạnh, cho nên nước ấy yên ổn lâu dài, không thể đánh chiếm được. Bảy pháp đó là: 1. Nhân dân thường cùng nhau hội họp để bàn bạc việc nước. 2. Vua tôi hòa thuận, trên dưới kính trọng nhau. 3. Tuân theo pháp luật, biết giữ các điều cấm. 4. Hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận bậc thầy dạy. 5. Cung kính nơi tôn miếu, kính trọng quỷ thần. 6. Việc phòng the chân chính, trinh tiết trong sạch. 7. Kính thờ sa môn, cúng dường ủng hộ không lơ là. Đại thần Vũ xá trở về tâu lại những lời răn dạy của đức Phật cho vua A xà thế nghe, vua bèn bỏ kế hoạch thôn tính nước Bạt kì, đồng thời, cho xây thành Ba lăng phất (Phạm: Pāṭaliputra) để phòng bị. Lại cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, luật Tứ phần quyển 54, và luật Ngũ phần quyển 30 chép, thì một trăm năm sau đức Phật nhập diệt 100 năm, tỉ khưu Bạt xà tử (Pàli: Vesālikā Vajjiputtaka bhikkhū) đã đề xướng mười việc hợp pháp mà đã đưa đến sự tranh luận trong giáo đoàn. Ngoài ra, cứ theo Trường bộ kinh bằng tiếngPàli chép, thì phu nhân Vi đề hi, hoàng hậu của vua Tần bà sa la nước Ma yết đà ở thời đại Phật, đã thờ kính Phật, hộ trì Phật pháp, là người nước Tì đề ha thuộc chủng tộc Bạt kì. Cứ theo sự khảo chứng của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham, thì vị trí nước này là vùng đất dài độ 480 cây số, rộng chừng 160 cây số, nằm ở khoảng giữa hai con sông Can đạt khắc (Gandak) và Cáp na để (Mahanadi) đều là chi nhánh của sông Hằng. Lại cứ theo sự khảo chứng của học giả châu Âu là Đại vệ tư (Rhys Davids), thì chủng tộc Bạt kì là do tám nước nhỏ kết hợp lại với nhau, rồi tôn chủng tộc Lê xa tì và Tì đề ha làm hai chủng tộc đứng đầu. Đến khoảng thế kỷ thứ VI, chủng tộc Lê xa tì chinh phục nước Ni ba la (tức Ni bạc nhĩ - Népal ngày nay). Khi ngài Huyền trang đến Thiên trúc, thì vua Ương du phạt ma (Phạm: Aôsuvarman) đang trị vì Ấn độ lúc bấy giờ cũng là dòng dõi vua nước Bạt kì. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; kinh Hiền ngu Q.2 phẩm Hàng lục sư; kinh Pháp cú thí dụ Q.4 phẩm Nê hoàn; Hữu bộ tì nại da Dược sự Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên Phạm ngữ Q.8; A. Cunningham: Ancient geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol.II; T. W. Rhys Davids: Buddhist India].
bạt kỳ
Vṛji (S), Vijji (P)Bạt xàMột chủng tộc ở Tỳ đề la (Videha)Thành phố Bắc Ấn thế kỳ thứ 7 trước C.N.
bạt kỳ tử
Vajjiputta (S)Tỳ kheo thuộc chủng Bạt kỳ.
bạt kỳ, bạt xà
Vrji (S). Name of a place in Vaisàli Tỳ xá li.
bạt lê ca
Bhallika (P)Tên một vị đệ tử của đức Phật.
; Xem Ba li.
bạt lộc ca quốc
(跋祿迦國) Bạt lộc ca, Phạm: Bhàlukà, tiếng địa phương có nghĩa là cát hoặc gọi Cô mặc (Kum). Một trong các nước ở phía đông dãy núi vùng Tây vực, nằm về phía tây nước Cưu tư, mạn đông bắc nước Khư sa. Thủa xưa người nước này sùng tín Phật giáo, có hơn mười ngôi chùa với hơn nghìn vị tăng, chuyên học giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Về vị trí nước này tuy có nhiều thuyết khác nhau, như có thuyết cho là ở A khắc tô (Aksu), Bái thành (Bai), hoặc có thuyết cho ở Cáp lạt ngọc nhĩ thuần (Kharayurgun) v.v... nhưng thuyết cho ở A khắc tô (Đường thư gọi là thành Bát hoán) là đúng hơn cả. A khắc tô có nghĩa là nước trong, đây là con đường giao thông giữa đông và tây, cho nên dân buôn nội địa buôn bán trao đổi với người bên ngoài, đi lại tấp nập, đường phố rất nhộn nhịp. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; Tây vực văn kiến lục Q.2].
bạt lộc yết cô bà quốc
(跋祿羯咕婆國) Bạt lộc yết cô bà, Phạm: Bharukacchapa, hoặc Bhfgupura, Bhfgukaccha, Pàli: Bharukaccha. Cũng gọi Bà nâu ca xa quốc. Nước này nằm về phía nam nước A lạp bà thuộc nam Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì ở nước này có mười ngôi chùa với ba trăm vị tăng, tu học theo pháp của Thượng tọa bộ. Có hơn mười đền thờ trời, nhiều đạo khác ở lẫn lộn. Nước này có lẽ là thành Bố lỗ kì (Broach) ở bờ bắc sông Na nhĩ ba đáp (Narmada) gần Mạnh mãi (Bombay) ngày nay. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; A. Cunningham: Ancient Geography of India].
bạt ma
Harivarman (S) Author of Thành Thật luận. Also Sư tử trụ, Sư tử khải.
bạt nan đà long vương
Xem Hiền Hỷ Long vương.
; Upànanda-Nàga-ràja (S). King of the dragon.
bạt nghiệp nhân chủng tâm
(拔業因種心) Tâm thứ năm trong mười Trụ tâm do tông Chân ngôn Nhật bản lập ra. Nói đủ là Bạt nghiệp nhân chủng trụ tâm. Tức là trụ tâm của Duyên giác nhờ quán xét mười hai nhân duyên mà diệt trừ hạt giống vô minh. Nghiệp, chỉ cho hai nghiệp thiện, ác; Nhân, chỉ cho mười hai nhân duyên; Chủng, chỉ cho hạt giống vô minh, vì vô minh là gốc rễ của tất cả phiền não. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại nhật phẩm Trụ tâm, cho rằng cội gốc của phiền não là mười hai nhân duyên, do hạt giống vô minh sinh ra, nếu nhổ hết gốc rễ vô minh thì có thể đạt đến cảnh giới an nhiên vắng lặng. Vì gặp lúc không có Phật ra đời, nên có người tu hành vào nơi núi rừng làng xóm, thấy những hiện tượng hoa bay, lá rụng, cảm nhận sự vô thường biến đổi của thế gian mà ngộ lí mười hai nhân duyên, diệt trừ thói quen chấp ngã, ra khỏi ba cõi phiền não, vào cảnh Niết bàn khôi thân diệt trí: đó là trụ tâm của thừa Duyên giác. Thừa Duyên giác được chia làm hai loại: 1. Lân giác, người tu đạo một mình, không có ai làm bạn. 2. Bộ hành, nhiều người cùng ở tu hành. Nhờ căn tính hơn Thanh văn, nên bậc Duyên giác dẫu chưa nghe tiếng Phật dạy bảo, cũng có thể được trí tuệ vô thượng, có đầy đủ giới pháp một cách tự nhiên. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2, Q.3; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.5 (Không hải)].
bạt nhựt la bồ đề
Xem Kim cang Trí.
bạt nại la ba la bồ tát
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
bạt pha bồ tát kinh
Bhadrāpāla-bodhisattva-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
bạt truyện thụ
(拔傳授) Trong Mật giáo, khi Chân ngôn a xà lê truyền trao sự tướng cho đệ tử, không truyền toàn bộ phép tu liên hệ, mà chỉ chọn một phần để trao truyền. Như kinh Đà la ni tập, kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn v.v... đều được truyền trao theo phép này.
bạt trí tỳ kheo
Vijjiputta (S)Tên một vị sư.
bạt tư phất đa bộ
Vàtsìputrìya (S). A sect. Also Độc tử bộ.
Bạt tế khổ nạn đà-la-ni kinh 拔濟苦難陀羅尼經
[ja] バッサイクナンタラニキョウ Bassai kunan tarani kyō ||| The Baji kunan tuoluoni jing; (Sutra of the Dhāranīs that Remove Suffering and Adversity) . One fascicle, T 1395.21.912-913. Translated by Xuanzang in 654. Teaches two dhāraṇīs. => (c: Baji kunan tuoluoni jing; e: Sutra of the Dhāranīs that Remove Suffering and Adversity); 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 654. Đề cập đến hai thứ đà-la-ni.
bạt xà
Xem Bạt kỳ.
bạt xà tử
(跋闍子) Pàli: Vajjiputta. Cũng gọi Bạt kì tử. Vị tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì sống ở thời đại một trăm năm sau đức Phật nhập diệt. Vị này đề xướng mười việc hợp pháp mà đã gây ra sự tranh luận trong giáo đoàn, rồi đưa đến cuộc kết tập lần thứ hai, gọi là Thất bách tập pháp tì ni (bảy trăm vị Trưởng lão kết tập tạng Luật). Cũng có thuyết cho rằng, Bạt xà tử không phải tên của một vị tỉ khưu đặc biệt nào, mà là chỉ chung các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì. Nguyên nhân cuộc tranh luận bắt đầu khi Trưởng lão Ca càn đà tử da xá (Pàli: Kàkaịđaka-putta-yasa) thuộc giáo đoàn phương tây đến thành Tì xá li ở phương đông, thấy các tỉ khưu nhóm Bạt kì tử lấy mười việc làm pháp thanh tịnh, chẳng hạn như dùng bát đồng đựng nước để giữa hội Bố tát, khuyến khích tín đồ tại gia bố thí vàng bạc, rồi chia cho chúng tăng dùng để mua áo và thuốc men v.v... Trưởng lão Da xá cho việc làm ấy là trái phép, nên trong hội Bố tát, Ngài từ chối không nhận vàng bạc do nhóm Bạt kì tử chia cho, đồng thời, cực lực quở trách chúng tăng, và giải thích nghĩa lý cho tín đồ tại gia biết việc làm trái phép ấy. Nhóm Bạt kì tử thì cho rằngTrưởng lão Da xá phỉ báng đại chúng, khiến những người tại gia sinh ngờ, rồi trục xuất ngài Da xá. Ngài Da xá lánh nạn về phương tây, lặn lội nghìn dặm, đi liên lạc với các vị tỉ khưu ở các xứ Ba bà (Pàli: Pàvà), A bán đề (Pàli: Avanti) v.v... rồi cùng nhau đến núi A hô hằng hà (Pàli: Ahogaĩgà) tham yết Trưởng lão Tam phù đà thương na hòa tu (Pàli: Sambhùta-sàịavàsì) để trình bày việc này. Lại đến xứ Tăng già xa (Pàli: Saíkssa) xin ý kiến của vị Trưởng lão nhiều tuổi hạ nhất là ngài Li bà đa (Pàli: Revata) để mong được sự ủng hộ của Ngài. Nhóm Bạt kì tử cũng đến cầu xin sự giúp đỡ của Trưởng lão Li bà đa. Ngài Li bà đa liền đến Tì xá li tập hợp đại chúng để giải quyết việc ấy, nhưng ý kiến của đại chúng phân vân, khó quyết đoán được. Đại chúng lại chia làm hai phe tán thành và phản đối, mỗi phe đều mời các vị Trưởng lão tham dự. Phái Bạt xà tử đề cử các vị Tát bà ca mi (Pàli: Sabbakàmì), Sa lan (Pàli: Sàơha), Phủ xà tôn (Pàli: Khujjasobhita), Bà sa lam (Pàli: Vàsabhagàmika) v.v... làm đại biểu. Phái Da xá thì đề cử các vị Li bà đa, Thương na hòa tu, Da xá, Tu ma na (Pàli: Sumana) v.v.... làm đại biểu. Có bảy trăm người tham dự cuộc họp này, cùng nhau đến vườn Bà lợi ca (Pàli: Vàlikàràma), ngài Li bà đa nêu lên từng việc một trong mười việc để hỏi, ngài Tát bà ca mi lần lượt giải đáp, cuối cùng hội nghị quyết định mười việc mà nhóm Bạt xà tử làm là trái phép. Lịch sử Phật giáo cũng gọi cuộc họp này là Thất bách kết tập (cuộc kết tập gồm bảy trăm người tham dự), Tì xá li thành kết tập. Về nội dung mười việc, trong các luật Ngũ phần quyển 30, luật Tứ phần quyển 54, luật Thập tụng quyển 60, Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 40, Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 và luật điển v.v... đều có ghi chép, song những điều mục mười việc mà các luật nêu ra và giải thích có hơi khác nhau. Chẳng hạn như việc thứ năm trong mười việc, Thiện kiến luật tì bà sa gọi là Tùy ý tịnh trong khi luật Ngũ phần gọi là Cầu thỉnh tịnh, và luật Tứ phần gọi là Hậu thỉnh khả. Nghĩa là: khi chúng tăng thảo luận quyết định việc gì, mặc dầu số người chưa tập họp đầy đủ, nhưng dự tưởng rằng việc ấy sau đó có thể được đại chúng chấp nhận, cho nên có thể cứ tiến hành bàn bạc trước. Hoặc có luật nói rằng, sau khi chúng tăng đã thảo luận mà không tìm ra giải pháp nào khả dĩ quyết đoán công việc, vậy nếu có ai xin được đại chúng chấp nhận, thì người ấy được tùy ý làm việc. Mặc dầu mười việc do nhóm Bạt xà tử đã thực hành có hợp pháp hay không, nhưng điều chắc chắn là chúng đã gây ra cuộc tranh luận trong giáo đoàn. Tuy nhiên, các bộ luật Bắc truyền đều không nói do duyên sự này mà giáo đoàn đã chia rẽ thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. [X.kinh Tì ni mẫu Q.4; luật Thập tụng Q.56; luật Ma ha tăng kì Q.33; Đại đường tây vực kí Q.7; Đa la na tha Ấn độ phật giáo sử;Pàli văn luật tạng tiểu phẩm 7; Đảo sử 5; Đại sử 4; W. W.Rockhill: The Life of the Buddha; P. Bigandet: The Life or Legend of Gaudama; Ấn độ chi Phật giáo chương 4 tiết 2 (Ấn thuận)]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).
bạt xà tử tỷ khiêu
Vrjiputra-bhiksu (S).
Bạt Ðội Ðắc Thắng
拔隊得勝; J: bassui tokushō; 1327-1387;|Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc, thuộc tông Lâm Tế, dòng Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kaku-shin), kế thừa Thiền sư Cô Phong Giác Minh (j: kohō kakumyō).|Cách hoằng hoá và hệ thống hoá Thiền của Sư có những điểm rất giống với một vị Thiền sư Nhật không kém danh tiếng sau này là Bạch Ẩn Huệ Hạc. Ðiểm xuất phát đi tìm Ðạo của Sư chính là sự nghi ngờ, sau được Thiền sư Bạch Ẩn gọi là Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan), »Một khối nghi lớn«.|Cái khối nghi lớn này bắt đầu theo đuổi lúc Sư lên sáu, khi Sư đang chăm chú theo dõi một Thiền tăng thực hiện nghi lễ cúng cầu siêu cho cha mình mất trước đó ba năm. Nhìn thấy những vật cúng trên bàn thờ, Sư hỏi vị tăng: »Cha con đã chết, không còn hình tướng thì sao đến ăn được?« Vị tăng đáp: »Mặc dù thân thể đã tiêu huỷ nhưng linh hồn vẫn đến nhận vật cúng dường.« Sư kết luận rằng, trong thân mình cũng có một linh hồn và bắt đầu tư duy về hình thái của linh hồn này. Mối nghi này không để Sư yên tâm và cũng vì vậy Sư được vài lần nếm vị Giác ngộ qua phương pháp tu tập thiền định.|Năm 28 tuổi, Sư xuất gia nhập môn, nhưng không sống trong chùa vì những thói quen, nghi lễ rườm rà và sự sống an nhàn ở đây không thích hợp với nếp sống và chủ trương của Sư. Trong những cuộc Hành cước Sư nhất định không tạm trú ở thiền đường nào dù chỉ là một đêm, chỉ trú trong một túp lều trên núi đồi hoang vắng để có điều kiện tu tập thiền định từng giờ từng phút. Ðể kháng cự lại sự buồn ngủ, Sư thường leo lên cành cây ngồi và tập trung quán công án »Ai là ông chủ?« bất chấp cả gió mưa, quên cả ăn ngủ. Sáng sớm Sư xuống thiền đường để tham kiến các Thiền sư. Dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Cô Phong, Sư tìm được chỗ an trú của tâm. »Tất cả những văn tự, tin tưởng trước đây đã bị ngọn lửa giác ngộ hoàn toàn thiêu đốt« và đại nghi của Sư đã chấm dứt. Sư được Cô Phong ban cho pháp danh »Bạt Ðội« – nghĩa là vượt qua bọn Phàm phu trung bình.|Sau khi được truyền Tâm ấn, Sư tiếp tục lang thang đây đó và nhiều lần từ chối thu nhận đệ tử. Mãi đến năm 50 tuổi Sư mới dừng bước ở một am nhỏ trên núi và những người tham học bốn phương sau đến đông đúc. Cuối cùng Sư chấp nhận sự cầu thỉnh của nhiều người, trụ trì một thiền đường. Trước khi qua đời Sư ngồi kết già và nói với những đệ tử xung quanh: »Các người đừng để bị lừa! Xem rõ đây! Cái gì?« Sư lặp lại câu này và viên tịch, thọ 60.|Sư để lại không nhiều trứ tác nhưng những pháp ngữ và thư của Sư viết cho những đệ tử có sức mạnh hùng hồn, sâu sắc. Trong một lá thư, Sư viết cho một »Nam nhi ở Kumasaka«: »Tất cả những hiện tượng là cuồng điên, không có thật. Chư Phật và chúng sinh là những phản chiếu trên mặt nước. Ai không nhìn thấy được bản tính thì cho rằng phản ánh là sự thật. Và cũng như vậy, trạng thái yên tĩnh của Không đạt được nhờ sự quán tưởng cứ bị lầm là thật. Nó cũng chỉ là ảnh phản chiếu. Phải vượt qua giai đoạn nhận thức lí trí và đạt được trạng thái cao siêu hơn. Nếu không còn nhận thức được gì nữa thì hãy nhìn nó kĩ. Nó là gì? Nó chỉ trở thành người thân khi cây gậy sừng thỏ đã bị gẫy và cục sắt đã được đập tan trong lửa. Bây giờ hãy tả xem, ai là bạn thân? Hôm nay là mồng bảy, ngày mai là mười ba.«
bạt đà
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
bạt đà bà la bồ tát
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
bạt đà hòa
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
bạt đà hòa bồ tát
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
bạt đà kiếp
Xem Hiền kiếp.
bạt đà kiếp tam muội kinh
Xem Hiền Kiếp kinh.
bạt đà la
Bhadrā (S, P), Bhadda (P)Hiền, ThiệnMột trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; (跋陀羅) Phạm: Bhadra. Cũng gọi Bạt đạt lạt, Đam một la bạt đà. Hán dịch là Hiền. Vị thứ sáu trong mười sáu vị La hán. Cứ theo truyền thuyết, vị La hán này và chín trăm vị La hán quyến thuộc cùng ở châu Đam một la, là những bậc Thánh giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho hữu tình. Cứ xem bức vẽ của đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường, thì vị La hán này ngồi xếp bằng trên núi đá, tay phải ủ vào trong áo pháp, tay trái cầm chuỗi tràng hạt để trên đầu gối. Song, theo bức vẽ trên vách trong hang 76 của động Nghìn Phật ở Đôn hoàng, thì Ngài ngồi xếp bằng trên phiến đá, tay phải đưa lên, tay trái đặt trên đầu gối, và trên tấm giấy mầu bên trái có đề dòng chữ Đam một la châu đệ lục tôn giả Bạt đà la đại la hán (Đây là vị đại la hán Bạt đà la, tôn giả thứ sáu của châu Đam một la) và bài kệ tán thán bốn câu bảy chữ. [X. Đại la hán Nan đề mật đa la thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập Q.1, Q.2; Phật tượng đồ vựng Q.3].
bạt đà nữ
Bhadda (P)Bạt đà Tôn giảMột trong 16 đại A la hán. Vợ cũ của Sơ tổ Ma-ha Ca-Diếp.
bạt đà tôn giả
Xem Bạt đà nữ.
bạt đô
Xem Trung ấm.
bạt đầu
(拔頭) Một trong tám thứ vũ nhạc của xứ Lâm ấp. Cũng gọi Phát đầu, Bát đầu. Cứ theo Thông điển quyển 146 chép, thì vũ nhạc bắt đầu có xuất xứ từ Tây vực, nhân một người Hồ bị mãnh thú cắn, con ông ta đi tìm mãnh thú để giết, người sau mới phỏng theo mẩu truyện cổ này mà soạn thành điệu múa. Cứ theo Giáo huấn sao quyển 4 chép, thì khúc nhạc này là nhạc Thiên trúc, do Bà la môn truyền đến, không rõ tác giả. Cứ theo Nguyên hanh thích thư quyển 15 chép, thì bạt đầu do sa môn Phật triết nước Lâm ấp truyền vào Nhật bản. Lại theo sự khảo cứu của ông Cao nam thuận thứ lang người Nhật cho rằng, vũ nhạc này do thần thoại Bội lỗ vương (Phạm: Pedu), ở thời đại Phệ đà tại Ấn độ biên soạn thành vũ khúc. Bội lỗ vương có con tuấn mã tên là Mạt đắc ngõa (Phạm: Paidva), cho nên bạt đầu hoặc là dịch âm từ Pedu hoặc từ Paidva. Cứ theo Nhạc phủ tạp lục chép, thì những người biểu diễn vũ nhạc này đều xõa tóc, mặc áo trắng, cất tiếng khóc. [X. Nam thiên trúc Bà la môn tăng chính bi; Đông đại tự yếu lục Q.2 Đại an tự Bồ đề truyền lai kí].
bạt đề
Xem E lan nhã.
; (跋提) I. Bạt đề. Phạm: Bhadrika. Cũng gọi Bà đề, Bạt đề lê ca, Bà đế lợi ca. Dịch là Tiểu hiền, Thiện hiền, Nhân hiền, Hữu hiền. Một trong năm vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên; thuộc dòng họ Thích ca. Về thân phụ của sư, các truyện ghi chép không giống nhau. Có truyện bảo Bạt đề là con trai của vua Hộc phạn, có truyện cho là con thứ của vua Bạch phạn, có thuyết lại bảo là con của vua Cam lộ. Bạt đề và các vị A nhãKiều trần như là những đệ tử đầu tiên được đức Phật giáo hóa ở vườn Lộc dã.[X.Trung a hàm Q.8 kinh Thị giả; kinh Khởi thế Q.10; kinh Trung bản khởi Q.thượng phẩm Chuyển pháp luân; kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.4, Q.23]. II. Bạt đề. Là tên một người nghèo ở Ấn độ thời đức Phật. Nhân cúng dường đức Phật một cây đuốc mà được thụ kí trong vị lai sẽ thành Bích chi phật. [X. kinh Bách duyên Q.3]. III. Bạt đề. Phạm:Ajitavatì. Tên sông. Dịch cũ là A lợi la bạt đề, dịch mới là A thị đa phạt để. Cũng gọi sông Hi liên, sông Phạt đề, sông Phạ để. Dịch ý là Vô thắng. Đức Phật đã nhập diệt ở bờ tây con sông này, nhờ thế mà nó nổi tiếng. (xt. A Thị Đa Phạt Để Hà).
bạt đề la hán
Bhadrika (S), Bhaddhiya (P)Một vị trong năm tỳ kheo đệ tử đầu tiên của đức Phật và đắc A la hán trước nhất, cũng là thị giả của Cổ Phật Ca la cưu Thôn.
bạt đề, tiểu hiền
Bhadrika (S) One of the first five disciples of the Buddha.
Bạt độ
(拔度、拔渡): siêu độ, cứu vớt. Bạt (拔) nghĩa là nhổ, rút; độ (渡) là sang, qua, vượt qua; bạt độ nghĩa là nhổ sạch, hóa giải những nghiệp lực, oan khiên để giúp vượt qua bờ bên kia giải thoát. Như trong tập tiểu thuyết Di Kiên Đinh Chí (夷堅丁志), phần Chiêm Tiểu Ca (詹小哥), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Mẫu huynh thất thanh khốc, cức hô tăng tụng kinh bạt độ, vô phục vọng kỳ quy (母兄失聲哭、亟呼僧誦經拔度、無復望其歸, anh của mẹ thất thanh khóc, gấp rút gọi chư tăng tụng kinh cầu siêu độ, không trông mong người ấy sống lại).” Hay trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 2, Thiên Tam Giáo Trị Đạo (三敎治道篇) thứ 2, cũng có đoạn: “Tam viết Hoàng Lục, bạt độ Cửu Huyền Thất Tổ, siêu xuất Ngũ Khổ Bát Nạn, cứu u dạ cầu thán chi hồn, tế Địa Ngục trường bi chi tội (三曰黃籙、拔度九玄七祖、超出五苦八難、救幽夜求歎之魂、濟地獄長悲之罪, thứ ba là đàn Hoàng Lục, chuyên cứu vớt Cửu Huyền Thất Tổ, thoát ra khỏi Năm Khổ Tám Nạn, cứu đêm tối than khóc vong hồn, thoát Địa Ngục đau buồn bao tội).”
bạt đội thiền sư
Bassui Zenji (J).
bạt đội đắc thắng
Bassui Tokushō (J), Bassui Zenji (J)Bạt Đội Thiền sưTên một vị sư.
Bạt-đề hà 拔提河
[ja] バツダカ Batsudaka ||| See 跋提河. => Xem Bạt-đề hà跋提河.
bả bản tu hành
(把本修行) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý nói Thiền tăng tu hành còn chấp chặt vào Phật pháp, mà chưa có thể siêu việt đến cảnh giới khoáng đạt tự tại. Hư đường Hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 991 hạ), nói: Xưa nay bả bản tu hành, không dám nghi ngờ coi thường nhân quả.
bả bổng hoán cẩu
Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là cầm gậy gọi chó, nhưng đây không phải như một cử chỉ tầm thường, mà nó hàm chứa tính nguy hiểm của một cái đánh thêm vào tiếng gọi nữa. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cái cơ pháp được thi hành một cách dữ tợn hiểm ác khi thầy điểm hóa trò. Thung dung lục Tắc 41 (Đại 48, 254 thượng), nói: Nếu chọn ra được thì trao bát, túi cho. (Bả bổng hoán cẩu).
bả châm
(把針) Hàm ý là may khâu quần áo. Trong các Tùng lâm thời xưa, ngoài thì giờ tu hành tụng kinh ngồi Thiền ra, chúng tăng thường tự khâu vá lấy áo pháp và các loại y phục khác. Thiền uyển thanh qui quyển 10 Bách trượng qui thằng tụng (Vạn Tục 111, 468 thượng), nói: Hoặc khâu vá (bả châm: cầm kim), cạo tóc, cắt giấy, trộn thuốc, hoặc phơi giày dép, áo lót, đồ tắm, tất cả phải ở chỗ vắng đằng sau nhà.
bả kế đầu nha
(把髻投衙) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bả kế, tức khi chiến bại, lột bỏ mũ trụ trên đầu, chạy vào trận địch; cũng chỉ khi chém đầu, nắm lấy tóc phạm nhân xoắn lại cho chắc. Nha, tức quan nha, quan phủ. Bả kế đầu nha, nguyên ý là tự thú tạ tội; trong Thiền lâm chuyển dụng để chỉ trình độ ngu xuẩn của Thiền tăng, hoàn toàn không tự thấy tự biết mình đã làm gì, đã hành động ra sao. Bích nham lục Tắc 81 (Đại 48, 207 trung), nói: Vị tăng hỏi Dược sơn: Ruộng bằng cỏ thưa, hươu nai thành đàn, làm thế nào bắn được con nai chúa? (bả kế đầu nha, cao đầu mang sừng đến, nhổ tên sau ót) Sơn nói: Cho xem mũi tên đây!. Vị tăng phóng mình liền ngã.
bả phóng trướng
(把放帳) Tức sổ sách ghi các khoản tiền chi thu trong Thiền viện. Bả, tức là ý thu nhập; phóng, tức là ý chi ra. Còn gọi là vô lậu quan, xuân thu bả phóng trướng.
bả thủ duệ bất nhập
(把手拽不入) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là tuy đã được dắt dẫn, nhưng không có cách nào tiến vào được. Trong Thiền lâm chuyển dụng để chỉ không còn cách nào cứu độ được. Hư đường Hòa thượng ngữ lục quyển 2 (Đại 47, 1001 trung), nói: Tăng hỏi: Chưa rõ Nhị lâm gặp tăng thì nên tiếp như thế nào? Sư nói: Bả thủ duệ bất nhập.
bả trụ phóng hành
(把住放行) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Là phương pháp chỉ đường tiếp hóa học nhân trong Thiền môn. Nói cùng lúc bả trụ và phóng hành. Còn gọi là bả phóng, bả định phóng hành, nhất thu nhất phóng. Bả trụ, còn gọi bả định, hàm ý là bắt giữ; trong Thiền môn là pháp thầy dùng để khử trừ vọng kiến trong đầu óc học trò, khiến họ không còn giữ lại một mảy may ngã kiến. Phóng hành, là phương pháp phóng nhiệm tự do thầy dùng khi chỉ dạy học trò. Bả trụ là pháp thầy dắt dẫn học trò hướng thượng, Phóng hành thì là phương pháp hướng hạ thuận theo sự tự do chứng ngộ của học trò. Lại khi bả trụ thì tất cả đều tĩnh lặng, không có một vật gì; khi phóng hành thì muôn tượng hiển bày la liệt, mỗi mỗi đều sống động. Nếu có thể vận dụng bả trụ và phóng hành một cách hỗ tương dung hợp, thì liền đạt đến cảnh giới toàn nhiên tự tại. Bích nham lục Tắc 76 (Đại 48, 203 trung), nói: Bả trụ phóng hành thâu tóm ở nơi đây [X. Bích nham lục đệ bát thập nhị tắc bình xướng, đệ Cửu thập cửu tắc bình xướng].
Bản
本; C: běn; J: hon;|1. Gốc rễ, cội nguồn, căn nguyên, cốt lõi, nền tảng; 2. Bắt rễ vào, có căn nguyên từ; 3. Sách, tư liệu; 4. Trong kinh Phật, thường được dùng chung với »bản tính«, »bản giác«, »bản Phật«, biểu thị bản tâm con người là ở trong tinh thể, không nhiễm ô và trong sáng.
; 板; C: băn; J: han, ban;|1. Ghế ngồi thiền của thiền sinh trong thiền đường; 2. Là một tấm bản bằng gỗ với kích thước khoảng 45x30x8 cm, thường được treo trong một thiền viện. Tấm bản này được gõ ba lần trong ngày: bình minh, hoàng hôn và trước khi đi ngủ. Người ta thường thấy những câu sau đây được khắc trên bản:|Hãy nghe đây chư tăng! Hãy tinh tiến trong việc tu tập! Thời gian bay qua nhanh như một mũi tên; nó chẳng chờ ai đâu!
bản
Radical, fundamental, original, principal, one's own; the Buddha himself, contrasted with tích, traces left by him among men to educate them; also a volume of a book.
; 1) Một miếng ván: A board. 2) Miếng ván đánh để thông báo giờ cơm trong tự viện: A board struck for calling everybody to gather for meals in a monastery.
; (板) I.Bản. Là một trong những khí cụ để đánh. Bản được treo tại một chỗ nhất định trong chùa, là khí cụ được đánh lên để báo hiệu giờ giấc hoặc giờ tập họp. Phần nhiều làm bằng gỗ, trên mặt có viết các câu kệ như: Cẩn bạch đại chúng, sống chết việc lớn, vô thường nhanh chóng, phải nên tỉnh thức, chớ có buông lung. Cũng có khi làm bằng đồng xanh, nhưng trường hợp này rất ít. Lại y theo hình dáng của bản mà có các tên gọi như bản mây, bản cá (hình áng mây, hình con cá). Trong Thiền lâm, bản có lớn, nhỏ khác nhau. Tấm bản treo trước nhà kho to hơn các bản treo ở những nhà khác, cho nên gọi là đại bản. Bản treo trước nhà Phương trượng, gọi là Phương trượng bản; treo trước liêu (phòng) của chúng tăng, gọi là ngoại bản; treo bên trong liêu, gọi là nội bản; treo ở dưới quả chuông nhỏ, gọi là chung bản. Ngoài ra, còn có bản Thủ tọa, bản nhà Tổ, bản nhà khách. Trong các Thiền đường trong chùa thuộc Thiền tông, bản phải treo ở dưới quả chuông báo hiệu; tông Lâm tế treo ngang, tông Tào động thì treo dọc để tỏ sự khác biệt của tông mình. II.Bản. Những chiếc giường được đặt trong nhà Tăng thuộc chùa viện Thiền tông, cũng gọi là bản. Tùy theo cỡ lớn nhỏ của nhà Tăng mà có bốn bản, sáu bản, mười hai bản khác nhau; rồi tùy theo vị trí mà cũng có các tên gọi như: tiền bản, hậu bản, xuất nhập bản, Thủ tọa bản (giường ở hướng đông bắc), Tây đường bản (giường đông nam), hậu đường bản (giường tây bắc), lập tăng bản (giường tây nam) v.v... Lại cái bản để dựa lưng cho đỡ mỏi khi ngồi Thiền, thì gọi là Thiền bản hoặc ỷ bản. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.thượng Chúc li chương Thánh tiết điều, Q.hạ Pháp khí chương Bản điều; Thiền uyển thanh qui Q.1, Q.2, Q.5].
bản bi
(板碑) Là một loại di vật của Phật giáo Nhật bản. Một loại tháp bà. Trên phiến đá nhỏ, dài, hình dẹt, bằng phẳng, khắc hai, ba đường ngang. Ở phía trên khắc núi, phía dưới khắc chủng tử của Phật Bồ tát, hoặc tượng Phật, danh hiệu Phật, đồng thời, ghi rõ năm, tháng, ngày, Pháp hiệu và mục đích tạo dựng... Niên đại lưu hành là vào thời kì Liêm thương và đến cuối thời kì Thất đinh tại Nhật bản, phổ biến ở các vùng Sơn hình và Đức đảo; ở Quan đông cũng có và, tất nhiên, Kì ngọc, Đông kinh. Tài liệu chủ yếu để chạm trổ là những phiến đá mầu lục được sản ở Trật phụ; tấm bia bản xưa nhất được biết hiện nay, đã được tạo dựng vào năm 1227, và tấm mới nhất dựng năm 1598. Những bia bản thời kì đầu rất to lớn, mỗi tấm cao đến năm mét; bia thời gần đây thì cứ dần dần nhỏ đi, cho đến nhỏ nhất chưa được một mét. Mục đích tạo dựng thường là truy tiến, khổ hạnh, cúng dường Canh thân, cúng dường niệm Phật v.v... (xt. Canh Thân).
bản bản hạnh nam
(阪本幸男) (1899 - 1973) Là nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Tiến sĩ văn học. Người huyện Cương sơn. Tốt nghiệp tại Đại học Đông kinh năm 1929. Từng là giáo sư tại Đại học Lập chính và Giám đốc sở nghiên cứu văn hóa Pháp hoa. Ông thuộc tông Nhật liên. Có uy tín về giáo học Hoa nghiêm tại Nhật bản hiện đại. Những trứ tác chủ yếu của ông gồm có: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí dịch chú, Hoa nghiêm giáo học đích nghiên cứu, Pháp hoa kinh dịch chú, Đại tì bà sa luận dịch chú...
bản bất sinh tế
(本不生際) Là cái bản thể chẳng sinh chẳng diệt, tức chỉ cái tâm tự tính thanh tịnh sẵn có của mọi người. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 589 hạ), nói: Bản bất sinh tế tức là tâm tự tính thanh tịnh. Tâm tự tính thanh tịnh tức là chữ A. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 651 hạ), nói: Bất sinh tế là gốc của muôn pháp, (...) nếu người nào thấy được bản bất sinh tế, thì biết được tâm mình một cách như thực. Biết được tâm mình một cách như thực, tức là nhất thiết trí trí. (xt. A Tự Bản Bất Sinh).
bản cao tích hạ
(本高迹下) Là một trong bốn câu do tông Thiên thai lập ra khi bàn luận và giải thích về sự cao thấp của hai môn Bản và Tích. Cứ theo Tịnh danh huyền sớ quyển 4, Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 15 chép, đứng về phương diện Phật thân mà nói, như Phật thị hiện thân Bồ tát, thì gọi là Bản cao Tích thấp; Bồ tát thị hiện thân Phật, thì gọi là Bản thấp Tích cao. Lại như Phật thị hiện thân Phật thì là Bản, Tích đều cao; Bồ tát Sơ địa thị hiện tướng sơ địa, thì là Bản, Tích đều thấp. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
Bản chất
本質; C: běnzhí; j: honzetsu;|1. »Nguyên mẫu«. Cốt tuỷ của mọi vật. Bản tính căn nguyên của một vật được phản chiếu trong gương; 2. Theo giáo lí Duy thức, môi giới giữa tâm và cảnh là kết quả từ biến dịch và biểu hiện của vô số đối tượng khác nhau của tâm và tâm sở. Nó được xem là Tướng phần của thức A-lại-da. Là »trung gian« giữa thức thứ 6 và thế giới bên ngoài. Đặc tính đa dạng trong phương diện nầy giải thích cho sự đa dạng trong năng lực nhận thức của con người.
bản chất
Original substance; essence, nature; substance, character, disposition, temperament.
; Nature—Essence.
; (本質) Là giáo nghĩa của tông Pháp tướng. Đối lại với ảnh tượng, là chỗ nương tựa của ảnh tượng. Khi tâm và tâm sở (tác dụng của tâm) nhận thức đối tượng, thì trong nội tâm biến hiện ra cái tướng trạng của đối tượng được nhận thức, là đối tượng trực tiếp của nhận thức, cái ấy gọi là ảnh tượng. Trái lại, cái căn cứ thực chất và tự thể y tồn của ảnh tượng, thì gọi là bản chất, là đối tượng gián tiếp của sự nhận thức. Vì thế, tướng phần có thể được chia làm hai loại, là bản chất tướng phần và ảnh tượng tướng phần. Như khi nhãn thức duyên theo sắc cảnh, thì ngoài cái ảnh tượng do nhãn thức biến hiện ra, còn có sắc pháp thực chất do hạt giống của thức A-lại-da thứ tám sản sinh, đây tức là bản chất, là nơi kí thác nương tựa của ảnh tượng, gọi là Đới chất cảnh. Còn như các tướng hoa đốm, sừng thỏ nổi hiện lên trong ý thức thứ sáu, duy chỉ có ảnh tượng chứ không có bản chất kí thác nương tựa, thì gọi là Độc ảnh cảnh. Duy thức thuật kí quyển 6 phần cuối (Đại 43, 456 hạ), nói: Ngoài ảnh ra, còn có chỗ y thác (gửi gắm nương tựa), gọi là bản chất.
bản chất bất hạnh của cuộc sống
The unhappy nature of life
bản chất bất toại
Unsatisfied nature
bản chất con người
Mànusya (S). Human nature.
bản chất cuộc đời
The nature of life
bản chất dinh dưỡng
Oja (S). Nutritive essence.
bản chất thưc sự
The true nature
bản chất thường còn
Permanent entity.
Bản chất 本質
[ja] ホンゼツ honzetsu ||| (1) 'Archetypes.' The essences of things. The original true essence of something reflected in a mirror. (2) In Consciousness-only theory, the medium within the mind for the images that are the result of the transformation and manifestation of various objects by the mind and mental functions. It serves as the objective aspect of the eighth (ālaya) consciousness 阿頼耶識. The "medium" between the sixth consciousness and the outside world. The variation in the qualities of this aspect accounts for the variation of the power of people's perception. =>1.Nguyên mẫu'. Cốt tuỷ của mọi vật. Bản tính căn nguyên của một vật được phản chiếu trong gương. 2. Theo giáo lý Duy thức, trung gian giữa tâm và cảnh là kết quả từ biến dịch và biểu hiện của vô số đối tượng khác nhau của tâm và tâm sở. Nó được xem là Tướng phần của thức A-lại-da. Là 'trung gian' giữa thức thứ 6 và thế giới bên ngoài. Đặc tính đa dạng trong phương diện nầy giải thích cho sự đa dạng trong năng lực nhận thức của con người.
Bản chứng diệu tu
(本證妙修): nghĩa là sự tu hành lập cước trên sự chứng nhộ gốc. Thông thường thì sự tu hành vốn phát xuất từ địa vị phàm phu, và kẻ phàm phu tu hành để đạt đến quả vị Phật; nhưng Đạo Nguyên (道元, Dōgen) thì lại cho rằng tu hành vốn lập cước trên bản chứng chính là tu hành, không phải tu hành để đạt đến quả vị Phật, mà chính việc tu hành là hạnh của Phật. Vì việc tu hành này chính là Tọa Thiền, nên Tọa Thiền không phải là chờ đợi sự chứng ngộ, mà chính việc Tọa Thiền cũng là hạnh của chư Phật. Chính vì lẽ đó, sự tu hành lập cước trên bản chứng được gọi là diệu tu, và đồng nghĩa với pháp môn của Chỉ Quản Đả Tọa (祗管打坐, shikantaza).
bản cảm ứng diệu
(本感應妙) Là Diệu thứ tư trong Bản môn thập diệu do Đại sư Tríkhải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh của Diệu pháp liên hoa kinh. Có nghĩa là sự cảm ứng của quả Phật bản địa là bất khả tư nghị. Đã thành quả rồi thì vốn đã chứng được hai mươi lăm thứ Tam muội và từ bi thề nguyền tương ứng với cơ cảm của chúng sinh mà tùy duyên hóa độ. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản cực
(本極) Chỉ lí thể của pháp tính. Là cái cội gốc cùng cực của các pháp. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 phần trên (Đại 33, 766 thượng), nói: Pháp thân bản cực, huyền nhiệm sâu xa.
bản duyên
The original or cause of any phenomenon.
; (本緣) I. Bản duyên. Đồng nghĩa với Bản sinh. Gồm các truyện sự tích của chư Phật Bồ tát như đức Thế tôn, Di đà, Di lặc, hoặc các đệ tử Phật, trong các kiếp quá khứ xa xưa, đã từng sinh vào các ngả, các loài, hình tướng, mầu sắc, thân phận khác nhau mà tu hạnh Bồ tát. Các loại truyện cổ tích này, trong các kinh điển, được qui nạp thành Bản duyên bộ, gọi là Bản sinh kinh, Bản sinh đàm, là một trong chín bộ kinh (hoặc mười hai bộ kinh). Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung phẩm Bồ tát. (Đại 14, 544), nói: Các Bồ tát lần lượt đối trước đức Phật, nói về bản duyên của mình. (xt. Bản Sinh Kinh). II.Bản duyên. Tức là nhân duyên bản lai. Chỉ cái nguyên do xuất hiện của sự vật. Nhân, là cái nguyên nhân nội tại trực tiếp dẫn sinh kết quả; duyên, là cái nguyên nhân ngoại tại, giúp đỡ một cách gián tiếp. Phật giáo thừa nhận các pháp đều do nhân duyên mà sinh, diệt, vì thế, phàm cái căn bản sinh thành các pháp, đều gọi là bản duyên.
Bản giác
本覺; C: běnjué; J: hongaku; |Đức tính giác ngộ sáng suốt mọi chúng sinh đều có như là bản tính của chúng, có nghĩa sự giác ngộ là điều gì đó không thể đạt được, hay như là một mục tiêu bên ngoài, mà nó hiện hữu rất thực ngay ở đây và trong giây phút hiện tại, do vậy nên mọi người chỉ cần nhận biết về nó. Đây là ý niệm thường được diễn đạt trong các kinh văn Đại thừa phát xuất ở Đông Á như luận Đại thừa khởi tín và kinh Viên Giác. Vì ở đây không có những thuật ngữ trực tiếp mang tinh thần Ấn Độ để diễn đạt tận căn nguyên ý niệm nầy, nên dẫn đến sự tán đồng những kinh văn có nguồn gốc Á Đông nầy. Đặc biệt trong luận Đại thừa khởi tín, nền tảng học thuyết nầy được phát triển rất chi tiết; trong đó giải thích một cách tương phản với Bản giác là Thuỷ giác (始覺), như là tính giác siêu việt đối đãi nhị nguyên, đối nghịch là Bất giác (不覺).
bản giác
Original bodhi, i.e. enlightenment, awareness, knowledge, or wisdom, as contrasted with thủy giác, initial knowledge.
; (本覺) Chỉ tính giác sẵn có. Đối lại với Thủy giác. Trải qua sự tu tập hậu thiên, lần lượt phá trừ những mê hoặc từ vô thủy đến nay, dần dần hiểu biết mà mở tỏ được nguồn tâm tiên thiên, như thế gọi là Thủy giác; còn cái giác thể tiên thiên vốn có mà bản tính nó từ xưa đến nay vẫn trong sạch sáng suốt, không bị phiền não mê vọng nhiễm ô chi phối, ảnh hưởng, thì gọi là Bản giác. Tư tưởng hai giác Bản, Thủy, trong luận Đại thừa khởi tín của Hiển giáo, luận Thích Ma ha diễn của Mật giáo và trong giáo nghĩa của tông Thiên thai Nhật bản đều có trần thuật về nghĩa, nhưng về ý thú thì lại bất nhất. Nay thuật khái quát như sau: I. Thuyết của luận Đại thừa khởi tín: chủ trương vạn hữu đều về một tâm, và trong một tâm lập thành Tâm chân như môn, và Tâm sinh diệt môn, . 1. Đứng về mặt Tâm chân như môn mà nói, thì tâm là sự tồn tại trong sạch tuyệt đối chẳng hai, siêu việt tất cả tướng sai biệt, vốn không có cái tên Bản giác, Thủy giác. 2. Nếu đứng về mặt Tâm sinh diệt môn mà nói, thì vô thủy đến nay, tâm bị vô minh làm nhơ nhuốm, nên sinh ra các tướng sai biệt, vì vậy, trong thức Alêda mới có Bản giác, Thủy giác khác nhau. Chân như gặp duyên vô minh mà sinh khởi các hiện tượng mê vọng, trong mê vọng, tâm hoàn toàn mờ mịt chẳng biết, gọi là Bất giác; nhưng cái bản tính giác thể của tâm không hề bị thương tổn, vẫn thường đủ tướng bình đẳng và bao hàm cái đức đại trí tuệ sáng suốt, là cái thể thanh tịnh, xa lìa tất cả tâm niệm sai biệt của thế tục, tức là tính giác ngộ sẵn có, cho nên gọi là Bản giác. Tâm đã bị vọng nhiễm, nếu biết dựa vào sức huân tập của chân tâm bản giác bên trong (tác dụng của bản giác bên trong, gọi là bản giác nội huân) và sức huân tập bên ngoài (tức chỉ giáo pháp làm trợ duyên bên ngoài) mà phát tâm tu hành, thì có thể dần dần đánh thức tính giác, xa lìa vô minh, tìm về bản chân, đến lúc dứt hết vọng nhiễm bất giác mà hợp làm một với bản giác để trở thành cái đại giác Thủy, Bản chẳng hai, đó tức là cảnh giới đồng với chư Phật. Quá trình từ lúc bắt đầu phát tâm tu hành cho đến giai đoạn đạt được trí tuệ trở thành đại giác ấy, gọi là Thủy giác. Về mối quan hệ và tác dụng hỗ tương giữa Bản giác và Thủy giác nói trên đây, trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3, ngài Pháp tạng đã bàn một cách khá rõ ràng và qui kết là: y vào Bản giác mà sinh Bất giác, y vào Bất giác mà khởi Thủy giác, lại y vào Thủy giác mà phá trừ Bất giác để trở về tính thể Bản giác. Như thế thì biết, hai giác Thủy, Bản tuy có mối quan hệ tương đối, nhưng Thủy giác rốt ráo cũng đồng như Bản giác, cho nên, Thủy, Bản chẳng phải hai mà tuyệt đối bình đẳng, và toàn nhiên siêu việt phạm vi của tính đối lập. Nếu phối với các loại giai đoạn tu hành của Bồ tát Đại thừa, thì có thể chia Thủy giác làm bốn vị thứ: a. Bất giác....., chỉ những người thuộc giai vị Thập tín (vị Ngoại phàm), tuy đã biết cái nhân của nghiệp ác sẽ đưa đến quả khổ, đồng thời, đã xa lìa nghiệp ác, nhưng vẫn chưa sinh khởi trí đoạn hoặc, cho nên gọi là bất giác. b. Tương tự giác , chỉ những người Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác và các Bồ tát giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng..., tuy đã xa lìa ngã chấp, hiểu rõ lí Ngã không, nhưng vẫn chưa lìa bỏ được niệm phân biệt pháp chấp, đối với lí chân như, chỉ mới được cái pháp vị phảng phất ang áng như thế thôi, cho nên gọi là Tương tự giác. c. Tùy phần giác........, chỉ các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đến Cửu địa, đã xa lìa pháp chấp, biết rõ lí tất cả pháp đều do nơi tâm thức biến hiện; đối với lí chân như Pháp thân, có thể tùy sự tu chứng từng cảnh địa chuyển lên, cứ mỗi địa ngộ thêm được một phần lí chân như, cho nên gọi là Tùy phần giác. d. Cứu kính giác........, chỉ các Bồ tát Thập địa, đã hoàn thành nhân hành, dùng trí tuệ một niệm tương ứng, biết rõ nguồn gốc đầu tiên của tâm, đồng thời, xa lìa những niệm nhỏ nhiệm và thấy suốt tâm tính, cho nên gọi là Cứu kính giác. Từ đó đến quả Phật thì thành tựu được đại giác Thủy, Bản chẳng hai, tuyệt đối bình đẳng. Bốn giai vị kể trên được gọi là Thủy giác tứ vị, hoặc là Phản lưu (ngược dòng) tứ vị. Bởi vì, cái dòng trôi chảy của mê giới không ngoài các tướng sinh, trụ, dị, diệt của tâm chúng sinh, theo nghĩa ấy, do thứ tự phản lưu hoàn diệt, tức theo thứ tự ngược lên mà hiểu bốn tướng, cho nên được bốn vị. Tức Bất giác là hiểu biết được tướng diệt của tâm chúng sinh, Tương tự giác là hiểu được tướng dị của tâm, Tùy phần giác là hiểu được tướng trụ của tâm, cho đến Cứu kính giác là biết được tướng sinh của tâm. Cái gọi là ngược dòng, tức là ngược dòng sống chết mà hướng tới cái phương hướng trở về diệt của Bồ đề giác ngộ. Lại về tướng của Bản giác, có thể dùng hai nghĩa tùy nhiễm và tính tịnh để thuyết minh, về mặt tác dụng, thì dùng Tùy nhiễm bản giác để thuyết minh, về mặt thể đức, thì dùng Tính tịnh bản giác để thuyết minh. a. Tùy nhiễm bản giác..........., dựa vào phiền não nhiễm ô để nói rõ cái tác dụng của Bản giác, lại chia làm hai: một là tướng trí tịnh, tức y vào trí tuệ Thủy giác mà dứt hết vọng nhiễm bất giác để trở về tướng Bản giác xưa nay vốn trong sạch, gọi là Trí tịnh tướng; hai là tướng nghiệp bất tư nghị, tức đã khôi phục Thủy giác, dứt hết vọng nhiễm mà hiện tính đức Bản giác, rồi tùy căn khí của chúng sinh mà tương ứng một cách tự nhiên để làm các việc lợi tha, không gián đoạn. b. Tính tịnh bản giác............, tức là thể Bản giác, tính nó xưa nay vốn thanh tịnh, hiển hiện vô hạn tác dụng. Nếu dùng gương để thí dụ, thì có thể chia làm bốn cái gương để nêu tỏ bốn nghĩa lớn của Tính tịnh bản giác. Đó là: a. Như thực không kính , có nghĩa cũng như mặt gương sạch trống không, chẳng phản chiếu bất cứ vật gì bên ngoài, tâm thể của Tính tịnh bản giác đã tách lìa mọi tâm niệm, tự nó đã xa rời tất cả tướng cảnh giới tương ứng với tâm, rất mực thanh tịnh. b. Nhân huân tập kính, có nghĩa cũng như mặt gương chẳng không, phản chiếu tướng cảnh giới một cách như thực; tính nó chẳng ra, chẳng vào, không mất, không hoại, tâm thể thường trụ, là tính chân thực của hết thảy pháp, tự nó lại đầy đủ tính công đức vô lậu, dùng tính công đức vô lậu ấy làm nhân,.. để huân tập chúng sinh, vì thế gọi là Nhân huân tập kính.c. Pháp xuất li kính , có nghĩa cũng như lau hết bụi bậm khiến mặt gương trắng sạch, tính giác đã từ trong phiền não chướng, trí chướng thoát ra rồi thì tách lìa cái tướng nhiễm tịnh hòa hợp, chỉ còn thuần là sáng láng trong sạch, cho nên gọi là Pháp xuất li kính. d. Duyên huân tập kính , có nghĩa cũng như mặt gương đã được lau sạch bụi bậm rồi, người ta có thể dùng để soi muôn tượng, trí tính Bản giác đã thuần tịnh, tức có thể soi khắp tâm chúng sinh mà tùy niệm thị hiện, trở thành sức duyên ngoài huân tập chúng sinh siêng tu thiện căn, phát khởi trí Thủy giác, cho nên gọi là Duyên huân tập kính. Trên đây dùng gương để thí dụ bốn nghĩa lớn của Tính tịnh bản giác, gọi tắt là bốngương. Trong đó, cái ý trong hai gương trước cho biết Bản giác còn tại triền, (còn bị trói buộc). Triền, hàm ý là phiền não trói buộc. Tại triền, có nghĩa là, tâm tự tính thanh tịnh Như lai tạng còn ẩn mất trong phiền não trói buộc, ngược lại, từ trong sự trói buộc thoát ra mà hiển hiện Pháp thân, thì gọi là Xuất triền, . Là vì Bản giác tuy bị phiền não trói buộc, nhưng tự tính nó trước sau vẫn thanh tịnh vô nhiễm. Luận Đại thừa khởi tín, khi giải thích về Tâm chân như môn, đặc biệt nêu hai nghĩa Như thực không và Như thực bất không, cũng giống như thế, Bản giác tại triền cũng có hai nghĩa Không (về mặt lìa tướng) và Bất không (về mặt đầy đủ các công đức). Cái ý trong hai gương sau cho biết Bản giác đã Xuất triền, có nghĩa là Bản giác đã tách rời phiền não cấu nhiễm mà thuần là trong sạch sáng láng, đồng nghĩa với trí tịnh tướng và bất tư nghị nghiệp tướng của Tùy nhiễm bản giác. Còn chia làm hai gương nhân huân và duyên huân, tức chỉ nhân trong và duyên ngoài của việc trở về với trí thể Bản giác; cũng tức là lấy sự tịnh huân của Bản giác bên trong làm nhân mà khởi Thủy giác (nhân huân), đồng thời, Bản giác cũng lại là sức huân duyên ngoài (duyên huân) của sự sinh khởi Thủy giác. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.1 phẩm Chủng tính; luận Phật tính Q.2 phẩm Tam nhân; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.6; Giải thâm mật kinh sớ Q.3; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.3]. II. Thuyết của luận Thích ma-ha-diễn quyển 3. Giác có bốn nghĩa là Bản giác, Thủy giác, Chân như và Hư không, gọi là bốn vô vi; đối với bốn môn này đều chia làm hai thứ Thanh tịnh và Nhiễm tịnh để thuyết minh. Trong đó, Bản giác thanh tịnh, là chỉ Pháp thân từ vô thủy đến nay vốn có vô lượng hằng hà sa số công đức, thường hằng sáng sạch; còn bản giác nhiễm tịnh thì chỉ tâm tự tính thanh tịnh, chịu sự huân tập của vô minh mà trôi dạt trong dòng sống chết. Thủy giác thanh tịnh là chỉ tính trí vô lậu xa lìa hết thảy vô minh, không chịu sự huân tập của vô minh; còn Thủy giác nhiễm tịnh thì chỉ Thủy giác khi chưa được rốt ráo thì vẫn còn bị vô minh huân tập khiến cho ô nhiễm. Vị khai tổ của tông Chân ngôn Nhật bản là Không hải rất coi trọng thuyết của luận Thích ma ha diễn, đã dẫn dụng rất nhiều trong các trứ tác của sư. Do đó, tông Chân ngôn của Nhật bản bèn đứng trên lập trường tất cả sự tồn tại bản lai là Phật mà lập thành chủ trương Bản hữu bản giác môn, và lấy Thai tạng giới làm Bản giác, Kim cương giới làm Thủy giác mà chủ trương thuyết hai bộ Kim cương, Thai tạng Hai mà chẳng Hai. (xt. Tứ Vô Vi). III. Tông Thiên thai Nhật bản: đem hai giác Thủy, Bản và hai môn Bản, Tích trong kinh Pháp hoa kết hợp làm một, gọi Bản môn là pháp môn Bản giác hạ chuyển (từ quả về nhân), Tích môn là pháp môn Thủy giác thượng chuyển (từ nhân vào quả). Vị Khai tổ của tông Thiên thai Nhật bản là Tối trừng, khi đến Trung quốc học Phật (thời nhà Đường), theo học sư Đạo thúy, thừa tập pháp môn Bản giác, lấy Ma ha chỉ quán làm trung tâm mà nghiên cứu học tập các giáo lí Nhất tâm tam quán, Cửu thức tu hành, Tòng quả hướng nhân, Quán tâm vi bản v.v... Tối trừng còn theo sư Hành mãn thừa tập pháp môn Thủy giác, lấy Pháp hoa huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú làm trung tâm mà nghiên cứu học tập các giáo lí Tứ giáo ngũ thời, Lục thức tu hành, Tòng nhân hướng quả, Giáo tướng vi bản v.v... Từ thời trung cổ trở đi, dòng Tuệ tâm chuyên truyền bá pháp môn Bản giác, dòng Đàn na thì truyền bá pháp môn Thủy giác.
bản giác hạ chuyển
(本覺下轉) Đối lại với Thủy giác thượng chuyển. Là giáo pháp của Mật giáo căn cứ theo tướng Tùy nhiễm Bản giác (một trong hai thứ Bản giác) nói trong luận Thích ma ha diễn mà thành lập. Nghĩa là trong tâm chúng sinh đều có giác thể tiên thiên sẵn có, xưa nay vốn thanh tịnh, giác thể thanh tịnh ấy bị vô minh huân tập mà trôi dạt trong dòng sống chết, gọi là Tùy nhiễm Bản giác; Tùy nhiễm Bản giác lại theo thứ tự chuyển hướng xuống dưới, theo duyên nhiễm của chúng sinh, thuận theo tướng chúng sinh mà làm các việc ích lợi, gọi là Bản giác hạ chuyển. Hạ chuyển, có nghĩa là theo thứ tự mà chuyển hướng xuống, chẳng hạn như đã đạt đến quả vị rồi, lại từ quả vị mà chuyển hướng xuống nhân vị tu hành nhiếp hóa, hoặc từ Thánh vị lại chuyển xuống phàm phu mà tùy thuận điều phục giáo hóa, đều thuộc pháp môn Bản giác hạ chuyển từ quả hướng nhân. Trái lại, từ nhân vị chuyển hướng quả vị, hoặc từ phàm phu vị hướng lên mà chuyển tới Thánh vị để tìm cầu Bồ đề, thì thuộc pháp môn Thủy giác thượng chuyển từ nhân đến quả. Luận Thích ma ha diễn quyển 3 (Đại 32, 619 hạ), nói: Thủy giác quay lưng lại phàm mà hướng tới Thánh, chuyển theo thứ tự đi lên; Tùy nhiễm Bản giác thì quay lưng với Thánh mà hướng tới phàm, theo thứ tự chuyển đi xuống. (xt. Bản Giác).
bản giác nội huân
(本覺內熏) Chỉ tác dụng huân tập bên trong của Chân như bản giác. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín chép, thì trong tâm chúng sinh đều có chân như Phật tính bản lai thanh tịnh, gọi là Bản giác, mà tự thể nó có đủ tác dụng tướng huân tập, , cũng tức là từ vô thủy đến nay, các pháp vô lậu trong tâm chúng sinh đã bị tâm vọng nhiễm huân tập, có khảnăng khiến cho chúng sinh, một cách không hay không biết, chán xa cái khổ sống chết mà tìm cầu Niết bàn, tự tin trong mình cũng có pháp chân như mà phát tâm tu hành. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 578 trung), nói: Chân như huân tập, nghĩa có hai thứ. Thế nào là hai? Một là tự thể tướng huân tập, hai là dụng huân tập. (...) Dụng huân tập tức là sức ngoại duyên của chúng sinh. (xt. Bản Giác).
bản giác pháp môn, thuỷ giác pháp môn
(本覺法門始覺法門) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Là giáo thuyết của tông Thiên thai Nhật bản dựa theo thuyết Bản tích nhị môn của kinh Pháp hoa, điều hợp với tư tưởng tâm tính nhiễm tịnh trong luận Đại thừa khởi tín và luận Thích ma ha diễn của Mật giáo mà thành lập. Pháp môn Bản giác, chỉ pháp môn tu hành theo thứ tự hướng ngược từ quả vị hướng nhân vị; pháp môn Thủy giác, chỉ pháp môn tu hành theo thứ tự hướng thuận từ nhân vị hướng quả vị. Nếu đứng trên quan điểm hai môn Bản, Tích mà nhìn, thì Bản môn thuộc pháp môn sự viên, Tích môn thuộc pháp môn lí viên; Bản môn là pháp môn chín thức, Tích môn là pháp môn sáu thức; Bản môn là pháp môn Bản giác hạ chuyển, Tích môn là pháp môn Thủy giác thượng chuyển. Phương pháp tu hành trong Mật giáo là đem tâm bồ-đề của hành giả chuyển theo hai hướng từ nhân tới quả, từ quả tới nhân và phân biệt thành hai nghĩa Thủy giác thượng chuyển và Bản giác hạ chuyển. Tông Thiên thai Nhật bản, muốn dung hợp tư tưởng tâm tính nhiễm tịnh của Hiển giáo và Mật giáo, bèn nêu lên pháp môn hai giác Bản, Thủy. (xt. Ngũ Chuyển, Bản Giác, Tòng Quả Hướng Nhân).
Bản giác 本覺
[ja] ホンガク hongaku ||| 'Innate enlightenment' or 'original enlightenment.' The possession by sentient beings of enlightenment as their basic nature, which means that enlightenment is not something to be obtained externally, or as a distant goal, but exists in full reality here in the present moment, and therefore sentient beings need only to awaken to it. This is a concept expressed commonly in scriptural works of East Asian provenance, such as the Awakening of Faith 起信論 and the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. It is due to this East Asian origin that there are no direct Indic terms indicated as sources for the concept, which in turn offers support to the argument for the East Asian provenance of such texts. It is in the Awakening of Faith in particular where the background of the doctrine is developed in detail, where it is explained in contrast to "initial (actualized) enlightenment" 始覺, as transcending the dualistic opposition of enlightenment 覺 vs. non-enlightenment 不覺. See esp. T 1666.32.576b-c. => Đức tính giác ngộ sáng suốt mọi chúng sinh đều có như là bản tính của họ, có nghĩa sự giác ngộ là điều gì đó không thể do bên ngoài mà có được, hay như là một mục tiêu ngoại tại, mà nó hiện hữu rất thực ngay ở đây và trong giây phút hiện tại, do vậy nên mọi người chỉ cần nhận biết về nó. Đây là ý niệm thường được diễn đạt trong các kinh văn Đại thừa phát xuất ở Á Đông như Luận Đại thừa khởi tín và kinh Viên Giác. Do vì ở đây không có những thuật ngữ trực tiếp mang tinh thần Ấn Độ để diễn đạt tận căn nguyên ý niệm nầy, nên dẫn đến sự tán đồng những kinh văn có nguồn gốc Á Đông nầy. Đặc biệt trong luận Đại thừa khởi tín, nền tảng học thuyết nầy được phát triển rất chi tiết; trong đó giải thích ngược với Bản giác là Thuỷ giác, như là tính giác siêu việt đối đãi nhị nguyên, đối nghịch là Bất giác不覺.
bản giáo
(本教) Có nghĩa là giáo căn bản. Là một trong hai giáo. Nói đủ là Xứng tính bản giáo, , đối lại với Trục cơ mạt giáo, . Tức chỉ pháp môn Biệt giáo nhất thừa của tông Hoa nghiêm. Cứ theo lời giải thích của sư Đạo đình trong Đồng nghĩauyển sớ, thì Biệt giáo nhất thừa hiển bày thẳng pháp gốc và là nguồn chung của mọi kinh điển, vì thế gọi là Bản giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1 Thừa giáo khai hợp]. (xt. Nhị Giáo).
bản hoài
One's intention.
; (本懷) Còn gọi là Tố chí, Tố hoài. Tức là những ý niệm suy tư căn bản trong lòng. Như tâm niệm căn bản của Phật Bồ tát từ lâu xa đến nay, vẫn ấp ủ trong lòng, mong cứu độ chúng sinh ra khỏi bể khổ sống chết. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 1 (Đại 33, 819 hạ), nói: Chỉ đặt cái tên gọi Đốn đại..... (tức Đại thừa đốn giáo), mà chẳng lập danh xưng Nhất thừa độc diệu, thì đó chẳng phải là bản hoài của Phật. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 2].
bản hoá
(本化) Tức là sự giáo hóa của Bản Phật thực hành từ lâu xa rồi. Đối lại với Bản hóa, sự giáo hóa của Tích Phật mới thành ở Giàda thì gọi là Tích hóa. Kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Tòng địa dũng xuất chép, có một Bồ tát xin gánh vác công việc mở rộng kinh này sau khi đức Phật diệt độ, nhưng đức Phật gạt đi và trả lời (Đại 9, 39 hạ): Thôi, Thiện nam tử! Không cần các ông hộ trì kinh này. Tại sao vậy? Bởi vì, trong thế giới Sa bà, ta đã có sáu muôn Hằng hà sa Bồ tát ma ha tát, mỗi mỗi Bồ tát đều có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc. Sau khi ta diệt độ, những người ấy sẽ hộ trì đọc tụng và rộng nói kinh này. Lúc đó, thế giới Sa bà, đất đều rúng động và nứt ra, rồi có vô lượng nghìn muôn ức Bồ tát ma ha tát từ trong đất xuất hiện. Điều này giải rõ đức Thế tôn Thích ca là Bản Phật đã thành từ kiếp lâu xa, và các Bồ tát từ dưới đất xuất hiện là những đệ tử được đức Thế tôn giáo hóa từ nhiều kiếp xa xưa lắm rồi. Các đệ tử này được gọi là Bản quyến thuộc hoặc Bản hóa Bồ tát. Đối lại với Bản Phật, Bản hóa Bồ tát, mà gọi đức Thế tôn Thích ca giảng kinh hơn bốn mươi năm là Tích Phật, mới thành ở Già da, và các đệ tử được ngài giáo hóa, thì gọi là Tích hóa Bồ tát. Còn về vấn đề tại sao đức Thế tôn lại không cho Tích hóa Bồ tát mở rộng kinh mà lại cho Bản hóa Bồ tát làm việc ấy, thì Đại sư Trí khải thuộc tông Thiên thai, trong Pháp hoa văn cú quyển 9 phần trên phẩm Dũng xuất, có nêu ra sáu nghĩa để giải thích. Đó là: 1. Việc đức Thế tôn không cho Tích hóa Bồ tát truyền bá kinh, có ba nghĩa: a. Các Tích hóa Bồ tát đều có nhiệm vụ, nếu trụ ở cõi này thì bỏ lợi ích ở phương khác. b. Sự kết duyên giữa phương khác và cõi này thì mỏng manh, tuy muốn tuyên thuyết và truyền bá kinh, nhưng lợi ích không được mấy. c. Nếu cho Tích hóa Bồ tát truyền kinh, thì không mời được Bản hóa Bồ tát, như thế, gần sẽ không được mở, xa không được hiển. 2. Việc đức Thế tôn triệu các Bản hóa Bồ tát để giao nhiệm vụ truyền bá kinh, cũng có ba nghĩa: a. Đã là đệ tử của Thế tôn thì phải truyền bá pháp của Thế tôn. b. Vì các Bồ tát ấy có duyên sâu rộng, ngoài việc có thể làm lợi ích tràn khắp ở cõi này, còn có thể lợi ích khắp các cõi Phân thân, Tha phương. c. Có thể mở gần, hiển xa. Lại các Bồ tát Bản hóa từ dưới đất xuất hiện, có bốn đạo sư, gọi là Thượng hành, Vô biên hành, Tịnh hành và An lập hành. Kinh Pháp hoa quyển 6 phẩm Như Lai thần lực chép, đức Thế tôn đem trọng trách truyền bá pháp trong đời vị lai giao phó cho các Bồ tát ấy, gọi là Biệt phó chúc, vì giao phó ở trong tháp, nên còn gọi là Tháp trung phó chúc. Cũng kinh trên, phẩm Chúc lụy chép, sau khi đức Thế tôn ra khỏi tháp, đem pháp giao phó cho vô lượng Bồ tát Tích hóa các phương khác, khiến truyền bá, việc giao phó ấy gọi là Tổng phó chúc hoặc là Tháp ngoại phó chúc. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
bản hoá tứ bồ tát
(本化四菩薩) Bản hóa, có nghĩa là sự giáo hóa của Bản Phật đã thành từ lâu xa. Bản hóa tứ Bồ tát, chỉ bốn Bồ tát đã do Bản Phật giáo hóa ở thời lâu xa. Kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Tòng địa dũng xuất chép, sau khi Phật nhập diệt, từ không trung ở phương dưới thế giới Sa bà xuất hiện sáu vạn hằng hà sa số Bồ tát, để đáp lại nhu cầu truyền bá kinh Pháp hoa ở đời mạt pháp, trong đó, lấy bốn bồ tát Thượng hành (Phạm: Viziwỉacàritra), Vô biên hành (Phạm: Anantacàritra), Tịnh hành (Phạm: Vizuddhacàritra), Anlập hành (Phạm:Supratiwỉhitacàritra) làm thượng thủ, là bốn đạo sư trong chúng Bồ tát. Lúc đó, Bổ xứ bồ tát Di lặc thấy, kinh ngạc, (Đại 9, 40 hạ), nói: Trong chúng Bồ tát đây, con chẳng quen biết một người nào!. Đức Thế tôn bảo (Đại 9, 41 trung): Đó là chúng Bồ tát ta đã giáo hóa từ lâu xa lắm rồi. Bởi thế biết bốn Bồ tát ấy là quyến thuộc ứng sinh đã từ bản thời lâu xa. Trong kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Như lai thọ lượng, đức Thế tôn đã nhiều lần tuyên thuyết là ngài thành Phật đến nay đã trải trăm nghìn muôn kiếp a tăng kì, đời sau căn cứ vào đó mà gọi là Cửu viễn thực thành chi Bản Phật (Phật gốc thực đã thành từ lâu rồi), và các đệ tử được giáo hóa vào thời ấy, thì gọi là Bản quyến thuộc, Bản hóa Bồ tát; đối lại, đức Thế tôn chứng đạo thành Phật ở Bồ đề già da, thì gọi là Già da thủy thành chi Tích Phật(Phật ứng hóa thì mới thành ở Bồ đề già da), và các đệ tử được giáo hóa vào thời ấy thì gọi là Tích hóa Bồ tát. Lại đức Thế tôn đem giao phó trách nhiệm hoằng pháp ở đời mạt pháp vị lai cho bốn Bồ tát Bản hóa từ Thượng hành v.v..., gọi là Biệt phó chúc, Tháp trung phó chúc; đối lại, việc giao phó cho các Tích hóa Bồ tát ở vô lượng phương khác truyền bá đại pháp, thì gọi là Tổng phó chúc, Tháp ngoại phó chúc. Tại Nhật bản, tông Nhật liên, lấy tín ngưỡng kinh Pháp hoa làm chủ, dựa vào thuyết được trình bày ở trên làm chuẩn, gọi vị khai tổ của tông Nhật liên là bồ tát Thượng hành trong bốn Bồ tát Bản hóa tái giáng sinh, đồng thời, trong bốn Bồ tát, bảo bồ tát Thượng hành biểu thị cái đức của hỏa đại, bồ tát Vô biên hành biểu thị đức của phong đại bồ tát Tịnh hành biểu thị đức của thủy đại’, bồ tát An lập hành biểu thị đức của địa đại, còn đức Thế tôn thì biểu thị đức của Không đại, và hợp cả lại mà thành năm chữ Diệu pháp liên hoa kinh.
bản hoặc
Xem Phiền não hoặc.
; The root or origin ođ delusion.
; (本惑) Đối lại với Tùy hoặc,...... Là các phiền não căn bản cảm được quả mê, tức là thể của các hoặc. Còn gọi là Căn bản hoặc, Căn bản phiền não. Có sáu loại: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, trong đó, ác kiếnđược chia làm năm kiến là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, hợp cả lại thành mười loại phiền não. Lại có cách chia Bản hoặc làm hai là Kiến hoặc và Tư hoặc; lần lượt phối với ba cõi, thì Kiến hoặc tám mươi tám sử, Tư hoặc có mười thứ, cộng tất cả là chín mươi tám thứ. (xt. Kiến Tư Hoặc, Căn Bản Phiền Não).
bản hình
Original form, or figure; the substantive form.
bản hạnh
The root of action; the method or motive of attainment; (his) own deeds, e.g, the doings of a Buddha or bodhisattva
; (本行) Chỉ hành tích lúc vẫn còn ở giai vị Bồ tát (nhân vị) trước khi thành Phật. Là pháp tu hành căn bản làm nhân cho sự thành Phật. Trong Duy ma nghĩa kí quyển 1 phần đầu, ngài Tuệ viễn nói, pháp tu hành của Bồ tát là nhân để thành Phật, vì thế gọi là Bản hành. Kinh Đại bảo tích quyển 30 (Đại 11, 22 trung), nói: Ngã nhất thiết bản sơ, hiệu danh thế sở y. Trong Tức thân thành Phật nghĩa, ngài Không hải giải thích là: Ngã, là đức Đại nhật Như lai tự xưng; bản sơ là chân lí bản lai như thế, đức Đại nhật đã chứng được hết thảy pháp đại tự tại như thế. Lí thú thích quyển thượng (Đại 19, 609 hạ), nói: Bản sơ, có nghĩa là pháp giới bản lai thanh tịnh.
bản hội
(板繪) Là một loại chướng bích họa, (bức vẽ trên vách hoặc trên tấm bình phong) của Nhật Bản. Một nghệ thuật vẽ trên bản gỗ. Trên cỗ khám gọc trùng ở chùa Pháp long tại Nhật bản, trên cửa và bốn vách của cỗ khám Niệm trì Phật của Quất phu nhân, đều có các bức vẽ sơn dầu. Phong tục vẽ trên bản gỗ này bắt nguồn từ thời kì đầu Bình an bằng những bức vẽ hình Phật. Trong nhà Kim đường ở chùa Thất sinh tại Nhật bản, trên vách cũng có tượng Đế thích thiên mạn đồ la, vẽ ở đàng sau thân tượng chư Phật, bức vẽ này lấy tượng Phật Tam thế làm trung tâm, còn chín mươi tám tượng Phật ngồi khác bày ở hai bên. Vào khoảng giữa thời đại Bình an, năm Thiên lịch thứ 5 (915), người ta đã hoàn thành các bức vẽ Mạn đồ la biến hình thuộc hai giới Thai tạng và Kim cương, trên trụ cột chính giữa và cột bốn chung quanh, trong tầng thứ nhất của tòa tháp năm tầng ở chùa Đề hồ, Nhật bản. Kĩ thuật vẽ trên bản gỗ là trên nền trắng, người ta dùng sơn dầu vẽ các màu sắc mờ ảo lung linh và tươi thắm rực rỡ. Vào cuối thời đại Bình an, trên các cánh cửa, vách sau nhà Phượng hoàng, viện Bình đẳng và nhà Đại đường của chùa Phú quí, đều có vẽ tranh Tịnh độ biến tướng. Thời đại Liêm thương, trên các cửa của cỗ khám Cát tường ở chùa Lưu li cũng có các bức vẽ thuộc loại nghệ thuật vẽ bản gỗ.
bản hữu
Bhùta (S). Elements of living being; become; born. Originally or fundamentally existing; primal existence, the source and substance of all phenomena; also the present life.
; (本有) I. Bản hữu. Chỉ tính đức bản lai sẵn có. Đối lại với Tu thành, ., Tu sinh, . Cả hai sánh ngang nhau gọi là Bản hữu tu sinh. Tức bất luận là hữu tình phi tình, bản tính của chúng vẫn đầy đủ muôn đức, ở Thánh không thêm, ở phàm không bớt. Đối lại với bản hữu, nếu nhờ vào sự tu hành mới nảy sinh hoặc thành lập, thì gọi là Tu sinh, Tu thành. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 phần dưới (Đại 33, 774 thượng), nói: Bốn đức sẵn có mà còn ẩn, gọi là Như lai tạng; bốn đức tu thành, đã hiển bày, gọi là Pháp thân. Lại trong Duy thức học, những hạt giống tiên thiên tồn tại trong thức A lại da, gọi là bản hữu chủng tử (hạt giống vốn sẵn có), còn những hạt giống hậu thiên do các pháp hiện hành mới huân tập, thì gọi là tân huân chủng tử. Cả hai loại hợp lại thì phát sinh các pháp hiện hành và hết thảy hiện tượng. Ngoài ra, nếu đứng về phương diện khẳng định để hiển bày chân như, thì nói là bản lai hữu (xưa nay vốn có); nếu đứng về mặt phủ định mà nói hết thảy sự vật là giả tướng, không có thể thực tại, thì bảo là bản lai không (xưa nay vốn không). II. Bản hữu. Là một trong Tứ hữu ...... Từ sau khi sinh, đến trước khi chết, cái thân ở khoảng giữa, gọi là bản hữu. (xt. Tứ Hữu).
bản hữu chủng tử
(本有種子) Tức các hạt giống vốn có từ xưa đến nay. Nói tắt là Bản hữu chủng. Còn gọi là Bản tính trụ chủng. Có nghĩa là trong thức A lại da (thức thứ 8) xưa nay vốn hàm chứa hạt giống của hết thảy pháp hữu vi hữu lậu, vô lậu. Còn hạt giống hậu thiên do pháp hiện hành mới huân tập, thì gọi là Tân huân chủng tử. (xt. Chủng Tử).
bản hữu gia
(本有家) Các nhà Duy thức học Ấn độ đem chia hạt giống làm ba loại Bản hữu (vốn có), Tân huân (mới ươm), và Tân cựu hợp sinh (mới cũ cùng sinh) để thuyết minh. Các nhà Bản hữu cho rằng, hạt giống tàng chứa trong thức thứ 8 đều là tiên thiên có sẵn, chứ không phải mới huân tập, sức huân tập của hiện hành chỉ làm cho các hạt giống sẵn có thêm lớn mà thôi; còn gọi là Duy bản hữu gia. Hộ Nguyệt luận sư là đại biểu của phái này. (xt. Chủng Tử).
bản hữu thuyết
Apriorism.
bản không
(本空) Có nghĩa là các pháp bản lai tính vốn không, tức bản tính của hết thảy muôn vật đều là không. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung), nói: Tịnh tuệ biết vốn không, ức kiếp nhớ trí Phật.
bản kinh
(本經) Chỉ bản kinh gốc trong luận sớ. Tức là kinh được giải thích hoặc nương vào đó mà lập thành các thuyết. Còn như nghĩa lí, câu văn của kinh được dẫn dụng trong các luận sớ, thì gọi là Bản cứ (căn cứ gốc), đồng nghĩa với từ ngữ Xuất điển.
bản kinh phật
The Buddhist Canon book.
bản kiếp bản kiến
(本劫本見) Bản kiếp, chỉ đời quá khứ. Đối với đời quá khứ, khởi lên cái thấy phân biệt, gọi là Bản kiếp bản kiến. Còn đối với cuối đời vị lai mà khởi lên cái thấy phân biệt, thì gọi là Mạt kiếp mạt kiến. Những thấy biết sai lầm mà các ngoại đạo ở Ấn độ cổ đại cố chấp, đại để có thể chia làm hai loại là bản kiến và Mạt kiếp mạt kiến. Trong đó,Bản kiếp bản kiến gồm năm loại mười tám kiến chấp, bao quát bốn thứ Thường luận, bốn thứ Cũng thường vô thường luận, bốn thứ Biên vô biên luận, bốn thứ Chủng chủng luận, hai thứ Vô nhân nhi hữu luận. Mạt kiếp mạt kiến gồm năm loại bốn mươi tư kiến chấp, bao quát mười sáu thứ luận Hữu tưởng, tám thứ luận Vô tưởng, tám thứ luận Phi hữu tưởng phi vô tướng, bảy thứ luận Đoạn diệt, năm thứ luận Hiện tại nê hoàn. Cộng cả hai thành mười loại sáu mươi hai kiến chấp. [X. Trường a hàm Q.14 kinh Phạm động]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
Bản lai
本來; C: běnlái; J: honrai;|Căn nguyên, từ lúc bắt đầu.
bản lai
Coming from the root, originally, fundamentally. Vô thủy dĩ lai, from or before, the very beginning.
; (本來) Có nghĩa lúc ban đầu chưa có vật gì. Cũng như từ vô thủy đến nay. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 5 (Đại 31, 344 thượng), nói: Tự tính thanh tịnh có nghĩa là tự tính bản lai trong sạch, tức là tự tính chân như. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 trung), nói: Các pháp từ bản lại, tự tướng thường vắng lặng.
Bản lai diện mục
本來面目; C: běnláimiànmù; J: honrai-(no)-memmoku; nghĩa là »Gương mặt từ xưa đến nay«;|Một ẩn dụ nổi tiếng trong Thiền tông, được dùng để chỉ Phật tính, Chân như trong mỗi chúng sinh.|Dưới dạng câu hỏi »Gương mặt xưa nay của ngươi là gì?« chư vị Thiền sư thường hay trắc nghiệm kinh nghiệm ngộ đạo của đệ tử. Thấy »gương mặt xưa nay« tức là Kiến tính, ngộ được bản tính thanh tịnh sẵn có.
bản lai diện mục
Horai-no-nemoku (J).
; Original form, initial form; the former state of things.
; Original face or Buddha-nature.
; (本來面目) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Là cái mày mặt thật chẳng mê chẳng ngộ mà ai ai cũng vốn có. Còn gọi là Bản địa phong quang, Bản phận điền địa, Tự kỉ bản phận, Bản phận sự. Tức là cái thân tâm tự nhiên thoắt rơi mất và cái tâm tính thật mà mọi người đều vốn có hiện ra ở trước mắt. Ý nghĩa tương đồng với Bản giác của Hiển giáo và Bản sơ của Mật giáo. Kinh Lục tổ đàn (Đại 48, 349 trung), chép: Năng nói: chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay trong lúc đó, cái ấy là bản lai diện mục của thượng tọa Minh đấy. [X. Vô môn quan Tắc 23; Chính pháp nhãn tạng biện đạo thoại].
Bản lai diện mục 本來面目
[ja] ホンライメンモク honraimenmoku ||| One's "original face" or "true nature." A Chan expression. => 'Chân tính' hay 'gương mặt thật' của mình. Thiền ngữ.
bản lai không
(本來空) Nghĩa là các pháp thế gian xưa nay đều là có giả, chứ chẳng phải có thực. Hết thảy vạn hữu đều là hiện tượng giả lập mà tồn tại. Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 hạ), nói: Rõ rồi nghiệp chướng bản lai không, chưa rõ nên tu đền nợ trước.
Bản lai thành Phật
本來成佛; C: běnlái chéngfó; J: honrai-jōbutsu;|Phật tính từ căn nguyên. Tất cả chúng sinh xư nay vốn là Phật. Câu nầy thường thấy trong nhiều kinh văn Đại thừa, như trong Đại thừa khởi tín luận và kinh Viên Giác.
bản lai thành phật
All things being of Buddha become Buddha.
; (本來成佛) Nghĩa là chúng sinh vốn có đủ tính thành Phật. Nếu đứng trên lập trường vạn vật nhất như mà nhận xét, thì chúng sinh và Như lai là một, không khác, đó là lí phiền não tức bồ đề, chúng sinh tức Như lai vậy.
Bản lai thành Phật 本來成佛
[ja] ホンライジョウブツ honraijōbutsu ||| Original Buddhahood. All sentient beings are originally buddhas, as they are. This phrase is found in a number of East Asian texts, such as the Awakening of Faith and the Sutra of Perfect Enlightenment. => Phật tính từ căn nguyên. Tất cả chúng sinh xưa nay vốn là Phật. Câu nầy thường thấy trong nhiều kinh văn Đại thừa, như trong Khởi tín luận, và Kinh Viên Giác.
Bản lai tự tính thanh tịnh niết-bàn
本來自性清淨涅槃; C: běnlái zìxìng qīng-jìng nièpán; J: honraijishō shōjōnehan;|Là một trong 4 loại niết-bàn theo giáo lí của Duy thức tông. Thuật ngữ nầy đề cập đến nguyên lí chân như như là bản tính của tất cả mọi hiện tượng.
Bản lai tự tính thanh tịnh niết-bàn 本來自性清淨涅槃
[ja] ホンライジショウショウジョウネハン honraijishō shōjōnehan ||| . The nirvāna of the originally pure self-nature. One of the four kinds of nirvāna in the theory of the school of Consciousness-only. The term refers to the principle of true thusness serving as the original nature of all phenomena. => Là một trong 4 loại niết-bàn theo giáo lý của Duy thức tông. Thuật ngữ nầy đề cập đến nguyên lý chân như như là bản tính của tất cả mọi hiện tượng.
bản lai vô nhất vật
Originally not a thing existing, or before anything existed - a subject of meditation.
; (本來無一物) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là muôn tượng trong vũ trụ là do vọng tưởng phân biệt của người ta sinh khởi, chứ thực thì từ xưa đến nay vốn không có bất cứ vật gì có thể nắm bắt được. Hết thảy các pháp đều không, chỉ nhờ mối quan hệ hỗ tương y tồn mà có. Trong mối quan hệ hỗ tương luôn luôn biến hóa, không có một chủ thể nào độc lập tự tồn tại, cho nên chẳng có vật gì có thể chấp trước được, mà cũng không nên nắm bắt vật gì. Từ ngữ bản lai vô nhất vật có xuất xứ từ kinh Pháp bảo đàn của Lục tổ (Đại 48, 349 thượng): Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, xưa nay (bản lai) không một vật, bụi bám vào chỗ nào?. Ý nói hết thảy đều rỗng lặng, khi thấu suốt được lí ấy thì không có một vật gì, mà chỉ là một cảnh giới thiên chân độc chiếu. Cứ theo kinh Pháp bảo đàn nói, thì bài kệ trên đây do Lục tổ làm ra để đối lại với bài kệ của Đại thông Thần tú (Đại 48, 348 trung): Thân là cây Bồ đề, tâm như đài gương sáng; phải chăm lau chùi luôn, chớ để bụi bám vào. Tuệ năng đã nhờ bài kệ trên mà được ngũ tổ Hoằng nhẫn trao truyền áo bát và trở thành tổ thứ sáu của Thiền tông.
bản lai vô sự
(本來無事) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chủ trương tu hành của Thiền Ngưu đầu trong Thiền tông. Còn gọi là Bản vô sự nhi vong tình, Hưu tâm bất khởi. Chủ trương cho tâm và cảnh vốn không có, phàm có tạo tác đều là mê vọng, vì thế nên quên mình, bỏ tình thì tâm không có chỗ dựa. Người ta mê hay ngộ là hoàn toàn ở chỗ có chứng được cái lí bản lai vô sự hay không, mà nếu muốn chứng được lí ấy, thì chỉ có cách quên mình bỏ tình mà thôi. Đó là đặc điểm của Thiền Ngưu đầu. [X. kinh Viên giác đại sớ sao Q.3 phần dưới].
Bản lai 本來
[ja] ホンライ honrai ||| Original; originally. => Căn nguyên, từ lúc bắt đầu
bản luận chú
Dhātukathapakarana-atthakatha (S)Tên một bộ luận kinh. Do ngài Phật Âm biên soạn.
bản lợi ích diệu
(本利益妙) Là Diệu thứ mười trong Bản môn thập diệu, do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra, khi giải thích chữ Diệu của đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có nghĩa là những việc lợi ích cho chúng sinh do đức Bản Phật đã làm từ lâu xa, cho đến sau khi đức Tích Phật diệt độ, những việc lợi ích chúng sinh được thực hiện trong thời chính pháp, tượng pháp v.v... đều là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản minh
(本明) Còn gọi là Nguyên minh. Chỉ bản giác. Vì thể của bản giác trong sạch và có trí tuệ đại quang minh, cho nên gọi là Bản minh. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 108 hạ), nói: Vì các chúng sinh quên mất bản minh, nên suốt ngày hành động mà không tự biết, đến nỗi phải vào các ngả một cách oan uổng.
bản môn bản tôn
(本門本尊) Là một trong ba phép bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Chỉ Thập giới mạn đồ la. Ở chính giữa Thập giới mạn đồ la viết năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, hai bên vẽ các vị tôn thuộc các Thiên bộ, để biểu thị mười giới đều đầy đủ, hình Phật biểu thị Tam thân vô tác (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân không tạo tác). Hành giả tu theo ba phép bí mật, lấy Bản Phật thực thành lâu xa được cụ thể hóa trong Thập giới mạn đồ la, thờ làm Bản tôn mà qui y, cho nên gọi là Bản môn Bản tôn. [X. Tam đại bí pháp sao; Tam đại bí pháp chỉ yếu sao].
bản môn giới đàn
(本門戒壇) Là một trong ba phép đại bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Trỏ đàn tràng thụ giới của hành giả Pháp hoa. Khi hành giả tu ba phép đại bí mật, qui y Bản môn Bản tôn, miệng xướng bản môn đề Na mô Diệu pháp liên hoa kinh, nơi mà trong đó nghi thức này được cử hành, gọi là Bản môn giới đàn. [X. Tam đại bí pháp sao; Tam đại bí pháp chỉ yếu sao].
bản môn khai hiển
(本門開顯) Xưa nay các nhà giải thích kinh Pháp hoa, phần nhiều đem chia kinh Pháp hoa thành hai môn Bản, Tích, tức lấy mười bốn phẩm trước trong kinh Pháp hoa làm Tích môn, cũng như Phật mới mới thành Chính giác, mười bốn phẩm sau làm Bản môn, cũng như Phật cũ đã thành từ lâu xa rồi. Dùng Bản môn để mở cái dấu tích gần mới thành ở Già da mà hiển bày Phật cũ thực thành từ lâu xa, đó tức là mở tích hiển bản, mở gần hiển xa, mà cũng tức là Bản môn khai hiển. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Tích Hiển Bản, Khai Cận Hiển Viễn).
bản môn tự
(本門寺) Là một trong bốn đại Bản sơn của tông Nhật liên Nhật bản. Vị trí chùa nằm ở Đông kinh đô Đại điền khu trì thượng. Hiệu núi là núi Trường vinh chùa Đại quốc. Thông thường gọi là chùa Trì thượng bản môn. Trước nay, cùng với chùa Cửu viễn, núi Thân diên, chùa Pháp hoa kinh núi Trung sơn, gọi chung là Tam đầu. Lại cùng với chùa Diệu bản núi Trường hưng, và chùa Bản độ núi Trường cốc, gọi chung là núi Tam trường tam bản, hoặc thêm chùa Bản thành núi Trường cửu nữa mà gọi là núi Tứ trường tứ bản. Do Trì thượng tông trọng hóa nhà làm chùa vào năm Chính ứng thứ 4 (1291), là nơi Nhật liên nhập tịch. Đã từng mấy lần bị đốt, lại bị chiến nạn, song đều được xây dựng lại. Chùa rộng hơn sáu vạn chín nghìn bình (mỗi bình 36 thước vuông), ngoài điện Phật, nhà Tổ, cửa lầu, còn có Tổng môn, nhà chung Thanh chính, gác chuông, Luân tạng, nhà Trường vinh, nhà thờ Quỉ tử mẫu thần, tháp năm tầng, nhà khách, nhà Phương trượng, nhà Bảo tạng, nhà kho v.v... Phía tây bắc nội tự, có nhà Chân cốt thờ di cốt của Nhật liên thượng nhân, phía tây nhà khách là nơi hỏa thiêu (trà tì) Nhật liên thượng nhân, có dựng tháp Đa bảo; ngoài ra, còn có mộ phần của Nhật lãng, Nhật luân. Cây tháp năm tầng là Kiến trúc thuộc thời kì đầu Giang hộ; trong nhà Tổ thờ tượng của Nhật liên thượng nhân, một kiệt tác của nghệ thuật chạm trổ tiếu tượng (tượng giống hệt người) vào thời đại Liêm thương. Thời gần đây, ba mươi sáu nhà viện được xây dựng ngày trước trong nội tự, được trùng tu và thu gọn lại còn mười tám viện. Hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng 10, mở hội Tông tổ, dân chúng các nơi đổ về, muôn ngọn đèn, lũ lượt làm tắc nghẽn cả quả núi, quang cảnh phía trước thật là tráng lệ.
bản môn đề mục
(本門題目) Là một trong ba phép đại bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Tức người tu Pháp hoa, khi tu ba phép đại bí mật, miệng đọc bảy chữ Na mô Diệu pháp liên hoa kinh. Đề mục, chỉ năm chữ Diệu pháp liên hoa kinh. Là đề hiệu của kinh Pháp hoa hai mươi tám phẩm. Lại năm chữ này bao quát ý nghĩa sâu kín của tám cuốn Pháp hoa, nghĩa sâu kín của Bản tôn cũng hoàn toàn ở năm chữ này mà không thể dò được. Vì thế, để biểu tỏ cái ý qui y Bản tôn mà thêm hai chữ Na mô để đọc bảy chữ này, là phương pháp trở về với Bản tôn. Nếu người không hiểu được ý nghĩa Bản tôn, mà chỉ đọc lên thì tự nhiên cũng sinh ra hình ảnh của Bản tôn, cuối cùng cũng được thành Phật. [X. Tam đại bí pháp sao; Tam đại bí pháp chỉ yếu sao].
Bản mạt
本末; C: běnmò; J: honmatsu;|»Gốc rễ và cành nhánh«; đầu và cuối, thiết yếu và vô dụng, v.v…
bản mạt
Root and twigs, root and branch, first and last, beginning and end.
bản mạt chế độ
(本末制度) Chế độ Phật giáo Nhật bản. Vào đầu thời Đức xuyên (1603 - 1867), để khống chế các chùa chiền và tăng, ni Phật giáo trên toàn quốc, sự quan hệ giữa Bản, Mạt ở cuối thời Liêm thương chỉ theo pháp thống, nay sự quan hệ ấy được qui định bằng pháp lệnh thành quan hệ lệ thuộc. Hiến chương Bản, Mạt được ban bố, trong đó, qui định mối quan hệ lệ thuộc rất chặt chẽ giữa Bản sơn và các chùa chiền Mạt phái trực thuộc, đặt tất cả chùa chiền của Mạt phái dưới sự cai quản tuyệt đối của Bản sơn. Mạc phủ (bọn quân phiệt) lợi dụng chế độ đó để, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, khống chế các tông Bản sơn, Mạt tự trên khắp nước; đến thời Minh trị Duy tân vẫn theo chế độ đó. Mãi đến sau hai trận thế giới đại chiến, phái Mạt tự mới giành được địa vị độc lập về mặt pháp luật.
Bản mạt cứu cánh đẳng
本末究竟等; C: běnmò jiùjìngděng; J: hon-matsu kyūkyōdō; |Toàn thể nền tảng đều thành tựu; Toàn thể phần cơ bản đều trọn vẹn. Một trong 10 như thị theo kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
Bản mạt cứu cánh đẳng 本末究竟等
[ja] ホンマツキュウキョウドウ honmatsu kyūkyōdō ||| Complete fundamental whole; complete fundamental wholeness. One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.5c13〕See . => Toàn thể nền tảng đều thành tựu; Toàn thể phần cơ bản đều trọn vẹn. Một trong 10 Như thị theo kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị 十如是.
Bản mạt 本末
[ja] ホンマツ honmatsu ||| "Roots and branches," thus, beginning and end, essential and superfluous, etc. => 'Gốc rễ và cành nhánh'; đầu và cuối, thiết yếu và vô dụng, v.v...
bản mẫu
Màtrka (S). Basket of abhidharma.
bản mẫu tạng
Mātṛka (S)Hành mẫu tạng, Ma đức lặc già, Ma đát lí ca, Ma đa la ca, Ma Di1- Tên gọi Luận tạng vì Luận tạng là mẹ các tạng. 2- Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em. 3- Tên vị tổ đời thứ 10 của dòng họ Thích Ca.
bản mật
(本謐) (1606 - 1665) Vị tăng tông Lâm tế vào đầu đời Thanh, cuối đời Minh. Hoặc gọi Hạnh mật. Người châu Xương, Cổ du (tỉnh Hà bắc), họ Kim. Hiệu là Nhị ẩn. Lúc nhỏ xuất gia ở chùa làng, là chùa Ngọa Phật trên núi Văn bút, sau đến tham học sư Phá sơn Hải minh ở Đông tháp. Sau lại tham học các sư Thiên ẩn Viên tu ở Khánh sơn, Tuyết kiệu Viên tín ở Kính sơn. Rồi đến tham cứu Mật vân Viên ngộ ở Thiên đồng, rất là khổ hạnh, một đêm kia chợt tỉnh ngộ. Sư Thông kì ở Lâm dã kế vị Viên ngộ trú trì chùa Thông huyền, bèn mời Bản mật về để thay thế mình và trao kí biệt. Sư đã từng ở qua các chùa Pháp tường tại Diệm khê, chùa Pháp nhẫn ở Hoa đình, chùa Long xuyên ở Gia hòa và chùa Bảo an ở Kinh khê. Năm Khang hi thứ 4 nhập tịch, thọ sáu mươi tuổi. Ngũ đăng toàn thư quyển 7 tắc 18 thì bảo sư tịch vào năm Khang hi thứ 3. Các trứ tác của sư gồm có: Nhị ẩn Mật Thiền sư ngữ lục 10 quyển, Thi văn tập, tất cả vài chục quyển.
bản mệnh nguyên thần
(本命元辰) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ bản tính. Bản mệnh, chỉ Can (thiên can), Chi (địa chi) năm người ta sinh ra. Gặp sao của Can, Chi, gọi là sao bản mệnh. Nguyên thần, có nghĩa là vận mệnh của người ta nhận sự giúp đỡ của hai sao Âm, Dương, và dùng Dương tám, Âm sáu phối hợp để tính toán xem số. Vì thế, Bản mệnh và Nguyên thần đề là các sao chi phối vận mệnh của con người. Thiền tông lấy đó để thí dụ bản tính của chính mình.
bản mệnh tinh
(本命星) Sao bản mệnh. Theo các kinh điển của Mật giáo nói, thì sao bản mệnh nằm trong Bắc đẩu thất tinh, là sao năm người ta sinh ra. Cứ theo kinh Tú diệu, Bắc đẩu hộ ma pháp, Phạm thiên hỏa la cửu diệu chép, thì trong bảy sao Bắc đẩu đều có tính loại tốt, xấu khác nhau, do đó mà quyết định sự lành, dữ của vận mệnh con người, như người sinh năm Tí, thì sao bản mệnh là sao Tham lang, người sinh năm Sửu, Hợi thì sao bản mệnh là sao Cự môn. Lại nếu đem mười hai cung phối hợp với tháng sinh của người ta, thì gọi là Bản mệnh cung; đem hai mươi bảy (hoặc hai mươi tám) tú, bảy diệu, phối hợp với ngày sinh của người ta, thì gọi là Bản mệnh tú, Bản mệnh diệu. Cứ theo kinh Tú diệu quyển hạ chép, thì phép tính Bản mệnh tú là: nếu người sinh vào ngày 17 tháng 2, thì trước hết lấy ngày 17 làm đơn vị, rồi tính thêm mười ba ngày nữa, cộng là ba mươi ngày, tức từ sao Dốc tháng 2, qua các sao Cang, Đê, Phòng đến Chẩn hai mươi bảy, là một vòng, trừ số này ra, còn lại ba, tức lại tính qua Dốc, Cang, Đê, đến Đê là hết, thì người ấy sinh nhằm sao Đê, vậy sao Đê là sao bản mệnh của người ấy. Còn phép tính lấy năm sinh trong mười hai Chi mà suy biết sao bản mệnh, thì sự phân phối tính toán ấy do đâu, chưa được rõ.
bản mệnh đạo trường
(本命道場) Tức là đạo tràng cầu nguyện sao bản mệnh của Hoàng đế trấn giữ đất nước. Đạo tràng Trấn quốc ở chùa Thanh long đời Đường tức là đạo tràng bản mệnh của Hoàng đế. (xt. Trấn Quốc Đạo Tràng).
bản mệnh, mạng
Life, fate, destiny. Bản mệnh vững, to be bleesed with a secure life.
bản nang già trá
(本囊伽吒) Phạm: pùrịaghaỉa. Còn gọi là Bản na già tra. Dịch ý là đầy bình; hoặc dịch là bình công đức, bình hiền, bình như ý. Cái bình này tượng trưng cho tướng điềm lành, chúc phúc. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 13 chép, nếu ai được cái bình này mà mong cầu các thứ hiện báo trong thế gian, thì không một điều gì không như ý. Ngoài ra, cũng đem hình dáng tròn trịa đầy đặn của cái bình tượng trưng tướng tốt của Phật, như tướng cái chậu đầy đặn tròn trịa nói trong kinh Quán Phật tam muội hải quyển 3 phẩm Quán tưởng; hay như kinh Bất không quyên sách đà la ni phẩm Thành tựu duyên pháp, nói về phép tạo tượng bồ tát Quan thế âm, là ở trên đàn đặt những chiếc bình đầy đặn, đều lấy hình dáng tròn đầy của bình, chậu để tượng trưng các bộ phận tròn trịa đầy đặn trong thân hình của Phật, Bồ tát.[X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Hiền Bình).
Bản nghiệp anh lạc kinh sớ
本業瓔珞經疏; C: běnyè yīngluò jīng shū; J: hongyō yōraku kyō so; |1 quyển.
Bản nghiệp anh lạc kinh 本業瓔珞經疏
[ja] ホンギョウヨウラクキョウソ Hongyō yōraku kyō so ||| Benye yingluo jing shou; 1 fasc. T 2798.85.745-761. (A commentary on T 1485) => (c: Benye yingluo jing shou); 1quyển. Bản nghiệp kinh 本業經 [ja] ホンギョウキョウ Hongyō kyō ||| The Benye jing; shortened title for two possible different works, either the Pusa yingluo benye jing 菩薩瓔珞本業經 (T 1485.24.1010b-1023a) or the Foshuo benye jing 佛説菩薩本業經 (T 281). => (c: Benye jing); tên gọi tắt của 1 trong 2 bản kinh khác nhau, hoặc là Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh (c: Pusa yingluo benye jing 菩薩瓔珞本業經), hoặc là Phật thuyết bồ-tát bản nghiệp kinh (c: Foshuo benye jing 佛説菩薩本業經 ).
Bản nghiệp kinh
本業經; C: běnyè jīng; J: hongyō kyō;|Tên gọi tắt của 1 trong 2 bản kinh khác nhau, hoặc là Bồ Tát anh lạc bản nghiệp kinh (菩薩瓔珞本業經), hoặc là Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh (佛説菩薩本業經).
bản nguyên
(本源) Chỉ tự tính thanh tịnh tâm. Cũng tức là chỗ căn bản. Tự tính của tâm chúng sinh xưa nay vốn trong sạch, nhưng vì những khách trần phiền não khởi lên sau này mà làm cho tự tính nhơ nhuốm. Những người có trí nghe được Thánh pháp biết rõ điều đó, rồi siêng năng tu tập tâm tính để trở về cái nguồn gốc trong sạch ấy mà được giải thoát. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 997 hạ) nói: Bấy giờ, đức Phật Lô xá na rất vui mừng, hiện Pháp thân tam muội bản nguyên thành Phật thường trụ, thể tính sáng lạn như hư không. Trong bài tựa kinh Viên giác lược sớ (Đại 39, 523 trung), Bùi hưu nói: Cái gọi là trong sạch sáng suốt mầu nhiệm, thấu triệt linh thông, sừng sững tồn tại một mình, đó là bản nguyên của chúng sinh, cho nên gọi là Tâm địa. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.19 Bảo phúc tòng triển truyện].
bản nguyên thanh tịnh đại viên kính
(本源清淨大圓鏡) Có nghĩa là tính Phật (bản nguyên) sẵn có của chúng sinh trong suốt sáng láng cũng như tấm gương tròn lớn không hề dính dấp bụi nhơ. Đây là từ ngữ trong kinh Viên giác, cực tả cái trong sáng vô nhiễm của bản tính.
bản nguyện
Pūrva-praṇidhāna (S),, Original Vows.Bản thệ, túc nguyệnLời nguyện của các chư Phật hay Bồ tát (Phật A di đà có 48 lời nguyện, Phật Thích Ca có 500 lời nguyện).
; Pàrvapranidhàna (S). The original vow, or vows, of a Buddha or Bodhisattva, e.g. the fourty eight of Amitàbha.
; (本願) Phạm:pùrva praịidhàna. Chỉ sự thề nguyền ở Nhân vị, (giai vị tu nhân). Nói đủ là Bản hoằng thệ nguyện (thề nguyền xưa rộng lớn). Còn gọi là Bản thệ, Túc nguyện (nguyện kiếp trước). Tức là lời thề nguyền cứu độ chúng sinh mà Phật và bồ tát phát ra ở các kiếp quá khứ trước khi thành quả Phật. Còn ở nhân vị mà phát nguyện đến ngày nay được quả, cho nên, đối với quả vị mà gọi là Bản thệ (thề xưa). Lại chữ bản được hiểu là căn bản, tuy nói là tâm Bồ tát rộng lớn, thề nguyền cũng vô lượng, nhưng chỉ lấy nguyện này làm gốc (tức nguyện cứu độ chúng sinh), nên gọi là Bản nguyện. Nói theo nghĩa rộng thì đầu mối của sự phát nguyện cũng gọi là hoằng thệ (thề rộng). Từ ngữ Bản nguyện có xuất xứ từ kinh Vô lượng thọ quyển thượng, luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 phẩm Dị hành. Bản nguyện của Phật và Bồ tát phát có nhiều loại, như hết thảy Bồ tát đều phải phát tâm Bồ đề, phát nguyện kiên trì cứu độ chúng sinh, phát nguyện đoạn trừ phiền não, chứa góp đức hạnh, cho đến nguyện thành tựu quả Phật, như thế gọi là tổng nguyện trang nghiêm v.v... Nếu phát đại nguyện riêng rẽ, như nguyện làm cho cõi nước Phật trong sạch, các cõi nước trong mười phương trong sạch, thành tựu chư chúng sinh, hoặc nguyện ở trong cõi nước ô uế mà thành Phật cứu độ các chúng sinh khó cảm hóa. Những thệ nguyện như thế, theo ý thích riêng của mỗi Bồ tát mà phát, thì gọi là biệt nguyện, như bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà (bồ tát Pháp tạng) được chép trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng (bản tiếng Phạm chép có bốn mươi sáu nguyện, những bản dịch của các kinh điển khác cũng chép có ba mươi sáu nguyện hoặc hai mươi bốn nguyện), năm trăm đại nguyện của Phật Thích ca được chép trong kinh Bi hoa quyển 7, và mười thiện nguyện do bồ tát Di lặc phụng hành nói trong kinh Di lặc bồ tát sở vấn bản nguyện v.v... đều là biệt nguyện cả. Lại như năm nguyện nói trong kinh Đạo hành bát nhã quyển 6 phẩm Đát kiệt ưu bà di, hai mươi chín nguyện nói trong kinh Phóng quang bát nhã quyển 13 phẩm Mộng trung hành và hai mươi nguyện nói trong kinh A súc Phật quốc quyển thượng v.v... cũng đều thuộc biệt nguyện. Ngoài ra, còn đặc biệt vì cứu bệnh tật hoặc diệt trừ hết thảy phiền não, sự sợ hãi cho chúng sinh mà lập chí nguyện, như mười hai nguyện nói trong kinh Dược sư Như lai bản nguyện, bốn mươi bốn nguyện nói trong kinh Dược sư lưu li quang thất Phật bản nguyện công đức quyển thượng, Quan thế âm cứu khổ nguyện trong kinh Bi hoa v.v... Lại còn mười nguyện lớn của bồ tát Phổ hiền và kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) nói mười thứ hành nguyện của các Bồ tát Sơ địa, Sơ học phát, trong đó, nguyện mới phát ở hiện tại gọi là Duy phát nguyện để phân biệt với Túc nguyện đã phát ở nhân vị. Sư Tuệ viễn ở Lư sơn đem bốn mươi tám nguyện Di đà chia làm ba nguyện là Nhiếp pháp thân, Nhiếp tịnh độ và Nhiếp chúng sinh. Đại sư Thiện đạo giải thích nguyện thứ 18 là, người xưng niệm danh hiệu Phật A di đà (niệm Phật) thì đuợc nguyện Vãng sinh Tịnh độ, cũng tức là bất luận kẻ ác nào đều nhờ sức nguyện ấy mà được cứu. Tông Tịnh độ coi nguyện thứ 18 là vương bản nguyện (vua các bản nguyện). Vị khai tổ của Tịnh độ chân tông Nhật bản là Thân loan, đem tám nguyện trọng yếu trong bốn mươi tám nguyện chia làm Chân nguyện (nguyện chân thực), Giả nguyện (nguyện giả tạm), tức sáu nguyện 11, 12, 13, 17, 18, 22 là chân, và hai nguyện 19, 20 là giả, gọi là tám nguyện chân giả. Đồng thời, trong nguyện 18, chúng sinh phát nguyện niệm Phật, nếu không được vãng sinh, thì Ngài (Phật A di đà) không lấy Chính giác (không thành Phật), cho nên, nguyện 18 cũng gọi là Nhược bất sinh giả thệ (nguyện nếu người chẳng được sinh). Ngoài ra, những mục tiêu, đối tượng mà bản nguyện cứu giúp, gọi là Bản nguyện thực cơ, hoặc Bản nguyện chính cơ, tức chỉ chúng sinh trong đời mạt nhơ đục. Bản nguyện thề thực hành niệm Phật, gọi là Bản nguyện hành. Lại tán thán đức Phật A di đà là Bản nguyện công đức tụ, vì bản nguyện của Phật Di đà ở nhân vị đã nhiều kiếp chứa góp công đức vậy. [X. kinh Bi hoa Q.2 phẩm Đại thí; kinh Pháp hoa phẩm Thí dụ, kinh Đại A di đà Q.thượng; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17 phẩm Hư không tạng bồ tát; kinh Bình đẳng giác Q.1; kinh Văn thù sư lợi Phật độ nghiêm tịnh; kinh Địa tạng bản nguyện; luận Câu xá Q.9; Vãng sinh luận chú; Vãng sinh lễ tán; An lạc tập; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Thệ Nguyện, Nguyện).
bản nguyện công đức tụ
(本願功德聚) Là một trong ba mươi bảy đức hiệu của Phật A di đà. Trong Tán A di đà Phật kệ của sư Đàm loan, có câu Cúi lạy Bản nguyện công đức tụ, tức dùng để biểu thị tên gọi khác của Phật A di đà. Thông thường, Công đức tụ cũng được dùng làm tên gọi khác của chư Phật, vì chư Phật khi còn ở nhân vị đã chứa góp vô lượng công đức mới thành thân Phật. Về Phật Di đà mà nói, thì bản nguyện là nhân năng thành, mà công đức tụ là quả sở thành. Nhân hành và quả đức đều thành tựu đầy đủ, mà đức thì tụ tập vào Phật thể, vì thế, tán thán Phật A di đà là Bản nguyện công đức tụ.
bản nguyện lực
(本願力) Chỉ lực dụng của bản nguyện. Nói tắt là Nguyện lực. Cũng gọi là Túc nguyện lực, Đại nguyện nghiệp lực. Tức là cái sức thề nguyền mà chư Phật và Bồ tát ở các kiếp quá khứ, trước khi thành Phật, đã phát khởi lúc còn ở nhân vị, và đã thành tựu được thệ nguyện ấy ở quả vị. Theo bồ tát Thế thân nói trong luận Vãng sinh, thì sức bản nguyện của Phật, có khả năng nhanh chóng thành tựu đầy đủ vô lượng công đức thù thắng như bể báu lớn. Lại trong Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 1, đại sư Thiện đạo đời Đường nói, hết thảy phàm phu thiện ác đều nhờ sức nguyện lớn của Phật A di đà làm duyên tăng thượng mà được vãng sinh Tịnh độ. Hoặc chia bản nguyện và lực làm hai, bản nguyện chỉ lời thề nguyền ở nhân vị, lực chỉ thần lực của quả thượng. Như sư Đàm loan, trong Vãng sinh luận chú, khi giải thích về Quán Phật bản nguyện lực, đã nói (Đại 40, 840 thượng): Nhờ vào bốn mươi tám bản nguyện của bồ tát Pháp tạng mà thành thần lực của A di đà Như lai ngày nay, nguyện để thành lực, lực để tựu nguyện, nguyện không luống phí, lực chẳng hư dối, lực nguyện hợp nhau, rốt ráo chẳng sai, vì thế nói là thành tựu. [X. kinh Quán vô lượng thọ; luận Câu xá Q.9]. (xt. Bản Nguyện).
bản nguyện nhất thật
(本願一實) Có nghĩa là bản nguyện của Như lai là cái lí chân thực bình đẳng duy nhất. Tịnh độ chân tông Nhật bản, kì vọng nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà được vãng sinh thành Phật, tức lấy pháp môn tha lực niệm Phật làm con đường tắt duy nhất để đạt đến Niết bàn chân thực, gọi là Bản nguyện nhất thực đại đạo. Vị khai tổ của Chân tông là Thân loan, trong Giáo hành tín chứng văn loại quyển 3 Tín quyển (Đại 83, 606 trung) nói: Đạo, tức là con đường thẳng bản nguyện nhất thực. [X. Cao tăng hòa tán].
bản nguyện tam tâm nguyện
(本願三心願) Tức là nguyện niệm Phật vãng sinh. Là nguyện thứ 18 trong bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà được liệt kê trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng, trong đó, bao gồm ba thứ tâm là Chí tâm, Tín nhạo, Dục sinh ngã quốc, vì thế cũng gọi là Tam tâm. Phật A di đà, khi còn ở nhân vị, đã từng phát bốn mươi tám nguyện cứu độ vô lượng chúng sinh; nếu chúng sinh có đầy đủ ba tâm chuyên chí niệm Phật, thì chắc chắn, nhờ vào nguyện thứ 18, sẽ được vãng sinh Tịnh độ.
bản nguyện tự
(本願寺) Là Bản sơn của Tịnh độ chân tông, một tông phái lớn nhất của Phật giáo Nhật bản. Chia làm hai chùa Đông và Tây. 1. Chùa Tây bản nguyện. Vị trí chùa nằm tại Kinh đô thị Hạ kinh khu Quật xuyên thông đường 6. Là bản sơn của phái chùa Bản nguyện thuộc Chân tông. Còn gọi là Bản phái Bản nguyện tự, hiệu núi là núi Long cốc. Tục gọi là A tây. Năm Hoằng trường thứ 2 (1262), vị khai tổ của Chân tông là Thân loan nhập tịch, môn đồ đem chôn ở Đông sơn Đại cốc. Chưa bao lâu, con gái của Thân loan là ni Giác tín và học trò là Hiển trí, dời đi chôn ở phía bắc Cát thủy vào năm Văn vĩnh thứ 9 (1272), xây dựng nhà Ngự ảnh và Qui sơn Thiên hoàng ban hiệu là Cửu viễn thực thành A di đà Phật bản nguyện tự, đồng thời, đặt vào hàng chùa nhà vua. Vị trú trì đời thứ 8 là Liên như, muốn vãn cứu vận suy đồi của chùa, bèn ra sức hoằng pháp, tín chúng đến đông, thanh thế mỗi ngày một thịnh, tín đồ của sơn môn Tỉ duệ thuộc tông Thiên thai thấy thế ghen ghét, nên vào năm Khoan chính thứ 6 (1465), phóng hỏa đốt tan chùa này. Liên như chạy đến chùa Viên thành ở Cận giang, sau lại gặp loạn, lần hồi trốn đến Bắc lục, thiết lập đạo tràng, giáo hóa tín chúng ở bảy châu. Đến năm Văn minh thứ 11 (1479), xây dựng chùa Bản nguyện núi Tùng lâm tại địa khu Kinh đô sơn khoa. Một lần nữa, chùa này lại bị tín đồ tông Nhật liên đốt cháy rụi (1553). Vị trú trì đời thứ 10 là Chứng như, lấy chùa Bản nguyện Thạch sơn ở Đại phản làm Bản sơn, lại khởi sự. Năm Thiên chính thứ 8 (1580), Hiển như đời thứ 11 và Chức điền tín trường cùng mưu dời tượng Tổ đến Kỉ châu lộ sâm, sau đó, dời đến Hòa tuyền (phủ Đại phản) bối trủng, rồi lại dời đến Nhiếp tân (thị trấn Đại phản) thiên mãn. Năm Thiên chính 19 (1591), tiếp nhận Phong thần tú cát hiến đất cho chùa, là khởi nguyên của chùa Tây bản nguyện ngày nay, Hoài như đời thứ 12 mới bắt tay vào việc kiến tạo. Các nhà cửa hiện nay được kiến thiết vào những năm sau trận hỏa tai năm Nguyên hòa thứ 3 (1617) gồm có các kiến trúc Tổng môn, Đường môn, Tổ đường, Thư viện, Kinh tạng, Canh tác các, Hổ chi gian, Thanh liên xã, Lăng hoa đình v.v... [X. Tùng lâm tập Q.9; Đại cốc bản nguyện tự thông kỉ Q.1 đến Q.5, Q.9; Chân tông toàn sử; Bản nguyện tự luận]. 2. Chùa Đông bản nguyện. Vị trí chùa nằm tại Kinh đô thị Hạ kinh khu Ô hoàn thông đường 7. Là Bản sơn của phái Đại cốc thuộc Chân tông. Cũng gọi là Đại cốc bản nguyện tự. Tục gọi là A đông. Năm Khánh trường thứ 7 (1602), Đức xuyên Gia khang hiến đất cho con trưởng của Hiển như là Giáo như để làm chùa, do đó, Giáo như sáng lập chùa Đông bản nguyện. Gia khang thỉnh được tượng Tổ ở chùa Diệu an tại Thượng dã tiền kiều về thờ. Năm Khoan vĩnh thứ 16 (1693), Tướng quân Gia quang lại hiến đất để mở chùa rộng thêm. Niên hiệu Vạn trị năm đầu (1658) trở đi, tiếp tục thiết lập các viện riêng, như viện Đại cốc, viện Thiển thảo v.v... Song, niên hiệu Khoan chính năm đầu (1789), năm Văn chính thứ 6 (1823), nhà cửa đã từng vài lần bị lửa thiêu rụi; những kiến trúc hiện nay thuộc thời đại Minh trị, có Đại sư đường, Sắc sứ môn, Cung ngự điện, Đại huyền quan, Đại tẩm điện, Tập hội sở, Bảo tàng v.v... trong đó, to rộng nhất là Đại sư đường, được kiến trúc vào năm Minh trị thứ 13, và phải mất mười lăm năm mới hoàn thành. [X. Tùng lâm tập Q.9; Chân tông cố thực truyền lai sao; Đại cốc bản nguyện tự thông kỉ Q.6; Đại cốc phái bản nguyện tự yếu lãm].
bản nguyện đề hồ diệu dược
(本願醍醐妙藥) Chỉ bản nguyện của Phật A di đà. Tức nhờ vào bản nguyện của Phật Di đà thì bất luận kẻ ác như thế nào cũng đều được cứu vớt, cho nên dùng thuốc đề hồ nhiệm mầu bậc nhất để thí dụ. Giáo hành tín chứng quyển 3 phần cuối quyển Tín (Đại 83, 614 hạ), nói: Cõi đời nhơ đục, quần sinh uế ác nên cầu niệm chân tâm kim cương bất hoại; chấp trì bản nguyện đề hồ diệu dược.
bản ngã
Pudgala (S). Self.
; Sự tin tưởng vào bản ngã dẫn tới vị kỷ và dục vọng, do đó làm cản trở việc thực chứng về tính đồng nhứt của đời sống cũng như việc đạt được đại giác—Ourselves—Atman—Soul—Ego—The belief in ego creates and fosters egoism and desire, thus preventing the realization of the unity of life and the attainment of enlightenment.
bản ngã tương hợp
Self-compatible.
bản nhiên của diệt
Nirodhātu (S).
bản nhiên của từ biệt
Prahāṇadhātu (S).
bản nhiên thanh tịnh
Prakṛti-prabhāsvaram (S)Tự tính thanh tịnh.
; Prakrti-prabhàsvaram (S). Originally pure. Also Tự tính thanh tịnh.
bản nhân diệu
(本因妙) Là một trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Có nghĩa là trí tuệ, tu hành và giai vị của đức Như lai khi mới thành đạo đều là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, đó là bản thời trí diệu, bản thời hành diệu và bản thời vị diệu. Tức nói rõ về nhân tu hành của Bản Phật trong các thời quá khứ lâu xa. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản như
(本如) (981 - 1050) Vị tăng thời Bắc Tống. Người Tứ minh cú chuơng (Ngân huyện tỉnh Triết giang). Lúc nhỏ xuất gia ở chùa Quốc minh, Ngân huyện, thờ Tri lễ Pháp trí làm thầy, tinh thông phép Tam quán thập thừa của Thiên thai, văn từ đứng đắn nhã nhặn, theo tông Tịnh độ. Năm Đại trung tường phù thứ 4 (1011) đời Bắc Tống, sư ra ở chùa Thừa thiên núi Đông dịch ba mươi năm, giương cao cờ pháp, diễn giảng kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn, kinh Kim quang minh, kinh Quán vô lượng thọ, Ma ha chỉ quán v.v... môn đồ thường trực có đến năm, sáu trăm người. Thường tập họp một trăm vị tăng tu sám Pháp hoa kéo dài một năm, thấy điềm lành luôn. Năm Khánh lịch thứ 2 (1042), vua ban hiệu Thần chiếu pháp sư và áo bào tía. Nhân ngưỡng mộ di phong Lư sơn, sư cùng với Thừa tướng Chương tuân công và một số người khác kết xã Bạch liên, siêng tu niệm Phật, sáu, bảy năm sau, chùa trở nên to lớn và vua Nhân tông ban ngạch là Bạch liên, vì thế gọi là chùa Bạch liên. Một thời, các đại nhân danh sĩ được ghi tên vào Bạch liên xã đều lấy làm vinh dự. Tháng 5 năm Hoàng hựu thứ 3, sư nhập tịch, thọ bảy mươi tuổi, tăng lạp (tuổi hạ) năm mươi ba. Sư có làm Nhân vương sám nghi, Phổ hiền hành pháp kinh nghĩa sớ lưu hành ở đời. Học trò nối pháp có: Thần ngộ Xứ khiêm, Pháp chân Xứ hàm, Lô am Hữu nghiêm, Năng nhân Pháp bảo, Thừa thiên Hoài nhã, Thiên thai Bảo tiêm, Tiền đường Toàn nghĩa v.v... [X. Thích môn chính thống Q.2; Tân tục cao tăng truyện Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.8, Q.12, Q.25, Q.27, Q.44, Q.45; Thích thị kê cổ lược Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.6; Vãng sinh tập Q.thượng, Tịnh độ thánh hiền học Q.3].
bản nhị
(本二) Phạm: Pùrva dvitìya. Dịch âm là Bao la na địa da. Còn gọi là Cố nhị...... Chỉ vợ của tỉ khưu khi còn ở nhà. Bản, có nghĩa là cũ, cố cựu, đối lại với lúc đã xuất gia mà gọi lúc còn ở nhà là bản. Nhị, là nghĩa phối ngẫu, sánh đôi. Bản nhị, tức là vợ chồng sánh đôi khi xưa. Luật Ngũ phần quyển 1 (Đại 22, 3 trung), nói: Tôi cùng bản nhị làm hạnh nhơ bẩn. [X. Huyên ứng âm nghĩa Q.14].
bản niết bàn diệu
(本涅槃妙) Là Diệu thứ tám trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu của đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Có nghĩa Niết bàn mà Bản Phật thị hiện là không thể nghĩ bàn. Đây chẳng phải Niết bàn thị hiện ra để điều phục những chúng sinh lười biếng, mà là Bản thời Niết bàn vốn thường trụ vắng lặng. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản năng
Instinctive tendencies—Instinct—Instintive—Instinctively.
Bản phần
本分; C: běnfèn; J: honbun;|Phương diện mà con người thường hiện hữu với Phật tính vốn có.
Bản phần nhân
本分人; C: běnfèn rén; J: honbunnin;|Người vận dụng một cách rõ ràng Phật tính vốn có trong mình thành hiện thực.
Bản phần nhân 本分人
[ja] ホンブンニン honbunnin ||| An 'original share person.' A person who has clearly actualized their original endowment of Buddhahood. => Người vận dụng một cách rõ ràng Phật tính vốn có trong mình thành hiện thực.
Bản phần 本分
[ja] ホンブン honbun ||| 'Original Share' (in Buddhahood). The aspect of the human being as being originally endowed with the Buddha-nature. => Phương diện mà con người thường hiện hữu với Phật tính vốn có.
bản phật
The Buddha-nature within oneself; the original Buddha.
; (本佛) Chỉ Phật bản môn, bản địa (Phật gốc). Kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Như lai thọ lượng (Đại 9, 42 hạ), nói: Ta thành Phật đến nay đã rất lâu xa, sống lâu vô lượng a tăng kì kiếp, thường trụ chẳng diệt. Đây là thuyết minh đức Thế tôn Thích ca bản Phật đã thực thành từ lâu xa rồi. Nếu đối lại với Bản Phật mà nói, thì đức Thế tôn Thích ca mới thành Chính giác, gọi là Tích Phật. Ngoài ra, bản Phật còn chỉ tính Phật trong tự tâm. Chân tông của Nhật bản thì lấy Phật A di đà làm vua trong chư Phật, là Bản Phật, còn chư Phật khác hiện ở trong biển Cực lạc thì là Mạt Phật (Phật ngọn). (xt. Bản Tích Nhị Môn).
bản quyến thuộc diệu
(本眷屬妙) Là Diệu thứ bảy trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tức những người nghe nói pháp ở bản thời là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Như vô lượng Bồ tát từ dưới đất hiện lên rồi ở trong cõi Pháp tính tịch quang giữa hư không, lấy Bản Phật làm thầy, ngồi đầy trong Pháp hội Bản môn thuyết pháp. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần dưới]. (xt. Thập Diệu).
bản quả diệu
(本果妙) Là Diệu thứ hai trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tức là Bản quả do bản địa viên diệu rốt ráo chứng được, có đủ ba đức chân tính, quán chiếu (giác), tư thành (do đường bản hữu mà đến), mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản quốc tự
(本圀寺) Chùa Bản quốc. Là một trong bốn đại bản sơn của tông Nhật liên Nhật bản. Vị trí chùa nằm tại Kinh đô thị Quật xuyên đường 5. Hiệu núi là núi Đại quang. Vào năm Kiến trường thứ 5 (1253), Nhật liên dựng một ngôi nhà tranh ở Tùng diệp cốc tại Liêm thương, gọi là nhà Pháp hoa. Trinh hòa năm đầu (1345), Túc lợi tôn thị mới di đến địa chỉ hiện nay. Chùa ấy đã từng bị tín đồ sơn môn Tỉ duệ phóng hỏa thiêu hủy, nhờ được bảo hộ mà xây dựng lại, mở trường, họp chúng học tập. Nay còn các kiến trúc Nhân vương môn, Tổ sư đường, Thích ca đường, Kinh tạng, chung lâu v.v... [X. Bản quốc tự văn thư; Bản hóa biệt đầu Phật tổ thống kỉ Q.17].
bản quốc độ diệu
(本國土妙) Là Diệu thứ ba trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông thiên Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tức cái cõi nước mà bản địa quả Phật cư trú là không thể nghĩ bàn. Kinh Pháp hoa phẩm Như lai thọ lượng (Đại 9, 42 trung), nói: Từ xưa đến giờ, ta thường ở thế giới Sa bà này, nói pháp giáo hóa, cũng ở trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì cõi nước khác, dẫn dắt làm lợi ích chúng sinh. Trong đó, Sa bà là cõi Đồng cư của bản thời, còn các nơi khác là cõi Phương tiện, cõi Thực báo, cõi Tịnh quang của bản thời. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản sanh chú giải
Xem Bản sanh Nghĩa thích.
bản sanh man
Katakamala (S)Truyện cổ Phật giáo, có 35 truyện Bản sanh và phần giải thích pháp nghĩa.
bản sanh nghĩa thích
Jātakatthakatha (S),, Jātakatthavanāṇa (P)Bản sanh chú giảiTên một bộ luận kinh.
bản sanh ngã chấp
The natural or instinctive cleaving to the idea of self or soul.
Bản sinh
本生; C: běnshēng; J: honshō; |Hán dịch chữ Xà-đa-già (闍多伽, s: jātaka) từ tiếng Phạn, là 1 trong 12 thể loại kinh văn Phật giáo.
bản sinh an đồ luận sư
(本生安荼論師) Là một phái ngoại đạo ở Ấn độ xưa. Trong luận Ngoại đạo tiểu thừa Niết bàn của mình, bồ tát Đề bà đem chia Niết bàn do tất cả ngoại đạo chủ trương làm hai muơi loại, mà Bản sinh an đồ luận sư tức là một phái trong số đó. Luận sư phái này cho rằng, trong vũ trụ vốn không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú, hư không, đất liền, mà duy chỉ có nước tồn tại, lúc đó có đại an đồ sinh ra, hình dáng cũng như quả trứng gà màu vàng, khi thành thục rồi thì vỡ ra làm hai mảnh, một mảnh ở trên là trời, một mảnh ở dưới là đất, lúc đó sinh ra Phạm thiên, là tổ của hết thảy chúng sinh, nuôi nấng hết thảy sinh vật, vô sinh vật, ở những nơi mà các sinh vật và vô sinh vật ấy tan biến mất, thì gọi là Niết bàn.
bản sinh chú
(本生注) Pàli: Jàtakaỉỉhakathà. Còn gọi là Bản sinh nghĩa thích (Pàli: Jàtakaỉỉha vaịịanà), Bản sinh thích (Pàli: Jàtaka vaịịanà). Không rõ tác giả. Bộ sách viết bằng tiếngPàli, nội dung là sự chú thích kinh Bản sinh (Pàli: Jàtaka) của Tiểu bộ trong tạng kinhPàli, toàn bộ sách được chia làm hai loại là Nhân duyên cố sự (Pàli: Nidàna kathà) và Chú thích bản văn. Nhân duyên cố sự gọi chung là Bản sinh kinh Phật truyện, nói rõ sự tích nhân duyên tu hành và nửa kiếp trước của đức Thế tôn Thích ca, tất cả chia làm ba chương là Viễn nhân duyên (Pàli: Dùre nidàna, nhân duyên xa), Bất viễn nhân duyên (Pàli: Avidùre nidàna, nhân duyên không xa), và Cận nhân duyên (Pàli: Santike nidàna, nhân duyên gần): 1. Viễn nhân duyên ........., nghĩa là bốn A tăng kì mười muôn kiếp trước, tiền thân đức Thích tôn là Bà la môn Thiện tuệ (Pàli: Sumedha brahmaịa), theo đức Phật Nhiên đăng (Pàli: Dìpaôkara buddha) nhận kí biệt thành Phật trong vị lai, phát nguyện tu hành mười Ba la mật. Sau lại đối trước đức Phật Kiều trần như (Pàli: Koịđaĩĩâăa buddha), cho đến Phật Ca diếp (Pàli: Kassapa buddha), tất cả hai mươi ba đức Phật mà nhận sự kí biệt thành Phật, thành tựu đầy đủ tám thứ Bồ đề tư lương và mười hạnh Ba la mật, thụ sinh trên cõi trời Đâu suất v.v... Đồng thời, có phụ thêm chủng tính của Phật và chú thích rõ các hành tàng (Pàli: Cariyà piỉaka) siêu quần bạt tụy của ngài. 2. Bất viễn nhân duyên..........., trước hết có Thế gian trang nghiêm thiên (Pàli: Lokbyùhà), dự báo đức Phật sẽ xuất hiện, lại nhân sự thỉnh cầu khẩn khoản của chư thiên, đức Thích tôn mới thác thai giáng sinh, cho đến xuất gia, thành đạo. 3. Cận nhân duyên , ghi việc sau khi đức Phật thành đạo bảy bảy (49) ngày, tự thụ pháp lạc, nhân việc Phạm thiên khuyến thỉnh mà quay bánh xe pháp lần đầu tiên, cho đến việc các đệ tử qui Phật, thiết lập tinh xá Kì viên v.v... đều có ghi chép tỉ mỉ rõ ràng. Trong văn hiến Pàli, các nhân duyên sự tích trên đây là truyện Phật có tổ chức nhất, so với truyện Phật bằng văn Phạm và Hán dịch, thì Phật truyện này ít tô vẽ hơn cả. Toàn văn lấy văn trường hàng, (văn xuôi) làm chủ, có hai trăm chín mươi tám bài kệ tụng xen kẽ. Kế đến chú thích bản văn thì trong có năm trăm bốn mươi bảy thứ bản sinh, mỗi thứ bản sinh chia làm năm bộ phận để giải rõ, đó là sự tích hiện tại (Pàli: paccuppanna vatthu), sự tích quá khứ(Pàli: atìta vatthu), bản kệ, bản thích (Pàli: veyyàkaraịa), và liên lạc (Pàli: samodhàna). Trong đó, sự tích hiện tại thuộc phần tựa, trình bày bản sinh và nguyên lai của đức Thích tôn; sự tích quá khứ chép các nhân duyên tu hành ở quá khứ khi đức Thích tôn còn là Bồ tát, tức là sự tích tiền thân của ngài, đồng thời, có phụ thêm kệ kinh Bản sinh. Phần kệ thích thì giải rõ về nghĩa tiếng của bản kệ, phần liên lạc thì nối liền kiếp trước với hiện tại. Năm trăm bốn mươi bảy thứ bản tụng được giải thích, về thứ tự và nội dung, đều giống với kinh Bản sinh trong Tiểu bộ. Cứ theo Thánh điển sử (Pàli: Gandha vaôsa) chép, thì sách này là do ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa) dịch từ thổ ngữ Tích lan được lưu truyền mà thành, nhưng thuyết này vẫn chưa được xác định. Lại học giả Phật giáo người Anh là Đại vệ tư (Rhys Davids, 1843 - 1922), cho rằng sách này được hoàn thành vào thế kỉ thứ V, nhưng mất tên người biên tập. Trong các sự tích bản sinh tiếng Phạm, tiếngPàli và Hán dịch hiện còn đến nay, thì nội dung của bộ sách này bao la trác tuyệt nhất, có thể nói là sách tập đại thành của các sự tích bản sinh từ đời xưa đến nay. Nhưng trong các sự tích bản sinh mà sách này thu tập, thì chỉ có không quá một trăm sáu mươi thứ là giống với nội dung của văn Phạm và Hán dịch, kì dư thì duy sách này mới có. Ngoài ra, cũng có không ít bản sinh được thu trong văn Phạm và Hán dịch, nhưng chưa được thu chép vào sách này. Sách này đã có xuất bản nguyên văn (The Jàtaka together with its Commentary, 6 vols, London, 1877 - 1896; Bản sinh chú, 6 quyển, xuất bản vào các năm 1877 - 1896, Luân đôn), và bản dịch tiếng Anh (The Jàtaka, or Stories of the Buddha’s Former Births, 7 vols, Cambridge, 1895 - 1913, Bản sinh, hay sự tích các kiếp trước của đức Phật, 7 quyển, Đại học Cambridge xuất bản vào các năm 1895 - 1913), bản dịch tiếng Nhật (thu vào bản dịch Nhật của Nam truyền đại tạng kinh quyển thứ 28 đến 39) v.v... [X. H. J. Francis and E. J. Thomas; Jàtaka Tales, 1916; Rhys Davids: Buddhist Birth stories (Jàtaka Tales), 1880; Buddhist India; B. C. Law: A History ofPàliLiterature).
Bản sinh kinh
本生經; S, P: jātaka;|Là phần lớn nhất của Tiểu bộ kinh (p: khud-daka-nikāya), gồm 547 bài. Kinh này kể lại sự tích, các tiền kiếp của đức Phật Thích-ca, nói về các đệ tử và các người chống đối Ngài và chỉ rõ các Nghiệp (s: karma) đời trước đóng vai trò thế nào trong đời này.|Nhiều truyện trong Bản sinh kinh là truyện cổ Ấn Ðộ có trước cả thời đức Phật, nhưng phù hợp với nội dung cuốn kinh nên được đưa vào. Phần lớn các câu chuyện đều có những bài kệ và chính các câu kệ mới là tinh hoa của tập kinh này. Các tập truyện này trở thành nguồn cảm hứng của nhiều tranh tượng trong các đền chùa Phật giáo và thường được quần chúng Ðông nam á ưa thích. Ngày nay, Bản sinh kinh chỉ còn bản chữ Pā-li và chữ Hán, bản chữ Hán có lẽ được dịch từ một bản Phạn ngữ (sanskrit) đã thất truyền.
bản sinh kinh
Jàtaka (P). Collection of the stories of the Buddha's former births.
; (本生經) Bản sinh,Phạm,Pàli:jàtaka.Dịch âm là Xà đa già, Xà đà già, Xã đắc ca, dịch ý là Bản khởi, Bản duyên, Bản sinh đàm. Nói tắt là Sinh. Là một trong chín bộ kinh, một trong mười hai bộ kinh. Nội dung kinh điển Phật có thể chia làm chín thể loại, mười hai thể loại, gọi là chín bộ kinh, mười hai bộ kinh, kinh bản sinh tức là một thể loại trong đó. Chủ yếu ghi chép tường thuật các sự tích của đức Thích ca trong các kiếp quá khứ đã sinh làm nhiều loại thân hình và thân phận khác nhau mà tu hành đạo Bồ tát. Trong đó cũng gồm có những sự tích bản sinh liên quan đến các đệ tử như bồ tát Di lặc, và chư Phật như Phật A di đà. Trong kinh tạngPàli, ngoài bốn bộ Ni kha da (Pàli: nikàya, tương đương với A hàm Hán dịch), còn có bộ thứ năm là Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddaka nikàya), gồm mười lăm kinh điển, trong đó, kinh thứ 10 thu chép các loại sự tích bản sinh, miêu tả tường thuật đức Thích ca đã mang những thân hình quốc vương, thầy Bà la môn, lái buôn, đàn bà, và các loại động vật như voi, vượn, hươu, gấu v.v... , hoặc cứu chúng sinh qua khỏi tai nạn hiểm nguy, hoặc vì cầu Pháp mà tinh tiến tu hành các thiện nghiệp công đức. Toàn bộ có tất cả năm trăm bốn mươi bảy (hoặc bảo năm trăm bốn mươi sáu) loại sự tích bản sinh, phần nhiều viết bằng hai thể văn xuôi và văn vần, đồng thời, lại căn cứ theo thiên, đoạn dài ngắn hoặc số kệ tụng nhiều ít mà chia làm hai mươi hai tập (Pàli: nipàta, thiên), trong đó, tập thứ nhất đến tập thứ tám còn lập riêng tên phẩm. Tính chất của kệ trường thiên là sự tích bản sinh độc lập, đầu cuối nhất quán; kệ ngắn thì là những lời vàng nhắm mục đích cảnh tỉnh người đời, cũng như một loại đồng dao, phần nhiều không giống với thể văn sự tích bản sinh phổ thông. Cả hai đều không phải đã lấy kệ trong Bản sinh chú làm căn cứ, mà chỉ thu dụng đại ý trong các sự tích bản sinh mà thôi. Trong kinh đầy dẫy tinh thần hi sinh: giáo chỉ đại bi lợi tha của Phật giáo Đại thừa có lẽ cũng đã phôi thai từ đó; lại sáu pháp Ba la mật e cũng đã từ các loại bản sinh đàm này mà được phân loại và tổ chức thành các hạnh Bồ tát ấy chăng? Kinh Bản sinh vănPàli được biên tập thành sách vào khoảng thế kỷ thứ III trước Tây lịch, không rõ tác giả, có lẽ người bấy giờ đã dựa vào những truyện cổ tích lưu hành ở đương thời làm mẫu, rồi dung hoà thêm sắc thái Phật giáo mà thành. Đến thế kỉ thứ XIX, nhà học giả Đan mạch là Hào tư bối nhĩ (Fausbôll, Micheal Viggo), đã bỏ công sức ra trong hai mươi năm (1877 - 1897), so sánh, đối chiếu kĩ càng các bản viết của kinh Bản sinh vănPàli tại các nước Tích lan, Miến điện, cộng có sáu quyển, quyển đầu lại thêm cả truyện Phật do ngài Phật âm trứ tác, rồi cho ấn hành, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với giới học Phật phương Tây. Ngoài tạng kinh Pàli ra, các sự tích bản sinh còn được thấy trong các tác phẩm văn học tiếng Phạm, như Cố sự tập (Phạm: Paĩcatantra, dịch âm: Ngũ đát đặc la), Cố sự tổng hối (Phạm:Kathàsarisàgara), và Bản sinh man (Phạm: Jàtakamàlà). Trong mười hai bộ kinh, các kinh điển Hán dịch thuộc loại kinh Bản sinh thì có: Lục độ tập kinh, Sinh kinh, Thí dụ kinh, Hiền ngu kinh, Tạp bảo tạng kinh, Soạn tập bách duyên kinh, Bồ tát bản hành kinh, Bồ tát bản duyên kinh, Bồ tát bản sinh man luận v.v... Trong đó, Bồ tát bản sinh man luận là do sư Tuệ tuân đời Bắc Tống dịch từ tác phẩm Bản sinh man bằng tiếng Phạm, cộng có ba mươi tư loại sự tích Bản sinh, dịch thành mười sáu quyển. Ngoài ra, trừ những bản in bằng các thứ văn được ghi ở trên mà đến nay đã ngưng ra, tại các nước Tích lan, Miến điện, Thái lan, kinh Bản sinh cũng được xuất bản, nhưng chỉ có nguyên văn mà thôi. Còn tại Nhật bản và châu Âu, thì kinh Bản sinh được xuất bản chung với bản dịch Bản sinh chú hợp làm một. Sự tích bản sinh của đức Thích tôn từ ngàn xưa đã được sùng tín một cách sâu xa, dân chúng phổ thông cũng rất thích dùng làm đề tài cho hội họa và điêu khắc, cho nên các di tích mĩ thuật Phật giáo có liên quan đến sự tích bản sinh của đức Phật đã được thấy rải rác tại Ấn độ, Trung quốc và các nước vùng Nam hải. Đồng thời, sự tích bản sinh, song song với sự phát triển của Phật giáo, cũng lưu truyền một cách rộng rãi, và truyền cả đến các nước phương Tây, trở thành nền văn học thông tục có tính quốc tế, và nguồn gốc của sự giáo huấn đạo đức. Những ngụ ngôn của Y sách (Esop) tại cổ Hi lạp, những sự tích đồng thoại trong Thiên phương dạ đàm, văn học ngụ ngôn của A lạp bá (Arabia), tức cũng đã có mối quan hệ uyên nguyên sâu xa với kinh Bản sinh của Phật giáo. Sự tích bản sinh cũng thấy rải rác trong các tác phẩm Kim tích vật ngữ, Vũ tích thập di vật ngữ của Nhật bản. Có thể nói, đứng về phương diện nghiên cứu ngọn nguồn và sự truyền bá của nền văn học thế giới, văn học tỉ giảo và lịch sử giao lưu mà nói, kinh Bản sinh đã chiếm một địa vị và giá trị cực kì trọng yếu. [X. kinh Đại ban Niết bàn (bản Nam) Q.14; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, Q.2; luận Đại tì bà sa Q.1; luận Đại trí độ Q.33; luận Du già sư địa Q.25; Đại đường tây vực kí Q.3; Rhys Davids: Buddhist India; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literature, Bd. II; B. C. Law: A History of Pàli Literature]. (xt. Bản Sinh Đồ, Bản Sinh Man).
bản sinh man
(本生鬘) Phạm: Jàtakamàlà. Không rõ tác giả. Có thuyết cho là do Thánh dũng (Phạm: Àrya zùra) biên tập. Là bộ sách Phật, trong đó thu chép ba mươi lăm loại sự tích bản sinh và giải thích pháp nghĩa của những sự tích đó. Có bản Hán dịch do Thiệu đức và Tuệ tuân đời Bắc Tống dịch chung và đặt tên là Bồ tát bản sinh man luận, tất cả mười sáu quyển, nội dung có hơi khác với nguyên bản tiếng Phạm, thu vào Đại chính tạng tập 13. Còn có bản dịch Tây tạng cũng đề tên Thánh dũng (Tạng: Hphags-pa dpah bo, hoặcDpah bo) trứ tác. Sách này không phải được biên tập theo một phương châm đặc định nào cả, nhưng vẫn có tình cảm tôn giáo. Nhận xét qua các kệ tựa của tác giả thì thấy sách này là do tuyển chọn các loại sự tích bản sinh từ đời xưa, rồi lọc lấy đại cương mà biên tập thành và biểu hiện bằng thủ pháp văn học. Trong có văn xuôi và văn vần xen lẫn, về kĩ thuật văn pháp và tu từ đều đã đạt đến trình độ rất cao. Sách này có phần chú sớ do ngài Pháp xứng soạn, thu vào tạng kinh Tây tạng Bản sinh bộ. Năm 1891, H. Kern ấn hành Bản sinh man bằng tiếng Phạm, thu trong Cáp Phật đại học đông dương tùng thư (Harvard Oriental Series, vol. I). Năm 1895, J. S. Speyer ấn hành bản dịch tiếng Anh, thu vào Phật giáo Thánh điển tập (Sacred Books of the Buddhists, vol.I). Cương giáo thúy (trong quyển Sách dẫn thì viết là Cương giáo toại) của Nhật bản, cũng đã dịch ra tiếng Nhật, thu vào Quốc dịch nhất thiết kinh của Nhật bản, tập 17. Ngoài ra, qua truyện kí của Nghĩa tịnh, thì được biết là những sự tích bản sinh trong Bản sinh man, từ xưa đã được lưu hành tại các nước miền Nam hải. Hiện nay, trên các bức vẽ trên vách của hang động A chiên đa (Phạm: Ajantà) ở Ấn độ, trong các bức chạm nổi của chùa Bà la phù đồ (Borobudur) ở đảo Trảo oa (Java), đều còn hình đồ của các sự tích bản sinh thuộc loại này. [X. Phạm ngữ Phật điển đích chư văn hiến (Sơn điền long thành)].
bản sinh man luận
Jàtakamàla-sàstra (S). Garland of Jàtakas.
bản sinh đồ
(本生圖) Tranh bản sinh. Dựa vào nội dung kinh Bản sinh mà thể hiện thành những bức tranh vẽ hoặc là những bức chạm nổi. Bản sinh đồ được sáng tác bắt đầu ở Ấn độ, rồi truyền lên phía bắc qua các nước vùng Trung á, Tây vực đến Trung quốc, Nhật bản, truyền xuống phía nam thì lưu hành tại các nước vùng Đông nam á. Di phẩm hiện còn đến nay rất nhiều, như trong bức bao lan ở Ba hách đặc tháp (Bharhut) tại Ấn độ, có các bức chạm trổ con hươu chín mầu, voi trắng sáu ngà, Thái tử Mộ phách, Thiểm tiên nhân, Đại thiên vương, Thương chủ, vua vượn, vua gà đồng v.v... gồm hơn hai mươi loại. Trên cửa tháp Sơn kì (Sanchi), có Thiểm tiên nhân, Thái tử Tu đại noa v.v... Trên bao lan tháp ở Á ma lạp oa để (Amaràvatì), có tượng Thi tì vương, Tu đại noa. Trong hang thứ 17 ở A chiên đa (Phạm:Ajantà), có voi trắng sáu ngà, gấu, hươu, Phổ minh vương, Thi tì vương, Tu đề la vương và nhạn; trong các hang khác thì có Nguyệt quang vương được chạm nổi, hoặc Phổ thí đạo sĩ được vẽ trên vách. Lại ở địa phương Ca ma nhĩ ca nhĩ tích (Jamàlgafhi) ở phía bắc Kiện đà la, trong các di vật đào thấy, có tượng của Thiểm tiên nhân và Thái tử Tu đại noa. Ngoài ra, tại Mật lan (Miran) thuộc Trung á, có đào được tranh Tu đại noa Thái tử , ở Cưu tư (Kizil) có các tranh Thi tì vương, Nguyệt quang vương, Tát đỏa vương tử, Nhẫn nhục tiên, Di hầu vương ; lại ở Hưu khâu khắc (Chorchuk), có đào được di phẩm Tát đỏa vương tử . Bản sinh đồ tại Trung quốc vào thời đại Bắc Ngụy, cũng thường thấy các đề tài nghệ thuật Phật giáo, như trong các hang động ở Đôn hoàng, phần nhiều đều có Thi tì vương, Tát đỏa na, Lộc vương, Tu đại noa v.v... được vẽ trên vách. Ở Vân cương, hang thứ 10, có bản sinh Nho đồng được chạm nổi, trong động Tân dương ở Long môn, có bản sinh Tát đỏa vương tử được chạm nổi. Từ đời Đường về sau, đề tài Bản sinh đã một Sự tích hươu ở tháp Bharhut (Ấn độ) độ lắng xuống. Đời Ngũ đại, trong tháp của Ngô việt vương tiền hoằng thục, có bản sinh của Tát đỏa na, Nguyệt quang vương, Từ lực vương được khắc nổi. Đời Tống, trên núi Bảo đính thuộc huyện Đại túc, Đại Phật loan vách đá 17, có chạm bản sinh đồ của Tu xà đề, Chuyển luân vương, Nhẫn nhục thái tử, Thiểm tử và Tát đỏa na. Ở chùa Pháp long, Nhật bản quanh đài tòa của khám Ngọc trùng, cũng có tranh Tuyết sơn đồng tử, Tát đỏa vương tử hiện còn. Cứ theo Pháp hiển truyện Sư tử quốc Vô úy sơn tự điều chép, thì Tích lan có khắc năm trăm bản sinh, hoặc là tượng Tu đại noa, hoặc Thiểm biến, Tượng vương, Lộc vương, các hình tượng đều đẹp đẽ trang nghiêm trông như sống. Lại trên mặt các bức vách dọc theo lối hành lang ở chùa Bà la phù đồ (Borobudur) trên đảo Trảo oa (Java), có còn các tượng chạm nổi của Thi tì vương, Phổ minh vương, Thái tử Tu đại noa v.v...
Bản sinh 本生
[ja] ホンショウ honshō ||| Chinese translation of the Sanskrit jātaka 闍多伽, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Tiếng Hán dịch chữ Xà-đa-già (闍多伽s: jātaka) từ tiếng Sanskrit, là 1 trong 12 thể loại kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).
bản sơ
(本初) Hàm ý là sự bắt đầu từ gốc. Chỉ giác thể của Như lai, hoặc chân như pháp giới, hoặc sự bắt đầu của sự vật. Kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 22 trung), nói: Ngã nhất thiết bản sơ, hiệu danh thế sở y. Trong Tức thân thành Phật nghĩa, sư Không hải giải thích là: Ngã, là Đại nhật Như Lai tự xưng; bản sơ, chân lí bản lai như thế, Như lai, vị tổ gốc, đã chứng được hết thảy pháp đại tự tại như thế. Lí thú thích quyển thượng (Đại 19, 609 hạ), nói: Bản sơ, tức là Pháp giới bản lai trong sạch. Tóm lại, bản sơ là nguồn gốc của thế giới, tất cả sự vật đều bắt nguồn từ đó và dựa vào đó mà tồn tại, cho nên gọi là thế sở y (chỗ nương tựa của thế gian).
bản sơ phật
(本初佛) Phạm: Àdi buddha. Tức là Phật lúc ban đầu, nguyên thủy nhất, căn bản nhất. Mật giáo kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna) ở thời kì sau tại Ấn độ, cho rằng Bản sơ Phật là nguồn gốc của các pháp, là người sáng tạo muôn vật, đồng thời, có thuyết thừa nhận năm Phật ở trong định (Phạm: Dhyàni buddha) cũng từ nơi Phật bản sơ mà ra. Cứ theo kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương (Phạm: Kàraịđda vyùha) bản tiếng Phạm chép, thì ở kiếp đầu tiên xuất hiện Bản sơ Phật, Tự sinh giả (Phạm: Svayambhù, người tự sinh), hoặc Bản sơ chủ (Phạm:Àdi nàtha, chủ đầu tiên), dựa vào Thiền định mà sáng tạo thế giới, lại từ tinh thần của mình mà sản sinh ra bồ tát Quán tự tại (Phạm:Avaloki tezvara), lại từ hai con mắt của vị Bồ tát này mà sinh ra mặt trời, mặt trăng, từ nơi trán sinh ra Đại tự tại thiên (Pham: Mahezvara), từ nơi vai sinh ra Phạm thiên, từ nơi tâm tạng sinh ra Na la diên thiên (Phạm: Nàràyaịa), từ nơi răng nanh sinh ra Biện tại thiên nữ (Phạm: Sarasvatì). Cứ theo Tự sinh phú lan na. (Phạm: Svayambhù puràịa) bản tiếng Phạm chép, thì Bản sơ Phật đầu tiên xuất hiện tại Ni bạc nhĩ (Nepàl) trong tư thái lửa cháy;bồ tát Văn thù sư lợi liền dựng Tự sinh chi Phật Bản Sơ đề (Phạm: Svaymabhù caitya, tháp tự sinh) để bảo tồn lửa ấy. Vào thế kỉ thứ X trở về sau, để thống hợp tư tưởng Ngũ Phật tại định mà giữa các học Tăng ở chùa Na lan đà (Phạm: Nàlandà) đã nảy sinh tư tưởng Phật bản sơ. Đến đời sau, phái Ngải tư vĩ lực tạp (Phạm:Aizvarika) của Ni bạc nhĩ và Lạt ma giáo của Tây tạng thu dụng làm giáo nghĩa. [X. M. Monier Williams: Buddhism; H. Kern: Manual of Indian Buddhism; Benoytosh Bhattacharyya: An Introduction to Buddhist Esoterism; M. Wintermitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd.II; H.V. Glasenapp: Der Buddhismus).
bản sơn
(本山) I. Bản sơn.Còn gọi là Bản tự, Bản sát. Có hai nghĩa: 1. Chỉ chùa xưa nay thường ở. 2. Còn nói là Đương sơn, Đương tự, ý tức là bản sơn. II. Bản sơn.Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Còn gọi là Bản tự, Tổ sơn. Gọi đạo tràng căn bản của các tông phái. Bản sơn, ý tức là chùa gốc, là đạo tràng chính truyền đăng phó pháp của một tông. Còn khu biệt là Tổng bản sơn, Đại bản sơn, Trung bản sơn, Biệt cách bản sơn, Hoài biệt cách bản sơn. Các chùa chiền lệ thuộc các loại trên đây thì gọi là Mạt sơn, Mạt tự. Các Mạt tự cũng có Tôn mạt, Ngạn mạt, Trực mạt khác nhau. Cũng là một bộ phận thuộc bản sơn, nhưng nếu cấu trúc chùa viện riêng thì gọi là Biệt viện. Tên gọi Bản sơn bắt đầu từ thời đại Bình an (794 - 1192). Thời bấy giờ, tông Thiên thai lấy chùa Diên lịch trên núi Tỉ duệ làm trung tâm truyền pháp, tông Chân ngôn lấy chùa Kim cương phong trên núi Cao dã làm trung tâm, các tông này đều quản lãnh nhiều chùa chiền, vì thế mà có tên gọi bản (gốc), mạt (ngọn). Về sau, các tông phái khác cũng noi gương mà dùng danh xưng này. [X. Khảo tín lục Q.1; Nhật bản tôn giáo chế độ sử liệu loại tụ khảo].
Bản sư
本師; C: běnshī; J: honshi;|Là vị thầy gốc, chân sư. Danh hiệu này được hiểu theo nhiều cách: 1. Phật Thích-ca Mâu-ni, người sáng lập Phật giáo; 2. Vị Khai tổ của một tông phái Phật giáo; 3. Vị thầy đã truyền giới cho một người; 4. Vị thầy đã Ấn khả chứng minh cho một người. Rất có thể rằng, một thiền sinh đã tu học với nhiều vị Lão sư nhưng Bản sư chỉ là người đích thân ấn khả cho thiền sinh – một cách hiểu theo Thiền tông.
bản sư
Honshi (J).
; The original Master or Teacher, Sàkyamuni.
; (本師) Tức là vị thầy chính, thầy căn bản, bậc đạo sư. Thông thường dùng để xưng hô đức Thích ca Như lai. Đồng nghĩa với các danh từ giáo chủ, bản chủ, bản Phật. Ngoài ra, các đệ tử tôn xưng thầy mình, cũng gọi là bản sư. Kinh Uế tích kim cương cấm bách biến pháp (Đại 21, 161 thượng), nói: Nếu thường niệm Bản sư Thích ca mâu ni Phật của ta, thì ta thường theo ở bên cạnh để khiến hết thảy pháp đều giúp cho việc thành tựu. [X. kinh Đại quán đính thần chú Q.12; Pháp hoa huyền nghĩa Q.6].
Bản sư 本師
[ja] ホンシ honshi ||| "Original teacher." The original Buddhist teacher--Śākyamuni. (2) The founder of a school. (3) The teacher who originally introduced one to Buddhism; gave him/her the precepts and shaved his/her head. => 1. Vị đạo sư đầu tiên trong Phật giáo—Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. 2. Vị sáng lập một tông phái. 3. Bậc đạo sư đầu tiên dẫn dắt mình vào đạo Phật, truyền giới và thế phát xuất gia cho mình.
Bản sự
本事; C: běnshì; J: honji;|Tiếng Hán dịch từ chữ Y-đế-mục-đa-già (伊帝目多伽, s: itivṛttaka) trong tiếng Phạn, có nghĩa là vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).
bản sự
(本事) I. Bản sự. Phạm: iti vfttaka, ityuktaka;Pàli: itivuttaka. Phiên âm là Y đế viết đa già, Y đế mục đa già, Y đế việt đa già, Nhất mục đa ca, Nhất trúc đa. Là một trong chín bộ kinh, một trong mười hai bộ kinh. Có hai nghĩa: 1. Nếu là tiếng Phạmiti-vfttaka, thì là việc như thế, được dịch là Xuất nhân duyên, Bản sự kinh, Bản sự thuyết, tức trình bày tường thuật những sự tích nhân duyên của Phật và đệ tử Phật trong các kiếp quá khứ. 2. Nếu là tiếng Phạmity-uktaka, thì là nói như vầy, được dịch là Như thị ngữ kinh, Thử sự quá khứ như thị. Loại sau là chỉ các kinh bắt đầu bằng câu Phật như thị (tư) ngữ (Phật nói như vầy). Trong phần thứ tư của Tiểu bộ kinh thuộc ba tạng Pàli, thu tập tất cả một trăm mười hai kinh, tức là các kinh Như thị ngữ (Itivuttaka), tính chất cũng tương đương với kinh Như thị ngữ được nói trong luận Đại trí độ quyển 33. [X. luận Du già sư địa Q.8; luận Đại tì bà sa Q.126; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu]. (xt. Như Thị Ngữ Kinh). II. Bản sự. Gồm bảy quyển. Là Bản sự kinh nói tắt. Do ngài Huyền trang dịch vào đầu năm Vĩnh huy (650) đời Đường. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Có ba Pháp phẩm, Pháp phẩm 1 có sáu mươi kinh, Pháp phẩm 2 có năm mươi kinh, Pháp phẩm 3 có hai mươi tám kinh, cộng tất cả là một trăm ba mươi tám kinh. Các kinh Như thị ngữ hiện còn trong kinh điển Pàli, tính chất rất gần gũi với nội dung kinh này, các học giả hiện đại phần nhiều cho rằng, hai kinh này cùng xuất phát từ một nguồn, duy kinh Như thị ngữPàli, gồm bốn thiên, có một trăm mười hai kinh so với kinh Bản sự này, thì thiếu mất hai mươi sáu kinh. Lại Bản sự trong mười hai bộ kinh, về nguyên ngữ, có hai ý: 1. Là kinh điển thu tập các sự tích bản sinh của Phật hoặc đệ tử Phật ở các kiếp quá khứ. 2. Chỉ các kinh điển bắt đầu bằng câu Phật như thị ngôn thuyết (Phật nói như thế đó). Tuy nhiên, kinh Bản sự này, về nội dung, đều chỉ lấy Như thị ngữ làm sự khởi kết của mỗi kinh, về mặt kết cấu thì lấy sự tăng gia theo thứ tự pháp số làm nền tảng, chứ chưa bao hàm bất cứ sự tích bản sinh nào. Trong hệ thống kinh điển Hán dịch, trước nay đều cho kinh này thuộc kinh điển A hàm, các học giả hiện đại thậm chí còn thừa nhận kinh này được thành lập sớm nhất trong các kinh điển A hàm, hay ít ra cũng đã rất xưa. Lại đại sư Trí húc đời Minh cho rằng, cứ xem nội dung giáo pháp cho thấy thì kinh này phải thuộc kinh Tạp a hàm, nhưng đại đa số học giả hiện nay, căn cứ vào thể tài tăng gia pháp số trong kinh, mà chủ trương kinh này phải thuộc kinh Tăng nhất a hàm. Lại cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 chép, thì ngoài kinh này ra, còn có kinh bản sự một quyển, nhưng vì lời văn lặt vặt lộn xộn, ý nghĩa hời hợt lông bông (Đại 55, 678 trung), nên xưa nay đều cho là kinh giả. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Kim cổ dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28; Nam bắc lưỡng truyền đích bản sự kinh (Độ biên hải húc, Hồ nguyệt toàn tập thượng quyển)].
Bản sự kinh
本事經; C: běnshì jīng; J: honji kyō;|1. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo, ghi lại vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử (s: itivṛttaka); 2. Bản sự kinh, 7 quyển, Huyền Trang dịch năm 650.
bản sự kinh
Itivrttaka (S). One of the twelve classes of sùtras, in which the Buddha tells of the deeds of his disciples and others in previous lives.
Bản sự kinh 本事經
[ja] ホンジキョウ Honji kyō ||| (1) One of the twelve traditional genres of scripture 十二部經, the accounts of past lives of the Buddha's disciples (Itivṛttaka). (2) The Benshi jing Itivṛttaka sūtra (Sutra on Original Occurrence). Translated by Xuanzang 玄奘 in 650. Seven fascicles, T 765.17.662-699. => 1. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo, ghi lại vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử (s: Itivṛttaka). 2. Kinh Bản sự, 7 quyển. Huyền Trang dịch năm 650.
Bản sự 本事
[ja] ホンジ honji ||| Chinese translation of the Sanskrit Itivṛttaka 伊帝目多伽, which are accounts of the past lives of disciples of the Buddha. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Tiếng Hán dịch từ chữ Y-đế-mục-đa-la (伊帝目多伽s: itivṛttaka) trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo.
bản tam muội da ấn
(本三昧耶印) Tức là ấn Liên hoa hợp chưởng, ấn đầu tiên trong phép tu của Mật giáo. Cách kết ấn là mười ngón tay dựng thẳng lên và hai bàn tay chắp lại. Ấn này biểu tỏ ba nghiệp thân, khẩu, ý của hành giả đều thanh tịnh, vì thế còn gọi là Tam nghiệp ấn. Cứ theo Bí tạng kí tư sao quyển 6 chép, thì ấn này nguyên là ấn mà mọi người đã kết khi còn ở trong thai mẹ, là thể tính lí, trí chẳng hai, bản địa tự chứng, cho nên gọi là Bản tam muội da ấn. (xt. Tịnh Tam Nghiệp Ấn).
bản thuyết pháp diệu
(本說法妙) Là Diệu thứ sáu trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Có nghĩa là sự khai thị thuyết pháp của Bản Phật là không thể nghĩ bàn, khiến chúng sinh đều phát đạo tâm lớn. Bởi vì sự nói pháp trong các kinh cũng như sữa bò biến chế thành năm vị, giáo pháp ứng cơ thì có bốn giáo năm thời khác nhau, đều là sự nói pháp từ khi thành đạo ở Già da đến nay, chỉ thuộc về sự thị hiện Tích hóa chứ không như sự mầu nhiệm của bản thời. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản thuỵ
(本瑞) Vị tăng tông Lâm tế đời Minh. Năm sinh năm mất không rõ. Người huyện Chung lăng, phủ Nam xương tỉnh Giang tây, họ Giang, tự Thiên kì. Người đời gọi là Quỳnh tuyệt lão nhân. Năm hai mươi tuổi đến tham yết Vô thoát (thuyết) năng ở Kinh môn, được nhận cho xuất gia. Chưa bao lâu, đi đến Sở sơn đất Thục (Tứ xuyên), tham vấn khắp các bậc kì túc; sau đến núi Bảo phong yết kiến Bảo phong Minh tuyên, được truyền tâm ấn, trở thành đời thứ 29 của dòng Nam nhạc. Ngũ đăng nghiêm thống quyển 23 có chép lời dạy chúng của sư (Vạn tục 39, 503 hạ): Hết thảy không dư, hết thảy không ngại; hết thảy không ngại, hết thảy không dư. Thấu được không ngại, tự nhiên không dư; thấu được không dư, tự nhiên không ngại. Sau dời về ở Kính lăng (Hồ bắc), Kinh môn, cổ xúy Thiền thoại đầu. Trứ tác có: Quỳnh tuyệt lão nhân Thiên kì trực chú Tuyết đậu Hiển hòa thượng 1 quyển, Thiên đồng Giác hòa thượng tụng cổ 1 quyển. [X. Tục thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng toàn thư Q.60].
bản thành
(本成) Có hai nghĩa: 1. Chỉ sự thành đạo của Bản địa Phật. Đối lại với Tích hóa, . Pháp hoa văn cú kí quyển 5 phần trên (Đại 34, 234 thượng), nói: Tích hóa nêu ba nghìn chấm mực, Bản thành dụ năm trăm bụi nhỏ. 2. Nói tắt của Bản lai thành Phật. Có nghĩa là hết thảy chúng sinh xưa nay vốn là Phật.
bản thành tự
(本成寺) Là chùa Đại bản sơn của tông Pháp hoa (Trận môn lưu) Nhật bản. Vị trí nằm ở huyện Tân tích, thị trấn Tam điều. Hiệu núi là núi Trường cửu. Do Nhật ấn khai sáng vào năm Vĩnh nhân thứ 5 (1297), lúc bấy giờ gọi là chùa Thanh liên hoa. Sau Nhật ấn lễ thỉnh thầy mình là Nhật lãng làm Sơ tổ khai sơn, tự mình nhận đời thứ 2 và đổi tên gọi là chùa Bản thành. Là đạo tràng căn bản của ba Bí pháp thuộc bản môn, cũng là chùa nhà vua đến phát nguyện qui y. Được sự ngoại hộ của ba dòng họ làm chủ nước là Trường vĩ, Thượng sam và Cấu khẩu. Từng vài lần bị hỏa hoạn thiêu rụi, sau lại trùng hưng. Năm Minh trị thứ 9 (1876), là chùa của tông Pháp hoa. Diện tích chùa có năm nghìn ba trăm bình (mỗi bình bằng 36 thước vuông); các kiến trúc hiện nay gồm có: cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống, chùa chính, nhà tổ, đền vua, hồ sen, nhà khách, cửa huyền, nhà nghìn Phật (nhà sáu góc), tháp hai tầng, ngưu trì (ao bò, sự tích khai sơn) v.v...
bản thân
Paccattam (P), Individual.
; Oneself; it also means bản tâm the inner self.
; Oneself.
bản thư
(本書) Chỉ sách căn bản mở tông của các tông. Còn gọi là Bản điển. Như tông Thiên thai lấy ba bộ sách lớn là Pháp hoa huyền nghĩa 20 quyển, Pháp hoa văn cú 20 quyển và Ma ha chỉ quán 20 quyển, gốc, ngọn hợp làm sáu mươi quyển, gọi là Bản thư. Tông Chân của Nhật bản lấy Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại 6 quyển do Thân loan soạn làm sách căn bản mở tông lập giáo của Chân tông. [X. Thích môn chính thống Q.3].
bản thần thông diệu
(本神通妙) Là Diệu thứ năm trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tức là Thần thông diệu bản thời. Nghĩa là thần thông mà đức Như lai thị hiện khi mới thành đạo để hóa độ chúng sinh là không thể nghĩ bàn. Kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Như lai thọ lượng (Đại 9, 42 trung), nói: Sức thần thông bí mật của Như lai, (...) hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc tỏ thân mình, hoặc tỏ thân người, hoặc tỏ việc mình, hoặc tỏ việc nguời. Trong những câu dẫn trên đây, thân mình và việc mình là thần thông viên (tròn đầy), thân người, việc người là thần thông biến (biến khắp), bí mật là nghĩa mầu nhiệm, đều là thần thông diệu bản thời. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần trên]. (xt. Thập Diệu).
bản thể
Xem Pháp tánh.
; Being, nature. Essential being, essence, entity, substance. Bản thể luận, ontology.
; Substance.
; (本體) Thông thường, các nhà triết học phương Tây giải thích bản thể: bản thể là cái tự nó tồn tại đích thực đối lập với hiện tượng. Trong Phật giáo, danh từ pháp thể được dùng để diễn đạt ý nghĩ tương đồng như thế, tức chỉ cái thể tính các pháp, hoặc những danh từ như bản chất các pháp, bản tính, pháp tính, chân như v.v... là những dụng ngữ đồng loại. Trước thời Phật giáo, người Ấn độ cổ đại nhận bản thể của vũ trũ là Phạm (Phạm:brahman), bản thể của cá nhân là Ngã (Phạm: àtman) và cho rằng bản chất của Phạm và Ngã là một (Phạm ngã nhất như). Về bản thể ngã của cá nhân, thì Phật giáo lập thuyết Vô ngã, chủ trương hết thảy các pháp đều do mối quan hệ tương y tương hỗ (nhân duyên) mà tồn tại; trong Phật giáo Đại thừa tư tưởng này còn triệt để hơn nữa mà sản sinh tư tưởng không (Phạm:sùnya). Trong các phái thuộc Phật giáo Bộ phái, có những phái như Độc tử, Pháp thượng, Chính lượng v.v... khẳng định sự tồn tại của ngã thể chủ quan (phi tức phi li uẩn ngã), cũng khẳng định các pháp hiện tượng giới, các phái này thuộc tông Pháp ngã câu hữu (ngã pháp đều có). Lại như Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng, thể tính của vạn hữu là thường hằng bất diệt suốt trong quá khứ, hiện tại và vị lai, đây tức là thuyết Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu (ba đời thực có, pháp thể hằng có), nhưng ở một mặt khác, thì lại không thừa nhận sự tồn tại của Ngã, vì thế thuộc tông Ngã không pháp hữu (ngã không pháp có). Còn các phái Kinh lượng, Hóa địa, Pháp tạng, Đại chúng, Kê dận, Tây sơn trụ, Bắc sơn trụ v.v... thì chủ trương các pháp quá khứ và vị lai không có thể tính, duy chỉ pháp hiện tại là thực có, đây tức là thuyết Quá vị vô thể (quá khứ vị lai không có thể tính). Lại như Thuyết giả bộ, thì không những chỉ nhận quá vị vô thể, mà ngay cả đối với các pháp hiện tại cũng chủ trương có giả có thực. Theo Thuyết giả bộ nói, thì vạn hữu chia làm năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, trong đó năm uẩn là thực thể, nhưng mười hai xứ, mười tám giới là những pháp sở y, sở duyên, thuộc pháp tích tụ, là có giả, đây tức là thuyết Hiện pháp giả thực (pháp hiện tại có giả có thực). Ngoài ra, Thuyết xuất thế bộ thì cho các pháp thế gian đều là có giả, duy chỉ pháp xuất thế gian là có thực thể, đây tức là thuyết Tục vọng chân thực (tục đế vọng chân đế thực). Nhất thuyết bộ thì chủ trương hết thảy vạn hữu, dù là pháp thế gian hay xuất thế gian, đều chỉ có giả danh chứ không có thực thể, đây tức là thuyết Chư pháp đãn danh (các pháp chỉ có cái tên). Vào giữa thế kỉ thứ IV Tây lịch, Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), viết luận Thành thực 16 quyển, nêu cao tư tưởng không, phản đối thuyết Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu của Nhất thiết hữu bộ, không những chỉ phủ nhận sự tồn tại của ngã thể chủ quan, mà còn bác luôn cả sự tồn tại của pháp thể vạn tượng khách quan, đây tức là thuyết Ngã pháp câu không (cả ngã và pháp đều là không). Giáo hệ Phật giáo có liên quan đến vấn đề bản thể tính tướng, mở đầu tự Hữu không luận của Tiểu thừa, biến chuyển mà thành Hữu không luận của Đại thừa, như giáo nghĩa Duy thức dùng thuyết Tam tính, Tam vô tính để trình bày hữu không quan về vạn hữu, và khảo sát thực lí Hữu, Không, Trung đạo. Tức dựa vào ba tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực, từ phương diện có thuyết minh tự tính của vạn hữu, đồng thời, dựa vào ba vô tính: Tướng vô tính, Sinh vô tính, Thắng nghĩa vô tính, từ phương diện không hiển bày cái chí lí các pháp đều không, cho nên nhấn mạnh hiện tượng tuy là không hoặc có giả, nhưng thực thể thì là có thật, đây tức là luận Hữu Không Trung Đạo. Tông Tam luận thì bác bỏ loại tư tưởng có, không tương đối ấy, mà lấy cái Không tuyệt đối bất khả đắc làm lí tưởng cùng cực, cho nên đem Tứ trùng nhị đế, Bát bất trung đạo để thuyết minh chân đế pháp tính siêu việt tình chấp, bặt hết tư lự, đây tức là luận Vô tướng giai không. Tư tưởng Không này của tông Tam luận bị coi là Bản thể luận tiêu cực; đối lại, được coi là Bản thể luận tích cực, phát huy giáo chỉ cao nhất của Đại thừa, là luận Chư pháp thực tướng của tông Thiên thai. Tông Thiên thai dựa vào kinh Pháp hoa và mấy câu kệ trong phẩm Quán tứ đế của Trung luận (Đại 30, 33 trung): Các pháp nhân duyên sinh, Tôi bảo đó là không, cũng tức là giả danh, cũng là nghĩa trung đạo, và câu nói trong luận Đại trí độ Trong một tâm được ba trí, mà thuyết minh cái lí mầu nhiệm Không, Giả, Trung ba đế viên dung, và nêu tỏ thể tính của các pháp xưa nay vốn viên dung vô ngại. Đồng thời, chủ trương nếu người ta phá tan được khối mê vọng thì lập tức bước vào cảnh giới thông suốt sáng chói, thể nhận hết thảy các pháp thuần là thực tướng, ngoài thực tướng ra, không có một pháp nào khác. Pháp giới muôn tượng la liệt, mỗi mỗi đều là thực tướng, vì thế sai biệt tức là bình đẳng, hiện tượng tức là thực thể, sự tướng và thực thể chẳng hai chẳng khác, muôn pháp là nhất như. Trong Phật giáo Đại thừa, ngoài luận Chư pháp thực tướng của tông Thiên thai ra, như Pháp giới duyên khởi của tông Hoa nghiêm, Lục đại duyên khởi của Mật tông, đều là tư tưởng lí luận chủ trương hiện tượng tức là bản thể. Tóm lại, cái Không mà Phật giáo Đại thừa thuyết minh, tức là cái trạng thái không thể chấp trước. Bát nhã tâm kinh (bản dịch của ngài Huyền trang) dùng những tiếng sau đây để thuyết minh mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng (Đại 8, 848 hạ): Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Trong kinh Phổ biến trí tạng bát nhã ba la mật đa tâm do ngài Pháp nguyệt dịch, trước hai câu trên đây, còn có hai vế (Đại 8, 849 thượng): Sắc tính là không, không tính là sắc. Thông thường người ta dùng hiện tượng để nắm bắt vật chất tồn tại. Nhưng cái gọi là hiện tượng, tức phải dựa vào vô số nguyên nhân, điều kiện và luôn luôn biến hóa; trên đời tuyệt không có một hiện tượng nào là không biến hóa, vì biến hóa không ngừng nên mới có hiện tượng sản sinh, cho nên người ta mới mong nắm bắt sự tồn tại của chúng, đây tức là thế giơi Sắc tính là không, không tính là sắc, tương đương với cái Không trong ba đế Không Giả Trung do đại sư Trí khải lập ra. Cái thế giới hỗn độn không chủ thể, chưa chia thành chủ khách, là thế giới duy nhất, toàn nhất, thế giới một tức hết thảy, hết thảy tức một, người ta nên nắm bắt cái thế giới ấy. Nhưng, muốn đạt được cảnh giới ấy, người ta không thể không dựa vào hiện tượng làm cơ sở. Duy có điều là một hiện tượng tuyệt không có bản thể, mà do nhiều hiện tượng và hết thảy pháp hỗ tương quan hệ mới có thể thành lập được; đồng thời, cũng thể nhận được thế giới duyên khởi tất cả đều do nguyên nhân và điều kiện hỗ tương y tồn mà vận hành. Giả sử hiện tượng Ngã không hoạt động, thì hãy quan sát mối liên quan với người khác, lúc đó có thể hiểu hiện tượng Ngã thường không phải do Ngã mà do các nhân tố ngoại lai người khác thêm vào khiên chế mà dần dần khác với cái Ngã hiện tại. Đứng trên lập trường lí luận mà nói, cũng có thể lí giải hết thảy sự vật ngoại tại không ngừng phủ định tự kỉ, hoặc đối lập với tự kỉ, và trong những điều kiện như thế, người ta phải hạn định quan hệ để khẳng định tự kỉ, đây tức là thế giới Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, tương đương với thế giới Giả của tông Thiên thai. Đã có thể nắm bắt được sự thể nghiệm ở giai đoạn thứ nhất, thứ hai trên đây mà bàn đến giai đoạn thứ ba, nếu thuyết minh bằng lời nói, thì hoàn toàn tương đồng với giai đoạn trước. Song, trong kinh nghiệm sinh động của nhân loại, trên thực cảm, xác thực có cái thế giới có thể nắm bắt được và so với giai đoạn thứ hai thì thế giới ấy cao hơn, đó tức là thế giới Sắc tức là không, không tức là sắc, tương đương với thuyết Trung của tông Thiên thai. Nói theo nghĩa cùng tột thì ba đế Không Giả Trung không có thứ tự trước sau cách lịch, mà là viên dung vô ngại, một tức ba, ba tức một, đó là nghĩa đích thực của Viên giáo tam đế viên dung trong tông Thiên thai. Mà tư tưởng ấy không những chỉ là một trong những giáo nghĩa trung tâm của tông Thiên thai, mà cũng là chứng minh của Phật pháp Đại thừa đối với bản thể viên thục nhất của muôn pháp. (xt. Không, Không Hữu Luận Tranh).
bản thể nội tại
Intrinsic essence—See Chơn Ngã.
bản thệ
Xem Tam muội da. Xem Bản nguyện.
; Samaya (S). The original convenant or vow made by every Buddha and Bodhisattva.
bản thọ mệnh diệu
(本壽命妙) Là Diệu thứ chín trong Bản môn thập diệu do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra khi giải thích về chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tức quả báo của bản thời, có thể tự do thị hiện sự sống dài hay ngắn, là căn bản của tất cả thọ mệnh, mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần dưới]. (xt. Thập Diệu).
bản thời
(本時) Chỉ thời xưa vốn đã lâu xa lắm. Tức là thời mà đức Phật đã thành đạo (thành Phật) đầu tiên. Cứ theo kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Như lai thọ lượng nói, thì người thế gian thông thường đều cho đức Thế tôn Thích ca mới thành Phật ở Già da, nhưng thực ra thì Ngài đã thành Phật từ trăm nghìn muôn ức na do tha kiếp trước rồi.
Bản thức
本識; C: běnshì; J: honjiki; |Thức căn bản – A-lại-da thức (阿頼耶識). Đây là thuật ngữ tiếng Hán mà Chân Đế thường dùng, có lẽ căn cứ vào nhận thức của Hữu bộ về một thức căn bản.
bản thức
Xem A lại da thức.
; The fundamental vijnàna, one of the eighteen names of the Alaya-vijnàna, the root of all things.
Bản thức 本識
[ja] ホンジキ honjiki ||| The base consciousness--the ālaya consciousness 阿頼耶識. This is a translation of the term used by Paramārtha 眞諦, possibly based on the original Sarvāstivāda 有部 understanding of a base consciousness. 〔中邊分別論T 1600.31.415b10〕 => Thức căn bản A-lại-da thức. Đây là thuật ngữ tiếng Hán mà Chân Đế thường dùng, có lẽ căn cứ vào nhận thức của Hữu bộ về một thức căn bản.
bản tiêu
(本幖) Chỉ hình Tam muội da. Tức là cờ hiệu của chư Phật Bồ tát biểu thị bản thệ, hiển bày cái tâm nguyện cứu độ chúng sinh. [X. Tính linh tập Q.7]. (xt. Tam Muội Da Hình).
bản toán
(本算) Khi vấn đáp về luận đề, cái đề đầu tiên được hỏi, gọi là Bản toán, từ đề thứ hai trở đi thì gọi là Mạt toán.
Bản Triều Cao Tăng Truyện
(本朝高僧傳, Honchōkōsōden): 75 quyển, tổng mục lục 1 quyển, do Vạn Nguyên Sư Man (卍元師蠻, Mangen Shiban, 1636-1710), vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản ở Thạnh Đức Tự (盛德寺), vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino), soạn, là tập truyện tóm tắt về các tăng ni Nhật Bản, thành lập vào năm 1702 (Nguyên Lộc [元祿] 15). Để bổ sung cho Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書, Genkōshakusho), soạn giả đã sưu tập tư liệu từ nhiều sách, chia truyền ký của 1626 vị tăng ni thành 10 hạng khác nhau để biên tập thành. Đây là một sử liệu có y cứ hẳn hòi, rất tiện lợi cho việc tham khảo. Trong số các truyền ký về chư tăng ni Nhật Bản, bộ này thâu tập số lượng nhân vật nhiều nhất, là văn hiến căn bản để nghiên cứu về lịch sử Phật Giáo Nhật Bản.
bản triều cao tăng truyện
(本朝高僧傳) Gồm bảy mươi lăm quyển. Do Vạn nguyên sư man thuộc tông Lâm tế Nhật bản trứ tác vào năm Nguyên lộc 15 (1720). Phỏng theo các Cao tăng truyện của Trung quốc thuộc ba triều đại Lương, Đường và Tống. Là bộ truyện kí mà nội dung thu chép hơn một nghìn sáu trăm danh Tăng thuộc các tông phái, bắt đầu từ thời thượng cổ Khâm minh Thiên hoàng (540 - 570) khoảng hơn một nghìn hai trăm năm. Năm Diên bảo thứ 6 (1678), trước hết, tác giả soạn Diên bảo truyền đăng lục 41 quyển, trong đó, đã thu chép truyện kí của một nghìn vị Thiền tăng, sau đó, khi biên soạn tiếp bộ sách, tác giả lại thu chép thêm hành trạng của các bậc cao đức, danh nạp thuộc cả hai môn Giáo và Thiền một cách rất rõ ràng, và lập thành mười khoa là Pháp bản, Tịnh tuệ, Tịnh thiền, Cảm tiến, Tịnh luật, Đàn hưng, Tịnh nhẫn, Viễn du, Độc tụng và Nguyện tạp. Sách này là tác phẩm rõ ràng, đầy đủ và đáng tin nhất trong các Tăng truyện của Nhật bản, cũng là tư liệu không thể thiếu trong việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Nhật bản. Về sau lại có Tế xuyên đạo khế (1816 - 1876) soạn thêm Tục Nhật bản cao tăng truyện gồm 11 quyển, đều được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 102, quyển 103.
bản triều lịch đại pháp hoàng ngoại kỉ
(本朝歷代法皇外紀) Có một quyển. Do Nguyên sách thuộc tông Tịnh độ Nhật bản soạn vào năm Khoan văn thứ 7 (1667). Thu chép tóm tắt các việc từ đức Thế tôn Thích ca trở xuống đến các giai tầng nhân sĩ thành là pháp quyến; đồng thời, tường thuật tình hình sau khi Phật pháp truyền sang đông, các Hoàng gia Nhật bản và các đời Hoàng đế Trung quốc sùng tín Phật pháp, rồi đoán định là các Thánh vương hiền thần đều là vì hộ trì Phật pháp mà phương tiện hiện ở Nhật bản. Nội dung bao gồm các sự tích vào đạo của hai mươi chín vị Thiên hoàng, như Thánh vũ, Hiếu liêm, Bình thanh, Thanh hòa, Bạch hà, Hậu thủy vĩ v.v... và danh sách những người Hoàng tộc, quí môn, Vũ gia đi tu. Trên đầu quyển có Tự tự (Bài tựa của tác giả), Tiểu tự và Mục lục của Nguyên sách.
Bản Triều Tân Tu Vãng Sanh Truyện
(本朝新修徃生傳, Honchōshinshūōjōden): truyền ký về những người có dị tướng vãng sanh, được biên tập vào giữa thời đại Bình An, do Đằng Nguyên Tông Hữu (藤原宗友, Fujiwara-no-Munetomo), Quyền Trưởng Quan Kami vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino), soạn thuật, 1 quyển. Để phân biệt với Tân Tu Tịnh Độ Vãng Sanh Truyện (新修淨土徃生傳, gọi tắt là Tân Tu Vãng Sanh Truyện [新修徃生傳]) của Thanh Nguyên Vương Cổ (清源王古) nhà Tống, bản này có thêm vào hai chữ “Bản Triều (本朝)”. Năm thành lập được ghi rõ trong bài tựa là mồng 1 tháng 12 năm 1151 (Nhân Bình [仁平] nguyên niên). Trong số những trường hợp vãng sanh đuợc thâu lục trong tác phẩm này, người mất xưa nhất là Thế Duyên (勢緣, trong khoảng niên hiệu Thừa Bảo [承保, 1074-1077]) và người qua đời gần nhất là Đại Giang Thân Thông (大江親通, ngày 15 tháng 10 năm 1151), hơn 1 tháng rưỡi trước khi tác phẩm này ra đời. Tính cả Tăng lẫn tục, số lượng người được thâu lục là 41; nhưng có 9 truyện trùng lặp trong bản Hậu Thập Di Vãng Sanh Truyện (後拾遺徃生傳) đã ra đời trước. Đặc sắc của thư tịch này là về tầng lớp Phật tử tại gia thế tục, có cả hàng quý tộc thuộc trung và hạ tầng; hạnh nghiệp của người vãng sanh không chỉ giới hạn trong pháp môn Niệm Phật, mà còn có cả Mật Giáo. Năm sinh và mất của người biên tập không rõ; song hầu hết những người vãng sanh trong tác phẩm này được xem là đồng thời kỳ với ông; cho nên có thể nói rằng các truyền ký ấy là sử liệu đáng tin cậy. San bản có trong Sử Tịch Tập Lãm (史籍集覧) 19, phần Truyện Bộ của Tục Quần Thư Loại Tùng (續群書類從), Tục Tịnh Độ Tông Toàn Thư (續淨土宗全書) 6, Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư (大日本佛敎全書), Nhật Bản Vãng Sanh Toàn Truyện (日本徃生全傳) 8, Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 7.
bản triều tân tu vãng sinh truyện
(本朝新修往生傳) Có một quyển. Do Đằng nguyên tôn hữu, người Nhật bản, biên soạn vào đầu năm Nhân bình (1151). Ghi chép truyện của bốn mươi mốt người được vãng sinh tính đến đầu năm Nhân bình. Hiện nay, chùa Chân phúc tại Nhật bản còn giữ được bản chép tay của sách này, được chép vào năm Chính gia thứ 2 (1258).
Bản trí
本智; C: běnzhì; J: honchi; |Trí huệ bản hữu; trí huệ bẩm sinh.
Bản trí 本智
[ja] ホンチ honchi ||| Original wisdom; innate wisdom. => Trí huệ bản hữu; trí huệ bẩm sinh.
bản trụ pháp tính
Paurāṇasthitidharmatā (S), Pūrvadharmasthittitā (S).
; Paurànasthitidharmatà (S). Originally Abiding Essence of things,
Bản tuỳ
本隨; C: běnsuí; j: honzui; |Căn bản và thứ yếu; Bản tuỳ nhị hoặc (本隨二惑).
Bản tuỳ nhị hoặc
本隨二惑; C: běnsuíèrhuò; j: honzuiniwaku; |Hai phạm trù phiền não: Sáu phiền não chính (lục phiền não 六煩惱) và Hai mươi thứ phiền não phụ (Tuỳ phiền não 隨煩惱).
Bản tuỳ nhị hoặc 本隨二惑
[ja] ホンズイニワク honzuiniwaku ||| The two categories of defilement: the (six) fundamental defilements (六煩惱) and the twenty secondary defilements (隨煩惱). 〔二障義HPC 1.793a〕 => Hai phạm trù phiền não: Sáu phiền não chính (lục phiền não 六煩惱) và Hai mươi thứ phiền não phụ ( Tuỳ phiền não 隨煩惱).
Bản tuỳ 本隨
[ja] ホンズイ honzui ||| Primary and secondary; see 本隨二惑. => Căn bản và thứ yếu; Xem Bản tuỳ nhị hoặc本隨二惑.
bản tài
(本才) Vị Tăng phái Hoàng long thuộc tông Lâm tế đời Tống. Người huyện Trường khê, Phúc châu (tỉnh Phúc kiến), họ Diêu. Hiệu là Phật tâm, đời gọi là Phật tâm Bản tài. Năm sinh năm mất không rõ. Sau khi thụ giới Cụ túc, chu du bốn phương, lần lượt tham học các sư Hải ấn long ở chùa Đại trung, Đông lâm Thường tổng, Tử tâm Ngộ tân, Linh nguyên Duy thanh, và nối pháp Linh nguyên Duy thanh. Về sau, trú trì chùa Thượng phong ở Đàm châu (tỉnh Hồ nam), rồi trú trì chùa Đạo lâm. Sau trở về Phúc kiến hoằng dương đại pháp, lần lượt ở các chùa Đại thừa, Càn nguyên, Linh thạch và Cổ sơn. Nhập tịch vào khoảng năm Thiệu hưng (1131 - 1162). Để lại sách: Phật tâm Tài hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 4. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.18; Tục truyền đăng lục Q.23; Đại minh cao tăng truyện Q.7].
bản tánh
Prakṛti (S), Essential oginal nature Pakati (P)Tự tánh, Tự tánh đế.
; One's own nature—The spirit one possesses by nature—The Buddha within.
bản tánh con người
Mānuṣya (S), Human nature.
bản tâm
The original heart, or mind; one's own heart.
; Inner self.
; (本心) Chỉ bản tính, tức tâm tính chân như xưa nay vốn có của chính mình. Còn gọi là Bản thân. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 349 thượng), nói: Tổ biết tuệ năng đã ngộ được bản tính, bèn bảo rằng: Không biết bản tâm, học đạo vô ích. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn quyển thượng (Vạn tục 110, 421 thượng), nói: Hỏi: Tâm giống vật gì? Đáp: Tâm chẳng xanh chẳng vàng, chẳng đỏ chẳng trắng, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng đi chẳng lại, chẳng bẩn chẳng sạch, chẳng sinh chẳng diệt, yên lặng thường tịch, đó là hình tướng của bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân, tức là thân Phật vậy.
bản tích
The original bản Buddha or Bodhisattva and his tích varied manifestations for saving all beings.
bản tích nhị môn
A division of the Lotus sùtra into two parts, the tích môn being the first fourteen chapters, the bản môn the following fourteen chapters; the first half is related to the Buddha earthly life and previous teaching; the second half to the final revelation of the Buddha as eternal and the Bodhisattva doctrines.
; (本迹二門) Gọi chung Bản môn và Tích môn. Còn gọi là Bản địa thùy thích. Nói tắt là Bản tích. Do đại sư Trí khải tông Thiên thai lập ra. Bản, có nghĩa bản địa (chỗ gốc) thành đã lâu; tích, có nghĩa là cái dấu tích mới thành gần đây. Tức chỉ thực thể và sự ảnh hiện của thực thể. Bản môn, có nghĩa là đức Như lai đã thành đạo (Bản Phật thực thành từ lâu xa) xưa kia trong quá khứ lâu xa lắm rồi, để hiển bày thuyết bản địa, căn nguyên và bản thể của đức Phật, cho nên gọi đó là thực thể. Tích môn, chỉ đức Phật mới thị hiện gần đây (thân mới thành ở Già da), để hiển bày thuyết Bản Phật vì hóa độ chúng sinh mà đã từ bản địa ứng hóa ra thùy tích, vì thế gọi đó là Ứng tích, Ảnh hiện.Cứ theo kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Như lai thọ lượng chép, thì hết thảy thế gian trời, người đều cho là đức Thế tôn Thích ca mới thành Phật ở Già da, nhưng thực thì Ngài đã thành Phật từ trăm nghìn muôn ức na do tha kiếp trước kia rồi, còn thân Phật mới thành ở Già da chỉ là thùy tích (tức rủ lòng thương mà thị hiện giáng sinh) mà thôi. Vì thân Phật có sinh thân và pháp thân khác nhau, nghĩa là sinh thân đã diệt độ, mà pháp thân thì vẫn còn, hoặc cũng có thuyết bảo sinh thân tức pháp thân. Về thọ lượng thì bảo sinh thân chỉ có tám mươi tuổi, mà chân thân thì sống tới bảy trăm a tăng kì kiếp. Thuyết cửu viễn thành Phật của kinh Pháp hoa là một loại Phật đà quan, đặc biệt bàn luận giải thích vấn đề thành Phật, cho thân mới thành ở Già da là Bản Phật thực đã thành tự lâu xa. Thuyết của ngài Trí khải tức đã bắt nguồn từ đó. Thuyết Bản, Tích, nguyên đã được khởi xướng bởi các môn nhân của ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần là Tăng triệu và Tăng duệ, đến đời Tùy, Trí khải mới chuyển dụng nghĩa ấy để giải thích phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp họa. Cứ theo Tăng triệu trong Chú duy ma cật kinh quyển 1 tinh tự (Đại 38, 327 trung), nói: Gốc, tích tuy khác, nhưng mà là một không thể nghĩ bàn. Lại cứ theo Pháp hoa kinh truyện kí quyển 2 Tăng duệ truyện chép, thì Tăng duệ chia kinh Pháp hoa ra làm chín triệt, trong đó, triệt Bản tích vô sinh thứ 7 là nói rõ về bản tích trong phẩm Bảo tháp kinh Pháp hoa. Ngài Trí khải chủ trương nghĩa hai thân Bản, Tích, chia nội dung kinh Pháp hoa làm hai môn Bản, Tích, tức trong hai mươi tám phẩm kinh Pháp hoa, thì mười bốn phẩm đầu là Tích môn, mười bốn phẩm cuối là Bản môn. Tích môn lấy phẩm Phương tiện làm chủ, mở phương tiện tạm thời ba Thừa để hiển bày nghĩa chân thực một Thừa, đó tức là khai quyền hiển thực. Bản môn lấy phẩm Như lai thọ lượng làm chủ, mở dấu tích gần mới thành Phật ở Già da để hiển bày cái gốc đã thành Phật từ lâu xa, đó tức là khai tích hiển bản. Tích môn là tạm thời (pháp phương tiện), Bản môn la chân thực (lí thực tướng) tạo thành pháp mầu nhiệm tạm thời và chân thực là một thể (quyền thực nhất thể). Tiến lên bước nữa mà nói, thì Tích môn là Phật mới thành ở Già da nói ba giáo Tạng, Thông, Biệt trước thời Pháp hoa, đều là phương tiện để đưa đến Viên giáo pháp hoa, vì để trừ sự chấp trước của chúng sinh vào các giáo phương tiện mà hiển bày Viên giáo (sự mở bày của Tích môn), tức là nói về pháp một Thừa Thanh văn, Duyên giác đều thành Phật. Còn Bản môn thì vì diệt trừ quan niệm cho Như lai là Tích Phật mới thành gần đây, mà trực tiếp hiển bày Bản Phật vốn đã thành từ lâu xa để khiến các Bồ tát tăng trưởng trí tuệ trung đạo mà giảm thiểu biến dịch sinh tử (thêm đạo bớt sinh). Nếu đối chiếu Bản và Tích, thì Bản môn là sự viên, Tích môn là lí viên (viên, hàm ý là Viên giáo), tuy nhiên, hai môn Bản, Tích đều là hiển bày cái lí một thực tướng. Lại Trí khải, trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7, khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, lập ra Bản Tích nhị Trùng thập diệu, tức trong mười bốn phẩm Tích môn và mười bốn phẩm Bản môn đều có mười diệu. Trong Bản môn thập diệu, lập ra sáu trùng Bản Tích (sáu loại Bản Tích), đó là: 1. Lí sự bản tích. 2. Lí giáo bản tích. 3. Giáo hành bản tích. 4. Thể dụng bản tích. 5. Thực quyền bản tích. 6. Kim dĩ bản tích. Lại khi giải thích hai chữ Liên Hoa, thì trong Tích môn và Bản môn đều lập ba thí dụ, gọi là Tích Bản tam dụ, Liên hoa tam dụ. Trong những trứ thuật của mình, ngài Trí khải đã tùy từng nơi đem giáo chỉ của hai môn Bản Tích mà tuyên dương, đối với phương pháp giải thích kinh điển, ngoài việc dùng ba giải thích nhân duyên, ước giáo, quán tâm ra, còn lập Bản tích thích, hợp làm bốn giải thích. Thuyết hai môn Bản, Tích ảnh hưởng rất rộng, như thuyết Bản địa thân, Gia trì thân của Mật giáo, thuyết Thần Phật bản tích của Nhật bản, đều đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết Bản Tích nhị môn. Ngoài ra, Giác vận của Nhật bản chuyển thích thuyết ấy, chia Phật A di đà làm hai môn Bản Tích, không lâu sau, Hạnh tây của tông Tịnh độ và Thân loan của Chân tông kế thừa thuyết của Giác vận mà lập Di đà thập kiếp chính giác và Di đà cửu viễn thực thành, Thập kiếp chính giác là Di đà Tích môn, Cửu viễn thực thành là Di đà Bản môn, đồng thời, chủ trương Bản môn Di đà và chúng sinh đều có đủ Phật tính đồng thể. Còn Chứng không của phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ thì chủ trương Di đà mười kiếp biểu thị từ bi, Di đà lâu xa biểu thị trí tuệ, cả hai đều là chân thực, đó tức là Thập cửu lưỡng thực vậy. [X. Pháp hoa văn cú Q.9 phần dưới; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.9; Pháp hoa huyền nghĩa Q.8 phần trên; Tịnh danh huyền nghĩa Q.4; Pháp hoa huyền luận Q.9; Chỉ quán nghĩa lệ Q.thượng; Quan âm huyền nghĩa kí Q.1]. (xt. Thập Kiếp Di Đà, Thập Diệu, Ngũ Thời Bát Giáo, Lục Trùng Bản Tích, Liên Hoa Tam Dụ).
bản tích thích
(本迹釋) Là một trong bốn Thích của tông Thiên thai. Ngài Trí khải dùng bốn phương pháp Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tích thích và Quán tâm thích để giải thuyết kinh Pháp hoa, gọi là Thiên thai tứ thích. Bản tích thích, tức là dựa vào hai môn Bản địa và Thùy tích mà giải thích kinh Pháp hoa. Phần nhiều dùng để tường thuật các sự tích liên quan đến đức Phật và các đệ tử, chẳng hạn như giải thích câu Xá lợi phất đẳng chư Phật đệ tử, nếu nói họ là tỉ khưu Thanh văn thì dựa vào Tích môn để giải thích, nếu nói họ nguyên là Bồ tát thì dựa vào Bản môn để giải thích. (xt. Thiên Thai Tứ Thích, Bản Tích Nhị Môn, Pháp Hoa Văn Cú).
bản tích thập diệu
(本迹十妙) Chỉ Bản môn thập diệu và Tích môn thập diệu. Cái không thể tưởng tượng, nghĩ bàn được gọi là diệu, tức chỉ lí thực tướng. Đại sư Trí khải tông Thiên thai, trong Pháp hoa huyền nghĩa, khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, có lập ra Bản tích thập diệu, bàn tổng quát về nhân quả, tự tha nói trong kinh Pháp hoa đều có đủ mười diệu. Trong mười bốn phẩm Tích môn của kinh Pháp hoa, từ phẩm Phương tiện lập mười diệu Tích môn: cảnh diệu, trí diệu, hành diệu, vị diệu, tam pháp diệu, cảm ứng diệu, thần thông diệu, thuyết pháp diệu, quyến thuộc diệu và công đức lợi ích diệu, và đối chiếu so sánh với Thập thô trong các kinh đức Phật nói trước thời Pháp hoa mà bàn tường tận về cái cảnh, trí nói trong kinh Pháp hoa đều là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn. Trong mười bốn phẩm Bản môn, từ phẩm Như lai thọ lượng lập mười diệu Bản môn: bản nhân diệu, bản quả diệu, bản quốc độ diệu, bản cảm ứng diệu, bản thần thông diệu, bản thuyết pháp diệu, bản quyến thuộc diệu, bản niết bàn diệu, bản thọ mệnh diệu và bản lợi ích diệu, và đối chiếu so sánh với Thập thô của Tích môn mà thuyết minh một cách tỉ mỉ về nhân quả của Bản môn đều là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, Q.7]. (xt. Thập Diệu, Bản Tích Nhị Môn).
bản tích tương nhiếp
(本迹相攝) Tức là Bản tích thập diệu và Thập bất nhị môn cùng bao nhiếp nhau. Ngài Trạm nhiên ở Kinh khê thuộc tông Thiên thai, dựa theo Bản tích thập diệu của ngài Trí khải trong Pháp hoa huyền nghĩa mà sáng lập Thập bất nhị môn để bao nhiếp nhau mà qui kết ở cái tâm một niệm, nêu rõ đại cương phép quán để hiển phát ý sâu xa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7]. (xt. Thập Bất Nhị Môn, Thập Diệu).
Bản tính
本性; C: běnxìng; J: honshō; S: prakṛti. |Bản chất, tự tính. Một bản chất chủ yếu của mọi vật, thường tương đương với khái niệm Tự tính (自性, s: svabhāva; p: sabhāva). Đặc biệt trong Phật giáo Đại thừa, thường loại trừ ý niệm của một bản tính cố hữu như là một nhận thức sai lầm. Nhưng mặt khác, theo quan niệm chung của triết học Trung Hoa thì bản tính con người vốn là thiện, các kinh văn khác cũng ám chỉ bản tâm vốn thường trong sáng và thanh tịnh. Xin xem kinh Viên Giác để biết thêm về Bản tính.
bản tính
Prakrti (S).The spirit one possesses by nature; one's own nature. Original or natural form (matter). Also tự tính, bát ca đê.
; (本性) Chỉ tính đức sẵn có. Tức tính chân thực tuyệt đối thường còn chẳng biến. Kinh Viên giác (Đại 17, 919 trung), nói: Nếu bản tính giác tâm này vốn trong sạch, thì do đâu mà ô nhiễm?
Bản tính giới
本性界; C: honshōkai; J: běnxìngjiè; |Xem Bản tính trú chủng tính.
Bản tính giới 本性界
[ja] ホンショウカイ honshōkai ||| See 本性住種姓. 〔二障義HPC 1.793b〕 => Xem Bản tính trú chủng tính.
Bản tính trú
本性住; C: běnxìngzhù; J: honshōjū;|Xem Bản tính trú chủng tính (本性住種姓)
Bản tính trú chủng
本性住種; C: běnxìngzhùzhŏng; J: hon-shōjūshu;|Xem Bản tính trú chủng tính (本性住種姓)
Bản tính trú chủng tính
本性住種姓; C: běnxìngzhùzhŏngxìng; J: honshōjūshushō;|Chủng tử trong A-lại-da thức vốn đã có ngay lúc sinh ra như là kết quả của những hành vi trong kiép trước. Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ cho những hạt giống sẽ quyết định khuynh hướng tâm linh của mình, như là sự khác nhau giữa bản chất Thanh Văn, Bồ Tát v.v… Còn gọi là Bản hữu chủng tử (本有種子). Những chủng tử nầy vi tế hơn những chủng tử được gieo trồng trong đời nầy (tập thành chủng tính 習成種姓).
Bản tính trú chủng tính 本性住種姓
[ja] ホンショウジュウシュショウ honshōjūshushō ||| Seeds in the ālaya consciousness which are already present at birth as the result of the activities of prior lifetimes. This term is commonly used in reference to the seeds which would determine one's spiritual proclivities, such as the distinction between potential for śrāvaka, bodhisattva, etc. 〔瑜伽論T 1579.30.478a〕Also written 本有種子. These seeds are far more subtle than the seeds which are cultivated in the present lifetime 習成種姓. => Chủng tử trong A-lại-da thức vốn đã có ngay lúc sinh ra như là kết quả của những hành vi trong kiếp trước. Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ cho những hạt giống sẽ quyết định khuynh hướng tâm linh của mình, như là sự khác nhau giữa bản chất Thanh văn, Bồ-tát v.v...Còn gọi là Bản hữu chủng tử. Những chủng tử nầy vi tế hơn những chủng tử được gieo trồng trong đời nầy (tập thành chủng tính習成種姓).
bản tính trụ chủng tính
(本性住種性) Phạm: Prakftistha-gotra. Nói tắt là Tính chủng tính, Tính chủng. Là một trong hai chủng tính Đại thừa. Chủng tính, là bản tính có khả năng chứng được bồ đề. Bản tính trụ chủng tính, tức là chủng tính tự nhiên tự tồn từ vô thủy đến nay. Đối lại, chủng tính hậu thiên tu được, gọi là Tập chủng tính. Cả hai được gọi gộp lại là Tính tập nhị tính. Bản tính trụ chủng tính từ vô thủy đến nay nương tựa vào thức A lại da thứ tám, là chủng tính Đại thừa nhân vô lậu tự nhiên tự tồn từ vô thủy đến nay, tức cái gọi là tính thiên bẩm. Cái tính đó trong thân người ta, dù bị phiền não vô minh trói buộc che lấp, dù phải luân hồi trong sáu ngả bốn loài, nhưng nó vẫn tự nhiên tự tồn trong thức A lại da, không hoại không mất.
Bản tính 本性
[ja] ホンショウ honshō ||| "original nature," or "inherent nature" (prakṛti). An originally present fundamental quality of something, often equivalent to the concept of "self-nature" (自性 - Skt. svabhāva; Pali sabhāva). Buddhism, and especially Mahāyāna, generally rejects the concept of an inherent nature as being a mistaken perception. But on the other hand, in accordance with the general Chinese philosophical perception of the human nature as being originally good, certain texts will allude to the mind's inherent purity or quiescence. For one discussion of original nature, see the Yuanjue jing 圓覺經 at T 842.17.913c. => (s: prakṛti). Một biểu thị độc đáo về bản chất chủ yếu của mọi vật, thường tương đương với khái niệm Tự tính (自性 – s: svabhāva; p: sabhāva). Đặc biệt trong Phật giáo Đại thừa, thường loại trừ ý niệm của một bản tính cố hữu như là một nhận thức sai lầm. Nhưng mặt khác, theo quan niệm chung của triết học Trung Hoa thì bản tính con người vốn là thiện, các kinh văn khác cũng ám chỉ bản tâm vốn thường trong sáng và thanh tịnh. Xin xem kinh Viên Giác để biết thêm về bản tính.
; [ja] ホンショウ honshō ||| "original nature," or "inherent nature" (prakṛti). An originally present fundamental quality of something, often equivalent to the concept of "self-nature" (自性 - Skt. svabhāva; Pali sabhāva). Buddhism, and especially Mahāyāna, generally rejects the concept of an inherent nature as being a mistaken perception. But on the other hand, in accordance with the general Chinese philosophical perception of the human nature as being originally good, certain texts will allude to the mind's inherent purity or quiescence. For one discussion of original nature, see the Yuanjue jing 圓覺經 at T 842.17.913c. => (s: prakṛti). Một biểu thị độc đáo về bản chất chủ yếu của mọi vật, thường tương đương với khái niệm Tự tính (自性 – s: svabhāva; p: sabhāva). Đặc biệt trong Phật giáo Đại thừa, thường loại trừ ý niệm của một bản tính cố hữu như là một nhận thức sai lầm. Nhưng mặt khác, theo quan niệm chung của triết học Trung Hoa thì bản tính con người vốn là thiện, các kinh văn khác cũng ám chỉ bản tâm vốn thường trong sáng và thanh tịnh. Xin xem kinh Viên Giác để biết thêm về bản tính.
bản tôn
(本尊) Tức là vị chủ tôn căn bản, vị tôn chính. Chỉ bậc tối tôn tối thắng, xuất thế gian mà từ vô thủy đến nay vốn có, làm chỗ nương tựa cho người tu hành Phật đạo. Hoặc chỉ một vị tôn chủ yếu đặc thù nào đó trong nhiều tôn tượng, thờ tại một chùa, một viện, tức lấy vị tôn đặc thù ấy làm gốc để tôn sùng. Còn gọi là Trung tôn (vị tôn chính giữa) để phân biệt với các quyến thuộc thân cận đứng hầu hai bên, hoặc tùy tòng chung quanh. Ở Ấn độ nguyên thờ tượng đức Phật Thích ca mâu ni. Lại vì qui y Phật, Pháp, Tăng tam bảo nên gọi là Tam tôn. Ấn độ thời xưa thì chạm trổ cây Bồ đề, tòa Kim cương, bánh xe Pháp, tháp Phật, lốt chân Phật v.v... để thay cho tượng Phật. Vì dùng các vật tượng trưng để hiển bày tôn hình và chạm trổ đắp vẽ tôn hình, ý nghĩa có khác nhau. Đến sau thời Mật giáo hưng khởi, thì dùng chữ, ấn, hình hiển bày Phật Bồ tát. Thông thường, vị trí của Bản tôn trong các chùa viện, tùy theo mục đích của người sáng lập và niềm tin của người chủ phát nguyện, mà được qui định an vị, cho nên Bản tôn cũng vì đó mà có khác. Như trong Kim đường chùa Pháp long, Tây Phật điện chùa Hưng phúc tại Nhật bản, thờ đức Thích ca Như lai, Căn bản trung đường chùa Diên lịch, Kim đường chùa Kim cương phong thì thờ đức Dược sư Như Lai. Tông Tịnh độ và Tịnh độ chân tông của Nhật bản thì lấy Phật A di đà làm Bản tôn của họ; cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 6 chép, thì trong Bát nhã tinh xá ở Lư sơn, sư Tuệ viễn đã thờ tượng Phật A di đà sớm nhất. Mà trong các tông phái phần nhiều cũng có vị Bản tôn nhất định của phái đó. Lại ngôi nhà trong đó Bản tôn được an vị thì gọi là Bản đường, đồng thời, cũng theo danh hiệu của Bản tôn mà có các tên gọi như Di đà đường, Dược sư đường. Trong Mật giáo, Đại nhật Như lai được gọi là Phổ môn Bản tôn, còn các Phật Bồ tát khác thì gọi là Nhất môn Bản tôn. Đồng thời, tùy theo các pháp tu và mục đích khác nhau mà các Bản tôn cũng đều bất đồng. Đại khái Bản tôn có ba loại: Chữ, Ấn và Hình, và chia ra hữu tướng, vô tướng khác nhau. Chữ, thì như các chữ (vạm), (hrìh), (hùô) v.v... là chủng tử của Đại nhật Như lai, Phật A di đà và Phật A súc. Ấn, thì như Tam muội da hình hoa sen của bồ tát Quán thế âm, đàn tì bà của Biện tài thiên. Hình, chỉ hình tượng của các vị Tôn có đầy đủ tướng tốt đẹp. Trong đó, Bản tôn hữu tướng là chỉ ngoài chính mình ra, lập Bản tôn riêng, là bậc tôn quí nhất trong các tôn, hoặc chỉ chính mình và Phật Bồ tát mà, sau khi kết duyên, mình đã sùng bái từ lâu. Còn Bản tôn vô tướng thì lấy tự thân mình làm Bản tôn, sinh ra tức đã đầy đủ công đức, là người tối thượng trong thế gian và xuất thế gian (tức duy ngã độc tôn). Mật giáo nhận là Phật và mình hỗ tương nhiếp nhập (Phật vào mình, mình vào Phật), hoặc là một thể cùng tột. Cho nên, trong phép tu, sức gia hộ của Bản tôn và công đức của hành giả nhiếp nhập thành nhất thể, sự gia bị mà Bản tôn ban cho, gọi là Bản tôn gia trì. Lại phép quán trong đạo tràng, quán tưởng tướng tốt đẹp của Bản tôn, gọi là Bản tôn quán. Tịnh độ giáo thì xưa nay lấy Phật Di đà hoặc Di đà Tam tôn (Phật Di đà và các bồ tát Quan âm, Thế chí) làm Bản tôn. Tịnh độ chân tông của Nhật bản thì, ngoài tượng vẽ, tượng gỗ là Bản tôn ra, còn lấy danh hiệu làm Bản tôn. Danh hiệu có ba loại sáu chữ (Na mô A di đà Phật), chín chữ (Na mô bất khả tư nghị quang Như lai) và mười chữ (Qui mệnh tận thập phương vô ngại quang Như lai). Liên như cho là Chân tông coi trọng danh hiệu Bản tôn nhất, thứ đến tượng vẽ, và thứ nữa đến tượng gỗ. Ngoài ra, Chân tông còn gọi các Tổ sư và tiên đức của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản được vẽ trong một bức họa, là Quang minh Bản tôn. Tông Nhật liên của Nhật bản chuyên tôn sùng kinh Pháp hoa, vì thế lấy đề mục kinh Pháp hoa Na mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh làm Bản tôn, hoặc lấy Thập giới khuyến thỉnh Đại mạn đồ la do Nhật liên vẽ làm Bản tôn, hoặc lấy Thích ca bản môn và bốn Bồ tát bản hóa cùng làm Bản tôn. Lại nữa, tông Nhật liên gọi Bản tôn, Đề mục, Giới đàn là Tam đại bí pháp (ba phép bí mật lớn), nhưng vật Bản tôn được định là người hay pháp, thì xưa nay có sự bàn luận. Lúc đầu bảo cả hai có khác, lấy tượng Phật làm Bản tôn người, lấy Thập giới mạn đồ la làm Bản tôn pháp, và cho Bản tôn pháp là chủ yếu. Nhưng, về sau sư Nhật đạo không cho là Bản tôn có hai loại khác nhau, mà chủ trương lấy Bản Phật Thích ca của ba thân vô tác làm Bản tôn, còn các Bản tôn khác thì chỉ khác nhau ở điểm các Bản tôn được khắc gỗ và vẽ rộng hay luợc mà thôi. Trong đó, Bản tôn bằng gỗ, hoặc vẽ được tạo nên để thích nghi với năng lực và tính chất của chúng sinh. Đặt Bản tôn bằng gỗ là vì phương tiện tín, hành, cho nên gọi là Giáo môn Bản tôn; còn Bản tôn vẽ Thập giới mạn đồ la thì vì tiện cho sự hành pháp mà đặt ra, cho nên gọi là Quán tâm Bản tôn. [X. kinh Lục độ tập Q.4; kinh Đại nhật Q.6 phẩm Thuyết bản tôn tam muội; Đại nhật kinh sớ Q.3, Q.20; Bí tạng kí; Ngô thê kính Q.26; Tổ sư cương yếu san lược Q.7]. (xt. Phổ Môn, Quảng Lược Bản Tôn).
bản tướng
(本相) Chỉ tưóng gốc của bốn tướng hữu vi là Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Còn gọi là Đại tướng. Là vì bốn tướng có bản tướng và tùy tướng khác nhau. (xt. Tứ Tướng).
Bản tắc
本則; J: honsoku, nghĩa là »Quy tắc căn bản«;|Một cách gọi khác của một Công án, được sử dụng trong hai tập công án Bích nham lục và Vô môn quan để phân biệt với những thành phần khác của công án như »thuỳ thị«, »trước ngữ,« »bình xướng«.
Bản Tế
本濟; C: běnjǐ; J: honsai; 562~615; |Tăng sĩ Trung Hoa, đời Tuỳ; là đệ tử của Tín Hành, vị tổ sáng lập Tam giai giáo.
Bản tế
本際; C: běnjì; j: honzai; S: koti. |1. Căn nguyên của thực tại; bản chất nguyên thuỷ của mọi hiện tượng; 2. Nguyên nhân ban đầu. Trước tiên, đã rồi; 3. Căn nguyên, Chân đế, sự thật tuyệt đối, chân như (s: bhūta-koti).
bản tế
See Foundation of Earth in English-Vietnamse Section.
; (本際) 1. Chỉ các biên tế căn bản rốt ráo. Tức là lí thể tuyệt đối bình đẳng, phần nhiều nói về Niết bàn. Còn gọi là Chân tế, Chân như, Thực tế. Kinh Viên giác (Đại 17, 913 thượng), nói: Bản tế bình đẳng, tròn đầy mười phương. Kinh Thắng man (Đại 12, 222 trung), nói: Sống chết y vào Như lai tạng, mà Như lai tạng thì kín nhiệm, cho nên nói bản tế không thể biết được. 2. Chỉ quá khứ, trạng thái trở về trước. Đồng nghĩa với Tiền tế. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 72 thượng), nói: Hành vi quá khứ của chúng sinh, chí tính nương vào bản tế [X. Trung a hàm Q.10 kinh Bản tế]. (xt. Tam thế). 3. Chỉ căn nguyên của chân lí, là gốc của muôn vật. Trung quán luận sớ quyển 6 phần cuối (Đại 42, 101 thượng), nói: Bản tế, là chỗ bắt đầu của người và pháp.
bản tế ngoại đạo
(本際外道) Là một trong mười ba thứ ngoại đạo tại Ấn độ đời cổ. Chủ trương quá khứ ban đầu có bản tế, từ đó diễn sinh muôn vật. Bản tế, tức là biên tế đầu tiên. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối].
Bản Tế 本濟
[ja] ホンサイ Honsai ||| Benji; (562~615) Sui period monk who was a disciple of Sanjie jiao 三階教 founder Xinxing 信行. => j: Benji; (562~615); tăng sĩ Trung Hoa, đời Tuỳ; là đệ tử của Ngài Tín Hành, vị tổ sáng lập Tam giai giáo.
Bản tế 本際
[ja] ホンザイ honzai ||| (koti) (1) Original reality; the original essence of all things. (2) The prior condition. Prior, already. (3) The original, absolute truth; true thusness (bhūta-koti). => (s: koti) 1. Căn nguyên của thực tại; bản chất nguyên thuỷ của mọi hiện tượng. 2. Nguyên nhân ban đầu. Trước tiên, đã rồi. 3. Căn nguyên, Chân đế, sự thực tuyệt đối, chân như (s: bhūta-koti).
Bản Tịch
本寂|Xem Tào Sơn Bản Tịch
; 本寂; ?-1140;|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Thuần Chân và sau truyền lại cho đệ tử là Khánh Hỉ.|Sư thuở nhỏ đã có tư cách khác thường. Một vị tăng lạ thấy vậy khen: »Ðứa bé này cốt tướng phi thường, nếu xuất gia ắt thành tựu giống pháp chân thật.«|Lớn lên, Sư theo Thiền sư Thuần Chân tu học và sớm ngộ được ý chỉ của thầy. Sau đó, Sư đến trụ trì chùa Chúc Thánh, làng Nghĩa Trụ, xiển dương tông chỉ.|Niên hiệu Thiệu Minh năm thứ ba, ngày 14 tháng 6, Sư gọi chúng lại bảo: »Vô sự! Vô sự!« rồi sau đó viên tịch.
bản tịch
(本寂) (840 - 901) Vị Thiền tăng đời Đường. Người huyện Bồ điền (Cổ điền, Phúc kiến) Tuyền châu, họ Hoàng. Là pháp tự của tổ Lương giới ở Động sơn thuộc tông Tào động. Đời gọi là Tào sơn Bản tịch. Lúc nhỏ học Nho. Mười chín tuổi đến núi Linh thạch huyện Phúc đường Phúc châu xuất gia. Hai mươi lăm tuổi thụ giới Cụ túc. Khoảng năm Hàm thông (860 - 873) Thiền phong cực thịnh, sư đến ra mắt tổ Lương giới ở Động sơn, rồi đi lại hỏi đạo và ngấm ngầm lãnh hội được ý chỉ sâu kín của tông môn. Sau mở trường thuyết pháp tại huyện Cát thủy Vũ châu, đổi tên là Tào sơn để bày tỏ tình nhớ mến Tào khê. Không bao lâu, rời đến ở núi Hà ngọc (có thuyết nói sư đã đổi tên núi này thành Tào sơn), học đồ vân tập, tông phong Động môn lừng lẫy, truyền trao chỉ quyết ngũ vị của Động sơn thành tiêu chuẩn của tùng lâm, đồng thời giảng thơ Hàn sơn để nuôi chí người học. Lúc bấy giờ có họ Chung ở Hồng châu thỉnh mấy lần mà sư không đi, chỉ chép một bài thơ Cư sơn tụng của Pháp thường ở Đại mai để đáp lại lời mời. Tháng 6 đầu năm Thiên phục, thắp hương an tọa mà tịch, thọ sáu mươi hai tuổi. Sắc thụy là Nguyên chứng Thiền sư. Về sau, tông phong Động sơn, Tào sơn càng thịnh, môn đồ mỗi ngày một đông, bèn gọi là Tào động tông. Trứ tác có Tào sơn ngữ lục 2 quyển. Môn nhân có Tuệ hà ở Tào sơn, Tòng chí ở Kim phong, Xử chân ở Lộc môn, Quang tuệ ở Hà ngọc và Hoằng thông ở Dục vương. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
Bản Tịnh
本淨; 1100-1176;|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Mãn Giác.|Sư họ Kiều, quê ở Phù Diễn, Vĩnh Khương. Sư thuở nhỏ đã rất hiếu học, thông cả Nho và Phật giáo. Lớn lên, Sư xuất gia tu học với Thiền sư Mãn Giác, đạt được yếu chỉ của Thiền tông.|Sau, Sư nhận lời mời đến chùa Kiều An hoằng pháp. Sư thường phát nguyện: »Nguyện con đời đời chẳng lầm tông chỉ của Phật, hạnh tự giác giác tha không bao giờ gián cách, dùng phương tiện dẫn dắt các người đồng vào một đạo.«|Trước khi tịch, Sư gọi chúng đến dạy:|一揆一揆。石貓搖尾|擲身捉鼠。還化爲鬼|若要分明。金生麗水|Nhất quỹ nhất quỹ, thạch miêu diêu vĩ|Trịch thân xúc thử, hoàn hoá vi quỷ|Nhược yếu phân minh, kim sinh lệ thuỷ.|*Một đạo một đạo, mèo đá vẫy đuôi|Nhảy bổ chụp chuột, lại hoá thành quỷ|Nếu cần rành rõ, vàng sinh sông lệ|Và nói kệ:|幻身本自空寂生。猶如鏡形像|覺了一切空幻身。須臾證實相|Huyễn thân bản tự không tịch sinh|Du như kính hình tượng|Giác liễu nhất thiết không huyễn thân|Tu du chứng thật tướng.|*Thân huyễn vốn từ không tịch sinh|Dường tợ trong gương hiện bóng hình|Giác rành tất cả không thân huyễn|Chớp mắt liền hay chứng tướng chân|Nói kệ xong, Sư viên tịch.
bản tịnh
(本淨) (667 - 761) Vị Thiền tăng đời Đường. Người Ráng châu (tỉnh Sơn tây) họ Trương. Lúc nhỏ được Lục tổ Tuệ năng ấn khả, ở chùa Vô tướng núi Tư không (tỉnh An huy). Năm Thiên bảo thứ 3 (744), vua Huyền tôn sai Trung sứ là Dương quang đình đến hỏi đạo sư, sư chỉ dạy cho câu Tâm tức là Phật, vô tâm là đạo. Họ Dương về cung tâu lại, nhà vua nghe, bèn rước sư về ở chùa Bạch liên trong Kinh đô. Sư thường thảo luận về pháp nghĩa với các bậc danh tăng và thạc học tại kinh đô. Năm Thượng nguyên thứ 2, nhập tích, thọ chín mươi lăm tuổi. Thụy hiệu là Đại Hiểu Thiền sư. [X. Tổ đường tập 3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Liên đăng hội yếu Q.3].
bản tịnh vô lậu
(本淨無漏) Có nghĩa là tâm tính chúng sinh xưa nay vốn trong sạch, xa lìa tất cả phiền não ô nhiễm. Nhưng sau vì khởi lên các khách trần phiền não mà chịu tạp nhiễm, sự tạp nhiễm này phàm phu không thể hiểu biết được đúng như thực, chỉ có Thánh đệ tử mới biết được và gắng tu tâm để hoàn lại bản tính của nó và từ trong khách trần phiền não mà được giải thoát. (xt. Tâm Tính, Tâm Tính Bản Tịnh).
bản vô
(本無) Vị tăng đời Minh. Người Côn minh, họ Trương. Năm sinh năm mất không rõ. Sư mồ côi sớm, một hôm đến chơi hồ Côn minh, chỉ một mình thấy hoa sen xanh nổi trên mặt nước, mọi người thấy lạ đều cho là phi phàm. Năm mười chín tuổi y vào Không công núi Tú sơn xuất gia, thụ tâm pháp nơi Thiền sư Sở am, chuyên chí tham cứu. Một hôm đi thác bát (đi xin ăn) trong thành Nhĩ hải, nghe nhà bên cạnh có người nói: Đậu phụ họ Trương, đậu phụ họ Lí, đêm nằm suy nghĩ trăm lối nghìn đường, sáng dậy vẫn là anh bán đậu phụ, bèn đại ngộ. Thời ấy, Mộc công trấn giữ Điền nam, nghe danh sư, đặc biệt mở đàn thỉnh sư khai giảng. Có viết Phong hưởng tập lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.4 (Hư vân)].
bản vô di tông
(本無异宗) Là một trong Lục gia Thất tông thuộc Bát nhã học ở thời Đông Tấn. Trong Trung quán luận sớ, sư Cát tạng bảo tông này do sư Trúc đạo tiềm thành lập, trong Triệu luận sớ, Nguyên khang lại nói do Trúc pháp thải lập. Về tông nghĩa của tông này không có chính văn nguyên thủy để khảo sát, mà chỉ biết sơ qua văn trích dẫn trong Danh tăng truyện sao Đàm tế truyện, thì tông này chủ trương Trong cái không trống rỗng có thể sinh ra vạn hữu. Trong Trung quán luận sớ quyển 2 phẩm Nhân duyên (Đại 42, 29 thượng), Cát tạng nói rõ hơn: Sau đó, Thâm pháp sư nói: Bản vô, là chưa có sắc pháp, trước có cái không, cho nên từ không ra có, tức không ở trước có, có ở sau không, vì thế gọi là bản vố. Đây có nghĩa là khi chưa có muôn vật, thì trước hết có cái không, từ không sinh ra có, cho nên muôn vật từ cái không mà ra, dùng cái không để giải thích thuyết chẳng có chẳng không trong kinh luận. Cái gọi là chẳng phải có là có tức là không, chẳng phải không là không cũng là không, tất cả chỉ là không, đó chính là tông nghĩa của tông này. Song, sư Tăng triệu đã luận phá thuyết này, cho rằng không phù hợp với tư tưởng Bát nhã, vì mỗi lời nói ra đều xu hướng không vô. Cái bản ý chẳng có chẳng không được thành lập trong kinh luận, là vì hết thảy các pháp đều nương vào nhân duyên mà có, chẳng phải thật có, cho nên gọi là chẳng có; lại vì các pháp nương nơi nhân duyên mà có, chẳng phải toàn không, cho nên bảo là chẳng không, vì thế coi tông này là vọng sinh xuyên tạc, nói gượng chẳng có là không thì cái này có, chẳng không là không thì cái kia không, và chê là Tông này thích bàn về không. [X. Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử (Thạng tích dư)].
bản vô tông
(本無宗) Đứng đầu Lục gia Thất tông thuộc Bát nhã học ở thời Đông Tấn. Thuyết Bản vô, nói theo nghĩa rộng, gần như có thể được coi là tên gọi khác của Bát nhã học. Từ thời Ngụy, Tấn trở đi, thuyết Bản vô được nhiều người dùng, nhất là các nhà Bát nhã học, nhưng cũng nêu lên nhiều nghĩa khác nhau. Bộ luận Lục gia thất tông do Đàm tế soạn đã mất, chỉ còn nhờ các truyện kí và chú sớ của luận này mà tìm hiểu nguyên do các thuyết. Cứ theo Danh tăng truyện sao Đàm tế truyện dẫn dụng văn trong luận Lục gia Thất tông nói (Vạn tục 134, 18 thượng), thì: Trước khi nguyên khí nung đúc thì chỉ là trống không mà thôi, đến khi nguyên khí nung hóa thì muôn tượng có hình, hình tuy được hóa, nhưng cái gốc tạm hóa lại từ tự nhiên, tự nhiên như thế, nào có ai tạo tác đâu?! Do đó mà nói, vô ở trước nguyên hóa, vô là đầu các hình, vì thế gọi là Bản vô, chứ không phải nói trong cái khoảng rỗng không có thể sinh ra vạn hữu. Tông này nhận rằng, thế giới ở trong trạng thái tự nhiên không, vô, rồi do nguyên khí biến hóa mà thành, cho nên nói là Bản vô, chứ không thể bảo vạn hữu từ trong cái không, vô sinh ra. Thời nam triều Trần, trong Triệu luận sớ, sư Tuệ đạt ở chùa Tiểu chiêu đề, đã chỉ rõ rằng, những lời trên đây là do Đạo an nói, trong Trung quán luận sớ, Cát tạng cũng đồng quan điểm, như vậy, thuyết này không còn nghi ngờ gì nữa. Kế đó, trong Trung quán luận sớ nói, Bản vô là Tăng duệ gọi tính không, hàm ý là bản tính của các pháp vốn rỗng lặng, cũng tức là ý tính không duyên khởi, duyên khởi vô tính. Đây là chủ trương chẳng có, có tức không, chẳng không, không cũng không, mà Phật giáo gọi là Ác thủ không, vì chẳng những cho cái có là không, mà cả cái không cũng là không nốt. Tăng triệu cho chủ trương ấy không phù hợp với tư tưởng Bát nhã, bèn bài xích nghĩa Bản vô trong luận Bất chân không Q.3, nhưng Trung quán luận sớ bảo cái bị bài xích là Bản vô dị tông, chứ không phải cái học của Đạo an. Từ thời Lục triều trở đi, ai cũng nhận Đạo an là người giữ gìn giáo lí Bát nhã, đồng thời, cũng là trọng tâm, của Bát nhã học. [X. Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư)].
bản vị hữu thiện
(本未有善) Đối lại với Bản dĩ hữu thiện,............ Chỉ căn cơ ở thời đại Mạt pháp. Căn cơ thời đại đức Phật còn tại thế và sau khi nhập diệt, ở thời Chính pháp, Tượng pháp, gọi là căn cơ bản dĩ hữu thiện (vốn đã có duyên lành); đối lại, căn cơ ở vào thời đại Mạt pháp, gọi là căn cơ bản vị hữu thiện (vốn chưa có duyên lành). Vốn đã có duyên lành, là nói ở quá khứ, hạt giống thành Phật đã được gieo vào lòng chúng sinh, đây là duyên lành có thể có được ở thời đại Chính pháp và Tượng pháp. Còn vốn chưa có duyên lành, thì chưa từng mong nhờ có thiện duyên gieo hạt giống Phật, cho nên, chúng sinh ở thời này (thời Mạt pháp), gọi là căn cơ vốn chưa có duyên lành, phần nhiều là những kẻ phỉ báng, không tin giáo pháp. Kinh Pháp hoa phẩm Thường bất khinh bồ tát chép, bồ tát Thường bất khinh bị những kẻ bất tín chửi mắng, ném đá, đánh đập, nhưng Thường bất khinh trước sau vẫn cung kính, gặp ai cũng chắp tay vái chào mà nói Các ông đều sẽ thành Phật cả. Đại sư Trí khải tông Thiên thai, giải thích việc này như sau: Đối với những hạng căn cơ vốn chưa có duyên lành ở thời Mạt pháp, Thường bất khinh đã mạnh mẽ nói Nhất thừa Viên giáo, gieo hạt giống Phật xuống, dùng sức mạnh Đại thừa để tiêu diệt mầm ác của họ. Đó tức là nghĩa cưỡng độc hạ chủng, (gắng sức gieo hạt giống Phật) vậy. Pháp hoa văn cú quyển 10 phần trên (Đại 34, 141 thượng) nói: Vốn đã có duyên lành, Thích ca dùng nhỏ mà hộ trì, vốn chưa có duyên lành, Bất khinh dùng lớn mà áp đảo.
bản án
Judgment.
Bản Điền tự
(本田寺) Chùa Bản điền. Còn gọi là Kim cương tự, Tiểu khẩn điền bản điền ni tự. Là ngôi chùa sớm nhất tại Nhật bản, nay đã hoang phế. Vị trí nằm tại huyện Nại lương, quận Cao thị, làng Minh nhật, thôn Bản điền. Là đền thờ của giòng họ An tác bộ, được bắt nguồn từ cuộc lễ an vị Đại đường thần do Tư mã đạt cử hành vào năm Kế thể Thiên hoàng thứ 16 (522) tại đền này, sau người con của giòng họ An là Đa tu nại mới làm thành chùa vào năm thứ 2 (587) đời Dụng minh Thiên hoàng. Điểu Phật sư đời thứ 3 dâng cúng hai mươi đinh ruộng (bằng một trăm mẫu Bắc bộ VN), đến đầu thời kì Nại lương nó đã trở thành một ngôi chùa lớn, và cũng từ đó, ngưng phát triển. Về sau suy vi dần đến chỉ còn lại Già lam thạch, và một ít ngói Bá mục đào được ở chung quanh.
bản đường
(本堂) Chỉ tòa nhà trong chùa viện, nơi đây, vị Bản tôn (vị tôn chính) được bài trí, phần nhiều do Phật giáo Nhật bản dùng. Ngày xưa gọi là Kim đường, như Kim đường trong chùa Pháp long, Kim đường ở chùa Kim cương phong. Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng gọi là Căn bản hương điện. Bản đường của tông Tịnh độ và tông Chân tông Nhật bản còn được gọi là Di-đà đường, để phân biệt với Tổ sư đường, Ngự ảnh đường; Thiền tông gọi Bản đường là Phật điện. Trung quốc và Hàn quốc thông thường gọi là Đại hùng bảo điện, Đại hùng điện, Đại điện. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Điện đường môn].
bản đầu
(板頭) Đầu, hàm ý là đầu tiên, bắt đầu. Chỉ ngôi vị bắt đầu của các bản trong nhà Tăng. Như bốn cái giường ở các phía đông bắc, tây bắc, tây nam, đông nam, mỗi giường đều có năm người, ngồi theo thứ tự tuổi hạ, vị đầu tiên của bốn giường gộp lại gọi chung là Tứ bản đầu. Theo thứ tự nói là Thủ tọa bản đầu, Hậu đường bản đầu, Lập tăng bản đầu và Tây đường bản đầu. Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 thượng), nói: Ở trong cửa trước, giáp giường dưới phía nam bản đầu thứ ba, theo thứ tự mà ngồi.
bản địa
Native place, natural position, original body.
; (本地) Chỉ thực tướng Pháp thân của Phật Bồ tát. Tức đối với Hóa thân sở hiện mà gọi Bản thân năng hiện là Bản địa. Bản, là căn bản; địa, là nghĩa sở y (chỗ nương tựa); ý nói thực tướng Pháp thân là gốc của vạn hóa, cũng như đất là chỗ nương tựa của muôn vật, vì thế gọi là bản địa. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].
bản địa môn
The uncreated dharmakàya of Vairochana is eternal and the source of all things, all virtues.
bản địa thuỳ tích
(本地垂迹) Là Bản địa và Thùy tích nói gộp lại. Cũng gọi là Bản tích. Có nghĩa là chư Phật Bồ tát vì cứu độ chúng sinh mà từ nơi thân thực của chính mình biến hóa ra nhiều phân thân (thân chia ra từ thân chính), rủ lòng thương đời, hóa độ chúng sinh, thân thực là bản địa, phân thân là thùy tích. Địa, có nghĩa là hay sinh. Vì làm lợi vật mà từ bản thân rủ xuống (thuỳ tích) vạn hóa, cho nên, gốc hay hiện gọi là Bản địa, ngọn bị hiện gọi là Thùy tích. Như đức Bản sư Thích ca mâu ni, thực đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi (Bản môn), thị hiện ra Ứng thân xấu kém (Tích môn) cao một trượng sáu thước để hóa độ chúng sinh. Tư tưởng Bản địa thùy tích đã dựa trên cơ sở của hai môn Bản tích trong kinh Pháp hoa và thuyết Bản địa gia trì trong kinh Đại nhật. Lại như sự phân thân nhiếp hóa của bồ tát Quan thế âm, sự hiện hình tỉ khưu của bồ tát Địa tạng, sự ứng hóa vô phương (tức không bị ràng buộc) của các vị La hán trụ thế v.v... đều là những phương tiện dẫn dụ kẻ phàm phu mạt thế, bởi vậy mà có thuyết Thùy tích nhiếp hóa. Thuyết luân hồi chuyển sinh đã thịnh hành ở Ấn độ xưa, những thuyết các thần ứng hóa cũng không phải ít. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, như chủ trương cho Khổng tử, Nhan hồi và Lão tử là sự ứng hóa của Bồ tát, La hán được ghi chép trong kinh Thanh tịnh hành pháp mà có người cho là ngụy tác. Vả, Đạo giáo có thuyết Lão tử tám mươi mốt hóa, ngoài ra, Thiền tông cũng có thuyết Hàn sơn, Thập đắc, Bố đại v.v... cũng là do Thùy tích mà ra, tất cả những điều đó cho thấy Trung quốc cũng có thuyết Bản địa thùy tích. Song, tại Nhật bản thì chuyên châm chước các thần truyền thống cố hữu trong Thần đạo mà nói bản địa thùy tích. Chẳng hạn, các tông Thiên thai, Chân ngôn thì lấy Phật làm bản, lấy thần làm tích, mỗi một thần đều có một Phật, Bồ tát đáp phối, thần kì đều là thùy tích của Phật và Bồ tát [X. Bản triều cao tăng truyện Q.73, Q.74; Nhật bản giáo sử chi nghiên cứu]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
bản địa thân
(本地身) Còn gọi là Bản địa pháp thân. Là thuyết về thân Phật của Mật giáo, là Tự tính thân trong bốn loại Pháp thân. Tức là thân bản địa. Đối lại với Gia trì thân. Là thân căn bản làm chỗ nương tựa cho hết thảy vạn hóa, cũng tức là thực tướng Pháp thân của Phật Tì lô giá na. Theo giáo nghĩa của Mật giáo, thực tướng Pháp thân của Phật Tì lô giá na, Giáo tổ của Mật giáo, là gốc của muôn hóa, cũng như đại địa là chỗ nương tựa của muôn vật, vì thế gọi là Bản địa thân. Đối lại với Bản địa thân, người tu hành Chân ngôn, tu hạnh Tam mật, khi đã được tương ứng với Tam mật mà Phật thân xuất hiện trong Du già quán, thì gọi là Gia trì thân. Thuyết bản địa thân là căn cứ theo giáo chỉ Bản môn trong kinh Pháp hoa mà có. Đại nhật kinh sớ quyển 7 bảo, Bản địa thân là chỗ sâu thẳm vắng bặt của Diệu pháp liên hoa, cho nên, Bản địa thân cũng đồng nghĩa với Bản môn thân mà kinh Pháp hoa bảo là thường nói pháp trên núi Linh thứu. Cùng sách đã dẫn, quyển 3, lại nói Diệu pháp liên hoa tức là Thai tạng giới mạn đồ la, mà trong đó, Đại nhật Như lai ngự ở Trung đài bát diệp viện tức là Bản địa pháp thân. Tại Nhật bản, về tự thể của Bản địa thân và Gia trì thân, có rất nhiều thuyết khác nhau. Chẳng hạn như tông Cổ nghĩa chân ngôn, lấy Đại nhật Như lai ở Trung đài bát diệp viện làm Bản địa thân, và lấy chư tôn ở ba lớp ngoài mạn đồ la làm Gia trì thân; thuyết này gọi là Bản địa thuyết, Tự chứng thuyết. Tông Tân nghĩa chân ngôn thì từ Bản địa thân mà lập Gia trì thân, cho nên nhận Đại nhật Như lai ở Trung đài bát diệp viện cũng là Gia trì thân, thuyết này gọi là Gia trì thuyết. Thai mật thì nhận Bản địa thân là Lí pháp thân năng gia trì, mà Gia trì thân thì là Trí pháp thân sở gia trì. Những thuyết khác nhau trên đây, là vì những kiến giải bất đồng về vị giáo chủ của kinh Đại nhật mà có. Ngoài ra, dựa trên thuyết Đại nhật Như lai là Bản địa thân, lại sản sinh chủ trương cho chư tôn cũng có Bản địa thân, chẳng hạn như Bản địa thân của Quan âm là Di đà, Bản địa thân của Nhật thiên là Quan âm v.v... Và Phật giáo Nhật bản, với chủ trương Thần Phật tập hợp, lại tiến thêm một bước nữa mà cho rằng, các Thần mà người Nhật đã tôn thờ từ xưa, mỗi thần đều có Bản địa thân, do đó mà phát sinh ra thuyết Thần Phật bản địa thùy tích, thành ra là một đặc sắc chủ yếu của Phật giáo Nhật bản. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
Bản Địa Thùy Tích
(本地垂迹, Honjisuijaku): thuyết cho rằng bản địa của Thần là Phật và để cứu độ nhân dân Nhật Bản, chư Phật đã thị hiện dưới thân của vị Thần. Đây cũng là sự phát triển của tư tưởng Thần Phật Tập Hợp. Buổi đầu, khi Phật Giáo mới truyền vào Nhật thì cũng giống như Ấn Độ, Thần cũng được xem như là một loại chúng sanh đang trong vòng mê muội; cho nên để cứu độ Thần và làm cho thăng hoa thành Phật thì cần phải chép kinh, độ tăng, hồi hướng công đức Phật pháp; nhờ vậy mới có thể làm cho thoát ly khỏi thân của Thần. Việc này được gọi là Thần Thác (神託). Tuy nhiên, đến thời ký Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, khoảng hậu bán thế kỷ thứ 7), cùng với việc chỉnh đốn quốc gia, lấy Thiên Hoàng làm trung tâm, chư vị Thần được trọng dụng để kiến tạo đất nước với tư cách là Thiên Chiếu Đại Thần (天照大神, Amaterasuōmikami)—vị thần dòng họ của Thiên Hoàng, đã trở thành vị Thần của dân tộc. Về phía Phật Giáo cũng thể hiện sự tôn kính đối với các vị Thần này và dần dần nâng cao vị trí của họ lên. Người ta đã nêu ra các giải thích tổng thể rằng chư vị Thần này thọ hưởng pháp vị của Phật pháp và trở thành Thiện Thần bảo vệ Phật pháp; cho nên từ cuối thời Nại Lương cho đến đầu thời Bình An, chư Thần được thêm vào hiệu Bồ Tát. Thí dụ điển hình cho thấy Bát Phan Thần (八幡神) là đại biểu cho thần dân tộc, sau này được gọi là Bát Phan Đại Bồ Tát (八幡神大菩薩). Vấn đề này nếu đạt đến triệt để, Thần có thể thăng tiến thành Phật, từ đó ra đời tư tưởng Bản Địa Thùy Tích của Thần Phật đồng nhất thể. Từ khoảng giữa thời Bình An, chư vị Thần xuất hiện với tư cách là hóa thân thùy tích có quyền năng của Phật bản địa (được gọi là Quyền Hóa [權化, gonge], Quyền Hiện [權現, gongen]); vì vậy Thần được thêm vào danh hiệu Quyền Hiện. Ví dụ như trường hợp Bát Phan Đại Quyền Hịên (八幡神大權現). Tuy nhiên, thuyết Bản Địa Thùy Tích này không thích dụng đối với các vị Thần như thần tự nhiên (vong linh người chết, linh hồn tự nhiên, v.v.), và tách riêng hẳn các vị này ra. Tỷ dụ có sự phân biệt về các vị Thần Quyền Hóa (權化神), Thần Thật Loại (實類神), Thần Quyền Xã (權社神), Thần Thật Xã (實社神), v.v. Những tín đồ Phật Giáo cũng có thể tôn kính các vị Thần Quyền Hóa; nhưng đối với Thần Thật Loại thì không được tôn thờ. Từ giữa thời Liêm Thương trở đi, khi cuộc vận động độc lập khỏi Phật Giáo của Thần Đạo xuất hiện, tín đồ Phật Giáo cảm thấy bất mãn đối với thuyết Bản Địa Thùy Tích vốn chủ trường rằng Phật Bản Thần Tích (佛本神迹, Phật là gốc và Thần là nương theo) hay Phật Chủ Thần Tùng (佛主神從, Phật là chủ và Thần là phụ thuộc); cho nên thuyết Bản Địa Thùy Tích chủ trương ngược lại rằng Thần Bản Phật Tích (神本佛迹, Thần là gốc và Phật là nương theo) hay Thần Chủ Phật Tùng (神主佛從, Thần là chủ và Phật phụ thuộc) ra đời. Tư tưởng Bản Giác của Thiên Thai Tông vốn lấy tư tưởng Nhật Bản khẳng định hiện thực, cũng đồng điệu với chủ trương này và Tân Phật Giáo Liêm Thương đã dừng lại ở giai đoạn thuyết Bản Địa Thùy Tích. Hơn nữa, với tư cách là sản vật phụ của thuyết này, mỹ thuật Thùy Tích như tạo lập tượng Quyền Hiện, tranh vẽ Thùy Tích, v.v., phát triển mạnh. Về mặt văn học, từ cuối thời Liêm Thương trở đi, các vật Bản Địa được chế tạo ra rất nhiều.
Bản 本
[ja] ホン hon ||| (1) Root, source, origin, essence, basis. (2) Rooted in, to find the origin in. (3) Book, document. (4) In Buddhist texts, often found in such compound words as "original nature" 本性, "original enlightenment" 本覺, or "original Buddhahood" 本佛, indicating the human mind which is in essence, undefiled and enlightened. => Gốc rễ, cội nguồn, căn nguyên, cốt lõi, nền tảng. Bắt rễ vào, có căn nguyên từ. Sách, tư liệu. Trong kinh Phật, thường được dùng chung với 'bản tính', 'bản giác', 'bản Phật', biểu thị bản tâm con người là ở trong tinh thể, không nhiễm ô và trong sáng .
Bản 板
[ja] バン ban ||| Seats of trainees in a Chan meditation hall. => Chỗ ngồi của thiền sinh trong thiền đường.
Bảng
(榜): trong nghi thức trai đàn của Phật Giáo cũng như Đạo Giáo, đây là một loại văn thư dùng niêm yết, với ý nghĩa thông báo trước cho mọi người biết về trình tự pháp sự, chi tiết hành lễ, thành phần tham dự, trình tự khoa nghi, chức vị của chư vị trong đàn tràng, v.v. Loại này vẫn thường dùng rất phổ biến để niêm yết, thông tri các tin tức, v.v., như Bảng Văn (榜文), Bảng Thiếp (榜帖), Phóng Bảng (放榜), Bảng Đơn (榜單). Trong Nho Lâm Ngoại Sử (儒林外史) hồi thứ 2 có câu: “Đệ kim niên chánh nguyệt sơ nhất nhật mộng kiến khán hội thí bảng (弟今年正月初一日夢見看會試榜, vào ngày mồng một tháng Giêng năm nay, đệ mơ thấy gặp bảng thi đỗ).” Trong Công Văn Đàn Tràng, thường có các loại Bảng như Tiết Thứ Bảng (節次榜), Chẩn Tế Trai Đàn Bảng (賑濟齋壇榜), Huyết Hồ Tứ Phương Bảng Cáo (血湖四方榜吿), v.v.
bảng
A placard.
bảng bài thủ
(榜排手) Là một trong bốn mươi tay của Thiên thủ Quan âm. Bảng bài, còn gọi là Bành bài......, Bành bàng, Bàng bài. Bàng, là nghĩa ngăn chống kẻ địch; bài, tức chỉ cái khiên, cái mộc, dùng để chống đỡ mũi tên, mũi giáo của địch. Nếu ai muốn tránh khỏi các thú dữ thì nên tu phép Bàng bài. [X. kinh Thiên quang nhãn quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà là ni; Bổ đà lạc hải hội quĩ]. (xt. Thiên Thủ Quan Âm).
bảng trạng bài thị
(榜狀牌示) Là phương pháp thông báo cho đại chúng biết các việc được làm trong Tùng lâm. Chẳng hạn như vị trú trì muốn mời vị Thủ tọa hoặc các vị tôn túc từ xa đến thăm trụ xứ để đãi trà, thì lập danh sách các vị, rồi sai thị giả đưa đến từng vị một để mời, gọi là Tri đơn (cái đơn báo cho biết). Còn vị trú trì, quản kho khi mời đại chúng uống trà, thì niêm yết lên tấm bảng để thông báo mời mọi người gọi là Thiếp bảng (dán trên bảng). Nếu vị Thủ tọa chiêu đãi đại chúng, thì dùng tờ trạng. Địa điểm đặt bảng trạng cũng khác nhau, trú trì thỉnh Thủ tọa thì bảng đặt ở mé bên đông trước nhà Tăng, quản kho thỉnh Thủ tọa thì bảng đặt ở mé tây, Thủ tọa chiêu đãi đại chúng thì tờ trạng dán ở khoảng dưới tấm bảng đặt trước nhà Tăng. Lại thông báo có tính cách hành chính trong Tùng lâm, thì dùng phương thức treo bảng để truyền đạt, gọi là Bài thị. Địa điểm treo bảng tùy từng việc mà khác nhau, như thông báo về việc kết hạ, tụng giới, bầu các chức sự, công bố tên các chức vụ hoặc nhânviên trong chùa thường niên, triệu tập toàn thể đại chúng v.v... thì đều treo ở trước nhà trai. Về việc thuyết pháp, cầu an, cầu mưa, thì bảng treo trước đại điện; việc mở khóa tu bảy ngày, kết thúc khóa tu bảy ngày, thì bảng treo trước nhà Thiền; việc lên khóa tụng, miễn làm lễ thì treo trước điện Vi đà phía trong. [X. Cao mân tự qui ước].
bảo
Xem Châu báu.
; 1) Ratna or mani (skt)—Bảo châu—Precious—Treasure—Gem—Pearl—Anything valuable. ** For more information, please see Thất Bảo. 2) Bảo Đảm: To guarantee. 3) Bảo Vệ: To protect—To ward—To guard. 4) Cái nồi: A pot. 5) Nấu: To heat—To cook. 6) No nê: Full—Replete. 7) Ôm: To embrace—To enfold. 8) Ôm ấp: To cherish.
; (寶) I. Bảo. Trong Phật giáo, chữ Bảo thường được dùng để diễn tả sự cao cả tôn quí của chư Phật Bồ tát và pháp, như tôn xưng đức Phật tối cao vô thượng là Bảo vương (vua báu), gọi pháp tướng đẹp đẽ của chư Phật Bồ tát là Bảo tướng, gọi Phật tính chân như thanh tịnh là Bảo tính, gọi Phật, Pháp, Tăng trong Phật giáo là Tam Bảo, gọi đất nước trong sạch của chư Phật là Bảo độ, Bảo địa v.v... đều là lệ thường. II. Bảo. Trong các kinh luận phần nhiều có chép việc chư Phật Bồ tát và đất nước của các Ngài dùng các thứ anh lạc, vật báu để trang sức, trong đó, tiếng thất bảo được thấy khắp trong các kinh luận. Thất bảo chỉ bảy thứ bảo vật trân quí trong thế gian là vàng, bạc, lưu li, pha lê, xà cừ, xích châu và mã não, trong các kinh luận tuy gọi có khác nhau đôi chút, nhưng phần nhiều đều lấy bảy thứ vừa kể ở trên làm chính, nay lược thuật như sau: 1. Vàng (Phạm: Suvarịa), dịch âm là Tố phạ lí nô, Tô phạt thích na, Tu bạt nô, Tô phạt duy. Dịch ý là diệu sắc, hảo sắc. Còn gọi là hoàng kim (vàng ròng), tử kim (vàng đỏ tía). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 10 nói, thì vàng từ cát đá núi và đồng đỏ mà ra, vì thế vàng cát cũng gọi là vàng thóc. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, dẫn dụng sự giải thích của Chân đế, nêu lên bốn nghĩa của vàng, đó là: a. Màu sắc không biến đổi. b. Thể không nhiễm bẩn. c. Chuyển dùng làm các vật không ngại. d. Làm cho người ta giàu có Đồng thời, đem bốn nghĩa này để thí dụ với bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh của pháp thân chư Phật. Lại thông thường gọi tướng tốt đẹp trang nghiêm của thân Phật là diệu sắc thân, kim sắc thân, gọi vàng ròng quí nhất là diêm phù đàn kim. 2. Bạc (Phạm:Rùpya), phiên âm là Rô tỉ dã, A lộ ba, Nhạ đa. Còn gọi là bạc trắng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 10 nói, thì bạc là do đốt đá mà ra, bạc và vàng là hai thứ vật báu ai cũng biết, trong Phật giáo cũng thường được dùng để gọi thay tên chùa, như gọi Kim địa, Ngân địa v.v... (đất vàng, đất bạc). 3. Lưu li (Phạm:Vaiđùrya), phiên âm là Phệ lưu li da, Phệ nỗ li dã, Bệ trù lị dạ, Tì lưu li, Bệ đầu lê, Lưu li. Dịch ý là thanh sắc bảo (vật báu màu xanh), viễn sơn bảo (vật báu từ núi xa). Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24, Tuệ lâm âm nghĩa quyển 1 nói, thì lưu li là ngọc đá màu xanh, ánh sáng trong suốt, là vật thần do trời sinh chứ không phải do người ta mài dũa đá rồi rèn đúc mà thành. Tuy nhiên, chú thích trong Tiền hán thư tây vực truyện quyển 66 phần trên, dẫn dụng thuyết trong sách Ngụy lược, bảo rằng lưu li có hai loại là vật tự nhiên và vật nhân tạo. Vật tự nhiên ở nước Đại Tần, có mười loại là: đỏ, trắng, đen, vàng, xanh, xanh lá cây, vừa xanh vừa trắng, xanh biếc, đỏ lợt, đỏ tươi, màu sắc sáng bóng, các thứ ngọc không bì kịp, màu sắc thay đổi luôn, còn vật nhân tạo là do đốt lấy chất đá rồi đúc và pha thêm các loại thuốc mà thành, là vật giả tạo không thật. 4. Pha lê. (Phạm:Sphaỉika), dịch âm là Tát giả trí ca, Phả trí ca, Phả lê sắc, Phả chi ca, Pha li, Phả lê. Dịch ý là thủy ngọc, bạch châu, thủy tinh. Theo luận Đại trí độ quyển 10 nói, thì pha lê là từ trong hang núi mà ra, là thứ ngọc báu do băng đá hàng nghìn năm kết hóa. Nhưng, Huyền ứng âm nghĩa quyển 6, thì bảo nó là một loại đá, chứ không phải băng hàng nghìn năm kết tinh. Lại Tăng quảng bản thảo cương mục quyển 8, có nêu lên thuyết của Lí thời trân, cho rằng Pha lê nguyên là Phả lê, tên của một nước, đồng thời, bảo pha lê trong sáng lấp lánh như nước, cứng chắc như ngọc, cho nên gọi là thủy ngọc. 5. Xa cừ .(Phạm:Musàragalva), dịch âm là Mâu sa lạc yết bà, Mục sa la già la bà, Mâu hô bà yết lục bà, Ma sa la già lệ, Mâu sa la, Mô tát la, Mâu sa lạc. Dịch ý là tử sắc bảo (vật báu màu đỏ tươi), cám sắc bảo (vật báu màu xanh biếc). Tên gọi của vật báu này bất nhất, như Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 phần cuối. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8, dùng tên Mâu sa lạc yết bà phối với Xà cừ để gọi. Nhưng Huyền ứng âm nghĩa quyển 21, quyển 22, thì bảo vì màu nó trắng xám như óc của con ngựa, nên gọi là mã não. Lại theo Tăng quảng bản thảo cương mục quyển 46, nêu thuyết của Lí thời trân, bảo rằng Xà cừ là chỉ con ngao lớn, dài độ hai ba thước (Tàu), rộng độ một thước, dày độ hai ba tấc, vỏ ngoài có những vằn lớn và sâu, trong vỏ thì trắng toát như ngọc, vì thế bị người ta nhận lầm là một loại đá ngọc. Đời sau thì thường gọi các vật được chế bằng san hô trắng và vỏ ngao là Xà cừ; bởi vì san hô thông thường phần nhiều là màu đỏ, mà san hô trắng thì bị gọi là Xà cừ. Thường thì người ta hay lẫn lộn vật báu này với mã não và hổ phách. 6. Xích châu...... (Phạm: lohitamuktikà, ngọc đỏ), còn gọi là xích bảo, xích chân châu. Theo Phật địa kinh luận quyển 1 nói, thì ngọc này là do trùng đỏ mà ra, vì thế gọi là xích chân châu; hoặc thể của ngọc này là mầu đỏ, cho nên gọi xích chân châu. Lại theo luận Đại trí độ quyển 10 nói, thì ngọc này và san hô có khác, rất trân quí, vì loại chân châu thông thường phần nhiều màu tro, tro nhạt, còn xích chân châu thì màu hơi đỏ, nếu là chân châu thuần đỏ thì rất khó mà kiếm được. 7. Mã não . (Phạm:azmargabha), phiên âm là A thấp ma yết lạp bà, A xá ma yết bà, A thấp phạ yết ba, Át thấp ma yết bà, A thâu ma kiệt bà. Dịch ý là Thạch tàng, Thai tàng, Chử tàng. Vật báu này cùng với cái mà đời sau gọi là mã não có khác, là ngọc xanh biếc, sáng lóng lánh. Người ta thường lầm lẫn ngọc này với mã não (chỉ xà cừ), nhưng Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng bảo hai loại này khác nhau. Lại Huyền ứng âm nghĩa quyển 24, bảo mã não là ngọc màu đỏ, cũng sách ấy quyển 21, lại nói mã não hoặc chỉ hổ phách. Bảy vật báu thuật trên đây có xuất xứ từ kinh Trường a hàm quyển 18 phẩm Diêm phù đề châu, kinh Đại lâu thán quyển 1, kinh Khởi thế nhân bản quyển 1, kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ, kinh A di đà, luận Đại trí độ quyển 10 v.v... trong đó, kinh A di đà nói nước Cực lạc được trang sức bằng bảy thứ báu, rồi do tông Tịnh độ lưu truyền rộng rãi, khiến ai ai cũng biết. Ngoài ra, kinh Khởi thế quyển 1 phẩm Diêm phù châu, kinh Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm quyển trung, đem xích châu trong bảy thứ báu kể trên đổi thành chân châu (Phạm:Mukti, mục ca để). Phật địa kinh luận quyển 1, bỏ pha lê ra mà thay bằng mai côi......(một thứ ngọc đỏ: Phạm:Karketana, yết kê đát nặc ca, Huyền ứng âm nghĩa quyển 6 bảo thứ đá quí này là ngọc hỏa tề, sản ở núi Côn lôn khai minh). Kinh Đại bảo tích quyển 17 trừ xà cừ mà thêm nữ ngọc. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng trừ pha lê, xích châu, thêm san hô .(Phạm:Pravàđa, bát ra bà phúc la; hoặc vidruma), hổ phách ..... (còn gọi là giang châu. Bác vật chí bảo nó là nhựa cây tùng nằm dưới đất hàng nghìn năm trở lên kết tinh mà thành). Kinh Hằng thủy thì trừ lưu li, xích châu, mã não, mà thêm san hô, minh nguyệt châu (Phạm: candra-maịi, chiên đà ma ni), ma ni châu (Phạm: maịi, còn gọi là du ma, mạt ni, là tên chung của ngọc). Lại Nhân đà la ni la (Phạm:indra nìla, còn gọi là nhân đà ni la, dịch ý là thiên chủ đại châu (ngọc thiên chủ màu xanh sẫm), cốt thanh .(màu xanh giống màu chim cắt), Đế thích thanh. Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ, cho ngọc này là quí nhất trong các ngọc màu xanh, cho nên gọi là chúa màu xanh). Long mai......cũng được coi là một trong bảy thứ báu. Trong Mật giáo, khi làm đàn tu pháp, thì đem năm thứ thuốc, năm thứ hương, năm loại hạt và năm thứ báu chôn xuống dưới nền đàn, hay khi quán đính, thì đem năm thứ báu bỏ vào năm cái bình trên đại đàn. Năm thứ báu ở đây là chỉ vàng, bạc, hổ phách, thủy tinh và lưu li trong bảy báu, tuy nhiên, tên gọi của năm thứ báu nói trong các kinh điển đều không giống nhau. Lại Chuyển luân thánh vương cũng có đủ bảy báu (tức bảy thứ báu của vua), nhưng bảy báu ở đây có khác với bảy báu được thuật ở trên, đó là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, đàn bà báu, cư sĩ báu và chủ binh thần (tức tổng chỉ huy quân đội) báu. [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Pháp hoa phẩm thụ kí; kinh Đại A di đà Q.thượng; kinh Bình đẳng giác Q.1; kinh Hải bát đức; Kinh Đà la ni tập Q.12; kinh Nhất tự Phật đỉnh luân vương Q.4; Nhiếp đại thừa luận (bản dịch đời Đường) Q.10; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.4; Phiên phạm ngữ Q.10]. (xt. Ngũ Bảo, Chuyển Luân Vương).
bảo ba la mật bồ tát
Ratna-pāramitā (S)La đát na Ba la mật Bồ tát, La đát na Bạt chiết lệ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (寶波羅蜜菩薩) Bảo ba la mật, Phạm: Ratna-pàramità, dịch âm là La đát na ba la mật đa, dịch ý là bảo đáo bỉ ngạn; hoặc là Ratna-vajrì, dịch âm là La đát na phạ nhật li, La đát na bạt chiết lệ. Là một trong ba mươi bảy vị tôn của Kim cương giới thuộc Mật giáo, một trong bốn Bồ tát Ba la mật. Là vị thứ hai trong bốn Bồ tát thân cận của Đại nhật Như lai. Được bày ở chính giữa nguyệt luân trong hội Thành thân của Kim cương giới mạn đồ la, về phía nam Đại nhật Như lai. Hình tượng, ấn khế của vị tôn này trong các hội Kim cương giới mạn đồ la đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì toàn thân mầu vàng lợt, với hình Thiên nữ, mặc áo yết ma, khuỷu tay trái co lại cầm hoa sen, trên hoa có ngọc báu, bàn tay phải ngửa lên cầm kim luân, ngồi xếp bằng trên hoa sen, ấn khế dùng ấn Thí nguyện của Phật Bảo sinh, chủng tử là (tràhê). Vị tôn này đem tất cả công đức tích tụ được tung rải khắp hư không giới, soi rọi trí chân như mà có thể khiến chúng sinh chứng bồ đề. Cứ theo kinh Đại giáo vương quyển 2 chép, thì Bảo sinh Như lai vào tam muội Bảo ba la mật, vì cúng dường đức Tì lô giá na Như lai mà sinh ra bồ tát Bảo ba la mật. Lại cứ theo Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa chép, thì bốn Bồ tát Ba la mật là mẹ nuôi dưỡng hết thảy hiền thánh. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].
bảo bình
Kundikà (S). Precious vase, vessels used in worship; a baptismal vase used by the esoteric sects for pouring water on the head.
; Kundika (skt). 1) Bình quý (một thứ đồ dùng của Đức Phật) được dùng trong nghi thức lễ lạc: A pecious vase, vessels used in worship. 2) Bình quán đảnh mà Mật giáo dùng để rưới tịnh thủy trên đầu khi làm lễ quán đảnh: A baptismal vase used by the esoteric sects for pouring water on the head.
; (寶瓶) Bình báu. Phạm: Kalaza, dịch âm là Ca la xa, yết la xa; hoặcKuịđikà, dịch âm là Quân trì. Còn gọi là Hiền bình, Đức bình, Như ý bình, Cát tường bình, Át già bình. Trong Mật giáo, chiếc bình đựng nước công đức, nước thơm, nước hoa, đặc biệt được gọi là bình Át già, còn các tên khác như Hiền bình, Đức bình v.v... đều là tên gọi chung về đức hiệu. Còn bảo bình được dùng vào khi làm lễ quán đính thì gọi là Quán đính bình. Bảo bình đựng năm thứ báu, năm thứ hạt, năm thứ thuốc, năm thứ hương, gồm hai mươi vật, đồng thời, chứa đầy nước sạch, nước thơm, miệng bình cắm bảo hoa, diệu hoa làm nắp đậy, cổ bình thì buộc giải lụa trắng để trang sức. Bảo bình hiển bày hình địa đại (nguyên tố đất), địa đại là ngôi vị chữ A vốn chẳng sinh, tức biểu trưng cái lí đức chúng sinh vốn có tâm Bồ đề thanh sạch. Nước trong bình biểu thị chữ (vaô), tượng trưng trí đức. Hai mươi vật tức hiển bày cái đức tâm Bồ đề thanh sạch. Lại bảo bình là hình Tam muội da thuộc Bảo bộ phía nam, hoa cắm trong bình là biểu trưng cái tướng muôn đức của Phật Sa la thụ vương mở ra khi lí và trí ngầm hợp, Khai phu hoa vương Như lai lấy đó làm hình Tam muội da. Nguyên liệu để làm bình có nhiều loại, như vàng, bạc, đồng, pha lê hoặc đất nung, còn theo kinh Vi diệu đại mạn nô la quyển 1 do ngài Thiên tức tai dịch chép, do các loại phép tu bất đồng mà các loại bình và sắc tướng cũng đều khác nhau. Bảo bình cũng là vật cầm tay của chư tôn. [X. kinh Tô tất địa Q.trung, Q.hạ; kinh Đại nhật Q.2].
bảo bộ
(寶部) Là một trong năm bộ Kim cương giới của Mật giáo. Còn gọi là Ma ni bộ. Trong muôn đức tròn đầy của Phật, phúc đức là vô biên, cũng như kho báu ma ni, cho nên gọi là Bảo bộ. Trong năm luân giải thoát của Kim cương giới mạn đồ la, thì Bảo sinh Như lai phương nam và bốn Bồ tát thân cận là Kim cương bảo, Kim cương quang, Kim cương chàng, Kim cương tiếu, và, bồ tát Bảo ba la mật trong bốn Bồ tát Ba la mật thuộc bộ này. Trong đó, Bảo sinh Như lai là bộ chủ, Bảo ba la mật bồ tát là bộ mẫu. Bảo bộ biểu thị sự diệu dụng nội chứng của Bảo sinh Như Lai, vì thế còn hiển bày cái trí tính bình đẳng trong năm trí, chư tôn bên trong chứng được đức ấy tức gọi là Bảo bộ tôn. Chủng tử của bộ này là (tràhê), hình Tam muội da là bảo châu như ý. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Bí tạng kí]. (xt. Ngũ Bộ).
bảo bức bích chi phật
Ratna-nimi (S)La đát na nễ nhĩTên một vị Phật hay Như Lai.
Bảo châu
(寶珠): viên ngọc báu; còn gọi là minh châu (明珠, viên ngọc sáng) Như Ý, là vật do đức Địa Tạng Bồ Tát cầm trên tay trái. Như tại Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji) ở Trường Khi (長崎, Nagasaki), Nhật Bản có câu đối rằng: “Chưởng thượng minh châu phá si vân ư Minh Phủ, thủ trung kim tích yết huệ nhật ư u đô (掌上明珠破癡雲於冥府、手中金錫揭慧日於幽都, ngọc sáng trên tay phá mây mê chốn Minh Phủ, tay cầm tích trượng rọi trời tuệ cõi tối tăm).” Hay trong Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (白雲守端禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1351) quyển Thượng có đoạn: “Ngã hữu minh châu nhất khỏa, cửu bị trần lao quan tỏa, kim triêu trần tận quang sanh, chiếu phá sơn hà vạn đóa (我有明珠一顆、久被塵勞關鎖、今朝塵盡光生、照破山河萬朵, ta có ngọc sáng một viên, lâu bị bụi trần che lấp, sáng nay bụi sạch tỏa sáng, chiếu khắp núi sông vạn cảnh).”
; (寶珠): viên ngọc báu; còn gọi là minh châu (明珠, viên ngọc sáng) Như Ý, là vật do đức Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) cầm trên tay trái. Như tại Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji) ở Trường Khi (長崎, Nagasaki), Nhật Bản có câu đối rằng: “Chưởng thượng minh châu phá si vân ư Minh Phủ, thủ trung kim tích yết huệ nhật ư u đô (掌上明珠破癡雲於冥府、手中金錫揭慧日於幽都, ngọc sáng trên tay phá mây mê chốn Minh Phủ, tay cầm tích trượng rọi trời tuệ cõi tối tăm).” Hay trong Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (白雲守端禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1351) quyển Thượng có đoạn: “Ngã hữu minh châu nhất khỏa, cửu bị trần lao quan tỏa, kim triêu trần tận quang sanh, chiếu phá sơn hà vạn đóa (我有明珠一顆、久被塵勞關鎖、今朝塵盡光生、照破山河萬朵, ta có ngọc sáng một viên, lâu bị bụi trần che lấp, sáng nay bụi sạch tỏa sáng, chiếu khắp núi sông vạn cảnh).”
bảo châu
The precious continent, or wonderful land of a Buddha
; 1) Ngọc Mani: Mani, a precious pearl, or gem. 2) Một biểu tượng của ngài Xá Lợi Phất: A symbol of Sariputra. 3) Đại diệu địa của quả Phật—The precious continent, or wonderful land of a Buddha.
; (寶珠) Ngọc báu. Phạm: maịi. Dịch âm: ma ni, mạt ni. Còn gọi là Như ý bảo châu. Tức gọi chung các thứ ngọc. Bảo châu đoan nghiêm thù diệu, tự nhiên phát ra ánh sáng trong sạch chiếu rọi khắp bốn phương. Là một trong bảy thứ báu của Chuyển luân thánh vương. Kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 10 nói về công năng của nó, như trong chỗ tối, nó làm cho sáng, thời tiết nóng, nó làm cho mát, khi lạnh làm cho ấm; nơi nào có ngọc ấy thì không rét không nóng; người nào mắc các bệnh hàn, nhiệt, phong hoặc ghẻ, lở, phù thũng, đeo ngọc ấy trong mình thì bệnh khỏi hết. Lại ngọc ma ni bỏ vào nước, thì nước theo đó mà hiện một sắc. Luận Đại tì bà sa quyển 102, liệt kê năm loại bảo châu là: quang minh mạt ni, thanh thủy mạt ni, phương đẳng mạt ni, vô giá mạt ni và như ý châu v.v... [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.47; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.47; kinh Bảo tất địa thành Phật đà la ni; luận Đại trí độ Q.59].
; (寶洲) I. Bảo châu. Thí dụ đất vi diệu của quả Phật. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 35 (Đại 10, 186 trung), nói: Lìa nhiễm, vắng lặng, trụ nơi nhất thiết trí tuệ bảo châu. II. Bảo châu (1286 - ?). Vị tăng đời Nguyên. Tên là Giác ngạn. Người huyện Ô trình (Ngô hưng, Triết giang), họ Ngô. Có soạn Thích thị kê cổ lược bốn quyển. (xt. Giác Ngạn).
bảo châu pháp
(寶珠法) Còn gọi là Đà đô pháp (Phạm:dhàtu), Như ý bảo châu pháp. Lấy ngọc báu như ý làm phép tu của Bản tôn. Trong các phép bí mật, phép này bí mật sâu xa nhất, thường không nói đủ mà chỉ nói tắt là nhybcp ., hoặc nói như bảo, như pháp, nhưp . hoặc nóibc pháp, như như b. Như ý bảo châu tức biểu trưng xá lợi Phật, vì thế cũng gọi là Xá lợi pháp. Lại pháp bí mật này không y cứ vào kinh quĩ nào cả. [X. Bí sao vấn đáp Q.18].
bảo châu tỉ khâu ni
(寶珠比丘尼) Còn gọi là Bảo quang tỉ khưu ni. Là một trong các đệ tử của đức Phật. Cứ theo Soạn tập bách duyên kinh quyển 8 phẩm Tỉ khưu ni chép, thì ở nước Xá vệ, có một trưởng giả sinh một người con gái rất đoan chính xinh đẹp, trên đời hiếm có, trên đỉnh đầu tự nhiên có viên ngọc báu, chiếu sáng cả thành nội, cha mẹ cực kì vui mừng, vì thế đặt tên là Bảo châu. Nếu có ai đến xin thì Bảo châu liền lấy ngọc cho, cứ cho rồi ngọc lại sinh. Lớn lên, đến chỗ Phật xin xuất gia, tu tập tinh cần chứng được A la hán.
bảo chí
Pao-chih (C).
; (寶志) (418-514) Vị tăng thời Nam triều. Đời gọi là Bảo công, Chí công hòa thượng. Người huyện Kim thành (Nam trịnh, Thiểm tây, hoặc Cú dung, Giang tô), họ Chu. Thờ ngài Tăng kiệm ở chùa Đạo lâm làm thầy, tu tập Thiền nghiệp. Khoảng năm Thái thủy (466-471) đời Lưu Tống, sư đi lại nơi Đô ấp, không ở chỗ nào nhất định, có khi làm thơ, mỗi câu nói tựa hồ như sấm kí, nhân dân tranh nhau hỏi về họa phúc. Vũ đế nhà Tề thấy thế cho là mê hoặc quần chúng, bèn hạ ngục. Nhưng ngày ngày vẫn thấy sư ra chơi ngoài làng, chợ, nếu vào khám trong tù thì lại thấy sư đang ngồi trong tù. Nhà vua nghe tin, bèn mời vào vườn Hoa lâm cúng dường, cấm không cho ra vào. Vậy mà sư cũng chẳng bị bó buộc, vẫn thường đến thăm các chùa Long quang, Kế tân, Hưng hoàng và Tịnh danh. Đến Vũ đế nhà Lương dựng nước mới bỏ lệnh cấm. Mỗi lần sư nói chuyện với vua, những điều sư nói toàn là nghĩa trong các kinh luận. Tháng 12 năm Thiên giám 13, sư tịch, thọ chín mươi sáu tuổi. Nhà vua ra lệnh táng ở Chung sơn, gò Độc long, dựng chùa Khai thiện bên cạnh mộ phần. Thụy hiệu là Quảng tế đại sư. Đời sau tiếp tục truy tặng các thụy hiệu như Diệu giác đại sư, Đạo lâm chân giác bồ tát, Đạo lâm chân giác đại sư, Từ ứng huệ cảm đại sư, Phổ tế thánh sư bồ tát, Nhất tế chân mật thiền sư v.v... Sư từng vì những người học tập mà soạn Văn tự thích huấn 30 quyển, Thập tứ khoa tụng 14 bài, Thập nhị thời tụng 12 bài, Đại thừa tán 10 bài. Phật tổ lịch đại thông tải bảo ý chỉ của sư ngầm hợp với tông môn. [X. Lương cao tăng truyện Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.36, Q.37; Phật tổ thông tải Q.10, Q.26; Bảo hoa sơn chí Q.7 Chí công pháp sư mộ chí minh; Thần tăng truyện Q.4].
bảo chưởng
(寶掌) (? - 657) Người trung Ấn độ. Đời gọi là Bảo chưởng thiên tuế hòa thượng, Thiên tuế bảo chưởng. Vì khi sinh ra, bàn tay trái nắm lại, đến bảy tuổi xuất gia mới mở nắm tay ra, vì thế lấy tên là Bảo chưởng (bàn tay báu). Cứ theo truyền thuyết thì sư đông du đến Trung quốc khoảng thời Ngụy Tấn, vào đất Thục tham bái bồ tát Phổ hiền. Sư có lòng đại từ, thường không ăn, ngày tụng kinh Bát nhã đến hơn nghìn quyển. Một hôm, sư nói với đại chúng (Vạn tục 138, 41 thượng): Tôi có nguyện ở đời một nghìn năm, nay đã là sáu trăm hai mươi sáu năm, vì thế có tên là Thiên tuế. Về sau, sư đi tham lễ các nơi Ngũ đài, Lư sơn, gặp đúng lúc tổ Bồ đề đạt ma đến Trung quốc, sư liền đến hỏi đạo mà được khai ngộ. Sau năm Trinh quán 15 (641), ở chùa Bảo nghiêm thuộc Phố giang, cùng Bảo Chí với thiền sư Lãng giao du rất thân mật; mỗi lần sư sai con chó trắng đem thư đến hỏi; thì thiền sư Lãng lại sai chú vượn xanh đến trả lời, bởi thế mà có câu Chó trắng ngậm thư đến, vượn xanh rửa bát về. Sư tịch vào năm Hiển khánh thứ 2, truyền là sống đến nghìn tuổi. Ngoài ra, cũng có thuyết nói sư đến Trung quốc vào năm Khai hoàng 17 (597) đời Tùy và sáng lập chùa Thiên minh vĩnh tộ; cũng có thuyết bảo sư sáng lập chùa Vĩnh tộ vào năm Trinh quán 15. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Gia thái phổ đăng lục Q.24; Phật tổ thống kỉ Q.40; Đại minh nhất thống chí Q.38].
bảo chưởng bồ tát
Ratnapāṇi (S)Bảo Thủ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
Bảo Chưởng 寶掌
[ja] ホウショウ hōshō ||| (1) (?-657) The name of an Indian monk who came and taught in China. (2) Jeweled Palm--the name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a10〕 => 1. (?-657) Pháp danh của một vị tăng Ấn Độ đến giáo hoá ở Trung Hoa. 2. Tên của một vị Bồ-tát.
bảo chủ
(寶主) Là một trong bốn vị chủ nước ở bốn phương. Khi vua Chuyển luân thánh vương chưa ra đời, Bảo chủ là một trong bốn vị chủ xuất hiện ở châu Nam thiệm bộ. Từ phía tây núi Tuyết đến Tây hải, khoảng đó có rất nhiều của báu, cho nên vua xứ ấy gọi là Tây phương bảo chủ. [X. kinh Thập nhị du; Đại đường tây vực kí Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.2]. (xt. Tứ Chủ).
bảo chủng
Ratnàpàni (S). Precious race.
Bảo Chử
(寶杵): chày báu, tên gọi khác của Kim Cang Chử (s: varja, 金剛杵), Hàng Ma Chử (降魔杵); âm dịch là Phược Nhật Ra (縛日囉), Phạt Chiết Ra (伐折囉), Bạt Chiết Ra (跋折囉), Phạt Xà Ra (伐闍囉). Loại pháp khí này nguyên xưa kia là vũ khí của cổ đại Ấn Độ, do vì nó cứng rắn, có thể đột phá các thứ vật chất khác, nên gọi là Kim Cang Chữ. Trong Mật Giáo, Kim Cang Chử tượng trưng cho Bồ Đề Tâm có thể phá tan phiền não, được dùng như là đạo cụ hay vật dụng đặc biệt để tu pháp. Các đấng chủ tôn trong Hải Hội Mạn Trà La (曼荼羅海會) đều có cầm cây Bảo Chử này. Hành giả của Chơn Ngôn Tông cũng thường mang theo đạo cụ này bên mình. Nó còn tượng trưng cho trí tuệ đại dụng của Như Lai Kim Cang (如來金剛), có thể phá trừ nội ma của ngu si, vọng tưởng cũng như ma chướng của ngoại đạo. Ban đầu, Kim Cang Chữ có mũi nhọn, rất bén; về sau khi nó được dùng làm pháp khí thì hình thức có thay đổi khá nhiều. Có rất nhiều loại Kim Cang Chử với các chất liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt, đá, thủy tinh, gỗ đàn, xương người, v.v. Chiều dài của Kim Cang Chữ cũng khác nhau như loại dài 8 ngón tay, 10 ngón, 12 ngón, 16 ngón, 20 ngón, v.v. Với tư cách là một loại pháp khí của Phật Giáo, Kim Cang Chử có nhiều hình dáng khác nhau: Độc Cổ (獨股, một đầu), Nhị Cổ (二股, hai đầu), Tam Cổ (三股, ba đầu), Tứ Cổ (四股, bốn đầu), Ngũ Cổ (五股, năm đầu), Cửu Cổ (九股, chín đầu), Tháp Chử (塔杵, chày hình tháp), Bảo Chữ (寶杵), v.v. Trong số đó, loại Độc Cổ, Tam Cổ và Ngũ Cổ là thường gặp nhất; tượng trưng cho pháp giới độc nhất, Tam Mật Tam Thân (三密三身) và Ngũ Trí Ngũ Phật (五智五佛). Độc Cổ, Tam Cổ, Ngũ Cổ, Bảo Chử và Tháp Chử được gọi là Ngũ Chủng Chử (五種杵, năm loại chày). Trong đó, Độc Cổ là loại có hình thức tối cổ, mũi nhọn dài, là vật cầm tay của Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ (密迹金剛力士). Trong đó, loại Độc Cổ Chử có hình thức cổ nhất, là vật thường cầm trên tay của Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ (密跡金剛力士). Ngoài ra, Kim Cang Thủ (金剛手) trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音), một trong 108 bàn tay của Kim Cang Vương Bồ Tát (金剛王菩薩) đều cầm loại Độc Cổ này. Trong 5 loại này, Độc Cổ Chử tương ứng với Liên Hoa Bộ (蓮華部), đặt ở phương Tây của đại đàn. Tam Cổ Chử tương ứng với Yết Ma Bộ (羯磨部), đặt ở phương Bắc của đại đàn. Về cách dùng của Kim Cang Chử, khi cầu thành tựu sự vật, tu pháp của Kim Cang Bộ thì dùng loại Ngũ Cổ Chữ; khi gia trì thì dùng Tam Cổ Chử; khi hành đạo niệm tụng, tu pháp của Phật Bộ, Liên Hoa Bộ thì dùng Độc Cổ Chử; khi tu pháp Đại Uy Đức Minh Vương (大威德明王) thì dùng loại Cửu Cổ Chử. Ngũ Cổ Chử còn gọi là Ngũ Trí Kim Cang Chử (五智金剛杵), Ngũ Phong Kim Cang Chử (五峰金剛杵), Ngũ Phong Quang Minh (五峰光明), Ngũ Cổ Kim Cang (五股金剛); 5 thân hay 5 đỉnh nhọn của loại này tượng trưng cho Ngũ Trí Ngũ Phật (五智五佛). Hình tượng của Bồ Tát Vi Đà (s: Skanda, p: Khanda, 韋馱) thường có cầm trên tay cây Kim Cang Chử hay Bảo Chử để hàng phục ma quân, dẹp yên tà ma, bảo vệ chánh pháp. Cho nên, trong Thiền môn vẫn thường tụng bài xưng tán Bồ Tát Vi Đà rằng: “Vi Đà Thiên Tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng hộ Phật pháp thệ hoằng thâm, Bảo Chử trấn ma quân, công đức nan luân, kỳ đảo phó quần tâm (韋馱天將、菩薩化身、擁護佛法誓弘深、寶杵鎮魔軍、功德難倫、祈禱副群心, Vi Đà Thiên Tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng hộ Phật pháp thệ nguyện thâm, Chày Báu nhiếp ma quân, công đức khó lường, cầu nguyện khắp nhân tâm).” Trong Trùng Biên Chư Tôn Truyện (重編諸天傳, CBETA No. 1658) có câu: “Đế Thích Kim Cang Bảo Chữ, năng diệt A Tu La (帝釋金剛寶杵、能滅阿修羅, Chày Báu Kim Cang của Đế Thích có thể diệt trừ A Tu La).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) quyển 34 của Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) có bài tán về Tứ Tý Quan Âm Đại Sĩ (四臂觀音大士) rằng: “Thông thân thủ nhãn, hà chỉ hữu tứ, ư vô tận trung, liêu nhĩ như thị, Bảo Chữ không ma, chơn kinh vô tự, tổng thị thần thông, bất tư nghì sự (通身手眼、何只有四、於無盡中、聊爾如是、寶杵空魔、眞經無字、總是神通、不思議事, khắp mình tay mắt, sao chỉ có bốn, trong vô tận ấy, vẫn cứ như vậy, Chày Báu dẹp ma, chơn kinh không chữ, thảy là thần thông, chuyện chẳng nghĩ bàn).”
bảo chử
(寶渚) Nghĩa là cồn bãi trân báu; thí dụ Niết bàn rốt ráo. Từ ngữ này có xuất xứ từ kinh Niết bàn. Cùng với từ ngữ Bảo sở, của kinh Pháp hoa là thí dụ đồng loại. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.25]. (xt. Bảo Sở).
bảo chữ
Ratnadvipa (skt). 1) Một hòn đảo nhỏ chứa đầy bảo châu, đồng nghĩa với Niết Bàn—Precious islet, island of pearls or gems; synonym for perfect nirvana. 2) Tên cũ của đảo Tích Lan: An old name for Ceylon.
bảo cái
Parasol Cây lộng.
; Jewelled canopy.
; Lọng trời trang sức bằng ngọc quý, che trên chỗ ngồi của chư Phật—Banners or canopies, decorated with gems.
; (寶蓋) Gọi chiếc lọng báu, tức chỉ cái lọng cõi trời được trang sức bằng bảy thứ báu. Treo trên tòa cao của Phật Bồ tát hoặc giới sư để làm vật trang nghiêm. Cứ theo kinh Duy ma cật sở thuyết phẩm Phật quốc chép, thì con một Trưởng giả ở thành Tì da li tên là Bảo tinh, cùng với năm trăm con trưởng giả khác, cầm lọng bảy báu đi đến chỗ Phật ở. Ngoài ra, trong các kiến trúc đời xưa, trên đỉnh các kinh chàng (cột đá có khắc kinh văn), tháp đá, có chạm trổ rất tinh tế hình cái lọng, cũng gọi là Bảo cái, còn gọi là Hoa cái. [X. kinh Bồ tát bản hạnh Q.trung; kinh Phổ diệu Q.5]. (xt. Cái).
Bảo cái, bửu cái
(寶蓋): lọng báu, dù báu; là từ mỹ xưng cho lọng hay dù; tức chỉ cho lọng trời được trang sức bằng 7 thứ báu; còn gọi là hoa cái (華蓋, lọng hoa). Loại này thường được treo trên tòa cao của Phật, Bồ Tát hay Giới Sư. Theo Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh (佛說維摩詰經, Taishō Vol. 14, No. 474), Phẩm Phật Quốc (佛國品) thứ 1, cho biết rằng trong thành Tỳ Da Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘耶離) có người con một vị trưởng giả tên Bảo Tích (寶積), cùng với 500 con trưởng giả khác, cầm lọng bảy báu đến chỗ đức Phật. Ngoài ra, trong các kiến trúc thời cổ đại, trên đỉnh tháp đá, v.v., có điêu khắc rất tinh xảo hình dạng giống như cái lọng. Trong Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1450) có câu: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng tú, địa dũng kim liên diệp diệp tân (天垂寶蓋重重秀、地涌金蓮葉葉新, trời buông lọng báu lớp lớp đẹp, đất vọt sen vàng lá lá tươi).” Hay trong Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (佛說大乘無量壽莊嚴經, Taishō Vol. 12, No. 363) quyển Hạ có đoạn: “Đông phương Hằng hà sa số Phật sát, nhất nhất sát trung, hữu vô lượng vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, cập vô lượng vô số Thanh Văn chi chúng, dĩ chư hương hoa tràng phan bảo cái, trì dụng cúng dường Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật (東方恆河沙數佛剎、一一剎中、有無量無數菩薩摩訶薩、及無量無數聲聞之眾、以諸香花幢幡寶蓋、持用供養極樂世界無量壽佛, Hằng hà sa số cõi Phật ở phương Đông, trong mỗi một cõi ấy, có vô lượng vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, và vô lượng vô số chúng Thanh Văn, lấy các hương hoa, tràng phan, lọng báu, mang đến cúng dường đức Phật Vô Lượng Thọ của thế giới Cực Lạc).” Hoặc trong Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圓悟佛果禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1997) quyển 4 lại có đoạn: “Tổ Phật đồng căn bổn, nhân thiên cọng tán dương, kết thành bảo cái tường vân, cọng chúc Nam sơn thánh thọ (祖佛同根本、人天共讚揚、結成寶蓋祥雲、共祝南山聖壽, Tổ Phật cùng gốc rễ, trời người cùng ngợi khen, kết thành lọng báu mây lành, cùng chúc núi Nam thánh thọ).”
bảo cát phật
Ratnasikhi (S)Bảo Tích Phật, Bảo đĩnh Phật, Kế na Thi Khí Phật, Bảo Kế Phật, Thích Ca Thi Khí PhậtTên một vị Phật hay Như Lai. Bảo Tích Phật, Bảo Đảnh Phật, Bảo Kế Phật.
bảo cát tường thiên
Nguyệt Thiên—Tên của Nguyệt Thiên gọi là Bảo Cát Tường, là ứng hiện của Bồ Tát Đại Thế Chí—Deva of the precious omen, i.e. Candradeva, deva of the moon, a manifestation of Mahasthamaprapta.
; (寶吉祥天) Phạm: Candra. Dịch âm là Chiến nại la, Chiên đà la, Chiến đạt la. Còn gọi là Nguyệt thiên, Danh nguyệt thiên tử, Nguyệt thiên tử. Tức là Thiên tử ở trong cung trăng, là một trong mười hai thiên. Là thần cách hóa nguyệt cầu, còn có các tên khác là Tô ma đề bà, Tinh tú vương v.v... Từ nơi thân phát ra ánh sáng, tuổi thọ là năm trăm tuổi của cõi trời. Vì trong các kiếp quá khứ đã tu nhân nghiệp thiện như bố thí làm phúc, nên được thụ hưởng cuộc sống vui sướng trong cung điện mặt trăng. Cũng là họ hàng của Thích đề hoàn nhân (Đế thích thiên), là thân biến hóa của bồ tát Thế chí. Mật giáo coi là thần Hộ pháp của Phật giáo. Trong các chùa thuộc Thiền tông, vị trời này được thờ làm thần phúc thọ, danh hiệu của thần này cùng với Nhật thiên tử cùng được bày ở hai bên Đại thiện thần Tuế đức, thờ trên điện Vi đà thiên. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.22 phẩm Tu đà, kinh Trường a hàm Q.22 phẩm Thế bản duyên; kinh Pháp hoa phẩm tựa; kinh Pháp hoa huyền tán Q.2 phần đầu].
bảo cảnh tam muội
Hōkyō zanmai (J).
bảo cảnh tướng quân
The guardian general of the region.
bảo giai
(寶階) Nghĩa là thềm bậc được làm bằng các thứ trân bảo, tức chỉ các bậc thềm mà đức Thế tôn Thích ca dùng khi từ cung trời Đao lợi trở xuống lại thế gian. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 4 Kiếp tỉ tha quốc điều chép, thì tại nơi cách Đô thành nước ấy hơn hai mươi dặm về phía tây, có một ngôi chùa lớn, trong khuôn viên chùa có ba bậc thềm báu, đó là lối mà đức Phật đã dùng để trở lại thế gian sau khi nói pháp trên tầng trời Ba mươi ba (trời Đao lợi). Lúc ấy, trời Đế thích dùng sức thần hóa hiện ra ba tòa thềm báu bằng vàng ròng, thủy tinh và bạc trắng, đức Phật đã do thềm báu bằng vàng ròng ở chính giữa mà đi xuống. Khi ngài Huyền trang đến thăm nước Kiếp tỉ tha, thì ba thềm báu nguyên gốc xưa kia đã không còn nữa, mà chỉ còn thềm báu do các vua chúa các nước làm phỏng theo để thay thế, bằng gạch và đá, trang sức bằng các thứ trân bảo, cao hơn bảy mươi thước (Tàu).
bảo giác thiền sư ngữ lục
(寶覺禪師語錄) Có một quyển. Nói đủ là Tam thánh khai sơn tuệ nhật đệ nhị thế Bảo giác thiền sư ngữ lục. Còn gọi là Đông sơn trạm chiếu thiền sư ngữ lục. Do Đông sơn Trạm chiếu (1231-1291), vị Tăng thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 80. Thu chép các lời nói pháp của Trạm chiếu chùa Tam thánh, như Tiến sơn, Thướng đường, Tiểu tham, Kệ tụng, Tế văn và Tự tán v.v...
bảo giác thiền tự
(寶覺禪寺) Vị trí chùa nằm ở Đài trung thuộc Đài loan. Do Hòa thượng Lương đạt trụ trì chùa Hậu quả ở Bồ huyện tỉnh Phúc kiến sáng lập vào năm Dân quốc thứ 6 (1917). Hiện trong chùa còn để mười bốn nghìn bộ di cốt của những người Nhật trong kì thế chiến II. Năm Dân quốc 52, khởi công tạo một tòa Di lặc đại Phật, cao tới tám mươi tám mét, đồng thời, xuất bản tạp chí Tân giác sinh và mở cơ quan xuất bản văn hóa Phật giáo quốc tế. Ngoài ra, còn tổ chức các khóa giảng kinh định kì tại các nơi. Chùa này là một danh lam ở trung bộ Đài loan.
bảo giác tổ tâm thiền sư ngữ lục
(寶覺祖心禪師語錄) Có một quyển. Còn gọi là Hoàng long am chủ ngữ lục, Hối đường hòa thượng ngữ lục. Do Hối đường Tổ tâm (1025-1100) đời Tống soạn, Tử hòa chép, Trọng giới biên lại, ấn hành vào niên hiệu Nguyên phong năm đầu (1078) đời Thần tôn. Thu vào Vạn tục tạng tập 120 Hoàng long tứ gia lục quyển 2. Sách này ghi chép những lời nói pháp, các câu hỏi đáp trong phòng, bình giảng công án xưa, và các bài kệ tụng...
Bảo Giám
寶鑒; ?-1173|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 9. Sư kế thừa Thiền sư Ða Vân.|Sư họ Kiều, tên Phù, quê ở làng Trung Thuỵ. Sư bẩm chất thông minh, thông cả Nho giáo và nổi danh là viết chữ đẹp. Sư làm quan đến chức Cung hậu xá nhân đời vua Lí Anh Tông.|Năm lên 30, Sư từ quan đến chùa Bảo Phúc quận Mĩ Lương thụ giáo xuất gia với Thiền sư Ða Vân. Khi Ða Vân tịch, Sư ở lại trụ trì chùa này.|Sư thường dạy chúng: »Muốn tiến đến tông thừa của Phật là phải siêng năng, nhưng thành Phật chính giác phải nhờ Trí huệ. Ví như nhắm bắn cái đích ngoài trăm bước, mũi tên đến được là nhờ sức mạnh, nhưng trúng được đích không phải do sức.«|Sắp viên tịch, Sư nói kệ:|得成正覺罕憑修。祇爲牢籠智慧優|認得摩尼玄妙理。祇如天上顯金烏|智者猶如月照天。光含塵殺照無邊|若人要識須分別。嶺上扶疏鎖暮煙|Ðắc thành chính giác hãn bằng tu|Chỉ vi lao lung trí huệ ưu|Nhận đắc ma-ni huyền diệu lí|Chỉ như thiên thượng hiển kim ô.|Trí giả du như nguyệt chiếu thiên|Quang hàm trần sát chiếu vô biên|Nhược nhân yếu thức tu phân biệt|Lãnh thượng phù sơ toả mộ yên|*Ðược thành chính giác ít nhờ tu|Ấy chỉ nhọc nhằn, trí huệ ưu|Nhận được ma-ni lí huyền diệu|Ví thể trên không hiện vầng hồng.|Trí giả khác nào trăng rọi không|Chiếu soi khắp cõi sáng khôn ngần|Nếu người cần biết nên phân biệt|Khói phù man mác phủ non chiều.|Sư dạy thêm: »Tâm ý Như Lai đều không thể được, chỉ nên gọi là Vô lượng trí. Cho nên biết, tâm Như Lai như hư không, là chỗ nương của tất cả, trí huệ của Như Lai cũng như thế.« Nói xong, Sư viên tịch.
bảo giám thiền sư
Zen Master Bảo Giám (?-1173)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Trung Thụy, Bắc Việt. Ngài làm quan dưới triều vua Lý Anh Tông tới chức “Cung Hậu Xá.” Năm 30 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Đa Vân tại chùa Bảo Phước. Ngài trở thành pháp tử đời thứ 9 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Tại chùa Bảo Phước ngài đã sao chép tất cả kinh điển cho chùa. Khi thầy thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Bảo Phước để hoằng pháp cho đến khi thị tịch vào năm 1173—A Vietnamese Zen master from Trung Thụy, North Vietnam. He was an official in the royal palace with the rank of “Cung Hậu Xá” during the reign of king Lý Anh Tông. When he was 30 years old, he lwft home and became a disciple of Zen master Đa Vân at Bảo Phước Temple. He spent time to copy all sutras for this temple. After his master passed away, he continued to stay at Bảo Phước temple to expand Buddhism until he passed away in 1173.
bảo giới
The saptaratna realm of every Buddha, his Pure Land.
; Saptaratna (skt)—Bảo giới hay cõi Tịnh Độ của mỗi vị Phật—The saptaratna realm of every Buddha, his Pure Land.
bảo hiền
Xem Ma Ni Bạt Đà La.
; (寶賢) Vị tỉ khưu ni đời Lưu Tống. Người quận Trần tỉnh Hà nam, họ Trần. Mười sáu tuổi, mẹ chết, trong ba năm cư tang không ăn mễ cốc, chỉ ăn rau trái, không mặc tơ lụa, không ngồi giường chiếu. Mười chín tuổi xuất gia, ở chùa Kiến an, hạnh kiểm tinh thuần, thông suốt cả Thiền học, Luật học. Các vua Văn đế, Hiếu vũ đế, Minh đế đều rất kính trọng. Niên hiệu Thái thủy năm đầu (465), vâng mệnh vua về trụ trì chùa Phổ hiền, năm sau, vua sai giữ chức Đô ấp Tăng chính. Trong thời gian nhậm chức, làm việc rất chăm chỉ và công minh, yêu kính người trên kẻ dưới, đời càng kính trọng. Niên hiệu Thăng minh năm đầu nhập tịch, thọ bảy mươi bảy tuổi. [X. Tỉ khưu ni truyện Q.2 Bảo hiền ni truyện].
Bảo Hiền đà-la-ni kinh 寶賢陀羅尼經
[ja] ホウケンダラニキョウ Hōken daranikyō ||| The Baoxian tuoluonijing; Skt. Maṇībhadra-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] nor bu bzag po'i gzungs [To. 764/970, P.422/595]; (Auspicious Gem Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1285.21.353-354), trans. Faxian 法賢. Recited in order to secure food and alms for the monastic community. Alternate translation (T 1336): 4th fasc. of the Collection of Miscellaneous Dhāraṇīs 陀羅尼雑集. BGBT4/149. => (c: Baoxian tuoluonijing; Skt. Maṇībhadra-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] nor bu bzag po'i gzungs ; e: Auspicious Gem Dhāraṇī). 1 quyển; Pháp Hiền (Faxian 法賢) dịch. Đọc tụng để giữ gìn thực phẩm và tứ sự cúng dường cho tu viện. Bản dịch khác là Đà-la-ni tạp tập (陀羅尼雑集e: Collection of Miscellaneous Dhāraṇīs). 4 quyển.
bảo hiệu
Danh hiệu tôn quý của chư Phật và chư Bồ Tát—Precious name or title, especially that of Buddhas and Bodhisattvas.
; (寶號) Tôn xưng danh hiệu Phật Bồ tát. Đời sau cũng dùng để gọi danh hiệu của Tổ sư.
bảo hoa
Precious flowers, deva flowers.
; Hoa quý hay hoa của chư Thiên—Precious flowers—Deva-flowers.
; (寶華) Có nghĩa là hoa rất quí báu. Kinh pháp hoa phẩm Thí dụ (Đại 9, 11 trung), nói: Nếu khi đi thì bảo hoa theo chân. Lại khi vô số hoa báu tích tập lại thì gọi là Bảo hoa tụ. Kinh Pháp hoa phẩm Kiến bảo tháp (Đại 9, 33 hạ), nói: Dùng bảo hoa tụ cõi trời, rải lên Phật Đa bảo và Phật Thích ca mâu ni. Ngoài ra, cũng có chỗ gọi tòa cao (tòa Tu di) ngồi thuyết pháp là Bảo hoa vương tọa. [X. Bích nham lục Tắc 74].
bảo hoa nguyện
Pao hua yuan (C).
bảo hoa phật
Ratnamalaśrī-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
bảo hoa sơn chí
(寶華山志) Gồm mười lăm quyển. Do Lưu danh phương đời Thanh soạn. Thu trong Trung quốc Phật tự sử chí vậng san đệ nhất tập. Núi Bảo hoa nằm ở Cú dung tỉnh Giang tô, tương truyền nơi đó là đạo tràng của Thiền sư Bảo chí đời Lương, vì quá lâu đời nên đã hoang phế. Đến khoảng năm Vạn lịch đời Minh, Thiền sư Diệu phong mới dựng điện đồng, đặt hiệu là Thánh hóa long xương tự, đến năm Khang hi đời Thanh, vua ban hiệu là Tuệ cư tự, nhân đó chùa nổi tiếng ở đời. Thời ấy, có Lưu danh phương soạn Sơn chí, chia làm hai mươi bốn mục: Sơn đồ, hình thắng, tinh dã, sơn thủy, kiến trí, cổ tích, linh dị, cao tăng, luật sư, bi minh (bài minh khắc vào bia đá), bi kí (văn bia), tháp minh (bài minh khắc trên tháp), chiếu sắc (chiếu chỉ của vua), tấu sớ, công di, kí, phú, tự, truyện, tán, khảo, thư, khải, thi. Khoảng năm Càn long, sa môn Thánh tính chỉnh lí lại rồi ấn hành. Bản chí tuy đặt tên là Sơn chí, nhưng thật ra đã vì chùa Tuệ cư mà làm.
bảo hoa thái tử
(寶華太子) Tức là Bảo hoa Phật. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 124 hạ), nói: Khi đức Phật Bảo hoa sinh thì khắp bên mình đều có các thứ hoa mầu sắc sáng rỡ, vì thế đặt tên là Bảo hoa thái tử.
bảo hoa đức phật
Ratnamalaśrī Buddha (S),, Jeweled Flower Virtue Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; . Jewelled flower virtue Buddha.
bảo hành
Xem Dẫn Chánh.
bảo hành vương chánh luận
Ratnavali śāstra (S)Tên một bộ luận kinh. Ngài Long Thọ trước tác.
bảo hành vương chính luận
(寶行王正論) Phạm: Ratnàvalì (hàm ý là vòng hoa báu). Có một quyển. Nguyên tác của bồ tát Long thụ, do ngài Chân đế đời Trần dịch (557-569). Thu vào Đại chính tạng tập 32. Bộ luận chia làm năm phẩm: An lạc giải thoát phẩm, Tạp phẩm, Bồ đề tư lương phẩm, Chính giáo vương phẩm và Xuất gia chính hành phẩm. Đây là bộ luận mà ngài Long thụ đã đứng trên lập trường của Phật giáo Đại thừa để nói về đạo làm chính trị cho vua Bảo hành (Phạm: Zàtavàhana) nghe, vì thế nó rất được mọi người coi trọng. Phẩm thứ nhất nói về thế giới quan của Phật giáo, phê phán thế giới quan ngoại đạo, rồi nói về giáo nghĩa nghiệp và duyên khởi. Phẩm thứ hai bàn về các hành vi thiện ác, khuyên điều thiện, răn điều ác. Phẩm thứ ba thuyết minh do làm các việc thiện mà có thể thành tựu được công đức của vì vua vĩ đại, tức nhà vua nên dựng chùa tháp, tạo tượng Phật để hiến dâng cho xã hội. Phẩm thứ tư nói rất tường tận về đạo làm vua. Phẩm thứ năm nói về tư tưởng Thập địa Bồ tát và đạo tu hành trong Phật giáo. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
bảo hành vương chính luận sớ
Ratnāvalīṭīkā (S)Do ngài A dật đa Mật đa biên soạn.
bảo hương hợp thành nguyện
(寶香合成願) Là nguyện thứ ba mươi hai trong bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà. Tức là thề nguyền rằng muôn vật trong cõi Tịnh độ đều do vô lượng thứ quí báu và trăm nghìn thứ hương thơm hợp thành. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 hạ), nói: Nếu khi ta thành Phật, thì từ mặt đất lên đến hư không, cung điện lầu gác, hồ ao hoa cây, tất cả muôn vật trong cõi nước ta đều do vô lượng thứ quí báu, trăm nghìn thứ hương thơm cùng hợp lại mà tạo thành, đẹp đẽ kì lạ, hơn các người trời, mùi thơm xông khắp thế giới mười phương, các Bồ tát nghe mùi thơm ấy đều tu hạnh Phật.
Bảo hải
(寶海): có hai nghĩa. (1) Biển trân bảo, biển báu, tỷ dụ công đức vô lượng vô biên, hình dung đức Phật Di Đà thệ nguyện cứu độ chúng sanh, không từ bỏ, không phân biệt, không chán ghét, tất cả đều được dẫn dắt, nhiếp thọ, giống như biển lớn không từ chối dòng nước nhỏ vậy. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ (無量壽經優波提舍願生偈, Taishō Vol. 26, No. 1524) có câu: “Năng linh tốc mãn túc, công đức như bảo hải (能令速滿足、功德大寶海, khiến cho mau đầy đủ, công đức như biển báu).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 48, Phẩm Như Lai Thập Thân Tướng Hải (如來十身相海品) thứ 34, cũng có đoạn: “Ma Ni bảo hải dĩ vi trang nghiêm, phóng đại quang minh biến nhất thiết sát, ư trung phổ hiện chư Bồ Tát chúng (摩尼寶海以爲莊嚴、放大光明遍一切剎、於中普現諸菩薩眾, biển báu Ma Ni lấy làm trang nghiêm, phong ánh sáng lớn biến khắp tất cả nước, trong đó hiện khắp các chúng Bồ Tát).” (2) Từ gọi tắt của Phạm Chí Bảo Hải, được đề cập trong Bi Hoa Kinh (悲華經, Taishō Vol. 3, No. 157) quyển 2. Trong thời quá khứ, đức Phật từng là Phạm Chí Bảo Hải, vốn là đại thần của Chuyển Luân Thánh Vương Vô Tránh Niệm (無諍念), đã ở trước chư thiên và đại chúng, nơi đức Phật Bảo Tạng (寶藏), thành tựu tâm đại bi, lập 500 thệ nguyện để cứu độ chúng sanh. Trong bản văn Nhiếp Sơn Thê Hà Tự Bi (攝山栖霞寺碑) có câu: “Tích Bảo Hải Phạm Chí, thùy đổ hoa đài (昔寶海梵志、睡睹花臺, xưa Phạm Chí Bảo Hải, ngủ thấy đài hoa).”
bảo hải
(寶海) I. Bảo hải. Có nghĩa là biển quí báu, thí dụ công đức vô lượng vô biên. Hình dung sự thề nguyền của đức Phật A di đà cứu độ chúng sinh, không bỏ không chán, không phân biệt, tất cả đều tiếp dẫn nhiếp thụ, cũng như biển lớn không bỏ các dòng nước nhỏ, công đức của Ngài vô lượng vô biên. [X. Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá]. II. Bảo hải. Gọi tắt của Bảo hải Phạm chí. Trong một kiếp quá khứ, đức Thế tôn là Bảo hải Phạm chí, từng đối trước đức Phật Bảo tạng và chư thiên đại chúng, thành tựu tâm đại bi, lập năm trăm thề nguyện để cứu độ chúng sinh. [X. kinh Bi hoa Q.2]. III. Bảo hải(474-553). Là vị tăng đời Bắc Chu. Người huyện Lãng trung tỉnh Tứ xuyên, họ Cung. Lúc nhỏ đã có chí xuất gia, khoảng năm Thiên giám (502-519), xuống phương nam, y chỉ vào sư Pháp vân ở Kim lăng, học tập luận Thành thực. Khi Vũ đế nhà Lương giảng kinh Niết bàn ở chùa Đồng thái, sư nhận lệnh cùng nhà vua bàn luận về nghĩa Phật tính. Sau trở về đất Thục, ở chùa Tạ trấn, hoằng dương giáo pháp. Sư tịch vào năm Nguyên đế thừa thánh thứ 2 đời Lương, thọ tám mươi tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.9].
bảo học
Cái học đã đầy đủ (không cần phải học nữa)—Replete with learning—Fed full with study.
bảo hộ
To protect—To safeguard.
bảo hộ chúng sanh
To protect other sentient beings.
bảo hữu long vương
Xem Hoà tu kiết long vương.
bảo khiếp
Ratna-pitaka or Ratna-karandaka (skt)—Rương đựng bảo châu—A precious box, or box of precious things.
bảo khiếp ấn tháp
(寶篋印塔) Là tháp có đặt Bảo khiếp ấn đà la ni ở trong. Theo kinh Nhất thiết Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp đà la ni nói, thì trong tháp thất bảo tích tụ hết thảy toàn thân xá lợi của Như lai, có cất giữ ấn bí mật Bảo khiếp ấn đà la ni, có đủ uy đức đại thần lực; cho nên, nếu người nào tạo tượng, xây tháp, cúng dường Bảo khiếp ấn đà la ni, thì tức thành tháp làm bằng bảy thứ báu, cũng tức là thờ phụng toàn thân xá lợi của các đức Như lai trong ba đời. Xưa nay, phong tục tạo dựng tháp này rất thịnh, như Ngô việt vương Tiền hoằng thục ở đời Ngũ đại thập quốc, đã tạo tám vạn bốn nghìn tòa Bảo khiếp ấn tháp bằng đồng, đời ai cũng biết. Tháp có thể làm bằng đất, đá, gỗ, vàng, bạc, đồng, chì v.v..., nhưng đa số làm bằng đồng và đá. Theo như kinh nói, thì thềm cấp trên dưới của tháp, lộ bàn, lọng tán, chuông khánh, bánh xe, tất cả là thất bảo, lại nói nơi bốn góc tháp có hình tướng Như lai, vì thế tạo bốn tượng Phật A súc v.v... hoặc khắc chủng tử của các Ngài. Khi dựng tháp, dùng đá hình vuông đặt ở tầng dưới cùng, trên đá ấy đặt nền tháp, cột tháp, thân tháp, nón tháp, tướng luân v.v... càng lên cao càng thu nhỏ lại, trên đỉnh tháp làm hình chóp nón. Nón là hình thức đặc trưng nhất. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43].
bảo khiếp ấn đà la ni
(寶篋印陀羅尼) Nói đủ là Nhất thiết Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni. Tức là đà la ni tích tụ công đức của toàn thân xá lợi của Như lai, gồm bốn mươi câu, trích ra từ kinh Nhất thiết Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni. Viết chép, tụng niệm đà la ni này, hoặc đặt vào trong tháp để lễ bái, có thể tiêu trừ tội chướng, thoát khỏi khổ ba đường, thọ mệnh lâu dài, được vô lượng công đức. Lại ngôi tháp hình vuông làm để tàng trữ thần chú này, thì gọi là Bảo khiếp ấn tháp, khắc tượng Phật hoặc chủng tử ở bốn góc. Ngô việt vương Tiền hoằng thục đời Ngũ đại thập quốc, y theo trong kinh nói, đúc tám vạn bốn nghìn bảo tháp nhỏ, đặt thần chú này vào trong rồi ban bố ra bốn phương, đây là một sự kiện nổi bật. [X. kinh Nhất thiết Như lai chính pháp bí mật khiếp ấn tâm đà la ni].
Bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh 寶篋印陀羅尼經
[ja] ホウキョウインダラニキョウ Hōkyōin darani kyō ||| The Baoqieyin tuoluoni jing (T 1023.19.715-717) ; an abbreviated title for the Yiqie rulaixin mimi quanshen sheli baoqieyin tuoluoni jing 一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經. => (c: Baoqieyin tuoluoni jing). Tên gọi tắt của Nhất thiết Như Lai bí mật toàn thân xá lợi Bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (c: Yiqie rulaixin mimi quanshen sheli baoqieyin tuoluoni jing 一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經).
Bảo Khánh Ký
(寶慶記, Hōkyōki): có rất nhiều truyền thuyết khác nhau cho rằng có thể đây là quyển nhật ký do Đạo Nguyên ghi lại những gì ông cảm nhận được trong thời gian cầu pháp bên Trung Quốc; hay có thể đây là thể loại ghi chép văn tắt, hoặc là quyển sổ tay ghi xóa, v.v. Song dầu gì đi chăng nữa, đây cũng là tư liệu rất quý giá cho chúng ta biết rõ được quá trình Đạo Nguyên đã từng tham vấn với Như Tịnh được diễn ra như thế nào. Hơn nữa, đây là quyển sách ký lục ghi lại đầy đủ, sống động những hình ảnh, tiếng nói, thái độ, phong cách của Như Tịnh, cũng như tình nghĩa thầy trò trong quá trình tu tập như thế nào.
Bảo khánh ký 寶慶記
[ja] ホウキョウキ Hōkyōki ||| Hōkyōki. One fascicle, written by Dōgen 道元. A record made by while he was studying in China with Rujing 如淨 (a Caodong 曹洞 master of the Southern Sung). => (j: Hōkyōki). 1 quyển; của Đạo Nguyên (j: Dōgen 道元), tập văn ghi lại khoảng thời gian sư tham học ở Trung Hoa với ngài Như Tịnh (j: Rujing 如淨 ), một thiền sư tông Tào Động vào thời Nam Tống.
bảo khánh tự
(寶慶寺) Vị trí chùa nằm ở huyện Hàm ninh phủ Tây an tỉnh Thiểm tây. Trong chùa có một tháp báu, trong tháp thờ ba mươi tư pho tượng Phật chạm trổ bằng đá vào thời nhà Đường. Kĩ thuật tạo tượng rất tinh xảo, dung hợp giữa Trung quốc và Ấn độ, có thể cho là đại biểu của kĩ thuật chạm trổ tượng Phật ở Trung quốc. Tượng Phật ở đây có hai loại, một loại được khắc trên tấm đá dài một trăm mười hai phân tây, rộng độ sáu mươi tư phân, dày độ hai mươi phân, loại này là tượng Tam tôn. Loại thứ hai là tượng Quan âm mười một mặt đơn độc, được chạm trên tấm đá chiều dài, bề dày cũng giống như loại trên, nhưng chiều rộng thì độ ba mươi phân. Trong đó, tượng Quan âm có những đường nét tuyệt đẹp, là kĩ thuật chạm trổ tượng Phật của Trung quốc đã đạt đến mức cao nhất. Những tượng Phật này là do Vũ hậu nhà Đường dùng để trang sức cho đài hoa bảy báu trong chùa Quang trạch vào năm Trường an thứ 3 (703), và do vị tăng dịch kinh là Đức cảm cùng với Diên quí, Vương tuyền, Vi quân, Diêu nguyên chi và Tiêu nguyên duệ cùng phát nguyện làm tượng.
bảo kim
(寶金) (1308-1372) Vị tăng thuộc tông Lâm tế đời Nguyên. Người huyện Vĩnh thọ, Càn châu (tỉnh Thiểm tây), họ Thạch. Thời ấy, có vị sa môn, cho thân mẫu sư một pho tượng Quan âm và dặn bà phải cung kính cúng dường, sẽ sinh được con trai thông minh, chẳng bao lâu, quả nhiên bà thân mẫu sinh ra sư, lúc sinh ra, ánh sáng trắng chiếu khắp nhà. Nhưng, từ nhỏ đã lắm bệnh, cha mẹ ngờ là người con này phải đi tu, nên sáu tuổi đã cho xuất gia. Lớn lên, sau khi thụ giới Cụ túc, đi khắp nơi tham học, giảng cứu, cùng suốt ý chỉ tính tướng, bèn đến Tấn vân tham yết ngài Như hải. Một hôm, sư cầm rổ theo Như hải ra hái rau ngoài vườn, thình lình ngồi yên bất động, vào định ba giờ sau mới dậy, Như hải bảo sư đó mới là trần lao tạm nghỉ mà thôi, định lực vẫn chưa sâu, phải cắt đứt hết mọi ngõ ngách của tâm, thì sau đại pháp mới bừng sáng được. Sau sư lên ở trên núi Nga mi, suốt ba năm lưng không dính chiếu, một hôm nghe tiếng chặt cây mà đại ngộ. Năm Chí nguyên thứ 8 (1348) đời Nguyên, vua sai sứ lên rước sư về kinh, nhà vua rất cung kính, thỉnh sư trụ trì chùa Hải ấn, sư cáo bệnh từ chối, vua bèn ban hiệu là Tịch chiểu viên minh. Khi vua Thái tổ nhà Minh lên ngôi, xuống chiếu thỉnh sư về Nam kinh, mời vào nội điện để hỏi về đại ý Phật pháp. Đồng thời, vua mở hội Phổ tế ở Chung sơn, tuyển chọn mười vị cao tăng tới dự hội, sư là một trong mười người đó. Nhà vua lại tự tay viết ban cho mười hai vần thơ, ý tứ rất man mác. Sư thị tịch vào năm Hồng vũ thứ 5, thọ sáu mươi lăm tuổi. Sau khi trà tì (thiêu), tìm thấy xá lợi năm sắc, răng, lưỡi đều không cháy. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.4].
bảo kiếm bồ tát
Ratnadatta (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo kính
(寶鏡) Có nghĩa là tấm gương rất quí báu, là Tháp Bảo Khiếp Ấn tên đẹp để gọi tấm gương. Trong Mật giáo thường được dùng làm vật cúng dường hoặc để trang nghiêm đạo tràng. Trong hai mươi mốt vật cúng dường được liệt kê trong kinh Đà la ni tập quyển 3, thì bảo kính là vật thứ mười tám. Khi làm lễ quán đính cũng dùng bảo kính. Lược xuất kinh quyển 4 (Đại 18, 252 thượng), nói: Sau đó, cầm gương để người ấy soi xét, vì họ mà nói tính tướng của các pháp bằng bài kệ như sau: hết thảy các pháp tính, nhơ sạch không thể được, chẳng thực cũng chẳng hư, đều từ nhân duyên hiện. [X. kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8, Q.9]. (xt. Kính).
bảo kính tam muội ca
(寶鏡三昧歌) Có một quyển. Còn gọi là Động sơn Lương giới thiền sư bảo kính tam muội, Bảo kính tam muội. Do tổ Động sơn Lương giới (807-869) thuộc tông Tào động đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 47 (Quân châu Động sơn ngộ bản thiền sư ngữ lục) và Đại chính tạng tập 48 (Nhân thiên nhãn mục quyển 3). Tập thơ này là diễn tả ý chỉ sâu xa của thuyết Chính thiên hồi hỗ trong tông Tào động. Nhưng thật ra, thuyết Chính thiên hồi hỗ đã bắt nguồn từ Tham đồng khế do sư Thạch đầu Hi thiên soạn. Về sau, Thạch đầu truyền cho Dược sơn, Dược sơn truyền Vân nham, Vân nham truyền Động sơn, đến Động sơn mới tập đại thành thuyết Ngũ vị. Bởi thế, tập thơ này cùng với Tham đồng khế đều là sách của tông Tào động và đều được coi trọng. Toàn tập có chín mươi tư câu thể bốn chữ, gồm ba trăm bảy mươi sáu chữ tổ thành. Các sách chú giải về tập thơ này thì có: 1. Bảo kính tam muội huyền nghĩa 1 quyển, được in trong phần Phụ lục của sách Trùng biên Tào động ngũ vị hiển quyết quyển hạ. Do Vân ngoại Vân tụ (1242-1324) đời Tống viết. Vân tụ chú thích Bảo kính tam muội rất tường tận để nói rõ cái nguyên nghĩa của nó. 2. Bảo kính tam muội bản nghĩa 1 quyển, do Hành sách đời Thanh viết. Dùng sáu loại đồ thuyết Bảo kính tam muội, Thiên chính hồi hỗ, Tam điệp phân quái, Ngũ biến thành vị, Nhị dụ hiển pháp và Lục hào nhiếp nghĩa để nêu tỏ cái tinh nghĩa của Trùng li lục hào và Thiên chính hồi hỗ; còn giải rõ thuyết Ngũ vị và bác bỏ sự nhận xét của Giác phạm và Vĩnh giác. 3. Bảo kính tam muội nguyên tông biện mậu thuyết 1 quyển, do Vân tông Tịnh nạp đời Thanh viết. Tịnh nạp trình bày nghĩa gốc của Bảo kính tam muội, đồng lời: - Nói rõ về Trùng li lục hào, Thiên chính hồi hỗ của Vân nham. - Lấy Chính thiên của Động sơn Lương giới làm gốc mà dựng Ngũ vị công huân. - Lấy công huân của Tào sơn bản tịch làm gốc mà lập Ngũ vị quân thần. - Lấy Chính thiên công huân quân thần của Thạch sương làm gốc mà lập Ngũ vị vương tử v.v... để hiển bày cái nguyên ý của Bảo kính tam muội ca, mà bác bỏ thuyết của Giác phạm và Đại tuệ. Ba tác phẩm kể trên đây đều được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Ngoài ra, còn có Bảo kính tam muội bất năng ngữ do vị tăng người Nhật bản là Chỉ nguyệt Tuệ ấn soạn, và Bảo kính tam muội xuy xướng của Diện sơn Thụy phương.
bảo kính tự
(寶鏡寺) Vị trí chùa nằm ở Khánh thượng bắc đạo Nghinh nhật quận Tùng la diện, Hàn quốc. Tương truyền được sáng lập vào thời đại vua Thánh đức (ở ngôi 702-736) nước Tân la, do Đại sư Nhật chiếu ở chùa Bạch mã huyện Lạc dương, Trung quốc, chủ sự xây cất. Cứ theo truyền thuyết, thời vua Minh đế nhà Đông Hán, sai sứ sang Tây vực cầu pháp, giữa đường gặp các ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan chở kinh sách cùng với một tấm gương tám mặt, một tấm mười hai mặt đang đi sang Đông độ. Về sau, tấm gương mười hai mặt thì chôn ở dưới nhà Pháp đường của chùa Bạch mã, còn tấm gương tám mặt thì do sư Nhật chiếu mang đến nước Tân la. Vì từng có câu dự ngôn rằng: Men bờ bán đảo bể đông, nếu tìm được cái hồ sâu mà chôn gương, rồi làm ngôi chùa ở đó, thì nơi ấy sau sẽ trở thành trung tâm hưng thịnh của Phật pháp. Nhật chiếu tìm được cái hồ sâu trăm thước, liền chôn gương xuống dưới rồi làm chùa ở trên, nhân đó mà đặt tên là chùa Bảo kính. Lại theo văn hiến ghi chép thì tấm gương tám mặt hiện nay được chôn ở dưới điện Tịch quang của chùa này.
bảo kế phật
Xem Bảo cát PhậtXem Kế Na Thi Khí Phật.
bảo kệ
Precious gathas, or verses.
bảo linh
(寶鈴) I. Chuông báu.Là một trong năm loại chuông. Còn gọi là Bảo châu linh. Là pháp khí được dùng trong Mật giáo. Nắm chuông là chày ngọc báu, trên tay cầm có khắc mắt quỉ, mình chuông không hoa văn trang sức. Chuông, bày tỏ nghĩa nói pháp; trong phép tu, cùng với bốn loại chuông khác, nó được đặt ở trên đại đàn trong vị trí tương ứng. (xt. Ngũ Chủng Linh). II.Chuông báu. Là chuông được trang sức bằng năm thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 272 thượng), nói: Bốn mặt chung quanh treo chuông báu rủ xuống, màu sắc sáng rỡ, rất là đẹp đẽ. [X. kinh Đại nhật Q.5 phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị].
bảo linh tự
Baolin si (C)Tên một ngôi chùa.
bảo liên tự
(寶蓮寺) Vị trí chùa nằm trên khu đất bằng, cao của núi Đại tự tại Hương cảng. Chung quanh có các núi Phượng hoàng, Di lặc, Liên hoa, Mộc ngư, Sư tử đầu v.v... Trước kia, có danh xưng là Hương cảng đệ nhất Thiền lâm. Khoảng năm Tuyên thống (1909-1911) cuối đời Thanh, hai Thiền sư Đại duyệt và Đốn tu từ Kim sơn tỉnh Giang tô đến đây mở núi. Năm Dân quốc 13 (1924), Hòa thượng Kỉ tu ở chùa Giang thiên Kim sơn đến đây, nhận lời mời giữ chức trụ trì, mới đặt tên chùa là Bảo liên tự, năm sau xây cất đại điện. Dân quốc 19, Hòa thượng Phiệt khả kế nhiệm trụ trì, mở rộng thêm nữa, lần lượt hoàn thành điện Địa tạng, nhà Tổ, nhà Ngũ quán, nhà Thiền Bát nhã, viện dưỡng bệnh. Dân quốc 53, lại mở rộng Đại hùng bảo điện, đến năm 58 thì hoàn thành, khí thế to lớn, giữa điện thờ tượng Tam tôn đại Phật mình vàng, hai bên thờ mười tám vị La hán, chùa trở thành là một trong các ngôi chùa danh tiếng tại Đông nam á.
bảo loa
(寶螺) Tức là Loa báu (cái tù và), một trong những pháp cụ, tiêu biểu âm thanh nói pháp của đức Như lai. Vì tôn trọng tiếng loa pháp nên gọi là Bảo loa. Kinh Thiên thủ (Đại 20, 111 thượng), nói: Nếu cần vời gọi hết thảy chư thiện thần, thì dùng tay Bảo loa. Kinh Bất không quyên sách quyển 18 phẩm Thế gian thành tựu chép, chúng sinh nghe tiếng loa, có thể diệt trọng tội, hoặc vãng sinh Tây phương cực lạc quốc. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.4; Thích ca văn ni Phật tu hành nghi quĩ]. (xt. Pháp Loa).
bảo lâm
The groves, or avenues of precious trees (in the Pure Land). The monastery of Lục tổ Huệ năng.
; 1) Lộ Bảo Thụ nơi cõi Tịnh Độ: The groves, or avenues of precious trees in the Pure Land. 2) Tự viện Bảo Lâm của Lục Tổ Huệ Năng, Tổ Thiền thứ sáu của Trung Quốc: The monastery of Hui-Neng, sixth patriarch of the Ch'an Sect.
; (寶林) Chỉ rừng cây bảy báu trong thế giới Cực lạc của Phật A di đà ở phương Tây, gọi tắt là Bảo lâm. Cũng tức là rừng cây báu được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Kinh Đại bảo tích quyển 18 (Đại 11, 97 trung), nói: Gió thổi rừng cây bảy báu, hoa rụng cuốn lại thành đống, lượng cao bằng bảy người đứng, mầu sắc rực rỡ soi sáng cõi Phật. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
Bảo Lâm Truyện
(寳林傳, Hōrinden): nguyên bản là Đại Đường Thiều Châu Song Phong Sơn Tào Hầu Khê Bảo Lâm Truyện (大唐韶州雙峰山曹候溪寳林傳, Daitōshōshūsōhōzansōkōkeihōrinden), tất cả gồm 10 quyển, nhưng bản hiện hành thì khuyết mất quyển 7, 9 và 10, còn quyển 2 thì có bổ sung thêm Thánh Trụ Tập (聖胄集), do Chu Lăng Sa Môn Trí Cự (朱陵沙門智炬, hay Huệ Cự [慧炬]) biên, được thành lập vào năm thứ 17 (801) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元). Thư tịch này tương truyền từ xưa đã được Viên Nhân (圓仁, Ennin, 794-864, vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản) mang từ bên Trung Quốc về Nhật. Nó được lưu truyền rộng rãi dưới thời nhà Đường, nhưng khi Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) và Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記) được thành lập và đưa vào Đại Tạng thì nó mất đi ý nghĩa lịch sử và về sau thì tán thất luôn. Bản hiện lưu hành là bản kết hợp của hai bản: bản sở thâu trong Đại Tạng Kinh mới được phát hiện gần đây (quyển 1~5) và Thanh Liên Viện Tàng Bản (quyển 6). Tác phẩm này nói về hệ phổ truyền pháp từ 28 vị tổ của Tây Thiên, qua 6 vị tổ ở Đông Độ cho đến Mã Tổ Đạo Nhất, Thạch Đầu Hy Thiên, và ghi lại đầy đủ lời nói cũng như việc làm của mỗi vị tổ sư. Đương nhiên, phần nhiều ký thuật ấy đều là hoang đường hư cấu, không phải là một sáng tác hoàn toàn, nhưng vì nó dựa trên cơ sở của các Đăng Sử đời sau như Thánh Trụ Tập (聖胄集), Tổ Đường Tập (祖堂集), Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記), v.v., cho nên các định thuyết về lịch sử Thiền Tông thì chiếm phần nhiều. Đặc biệt, Kệ Truyền Pháp để làm chứng phú pháp vốn bắt đầu trong Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), và điểm đáng chú ý nơi đây là tác phẩm này đã phóng lớn Kệ Truyền Pháp cho tất cả các tổ sư. Ảnh hưởng phản tác đối với thư tịch này rất lớn, và thông qua tác phẩm Tục Bảo Lâm Truyện (續寳林傳, đầu thế kỷ thứ 10), bản tục biên của Nam Nhạc Duy Kính (南嶽惟勁, ?-?), đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), chúng ta có thể biết được điều đó.
bảo lâm truyện
(寶林傳) Gồm mười quyển. Hiện còn bảy quyển, mất ba quyển bảy, chín, mười. Còn gọi là Đại đường thiều châu song phong sơn tào khê bảo lâm truyện, Tào khê bảo lâm truyện. Song phong sơn tào hậu khê bảo lâm truyện. Do sa môn Trí cự (hoặc Tuệ cự) ở Chu lăng đời Đường, soạn vào năm Trinh nguyên 17 (801). Thu vào Tống tạng di trân tập thứ 2 (nhà xuất bản Tân văn phong ở Đài loan in ảnh phát hành). Chùa Bảo lâm ở núi Tào khê thuộc Thiều châu là đạo tràng của Lục tổ Tuệ năng thuộc Thiền tông tuyên dương Thiền pháp, cho nên lấy đặt tên sách để xiển minh pháp thống của Lục tổ Tuệ nặng. Nội dung thu chép những tư liệu có liên quan đến lịch sử Thiền tông, như Lục tổ đàn kinh, Ngũ minh tập, Tục pháp truyện, Quang xán lục, Lịch đại pháp bảo kí, mà tập đại thành, và chủ trường thuyết hai mươi tám tổ truyền thừa. Sau có Tổ đường tập, Cảnh đức truyền đăng lục, Quảng đăng lục, Tục đăng lục, dưới đến Truyền pháp chính tông kí, Định tổ đồ của Đại sư Minh giáo Khế tung đã xác định thuyết hai mươi tám tổ truyền thừa ngày nay. Soạn giả soạn bộ sách này rất có dụng ý, tức trong đó có nêu lên mối quan hệ giữa Sư tử tôn giả và Bồ đề đạt ma, cho nên, khi bộ sách này xuất hiện đã bị những trứ tác của người đời sau trách hỏi.
bảo lâm tu viện
Paolin monastery.
Bảo Lâm tự
寶林寺; C: bǎolín-sì; J: hōrin-ji;|Một trong những ngôi chùa danh tiếng nhất Trung Quốc, được xây dựng năm 504 ở miền Nam. Lục tổ Huệ Năng trụ trì và hoằng hoá một thời gian ở đây.
bảo lâm tự
Hōrin-ji (J), Baolinsi (C), Pao-lin ssu (C)Tu viện được xây cất từ năm 504 ở miền nam TQ, tổ Huệ Năng có lưu trú ở đó một thời gian và từ đó yu viện này được nổi tiếng.
; (寶林寺) I. Bảo lâm tự. Vị trí chùa nằm trên núi Tào khê về phía nam huyện Khúc giang ba mươi lăm cây số thuộc tỉnh Quảng đông. Nay gọi là Nam hoa tự, Nam hoa cổ tự, Nam hoa Thiền tự. Do vị tăng người Thiên trúc tên là Trí dược sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương. Khoảng năm Nghi phụng (676-678) đời Đường, Lục tổ Đại giám Tuệ năng mở đạo tràng rộng thêm, học đồ đông đảo, đạo pháp đại thịnh, Hoài nhượng ở Nam nhạc, Hành tư ở Thanh nguyên đều là những người nối pháp Lục tổ. Niên hiệu Thần long năm đầu (705) đổi tên là Trung hưng tự. Năm Cảnh long thứ 2 (708) xây lại, đổi là Pháp tuyền tự. Đời Ngũ đại lại lấy tên cũ Bảo lâm tự. Trong năm Khai bảo (968-975) đời Tống bị nạn binh lửa thiêu hủy tháp Linh chiếu, lập tức phải tu bổ lại chùa tháp, rồi đổi là Nam hoa tự. Thời Minh, Đức thanh ở Hàm sơn nhận lời thỉnh vào núi phục hưng toàn bộ. Những di vật còn đến nay thì có tượng nhục thân của Lục tổ, chiếc bát ăn cơm và đôi guốc, và những cổ tích như: suối Trác tích đời Đường, tháp Linh chiếu đời Tống v.v... [X. Lục tổ đàn kinh; Lục tổ đại sư duyên kí ngoại kí; Tống cao tăng truyện Q.8; Hàm sơn đại sư mộng du toàn tập Q.50 đến Q.55]. II.Bảo lâm tự. Vị trí chùa nằm ở quận Trường hưng, Toàn la nam đạo nước Đại hàn. Hiệu là Ca trí sơn. Do vị tăng tên là Thể trừng sáng lập. Vua Hiến khang năm thứ 9 (883) ban hiệu chùa là Bảo lâm. Đại hùng bảo điện trong chùalà kiến trúc của Triều tiên ở thời kì đầu, rất là tráng lệ; cây đèn đá được chạm trổ bằng một thủ pháp rất tinh tế vi diệu, là di phẩm của thời đại Tân la, cực kì trân quí; tháp Linh diệu là tháp Xá lợi đẹp đẽ trang nghiêm, cũng là một kiệt tác. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên kim thạch tổng lãm thượng]. III.Bảo lâm tự. Vị trí chùa ở tỉnh Hồ bắc, cách huyện Ứng sơn về phía bắc mười hai cây số. Phía trước gần sông lớn. Hiện còn các bia đá dựng vào đời Tống, Nguyên. Tương truyền, vua Thái tổ nhà Minh lúc còn nhỏ đã chăn bò ở đây. Khoảng năm Hồng vũ (1398), vua ban hiệu là Chính giác tự.
Bảo Lâm tự 寶林寺
[ja] ホウリンジ Hōrinji ||| Porim-sa; Korean temple, home to the Kaji-san 迦智山 school, established under the influence of Toŭi 道義 and his grand-student Ch'ejing 體澄. => (k: Porim-sa); Một ngôi chùa ở Triều Tiên, tổ đình của Tông phái Ca-trí (k: Kaji-san 迦智山), do Đạo Nghĩa (k: Toŭi 道義) và vị đệ tử lớn Thể Trừng (k: Ch'ejing 體澄) khai sáng.
bảo lâu các kinh
(寶樓閣經) Có ba quyển. Nói đủ là Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni kinh. Do ngài Bất không đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung tán thán công đức lầu gác, chia làm chín phẩm, phẩm Tự, Căn bản đà la ni, Thành tựu tùy tâm đà la ni pháp, Hộ ma v.v... Y theo kinh này mà tu pháp Bí mật đường cúng dường, Diệt tội, thì gọi là Bảo lâu các kinh pháp. Có hai bản dịch khác nữa là Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni kinh 3 quyển (do Bồ đề lưu chi đời Đường dịch), Mâu lê mạn đà la chú kinh 2 quyển (đời Lương, mất tên người dịch). Chùa Bảo Lâm ở Hàn Quốc Chùa Nam Hoa Cổ ở Quảng Đông .
bảo lâu các kinh pháp
(寶樓閣經法) Tức là phép tu lấy đức Thích ca Như lai làm bản tôn để cầu diệt tội và cầu cho linh hồn người chết được giải thoát. Còn gọi là Đại bảo lâu các pháp, Bảo lâu các pháp. Tức lấy thuyết trong kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni, do ngài Bồ đề lưu chi dịch, kinh Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni, do ngài Bất không dịch và kinh Mâu lê mạn đà la chú (khuyết danh), làm phép tu cơ bản. Khi tu phép này, ở trong đạo tràng vẽ mạn đồ la lầu gác báu, trước mạn đồ la đặt đàn lớn, cũng thiết đàn Hộ ma, và tụng Quảng đại thiện trụ bí mật lâu các đà la ni. [X. Đồ tượng sao Q.3].
Bảo lâu các kinh 寶樓閣經
[ja] ホウロウカクキョウ Hōrōkaku kyō ||| ; see Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經 => Xem Đại bảo lâu các thiện trú bí mật đà-la-ni kinh (c: Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).
bảo lâu cát kinh
Xem Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni kinh.
bảo lâu quán
(寶樓觀) Còn gọi là Tổng tưởng, Tổng tưởng quán. Là phép quán tưởng thứ sáu trong mười sáu phép quán tưởng nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Tức quán tưởng các cõi nước quí báu, mỗi cõi có năm trăm ức lầu gác báu, trong lầu gác có vô lượng chư thiên hòa tấu các nhạc trời, lại có những nhạc khí treo giữa hư không, như Thiên bảo chàng, không đánh mà tự kêu.
bảo lãnh
To sponsor—To guarantee.
bảo lương
(寶亮) Vị tăng thời Nam bắc triều. Người huyện Đông lai (Dịch huyện Sơn đông), họ Từ. Mười hai tuổi theo pháp sư Đạo minh ở Thanh châu xuất gia, học các kinh luận, hiểu thấu thông suốt. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi xuống nam đến kinh ấp, ở chùa Trung hưng, chuyên tâm Thiền tư. Thời bấy giờ, vua Kính lăng văn tuyên nhà Tề, nghe danh sư đạo cao, đích thân đến chỗ sư ở, thỉnh sư làm bậc pháp tượng. Sau đó không lâu, sư đến ở chùa Linh vị, mở tràng giảng các kinh luận Niết bàn, Thành thực, Pháp hoa, Vô lượng thọ v.v... thao thao ngang dọc, biện luận sắc bén, không hề vướng mắc, cho nên những người hỏi đạo đều hỏi được hết ý của mình. Sư chơi thân với sư Bảo chí, từng tặng áo cho nhau. Đến đời Lương cũng được Vũ đế tôn sùng. Năm Thiên giám thứ 8 (509), sư sưu tập các thuyết của mọi nhà, soạn thành bộ Niết bàn kinh tập giải 71 quyển, Vũ đế tự tay viết bài tựa. Tháng 10 năm thứ 8 nhập tịch tại chùa Linh vị, thọ sáu mươi sáu tuổi. Vua Văn tuyên vẽ tượng sư để thờ ở chùa Phổ hoằng. Học trò có các vị Tăng mân ở chùa Trang nghiêm, Pháp vân ở chùa Quang trạch và Tăng thiên ở chùa Linh căn. [X. Lương cao tăng truyện Q.8, Q.10 Bảo chí truyện; Nam sử liệt truyện thứ 66].
bảo man dụ kinh
Ratnamalavadāna (S), Ratnavadānatatva (S), Ratnavadānamala (S)Tên một bộ kinh.
; (寶鬘喻經) Tên Phạm: Ratnamàlàvadàna, ý là thí dụ dùng các thứ báu mà trang sức. Cũng có bản viết là Ratnàvadànamàlà, Ratnàvadànatatva. Kinh này là loại văn học thí dụ (Avadàna), tường thuật về nhân duyên các đệ tử của Phật, kiếp trước nhờ tạo nghiệp thiện mà kiếp sau được chứng quả báo tương ứng với nghiệp thiện. Trong một số nguyên điển bằng tiếng Phạm, Ratnàvadànamàlàthu chép mười hai duyên, đó là: 1. Dũ nọa tử Nan đà kiến Phật duyên (Phạm: Kauzìdyavìryotsàhanàvadàna, nhân duyên kẻ lười biếng Nan đà gặp Phật). 2. Pháp hộ vương thỉnh Phật tẩy dục duyên (Phạm: Snàtàvadàna, nhân duyên vua Pháp hộ thỉnh Phật tắm gội). 3. Nữ nhân dĩ kim luân trịch Phật duyên (Phạm: Cakràvadàna, nhân duyên người đàn bà lấy bánh xe vàng ném Phật). 4. Ác kiến bất thí thủy đọa ngã quỉ duyên (Phạm:Pretikàvadàna, kẻ ác kiến không bố thí nước phải rơi vào cõi quỉ đói). 5. Thái hoa cúng dường Phật đắc sinh thiên duyên (Phạm: Zàlapuwpàvadàna, nhân duyên hái hoa cúng dường Phật được sinh cõi trời). 6. Phật thuyết Ta vạt nẵng Pháp thiên tử thụ tam qui hoạch miễn ác đạo kinh (Phạm: Sùkaryàvadàna, kinh Phật nói về Pháp thiên tử Ta vạt nẵng thụ tam qui được thoát khỏi ngả ác). 7. Hữu đại uy đức duyên (Phạm: Vapuwma-tkumàràvadàna, nhân duyên có uy đức lớn). 8. Vấn đáp duyên (Phạm: Praznottaràva-dàna, nhân duyên hỏi đáp).9. Bạch tịnh tỉ khưu ni y lí thâm sinh duyên (Phạm: Zuklàvadàna). 10. Bảo thủ tỉ khưu duyên (Phạm: Hiraịya-pàịyàvadàna). 11. Ngột thủ tỉ khưu duyên (Phạm: Hastakà-vadàna). 12. Ngũ bách thương khách nhập hải thái bảo duyên (Phạm:Sàrthàvàhavadàna, nhân duyên năm trăm lái buôn xuống biển tìm ngọc). Một bản tiếng Phạm nữa là Ratnàvadànatatva thì thu chép hai mươi ba duyên. Kinh này do các bài kệ tụng bằng tiếng Phạm tổ thành, là những bài kệ do tôn giả Ưu bà cúc đa (Phạm: Upagupta nói ra nhằm khuyên vua A dục tu nghiệp thiện để được ích và công đức. Nội dung phần nhiều lấy đề tài từ kinh Soạn tập bách duyên và kinh Tạp bảo tạng nhằm mục đích truyền bá rộng rãi nghĩa Đại thừa. Do đó, toàn bộ lấy việc tuyên dương Phật giáo Đại thừa làm tiền đề, đặc biệt nhấn mạnh sự cung kính Tam bảo, khuyên tu mười Ba la mật để được công đức, hạnh phúc, cho đến vãng sinh cõi Phật. Về niên đại thành lập kinh này có nhiều thuyết. Đứng về phương diện tư tưởng mà nói, thì kinh này tương đương với tư tưởng Đại thừa tiến bộ; còn nói về mặt ngôn ngữ và thể văn thì hoàn toàn giống với văn học Phú lan na. Cho nên, nhà học giả Hà lan là Sử bái nhĩ (Speyer, Jacob Samuel; 1854- 1913), suy định là kinh này đã được thành lập khoảng bốn trăm năm đến một nghìn năm sau Tây lịch. Học giả người Áo đại lợi là Ôn đặc nhĩ ni tư (Winternitz, Moriz; 1863- 1937) và nhà học giả Nhật bản là Cao hoàng khoan ngã, thì cho rằng, kinh này được thành lập từ sau thế kỉ thứ VI Tây lịch. Năm 1955, Cao hoàng khoan ngã hợp hai bản Ratnàvadànamàlà và Ratnàvadànatatva làm một là Ratnamàlàvadànarồi hiệu đính và xuất bản. [J. Speyer: Avadànazataka; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur; Ấn độ học Phật giáo học nghiên cứu tam chi nhị (Cao hoàng khoan ngã)].
bảo minh đạo thành
Pao Ming Tao cheng (C)Tên một vị sư.
bảo nghiêm bồ tát
Ratnavyūha (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo nguyệt bồ tát
Ratnasandra (S), Rathachandra (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo nguyệt đồng tử vấn pháp kinh
(寶月童子問法經) Có một quyển. Còn gọi là Đại thừa bảo nguyệt đồng tử vấn pháp kinh, Nguyệt đồng tử vấn pháp kinh. Do ngài Thí hộ đời Bắc Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung tường thuật việc con vua Tần bà sa la là Bảo nguyệt hỏi đức Phật về công đức xưng danh hiệu của Phật, đức Phật trả lời là trong mười phương, mỗi phương đều có danh hiệu của một đức Phật, nếu tin và trì danh hiệu của mười vị Phật, thì trừ diệt được các điều ác và chứng Vô thượng chính đẳng giác. Ngoài ra, trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5, có các câu (Đại 26, 41 trung): Nên nghĩ đến chư Phật ở mười phương, xưng niệm danh hiệu của các Ngài, như đã được nói trong phẩm A duy việt trí của kinh Bảo nguyệt đồng tử sở vấn. Như vậy, còn có kinh Bảo nguyệt đồng tử sở vấn nào khác nữa, mà bản dịch của Thí hộ chỉ là một phẩm được rút ra từ kinh ấy chăng?
Bảo Nguyệt 寶月
[ja] ホウゲツ hōgetsu ||| Ratnacandra, or Jeweled Moon--the name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a11〕 => (s: Ratnacandra) Tên của một vị Bồ-tát.
bảo ninh nhân dũng
Pao neng Jen yang (C)Tên một vị sư.
; Chinese Zen master Pao-Ning-Jen-Yang (?-1046)—Thiền sư Bảo Ninh Nhân Dũng vốn là môn đệ của Dương Kỳ Phương Hội. Trước khi theo Thiền, sư là một đại học giả của triết lý Thiên Thai tông. Khi sư đến tìm Tuyết Đậu, một thiền sư lỗi lạc của Vân Môn tông, được nhận ra ngay là có căn khí của thiền. Để phấn khích, Tuyết Đậu vừa kêu vừa diễu: “Này tòa chủ dềnh dàng!” Nhân Dũng vì thế mà phẩn chí, quyết vượt qua Thiền, vượt Tuyết Đậu, rồi về sau , sư chứng ngộ như dự đoán của Tuyết Đậu. Sư thường bảo môn nhân: “Nầy, bây giờ ta đang ở trong địa ngục rút lưỡi!” Vừa nói sư vừa làm như lấy tay rút lưỡi và la: “Ớ! Ớ! Ngục nầy dành cho những tên nói dối.” Một lần khác, nhân thấy thầy Tăng thị giả đang đốt hương cúng Phật, sửa soạn buổi thuyết pháp thường lệ, sư bảo: “Này chư Tăng, ông thị giả của tôi đã thuyết pháp cho rồi đó.” Rồi sư rời đám môn nhân, không nói thêm một lời. Ngài thị tịch năm 1046—Pao-Ning-Jen-Yang was a disciple of Yang-Ch'I-Fang-Hui. Before he became a Zen devotee he was a great scholar of T'ien-T'ai philosophy. When he came to Hsueh-Tou, who was a great figure in the Yun-Men school of Zen, the master at once recognized in him a future Zen master. To stimulate him, Hsueh-Tou addressed him sarcastically, “O, you great college professor!” The remark stung Jen-Yang to the quick, and he determined to surpass in Zen even this great master. When he finally became a master himself, as Hsueh-Tou had expected, he once appeared in the pulpit and said: “Behold, I am now in the tongue-pulling hell?” So saying, he was seen as if pulling out his tongue with his own hand and exclaimed: “Oh! Oh! This hell is meant for liars.” Another time, seeing his attendant monk offering incense to the Buddha, preparatory for a regular discourse to be given by the master, he said: “Monks, my attendant has already given you a sermon,” and without another word he came down from the pulpit. He passed away in 1046.
bảo ninh tự
(保寧寺) Vị trí chùa nằm trong nội thành Nam kinh tỉnh Giang tô. Do ngài Khang tăng hội, vị tăng người Tây thiên trúc, sáng lập vào năm Xích ô thứ 4 (241) đời Ngô đại đế thời Tam quốc. Ở thời Lưu Tống nam triều, được gọi là Kì viên tự. Khoảng năm Khai nguyên (713-741) đổi là Trường khánh tự. Trong năm Bảo đại (943-957), lại đổi là Phụng tiên tự. Đến khoảng năm Thái bình hưng quốc (976-984) đời Tống, nhà vua ban tên hiệu là Bảo ninh tự. Trong chùa có các kiến trúc như đài Phượng hoàng, tháp trắng, điện Quan âm, nhà La hán, nhà Thủy lục v.v..., chư tăng trong chùa độ năm trăm người. Đến năm Chính hóa thứ 7 (1117), nhà vua ra lệnh đổi tên là Thần tiêu cung. Niên hiệu Kiến viêm năm đầu (1127) lại lấy làm Hành cung và như thế là chùa bị bỏ hẳn. Lại chùa này lấy tổ Pháp dung ở núi Ngưu đầu làm tổ sư khai sơn, đã một thời cực thịnh, trước sau có các vị cao tăng như Tuệ đồng ở Phụng tiên, Nhân dũng chùa Bảo ninh, Thanh mậu ở Cổ lâm trụ trì. [X. Kim lăng Phạm sát chí Q.48].
bảo nữ
Kanyà-ratna (S). Precious maidens.
; Kanya-ratna (skt)—Người con gái quý, một trong thất bảo của Tứ Thiên Vương—Precious maidens, one of the seven treasures of the Cakravartin.
; (寶女) Còn gọi là Nữ bảo, Ngọc nữ, Ngọc nữ bảo. Là một trong bảy thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Chuyển luân Thánh vương là người đã thành tựu bảy thứ báu, đầy đủ bốn đức thống nhất bốn châu Tu di, mà dùng chính pháp trị đời. Ngọc nữ trong bảy báu là bảo thành tựu, tức thình lình thị hiện thành ngọc nữ, diện mạo đoan chính, các lỗ chân lông trên toàn thân đều phát ra mùi hương chiên đàn, lời nói êm ái, cử chỉ dịu dàng. [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.43].
bảo oai đức thượng vương phật
Ratnatedjobhyyudgatarājatarāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
bảo phan, phướn
Ratnadhvaja. A banner decorated with gems.
Bảo phiệt
(寶筏): chiếc bè quý báu. Đây là thuật ngữ Phật Giáo, tỷ dụ cho Phật pháp vi diệu, cao quý có thể dẫn dắt chúng sanh vượt qua biển khổ đạt đến bờ bên kia. Trong bài thơ Xuân Nhật Quy Sơn Ký Mạnh Hạo Nhiên (春日歸山寄孟浩然) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Kim thằng khai giác lộ, bảo phiệt độ mê xuyên (金繩開覺路、寶筏渡迷川, thừng vàng bày nẻo giác, bè báu qua sông mê).” Hay trong bài Trùng Tu Viên Gia Sơn Bi Ký (重修袁家山碑記) của Phạm Dương Tuân (范陽詢) nhà Thanh có đoạn rằng: “Thần tiên giả dĩ kim đan vĩnh bảo tánh mạng, dĩ bảo phiệt phổ độ chúng sanh (神仙者以金丹永保性命、以寶筏普渡眾生, đấng thần tiên lấy thuốc hay giữ tánh mạng lâu dài, lấy bè báu độ khắp chúng sanh).” Trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) lại có câu: “Tiêu nghi tức lự tuyệt phan duyên, trì danh ức niệm ưng như thị, bảo phiệt thường đình khổ hải biên, Tây phương thắng cảnh diệu nan lường (消疑息慮絕攀緣、持名憶念應如是、寶筏常停苦海邊、西方勝境妙難量, hết nghi dứt nghĩ bặt phan duyên, trì danh tưởng niệm nên như vậy, bè báu thường dừng biển khổ bên, Tây phương thắng cảnh tuyệt khó lường).” Hoặc trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (般若心經解義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) lại có câu: “Thử kinh thành liệu chúng khổ chi linh đan, độ mê tân chi bảo phiệt dã (此經誠療眾苦之靈丹、渡迷津之寶筏也, kinh này thật là linh đơn chữa trị các bệnh khổ, là bè báu đưa người qua bến mê vậy).”
; (寶筏): chiếc bè quý báu. Đây là thuật ngữ Phật Giáo, tỷ dụ cho Phật pháp vi diệu, cao quý có thể dẫn dắt chúng sanh vượt qua biển khổ đạt đến bờ bên kia. Trong bài thơ Xuân Nhật Quy Sơn Ký Mạnh Hạo Nhiên (春日歸山寄孟浩然) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Kim thằng khai giác lộ, bảo phiệt độ mê xuyên (金繩開覺路、寶筏渡迷川, thừng vàng bày nẻo giác, bè báu qua sông mê).” Hay trong bài Trùng Tu Viên Gia Sơn Bi Ký (重修袁家山碑記) của Phạm Dương Tuân (范陽詢, ?-?) nhà Thanh có đoạn rằng: “Thần tiên giả dĩ kim đan vĩnh bảo tánh mạng, dĩ bảo phiệt phổ độ chúng sanh (神仙者以金丹永保性命、以寶筏普渡眾生, đấng thần tiên lấy thuốc hay giữ tánh mạng lâu dài, lấy bè báu độ khắp chúng sanh).” Trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) lại có câu: “Tiêu nghi tức lự tuyệt phan duyên, trì danh ức niệm ưng như thị, bảo phiệt thường đình khổ hải biên, Tây phương thắng cảnh diệu nan lường (消疑息慮絕攀緣、持名憶念應如是、寶筏常停苦海邊、西方勝境妙難量, hết nghi dứt nghĩ bặt phan duyên, trì danh tưởng niệm nên như vậy, bè báu thường dừng biển khổ bên, Tây phương thắng cảnh tuyệt khó lường).” Hoặc trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (般若心經解義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) lại có câu: “Thử kinh thành liệu chúng khổ chi linh đan, độ mê tân chi bảo phiệt dã (此經誠療眾苦之靈丹、渡迷津之寶筏也, kinh này thật là linh đơn chữa trị các bệnh khổ, là bè báu đưa người qua bến mê vậy).”
bảo phiệt
The precious raft of Buddha-truth, which ferries over the sea of mortality to nirvàna.
; Chiếc bè chân lý Phật pháp chuyên chở chúng sanh từ biển sanh tử đến Niết Bàn—The precious raft of Buddha-truth, which ferries over the sea of mortality to nirvana.
bảo phong khắc vân
Baofeng Kewen (C), Hobo Kokumon (J).
Bảo Phong Khắc Văn
(寳峰克文, Hōbō Kokubun): xem Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文, Shinjō Kokubun, 1025-1102) bên dưới.
; 寶峰克文; C: bǎofēng kèwén; J: hōbō koku-mon; 1025-1102; cũng được gọi là Chân Tịnh 眞淨;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Hoàng Long. Sư đắc pháp nơi Hoàng Long Huệ Nam và truyền lại cho Ðâu-suất Tòng Duyệt.|Sư họ Trịnh, quê ở Văn Hương Thiểm Phủ. Mẹ mất sớm, dưỡng mẫu lại khắc khe nên cha khuyên Sư đi du phương. Ðến Phục Châu nghe Thiền sư Quảng Công thuyết pháp, Sư cảm động ở lại học. Nhân gặp một tượng tỉ-khâu mắt như ở trong định, Sư bỗng giật mình tự nhủ: »Chỗ ta chất chứa thật như Ngô Ðạo Tử vẽ người, tuy thật là khéo nhưng không phải sống.« Sư quyết định về Nam học đạo và đến tham vấn Thiền Sư Huệ Nam. Nơi đây Sư được ấn khả.|Sau khi đắc pháp của Hoàng Long, Sư trụ trì nhiều chùa, tuỳ cơ tuỳ thời tiếp độ, được vua ban hiệu là Chân Tịnh Thiền sư. Niên hiệu Sùng Ninh năm đầu, ngày 16 tháng 10, Sư lên toà ngồi thế Kết già. Chúng thỉnh Sư thuyết pháp, Sư chỉ cười nói kệ:|Năm nay bảy mươi tám|Tứ đại sắp rời rã|Gió lửa đã li tán|Sắp đi còn gì nói.|Nói xong, Sư viên tịch, thọ 78 tuổi.
bảo phác tử
Pao-p'u-tzu (C), Baopuzi (C)Tên một tác phẩm của Cát Hồng, một đệ tử Đạo gia.
Bảo Phúc Bích Chi Phật
(寶輻辟支佛) Phạm: Ratna-nimi. Dịch âm: La đát na nễ nhĩ. Vị A la hán thứ 21 của Kì na giáo Ấn độ ở kiếp dưới trong hiện tại. Có thuyết cho Nễ nhĩ (Bảo=báu) là nguồn gốc của vị tôn này. Vị thứ ba được bày ở phía nam đức Phật bên ngoài viện Thích ca của Thai tạng giới Hiện đồ mạn đồ la Mật giáo. Mật hiệu là Viên tịch kim cương, có nghĩa là bánh xe báu tròn đầy. Một trong bốn Duyên giác. Hình tượng vị tôn này mầu vàng lợt, hiện hình Như lai, đắp ca sa kín hai vai, bàn tay phải ngửa lên hướng ra ngoài, ngón tay rủ xuống ngang ngực, tay trái nắm hai góc ca sa để ngửa ở phía dưới rốn.
bảo phúc diệu phong đỉnh
(保福妙峰頂) Tên công án trong Thiền tông. Sự tích dùng một câu đưa một câu đẩy (nhất ai nhất tạt) của ba nhà Tòng triển núi Bảo phúc, Tuệ lăng chùa Trường khánh và Đạo phủ ở Kính thanh đời Đường để phát huy tông phong. Bích nham lục Tắc 23 (Đại 48, 164 thượng), nói: Bảo phúc, Trường khánh đi chơi trên núi, Phúc đưa tay chỉ, nói: Chỉ trong chỗ này là Diệu phong đỉnh Khánh nói: Đúng thế, song đáng tiếc! (...) Sau kể lại cho Kính thanh, Thanh nói: Nếu không phải là Tôn công, thì liền thấy đầu lâu khắp đồng hoang. Mấy câu đối thoại đưa đẩy trên đây là thế này: Một hôm, Bảo phúc và Trường khánh vào núi chơi, Bảo phúc chỉ khu đất ở trong núi bảo đó là Diệu phong đỉnh. Diệu phong đỉnh (đỉnh núi nhiệm mầu) có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm, dùng để hiển bày thí dụ sự tròn đầy bình đẳng của bản thể vũ trụ; ý của Bảo phúc muốn nói, cái thấy ngay ở trước mắt tức là diệu phóng đỉnh, cần gì phải tìm đâu xa mới thấy suốt được bản lai diện mục. Trường khánh cho là đúng thế, nhưng đáng tiếc là diệu phong đỉnh nay đã băng hoại rồi. Ý Trường khánh muốn nói, chỉ có người mắt sắt con ngươi đồng mới không bị lừa dối. Sau Kính thanh khen và nói, nếu chẳng phải là Trường khánh (họ Tôn), thì những người tham Thiền trong thiên hạ đều coi diệu phong đỉnh sống động như vật chết khô cứng. Vì Bảo phúc thì theo cái thấy hướng thượng mà đề khởi toàn tướng của sự viên mãn bình đẳng; còn Trường khánh thì đứng trên quan điểm hướng hạ để hiển bảy sự hoạt dụng sống động vô tận; cho nên Kính thanh khen Trường khánh ở điểm này. Tóm lại, sự đưa đẩy của ba người tột cùng là hiển bày cái cảnh giới đồng chiêm đồng dụng đồng xướng đồng họa. Khi bình giảng công án này, Tuyết đậu nói: Trăm nghìn năm sau, chẳng nói không, chỉ là số ít, để tán thán. Lại có bài kệ rằng: Diệu phong sừng sững nhiệm mầu thay, Tới rồi biết ngỏ với ai đây? Chẳng phải Tôn công bày lẽ ấy, Đầu lâu mặt đất mấy ai hay?
bảo phúc viện
(保福院) Viện Bảo phúc. Vị trí nằm trong núi Bảo phúc huyện Long khê tỉnh Phúc kiến. Do Thứ sử Chương châu là Vương công khâm sáng lập vào năm Trinh minh thứ 3 (917) nhà Hậu Lương đời Ngũ đại. Lấy pháp tự của Nghĩa tồn ở núi Tuyết phong là Tòng triển ở núi Bảo phúc làm tổ khai sơn, Tòng triển ở đây khoảng mười hai năm, học chúng bốn phương đến y chỉ thường là hơn bảy trăm người; Tòng triển nhập tịch vào năm Thiên thành thứ 3 (928). Về sau tiếp nối có các sư thuộc phái Tuyết phong, như Siêu ngộ, Khả trù, Thanh hoát v.v... trụ trì, hoằng dương tông phong. [X. Đại thanh nhất thống chí Q.329; Phúc kiến thông chí Q.9].
bảo phương
Tự viện, nơi thường trụ Tam Bảo—Precious place, or the abode of the triratna, a monastery.
bảo phước
Pao-fu (C)Một nhân vật trong thí dụ 8, Bích Nham Lục.
bảo phước tòng triển
Hokufu (J), Baofu (C), Pao-fu Ts'ung-chan (C), Baofu Congzhan (C), Hofufu Juten (J)(?-928) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
Bảo Phước Tùng Triển
(保福從展, Hofuku Jūten, 867-928): người kế thừa dòng pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), xuất thân Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trần (陳). Năm lên 15 tuổi, ông theo hầu Tuyết Phong, rồi năm 18 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Đại Trung Tự (大中寺), Chương Châu (漳州), sau đó trở về lại với Tuyết Phong. Vào năm thứ 4 (918) niên hiệu Trinh Minh (貞明) nhà Lương, nhờ sự quy y của vị quan vùng Chương Châu họ Vương, ông đến làm vị tổ khai sáng Bảo Phước Viện (保福院). Tương truyền trong vòng 10 năm ở đây, học chúng theo ông tham học lên đến hơn 700 người. Ông thị tịch vào ngày 21 tháng 3 năm thứ 3 (928) niên hiệu Thiên Thành (天成) nhà Hậu Đường.
bảo phường
Precious place, or the abode of the Triratna, a monastery.
; (寶坊) Ở giữa khoảng Dục giới và Sắc giới có đại bảo phường (phường báu lớn), đức Phật đã từng ở đấy nói kinh Đại tập. Kinh Đại tập quyển 1 (Đại 13, 2 trung, hạ), nói: Lúc bấy giờ, Như lai thị hiện vô lượng thần thông đạo lực, dần dần đến trong phường thất bảo ấy, (...) các Bồ tát nơi ấy đều cùng khởi hành, đi đến phường đại bảo ở thế giới Sa bà. Lại trưởng giả Cấp cô độc ở nước Xá vệ đã đem vàng ròng (một trong bảy thứ quí báu) rải mặt đất, mà mua được khu vườn của Thái tử Kì đà để làm tinh xá cúng dường đức Phật, do tích ấy, về sau, các chùa viện cũng được gọi bằng các mĩ danh như bảo phường, kim địa. Ngoài ra, cũng có nơi gọi chùa viện là Bảo địa, như nói Hương thành bảo địa, Trường ca du bảo địa. [X. Lục tổ đàn kinh].
bảo phạt
(寶筏) Chiếc bè báu. Thí dụ giáo pháp của đức Phật như chiếc bè quí báu. Bảo, là quí báu; phiệt, là công cụ để chở người. Bởi vì Phật pháp có thể đưa người qua khỏi bể khổ sống chết mà đến bờ Niết bàn yên vui, cũng như cái bè có thể chở người qua sông, cho nên ví như thế. Trong A hàm quyển 54 kinh Đại phẩm a lê tra (còn gọi là kinh Phiệt dụ) có chép Phiệt dụ pháp.
bảo phật cước
Khi gặp trở ngại Phật tử Trung Hoa hay có tục ôm chân Phật mà cầu nguyện—When in trouble, Chinese Buddhists have a custom to embrace the Buddha's feet.
bảo quang bồ tát
Xem Bảo xứ Bồ tát. Xem Bảo tích Bồ tát.
bảo quang minh trì
Ao Bảo Quang Minh tại xứ Ma Kiệt Đà, nơi Phật thuyết giảng (kinh Bảo Giáp Ấn Đà La Ni)—A lake in Magadha, where the Buddha is said to have preached.
bảo quang phật
See Bảo Quang Thiên Tử and Tam Quang Thiên Tử.
bảo quang thiên tử
Ratnaprabhā (S).
; Surya-deva (skt)—Một trong Tam Quang Thiên Tử, tức Nhật Thiên Tử, gọi là Bảo Ý là ứng hiện của Đức Quán Âm—Precious light deva, the sun-prince, a manifestation of Kuan-Yin, one of the three kings of precious light. ** For more information, please see Tam Quang Thiên Tử.
; (寶光天子) Là một trong Tam quang thiên tử. Còn gọi là Bảo ý nhật thiên tử, Nhật thiên tử. Là hóa thân của bồ tát Quan thế âm, nội thần của trời Đế thích. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tự; Pháp hoa văn cú Q.2]. (xt. Tam Quang Thiên Tử).
Bảo Quang Thiên tử 寶光天子
[ja] ホウコウテンシ Hōkō tenshi ||| Ratnaprabha; Jewel Light--the name of a god in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.2a16〕 => (s: Ratnaprabha; f: Jewel Light), tên một vị trời trong kinh Pháp Hoa.
bảo quang tự
(寶光寺) Vị trí chùa nằm ở Tân đô tỉnh Tứ xuyên. Xây dựng vào đời Đông Hán, đến đời Tùy gọi là chùa Đại thạch. Năm Quảng minh thứ 2 (881), Vua Hi tôn nhà Đường đã đến ở đây để tránh loạn Hoàng sào, tháp xá lợi trong chùa bỗng nhiên phóng ra ánh sáng, vua Hi tôn liền cho xây lại tháp, đồng thời, sai quốc sư Ngộ đạt sửa sang chùa cảnh và đổi tên là chùa Bảo quang. Cứ nghe truyền thì vào thời toàn thịnh ở đời Tống, tăng chúng trong chùa đông tới ba nghìn người, thành là ngôi danh lam nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Trong đời Minh, chùa trở nên hoang phế, đến năm Khang hi thứ 9 (1670) đời Thanh được xây cất lại. Cuối đời Thanh, trong thời kì pháp sư Tông hưng trụ trì, được đại sư Thanh phúc tặng ba viên Xá lợi và hai pho tượng Phật bằng ngọc. Chùa có diện tích bằng hai mươi nghìn mét vuông đất, ngoài điện Thất Phật, điện Đại hùng, nhà thờ năm trăm La hán ra, trong chùa còn có mười sáu đình viện khác. Ngoài ra, chùa còn bảo tồn năm quyển Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh từ đời Minh, được viết trên nền giấy màu xanh bằng vàng và bạc trộn lẫn với nhau và tấm bìa đá Nghìn Phật khắc vào năm Đại đồng thứ 6 (540) đời Lương nam triều.
bảo quyển
(寶卷) Là loại văn học diễn biến từ thể văn biến đời Đường. Sản sinh vào khoảng đời Tống, Nguyên và lưu hành ở khoảng năm Chính đức (1506-1521) đời Vũ tôn nhà Minh đến cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc. Thời vua Chân tôn nhà Tống, các tăng sĩ bị cấm không được giảng tụng bằng văn biến thể, từ đó văn biến thể biến thành hình thức Đàm kinh, Thuyết kinh, Thuyết tham thỉnh, cũng tức là cái biến tướng của văn biến thể được phát triển, bảo quyển cũng nhân thời vận đó mà sản sinh. Nội dung kết cấu của bảo quyển với văn biến thể đại khái chỉ khác nhau chút ít, phần nhiều ngôn ngữ thông tục dễ hiểu, phối hợp âm nhạc, thêm giọng ngâm tụng nhằm mục đích thông tục hóa. Cái được tụng giảng là bảo quyền Phật giáo lấy nhân quả báo ứng, sự tích trong đạo Phật làm chủ yếu, cũng có khi lấy bảo quyển phi Phật giáo như truyện cổ dân gian, truyện cổ Thần đạo làm chủ yếu. Tương truyền bảo quyền đầu tiên là bảo quyển Hương sơn, do Thiền sư Phổ minh đời Tống viết. Nhưng khảo sát thực tế thì cho thấy, bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Tiêu thích chân không, bảo quyển Mục liên cứu mẫu xuất li địa ngục thăng thiên v.v... là những bảo quyển sớm nhất. Bảo quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, bảo quyển thường được gọi là Kinh. Như bảo quyển Dược sư bản nguyện công đức là hoàn toàn diễn kinh Dược sư bản nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ. Những bảo quyển phi Phật giáo tương đối nổi tiếng thì có bảo quyển Trân châu tháp, bảo quyển Mạnh khương nữ, bảo quyển Anh đài v.v... Những bảo quyền kể truyện cổ Phật giáo rất được dân gian hoan nghênh, và bảo quyển Mục liên cứu mẹ thoát khỏi địa ngục sinh lên cõi trời là thí dụ đẹp nhất. Ngoài ra còn có bảo quyển Mục liên (khác với bảo quyển Thăng thiên), bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Diệu anh v.v... hoặc tườngthuật về sự tu đạo cứu đời của Bồ tát, hoặc nói về quá trình tu hành của thiệnnam tín nữ dân gian, đối với phụ nữ rấtcó ảnh hưởng.Danh từ bảo quyển chỉ là tên gọi chung cho loại sách này, chứ tên sách riêng biệt thì chưa chắc đã có hai chữ bảo quyển, mà chỉ gọi là quyển, làkinh, cũng có khi gọi là chân kinh, khoa nghi, bảo sám, bảo truyện v.v... Tuyêngiảng bảo quyển, gọi là Tuyên quyển.Khi tuyên quyển, trước hết phải thắphương thỉnh Phật, bao hàm sắc thái tôn giáo đậm đà, khác với sự giảng diễn thông thường.Thể lệ của bảo quyển lấy văn vần làm chủ, dùng văn xuôi thuyết minh bổ sung. Thông thường mỗi bản chia làm hai mươi bốn phẩm, trong mỗi phẩm lại tách ra làmbốn phần: 1. Phần nghi thức, mở đầu và kết thúc đều phải thắp hương nghinh thỉnh, nghinh tống Phật Bồ tát Thần linh, những bài kệ đọc lúc này là kệ khai kinh, kệ tán hương, kệ thu kinh. 2. Phần tâu bạch, trước văn vần trong mỗi phẩm, dùng văn xuôi nói miệng để tâu bạch. 3. Phần ngâm tụng, là thể thường của bảo quyển, phần nhiều dùng văn vần thể bảy chữ hoặc mười chữ để ngâm tụng. 4. Phần ca xướng, dùng các bài hát thêm vào giữa phẩm hoặc cuối phẩm. Các bài thông dụng hơn cả là Trú vân phi, Hoàng oanh nhi, Sơn pha dương, Nhạn nhi lạc, Bàn trang đài (áng mây bay, chim hoàng oanh, con dê dốc núi, con nhạn lạc, bên đài trang), hoặc phối với các sênh tre, điệu đàn để dễ xướng tụng. Bảo quyển thường bị lạm dụng thành tôn giáo dân gian bí mật, làm công cụ tổ chức của các hội đoàn bí mật, các tôn giáo dân gian như Bạch liên giáo, La giáo, Hoằng dương giáo, Văn hương giáo trong đời nhà Minh, đều dùng bảo quyển làm kinh quyển phụng trì, cho nên bảo quyển thường bị các thế lực chính trị cấm lưu truyền. Những tác phẩm hiện còn không được bao nhiêu, theo những người sưu tập gần đây thì tổng số ước chừng chỉ còn độ một trăm bản mà thôi. [X. Trung quốc tục văn học sử (Trịnh chấn đạc); Bảo quyển chi nghiên cứu (Trạch điền thụy huệ)].
bảo quán
(寶冠) Còn gọi là Thiên quan. Chỉ chiếc mũ được trang sức bằng ngọc báu. Còn là vật dùng để trang nghiêm Phật và Bồ tát, như bồ tát Bảo quan ngồi trên hoa sen, tay trái cầm mũ báu. Mũ báu có nhiều loại, chủ yếu có mấy loại sau đây: 1. Ngũ trí bảo quan, trong mũ có năm vị hóa Phật, biểu thị cái đức đầy đủ năm trí. 2. Tam phong bảo quan, biểu thị nghĩa ba bộ Thai tạng. 3. Vô lượng thọ Phật bảo quan, trong mũ có Phật Vô lượng thọ, do bồ tát Quán tự tại đội. Vì nhân quả của hai đấng tôn này có khác nhau, dùng mũ này để biểu tỏ nghĩa Quán tự tại vào quả vị là Vô lượng thọ. 4. Tháp bà bảo quan, là mũ có đặt tháp bà. Ngoài ra, có mũ một Phật của hóa Phật (mũ hóa Phật), mũ sư tử có đặt đầu sư tử, mũ kim tuyến, mũ đầu lâu, mũ hoa và mũ lọn tóc v.v...
bảo quán bồ tát
(寶冠菩薩) Bảo quan, Phạm: Ratna-kùỉa, hoặc Ratna-makuỉa (dịch âm là La đát na ma câu tra). Còn gọi là Bảo quan đồng tử, Bảo quan đồng tử bồ tát. Là vị Bồ tát bày ở ngôi thứ hai phía bắc bồ tát Văn thù sư lợi trong viện Văn thù thuộc hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la. Bảo quan (mũ báu) hàm ý là trang nghiêm, Phạm thiên, Đế thích, vua chúa, công khanh đều đội mũ báu đẹp đẽ. Vị tôn này tuy lấy cái đức phúc tuệ trang nghiêm của bồ tát Văn thù làm chủ, nhưng không phải chỉ trang nghiêm cho chính mình, mà còn làm lợi ích cho chúng sinh, khiến được phúc tuệ trang nghiêm. Mật hiệu của vị tôn này là Trang nghiêm Bồ Tát Bảo Quan (Thai Tạng Giới Mạn Đồ La)
bảo quán thích ca
(寶冠釋迦) Chỉ tượng đức Thích ca đội mũ báu trên đầu. Loại tượng vẽ này, ở chính giữa đặt Phật Đại nhật, cạnh bên trái Phật A súc, Phật Bảo sinh, cạnh bên phải Phật Di đà, Phật Thích ca, đó là năm Phật. Lúc đầu có lẽ chỉ tạo tượng cho đẹp đẽ, nên trang sức bằng mũ báu anh lạc, nhưng đời sau thì cho Bảo quan Thích ca tức là tướng Chuyển luân thánh vương của Phật Đại thừa, dùng để phân biệt với tướng chán tục xuất gia của Phật Tiểu thừa. Khi trong chùa viện có thờ mười sáu vị la hán, thì vị tôn ở chính giữa là Bảo quan Thích ca. [X. Đại đường tây vực kí Q.8; Tập thần châu tam bảo cảm thông lục Q.trung phần 5].
bảo quý
(寶貴) Vị tăng đời Tùy. Là học trò của ngài Đạo an đời Bắc Chu. Rộng thông các sách, đặc biệt tinh thông Luật học. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Chi mẫn độ đời Tấn đã biên soạn Hợp duy ma kinh 5 quyển, tổng hợp tinh nghĩa của ba dịch giả Chi khiêm, Trúc pháp hộ và Trúc thúc lan mà thành. Bảo quí bắt chước phương pháp của Chi mẫn độ, tổng hợp tinh nghĩa của ba loại kinh kim quang minh mà biên tập thành Hợp bộ kim quang minh kinh 8 quyển, còn gọi là Tân hợp Kim quang minh kinh. Thời bấy giờ, kinh Kim quang minh có ba loại dịch bản, tức bản bốn quyển của Đàm vô sấm, bản năm quyển của Da xá quật đa, và bản bảy quyển của Chân đế. Sư lại thỉnh Xà na quật đa dịch phẩm Ngân chủ đà la ni và phẩm Chúc lụy để thêm vào. Năm Khai hoàng 17 (597) dâng trình vua Văn đế, nhà vua viết tựa. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Thích thị kê cổ lược Q.2].
bảo quốc
Precious country, the Pure Land.
; 1) Tịnh Độ—Precious country—The Pure Land. 2) Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế. Tổ đình Bảo Quốc nguyên thủy tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự do Hòa Thượng Pháp Hàm hiệu Giác Phong khai sơn vào cuối thế kỷ thứ 17. Năm 1747, chúa Nguyễn Phước Hoạt mở rộng qui mô của chùa, nâng lên hàng quốc tự và đặt tên lại là Bảo Quốc Tự. Năm 1808, Hiếu Khương Hoàng Hậu, mẹ vua Gia Long, đã cho trùng tu chùa và gọi tên chùa là Thiên Thọ. Năm 1824, vua Minh Mạng lên thăm chùa đặt tên lại là Bảo Quốc. Năm 1858, vua Tự Đức ban 700 quan tiền cho trùng tu chùa—Name of an old temple in Huế. Bảo Quốc Patriarchal Temple, with its original name Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, was founded by Most Venerable Pháp Hàm Giác Phong in the late seventeenth century. In 1747, Lord Nguyễn Phước Hoạt enlarged the temple, recognized it as a national temple, and renamed it Bảo Quốc Tự. In 1808, Queen Hiếu Khương, mother of king Gia Long, had the temple restored and renamed it Thiên Thọ. In 1824, king Minh Mạng visited it and renamed it Bảo Quốc. In 1858, king Tự Đức had it rebuilt with a grant of 700 kuan from the throne.
bảo quốc tự
(保國寺) Vị trí chùa nằm ở sườn núi Linh sơn, cách huyện Ngân về phía tây mười lăm cây số thuộc tỉnh Triết giang. Được sáng lập vào đời Đường, lúc đầu gọi là chùa Linh sơn. Năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tôn diệt Phật, chùa bị phá hủy. Niên hiệu Quảng minh năm đầu (880), được xây lại, nhà vua ban hiệu là Bảo Quốc Tự. Niên hiệu Trị bình năm đầu (1064) đời Tống, đổi tên là viện Tinh tiến, về sau lại lấy lại tên cũ Bảo quốc tự. Đại điện được dựng vào khoảng năm Đại trung tường phù (1008-1016) nhà Bắc Tống, là cấu trúc bằng gỗ lâu đời nhất hiện còn của vùng Giang nam. Còn các điện khác như điện Thiên vương, điện Quan âm v.v... phần nhiều được sửa lại hoặc làm thêm từ sau năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh.
bảo quỳnh
(寶瓊) Vị tăng đời Lương thời Nam bắc triều. Người huyện Đông hoàn (Thủy tố, Sơn đông), họ Từ. Sau lánh nạn đến ở Tì lăng khúc a (huyện Đơn dương tỉnh Giang tô). Xuất gia từ nhỏ, thờ sa môn Pháp thông làm thầy, được coi là đạo khí. Hơn mười lăm tuổi, thụ học tông nghĩa Thành thực của ngài Pháp vân chùa Quang trạch, sau chuyển đến chỗ Nam giản Tiên sư, nghiên tập Tì đàm học. Tiên sư thấy người trong bụng rất mừng, bèn dặn môn đồ dạy viết. Trong năm thụ giới Cụ túc đã có thể thuật lại những lời mà vị giảng kinh đã nói, sau năm năm được bổ nhiệm chức Pháp chủ, rồi cùng với Tiên sư hoằng hóa ở Hàng châu và Hành châu, từng được Lương vũ đế vời vào điện Thọ quang để đàm đạo. Về sau, xin cáo từ trở về làng, giảng đạo ở chùa Kiến an, rồng trắng thường đến chỗ sư ngồi giảng, mọi người trông thấy đều kinh lạ và gọi sư là Bạch quỳnh (ngọc trắng). Vì lời thỉnh cầu của Giản tử Chu hoằng chính, sư lại một lần nữa về Kinh đô, giảng luận Thành thực, trong thời kì này cũng có nhiều hiện tượng linh dị. Kịp đến thời Vũ đế, Văn đế nhà Trần, sư được cử làm Kinh ấp Đại tăng chính, ra sức sửa đổi thói tệ cũ, khiến Tăng Ni tự kiểm điểm nghiêm túc. Thanh danh của sư truyền khắp bốn phương, cả các nước Đông hải cũng sai sứ đến xin vẽ hình tượng của sư để về thờ vọng. Năm Chí đức thứ 2 đời Trần, sư nhập tịch, thọ tám mươi mốt tuổi, an táng ở phía sau Chung sơn. Sư giảng thuyết giỏi, như giảng luận Thành thật chín mươi mốt lần, kinh Niết bàn ba mươi lần, kinh Đại phẩm Bát Nhã năm lần; trứ tác cũng nhiều, như Thành thật huyền nghĩa 20 quyển, Thành thật văn sớ 16 quyển, Niết bàn sớ 17 quyển, Đại phẩm sớ 13 quyển, Đại thừa nghĩa 10 quyển, Pháp hoa, Duy ma văn sớ mỗi thứ đều mấy quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.7; Lục học tăng truyện Q.22; Phật tổ lịch đại thông tải Q.10].
bảo sa ma tẩy
Pausamasa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Pausamasa là tháng thứ mười của Ấn Độ, bắt đầu từ 16th tháng chạp của Trung Hoa—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Pausamasa is the tenth Indian month, beginning on the 16th of the 12th Chinese month. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.
bảo sanh
Ratnasambhava (skt). 1) Một trong năm vị Đức Trí Như Lai ở cõi Kim Cương Mạn Đà La, Đức Trung Tôn của Nguyệt Luân ở Nam phương: One of the five dhyana Buddhas, the central figure in the southern “diamond” mandala. 2) Cõi thành Phật của ngài Tu Bồ Đề: The realm of Subhuti on his becoming Buddha.
bảo sanh như lai
Xem Phật Bảo sanh.
Bảo Sanh Phật
(s: Ratna-saṃbhava, t: Rin-chen ḥbyun-ba, 寶生佛): âm dịch là La Đát Nẵng Tam Bà Phược (羅怛曩三婆縛); còn gọi là Bảo Sanh Như Lai (寶生如來), Bảo Tướng Như Lai (寶相如來); là tên gọi của một trong 5 vị Phật thuộc Kim Cang Giới (金剛界) của Mật Giáo; ngự ở ngay ở giữa của vòng Nguyệt Luân ở hướng chánh Nam. Vị Phật này lấy phước đức báu Ma Ni để tích tụ công đức, có thể làm cho hết thảy nguyện ước của chúng sanh được thành tựu viên mãn; cũng như có thể giúp cho hành giả lên đến ngôi vị Pháp Vương được dự Quán Đảnh. Ngài là chủ của Bảo Bộ (寶部) trong Ngũ Bộ, tượng trưng cho Bình Đẳng Tánh Trí (平等性智) của Ngũ Trí. Mật hiệu của vị Phật này là Bình Đẳng Kim Cang (平等金剛); chủng tử là trāḥ, hoặc ja; hình Tam Muội Da là bảo châu. Hình tượng của Ngài có khác nhau trong các hội của Kim Cang Giới, như trong Thành Thân Hội (成身會) thì toàn thân Ngài hiện sắc màu vàng kim, tay trái nắm lại đặt lên dưới bắp vế, tay phải hướng ra bên ngoài, bắt Ấn Thí Nguyện (施願印), ngồi xếp bằng trên tòa sen. Xưa nay vị Phật này thường được xem là tương đồng với Bảo Tràng Như Lai (寶幢如來) ở phương Đông của Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼茶羅). Trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經) quyển 1, Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 9, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 10, v.v., Bảo Sanh Phật tương đương với Bảo Tướng Phật (寶相佛) ở phương Nam; hoặc tương đương với Bảo Tràng Phật (寶幢佛) ở phương Nam như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明經最勝王經) quyển 8 có đề cập. Về chư vị Bồ Tát quyến thuộc của Ngài, Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) cho biết rằng: “Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Quang Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát (寶生佛四菩薩者、一金剛寶菩薩、二金剛威光菩薩、三金剛幢菩薩、四金剛眷菩薩, bốn vị Bồ Tát của Bảo Sanh Phật là, một Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai Kim Cang Uy Quang Bồ Tát, ba Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn Kim Cang Quyến Bồ Tát).” Trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn rằng: “Phụng thỉnh Nam phương Bảo Sanh Phật, kỳ thân xích sắc phóng quang minh, thủ ấn chấp trì Ma Ni Bảo, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ (奉請南方寶生佛、其身赤色放光明、手印執持摩尼寶、眾等志心歸命禮, cung thỉnh Nam phương A Súc Phật, thân Ngài sắc đỏ phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Báu Ma Ni, chúng con chí tâm cung kính lễ).” Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 lại dạy rằng: “Cầu phú quý thư Bảo Sanh Phật Chủng Trí tự (求富貴書寶生佛種智字, nếu cầu giàu sang thì viết chữ Chủng Trí của Bảo Sanh Phật).” Hay trong Đại Nhạo Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích (大樂金剛不空眞實三昧耶經般若波羅蜜多理趣釋, Taishō Vol. 19, No. 1003) có giải thích thêm rằng: “Nhất thiết Tam Giới chủ Như Lai giả, Bảo Sanh Phật giả, Bảo Sanh chi biến hóa, tắc Hư Không Tạng Bồ Tát thị dã (一切三界主如來者、寶生佛也、寶生之變化、則虛空藏菩薩是也, đức Như Lai làm chủ của hết thảy Ba Cõi là Bảo Sanh Phật; khi Bảo Sanh biến hóa tức chính là Hư Không Tạng Bồ Tát vậy).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (金剛頂瑜伽三十七尊禮, Taishō Vol. 18, No. 879) có đảnh lễ danh hiệu của Ngài: “Nam Mộ Công Đức Trang Nghiêm Tụ Thân Bảo Sanh Phật (南慕功德莊嚴聚身寶生佛, Kính Lễ Phật Bảo Sanh Thân Tập Trung Công Đức Trang Nghiêm).”
bảo sinh
Ratnasambhava, one of the five Dhyàni-Buddhas.
bảo sinh như lai
See Bảo Thắng Như Lai.
Bảo Sinh Phật
寶生佛; S: ratnasambhava;|Một trong năm vị Phật trong Phật gia. Phật Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bảo Thủ Bồ Tát (s: ratnapāṇi) được xem là thuộc tính của Bảo Sinh Phật. Ấn của Bảo Sinh Như Lai là Ấn thí nguyện. Trong tranh tượng, Bảo Sinh Phật hay được vẽ ngồi trên lưng sư tử hay lưng ngựa.||H 13: Bảo Sinh Phật. Trong hình này Phật Bảo Sinh được trình bày với ấn thí nguyện. Bình bát trên tay trái là dấu hiệu chức giáo chủ Tịnh độ phương Nam và ba viên ngọc dưới toà sen tượng trưng cho Phật, Pháp và Tăng (Tam bảo).
bảo sinh phật
Ratnasaṃbhava (S)Bảo Sanh thế giới, Bảo sanh Như lai, Nam PhậtNgự phương Nam Mạn đà la, tượng trưng Bình đẳng tánh trí. Ratnasambhava cũng còn gọi là Bảo Sanh thế giới, cõi giới vị lai do Danh Tướng Như Lai (Phật hiệu của Ngài Tu Bồ Đề về vị lai) cai quản.
; (寶生佛) Bảo sinh, Phạm: Ratna - saôbhava, dịch âm là La đát nẵng tam bà phạ; tên Tây tạng làRin-chen #byun-ba. Còn gọi là Bảo sinh Như lai. Là một trong năm đức Phật thuộc Kim cương giới trong Mật giáo. Đặt trong năm giải thoát luân trên Kim cương giới mạn đô la Thành thân hội, chính giữa nguyệt luân ở phương nam. Vị tôn này dùng ngọc báu đầy đủ công đức để làm cho hết thảy chúng sinh đều đạt được điều sở nguyện; cũng có thể làm phép quán đính cho hành giả khi lên đến địa vị Pháp vương. Nhiếp trong Bảo bộ thuộc năm bộ, chủ về bình đẳng tính trí trong năm trí. Mật hiệu của vị tôn này là Bình đẳng kim cương, chủng tử là (trà#) hoặc (ja), hình Tam muội da là ngọc báu. Về hình tượng thì trong các hội thuộc Kim cương giới có khác nhau, như trong hội Thành thân thì toàn thân là màu vàng, tay trái nắm lại đặt ở dưới rốn, tay phải duỗi xuống và bàn tay hướng ra, ngón vô danh và ngón út hơi co lại, còn ba ngón kia thì duỗi thẳng, kết ấn Thí nguyện, ngồi xếp bằng trên tòa sen. Còn theo Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ chép, thì thân màu vàng, tay trái nắm lại, cầm góc áo đặt trước ngực, tay phải kết ấn Thí nguyện. Lại xưa nay, hình tượng của vị tôn này giống với Bảo chàng Như lai ở phương đông trong Thai tạng giới mạn đồ la, cho nên được coi là đồng thể. Kinh Kim quang minh quyển 1, kinh Quán Phật tam muội hải quyển 9, kinh Đà la ni tập quyển 10, bảo trong bốn đức Phật ở bốn phương, thì vị tôn này tương đương với Phật Bảo tướng ở phương nam, và cũng tương đương với Phật Bảo chàng ở phương nam nói trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới đà la ni Q.2; kinh Kim cương đính Q.thượng; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].
bảo sinh đà la ni kinh
(寶生陀羅尼經) Có một quyển. Còn gọi là Bảo sinh kinh. Do ngài Thí hộ đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Trước hết, kinh dẫn thuật đà la ni, sau đó nói rõ về công đức của đà la ni, bảo nếu đọc tụng đủ bảy ngày thì có thể được thiên nhãn thanh tịnh. Lại nếu có người được nghe đà la ni này rồi thường nhớ nghĩ không dứt, thì sẽ có thể chứng được Bồ đề.
bảo sinh ấn
(寶生印) Chỉ ấn hình báu do đức Bảo sinh Như lai kết trong hội Kim cương giới Tam muội da thuộc Mật giáo. Ấn này tức tay thành kim cương phọc, dựng thẳng hai ngón giữa của tay trái tay phải để biểu thị hình báu. [X. kinh Diệu cát tường bình đẳng bí mật tối thượng quán môn đại giáo vương Q.3].
Bảo sinh 寶生
[ja] ホウショウ hōshō ||| (1) The place where jewels are produced (ratnakāra). (2) Ratnasaṃbhāva--the name of one of the five buddhas 五佛. => 1. Nơi châu báu phát sinh (s: ratnakāra). 2. s: Ratnasaṃbhāva; danh hiệu của một trong Năm vị Phật ( Ngũ Phật五佛).
bảo sám
Precious verses for repentance.
bảo sát
Precious ksetra, or Buddha realm; a monastery.
; 1) Phật Giới: The precious ksetra, or Buddha-realm. 2) Tự Viện: A monastery.
; (寶刹) Bảo sát. Tôn xưng cõi Phật. Sát, tiếng Phạm: Kwetra, hàm ý là ruộng đất, như kinh Đại A di đà, kinh Quán vô lượng thọ, đều nói cõi Phật được trang nghiêm bằng bảy thứ báu, cho nên gọi là Bảo sát. Cũng có chỗ gọi là Bảo quốc, Bảo giới. [X. kinh Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm Q.hạ; luận Tịnh độ Q.thượng (Ca tài)]. II.Bảo sát. Mĩ danh gọi chùa Phật, tháp Phật. Pháp uyển châu lâm quyển 55 (Đại 53, 707 trung), nói: Phá tà ngoại đạo, giữ chắc chính quốc, già lam, bảo sát, giảng hội truyền kinh, tiếng đức vang vọng.
bảo sơn
Ratnaparvata (S), Mt Ratnaparvata núi Bảo sơn.
bảo sơn thạch quật
(寶山石窟) Hang đá Bảo sơn. Vị trí nằm về phía tây huyện An dương tỉnh Hà nam. Do học trò của Luật sư Quang thống là Đạo bằng đục mở vào năm Vũ định thứ 4 (546) đời Đông Ngụy, lúc đầu gọi là chùa Bảo sơn, sau đổi là chùa Linh tuyền. Năm Thiên bảo thứ 10 (559), Đạo bằng nhập tịch ở đây. Có hai nơi hang đá, hang Đại lưu ở phía nam chùa (còn gọi là đông Chu sa), hang Đại trụ ở phía bắc chùa (còn gọi là động Hưởng đường). Trong hang Đại lưu có ba tôn tượng Thích ca. Di đà, Di lặc, cứ theo cách tạo hình mà suy đoán thì Đạo bằng đã đục mở vào thời đại Đông Ngụy. Hang Đại trụ đã do đệ tử của Đạo bằng là Linh dụ Phật Bảo Sinh Thần Vương Ca Tì La ở ngoài hang đá núi Bảo Sơn đục mở vào năm Khai hoàng thứ 9 (589) đời Tùy. Tên gọi của hai hang là do Linh dụ đặt định, căn cứ theo tính lực kim cương của trời Na la diên để biểu thị ý Chính pháp tồn tại lâu dài. Đồng thời, trên vách đá ở cả trong lẫn ngoài hang, có chạm trổ tượng của Ca tì la thần vương, Na la diên thần vương, và khắc các kinh văn trong kinh Pháp hoa phẩm Thọ lượng, kinh Thắng man chương Nhất thừa, kinh Đại tập phần Nguyệt tạng phẩm Pháp diệt tận và kệ vô thường của Tuyết sơn đồng tử bỏ mình cầu pháp trong kinh Niết bàn. Bản thân sư Linh dụ đã từng trải nỗi đau đớn của thời Bắc Chu phá diệt Phật pháp, sợ rằng Phật pháp sẽ tuyệt diệt, cho nên phát nguyện khắc kinh đá, cùng với kinh đá ở chùa Vân cư núi Phòng sơn, cùng là những sản vật của tư tưởng thời đại mạt pháp sắp đến, đều dự phòng pháp diệt mà khắc kinh điển trên bản đá. (xt. Phóng Sơn).
bảo sớ
(寶疏) Gồm ba mươi quyển. Còn gọi là A tì đạt ma câu xá luận sớ, Câu xá luận bảo sớ, Câu xá luận sớ. Do ngài Pháp bảo đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 41. Cùng với Câu xá luận sớ của Thần thái, Câu xá luận kí của Phổ quang, gọi chung là ba bộ đại sớ của luận Câu xá. (xt. Câu Xá Luận Sớ).
bảo sở
The place of precious things, i.e. the perfect nirvana.
; Bảo sở là nơi chứa những châu báu, như Niết Bàn Vô Dư—The place of precious things, i.e. the perfect Nirvana.
; (寶所) Đối lại với Hóa thành. Có nghĩa là chỗ ở quí báu, thí dụ Niết bàn cùng tột. Hóa thành, thí dụ Niết bàn của Tiểu thừa, ở gần nhưng chưa phải là đích thực; Bảo sở, tức thí dụ Niết bàn của Đại thừa, trỏ nơi đích thực chứng ngộ an trú. [X. kinh Pháp hoa phẩm Hóa thành dụ].
Bảo sở 寶所
[ja] ホウショ hōsho ||| The Jewel Land, Treasure Land; Jewel Place. => Cõi giới thanh tịnh, cảnh giới mầu nhiệm của người đã chứng ngộ.
bảo thiên tỉ khâu
(寶天比丘) Bảo thiên, Phạm: Ratnadeva, phiên âm là Lặc na đề bà. Là một trong các đệ tử của Phật. Cứ theo kinh Hiền ngu phẩm Bảo thiên nhân duyên thứ 11 chép, thì Bảo thiên nguyên là con của một trưởng giả ở nước Xá vệ, khi sinh ra thì trời mưa bảy thứ báu khắp trong nhà, do đó mà đặt tên là Lặc na ma đề. Lớn lên, rộng thông tài nghệ. Sau được nghe danh đức Phật, bèn từ biệt cha mẹ, đến chỗ Phật xin xuất gia làm tỉ khưu và chứng được quả A la hán.
bảo thiên tỳ kheo
Ratnadeva (S)Tên một vị sư.
bảo thành
The city full of precious things, in the Nirvàna sùtra, i.e. the teaching of the Buddha.
; Thành chứa đầy bảo vật, như Phật Pháp trong Kinh Niết Bàn—The city full of precious things, in the Nirvana Sutra, i.e. the teaching of the Buddha.
; (寶城) Có nghĩa là thành đầy dẫy của báu, thí dụ chính pháp của Phật. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 376 trang), nói: Này các tỉ khưu! Thế nào gọi là thành báu chính pháp trang nghiêm? - Có đầy đủ mọi thứ công đức quí báu - giới, định, trí tuệ làm tường vách hào lũy.
bảo thánh tự
(保聖寺) Vị trí chùa nằm ở Ngô huyện tỉnh Giang tô. Được dựng vào đời Đường, thường bị hủy hoại qua các thời đại rồi lại được khôi phục. Trong Đại hùng bảo điện có tượng của mười tám vị La hán đắp bằng đất, rất nổi tiếng. Năm Dân quốc 16 (1927) bị hỏa hoạn, số tượng mười tám La hán nay chỉ còn một nửa, cùng với các tượng La hán của chùa Linh ẩn và am Tử kim, người đời gọi là La hán trong thiên hạ còn có hai nhà rưỡi. Trong số một nửa La hán của chùa Bảo thánh, thì năm vị còn hoàn chỉnh, bốn vị kia là do đời sau đắp thêm để chỉnh tu. Nhận xét qua tác phẩm may mà còn đến nay, thì thấy không phù hợp với cái khí phách mạnh mẽ to lớn của các tượng được đắp vào đời Đường; nhưng cái kĩ thuật nặn đắp về tỉ lệ tinh vi, thần tình sinh động và chất phác hồn hậu, thì thực đã bắt chước cái phong cách của Dương huệ chi, nhà điêu khắc đại tài ở đời Đường.
bảo tháp
Dagoba (P), Stupa.Xem Tháp.
; A stùpa, or fane for precious things or relics; a pagoda adorned with gems.
; Stupa (skt). 1) Tháp Bảo hay tháp chứa bảo vật, tháp chứa xá lợi: Precious stupa, or fane for precious things, or relics. 2) Tháp trang nghiêm bằng châu báu: A pagoda adorned with gems. 3) Tháp Đa Bảo trong Kinh Pháp Hoa: The shrine of Prabhutaratna in the Lotus.
; (寶塔) Là mĩ danh để gọi tháp Phật, cũng chỉ tháp được trang sức bằng các thứ quí báu. Cứ theo kinh Pháp hoa phẩm Bảo tháp chép, thì có tháp bảy báu từ dưới đất nhô lên ở trước mặt đức Phật, lơ lửng giữa hư không, có năm nghìn lan can, nghìn muôn cỗ khám, được trang sức bằng vô số phan phướn, treo những vòng anh lạc và chuông báu; những phan phướn làm bằng bảy thứ báu vàng, bạc, lưu li, xa cừ, mã não, chân châu, mai khôi, và bốn mặt tháp đều tỏa ra mùi hương chiên đàn Đa ma la bạt. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tựa; Lạc dương già lam kí Q.2 Hồ thống tự; Phật tổ thống kỉ Q.41].
Bảo tháp 寶塔
[ja] ホウトウ hōtō ||| A jeweled stūpa (ratna-naya-stūpa). 〔法華經 T 262.9.28a07〕 => Tháp báu (s: ratna-naya-stūpa).
Bảo tháp, bửu tháp
(寶塔): tháp báu, từ mỹ xưng của tháp Phật, cũng chỉ cho ngôi tháp được trang sức bằng các thứ trân bảo; sau này chỉ chung cho các ngôi tháp. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, Phẩm Kiến Bảo Tháp (見寶塔品) thứ 11, có câu: “Nhĩ thời Đa Bảo Phật, ư bảo tháp trung phân bán tòa dữ Thích Ca Mâu Ni Phật (爾時多寶佛、於寶塔中分半座與釋迦牟尼佛, lúc bấy giờ đức Phật Đa Bảo, ở trong tháp báu chia nữa tòa ngồi cho đức Phật Thích Ca Mâu Ni).” Hay trong bài Vi Thuấn Xà Lê Tạ Ngự Đề Đại Thông Đại Chiếu Hòa Thượng Tháp Ngạch Biểu (爲舜闍黎謝御題大通大照和尚塔額表) của Vương Duy (王維, 692-761) nhà Đường có câu: “Giáng xuất thiên môn, thăng ư bảo tháp (降出天門、升於寶塔, giáng xuống cổng trời, bay lên bảo tháp).” Hoặc trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển 2, phần Vô Tước Hòa Thượng Nhập Hóa Bát Nhã Tự (無著和尚入化般若寺) 13, có bài kệ rằng: “Nhược nhân tĩnh tọa nhất tu du, thắng tạo Hằng sa thất bảo tháp, bảo tháp tất cánh hoại vi trần, nhất niệm tịnh tâm thành chánh giác (若人靜坐一須臾、勝造恆沙七寶塔、寶塔畢竟壞微塵、一念淨心成正覺, nếu người tĩnh tọa trong khoảnh khắc, hơn tạo Hằng sa tháp bảy báu, tháp báu cuối cùng thành cát bụi, một niệm lắng tâm thành chánh giác).”
bảo thạch tự
(寶石寺) Là một trong ba mươi mốt bản sơn (chùa chính) của nước đại Hàn. Vị trí chùa nằm trên núi Tiến lạc, phía nam quận Cẩm sơn thuộc Trung thanh nam đạo, do vị tăng người Tân la tên là Tổ khưu sáng lập vào năm vua Hiến khang thứ 11 (885) sau khi cùng với sư Nguyên giác và Nguyên thuận đến Trung quốc vào thời nhà Đường học đạo ở vùng Bảo chí núi Chung nam trở về. Về sau, dần dần hoang phế. Năm Tuyên tổ thứ 26 (1592) triều Lí, Phong thần Tú cát xâm nhập, chùa bị bỏ hẳn. Năm Tuyên tổ 33, vị tăng tên là Tam khâu làm lại. Năm Nhân tổ thứ 6 (1628), Khâu hải lại dựng lại. Về sau lại bị cháy, điện đại hùng biến thành đống tro tàn. Lí thái vương năm 18 (1681), tín sĩ Lưu thiên hách, vâng mệnh vua tổ chức lễ cầu đảo một trăm ngày và khởi công làm chùa lại, đến năm sau thì hoàn tất. Trong chùa có dựng bia kỉ niệm đại sư Linh khuê. Lối đi vào chùa rậm rạp, có dựng một tấm bia Nghĩa binh tăng tướng (vị tăng tướng chỉ huy nghĩa binh) để kỉ niệm các tăng lữ đã bỏ mình trong cuộc kháng chiến chống quân Nhật. [X. Đông quốc dư địa thắng lãm Q.33; Triều tiên Phật giáo chi tự dữ lịch sử].
bảo thắng
See Bảo Thắng Như Lai.
bảo thắng bồ tát
Ratnapriya (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo thắng như lai
Ratnaketu (skt)—Một trong bảy vị Như Lai (hay bố thí cho ngạ quỷ, ngài trụ tại phương nam)—One of the seven Tathagatas.
bảo thắng phật
Xem Đa bảo Phật.
Bảo thọ
(寶樹): cây báu. Từ này thường thấy xuất hiện trong kinh điển Phật Giáo. Người ta dùng bày loại trân báu để tạo thành hình dáng cây; tỷ dụ như vàng vòng (黃金) làm gốc cây, Bạch Ngân (白銀) làm thân cây, Lưu Ly (琉璃) làm cành cây, Thủy Tinh (水晶) làm ngọn cây, Hổ Phách (琥珀) làm lá cây, Mỹ Ngọc (美玉) làm hoa và Mã Não (瑪瑙) làm trái cây. Trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō No. 360) có đoạn rằng: “Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy ý dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo thọ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính, đỗ kỳ diện tượng (設我得佛、國中菩薩、隨意欲見十方無量嚴淨佛土、應時如願、於寶樹中、皆悉照見、猶如明鏡、睹其面像, nếu như ta thành Phật, các Bồ Tát trong nước, tùy ý muốn thấy mười phương vô lượng Phật độ nghiêm tịnh, tùy thời được như nguyện; trong hàng cây báu, tất đều chiếu thấy, giống như gương sáng, thấy rõ hình mặt).” Hay như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō No. 365) cũng có đoạn: “Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: 'Địa tưởng thành dĩ, thứ quán bảo thọ; quán bảo thọ giả, nhất nhất quán chi, tác thất trùng hàng thọ tưởng, nhất nhất thọ cao bát thiên do tuần, kỳ chư bảo thọ, thất bảo hoa diệp, vô bất cụ tục (佛告阿難及韋提希:地想成已、次觀寶樹、觀寶樹者、一一觀之、作七重行樹想、一一樹高八千由旬、其諸寶樹、七寶華葉、無不具足, Phật bảo A Nan và bà Vi Đề Hy rằng: 'Quán tưởng về đất xong rồi, kế đến quán cây báu; quán cây báu thì quán từng cây một, tưởng tượng bảy hàng lớp cây, mỗi một cây cao tám ngàn do tuần; các cây báu ấy, hoa và lá bằng bảy thứ báu, không cây nào không đầy đủ').” Ngoài ra, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 64 lại có đoạn: “Trượng tích Tây lai bái Pháp Vương, nguyện cầu diệu điển viễn truyền dương, kim chi tam tú thi đàn thoại, bảo thọ thiên hoa liên nhụy hương, bách xích cán đầu tu tấn bộ, thập phương thế giới lập hành tàng, tu thành ngọc tượng trang nghiêm thể, Cực Lạc môn tiền thị đạo trường (杖錫西來拜法王、願求妙典遠傳揚、金芝三秀诗坛瑞,宝树千花莲蕊香。金芝三秀詩壇瑞、寶樹千花蓮蕊香、百尺竿头须进步,十方世界立行藏。百尺竿頭須進步、十方世界立行藏、修成玉象庄严体,极乐门前是道场。修成玉象莊嚴體、極樂門前是道塲, quảy trượng qua Tây lễ Pháp Vương, nguyện mong kinh điển khắp truyền dương, cành vàng tam tú thơ đàn lạ, cây báu ngàn hoa sen nhụy hương, trăm bộ đầu sào nên bước tiếp, mười phương thế giới vững trụ thường, tu thành voi ngọc trang nghiêm dáng, Cực Lạc cửa này chính đạo trường).” Câu “thường du bảo thọ chi giai (常遊寳樹之堦)” có nghĩa là thường rong chơi nơi thềm ngọc có hàng cây báu, tức chỉ cho thế giới Tây Phương Cực Lạc của đức Phật Di Đà.
bảo thụ
The jewel-tree (of the Pure Land)
; Cây quý nơi cõi Tịnh Độ—The jewel-trees of the Pure Land.
; (寶樹) I. Bảo thụ. Có nghĩa là rừng cây được tạo thành bằng các thứ trân báu, chỉ cây cỏ ở cõi Tịnh độ cực lạc. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ), nói: Bốn phương tự nhiên gió động, thổi khắp các hàng cây báu, phát ra năm thứ âm thanh, mưa xuống vô lượng hoa vi diệu. [X. kinh Pháp hoa phẩm Thọ lượng; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. II.Bảo thụ. Tên gọi khác của cây kiếp ba (Phạm:kalpa, nói tắt là kiếp thụ). Cây kiếp ba sinh trưởng trong vườn vui sướng của trời Đế thích, có thể tùy thời mà sinh ra tất cả vật cần thiết, như áo xiêm, đồ trang sức v.v... cho nên gọi là cây báu. Ngoài ra, trong Kim cương giới thuộc Mật giáo, cây báu được coi là một trong mười bảy vật tạp cúng dường. Liên hoa bộ tâm nghi quĩ (Đại 18, 308 thượng), nói: Kết Tát - đóa tam muội, nên nghĩ như thế này: cây kiếp ba vân, vân... hay cho các loại áo, để làm vật nghiêm thân, đều là thứ cúng dường, thành tựu mọi sự nghiệp, nay con dâng cúng hiến. [X. kinh Lục ba la mật Q.3; Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng kinh Q.4]. (xt. Kiếp Ba Thụ).
bảo thụ bồ tát bồ đề hành kinh
(寶授菩薩菩提行經) Có một quyển. Còn gọi là Bảo thụ bồ đề hành kinh. Do ngài Pháp hiền đời Bắc Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung chép thuật truyện đồng tử Bảo thụ mới ba tuổi mà đã dâng sen vàng cúng Phật, đồng thời lại cùng với các tôn giả Đại mục kiền liên, Xá lợi phất và bồ tát Cát tường hỏi đáp lẫn nhau để nêu rõ pháp nghĩa Đại thừa. Sau đó, Bảo thụ dâng một đồ dùng đựng đầy thức ăn uống cúng dường đức Phật và khắp cả chúng tăng mà dùng không hết.
bảo thụ quán
(寶樹觀) Còn gọi là Thụ quán. Là phép quán thứ tư trong mười sáu phép quán được nói trong kinh Quán vô lượng thọ; tức là quán tưởng ở cõi Tịnh độ cực lạc có bảy lần hàng cây, mỗi mỗi cây cao tám nghìn do tuần, các cây đều có hoa lá bảy báu, mỗi mỗi hoa lá hiện màu sắc báu khác nhau. Lại trên mỗi mỗi cây có bảy lớp lưới giăng, và ở mỗi khoảng lưới giăng có năm trăm ức cung điện hoa báu, cũng như cung điện của Phạm vương.
bảo thủ
Precious hand which gives alms and precious things.
; 1) Khư khư giữ lấy những gì mình có: To conserve. 2) Tay quý, tay làm ra của cải quý báu—Precious hand, the hand which gives alms and precious things.
bảo thủ bồ tát
Xem Bảo chưởng Bồ tát.
; (寶手菩薩) Bảo thủ, Phạm: Ratna-pàịi, dịch âm là Ra đát nẵng bá ni. Còn gọi là Bảo chưởng bồ tát. Là vị tôn ngôi thứ sáu trong chín vị tôn bày ở viện Địa tạng trên hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Vị Bồ tát này dùng ngọc báu như ý của tâm bồ đề thanh tịnh để thành tựu Tất địa trong thế gian và xuất thế gian, cũng như ngọc báu trong tay, có khả năng thỏa mãn hết thảy điều mong ước, cho nên gọi là Bảo thủ bồ tát. Mật hiệu là Mãn túc kim cương, chủng tử là (paô), hình Tam muội da là chày ba chẽ. Hình tượng là tay trái đặt ở cạnh sườn, cầm hoa sen, trên hoa có chày kim cương ba chẽ, trên chày có những lọn tóc ngọc báu sáng chói, bàn tay phải duỗi thẳng đặt ngang ngực và giữa lòng bàn tay để viên ngọc báu, ngồi bán già trên hoa sen màu đỏ. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; Đại nhật kinh số Q.5, Q.10, Q.13; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2].
bảo thủ tỉ khâu
(寶手比丘) Bảo thủ, Phạm: Hiraịyapàịi. Là một trong các đệ tử của đức Phật. Cứ theo kinh Soạn tập bách duyên quyển 9 Bảo thủ tỉ khưu duyên chép, thì thân phụ của Bảo thủ là một trưởng giả ở nước Xá vệ, của báu vô lượng. Khi Bảo thủ sinh ra, tướng mạo đẹp đẽ đoan chính, ở đời hiếm có, trong hai bàn tay tự nhiên sinh ra tiền vàng, lấy đi không hết. Vì thế nên đặt tên là Bảo thủ. Lúc nhỏ đã đến chỗ Phật xin xuất gia, siêng chăm tu tập bèn chứng được quả A la hán. Đức Phật nhân sự thỉnh cầu của ngài A nan, mới nói về nhân duyên kiếp trước của Bảo thủ.
bảo thủ tỳ kheo
Hiranyapāni (S)Tên một vị sư.
bảo thừa
The precious vehicle of the Lotus sùtra; the Mahàyàna.
; 1) Bảo Thừa Pháp Hoa Kinh: The precious vehicle of the Lotus Sutra. 2) Đại Thừa: The Mahayana.
bảo tinh phật
Xem Bảo Tràng Như Lai.
bảo toà
(寶座) Chỉ tòa sen trang sức bằng ngọc báu. Thông thường gọi tòa ngồi của chư Phật là tòa sen. Lại phần nhiều dùng bảy thứ báu để trang sức, cho nên gọi là tòa sen báu, hoặc gọi là bảo tọa. Cứ theo kinh Văn thù bồ tát Phật sát trang nghiêm nói, thì đức Như lai dùng sức thần thông, hễ ấn ngón chân xuống chỗ nào thì nơi ấy mọc lên hoa sen báu, to bằng bánh xe, dùng bạc trắng làm cây, vàng ròng làm lá, phệ lưu li làm tua, ở trong đài hoa ấy có hóa Bồ tát ngồi kết già. Lại trong các pho tượng chạm hoặc vẽ, người ta thường chạm hình các cánh sen bằng ngọc báu chung quanh tòa sen, như tòa sen của Đạinhật Như lai, bồ tát Địa tạng và chư tôn khác. [X kinh Kim quang minh Q.12 phẩm Thiện tập; kinh Bảo lâu các Q.thượng (do Bất không dịch)].
Bảo triện
(寶篆): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho dấu ấn của vua Nghiêu tương truyền do chim phụng hoàng trao; vì văn khắc trên con dấu như chữ Triện, nên có tên gọi như vậy. Về sau, từ này được dùng tượng trưng cho sách đồ lục (圖籙), tức sách mệnh của thiên thần ban cho. Như trong bài tựa của Càn Nguyên Điện Tụng (乾元殿頌) do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường sáng tác có đoạn: “Linh hào mật phát, bát phương chiêu Đại Hữu chi hòa; bảo triện tiềm khai, Lục Hợp khải Đồng Nhân chi hội (靈爻密發、八方昭大有之和、寶篆潛開、六合啟同人之會, quẻ Hào mật phát, tám phương bày Đại Hữu hài hòa; ấn bàu thầm khai, Lục Hợp mở Đồng Nhân tụ hội).” (2) Từ mỹ xưng của hương thơm, vì khi đốt, khói quyện tỏa hình dáng như chữ Triện. Như trong bài Ký Ngọc Sơn Thi (寄玉山詩) của Trần Cơ (陳基, 1314-1370) nhà Nguyên có câu: “Bảo triện phần hương lưu thùy áp, thải tiên hàng mặc tả lai cầm (寶篆焚香留睡鴨、綵箋行墨寫來禽, triện báu hương xông vịt ngái ngủ, giấy tiên mực vẽ chim bay về).” Hay trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1, phần Duyên Khởi Văn (緣起文), có đoạn: “Hương phần bảo triện, đằng ngũ sắc chi vân hà; chúc trán kim liên, xán nhất thiên chi tinh đẩu; pháp nhạc tấu vô sanh chi khúc, Phạm âm diễn tối thượng chi tông (香焚寶篆、騰五色之雲霞、燭綻金蓮、燦一天之星斗、法樂奏無生之曲、梵音演最上之宗, hương xông triện báu, vọt năm sắc ấy mây lành; nến gắn sen vàng, rực một trời muôn sao sáng; pháp nhạc tấu vô sanh điệu khúc, Phạm âm diễn tối thượng tông phong).”
bảo triệt ma cốc thiền sư
Zen master Ma-Yu-Bao-Che—Thiền Sư Bảo Triệt Ma Cốc là đệ tử của Thiền Sư Mã Tổ—Zen master Ma-Yu-Bao-Che was a disciple of Zen master Ma-tsu. - Một hôm, theo Mã Tổ đi dạo, sư hỏi Mã Tổ: “Thế nào là Đại Niết Bàn?” Mã Tổ đáp: “Gấp!” Sư hỏi: “Gấp cái gì?” Mã Tổ nói: “Xem nước.” Nghe những lời nầy sư giác ngộ—Once, while walking with Ma-Tsu, Bao-Che Ma-Yu asked: “What is the great nirvana?” Ma-tsu replied: “Hurried.” Bao-Che asked: “What is it that hurried?” Ma-Tsu said: “See the water!” At these words Bao-Che was awakened. - Sư cùng Nam Tuyền, Qui Tông đến yết kiến Cảnh Sơn, đi đường gặp một bà già, sư hỏi: “Cảnh Sơn đi đường nào bà?” Bà già đáp: “Đi thẳng.” Sư hỏi: “Đầu trước nước sâu qua được chăng?” Bà già nói: “Chẳng ướt gót chân.” Sư nói: “Bờ trên lúa trúng tươi tốt, bờ dưới lúa thất ruộng khô.” Bà già nói: “Thảy bị cua ăn hết.” Sư nói: “Nếp thơm ngon.” Bà già nói: “Hết mùi hơi.” Sư hỏi: “Bà ở chỗ nào?” Bà già nói: “Ngay trong đây.” Ba người đồng vào quán ngồi. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén chung đến hỏi: “Hòa Thượng có thần thông thì uống trà?” Ba người nhìn nhau chưa nói câu nào. Bà già liền bảo: “Xem kẻ già nầy trình thần thông đây.” Nói xong bà cầm chung nghiêng bình rót trà, rồi đi—Bao-Che, Nan-Quan, and another monk went traveling to Mount Jing. On their way they encountered an old woman shopkeeper. They asked her: “What's the way to Mount Jing?” She said: “Go straight ahead.” Bao-Che said: “Is there water ahead that is too deep to pass through?” The old woman said: “It won't even soak your feet.” Bao-Che said: “The rice paddy on the upper terrace is good. The rice paddy on the lower terrace is withered.” The old woman said: “It all been eaten by crabs.” Bao-Che said: “The grain is fragrant.” The old woman said: “There's no smell.” Bao-Che asked: “Where do you live?” The old woman said: “Right here.” The three monks went into the woman's shop. She boiled a pot of tea and set out three cups. Then she said: “If you masters have a pervasive spiritual knowledge, then drink some tea.” The three monks looked at each other in surprise, and then the old woman said: “Look at this old crone show her pervasive spirit!” She then grabbed the cups, knocked over the tea pot, and went out. - Sư cùng Đơn Hà đi dạo núi, thấy cá lội trong nước, sư lấy tay chỉ. Đơn Hà nói: “Thiên nhiên! Thiên nhiên!” Đến hôm sau, sư hỏi Đơn Hà: “Hôm qua ý thế nào?” Đơn Hà nhảy tới làm thế nằm. Sư nói: “Trời xanh!”—Once Bao-Che and T'ian-Ran-T'an-He were hiking in the mountains. Bao-Che pointed at some fish he saw in the stream. T'an-He said: “Natural! Natural!” Bao-Che waited until the following day, then asked T'an-He: “What did you mean yesterday?” T'an-He then lay down in a prone position. Bao-Che said: “Nlue heavens!” - Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư lặng thinh—A monk asked Bao-Che: What is the great meaning of the Buddhadharma?” Bao-Che was silent.
bảo tràng
Xem bảo phan.
; (寶幢) I. Bảo tràng. Còn gọi là Pháp tràng. Tức lá cờ để trang nghiêm Phật và Bồ tát, thường được trang sức bằng các thứ báu. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép, trên tràng đặt ngọc như ý, cho nên gọi là Bảo tràng. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 thượng), nói: Trên đài tự nhiên có bốn cột bảo tràng, mỗi mỗi bảo tràng như trăm nghìn muôn ức núi Tu di, trên chàng những tơ lụa báu buông rủ như cung trời Dạ ma, lại có năm trăm ức viên ngọc báu vi diệu lấp lánh để trang sức. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.5; Chư kinh yếu tập Q.4]. II. Bảo tràng. Là thần trời coi về âm nhạc. Cứ theo kinh Di lặc thướng sinh chép, thì ở cung trời Đâu suất có năm thần lớn, thần lớn thứ nhất tên là Bảo tràng, tự mình có thể mưa tuôn bảy thứ báu, rải khắp tường trong cung, mỗi mỗi ngọc báu hóa thành nhạc khí, treo giữa không trung, không đánh mà tự kêu. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
bảo tràng như lai
Ratnaketu (S)Bảo Tràng Phật, Bảo Tinh PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; (寶幢如來) Bảo Tràng, Phạm: Ratna -ketu, dịch âm: La đát nẵng kế đổ. Còn gọi là Bảo Tràng Phật, Bảo tinh Phật. Là đức Phật được đặt ở phía đông trong viện Trung đài bát diệp trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Vị tôn này chủ về đức của tâm bồ đề, dùng bảo tràng để biểu thị nghĩa phát tâm Bồ đề, dùng nguyện nhất thiết trí làm cờ, ở dưới gốc cây Bồ đề hàng phục chúng ma, cho nên được gọi là Bảo tràng. Mật hiệu của vị tôn này là Phúc thọ kim cương, Phúc tu kim cương, hình Tam muội da là ngọn lửa, chủng tử là (a). Hình tượng màu vàng lợt, mặc ca sa đỏ, để trần vai bên phải, tay trái hướng vào trong, cầm hai góc ca sa để ở trước ngực, cánh tay phải co lại, hơi duỗi và xòe bàn tay hướng ra ngoài, lại hơi ngửa bàn tay rủ ngón tay xuống, kết ấn Dữ nguyện, ngồi xếp bằng trên hoa sen báu. Cũng có thuyết cho rằng, Bảo Tràng Như lai với A súc Như lai ở phía đông Kim Bảo Chàng Như Lai cương giới, Phật Bảo tướng phương tây trong kinh A di đà và Đại bảo Tràng Như Lai phương tây trong kinh Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thụ, là cùng một vị tôn. [X. kinh Hợp bộ kim quang minh Q.1 phẩm Thọ lượng; kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên Đại nhật kinh sớ Q.4, Q.16, Q.17, Q.20].
Bảo Tràng Như Lai 寶幢如來
[ja] ホウトウニョライ Hōtōn yorai ||| Ratnaketu Tathatagata. The buddha of the eastern region, among the five buddhas 五佛 of the garbhadhātu. Also written as 寶幢佛 and 寶星佛. => s: Ratnaketu Tathatagata. Đức Phật ngự hướng Đông trong Ngũ Phật thuộc Thai tạng giới. Còn gọi là Bảo Tràng Phật 寶幢佛và Bảo Tinh Phật寶星佛.
bảo tràng phật
Xem Bảo Tràng Như Lai.
Bảo Tràng Phật 寶幢佛
[ja] ホウトウブツ Hōtō butsu ||| See 寶幢如來. => Xem Bảo Tràng Như Lai 寶幢如來.
Bảo tràng 寶幢
[ja] ホウトウ hōtō ||| (1) A temple banner. (2) Ratnaketu Tathāgata; see 寶幢如來. => 1. Tấm tràng phan, như lá cờ dùng để treo trong chùa. 2. s: Ratnaketu Tathāgata. Xem Bảo Tràng Như Lai 寶幢如來.
bảo trì
The precious lake of the eight virtuous characteristics in the Pure Land.
; 1) Gìn giữ: To maintain. 2) Ao Bát Công Đức Thủy nơi cõi Tịnh Độ: The precious lake of the eight virtuous characteristics in the Pure Land.
bảo trì quán
(寶池觀) Còn gọi là Trì quán. Là phép quán thứ năm trong mười sáu phép quán được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, tức quán tưởng ao nước công đức trong cõi Tịnh độ cực lạc, trong mỗi ao có sáu mươi ức hoa sen bảy báu, nước ma ni chảy rót trong ao, diễn tiếng nói pháp, lại có các chim mầu sắc trăm báu thường khen niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
bảo trượng bồ tát
Ratnadandin (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo trợ
To sponsor—To patronage.
bảo tàng
Ratnadhvaja (skt). 1) Phướn được trang hoàng bởi bảo ngọc: A banner decorated, with gems. 2) Chư Thiên Âm Nhạc trên cõi Trời Đâu Suất: A deva in the Tusita heaven who presides over music.
bảo tác
Pāśa (S)Sợi dây được se bằng chỉ 5 màu.
bảo tánh bồ tát
Ratnagotra (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo tánh luận
Xem Phân biệt bảo tánh chi đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận.
bảo tánh thiền sư
Zen Master Bảo Tánh (?-1034)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Chu Minh, Bắc Viêt. Ngài xuất gia làm đệ tử Thiền sư Định Hương lúc tuổi còn rất trẻ. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thầy mình thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Cảm Ứng để hoằng pháp. Ngài cùng Thiền sư Minh Tâm cùng nhau tụng kinh Pháp Hoa trong 15 năm liền. Vào năm 1034, ngài muốn nhập hỏa quang tam muội. Khi nghe tin nầy, Vua Lý Thái Tông gửi sắc dụ triệu hồi ngài về kinh thuyết pháp cho hoàng gia lần cuối. Sau khi thuyết pháp xong, ngài bèn nhập vào hỏa quang tam muội—A Vietnamese Zen master from Chu Minh, North Vietnam. He left home and became a disciple of Định Hương when he was very young. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. After the letter's death, he stayed at Cảm Ứng Temple to expand Buddhism. He and Zen master Minh Tâm recited the Lotus Sutra for 15 years. In 1034, he wanted to self-immolate his body with the flame of samadhi to enter Nirvana. Upon hearing the news, King Lý Thái Tông sent an Imperial Order to summon him to the capital to preach the Buddha Dharma to the royal family the last time. Right after the surmon, he self-immolated his body by the flame of samadhi.
bảo tát bồ tát
Xem Bảo xứ Bồ tát.
bảo tích
Ratnakuta (S), Ratnakara, Ratna-makuta, Kon tsegs (T)Bảo quang Bồ tát1- Bảo Tích Bồ tát 2- Bảo Tích kinh bộ.
; Ratna-ràsi (S). Gem-heap, collection of gems; accumulated treasures.
; Ratna-rasi or Ratna-kuta (skt)—Kinh Đại Bảo Tích: Gem-heap Sutra—Collection of gems; accumulated treasures.
bảo tích bồ tát
Ratnamakuta (S), Ratnakara (S).La đát na ma câu trác Bồ tát.
bảo tích bộ
(寶積部) Là bộ thứ hai trong năm bộ lớn của kinh Đại thừa. Tức thu tập kinh Đại bảo tích bốn mươi chín hội, một trăm hai mươi quyển, và các bản dịch khác được tách riêng ra từ kinh Đại phương quảng tam giới trở xuống có ba mươi ba bộ, bốn mươi chín quyển, cộng cả lại là tám mươi hai hội một trăm sáu mươi chín quyển. Con số này là do Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 đời Đường qui định, tương đồng với con số được liệt kê trong Đại tạng kinh mục lục quyển thượng của chùa Tư khê pháp bảo tư phúc Thiền ở Châu An cát, và Đại tạng kinh mục lục quyển 1 của chùa Đại phổ ninh thuộc tông Bạch vân núi Nam sơn huyện Dư hàng lộ Hàng châu, nhưng lại khác với Đại tạng mục lục quyển thượng của Cao li, Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 1 đời Nguyên, và Đại minh tam tạng thánh giáo bắc tạng mục lục quyển 1 đời Minh v.v... Lại Đại chính tân tu đại tạng thì thu rộng các bản dịch khác của kinh Bảo tích và các kinh điển tương quan, tập thành sáu mươi tư bộ ba trăm linh hai quyển. Trong Đại tạng kinh bản dịch Tây tạng cũng lập Bảo tích bộ, thu nhập tương đương mười vạn phẩm thuộc pháp môn Đại bảo tích trong kinh Đại bảo tích Hán dịch. Ngoài ra, Duyệt tạng tri tân triều Minh thì bỏ Bảo tích bộ mà sáp nhập vào Phương đẳng bộ.
bảo tích kinh
Ratnakūṭa-sūtra (S)Xem Đại bửu tích kinh. Xem Đại bảo tích kinh.
; Ratna-kùta-sùtra (S). Jewelled-accumulation sùtra.
Bảo tích kinh 寶積經
[ja] ホウシャクキョウ Hōshaku kyō ||| The Baoji jing; an abbreviation for the title of the Da baoji jing 大寶積經 => (c: Baoji jing). Tên gọi tắt của Đại Bảo tích kinh (c: Da baoji jing 大寶積經) .
bảo tích phật
Ratnakara Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Xem Bảo cát Phật. Xem Kế Na Thi Khí Phật.
; Vị Phật tụ tập các pháp bảo trang nghiêm như vô lậu căn lực—Buddha adorned with heaps of treasures, i.e. powers, truths.
; (寶積佛) Đức Phật này dùng Thánh đạo vô lậu mà tích tập và trang nghiêm pháp bảo để thành tựu Phật đạo, cho nên gọi là Bảo tích Phật. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 124 trung), nói: Dùng căn lực giác đạo vô lậu mà tích tập pháp bảo nên gọi là bảo tích; (...) khi đáng xuất sinh thì nhiều vật báu cũng sinh, hoặc từ đất sinh, hoặc các thứ báu tích tập từ trên trời mưa xuống, nên gọi là bảo tích.
bảo tích tam muội
The samàdhi by which the origin and end of all things are seen.
; (寶積三昧) Người vào Tam muội này, thấy suốt một cách triệt để vô lượng cõi Phật, trong đó chư Phật đang ở trong Tam muội này thuyết pháp, cũng như ngọc báu ma ni có khả năng ánh hiện hết thảy các thứ trân bảo, cho nên gọi là Bảo tích tam muội. Kinh Nhập pháp giới thể tính (Đại 12, 234 trang), nói: Ví như ngọc báu ma ni, mài chuốt xong rồi, để ở nơi sạch sẽ, tùy theo địa phương ấy mà hiện ra các thứ trân báu, không thể cùng tận. Cũng thế, này Văn thù sư lợi! Ta ở trong Tam muội này, nhìn về phương đông, thấy vô lượng a tăng kỳ thế giới hiện tại chư Phật Như lai a la ha tam miệu tam phật đà, rồi đến các phương nam tây bắc và bốn duy trên dưới cũng như thế, tức trong mười phương vô lượng a tăng kì thế giới hiện tại, ta đều thấy các đức Như lai đang ở trong Tam muội này vì mọi người mà nói pháp. [X kinh Bảo tích tam muội văn thù sư lợi bồ tát vấn pháp thân].
bảo tích trưởng giả tử
Con của một vị trưởng giả trong thành Vaisali, người đã dâng tràng phan thất bảo lên Phật Thích Ca, rồi tán thán Đức Phật—The son of the elders of Vaisali, who are said to have offered canopies of the seven precious things to Sakyamuni in praise of his teaching.
; (寶積長者子) Cứ theo kinh Duy ma cật sở thuyết phẩm Phật quốc chép, thì ở thành Tì da li có người con của một trưởng giả tên là Bảo tích, đã cùng với năm trăm người con của các trưởng giả khác, đều cầm lọng bảy báu đến dâng cúng đức Phật. Phật dùng thần lực hợp tất cả các lọng báu làm một cái, rồi khiến núi Tu di, núi Thiết vi, sông ngòi, tinh tú, cung trời, cung rồng và chư Phật trong mười phương đang nói pháp, tất cả đều hiển hiện trong chiếc lọng báu ấy. Sau đó, Bảo tích dâng kệ tán Phật, rồi thỉnh vấn đức Phật về phép tu Tịnh độ của Bồ tát; đức Phật bèn nói pháp cho Bảo tích nghe, bảo rằng, nếu Bồ tát muốn được Tịnh độ, thì phải làm cho tâm mình trong sạch, tùy nơi tâm mình sạch mà cõi Phật sạch.
Bảo tích 寶積
[ja] ホウシャク hōshaku ||| Accumulator of Jewels--the name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a13〕 => Người tích luỹ nhiều của báu--Danh hiệu của một vị Bồ-tát.
Bảo Tính
寶性; ?-1034;|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ bảy. Sư thường được nhắc với một vị khác là Minh Tâm và cả hai sau đều nhập hoả quang tam-muội.|Cuộc đời của hai vị có nhiều nét giống nhau. Hai sư quê ở Chu Minh, sư Bảo Tính họ Nghiêm, sư Minh Tâm họ Phạm. Cả hai cùng xuất gia thờ Thiền sư Ðịnh Hương làm thầy. Sau khi được truyền tâm ấn, hai sư cùng trụ chùa Cảm Ứng ở Sơn Ấp, phủ Thiên Ðức.|Tháng 4 niên hiệu Thiên Thành thứ 7, hai sư có ý định thiêu thân. Ðược tin, vua Thái Tông cho sứ thỉnh về Triều, lập hội giảng kinh. Giảng xong, hai sư đồng nhập Hoả quang tam-muội viên tịch. Vua ra chiếu lưu hài cốt để ở chùa Trường Khánh cúng dường. Vì có điềm linh xảy ra, vua đổi tên là Nguyên Thông Tự Tháp.
bảo tính
The precious nature, or Tathàgatagarbha, underlying all phenomena, always pure despite phenominal conditions.
; Tên khác của Như Lai Tạng, ở trong chúng sanh phiền não mà chẳng hề mất tính chân như thanh tịnh—The precious nature, or Tathagatagarbha, underlying all phenomena, always pure despite phenomenal conditions.
; (寶性) Phạm: Ratna gotra. Là tên gọi khác của Như lai tạng (Phạm: tathàgata-garbha). Trong những phiền não tham sân của chúng sinh, Như lai tạng vẫn không mất cái tính chân như thanh tịnh, cũng như vàng trong đống phẩn nhơ không đổi tính của nó, cho nên gọi là bảo tính. Trong luận Cứu kính nhất thừa bảo tính giải thích rất tường tận.
bảo tính công đức thảo
(寶性功德草) Chỉ bảy thứ báu làm đẹp cõi Tịnh độ; bảy thứ báu này mềm mại như cỏ, ai đụng vào thì cảm thấy niềm vui sướng thù thắng, vì thế gọi là cỏ công đức có tính quí báu. Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sinh kệ nói (Đại 26, 230 hạ): Cỏ công đức tính báu, mềm mại lướt xuống hai bên, người nào đụng chạm tới thì sinh niềm vui sướng thù thắng hơn cả ca chiên lân đà. Danh từ ca chiên lân đà được dẫn trong câu văn trên đây, cứ theo sự giải thích trong Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sinh kệ chú quyển thượng, thì đó là một giống cỏ sinh sản ở Ấn độ, cực kỳ mềm mại, người đụng vào cỏ ấy thì cảm thấy vui sướng, cho nên dùng làm thí dụ. Có nghĩa là đụng vào bảy thứ báu ở cõi Tịnh độ, có thể sinh ra niềm vui pháp hỉ giải thoát, cao hơn cái cảm giác vui sướng nhiễm trước do cỏ ca chiên lân đà mang lại rất nhiều.
Bảo tính luận 寶性論
[ja] ホウショウロン Hōshōron ||| Baoxing lun (Ratnagotravibhāga-mahāyānottaratantra-śāstra; Jewel-Nature Treatise). A mixture of verse and prose which is a basic text in the articulation of tathāgatagarbha 如來藏 thought in Indian Mahāyāna Buddhism. The full Chinese title is written 佛性分別大乘究竟要義論, and more briefly as 究竟一乘寶性論. 4 fasc., T 1611.31.813-48. The Chinese tradition gives Sāramati 賢慧 as the author, while the Tibetan tradition lists Maitreya 彌勒 and Asaṅga 世親 as co-authors. The translation into Chinese is recorded as being done by Ratnamati in 511. The text explains in detail the theory that all sentient beings, no matter how horrible their crimes (such as icchantikas), possess the potential to attain Buddhahood. The great power possessed by the buddhas is able to erase the karma of these crimes. (c: Baoxing lun ; s: Ratnagotravibhāga-mahāyānottaratantra-śāstra; e: Jewel-Nature Treatise). => Tập hợp gồm nhiều bài văn và kệ rút từ các kinh căn bản trình bày tư tưởng Như Lai tạng của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ. Nguyên tiếng Hán gọi đầy đủ là Phật tính phân biệt Đại thừa cứu cánh yếu nghĩa luận, gọi tắt là Cứu cánh nhất thừa Bảo tính luận. 4 quyển. Truyền thống Trung Hoa cho Hiền Huệ (賢慧s: Sāramati) là tác giả, trong khi truyền thống Tây Tạng cho Di Lặc và Thế Thân là đồng tác giả luận này. Bản Hán văn được ghi nhận là do Lặc-na-ma-đề (s: Ratnamati) dịch năm 511. Luận văn giảng giải chi tiết giáo lý cho rằng tất cả chúng sinh, bất luận họ đã tạo tội nghiệp cực ác nào (chẳng hạn nhất-xiển-đề), đều có khả năng chứng ngộ Phật tính. Năng lực vĩ đại của chư Phật có công năng giải trừ mọi tội nghiệp của chúng sinh.
Bảo tính Phật 寶星佛
[ja] ホウショウブツ Hōshō butsu ||| See 寶幢如來. => Xem Bảo Tràng Như Lai.
Bảo tòa
(寶座): tòa báu, là loại tọa cụ (đồ dùng để ngồi) chuyên dùng cho đế vương, còn gọi là bảo ỷ (寶椅, ghế báu). Đây là một dạng ghế ngồi cỡ lớn, có trang sức văn hoa rực rỡ, trang nghiêm để hiển thị sự tôn quý đối với đấng thống trị. Nó còn được dùng để chỉ cho chỗ ngồi của các đấng linh thiêng như Thần, Phật, Bồ Tát, v.v. Về sau, từ này được dùng chỉ chung cho chỗ ngồi của những nhân vật có địa vị tôn quý, quan trọng. Như trong Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 240) quyển 79 có đoạn: “Huyền A Tăng Kỳ bảo kính, nhiên A Tăng Kỳ bảo đăng, bố A Tăng Kỳ bảo y, liệt A Tăng Kỳ bảo trướng, thiết A Tăng Kỳ bảo tòa (懸阿僧祇寶鏡、然阿僧祇寶燈、布阿僧祇寶衣、列阿僧祇寶帳、設阿僧祇寶座, treo A Tăng Kỳ kính báu, đốt A Tăng Kỳ đèn báu, trãi A Tăng Kỳ y báu, bày A Tăng Kỳ màn báu, thiết A Tăng Kỳ tòa báu).” Hay trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 8, phần Lục Tổ Di Giá Ca Truyền Pháp Bà Tu Mật (六祖彌遮迦傳法婆須蜜) có câu: “Ngã tư vãng kiếp, thường tác Đàn Na, hiến nhất Như Lai bảo tòa (我思往劫、嘗作檀那、獻一如來寶座, ta nhớ kiếp xưa kia, thường làm thí chủ, dâng cúng tòa báu cho một đấng Như Lai).” Trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 3, phần Đệ Thập Tổ Hiếp Tôn Giả (第十祖脅尊者), lại có đoạn rằng: “Trung Ấn Độ nhân dã, bổn danh Nan Sanh, sơ Tôn giả tương đản, phụ mộng nhất bạch tượng, bối hữu bảo tòa, tòa thượng an nhất minh châu, tùng môn nhi nhập, quang chiếu tứ chúng (中印土人也、本名難生、初尊者將誕、父夢一白象、背有寶座、座上安一明珠、從門而入、光照四眾, Tôn giả xuất thân người miền Trung Ấn Độ, tên thật là Nan Sanh; ban đầu khi Tôn giả vừa mới ra đời, phụ thân mơ thấy một con voi trắng, trên lưng có tòa báu, trên tòa ấy có viên ngọc sáng, từ cửa lớn đi vào, ánh sáng chiếu khắp bốn chúng).”
bảo tĩnh
(寶靜) (1899-1940) Người huyện Thượng Ngu tỉnh Triết Giang, họ Vương. Ngay từ nhỏ, nhân đọc Cao tăng truyện mà có chí xuất trần, sau khi tốt nghiệp Đại học, xuất gia thụ giới Cụ túc. Về sau, gần gũi pháp sư Đế nhàn, học Thiên thai giáo quán. Năm Dân quốc 16 (1927), xuất bản Hoằng pháp nguyệt san. Thường qua lại Thượng hải, Hàng châu, Hương cảng, Áo môn để giảng kinh diễn giáo. Năm Dân quốc thứ 29, nhập tịch ở chùa Phật ngọc tại Thượng hải, thọ bốn mươi mốt tuổi. Có những trứ tác như: Đại thừa khởi tín luận giảng nghĩa; Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu giảng thuật; Phổ môn phẩm dư giảng; Phật di giáo kinh giảng nghĩa v.v...
bảo tư duy
Ratnacinta (S).
Bảo tướng
(寶相): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hình tượng đế vương. Như trong bài Văn Tương Hoàng Đế Kim Tượng Minh (文襄皇帝金像銘) của Hình Thiệu (邢邵, 496-?) nhà Bắc Tề có câu: “Thần nghi nội oánh, bảo tướng ngoại tuyên (神儀內瑩、寶相外宣, dáng thần trong sáng, tướng báu ngoài rõ).” (2) Tên của loài hoa, thuộc một loại của hoa Tường Vi. (3) Chỉ hình tướng của chư Phật trang nghiêm, tôn quý như của báu. Như trong bài Đầu Đà Tự Bi Văn (頭陀寺碑文) của Vương Triệt (王屮, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Kim tư bảo tướng, vĩnh tạ nhàn an (金資寶相、永藉閑安, dáng vàng tướng báu, mãi hiện an nhàn).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 5, phần Chư Ban Kệ Tán Môn (諸般偈讚門), có câu: “Vạn thánh khuynh tâm chiêm bảo tướng, cửu long phún thủy dục kim thân (萬聖傾心瞻寶相、九龍吐水浴金身, muôn thánh dốc lòng xem tướng báu, chín rồng phun nước tắm thân vàng).”
bảo tướng
The precious likeness, or image (of a Buddha)
; 1) Tượng Phật trang nghiêm: The precious likeness, or image of Buddha. 2) Ratnaketu (skt)—Bảo Tướng Như Lai, một trong bảy Như Lai—One of the seven Tathagatas. 3) Phật Bảo Tướng Như Lai, tên của vị Phật mà ngài A Nan sẽ thành trong tương lai: A name of Ananda as a future Buddha. 4) Tên Phật mà 2000 vị đệ tử của Phật sẽ thành sau nầy: The name under which 2,000 of sakyamuni's disciples are to be reborn as Buddhas.
bảo tướng hoa
(寶相華) Còn gọi là Bảo tướng hoa văn. Là một loại hoa được chạm trổ hoặc vẽ làm vật trang sức, Phật giáo cũng dùng. Nguyên sử quyển 80 Dư phục chí nghi vệ điện hạ hoàng huy trượng điều chép: Mặc áo bào lụa đào sinh mầu hoa bảo tướng. Về hình sắc thì bất nhất, nhưng thông thường thì cái gọi là bảo tướng hoa văn có thể được chia làm hai loại. Một loại biểu hiện có tám cánh hoa, và dùng hoa văn hoa sen mà phức tạp hóa, như bức vẽ giếng trời tại động Thiên Phật ở Đôn hoàng, gạch vuông ở thời đại Tân la, những vật dệt ở viện Chính thương của Nhật bản v.v... đều thuộc loại này. Loại thứ hai thì có bốn cánh hoa, lá chung quanh hình tròn.
bảo tướng phật
Mahāratnaketu (S), Ratna-keturadja (S), Jewel Appearance BuddhaTên một vị Phật hay Như Lai vị lai. Trong hội Pháp hoa, đức Phật thọ ký cho hai ngàn đệ tử hàng Thanh văn sẽ thành Phật một lượt hiệu là Bảo tướng Như lai.
; Jewelled appearance Buddha.
Bảo tướng 寶相
[ja] ホウソウ hōsō ||| The excellent marks of the Buddha. => Những tướng tốt của Đức Phật.
bảo tượng
(寶像) Có nghĩa là tượng Phật được tạo bằng các thứ trân báu. Kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện (Đại 9, 9 thượng), nói: Nếu người nào với tâm cung kính, dâng hoa hương phan lọng mà cúng dường trước tượng báu hay tượng vẽ ở nơi chùa tháp (...) hoặc với lòng hoan hỉ ca xướng tán tụng đức của Phật, dù chỉ là một âm thanh nhỏ nhẹ, thì sẽ thành Phật đạo. Lại vẻ uy nghi trang nghiêm của tượng Phật thì gọi là bảo tướng. Như trong Văn tương kim tượng minh, Hình thiệu đã nói: Thần nghi sáng rực bên trong, bảo tướng tuyên hóa bên ngoài.
bảo tạng
1) Kho chứa châu báu tích lũy: The treasury of precious things. 2) Diệu pháp của Phật có thể cứu giúp chúng sanh thoát khỏi các khổ ách: The wonderful religion of Buddha.
; (寶藏) Có nghĩa là kho tàng cất chứa những vật trân quí. Có hai thí dụ: I. Bảo tạng. Thí dụ Diệu pháp huyền nhiệm có khả năng cứu giúp chúng sinh khổ nạn. Còn gọi là Pháp tạng. Kinh Vô lượng thọ (Đại 12, 269 hạ), nói: Kho báu vô lượng tự nhiên phát ứng, giáo hóa an lập vô số chúng sinh. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tín giải; kinh Văn thù sư lợi hiện bảo tạng]. II.Bảo tạng. Thí dụ tự tính bản lai, cũng tức là Phật tính. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 440 hạ), nói: Kho báu của chính nhà ngươi đầy đủ hết thảy, tự do sử dụng, chẳng phải đi tìm ở ngoài.
bảo tạng (tàng)
The treasury of precious things, the wonderful religion of Buddha.
bảo tạng luận
(寶藏論) I. Bảo tạng luận. Có một quyển. Do ngài Tăng triệu (374-414) đời Hậu Tần soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung thuyết minh thể dụng của chân như pháp tính, chia làm ba phẩm là phẩm Quảng chiếu không hữu, phẩm Li vi thể tịnh, phẩm Bản tế hư huyền. Những điều trình bày trong luận này thường được dẫn dụng trong các bộ Ngữ lục của các sư Lương giới ở Động sơn, Văn yển ở Vân môn cuối đời Đường và trong Tông kính lục của Diên thọ ở thời Tống, đủ chứng tỏ luận này là chỗ dựa trọng yếu của Thiền gia. Tuy nhiên, luận này khác với các luận trong Triệu luận do Tăng triệu soạn, và nó cũng chưa được ghi trong các kinh tịch chí như: Pháp luận mục lục (thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 12) của Lục trừng thời Lưu Tống, Lương cao tăng truyện quyển 6 Tăng triệu truyện, Tùy thư và Đường thư v.v... Vả lại, cách hành văn trong luận này rất khác với các câu văn của Tăng triệu trong Triệu luận và trong các bài tựa của những kinh luận do Tăng triệu soạn, mà trái lại, phần nhiều là cách dùng lời của Thiền gia, cho nên có thể ngờ luận này là tác phẩm ngụy thác của Thiền gia đời Đường. [X. Tống sử Q.205, Q.208 Nghệ văn chí; Thông sử lược Q.19; Tân biên chư tôn giáo tạng tổng lục Q.3; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ; Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử đệ nhị phần đệ cửu chương Tăng triệu truyện lược (Thang dụng đồng); Triệu luận nghiên cứu (Trủng bản Thiện long); Bảo tạng luận chi tư tưởng sử đích ý nghĩa (Liêm điền mậu hùng)]. II. Bảo tạng luận. Là tác phẩm Nhân minh của Tây tạng. Do Giả tào kiệt đạt mã nhân khâm trứ tác. Là sách giải thích các tác phẩm Định lượng luận và Chính lí trích luận thuộc Nhân minh học.
Bảo tạng luận 寶藏論
[ja] ホウゾウロン Hōzō ron ||| Baozang lun; 1 fasc., Attributed to Sengzhao 僧肇. The Baozang lun is stylistically and doctrinally similar to a number of texts associated with the Ox-head 牛頭 Chan lineage, notably the Jueguan lun, Xinxin ming 信心銘, Xin ming, Wuxin lun, and so on. It also appears to be related to a group of seventh- and eighth-century Daoist commentaries and scriptures later classified under the heading chongxuan ("double mystery"). Like the Ox-head and chongxuan materials, the Baozang lun is a synthesis of Daoist 老莊 metaphysics and Buddhist Madhyamika 中觀派 dialectic. It is notable for its ruminations on concepts such as "true one" (zhen'i 眞一), "point of origin" (benji ), no-mind (wuxin 無心) etc., and is the locus classicus for the pairing of "transcendence" and "subtlety" (li 離 and wei 微). It also contains a critique of Buddha invocation practices (nianfo 念佛), and a positive reference to the doctrine that even insentient things have buddha-nature 佛性. T 1857.45.143b-150a. => (c: Baozang lun); 1 quyển, được xem là của Tăng Triệu (c: Sengzhao 僧肇). Bộ luận có văn phong và học thuyết tương tự như vô số luận văn liên quan với dòng Ngưu Đầu thiền (Ox-head 牛頭, đặc biệt là luận Jueguan , Tín tâm minh (Xinxin ming 信心銘), Tâm minh, Vô tâm luận (c: Wuxin lun). Luận nầy cũng được xuất hiện liên quan đến một loạt các bài luận vào thế kỷ thứ 7 và 8 của đạo Lão dưới tiêu đề “Trùng huyền” (c: chongxuan ; e: double mystery). Cũng như tài liệu trong Ngưu đầu thiền và Trùng huyền, Bảo tạng luận là một tổng hợp của siêu hình học Lão Trang và biện chứng pháp của phái Trung quán. Giá trị là sự nghiền ngẫm về ý niệm “chân nhất” (zhen'i 眞一), “bản tích” (c: benji; e: point of origin), “vô tâm”(c: wuxin 無心) v.v... và ở chỗ tập trung vào cặp phạm trù ý nịêm cổ điển “siêu việt” và “vi tế” (li 離 , wei 微). Luận còn bao gồm một bài phê bình về pháp niệm Phật (念佛c: nianfo), và một bài khẳng định liên quan đến giáo lý mọi chúng sinh đều có Phật tính.
bảo tạng như lai
Ratna-garbha (skt)—Vị Phật (Bảo Hải là con gái của Phạm Chí, xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như Lai) mà Phật A Di Đà và Phật Thích Ca đều y vào để phát tâm thành đạo—A Buddha to whom Sakyamuni and Amitabha are said to have owed their awakening.
; (寶藏如來) Còn gọi là Bảo tạng Phật. Là con trai của Phạm chí Bảo hải, sau khi xuất gia thành đạo, hiệu là Bảo tạng Như lai. Khi còn là vua Vô tránh niệm ở đời quá khứ xa xưa, Phật A di đà đã y vào đức Phật này mà phát tâm thành đạo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.43 phẩm Mã huyết Thiên tử; kinh Bi hoa Q.8).
bảo tạng thiên
(寶藏天) Còn gọi là Bảo tạng thiên nữ. Thần chủ về phúc đức, vì thế được coi là đồng với Cát tường thiên, Biện tài thiên. Dịch âm của tiếng Phạm là Tra la khư, nhưng không phải phiên từ chữ Phạm bảo tạng, mà là do Tra la khư, tên gọi của Bảo tạng thiên vương nói trong Bảo tạng thiên nữ đà la ni pháp. Tiếng Phạm của Tra la khư thế nào thì chưa được rõ, mà tiếng Phạmtàrakalà nghĩa người cứu giúp, lại cũng là tên của ác ma. Cứ theo Bảo tạng thiên nữ đà la ni pháp chép, thì trời này có uy đức lớn, sức thần không gì sánh kịp, có thể làm những việc thù thắng ở thế gian, như xoay trời chuyển đất, nghiêng núi lật biển, đánh nhau được thua do ý chí mà thành, lụa là vàng bạc chất cao như núi, có thể thỏa mãn những điều mong ước như quan chức, kĩ nghệ, phòng giặc, chữa bệnh v.v... Hình tượng là hình Thiên nữ, thân cao hai thước năm tấc (Tàu), đầu đội mũ hoa, mình mặc áo đỏ tươi, thắt đai vàng, đi hài đen, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm ngọc báu như ý tròn sáng lấp lánh.
bảo tạng thiên nữ
Xem Cát Tường thiên.
bảo tạng thần
Jambhala (S)Tên một vị thiên.
; (寶藏神) Phạm: Jambhala. Là vua Đại dạ xoa trông coi kho của báu vô tận. Cứ theo kinh Bảo tạng thần đại minh mạn nô la nghi quĩ quyển thượng chép, thì khi đức Thích tôn tu hạnh Bồ tát ở kiếp quá khứ đã từng chữa trị cho một bệnh tỉ khưu, tỉ khưu ấy liền vì đức Thích tôn mà nói ra Bảo tạng thần mạn nô la bí mật tam muội nghi quĩ. Về công đức trì kinh, thì cũng kinh trên nói, nếu tụng kinh này thì người không có của sẽ được của, người không có yên lành sẽ được yên lành, tất cả những điều mong cầu đều được thành tựu. Lại nếu người được thấy, được nghe thì tất cả trọng tội đã do ngu dại mà tạo nên trong nhiều đời nhiều kiếp ở quá khứ, đều được tiêu trừ. Hình tượng của thần Bảo tạng mầu mây xanh, dùng các loại vật báu trang sức; tay phải làm dáng cho nguyện ước, có quả am ma lặc trong bàn tay, tay trái cầm cái túi chứa đầy của báu, ngồi xếp bằng trên tòa sư tử.
Bảo tạng thần mạn nã la nghi quỹ kinh 寶藏神曼拏羅儀軌經
[ja] ホウゾウジンマンナラギキキョウ Hōzōshin mannara giki kyō ||| The Baozangshen mannaluo yigui jingBaozangshen mannaluo yigui jing; abbreviated title of the Baozangshen daming mannaluo yigui jing 寶藏神大明曼拏羅儀軌經. => (c: Baozangshen mannaluo yigui jing); viết tắt của Bảo tạng thần đại minh mạn nã la nghi quỹ kinh 寶藏神大明曼拏羅儀軌經.
Bảo tạng thần đại minh mạn nã la nghi quỹ kinh 寶藏神大明曼拏羅儀軌經
[ja] ホウゾウシンダイミョウマンナラギキキョウ Hōzōshin daimyō mandara gikikyō ||| The Baozangshen daming mannaluo yigui jing; Skt. Jambhālajalendrayathālabdha-kalpa; Tib. gnod gnas dbang po ci ltar 'byung ba'i rtog pa [To.770, P.426]; (Ritual Procedure of the Great Illuminating Maṇḍala of the Wealth God). 1 fasc. (T 1283.21.343-349), trans. Fatian 法天, abbreviated as Ritual Procedure of the Wealth God's Maṇḍala 寶藏神曼拏羅儀軌經. => (c: Baozangshen daming mannaluo yigui jing; Skt. Jambhālajalendrayathālabdha-kalpa; Tib. gnod gnas dbang po ci ltar 'byung ba'i rtog pa; e: Ritual Procedure of the Great Illuminating Maṇḍala of the Wealth God). 1 quyển. Pháp Thiên (c: ) dịch. Viết tắt là Bảo tạng thần mạn nã la nghi quỹ kinh.
bảo tất để ca
Chữ “Vạn” trên ngực của Đức Phật—The precious svastika, or sign on Buddha' breast.
bảo tất địa thành phật đà la ni kinh
(寶悉地成佛陀羅尼經) Có một quyển. Do ngài Bất không đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 19. Khi đức Phật ở nước Ma già đà, vườn Thanh tịnh bên bờ hồ Bạch liên, vì Kim cương thủ và các đại Bồ tát nói rõ về công đức của xá lợi Phật cùng với nội dung thần chú và phép tu trì mà thuyết kinh này. Chữ Bảo trong đề kinh tức chỉ ngọc báu như ý và ấn báu; ngọc, biểu trưng tâm tính của chúng sinh; ấn, biểu trưng công đức của Xá lợi Phật. Nghĩa là khi tu pháp và cúng dường Xá lợi thì có thể tiêu trừ tất các tội nặng như bốn tội trọng, năm tội nghịch và tội phỉ báng pháp và được vô lượng phúc trí, thoát khỏi sinh tử, kéo dài tuổi thọ, sau khi mệnh chung, tùy theo ý nguyện của mình, các cõi Tịnh độ trong mười phương, muốn sinh vào cõi nào thì liền được sinh vào cõi ấy.
bảo tọa
Precious throne.
bảo tồn
Maintenance—Preservation—Conservation.
bảo tụ
Đạo Phật là tôn giáo tích tụ những gì quý báu nên gọi là Bảo Tụ—Jewel-collection; a collection of precious things, e.g. the Buddhist religion.
; (寶聚) Có hai nghĩa: 1. Tức là vô số đồ trân quí tích tụ ở một chỗ. Kinh Đại bảo tích quyển 81 (Đại 11, 466 thượng), nói: Mỗi mỗi bảo tụ cao một do tuần, phát ra ánh sáng lớn chiếu khắp thế giới ấy. 2. Dùng sự tích tụ những vật quí báu để thí dụ Vô thượng diệu đạo. Kinh Pháp hoa phẩm Tín giải (Đại 9, 17 hạ), nói: Đức Phật nói Thanh văn sẽ được làm Phật, vô thượng bảo tụ không cầu mà tự được.
bảo tụ tam muội
(寶聚三昧) Là một trong một trăm linh tám Tam muội. Vào Tam muội này thì thấy hết thẩy cõi nước đều như bảy thứ báu tích tụ lại. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 400 hạ), nói: Bảo tụ tam muội có nghĩa là, khi được tam muội ấy rồi, thì tất cả những cái có trong đất nước đều trở thành bảy báu. Hỏi: đây là do mắt thịt thấy hay do Thiền định thấy? Đáp: Mắt trời, mắt thịt đều có thể thấy. Vì sao vậy? Vì ngoài sáu trần bất định vậy. Hành giả thường tu tập Thiền định, cho nên có khả năng chuyển bản tướng.
bảo uyên
(寶淵) Vị tặng đời Lương nam triều. Người Ba tây lãng trung (Tứ xuyên), họ Trần. Hai mươi ba tuổi xuất gia tại Thành đô, ở chùa La thiên cung. Niên hiệu Kiến vũ năm đầu (495) đời vua Minh đế nhà Nam Tề, tham yết ngài Tăng mân ở chùa Trang nghiêm, nghiên cứu học tập luận Thành thực. Không bao lâu, vào chùa Khai thiện học Trí tạng. Sau khi học thành tài, trở về Thành đô ở chùa cũ tự mở đàn diễn giảng để tiếp dẫn đồ chúng, gọi là Dương tây thùy (hoằng dương đạo pháp ở biên thùy phía tây). Về sau, nhân việc chống trái ý quan mà phải tự vẫn vào năm Phổ thông thứ 7 đời Vũ đế nhà Lương, thọ sáu mươi mốt tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.6 Tăng kiêu truyện, Bảo uyên truyện].
bảo vân
Bảo Vân là tên của một nhà sư Trung Quốc, quê ở Lương Châu, đã du hành sang Ấn Độ vào khoảng năm 397 sau Tây Lịch, trở về Trường An, chết năm 449, ở tuổi 74—Pao-Yun, a monk of Liang-Chou, who travelled to India around 397 A.D., returned to Ch'ang-An, and died in 449, at the age of 74.
; (寶雲) Vị tăng thời Đông Tấn sang Tây vực cầu pháp dịch kinh. Người Lương châu (có thuyết bảo là người Hà bắc). Siêng năng và có học, có hạnh. Xuất gia từ nhỏ, lập chí đích thân đi chiêm bái các linh tích, tìm cầu các kinh quan yếu. Vào đầu năm Long an (387-401) đời vua An đế nhà Tấn, cùng với các sư Pháp hiển, Trí nghiêm lần lượt đến các nước Tây vực, qua Lưu xa, vượt dải Tuyết lĩnh, đến Vu điền, Thiên trúc v.v... đi lễ khắp các nơi Thánh tích, rồi học tiếng Phạm, đọc sách Phạm, nghiên cứu, chú giải âm tự xưa. Sau cùng với Tuệ đạt, Tăng cảnh cùng trở về Trường an; sư thờ Phật đà bạt đà la làm thầy, tu học phép Thiền. Vào thời Lưu Tống, sư ở chùa Đạo tràng tại Kiến khang, dịch Vô lượng thọ kinh. Chưa bao lâu, lại dời đến ở chùa Chỉ viên, cùng với Trí nghiêm cùng dịch kinh Phổ diệu, kinh Quảng bác nghiêm tịnh, kinh Tứ thiên vương. Về sau, ở chùa Trường can, cùng với Tăng già bạt ma cùng dịch Tạp a tì đàm tâm luận; ở các chùa Kì hoàn, Đông an, cùng với Cầu na bạt đà la cùng dịch kinh Tạp a hàm, kinh Lăng già a bạt đa la bảo, kinh Pháp cổ, kinh Thắng man, lại ở chùa Lục hợp sơn dịch Phật sở hành tán. Sư kiêm thông Hoa, Phạm, âm tự chính xác, tài phiên dịch thì độc đáo ở thời Tấn, Tống, sa môn Tuệ quán kết bạn chí thân. Lại cứ theo Pháp kinh lục, Lịch đại Tam bảo kỉ quyển 10 chép, thì ngoài các kinh luận do sư phiên dịch kể ở trên ra, sư còn dịch kinh Tịnh độ tam muội, kinh Phật bản hạnh, kinh Phó pháp tạng, kinh Tì la tam muội v.v... Sư nhập tịch vào năm Nguyên gia 26, thọ bảy mươi tư tuổi (có thuyết nói bảy mươi tám tuổi). [X. Danh tăng truyện sao Q.26; Lương cao tăng truyện Q.2 Phật đà bạt đà la truyện, Q.3 Trí nghiêm truyện, Tăng già bạt ma truyện, Cầu na bạt đà la truyện; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.14 Tăng già bạt ma truyện, Cầu na bạt đà la truyện, Q.15 Trí nghiêm truyện, Pháp dũng truyện; Pháp kinh lục Q.1, Q.3, Q.5].
bảo vân kinh
Ratnamegha sūtra (S)Tên một bộ kinh.
; (寶雲經) Phạm: Ratna-megha-sùtra. Gồm 7 quyển. Do ngài Mạn đà la tiên đời Lương dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 16. Bản tiếng Phạm đã thất truyền, nhưng trong luận Tập bồ tát học bằng tiếng Phạm có dẫn dụng một phần kinh này. Nội dung kinh nói rất tỉ mỉ về các đức hạnh mà vị Bồ tát phải đủ. Có bồ tát Trừ cái chướng đến thế giới Sa bà, đem 102 câu hỏi để xin đức Thế tôn chỉ dạy, mỗi câu hỏi, đức Thế tôn dùng mười pháp trả lời, tất cả đều là chính pháp cụ thể dạy bảo các Bồ tát.Những bản dịch khác thì có Kinh Đại thừa bảo vân 7 quyển, do Mạn đà la tiên và Tăng già bà la dịch chung; kinh Bảo Vũ 10 quyển, do Đạt ma lưu chi dịch, kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn 20 quyển, do ngài Pháp hộ dịch. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.16; Đại đường nội điển lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.8].
Bảo vân kinh 寶雲經
[ja] ホウウンキョウ Hōun kyō ||| Baoyun jing The Jewel Cloud Scripture. 7 fascicles, translated by Mandra (曼陀羅仙). T 658.16.209-240. => (c: Baoyun jing; e: The Jewel Cloud Scripture). 7 quyển, Mạn-đà-la tiên (s: Mandra 曼陀羅仙) dịch .
Bảo Vân 寶雲
[ja] ホウウン Hōun ||| Băoyún. (2) (372 or 376-449). A Chinese monk of the Easter Qin 東晉, originally from Liángzhōu 涼州 who was one of the major translators of his period. He went to study in India, and after returning home, translated numerous important works into Chinese, such as the Wuliangshou jing 無量壽經, Puyao jing 普耀經, Za apitanxin lun 雜阿毘曇心論, Za ahan jing 雜阿含經, Lengqie abaduoluo bao jing 楞伽阿跋多羅寶經, and Śrīmālā-sūtra 勝鬘經. (2) (d.u.) A Chan monk of the Mazu lineage who live during the Tang. =>1.Bảo Vân ( năm 372 hoặc 376-449). Một vị tăng sĩ Trung Hoa vào thời Đông Tấn (Easter Qin 東晉), xuất thân từ Lương Châu (c: Liángzhōu 涼州), là một trong những dịch giả chính vào thời ấy. Sư sang Ấn Độ tham học, và sau khi về nước, sư dịch nhiều kinh như Vô lượng thọ, kinh Phổ diệu, Tạp A-tỳ-đàm tâm luận, kinh Tạp A-hàm, kinh Lăng-già A-bạt-đa-la bảo và kinh Thắng Man. 2. Bảo Vân: Một Thiền sư thuộc dòng Mã Tổ, sống vào đời Đường.
bảo võng
Indra's net of gems.
; Indra-jala (skt)—Còn gọi là Đế Võng hay Đế Thích Võng. Lưới bảo châu của trời Đế Thích hay chiếc màn lưới báu treo ở cung Đế Thích, là nơi khởi sanh chư pháp (các vị sư tông Hoa Nghiêm ví nó với duyên khởi trùng trùng vô tận của chư pháp). Còn là tên lời chú của các nhà ảo thuật Thiên Trúc, vì cùng lời chú nầy mà tất cả sự việc hiện ra—The net of Indra, or Indra's net of gems, hanging in Indra's hall, out of which all things can be produced; also the name of an incantation of Indian magicians considered all-powerful.
; (寶網) Có nghĩa là tấm lưới được kết thành bằng các thứ trân bảo. Tấm lưới ở cung Đế thích, gọi là Đế võng, còn gọi là Nhân đà la võng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng), nói: Tấm lưới quí báu giăng che ở trên. Ngoài ra, trong Thiền lâm có câu nói Bảo võng man không, có nghĩa là tấm lưới báu của Đế thích dàn trải ra khắp hư không, để thí dụ với sự rộng lớn của Phật pháp, không một nơi nào mà không đến được. [X. kinh Đại phương quảng bồ tát tạng văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.1; Bích nham lục Tắc 38]. (xt. Nhân Đà La Võng).
bảo võng bồ tát
Ratnaśūra (S)Tên một vị Bồ tát.
bảo vũ kinh
(寶雨經) Gồm mười quyển. Còn gọi là Hiển thụ bất thoái chuyển bồ tát kí. Do ngài Đạt ma lưu chi đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 16. Đầu tiên thuật việc Phật thụ kí cho Thiên tử Nguyệt quang ở phương đông sẽ làm nữ vương của nước Chi na, dùng Chính pháp để hóa dân, cho đến khi Di lặc thành Phật sẽ lại được thụ kí. Sau đó, thuật việc bồ tát Chỉ nhất thiết cái từ thế giới Liên hoa nhãn Phật ở phương đông, vì sự lợi ích, sự an lạc và sự thương xót hết thảy hữu tình, đến hỏi đức Phật một trăm linh một việc, đức Phật đều lấy mười pháp để trả lời, nếu các Bồ tát thành tựu được mười pháp ấy, thì tức đã làm tròn đầy thí, giới, nhẫn, tinh tiến, phương tiện và bát nhã v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
bảo vương
The precious King, or King of Treasures, a title of Buddha.
; 1) Vua của Kho Báu: The precious King or King of Treasures. 2) Một danh hiệu của Đức Phật: A title of Buddha. 3) Vị Từ Tôn ngự trị trên lục địa về phía tây của núi Tu Di: The ruler of the continent west of Sumeru. 4) Bảo Chủ: Jewel-lord, or Lord of jewels.
; (寶王) I. Bảo vương. Bảo, hàm ý là trang nghiêm; vương, hàm ý là tối thượng. Ý nói người dùng bảy thứ báu để trang nghiêm; biểu thị ý tối thắng, tối thượng. Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) (Đại 9, 410 thượng), nói: Ma ni bảo vương thanh tịnh chiếu sáng, thần uy tối thắng không đâu không thấy. II. Bảo vương. Tôn xưng đức Phật. Còn gọi là Bảo vương Như lai. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung), nói: Nguyện nay được quả thành Bảo vương, lại độ hằng sa chúng như thế. [X. kinh Đại phương đẳng đà la ni Q.3; Vãng sinh luận chú Q.thượng].
bảo vương tam muội
Đạt tới Bảo Vương Tam Muội do việc niệm Phật Tam Muội—The King of Treasures samadhi, achieved by fixing the mind on Buddha.
; (寶王三昧) I. Bảo vương tam muội. Thiền vô sự, siêu việt phàm thánh, không trú nơi sinh tử, Niết bàn, cao hơn hết trong tất cả tam muội, cho nên gọi là Bảo vương tam muội. Nhất sơn quốc sư ngữ lục quyển thượng (Đại 80, 324 trung), nói: Một lòng vô sự, muôn cảnh chẳng sinh, tâm cảnh hư dung, Thánh phàm đâu có? Thánh phàm tình hết, thể hiện chân thường, thể nếu rỗng không, chân thường vốn lặng, không đâu có ba cõi, tìm Bồ đề ở đâu? Một đạo rỗng lặng, siêu nhiên tuyệt đối, đó là Bảo vương tam muội, học trò các tổ sư bảo đó là Kim cương vương bảo kiếm (gươm báu của vua Kim cương). II. Bảo vương tam muội. Tông Tịnh độ nhận rằng, niệm Phật tam muội là tam muội cao hơn hết, cho nên gọi là Bảo vương tam muội. Trùng khắc Bảo vương tam muội niệm Phật trực chỉ tự (Đại 47, 354 trung), nói: Niệm Phật tam muội được gọi là Bảo vương, là vì cũng như ngọc ma ni mưa rải hết thảy các thứ báu tam muội, như vua Chuyển luân thống quản hết thảy các vua tam muội, cũng thế, Niệm Phật tam muội là pháp môn rất viên rất đốn vậy. [X Đại tập kinh bồ tát niệm Phật tam muội phần Q.9; Bảo vương luận Q.hạ].
bảo vật
Ratna (S). Gem, jewel, precious object.
bảo vệ
To defend—To protect.
bảo xa
The precious cart (in the Lotus sùtra),i.e. the one vehicle, the Mahàyàna.
; Xe quý (trâu trắng) mà Đức Phật đã nói đến trong Kinh Pháp Hoa, được ví với Nhất Thừa hay Đại Thừa—The precious cart (in the Lotus sutra), i.e. the one vehicle, the Mahayana.
; (寶車) Còn gọi là Bảo thừa. Chỉ cỗ xe lớn do trâu trắng kéo, được trang sức bằng các thứ báu, thí dụ pháp Nhất thừa. Trong kinh Pháp hoa phẩm Thí dụ có chép thí dụ Hỏa trạch tam xa (nhà lửa ba xe) mà các tông Thiên thai và Hoa nghiêm, ngoài ba xe, lấy xe trâu trắng lớn thí dụ Nhất Phật thừa. [X. kinh Trường a hàm Q.2; kinh Đại bảo tích Q.66]. (xt. Tam Xa Tứ Xa).
bảo xướng
(寶唱) Vị tăng đời Lương. Người Ngô quận (Ngô huyện tỉnh Giang tô), họ Sầm. Năm sinh, mất không rõ. Lúc nhỏ y vào ngài Tăng hựu ở chùa Kiến sơ xuất gia, học khắp các kinh luật. Sau ở chùa Trang nghiêm, xem rộng các sách, rút tỉa lý nghĩa tinh vi. Năm Thiên giám thứ 4 (505) vào Kinh, lãnh sắc chỉ ở chùa Tân an, tham dự việc trước thuật Chúng kinh yếu sao 88 quyển với Tăng mân, thuật tác Chú đại ban niết bàn kinh 72 quyển của Tăng lãng. Tham dự trường dịch kinh của ngài Tăng già bà la, bút thụ mười một bộ kinh bắt đầu từ kinh A dục vương. Sửa đổi lại Hoa lâm Phật điện chúng kinh mục lục (đời gọi là Bảo xướng lục) của Tăng thiệu ở chùa An lạc, nhà vua khen thưởng và cử trông coi Hoa lâm viên Bảo vân kinh tạng. Sư học rộng và có tài làm văn, lừng danh đương thời, trứ tác rất nhiều, còn có Chúng kinh phạm cúng thánh tăng pháp 5 quyển, Chúng kinh sám hối tội phương pháp 3 quyển, Pháp tập 140 quyển, Tục pháp luân luận hơn 70 quyển, Xuất yếu luật nghi 20 quyển, Kinh luật dị tướng 50 quyển, Tỉ khưu ni truyện 4 quyển, Danh tăng truyện sao 1 quyển v.v...; ba bộ sau hiện còn. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Tục cao tăng truyện Q.1; Pháp kinh lục Q.6; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.3].
bảo xứ bồ tát
Ratnakala (S)Bảo Quang Bồ tát, Bảo Tát Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (寶處菩薩) Bảo xứ, Phạm: Ratna-kalà, Ratnakara, dịch âm là Ra đát đàm ca la. Còn gọi là Bảo quang bồ tát, Bảo sinh bồ tát, Bảo tác bồ tát, Bảo chưởng bồ tát. Là vị Bồ tát ở ngôi thứ tư bắt đầu từ phía đông trong chín vị tôn ở viện Địa tạng trên hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 nói (Đại 39, 719 hạ), thì: Sở dĩ gọi là Bảo xứ là vì, cũng như các thứ báu sinh ở nơi bể, từ nơi ấy sinh ra, cho nên gọi là bảo xứ. Mật hiệu của vị tôn này là Tường thụy kim cương, chủng từ là (jaô), hình tam muội da là chày ba chẽ trên hoa sen hoặc chày ba chẽ trên ngọc báu. Hình tượng mầu trắng, cánh tay phải co lại và bàn tay duỗi thẳng, các đầu ngón tay xủ xuống, ngón tay trỏ hơi mở, bàn tay trái dựng thẳng, co hai ngón trỏ, giữa cầm hoa sen, trên hoa sen có chày ba chẽ, ngồi xếp bằng trên tòa sen đỏ. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; Phổ thông chân ngôn tạng phẩm; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Quảng đại nghi quĩ Q.trung].
bảo xứ tam muội
The samàdhi of the precious place, the ecstatic trance of Sàkyamuni by which he dispensed powers and riches to all beings.
; Tam muội của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Thế Tôn trụ vào tam muội nầy và từ đó Ngài bố thí tiền tài công đức cho chúng sanh—The samadhi of the precious place, the ecstatic trance of sakyamuni by which he dispensed powers and riches to all beings.
; (寶處三昧) Chỉ tam muội mà đức Thích ca Như lai ở trong đó. Chủng tử của đức Thích ca là (bha#), là nghĩa trừ bỏ ba cõi; lại có nghĩa bất khả đắc, nên lấy trở về cái không làm nội chứng, vì từ nơi cái không ấy mà các thứ trân báu xuất sinh, tức chỉ nơi đẳng hư không là bảo xứ. Đức Thích ca từ nơi Tam muội này mà hóa hiện ra đời, mang lại vô lượng vô biên pháp báu. Đại nhật kinh sớ quyển 10 (Đại 39, 683 thượng), nói: Sau đó, đức Thích ca Như lai vào nơi Bảo xứ tam muội, các thứ trân bảo từ đấy mà ra nên gọi là Bảo xứ; cũng như bể lớn sinh ra các thứ báu, nếu đến bãi bể ấy thì tùy ý cần dùng, đều được đầy đủ. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Phổ thông chân ngôn tạng; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].
bảo ý
Ratnamati (S)Xem Bodhiruci.
Bảo Ý 寶意
[ja] ホウイ hōi ||| A translation of Ratnacitta 羅陀那質多. => Hán dịch tên ngài La-đà-na-chất-đa (羅陀那質多s: Ratnacitta).
bảo đao tỳ na dạ ca
Xem Kim Cang Điều Phục thiên.
bảo điển
The precious records, or scriptures.
; Kinh điển quý báu—The precious records, or scriptures.
bảo đài
(寶臺) Tức là đài trang sức bằng các vật trân báu. Như kinh Quán thế âm bồ tát thụ kí chép, bồ tát Quán thế âm cùng với bồ tát Đắc đại thế muốn dẫn đầu tám mươi ức quyến thuộc đến chỗ đức Phật, bèn dùng sức thần thông, mỗi vị hóa hiện ra bốn mươi ức bảo đài, các đài đều rộng bốn mươi do tuần, lần lượt được trang sức bằng các thứ trân quí như vàng, bạc, lưu li, pha lê, và các loại hoa như bát đàm ma, câu vật đầu, phân đà lợi, trên đài lại có ngọc nữ tấu các thứ nhạc khí, phát ra âm thanh mầu nhiệm, hoặc cầm các thứ hương, hoặc hết thảy các loại hoa. Lại trên bảo đài đặt tòa sư tử, trên đài đều có hóa Phật, đoan nghiêm thù thắng, không thể ví được. Hai vị Bồ tát bấy giờ mới dẫn đầu quyến thuộc cầm các đài báu cùng đến chỗ đức Phật. [X. kinh Pháp hoa phẩm Thụ kí].
bảo đàm
(寶曇) Vị tăng thuộc tông Lâm tế đời Tống. Còn gọi là Thiếu đàm. Người huyện Long du, phủ Gia định, tỉnh Tứ xuyên, họ Hứa. Hiệu Thiếu vân. Đời gọi là Quất châu lão nhân (ông già châu Quất). Là pháp tự của ngài Đại tuệ Tông cảo, ở Thiền viện Diên thọ, núi Trượng tích, phủ Khánh nguyên tỉnh Triết giang. Sư biên tập các truyện kí của bảy đức Phật ở quá khứ và các tổ Thiền tông đến Đại tuệ Tông cảo thành bộ Đại quang minh tạng, gồm ba quyển. [X. Đại quang minh tạng tự].
Bảo đái đà-la-ni kinh 寶帶陀羅尼經
[ja] ホウタイダラニキョウ Hōtai daranikyō ||| The Baodai tuoluoni jing; Skt. Mekhalā-dhāraṇī; Tib. me kha la [To.772/907, P.427]; (Dhāraṇī of the Precious Belt). 1 fasc. (T 1377.21.898), trans. Dānapāla 施護. Alternate translation: Dhāraṇī of the Sacred Adornment 聖莊嚴陀羅尼經 (T 1376). => (c: Baodai tuoluoni jing; Skt. Mekhalā-dhāraṇī; Tib. me kha la; e: Dhāraṇī of the Precious Belt). 1 quyển, Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch. Bản dịch khác có tên Thánh trang nghiêm đà-la-ni kinh (聖莊嚴陀羅尼經e: Dhāraṇī of the Sacred Adornment).
bảo đĩnh phật
Xem Bảo cát Phật.
bảo đường tông
(保唐宗) Một tông phái thuộc Thiền tông vào thời kì đầu. Do sư Vô trụ (714-774) ở chùa Bảo đường phủ Thành đô đời Đường khai sáng, trên vâng theo các bậc Ngũ tổ Hoằng nhẫn, Trí tân ở Tư châu, Xứ tịch, Vô tướng v.v..., lấy ba câu của Vô tướng và ba học của Thần hội ở Hà trạch làm nền tảng mà đứng riêng ra một phái. Đặc điểm của tông này là không câu chấp giáo hành, vứt bỏ lễ sám, tụng kinh, tạo tượng, viết kinh. Lại chủ trương hễ khởi tâm là vọng, có phân biệt là oán gia, không phân biệt là diệu đạo, cho nên đem câu mạc vong trong ba câu vô ức, vô niệm, mạc vong của thầy là Vô tướng đổi thành mạc vọng. Suốt đời Vô trụ không màng đến việc ăn mặc, cũng không đón gặp kẻ sang người hèn, mà theo hạnh đầu đà một cách tự do tự tại. Học trò có Tịnh tạng (Siêu tạng) ở chùa Thắng quang, Tri nhất (Siêu nhiên), Trung tín ở Đăng châu. Về các câu nói cơ duyên của Vô trụ, hãy xem trong Lịch đại pháp bảo kí. [X. Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Viên giác kinh đại sớ Q.3 phần dưới; Long hưng Phật pháp biên niên thông luận Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh bá thọ)]. (xt. Tịnh Chúng Tông, Vô Trụ).
Bảo Đường Tự
(保唐寺, Hotō-ji): hiện tọa lạc tại Huyện Tư (資縣), Phủ Thành Đô (城都府), Ích Châu (益州, Tỉnh Tứ Xuyên), là cứ địa của Bảo Đường Tông (保唐宗). Vô Trú (無住), pháp từ của Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺), đã từng sống ở đây và cử xướng tông phong.
bảo đạc
Precious rattle, wooden fish.
bảo đạt
Chuông treo trên đỉnh tháp chùa—Bells hung on pagodas.
bảo đảm
To guarantee—To warranty—Security (n)—Insurance—Assurance.
bảo đảnh phật
Xem Kế Na Thi Khí Phật.
bảo đỉnh sơn ma nhai
(寶頂山摩崖) Là núi Bảo đính nằm về phía đông bắc huyện Đại túc tỉnh Tứ xuyên khoảng mười lăm cây số. Chung quanh sườn núi khoét ra mười ba chỗ thành vách đá để tạo tượng Phật, có vòm Phật to và vòm Phật nhỏ qui mô rất lớn, hơn ba mươi bức chạm trổ tạo hình lớn nhất, do Triệu trí phượng thời Nam Tống khai sáng để truyền bá Mật tông do Kim cương trí đời Đường truyền, cho nên đại bộ phận tượng được tạo thuộc tượng cúng dường trong Mật tông; cũng có một bộ phận tạo tượng Thiền tông, vì Tứ xuyên là địa khu trọng yếu của thời kì đầu kết hợp giữa Mật tông và Thiền tông. Trong đó, những đề tài điêu khắc thể hiện sự kết hợp Phật giáo với tư tưởng nhà Nho và các truyện cổ Phật giáo, cho thấy nghệ thuật Phật giáo đã tiến một bước Trung quốc hóa và biểu hiện một cách cụ thể sự đi sâu vào xã hội hạ tầng, cũng là cách tạo tượng Phật giáo ít thấy ở Trung quốc. Tại đây còn có tạo tượng Nho, Đạo đều là những văn vật trọng yếu của Trung quốc.
Bảo đỉnh, bửu đỉnh
(寶鼎): có ba nghĩa chính. (1) Cái đỉnh thời cổ đại. Nguyên nó là đồ dùng để nấu, về sau được dùng tượng trưng cho quyền uy chính trị, nên gọi là bảo đỉnh. Như trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung (壬子秋過故宮) của Tống Nột (宋訥, 1311-1390) nhà Minh có câu: “Bảo đỉnh bách niên quy Hán thất, cẩm phàm chung cổ tợ Tùy gia (寶鼎百年歸漢室、錦帆終古似隋家, đỉnh báu trăm năm về Hán thất, buồm gấm muôn thuở giống Tùy gia).” Hoặc trong Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧經禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1432) quyển 2 lại có câu: “Thiên quân bảo đỉnh phù thương hải, nhất trượng quy mao phược thái hư (千鈞寶鼎浮滄海、一丈龜毛縛太虛, ngàn cân đỉnh báu trôi xanh biển, một gậy lông rùa cột hư không).” (2) Chỉ lò hương, vì chế theo hình cái đỉnh, nên có tên như vậy. Như trong Nhị Bộ Tăng Thọ Giới Nghi Thức (二部僧授戒儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1134) quyển Hạ có đoạn: “Bảo đỉnh nhiệt danh hương, phổ biến thập phương, kiền thành phụng hiến pháp trung vương, đoan vi Hoàng vương chúc Thánh thọ, địa cửu thiên trường, đoan vi Hoàng vương chúc Thánh thọ, địa cửu thiên trường (寶鼎熱名香、普遍十方、虔誠奉獻法中王、端爲皇王祝聖壽、地久天長、端爲皇王祝聖壽、地久天長, lò báu ngút hương thơm, cúng khắp mười phương, lòng thành dâng cúng đấng pháp vương, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời đất dài lâu, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời đất dài lâu).” (3) Chỉ cái lò do các Đạo sĩ dùng để luyện đan nấu thuốc. như trong bài thơ Xuân Nhật Tạp Cảm (春日雜感) của Trình Thiện Chi (程善之, 1880-1942) có câu: “Bảo đỉnh luyện thần dược, bất như thủ trung chi (寶鼎煉神藥、不如手中卮, lò báu luyện thần dược, chẳng bằng chén trong tay).”
bảo địa
Precious land.
bảo đới đà la ni kinh
(寶帶陀羅尼經) Có một quyển. Do Thí hộ đời Bắc Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung tường thuật việc đồng tử La hầu la cứ về đêm là bị La sát làm cho sợ hãi, đồng tử đến khóc lóc trước đức Phật, Ngài bèn bảo đồng tử thắt một cái đai báu, rồi nói chú Đại minh, bảo đồng tử trì chú ấy thì tránh xa được ác la sát, dao gậy, bạn xấu, độc ác và tật bệnh mà được yên vui. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thánh trang nghiêm đà la ni.
bảo đức bồ tát
Ratnaśrī (S)Tên một vị Bồ tát.
Bảo đức tạng kinh 寶悳藏經
[ja] ホウトクゾウキョウ Hōtokuzō kyō ||| The Baodezang jing; abbreviated title of the 佛母寶悳藏般若波羅蜜經. => (c: Baodezang jing); tên gọi tắt của Phật mẫu bảo đức tạng Bát-nhã ba-la-mật kinh(佛母寶悳藏般若波羅蜜經).
bảo ấn
Precious seal, or symbol.
; Precious seal, or symbol. 1) Pháp Bảo trong Tam Bảo: Dharma, the second of the Triratna. 2) Tam Pháp Ấn: The three evidences of the genuineness of a sutra—See Tam Pháp Ấn. 3) Biểu tượng của chư Phật hay chư Bồ Tát: The symbols of Buddhas, or Bodhisattvas. 4) Chủng tử Phật Ấn: The magical seeds of the Buddhas, i.e. germ-letters, or sounds.
; (寶印) I. Bảo ấn. Gọi các loại ấn khế (Phạm: mudrà) của chư Phật Bồ Tát. Hoặc chuyên gọi ấn khế lấy việc sinh của báu làm mục đích, song của báu ở đây không hẳn là chỉ của cải có hình tướng. Như ấn tam muội da của Bảo sinh Phật, của Kim cương bảo bồ tát đều là bảo ấn, phân biệt gọi là Bảo tam muội da ấn, Tam muội da bảo ấn. Theo nghi quĩ hành pháp của Liên hoa bộ tâm quĩ thuộc Kim cương giới hệ, sau khi hành giả đã làm bát khiển,....., thì phải kết ấn này và tụng chú. Vì ấn này là ấn chung của Ngũ Phật quán đính, Tứ phật hệ man, Như lai giáp trụ ấn, bao nhiếp hết thẩy các ấn khác, cho nên, trong trường hợp khẩn cấp, có thể bỏ tất cả ấn khác mà chỉ cần kết một ấn này và tụng chân ngôn. [X. kinh Giáo vương (bản 2 quyển) Q.hạ; Liên hoa bộ tâm quĩ; Thắng sơ du già quĩ]. II. Bảo ấn. Là ấn có khắc chủng tử và chân ngôn của bản tôn. Tại Nhật bản, thông thường ở chính giữa bảo tháp, bảo châu có viết chủng tử của bản tôn, giản đơn thì trong bánh xe vẽ hình vuông hoặc hình tròn viết chữ .. hoặc (Zri, thất lị). Để trả lời người mời đi chiêm bái thánh tích, cũng đóng ấn này.
bảo ấn tam muội
Ratna-mudrā-samādhi (S).
; Thực tướng của một trong 108 tam muội—The ratnamudra samadhi, one of the 108 kinds of samadhi. 1) Chư Pháp Vô Ngã: The unreality of the ego. 2) Chư Hành Vô Thường: The impermanence of all things. 3) Niết Bàn Tịch Diệt: Nirvana.
; (寶印三昧) Phạm: Ratna mudrà-samàdhihê. Là một trong Bách bát tam muội (108 tam muội). Bảo ấn, chỉ ba pháp ấn. Tam muội quán thực tướng ba pháp ấn mà thể nhận được các pháp là vô ngã, các hành là vô thường, Niết Bàn là tịch lặng, thì gọi là Bảo Ấn tam muội. Cũng có thuyết nói Tam muội này tương ứng với Bát nhã ba la mật. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399 thượng) nói: Tam pháp ấn gọi là bảo ấn tam muội, hết thảy pháp vô ngã, hết thảy pháp tạo tác là vô thường, Niết bàn tịch diệt, đó là ba pháp ấn hết thảy trời người không thể phá hoại được. Vào tam muội này, có thể quán thực tướng các pháp trong ba pháp ấn, nên gọi là Bảo ấn. Lại nữa, Bát nhã ba la mật là bảo, tương ứng với tam muội là ấn, cho nên gọi là bảo ấn. [X. kinh Đại bát nhã Q.41; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5].
bảo ấn thủ bồ tát
Ratna-mudrā-hasta (S)Ra đát nẵng mô nại ra hạ đát đa, Bảo ấn Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (寶印手菩薩) Bảo ấn thủ, Phạm: Ratna-mudrà-hasta, dịch âm là Ra đát nẵng mô nại la hạ tát đa. Là vị Bồ tát được đặt ở ngôi thứ hai bên trái bồ tát Địa tạng (chủ tôn) trong viện Địa tạng trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Vị tôn này mật hiệu là Chấp trì kim cương, chủng tử là (phaô), là nghĩa đám bọt nước không cứng chắc, hình Tam muội da là bảo thượng ngũ cổ chử (chày báu năm chẽ). Hình tượng thân màu trắng, tay trái rủ xuống đặt trên đầu gối, cầm bông sen đứng thẳng, trên hoa có chày một chẽ, co cánh tay phải đặt ở trước ngực, ngửa bàn tay đỡ nguyệt luân, ngồi bán già trên tòa hoa sen đỏ [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên, phẩm Phổ thông chân ngôn tạng; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2, Đại nhật kinh sớ Q.5]
bảo ứng huệ ngung
Bao-ying Hui-yung (C)Tên gọi khác của Nam Viện Huệ Ngung.
Bảo 寶
[ja] ホウ hō ||| Jewel, treasure, wealth (ratna). In Korean Buddhism, the term is used to designate a small group of Buddhist disciples. => Châu báu, vật quý, của cải, (s: ratna). Trong Phật giáo Cao Ly, thuật ngữ nầy chỉ cho một nhóm nhỏ Phật tử .
bảo, bửu
Ratna (S). Precious, treasure, gem, pearl, anything valuable.
bảy báu
(thất bảo): hay bảy món báu, chỉ bảy món quý giá, gồm có: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa-cừ, xích châu, mã não.
bảy công hạnh giác ng
カ Seven practices leading to Enlightenment.
Bảy giác chi
(Thất giác chi): Phạn ngữ là bodhipkṣikadharma, cũng gọi là Bảy phần Bồ-đề (Thất Bồ-đề phần), là nhóm thứ sáu trong Ba mươi bảy Bồ-đề phần, là những yếu tố tạo thành sự giác ngộ, trí tuệ giải thoát, hay sự hiểu biết chân chánh về những khía cạnh khác nhau trên đường tu tập. Bảy giác chi bao gồm: 1. Trạch pháp giác chi (dharmapravicaya - sự sáng suốt phân biệt Chánh pháp và tà pháp, chọn lựa đúng giáo pháp chân chánh để hành trì), 2. Tinh tấn giác chi (vỵrya - sự sáng suốt biết tinh tấn, chuyên cần tu học Chánh pháp), 3. Hỷ giác chi (prỵti - sự sáng suốt biết vui sướng, hoan hỷ khi được Chánh pháp), 4. Khinh an giác chi (praśabdhi - sự sáng suốt thanh thản nhẹ nhàng, trừ bỏ mọi chướng ngại trên đường tu tập), 5. Niệm giác chi (smṛti - sự sáng suốt thường niệm tưởng Chánh pháp, Tam bảo), 6. Định giác chi (samdhi - sự sáng suốt an trú trong chánh định, không tán loạn tâm ý), 7. Xả giác chi (upekṣ - sự sáng suốt buông bỏ mọi vướng mắc trong tâm thức).
; S: saptabodhyaṅga; Hán Việt: Thất giác chi (七覺支) – bảy Bồ-đề phần;|Nhóm thứ sáu trong ba mươi bảy Bồ-đề phần (s: bodhipākṣikadharma), gồm có: Trạch pháp (擇法; s: dharmapravicaya; phân tích, biết phân biệt đúng sai), tinh tiến (精進; s: vīrya), hỉ (喜; s: prīti), khinh an (輕安; s: praśabdhi), Niệm (念; s: smṛti), Ðịnh (定; s: samādhi), Xả (捨; s: upekṣā).
Bảy giác phần
xem Bảy giác chi.
bảy hành động ác
Seven evil acts.
bảy hình thức yết-ma
được áp dụng đối với các vị tỳ-kheo phạm tội, được gọi chung là Thất yết ma (Karmavc), cũng gọi là Thất chủng tác pháp hay Thất trị pháp. Bốn hình thức đầu tiên áp dụng đối với những người có sai phạm về hành vi, phải chịu sự trách phạt, kiểm chế hoặc khu biệt trong phạm vi tăng đoàn. Ba hình thức sau áp dụng với những người không đủ tín tâm, không tin theo Chánh pháp, phải chịu sự trục xuất hẳn ra khỏi tăng đoàn.
bảy loại châu báu
Seven jewels.
bảy luật bồ tát
Seven disciplines.
Bảy lậu hoặc
(Thất lậu): cũng gọi là Thất chủng hữu lậu, chỉ bảy loại phiền não lậu hoặc, gồm có kiến lậu, tu lậu, căn lậu, ác lậu, thân cận lậu, thọ lậu và niệm lậu. Bảy lậu hoặc này gồm chung hết thảy mọi phiền não lậu hoặc.
bảy lỗi lầm
Seven faults.
bảy món báu
xem bảy báu.
Bảy món báu của vị Chuyển luân Thánh vương
do phước đức của vị này chiêu cảm mà tự có, gồm: luân bảo (bánh xe báu, có thể cưỡi bay đi khắp thiên hạ), tượng bảo (voi báu), mã bảo (ngựa báu), ma-ni bảo (hạt châu như ý), nữ bảo (mỹ nhân xinh đẹp và hiền thục nhất, có thể hiểu được ý vua), tạng bảo (hay chủ tạng thần bảo, là vị quan coi giữ kho tàng có khả năng tìm ra mọi kho tàng trong thiên hạ, dưới biển sâu, để vua tùy ý tiêu dùng), binh bảo (hay chủ binh thần bảo, là vị tướng soái tài giỏi nắm giữ binh quyền, có thể giúp vua chinh phục thiên hạ).
bảy nghiệp lành của thân và khẩu
(Thân khẩu thất): bao gồm thân có ba nghiệp, khẩu có bốn nghiệp. Ba nghiệp lành của thân là: 1. Không giết hại, thường phóng sanh, cứu vớt mạng sống cho muôn loài; 2. Không trộm cắp, thường cứu giúp, bố thí những gì mình có cho tất cả chúng sanh; 3. Không tà dâm, thường tôn trọng, bảo vệ hạnh phúc gia đình của mình và người khác. Bốn nghiệp lành của miệng là: 1. Không nói dối, thường nói lời chân thật, xây dựng, tạo sự đoàn kết gắn bó và hòa hợp cho mọi người; 2. Không nói trau chuốt, nói thô tục, thường nói những lời thuận theo đạo lý, có ích; 3. Không nói hai lưỡi, đâm thọc, gây bất hòa, chia rẽ, thường nói lời hòa nhã, yêu thương; 4. Không nói lời độc ác, thường nói những lời tốt lành, hòa hợp.
bảy nguyên do phát triển bồ đề tâm
Seven causes of awakening the Bodhi-mind.
bảy pháp dứt sự tranh cãi
(thất diệt tránh pháp): là bảy phương pháp hòa giải phải được áp dụng khi có sự bất hòa hoặc tranh chấp giữa các tỳ-kheo. Nếu không tuân theo bảy phương pháp này để dứt sự tranh cãi thì xem là phạm giới.
Bảy phương tiện
Bảy thừa phương tiện để dẫn dắt tất cả chúng sinh đến chỗ giải thoát. Tuy rằng giải thoát rốt ráo chỉ có một, nhưng do căn tánh sai khác của chúng sinh mà giả lập có 7 thừa khác nhau nên gọi là phương tiện, bao gồm: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Tạng giáo Bồ Tát thừa, Thông giáo Bồ Tát thừa và Biệt giáo Bồ Tát thừa. Cả bảy thừa này đều là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh thẳng đến Phật thừa, là quả vị giải thoát rốt ráo duy nhất.
Bảy phần Bồ-đề
xem Bảy giác chi.
Bảy phần giác
xem Bảy giác chi.
bảy phần giới thanh tịnh
Giới luật do Phật chế định nhìn tổng quát có cả thảy bảy phần (thất tụ), giữ gìn trọn vẹn không phạm cả bảy phần đó gọi là bảy phần giới thanh tịnh. Bảy phần giới bao gồm các giới xếp từ nặng đến nhẹ như sau: 1. Ba-la-di, 2. Tăng tàn, 3. Thâu-lan-già, 4. Ba-dật-đề, 5. Đề-xá-ni, 6. Đột-kiết-la, 7. Ác thuyết (hay Bách chúng học pháp).
bảy thanh tịnh
Seven purification.
Bảy Thánh giác
xem Bảy giác chi.
bảy vị Phật
Từ đức Phật Thích-ca về trước có bảy đức Phật ra đời, Phật Thích-ca là vị thứ bảy. Danh hiệu các vị là: 1. Phật Tỳ-bà-thi (Phạn ngữ: Vipaśyin), 2. Phật Thi-khí (Phạn ngữ: Śikhỵ), 3. Phật Tỳ-xá-phù (Phạn ngữ: Visvabh), 4. Phật Ca-la-ca-tôn-đại (Phạn ngữ: Krakucchanda), 5. Phật Câu-na-hàm-mâu-ni (Phạn ngữ: Kanakamuni), 6. Phật Ca-diếp (Phạn ngữ: Kypa), 7. Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Phạn ngữ: Śakyamuni).
Bảy vị Tổ
(七祖, Shichiso): tùy theo mỗi tông phái mà tên gọi các vị Tổ khác nhau. (1) Bảy vị Tổ của Liên Xã thuộc Tịnh Độ Giáo Trung Quốc là Huệ Viễn (慧遠) ở Lô Sơn (盧山), Thiện Đạo (善導), Thừa Viễn (承遠), Pháp Chiếu (法照), Thiếu Khang (少康), Diên Thọ (延壽) và Tỉnh Thường (省常). (2) Bảy vị Tổ Hoa Nghiêm là Mã Minh (馬明), Long Thọ (龍樹), Đỗ Thuận (杜順), Trí Nghiễm (智儼), Pháp Tạng (法藏), Trừng Quán (澄觀), và Tông Mật (宗密). (3) Bảy vị Tổ Phú Pháp của Chơn Ngôn Tông là Đại Nhật Như Lai (大日如來), Kim Cang Tát Đỏa (金剛薩埵), Long Mãnh (龍猛, tức Long Thọ), Long Trí (龍智), Kim Cang Trí (金剛智), Bất Không (不空) và Huệ Quả (惠果). Nếu thêm Không Hải (空海, Kūkai) vào trong bảy vị này thì thành tám vị Tổ Phú Pháp của Chơn Ngôn Tông. (4) Bảy vị Tổ tương thừa của Chơn Ngôn Tông theo Thân Loan là Long Thọ (龍樹), Thế Thân (世親), Đàm Loan (曇鸞), Đạo Xước (道綽), Thiện Đạo (善導), Nguyên Tín (源信) và Pháp Nhiên (法然). Tại các Tự Viện của Chơn Tông, một bên thờ hình Thánh Đức Thái Tử, còn bên kia thờ bảy vị cao tăng này.
bảy yếu tố công đức
Seven elements of virtue.
bảy yếu tố giác ngộ
Seven elements of Bodhi.
bảy yếu tố phát triển trí huệ
Seven factors of wisdom.
bảy yếu tố ác
Seven elements of evil Ngược lại Bảy việc công đức.
Bất
不; C: bù; J: fu;|Không, không phải, không… (s: akaraṇa; t: cha ma yin pa).
bất
A, an (S). No, not, none.
bất an
Worry.
bất an ổn nghiệp
(不安穩業) Nghiệp không an ổn. Đối lại với An ổn nghiệp. Chỉ nghiệp bất thiện. Nghiệp này là nhân chịu quả báo khổ, cho nên gọi là nghiệp không an ổn. Luận Câu xá quyển 15 (Đại 29, 80 hạ), nói: Nghiệp không an ổn gọi là bất thiện, bởi nghiệp này có thể đưa đến quả báo không như ý, vì nó trái với tính an ổn.
bất biến
Constant, unchanging, uniform, invatiable.
bất biến chân như
(不變真如) Chân như không biến đổi. Đối lại với Tùy duyên chân như. Thể của chân như rốt ráo bình đẳng, không có đổi khác, nên gọi là Bất biến chân như. Tức chỉ cho chân tâm bản tính, tính Phật thường còn. Thể bất biến này theo duyên mà sinh ra các tướng trạng trong ba cõi sáu đường, gọi là Tùy duyên chân như (chân như theo duyên). Các tông Pháp tướng, Tam luận (Quyền Đại thừa) vì không chấp nhận chân như duyên khởi, nên không lập nghĩa Tùy duyên chân như. Còn các tông Hoa nghiêm, Thiên thai (Thực Đại thừa) v.v..., đối với chân như, lập hai nghĩa bất biến, tùy duyên để nói rõ chân như vốn không biến đổi, nhưng theo duyên mà tạo tác các pháp hữu vi. [X. luận Kim cương ti].
bất biến dịch tính
(不變易性) Tính không thay đổi. Tên gọi khác của chân như. Chỉ tính chất không biến đổi. (xt. Chân Như).
bất biến tuỳ duyên
(不變隨緣) I. Bất biến tùy duyên. Chân như có hai nghĩa bất biến và tùy duyên. Đây là thuyết thông dụng của tông Pháp tính. Chân như là thực thể của hết thảy các pháp, tồn tại ngoài thời gian và không gian, chẳng sinh chẳng diệt, thường trụ vô vi, gọi là bất biến. Tự tính chân như không biến đồi, nhưng lại hay theo các duyên nhơ, sạch mà toàn thể khởi động, hiển hiện muôn tượng la liệt, gọi là tùy duyên. Nói theo pháp môn của luận Đại thừa khởi tín, thì bất biến tức là Tâm chân như môn (về phương diện bản thể, tâm chân như không biến đổi) và tùy duyên tức là Tâm sinh diệt môn (về phương diện hiện tượng, tâm chân như có sinh diệt biến đổi). Tức là cùng một tâm chân như (cũng tức là tâm chúng sinh) mà được biểu hiện theo hai nghĩa bản thể và hiện tượng (tướng dụng). [X. Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. II. Bất biến tùy duyên. Đối lại với Tùy duyên bất biến. Có nghĩa là các pháp tuy do nhân duyên mà dấy sinh, nhưng thể của chúng thì không biến đổi. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng (Đại 46,709 hạ), nói: Hai chữ tâm tính không khác mà khác, nhưng nói bất biến tùy duyên gọi là tâm, tức là sự của lí. Tùy duyên bất biến gọi là tính, là lí của sự. Nay muốn ở nơi sự mà hiển bày lí, nên nêu cả hai. Chiếu theo đây mà nói thì bất biến tùy duyên gọi là Phật, tùy duyên bất biến gọi là tính.
bất bái
Lay Buddhists may not pay homage to the gods or demons of other religions; monks and nuns may not pay homage to kings or parents.
; (不拜) Không lạy. Văn Sa di thụ giới trong Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 11, 462 thượng), nói: Sau khi xuất gia, khác với thường tình, không lạy vua chúa. Vấn đề người xuất gia có nên lễ lạy vua chúa không, thì từ đời Đông Tấn trở đi đã được bàn cãi rất nhiều. Ngài Tuệ viễn ở Lư sơn đã viết Sa môn bất kính Vương giả luận (bàn việc sa môn không kính vua), chủ trương sa môn đã qui y Phật Pháp Tăng tam bảo, chí cầu Niết bàn, thì đương nhiên không cần lễ lạy vua chúa. Ngài Ngạn tông đời Đường soạn sách Tập sa môn bất ưng bái tục đẳng sự (Thu tập những việc sa môn không nên lạy người thế tục), gồm 6 quyển. [X. Ban chu tam muội kinh phẩm Tứ bối; kinh Phạm võng Q.hạ].
bất báng tam bảo giới
(不謗三寶戒) Giới không chê bai Tam bảo. Một trong mười giới cấm nặng. Là giới cấm chê bai Phật Pháp Tăng tam bảo. Tức đối với Phật Pháp Tăng tam bảo phải nên tôn trọng, không được hủy báng. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
bất bạo động
Ahimsà (S). Non-violence. Absence of cruelty.
bất chuyển
Unshakable, unmovable, resolute, constant.
bất chánh
Visata (S)Không ngay thẳng.
bất chân tông
(不真宗) Một trong sáu tông, một trong bốn giáo, một trong năm tông. Tên gọi dùng trong phán giáo. Chỉ các bộ Bát nhã nói lí tức không (bất chân=không chân thực), và giáo môn chỉ rõ tất cả các pháp đều có giả, cũng như trò ảo thuật. Trong sáu tông do ngài An lẵm lập, trong bốn giáo do ngài Đàm ẩn lập và trong năm tông do ngài Tự quĩ lập, đều có tông này. (xt. Ngũ Tông Giáo).
bất chí cảnh
(不至境) Cảnh (đối tượng) không đến (sát). Đối lại với Chí cảnh. Chỉ sắc cảnh và thanh cảnh. Trong năm căn duyên năm cảnh, thì căn mắt duyên lấy cảnh sắc, căn tai duyên lấy cảnh tiếng, căn mũi duyên lấy cảnh mùi, căn lưỡi duyên lấy cảnh vị, căn thân duyên lấy cảnh xúc (tiếp xúc). Trong đây, thể của mắt và tai phải cách xa với sắc và tiếng mới thấy và nghe được, nên gọi Bất chí cảnh (cảnh không đến sát), cũng gọi Li trung tri (cách rời nhau mới biết). Còn thể của mũi, lưỡi, thân phải tiếp xúc sát với mùi, vị, cứng – mềm – trơn – ráp v.v... mới biết được, nên gọi là Chí cảnh (cảnh đến sát), cũng gọi Hợp trung tri (tiếp hợp với nhau mới biết). [X. luận Câu xá Q.1]. (xt. Ngũ Cảnh).
bất chính thực
(不正食) I. Bất chính thực. Thức ăn không chính thức, thức ăn phụ. Phạm: khàdanìya. Dịch âm: kha đán ni, khư đà ni, khư xà ni. Dịch ý: ăn nhấm, ăn nhai. Tức thức ăn cứng, rắn, cần phải nhấm, nhai cho nhỏ rồi mới nuốt được. Cứ theo Hữu bộ tì nại da quyển 36 nói, có năm thứ không phải thức ăn chính thức là: rễ, cọng, lá, hoa, quả. Năm thứ này, ăn xong cũng không đủ no: nên gọi thức ăn không chính thức, hoặc thức ăn phụ thêm. Cũng gọi năm thứ cành, lá, hoa, quả và thức ăn nghiền nhỏ là năm thức ăn phụ, hoặc năm thức ăn nhấm, nhai. Các bộ luật cũng nêu ra năm thứ thức ăn mà người ta ăn rồi có thể no bụng, gọi là Ngũ chính thực, tức năm thứ thực vật dùng cho bữa ăn chính. Nếu đã ăn năm thứ thức ăn chính này rồi thì không được ăn thêm năm thứ thức ăn phụ nữa. Bởi thế biết bất chính thực không phải những thức ăn mà tỉ khưu bị cấm không được ăn, mà là chỉ cho các thức ăn ngoài bữa ăn chính, bởi vì những thứ này tuy có ăn mà không no bụng. (xt. Nhị Ngũ Thực). II. Bất chính thực. Chỉ cho sự ăn uống ngoài bữa ăn vào chính giờ ngọ.
Bất chính tri
不正知; C: bùzhèngzhī; J: fushōchi; S: asaṃ-prajanya; T: śes bshin ma yin.|Không sáng suốt, không có sự hiểu biết chân chính. Một trong 20 Tùy phiền não trong giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派). Tâm hành sinh khởi vọng kiến do nhận thức sai lầm vì tiếp xúc với vật một cách không đúng (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
bất chính tri
(不正知) Phạm: A-saôpranya. Tên của tâm sở (tác dụng của tâm). Chỉ tác dụng tinh thần hiểu biết sai cái cảnh được quán xét. Tức là nhận thức lầm lẫn không phù hợp với giáo nghĩa của Phật giáo. Vì trong tất cả tâm ô nhiễm đều có tâm sở bất chính tri, nên Thuyết nhất thiết hữu bộ xếp nó vào mười đại phiền não địa pháp. Tông Duy thức cho nó là một trong tám đại tùy hoặc, che lấp cái biết chân chính, dễ đưa đến hành động hủy phạm, cho nên có tác dụng làm bại hoại giới luật. Tông Câu xá thì coi nó là trí tuệ bị phiền não làm ô nhiễm, nên không thừa nhận nó là tâm sở độc lập. Còn luận Du già sư địa quyển 55 thì cho bất chính tri là một phần của Si. [X. luận Đại tì bà sa Q.42, Q.43; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6].
bất cô tửu giới
(不酤酒戒) Giới không bán rượu. Một trong mười giới cấm nặng. Là giới cấm tự mình bán rượu hoặc dạy người khác bán rượu. Vì rượu hay làm cho tinh thần người ta mê tối, tâm tính rối loạn, nên tất cả các loại rượu đều bị cấm không được bán. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
bất cọng
Not in the same class, dissimilar, distinctive, each its own.
bất cọng bát nhã
The things special to bodhisattvas in the Bát nhã kinh in contrast with the things they have in common with sràvakas thanh văn and pratyeka-buddha bích chi Phật.
bất cọng nghiệp
Varied, or individual karma; each causing and receiving his own recompense.
bất cọng pháp
Avenika-buddhadharna (S). The characteristics, achievements, and doctrine of Buddha which distinguish him from all others.
bất cọng thân
The special body of Buddha with ten characteristics: 1-Bình đẳng equal; 2-Thanh tịnh, pure; 3-Vô tận, limitless; 4-Thiện tu đắc, obtained by good deeds; 5-Hộ pháp, dharma-protective; 6-Bất khả giác tri, imperceptible; 7-Bất tư nghị, inconceivable; 8-Tịch tĩnh, quiet; 9-Hư không đẳng, as space; 10-Trí, wise.
bất cố luận tông
(不顧論宗) Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong bốn loại Tông Nhân minh. Bất cố, nghĩa đen là chẳng đoái hoài. Bất cố luận tông là Tông (mệnh đề, chủ trương) chỉ có người lập luận đồng ý, chứ không được người vấn nạn chấp nhận (đoái hoài đến). Trong Nhân minh, khi người lập luận nêu ra một vấn đề gì, mà được đối phương (người vấn nạn) chấp nhận ngay, không cần tranh cãi để tìm ra sự thật, thì là trái với qui định của luận lí Nhân minh. Nói cách khác, khi người lập luận lập Tông (đặt vấn đề), thì Tông ấy phải qua một quá trình biện luận theo đúng qui tắc của Nhân minh để thuyết phục đối phương chấp nhận, nó mới có giá trị. Cho nên, Bất cố luận tông là tông có ý nghĩa nhất trong bốn loại tông. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Tứ Tông).
bất cố tư nghiệp
(不故思業) Nghiệp không cố ý. Cũng gọi Phi cố tư nghiệp. Đối lại với Cố tư nghiệp. Tức là những nghiệp thiện ác vì vô tâm vô ý mà gây ra, chứ không phải đặc biệt suy nghĩ mưu toan trước. Nghiệp này do thân và miệng gây ra, không có công năng mang lại quả báo. [X. luận Du già sư địa Q.90; Bách pháp vấn đáp sao Q.3]. (xt. Cố Tư Nghiệp).
Bất cộng
不共; C: bùgòng; J: fugu;|Một pháp không tương hợp hay thích ứng với pháp khác. Không có sự cộng thông với các pháp khác. Có cách dùng đặc biệt chuyên môn trong thuật ngữ Bất cộng bất định (不共不定), Bất cộng vô minh (不共無明).
bất cộng
Xem Đặc thù.
; (不共) Không chung. Phạm, Pàli: àveịika. Chỉ pháp riêng biệt. Như mười tám pháp: mười lực, bốn không sợ v.v... chỉ riêng đức Phật có được, còn các bậc Thánh như A la hán v.v... chưa thể thông suốt, vì thế gọi là bất cộng pháp. Lại như thức gốc A lại da là chỗ nương chung cho các thức, cho nên gọi là cộng y. Còn sáu căn thì mỗi căn là chỗ nương riêng cho mỗi thức trong sáu thức, vì thế gọi là bất cộng y. Ngoài ra, trong các pháp, mỗi pháp đều có tính tướng riêng, gọi là tự tướng, cũng gọi bất cộng tướng; các loài hữu tình đều chuốc lấy nghiệp quả dị thục riêng, gọi là bất cộng nghiệp. Lại như phương thức lập luận của luận lí học Nhân minh, tự (người lập luận), tha (người vấn nạn) cùng thừa nhận, gọi là cộng hứa; tự, tha đều không thừa nhận, thì gọi là bất cộng hứa. [X. luận Câu xá Q.27; luận Đại tì bà sa Q.38]. (xt. Cộng Bất Cộng).
bất cộng biến
(不共變) Biến không giống nhau. Nghĩa là do nghiệp riêng của mỗi cá nhân mà biến hiện ra các cảnh không giống nhau. Như năm căn mắt tai mũi lưỡi thân v.v...
Bất cộng bát-nhã
不共般若; C: bùgòngpánruò; J: fugu han-nya;|Theo kinh Đại Bát-nhã-ba-la-mật-đa thì đây là giáo lí Tính không dành cho hàng Bồ Tát tu tập và thực chứng (theo Đại trí độ luận 大智度論).
bất cộng bất định quá
(不共不定過) Lỗi bất cộng bất định. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong sáu bất định, một trong mười bốn lỗi của Nhân trong ba mươi ba lỗi Nhân minh. Chỉ cho Nhân thiếu tướng thứ hai trong ba tướng Nhân, là lỗi Nhân không có liên quan đến đồng phẩm và dị phẩm (tức hoàn toàn không dính dáng gì đến Tông). Luận Nhân minh nhập chính lí nêu ra trường hợp Thanh luận sư đối với đệ tử Phật, lập luận thức: Tiếng nói là thường trụ (Tông, mệnh đề) vì là tính được nghe (sở văn tính) (Nhân, lí do), như hư không (đồng dụ), như cái bình (dị dụ). Trong luận thức trên đây, hai thứ đồng dụ và dị dụ đều chẳng phải tính được nghe, tức đồng phẩm và dị phẩm đều không liên quan gì với Nhân. Vả lại, ngoài hai tính thường trụ và vô thường của tiếng nói ra, cũng không pháp nào ở đây có tính được nghe. Cho nên Nhân trong luận thức này là Nhân bất định, bởi vì nó đã không quyết định được tính thường trụ của Tông (tiếng nói), mà cũng chẳng thành tựu tính vô thường của dị phẩm, tức nó có lỗi bất cộng bất định. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Thập Tam Quá, Lục Bất Định Quá, Nhân Thập Tứ Quá).
bất cộng chủng tử
(不共種子) Hạt giống riêng. Đối lại với Cộng chủng tử (hạt giống chung). Cũng gọi Bất cộng tướng chủng tử. Chỉ hạt giống có thể biến ra pháp cho một người thụ dụng. Tức là hạt giống năm căn. Thắng nghĩa căn trong năm căn không chung với người khác, cho nên là bất cộng trung bất cộng (không chung trong không chung). Phù trần căn thì người khác cũng được thụ dụng, là bất cộng trung cộng (chung trong không chung). Hạt giống của nó cũng theo đó mà khác. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Bất Cộng Tướng).
Bất cộng giáo
不共教; C: bùgòng jiāo; J: fugu kyō;|Giáo lí riêng biệt áp dụng cho một nhóm người học đạo nào đó. Thường nói đến giáo lí áp dụng cho hàng Bồ Tát, mà không áp dụng cho hàng Nhị thừa. Khác biệt với Cộng giáo.
bất cộng giáo
(不共教) Giáo không chung. Đối lại với Cộng giáo (giáo chung). Cũng gọi Bất cộng bát nhã. Chỉ giáo pháp không chung cho hàng nhị thừa mà chỉ dành riêng cho hàng Bồ tát. Theo Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp quyển thượng nói, thì Biệt giáo Nhất thừa chỉ được nói cho hàng Đại bồ tát nghe, chứ không cho hàng Thanh văn nghe chung, vì thế gọi Bất cộng giáo. tức trong hai loại bát nhã ba la mật cộng và bất cộng nói trong luận Đại trí độ, thì lấy kinh Bất tư nghị (chỉ kinh Hoa nghiêm) làm bất cộng bát nhã ba la mật. Còn tông Thiên thai chia bát nhã làm hai thứ cộng và bất cộng, trong đó, bất cộng bát nhã chỉ cho hai giáo Biệt, Viên và cho đó là ý chính của bộ Bát nhã.[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.3; luận Đại trí độ, Q.34, Q.72, Q.100; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.6; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Cộng Giáo).
bất cộng hứa
(不共許) Không cùng thừa nhận. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hứa, hàm có nghĩa là đồng ý, thừa nhận. Trong luận thức Nhân minh, điều kiện lập luận không được cả đôi bên người lập luận và người vấn nạn đều đồng ý thừa nhận, thì gọi là Bất cộng hứa. Đứng về phương diện Tông y (chủ từ và khách từ của Tông) mà bàn, trong trường hợp Cộng tỉ lượng (sự suy lí được cả người lập luận và người vấn nạn đều thừa nhận), thì hai Tông y đều phải được cả đôi bên đồng ý (cộng hứa). Còn trong trường hợp Tự tỉ lượng (luận thức chỉ do người lập luận thừa nhận), hoặc Tha tỉ lượng (luận thức chỉ do người vấn nạn thừa nhận), thì có thể cả đôi bên không đồng ý. Bất cộng hứa (không cùng thừa nhận) và Cộng bất hứa (cùng không thừa nhận), ý nghĩa có khác nhau. Người lập luận và người vấn nạn đều không thừa nhận, hoặc một bên thừa nhận, một bên không, đều là Bất cộng hứa, cho nên Cộng bất hứa chỉ là một thứ Bất cộng hứa. Thế nhưng, để phân biệt, Nhân minh gọi việc cả đôi bên không thừa nhận là Lưỡng câu bất hứa (đôi bên đều không thừa nhận), còn gọi một bên thừa nhận, một bên không thừa nhận là Tùy nhất bất hứa (theo một bên không thừa nhận). Tùy nhất bất hứa lại chia làm hai thứ: 1. Người lập luận không thừa nhận, còn người vấn nạn thừa nhận, gọi là Tự tùy nhất bất hứa (theo bên mình không thừa nhận). 2. Người lập luận thừa nhận mà người vấn nạn không thừa nhận, thì gọi là Tha tùy nhất bất hứa (theo bên người khác không thừa nhận). Cộng hứa (cùng đồng ý) tức là rất thành. Tự tùy nhất bất hứa (mình không đồng ý mà người đồng ý), nếu đứng về phương diện người đồng ý mà nói, thì có thể gọi là Tha cực thành (người rất thành). Tha tùy nhất bất hứa (mình đồng ý mà người không đồng ý), thì cũng như trường hợp ở trên, có thể gọi là Tự cực thành (mình rất thành). Người lập luận và người vấn nạn cùng đồng ý về Tiền trần (đoạn trước của Tông) là có thực, gọi là Hữu thể; cả đôi bên cùng đồng ý về Hậu trần (đoạn sau của Tông) là có thực, thì gọi là Hữu nghĩa. Đôi bên không cùng thừa nhận Tiền trần có thực, gọi là Vô thể, không cùng thừa nhận Hậu trần có thực, thì gọi là Vô nghĩa. Thể và Nghĩa ý nghĩa như nhau, chỉ vì vị trí của chúng khác nhau mà phân biệt là thể, nghĩa. Bất cộng hứa đã được chia làm Lưỡng câu bất hứa và Tùy nhất bất hứa, thì Vô thể và Vô nghĩa cũng phải chia làm hai thứ: 1. Lưỡng câu vô thể hoặc vô nghĩa (cả hai đều không có thể hoặc không có nghĩa). 2. Tùy nhất vô thể hoặc vô nghĩa (theo một bên không có thể hoặc không có nghĩa). Tùy theo một bên không có thể hoặc không có nghĩa là giống nhau, tên gọi có, không tuy trái nhau, nhưng sự kiện được ám chỉ thì là một, chỉ vì nhận xét theo góc độ bất đồng, nên tên gọi có khác. Cả đôi bên, tùy theo một bên, không có thể, không có nghĩa, tuy bày tỏ cùng đồng ý, một bên đồng ý, một bên không, nhưng chưa nêu rõ giữa người lập luận và người vấn nạn, ai đồng ý, ai không đồng ý, cho nên có thể không thể và có nghĩa không nghĩa nên chia làm bốn loại: 1. Cả người lập luận và người vấn nạn đều thừa nhận có thực, thì gọi là Lưỡng câu hữu thể hoặc hữa nghĩa. 2. Cả đôi bên đều không thừa nhận là có thực, thì gọi là Lưỡng câu vô thể hoặc vô nghĩa. 3. Người lập luận thừa nhận có thực mà người vấn nạn không thừa nhận, gọi là Tự hữu tha vô thể, hoặc Tự hữu tha vô nghĩa (mình có thể, người không có thể, hoặc mình có nghĩa, người không có nghĩa). 4. Người vấn nạn thừa nhận có thực mà người lập luận không thừa nhận, thì gọi là Tha hữu tự vô thể, hoặc Tha hữu tự vô nghĩa (người có thể mình không có thể, hoặc người có nghĩa mình không có nghĩa). [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Cộng Hứa Pháp, Nhân Minh, Cực Thành).
bất cộng hữu pháp
(不共有法) Pháp không được người lập luận và người vấn nạn cùng đồng ý là có thực. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong Nhân minh, phần sau của Tông (Khách từ, hậu trần), được cả đôi bên người lập luận và người vấn nạn đều không thừa nhận là có thực, gọi là Bất cộng hữu pháp. Cùng với Bất cộng hứa pháp, Bất cực thành pháp, tên gọi khác, nhưng thực thì giống nhau.
Bất cộng nghiệp
不共業; C: bùgòngyè; J: fugugō;|Nghiệp riêng của từng người. Nghiệp tạo tác do ảnh hưởng của cá nhân. Có nhiều dạng nghiệp khác nhau; phản nghĩa với Cộng nghiệp.
bất cộng nghiệp
Aveṇika-karman (S).
; (不共業) Nghiệp không chung. Phạm: Àveịikaka-rman. Đối lại với Cộng nghiệp (nghiệp chung). Chỉ nghiệp thiện ác riêng của mỗi hữu tình. Trái lại, nghiệp nhân chung của tất cả chúng sinh gọi là Cộng nghiệp, là pháp phi hữu tình số, có khả năng mang lại quả báo cho mình, người cùng chung thụ hưởng. Về sự tương tục của nghiệp, các nhà Duy thức lập ra Nghiệp chủng tử (hạt giống nghiệp), trong đây, gọi nghiệp chủng tử do Bất cộng nghiệp huân tập là Bất cộng chủng tử. Chủng tử này thành thục ở trong thức A lại da, nhờ sức của chúng biến hiện thành sắc căn của hữu tình. Nhưng theo luận Du già sư địa quyển 60 nói, thì sự sản sinh của các pháp vô tình (Phi hữu tình số) cũng chia ra nghiệp chung và nghiệp riêng. Còn theo Du già sư địa luận lược toản quyển 16 nói, thì những cái do nghiệp chung (cộng nghiệp) mà cảm được, như núi sông v.v... là chung trong chung, còn ruộng vườn, nhà cửa v.v... là riêng trong chung. Những cái do nghiệp riêng (bất cộng nghiệp) mà cảm được, như căn mắt trong thân mình là cái riêng trong riêng, căn phù trần v.v... cũngcó đủ nghĩa người khác thụ dụng, là cái chung trong riêng. [X. luận Thuận chính lí Q.18, Q.33; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Bất Cộng Tướng, Cộng Bất Cộng Nghiệp).
Bất cộng pháp
不共法; C: bùgòngfǎ; J: fuguhō;|1. Những đặc tính riêng của mỗi cá nhân con người. Thân thể từng người là sự thụ bẩm thông qua nghiệp riêng mà họ đã tạo; 2. Những đặc điểm riêng của đức Phật. Bất cộng Phật pháp.
bất cộng pháp
Aveṇika-Buddha-dharma (S), Pháp chẳng chung với tam thừa (như ý thức chẳng thể suy lường, ngôn ngữ chẳng thể diễn ta), là bất cng pháp.
; Pháp chẳng chung với Tam thừa (như ý thức chẳng thể suy lường, ngôn ngữ chẳng thể diễn tả, là bất cộng pháp).
; (不共法) Pháp không chung. Phạm: àveịikbuddha-dharma. Cũng gọi Bất cộng Phật pháp. Chỉ pháp công đức riêng. Là đặc chất thù thắng duy Phật và Bồ tát mới có đầy đủ, chứ phàm phu và Thanh văn, Duyên giác không có. Trong các kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa, đối với bất cộng pháp này, nói rất khác nhau. Thông thường, mười lực, bốn vô sở úy, ba niệm trụ và đại bi của đức Phật được hợp lại, gọi là Mười tám pháp bất cộng. [X.kinh Đại bát nhã Q.411; kinh Tự tại vương bồ tát Q.hạ; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ phẩm Chúc lụy; luận Đại tì bà sa Q.17; luận Đại trí độ Q.26].
Bất cộng Phật pháp
不共佛法; C: bùgòngfófǎ; J: fugu buppō;|Những đặc tính riêng Đức Phật mới có, mà chúng sinh không dự phần vào được. Thập bát pháp bất cộng.
Bất cộng sở y
不共所依; C: bùgòng suǒyī; J: fugu shoe;|Một cơ sở không thể được chia xẻ bởi thực thể khác. Cũng như Bất cộng y.
bất cộng tam muội
Aprkritsna (S), Apkritsna samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
bất cộng trụ
xem ba-la-di.
Bất cộng tướng
不共相; C: bùgòngxiāng; J: fugusō;|Đặc tính riêng biệt của một cá nhân, không chia sẻ với những chúng sinh khác được.
bất cộng tướng
(不共相) Tướng không chung. Cũng gọi Tự tướng. Đối lại với Cộng tướng (tướng chung). Nghĩa là cái tướng riêng của một người cảm được, một người thụ dụng, ví như chính báo năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân trong sắc pháp. Chủng tử nhân duyên gần của chính báo gọi là chủng tử tướng riêng, được sự giúp đỡ của chủng tử nghiệp riêng mà khởi hiện hành, tức là chính báo riêng. Loại chính báo riêng được chia làm hai thứ: riêng trong riêng và riêng trong chung. Như Thắng nghĩa căn (thực thể của năm căn) trong năm căn là chỗ nương dùng riêng cho thức của mình, chứ không dùng chung với người khác, vì thế gọi là cái riêng trong cái riêng. Phù trần căn (hình ngoài của năm căn), tuy mỗi người cũng có năm căn riêng khác nhau, nhưng thụ dụng chung với người khác, nên gọi là cái chung trong cái riêng. [X. luận Thành duy thức 1; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Cộng Tướng).
Bất cộng vô minh
不共無明; C: bùgòng wúmíng; J: fugu mu-myō;|Vô minh có một không hai. Đối lại với Tương ưng vô minh (相應無明). I. Theo Câu-xá luận, thuật ngữ nầy đề cập đến loại vô minh sinh khởi tùy theo tâm thức mà không tương ưng với 10 Tùy miên phiền não (Thập tùy miên 十隨眠). Cũng gọi là Độc đầu vô minh (獨頭無明); II. Theo Du-già hành tông thì có 2 loại Bất cộng vô minh: 1. Hằng hành bất cộng vô minh (恒行不共無明): là tên gọi loại vô minh tương ưng cùng Mạt-na thức (末那識). (Vô minh nầy được gọi là Bất cộng vì nó hoạt động tương tục, trong khi loại vô minh tương ưng với thức thứ 6 thì chịu sự gián đoạn); 2. Độc hành bất cộng vô minh (獨行不共無明): là tên gọi loại vô minh tương ưng với thức thứ 6 (vô minh nầy được gọi là bất cộng vì nó tự sinh khởi nhưng không hoạt động tương quan với bất kì một Căn bản phiền não 根本煩惱 nào khác).
bất cộng vô minh
(不共無明) Vô minh không chung. Đối lại với Tương ứng vô minh(vô minh ứng nhau). Cũng gọi Độc đầu vô minh (vô minh riêng một mình). Tức loại vô minh, khi khởi động, không tương ứng với các phiền não căn bản như tham, sân v.v.., mà khởi động riêng một mình. Tông Câu xá gọi loại vô minh khởi động không tương ứng với mười Tùy miên tham, sân v.v……... là Bất cộng vô minh. Tông Duy thức lại chia Bất cộng vô minh làm hai : 1. Hằng hành bất cộng vô minh, tức vô minh tương ứng với thức mạt ma thứ bảy. Loại vô minh này trong tất cả phàm phu, từ vô thủy đến nay, nối nhau không dứt, cùng tương ứng với ba phiền não lớn là Ngã kiến, Ngã ái và Ngã mạn, có khả năng ngăn ngại chân nghĩa trí. 2. Độc hành bất cộng vô minh, chỉ cho vô minh tương ứng với thức thứ sáu, nhưng không tương ứng với các phiền não căn bản tham, sân v.v... mà đi một mình (độc hành). Độc hành bất cộng vô minh lại nương với các Tùy phiền não phẫn, hận v.v... mà có cùng khởi, không cùng khởi khác nhau. Loại không cùng khởi với các Tùy phiền não, gọi là Chủ độc hành bất cộng vô minh. Trái lại, khi cùng khởi với các Tùy phiền não, thì gọi là Phi chủ độc hành bất cộng vô minh. [X. luận Thành duy thức Q.5, Q.6; luận Câu xá Q.10, Q.19; Câu xá luận quang kí Q.4; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Vô Minh).
Bất cộng y
不共依; C: bùgòngyī; J: fugu e;|Một cơ sở không thể được chia xẻ bởi một thật thể khác. Ví dụ, Mạt-na thức (s: manas) trong nhiều trường hợp, có sự khác biệt căn bản với Ý thức (s: mano-vijñāna).
bất cửu nghệ đạo trường
(不久詣道場) Không lâu đến đạo tràng. Nghĩa là chẳng bao lâu nữa sẽ thành Phật. Kinh Pháp hoa phẩm Phân biệt công đức (Đại 9, 46 trung), nói: Lại phải nghĩ rằng, không lâu đến đạo tràng, được vô lậu vô vi, làm lợi ích rộng lớn cho người, trời.
bất cực thành
(不極成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Cực thành, hàm ý là rất mực thành tựu, thành tựu đến tột bậc. Bất cực thành, là không thành tựu một cách rốt ráo. Theo phương thức lập luận trong Nhân minh, cái Tông (mệnh đề, chủ trương) được nêu ra, nếu không được cả đôi bên người lập luận và người vấn nạn cùng thừa nhận là cái tồn tại thực tế, thì gọi là Bất cực thành. Bất cực thành với bất cộng hữu, bất cộng hứa, chỉ khác tên gọi mà thực thì giống nhau. Phàm tông pháp năng biệt tất phải là pháp bất cực thành mà người lập luận và người vấn nạn đều không thừa nhận. (xt. Cực Thành).
Bất diệt
不滅; C: bùmiè; J: fumetsu; S: aniruddha, anirodha.|Không chấm dứt, không thể hoại diệt (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
bất diệt
Amatapada (S), Amāra (S), Śaṣvat (S), Sassata (P), Sanāta (S), Sanātana (P), Fumetsu (J), Eternal, Perpetual, The deathless stateVĩnh cữu.
; Anirodha (S). Indestructible; immortal; everlasting, undying, imperishable. Học thuyết bất diệt, doctrine of immortality.
bất do ư tha, không dựa vào người khác
Aparapraneya (S). Not relying on others.
bất dung
Intolerable; inexcusable; impardonable, unforgivable.
bất duyệt
(不悅) Không vui thích. Tên gọi hữu tình khi vũ trụ mới thành lập. Vì thời bấy giờ, chúng sinh thấy mùi vị của đất dần dần tiêu mất, lòng không vui thích, nên gọi là Bất duyệt.
bất dụng xứ
Akicanyāyatana (S).
Bất dữ thủ
不與取; C: bùyǔqǔ; J: fuyoshu;|Lấy vật mà người khác không cho. Một dạng của trộm cắp (thâu đạo 偸盜). dạng thứ ba trong Thập ác (十惡).
bất dữ thủ
(不與取) Không cho mà lấy. Phạm:a-dattàdàna. Một trong mười đường nghiệp ác. Nghĩa là người ta không cho mà mình tự lấy, tức chỉ hành động trộm cắp. Cấm không cho mà lấy, gọi là Bất dữ thủ giới, là giới thứ hai trong năm giới. [X. luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
Bất giác
不覺; C: bùjué; J: fukaku;|1. Không giác ngộ; 2. Phiền não căn bản đối nghịch với Bản giác, nguyên nhân gây ra sự hạn chế khả năng nhận ra bản tính của tâm chính là chân như của chúng sinh. Đây là một khái niệm cơ bản trong Đại thừa khởi tín luận.
bất giác
Unawareness.
; Anavabodha (S). Unenlightened, uncomprehending, without "spiritual" insight.
; (不覺) I. Bất giác. Không tỉnh biết. Đối lại với Giác. Không đủ trí sáng để thấu suốt chân tướng của muôn vật. Tức cũng hàm ý là vô minh thình lình dấy lên. Luận Đại thừa khởi tín chia thức A lại da làm hai nghĩa giác và bất giác. Bất giác lại có thể chia làm hai thứ: căn bản bất giác và chi mạt bất giác. Căn bản bất giác, nghĩa là vì vô minh che lấp mất chân tính, nên chúng sinh hoàn toàn không biết gì về chân như, vốn là pháp một vị bình đẳng. Còn chi mạt bất giác là do căn bản bất giác sinh ra, nên chúng sinh mới chấp bậy các pháp, rồi từ đó dấy lên ba tướng nhỏ, sáu tướng thô, như: nghiệp tướng, chuyển tướng v.v... Như vậy, từ căn bản bất giác sinh ra chi mạt bất giác, rồi nương nơi chi mạt bất giác mà dấy sinh các nghiệp phiền não, để phải chịu cái khổ sống chết trôi lăn. (xt. Giác). II. Bất giác. Một trong bốn giai vị của Thủy giác. Những người ngoại phàm thuộc ngôi Thập tín, tin lí nhân quả thiện ác, niệm trước nghĩ ác liền biết, nên niệm sau không khởi ác. Nghĩa là giai vị này tuy có một phần giác, nhưng hãy chưa biết gì về phiền não, cho nên gọi là bất giác. Tức tuy biết lí nghiệp quả, nhưng chưa sinh khởi trí dứt phiền não, cho nên gọi bất giác, là tướng diệt của tâm giác. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung]. (xt. Thủy Giác).
bất giác hiện hành vị
(不覺現行位) Chỉ địa đầu tiên và địa thứ hai trong mười địa. Hai địa này tuy đã ở vào ngôi vị của bậc Thánh, nhưng tự nhiên còn dấy sinh phiền não, vì thế có tên như trên.
Bất hoà hợp tính
不和合性; C: bùhéhéxìng; J: fuwagōshō; S: asāmagrī;|Không hoà hợp, không tương ưng. Một trong 24 tâm Bất tương ưng hành pháp theo giáo lí của tông Duy thức. Đối lại là Hoà hợp tính. Một pháp tạm thời đề cập đến khả năng của mọi loại hữu tình trong sự chia chẻ, đối kháng và can thiệp vào nhau.
bất hoà hợp tính
(不和合性) Phạm:a-sàmagrì. Cũng gọi Dị tính (tính khác). Đối lại với Hòa hợp tính. Là một trong 24 pháp Tâm bất tương ứng hành của tông Duy thức. Bất hòa hợp tính là cái năng lực hoặc tính chất làm trở ngại các duyên hòa hợp khiến cho các pháp không sinh ra được. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Du già sư địa Q.3, Q.56; luận Đại thừa bách pháp minh môn].
Bất hoàn
xem A-na-hàm và Bốn quả thánh.
; 不還; C: bùhuán; J: fugen; S, P: anāgāmin; cũng được dịch âm là A-na-hàm;|Không trở lại, phiên âm từ tiếng Phạn là A-na-hàm (阿那含). Là 1 giai vị tu đạo của hàng Thanh văn, khi đạt đến quả vị thứ 3 trong Tứ quả (四果), là khi đã được tự tại đối với sinh tử trong cõi Dục (Dục giới 欲界). Quả vị nầy được chia làm hai giai đoạn: thể nhập vào giai vị, gọi là Bất hoàn hướng (不還向); hoàn tất các công hạnh tu tập rồi, gọi là Bất hoàn quả (不還果). Còn được dịch là Bất lai (不來).
bất hoàn
Phyir mi'ong (T), Agamiphala (S), Non-returner Anāgāmin (S).
Bất hoàn hướng
不還向; C: bùhuánxiàng; J: fugenkō;|Thể nhập vào quả vị Bất hoàn.
bất hoàn hướng
(不還向) Phạm: anàgàmi-phala-pratipanna. Cũng gọi A na hàm hướng. Một trong bốn hướng thuộc thừa Thanh văn. Hướng, nghĩa là hướng tới. Quả thứ hai trong bốn quả Thanh văn là quả Nhất lai; những người thuộc quả này một lòng hướng tới quả Bất hoàn, nên gia công gắng sức tu hành, khi dứt được bảy phẩm, tám phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, thì gọi là Bất hoàn hướng. [X. Trung a hàm Q.30 kinh Phúc điền; luận Đại trí độ Q.22]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).
Bất hoàn quả
不還果; C: bùhuánguǒ; J: fugenka;|Hoàn tất các công hạnh tu tập của quả vị Bất hoàn rồi. Bất hoàn.
bất hoàn quả
Xem A na hàm quả vị.
; (不還果) Phạm: Anàgàmin. Dịch âm: A na hàm. Chỉ bậc Thánh quả thứ ba trong bốn quả Thanh văn. Bậc này đã dứt trừ chín phẩm Tư hoặc ở cõi Dục, không còn chịu sinh ra lại ở cõi Dục nữa, nên gọi là Bất hoàn (không trở lại). Còn chia làm bảy thứ Bất hoàn, chín thứ Bất hoàn, bảy Thiện sĩ thú v.v... [X. luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.24]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).
bất hoạch
(不獲) Không thu được. Phạm: a-làbha. Cũng gọi Phi hoạch. Một trong Phi đắc. Tức chưa thu hoạch pháp chưa từng được, cũng gọi Sơ niệm chi phi đắc. Luận Thuận chính lí quyển 12 nói, phi đắc (chẳng được) có hai thứ: trước kia chưa từng được và từng được rồi nay đã mất. Trước kia chưa từng được gọi là Bất hoạch; từng được rồi nay đã mất gọi là Bất thành tựu. Nhưng luận Câu xá quyển 4 và Câu xá luận quang kí quyển 4 thì cho rằng, cái chưa từng được mà nay được, hoặc cái đã mất mà nay được, gọi là hoạch; cái chưa từng mất mà nay mất, hoặc đã được rồi mà nay mất, gọi là bất hoạch. [X.luận Đại tì bà sa Q.157; Câu xá luận bảo sớ Q.4; Thành duy thức luận diễn bí Q.2 phần đầu]. (xt. Phi Đắc, Đắc).
Bất hoại
不壞; C: bùhuài; J: fu-e; S: abhinna, abheda, avināśitva.|1. Không thể huỷ hoại được (s: abhinna, abheda, avināśitva); 2. Giai vị thứ 2 của 10 bậc trong Thập hồi hướng (十廻向) của Bồ Tát đạo. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派) thì đây là giai vị khi Bồ Tát nhận ra tính Không một cách dễ dàng không cần phải phân tích sự hiện hữu.
bất hoại
Ajara (S), Akkhaya (P), Undecaying.
bất hoại cú
(不壞句) Câu không hủy nát. Chỉ cho chữ A trong Mật giáo. Vì chữ A tượng trưng cho thể tính kim cương bất hoại, nên có tên này. Kinh Đại nhật quyển 2 (Đại 18, 10 hạ), nói: Hành giả suy nghĩ về chữ A cho kĩ, sẽ đuợc bất hoại cú (tức thể tính kim cương không hủy nát).
bất hoại kim cương
(不壞金剛) Chất báu kim cương cứng chắc, không một sức nào bên ngoài có thể phá nát được nó.
bất hoại kim cương quang minh tâm điện
(不壞金剛光明心殿) Chỉ nơi nói pháp của đức Đại nhật Như lai trong Kim cương giới Mật giáo. Bất hoại kim cương là lời khen ngợi chung về thân thường trụ của các vị tôn; Quang minh tâm là khen ngợi tính đức giác ngộ của tâm các Ngài. Điện là chỉ thân tâm nương ở lẫn nhau. Trong năm trí, Quang minh tâm phối với Thành sở tác trí, nghiệp dụng của ba mật đều từ đây sinh ra. [X. luận Biện hiển mật nhị giáo Q.hạ].
bất hoại pháp
(不壞法) I. Bất hoại pháp. Chỉ Niết bàn. Là pháp không bị bất cứ sự vật gì phá hoại được. [X. kinh Tạp a hàm Q.2]. II. Bất hoại pháp. Chỉ người lợi căn thành tựu quả A la hán. Khi người lợi căn tu quán xương trắng, nếu không khởi phép quán thứ 9 là Thiêu tưởng (quán tưởng xương bị đốt), thì được thấy từ trong xương phóng ra ánh sáng tám mầu, rồi tu luyện tiếp mà được thần thông..., gọi là Bất hoại pháp. (xt. Hoại Pháp Bất Hoại Pháp).
bất hoại tướng
(不壞相) Tướng không nát. Một trong chín bậc Vô học, một trong 27 Hiền thánh. Vì các thứ nhân duyên không làm hư nát được các tam muội mà bậc A la hán này đã chứng được, nên gọi là Bất hoại tướng. Tức là loại Bất động pháp A la hán nói trong kinh Phúc điền của Trung a hàm quyển 30. [X. luận Thành thực Q.1 phẩm Phân biệt hiền thánh]. (xt. Cửu Vô Học, Nhị Thập Thất Hiền Thánh).
bất hoại tứ thiền
(不壞四禪) Cõi Tứ thiền không bị hủy nát. Người ở cõi trời Tứ thiền, bên trong thì tâm định, giác quan không hủy nát, bên ngoài thì khí giới (thế giới tự nhiên) của họ không bị ba tai họa (lửa, nước, gió) phá hoại.
bất hoạt uý
(不活畏) Sợ không sống được. Cũng gọi Bất hoạt khủng bố. Một trong năm sự sợ hãi. Người mới tu hành tuy làm việc bố thí, nhưng còn nghĩ đến mình, còn thương thân mình, sợ sau khó giữ được kế sống, cho nên thường tích chứa để giành của cải, chưa dám cho hết những gì mình có, như thế gọi là Bất hoạt úy. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.34]. (xt. Ngũ Bố Úy).
bất huệ
(不慧) I. Bất tuệ. Không có trí tuệ, không có tài năng. Sách Liệt tử thiên Thang vấn nói: Quá lắm! Ngươi là kẻ bất tuệ! II. Bất tuệ. Tiếng nói nhún của tăng sĩ, cũng như những tiếng Bần tăng, Bần đạo v.v...
Bất hành nhi hành
不行而行; J: fugyō-ni-gyō;|Là »Không làm nhưng vẫn làm«. Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ những hành động không có tác ý, không để lại dấu vết gì trong tâm của người làm.|Bất hành nhi hành là một cách làm không có sự tính toán trước – tuỳ cơ ứng biến – nhưng lúc nào cũng phù hợp với thời điểm, lúc nào cũng đúng. Một yếu tố cần thiết để đạt được trình độ này chính là sự phát triển Ðịnh lực, nhưng chỉ có định lực thôi cũng không đủ để đạt đến trình độ »Bất hành nhi hành«. Hành giả cần phải giữ tâm trạng không vướng mắc vào những kết quả của những hành động của mình, nói một cách khác: không tự biết mình làm, không tự biết rằng có »ta« thực hiện và có »một vật« được hoàn tất. Không có kinh nghiệm Kiến tính thì không ai có thể thực hiện những điều kiện trên.|Tuy nhiên, trạng thái bất hành nhi hành nêu trên không phải là một cái gì riêng tư, một phát minh của Thiền tông. Các hiền triết của đạo Lão (Lão Tử, Trang Tử) cũng đã đề cao tâm trạng này và gọi nó là »Vô vi« nghĩa là »không làm«. Biểu thị »Vô vi« đã gây không ít sự hiểu lầm cho các nhà triết học phương Tây và vì vậy cũng có lúc họ kết luận sai lầm rằng, các hiền triết phương Ðông chỉ chuộng cái tĩnh tịnh, sự im lặng mà bỏ quên cái động, một mặt khác của sự thật.
bất hành nhi hành
(不行而行) Không tu hành mà tu hành. Chỉ sự tu hành đã thấu suốt lí chân như. Lí chân như bình đẳng không có tướng, ngầm hợp với lí không tướng này mà tu hành, thì tức là không cố tâm cố ý hành mà vẫn tự khế hợp với hành, gọi là bất hành nhi hành. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ nói, thì chân như là thể chính của các pháp, thể đã như mà hành, thì là chẳng hành; hành mà chẳng hành, gọi là như thực tu hành. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
bất hòa
Disharmony.
bất hư tác trụ trì công đức
(不虛作住持功德) Công đức chân thực không hư dối. Cũng gọi Bất hư tác công đức. Là một trong tám thứ công đức trang nghiêm của đức Phật A di đà thuộc 29 thứ trang nghiêm của cõi Tịnh độ cực lạc. Nghĩa là sức nguyện của đức Phật A di đà không hư dối, có thể làm tràn đầy biển báu công đức to lớn của hành giả quán tưởng Phật một cách nhanh chóng. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinh luận chú Q.thượng].
Bất hưu tức
不休息; C: bùxiūxí; J: fukusoku;|1. Tự mình tu tập tinh cần không lơi lỏng; 2. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.
bất hưu tức bồ tát
Aniksiptadhura (S).
Bất hại
不害; C: bù hài; J: fugai; S, P: ahiṃsā; cũng gọi Bất sát sinh (不殺生; pāṇāṭipātā paṭivirati, pāṇāṭipātā veramaṇī);|I. Một trong những tư tưởng, giới luật quan trọng nhất của đạo Phật.Tư tưởng Bất hại lúc nào cũng giữ một vai trò quan trọng trong các tôn giáo Ấn Ðộ thời trước Phật Thích-ca nhưng Ngài – cùng với một vị giáo chủ ngoại đạo là Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử (p: nigaṇṭha nātaputta) – là người đầu tiên hệ thống hoá và dùng lí thuyết tâm lí để chứng minh, lấy nó làm cơ bản cho tư tưởng này. Từ đó, tư tưởng Bất hại đã trở thành một nguyên lí đạo đức vô song trong các tôn giáo Ấn Ðộ, đặc biệt trong tất cả các trường phái Phật giáo.|Về mặt tâm lí, đạo đức thì lí do chính vì sao mọi người nên thực hành đạo lí Bất hại rất đơn giản: bởi vì ai cũng yêu quý cuộc sống của chính mình, không muốn bị hành hạ hoặc giết hại. Từ tình yêu thương chính mình, lấy đó suy ra hoàn cảnh của tất cả các động vật khác (Hữu tình), không kể là người hay là thú, là con voi hoặc con kiến, đặt mình vào trạng thái của chúng sinh và cảm nhận tình trạng đó, người ta sẽ từ bỏ việc sát hại. Tư tưởng Bất hại của đạo Phật được giải nghĩa bằng lí luận nêu trên. Ðức Phật thuyết trong kinh Pháp cú (p: dhammapada, 129; bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh):|Hình phạt ai cũng sợ|Mất mệnh, ai cũng khiếp|Lấy ta suy ra người|Chớ giết, chớ bảo giết|Như vậy, tư tưởng Bất hại xuất phát từ lòng Bi (s, p: karuṇā) và lòng Từ (s: maitrī; p: mettā) đối với tất cả chúng sinh. Ai có lòng từ bi, người đó không bao giờ sát hại. Mặt khác, tư tưởng Bất hại cũng mang lợi ích, niềm vui cụ thể cho chính người thực hành, không chỉ là niềm »vui cùng với người« và niềm vui về việc đã thực hiện, một »hành động cao quý« nhất thời. Về mặt này thì đạo Phật có quan niệm khác với những tôn giáo khác. Theo luật nhân quả (Nghiệp, s: karma) thì người làm lành, không giết hại sẽ gặp hạnh phúc và không bị hại. Từ đó người ta có thể suy ngược lại rằng, ai ôm ấp tư tưởng sát hại, không có lòng từ bi sẽ tự đưa mình đến những hoàn cảnh bất hạnh. Ðức Phật trình bày rất rõ trong kệ thứ năm và 225 của Pháp cú kinh (bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh):|*Hận thù diệt hận thù|Ðời này không thể có|Từ bi diệt hận thù|Là định luật nghìn thu|*Hiền sĩ không sát hại|Ðiều phục thân mệnh hoài|Ðạt cảnh giới bất tử|Giải thoát hết bi ai|Vì những lí do nêu trên mà tăng ni trong phần lớn các tông phái Phật giáo cũng như nhiều Phật tử tại gia đều ăn chay.|II. Một trong 10 Đại thiện địa pháp theo A-tì-đat-ma Câu-xá luận, là 1 trong 10 Thiện tâm sở trong giáo lí của Du-già hành phái. Là tâm sở pháp không hãm hại loài khác. Theo giáo lí Duy thức, Bất hại chỉ là danh xưng giả lập từ tâm sở Vô sân (無瞋), nó sinh khởi tùy theo tác dụng của Vô sân.
bất hại
Avihiṃsa (S), Non-violence. Harmless-ness (S, P)Tác dụng không làm tổn hại người khác. Một trong 10 Đại thiện địa pháp trí.
; Ahimsà (S). Harmlessness, not injuring, doing harm to none.
; (不害) Phạm: ahiṃsā. I. Bất hại. Không giết hại, làm thương tổn tất cả sinh vật. Là tư tưởng cơ bản của tôn giáo, luân lí và đạo đức Ấn độ. Tư tưởng này bắt đầu từ thời đại Cổ áo nghĩa thư (Khương đa quí áo nghĩa thư III, 17 v.v...) và là đặc sắc mà các giáo thuyết ở Ấn độ đều có. Trong Phật giáo, Chính nghiệp trong tám Chính đạo là giáo nghĩa căn bản của Phật giáo nguyên thủy đã nói rõ về Bất hại, giới đầu trong năm giới là giới không được giết hại. Tám trai giới, mười giới của sa di và sa di ni, ba la đề mộc xoa (Phạm: pràtimokwa, Pàli: pàỉimokkha) của tỉ khưu và tỉ khưu ni đều có qui định nghiêm khắc. Trong các Pháp sắc (sắc lệnh dùng Phật pháp để răn dạy) của vua A dục cũng đề cao Bất hại; trong các kinh luận của Phật giáo Đại thừa, như kinh Phạm võng, luận Đại trí độ v.v... ghi chép rất nhiều, không thể kể hết. Phật giáo Trung quốc và Phật giáo Nhật bản chịu ảnh hưởng rất sâu, tiêu biểu là các nghi thức phóng sinh. Kì na giáo chủ trương muôn vật đều có linh hồn, cho nên giữ giới không giết hại một cách cực đoan. Điều thứ nhất trong giới Đại thệ là giới không giết hại. Ân độ giáo cũng có giáo lí luân hồi chuyển sinh, linh hồn bất diệt, nên đã đưa ra quan niệm Sự sống của muôn vật đều là một thể và nêu cao lí tưỏng không làm thương tổn tất cả sinh vật. [X. kinh Tạp a hàm Q.28]. II. Bất hại. Tên tâm sở. Một trong 75 pháp thuộc tông Câu xá, một trong 100 pháp thuộc tông Duy thức. Đối lại với Hại, là tác dụng tinh thần không làm tổn não người khác. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Bất hại có thể riêng biệt, thuộc một trong mười Đại thiện địa pháp. Nhưng các nhà Duy thức đại thừa thì cho rằng, Bất hại là dựa trên tác dụng Vô sân mà giả đặt, chứ không lập thể riêng biệt và là một trong 11 thứ Thiện tâm sở. Luận Thành duy thức quyển 6 nói, nghĩa của Vô sân và Bất hại có khác nhau: Vô sân là ban vui, thuộc tính chất từ (hiền lành), Bất hại là cứu khổ, thuộc tính chất bi (thương xót). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Câu xá Q.29; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Thuận chính lí Q.11].
bất hại tưởng
Avihiṃsa-saṃjā (S).
bất hạnh
Xem Bất tịnh, Gian truân
; Upàyàsa (S). Grief, tribulation.The indivisible, or middle way trung đạo.
bất hệ định
(不系定) Bất hệ, nghĩa là không trói buộc, chỉ cho vô lậu xuất thế gian. Bất hệ định là định vô lậu xuất thế gian. Đối với các thiền định trong ba cõi mà nói, thì định vô lậu ở cõi Tứ thiền và Tứ vô sắc của các bậc Thánh Tứ hướng Tứ quả là Bất hệ định. [X. luận Thanh tịnh đạo 3].
bất hối
Avippatisara (S).
bất hồi hướng
(不回向) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Môn Tịnh độ lập ra hai thứ hồi hướng là: Vãng tướng hồi hướng (nguyện đem công đức đã tu hồi hướng đạo Bồ đề để được sinh về Tịnh độ) và Hoàn tướng hồi hướng (nguyện sau khi thành Phật trở lại vào vòng sống chết giáo hóa hết thảy chúng sinh). Nhưng, Tịnh độ Chân tông thì chủ trương, chỉ cần một niềm tin chí thành, tha thiết là hai thứ hồi hướng trên đều do đức Phật A di đà hồi hướng cho người tu hành, chứ người tu hành thì không cần phải hồi hướng, nên gọi là Bất hồi hướng. Bất hồi hướng là pháp tha lực, hiển bày chỗ cùng tột của tha lực; bởi thế, niệm Phật tha lực (tuyệt đối tin tưởng vào sự cứu vớt của Phật A di đà) gọi là Bất hồi hướng pháp. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập; Giáo hành tín chứng Q.2; Chính tượng mạt hòa tán].
bất khinh chi hành
(不輕之行) Hạnh không dám coi khinh. Nghĩa là bắt chước hạnh của bồ tát Thường bất khinh, gặp ai cũng lễ lạy cung kính và khen ngợi (Đại 9,185 thượng), nói : Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật.
Bất Không
(s: Amoghavajra, j: Fukū, 不空, 705-774): ông sanh ra ở Tây Vức, cha xuất thân dòng dõi Bà La Môn ở Bắc Ấn, mẹ là người Khương Quốc; đến năm 13 tuổi thì được chú dẫn đến Trường An (長安). Ông theo xuất gia và thọ giới với Kim Cang Trí (s: Vajrabodhi, 金剛智), chuyên học Mật Giáo thuộc hệ Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經). Sau khi thầy qua đời, ông qua Ấn Độ, mang về hơn 500 bộ kinh luận, chuyên tâm phiên dịch rất nhiều kinh điển Mật Giáo. Ông được 3 đời vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756), Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762), Đại Tông (代宗, tại vị 762-779) tín kính, xem Mật Giáo như là tôn giáo hộ quốc; cho nên ông đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hình Mật Giáo trong xã hội Trung Quốc. Hai bộ Chơn Thật Nhiếp Kinh (眞實攝經) và Lý Thú Kinh (理趣經) do ông phiên dịch là những kinh điển trọng yếu đối với mật Giáo Nhật Bản. Ông là thầy của Huệ Quả (惠果) và Không Hải (空海, Kūkai) cũng rất kính ngưỡng ông. Ông được xem như là vị tổ phú pháp thứ 6 và tổ truyền trì thứ 4 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.
Bất không
不空; C: bùkōng; J: fukū;|1. Chẳng phải Không (s: aśūnya); 2. Tên người (s: amoghavajra); Bất Không Kim Cương (不空金剛).
bất không
(不空) (705-774) Phạm: Amoghavajra. Cũng gọi Bất không kim cương. Nhà dịch kinh ở đời Đường và là người được truyền pháp làm vị tổ thứ sáu của Mật giáo. Sư là người nước Sư tử (Tích lan), ở mạn nam Ấn độ. Người rất thông minh, lúc nhỏ sư theo chú đi qua các nước vùng biển nam, về sau xuất gia. Năm 14 tuổi sư theo Tam tạng Kim cương trí học chương Tất đàm, tụng trì kinh chữ Phạm. Năm 16 tuổi, sư vượt biển Nam đến Lạc dương vào năm Khai nguyên thứ 8 (720) đời vua Huyền tôn nhà Đường. Có thuyết nói sư là con của Bà la môn ở miền bắc Thiên trúc, mồ côi từ nhỏ, theo chú đến Vũ uy, Thái nguyên, sau thờ ngài Kim cương trí làm thầy. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Quảng phúc tại Lạc dương vào năm Khai nguyên 12. Sư thông minh hơn người, rất được thầy quí trọng, hiểu thấu hết các pháp năm bộ ba mật. Khi ngài Kim cương trí thị tịch, vâng theo lời thầy dạy, sư về Ấn độ cầu pháp, rồi cùng với các sư Hàm quang, Tuệ biện đáp thuyền đi Tây trúc, qua Quảng phủ, Ha lăng đến Tích lan, theo A xà lê Phồ hiền (có thuyết nói A xà lê Long trí) nhận lãnh 18 hội Kim cương đính du già và Đại tì lô giá na đại bi thai tạng, mỗi thứ mười vạn bài tụng, năm bộ Quán đính, Chân ngôn bí điển, hơn năm trăm bộ kinh luận tiếng Phạm, đồng thời, được truyền các ấn bí mật, văn nghĩa chữ tính tướng của chư tôn, rồi sư đi khắp năm xứ Ấn độ. Vào năm Thiên bảo thứ 5 (746), sư trở về kinh đô, làm phép Quán đính cho vua Huyền tôn và trụ trì chùa Tịnh ảnh. Vì sư cầu mưa linh nghiệm, nên được vua ban hiệu là Trí tạng và ban áo đỏ. Khi An lộc sơn và Sử tiêu minh làm phản, sư đến ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an tu phép Nhương tai (cầu thoát khỏi tai nạn). Đến khi Trường an bị phá, Huyền tôn đến Thành đô lánh nạn. Vua Túc tôn lên ngôi ở Linh vũ, lúc ấy sư tuy ở trong vùng loạn quân, nhưng nhiều lần sư sai sứ bí mật dâng thư cho Túc tôn để thăm hỏi và bày tỏ lòng trung thành của sư. Túc tôn cũng bí mật sai sứ đến cầu đại pháp nơi sư. Thời vua Đại tôn, sư đặc biệt được phong chức Hồng lô khanh và ban hiệu Đại quảng trí tam tạng. Sư từng thiết lập đạo tràng Mật giáo trên núi Ngũ đại thuộc tỉnh Thái nguyên để mở rộng hoạt động tuyên dương Mật giáo. Năm Đại lịch thứ 6 (771) sư dâng biểu trình 77 bộ 101 quyển kinh và một quyển mục lục đã được dịch từ năm Khai nguyên và xin vua cho đưa những kinh này vào Đại tạng. Giữa tháng 6 năm Đại lịch thứ 9, sư biết trước thời giờ đã đến, dâng biểu từ biệt vua và dâng kim cương linh chử năm chẽ (cái chuông nhỏ hình cái chày kim cương) rồi nằm nghiêng mà tịch, thọ 70 tuổi. Sư được truy tặng chức Tư không, thụy hiệu Đại biện chính, tháp thờ xá lợi của sư được xây tại chùa Đại hưng thiện. Sư cùng với các ngài Cưu ma la thập, Chân đế, Huyền trang, được gọi là bốn nhà phiên dịch lớn, có công rất to trong việc tổ chức đối chiếu và xác lập âm vận một cách chặt chẽ giữa chữ Phạm và chữ Hán. Lại cùng với các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí, được gọi là ba vị Đại sĩ thời Khai nguyên. Đệ tử nối pháp của sư gồm: Hàm quang, Tuệ siêu, Huệ quả, Tuệ lãng, Nguyên kiểu và Giác siêu, trong đó, Huệ quả được chính truyền làm tổ thứ 7. [X. Tống cao tăng truyện Q.1; Biểu chế tập Q.1, Q.6; Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí Q.thượng, Q.hạ; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng].
bất không câu quán tự tại bồ tát
Amoghāṇkuśa (S)Bất Không Câu Quán Tự Tại Bồ tátTên một vị Bồ tát. Xem Bất không câu pháp Tự tại Bồ tát.
; (不空鈎觀自在菩薩) Bất không câu, Phạm: Amoghàíkuza. Vị Bồ tát được bày ở đầu cực tây hàng dưới trong viện Hư không tạng trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Bản thệ của vị Bồ tát này là đem lòng đại từ bi dẫn dắt chúng sinh, hay móc nối (Câu: cái móc, dịch theo nghĩa đen) thánh trí của chư Phật vào tâm chúng sinh và móc nối hết thảy Bất Không chúng sinh vào cảnh giới của chư Phật, ý định của ngài quyết định chẳng không (Bất không). Mật hiệu là hóa hiện Kim cương, chủng tử la (sa), hoặc (dhi), hình tam muội da là cái móc trên hoa sen (cái móc dựng trên hoa sen). Theo Bí tạng kí nói, thì vị tôn này có bốn mặt bốn tay, mình màu da người, hai tay bên trái: một tay cầm móc dựng trên hoa sen, một tay cầm giây lụa; hai tay bên phải: một tay cầm móc, một tay cầm chày phả chiết la ba chẽ. Còn cứ theo Thai tạng giới thất tập quyển trung, thì vị tôn này chính là bồ tát Hạnh tuệ (quyến thuộc của bồ tát Hư không tạng) nói trong kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Cụ duyên và trong Đại nhật kinh sớ quyển 5 v.v... Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư quyển 5 thì cho vị tôn này và bồ tát An trụ tuệ là một vị tôn. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Phổ thông chân ngôn tạng,Q.4 phẩm Mật ấn; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.2; Chư thuyết bất đồng kí Q.6] .
bất không câu y bồ tát pháp
(不空鈎依菩薩法) Là phép tu của bồ tát Bất không câu quan âm. Cứ theo Tống cao tăng truyện quyển 1 chép thì vào năm Khai nguyên thứ 7 (719) đời Đường, từ tháng một đến tháng năm trời không mưa, ngài Kim cương trí nương theo phép Bất không câu y bồ tát lập đàn tràng, đích thân vẽ tượng bồ tát Thất câu chi, cầu mưa giải hạn.
bất không cúng dường bảo bồ tát
Āryamogha-PŪrṇamṇi (S)Tên một vị Bồ tát.
Bất Không Cúng Dưỡng Bảo Bồ Tát
(不空供養寶菩薩) Bất không cúng dường bảo, Phạm: Àryàmogha-pùja-maịi. Cũng gọi Bất không cúng dường bồ tát, Cúng dường bảo bồ tát. Là vị tôn thứ năm ngồi ở phía nam trong viện Tô tất địa trên Hiện đồ thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Vị Bồ tát này chỉ có một hạnh nguyện là đem công đức trí tuệ Tô tất địa quí báu ban phát cho chúng sinh trong pháp giới. Mật hiệu là Như ý kim cương, chủng tử là (oô), hìnhtam muội da là ngọc báu hoặc chày ba chẽ. Thân ngài màu da người, hai bên có bốn tay, mỗi tay cầm một vật: hoa sen (trên có đặt ngọc báu), giây lụa, thanh ngươm, kích ba chẽ, ngồi xếp bằng trên đóa hoa sen đỏ. [X.Thanh long nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.5; Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.6; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3].
bất không kim cang
Amoghavajra (S)Nhà sư Ấn độ qua Trung quốc hồi thế kỷ thứ 8 cùng với thầy là ngài Kim Cang Trí, dịch 108 quyển kinh. Sau khi sư phụ viên tịch, Ngài về Ấn độ thỉnh thêm kinh sách rồi sang Trung quốc để dịch kinh cho đến mãn đời.
bất không kim cang bồ tát
Amogha-vajra (S)Tên một vị Bồ tát.
Bất Không Kim Cương
不空金剛; C: bùkōng jīngāng; J: fukū kongō; S: amoghavajra; cũng được gọi ngắn là Bất Không (amogha), còn mang hiệu là Trí Tạng (智藏); 705-774;|Một Ðại sư của Mật tông và cũng là một trong bốn dịch giả danh tiếng nhất của Phật giáo kinh điển tại Trung Quốc – song song với Cưu-ma-la-thập, Chân Ðế và Huyền Trang. Sư được xem là vị Tổ thứ sáu của Mật giáo tại đây.|Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Sư sinh năm 705 tại nước Sư Tử (siṃhala, nước Tích Lan bây giờ), sớm tu học Phật pháp. Năm lên 14, Sư gặp Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) tại Ja-va (s: yavadvīpa) và cùng với vị này sang Trung Quốc. Năm 720, Sư đến Lạc Dương và cũng tại đây, Sư thụ giới cụ túc tại chùa Quảng Phúc (724) theo truyền thống của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvās-tivāda). Suốt 18 năm sau đó, Sư một mặt nghiên cứu kinh, luật, luận bằng cả hai ngôn ngữ, Phạn và Hoa; mặt khác, Sư cũng giúp thầy mình là Kim Cương Trí trong việc phiên dịch và chú giải kinh sách.|Năm 741, Sư cùng thầy trở về Ấn Ðộ nhưng giữa đường Kim Cương Trí lâm bệnh và thị tịch. Sư cùng với hai vị Hàm Quang và Huệ Biện tiếp tục cuộc hành trình. Ðến Tích Lan, Sư lĩnh thụ giáo pháp Mật tông nơi A-xà-lê Phổ Hiền, được vị này truyền mật ấn. Trong cuộc hành hương nầy tương truyền sư cũng đã gặp được Long Trí (龍智; s: nagabodhi), thầy của Kim Cương Trí và được học hệ thống kinh Kim Cương đỉnh (金剛頂經; s: tattvasaṃgraha) với đầy đủ chi tiết. Năm 746, Sư trở về kinh đô Trường An với chừng 500 cuốn kinh, trụ trì chùa Tịnh. Năm 750, sư rời trụ xứ tham gia quân đội với chức vụ thủ lĩnh của Ca Thư Hàn (哥舒翰) và sư truyền khá nhiều phép Quán đỉnh (灌頂) công phu ngay trong doanh trại chỉ huy cho ông ta. Năm 754, sư dịch phần đầu kinh Kim Cương đỉnh (Đại chính số 865), bộ kinh chủ yếu của Mật tông Phật giáo, sau nầy trở nên một trong những thành tựu nổi bật nhất của sư. Sư xem giáo lí trong kinh đó như là phương pháp hữu hiệu nhất để đạt được giác ngộ còn được lưu truyền lại, và sư đã kết tập lại giáo nghĩa cơ bản của kinh trong nhiều luận giải của mình. Bất Không Kim Cương bị bắt trong biến loạn của An Lộc Sơn (安祿山), nhưng vào năm 757, sư được trả tự do nhờ áp lức của hoàng triều. Sau đó sư thiết đàn tràng để làm lễ tẩy tịnh cho kinh đô và củng cố sự bảo vệ cho triều đại nhà Đường. Hai năm sau, sư làm lễ quán đỉnh cho Hoàng đế Túc Tông (肅宗) như một vị Chuyển Luân vương. Năm 765, Bất Không Kim Cương ứng dụng kinh Nhân vương (仁王經) vừa mới dịch xong vào trong một buổi lễ nghi thức rất công phu để ngăn chặn cuộc tấn công của 200.000 quân lính tinh nhuệ của Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ (e: uighurs) khi họ sẵn sàng để thôn tính Trường An (長安). Thủ lĩnh đội quân ấy, Bộc Cố Hoài Ân (僕固懷恩) gục chết trong doanh trại và binh lính tan rã. Kim Các tự (金閣寺), ngôi chùa tráng lệ trên núi Ngũ Đài, là công trình độc đáo nhất của Bất Không, được hoàn thành năm 767, là một trong những nỗ lực của sư nhằm xiển dương Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi như là người bảo hộ đất nước Trung Hoa. Bất Không Kim Cương còn lập những đàn tràng để tiêu trừ tai chướng theo lời thỉnh cầu của Hoàng đế Thái Tông (太宗).|Năm 771, Sư dâng biểu xin phép đưa những bản kinh đã dịch xong vào Ðại tạng. Năm 774, giữa tháng 6, Sư biết thời điểm sắp đến liền từ biệt chúng rồi nhập diệt. Sư được truy tặng chức Tư Không, thuỵ hiệu là Ðại Biện Chính. Tháp được xây tại chùa Ðại Hưng Thiện. Sư có rất nhiều đệ tử và người được đích truyền là sư Huệ Quả (惠果), được xem là Tổ thứ 7 của Mật tông Trung Quốc. Một đệ tử quan trọng khác là Huệ Lâm (慧琳). Người ta liệt kê được 77 bản dịch của sư được mặc dù có thể còn nhiều hơn, gồm những tác phẩm luận giải đích thật được xếp vào Hán tạng dưới tên của sư. Những tài liệu ghi chép hành trạng của sư gồm: [Đại chính 2120], gồm nhưng ghi chép về thư từ cá nhân, [Đại chính 2156] nói về sự truyền thừa; có một bản tiểu sử của sư trong Phó Pháp tạng nhân duyên lục phó (付法藏因縁傅) [Đại chính 2058], và một số ghi chép về chuyến hành hương của sư được ghi trong [Đại chính 2157].
bất không kim cương bồ tát
(不空金剛菩薩) Bất không kim cương, Phạm: Amoghavajra. Được bày ở ngôi thứ tư phía nam trong viện Tô tất địa trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la, vị Bồ tát này cùng thể với bồ tát Kim cương vương, một trong bốn vị thân cận đức A súc Như lai phương đông trên mạn đồ la Kim cương giới. Bồ tát này dùng trí tuệ của Đại không Như lai để phá chấp có của phàm phu và chấp không của Nhị thừa, có khả năng thành tựu mọi việc, cho nên gọi là Bất không kim cương, chủng tử là (hùô), (ja) hoặc (jahê). Thân hình mầu da thịt, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ, hai tay kết ấn để ở ngang ngực. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Thanh long tựnghi quĩ Q.trung; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thai tạng giới thất lập Q.trung].
bất không kiến bồ tát
Amogha-darśana (S)Phổ biến Kim cang Bồ tát, Chân như Kim cang Bồ tát, Bất không nhãn Bồ tát, Chánh Lưu Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (不空見菩薩) Bất không kiến, Phạm: Amoghadarzana. Cũng gọi Bất không nhãn bồ tát, Chính lưu bồ tát. Là một trong 16 bồ tát ở kiếp hiền. Trên các hội Tam muội da, Vi tế, Cúng dường, Hàng tam thế yết ma, Hàng tam thế tam muội da v.v... trong Kim cương giới mạn đồ la, vị Bồ tát này ngồi ở phía bắc bồ tát Kim cương câu tầng thứ nhất phương đông. Ngài dùng năm mắt xem khắp sự bình đẳng sai biệt của chúng sinh trong pháp giới, hay trừ hết thảy ngả ác, khiến chuyển hướng tới đường chính thiện Niết bàn bất diệt, vì thế gọi là Bất không kiến. Mật hiệu là Phổ kiến kim cương, Chân như kim cương, chủng tử là (ahê), hình tam muội da là mắt một chẽ (tức cái chày một chẽ, hai bên đều có một con mắt). Hình tượng của vị tôn này tùy theo các hội mà hơi khác. Ở hội Vi tế thì vị Bồ tát này ngồi xếp bằng trên hoa sen, bàn tay trái ngửa lên đặt trên đầu gối, tay phải cầm hoa sen, trên hoa dựng mắt một chẽ. Lại trong viện Địa tạng trên mạn đồ la Thai tạng giới, vị Bồ tát này là vị thứ hai ngồi ở phía đông, mật hiệu là Phổ quán kim cương, hình tam muội da và thân đều có khác với hình tam muội da và thân trong mạn đồ la kim cương giới. [X. kinh Đaị thừa quán tưởng mạn đồ la tịnh chư ác thú Q.thượng; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Hiền kiếp thập lục tôn; Đại nhật kinh sớ Q.6; Thai tạng thất tập Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.6]. (xt. Hiền Kiếp Thập Lục Tôn).
bất không nhãn bồ tát
Xem Bất không kiến Bồ tát.
bất không như lai tạng
(不空如來藏) Cũng gọi Bất không chân như, đối lại với Không như lai tạng. Như lai tạng xa lìa tất cả phiền não, gọi là Không như lai Bồ Tát Bất Không Kiến (Thai Tạng Giới Mạn Đồ La) Bồ Tát Bất Không Kim Cương (Thai Tạng Giới Mạn Đồ La) tạng. Còn Như lai tạng có đầy đủ hằng sa Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, mà chẳng lìa, chẳng thoát, chẳng khác, gọi là Bất không như lai tạng. [X. kinh Thắng man chương Không nghĩa ẩn phú chân thực; luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Chân Như).
Bất không quyên sách chú tâm kinh
不空羂索呪心經; C: bùkōng juànsuǒ zhòu-xīn jīng; J: fukū kenjaku jushinkyō; S: amogha-pāśakalpa-hṛdayadhāraṇī; T: ['phags pa] don yod shags pa'i snying po shes bya ba theg pa chen po'i mdo;|Đà-la-ni này bắt đầu với Bồ Tát Quán Thế Âm nói trong đại pháp hội do Đức Thế Tôn chứng minh. Bồ Tát tuyên thuyết Bất Không Quyên Sách chú vốn nhận được từ Quán Tự Tại vương đời thứ 91. Những công năng của thần chú nầy bao gồm việc đạt được Bất không như trí định (不空如智; s: asaṃmo-hajñānavyūha), tạo phúc đức và tịnh hoá các ác nghiệp như thân thể bệnh tật; thêm vào đó, người nào tụng niệm chú này vì chú này mà giữ trai giới một ngày nhất định nào đó sẽ đạt được 20 công đức (功德; s: anuśamṣa), và 8 pháp. Sau đó, Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ truyền trao toàn văn thần chú, gồm những chỉ dẫn về pháp chữa bệnh, pháp cứu độ bằng cách sử dụng hình tượng, nghi quỹ. Trong các bản dịch bằng tiếng Hán, bản của Bồ-đề Lưu-chí II gần với bản tiếng Phạn đang lưu hành nhất.|Các bản dịch gồm có: 1. Bất Không Quyên Sách Chú kinh (不空羂索呪經), Xà-na Quật-đa (闍那崛多; s: jñānagupta) dịch; 2. Bất Không Quyên Sách thần chú tâm kinh (不空羂索神呪心經), Huyền Trang dịch; 3. Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (不空羂索呪心經), Bồ-đề Lưu-chí II (菩提流志; s: bodhiruci) dịch; 4. Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Bất Không Vương bí mật tâm đà-la-ni kinh (聖觀自在菩薩不空王祕密心陀羅尼經), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Về nhưng bản dịch tiếng Anh từ tiếng Hán, Tây Tạng, và Phạn, xin tham khảo Meisezahl (1962).
bất không quyên sách chú tâm kinh
Amoghapāśa-hṛdaya sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Bất không quyên sách kinh
不空羂索經; C: bùkōng juànsuǒ jīng; J: fukū kensaku kyō;|Tên gọi tắt của Bất Không Quyên Sách thần biến chân ngôn kinh.
bất không quyên sách quán âm bồ tát
Amoghapāśa (S)Bất không vương Quán thế âm Bồ tát, Bất không quảng đại Minh vương Quán thế âm Bồ tátTên một vị Bồ tát.
Bất không quyên sách thần biến chân ngôn kinh
不空羂索神變眞言經; C: bùkōng juànsuǒ shénbiàn zhēnyán jīng; J: fukū kenjaku shimpen shingon kyō; S: amoghapāśa-kalparāja; T: ['phags pa] don yod pa'i shags pa'i cho ga shib mo'i rgyal po;|Gồm 78 chương trong 30 quyển. Gọi tắt là Bất Không Quyên Sách kinh (不空羂索經) do Bồ-đề Lưu-chí II (菩提流志) dịch vào năm 709 sau TL. Chương đầu của kinh văn đưa ra một bài Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (s: amoghapāśa-hṛdayadhāraṇī), còn được lưu hành như một bản kinh riêng biệt. Những chương khác trình bày nhiều nghi quỹ và Man-đa-la dưới nhiều dạng với Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音; s: amoghapāśalokeśvara) làm trung tâm. Đáng kể là những đồ hình Man-đa-la được mô tả trong chương 12, 22, 46 có tương quan với các đồ hình Man-đa-la của kinh Đại Nhật (s: vairocana-abhisaṃbodhi) và bản duyệt lại của Kim Cương Trí về Kim cương đỉnh kinh (s: tattvasaṃgrāha). Những xuất xứ khác còn có: Đại phẩm Bát-nhã kinh (大品般若經; s: mahā-prajñāparamitā-sūtra), Thập Nhất Diện Quán Thế Âm thần chú kinh (十一面觀世音神呪經; s: avalokiteśvara-ekadaśamuk-ha-dhāraṇī). Về những chi tiết liên quan đến luận giải kinh nầy, xin xem Soeda (1931).
bất không quyên sách thần biến chân ngôn kinh
Amoghapāśa-ṛddhi-vikṛti-maṇtra sŪtra (S), Amoghapāśa-kalparāja sŪtra (S), Pu-k'ung-p'o-so shen-pien chen-yen ching (C)Tên một bộ kinh.
Bất không quyên sách thần chú tâm kinh
不空羂索神咒心經; C: bùkōng juànsuǒ shénzhòu xīn jīng; J: fukū kensaku jinju shin kyō;|Bản dịch Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (不空羂索呪心經; s: amoghapāśa-kalpa-hṛdayadhāraṇī) của Huyền Trang (vào năm 659).
Bất không quyên sách Tì-lô-giá-na Phật đại quán đỉnh quang chân ngôn
不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光眞言; C: bùkōng juànsuǒ pílúzhēnăfó dàguàndǐng guāngzhēnyán; J: fukū kenjaku birushanabutsu daikanjō kōshingon;|Viết tắt là Đại quán đỉnh quang chân ngôn (大灌頂光眞言), Quang Minh chân ngôn kinh (光明眞言經), được Bất Không (不空) dịch. Là nguồn gốc chính để tu tập Quang Minh chân ngôn (光明眞言). Luận giải bằng tiếng Nhật của Cao Biện (高辯) có tên: Bất Không Quyên Sách Tì-lô Giá-na Phật đại quán đỉnh quang chân ngôn cú nghĩa thích (不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光眞言句義釋).
bất không quyến sách quan âm
(不空罥索觀音) Bất không quyên sách, Phạm: Amoghapàza. Cũng gọi Bất không quyên sách quan thế âm bồ tát, Bất không vương quan thế âm bồ tát, Bất không quảng đại minh vương quan thế âm bồ tát, Bất không tất địa vương quan thế âm bồ tát. Một trong sáu Quan âm. Ngồi ở vị trí thứ tư trong hàng thứ ba của viện Quan âm trên Thai tạng hiện đồ mạn đồ la. Vị Bồ tát này dùng giây lụa từ bi cứu giúp tiếp dẫn chúng sinh, tâm nguyện chẳng thiên về không (bất không). Thân mầu da trắng, ba mặt bốn tay, mỗi mặt có ba mắt, tay trái cầm hoa sen nở và giây lụa, tay phải cầm tịnh bình và tràng hạt. Còn có thuyết nói: Ngài có một mặt, 11mặt, 6 tay, 8 tay, 18 tay, 32 tay v.v..., mật hiệu là Đẳng dẫn kim cương, hình tam muội da là giây lụa. Cứ theo kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 1 phẩm Mẫu đà la ni chân ngôn tự chép, thì bồ tát Quan thế âm ở kiếp cuối cùng của 91 kiếp quá khứ đã nhận lãnh Bất không quyên sách tâm vương mẫu đà la ni chân ngôn từ nơi đức Như lai Thế gian tự tại vương. Nếu có thiện nam thiện nữ thụ trì đọc tụng đà la ni chân ngôn này, thì cứ mỗi tháng vào các ngày mồng 8, ngày 14 và ngày 15, tụng trì Bất không quyên sách vương mẫu đà la ni chân ngôn ở trước Bồ tát, thì hiện tại được 20 thứ công đức và khi lâm chung được 8 thứ lợi ích. Trong các phép tu của Mật giáo, có phép tu lấy Bất không quyên sách quan âm làm bản tôn. [X. kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú Q.thượng Thành tựu họa tượng tránh pháp ; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8 phẩm Tam tam muội da tượng, Q.22 phẩm Võ cấu quang thần thông giải thoát đàn tam muội da tượng; Bí tạng kí Q.cuối ].
bất không quyến sách thần biến chân ngôn kinh
(不空罥索神變真言經) Gồm 30 quyển. Do ngài Bồ đề lưu chi dịch. Cũng gọi Bất không quyên sách kinh. Nội dung nói về pháp môn tu hành bí mật của bồ tát Bất không quyên sách quan thế âm. Được chia làm 78 phẩm, thu vào Đại chính tạng tập 20. Những kinh như: Bất không quyên sách chú (ngài Xà na quật đa đời Tùy dịch), kinh Bất không quyên sách thần chú tâm (do ngài Huyền trang đời Đường dịch), Bất không quyên sách chú tâm (ngài Bồ đề lưu chi dịch), Thánh quán tự tại bồ tát bất không vương bí mật tâm đà la ni (ngài Thí hộ đời Tống dịch) đều xuất phát từ phẩm Mẫu đà la ni chân ngôn tự trong quyển 1 của kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn này. Còn kinh Bất không quyên sách đà la ni nghi quĩ 2 quyển (ngài A mục khư đời Đường dịch) thì phát xuất từ ba phẩm: Mẫu đà la ni chân ngôn tự, Bí mật tâm chân ngôn và Bí mật thành tựu chân ngôn của kinh này. Lại nữa, văn trong kinh này có rất nhiều chỗ giống với văn trong kinh Đại nhật, cứ đó mà suy thì biết, việc biên soạn kinh Đại nhật cũng có liên quan với kinh này. [X. Khai nguyên Bất Không Quyên Sách Quan Âm (Thai Tạng Giới MạnĐồ La) thích giáo lục Q.9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4]
bất không quảng đại minh vương quán thế âm bồ tát
Xem Bất không quyên sách Quán âm Bồ tát.
Bất Không Thành Tựu
不空成就; C: bùkōng chéngjiù; J: fukū jōshū;|Bất Không Thành Tựu Phật (不空成就佛).
Bất Không Thành Tựu Như Lai
不空成就如來; C: bùkōngchéngjiùrúlái; J: fukūjōshūnyorai;|Bất Không Thành Tựu Phật (不空成就佛).
bất không thành tựu như lai
Xem Bất Không Thành Tựu Phật.
; (不空成就如來) Phạm:Amogha-siddhi. Cũng gọi Bất không thành tựu Phật. Một trong năm đức Phật của Kim cương giới. Vị Phật này ngồi ở chính giữa nguyệt luân phía bắc trong năm nguyệt luân giải thoát của Kim cương giới, tượng trưng trí Thành sở tác trong năm trí, làm chủ nghiệp bộ trong năm bộ. Trong hội Thành thân, Bất không thành tựu Như lai thân màu vàng ròng, tay trái kết ấn nắm tay, đặt trên đầu gối, tay phải duỗi ra, úp năm ngón ngang ngực, ngồi xếp bằng trên hoa sen. Bốn p h í a c h u n g quanh đức Phật này, bày bốn vị bồ tát : Kim c ư ơ n g nghiệp, Kim cương hộ, Kim cương nha và Kim cương quyền. Mật hiệu của ngài là Bất động kim cương, chủng tử là (ahê), hình tam muội da là chày yết ma chữ thập. Trong Thai tạng giới, ngài được gọi là Phật Thiên cổ lôi âm. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.22; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; luận Bồ đề tâm; Bí tạng kí Q.cuối].
Bất Không Thành Tựu Phật
(s: Amogha-siddhi, t: Don-yod-grub-pa, 不空成就佛): hay Bất Không Thành Tựu Như Lai (不空成就如來), gọi tắt là Bất Không Phật (不空佛); còn có các danh hiệu khác như Thiên Cổ Lôi Âm Phật (天鼓雷音佛), Thiên Cổ Âm Phật (天鼓音佛), Lôi Âm Vương Phật (雷音王佛); là tên gọi của một trong 5 vị Phật thuộc Kim Cang Giới (金剛界) của Mật Giáo, ngự ngay trung tâm của vòng Nguyệt Luân ở hướng chánh Bắc. Ngài tượng trưng cho Thành Sở Tác Trí (成所作智) của Ngũ Trí, là Bộ chủ của Nghiệp Bộ (業部). Trong Hội Thành Thân, thân của Ngài thể hiện sắc màu vàng; tay trái bắt ấn, để trên gót chân, tay phải đưa ngang ngực, ngồi xếp bằng trên tòa sen. Tuy nhiên, trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) lại giải thích thân Ngài màu đen: “Phụng thỉnh Bắc phương Thành Tựu Phật, kỳ thân hắc sắc phóng quang minh, thủ ấn chấp trì Diệu Hàng Ma, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ (奉請北方成就佛、其身黑色放光明、手印執持妙降魔、眾等志心歸命禮, cung thỉnh Bắc phương Thành Tựu Phật, thân Ngài sắc đen phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Diệu Hàng Ma, chúng con chí tâm cung kính lễ).” Mật hiệu của Ngài là Bất Động Kim Cang (不動金剛), chủng tử là aḥ, hình Tam Muội Da là Chày Yết Ma Chữ Thập. Trong Thai Tạng Giới gọi Ngài là Thiên Cổ Lôi Âm Phật. Tác phẩm Phật Danh Thích Điển Truyện Lược (佛名釋典傳略) cho biết rằng Bất Không Thành Tựu Phật đại biểu cho Thành Sở Tác Trí của Tỳ Lô Giá Na Phật (s: Vairocana, 毘盧遮那佛, tức Đại Nhật Như Lai [大日如來]); phần lớn hóa hiện sắc màu xanh lục, vàng kim; thường hiện hình tượng ngự giá trên Đại Bàng Kim Xí Điểu (大鵬金翅鳥) có thể hàng phục ác long, rắn độc. Ngài còn tượng trưng có thể lấy trí tuệ lớn để thành tựu sự nghiệp của tất cả chư Như Lai cũng như của chúng sanh. Hành giả Phật Giáo nếu gặp phải phiền não, lo âu, nên chí thành cầu xin sự gia trì Phật lực của đức Bất Không Thành Tựu, thì có thể được tự lợi và lợi tha, khiến cho hết thảy chúng sanh xa lìa khổ não. Trong Mật Giáo, Uế Tích Kim Cang Vương (穢跡金剛明王), đấng có đức chuyển hóa từ “bất tịnh” thành “thanh tịnh”, chính là hóa thân của Bất Không Thành Tựu Phật. Về ấn quyết của Ngài, trong Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vương Kinh (佛說瑜伽大敎王經, Taishō Vol. 18, No. 890) có đề cập rằng: “Dĩ hữu thủ tác Vô Úy tướng, thử thị Bất Không Thành Tựu Phật căn bản ấn (以右手作無畏相、此是不空成就佛根本印, dùng tay phải làm hình tướng Vô Úy, đây là ấn căn bản của Bất Không Thành Tựu Phật).” Về chư vị Bồ Tát quyến thuộc của Ngài, Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) cho biết rằng: “Thành Tựu Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, nhị Kim Cang Ngữ Bồ Tát, tam Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyền Bồ Tát (成就佛四菩薩者、一金剛業菩薩、二金剛語菩薩、三金剛藥叉菩薩、四金剛拳菩薩, bốn vị Bồ Tát của Thành Tựu Phật là, một Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, hai Kim Cang Ngữ Bồ Tát, ba Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, bốn Kim Cang Quyền Bồ Tát).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận (金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論, Taishō Vol. 32, No. 1665) có giải thích rằng: “Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, do thành Thành Sở Tác Trí, diệc danh Yết Ma Trí dã (北方不空成就佛、由成成所作智、亦名羯磨智也, Bất Không Thành Tựu Phật ở phương Bắc do thành tựu Thành Sở Tác Trí, nên cũng được gọi là Yết Ma Trí).” Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vương Kinh (佛說瑜伽大敎王經, Taishō Vol. 18, No. 890) quyển 5 lại giải thích thêm rằng: “Phục thứ hàng phục pháp, trì tụng giả tiên tưởng Hồng tự, hóa thành Bất Không Thành Tựu Phật, thân tướng lục sắc quảng đại viên mãn (復次降伏法、持誦者先想吽字、化成不空成就佛、身相綠色廣大圓滿, lại nữa về pháp hàng phục, người trì tụng nên trước tưởng tượng chữ Hồng, hóa thành Bất Không Thành Tựu Phật, thân tướng màu xanh lục, to lớn tròn đầy).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (金剛頂瑜伽三十七尊禮, Taishō Vol. 18, No. 879) có đảnh lễ danh hiệu của Ngài: “Nam Mộ Tác Biến Hóa Thân Bất Không Thành Tựu Phật (南慕作變化身不空成就佛, Kính Lễ Phật Bất Không Thành Tựu Có Thân Biến Hóa).”
; 不空成就佛; C: bùkōngchéngjiù fó; J: fukūjōshū butsu; S: amoghasiddhi;|Một trong năm vị Phật trong Phật gia. Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ chử thủ (s: viśvapāṇi) được xem là Hoá thân của vị Phật này. Phật Bất Không Thành Tựu tượng trưng cho vô uý (Ấn), cầm báu vật là Kim cương chử (s: vajra).|Bất Không Thành Tựu Phật là giáo chủ Bắc phương Tịnh độ và dấu hiệu đó chính là bình bát trên tay trái của Ngài. Tay phải Ngài bắt ấn vô uý. Dưới toà sen có hai Ca-lâu-la (s: garuḍa, cũng được gọi là Kim sí điểu, một loài thần điểu nửa người nửa chim). Ðặc biệt là trong hào quang của Ngài có nhiều Long vương (s: nāga) bảo vệ. Truyền thuyết nói rằng phương Bắc là nơi trú ẩn của Long vương. Dân tộc Nepal thường cúng thờ Phật Bất Không Thành Tựu khi cầu Long vương xuất hiện (mưa). Phật Bất Không Thành Tựu cũng giúp đỡ khi dân bị lũ lụt. Trong trường hợp này, Ca-lâu-la của Ngài được thả ra xua đuổi tất cả loài rồng rắn và nước.||H 15: Bất Không Thành Tựu Phật
bất không thành tựu phật
Amoghasiddhi (S), Who Unerringly Achieves His Goal Bất Không Thành Tựu Như laiNgự phương bắc Mạn đà la, tượng trưng Thành sở tác trí. Một trong năm hóa thân của chư Phật. Biểu hiện với tay bắt Vô Uý Ấn, biểu tượng là hai vòng kim cương.
bất không vương quán thế âm bồ tát
Xem Bất không quyên sách Quán âm Bồ tát.
bất không vương tam muội
(不空王三昧) Cũng gọi Kim cương vương tam muội. Chỉ Đại lạc kim cương bất không tam muội, tức là tam muội mà Đại nhật Như lai thường vào. Cứ theo Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa chép, thì Đức Thích ca năng nhân Như lai trụ nơi thân Tự thụ dùng, từ trời Sắc cứu kính mà vào tam muội Bất không vương. Khi đức Thích ca vào tam muội này, thì ngài chính là pháp thân Đại nhật Như lai. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.12].
bất không đại quán đỉnh quang chân ngôn
(不空大灌頂光真言) Cũng gọi Quang minh chân ngôn, Đại quán đính quang chân ngôn. Gọi tắt là Quang ngôn. Chân ngôn của đức Đại nhật Như lai, có thể sinh ra các công đức như : ngọc báu, hoa sen, ánh sáng.v.v... và, nhờ sức uy thần lớn hơn của Như lai, thần chú này có khả năng chiếu phá vô minh phiền não, từ đó, có thể chuyển nỗi khổ địa ngục thành niềm vui Tịnh độ. [X. Đại quán đỉnh chân ngôn kinh sao; Quang minh chân ngôn kinh sao]. (xt. Quang Minh Chân Ngôn).
bất không....
Amogha- (S)Tiếp đầu ngữ.
bất khả khí
(不可棄) Không thể vứt bỏ. Tên vị tổ khai sáng của Hóa địa bộ Tiểu thừa. Tương truyền khi sinh ra, người mẹ bỏ ngài xuống giếng nước, rất may được người bố cứu sống cho nên gọi ngài là Bất khả khí. Lúc đầu ngài theo Bà la môn, thông hiểu các nghĩa của ngoại đạo, về sau qui y Phật giáo, học Thuyết nhất thiết hữu bộ. Sau lại thành lập riêng Hóa địa bộ, cũng gọi Bất khả khí bộ.
bất khả kiến hữu đối sắc
(不可見有對色) Sắc không thể trông thấy được, nhưng có tính chất ngăn ngại. Một trong ba thứ sắc. Nó gồm năm căn, bốn trần trong 11 sắc pháp. Năm căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; thắng nghĩa căn (thần kinh) của năm căn và bốn trần thanh, hương, vị, xúc, đều là những thứ mà mắt không thể thấy đến được, chúng được tạo thành bởi cực vi, tính chất của chúng thường làm trở ngại, khiến mắt không thể thấy được, cho nên gọi là Bất khả kiến hữu đối sắc. [X. luận Xá lợi phất a tì đàm Q.3]. (xt. Tam Sắc).
bất khả kiến vô đối sắc
(不可見無對色) Sắc có thể thấy nhưng không đối ngại. Một trong ba thứ sắc, là Vô biểu sắc trong 11 sắc pháp. Vô biểu sắc không phải mắt có thể thấy, cũng chẳng phải do cực vi tạo thành, tính chất của nó không đối ngại, cho nên gọi là Bất khả kiến vô đối sắc. Tính chất của nó tuy không đối ngại, nhưng nó lại là pháp do bốn đại có đối ngại tạo ra, cho nên được liệt vào sắc pháp. [X. luận Xá lợi phất a tì đàm Q.3]. (xt. Tam Sắc).
bất khả kiến yết-ma
(不可見羯磨), cũng gọi là bất kiến cử tội yết-ma, bất kiến tẫn yết-ma, vị tỳ-kheo có tội do không tự nhận biết, không thấy nhân quả, nên phải chịu phép yết-ma này, không được sống chung trong tăng chúng.
Bất khả thuyết
不可說; C: bùkě shuō; J: fukasetsu; |1. Nghĩa là cái »không thể nói được.« Như tất cả những Thánh nhân của các thời đại, các nền văn hoá khác nhau, đạo Phật – nhất là Thiền tông – nhấn mạnh rằng, các kinh nghiệm Giác ngộ (Kiến tính) vượt qua mọi ngôn ngữ, văn tự. Người đã kiến tính tương tự một »người câm nằm chiêm bao« – như Thiền sư Vô Môn Huệ Khai bình giảng trong Công án thứ nhất của tập Vô môn quan – không thể trình bày giấc mộng của mình cho người khác. Cũng vì lí do này nên các vị Thiền sư thường khuyên đệ tử không nên bám chặt vào văn tự trong kinh sách, cho rằng, kinh sách chỉ là »ngón tay chỉ mặt trăng«, nhưng »không phải chính là mặt trăng.«|Vì thế nên các vị Thiền sư thường sử dụng bốn câu sau để diễn tả phương pháp tu tập của Thiền tông (theo truyền thuyết thì Bồ-đề Ðạt-ma khởi xướng thuyết này nhưng các học giả cho rằng, sư Nam Tuyền Phổ Nguyện chính là người sử dụng đầu tiên): »Giáo ngoại biệt truyền (j: kyōge betsuden), bất lập văn tự (furyū monji), trực chỉ nhân tâm (jikishi ninshin), kiến tính thành Phật (kenshō jōbutsu)«.|Cái »không thể diễn bày« của kinh nghiệm giác ngộ là lí do chính vì sao chư vị Thiền sư thường sử dụng những dấu hiệu thân thể như vặn mũi, dựng Phất tử… thay vì dùng lời để trả lời trong những buổi Ðộc tham, những cuộc Vấn đáp, Pháp chiến. Tuy nhiên, Thiền chính là tông phái lưu lại nhiều văn tự nhất trong các tông phái Phật giáo tại Trung Quốc. Ðiều đó cho thấy rằng, cái hữu ích của văn tự không hoàn toàn bị bác bỏ; nhưng các tác giả lại thường nhấn mạnh rằng, không một loại văn tự nào có thể chứa đựng hoặc trình bày trọn vẹn Chân như. Chỉ người nào đã tự chứng ngộ chân lí mới có thấu suốt được huyền nghĩa nằm trong văn tự.|2. Tự ngã chẳng đồng nhất chẳng khác biệt với ngũ uẩn.
bất khả thuyết
Fukasetsu (J).
; (不可說) Không thể nói ra được. Phạm: anabhilàpya. Cũng gọi Bất khả ngôn thuyết, Bất thuyết. Nghĩa là chân lí chỉ có thể chứng biết, chứ không thể dùng lời nói mà giải thích cho rõ được. Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 18 phẩm Hư không tạng bồ tát và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 phẩm Thâm áo v.v... đều cho đệ nhất nghĩa rốt ráo là không, nên không thể nói được. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 21 thì đứng về phương diện sinh và không sinh của các pháp mà nói sáu câu bất khả thuyết. Tức là sinh sinh cũng bất khả thuyết, sinh không sinh cũng bất khả thuyết, không sinh sinh bất khả thuyết, không sinh không sinh cũng bất khả thuyết, sinh cũng bất khả thuyết, không sinh cũng bất khả thuyết. Ngài Thiên thai Trí khải lấy bốn câu trước lần lượt phối hợp giải thích bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên; trong đó, dùng hai câu trước để nói rõ về sự (tướng) lí (tính) trong ba cõi, hai câu sau nói rõ về sự lí ngoài ba cõi. Ngoài ra, Đại thừa huyền luận quyển 1 và luận Du già sư địa quyển 16... cũng đều có nêu ra vài thứ bất khả thuyết. Lại khi khen ngợi công đức của Phật không thể dùng ngôn ngữ nói cho cùng tận được, cũng dùng bất khả thuyết và phần nhiều hay dùng liền với các từ ngữ bất khả xưng, bất khả tư nghị v.v... [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.12; kinh Đại ban Niết bàn (bản Bắc) Q.18; luận Đại trí độ Q.74; Tứ niệm xứ Q.1; Duy ma kinh huyền sớ Q.5]. (xt. Tứ Bất Khả Thuyết).
bất khả thuyết tạng
Anabhilapya kośa (S).
bất khả tư nghì
Acintia (S), Acintiya (S), Aciṇtya (S), Aciṇteyya (P), Acintyaka (S), Acintika (S) , Acinteyya (P), Acintya (P), Inthinkable Inconceivable, Unexplainable A chin ta. Nan tư nghị. Tự tánh vô hình vô thanh, lục căn chẳng thể tiếp xúc, ý thức chẳng thể suy lường, mà diệu dụng vô biên nên gọi bất khả tư nghì.
; Tự tánh vô hình vô thanh, lục căn chẳng thể tiếp xúc, ý thức chẳng thể suy lường, mà diệu dụng vô biên, nên gọi bất khả tư nghì.
bất khả tư nghì trí
Aciṇtya-jāna (S).
Bất khả tư nghị
不可思議; C: bùkěsīyì; S: aciṅtya; P: aciṅteyya; J: fukashigi;|Nghĩa là »không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được«, vượt ngoài lí luận; câu này dùng để tả cái Tuyệt đối, chỉ có ai đạt Giác ngộ mới biết. Cũng gọi là Bất tư nghị (不思議)|Phật Thích-ca khuyên: »Có bốn hiện tượng bất khả tư nghị, này tỉ-khâu, bốn trường hợp mà người ta không nên suy ngẫm, đó là: năng lực của một vị Phật (p: buddha-visaya), Ðịnh lực (p: jhāna-visaya), nghiệp lực (p: kamma-visaya) và suy nghẫm, tìm hiểu thế giới (p: lokaciṅtā)…« (Tăng nhất bộ kinh, IV. 77).
bất khả tư nghị
Hi-shiryō (J).
; (不可思議) I. Bất khả tư nghị. Không thể nghĩ bàn. Phạm:a-cintya. Cũng gọi Bất tư nghị, Nan tư nghị (khó nghĩ bàn). Chỉ cho cảnh giới không thể nghĩ lường nói năng được. Chủ yếu được dùng để hình dung cảnh giới giác ngộ của chư Phật Bồ tát, cùng với sự mầu nhiệm sâu xa của trí tuệ và sức thần thông. Đối với những sự lí sâu xa mầu nhiệm và thần kì, không thể nhờ vào suy xét hoặc bàn thảo mà biết được, người đời cũng thường dùng bất khả tư nghị để hình dung. Nhưng từ ngữ này đã được viện dẫn từ kinh điển Phật. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 nói, thế giới, chúng sinh, rồng, cảnh giới Phật là bốn cái không thể nghĩ bàn. Kinh Đại bảo tích quyển 86 cũng nêu: nghiệp, rồng, thiền, Phật là bốn cảnh giới không thể nghĩ bàn. Luận Đại trí độ quyển 30 thì bảo: chúng sinh nhiều ít (chúng sinh không thêm không bớt), nghiệp quả báo (tất cả quả báo sai khác do sức nghiệp mà sinh), sức người ngồi thiền (do sức thiền định mà hiện thần thông), sức các rồng (một giọt nước của rồng trút xuống làm trận mưa lớn), sức của chư Phật (đức Phật đã thành tựu đầy đủ mười lực) v.v..., năm thứ kể trên đều không thể nghĩ bàn. Lại kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 30 phẩm Phật bất khả tư nghị pháp, cũng nêu ra mười thứ không thể nghĩ bàn của chư Phật là: cõi nước, tịnh nguyện, chủng tính, xuất thế, pháp thân, âm thanh, trí tuệ, sức thần tự tại, vô ngại trụ, giải thoát v.v... Cũng kinh trên, quyển 37 phẩm Li thế gian còn ghi chép mười thứ không thể nghĩ bàn của Bồ tát. Những ghi chép trên đây đều nhằm nói rõ rằng, sự giải thoát, trí tuệ, sức thần thông v.v... của chư Phật và Bồ tát không thể dùng lời nói mà diễn tả, hoặc suy tư mà biết được. Thêm nữa, kinh Hoa nghiêm và kinh Duy ma được gọi là kinh Bất khả tư nghị giải thoát, đức Phật A di đà được gọi là Bất khả tư nghị quang như lai, Bồ tát được gọi là Bất khả tư nghị bồ tát, Nan tư nghị bồ tát v.v... đều thuộc những trường hợp kể trên. (xt. Tứ Bất Tư Nghị). II. Bất khả tư nghị. Vị tăng đời Đường. Người nước Tân la ở chùa Linh diệu, tên là Bất khả tư nghị, làm đệ tử ngài Thiện vô úy. Vào cuối năm Khai nguyên (713-741), sư có soạn Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ 2 quyển, người thời bấy giờ gọi là Bất tư nghị sớ. Còn những sự tích khác về sư không được rõ.
bất khả tư nghị giải thoát kinh
Xem Kinh Duy ma cật.
bất khả tư nghị giải thoát pháp môn
(不可思議解脫法門) Cửa pháp giải thoát không thể nghĩ bàn. Chỉ cho giáo pháp Đại thừa mà hàng Nhị thừa Thanh văn v.v... không thể nghĩ bàn được. Giải thoát là tên khác của tam muội. Sức thần diệu dụng của tam muội to nhỏ dung hòa nhau, tùy theo các pháp biến đổi mà tự tại vô ngại, lìa tất cả sự trói buộc, cho nên gọi là giải thoát. Sự giải thoát này được nói rõ trong phẩm Bất tư nghị của kinh Duy ma. Cũng là pháp tướng Một nhiều không ngại được thuyết minh trong kinh Hoa nghiêm. [X. kinh Duy ma Q.trung phẩm Bất tư nghị].
bất khả tư nghị tôn
(不可思議尊) I. Bất khả tư nghị tôn. Đấng tôn quí không thể nghĩ bàn. Là tiếng tôn xưng chung đối với chư Phật. Cảnh giới của Phật chẳng phải tâm trí con người có thể suy nghĩ phân biệt được, cũng không thể dùng lời nói mà diễn tả được, vì thế gọi là Bất khả tư nghị tôn. Kinh Đại bảo tích quyển 37 chép, đức Như lai có đủ mười pháp không thể nghĩ bàn là: thân không thể nghĩ bàn, tiếng nói không thể nghĩ bàn, trí không thể nghĩ bàn, ánh sáng không thể nghĩ bàn, giới không thể nghĩ bàn, thần thông không thể nghĩ bàn, sức lực không thể nghĩ bàn, can đảm không thể nghĩ bàn, đại bi không thể nghĩ bàn và các pháp riêng không thể nghĩ bàn. Căn cứ theo đó mà gọi chung chư Phật là Bất khả tư nghị tôn. II. Bất khả tư nghị tôn. Là một trong ba mươi bảy hiệu của đức Phật A di đà. Sức bản nguyện của Phật A di đà là cái không thể nghĩ bàn hơn hết trong những cái không thể nghĩ bàn, và quả báo trang nghiêm do bản nguyện này thành tựu cũng là không thể nghĩ bàn hơn hết. Bởi thế, kinh A di đà đã nói, hằng sa chư Phật ở sáu phương đặc biệt khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Phật A di đà, cho nên lấy Bất khả tư nghị tôn làm tên riêng của Phật A di đà. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Tán A di đà Phật kệ].
bất khả việt thủ hộ
Durdharsa Dvarapala (S)Nan Thắng Tôn giả, Vô năng kiến giảMột trong hai vị giữ cửa của viện Văn thù.
; (不可越守護) Giữ gìn không cho vượt qua (người cửa). Phạm: Durdharwa-dvàrapàla. Là một trong hai vị Thủ hộ giữ cửa phía tây của viện Văn thù và viện Kim cương bộ (bên ngoài viện Văn thù) trên Thai tạng giới mạn đồ la. Cũng gọi Nan trì, Nan thắng (khó có ai hơn được), Đối hộ môn (giữ cửa đối diện), Phụng giáo giả (người vâng giáo lệnh), Vô năng kiến giả (người không ai thấy được). Vị này thường giữ cửa trong ở phía bên phải, đối diện với người giữ cửa bên trái, cả hai đều theo mệnh lệnh chỉ dạy của đức Như lai mà giữ gìn cửa pháp. Mật hiệu là Kim cương, hình tam muội da là con dao, thân mầu da người, tay phải cầm cây mâu, nắm tay trái đưa lên ngang ngực, mặt hướng về phía trái, ngồi xếp bằng, kết ấn kim cương nan thắng. [X. kinh Đại nhật Q.3 phẩm Tất địa xuất hiện; Đại nhật kinh sớ Q.10, Q.11, Q13]. (xt. Nhị Thủ Hộ)
bất khả xưng
(不可稱) I. Bất khả xưng. Đồng nghĩa với bất khả tư nghị, bất khả thuyết. Nghĩa là công đức to lớn của Phật thù thắng tuyệt vời, không thể dùng lời nói mà khen ngợi được. II. Bất khả xưng. Phạm:atulya. Một trong 10 số lớn của Ấn độ đời xưa. Cứ theo kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 45 phẩm A tăng kì chép, thì 10 số lớn theo thứ tự là: a tăng kì, vô lượng, vô số, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ (không thể đếm), bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết. Mười số lớn này, từ a tăng kì lần lượt thêm lên cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết, theo phép tính nhân như sau: bất khả sổ nhân với bất khả sổ thành một bất khả sổ chuyển (Phạm: agaịeya-parivarta); bất khả sổ chuyển nhân với bất khả sổ chuyển thành một bất khả xưng; bất khả xưng nhân với bất khả xưng thành một bất khả xưng chuyển (Phạm: atulya-parivarta). [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.29 phẩm Tâm vương bồ tát a tăng kì; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15]. (xt. Thập Đại Sổ).
Bất khả đắc
不可得; C: bùkě dé; J: fukatoku; nghĩa là »Không thể nắm bắt được.«|Không thể đạt được, không thể hiểu được. Là điều không thể biết được, bất cứ nhọc công tìm kiếm như thế nào. 1. Trong đạo Phật, không thể nào tìm thấy một ngã thể bất biến, nguyên si trong tất cả mọi hiện hữu (s: nāvadhāryate, anupalabdhi); 2. Không thể, không thể đạt, không thể thực hiện; 3. Không tồn tại; 4. Sự vắng mặt của chấp trước vào một cơ sở tự tồn.
bất khả đắc
Alabdha (S), Unattainable Alābha (P).
; (不可得) Không thể được. Phạm : an-upalambha. Tên khác của không. Dù có tìm cầu như thế nào đi nữa, cũng đều không thể biết được. Phật giáo cho rằng, sự tồn tại của tất cả các pháp, không có hình thái cố định bất biến, nếu có suy xét tìm cầu thì đều cũng không thể được, gọi là Bất khả đắc không. Danh từ bất khả đắc này bao hàm bốn nghĩa sau đây : 1. Không thể được. 2. Không tồn tại. 3. Không bám dính tự thể tồn tại, như các pháp chẳng thể được. 4. Đối với vật không xác định và không bản chất, tìm cũng không thể được. (xt. Tứ Bất Khả Đắc).
bất khả đắc không
Anupalambha śŪnyatā (S).
; (不可得空) Cái không chẳng thể được. Phạm: anupala-mbha-zùnyatà. Cũng gọi Vô sở đắc không. Một trong 18 cái không. Tất cả các pháp như sống chết, Niết bàn v.v... tính, tướng đều tịch diệt, tìm nó không thể được, gọi là Bất khả đắc không. Tức do ba thứ không thể được mà gọi là không: 1. Tìm cái ta trong 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới không thể được. 2. Tìm tự tính các pháp trong nhân duyên của chúng không thể được. 3. Tìm nhân duyên của pháp không thể được. Trong đây, loại Bất khả đắc thứ hai như tìm nắm tay trong năm ngón tay không thể được, loại thứ ba thì tìm năm ngón tay cũng không thể được. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.1 phẩm tựa, Q.3; luận Đại trí độ Q.31; Đại thừa nghĩa chương Q.2, Q.4]. (xt. Thập Bát Không).
bất khổ bất lạc báo nghiệp
Xem Thuận Bất khổ bất lạc thọ nghiệp.
bất khổ bất lạc thụ
(不苦不樂受) Cảm giác không khổ không vui. Phạm: aduhkhàsukha-vedanà, Pàli: adukkhàsukha-vedanà. Một trong ba thụ. Cũng gọi Xả thụ (Phạm:upekwà-vedanà). Tức gặp cảnh ngộ không trái ý cũng không thuận ý, nên không cảm thấy khổ, cũng không cảm thấy vui. [X. luận Câu xá Q.1, Q.4; luận Thành duy thức Q.5]. (xt. Tam Thụ).
bất khổ lạc
Adukkhamasukha (P), Not happy nor suffering.
bất khởi phát
AbhŪta (S), Unoriginated Hư vọng, Không thật.
bất kiến cử
(不見舉) Một trong ba cử. Tỉ khưu phạm tội mà không nhận tội, gọi là bất kiến (không thấy). Nếu cử (nêu) tội của người Bất kiến (người không nhận tội) ra mà trị, gọi là Bất kiến cử. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1]. (xt. Tam Cử).
bất kiến cử tội yết-ma
xem bất khả kiến yết-ma.
bất kiến tam bảo ách
(不見三寶厄) Một trong những ách nạn phải chịu ở cõi Biến hóa của đức Phật A di đà. Trong khi tu nhân, vì ngờ vực trí Phật, nên khi hành giả được sinh vào cõi Biến hóa (Hóa độ) của Phật A di đà, chưa được thấy Phật, pháp, tăng tam bảo chân thực mà chỉ được thấy phân thân của Phật, gọi là Bất kiến tam bảo ách. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. (xt. Phương Tiện Hóa Độ).
bất kiến tẫn yết-ma
xem bất khả kiến yết-ma.
Bất lai
xem A-na-hàm và Bốn quả thánh.
; 不來; C: bùlái; J: furai;|Tiếng Hán dịch từ thuật ngữ anāgāmin (A-na-hàm 阿那含), có nghĩa là »không trở lại« thường dịch là Bất hoàn.
bất lai bất khứ
Anaya-vyaya (S).
; (不來不去) Không đến không đi. Phạm: anàyavyaya. Tiếng dùng trong kinh điển Phật giáo biểu thị tự tính của các pháp. Nghĩa là đứng về phương diện bản tính mà nói, thì các pháp không đến không đi. Nói theo sự thấy biết thế tục, thì nhân duyên muôn pháp trong vũ trụ đều có sinh có diệt, có thường có đoạn, có một có khác, có đến có đi. Nhưng nếu đứng trên lập trường chân lý trung đạo của Phật pháp mà nhận xét, thì các pháp nhân duyên cố nhiên có tụ có tán, nhưng tự tính của chúng thì thật chẳng sinh chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng một chẳng khác, chẳng đến chẳng đi. Đây là học thuyết mà phái Trung quán Đại thừa ở Ấn độ và tông Tam luận của Trung quốc đặc biệt xem trọng. Luận Đại trí độ Q.5 (Đại 25, 97 trung ), nói: Chẳng sinh chẳng diệt, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng một chẳng khác, chẳng đến chẳng đi, là pháp nhân duyên sinh. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
bất lai nghênh
(不來迎) Không đến đón. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trong môn Tịnh độ, phần nhiều lúc sắp chết phải giữ được chính niệm để mong chờđức Phật đến đón về cõi Tịnh độ cực lạc. Trái lại, Tịnh độ chân tông Nhật bản cho rằng: Người tu hành có lòng tin bền chắc như kim cương, tin vào tha lực, ngay lúc còn sống, họ đã một lòng chính niệm tin nơi bản nguyện của Phật A di đà, như vậy là đã thành tựu nghiệp vãng sinh ngay lúc bình thường nên lúc hấp hối họ không cần đợi Phật đến đón.
bất lai quả
Xem A na hàm quả vị Xem A na hàm.
bất li quá
(不離過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 33 lỗi Nhân minh, một trong năm lỗi Dị dụ. Bất li, Phạm:a-vyàvftta, hàm ý là không dùng Li tác pháp. Li, có nghĩa là không quan hệ dính liu gì với nhau. Trong phần Dụ (thí dụ) của phương pháp lập luận Nhân minh, khi dùng Dị dụ làm Li tác pháp, thì quy tắc nhất định là Tông (mệnh đề) ở trước, Nhân (lý do) ở sau, mối quan hệ nhân quả giữa Tông và Nhân rất mật thiết, nghĩa là chỗ nào không có Tông thì không có Nhân, và nơi nào có Nhân thì tất phải có Tông. Như Thanh luận sự lập luận: Tông: Âm thanh là thường. Nhân: Vì không chất ngại (không có tính chất ngăn ngại, chướng ngại). Li tác pháp của lập luận trên là: Những cái vô thường đều có tính chất ngại, ví như cái bình.v.v.... Tức Những cái vô thường không liên quan dính líu gì (Li) với Tông Âm thanh là thường và Đều có tính chất ngại cũng chẳng dính dáng gì với Nhân Vì không chất ngại. Như vậy không thể thành lập Tông Âm thanh là thường, cho nên là Bất li quá, là lỗi Tự dụ (ví dụ sai). Nói cho rõ hơn, chẳng hạn như lập luận : Âm thanh là thường (Tông), vì không chất ngại (Nhân); những cái không chất ngại đều là thường, ví như hư không (Đồng dụ); những cái vô thường đều chất ngại, ví như cái bình (Dị dụ), đây là lập luận hoàn chỉnh và chính xác. [X. Nhân minh nhập chính lý luận sớ Q.hạ phần cuối].
bất li vụ thị giả
(不厘務侍者) Người hầu không làm việc. Li nghĩa là sửa trị, chỉ người tuy giữ chức thị giả, nhưng thực sự không làm việc. Tức là thị giả danh dự. Cứ theo Khô nhai mạn lục quyển thượng chép, thì Thiền sư Thiết tiên thiều ở Mật am, giữ chức Bất li vụ thị giả những sáu năm. [X. Thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn].
Bất liễu
不了; C: bùliǎo; J: furyō;|1. Không hiểu, không lĩnh hội được; 2. Không diễn đạt rõ ràng toàn vẹn được; 3. Không thể hiểu được lời giải thích.
bất liễu phật trí
(不了佛智) Không biết rõ trí của Phật. Nghĩa là đối với trí không thể nghĩ bàn của Phật, chúng sinh còn hoài nghi, chưa thấy rõ nguyên nhân tại sao đức Như lai lớn lao, tôn quí. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ (Ngài Khang tăng khải đời Tào Ngụy dịch)].
bất loạn
Non-distraction.
bất luật nghi
(不律儀) Cũng gọi ác giới, ác luật nghi. Nghĩa là tự nguyện làm các nghiệp ác, như giết hại, trộm cướp v.v... Không ngăn cấm thân làm điều ác, miệng nói lời ác, vì trái với luật nghi, nên gọi là Bất luật nghi: Là vô biểu sắc hay phát sinh điều ác. Luận Câu xá quyển 15 nói, có hai nguyên nhân để được Bất luật nghi: 1. Do làm, tức sinh trong nhà Bất luật nghi, khi chuẩn bị làm các việc giết hại v.v... liền phát ra giới ác. 2. Do thề, tức sinh trong các nhà khác, vì cuộc sống mà thề nguyền làm nghề sát sinh trọn đời, lúc thề như thế liền phát ra giới ác [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.29; luận Câu xá Q.14]. (xt. Ác Luật Nghi, Vô Biểu Sắc).
bất ly khứ duyên
Non-disappearance condition.
bất lão bất tử
(不老不死) Không già không chết. Chỉ sự đã ngộ vào thực tướng của các pháp. Người đã thấu suốt được thực tướng của các pháp, thì thấy sống già bệnh chết xưa nay vốn rỗng lặng vốn không có già chết. Bởi thế, kinh Pháp hoa phẩm Dược vương và Pháp hoa nghĩa sớ Q.11, đều nói người nghe kinh Pháp hoa có thể được ngộ vào thực tướng của các pháp mà không già không chết.
bất lưỡng thiệt
(不兩舌) Không hai lưỡi. Phạm: paizunyàt prativirati. Một trong mười điều thiện. Nghĩa là không nói những lời ly gián, chia rẽ dẫn đến tranh cãi phải trái v.v... (xt. Thập Thiện Thập Ác).
bất lạc
Unpleasant.
bất lập văn tự
(不立文字) Không lập văn chữ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ việc đem tâm truyền tâm. Thiền tông cho rằng, nội dung của sự giác ngộ, không có chữ nghĩa lời nói nào có thể truyền đạt được, mà phải từ nơi tâm của thầy truyền thẳng đến tâm học trò. Cái cảnh giới đem tâm truyền tâm này gọi là Bất lập văn tự. Ngũ đăng hội nguyên quyển 1 và Vô môn quan Tắc 6, đều có ghi chép việc đức Thế tôn đem pháp môn màu nhiệm, không lập thành văn chữ mà truyền riêng ngoài giáo, đó là: Chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng truyền thẳng cho ngài Đại ca diếp. Thiền tông cố nhiên cũng thường dùng những câu nói khó hiểu làm phương tiện tiếp dẫn người học, nhưng cốt yếu vẫn là phương pháp lấy tâm truyền tâm.
bất lợi
Ādīnava (S), Disadvantage.
Bất muội
不昧; C: bùmèi; J: fumai;|Không bị che mờ, không tối tăm, không bị che đậy (s: asaṃmūḍha).
bất mãn
Xem Bất như ý.
bất nam
(不男) Người không đầy đủ nam căn. Do sự sai khác bẩm sinh hoặc trong đời bị tai nạn, tật bệnh mà phân biệt có năm thứ Bất nam. (xt. Ngũ Chủng Bất Năng Nam).
bất nghi sát
(不疑殺) Không ngờ giết. Một trong ba thứ tịnh nhục (thịt sạch, loại thịt các tỉ khưu được phép ăn). Theo giới Tiểu thừa qui định, khi tỉ khưu không nghi ngờ là vì mình mà con vật bị giết thì thịt của nó gọi là tịnh nhục, tỉ khưu được phép ăn. (xt. Tam Chủng Tịnh Nhục).
bất nghịch
Akkodha (P), Non-enmity.
bất ngu pháp nhị thừa
(不愚法二乘) Hai thừa không ngu pháp. Đối lại với Ngu pháp nhị thừa. Cũng gọi Bất ngu pháp tiểu thừa. Chỉ các bậc Thanh văn, Duyên giác lợi căn, ngoài việc chứng ngộ tiểu quả nhị thừa, cũng hiểu được lý pháp không của Đại thừa. Bất ngu pháp nhị thừa chủ yếu chỉ cho bậc Thanh văn quyết trạch nói trong luận Du già sư địa và Thanh văn trong luận Tạp tập, Thanh văn, Duyên giác trong luận Phật tính và được xếp vào hàng Thủy giáo trong năm giáo của tông Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1, Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.17 phần cuối; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối (Tuệ viễn); Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu, Q.7 phần đầu].
bất nhiễm thế gian pháp
(不染世間法) Không nhiễm pháp thế gian. Tức không dính vào các pháp bụi bậm nhơ nhớp của thế gian. Phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 thượng) nói: Trụ nơi sức thần thông, khéo học đạo Bồ tát, không nhiễm pháp thế gian, như hoa sen trong nước.
bất nhiễm trước chư pháp tam muội
(不染著諸法三昧) Tam muội không dính mắc các pháp. Đây chính là bồ tát Văn thù trong viện Văn thù, tay trái của ngài cầm hoa sen xanh, tượng trưng cho Tam muội không dính mắc các pháp. Vì trí tuệ màu nhiệm vô tướng của ngài Văn thù không nhiễm các pháp, nên gọi là Bất nhiễm trước chư pháp, Đại Nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 635 thượng) nói: Hoa sen xanh là Tam muội không dính mắc các pháp, vì tâm không bám vào đâu, nên thấy ngay thực tướng.
Bất nhiễm vô tri
不染無知; C: bùrăn wúzhī; J: fuzen muchi;|Dạng vi tế nhất của vô minh ngăn ngại sự giải thoát của những hành giả tinh tiến nhất. Dạng vô minh nầy chỉ có thể được tẩy trừ khi công phu đạt đến bậc Câu giải thoát (倶解脱). Còn gọi là Bất nhiễm ô vô tri (不染汚無知). (Theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)
bất nhiễm ô
(不染污) Không nhơ nhuốm. Phạm: akliwỉa, Pàli: aklittha. Cũng gọi vô nhiễm ô, bất nhiễm, vô nhiễm. Tức là pháp thiện và pháp vô phú vô kí không bị nhơ nhuốm. Về tà trí (Trí bất chính), luận Đại tì bà sa quyển 9 phân biệt làm hai thứ là nhiễm ô và bất nhiễm ô. Nhiễm ô tương ứng với vô minh, còn bất nhiễm ô thì không tương ứng với vô minh. Lại đối với sự yêu, thương (ái), luận Câu xá quyển 4 cũng phân biệt nhiễm ô và bất nhiễm ô; nếu ái có nhiễm ô thì gọi là tham, như yêu vợ con v.v...; nếu ái không có nhiễm ô thì gọi là tin, như thương kính thầy tổ v.v... [X. luận Phẩm loại túc Q.6, Q.14; luận Đại tì bà sa Q.22,Q.42; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ]. (xt. Nhiễm Ô).
Bất nhiễm ô vô tri
不染汚無知; C: bùrănwū wúzhī; J: fuzenra muchi;|Bất nhiễm vô tri.
bất nhiễm ô vô tri
(不染污無知) Phạm: akliwỉajĩàna. Cũng gọi Bất nhiễm vô tri, Bất nhiễm ngu. Một trong hai loại vô tri. Đối lại với Nhiễm ô vô tri. Tức tính của nó không nhiễm ô, nhưng vì là loại trí tuệ còn yếu kém, nên đối với các nghĩa sai biệt trong Phật pháp, nó chưa có khả năng biết rõ được. Thanh văn, Độc giác tuy rốt cùng đoạn nhiễm ô vô tri, hoặc có thể đoạn, hoặc vẫn còn Bất nhiễm ô vô tri, chỉ có Phật mới có thể vĩnh viễn dứt hết Bất nhiễm ô vô tri, nên gọi là diệt tất cả hạt giống. Bởi vì thể của Bất nhiễm ô vô tri rộng hơn, bao gồm cả giải thoát chướng mà Thanh văn, Độc giác tuy có thể đoạn trừ nó, nhưng vì tập khí phiền não chưa diệt hết nên có khi nó còn hiện hành. Cứ theo ý của luận Đại tì ba sa Q.9 và luận Thuận chính lý quyển 28, thì Câu giải thoát A la hán tuy đã đoạn giải thoát chướng nhưng bất nhiễm ô vô tri vẫn còn khởi hiện hành. Câu xá luận quang kí quyển 1 nói, Bất nhiễm ô vô tri lấy trí tuệ yếu kém có đầy đủ hữu lậu vô nhiễm từ lúc chưa thành Phật đến nay làm thể. Trong ba tính, nó thông với tính thiện và tính vô phú vô kí, khi định Kim cương dụ của Bồ tát hiện ở trước thì vô tri không còn là duyên thù thắng nữa, cho nên Bồ tát lập tức dứt hết bất nhiễm ô vô tri. Bất nhiễm ô vô tri tương đương với Sở tri chướng trong hai chướng, song, theo luận Phật tính quyển 4 nói thì chướng có ba thứ là: phiền não chướng (lìa chướng này thì được Tuệ giải thoát A la hán), Thiền định chướng (lìa chướng này thì được Câu giải thoát A la hán và Độc giác v.v...), Nhất thiết trí chướng (lìa chướng này thì được thành Chính giác). Theo đó thì biết Bất nhiễm ô vô tri rộng suốt cả giải thoát chướng và Sở tri chướng, trong đây, Câu giải thoát A la hán tuy đã dứt giải thoát chướng, nhưng chưa lìa Sở tri chướng, chỉ có Phật mới có thể dứt hết cả hai. Còn Đại thừa thì cho rằng: Bất nhiễm ô vô tri lấy vô minh làm thể của nó. [X. luận Đại tì bà sa Q.99, Q.141; luận Câu xá Q.1; luận Thuận chính lý Q.70; Phật địa kinh luân Q.4; Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ phần trên; Câu xá luận bảo sớ Q.1].
bất nhuế
Avyāpāda (S), Kindness Nhân từ, khoan dung.
bất nhuế tưởng
Avyāpada-saṃjā (S).
bất như mật đa
(不如密多) Vị tổ thứ 26 của Thiền tông Ấn độ. Ngài là con của vua Đắc thắng ở nam Ấn độ. Sau khi vị tổ thứ 25 là Bà xá tư đa được pháp, ngài đi đến miền nam Ấn độ để truyền đạo. Lúc đó vua Đắc thắng tin thờ ngoại đạo, gây nạn cho Bà xá tư đa, thái tử Bất như mật đa dâng lời can ngăn liền bị bỏ tù. Nhà vua muốn buộc tội truyền tà pháp để giết ngài nhưng khi hỏi ngài về lí Phật thì vua bị ngài chiết phục, lúc ấy vua mới hối lỗi và lễ lạy, đồng thời ra lệnh tha thái tử Bất như mật đa. Thái tử bèn xin xuất gia, và sau sáu năm được ngài Bà xá tư đa trao phó đại pháp và trở thành vị tổ thứ hai mươi sáu. Sau khi được pháp, ngài Bất như mật đa đến miền đông Ấn độ giáo hóa, vua nước ấy tên là Kiên cố, tin theo ngoại đạo là Phạm chí Trường trảo (Phạm chí để móng tay dài), ngài dùng chính pháp chiết phục tà pháp của Phạm chí, rồi vì nhà vua mà diễn nói pháp cốt yếu khiến vua theo về Đại thừa. Trong khoảng 60 năm sau đó, ngài vẫn hoằng pháp tại vùng đất này. Đến năm Thái nguyên 13 (388) đời vua Hiếu vũ nhà Đông Tấn, sau khi truyền pháp cho đệ tử là Bát nhã đa la, ngài ngồi xếp bằng nhập diệt, hóa lửa tự thiêu, vua Kiên cố thu lấy xá lợi để thờ. [X. Tổ đường tập Q.2; Bảo lâm truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2].
bất như mật đa tổ sư
Puṇyamitra (S)Tổ đời thứ 26 trong 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ.
bất như pháp
(不如法) Không đúng như pháp. Đối lại với như pháp. Cũng gọi Bất pháp. Nghĩa là không đúng với Chính lý, hoặc là phản bội Phật pháp mà làm những việc trái đạo. Nói một cách tổng quát, tuân theo giáo pháp do đức Phật nói mà tu hành, hoặc làm những việc phù hợp với đạo lí Chính pháp, chính đáng, đều gọi là như pháp. Trái lại những hành vi ngược với chính lí không tương ứng với giáo pháp đức Phật đã chỉ dạy, thì gọi là Bất như pháp. Trong trường hợp bố thí chẳng hạn, nếu cho người ta một cách tôn trọng, cho người ta sự yên lòng không sợ hãi, cho người ta mà không mong cầu được báo đáp lại v.v... đều là bố thí Như pháp. Ngược lại, bố thí cầu báo, bố thí cầu danh, bố thí với niềm hi vọng được sinh lên cõi trời v.v... thì là bố thí Bất như pháp.
bất như vô tử
(不如無子) Chẳng thà không có con. Nghĩa là có con ngỗ nghịch thì thà không có con là hơn. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 277 thượng) nói: Cha mẹ dạy bảo, trợn mắt giận dữ, sai khiến không nghe, ngỗ ngược cãi lại, con cái như thế, khác gì nhà oán, chẳng thà không con.
bất như ý
Arati (S), Listlessness Bất mãn.
Bất Nhị
(s: advaya, 不二): không hai. Trong thế giới hiện tượng này sanh khởi đủ loại sự vật, hiện tượng, giống như mình người, nam nữ, già trẻ, vật tâm, sống chết, thiện ác, khổ vui, đẹp xấu, v.v., chúng được chỉnh lý theo hai trục đối lập. Tuy nhiên, các cặp phạm trù này không phải có thực thể tồn tại độc lập, cố định, mà trên cơ sở của Không (s: śūnya, p: suñña, 空), Vô Ngã (s: nirātman, nairātmya, p: anattan, 無我), căn để của chúng là Bất Nhị, Nhất Thể (一体). Bất Nhị là cách nói khác của Không về mặt quan hệ. Một trong các kinh điển Bát Nhã giải thích về Không có Duy Ma Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經); trong Phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn (入不二法門品) của kinh này có giải thích rất rõ về pháp môn Bất Nhị như: “Đức Thủ Bồ Tát viết: 'Ngã, ngã sở vi nhị, nhân hữu ngã cố, tiện hữu ngã sở; nhược vô hữu ngã, tắc vô ngã sở, thị vi nhập Bất Nhị pháp môn' (德守菩薩曰、我、我所爲二、因有我故、便有我所、若無有我、則無我所、是爲入不二法門, Đức Thủ Bồ Tát nói rằng: 'Tôi và cái của tôi là hai; nhân vì có tôi mới có cái của tôi; nếu không có tôi, tất không có cái của tôi; đó là vào pháp môn Không Hai').” Từ đó, Bất Nhị cũng như Không là chơn tướng của sự vật; hiểu được điều này được gọi là ngộ. Ngay như trong triết học Vedanta của Bà La Môn Giáo cũng có nhấn mạnh Bất Nhị (advaita), nó được lập cước trên Phát Sinh Luận; hoàn toàn khác với tư tưởng Bất Nhị (advaya) của Phật Giáo. Phật Giáo không lấy Phát Sinh Luận, mà quán sát một cách như thật sự vật hiện thực và làm sáng tỏ sự hiện hữu của chúng. Bất Nhị theo quan điểm của Phật Giáo là nói về hình thức hiện hữu của sự vật hiện thực, là Bất Nhị với tư cách Quan Hệ Luận. Tại Nhật Bản, người nhấn mạnh pháp môn Bất Nhị là Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835), tổ sư khai sáng Chơn Ngôn Tông Nhật Bản. Đại Sư dùng Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論) để ứng dụng giải thích bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), tận lực hệ thống hóa Mật Giáo. Đây chính là tiên phong của tư tưởng Bản Giác ở Nhật Bản. Trong Thích Ma Ha Diễn Luận, ngoài tư tưởng Bản Giác, Bất Nhị Ma Ha Diễn Pháp (不二摩訶衍法) được khẳng định rõ ràng. Sau khi Không Hải qua đời, tư tưởng Bản Giác này di nhập vào Thiên Thai Tông của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) và đến thời Trung Đại thì trở thành Bất Nhị Luận khẳng định hiện thực. Trong Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) 6 có câu: “Nhị nhi Bất Nhị, Bất Nhị nhi nhị (二而不二、不二而二, hai mà Không Hai, Không Hai mà hai).” Hay như trong tác phẩm Gia Truyện (家傳, Kaden, tức Đằng Nguyên Gia Truyện [藤氏家傳, Tōshikaden]) quyển thượng do Huệ Mỹ Áp Thắng (惠美押勝, Emi-no-Oshikatsu, tức Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ [藤原仲麻呂, Fujiwara-no-Nakamaro, 706-764]) soạn, có đoạn: “Mỗi năm và tháng 10, trang nghiêm pháp diên, kính ngưỡng di hạnh của Duy Ma, thuyết diệu lý Bất Nhị (毎年十月法筵を荘厳し、維摩の景行を仰ぎ、不二の妙理を説く).”
Bất nhị
不二; C: bùèr; J: funi;|Không hai.
bất nhị
Advaita (S), Advaya (S), Advika (P), Non-duality Trạng thái tâm không còn ràng buộc chủ thể và đối tượng, lý luận, so sánh và bất tư nghì.
; Cũng là nghĩa vô trụ, chẳng có cái nhị của tương đối mà cũng chẳng phải là một.
; (不二) Không hai. Cũng gọi Vô nhị, Ly lưỡng biên (lìa hai bên). Đối với hết thảy hiện tượng không phân biệt, hoặc vượt lên các thứ phân biệt. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 1 nói, thì lí Nhất thực màu nhiệm, vắng lặng, lìa các tướng, như bình đẳng, không đây, không kia, cho nên gọi là Bất nhị. Cũng gọi Chân như, pháp tính. Nhưng đặc biệt được xem trọng về phương diện nhận thức luận và phương pháp luận. Như Trung luận v.v... đã tổng kết tư tưởng Bát nhã, dùng Bát bất: bất sinh, bất diệt v.v... để biểu hiện rõ bản chất của pháp tính tạo thành nhận thức Phật giáo không dính mắc thiên kiến, khế hợp pháp tính: gọi là Trung đạo quán.
bất nhị bình đẳng
Non-dual equality.
bất nhị bất dị
(不二不異) Không hai không khác. Bất nhị tức là Bất dị. Đứng về phương diện tính mà nói, thì gọi là Bất nhị, đứng về phương diện tướng mà nói, thì gọi là Bất dị. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 4].
bất nhị ma ha diễn
(不二摩呵衍) Ma ha diễn chẳng hai. Chỉ biển tính đức tròn đầy (Tính đức viên mãn hải). Luận Thích ma ha diễn (sách chú thích luận Khởi tín), ở phần lập nghĩa gồm 33 thứ pháp môn, cho bất nhị ma ha diễn là pháp môn đệ nhất, là cảnh giới Bất nhị tuyệt đối, vượt lên trên mọi căn cơ, xa lìa các giáo thuyết. Vì vậy, đối ứng với 32 pháp môn kia, gọi Bất nhị ma ha diễn là Biển tính đức tròn đầy, còn 32 pháp môn kia thì gọi là Biển tu hành gieo nhân (Tu hành chủng nhân hải).
Bất nhị pháp môn
不二法門; Bất nhị: S: advaya, advaita;|Lí nhất thật, như như bình đẳng mà không có sự khác biệt giữa cái này với cái kia. Phật pháp có 84.000 môn và Pháp môn bất nhị là tối thượng. Trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) Văn-thù Bồ Tát hỏi Cư sĩ Duy-ma-cật những gì là Bất nhị pháp môn, nhưng Duy-ma-cật im lặng (Mặc nhiên) không trả lời. Văn-thù hiểu được cái im lặng sấm sét này (默如雷; mặc như lôi), liền bảo: »Hay lắm! Hay lắm! Không có văn tự ngôn thuyết, đó là Bất nhị pháp môn.«|Tín Tâm Minh:|要急相應。唯言不二|不二皆同。無不包容|十方智者。皆入此宗|宗非促延。一念萬年|…|信心不二。不二信心|Yêu cấp tương ưng, duy ngôn bất nhị|Bất nhị giai đồng, vô bất bao dung|Thập phương Trí giả, giai nhập thử tông|Tông phi xúc diên, nhất niệm vạn niên|. . .|Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm|*Gấp muốn tương ưng – chỉ nói bất nhị|Bất nhị thì hoà đồng|Không gì chẳng bao dung|Người trí thập phương đều vào tông này|Tông này vốn tự tại – khoảnh khắc là vạn niên|. . .|Tin tự tâm là bất nhị – bất nhị phải tin tự tâm.
bất nhị pháp môn
(不二法門) Pháp môn không hai. Là giáo pháp hiển bày chân lí bình đẳng tuyệt đối, siêu việt hết thảy tương đối sai việt. Tức pháp môn bất nhị này thường thấy ngay Thánh đạo (Chân lí tuyệt đối) trong tám vạn bốn nghìn pháp môn của Phật giáo. Phẩm Bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma có chép 33 thứ Bất nhị pháp môn. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.10; Thập nhị môn luận sớ Q.thượng]. (xt. Nhập Bất Nhị Pháp Môn).
bất nhị quan âm
(不二觀音) Một trong 33 ứng thân của bồ tát Quan âm. Tức biểu hiện thân Chấp Kim cương trong 33 thân. Nếu có chúng sinh nào cần đến thân Chấp kim cương để hóa độ, thì bồ tát Quan âm liền hiện thân này để nói pháp cho chúng sinh ấy nghe. Thần Chấp kim cương này là thần thủ hộ của đức Phật; thần này là Tích thân của Quan âm và theo nghĩa bản tích Bất nhị mà gọi là Bất nhị Quan âm. Hình tượng của ngài đan hai tay lại, đứng trên lá sen.
bất nhị thành tựu pháp
Advaya-siddhi (S)Tên một bộ luận kinh. Do Laksmikara soạn vào thế kỷ VIII.
bất năng ngữ
(不能語) Không nói được. Chỉ lời nói của đức Như lai. Pháp đức Phật nói là pháp vô vi chân thật, chúng sinh có nghe cũng khó mà hiểu hết cả mười phần, cho nên Phật có vì chúng sinh mà nói pháp cũng ví như không nói. Bởi vậy lời đức Như lai nói gọi là Bất năng ngữ. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 18 phẩm Anh nhi hạnh (Đại 12, 728 hạ), nói: Bất năng ngữ, nghĩa là Như lai tuy vì chúng sinh mà diễn nói tất cả pháp, nhưng thực thì không có chỗ nói. Vì sao ? vì có chỗ nói gọi là Pháp hữu vi. Như lai Thế tôn không phải Hữu vi, cho nên không nói. Lại nữa, không nói ví như tiếng nói bập bẹ của trẻ con chưa rõ, không ai hiểu gì, cho nên tuy có nói mà thực không nói. Như lai cũng thế, lời nói chưa rõ, tức là lời nói bí mật của chư Phật, tuy có nói mà chúng sinh không hiểu, thì cũng như không nói, vì thế gọi là không nói.
Bất phân biệt
不分別; C: bùfēnbié; J: fufunbetsu; S: avikal-pa.|Không phân biệt. Thường được gọi là Vô phân biệt (無分別).
bất phân giáo ngũ ý
(不分教五意) Năm ý không chia giáo. Nghĩa là có năm lí do không nên phân chia giáo pháp của đức Phật. Do ngài Trừng quán ở núi Thanh lương đời Đường chủ trương. Đó là: 1. Lí bản nhất vị, thù đồ đồng qui (lí vốn một vị, đường khác về cùng). Nghĩa là đức Phật nói các pháp, lí vốn không hai, tùy theo căn cơ mà có sự hiểu biết khác nhau, nên có đường lối bất đồng. Căn cơ tuy có sai biệt, nhưng cuối cùng đều trở về một lí chân thực. Vì thế không nên chia giáo pháp. 2. Nhất âm phổ ứng, nhất vũ phổ tư (một tiếng ứng khắp, một trận mưa thấm nhuần khắp). Nghĩa là đức Phật dùng một tiếng nói pháp bình đẳng ứng khắp, căn cơ lớn nhỏ đều được lợi ích, ví như một trận mưa tưới khắp cây cỏ trên mặt đất. Vì thế không nên phân chia giáo pháp. 3. Nguyên Phật bản ý, vị nhất sự cố (nguyên ý của Phật, vốn chỉ vì một việc). Nghĩa là Phật chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời nhằm mở bày cho chúng sinh đều được thành Phật; cho nên giáo pháp tuy chia làm 9 bộ loại, nhưng đều thuận theo chúng sinh mà nói, đưa vào Đại thừa là gốc, ý Phật như thế, vì vậy không nên phân chia giáo pháp. 4. Tùy nhất nhất văn, chúng giải bất đồng (tùy mỗi câu văn, mọi người hiểu khác nhau). Nghĩa là khi Phật nói về pháp vô thường, hoặc cho sinh diệt là vô thường, hoặc cho không sinh không diệt là vô thường. Pháp vốn là một, mà căn cơ hiểu biết khác nhau, vì thế không nên chia giáo pháp. 5. Đa chủng thuyết pháp, thành chi lưu cố (nói nhiều thứ pháp, thành các chi nhánh). Nghĩa là lúc pháp sắp diệt, có nhiều thứ thuyết khác lạ, e một vị thuần nhất bị pha trộn thành nhiều chi nhánh khác nhau, vì thế không nên phân chia giáo pháp.
Bất phóng dật
不放逸; C: bùfàngyì; J: fuhōitsu;|Không xao lãng, chú tâm. Một trong 10 Đại thiện địa pháp được liệt kê trong A-tì-đạt-ma câu-xá luận; một trong các thiện tâm sở pháp theo giáo lí của Du-già hành phái. Là thiện tâm sở ngăn ngừa mọi việc ác và nuôi dưỡng những việc thiện. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派), Bất phóng dật được xem như một pháp giả tạm hơn là một pháp có thật.
bất phóng dật
Apramada (S)Chuyên chú thiện pháp. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
; No slackness or looseness.
; (不放逸) Không buông lung. Phạm: apramàda. Tên tâm sở. Một trong 75 pháp, một trong 100 pháp. Là tác dụng tinh thần ngăn ngừa phạm vào việc ác, chuyên chú ở pháp thiện. Được dùng để chống lại sự buông lung mà thành tựu tất cả pháp thiện, cho nên Thuyết nhất thiết hữu bộ đem Bất phóng dật xếp vào một trong mười Đại thiện địa pháp. [X. luận Câu xá Q.4; luận Phẩm loại túc Q.3]. (xt. Phóng Dật).
Bất sanh
xem Bốn quả thánh.
bất sanh
Ajāta (S), Anutpāda (S), Asāra (P), Asāru (S, P), Unproductive
Bất sinh
不生; C: bùshēng; S: anutpāda; J: fushō;|Danh từ được dùng chỉ cái Tuyệt đối, không phát sinh, không sinh ra, không sinh khởi; 1. Một thuật ngữ để gọi một vị A-la-hán, là người không còn sinh khởi các nghiệp; 2. Đồng nghĩa với Niết-bàn.
bất sinh
Fushō (J).
; Anutpatti; anutpàda; ajàta (S). Non-birth; not to be reborn, exempt from rebirth. Unproductive, sapless.
; (不生) I. Bất sinh. Không sinh ra nữa. Phạm: arhan. Dịch âm: A la hán. Người đã được quả A la hán, không còn phải chịu sinh ra lại trong ba cõi sáu đường nữa. Tức đã vĩnh viễn vào Niết bàn, không còn chịu quả báo sống chết, nên gọi là Bất sinh. [X. luận Đại trí độ Q.3]. II. Bất sinh. Tên khác của Như lai. Như lai thường trụ, không sinh, không diệt nên gọi là Bất sinh. [X. kinh Lăng già Q.4]. III. Bất sinh. Nghĩa của chữ Niết. Kinh Niết bàn (bản Nam và bản Bắc) quyển 5 nói: Niết, nghĩa là chẳng sinh. Bàn, nghĩa là chẳng diệt; chẳng sinh, chẳng diệt gọi là Đại niết bàn. IV. Bất sinh. Phạm: anutpàda. Dịch âm: a nậu ba đà. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 trung), nói: A đề, Hán dịch: lúc đầu. A nậu ba đà, Hán dịch: chẳng sinh.
Bất sinh bất diệt
不生不滅; C: bùshēng bùmiè; J: fujōfumetsu; S: anutpāda-anirodha;|Không sinh trưởng, chẳng ngừng diệt. Vì mọi hiện hữu là Không nên rốt ráo là bất sinh bất diệt. Đây là một trong những quan điểm căn bản của các tông phái Đại thừa.
bất sinh bất diệt
Xem bát bất. Neither born nor ended.
; (不生不滅) Đối lại với Sinh diệt. Hàm ý là thường trụ. Mỗi khi hình dung Niết bàn, các kinh luận thường dùng bất sinh bất diệt để biểu thị. Cứ theo Bát nhã tâm kinh nói, thì đặc tính của tất cả cái tồn tại trong thế gian đều không có thực thể, không sinh không diệt. Trước thời đại Phật giáo, tư tưởng này đã manh nha trong xã hội Ấn độ, sau đó đã trở thành là một trong những giáo nghĩa căn bản của Phật giáo.
bất sinh bất sinh bất khả thuyết
(不生不生不可說) Một trong bốn Bất khả thuyết. Có xuất xứ từ phẩm Đức vương trong kinh Đại niết bàn. Nhà Thiên thai đem bất sinh bất sinh phối với chân lí của Viên giáo. Viên giáo nói lí chân như xưa nay vốn không sinh, sự (hiện tượng) trong mười cõi (vũ trụ) tuy sai biệt (có sinh diệt) nhưng lí (bản thể) thì không sinh, cho nên gọi là Bất sinh bất sinh. Ý tức là lí chân như và tướng sai biệt của mười cõi không hai. Lí bất sinh bất sinh này rất sâu xa mầu nhiệm, khó diễn tả được bằng lời nói, chỉ có thể dùng trí để chứng, ví thế gọi là Bất khả thuyết. [X. Tứ giáo nghi Q.1; Duy ma kinh huyền sớ Q.1]. (xt. Tứ Bất Khả Thuyết).
bất sinh đoạn
(不生斷) Một trong ba đoạn. Đoạn, nghĩa là dứt. Vì các duyên (điều kiện) giúp sinh ra tất cả pháp đã bị dứt hết, nên cuối cùng không sinh, gọi là Bất sinh đoạn. Tức là người tu hành đoạn trừ phiền não, khi chứng được pháp không ở Sơ địa, thì vĩnh viễn không còn chịu quả khổ trong ba đường ác, đồng thời, đoạn trừ hết những hạt giống sinh ra người không có căn (không có nam căn, nữ căn), người hai hình (nửa tháng có nam căn, nửa tháng có nữ căn), sinh ở Bắc câu lư châu, sinh lên cõi trời Vô tưởng v.v…... Pháp vô vi nhờ vào Bất sinh đoạn mà chứng được, gọi là Phi trạch diệt vô vi. [X. Tông kính lục Q.76; Đại minh tam tạng pháp số Q.10]. (xt. Tam Đoạn).
bất sám cử
(不懺舉) Một trong ba cử. Tỉ khưu phá giới không chịu sám hối, chúng tăng khuyên bảo lại cho là xuyên tạc vu cáo, chứ tuyệt không ăn năn. Đối với hạng tỉ khưu không chịu sám hối này, chúng tăng có quyền nêu (cử) tội của họ ra để xử trị và đuổi ra khỏi chúng tăng, gọi là Bất sám cử. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng]. (xt. Tam Cử).
bất sát giới
xem giới không giết hại.
bất sát sinh giới
(不殺生戒) Giới không giết hại. Giới thứ ba trong bốn giới Ba la di của Tiểu thừa, giới thứ nhất trong mười giới cấm nặng của Đại thừa. Ở trong giới luật, giới sát sinh thuộc về tội nặng nhất. Đại thừa cấm ngặt việc giết hại mệnh sống của hữu tình, Tiểu thừa thì chỉ coi trọng mệnh người, gọi giới giết người là giới sát nhân, gọi tắt là giới sát, là một trong bốn giới Ba la di; giới giết súc sinh gọi là Sát súc sinh giới, thuộc một trong 90 giới Đơn đọa, tội nhẹ hơn tội giết người. Trong năm giới tại gia và mười giới sa di, giới không giết hại đều được đặt ở đầu, cấm ngặt không được vi phạm. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 1]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Tứ Ba La Di).
bất sân hận
Abyapada (S), Non-aversion.
bất thanh tịnh thí
(不清淨施) Sự bố thí không trong sạch. Chỉ sự bố thí có tâm bám dính. Cũng gọi Bất tịnh thí. Đối lại với Thanh tịnh thí. Tức khi bố thí còn thấy có người cho, người nhận và vật để cho v.v…... là có thực, chứ chưa đạt được Tam luân thể không’. Cứ theo Trung a hàm quyển 47, kinh Cù đàm di và kinh Đại bátniết bàn (bản Bắc) quyển 24, nếu căn cứ vào tịnh hay bất tịnh của người cho và của người nhận, thì có thể chia làm bốn: 1. Người cho tịnh, người nhận bất tịnh. 2. Người cho bất tịnh, người nhận tịnh. 3. Người cho, người nhận đều tịnh. 4. Người cho, người nhận đều bất tịnh. Lại cứ theo Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận quyển 6 nói, thì trong bất tịnh thí có hai tình huống: một là vì sợ hãi mà cho, hai là vì mong được đền ơn mà cho. [X. kinh Năng đoạn kim cương; kinh Tâm địa quán Q.7]. (xt. Bố Thí).
Bất thiện
不善; C: bùshàn; J: fuzen; S: akuśala; P: aku-sala;|Chỉ tất cả các Nghiệp xuất phát từ gốc bất thiện mang mầm mống đau Khổ cho đời sống kế tiếp. Gốc bất thiện gồm tham (s, p: lobha), sân (s: dveṣa; p: dosa), Si (s, p: moha).|Tham là tình trạng tâm thức bị cuốn hút đến một đối tượng cần được thoả mãn và được đối trị bằng Bố thí (s, p: dāna). Sân là tình trạng tâm thức khó chịu, giận dữ khi không được thoả mãn, được đối trị bằng Từ bi (s: maitrī-karuṇā; p: mettā-karuṇā). Si chỉ một hành động hoặc tư tưởng không phù hợp với Chân như và được đối trị bằng chính tri kiến (Bát chính đạo). Ba gốc bất thiện nói trên là những yếu tố cơ bản trói buộc loài hữu tình nằm trong Vòng sinh tử và cần được đoạn diệt để tiến tới giác ngộ. Có khi tham sân si được hình tượng hoá bằng ba con vật; gà (tham), rắn (sân), lợn (si).
bất thiện
Xem ác.
; Akusala (S). Not good; contrary to the right and harmful to present and future life. Unwholesome.
; (不善) Phạm: akuzala, Pàli: akusala. Đối lại với thiện. Một trong ba tính, đồng nghĩa với ác. Nghĩa là tính chất của nó không làm cho người ta an ổn, là pháp xấu ác, hay làm tổn hại đời này đời sau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 51 và luận Câu xá quyển13, thì Bất thiện có bốn thứ: 1. Tự tính bất thiện, chỉ cho vô tàm (không thẹn với mình), vô quí (không hổ với người), tham, sân và si. Trong các pháp hữu lậu, năm pháp này tự thể của chúng là bất thiện, cũng như thuốc độc. 2. Tương ứng bất thiện, chỉ cho tất cả tâm và tâm sở tương ứng với vô tàm, vô quí, tham, sân và si mà sinh ra cùng một lúc. Do sự tương ứng đó mà chúng thành là tính chất bất thiện. 3. Đẳng khởi bất thiện, chỉ cho thân nghiệp, ngữ nghiệp và pháp bất tương ứng hành. Đẳng khởi (cùng khởi lên như nhau), nghĩa là theo thiện khởi thiện, theo ác khởi ác, năng khởi và sở khởi giống nhau. Đây là do tự tính bất thiện và tương ứng bất thiện dẫn khởi. 4. Thắng nghĩa bất thiện, chỉ cho pháp sinh tử. Các pháp trong sinh tử tuy có thiện, có bất thiện, nhưng bản chất của chúng đều là khổ, cực kì bất an. Tức do thực nghĩa của chân đế mà định nghĩa các pháp sinh tử là bất thiện, cho nên gọi là Thắng nghĩa bất thiện. Các nhà phân biệt luận thì cho si là Tự tính bất thiện, thức là Tương ứng bất thiện, thân, ngữ là Đẳng khởi bất thiện, sinh tử là Thắng nghĩa bất thiện. Còn luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển4 thì lập 12 thứ bất thiện, tức là: tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, tổn hại, dẫn nhiếp, sở trị, và chướng ngại bất thiện. [X. luận Thành duy thức Q.5; luận Phẩm loại túc Q.2; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.2, Q.15; luận Thành thực Q.9 phẩm Quá hoạn]. (xt. Tam Tính, Thiện).
bất thiện căn
Ahetuka cittas (P), AkuśalamŪla (S), Unwholesome root.
; Akusalamula (S) Fuzen-gon (J). Not wholesome roots.
; (不善根) Phạm: akuzala-mùla.Trong các phiền não ở ba cõi, năm bộ của cõi Dục có ba thứ bất thiện căn là: tham, sân, si. Bản chất của ba phiền não này là bất thiện, hay dẫn sinh và nuôi dưỡng tất cả pháp bất thiện, cho nên gọi là Bất thiện căn (gốc rễ của tất cả cái bất thiện). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 12 chép, thì ba phiền não tham, sân, si có năm nghĩa dưới đây: 1. Thông cả năm bộ. 2. Ở khắp sáu thức. 3. Là tính tùy miên (tính hoạt động ngấm ngầm). 4. Hay dấy sinh nghiệp thân, nghiệp miệng thô ác. 5. Giúp sức mạnh mẽ cho việc chặt đứt gốc lành. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Câu xá Q.6; luận Đại tì bà sa Q.47; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Thuận chính lí Q.41]. (xt. Thiện Căn).
Bất thiện hạnh
不善行; C: bùshànxíng; J: fuzengyō;|Hành vi xấu, nghiệp ác. Hành vi mang đến những kết quả xấu. Cũng như Bất thiện nghiệp (不善業; theo Đối pháp luận 對法論)
Bất thiện nghiệp
不善業; C: bùshànyè; J: fuzengyō;|Hành vi xấu, nghiệp ác. Hành vi mang đến những kết quả xấu. Cũng như Bất thiện hạnh (不善行).
Bất thiện tính
不善性; C: bùshànxìng; J: fuzenshō;|Phẩm tính không lành mạnh, xấu ác. Nói đến những hành vi trái đạo đức, sẽ mang đến quả báo đau khổ. Đây là 1 trong 3 phẩm tính của nghiệp (Tam tính 三性); 2 tính kia là Thiện tính (善性) và Vô kí tính (無記性). Bất thiện ở trên (theo Du-già luận 瑜伽論).
bất thiện đạo
Evil paths.
bất thoái
Avinivartaniya (S)A tì bạt trí, A bệ bạt trí.
; (不退) Không lùi. Phạm: avinivartanìya. Dịch âm: A duy việt trí, A bệ bạt trí. Cũng gọi Bất thoái chuyển, Vô thoái, Tất định. Thoái, hàm ý là lui bước, lui rơi, chỉ cho sự lui bước mà rơi vào đường ác và vào Địa vị Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác); tức lui khỏi địa vị Bồ tát đã chứng được và đánh mất pháp đã ngộ được. Trái lại, tu hành không trở lui, mạnh mẽ tiến bước, cho đến khi thành quả Phật, thì gọi là Bất thoái. Bất thoái vị cũng gọi là Bất thoái chuyển địa. Trong giai vị bốn thiện căn của Hữu bộ; đến được vị Nhẫn rồi thì không còn trở lui mà rơi vào đường ác nữa, cho nên gọi là Bất thoái. Kinh Đại bát nhã quyển 449 nói, vào ngôi Kiến đạo được vô sinh pháp nhẫn, thì không còn rơi vào Nhị thừa địa, nên được gọi là Bất thoái. Lại nữa, trong giai vị Bồ tát, trụ thứ bảy trong mười trụ, gọi là Bất thoái chuyển trụ, do đó đã sản sinh ra các thuyềt về Bất thoái như sau: 1. Tam bất thoái, là thuyết của ngài Cát tạng trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1. Có bốn thuyết giải thích về Tam bất thoái, nhưng ở đây chỉ lấy thuyết thứ nhất: a) Vị bất thoái, trong mười trụ, Bồ tát từ trụ thứ bảy trở lên không còn lui trở lại Nhị thừa địa. b) Hạnh bất thoái, việc tu hành mà Bồ tát đạt được ở địa vị thứ bảy trong mười địa, không còn trở lui. c) Niệm bất thoái, Bồ tát từ địa thứ tám trở lên không cần ghi nhớ tinh tiến, tự nhiên có thể tiến đạo mà không động niệm. 2. Tứ bất thoái, tức là Tam bất thoái ở trên cộng thêm Xứ bất thoái (sinh về tịnh độ của Phật A di đà, không trở lui), thành Tứ bất thoái. Đây là thuyết của ngài Ca tài trong luận Tịnh độ quyển thượng. Ngoài ra, trong Pháp hoa huyền tán quyển 2, ngài Khuy cơ cũng lập Tứ bất thoái: a) Tín bất thoái, trong giai vị mười tín, Bồ tát tâm thứ sáu trở lên không còn khởi tà kiến. b) Vị bất thoái, trong giai vị mười trụ, Bồ tát ở trụ thứ bảy trở lên, không còn trở lui lại Nhị thừa địa. c) Chứng bất thoái, pháp của Bồ tát từ Sơ địa trở lên, không còn lui mất. d) Hạnh bất thoái, Bồ tát địa thứ tám trở lên, có thể tu hạnh hữu vi và vô vi mà không trở lui lại. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4 của ngài Hoài cảm cũng có thuyết Tứ bất thoái ở trên. Trong A di đà kinh yếu giải, ngài Trí húc nêu ra thuyết Tứ bất thoái: Niệm, Hạnh,Vị, Tất kính. Còn trong Tứ độ đồ thuyết của ngài Từ ân thì có thuyết Tứ Bất thoái: Nguyện, Hành, Trí, Vị v.v... (xt. Tứ Bất Thoái). 3. Ngũ bất thoái, bốn bất thoái Tín, Vị, Chứng, Hành, cộng thêm Phiền não bất thoái (Bồ tát ở vị Đẳng giác không còn bị phiền não làm trở lui) mà thành Ngũ bất thoái. [X. kinh Đại bảo tích Q.27, Q.77, Q.111; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.28; Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận Q.1; Nhiếp đại thừa luận thích Q.8; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Câu xá Q.23; luận Thập trụ tì bà sa Q.5 phẩm Dị hành].
bất thoái bồ tát
(不退菩薩) Nghĩa là đối với vô thượng bồ đề (quả vị Phật), Bồ tát này đã được ở vào địa vị không trở lui nữa. Nhưng có ba bốn thứ bất thoái và tùy theo thuyết của các tông mà vị thứ có khác. (xt. Bất Thoái).
bất thoái chuyển
Avaivartika (S), Non-blacksliding Tất định, A đề bạt trí, A duy việt trí, Duy việt, A bệ bạt tríTên gọi chúng sanh ở Cực lạc quốc.
bất thoái chuyển pháp luân
(不退轉法輪) Cũng gọi Bất thoái luân. Phật và Bồ tát cho chính quán vô sinh nói pháp một cách trôi chảy, tròn đầy và thông suốt, gọi là Pháp luân (bánh xe pháp). Pháp luân này do Bồ tát đã chứng pháp bất thoái mà chuyển xoay, càng thêm càng tiến, thường không lui mất. Hơn nữa, lí của Bồ tát nói ra có tiến không thoái, khiến chúng sinh được bất thoái chuyển, cho nên gọi là bất thoái chuyển pháp luân. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Gia tường); chú Duy ma kinh Q.1].
bất thoái tướng
(不退相) Một trong chín bậc Vô học, một trong 27 Hiền thánh. Chỉ cho bậc Thánh vô học lợi căn nhất mà công đức ngài đã tu được hoàn toàn không bị lui mất. Tức là bậc Bất thoái pháp A la hán nói trong kinh Phúc điền của Trung a hàm quyển 30. [X. luận Thành thực Q.1 phẩm Phân biệt thánh]. (xt. Cửu Vô Học, Nhị Thập Thất Hiền Thánh).
bất thoái địa
(不退地) Địa vị không trở lui. Bất thoái, Phạm: avinivartanìya. Dịch âm: A bệ bạt trí. Là giai vị không còn trở lui để lại rơi vào đường ác, vào địa vị Nhi thừa, đồng thời, pháp đã chứng được cũng không bị lui mất. Bất thoái có ba, bốn khác nhau, và vị thứ tùy theo các tông mà có sai biệt, nhưng nói chung thì đều chỉ cho địa vị Bồ tát từ Sơ địa trở lên, tức là Hạnh bất thoái trong ba bất thoái, Chứng bất thoái trong bốn bất thoái. (xt. Bất Thoái).
bất thoái độ
(不退土) Tịnh độ không trở lui. Tức chỉ thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà ở phương tây. Người tu niệm Phật được sinh về Tịnh độ thì không bao giờ trở lui nữa. Môn Tịnh độ lập bốn bất thoái, lấy thế giới Cực lạc ở phương tây làm Xứ bất thoái (nơi chốn không trở lui). Vãng sinh thập nhãn (Đại 84, 102 thượng) nói : Ra khỏi làng luân hồi, đi tới cõi bất thoái. (xt. Bất thoái).
bất thuyết
Undeclared.
bất thuyết bồ tát
(不說菩薩) Bồ tát không nói. Chỉ cho cư sĩ Duy ma cật. Cứ theo kinh Duy ma phẩm Nhập bất nhị pháp môn chép, Thì khi bồ tát Văn thù sư lợi hỏi về pháp môn Bất nhị, cư sĩ Duy ma cật đã im lặng không nói, để hiển bày pháp môn bất nhị chân thực của bồ tát, cho nên gọi là Bất thuyết bồ tát.
bất thành nhân
(不成因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Theo phương thức lập luận Nhân minh, Nhân (lí do) phải đầy đủ ba tướng (ba tính chất), mới có thể thành Nhân chính xác, nếu thiếu bất cứ tướng nào trong ba tướng đều trở thành Tự nhân (nhân tương tự, nhân không chính xác). Trong ba tướng, nếu Nhân thiếu tướng thứ nhất (Biến thị Tông pháp tính, nghĩa là tính chất của Nhân phải bao gồm cả tính chất của Tông), thì không thể chứng minh được Tông (mệnh đề, chủ trương), gọi là Bất thành nhân. Có bốn loại bất thành: Cả hai đều bất thành; Tùy một bất thành; Do dự bất thành; Sở y bất thành. Nhân phải luôn luôn có mặt trong Tông mới có thể chứng minh được Tông, nếu không, hoặc chỉ hiện diện một phần, thì cũng không chứng minh được Tông. Tính chất bao trùm của Nhân trong Tông phải được cả đôi bên người lập luận và người vấn nạn đồng ý mới thành. Nói cách khác, tính chất Nhân trong Tông phải được cả đôi bên quyết định, không một chút do dự hoài nghi mới thành, trái lại thì là bất thành. Bất thành; tức là tính chất Nhân trong Tông không được quyết định một cách dứt khoát và có thể được giải thích theo hai phương diện: một là Nhân không thể thành Tông; hai là Nhân không thể thành Nhân. Theo cách giải thích thứ nhất, chữ Thành là nghĩa thành lập, chú trọng vào mối quan hệ giữa Nhân và Tông mà lập thuyết. Còn theo cách giải thích thứ hai, thì chữ Thành là nghĩa thành tựu, chú trọng đến bản thân của Nhân mà lập thuyết. Dung hợp cả hai giải thích trên đây thì có đủ quan hệ nhân quả. Phần Nhân vốn được dùng để chứng minh thể của Tông, khiến thể của Tông được thành lập, cho nên, khi Nhân không đủ sức thành lập Tông thể, thì gọi là Nhân bất thành. Đứng về phương diện bản thân Nhân mà nói, trong trường hợp này, không những Nhân đã không có sức chứng minh Tông, mà Nhân cũng không làm hết cái trách nhiệm mà lẽ ra Nhân phải chu toàn, như vậy Nhân cũng chẳng thành Nhân. Cho nên có thể nói, tự chẳng thành Nhân là kết quả của sự không thành Tông. Lí do không thành Tông là vì tính chất của Nhân không bao quát khắp trong Tông, và lý do không thành được Tông và tự chẳng thành Nhân cũng đều từ đó mà ra. [X. luận Nhân minh nhập chính lí ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Tam Tướng, Nhân Minh, Y Chuyển Cực Thành).
bất thẩm
(不審) Không (xét) rõ. Lời thăm hỏi lễ phép khi các vị tỉ khưu gặp nhau trao đổi. Chẳng hạn như câu: Bất thẩm tôn hậu như hà? (Bạch tôn đức (hoặc tôn huynh) có được khỏe không ạ?) v.v…... Theo Đại tống tăng sử lược quyển thượng nói, thì khi các vị tỉ khưu gặp nhau, cúi mình chắp tay và miệng nói bất thẩm là bày tỏ ba nghiệp thân, miệng, ý kính mến, gọi là vấn tấn (thăm hỏi).
bất thật công đức
(不實功德) Công đức không chân thực. Tức công đức không phù hợp với thực lí chân như. Đối lại với Chân thực công đức. Chỉ cho các việc tốt lành do phàm phu hoặc người, trời thực hiện. Vì động cơ của những việc tốt lành họ làm là tâm hữu lậu, không thuận theo pháp tính, cho nên gọi là Bất thực công đức. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
bất thế tục
Niramisa (S), Unworldly.
bất thể thất vãng sinh
(不體失往生) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đối lại với Thể thất vãng sinh. Thể, chỉ cái thân thể nhớp nhúa do năm uẩn hợp thành. Những người tu hành được vãng sinh, khi hấp hối, cái thân thể nhớp nhúa của họ mất đi, thì mới vãng sinh được, gọi là thể thất vãng sinh. Đối lại, lúc đang sống, nghe và tin (nghe danh hiệu Nam mô a di đà Phật rồi sinh lòng tin) là đã thành tựu sự nghiệp vãng sinh rồi, không cần đợi đến khi mất thân phàm phu nhớp nhúa mới quyết định vãng sinh, gọi là Bất thể thất vãng sinh. [X. Khẩu truyền sao Q.trung].
bất thỉnh chi hữu
(不請之友) Cũng gọi Bất thỉnh hữu (bạn không mời). Chỉ cho người bạn rất thân chưa mời mà tự đến. Dùng để ví dụ Phật, Bồ tát vì cứu độ chúng sinh, không đợi chúng sinh cầu thỉnh, nhưng vì lòng từ bi rộng lớn cảm ứng mà tự đến, ban pháp lành cho chúng sinh. Đối với chúng sinh mà nói, thì đó là người bạn không mời. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Duy ma Q.thượng phẩm Phật quốc (ngài Cưu ma la thập dịch)].
bất thỉnh chi pháp
(不請之法) Cũng gọi Bất thỉnh pháp. Nghĩa là tuy chúng sinh chưa thỉnh cầu, nhưng đức Phật cũng tùy cơ căn mà chủ động nói pháp để chỉ bày pháp môn lợi ích cho chúng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Đem pháp không cầu thỉnh, ban phát cho mọi người.
Bất thối
不退; C: bùtuì; J: futai;|Không trở nên yếu đuối, hay từ bỏ (s: akilāsitva, akhinna, akheda). Không thối lui, đặc biệt là trong dụng ngữ tu đạo của Phật giáo, căn cứ trên sự ưu tiên tích tập công đức, hoặc vào việc tu tập giác ngộ. Căn cứ vào nhiều kinh luận khác nhau, người ta có thể tìm thấy nhiều giai vị tu chứng khác nhau được gọi là »Bất thối vị«. Chẳng hạn nhiều bản kinh Đại thừa có ghi Bất thối vị là giai vị thứ 7 trong Thập trú. Nhưng theo Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra), Bất thối vị là giai vị thứ nhất trong Thập địa, lại nữa, trong Phật tính luận (佛性論), Bất thối vị là giai vị thứ nhất trong Thập hồi hướng.
bất thối (thoái)
Avaivartika, or avinivartaniya (S). Never receding, always progressing, not backsliding, or losing ground; never retreating but going straight to nirvàna; an epithet of every Buddha.
bất thối bồ tát
Avaivarti Bodhisattva (S)A bệ bạt trí bồ tátTên một vị Bồ tát.
; A never-receding bodhisattva.
bất thối chuyển
xem không thối chuyển.
; Non-retrogression.
; Never-receding, never retreating.
bất thối chuyển bồ
tát Non-retrogressive bodhisattvas.
bất thối chuyển pháp luân
The never-receding Buddha-vehicle, of universal salvation.
Bất thối chuyển pháp luân kinh
不退轉法輪經; C: bùtuì zhuănfǎlún jīng; J: futai tenbourin kyō;|Kinh, 4 quyển. Dịch giả không rõ.
Bất thối trú
不退住; C: bùtuì zhù; J: futai jū;|Giai vị thứ 7 trong Thập trú. Giai vị mà hành giả không còn rơi trở lại vào chấp không, không rơi vào chấp tướng và tham muốn nữa.
Bất thối vị
不退位; C: bùtuìwèi; J: futaii;|Quả vị bất thối chuyển (s: avinirvatanīya, avivartika), giai vị tu chứng của hàng Bồ Tát, sau khi chứng được quả vị nầy sẽ không bao giờ lui sụt nữa. Bất thối.
bất thối địa
The Pure Land, from which there is no falling away.
bất thời giải thoát
(不時解脫) Phạm: Asamaya-vimukta. Cũng gọi Bất động tâm giải thoát, Bất thời bất di động tâm giải thoát. Đối lại với Thời giải thoát. Chỉ bậc Bất động pháp A la hán thứ sáu trong sáu loại A la hán. Loại Bất động pháp A la hán này căn tính thù thắng vào bậc nhất, ở giai vị Hữu học gọi là Tùy pháp hành, Kiến chí; nhờ lợi căn, nên ở ngay trong pháp hiện tiền được yên vui, chứ không cần đợi các sự duyên đầy đủ; được tự tại tùy thời chứng vào bốn định căn bản, bốn định vô sắc và định Diệt tận, trong tâm cởi bỏ hết chướng phiền não, bởi thế gọi là Bất thời giải thoát. Lại vì loại A la hán này đối với phiền não và tâm giải thoát không còn động loạn và trở lui, cho nên cũng gọi Bất động tâm A la hán. [X. luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.101]. (xt. Thời Giải Thoát).
bất thụ nhất thiết pháp
(不受一切法) Không nhận tất cả pháp. Nghĩa là tâm không đắm trước, không dính mắc, hoàn toàn giải thoát, trút bỏ tất cả phiền não. [X. Pháp hoa kinh phẩm Hóa thành dụ].
bất thụ tạo
Akrta (S).
bất tri túc giả
(不知足者) Người không biết đủ. Đối lại với Tri túc. Chỉ người có lòng tham cầu quá nhiều, không biết thế nào cho đủ, càng được càng tham, vượt ngoài sức mình. Tất cả khổ não đều do lòng tham muốn gây ra, cho nên người tu hành cần phải biết tự thỏa mãn với cuộc sống thanh đạm của mình. Kinh Di giáo nói: người không biết đủ thường bị năm dục lôi kéo, cho nên dù ở thiên đường cũng không vừa ý, tuy giàu có mà vẫn thấy mình nghèo khó, làm cho người biết đủ phải xót thương.
bất trụ bái
(不住拜) Lễ lạy không nghỉ, cho đến trăm nghìn lạy. Thiền lâm tượng khí tiên quyển 10: Khi đã được thầy truyền pháp rồi, mà đệ tử vẫn lễ lạy không ngừng, có thể đến trăm nghìn lạy, đó chính là phù hợp với cách lễ lạy thường được Phật tổ ứng dụng xưa nay.
bất tu ngoại đạo
(不修外道) Là một trong những ngoại đạo Ấn độ ngày xưa, do San xà dạ tì la chi tử trong nhóm Lục sư sáng lập. Ông này chủ trương chẳng cần phải gắng sức cầu đạo, cứ trải qua nhiều kiếp sống chết, đến một lúc nào đó tự nhiên hết khổ mà được Niết bàn. Ngoại đạo này có khả năng được năm thần thông, cho nên có thể biết rõ các việc của tám vạn kiếp quá khứ, ngoài tám vạn kiếp thì không biết gì nữa. [X. Chú duy ma kinh Q.3; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 4].
bất tài tịnh
(不才淨) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền gia dùng từ ngữ này ngụ ý chê bai ngôn ngữ văn tự là những giây sắn giây bìm. Tức là ngôn ngữ văn tự chỉ gây thêm rối rắm, chứ không giúp người ta thấy rõ được lí Thiền. Cùng nghĩa với Bất tài bất tịnh. Lâm tế lục thị chúng (Đại 47, 502 thượng), nói: Sơn tăng kim thời, sự bất hoạch dĩ, thoại độ thuyết xuất hứa đa bất tài tịnh, nhữ thả mạc thố! Nghĩa là: Hôm nay, thế chẳng đặng đừng, sơn tăng mới thốt ra những lời nói rối rắm, các ông cẩn thận kẻo lầm!.
bất tích thân mệnh
(不惜身命) Không tiếc mệnh sống của mình. Nghĩa là vì cấu đạo vô thượng mà có thể xả bỏ mệnh sống của mình. Phật giáo lấy việc cứu độ chúng sinh, cầu Vô thượng chính đẳng chính giác làm mục tiêu, và vì mục tiêu ấy mà không tiếc mệnh sống của mình. tức biểu thị quyết tâm tu hành đạo Phật.
Bất tín
不信; C: bùxìn; J: fushin; P: assaddhiya; S: aśraddha|1. Không tin, thiếu niềm tin; 2. Theo luận A-tì-đạt-ma Câu-xá, bất tín là 1 trong những Đại phiền não địa pháp; 3. Theo Duy Thức tông, bất tín là không tin vào sự hiện hữu ngay đời nầy và có hậu quả (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
bất tín
Asvaddhya (S), Asādhya (S)Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp.Tác dụng khiến tâm không được lắng trong thanh tịnh.
; Iccantika (S). Lack of faith. One who doesn't believe in Buddhist doctrine. Also nhất xiển đề.
; (不信) Không tin. Phạm: Àzradhya. Tên tâm sở. Một trong 75 Pháp Câu xá, một trong 100 pháp Duy thức. Chỉ tác dụng tinh thần nhơ đục trong tâm. Đối với Tứ đế, Tam bảo v..v... chưa thể tin nhận ưa thích, tướng bên ngoài, tâm bên trong đều nhơ nhớp, vẩn đục, gọi là Bất tín. Thuyết Nhất thiết hữu bộ cho Bất tín tương ứng với tà kiến và tương đương với tất cả tâm ô nhiễm, cho nên liệt nó vào hàng 10 Đại bất thiện địa pháp. Các nhà Duy thức thì cho nó là một trong tám Đại tùy hoặc. [X. luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Dại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Tín).
bất tùng nghiệp sinh
Karmaprabhava (S).
; Karmaprabhava (S). Birth not derived from karma.
bất tùy thế
Asaṁkhata (S).
bất tăng bất giảm
(不增不减) Không thêm bớt. Chỉ cho cái thường còn, tức chân như, pháp tính, hoặc pháp giới. Pháp thân là bất biến, thường trụ, ở khắp tất cả chỗ, không thêm một pháp, cũng không bớt một pháp. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 34 phẩm Bảo vương Như lai tính khởi thứ 32 phần 2 (Đại 9, 614 hạ), nói: Ví như tính như như, tịch diệt lìa hư vọng, đã chẳng từng có sinh, cũng chẳng từng có diệt. Như vậy các Như lai, và tất cả cảnh giới, cũng đồng tính như như, không thêm cũng không bớt. Luận Đại thừa khởi tín cũng nói (Đại 32, 579 thượng): Tướng tự thể của chân như ở tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật, không có thêm bớt, không phải sinh ở lúc trước, chẳng phải diệt ở lúc sau, rốt ráo thường hằng. [X. kinh Bất tăng bất giảm; luận Phật tính Q.4; luận Bảo tính Q.2; Trung biên phân biệt luận thích (bản tiếng Phạm: Madhyànta-vibhàgavyàkhyà); Louis de la Vallé Poussin: Mélanges chinois et bouddhiques, 1, 394].
Bất tăng bất giảm kinh
不増不減經; C: bùzēng bùjiǎn jīng; J: fusō fugen kyō;|Một bộ kinh được Bồ-đề Lưu-chi dịch năm 525. Là bản kinh ngắn nhưng có ảnh hưởng, nói về thuyết Như Lai tạng, giải thích về sự tương quan giữa chúng sinh và Pháp thân (法身; s: dharmakāya, hay Pháp giới 法界; s: dharmadhātu) như là một trong sự tương đương với trung gian của Như Lai tạng. Kinh mở đầu với câu hỏi của Tôn giả Xá-lợi-phất như vô số chúng sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường thì có tăng có giảm chăng. Đức Phật đáp lại bằng cách giải thích quan niệm tăng giảm như thế nào để khỏi rơi vào tà kiến chấp thường chấp đoạn. Rồi Đức Phật giải thích sâu hơn về bản thể Như Lai tạng trong mối tương quan với Pháp thân và chúng hữu tình. Tên đầy đủ của kinh là: Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh (佛説不増不減經).
bất tăng bất giảm kinh
(不增不减經) Có 1 quyển. Ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy. Thu vào Đại chính tạng tập 16. Kinh này hiện không còn nguyên bản tiếng Phạm, cũng không có bản dịch Tây tạng, nhưng có tới một phần ba nội dung chủ yếu của nó được trích dẫn trong luận Bảo tính. Và căn cứ vào sự trích dẫn này thi tên tiếng Phạm của kinh là: Anùnatvàpùrịatva-nirdeza-parivarta. Lại cứ theo tên tiếng Phạm mà suy, thì kinh này nguyên là một phẩm của kinh điển Đại bộ, nay trở thành kinh điển Tiểu bộ. Nội dung kinh này là cuộc đối đáp giữa đức Phật và tôn giả Xá lợi phất về vấn đề chúng sinh giới luân hồi trong sáu đường, ba cõi, bốn loài có thêm bớt hay không thêm bớt. Đây là kinh điển trọng yếu thuyết minh tư tưởng Như lai tạng. [X. Ấn độ triết học sử (Vũ tỉnh bá thọ)].
bất tăng giảm chân như
(不增减真如) Cũng gọi Tướng độ tự tại sở y chân như. Một trong mười chân như. Chân như này xa lìa sự chấp trước thêm bớt, thuận theo nhơ, sạch mà không bị thêm bớt, là chân như mà hàng bồ tát Bất động địa (địa thứ tám trong mười địa) chứng được. Lại như chứng được chân như này rồi, thì đối với việc thị hiện hình tướng, thị hiện cõi nước (độ) đều được tự tại, cho nên gọi là Tướng độ tự tại sở y chân như. [X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Chân Như).
bất tăng trưởng nghiệp
(不增長業) Nghiệp không thêm lớn. Đối lại với Tăng trưởng nghiệp. Những việc làm không cố ý, hoặc những việc làm cố ý nhưng vì bị kẻ có quyền thế cưỡng bức phải làm (như kẻ cai tù bắt người tù tra tấn người tù khác chẳng hạn), hoặc do chính bản thân vì ngu si không biết mà làm v.v... đều thuộc nghiệp nhẹ, gọi là Bất tăng trưởng nghiệp. Bởi vì loại nghiệp này phần nhiều có lòng hối hận, do đó không ươm thêm hạt giống nghiệp, cho nên nghiệp không tăng trưởng. Lại không quyết định đưa đến quả dị thục, nên cũng gọi là Bất định nghiệp. (xt. Cố Tư Nghiệp).
Bất tĩnh địa
不靜地; C: bùjìngdì; J: fujōchi;|Trạng thái tinh thần thiếu an định, thiếu sự tập trung tâm ý.
bất tư lượng (tâm)
Fushiryo (J), Not thinking.
bất tư nghì biến dịch tử
Aciṇtya-pariṇāmacyuti (S), Inconceivable transformtion of death.
bất tư nghì huân biến
Aciṇtya-pariṇāma (S), Mysterious transformations.
Bất tư nghị
不思議; C: bùsīyì; J: fushigi;|1. Không thể hiểu được. Siêu việt mọi suy nghĩ, nhận thức. Vượt ra ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ (s: acintya, atarkika); 2. Vô tâm, vô niệm, vắng bặt sự chấp thủ các tâm sở pháp (s: grāhaka-citta-abhāva); 3. Những điều không thể hiểu được hoặc không thể suy nghĩ được.
bất tư nghị
Acintya (S). Beyond thought and words, beyond conception, baffling description, amazing.
bất tư nghị biến
The indescribable changes of the chân như bhùtatathatà in the multitudinous forms of all things.
bất tư nghị biến dịch tử
Acintyaparinàmacyuti (S). Inconceivable transformation of the death.
bất tư nghị chân ngôn tướng đạo pháp
(不思議真言相道法) Chân ngôn tướng, nghĩa là thực tướng của Chân ngôn. Mỗi tiếng mỗi chữ của chân ngôn này đều được sức gia trì của đức Như lai hiện ra trong vầng ánh sáng, tức là dùng pháp thân vô tướng tạo thành các tiếng các chữ, lại dùng các thứ tiếng chữ để thành tựu pháp thân vô tướng. Đây là chỗ phàm phu không thể tưởng tượng nghĩ bàn được, vì thế gọi là Bất tư nghị chân ngôn tướng đạo pháp. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; Đại nhật kinh sớ Q.7].
bất tư nghị duyên khởi
(不思議緣起) Là pháp mạn đồ la của Mật giáo. Hành giả lấy phương tiện Tam mật (Thân mật, Khẩu mật, Ý mật) làm duyên, lấy quán tâm làm nhân, mà hiện cảnh giới Phổ môn hải hội chư Phật, là cảnh giới không thể nghĩ bàn.
bất tư nghị giới
Acintya-dhàtu (S). The realm beyond thought and words.
Bất tư nghị huân
不思議薫; C: bùsīyìxūn; J: fushigikun;|Sự huân tập bất khả tư nghị. Sự huân tập vô minh hoặc trí huệ vào tâm thể chân như thanh tịnh rồi biểu hiện qua thế giới hiện tượng.
bất tư nghị huân
The indescribable vàsanà, i.e. suffusing or "fuming".
bất tư nghị huân biến
Acintyaparinàma (S). Mysterious transformations.
; (不思議熏變) Chỉ Bất tư nghị huân và Bất tư nghị biến. Huân, nghĩa là xông ướp. Vô minh xông ướp che lấp chân như mà sinh ra các pháp hư dối, nên nói là Bất tư nghị huân. Biến, nghĩa là biến chuyển, biến đổi. Tâm chân như bị vô minh xông ướp che lấp mà biến chuyển, nên nói là Bất tư nghị biến. Chân như là pháp chắc thực, không thể huân; không thể biến, nhưng hay biến đổi, nên nói là bất tư nghị. [X. kinh Lăng già Q.1; Lăng già kinh chú giải Q.1 phần trên; Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].
bất tư nghị huệ bồ tát
Aciṇtyamatidatta (S)Tên một vị Bồ tát.
; (不思議慧菩薩) Bất tư nghị tuệ, Phạm: Acintyamatidatta. Vị Bồ tát được bày ở đầu phía tây trong viện Trừ cái chướng trên Thai tạng giới Hiện đồ mạn đồ la Mật giáo. Vị Bồ tát này đem trí tuệ bất khả tư nghị quyền thực chẳng hai ban cho chúng sinh, lấy việc dứt trừ ngu si cho chúng sinh làm bản thệ, mật hiệu là Nan trắc kim cương, chủng tử là (ù), hình tam muội da là ngọc báu. Trong Hiện đồ mạn đồ la, bồ tát Bất tư nghị tuệ thân mầu da người, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có hạt ngọc tròn (có ánh lửa sáng), cánh tay phải co và đưa lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ. [X. kinh Đại nhật Q.4 phẩm Mật ấn, Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Quảng đại nghi quĩ Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.16; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Chư thuyết bất đồng kí Q.5].
bất tư nghị huệ đồng tử
Aciṇtyamati (S)Tên một vị thiên.
; (不思議慧童子) Bất tư nghị tuệ, Phạm: Acintyamati. Một trong tám đồng tử lớn của bồ tát Văn thù. Đồng tử này được đặt ở góc đông nam của viện thứ hai trong Văn thù mạn đồ la. Cũng có thuyết cho rằng đồng tử Bất tư nghị tuệ này là cùng thể với đồng tử Bất tư nghị trong nghi quĩ: Quảng đại, Huyền pháp và Thanh long. Có thuyết nói tên Phạm của đồng tử Bất tư nghị tuệ làKiô-karmì (âm Hán: Chỉ ca lí), nghĩa là Phụng giáo sứ, cho nên trong nghi quĩ lấy vị tôn này làm người phụng giáo. Vị này mình mầu vàng, cỡi sư tử, hình tam muội da là cây gậy một chẽ. [X. Bát tự văn thù quĩ].
bất tư nghị không
(不思議空) I. Bất tư nghị không. Cũng gọi đệ nhất nghĩa không. tức là cái không do Phật và Bồ tát chứng được, dứt tuyệt sự sai biệt về hữu và vô, chẳng phải chỗ mà Nhị thừa và phàm phu có thể suy tính lường biết được, nên gọi là Bất tư nghị không (cái không chẳng thể nghĩ bàn). Thắng man kinh bảo quật dẫn lời ngài Long thụ, nói rằng không có 3 loại: Không của ngoại đạo, Đãn không và Không vô sở đắc. Đãn không tức là trí không của Nhị thừa, Vô sở đắc không là trí không của Bồ tát. Trí không vô sở đắc này chẳng phải là chỗ Nhị thừa biết được, nên nói là Bất tư nghị. II. Bất tư nghị không. Là trí Đại không tam muội chữ A chẳng sinh của Đại nhật Như lai. Đại không tam muội, cũng gọi Chính giác tam muội, Cứu kính tam muội. Là tam muội không dính mắc vào không hay có, mà soi rọi thấy rõ không và bất không rốt ráo vô tướng mà lại đầy đủ tất cả tướng, an trụ nơi trí vô ngại của Phật. Nói theo tự mẫu, thì tam muội Đại không là nghĩa của chũ (ịa). Đại không này sâu xa mầu nhiệm, vượt ngoài sự suy lường bàn nói của người ta, nên gọi là Bất tư nghị không. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 646 hạ), nói: Biết cái không này cũng giống như hư không, xưa nay vốn chẳng sinh, tức là nghĩa không rốt ráo. Vì tự tính nó trong sạch, không bờ mé, không phân biệt, đồng với thái hư, cho nên đem cái không dễ hiểu của thế gian mà ví dụ với cái không bất tư nghị vậy.
bất tư nghị không trí
The wisdom attained through the void beyond thought.
; (不思議空智) Trí không chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ cho trí của Phật đã chứng được lí không chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Thắng man chương Vô biên thánh đế thứ 6 (Đại 12, 221 thượng), nói: Bất tư nghị không trí, dứt tất cả kho phiền não.
bất tư nghị không, đệ nhất nghĩa không
The Void beyond thought or discussion
bất tư nghị kiếp
(不思議劫) Số kiếp nhiều không thể nghĩ bàn. Kiếp là đơn vị thời gian biểu thị thời gian rất dài của Ấn độ đời xưa. Phật giáo cũng dùng nó để thuyết minh quá trình vũ trụ sinh thành và hủy diệt. Quá trình này không thể dùng tháng, năm mà tính toán, ngay cả đến dùng số kiếp cũng không thể đếm được. Chỉ có trí tuệ giác ngộ và sức thần thông của chư Phật, Bồ tát mới biết được,ngoài ra không có cách nào khác, cho nên gọi là Bất tư nghị kiếp.
bất tư nghị nghiệp tướng
Inexpressible karma-merit always working for the benefit of the living.
; (不思議業相) Tướng nghiệp chẳng thể nghĩ bàn. Một trong hai tướng bản giác theo nhiễm. Đối lại với Trí tịnh tướng (tướng trí trong sạch). Chỉ cho tướng nghiệp dụng trở lại thể bản giác trong sạch. Tức nương vào tướng trí trong sạch (thủy giác cuối cùng đã hợp làm một với bản giác) mà tướng vô lượng công đức thường không dứt mất, tùy căn cơ chúng sinh, tự nhiên tương ứng, khiến được các loại nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn. [X.luận Đại thừa khởi tín; Khởi tín luận nghĩa kí Q.trung; Khởi tín luận kí biệt (Pháp tạng)]. (xt. Tùy Nhiễm Bản Giác).
bất tư nghị quang bồ tát sở thuyết kinh
Aciṇtya-prabhāsa-nirdeśa-nāma-dharmaparyāya-sŪtra (S), Aciṇtya-prabhāsa-bodhisattva-nirdeśa-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
bất tư nghị thân
(不思議身) Thân chẳng thể nghĩ bàn. Cũng gọi Bất tư nghị biến dịch thân. Tức thân chịu sự sống chết thay đổi chẳng thể nghĩ bàn. Bởi nhờ sức định vô lậu cùng sự cảm ứng trợ giúp của sức nguyện mà vận dụng mầu nhiệm một cách khó lường. [X. luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Biến Dịch Sinh Tử).
bất tư nghị thừa
Ineffable vehicle, buddhism.
bất tư nghị trí
Acintya-jnàna (S). Inconceivable wisdom, the indescribable Buddha's wisdom. Intuitive knowledge.
bất tư thiện
, bất tư ác Fushizen-fushiaku (J)Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.
Bất tư thiện bất tư ác
不思善。不思惡; J: fushizen-fushiaku;|Một cách diễn tả của Thiền tông, chỉ sự chuyển hoá cách nhìn phân biệt theo lối nhị nguyên như »thiện« »ác« yêu, ghét… Bất tư thiện bất tư ác là một tâm trạng chỉ có thể đạt được khi chứng ngộ được »vạn vật bình đẳng,« hành giả đã Kiến tính, ngộ đạo.|Câu »Bất tư thiện, bất tư ác« xuất phát từ một câu chuyện rất nổi tiếng của Thiền tông, được lưu lại trong tập Vô môn quan, Công án thứ 23. Sau khi Huệ Năng – Tổ thứ sáu của Thiền tông tại Trung Quốc – được truyền y bát, được chính thức công nhận là kế thừa Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Sư bị những người thân cận của Thần Tú đuổi theo với ý định đoạt lại y bát. Trong phần đầu của Vô môn quan, sự kiện này được viết lại như sau (Bản dịch của Trần Tuấn Mẫn):|»Lục tổ bị Thượng toạ Huệ Minh đuổi theo đến núi Ðại Dữu Lĩnh. Tổ thấy Huệ Minh đến liền quẳng y bát lên tảng đá mà nói: ›Áo này vốn để làm tin, há tranh đoạt được ư? Ông cứ việc lấy đi!‹. Huệ Minh toan lấy áo lên, thấy nặng trịch như núi, tần ngần run sợ nói: ›Tôi đến cầu pháp, chẳng phải vì áo, xin hành giả khai thị cho.‹ Tổ nói: ›Bất tư thiện, bất tư ác, ngay lúc ấy thì mặt mũi xưa nay của Thượng toạ Huệ Minh là gì?‹. Huệ Minh liền ngộ, khắp mình đẫm mồ hôi.«
bất tư thiện bất tư ác
(不思善不思惡) I. Bất tư thiện bất tư ác, không nghĩ thiện không nghĩ ác. Chỉ cho chủ trương dứt hết hai niệm thiện và ác. II. Bất tư thiện bất tư ác, thấu suốt hai cái thấy thiện ác. An trụ nơi một niệm tuyệt đối duy nhất. Trong sách Tọa thiền dụng tâm kí bất năng ngữ, vị tăng Nhật bản là ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn (1689-1764) giải thích: Không nghĩ thiện ác, không có nghĩa là trống không, không có thiện ác. người đã thấu suốt thực tính của thiện ác, thì chẳng suy nghĩ về thiện ác, bởi vì thiện ác vốn không phải vật, nên chẳng nghĩ về chúng. III. Bất tư thiện bất tư ác. Tên công án trong Thiền tông. Câu nói cơ duyên của Lục tổ Tuệ năng với Thượng tọa Mông sơn Huệ minh. Vô môn quan Tắc 23 (Đại 48, 295 hạ) chép: Nhân lúc Thượng tọa Minh đuổi theo Lục tổ đến núi Đại dữu (...). Minh nói: ‘Tôi đến cầu pháp chẳng phải vì áo. Xin hành giả từ bi chỉ dạy.’ Tổ bảo: ‘Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính lúc ấy, cái gì là mặt mày thật của Thượng tọa Minh?’. Bồ Tát Bất Tư Nghị Tuệ Minh ngay đó đại ngộ, toàn thân đẵm mồ hôi. Ý trong câu Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác của Lục tổ là phải vượt lên trên quan niệm phải trái, thiện ác đối đãi mới có thể biết rõ chân lí.
Bất tương ưng
不相應; C: bùxiāngyīng; J: fusōō; S: ayukta, visaṃyuktatva;|Không tương ưng, không khế hợp, không quan hệ với. Xem thêm Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
bất tương ưng duyên
Dissociation condition.
bất tương ưng hành
Actions non interrelated.
Bất tương ưng hành pháp
不相應行法; C: bùxiāngyīngxíngfǎ; J: fusōōgyōhō;|Tâm Bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
bất tương ưng hành pháp
Cittaviprayuktasamskàra-dharma (S). Twenty four things not associated with Mind: (1) đắc pràpti, acquisition; (2) mạng căn jìvitendriya, life; (3) chúng đồng phận nikàya-sabhagatà, nature of sharing similar species; (4) dị sinh tính visabhàga, nature of making different species; (5) vô tưởng định asamjnisamàpatti, meditative concentration in the thoughtless heaven; (6) diệt tận định nirodhasamàpatti, meditative concentration in extinction; (7) vô tưởng báo asamjnivipàka, facts obtained by thoughtless meditation; (8) danh thân nàmakàya, name; (9) cú thân pedakàya, word; (10) văn thân vyanjanakàya, letter; (11) sinh jàti, birth; (12) trụ sthiti, stability; (13) lão jarà age; (14) vô thường anityatà, impermanence; (15) lưu chuyển pravrtti, becoming; (16) định dị pratini-yama, distinction (of karma); (17) tương ưng yoga, union; (18) thế tốc jàvanyam, speed; (19) thứ đệ krama, succession; (20) thời kàla, time; (21) phương desa, space; (22) số samkhyà, number; (23) hòa hợp tính sàmagriya, totality; (24) bất hòa hợp tính anyathàtva, differentiation.
bất tương ưng tâm
The non-interrelated mind.
; (不相應心) Tâm không tương ứng. Tức là tâm không tương ứng với phiền não kết sử. Cứ theo luận Duy thức, do Ngài Cù đàm bát nhã lưu chi dịch, nói, thì tâm tự tính thanh tịnh đệ nhât nghĩa đế thường trụ bất biến là tâm bất tương ứng. Kinh Thập địa nói: Ba cõi hư dối, chỉ do một tâm tạo tác là chỉ tâm bất tương ứng. [X. Đại thừa duy thức luận tự; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ]. (xt. Tương Ứng Tâm).
bất tạo tác
Akata (S), Uncreated.
bất tất định nhập định nhập ấn kinh
Pu-pi ting-ju ting-ju yin ching (C)Tên một bộ kinh.
Bất tịnh
不淨; S: aśubha; P: asubha;|Ngoài nghĩa »bất tịnh« thông thường còn chỉ phép quán mười đối tượng bất tịnh, là một trong 40 phép tu tập (s, p: bhāvanā) được chỉ rõ trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga). Có khi phép này cũng được hiểu là phép quán 32 thân phần (Bốn niệm xứ; p: satipaṭṭhāna).
bất tịnh
Aśubha (S), Asubha (P), Asobhana (P), Impure, Unclean Bất hạnh, Uế. Xem Phiền não.
; (不淨) Không sạch. Chỉ chung các tính chất nhớp nhúa, thô tục, xấu xa, tội lỗi v.v... Trong Ngũ đình tâm quán, có phép quán xét thân mình, thân người bất tịnh gọi là Bất tịnh quán. (xt. Thất Chủng Bất Tịnh).
bất tịnh hạnh
(不淨行) Hạnh không sạch, cũng gọi là Phi phạm hạnh. Tức chỉ việc dâm dục. Làm dâm dục là việc đê tiện, thô bỉ, tâm ái nhiễm dơ bẩn, cho nên gọi là Bất tịnh hạnh. Lại vì nó trái với phạm hạnh trong sạch, nên cũng gọi là Phi phạm hạnh. [X. Phạm võng kinh sớ Q.hạ].
bất tịnh khiết vương
Ucchusma (S). A vidyàràja. Also Uế tích vương, Ô sô sa ma.
bất tịnh kim cang
Xem Uế tích Minh vương.
bất tịnh kim cương
(不淨金剛) Mật hiệu của Ô su sa ma minh vương (Phạm: Ucchuwma). Vị minh vương này là do Bất động minh vương hóa hiện, hay điều phục tất cả loài quỉ bất tịnh, cho nên thông thường vị này được đặt ở trong các nhà xí. [X. kinh Đà la ni tập Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.9 ]. (xt. Ô Xu Sa Ma Minh Vương).
bất tịnh luân
(不淨輪) Cái vòng không sạch. Hữu tình và vô tình đều là bất tịnh, khí thế gian cũng bất tịnh. Ba cái vô thường, bất tịnh và khổ nương nhau mà quay chuyển, cả ba đều cứng chắc khó có thể phá được, giống như ba cái vòng sắt cho nên gọi là Tam luân. [X. A di đà kinh thông tán sớ tự ]. (xt. Tam Luân).
bất tịnh nhục
"Unclean" flesh, i.e.that of animal, fishes etc. seen being killed, heard being killed, or suspected of being killed.
; (不淨肉) Thịt không sạch. Tức loại thịt có tính chất bất tịnh, đệ tử Phật không được phép ăn. Loại thịt này có chia ra ba thứ , mười thứ khác nhau. (xt. Tam Bất Tịnh Nhục, Tịnh Nhục).
bất tịnh quán
Aśubhasmṛti (S).
; The meditation on the uncleaness of the human body of self and others.
; (不淨觀) Phạm: A-zubhà-smfti, Pàli: asubhànu-passin. Cũng gọi Bất tịnh tưởng. Một trong Ngũ đình tâm quán. Tức là phép quán tưởng cái xác thịt của mình của người nhớp nhúa, bẩn thỉu, hôi thối để đối trị phiền não tham dục. Xác chết của người ta theo thời gian biến hóa làm hình dáng xấu xí, cho nên trong các kinh điển có nêu ra nhiều phép quán tưởng về xác chết bất tịnh để khắc phục lòng tham muốn như sau: 1. Cứ theo Thiền pháp yếu giải quyển thượng nói, nếu người nhiều dâm dục, nên tu tập hai phép quán bất tịnh là: a. Quán tưởng xác chết thối rữa nhơ nhớp, rồi giữ lấy hình tướng thối rữa ấy trong tâm tưởng, đến chỗ vắng vẽ tự tu phép quán này. b. Tuy mắt không thấy xác chết, nhưng theo pháp của thầy dạy bảo mà nhớ tưởng phân biệt, tự quán khắp trong thân mình đầy dẫy 36 thứ bất tịnh, như: tóc, lông, nước mũi, nước mắt, mồ hôi, cáu ghét, đờm, dãi v..v... Sách trên còn nêu ra phương pháp tu Bất tịnh quán để đối trị lòng tham đắm của chúng sinh đối với sáu thứ: sắc đẹp, dáng vẻ, cách đi đứng, giọng nói, sự mịn màng; thì cần phải quán ố yếm bất tịnh. Đối với người mê đắm tướng người, thì khiến quán tưởng tướng xương trắng. Lại quán tưởng xác chết còn nguyên vẹn, bất động, thì có thể dứt trừ hai thứ tham đắm dáng đi đứng và giọng nói; còn quán tưởng xác chết đã rữa nát, thì đoạn trứ tất cả sáu thứ tham đắm. 2. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 40 nói, tùy theo ý thích của người tu quán mà có thích ít, thích nhiều, thích trung bình khác nhau, mà phép quán cũng được chia làm ba thứ, mỗi thứ chỉ rõ ba giai đoạn: giai đoạn mới tu tập, giai đoạn tu đã thuần thục và giai đoạn vượt lên trên sự tác ý, cùng với thứ tự tu quán. Hãy lấy giai đoạn mới tu tập làm điển hình. a. Giai đoạn mới tu tập. Trước hết, đi đến nơi nghĩa địa quán xét tướng bầm xanh của xác chết, rồi dùng sức hiểu biết thù thắng ấy quán sang thân mình, tức quán tưởng thân mình từ trạng thái bầm xanh cho đến còn trơ bộ xương. Trong bộ xương trơ này, hành giả theo thứ tự quán tưởng: xương bàn chân, xương mắt cá, xương ống chân, xương đầu gối, xương đùi, xương chậu, xương cùng, xương sống, xương sườn, xương bả vai, xương cánh tay, xương khuỷu tay, xương cổ tay, xương bàn tay, xương vai, xương cổ, xương hàm răng, xương sọ v.v... b. Giai đoạn tu đã thành thục. Trong bộ xương trơ, trước quán tưởng bàn chân, xương mắt cá chân v.v... cho đến sau quán xương sọ, rồi trong đó lại bỏ một nửa quán một nửa, lại bỏ một phần quán một phần. c. Giai đoạn tu vượt lên trên sự tác ý, sau khi dùng sức hiểu biết thù thắng xem xét tướng bất tịnh như thế rồi, buộc niệm vào ở chặng giữa chân mày, ngồi yên lặng lẽ, chuyển niệm ấy vào thân niệm trụ, tuần tự cho đến vào pháp niệm trụ. 3. Cứ theo luận Câu xá quyển 22 nói, thì tu Bất tịnh quán có thể đối trị bốn thứ tham; Hiển sắc tham, Hình sắc tham, Diệu xúc tham và Cung phụng tham. a. Quán các tướng xác chết bầm xanh v.v..., có thể đối trị Hiển sắc tham. b. Quán các tướng xác chết sình thối bị thú ăn, chim mổ v.v..., có thể đối trị cái tham về Hình sắc. c. Quán tưởng xác chết bị dòi bọ rúc rỉa v.v..., để đối trị cái tham về sự mịn màng êm ái. d. Quán tưởng xác chết cứng đờ để đối trị lòng muốn được cung phụng. 4. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 12, quyển 13, thì Bất tịnh quán được chia làm 2 phần: a. Quán thân người bất tịnh để chán thân người. b. Quán thân mình bất tịnh để chán thân mình. Phần a: Quán thân người có chín tướng là :1. Tướng chết. 2. Tướng chương sình lên. 3. Tướng bầm tím. 4. Tướng mủ rịn ra. 5. Tướng rữa nát. 6. Tướng máu bê bết. 7. Tướng trùng ăn. 8. Tướng bộ xương. 9. Tướng xương vương vãi. Trong luận Đại trí độ thì thiếu tướng chết, nhưng thêm tướng cháy sém. Phần b: quán trong thân mình có năm thứ bất tịnh là: 1. Hạt giống bất tịnh, thân thể do nhân duyên hình thành; các hạt giống bên trong (phiền não, nghiệp), bên ngoài (tinh huyết của cha mẹ) đều bất tịnh. 2. Chỗ ở bất tịnh, mười tháng ở trong thai bất tịnh. 3. Tự thể bất tịnh, thân này do bốn nguyên tố (đất nước lửa gió) bất tịnh tạo thành. 4. Tướng bên ngoài bất tịnh, thân hình có chín lỗ thường tiết ra những thứ hôi thối. 5. Rốt ráo bất tịnh, sau khi chết đem chôn xuống đất, rữa nát, mãi mãi bất tịnh. Sách Đại thừa nghĩa chương còn nói, sắc tham của người ta có hai thứ: 1- Yêu thân mình, có thể quán xét năm thứ bất tịnh để đối trị. 2- Yêu thân người, có thể quán xét chín tướng để đối trị. Trong đó, yêu thân người có bốn thứ tham muốn: a. Tham muốn cách đi đứng, có thể quán tướng chết trong chín tướng để đối trị. b. Tham muốn hình dáng, có thể quán xét ba tướng: bầm xanh, rữa nát, máu mủ bê bết để đối trị. c. Tham muốn nơi chỗ, có thể quán bốn tướng: chương sình, rữa nát, trùng ăn, tan rã để đối trị. d. Tham muốn xúc chạm, có thể quán tưởng bộ xương để đối trị. Từ chín tướng của xác chết người ta, như đã trình bày ở trên, mà nảy sinh chín thứ quán tưởng, cho nên cũng gọi là Cửu tưởng. Phật giáo Nam truyền thì cho có mười thứ quán tưởng, gọi là Thập bất tịnh. Ngoài ra, Thiên thai tứ giáo nghi tập chú cũng nêu bảy thứ bất tịnh: Chủng tử bất tịnh, Thụ sinh bất tịnh, Trụ xứ bất tịnh, Thực đạm bất tịnh, Sơ sinh bất tịnh, Cử (toàn) thể bất tịnh và Cứu kính bất tịnh. Bất tịnh quán và Sổ tức quán (quán đếm hơi thở) được gọi chung là hai cửa cam lộ vào đạo. Bất tịnh quán lấy căn lành không tham làm tự tính. Trong ba cõi, duyên theo hai cõi Dục và Sắc suốt trong mười nơi (cõi Dục, Thiền trung gian, Tứ thiền, Tứ cận phần); người tu quán lấy mười nơi này làm chỗ nương và dùng thân sở y ở cõi Dục mà bắt đầu. Bất tịnh quán tương ứng với Thắng giải tác ý, đây tức là hữu lậu quán, tương đương với vị Thân niệm trụ trong bốn niệm trụ. Lại trong tám Giải thoát và tám Thắng xứ, Bất tịnh quán được dùng làm phép quán của Sơ thiền và Nhị thiền. [X. Trung a hàm Q.2 kinh Lậu tận, Q.28 kinh Chư pháp bản; kinh Tăng nhất a hàm Q.5; kinh Đại bát Niết bàn (bản Bắc) Q.36; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; kinh Quảng nghĩa pháp môn; kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.19, Q.21]. (xt. Thất Chủng Bất Tịnh, Cửu Tưởng).
bất tịnh quán kinh
Xem Đạt ma đa la thiền kinh.
bất tịnh thuyết pháp
"Unclean" preaching, i.e. to preach, whether rightly or wrongly, from an impure motive, e.g. for making a living.
; (不淨說法) Bất tịnh nói pháp. Cũng gọi Tà mệnh thuyết pháp (nói pháp để mưu sinh). Người nói pháp tâm còn ô nhiễm, nhưng vì danh lợi mà nói, hoặc nói mà không hiểu rõ nghĩa lí của giáo pháp, gọi là Bất tịnh thuyết pháp. Kinh Phật tạng quyển trung phẩm Tịnh pháp nêu ra năm lỗi của người bất tịnh nói pháp: 1. Tự nói mình biết hết Phật giáo. 2. Khi giảng nói kinh, chỉ trích những lỗi trái ngược nhau trong các kinh. 3. Đối với các pháp ngờ vực không tin. 4. Tự đem chỗ hiểu biết của mình để phê phán kinh pháp. 5. Vì danh lợi mà nói pháp. Kinh trên còn nêu ra năm nhược điểm của người bất tịnh nói pháp: 1. Khi nói pháp trong lòng hồi hộp, sợ người khác hỏi vặn. 2. Trong lòng lo sợ mình không nói được, nhưng vẫn gượng nói pháp cho người khác nghe. 3. Mình là phàm phu, không có trí tuệ chân thực. 4. Pháp nói ra bất tịnh, chỉ là lời nói suông mà thôi. 5. Bài nói pháp không có thứ tự trước sau, chắp vá lộn xộn, nên trong lòng hồi hộp lo sợ. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.2 phẩm Tự lợi lợi tha; kinh Quán vô lượng thọ; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.6].
bất tịnh thí
"Unclean" almsgiving, i.e. looking for its reward in this or the next life.
bất tịnh, phiền não
Klesa (S). Unclean, common, vile. Impurity, passion, depravity.
bất tức bất li
(不即不離) Chẳng tức là một, cũng không lìa khỏi. Cũng gọi Bất nhất bất dị (chẳng phải một, chẳng phải khác). Như nước với sóng, hai thứ có khác nhau, nên nói bất tức; tính chất của nước và sóng không khác (cùng một tính ướt) nên nói bất ly. Kinh Viên giác (Đại 17, 915thượng) nói: Bất tức bất li, vô phược vô thoát (chẳng tức chẳng lìa, không buộc không cởi).
bất tức lưu
(不唧
bất tử
Xem đạo quả Vô sanh bất diệt.
; Undying, immortal. Bất tử cam lộ, sweet dew of immortality, a baptismal water of Chân ngôn tông
; (不死) Không chết. Phạm: amfta. Chỉ cho sự sống vĩnh viễn. Phổ thông dịch là Cam lộ. Lời dạy của đức Phật gọi là Pháp cam lộ, vì là lời vĩnh hằng, vượt khỏi thời gian không gian, cho nên lúc Phật giáng sinh mưa cam lộ, tượng trưng ý nghĩa bất tử. Người ta hay dùng Cam trà (nước thơm) tắm tượng Phật, tức đã phát xuất từ cam lộ; âm đọc của cam trà rất giống âm gốc của cam lộ. Lại Niết bàn cũng gọi là bất tử. Trong phép quán đính của Mật giáo, nước quán đính được gọi là Cam lộ bất tử, tượng trưng Kim cương giới và Thai tạng giới là chẳng hai.
bất tử dược
xem cam lộ.
; (不死藥) Thuốc không chết. Tức thứ thuốc có khả năng kéo dài tuổi thọ hoặc dứt hết bệnh tật. Đây có hai thuyết: một bảo là thuốc thơm Sa ha (Phạm:Sahà) trên núi Tuyết, một cho là thuốc A già đà (Phạm:Agada). [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q,25; Vãng sinh thập nhân; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. A Già Đà Dược, Sa Ha).
bất tử giác
(不死覺) Một trong tám thứ ác giác. Nghĩa là người rất giầu có mà thường nhớ nghĩ đến sự không chết. Giác, dịch mới là tầm tứ (tìm kiếm, dò xét). Vì giác (tỉnh biết) này trái ngược với lí chân chính, nên gọi là ác giác. Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần cuối, cho tám thứ ác giác là bốn kết sử ở ngôi vị Tu đạo, xếp Bất tử giác vào phần si. [X. kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.31; luận Du già sư địa Q.40]. (xt. Bát Giác).
Bất tử kiểu loạn
不死矯亂; C: bùsǐ jiǎoluàn; J: fushi kyōran;|Bất tử kiểu loạn tông (theo Du-già luận 瑜伽論).
Bất tử kiểu loạn luận
不死矯亂論; C: bùsǐ jiǎoluàn lùn; J: fushi kyōran ron;|Bất tử kiểu loạn tông.
bất tử kiểu loạn luận
(不死矯亂論) Một trong 62 loại kiến chấp (bám dính chặt vào cái thấy biết của mình) của ngoại đạo tại Ấn độ đời xưa. Họ chấp trước vào thời quá mà dấy sinh kiến giải phân biệt. Chẳng hạn đối với vấn đề bất tử (không chết; có thuyết cho là ông trời được tôn thờ), chính mình chẳng hiểu một tí gì về vấn đề này, lại đem giải thích cho người khác một cách bừa bãi loạn xạ để lừa dối người ta. Loại ngoại đạo này có bốn thứ, nên cũng gọi là Tứ chủng bất tử kiểu loạn luận, Tứ bất tử kiểu loạn luận. Đó là: 1. Về vấn đề nghiệp báo thiện ác, cứ theo sự hiểu biết của riêng mình mà giải đáp cho người khác. 2. Về vấn đề đời khác có hay không, cứ theo ý kiến của người hỏi mà đáp đúng thế đúng thế! 3. Về vấn đề thiện, bất thiện, lại đáp chẳng phải thiện chẳng phải ác. 4. Lấy sự hiểu biết của người khác để đặt thành vấn đề mà giải đáp. Loại chủ trương này tương đương với tông Bất tử kiểu loạn trong 16 tông ngoại đạo. [X. Trường a hàm Q.40 kinh Phạm động; luận Đại tì bà sa Q.119; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
Bất tử kiểu loạn tông
不死矯亂宗; C: bùsǐ jiǎoluànzōng; J: fushi kyōran shū;|Dịch từ chữ Amarāvikkhepa của tiếng Pa-li, là tên 1 trường phái triết học dựa vào sự tranh luận tinh tế, khéo léo, trườn uốn luồn lách, hoài nghi. Đó là chủ thuyết của Sañjāya (theo Du-già luận 瑜伽論).
bất tử kiểu loạn tông
(不死矯亂宗) Một trong 16 tông ngoại đạo. Tức là ngoại đạo bất tử kiểu loạn trong các ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này chấp ông trời là thường còn sống mãi không chết, rồi họ tự nói họ không chết không rối loạn. Vì lời nói của họ là giả tạo ra để lừa dối người, nên gọi là Bất tử kiểu loạn (lừa dối loạn xạ) tông. [X. luận Du già sư địa Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Ngoại Đạo Thập Lục Tông).
bất tử môn
(不死門) Chỉ cho cửa vào Niết bàn. Kinh Vô thường (Đại 17, 745 hạ), nói: Cùng bỏ chốn vô thường, đi vào cửa bất tử.
bất tử tửu
Xem Cam lộ.
bất tự tại
Aisvara (S).
; (不自在) I. Bất tự tại. Phạm:A-ìzvara.Dịch âm: A y thấp phạt la. Kinh Hà khổ trong phẩm Phạm chí của Trung a hàm quyển 36 (Đại 1, 659 hạ), nói: Người tại gia lấy tự tại (phóng túng) làm vui, người xuất gia học đạo thì lấy bất tự tại (không phóng túng) làm vui. II. Bất tự tại. Một trong những tướng mê vọng (tướng đa ma) của cơ năng tư duy căn bản do phái triết học Số luận ở Ấn độ lập ra. Kim thất thập luận (Đại 54, 1251 thượng), nói: Phi pháp, Phi trí, Ái dục, Bất tự tại, bốn pháp này là tướng đa ma.
bất vong thiền
(不忘禪) Thiền không quên, một trong các loại thiền định. Tức là thiền định rèn luyện trí nhớ. Kinh Xá lợi phất vấn chép, nhờ tu tập bất vong thiền mà tôn giả A nan được tam muộn Phật giác.
bất vọng ngữ
Musàvàdà-veramani (S). No falsehood, no lying.
bất vọng thiền
Meditation against forgetfulness.
bất xuyên nhĩ tinh xá
Aviddhakarṇa-saṃgharāma (S)Tên một ngôi chùa.
bất xá thệ ước
(不舍誓約) Không bỏ lời thề ước, chỉ cho lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của đức Phật A di đà. Nguyện này lấy niệm Phật cầu vãng sinh làm lời thề ước. Tức là đức Phật A di đà thề ước sẽ không bỏ rơi bất cứ một người niệm Phật nào. Lời văn thề ước được chép trong kinh Vô lượng thọ như sau (Đại 12, 268 thượng): Khi tôi được thành Phật, nếu có chúng sinh trong mười phương dốc lòng tin, muốn sinh về cõi nước của tôi, niệm tên hiệu của tôi từ một đến mười niệm, mà không được vãng sinh, thì tôi không lên ngôi chính giác.
bất xả không
Xem Tán không.
bất xả ly không
Xem Tán không.
bất ích lũ ni sư đàn tịnh
Adaśakanisi-danakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
bất đan phật giáo
(不丹佛教) Phật giáo Bất đan (Bhutan). Bất đan là một nước nhỏ nằm ở chân núi phía đông núi Tuyết (Himalaya), diện tích 47.000 km2. Phía bắc giáp Tây tạng, nam giáp Ấn độ, tây giáp Sikkim, phần lớn là vùng núi non hiểm trở, sự giao thông với bên ngoài rất khó khăn, xưa kia gọi là nước Bí cảnh long (đất nước bí mật của loài rồng). Dân cư phần đông là chủng tộc Bất đan thuộc hệ thống người Tây tạng, chia làm ba giai cấp tăng lữ, quí tộc và thứ dân. Phong tục kì lạ nhất là bất luận tăng tục nam nữ đều để tóc ngắn, y phục đại thể phỏng theo Tây tạng. Về phương diện tôn giáo, nhân dân nước này tôn thờ phái Hồng giáo thuộc Lạt ma giáo Tây tạng. Giáo phái này do ngài Liên hoa sinh (Phạm: Padma Saôbhava), một vị sư Mật tông nổi tiếng của Phật giáo Ấn độ, trên đường từ Tây tạng trở về Ấn, đã lưu lại Bất đan để truyền bá vào giữa thế kỉ thứ VIII. Nhưng mãi đến cuối thế kỉ XII trở về sau, Mật giáo mới chính thức được truyền bá ở Bất đan do vị giáo chủ Lạt ma cũ truyền vào. Các chùa viện phần nhiều được xây dựng từ giữa thế kỉ XVI trở đi, và có khắc mục lục Đại tạng kinh, nhưng rất tiếc đã bị thiêu hủy vào thế kỉ XVIII vì nội loạn. Lại vào giữa thế kỉ XVI, có một vị giáo Bia kỉ niệm Lạt Ma chủ Lạt ma, cậy có thế lực đi bừa vào xứ này và tự xưng mình là vua cai trị Bất đan, do đó mà ngày nay dân Bất đan gọi Giáo chủ là Pháp vương (Phạm : Dharma Ràja, vua pháp). Vị Pháp vương này tổ chức chính phủ Trung ương, bổ nhiệm các quan địa phương, thi hành chính sách hợp nhất chính trị với tôn giáo. Vị Pháp vương được truyền nối theo phương thức chuyển sinh tái hiện. Lại hàng năm vào tháng 4, cử hành đại tế Ba la tại Ba la (Paro), liên tiếp trong bốn ngày để kỉ niệm đại sư Liên hoa sinh: đó là ngày lễ mừng lớn nhất trong năm của Phật giáo Bất đan. [X. Journal of Royal Geographical Society of Britain & Ireland 35,1910; L. A. Waddell : Buddhism of Tibet, 1895]. (xt. Ba La Đại Tế).
bất đoạn
Without ceasing, unceasing; perpetual, everlasting,endless, constant Bất đoạn quang, the unceasing light (or glory) of Amitàbha. Bất đoạn quang Như lai, one of the twelve shining Buddhas. Bất đoạn thường, unceasing continuity. Bất đoạn niệm Phật, unceasing remembrance, or invocation of the Buddha.
; (不斷) I. Bất đoạn. Cũng gọi Phi sở đoạn. Một trong ba thứ đoạn. Chỉ cho hết thảy pháp vô lậu. [X. luận Câu xá Q.2, Q.4]. (xt. Tam Đoạn, Phi Sở Đoạn). II. Bất đoạn. Không gián đoạn. Nghĩa là ngày này qua ngày khác, siêng tu liên tục, niệm Phật tụng kinh không ngừng.
bất đoạn kinh
(不斷經) Chỉ việc đọc tụng một bộ kinh đặc biệt, như kinh Pháp hoa chẳng hạn, liên tục từ đầu đến hết mới thôi. Tại Nhật bản, để tăng tiến việc tu đạo, hoặc để cầu siêu cho người chết, mà trong một thời gian nhất định, tụng kinh không gián đoạn, cũng gọi là Bất đoạn kinh.
bất đoạn luân
(不斷輪) Xướng niệm xoay vòng không dứt. Trong chùa viện, khi cầu trời trong sáng hoặc cầu mưa, các tăng lữ tham dự cầu đảo một người nối tiếp một người, hoặc nhóm này nối tiếp nhóm khác, xoay vòng tụng niệm kinh chú suốt ngày không dứt, gọi là bất đoạn luân. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.1].
bất đoạn quang
(不斷光) Ánh sáng không dứt. Một trong mười hai thứ ánh sáng. Chỉ ánh sáng vô lượng của đức Phật A di đà thường còn trong ba đời, hằng soi sáng làm lợi ích cho thế gian không gián đoạn. Do đức tướng của ánh sáng thường hằng này mà đức Phật A di đà còn được gọi là Phật Bất đoạn quang. [X. Kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung]. (xt. Thập Nhị Quang, Quang Minh).
Bất đãn không
不但空; C: bùdànkōng; J: futan-kū; nghĩa là »không chỉ là Không«; |Thuật ngữ dùng để chỉ sự nhận thức rằng, Chân tính hoặc Phật tính của tất cả các hiện tượng, của hiện hữu chẳng thuộc »có« thuộc »không« là cả hai, nhưng lại không phải là cái này hoặc cái kia, tuỳ theo lập trường của người quán sát sự vật. Theo Tâm kinh thì có thể gọi là »Không tức thị sắc, sắc tức thị không.«|Danh từ »Bất đãn không« được dùng để đối lại quan niệm »Ðãn không« (j: tan-kū), »chỉ có không«, một cách nhìn rất giới hạn của một vài tông phái Phật giáo. Các phái này sử dụng phương pháp biện chứng để chứng minh rằng, tất cả đều là không, là trống rỗng và từ đó, họ phủ nhận cả sự hiện hữu của vạn vật – có thể gọi là »chấp không.« Cái đơn vị, nhất thể của Không và Sắc như Tâm kinh chỉ dạy không thể đạt được qua sự biện luận chứng minh, mà chỉ được trực nhận khi hành giả Kiến tính, ngộ đạo thâm sâu.
bất đãn không
(不但空) Không những chỉ là không. Nghĩa Không của Trung đạo. Cũng gọi Bất khả đắc không (cái không chẳng thể được). Đối lại với Đãn không (chỉ là không = thiên không). Nghĩa là chẳng những thấy chỉ là không, mà còn thấy cả chẳng không để đạt đến cái không của nghĩa Trung đạo. Quán xét lí Bất đãn không gọi là Bất đãn không quán, tức là lí không mà những người Thông giáo lợi căn trong bốn giáo Hóa pháp của tông Thiên thai quán xét. Phân biệt về lí Không của hàng ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) thấy, trong Ma ha chỉ quán (hội bản) quyển 3 phần 3, ngài Trí khải đã chỉ ra rằng: hàng nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) quán xét từ Giả vào Chân, là chỉ mới vào Đãn không, chứ chưa từ Đãn không vào Giả, nên không có cái dụng giáo hóa người khác. Còn hàng Bồ tát do thể hội mà vào Đãn chân (chỉ là chân thực), nên có thể từ Đãn không mà vào Giả, hóa độ chúng sinh, làm trong sạch nước Phật. Chỉ có Bồ tát thượng căn, nhờ thể chứng được Giả mà vào Chân, lần lượt vào Đãn không, Bất đãn không, cho nên có khả năng phá trừ vô minh mà thấy tính Phật. [X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Đãn Không).
bất đãn trung
(不但中) Không những chỉ là Trung. Đối lại với Đãn trung (chỉ là Trung). Tông Thiên thai đặt ra thuyết ba đế Không, Giả, Trung, cho rằng phủ định cả hai (Không, Giả) và xác định cả hai là nghĩa thực của Trung đạo. Trong ba quán, quán Tức không, Tức giả, Tức trung, là ba quán viên dung. Đối lại với hai bên Không, Giả mà bàn về Trung đạo, thì gọi là Bất đãn trung, là nghĩa lí Trung đạo của Viên giáo. Quán xét về lí Bất đãn trung này, gọi là Bất đãn trung quán. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 hạ; Duy ma kinh văn sớ Q.21]. (xt. Đãn Trung).
bất đảo đan
(不倒單) Không rời chỗ ngồi. Tức ban đêm không ngủ, ngồi xếp bằng tréo chân (già phu), hoặc niệm Phật, hoặc tham thiền, hoặc nghiên cứu công án, không rời chỗ ngồi, chẳng kể ngày đêm: đó là hạnh tu cần thiết để thấy rõ sự sống, thoát lìa cái chết, mau chứng Niết bàn.
bất đẳng quán bồ tát
Asamadarśana (S)Tên một vị Bồ tát.
Bất định
不定; C: bùdìng; J: fujō;|1. Một trong 6 loại Tâm sở hữu pháp, được gọi tên như vậy là do nó sinh khởi không có quy luật và không có khuynh hướng về thiện hay ác. Trường phái A-tì-đàm liệt kê 8 loại, gọi là Bất định địa pháp (不定地法). Du-già hành phái liệt kê 4 loại, gọi là Bất định pháp (不定法); 2. Một trong 2 dạng phạm giới của Tỉ-khâu, chưa biết rõ tính chất chính xác thuộc loại nào và sự quyết định phạm giới chưa được rõ ràng; 3. Không có thật, không tồn tại; 4. Tâm ý không an định, không thể nhập vào thiền định; 5. Loại chúng sinh căn cơ nghiệp lực bất định (Bất định chúng 不定衆).
bất định
Indeterninate, indefinite; irresolute, undecided; unfixed, unsettled, undetermined, uncertain. Bất định thụ nghiệp,indefinite karma. Bất định chủng tính, of indeterminate nature. Bất định giáo, indeterminate teaching. Bất định pháp, indeterminate dharma, method.
; (不定) 1. Bình xứ bất định giới (giới bất định ở chỗ khuất, kín). Nghĩa là tỉ khưu ngồi chung với người con gái ở chỗ khuất lấp (chỗ không thấy không nghe được), chỗ kín, chỗ có thể làm việc dâm dục hoặc nói những lờì trái phép. 2. Lộ xứ bất định giới (giới bất định ở chỗ trống trải). Nghĩa là tỉ khưu ngồi chung với đàn bà, con gái ở chỗ trống trải, nói lời dâm dục, lời thô tục xấu xa. Hai giới bất định trên đây ở trong Năm thiên và Sáu tụ, Trăm chúng học, Bảy diệt tránh v.v... đều được qui vào tội Đột cát la. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản Q.thượng; Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.3 thượng; Hành sự sao tư trì kí (hội bản) Q.19]. II. Bất định. Gọi tắt của Bất định địa pháp. Bất định địa pháp là một trong sáu loại tâm sở do tông Câu xá đặt ra. Bất định chỉ cho tám tâm sở: tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, si, mạn, nghi. (xt. Bất Định Địa Pháp). III. Bất định. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là sáu lỗi Bất định trong mười bốn lỗi của Nhân tương tự trong Nhân minh. Đó là: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phẩm nhất phần chuyển dị phẩm biến chuyển bất định, Dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định, Câu phẩm nhất phần chuyển bất định, Tương vi quyết định bất định. (xt. Lục Bất Định Quá).
; (不定) I. Bất định. Không xác định. Phạm : aniyata.Cũng gọi Bất định pháp, Nhị bất định (Phạm: dvàv-aniyatau, hai không định). Là một bộ phận của giới Cụ túc mà tỉ khưu nhận giữ. Bất định, nghĩa là chưa xác định rõ được là có phạm giới hay không, và, nếu phạm, thì phạm giới nào. Có hai thứ : Bình xứ bất định giới và Lộ xứ bất định giới.
bất định chỉ quán
(不定止觀) Một trong ba loại Chỉ quán do tông Thiên thai lập. Cũng gọi Bất định quán. Chẳng phải ban đầu quán xét thực tướng, cũng chẳng phải theo thứ tự từ nông đến sâu, mà là do sự tu tập một pháp nào đó trong quá khứ, bây giờ thình lình khai ngộ mà chứng thực tướng, được Vô sinh nhẫn. Ngài Trí khải dựa theo đó mà soạn Lục diệu môn, 1 quyển. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10; Chỉ quán tư kí Q.1]. (xt. Tam Chủng Chỉ Quán).
bất định chủ nghĩa
(不定主義) Chủ nghĩa không nhất định. Phạm: Syàt-vàda.Cũng gọi Hoặc nhiên luận. Một thứ lí luận phán đoán của Kì na giáo Ấn độ, do nhà triết học Kì na giáo Bà đạt ba la hốt (Phạm :Bhadrabàhu) chủ trương. Ông cho rằng, do nhận xét sự vật từ những góc độ bất đồng mà có kết luận khác nhau, cho nên mỗi luận điểm đều có điều kiện, chứ không thể khẳng định hoặc phủ định một cách tuyệt đối được. Nếu muốn làm sáng tỏ để phán đoán chính xác một vấn đề nào đó, thì cần đặt ở trước các tiếng có lẽ, có thể là (hoặc nhiên), cho nên gọi là Bất định chủ nghĩa. Cách lí luận phán đoán này chia làm bảy thứ, gọi là Thất chi luận pháp. (xt. Thất Chi Luận Pháp).
bất định chủng tánh
Aniyataikatara-gotra (S).
bất định chủng tính
(不定種性) Chủng tính không nhất định. Phạm: aniyataikatara-gotra.Cũng gọi Bất định tính, Tam thừa bất định tính. Một trong năm chủng tính do tông Pháp tướng thành lập, tức căn cơ chưa quyết định thuộc loại chủng tính nào trong ba chủng tính Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Sự bất định này là bởi sự sai khác về chủng tử vô lậu sẵn có của chúng sinh. Tức là căn cơ tuy có đủ chủng tính ba thừa Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, có thể là A la hán, Bích chi phật, cho đến thành Phật, nhưng vì tính hướng không định, cho nên gọi Bất định chủng tính. Có bốn loại: 1. Bồ tát, Thanh văn hai tính bất định, người có đủ hai tính Bồ tát, Thanh văn bất định, nên quả chứng được cũng bất định. 2. Bồ tát, Độc giác hai tính bất định, người có đủ hai tính Bồ tát, Độc giác bất định, nên quả chứng được cũng bất định. 3. Thanh văn, Độc giác hai tính bất định, người có đủ hai tính Thanh văn, Độc giác bất định, nên quả chứng được cũng bất định. 4. Thanh văn, Độc giác, Bồ tát ba tính bất định, người có đủ ba tính Thanh văn, Độc giác, Bồ tát bất định, nên quả chứng được cũng bất định. Trong bốn loại bất định kể trên, ngoại trừ loại thứ ba vĩnh viễn không trông mong thành Phật, còn các loại kia thì, đến một lúc nào đó, đều có thể thành Phật. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; kinh Giải thâm mật Q.2 phẩm Vô tự tướng tính; Phật địa kinh luận Q.2]. (xt. Ngũ Chủng Tính).
bất định giáo
(不定教) Một trong ba giáo, một trong bốn giáo hóa nghi. Tức là giáo hóa nghi không thuộc hai giáo Đốn và Tiệm. Cũng gọi Đắc ích bất định hóa nghi. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 10 phần trên và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 nói, thì các sư ở miền Nam, Trung (Trung quốc) cho các kinh Thắng man, Kim quang minh v.v... là không câu nệ thứ tự đốn tiệm, rõ được ý chỉ tính Phật thường trụ, gọi là Thiên phương bất định giáo. Nhưng, ngài Trí khải tông Thiên thai phản đối thuyết này, cho rằng Bất định là nghĩa Nhất âm dị giải (Phật chỉ dùng một tiếng nói pháp, nhưng chúng sinh tùy căn tính sai biệt mà hiểu khác nhau), trong năm vị (nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ) gồm có cả. Lại lập Hiển lộ bất định và Bí mật bất định khác nhau, rồi cùng với hai giáo Đốn, Tiệm gọi chung là bốn giáo hóa nghi. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 phần trên và Bát giáo đại ý nói, thì đức Phật dùng một tiếng nói pháp, nhờ sức thần chẳng thể nghĩ bàn của Như lai, có thể khiến chúng sinh trong khi nghe nói Tiệm giáo mà được lợi ích Đốn giáo, trong khi nghe nói Đốn giáo mà được lợi ích Tiệm giáo. Vì được lợi ích không giống nhau, nên gọi là Hiển lộ bất định giáo. Lại nữa, Tam luân của Như lai không thể nghĩ bàn: đối với người này nói đốn, đối với người kia nói tiệm, khiến mỗi người đều được ích lợi, mà họ không hay biết lẫn nhau, gọi là Bí mật bất định giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Ma ha chỉ quán phụ hành giảng nghĩa Q.1]. (xt. Tam Giáo, Hóa Nghi Tứ Giáo).
bất định giới
Dvy Aniyata (P)2 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
bất định nghiệp
(不定業) Đối lại với Định nghiệp. Nghiệp lãnh nhận quả báo thiện hay ác vẫn chưa quyết định, hoặc đã quyết định nhận quả báo, nhưng chưa quyết định thời gian, như thế gọi là Bất định nghiệp. So với định nghiệp, thì bất định nghiệp thuộc về nghiệp nhẹ. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
bất định nhân
(不定因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cái lỗi trong cách lập luận Nhân minh phạm phải do thiếu tướng (nguyên lí) thứ hai (Đồng phẩm định hữu tính: Nhân phải có cùng một tính chất với chủ từ của Tông) hoặc tướng thứ ba (Dị phẩm biến vô tính: tính chất của Nhân phải hoàn toàn không có trong khách từ của Tông) của Nhân (lí do). Lỗi này gồm sáu loại: 1. Cộng bất định quá: Nhân cùng lúc thông với cả Tông đồng phẩm (cùng tính chất với khách từ của Tông) và Tông dị phẩm (khác tính chất với khách từ của Tông). Do lỗi này mà Nhân không cách nào xác định được Tông. Cũng tức là đã thiếu điều kiện Dị phẩm biến vô tính (hoàn toàn không liên quan gì đến khách từ của Tông). 2. Bất cộng bất định quá: Nhân cùng lúc không thông với cả Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. 3. Đồng phẩm nhất phần chuyển dị phẩm biến chuyển bất định: Nhân có liên quan với một phần chủ từ của Tông và liên quan với toàn bộ khách từ của Tông. 4. Dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định quá: Nhân có liên quan một phần với khách từ của Tông và liên quan toàn bộ với chủ từ của Tông. 5. Câu phẩm nhất phần chuyển bất định quá, cũng gọi Câu phần bất định quá: Nhân có liên quan một phần với chủ từ của Tông và một phần liên quan với khách từ của Tông. 6. Tương vi quyết định bất định quá, cũng gọi Tương vi bất định quá. Lỗi này khác với năm lỗi trước, không phải vì thiếu đồng phẩm định hữu tính, cũng không phải thiếu dị phẩm biến vô tính, mà là vì đôi bên người lập luận và người vấn nạn đều dùng một Nhân chính xác (Nhân có đủ cả ba tướng) để chứng minh Tông trái ngược nhau, đôi bên ngang nhau, không phân thắng bại, ai phải ai trái, không quyết định được, do đó mà cũng được xếp vào loại Nhân bất định. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Lục Bất Định Quá, Nhân Minh).
Bất định pháp
不定法; C: bùdìng fǎ; J: fujōhō;|Các pháp bất định không nhất thiết sinh khởi trong mọi tướng trạng của tâm, do vậy không có khuynh hướng thiện hay ác. Theo A-tì-đạt-ma thì có 8 tâm sở hữu pháp trong mục nầy, gọi chính xác hơn là Bất định địa pháp (不定地法). Theo giáo lí của Du-già hành phái thì có 4 tâm sở hữu pháp: Truy hối (追悔), Thùy miên (睡眠), Tầm (尋) và Tứ (伺). Còn gọi là Tứ bất định (四不定).
bất định pháp
Aniyata (P)2 điều trong 227 điều giới bản của Tỳ kheo có ghi trong Kinh Phân biệt (Sutta Vibhanga).
bất định tánh tụ
Aniyatarasi (S).
bất định tụ
(不定聚) Nhóm không định. Phạm : aniyataràzi, Pàli : aniyata-ràsi.Cũng gọi Bất định tính tụ, Bất định. Chẳng thuộc tà chẳng thuộc chính kiến. Một trong ba tụ. Tụ nghĩa là chia loại thành từng nhóm. Dựa theo sự sai khác của căn cơ chúng sinh, có thể chia thành ba nhóm. Tâm tính chúng sinh nào chưa thuộc chính hay tà, hễ gặp duyên lành thì thành quyết định chính, hễ gặp duyên ác thì thành quyết định tà. Vì bất định như thế, nên gọi Bất định tụ [X. luận Thành thực Q.2; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3]. (xt. Tam Định Tụ, Chính Định Tụ).
Bất định địa pháp
不定地法; C: bùdìngdì fǎ; J: fujōchi hō;|Theo thuyết của A-tì-đạt-ma thì đây là những chức năng bất định của tâm thức, không có một bản chất thiện hoặc ác cố định nào, mà cũng không phải lúc nào cũng hoạt động tương ứng với tâm và những trạng thái của tâm (s: aniyatā-bhūmika). Bất định địa pháp bao gồm: Tầm (尋), tứ (伺), miên (眠), ác tác (惡作), tham (貪), sân (瞋), mạn (慢), và nghi (疑). Tương đồng với chủng loại này trong Du-già hành phái là bốn chức năng bất định của tâm thức, Tứ bất định (四不定).
bất định địa pháp
Aniyata-bhŪmika dharma (S).
; (不定地法) Phạm : aniyata-bhùmika dharma. Là một trong sáu loại tâm sở do tông Câu xá lập ra. Có tám thứ: tầm, tứ, thụy miên, ác tác,tham, sân, mạn, nghi. Những tâm sở này không nằm trong Đại địa pháp, Đại thiện địa pháp, Đại phiền não địa pháp, Đại bất thiện địa pháp và Tiểu phiền não địa pháp. Chúng là những pháp đặc biệt, không giống với tâm sở của năm địa kia, mà vốn có đủ tính quyết định. Bất định địa pháp này không biến khắp hết thảy tâm hoặc tâm nhơ nhớp, cũng chưa có tính quyết định dù thiện dù ác, cõi (ba cõi), nơi (chín nơi) mà chúng tương ứng cũng bất định, cho nên gọi Bất định địa pháp. Trong đây, bốn tâm sở tầm, tứ, thụy miên, ác tác, là Tùy phiền não, còn bốn tâm sở tham, sân, mạn, nghi thì thuộc phiền não căn bản. Nhưng, các nhà Duy thức Đại thừa thì cho bốn thứ trước là bất định, bốn thứ sau thuộc phiền não. [X. luận Câu xá Q.4; luận Du già sư địa Q.58; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp).
bất động
(不動, Phạn ngữ: acal): trạng thái không còn bị lay động bởi tham, sân, si; không động chuyển khi đối diện với trần cảnh.
; Niscala (S), Dhruva (S), Acala (S),, Niscala (S), Immovable, Imperturbable.
; Acalà, niscala; dhruva (S), The unmoved, immobile, or motionless; immovable.
; (不動) Vị tăng đời Tống. Người Thiên trúc, tên Phạm được dịch ra âm Hán là A thiểm phiết cán tư la. Ngài học thông cả Hiển giáo, Mật giáo, Tính tông, Tướng tông. Mới đầu, ngài đến nước Tây hạ, ở chùa Hộ quốc, phiên dịch và truyền bá Kinh điển thuộc Mật bộ, người thời ấy gọi ngài là Kim cương thượng sư. Sau dời đến Mông sơn (nay gọi là Sơn huyện) thuộc tỉnh Tứ xuyên; ở đây, ngài dựa theo Du già thí thực nghi quĩ của ngài Kim cương trí đời Đường mà dịch lại, đặt tên là Du già diệm khẩu. Rồi lại diễn thành pháp Tiểu thí thực, gọi là pháp Cam lộ, cũng gọi là pháp Mông sơn thí thực. Đệ tử của ngài là sư Lặc bố truyền cho sư Bảo an, truyền đến đời thứ ba là sư Uy đức chàng, đến nay, pháp Mông sơn thí thực được lưu hành khắp Trung quốc. Về sau, không rõ thầy trò ngài cuối cùng như thế nào.
Bất động hạnh
不動行; C: bùdòngxíng; J: fudōgyō;|Như Bất động nghiệp.
bất động hộ ma cung
(不動護摩供) Một trong những phép tu của Mật giáo. Tức là tu phép Hộ ma cúng dường Bất động minh vương.
Bất Động Minh Vương
(不動明王) Bất động, Phạm: Acala. Dịch âm: A già la. Cũng gọi Bất động kim cương minh vương, Bất động sứ giả, Vô động tôn, Vô động tôn bồ tát. Là vị tôn chủ của năm Đại minh vương, tám Đại minh vương Mật giáo. Được đặt ở đầu cực nam của viện Trì minh trong Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la. Mật hiệu là Thường trụ kim cương. Hình tam muội da là gươm sắc và vòng giây lụa. Gươm sắc biểu thị trí tuệ Phật, vòng giây lụa biểu thị phiền não nghiệp chướng, nghĩa là dùng gươm trí tuệ cắt đứt mọi thứ phiền não trói buộc mà sinh đại trí. Lại nữa, cây gươm, vòng giây tượng trưng cho định và tuệ, lí và trí, mà Long vương Câu lợi ca la là biểu tượng của tam muội da này. Vị tôn này nhận mệnh lệnh của đức Như lai, thị hiện tướng giận dữ, cầm đầu nhiều sứ giả, ngày đêm thường ủng hộ người tu hành, khiến khởi tâm bồ đề, dứt ác tu thiện, có ủ công năng giúp hành giả được đại trí thành Phật. Ngài cũng hay vào định Sinh lửa, tiêu trừ tội chướng, đốt cháy các thứ nhớp nhúa. Vì tâm bồ đề của Ngài vắng lặng không lay động, nên gọi là Bất động tôn. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép, thì vị tôn này hiện hình đồng tử, ngồi trên tòa bằng đá. Trên đầu có bảy búi tóc, bím tóc xõa xuống bờ vai bên trái, mắt trái hơi nhắm lại, hàm răng dưới cắn vào môi trên, hiện tướng giận dữ, lưng mang lửa cháy, tay phải cầm gươm sắc, tay trái cầm vòng giây lụa, làm ra dáng dứt phiền não. Còn theo Để lí tam muội da bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp, Kim cương đính du già hộ ma nghi và kinh Bất Động Minh Vương (Thai Tạng Giới Mạn Đà La) Nhất thiết Như lai Kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương quyển 3 chép, thì ngoài hình tượng nói trên ra, vị tôn này còn có các loại hình tượng một mặt bốn tay, bốn mặt bốn tay, ba mặt hai tay v.v... Về quyến thuộc, Bất động minh vương có tất cả tám đồng tử, ngoài hai đồng tử Căng yết la và Chế tra ca đứng hầu, còn có các bồ tát Tuệ quang, Tuệ hỉ, A nậu đạt la, Chỉ đức và đồng tử Ô câu bà nga, tỉ khưu Thanh tịnh v.v... Lại Thắng quân bất động minh vương tứ thập bát sứ giả bí mật thành tựu nghi quĩ chép, Bất động minh vương có bốn mươi tám sứ giả, gồm Long vương Câu lí ca la cho đến tất cả thần vương. Còn kinh Thánh bất động thì nói, có tất cả ba mươi sáu đồng tử làm người hầu, như Căng ca la, Chế tra ca, Bất động tuệ v.v... Về ấn khế của Bất động minh vương, cứ theo kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn chép, thì tay trái làm nắm tay, ngón giữa, ngón trỏ duỗi ra, ngón cái đè lên phần trên ngón út và ngón áp út; duỗi ngón trỏ, ngón giữa để vào lòng bàn tay phải, cũng lấy ngón cái đè lên phần trên ngón áp út và ngón út. Ngoài ra, Bất động lập ấn quĩ, Bất động sứ giả pháp và kinh Để lí tam muội da v.v... còn nêu ra mười bốn ấn căn bản, như: ấn Bí mật căn bản, ấn Kim cương ba chẽ v.v... Còn về chân ngôn thì có: chú Tàn thực, chú Hỏa giới, chú Từ cứu, chân ngôn Nhất tự tâm. Trong đây, chú Tàn thực là: Nẵng mạc tam mạn đa phạ nhật la noãn (nama# samanta vajrànàô, kính lạy khắp các kim cương) đát la tra (traỉ, tàn hại phá chướng) a mô già chiến noa (amogha caị đa, bất không bạo ác) ma hạ lộ sái ninh (mahà rowaịa, rất giận dữ) sa phả tra dã (sphaỉaya, phá hoại) hồng (hùô, sợ hãi) đát la ma dã (tramaya, bền chắc) hồng (hùô) đát la tra (traỉ) hàm hàm (hùô hùô, chủng tử). Thần chú này có xuất từ Để lý tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng bí mật pháp quyển trung. Chú Hỏa giới là: Nẵng mạc tát phạ đát tha nghiệt đế tì dược (nama# sarva tathàgatebhya#, kính lạy hết thảy đức Như lai) tát phạ mục khế tì dược (sarva mukhebhya#, hết thảy các diện môn) tát phạ tha (sarvathà, hết thảy nơi chỗ) chớ la tra (traỉ, quát mắng phá chướng) tán noa (caịđa, bạo ác) ma ha lộ sái noa (mahàrowaịa, rất giận dữ) khiếm (khaô) già hi già hi (khahi khahi?) tát phạ vĩ cận nam (sarva vighnaô, tất cả chướng ngại) hồng (hùô, phá hủy) đát la tra (traỉ) hám mâu (hàô hàô, chủng tử). Thần chú này có xuất xứ từ kinh Kim cương thủ quang minh quán đính phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp. Chú Từ cứu là: Nẵng mạc tam mạn đa phạ nhật la noãn, chiến noa ma ha lộ sái noa (caịđa mahà rowaịa, bạo ác rất giận dữ) tát phả tra dã (sphaỉaya, phá hoại) hồng (hùô, sợ hãi) đát la ca (traka, bền chắc) hãn mạn (hàô màô, chủng tử). Chân ngôn Nhất tự tâm là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết la noãn hãn. Chú Từ cứu và Chân ngôn nhất tự tâm đều được chép ra từ phẩm Phồ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2. Lại phép Bất động là phép tu trừ tai, thêm ích, cầu nguyện nước nhà thịnh vượng yên vui, nên gọi là An trấn pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10,Q.13;Thánh vô động tôn an trấn gia quốc đẳng pháp]. (xt. Bất Động Thập Tứ Căn Bản Ấn).
bất động minh vương
Acalanātha (S)Tên một vị thiên.
; Xem Bất động Tôn Bồ tát.
; Fudō Myōō (J)Tên một vị Bồ tát.
; Acalà-vidyà-ràja (S). Immovable vidyàrajà.
bất động mạn đồ la
(不動曼荼羅) Mạn đồ la của Mật giáo lấy ngài Bất động minh vương làm vị tôn chính. 1. Theo kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Tức chướng và Đại nhật kinh sớ quyển 9 nói, thì mạn đồ la gốc của Bất động minh vương tức là mạn đồ la hình ba góc, ở giữa mầu đen, người trì tụng quán tưởng thân mình là tượng của Bất động minh vương. Phép quán tưởng này có hai ý: a) Quán tưởng Bất động tôn ở trong vòng tròn, dẵm lên trời Đại tự tại. b) Quán tưởng thân mình là Bất động tôn, tức dùng chân ngôn Bất động tôn in vào trời Đại tự tại rồi đạp lên trên. Trong ba góc, vẽ hình trời Đại tự tại là kẻ gây chướng ngại, sau đó, bước vào trong hình ba góc, dùng chân trái đạp lên đỉnh đầu trời Đại tự tại, với hình dáng đại phẫn nộ, lúc đó, trời Đại tự tại phải rút lui ngay. 2. Nương vào pháp Thánh vô động tôn an trấn gia quốc, trong bánh xe kim cương tám nan hoa, ở giữa vẽ Bất động tôn có hai tay, thân cao tám ngón tay, tay phải cầm gươm trí tuệ, taỵ trái cầm vòng giây lụa. Trong bánh xe ở tám hướng, đều vẽ thần phẫn nộ Đại nghiêm có bốn tay, ở tám hướng ngoài bánh xe vẽ đầu chày kim cương ba chạc. Ngoài ra, còn có Bất động mạn đồ la dựa theo Để lí tam muội da bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp mà vẽ. Lại mạn đồ la mười hai trời và mạn đồ la mười trời, đều vẽ Bất động tôn bốn tay ở chính giữa, cho nên cũng gọi Bất động mạn đồ la. [X. Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.32].
Bất động nghiệp
不動業; C: bùdòngyè; J: fudōgō;|Hành vi (nghiệp) dẫn tới kết quả chẳng lành chẳng dữ (theo Du-già luận 瑜伽論).
bất động nghiệp
Aninjya-karma (S).
bất động nghĩa
(不動義) Một trong mười nghĩa của tính hư không. Nghĩa là tự thể của chân như thường còn vắng lặng, không biến đổi không lay động. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3].
bất động như lai
Axobya (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Aksobhya Buddha (S). Imperturbable Buddha. Also A súc Phật.
bất động pháp
(不動法) I. Bất động pháp. Phép cầu đảo trong Mật giáo, lấy Bất động minh vương làm Bản tôn (vị tôn chính), tu để cầu tiêu trừ tai họa và tăng trưởng lợi ích. Tức là nương theo phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính mà tu, ngoài mười tám pháp đạo hạnh, còn tu thêm mười chín thứ quán tướng, mười bốn khế ấn căn bản, mười chín Bố tự quán. Mười chín phép quán tưởng là: 1. Quán tưởng Bản tôn là hóa thân của đức Đại nhật Như lai, làm sứ giả của Ngài, chấp hành các nhiệm vụ. 2. Quán tưởng bốn chữ chân ngôn A, Lộ, Hàm, Mâu biểu trưng bốn bí mật của Như lai. Chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai do đây mà ứng hiện ba thân, thành đẳng chính giác. 3. Quán tưởng thường ở trong định Sinh ra lửa, đốt cháy tất cả nghiệp chướng nhớp nhúa. 4. Quán tưởng thị hiện hình đồng tử, trên vâng theo lời chư Phật dạy bảo ủng hộ người tu, dưới hóa độ chúng sinh, giữ gìn giúp đỡ các loài. 5. Quán tưởng trên đỉnh đầu có bảy búi tóc, tượng trưng cho bảy phần giác. 6. Quán tưởng một bím tóc rủ xuống bên trái đầu, biểu trưng từ bi. 7. Quán tưởng trên trán có vết nhăn, tượng trưng sự lo nghĩ trong sáu đường. 8. Quán tưởng mắt trái nhắm xiên một bên, tưởng tượng che lấp đường tà, khiến vào Nhất thừa. 9. Quán tưởng hàm răng dưới cắn vào môi trên, lộ răng ra ngoài, dùng sức từ bi dọa ma. 10. Quán tưởng miệng ngậm lại, diệt lời hí luận. 11. Quán tưởng tay phải cầm gươm, biểu thị diệt trừ tham, sân, si. 12. Quán tưởng tay trái cầm giây lụa, tượng trưng trói những kẻ không hàng phục. 13. Quán tưởng ăn thức ăn thừa của người tu, tượng trưng ăn tập khí vô minh của chúng sinh đời vị lai. 14. Quán tưởng ngồi trên tảng đá lớn, tượng trưng trấn áp nghiệp chướng nặng nề của chúng sinh làm cho thành tâm bồ đề trong sạch. 15. Quán tưởng sắc xấu xí xanh đen, tỏ tướng điều phục. 16. Quán tưởng khởi niệm giận dữ mau chóng, tỏ tướng oai mãnh. 17. Quán tưởng khắp mình có lửa Ca lâu la, biểu thị trí lửa của chim đại bàng cánh vàng hay ăn rồng con, trừ diệt loài hữu tình ác độc. 18. Quán tưởng biến thành rồng chúa Câu lợi ca la, biểu thị gươm trí tuệ có khả năng tiêu diệt rồng ác ba độc tham sân si. 19. Quán tưởng biến làm hai đồng tử Căng yết la, Chế tra ca, thuận theo chính, không thuận theo tà. Mười bốn ấn căn bản, tức quán tưởng Bản tôn có mười bốn loại ấn căn bản. Đó là: ấn Bí mật căn bản (ấn chày một chẽ), ấn Núi báu, ấn Đầu kín, ấn Mắt kín, ấn Miệng kín, ấn Tâm kín, ấn Gia trì, ấn Sư tử nhanh chóng, ấn Ngọn lửa, ấn Bánh xe lửa, ấn Thương khư, ấn Khát nga và ấn Kim cương ba chẽ. Mười chín Bố tự quán, tức quán tưỏng mười chín loại chân ngôn được sắp đặt trên khắp thân thể của người tu, để thân mình trở thành Thánh tôn. Tức đặt chân ngôn Đính tướng Nẵng mạc tát phạ đát tha nghiệt đế tì dược tát phạ mục khế tì dược tát phạ tha án a tả la tán noa khiếm ở trên chỏm đầu, Qui mệnh xí dựng ở trên đầu, Qui mệnh khí bên trái đầu, Qui mệnh hám ở trán, Qui mệnh hi ở hai tai, Qui mệnh đát la tra ở hai mắt, Qui mệnh hồng ở mũi, Qui mệnh hộ ở miệng, Qui mệnh hám ở đầu lưỡi, Qui mệnh mãng ở hai vai, Qui mệnh mâu ở cổ họng, Qui mệnh chiêm ở hai vú, Qui mệnh mãn ở tim, Qui mệnh tra ám ở hai bên hông, Qui mệnh sá án ở lưng, Qui mệnh sá ở bắp vế, Qui mệnh hác ở hai bên rốn, Qui mệnh hám ở hai đầu gối, Qui mệnh hám ở hai chân. Nhờ quán tưởng này mà thân hành giả thành tựu các tướng tốt lành của Bản tôn, cùng với Bản tôn là một thể, không khác. Lại phép tu dựa vào pháp Bất động sứ giả đà la ni bí mật, lấy Bất động minh vương làm Bản tôn, vì trấn an nhà cửa mà tu, thì gọi là Bất động an trạch pháp, Bất động an trấn pháp, Bất động trấn trạch pháp. II. Bất động pháp. Một trong sáu loại A la hán, một trong chín bậc Vô học. Chỉ chủng tính lợi căn nhất trong những người chứng được quả A la hán, không còn bị phiền não khuấy động mà trở lui. (xt. Bất Động Pháp A La Hán).
bất động pháp a la hán
(不動法阿羅漢) Một trong sáu loại A la hán, một trong chín bậc Vô học. Tức là người chủng tính lợi căn nhất trong những người chứng quả A la hán, được tận trí, vô sinh trí, không còn bị phiền não làm loạn động mà trở lui nữa. Có hai loại: do chủng tính sẵn có gọi là Bất thoái pháp và người độn căn nhờ tu luyện mà được gọi là Bất động pháp. Trong sáu loại A la hán, hợp hai làm một, còn trong chín bậc Vô học thì chia riêng ra mà lập hai tên. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học, Lục Chủng A La Hán).
Bất Động Phật
不動佛; S: akṣobhya; cũng được gọi theo âm Phạn ngữ là A-súc, A-súc-bệ Phật, A-sơ Phật;|Vị Phật giáo hoá ở Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) phương Ðông. Cần hiểu »Ðiều hỉ quốc« không phải là một vị trí địa lí mà là một trạng thái tâm thức. Mỗi cõi được xếp vào một vị Phật với những tính chất nhất định (Tịnh độ).|||H 14: Bất Ðộng Phật. Phật Bất Ðộng tượng trưng cho sự chiến thắng lòng đam mê, thường được trình bày có thân màu xanh thẩm hay vàng rực, cỡi voi tượng trưng sự bất động, tay bắt ấn xúc địa (Ấn). Kim cương chử dưới toà sen biểu hiện sự cứng rắn tuyệt đối, không thể phá huỷ.|Cách đây vô lượng kiếp, Bất Ðộng Phật còn là tăng sĩ, từng thệ nguyện với đức Phật giáo chủ Ðiều hỉ quốc sẽ không bao giờ khinh khi hay giận giữ với bất cứ chúng sinh nào. Thực hiện lời thề đó, Ngài không lay chuyển trước trở lực nào, trở thành »bất động« danh hiệu của Ngài và thành Phật của Ðiều hỉ tịnh độ. Chúng sinh nào tái sinh vào quốc độ của Phật Bất Ðộng sẽ không bao giờ rơi trở lại cõi thấp kém hơn, và muốn như thế, hành giả cũng phải thệ nguyện như Ngài (Phật gia).
bất động phật
Xem Phật A súc bệ.
; Xem Phật A súc bệ.
; (不動佛) Bất động Phật là dịch ý của tên tiếng Phạm Akwobhya-buddha. Dịch âm: A súc Phật. Bất động Phật (hoặc Bất động Như lai) chép trong kinh Giáo vương và kinh Lược xuất v.v... là chỉ đức Phật A súc ở phương đông. Còn Phật Bất động ở phương bắc nói trong kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên thì không phải Phật A súc ở phương đông. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 622 hạ), nói : Kế đến, ở phương bắc quán tưởng Phật Bất động, trụ nơi tướng định tịch lặng thanh lương (mát mẻ), đây là trí Như lai niết bàn, nên có nghĩa bất động, chứ không phải tên của đức Phật là bất động, chính tên Ngài là Cồ âm Như lai. Tức A súc nghĩa là bất động, chỉ cho tâm bồ đề vững chắc không lay động. Lại nữa, Phật Thiên cổ lôi âm, nói theo nghĩa niết bàn tịch định, cũng gọi là Phật Bất động. (xt. A Súc Phật).
bất động sinh tử
(不動生死) Sống chết chẳng động. Chỉ cho sống chết tức là Niết bàn. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 581 hạ), nói: Vừa mới phát tâm, liền thành chính giác, chẳng động sinh tử mà đến Niết bàn.
bất động sứ giả
(不動使者) Cũng gọi Vô động sứ giả, Bất động Như lai sứ. Chỉ hình đồng tử của Bất động minh vương trong Mật giáo. Vì bản thệ tam muội da, mà Bất động minh vương, lúc mới phát tâm, thị hiện hình tướng trẻ con, làm người hầu hạ đức Như lai để Ngài sai khiến, đồng thời, giúp đỡ cung phụng người tu hành chân ngôn (Mật chú), bởi thế mà có tên là Bất động sứ giả. (xt. Bất Động Minh Vương).
bất động sứ giả pháp
(不動使者法) I. Bất động sứ giả pháp. Phép tu cầu niệm sứ giả Bất động trong Mật giáo. Khi tu phép này, Bản tôn hiện thân làm người hầu hạ, cung phụng hành giả, ngày đêm ủng hộ, khiến hành giả thành tựu bồ đề. [X. Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp]. II. Bất động sứ giả pháp. Có một quyển. Gọi đủ: Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp. Cũng gọi Bất động sứ giả đà la ni pháp, Bất động tôn sứ giả bí mật pháp, Bất động sứ giả quĩ. Thắng phấn nộ vương chân ngôn. Do ngài Kim cương trí đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này trình bày vị sứ giả đây tức là hóa thân của đức Tì lô giá na, Ngài hay thỏa mãn các lời cầu mong của mọi người. Nội dung chia làm ba phần : 1. Trước hết, nói về bốn hạnh tinh tiến, phép chú trở, phép hộ ma. 2. Kế đến, nói cách vẽ tượng và vẽ sứ giả, phép kết giới hộ thân. 3. Sau hết, nói rõ phép Ưu khâu mãn nguyện.
bất động tam muội
(不動三昧) Quán xét tướng các pháp một cách chính xác, trạng thái tâm không dao động, là một trong những tam muội nói trong kinh Đạt ma đa la thiền quyển hạ. Tam muội (định) này do quán xét năm ấm mà sinh ra. Ý nói, đối với năm ấm, quán xét đầy đủ pháp tướng mà sự nhàm chán được thêm lên, trí tinh tiến bền chắc, không gì lay động được. Không lay động được tức là Bất động tam muội.
bất động thánh vương
Aryācalanātha (S).
bất động thập tứ căn bản ấn
(不動十四根本印) Mười bốn ấn căn bản bất động. Cũng gọi Căn bản ấn minh. Là mười bốn ấn khế của Bất động minh vương trong Mật giáo. Về thứ tự và tướng ấn của mười bốn ấn này, các kinh quĩ nói có hơi khác nhau. Theo mười bốn loại được chép trong Bất động lập ấn quĩ là: 1. Căn bản bí mật ấn, cũng gọi Châm ấn, Độc cồ ấn. Tức hai tay đan lại ở bên trong, hai ngón cái để ở bên cạnh hai ngón vô danh, đầu hai ngón giữa để ở trước hai ngón cái, hai ngón trỏ dựng thẳng dính vào nhau. Hai ngón trỏ tượng trưng gươm, hai ngón cái, hai ngón vô danh tượng trưng giây lụa. Hoặc hai ngón vô danh, hai ngón giữa tượng trưng bốn ma, lấy hai ngón cái đè lên, biểu thị nghĩa hàng phục bốn ma. 2. Bảo sơn ấn, hai tay đan lại ở bên trong, hai ngón cái để trong lòng bàn tay, làm thành cái tòa ngồi tựa như phiến đá lớn, biểu thị nghĩa không chuyển động. 3. Đầu ấn, hai tay làm nắm tay Kim cương, nắm tay phải để ngửa, nắm tay trái úp lên trên nắm phải. Đây là hình búi tóc. 4. Nhãn ấn (ấn mắt), hai tay đan bên trong, hai ngón cái đưa vào lòng bàn tay, hai ngón trỏ chặp lại dựng đứng, đem ấn đặt ở hai mắt và giữa chân mày, tượng trưng trí của ba bộ, hoặc hai bộ và mắt trí chẳng hai. 5. Khẩu ấn (ấn mồm), hai ngón út tréo nhau ở trong, hai ngón vô danh đè ở khoảng tréo của hai ngón út, hai ngón giữa duỗi đều, hai ngón cái ấn thêm vào móng của ngón vô danh, hai ngón trỏ đều ấn thêm vào móng của ngón giữa. Đem ấn đặt ở miệng, hoặc lấy hai ngón cái làm môi dưới, hai ngón trỏ làm môi trên, khoảng giữa đó là hình cái miệng, đây là miệng Đại không tam muội, đầu hai ngón út hiện ra, tượng trưng hai răng nanh. 6. Tâm ấn, hai tay chắp lại, giữa lòng bàn tay rỗng, hai ngón trỏ, hai ngón cái làm dáng như khảy móng tay, tức là giống với ấn Đại tuệ đao (dao đại trí tuệ). Tâm ấn là tâm chân thật bền chắc của Bất động tôn, tượng trưng muôn đức ở trong tâm. 7. Tứ xứ gia trì ấn (ấn chú nguyện ở bốn chỗ). Cũng gọi giáp ấn. Hai tay chắp lại, lòng bàn tay rỗng, hai ngón giữa dựng đứng, hình dáng như cây cờ, hai ngón trỏ để ở lóng đầu của ngón giữa, hai ngón vô danh làm hình báu, hai ngón út, hai ngón cái đứng tản ra, ấn để ở bốn chỗ là tim, hai vai, cổ họng rồi xả ra ở trên đỉnh đầu. Dùng ấn này gia trì bốn chỗ của thân, liền thành thân bất động. 8. Sư tử phấn tấn ấn (ấn sư tử ra sức mau chóng). Như ấn trước, dựng thẳng ngón trỏ của tay phải và lay động, làm hình sư tử nhún mình chồm tới. Sư tử tượng trưng tâm bồ đề. 9. Hỏa diệm ấn (ấn ngọn lửa). Lấy ngón cái của tay phải ấn vào móng ngón giữa, ngón vô danh, ngón trỏ dựng đứng, chống vào chân của ngón giữa trong bàn tay trái. Là nghĩa dùng giáo phong đại bi của Phật mà dẫn phát lửa trí của chúng sinh. 10. Hỏa diệm luân chỉ ấn (ấn ngăn chặn bánh xe lửa). Cũng gọi Chế hỏa ấn, Già hỏa ấn. Ngón cái của hai tay đều để ở khoảng giữa (kẽ tay) của ngón trỏ và ngón giữa, hai tay nắm, xoay lưng hợp lại. Nếu gió (ngón trỏ) ở gần lửa (ngón giữa), thì lửa càng mạnh, nếu giữa lửa và gió có hư không (ngón cái ngăn cách), thì lửa tự diệt. Ân này tượng trưng nghĩa dùng trí đại không diệt lửa nghiệp phiền não. 11. Thương khư ấn (ấn tù và pháp). Ngón cái của tay trái tay phải đều ấn vào ngón vô danh, ngón út, hai ngón giữa dựng thẳng chặp lại, ngón trỏ tay phải dính vào lóng (đốt) ngón giữa, ngón trỏ tay trái đứng thẳng. Tù và pháp tức là nghĩa nói pháp. 12. Khát nga ấn (ấn gươm). Về ấn này, các Quĩ và phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật nói đều giống nhau: ngón trỏ, ngón giữa của tay trái duỗi ra, lấy ngón cái đè lên móng ngón út làm thành hình dáng cái bao gươm, tay phải cũng như thế làm thành hình cây gươm. Bàn tay hình bao gươm ngửa lên, bàn tay hình cây gươm úp xuống đặt ở trên tay hình bao gươm. Trong ấn này, hai ngón trỏ tượng trưng thân không lay động; hoặc ngón vô danh, ngón út ấn vào ngón cái, biểu thị Đại nhật (mặt trời lớn) của hai bộ Kim cương, Thai tạng. 13. Quyên sách ấn (ấn giây lụa), lấy ngón cái của tay phải đè lên móng của ba ngón giữa, vô danh và út, ngón trỏ duỗi thẳng, đặt vào lòng bàn tay trái, dùng ba ngón giữa, vô danh, út của tay trái nắm lấy nó, đầu ngón cái tay trái bấm vào đầu ngón trỏ tay trái làm thành hình vòng tròn, tượng trưng vòng giây lụa mà Minh vương cầm ở tay.14. Tam cồ Kim cương ấn (ấn Kim cương ba chẽ). Lấy đầu ngón cái của tay phải bấm vào đầu ngón trỏ, còn ba ngón kia duỗi thẳng ra, làm thành hình ba chẽ (chạc). [X. kinh Để lí tam muội da; Bất động sứ giả pháp].
bất động trấn trạch pháp
(不動鎮宅法) Phép Bất động trấn yên nhà cửa. Cũng gọi Bất động an trấn pháp, Bất động an trạch pháp. Là phép trong Mật giáo, lấy Bất động minh vương làm Bản tôn, tu để cầu trấn yên nhà cửa. Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp (Đại 21, 27 thượng), nói : Nếu trong nhà có điềm dữ gây sợ hãi, hoặc bị quan quyền bức não, nên một lòng tụng chú căn bản, (...) chỉ ở trong nhà sạch sẽ kết giới giữ mình, buộc tâm nơi sứ giả Bất động, chuyên niệm không dứt. (xt. Bất Động Pháp).
bất động tôn
Xem A già la.
bất động tôn bồ tát
Acalā-Bodhisattva (S), Immovable Bất động Minh Vương, A già la, Vô Yểm Túc La sát nữTên một vị Phật hay Như Lai.
bất động tôn giả
Xem Tân đầu lư.
bất động tôn, bất động minh vương
Acalàgra-vidyàràja (S) Immovable Vidyàràja.
Bất động vô vi
不動無爲; C: bùdòng wúwéi; J: fudō mui;|Không còn thô động bởi khổ lạc. Lìa ý tưởng ở cõi đệ tam thiền thuộc Sắc giới, nhập cõi Tứ thiền, nơi thụ tưởng khổ lạc đều tiêu sạch, chỉ còn ý niệm xả thụ khổ lạc. Theo Duy Thức tông thì đây một trong sáu Vô vi pháp. Là chân tế, xa lìa được thô động của khổ lạc.
Bất động địa
(Acal-bhmi), là địa vị tu chứng thứ 8 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Đạt đến địa vị này, Bồ Tát không còn bị dao động bởi bất kỳ một cảnh ngộ nào, và đã biết chắc khi nào mình sẽ đạt quả vị Phật. Xem Mười địa vị.
; 不動地; C: bùdòngdì; J: fudōji; S: acalā.|Địa vị Bất động, địa thứ 8 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Giai vị mà các công đức lành có thể xuất sinh một cách dễ dàng. Theo kinh Giải thâm mật, những phiền não vi tế nhất đều được trừ sạch trong địa vị nầy (theo Giải thâm mật kinh 解深密經).
bất động địa
Acalā-bhŪmi (S), Immovable ground, Immovable StageTrong Thập địa.
; Acalàbhùmi (S). Immovable ground. The 8th ground of Bodhisattva.
bất động định
(不動定) I. Bất động định. Định vững vàng không lay chuyển. Là thiền định trong đó Bất động minh vương của Mật giáo an trụ. Thiền định này lấy tâm đại bồ đề mà bản tính vốn thanh tịnh vô vi tịch định làm thể, vì thế gọi Bất động định. [X. kinh Để lý tam muội da]. II. Bất động định. Chỉ định thứ tư trong bốn thiền định của cõi Sắc. Định (tĩnh lự) thứ tư này không có tám thứ gió tai hại như tìm kiếm, dò xét, lo âu, vui mừng, khổ đau, khoái lạc, thở vào, thở ra…… …v.v…... làm chao động được nước định, cho nên gọi Bất động định. Trái lại, ba định (tĩnh lự) dưới gọi là Hữu động định. [X. luận Câu xá Q.28; Câu xá quang kí Q.28].
bất ưng tác nghiệp
Ayogā-vihita-karma (S).
bất ẩm tửu giới
(不飲酒戒) Giới không uống rượu. Chỉ cho giới cấm uống rượu. Bất luận tại gia hay xuất gia, đều phải tuân theo qui định này. Rượu không những gây chướng ngại cho việc tu hành đạo Phật, mà nó còn làm cho tâm người ta cuồng loạn. Thông thường, trên tấm đá ở cổng các Thiền viện đều có khắc dòng chữ: Không được mang rượu thịt vào chùa. (xt. Tửu).
Bất ứng
不應; C: bù yīng; J: fuō;|Không đúng, không thể ứng dụng được, không hợp lí, không tương ưng.
bất ỷ ngữ
Unrefined, indecent, improper, or smart speech.
; (不綺語) Không nói thêu dệt. Phạm: Saôbhinnapralàpàt prativirati. Một trong mười điều thiện. Nghĩa là không nói lời thêu dệt, bịa đặt, cũng không nịnh bợ ton hót. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
Bất-như Mật-đa
不如密多; S: puṇyamitra;|Tổ thứ 26 của Thiền tông Ấn Ðộ.
bần
Poor, in poverty.
bần cùng hải
(貧窮海) Biển nghèo cùng. Ví dụ nỗi khổ sở của sự nghèo cùng sâu rộng cũng như biển cả. Luận Đại trí độ (Đại 25, 227 thượng) nói: Sự bố thí là con thuyền bền chắc, có khả năng vượt qua biển nghèo cùng.
bần cùng phúc điền
(貧窮福田) Ruộng phúc nghèo cùng. Tất cả người nghèo cùng khốn khó là ruộng đất, bố thí cho họ có thể nảy sinh mầm phúc. Là một trong ba thứ ruộng phúc nói trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 phẩm Cúng dường tam bảo. Những người nghèo cùng ví như ruộng vườn hay sinh trưởng muôn vật, nếu bố thí cho họ có thể sinh phúc. Khi bố thí, tuy mình không mong cầu quả báo, nhưng cũng tự nhiên được phúc, nên gọi là bần cùng phúc điền. (xt. Phúc Điền).
bần giả nhất đăng
(貧者一燈) Người nghèo một ngọn đèn. Truyện một bà già nghèo, với tấm lòng chí thành, chỉ cúng dường một ngọn đèn mà được công đức còn lớn hơn công đức của một trưởng giả cúng dường một vạn ngọn đèn. Cũng gọi Bần nữ nhất đăng (người đàn bà nghèo một ngọn đèn). Truyện này có xuất xứ từ kinh A xà thế vương thụ quyết và phẩm Bần nữ Nan đà trong kinh Hiền ngu quyển 3. Cứ theo kinh A xà thế vương thụ quyết chép, thì một hôm vua A xà thế thỉnh đức Phật vào cung cúng dường trai, ăn xong, đức Phật trở về tinh xá Kì hoàn. Ông Kì bà dâng kiến nghị tâu vua thắp đèn, vua liền ra lệnh đưa một trăm hộc dầu mè từ trong cung đến tinh xá Kì hoàn để thắp đèn. Bấy giờ có một bà già nghèo khó, lòng thành thường muốn cúng dường đức Phật, nhưng khốn nỗi tiền của không có, hôm nay thấy vua làm công đức như thế, lại càng tủi thân. Bà liền đem hai đồng tiền đã xin được, đưa đến người bán dầu mè, mua được hai lẻ dầu (phép đong lường ngày xưa, mười lẻ là một đấu), nhưng nhà hàng dầu biết lòng chí thành của bà, nên đặc biệt cho thêm ba lẻ nữa là năm lẻ (khoảng 1/3 lít dầu). Bà lão rót dầu vào đèn, thắp lên rồi đem đặt ở trước đức Phật, nghĩ thầm dầu này sẽ chẳng đủ thắp đến nửa đêm, bèn tự thề nguyền: Nếu đời sau được đạo như Phật, thì đèn này cháy suốt đêm không tắt. Trong khi những ngọn đèn của vua, có ngọn bị gió thổi tắt, có ngọn tắt vì cạn dầu, tuy có người thường trực để châm thêm dầu cho cháy tiếp, nhưng không cách nào giữ cho hoàn toàn cháy sáng hết được, chỉ có ngọn đèn của bà già là đặc biệt sáng hơn các đèn khác, chẳng những suốt đêm không tắt, mà dầu cũng không cạn. Mãi đến khi trời sáng, đức Phật mới bảo tôn giả Mục liên: Trời sáng rồi, tắt hết đèn đi!. Ngài Mục liên tắt hết các đèn, chỉ có ngọn đèn của bà già Ngài thổi đến ba lần mà vẫn không tắt. Ngài lại dùng áo ca sa để quạt, nhưng đèn càng cháy mạnh hơn, chiếu mãi đến cõi trời Phạm thiên, rồi chiếu khắp ba nghìn thế giới! Phật lại bảo Mục liên: Đây là ánh sáng của công đức của vị Phật đương lai, sức thần thông của ông không dập tắt được đâu. Bà già này sau ba mươi kiếp sẽ được thành Phật, hiệu là Tu di đăng quang Như lai. Truyện cổ Người nghèo một ngọn đèn trên đây cho thấy, vua A xà thế cúng dường tuy nhiều, nhưng lòng không chuyên chú, bởi thế không bằng sự cúng dường hết lòng thành kính chuyên chú của bà già. Nó cũng cho thấy bất luận vật cúng dường nhiều hay ít, nếu người đem lòng chí thành mà cúng dường thì mới thật là trân quí. Phẩm Bần nữ Nan đà trong kinh Hiền ngu chép nội dung đại khái cũng tương tự, nhưng lấy tên người con gái nghèo là Nan đà.
bần nữ bảo tạng
(貧女寶藏) Kho báu của người con gái nghèo. Ví dụ tất cả chúng sinh đều có đủ tính Phật, cũng như người con gái nghèo có kho báu. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 7 (Đại 12, 407 trung), nói : Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, nhưng bị các phiền não che lấp, ví như người nghèo kia có kho vàng ròng mà không thấy được. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.34].
bần tăng
Xem Sa môn.
; Poor monk; (Of monk talking of himself) I, me, poor monk.
; (貧僧) I. Bần tăng. Tăng nghèo. Phạm: Zramaịa. Dịch âm: Sa môn na, Sa môn. Lời tự nhún của tăng sĩ. Cũng gọi bần đạo (nghèo đạo), phạp đạo (thiếu đạo). Cùng nghĩa với Chuyết tăng (tăng vụng, ngu). Tăng sĩ dứt đạo tà, siêng tu tám đạo chính để cầu giải thoát, thường tự cho là nghèo đạo, thiếu đức, nên có lối xưng hô nhún nhường này. Đại Tống tăng sử lược quyển hạ chép, các vị sa môn đời Hán, Ngụy, Lưỡng Tấn, đối với vua, hoặc xưng tên, hoặc xưng tôi, hoặc xưng bần đạo. Như các ngài Pháp khoáng dâng thơ lên Giản văn đế nhà Tấn, Chi độn dâng thơ xin về đất Diệm, Đạo an can gián vua Phù kiên v.v... đều tự xưng bần đạo. Người đời sau bắt chước dùng theo cách này. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Xưng hô môn]. II. Bần tăng. Chỉ các tăng sĩ vô phúc nghèo khổ.
bần đạo
xem sa-môn.
; Xem Sa môn.
; The way of poverty, that of the monk and nun; also a poor religion, i.e. without the Buddha-truth.
bẩm sanh
Xem Sanh đắc.
Bẩm 禀
[ja] ホン hin ||| (1) To petition, to state. (2) To receive commands. (3) Natural endowment, inherent, inborn. => 1. Cầu xin, thỉnh nguyện, thưa thỉnh, phát biểu. 2. Vâng, chịu, nhận mệnh lệnh. tiếp nhận chỉ thị. 3. Thiên tư, bẩm sinh, cố hữu, vốn đã có sẵn.
Bậc cao nhất không sợ
(Vô thượng vô sở úy): danh hiệu tôn xưng đức Phật, là bậc cao thượng hơn hết, chẳng ai bằng, đã trừ hết mọi lo âu, sầu não, không còn có sự sợ sệt đối với muôn pháp.
bậc hỷ tuệ
Hasupanna (P).
bậc lợi tuệ
Tikkhapanna (P).
bậc quyết trạch tuệ
Nibbedhikapanna (P).
bậc sơ địa
Beginner at the first ground.
bậc thù thắng trong thế gian
Lokadhipati (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
bậc thấu thị
Ṛsi-ṛsi (S)Dùng trong Bà la môn giáo.
bậc tiệp tuệ
Javanapanna (P).
bậc trí giả
Vidyāpuruṣa (S).
bậc tối tôn trong thế gian
Loka-iyestha (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
bật sô
Bhiksu (S). Monk.
; (苾芻) Phạm:bhikwu, Pàli: bhikkhu. Cũng gọi tỉ khưu, phức sô, bị sô. Hán dịch ý là khất sĩ, trừ sĩ, huân sĩ, phá phiền não, trừ cận (trừ cái đói), bố ma (làm cho ma sợ) v.v... Là một trong năm chúng, một trong bảy chúng của giáo đoàn Phật giáo. Tức là người con trai, đàn ông đã xuất gia vào đạo, thụ giới Cụ túc. Bật sô không kinh doanh để mưu sinh, mà đi xin ăn để sống cuộc đời thanh sạch, nên gọi là Khất sĩ (người đi xin ăn). Diệt trừ cái đói của sáu tình thức (tức mắt tai mũi lưỡi thân ý), dứt hết tham muốn nhơ nhớp và huân tu các pháp lành, cho nên gọi là trừ sĩ, trừ cận, huân sĩ (người xông ướp) v.v..., tu dưỡng đạo lành để phá trừ phiền não, nên gọi là phá phiền não. Vì nhận giữ giới trọn đời, nên cũng gọi tịnh trừ giới. Vì chắc chắn vào Niết bàn, khiến bọn ma vương sợ hãi, nên gọi bố ma. [X. luận Đại trí độ Q.3; Thích ca phồ Q.7; Huyền ứng âm nghĩa Q.8 ]. (xt. Tỉ Khưu).
bật sô ni
Bhiksuni (S). Nun.
; (苾芻尼) Phạm: bhikwuịì, Pàli: bhikkhunì. Cũng gọi phức sô ni, bị sô ni, tỉ sô ni. Gọi tắt là ni. Là danh từ giống cái của tỉ khưu (Phạm :bhikwu), tức tỉ khưu ni. Dịch ý là trừ nữ, huân nữ, hoặc sa môn ni, là người đàn bà, con gái xuất gia vào đạo, nhận giữ giới Cụ túc. (xt. Tỉ Khưu Ni, Bật Sô).
bật sô thảo ngũ đức
(苾芻草五德) Năm đức của cỏ bật sô. Cứ theo phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 nói, thì bật sô là một loại cỏ thơm trên núi Tuyết. Đem năm tính chất của cỏ này để ví dụ tỉ khưu cũng có đủ năm đức: 1. Thể tính mềm mại, ví dụ tỉ khưu có thể chiết phục sự thô bạo của ba nghiệp thân, ngữ và ý. 2. Bò lan khắp chung quanh, ví dụ tỉ khưu truyền pháp độ người, liên tục không dứt. 3. Mùi thơm bay xa, ví dụ tỉ khưu giới đức thơm nức, khiến mọi người nghe tên đều vui mừng. 4. Có khả năng chữa khỏi sự đau nhức, ví dụ tỉ khưu có thể diệt trừ sự đau đớn của phiền não độc hại. 5. Không quay lưng lại với ánh sáng mặt trời, ví dụ tỉ khưu chính kiến tư duy, thường hướng về ánh sáng Phật. (xt. Bật Sô).
bắc
Uttara (S). North.
bắc bản niết bàn kinh
(北本涅槃經) Gồm 40 quyển. Ngài Đàm vô sấm đời Bắc Lương dịch. Tức là kinh Đại Bát Niết bàn. Gọi tắt Niết bàn kinh. Tuyên dương tư tưởng Đại thừa, như thân Phật thường còn và hết thảy chúng sinh đều có tính Phật v.v... Để phân biệt với kinh Niết bàn bản Nam nên gọi riêng là kinh Niết bàn bản Bắc. Thu vào Đại chính tạng tập 12. (xt. Đại Bát Niết Bàn Kinh).
bắc chu vũ đế
(北周武帝) (543-578) Vị hoàng đế nhà Bắc Chu. Họ Vũ văn, tên Ung, tự Nỉ la đột, con thứ tư của Vũ văn thái. Sau khi ông lên ngôi vua, chú là Vũ văn hộ chuyên chính, niên hiệu Kiến đức năm đầu (572), vua giết Hộ rồi đích thân nắm quyền bính. Lúc đầu nhà vua tôn trọng Phật pháp và tin sâu vào sấm vĩ học, bấy giờ có lời sấm nói người áo đen sẽ được thiên hạ, nhà vua rất sợ. Đạo sĩ Trương tân thừa cơ chê bai Phật giáo, ông ta bảo áo đen tức là những người họ Thích, đó là điềm chẳng lành cho đất nước, vua bèn trọng Đạo giáo mà khinh Phật giáo. Lại theo lời của Vệ nguyên tung một tăng sĩ hoàn tục-vào năm Thiên hòa thứ 4 (569), vua triệu các sa môn, danh Nho, đạo sĩ và văn vũ bách quan hơn hai nghìn người họp tập ở điện Văn đức, thảo luận về chỗ hơn kém của ba giáo để quyết định nên để giáo nào nên bỏ giáo nào. Năm Kiến đức thứ 2 (573), vua định thứ tự của ba giáo là: Nho đứng đầu, Đạo thứ hai, Phật thứ ba. Năm Kiến đức thứ 3 (574), vua lại muốn bỏ Phật giáo, đạo sĩ Trương tân thừa cơ dâng lời quỉ quyệt, tâu vua hạ bệ Phật mà đề cao Đạo giáo, quỉ kế này bị pháp sư Trí huyền bẻ gãy, vua đích thân lên tòa cao, tranh luận gạn hỏi, sư Trí huyền đối đáp một cách nhẹ nhàng từ tốn, trình bày nghĩa lí rất cao, vua nổi giận bỏ vào cung. Ngày hôm sau, vua hạ lệnh dẹp bỏ luôn cả Phật giáo và Đạo giáo, phá hủy chùa tháp, đốt hết kinh tượng, buộc tất cả sa môn, đạo sĩ phải hoàn tục, Phật pháp ở đất Quan lũng bị tiêu diệt gần hết. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Vũ đế đánh chiếm Bắc Tề, lại xuống lệnh phá hủy hết chùa Phật kinh tượng ở Bắc Tề, buộc hơn ba trăm vạn tăng ni hoàn tục, khiến Phật giáo đất Bắc một thời dứt tuyệt dấu vết tăm hơi. Sử gọi biến cố này là Pháp Nạn Chu Vũ. Năm sau, nhà vua mắc bệnh dịch mà chết, làm vua 18 năm, sống 36 tuổi. [X. Lịch đại tam bảo Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14; Phật tổ thống kỉ Q.38].
bắc chẩm
(北枕) Gối đầu hướng bắc. Trước khi nhập diệt, đức Phật đến thành Câu thi na ở phía bắc, giữa hai cây Sa la, quay đầu hướng bắc mà vào Niết bàn. Có thuyết cho rằng việc ấy biểu thị Như lai biết trước là ngày sau Phật giáo có duyên trụ ở phương bắc. [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Niết bàn phần sau Q.thượng].
bắc cu lư châu
Uttara-Kuru (S)Bắc Câu Lư Châu, Bắc Câu Lô ChâuCon người ở châu này, sanh ra liền tự lớn lên, thọ đủ ngàn năm ăn mặc tự nhiên, phước thọ bình đẳng. Châu này có 2 Trung châu là Thắng biên châu (Kurava) và Hữu Thắng Biên châu (Kaurava).
; Uttarakuru (S). The northern of the four continents surrounding Sumeru.
Bắc câu lô châu
北倶盧洲; C: bĕijùlú zhōu; J: hokkurushū; S: uttara-kuru.|Nơi cực Bắc của Tứ đại châu (四大洲) trong vũ trụ quan Phật giáo Ấn Độ. |Bắc phương tì-sa-môn thiên vương tuỳ quân hộ pháp chân ngôn |北方毘沙門天王隨軍護法眞言; C: bĕifāng píshāméntiānwáng suíjūn hùfă zhēnyán; J: hoppō bishamontennō zuigun gohō shingon; |1 quyển; Bất Không (不空; s: amoghavajra) dịch. Một số tư liệu gốc cho rằng kinh nầy ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ, một số nguồn khác cho rằng kinh ấy rõ ràng là bản nguỵ tạo bằng chữ Hán.
bắc câu lô châu
Xem Bắc Cu lư châu.
; (北俱盧洲) Phạm, Pàli: Uttara-kuru. Cũng gọi Bắc châu, Bắc đơn việt, Uất đơn việt, Bắc uất đơn việt, Uất đa la cứu lưu, At đát la cú lô. Dịch ý là Thắng xứ (chỗ hơn), Thắng sinh, Cao thượng. Một trong bốn châu Tu di. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 và kinh Đại lâu thán quyển 1 phẩm Uất đơn việt chép, thì châu Bắc câu lư nằm trong biển mặn, phía bắc núi Tu di, hình vuông, mỗi cạnh dài hai nghìn do tuần, giống như nắp hộp, được bao quanh bởi núi Thất kim và núi Đại thiết vi, đất bằng vàng ròng, ngày đêm thường sáng. Đất có đủ bốn tính chất bằng phẳng, vắng lặng, sạch sẽ và êm ả. Nhân dân ở châu này có gương mặt hình vuông, giống như hình thể cõi đất của họ ở, sắc diện mọi người giống nhau và đều cao một trượng bốn thước (tức 4,8m). Họ sống một cách bình đẳng, yên vui và không bị trói buộc bởi bất cứ điều gì. Châu này có núi rừng, sông ngòi, hồ tắm, vườn chơi, cây trái v.v...tất cả đều tốt đẹp. Các đồ vật toàn làm bằng vàng bạc, lưu li, thủy tinh; các vật đều là của chung, không ai chiếm làm của riêng, nên không có trộm cướp, người xấu và sự tranh giành đánh nhau. Nhân dân ở dưới gốc cây trong rừng. Trai gái ở riêng, không có cưới gả. Nếu khởi dâm dục, thì cùng chung vui sướng. Đàn bà có mang, bảy, tám ngày thì sinh con, đem đứa bé để ở đường đi, người bốn phương qua lại đều nuôi chung bằng cách đưa đầu ngón tay để vào miệng đứa trẻ, sữa tự nhiên chảy ra. Bảy ngày sau đứa trẻ đã to lớn bằng người hai mươi tuổi ở cõi Diêm phù đề, sống đủ một nghìn năm. Sau khi chết, sinh lên cõi trời Đao lợi hoặc cõi trời Tha hóa tự tại. Trong bốn châu, quả báo ở châu này thù thắng hơn hết. Châu này có hai Trung châu (châu cỡ vừa) phụ thuộc: châu Củ lạp bà (Thắng biên) và châu Kiều lạp bà (Hữu thắng biên). Hai châu phụ thuộc này lại đều có năm trăm châu nhỏ phụ thuộc. Trong bốn châu lớn, ba châu kia đều có địa ngục, chỉ riêng châu này là không có. Các kinh luận ghi chép về châu này rất nhiều, tuy không nói giống nhau, nhưng đều cho châu này là tốt đẹp hơn hết trong bốn châu. Theo sự nghiên cứu của các học giả ngày nay, thì vào thời Thái cổ, người Nhã lợi an Ấn độ (Indo Aryan) sống trên một giải đất miền Trung á, sau họ xuống phương nam vào khu vực Ngũ hà của Ấn độ, rồi dần dần di cư vào nội địa Ấn độ. Châu Uất đơn việt, theo các kinh điển miêu tả thì rõ ràng là một giải đất hòa bình, yên ổn và vui tươi. Đất nước yên vui này, có lẽ đã do con cháu đời sau của những ngời Nhã lợi an, vì nhớ mến quê hương của tiên tổ mình, mà đã lí tưởng hóa chăng? Bởi vì chữ Uttara trong tiếng Phạm có nghĩa là phương bắc, cho nên trong kinh nói về vị trí châu Bắc câu lư rất phù hợp với nghĩa chữ uttara. Ngoài ra, các thời đại trước kinh điển Phật giáo, như thời đại Phạm thư, thời đại La ma da na (Phạm: Ràmàyana), Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) v.v... đều có ghi chép hoặc truyền thuyết về loại đất nước lí tưởng tượng trưng này mà dân tộc Ấn hằng ấp ủ trong lòng. [X. kinh Trường a hàm Q.18, Q.20; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Lập thế a tì đàm Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng].
bắc câu lư châu
Con người ở châu này, sanh ra liền tự lớn lên, thọ đủ ngàn năm, ăn mặc tự nhiên, phước thọ bình đẳng.
Bắc câu lư châu 北倶盧洲
[ja] ホクグロシュウ hokkurushū ||| Skt. Uttara-kuru. The northernmost of the four great continents 四大洲 in Indian Buddhist cosmology. =>(S. Uttara-kuru) Nơi cực Bắc của Tứ đại châu 四大洲trong vũ trụ quan Phật giáo Ấn Độ.
bắc giáp
(北頰) Chỉ chỗ cây cột ở bên phải của cửa trước nhà Tăng. Khi quay mặt vào nhà Tăng, chỗ cây cột ở bên phải của cửa trước nhà Tăng, gọi là bắc giáp. Thông thường, nhà Tăng phần nhiều quay về hướng đông. Theo cửa trước mà nói, nếu quay mặt vào Thánh tăng (Thánh tượng được đặt ở chính giữa nhà Tăng), thì chỗ cây cột ở bên phải của cửa trước là bắc giáp, chỗ cây cột ở bên trái là nam giáp. Theo cửa sau mà nói, nếu quay mặt vào Thánh tăng, thì chỗ cây cột bên trái của cửa sau là bắc giáp, chỗ cây cột bên phải là nam giáp. Cứ theo Thiền uyển thanh qui quyển 1 Phó chúc phạn ghi, thì phép vào nhà Tăng, nếu theo cửa trước mà vào, thì nên từ nam giáp mà vào (bước chân phải trước). Sở dĩ không từ bắc giáp mà vào là vì tôn trọng vị trụ trì. Sau khi vào rồi, thì đến trước tượng Thánh tăng vái chào.
bắc giản cư giản thiền sư ngữ lục
(北磵居簡禪師語錄) Có một quyển. Cũng gọi Bắc giản hòa thượng ngữ lục, Bắc giản ngữ lục. Ngài Bắc giản Cư giản (1164-1246) đời Tống soạn. Ngài Vật sơ Đại quán biên chép, thu vào Vạn tục tạng tập 121. Biên tập các ngữ lục như: Thai châu Bát nhã viện ngữ lục, Hồ châu Thiết quan âm tự ngữ lục, An cát châu Viên giác tự ngữ lục, Bình giang phủ Tuệ nhật tự ngữ lục và các điều mục khác như: Tiểu tham, Bỉnh phất, Cáo hương, Phổ thuyết, Tụng cổ, Kệ tụng, Tiểu Phật sự v.v... và có phụ thêm lời tựa của nhóm các ngài Thạch khê Tâm nguyệt v.v...
bắc hán sơn
(北漢山) Núi Bắc hán. Nằm về phía bắc Thủ đô Hán thành của nước Đại Hán. Núi này cao hơn mặt biển 836 mét, là nền cũ của thành cổ, từ xưa tới giờ đã có rất nhiều chùa viện tại đây. Hiện nay còn các chùa Tường vân, chùa Đạo tân, chùa Thái cổ, chùa Hoa khê, chùa Tăng già, chùa Tân khoan, am Văn thù v.v...
Bắc Hải
(北海): biển phía Bắc, có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi một địa phương rất xa xôi, rất ít được dùng đến thời cổ đại. Như trong Tả Truyện (左傳), chương Hy Công Tứ Niên (僖公四年) có câu: “Quân xử Bắc Hải, quả nhân xử Nam Hải, duy thị phong mã ngưu bất tương cập dã (君處北海、寡人處南海、唯是風馬牛不相及也, người ở biển Bắc, quả nhân ở biển Nam, chỉ là gió trâu ngựa không cùng đến được).” Hay trong Tuân Tử (荀子), phần Vương Chế (王制) cũng có đoạn: “Bắc Hải tắc hữu tẩu mãu phệ khuyển yên, nhiên nhi Trung Quốc đắc nhi súc sử chi (北海則有走馬吠犬焉、然而中國得而畜使之, biển Bắc tất có ngựa chạy chó sủa, vì vậy Trung Quốc bắt đem về nuôi và sử dụng chúng).” (2) Tên gọi khác của Bột Hải (渤海), như trong Trang Tử (莊子), phần Thu Thủy (秋水) có câu: “Thuận lưu nhi Đông hành, chí ư Bắc Hải, Đông diện nhi thị, bất kiến thủy đoan (順流而東行、至於北海、東面而視、不見水端, theo dòng mà đi về phía Đông, đến nơi Bột Hải, xoay mặt về phía đông mà nhìn, chẳng thấy nguồn nước).” (3) Tên gọi của Quận Bắc Hải (北海郡) dưới thời nhà Hán, hiện ở tại địa phương Huyện Xương Lạc (昌樂縣), Tỉnh Sơn Đông (山東省). Như trong Văn Tâm Điêu Long (文心雕龍), phần Lụy Bi (誄碑) có đoạn rằng: “Phó Nghị chi lụy Bắc Hải, vân 'bạch nhật u quang, phân vụ yểu minh' (傅毅之誄北海、云'白日幽光、雰霧杳冥', Phó Nghị thuật về Quận Bắc Hải rằng: 'ban ngày tối tăm, sương khói mù mịt).” Vào cuối thời nhà Hán, Khổng Dung (孔融) được bổ nhiệm làm tướng ở Quận Bắc Hải, nên người đời gọi ông là Khổng Bắc Hải (孔北海). Trong bài thơ Thanh Uyển Vọng Lang Sơn Hữu Hoài Chu Khắc Trai (清苑望郎山有懷朱克齋) của Diêu Nãi (姚鼐, 1731-1815) nhà Thanh lại có câu: “Dục tương Bắc Hải đồng tôn tửu, nhiễu tận Tây Sơn đáo Vệ Châu (欲將北海同樽酒、遶盡西山到衛州, muốn đến Bắc Hải cùng nhắp rượu, đi khắp Tây Sơn đến Vệ Châu).” (4) Bên cạnh đó, đây là tên gọi của Hồ Baikan của Siberia. Trong Tô Võ Truyện (蘇武傳) nhà Hán có đoạn rằng: “Hung Nô tỉ Tô Võ ư Bắc Hải thượng (匈奴徙蘇武於北海上, giặc Hung Nô đuổi Tô Võ lên vùng Hồ Baikan).”
bắc lộ
(北路) Pàli: Uttaràpatha. Đối lại với Nam lộ(Pàli: Dakkhiịàpatha) . Cứ theo Đại sự (Phạm: Mahàvastu) II chép, thì Bắc lộ có nước Đức xoa thi la (Phạm: Takzawilà), do đó mà suy thì Bắc lộ là chỉ cho khu vực gần biên giới phía tây bắc Ấn độ. Cứ theo truyền thuyết, sau khi xuất gia, đức Thích tôn đi xuống phía nam đến nước Ma yết đà, lộ trình này bắt đầu từ thành Xá vệ, qua thành Ca tì la vệ, Câu thi na (Phạm: Kusinagara), Tì xá li (Phạm: Vezàli), đến sông Hằng, rồi tiến vào thành Vương xá nước Ma yết đà. Tuyến đường công cộng này, gọi là Bắc lộ. Còn Đại sự III thì chép, trong tuyến đường này có một thương cảng tên là Ô khải lạp (Pàli: Ukkhalàta), là nơi hai thương gia Đề vị và Bà lê ca thường qua lại buôn bán. Hai người này là những tín đồ tại gia đầu tiên qui y đức Phật. [X.kinh Bồ tát bản duyên; Ấn độ Phật giáo sử (Bình xuyên chương)]. xt. Ô Khải Lạp).
Bắc Lục
(北陸, Hokuriku): tên gọi chung vùng đất ở phái Bắc Nhật Bản, gồm 4 Tỉnh lớn là Toyama (富山), Ishikawa (石川), Fukui (福井) và Niigata (新潟).
bắc nguỵ hiếu văn đế
(北魏孝文帝) (467-499) Tức là Hoàng đế Thác bạt hoằng (sau đổi họ là Nguyên), đời thứ 6 của nhà Bắc Ngụy, cũng là vị vua anh minh của Bắc Ngụy trung hưng. Người Tiên ti, lúc còn nhỏ mới lên ngôi, có Phùng thái hậu phụ chính, thi hành chính sách kinh tế như ban bổng lộc và chia ruộng đất một cánh đồng đều. Sau khi đích thân nắm quyền chính, vua ra sức vận động Hán hóa, đẩy mạnh việc dung hợp hai dân tộc Hồ Hán, cấm ăn mặc kiểu Hồ, nói tiếng Hồ và dời đô từ Bình thành (Đại đồng, Sơn tây) đến Lạc dương. Hiếu văn đế dốc lòng tin Phật pháp, thường cùng với Thái hậu đến các nơi Ngũ đài, Vân cương nghe các vị sa môn giảng dạy Phật pháp. Vua sáng lập các chùa Thiền (tức nay là chùa Thiếu lâm) ở núi Thiếu thất, thỉnh Thiền sư Phật đà trụ trì, đồng thời thiết lập nơi dịch kinh tại chùa. Vua lại tiếp tục sự nghiệp của ông nội là Văn thành đế đục mở hang đá Vân cương, mãi đến khi dời đô mới ngưng. Năm Thái hòa 19 (495), vua đến chùa Bạch tháp ở Từ châu, lễ thỉnh vị cao tăng đương thời là ngài Đạo đăng giảng luận Thành thực và cho Thái tử Thác bạt hưng cạo tóc ở chùa Tung nhạc. Năm Thái hòa 21 (497), vua xây tháp thờ ngài Cưu ma la thập để tưởng nhớ công đức của ngài. Năm Thái hòa 23 (499), vua băng hà, hưởng dương 33 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38, Q.51].
bắc nguỵ thái vũ đế
(北魏太武帝) (408-452) Tức là Hoàng đế Thác bạt đảo đời thứ 3 của nhà Bắc Ngụy. Người Tiên ti. Ông có tài mưu lược, dùng binh giỏi. Sau khi lên ngôi, vua đánh đuổi Nhu nhiên, thôn tính Hung nô, hàng diệt các nước Bắc yên, Tây lương, Tây hạ, thống nhất Giang bắc, đứng ngang hàng với Nam triều. Lúc đầu, Thái vũ đế tiếp nối chính sách đối với Phật giáo của các vua Thái tổ, Thái tông, sùng tín Phật pháp, cung kính các vị sa môn, mời ngài Huyền cao làm thầy dạy Thái tử. Bấy giờ, Tể tướng Thôi hạo tin thờ Đạo giáo, về hùa với đạo sĩ Khấu khiêm chi, đã nhiều lần báng bổ Phật giáo ngay trước mặt vua. Vua cho lời biện bác của Tể tướng là phải, nên tin theo. Đúng lúc ấy, bọn Hồ cái ngô họp nhau ở Hạnh thành làm phản, vua tiến quân vào Trường an, đến một ngôi chùa, thấy rất nhiều cung tên, đồ binh được giấu trong nhà xí, vua ngờ các sa môn làm việc trái phép, nổi cơn thịnh nộ, ra lệnh giết hết tăng sĩ trong chùa; Thôi hạo thừa cơ xúi giục thêm, vua bèn xuống lệnh giết hết sa môn ở Trường an, đốt phá kinh tượng. Năm Thái bình chân quân thứ 5 (444), vua lại ra lệnh cấm các vương công và dân thường không ai được nuôi sa môn, và định thời hạn cho những ai giấu các sa môn trong nhà phải đem giao nộp, nếu cố tình che giấu quá thời hạn thì sẽ bị giết hết cả nhà. Thái tử Thác bạt hoảng, vốn sùng kính Phật giáo, đã hai ba lần dâng biểu can ngăn vua, nhưng đều chưa được chấp nhận. Thôi hạo thấy Thái tử cung kính thầy học là sa môn Huyền cao, sợ khi Thái tử lên cầm quyền sẽ không lợi cho mình, nên lại dâng lời dèm pha, âm mưu giết chết Thái tử trong cung cấm và thắt cổ ngài Huyền cao ở Nam giao. Năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), vua lại hạ lệnh diệt hết Phật pháp, tất cả chùa tháp, kinh tượng đều bị phá sạch, đốt sạch, còn các sa môn thì bất luận lớn bé già trẻ đều bị chôn sống. Lời can gián của Thái tử trước kia tuy không được nghe theo, nhưng cũng khiến nhà vua ngần ngại và hoãn việc công bố tờ chiếu diệt Phật trên đây, nhờ biết trước nên nhiều sa môn đã trốn tránh được, những pho tượng Phật bằng vàng bạc quí báu và nhiều kinh luận cũng được bí mật cất giấu, chỉ có những chùa tháp ở Bắc Ngụy thì không còn sót một ngôi nào, trong sử gọi đây là Thái Vũ Pháp Nạn, là ách nạn thứ nhất trong Tam Vũ Nhất Tôn của lịch sử Phật giáo Trung quốc. Lại trong quá trình diệt Phật, Khấu khiêm chi phản đối việc hủy diệt Phật giáo một cách toàn triệt, mà chủ trương nên giữ lại một phần, và chủ trương này đã đưa đến việc tranh cãi giữa Khấu khiêm chi và Tể tướng Thôi hạo. Sau đó, Khấu khiêm chi mắc bệnh mà chết, còn Thôi hạo thì tiếp tục thi hành chính sách diệt Phật. Năm Thái bình chân quân thứ 8 (447), thình lình sét đánh trong cung, nội điện nghiêng đổ, vua bị thương. Năm Thái bình chân quân 11 (450) vua bị bệnh dịch, quần thần đều cho rằng, tai họa này là do việc Thôi hạo hủy diệt Phật giáo mà ra. Kịp đến khi Thôi hạo tự soạn bộ lịch sử nước Ngụy, trong đó, ông ta miệt thị dân tộc Hồ, xúc phạm đến tên húy của Vũ đế, bị vua hạ lệnh chém ngang lưng và giết hơn trăm người trong giòng họ. Năm Thái bình chân quân 13 (452), vua mắc bệnh dịch mà chết (có thuyết nói quan Thường thị là Tông ái đã giết vua), hưởng dương 45 tuổi, ở ngôi vua 28 năm. Thái vũ đế chết, Văn thành đế lên nối ngôi, Phật giáo lại dần dần được khôi phục và phát triển. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Lương cao tăng truyện Q.11; Ngụy thư thích lão chí thứ 25].
bắc nguỵ tuyên vũ đế
(北魏宣武帝) (483-519) Tức Hoàng đế đời thứ 7 của nhà Bắc Ngụy tên là Thác bạt khác (ở ngôi 499- 515). Người Tiên ti, chịu ảnh hưởng của Hiếu văn đế (ở ngôi vua 471-499) mà tin thờ Phật giáo, chính vua đã giảng kinh Duy ma cật ở trong cung đình cho chư tăng và triều thần nghe. Năm Cảnh minh (500-503), vì Hiếu văn đế và Văn chiêu hoàng thái hậu mà vua hạ lệnh kiến tạo hang đá Long môn ở phía nam Lạc dương, phỏng theo hang đá Vân cương ở Đại đồng. Nhờ vua đề xướng và lãnh đạo mà Phật giáo được hưng thịnh một thời. Trong năm Diên xương (512-515), tổng kê số chùa viện ở Bắc Ngụy có hơn 13.727 ngôi. Nhưng về sau, do thế lực của giáo đoàn mỗi ngày một thêm mạnh, đồng thời, cũng sinh ra nhiều mối tệ, cho nên vua đã xuống lệnh giới hạn sự phát triển chế độ Tăng kì hộ và Phật đồ hộ.
bắc nguỵ tăng huệ sinh sứ tây vực kí
(北魏僧惠生使西域記) Còn gọi là Tống vân hành kỉ, Tuệ sinh hành truyện, Huệ sinh sứ Tây vực truyện. Truyện kí này được chép thêm vào bộ sách Lạc dương già lam kí quyển 5 (Đại 51, 1018 thượng) do Dương huyễn đời Đông Ngụy soạn. Niên hiệu Thần qui năm đầu (518), Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy sai Tống vân, người Đôn hoàng, và sư Huệ sinh từ miền Bắc đi qua Tây vực đến Ấn độ. Đến năm Chính quang thứ 3 (522) trở về nước, có mang theo được 170 bộ kinh Phật, người đời sau đã ghi chép cuộc hành trình thỉnh kinh của hai người mà thành sách này: đây là những ghi chép quan trọng về Tây vực ở thế kỉ thứ 6 hiện còn.
bắc nguỵ văn thành đế
(北魏文成帝) (440-465) Vị Hoàng đế đời thứ 4 của nhà Bắc Ngụy, tên là Thác bạt tuấn (ở ngôi 452-465). Người Tiên ti. Thừa kế Thái vũ đế, lên ngôi vào niên hiệu Hưng an năm đầu. Vua thay đổi chính sách diệt Phật của Thái vũ đế, hạ lệnh khôi phục Phật giáo, cử ngài Sư hiền làm Đạo nhân thống, phụ trách lãnh đạo giáo đoàn. Phật giáo hưng thịnh một thời. Sau khi ngài Sư hiền tịch, ngài Đàm diệu lại được cử làm Sa môn thống, củng cố lại cơ sở của Phật giáoBắc Ngụy, hang đá Vân cương cũng được đục mở vào thời gian này. Đàm diệu cho rằng vua là vị đương kim Như lai, nên đã phỏng theo hình tướng của vua mà khắc tượng Phật Thích ca.
bắc nguỵ đạo vũ đế
(北魏道武帝) Vị Hoàng đế sáng lập nước Bắc Ngụy. Tên là Thác bạt khuê. Người Tiên ti. Ở ngôi vua từ niên hiệu Đăng quốc năm đầu đến năm Thiên tứ thứ 5 (386-408), trong thời gian này, vua đã dời đô đến Đại đồng. Vua tôn sùng Phật giáo, dùng sức của cả nước để thi hành chính sách phát triển Phật giáo. Niên hiệu Nguyên hưng năm đầu (398), vua ra lệnh làm rất nhiều chùa và tạo tượng Phật. Vua tôn kính ngài Tăng lãng, và còn bổ nhiệm ngài Pháp quả làm Đạo nhân thống (tức như chức Tăng thống ngày nay).
Bắc Nhàn Cư Giản
(北礀居簡, Hokkan Kokan, 1164-1253): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Kính Tẩu (敬叟), thông xưng là Bắc Nhàn Hòa Thượng, họ là Long (龍), người vùng Viễn Xuyên (遠川, Tỉnh Tứ Xuyên). Ông nương theo Viên Trừng (圓澄) ở Quảng Phước Viện (廣福院) trong làng xuất gia, rồi đến tham vấn Biệt Phong (別峰) cũng như Đồ Độc (塗毒) ở Kính Sơn (徑山, Tỉnh Triết Giang). Có hôm nọ, nhân nghe câu nói của Vạn Am (卍庵), ông chợt tỉnh ngộ, đi đến Dục Vương Sơn (育王山, Tỉnh Triết Giang), gặp được Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông theo vị này suốt 15 năm trường, sau đó bắt đầu tuyên dương giáo pháp ở Bát Nhã Thiền Viện (般若禪院), rồi sau dời đến Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự (報恩光孝禪寺). Đông Lâm Tự (東林寺) trên Lô Sơn (廬山) không có người trú trì, nên cung thỉnh ông nhưng ông lại chối từ vì bệnh hoạn. Về sau ông đến dựng một cái thất nhỏ ở Bắc Nhàn (北礀) trên Phi Lai Phong (飛來峰) và sống nơi đây trong 10 năm. Từ đó về sau, ông đã từng sống qua một số nơi như Thiết Quan Âm Thiền Tự (鐵觀音禪寺) ở Hồ Nam (湖南, Tỉnh Triết Giang), Tây Dư Đại Giác Thiền Tự (西余大覺禪寺), Tư Khê Viên Giác Thiền Tự (思溪圓覺禪寺) ở An Cát Châu (安吉州, Tỉnh Triết Giang), Chương Giáo Thiền Tự (彰敎禪寺) ở Phủ Ninh Quốc (寧國府), Hiển Khánh Thiền Tự (顯慶禪寺) và Bích Vân Sùng Minh Thiền Tự (碧雲崇明禪寺) ở Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), Huệ Nhật Thiền Tự (慧日禪寺) ở Phủ Bình Giang (平江府), Đạo Tràng Sơn Hộ Thánh Thiền Viện (道塲山護聖禪院), Tịnh Từ Sơn Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự (淨慈山報恩光孝禪寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), v.v. Ông thị tịch vào ngày mồng 1 tháng 4 năm thứ 6 (1253) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), hưởng thọ 83 tuổi đời và 62 hạ lạp. Một số trước tác của ông hiện còn lưu hành như Bắc Nhàn Hòa Thượng Ngữ Lục (北礀和尚語錄), Bắc Nhàn Văn Tập (北礀文集) 10 quyển, Bắc Nhàn Thi Tập (北礀詩集) 9 quyển, Bắc Nhàn Ngoại Tập (北礀外集) 1 quyển.
bắc phương phái
Vādagalai (S)Do phái Sư tử Phạt Y Tư Na Phạt phái (Srivaisnava) chia ra.
bắc phương thất diệu chúng
(北方七曜衆) Tức là bảy vị trời ở mé bắc của viện. Ngoài trong Thai tạng giới hiện đồ mạn đồla Mật giáo, đó là: Bách dược, Ái tài, Đa la, Hiền câu, Bách, Mãn giả và A thấp tì nhĩ, tương đương với bảy vì sao Hư, Nguy, Thất, Khuê, Bích, Lâu và Vị trong Nhị thập bát tú. Nhưng trong kinh Tú diệu, bảy ngôi sao này không hẳn chỉ ở phương bắc. [X. kinh Tú diệu Q.hạ].
bắc phương tì sa môn thiên vương tuỳ quân hộ pháp chân ngôn
(北方毗沙門天王隨軍護法真言) Có một quyển, kinh điển Mật giáo, do ngài Bất không (705-774) đời Đường dịch. Cũng gọi Tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp chân ngôn, Tì sa môn tùy quân hộ pháp chân ngôn. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Sách này nói rõ về các pháp thành tựu, thần chú của Tì sa môn thiên vương, phương pháp vẽ tượng, ấn căn bản, ấn Cát tường thiên nữ, các bài tán v.v..., có dẫn dụng kinh Tứ thiên vương và nêu ra phép tụng niệm và Đà la ni giải uế. Trong sách này, đoạn nói về Các pháp thành tựu là cùng một bản với Đa văn thiên vương đà la ni nghi quĩ, nhưng do người khác dịch.
bắc phương tì sa môn thiên vương tuỳ quân hộ pháp nghi quỹ
(北方毗沙門天王隨軍護法儀軌) Có một quyển. Ngài Bất không đời Đường dịch. Cũng gọi Tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp nghi quĩ, Tì sa môn tùy quân pháp. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nghi quĩ này do Tì sa môn thiên vương và cháu Ngài là Thái tử Na tra, vì hộ trì Phật pháp, nhiếp hóa người ác hoặc kẻ khởi tâm bất thiện mà nói ra. Nội dung nêu Chân ngôn tự tâm bạo ác hộ trì quốc giới, nói về phương pháp vẽ tượng và nghi tắc hộ ma. Ở cuối quyển có ghi: Pháp này đã từng hàng phục năm vạn quân của năm nước, thế nên gọi là Tùy quân hộ pháp. [X. Bí mật nghi quĩ truyền thụ khẩu quyết Q.3].
Bắc Phương Tỳ Sa Môn Thiên Vương Tuỳ Quân Hộ Pháp Chân Ngôn. 北方毘沙門天王隨軍護法眞言
[ja] ホクホウヒシャモンテンオウズイグンゴホウシンゴン Hoppō Bishamontennō zuigun gohō shingon ||| The Beifang Pishamentianwang Suijun hufa zhenyan; Tib. lag na rdo rje bcu'i snying po [To.754/947, P.416]; (Mantra for Protection of the Northern King Vaiśravāna, whom Armies Follow). 1 fasc. (T 1248.21.225-229), trans. Amoghavajra 不空. Some sources state that this text influenced Indian Buddhism, others state that it is clearly a Chinese apocryphon. j: Hoppō Bishamontennō zuigun gohō shingon; c: Beifang Pishamentianwang Suijun hufa zhenyan; t:. lag na rdo rje bcu'i snying po; e: Mantra for Protection of the Northern King Vaiśravāna, whom Armies Follow). => Gồm 1 quyển. Bất Không ̣(不空; s: Amoghavajra) dịch. Một số tư liệu gốc cho rằng kinh nầy ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ, một số nguồn khác cho rằng kinh ấy vốn là bản nguỵ tạo bằng chữ Hán.
bắc phật giáo
Northern Buddhism, i.e. Mahàyàna.
Bắc Sơn Lục
(北山錄, Hokuzanroku): 10 quyển, do Thần Thanh (神清) nhà Đường soạn, Huệ Bảo (慧寳) chú, lời tựa ghi năm đầu (1068) niên hiệu Nguyên Hy (元熙), được xem như đồng dạng với Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄). Quyển 1 có Thiên Địa Thỉ Đệ Nhất (天地始第一), Thánh Nhân Sanh Đệ Nhị (聖人生第二); quyển 2 có Pháp Tịch Hưng Đệ Tam (法籍興第三), Chơn Tục Phù Đệ Tứ (眞俗符第四); quyển 3 có Hợp Bá Vương Đệ Ngũ (合覇王第五), Chí Hóa Đệ Lục (至化第六); quyển 4 có Tông Sư Nghị Đệ Thất (宗師議第七); quyển 5 có Thích Tân Vấn Đệ Bát (釋賓問第八); quyển 6 có Tang Phục Vấn Đệ Cửu (喪服問第九), Cơ Dị Thuyết Đệ Thập (譏異說第十); quyển 7 có Tông Danh Lý Đệ Thập Nhất (綜名理第十一), Báo Ứng Nghiệm Đệ Thập Nhị (報應驗第十二); quyển 8 có Luận Nghiệp Lý Đệ Thập Tam (論業理第十三), Trú Trì Hạnh Đệ Thập Tứ (住持行第十四); quyển 9 có Dị Học Đệ Thập Ngũ (異學第十五); và quyển 10 có Ngoại Tín Đệ Thập Lục (外信第十六). Chủ trương của Thần Thanh lấy tư tưởng Không Quán của Phật Giáo để quán thông tất cả, trong đó khéo léo chọn lọc đưa vào tư tưởng của Khổng, Lão, v.v., để điều hòa cả 3 tôn giáo. Hơn nữa, ông ta là người thuộc hàng dưới pháp hệ tương thừa của Trí Tiển (智銑), Xử Tịch (處寂), Vô Tướng (無相), thuộc môn hạ của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍), ông có phê phán các thuyết trong nội bộ Thiền Tông đương thời, vì vậy tác phẩm này cũng là tư liệu có sức hấp dẫn lớn cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Thiền Tông thời Trung Đường.
Bắc sơn lục
北山録; C: bĕishān lù; J: hokusan-roku; |Tác phẩm ồm 10 quyển; của Thần Thanh (神清).
bắc sơn lục
(北山錄) Gồm 10 quyển. Sa môn Thần thanh ở chùa Tuệ nghĩa thuộc Tử châu đời Đường soạn, ngài Tuệ bảo đời Bắc Tống chú giải. Cũng gọi Bắc sơn ngữ lục, Tham huyền ngữ lục, Bắc sơn tham huyền ngữ lục. Thu vào Đại chính tạng tập 52. Vì chùa Tuệ nghĩa nằm về mạn nam núi Trường bình, phía bắc thành, cho nên gọi là Bắc sơn. Bộ sách này tổng hợp ý chỉ sâu kín của ba giáo Nho, Thích, Đạo mà được viết ra, vì thế gọi là Tham huyền (tìm xét lí sâu kín). Nội dung chia làm 16 thiên: Thiên địa thủy, Thánh nhân sinh, Pháp tịch hưng, Chân tục phù, Hợp bá vương, Chí hóa, Tông sư nghị, Thích tân vấn, Tang phục vấn, Cơ dị thuyết, Tông danh lí, Báo ứng nghiệm, Luận nghiệp lí, Trụ trì hành, dị học, Ngoại tín... Có trích dẫn các kinh điển, như: kinh Pháp hoa, kinh Hiền ngu, kinh Hoa nghiêm, luận Tì đàm tâm, luận Tạp tì đàm tâm, luận Trung quán, luận Trí độ, luận Nhập đại thừa, luận Chưởng trân của ngài Thanh biện, luận Hình thần diệt của Phạm chẩn, Tục cao tăng truyện v.v... dùng giáo nghĩa Phật giáo để điều hợp các học thuyết của các nhà Khổng, Mạnh, Lão, Trang, Liệt, Tuân, Dương, Ban, Mã v.v..., nội dung bao quát cả ba giáo Nho, Phật, Đạo và bách gia chư tử. Thiên Cơ dị thuyết trong quyển 6 phê bình sự biên tạo các thế hệ truyền thừa trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện của Thiền tông, cho là đã uốn cong sự thật, bị các Thiền giả bài xích kịch liệt. Các bản lưu truyền của bộ sách này rất ít. Đầu năm Dân quốc (1911) mới phát hiện hai bản cũ rách, về sau còn thấy có hai bản in ảnh được lưu truyền và cũng được thu vào Đại chính tạng. [X. luận Truyền pháp chính tông Q.hạ; Quốc sử kinh tịch chí Q.4 (Tiêu hoằng đời Minh); Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận Q.5 (Trầnviên)].
Bắc sơn lục 北山録
[ja] ホクサンロク Hokusan roku ||| Beishan lu; 10 fasc., by Shen-ching 神清; T 2113.52.573a-636c. => j: Hokusan roku; c: Beishan lu. Gồm 10 quyển; của Thần Thanh 神清.
bắc sơn trụ bộ
Uttaraśailah (S)Thượng thi la bộMột trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộ.
; Uttarasaila (S). Name of a Buddhist sect.
; (北山住部) Phạm: Uttara-zaila.Dịch âm: Uất đa la thi la. Cũng gọi Thượng thi la. Dịch ý: Bắc sơn bộ. Cứ theo Tứ phần luật khai tông kí quyển 1 phần đầu (Vạn tục 66, 345 hạ) chép: Mạt đa lợi bộ (Hán dịch là Bắc sơn), vì thế Bắc sơn trụ bộ cũng gọi là Mạt đa lợi bộ, là một trong hai mươi bộ Tiểu thừa, một phái trong Đại chúng bộ. Về nguyên nhân phân phái của bộ này, luận Dị bộ tông luân ghi rằng, đúng hai trăm năm sau Phật nhập diệt, có người ngoại đạo xuất gia theo Đại chúng bộ, ở núi Chế đa, khi bàn lại vấn đề Đại thiên ngũ sự (năm việc do tỉ khưu Đại thiên nêu ra), rồi vì bất đồng ý kiến mà tách ra khỏi hai bộ Chế đa sơn và Tây sơn trụ thuộc Đại chúng bộ để thành lập phái riêng. Nhưng Bộ chấp dị luận sớ và Tam luận huyền nghĩa thì lại nói khác, bảo rằng nguyên nhân chia phái bắt nguồn từ sự bàn bạc về việc thụ giới, nghĩa là khi nhận giới từ vị hòa thượng không có giới hoặc phá giới thì có thể gọi là được giới không? Do bất đồng ý kiến về vấn đề này mà tách ra thành phái riêng. Vì phái này ở trong dãy núi phía bắc núi Chế đa, cho nên gọi Bắc sơn trụ bộ. Chỗ lập tông nghĩa của phái này cũng gần giống với Chế đa sơn bộ, nhưng kinh sách Nam truyền và Tây tạng đều không ghi chép gì về bộ phái này. [X. Xuất tam tạng kí Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Tây Sơn Trụ Bộ, Chế Đa Sơn Bộ).
bắc thiên trúc
(北天竺) Là một trong năm xứ Thiên trúc tại Ấn độ đời xưa, tương đương với các nước ở phía tây bắc Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 2, quyển 3 của ngài Huyền trang có nêu hai mươi nước. Bắc Thiên trúc là nơi Phật giáo thịnh hành tiếp theo sau trung Ấn độ, ở đây có rất nhiều dấu tích thiêng liêng. Bắc Thiên trúc có lẽ là vùng Punjab, Tượng bán thân của Bồ Tát (hang thứ 5) Kashmir, tây bắc Ấn độ ngày nay. Nhờ đào được những tấm đá khắc ở Kiện đà la xưa trong khu vực tây bắc mà người đời sau đoán biết được một cách đại khái tình hình Phật giáo thời cổ ở vùng đất này.
bắc thiền phanh ngưu
(北禪烹牛) Bắc thiền hầm trâu. Tên công án trong Thiền lâm. Bắc thiền, chỉ ngài Trí hiền là người nối pháp của Thiền sư Phúc nghiêm Lương nhã thuộc tông Vân môn đời Bắc Tống. Vì ngài ở lâu nơi viện Bắc thiền tại Thường ninh Hành châu (Hồ nam), nên người đời gọi ngài là Bắc thiền Trí hiền. Một năm nọ, vào giờ Tiểu tham trong đêm trừ tịch, Bắc thiền mở bày cho đại chúng, nói rằng (Vạn tục 148,105 hạ): Năm hết tết đến, ta chẳng có gì mừng tuổi các ông, thôi, các ông hãy hầm một con lộ địa bạch ngưu, rồi vo gạo nấu cơm, hái rau đồng nấu canh, và hát khúc làng quê bên đống lửa dưới gốc cây. Vì sao? Vì không muốn các ông dựa vào cửa, vào tường nhà người ta! Lộ địa, chỉ khoảng đất trống ngoài cửa chùa, hoặc là nơi bình an vô sự. Bạch ngưu (trâu trắng), nghĩa là trâu trong sạch. Bởi thế từ ngữ lộ địa bạch ngưu, trong Thiền lâm, được dùng để ví dụ sự chứng ngộ rốt ráo, đạt tới cảnh giới trong sạch tự tại cao nhất. Lộ địa bạch ngưu cũng là chìa khóa của tắc công án trên đây. Bởi vì, ý ngài Bắc thiền muốn nói bữa cơm đêm giao thừa, không nên theo như thường lệ họp nhau cùng ăn, mà nên tự mỗi người thanh tịnh tự tại, vo gạo hái rau, thổi cơm nấu canh, rồi đốt lửa mà hát bài làng quê, tự hưởng thú vui vô cùng. Ý trong câu nói là chỉ đạo rốt ráo chẳng phải ngoài tự tính quí báu của chính mình mà có, cũng chẳng phải cứ rập khuôn theo những qui tắc thường lệ mà được; cũng không nên tựa cửa nhà người ta, nhặt cái răng trí tuệ của người khác, mà không biết phát minh tự tâm để tìm ra cái trân quí mà mình vốn có. [X. Thiền uyển mông cầu Q.thượng].
bắc thiền tự
(北禪寺) Chùa Bắc thiền. Chùa ở huyện Ngô tỉnhGiang tô. Cũng gọi Bắc thiền viện. Tương truyền thời Tam quốc, trong năm Xích ô (238-251), mẹ của vua Tôn quyền đã phá bỏ nhà riêng của mình mà xây dựng chùa này, lúc đầu gọi là chùa Thông huyền. Vào các đời Trần, Tùy và thịnh Đường, không một ngôi chùa nào hưng thịnh bằng. Khoảng năm Khai nguyên (713-741) đời vua Huyền tôn, chùa được đổi tên là chùa Khai nguyên. Vào năm Đồng quang thứ 3 (923) đời Ngũ đại Ngô việt lại đổi tên là chùa Báo ân. Đời Tống thì đổi tên là chùa Vạn thọ báo ân quang hiếu. Đến khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời Minh lại được đổi tên là chùa Bắc thiền như hiện nay, gọi tắt là chùa Bắc. Từ đời Minh, Thanh trở lại đây chùa này là nơi đại Thiền lâm, sản sinh nhiều bậc tăng tài, lãnh đạo suốt miền đông nam. Ngoài ra, trong năm Thiên giám đời Lương, thiền sư Chính tuệ xây ngôi tháp thờ xá lợi Phật trong khuôn viên chùa, tháp cao một trăm thước (Tàu), đứng trên tháp có thể nhìn khắp các vùng chung quanh. Năm Kiến viêm thứ tư (1130) đời Cao tông nhà Nam Tống, Hồ kị qua sông, cho rằng chùa tháp không lợi cho mình, nên ông ta đốt phá hết. Đến khi thời thế yên định, chùa này được sửa lại, nhưng chỉ làm lại được chín phần. Nay tuy còn, nhưng chẳng phải cảnh quan ngày cũ. [X. Tô châu phủ chí Q.39; Đại minh nhất thống chí Q.8; Đại thanh nhất thống chí Q.55].
bắc thạch quật tự
(北石窟寺) Chùa hang đá bắc. Cũng gọi Tự câu thạch quật. Đối lại với Nam thạch quật tự. Vị trí chùa ở gần trấn Tây phong, huyện Khánh dương, tỉnh Cam túc, trên bờ phía Chùa Bắc Thạch Quật đông của sông Tự câu (Kinh thủy), chỗ hai chi nhánh sông Bồ, Nhứ gặp nhau. Từ xa nhìn, những hang khám thờ giống như một cái tổ ong khổng lồ, không khí rất yên lặng trang nghiêm. Cứ theo văn bia trùng tu chùa hang và các thần miếu vào năm Càn long 60 (1795) đời Thanh và Trấn nguyên huyện chí dẫn văn bia đời Đường ghi chép, thì hang này do quan Thứ sử Kinh xuyên tên là Hề khang sinh kiến tạo vào năm Vĩnh bình thứ 2 (509) thời Bắc Ngụy. Về sau, trải qua các đời Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường đục hang tạc tượng mà thành. Hiện nay còn gần ba trăm cái khám thờ đục trên vách đá, tượng đá lớn nhỏ hơn hai nghìn pho, và chữ khắc trên đá hoặc viết bằng mực cùng với những tấm bia v.v... Những bức tranh vách tương đối ít hơn, và phần nhiều đã bị sứt mẻ. Những khám thờ được đục khoét trên mặt sườn núi Hoàng sa, chia làm ba tầng trên, giữa, dưới, chiều nam bắc dài hơn một trăm mét, chỗ cao nhất cách mặt đất chừng hơn mười mét, trong đó, hang lớn có biên số hiệu thứ 165, tục gọi là Động Phật, là hang to nhất và được giữ gìn hoàn hảo nhất trong quần thể hang đá. Hang này cao 13,2 mét, rộng 21,7 mét, sâu 17,9 mét, trong có bảy pho tượng Phật, thân cao chừng 8,1 mét, mười vị Bồ tát đứng hầu hai bên Phật, thân cao từ ba mét đến bốn mét không đều nhau. Hai Bồ tát ngồi tréo chân cũng cao tới 5,8 mét. Ngoài ra, còn có tượng Thiên vương ba đầu bốn tay, tượng bồ tát Phổ hiền cỡi voi, và tranh vẽ Thái tử Tát đỏa bỏ mình nuôi cọp đói. Tranh này là một bức chạm trổ lớn về sự tích bản sinh của đức Phật. Ngoài cửa hang, ở hai bên đều có khắc tượng kim cương lực sĩ và sư tử.
bắc thần bồ tát
(北辰菩薩) Bắc thần, chỉ cho sao Bắc cực. Mật giáo cho sao Bắc cực là bảy sao Bắc đẩu và coi đó là sự hóa hiện của bồ tát Diệu kiến. Cứ theo kinh Diệu kiến đà la ni quyển hạ chép, thì vị Bồ tát này ở về phương bắc của thế giới Sa bà, cho nên gọi là Bắc thần bồ tát, hay cứu hộ chúng sinh, khiến họ được phúc lành yên ổn. Nhưng xưa nay đã có nhiều thuyết khác nhau về sự dị đồng giữa Bắc thần và bảy sao Bắc đẩu. Có thuyết cho bảy sao Bắc đẩu là Bắc thần, có thuyết nói sao Văn khúc trong Bắc đẩu là Bắc thần, có thuyết cho sao Thủy diệu là Bắc thần, lại có thuyết bảo sao Thiên đế là Bắc thần. Nếu cứ theo kinh Thất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú quyển 2 nói, thì Bắc thần, Diệu kiến, Tôn tinh vương, cả ba là cùng thể mà khác tên, là chúa của các vì sao. (xt. Diệu Kiến Bồ Tát).
bắc truyền phật giáo
(北傳佛教) Tên gọi chung cho nền Phật giáo được truyền từ bắc Ấn độ qua miền trung Á vào Trung quốc, Đại hàn đến Nhật bản, và nền Phật giáo từ Népal, Tây tạng truyền vào Mông cổ. Cũng gọi Bắc phương Phật giáo. Thế kỉ 19, các học giả châu Âu bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, phần nhiều họ nghiên cứu kinh điển Phật giáo thuộc hệ thống tiếng Pàli Tích lan lưu hành ở các nước Tích lan, Miến điện, Thái lan và Cao miên, rồi gọi Phật giáo tại các nước ấy là Nam phương Phật giáo. Đối lại, kinh điển Phật giáo thuộc hệ thống tiếng Phạm (sanskrit) và tác phẩm phiên dịch từ tiếng Phạm được lưu hành tại Trung quốc, Nhật bản, Tây tạng v.v..., vì từ Ấn độ truyền bá theo hướng bắc, cho nên gọi là Bắc phương Phật giáo, Bắc truyền Phật giáo. Vào niên hiệu Nguyên thọ năm đầu (năm thứ 2 tr.T.L) đời vua Ai đế nhà Tây Hán Phật giáo đã từ Ấn độ qua Tây vực mà truyền vào nội địa Trung quốc. Những năm cuối đời Đông Hán, các kinh điển Phật giáo liên tục được dịch ra chữ Hán, giáo nghĩa Phật giáo bắt đầu kết hợp với tư tưởng và văn hóa truyền thống của Trung quốc, thấm sâu vào nhân gian. Thời kì Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Phật giáo lại kết hợp huyền học, rồi sự phiên dịch kinh điển Phật giáo, nghiên cứu giáo nghĩa, kinh tế chùa viện v.v... cũng đều được phát triển. Đến đời Tùy, Đường thì đạt đến cực thịnh mà hình thành các tông phái như Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Luật, Tịnh độ, Thiền v.v... những tông phái này đều dung hội với văn hóa vốn có của Trung quốc mà sản sinh ra Phật giáo Đại thừa. Từ đời Tống trở về sau, Phật giáo đã dần dần dung hợp với Nho giáo, Đạo giáo. Về phía Tây tạng, thì sau thế kỉ thứ VII, Phật giáo được truyền vào, và dần dần đã trở thành Phật giáo Tây tạng (người ta quen gọi Lạt ma giáo), sau đó, truyền đến các khu vực Mông cổ và Tây bá lợi á. Về phía Triều tiên, thì cuối thế kỉ thứ IV, Phật giáo từ Trung quốc được truyền vào Triều tiên. Từ thế kỉ thứ VII trở về sau lại có các vị tăng Triều tiên đến Trung quốc cầu pháp, đem Phật giáo Thiền tông Trung quốc truyền về Triều tiên, thành lập tông Tào khê, là Thiền tông riêng của Triều tiên lưu hành trong nước. Về phía Nhật bản, thì cuối nửa đầu của thế kỉ VI, Phật giáo từ Trung quốc, Triều tiên truyền vào và đã nhanh chóng phát triển thành tôn giáo chính của Nhật bản. Vào thời kì Nại lương (Nara, 710-794), Phật giáo Nhật bản đã có sáu tông: Tam luận, Pháp tướng, Thành thực, Câu xá, Luật, Hoa nghiêm v.v..., tất cả đều đã từ Trung quốc truyền sang. Đến thế kỉ IX, các tông Thiên thai, Chân ngôn lại được truyền vào. Sang thế kỉ XIII thì các tông Tịnh độ, Tịnh độ chân tông và tông Nhật liên dấy lên, rồi Thiền tông cũng được truyền vào. Mặc dầu tông phái phiền tạp, nhưng Phật giáo Nhật bản vẫn xem Đại thừa là chủ yếu, còn Tiểu thừa thì chì xen lẫn chút ít. Về phía Việt nam, thì chủ yếu là Phật giáo từ Trung quốc được truyền sang vào thế kỉ thứ II, về sau cũng du nhập các tông phái Phật giáo Trung quốc, trong đó, Thiền tông và Tịnh độ tông là chính. Các phái Thiền chủ yếu thì có phái Diệt hỉ (Phạm : Vinìtaruci=Tì ni đa lưu chi), phái Vô ngôn thông, phái Thảo đường, phái Trúc lâm, phái Liễu quán và phái Liên tôn. Nói tóm lại, Phật giáo phương Nam vẫn còn giữ được sắc thái đậm đà của Phật giáo nguyên thủy ở Ấn độ; tuy nhiên, không phải chỉ có Tiểu thừa, mà cũng có Đại thừa. Còn Phật giáo phương Bắc thì dung hợp với các nền văn hóa sẵn có của các địa phương, lấy Đại thừa làm chính, nhưng cũng không phải chỉ thuần túy Đại thừa, mà còn xen lẫn cả Tiểu thừa. Nói đúng ra, cả Kinh điển bằng tiếngPàlihay tiếng Phạm đều vốn bắt nguồn ở trung Ấn độ, cho nên bất luận là Tích lan (Tiểu thừa) hay Népal (Đại thừa) cũng chỉ là nơi được truyền thừa mà thôi. Nếu nhìn bao quát các khu vực nói ở trên, thì chia Phật giáo làm hai phương Nam, Bắc e không thích đáng, mà cũng không phải là cách chia loại xác thực. Hơn nữa, các Kinh luận phiên dịch của Phật giáo phương Bắc mông mênh như biển, trong đó, có các nguyên bản Thánh điển tiếng Phạm, rồi các loại bản dịch Tây tạng, Hán, Mông cổ, Mãn châu, Triều tiên, Nhật bản v.v... rất là đồ sộ. Ngoài ra, còn có các tác phẩm soạn thuật của các bậc cao tăng tổ sư cực kì phong phú, Phật giáo phương Nam không thể nào sánh kịp. (xt. Nam Truyền Phật Giáo).
bắc tông
The northern school of Zen sect.
Bắc Tông Ngũ Phương Tiện Môn
(北宗五方便門): gọi tắt là Ngũ Phương Tiện (五方便) hay Ngũ Phương Tiện Môn (五方便門), cùng với thuyết Quán Tâm (觀心), là tư tưởng cốt cán của Bắc Tông Thiền vốn do Đại Sư Thần Tú (神秀, 606-706) chủ xướng. Theo Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門, Taishō Vol. 85, No. 2834), Ngũ Phương Tiện gồm có: (1) Tổng Chương Phật Thể (總彰佛體): tức nương vào thuyết của Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論) mà làm sáng tỏ Phật thể, xa lìa các niệm. (2) Khai Trí Tuệ (開智慧): còn gọi là Bất Động Môn (不動門), tức nương vào Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) để mở bày cửa trí tuệ. (3) Hiển Thị Bất Tư Nghì Pháp (顯示不思議法): tức nương vào thuyết của Duy Ma Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經) để làm hiển bày giải thoát không thể nghĩ bàn. (4) Minh Chư Pháp Chánh Tánh (明諸法正性): tức nương vào thuyết của Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh (思益梵天所問經) để minh sát tánh đúng đắn của các pháp. (5) Tự Nhiên Vô Ngại Giải Thoát Đạo (自然無礙解脫道): tức nương vào giáo nghĩa của Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) để chứng đắc giải thoát tự nhiên vô ngại. Như vậy, Ngũ Phương Tiện Môn của Bắc Tông Thiền vốn lập cuớc trên 5 bộ kinh luận chính là Đại Thừa Khởi Tín Luận, Pháp Hoa Kinh, Duy Ma Kinh, Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh và Hoa Nghiêm Kinh; lấy giáo thuyết của các kinh luận này để làm phương tiện chứng đắc giải thoát; nên có tên gọi là Ngũ Phương Tiện Môn, tức 5 cánh cửa phương tiện. Đây là đặc sắc nổi bật của Bắc Tông Thiền.
bắc tông ngũ phương tiện môn
(北宗五方便門) Năm môn phương tiện của Thiền bắc tông, cùng với thuyết Quán tâm đều là điểm cốt cán của tư tưởng Thiền bắc tông. Gọi tắt là Ngũ phương tiện, Ngũ phương tiện môn. Có xuất xứ từ sách Đại thừa vô sinh phương tiện môn đào được ở Đôn hoàng, thu vào Đại chính tạng tập 85. Năm môn phương tiện gồm: 1. Tổng chương Phật thể li niệm môn, tức dựa theo thuyết của luận Đại thừa khởi tín mà hiển bày Phật thể xa lìa các niệm xằng bậy, sai quấy. 2. Khai trí tuệ môn, tức dựa theo lời dạy trong kinh Pháp hoa mà mở cửa trí tuệ. Cũng gọi là Bất động môn. 3. Hiển bất tư nghị môn, dựa theo thuyết của kinh Duy ma mà hiển bày giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. 4. Minh chư pháp chính tính môn, tức nương theo thuyết trong kinh Tư ích phạm thiên sở vấn mà tỏ rõ chính tính của các pháp. 5. Liễu vô dị môn, tức nương theo lời dạy của kinh Hoa nghiêm mà được sự giải thoát tự nhiên vô ngại. Năm pháp môn trên đây đều dựa vào giáo thuyết trong các kinh luận làm phương tiện để đạt tới chứng ngộ giải thoát, vì thế gọi là Ngũ phương tiện môn, là đặc sắc của pháp Thiền bắc tông.
bắc tông phật giáo
Mahàyàna (S). Great vehicle, Northern school.
Bắc tông thiền
北宗禪; C: běizōng-chán;|Chỉ phương pháp thiền theo thuyết Tiệm ngộ, tức là giác ngộ theo cấp bậc, ngược với phép tu Ðốn ngộ của Nam tông (Thần Tú, Huệ Năng).
bắc tông thiền
(北宗禪) Thiền Bắc tông. Cũng gọi Bắc thiền, Bắc tông. Đối lại với Nam tông thiền. Môn hạ của Ngũ tổ Thiền tông Hoằng nhẫn là Đại thông Thần tú, truyền pháp Thiền ở miền Bắc, cho nên gọi Bắc tông. Sau khi Ngũ tổ nhập tịch, ngài Thần tú dời đến núi Đương dương ở Giang lăng (Hồ bắc), hết sức chủ trương thuyết Tiệm ngộ, giáo thuyết của ngài thịnh hành ở miền bắc, như Trường An, Lạc dương v.v... Còn ở phương nam thì Lục tổ Tuệ năng thuyết pháp giáo hóa ở núi Tào khê thuộc Thiều châu (Quảng đông), chủ trương tư tưởng Đốn ngộ, phát triển thành Thiền nam tông. Từ đó, lịch sử Thiền tông Trung quốc mới có tên gọi Nam tông, Bắc tông, Nam đốn, Bắc tiệm. Nhưng, tên gọi Bắc tông không phải phái ngài Thần tú tự xưng, mà là do ngài Thần hội, đệ tử của Lục tổ Tuệ năng, gán cho. Thần hội tự cho tông mình là pháp hệ chính thống của Thiền tông, tự gọi tông mình là Nam tông, coi pháp môn tiệm ngộ lưu truyền ở miền Bắc là thấp kém, mới dùng từ Bắc tông để gọi, hàm ý chê bai, miệt thị. Những người được ngài Thần tú phó chúc gồm bốn vị Phổ tịch, Kính hiền, Nghĩa phúc và Ngọc sơn Huệ phúc. Dưới các triều Vũ tắc thiên, Trung tông, Duệ tông, ngài Thần tú đều được tôn làm Quốc sư. Ngài Phổ tịch cũng được gọi là Quốc sư của ba đời vua. Còn các ngài Nghĩa phúc, Kính hiền, Huệ phúc thì lấy Trường an, Lạc dương làm trung tâm, làm rạng rỡ môn phong Bắc tông. Đạo tuyền là đệ tử của ngài Phổ tịch, nhận lời mời của chư tăng Nhật bản, sang Nhật hoằng pháp, là nhân vật trọng yếu đem pháp Thiền truyền vào Nhật bản ở thời kì đầu. Tông này tuy đã từng thịnh hành ở miền Bắc, nhưng vì pháp nạn Hội xương xẩy ra, Nam tông hưng thịnh, và bị Thần hội bài xích, do ba nguyên nhân ấy mà dần dần suy đồi, đến cuối đời Đường thì sự truyền thừa dứt tuyệt. Sách sử liên quan đến sự truyền thừa của tông phái này thì có Lăng già sư tư kí của Tịnh giác, Truyền pháp bảo kỉ do Đỗ quật soạn. Về giáo chỉ của tông này, Viên giác kinh đại sớ sao quyển 3 phần dưới của ngài Tôn mật nói (Vạn tục 14, 277 thượng): Đại sư Thần tú là tổ khai sáng của tông này, các đệ tử Phổ tịch v.v... mở rộng thêm. Chữ phất trần (phủi bụi), trong bài kệ chính của Thần tú là: Thời thời tu phất thức, mạc khiển hữu trần ai (thường phải lau chùi luôn, chớ để nó dính bụi). Ý nói : chúng sinh sẵn có tính giác, cũng như gương có tính sáng; phiền não che lấp nó, như bụi phủ mờ gương. Dứt hết vọng niệm, thì bản tính tròn sáng, cũng như lau hết bụi thì gương sáng tỏ, không vật gì chẳng hiện ra. Ngài Thần tú từng soạn luận Quán tâm và đề xướng thuyết Ngũ phương tiện môn, lấy đó làm pháp môn tu đạo theo thứ tự từng giai đoạn. Chính luận điểm này đã trở thành mục tiêu cho Thần hội công kích Bắc tông. Tuy nhiên, nếu đứng trên quan điểm tư tưởng sử của Thiền tông mà nói, thì thuyết Quán tâm của ngài Thần tú thật đã kế thừa một cách trung thực pháp môn Đông sơn của Tứ tổ Đạo tín và Ngũ tổ Hoằng nhẫn. [X. Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Đại thừa vô sinh phương tiện môn; Chú bát nhã ba la mật đa tâm kinh; Trung quốc Thiền tông sử (Ấn thuận); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Thiền Tông).
bắc tề văn tuyên đế
(北齊文宣帝) (529-559) Vị Hoàng đế đầu tiên của Bắc Tề (ở ngôi 550-559), tên là Cao dương, miếu hiệu Hiển tổ. Thời gian ông trị vì, Phật giáo rất thịnh, đặt quan Tăng cai quản hơn bốn triệu tăng ni, có tới hơn bốn vạn ngôi chùa viện. Vua từng thỉnh Quốc sư Pháp thường tuyên giảng kinh Niết bàn, cử ngài Đàm diên làm Chiêu huyền thống, và nhờ ngài Tăng trù xây dựng chùa Vân môn ở Nghiệp đô. Lại lập Chiêu huyền thập thống, cử ngài Pháp thượng làm Đại thống, lãnh đạo toàn thể tăng ni. Mỗi tháng sáu lần cấm chỉ nhân dân không được sát sinh, định kì mỗi năm ba lần trai giới. Lúc mới lên ngôi, vua rất lưu tâm đến việc trị nước, nhưng sau cậy có công lao sự nghiệp to lớn mà sinh kiêu căng, nên vua dông dỡ bạo ngược, giết người vô cớ, tập mãi thành quen.
Bắc uất đan việt 北鬱單越
[ja] ホクウッタンノツ hoku uttannotsu ||| See 北倶盧洲. => Xem Bắc câu lư châu 北倶盧洲
Bắc Uất-đan-việt
北鬱單越; C: bĕiyùdān yuè; J: hoku uttannotsu; |Xem Bắc câu-lô châu (北倶盧洲).
bắc viện thông
Pei yuan Tung (C).
Bắc Việt
(北越, Hokuetsu): khi nói về từ này người ta thường ám chỉ đến cả hai tiểu quốc Việt Trung (越中, Ecchū) và Việt Hậu (越後, Echigo), chủ yếu là vùng Việt Hậu hơn.
Bắc Điều Kinh Thời
(北條經時, Hōjō Tsunetoki, 1224-1246): nhà chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; thân phụ là Bắc Điều Thời Thị (北條時氏, Hōjō Tokiuji), thân mẫu là Tùng Hạ Thiền Ni (松下禪尼, Matsushitazenni); cải danh là Tảo Thượng Ngự Tiền (藻上御前), An Lạc (安樂); biệt danh là Thái Lang (太郎), Tả Cận Đại Phu (左近大夫); giới danh là Liên Hoa Tự An Lạc (蓮華寺安樂). Sau khi Bắc Điều Thái Thời (北條泰時, Hōjō Yasutoki) qua đời, với tư cách là cháu đích tôn, ông kế thừa chức vị của người này. Chính ông đã cưỡng chế giải nhiệm chức Tướng Quân Cửu Điều Lại Kinh (九條賴經, Kujō Yoritsune, tức Đằng Nguyên Lại Kinh [藤原賴經, Fujiwara-no-Yoritsune]) và đưa người con 6 tuổi là Lại Tự (賴嗣, Yoritsugu) lên nắm quyền.
Bắc Điều Nghĩa Thời
(北條義時, Hōjō Yoshitoki, 1163-1224): vị Võ Tướng, nhà chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, con trai thứ của Bắc Điều Thời Chính (北條時政, Hōjō Tokimasa), thông xưng là (江馬小四郎); hiệu là Đắc Tông (得宗), Đức Tông (德宗); Giang Gian Tứ Lang (江間四郎), Tiểu Tứ Lang (小四郎), Tương Châu (相州), Hữu Kinh Triệu (右京兆). Ông là người lật đỗ dòng họ Hòa Điền (和田, Wada), chính địch của dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō). Sau khi ám sát Nguyên Thật Triều (源實朝, Minamoto-no-Sanetomo), ông đón Cửu Điều Lại Kinh (九條賴經, tức Đằng Nguyên Lại Kinh [藤原賴經, Fujiwara-no-Yoritsune]) làm Tướng Quân, và cùng với Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako) chuyên đoán quyền hành của Mạc Phủ. Sau khi chiến thắng vụ Loạn Thừa Cửu (承久の亂, Shōkyu-no-ran), ông xác lập ưu thế của chính quyền võ gia, đồng thời xây dựng cơ sở cho nền chính trị chấp quyền.
Bắc Điều Thị Khang
(北條氏康, Hōjō Ujiyasu, 1515-1571): vị Võ Tướng của thời đại Chiến Quốc, con trai đầu của Bắc Điều Thị Cương (北條氏綱, Hōjō Ujitsuna); mẫu thân là Dưỡng Châu Viện Tông Vinh (養珠院宗榮); tên lúc nhỏ là Y Đậu Thiên Đại Hoàn (伊豆千代丸), thông xưng là Tân Cửu Lang (新九郎); giới danh là Đại Thánh Tự Điện Đông Dương Tông Đại Đại Cư Sĩ (大聖寺殿東陽宗岱大居士). Ông đã từng đánh nhau Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信, Uesugi Kenshin), rồi mở rộng thế lực ở phía bắc Võ Tàng (武藏, Musashi). Ông tập trung hết sức vào việc dân chính và xây dựng nên thời kỳ hưng thịnh nhất của dòng họ Bắc Điều.
Bắc Điều Thời Chính
(北條時政, Hōjō Tokimasa, 1138-1215): nhà chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, thông xưng là Bắc Điều Tứ Lang (四郎北條), cha của vợ Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo); giới danh là Nguyện Thành Tựu Viện Minh Thạnh (願成就院明盛). Khi Lại Triều cử binh thì ông giúp sức đánh trận, sau khi chiến thắng thì ông chiếm cứ hết 7 tiểu quốc đương thời. Sau khi Lại Triều qua đời, ông trở thành người chấp quyền đầu tiên, truất phế Nguyên Lại Gia (源賴家, Minamoto-no-Yorriie), rồi cùng với Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako) nắm trọn quyền hành của Mạc Phủ trong tay. Về sau ông xuất gia làm tăng lữ, hiệu là Minh Thạnh (明盛).
Bắc Điều Thời Lại
(北條時賴, Hōjō Tokiyori, 1227-1263): người chấp quyền chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, mẹ là Tùng Hạ Thiền Ni (松下禪尼). Chế độ độc tài của dòng họ Bắc Điều được xác lập khi ông lên chấp quyền. Sau đó ông xuất gia lấy đạo hiệu là Đạo Sùng (道崇), và người ta cho rằng ông đã từng đi khắp nơi trong nước để thị sát dân tình và chính trị.
Bắc Điều Thời Tông
(北條時宗, Hōjō Tokimune, 1251-1284): người chấp chưởng quyền chính Mạc Phủ Liêm Thương, thông xưng là Tương Mô Thái Lang (相模太郎), con của Thời Lại (時賴, Tokiyori). Năm 1274, ông đánh lui bọn thảo khấu nhà Nguyên và dựng đê phòng ở vùng Bắc Cửu Châu (北九州, Kitakyūshū). Chính ông là người kiến lập ra Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) và mời Phật Quang Tổ Nguyên (佛光祖元, Bukkō Sogen) từ nhà Tống sang làm vị tổ khai sơn chùa này.
Bắc Điều Trinh Thời
(北條貞時, Hōjō Sadatoki, 1272-1311): nhà Chấp Quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; tên lúc nhỏ là Hạnh Thọ (幸壽, Kōju), pháp danh là Sùng Hiểu (崇曉), Sùng Diễn (崇演); cha là Thời Tông (時宗, Tokimune). Năm 1284 (Hoằng An [弘安] thứ 7), ông tựu nhiệm cương vị Chấp Quyền, rồi đến năm sau thì thảo phạt dòng họ An Đạt Thái Thạnh (安達泰盛) và trấn áp thế lực nhóm Ngự Gia Nhân (御家人). Năm 1289 (Ứng Nhân [應仁] thứ 2), ông đẩy lùi tướng quân Duy Khang Thân Vương (惟康新王), rồi ủng lập Cửu Minh Thân Vương (久明親王) lên ngôi; tiếp theo năm 1293, ông thảo phạt Nội Quản Lãnh Bình Lại Cương (平賴綱) và đạt đến đỉnh cao sự chuyên chế của dòng họ Bắc Điều. Vào năm 1301 (Chánh An [正安] thứ 3), ông nhường chức Chấp Quyền lại cho Sư Thời (師時, Morotoki) rồi xuất gia, và cho đến khi chết ông vẫn nắm trọn thật quyền trong tay.
Bắc Đài
(北台) Chỉ cho núi Ngũ đài. Núi Ngũ đài nằm ở Đại châu tỉnh Sơn tây, phía bắc Trung quốc, vì thế gọi Bắc đài. Từ xưa, núi này được coi là Thánh tích của Phật giáo, là nơi linh thiêng của bồ tát Văn thù. (xt. Ngũ Đài Sơn).
Bắc Đẩu
(北斗): nói đủ là Bắc Đẩu Thất Tinh (北斗七星), tức 7 ngôi sao có hình cái muỗng tụ lại ở phương Bắc, cách xa Bắc Cực khoảng 30 độ, gồm Thiên Xu (天樞), Thiên Tuyền (天璇), Thiên Ki (天璣), Thiên Quyền (天權), Ngọc Hành (玉衡), Khai Dương (開陽) và Dao Quang (瑤光). Trong Thiên Văn, chùm sao này được gọi là Đại Hùng Tinh (大熊星), tên tục là Tham Lang Tinh (貪狼星), Cự Môn Tinh (巨門星), Lộc Tồn Tinh (祿存星), Văn Khúc Tinh (文曲星), Liêm Trinh Tinh (廉貞星), Võ Khúc Tinh (武曲星), và Phá Quân Tinh (破軍星), v.v. Theo quan niệm cổ đại, Thiên Xu được xem như là Chánh Tinh, chủ về dương đức; Thiên Tuyền là Pháp Tinh, chủ về âm hình; Thiên Ky là Lịnh Tinh, chủ về phạt hại; Thiên Quyền là Phạt Tinh, chủ về thiên lý; Thiên hành là Sát Tinh, chủ cả trung ương và bốn phương; Khai Dương là Nguy Tinh, chủ thiên thực ngũ cốc; và Dao Quang là Bộ Tinh, chủ về binh lính. Tôn Tinh Vương Pháp, Bắc Đẩu Pháp, Bắc Đẩu Hộ Ma Pháp, v.v., của Mật Giáo đều là pháp cầu đảo chùm sao này. Ngoài ra, trong Thiền môn có câu “Bắc Đẩu lí tàng thân (北斗裏藏身, ẩn thân trong sao Bắc Đẩu)” muốn ám chỉ thần thông diệu dụng của Thiền sư, giống như ẩn thân trong sao Bắc Đẩu. Trong Vân Môn Khuôn Chơn Thiền Sư Quảng Lục (雲門匡眞禪師廣錄) có đoạn rằng: “Vấn: 'Như hà thị thấu pháp thân cú ?' Sư vân: 'Bắc Đẩu lí tàng thân' (問、如何是透法身句、師云、北斗裏藏身, Hỏi rằng: 'Thế nào là câu thấu triệt pháp thân ?' Sư đáp: 'Ẩn thân trong sao Bắc Đẩu').”
bắc đẩu hộ ma
(北斗護摩) Mật giáo lấy bảy sao Bắc đẩu làm bản tôn (vị tôn chính) của phép tu Hộ ma. Khi tu phép này, ngũ cốc và nhũ mộc (gỗ có tẩm sữa để đốt) được sử dụng đều phải phối ứng với sao bản mệnh của người tu (hoặc thí chủ), gọi là Mệnh cốc, Mệnh mộc. Chẳng hạn như năm Tí thì mệnh mộc của người sao Tham lang là cây vông, mệnh cốc là đậu nành, thóc. Năm Sửu, Hợi, mệnh mộc của người sao Cự môn là cây hòe, cây chanh, mệnh cốc là lúa, cỏ vực. Năm Mão, Dậu, mệnh mộc của người sao Văn khúc là cây dâu, mệnh cốc là đại mạch, lê v.v... Sau khi chuẩn bị mệnh mộc, mệnh cốc xong, triệu thỉnh bản tôn ở trong lò lửa, ném bảy cánh sen vào lò, thành bảy tòa lá sen, lại quán tưởng trên các tòa lá sen ấy có bảy sao Bắc đẩu. Ngoài đàn Hộ ma ở chính giữa đạo tràng ra, ở hai bên tả hữu còn bày thêm ba đàn nhỏ, cộng là bảy đàn, trên đàn Hộ ma và các đàn nhỏ đều treo Bắc đẩu mạn đồ la và thỉnh sáu vị tăng tuổi hạ cao ngồi trấn các đàn nhỏ mà tu phép. Các sách Bắc đẩu thất tinh hộ ma pháp, Bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quĩ, Bắc đẩu thất tinh niệm tụng nghi quĩ v.v... đều nói thực hành phép tu này có thể đạt được hiệu quả sống lâu, giàu sang.
bắc đẩu pháp
(北斗法) Một trong những phép tu của Mật giáo. Là phép tu lấy Nhất tự kim luân Bắc đẩu tinh làm bản tôn (vị tôn chính thức), cúng dường bảy sao Bắc đẩu để cầu sống lâu hoặc cầu tiêu trừ các tai họa, tật bệnh v.v... Cũng gọi Bắc đẩu cúng, Bắc đẩu tôn tinh vương pháp. Bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quĩ (Đại 21, 424 hạ) nói: Bảy sao Bắc đẩu là tinh của mặt trời, mặt trăng và năm sao (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ), gồm bảy ngôi, chiếu soi tám hướng, trên từ thiên thần, dưới đến nhân gian, để xem xét thiện ác mà định họa phúc. Là chỗ các vì tinh tú chầu về, muôn thiêng ngửa trông. Nếu ai hay lễ bái cúng dường, thì được sống lâu, giàu sang; người không kính tin, vận mệnh chẳng bền. Về cách bày đàn Hộ ma, đồ cúng lễ, các loại cây, hạt hộ ma, ngày giờ, phép lễ bái và công đức do tu phép này mà được v.v... đều có nói rõ trong sách Bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quĩ. Loại phép tu này chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Đạo gia Trung quốc, như trong sách Bão phác tử v.v... [X. Bắc đẩu thất tinh niệm tụng nghi quĩ]. (xt. Bắc Đẩu Thất Tinh).
bắc đẩu thất tinh
(北斗七星) Bảy sao Bắc đẩu. Chỉ bảy ngôi sao ở phương bắc tụ thành hình cái môi. Gọi tắt là Bắc đẩu. Tức bảy ngôi sao cách bắc cực khoảng 30 độ: Thiên xu, Thiên toàn, Thiên cơ, Thiên quyền, Ngọc hành, Khai dương và Dao quang. Thiên văn học gọi là Đại hùng tinh. Tục gọi là sao Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc và Phá quân. Trong quan niệm đời xưa về tinh tú, sao Thiên xu được coi là sao chính trong bảy sao, chủ về đức dương; sao Thiên toàn là sao pháp, chủ về hình âm; sao Thiên cơ là sao lệnh chủ về phạt hại; sao Thiên quyền là sao phạt, chủ về lẽ trời; sao Ngọc hành là sao sát, chủ về bốn phương và trung ương; sao Khai dương là sao nguy, chủ về thiên thực, ngũ cốc; sao Dao quang là sao bộ, chủ về binh. Trong Tôn tinh vương pháp, Bắc đẩu pháp, Bắc đẩu hộ ma pháp v.v... của Mật giáo đều cầu khấn bảy sao này. Ngoài ra, trong Thiền lâm có câu Bắc đẩu lí tàng thân, là chỉ cho thần thông diệu dụng của Thiền tăng, cũng như nói: giấu mình trong sao Bắc đẩu, linh dương giấu sừng không lộ dấu vết. Vân môn khuông châu thiền sư quảng lục (Đại 47, 546 thượng) chép: ‘Hỏi:Thế nào là cầu thấu suốt pháp thân?’ Sư (Vân môn) đáp: ‘Giấu mình trong Bắc đẩu’. [X. kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12 Ba tiêu Tuệ thanh chương; Pháp uyển châu lâm Q.4].
bắc đẩu thất tinh diên mệnh kinh
(北斗七星延命經) Có một quyển. Kinh điển Mật giáo được dịch vào đời Đường, nhưng đã mất tên người dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này là phép Tinh tú, nội dung nói rõ về công đức cúng dường kinh này và có phụ thêm bản vẽ hình bảy sao Bắc đẩu. Trước hết, nói về ngày giờ sinh của người phải phối hợp với loại sao nào để điều hành lành dữ, kế đến nêu rõ các vị Phật mà bảy ngôi sao đại biểu; sau hết, nói về công đức cúng dường này sẽ tránh khỏi được các tai họa và bệnh tật.
bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quỹ
(北斗七星護摩秘要儀軌) Có một quyển. Ngài Bất không (705- 774) đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nghi quĩ này là phép tắc cúng dường hộ ma, mà đức Như lai vì chúng sinh bạc phúc ở đời mạt pháp, chỉ bày cách cầu đảo bảy sao Bắc đẩu để được sống lâu thêm phúc và lúa mạ tốt tươi. Trước hết, nói cách thức lập đàn tràng, kế đến nói về lời khấn, sớ tấu và ấn khế triệu thỉnh bảy sao Bắc đẩu, Nhất tự đính luân vương chân ngôn, Bắc đẩu thất tinh chân ngôn v.v... Nhưng căn cứ vào sự khảo chứng, thì nghi quĩ này có lẽ đã lấy từ Tư mệnh đoạt toán của Đạo giáo mê tín. [X. kinh Tứ thiên vương; kinh Tam phẩm đệ tử; kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức; Bí mật nghi quĩ tùy văn kí Q.6]
bắc đẩu thất tinh hộ ma pháp
(北斗七星護摩法) Có một quyển. Ngài Nhất hạnh (683- 727) đời Đường soạn. Cũng gọi Phức xí thịnh quang pháp. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung sách này là những nghi thức phép tắc Hộ ma kì đảo bảy sao Bắc đẩu để cầu sống lâu thêm phúc, như những nghi tắc: Năng cát tường chân ngôn, Bắc đẩu thất tinh ấn ngôn, Cửu diệu ấn khế, Cửu chấp diệu thiên tổng ấn ngôn, Nhị thập bát tú tổng ấn ngôn v.v... và có phụ thêm phép cúng dường Bắc đẩu pháp.
bắc đẩu thất tinh niệm tụng nghi quỹ
(北斗七星念誦儀軌) Có một quyển. Ngài Kim cương trí đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung nghi quĩ này là đức Thế tôn vì Nhật nguyệt tinh tú mà nói về công đức của Bát tinh chú và về phép cúng dường Bắc đẩu bát nữ. Ấn khế của chú Bát tinh này có xuất xứ từ kinh Kim cương đính phẩm Thất tinh. Nhưng, cứ theo sự khảo chứng, thì nghi quĩ này e rằng đã do đời sau ngụy tạo. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14, Q.29; Bí mật nghi quĩ truyền thụ khẩu quyết Q.3]
bắc đẩu tinh
Polaris.
Bắc Đế
(北帝): tiếng gọi tắt của Huyền Thiên Thượng Đế (玄天上帝), Bắc Phương Chơn Võ Huyền Thiên Thượng Đế (北方眞武玄天上帝), Chơn Võ Đại Đế (眞武大帝), Huyền Thiên Thượng Đế (玄天上帝), Huyền Võ Đại Đế (玄武大帝), Bắc Cực Đại Đế (北極大帝), Bắc Cực Hựu Thánh Chơn Quân (北極佑聖眞君), Khai Thiên Đại Đế (開天大帝), Nguyên Võ Thần (元武神); dân gian thường gọi là Thượng Đế Công (上帝公, Ông Thượng Đế), Thượng Đế Da (上帝爺, Lão Thượng Đế), v.v. Ông tượng trưng cho sao Bắc Cực, là vị thần của Đạo Giáo, quản lý phương Bắc, thống lãnh thủy tộc (kiêm cả Thủy Thần). Vì ông thuộc màu đen trong 5 màu ở phương Bắc, nên còn có tên là Hắc Đế (黑帝). Huyền Thiên Thượng Đế còn là vị thần trấn hộ quốc gia của thời nhà Minh (1368-1662); cho nên các quan lại có lập nhiều miếu thờ vị thần này. Về lai lịch của ông, căn cứ vào Thái Thượng Thuyết Huyền Thiên Đại Thánh Chơn Võ Bổn Truyện Thần Chú Diệu Kinh (太上說玄天大聖眞武本傳神咒妙經) cho biết rằng Huyền Thiên Thượng Đế là hóa thân thứ 82 của Thái Thượng Lão Quân (太上老君), thác sanh nơi Đại La Cảnh Thượng Vô Dục Thiên Cung (大羅境上無慾天宮), con của Quốc Vương Tịnh Lạc (凈樂國王) và Hoàng Hậu Thiện Thắng (善勝皇后). Hoàng Hậu nằm mộng thấy ăn mặt trăng, đến khi tỉnh dậy thì mang thai, trãi qua 14 tháng và hơn 400 ngày thì hạ sanh ông trong vương cung. Sau khi trưởng thành, từ giã song thân, lên tu đạo trên Võ Đương Sơn (武當山), trãi qua 42 năm thì công thành quả mãn. Nhân đó, Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) có chiếu chỉ, phong cho ông là Thái Huyền (太玄), trấn thủ ở phương Bắc. Theo Hựu Thánh Chú (佑聖咒) gọi Huyền Thiên Thượng Đế là do “Thái Âm hóa sanh, Thủy Vị chi tinh, Hư Nguy thượng ứng, quy xà hợp hình, châu hành Lục Hợp, uy nhiếp vạn linh (太陰化生、水位之精、虛危上應、龜蛇合形、周行六合、威懾萬靈, Thái Âm hóa sinh, tinh của Thủy Vị, trên hợp với Hư Nguy, hình kết hợp của rùa rắn, đi khắp Sáu Cõi, uy nhiếp vạn loài).” Nhân vì Bắc Đế thuộc về thủy, nên có thể trị thủy, hàng thủy, giải trừ các tai họa về nước lửa. Các đền thờ vị thần này được kiến lập trong cung nội dưới thời nhà Minh, đều để cầu nguyện cho giải trừ mọi tai họa về nước lửa. Vì Bắc Đế có công lao dẹp trừ, tiêu diệt quy tinh, thuồn luồn dưới chân mình, nên được Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho là Huyền Thiên Thượng Đế. Ông là người thống lãnh thủy giới an toàn, có thể hướng dẫn cho tàu bè đi lại đúng phương hướng, chẳng bị lạc hướng trên biển. Còn Huyền Võ (玄武) là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Bắc trong Nhị Thập Bát Tú (二十八宿). Trong Sở Từ (楚辭), Thiên Viễn Du (遠遊) của Khuất Nguyên (屈原, 304-278 tcn) có câu: “Chiêu Huyền Võ nhi bôn thuộc (召玄武而奔屬, mời Huyền Võ đến hộ vệ).” Hình của Huyền Võ như rùa rắn, nên có lời chú giải rằng: “Huyền Võ vị quy xà, vị tại Bắc phương, cố viết Huyền; thân hữu lân giáp, cố viết Võ (玄武謂龜蛇、位在北方、故曰玄、身有鱗甲、故曰武, Huyền Võ có nghĩa là rùa rắn, an vị ở phương Bắc, nên gọi là Huyền; thân nó có giáp lân, nên gọi là Võ).” Trong khoảng niên hiệu Khai Bảo (開寶, 968-976) nhà Bắc Tống (北宋, 960-1127), Thần Huyền Võ giáng xuống Chung Nam Sơn (終南山). Vào năm thứ 6 (981) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國), ông được phong là Dực Thạnh Tướng Quân (翌盛將軍). Đến năm thứ 7 (1014) niên hiệu Đại Trung Tường Phù (大中祥符, 1008-1016) đời vua Tống Chơn Tông (宋眞宗, tại vị 997-1022), ông được phong thêm là Dực Thánh Bảo Đức Chơn Quân (翌聖保德眞君). Về sau, để tránh tên húy của Thánh Tổ Triệu Huyền Lãng (聖祖趙玄朗), Huyền Võ được đổi thành Chơn Võ. Ngày sinh của Huyền Thiên Thượng Đế là mồng 3 tháng 3 âm lịch. Theo truyền thuyết của Đài Loan, ông không phải là vương tử, mà là người đồ tể. Có hôm nọ, chàng đồ tể được thần minh mách bảo, nhất định từ bỏ không làm nghề đó nữa, cải tâm tu đạo, mổ bụng mình đem vất xuống sông và nhờ quyết tâm đó mà đắc đạo. Sau khi chứng đạo, bụng ông biến thành rùa tiên, ruột biến thành rắn tiên; cả hai tác quái khắp nơi. Nhân đó, Huyền Thiên Thượng Đế bèn mượn cây bảo kiếm của Bảo Sanh Đại Đế (保生大帝, có thuyết là mượn của Lữ Đồng Tân [呂洞賓]) để trấn áp hai tiên đó và cuối cùng thâu phục được. Sau đó, vì sợ hai con rùa rắn này không chịu quy phục, Huyền Thiên Thượng Đế cứ cầm kiếm canh giữ mãi mà không chịu hoàn trả cho Bảo Sanh Đại Đế. Cho nên, nơi tượng thờ Huyền Thiên Thượng Đế ở Đài Loan, ông có chân đỏ, đạp lên hai con rùa rắn, tay cầm chặt cây bảo kiếm. Cũng trên cơ sở của truyền thuyết này, tại Đài Loan, các nơi chế biến thịt, công ty đồ tể, thảy đều phụng thờ Huyền Thiên Thượng Đế làm vị thần bảo hộ cho công việc của họ. Minh Thành Tổ (明成祖, tại vị 1402-1424) đã từng đại tu các ngôi miếu vũ của Võ Đương, trong bức thư sắc chỉ kiến tạo Tử Vân Đình (紫雲亭), ông có ghi rằng: “Tịnh Lạc Quốc chi đông, hữu Tử Vân Đình, nãi Huyền Võ Đế giáng sanh chi phước địa (淨樂國之東、有紫雲亭、乃玄武帝降生之福地, phía đông Tịnh Lạc Quốc, có Tử Vân Đình, là vùng đất phước giáng sanh của Huyền Võ Đế).”
bắc độ
(北度) Lễ nghĩa thầy trò. Vì thầy đứng ở hướng bắc hóa độ đệ tử, đệ tử quay mặt về phía bắc lạy thầy, cho nên gọi là bắc độ. Trí giả đại sư biệt truyện (Đại 50, 191 hạ) nói: Răn dạy luật nghi để nhiếp bắc độ.
bằng kinh
(棚經) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Bằng hành. Tức hằng năm, từ ngày 13 đến 15 tháng 7 hoặc tháng 8, cử hành Lễ hội Vu lan bồn. Vào những ngày này, mỗi nhà đều thỉnh sư đến tụng kinh ở trước rạp Tinh linh Phật đàn để đón mời và tế lễ linh hồn tồ tiên, gọi là Bằng kinh (tụng kinh trước rạp). Tập tục này bắt nguồn từ Tông môn cải (là chế độ được đặt ra để cấm chỉ tín ngưỡng Cơ đốc giáo) ở thời đại Đức xuyên. Thời ấy đã sinh ra phong tục chư tăng các chùa chia nhau đến nhà tín đồ của mình để tụng kinh. (xt. Vu Lan Bồn).
bẻ
To pick—To pluck—To gather.
bẻ hành bẻ tỏi
To criticize.
bẻm mép
A brillant talker.
bẽ mặt
To be ashamed.
bẽn lẽn
To be bashful (timid, shy).
bế
Đóng—To close—To stop—To block.
bế lê đa
Xem quỉ đóiXem Ngạ quỉ.
; Preta (skt)—Ngạ quỷ—Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ.
bế lô
Ngưng không đốt lò sưởi vào mùa xuân (Thiền tông hàng năm vào ngày 30 tháng 3 thì đóng lò sưởi)—To cease lighting the stove in spring.
; (閉爐) Tắt lò sưởi. Trong Thiền tông, hàng năm vào tháng 2 hoăc tháng 3 âm lịch, thì tắt lò sưởi. Đối lại với khai lô (đốt lò sưởi). Thiền uyển thanh qui quyển 4 Thánh tăng thị giả lô đầu trực đường (Vạn tục 111, 449 hạ) chép: Mồng 1 tháng 10 đốt lò sưởi, mồng 1 tháng 2 tắt lò sưởi.
Bế quan
閉關; J: heikan;|Tức là đóng cửa tâm (đồng nghĩa với sáu giác quan) lại để tu tập thiền định. Bế quan không có nghĩa là bỏ qua, trốn tránh những việc làm thế gian hàng ngày. Bế quan thật sự là không để cho những việc thế tục vương vấn tịnh tâm, làm việc nhưng không phụ thuộc vào kết quả.
bế quan
Heikan (J).
; Đóng cửa để tu tập thiền định—To shut in; to isolate oneself for meditation.
; (閉關) Đóng cửa. Tức là đóng cửa không tiếp khách, ở yên tu hành. Đặc biệt chỉ vị thiền tăng chấm dứt mọi tiếp xúc, giảng dạy người khác, rồi một lòng một dạ ngồi thiền tu hành ở phòng riêng của mình. Phong tục bế quan rất thịnh hành trong giới Phật giáo Trung quốc. Ngoài Thiền tông ra, những người tu hành thuộc các môn phái khác, như tông Tịnh độ, tông Hoa nghiêm… v.v……………... cũng thường bế quan. Trong thời gian bế quan, chỗ ở của các vị tu hành gọi là quan phòng. Trong thời kỳ bế quan, hành giả hoặc xem tạng kinh, hoặc nghiên cứu giáo pháp, hoặc chuyên tu một môn nào đó, tùy theo mục tiêu của mỗi người mà có khác nhau. Thời hạn cũng không nhất định, có người vài tháng, cũng có người vài năm. Nguyên tắc trong thời kỳ bế quan là không ra khỏi phòng. Bởi thế, ở bên ngoài quan phòng, phải có người giúp đỡ việc ăn uống, thuốc thang v.v... gọi là Hộ quan.
bế quan bảo nhậm
Bảo nhậm là dứt trừ tập khí thế gian và xuất thế gian dần dần. Ví như nằm mơ khóc chảy nước mắt, khi tĩnh dậy vẫn cần phải lau nước mắt mới sạch được. (Nằm mơ dụ cho mê, tĩnh dậy dụ cho ngộ). Thiền tông nói: “Bất phá trùng quan bất bế quan”, là sau khi ngộ rồi muốn bảo nhậm bổn lai diện mục của tự tánh nên mới cần phải bế quan.
bế thi
Pesi (skt)—Giai đoạn thứ nhì trong tám giai đoạn thành lập của thai nhi—The second stage of the eight stages of the human foetus—See Bát Vị Thai Tạng.
bế tắt
Blocked—Obstructed—Choked
bề ngoài
Appearance
bền chặt
Durable—Solid.
bền gan
Persevering patient.
bền lâu
Permanent
bền vững
See Bền chặt.
bềnh bồng
Floating.
bể
Xương bắp vế—The pelvic bones.
bể lạc ba a ngạt
Virupaksa (skt)—Tỳ Lưu Bác Xoa—Tây Thiên Vương—The western of the four Maharajas—See Tứ Thiên Vương (3).
bệ bạt trí
Vaivartika (skt)—Thối chuyển—To recede—To fall back—To backslide.
bệ lệ đa
Xem Ngạ quỉ.
bệ rạc
Wretched—Deplorable.
bệ sái
Xem dược.
; Bhaichad (S). Dược. Medicine.
bệ sái xã lũ rô
Bhaichadjyaguru (S). Dược sư. Healer.
bệ vệ
Majestically.
bệ đà
Xem Phệ đà. Vedas (S).
; See Veda in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Bệ-sát-nhĩ-da-ngu-lỗ 偝殺爾耶虞嚕
[ja] バイサツニヤグロ baisatsuniya guro ||| A transcription of bhaiṣajya-guru. => Phiên âm của Bhaiṣajya-guru trong tiếng Sanskrit, nghĩa là Dược Sư Phật.
bệnh
Vyādhi (S)Trong: sanh (jati), lão (jara), bệnh (vyadhi), tử (marana).
; Illness, sickness; disease; disorder, complaint; to heart.
bệnh ca-ma-la
phiên âm từ Phạn ngữ là kmal, cũng đọc là ca-mạt-la, dịch là hoàng bệnh, là một loại bệnh làm cho người mắc bệnh nhìn thấy tất cả các màu sắc đều hóa ra màu vàng. Vào thời xưa không ai có thể trị dứt được bệnh này. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 gọi bệnh này là ác cấu.
bệnh giả thang gia trì pháp
(病者湯加持法) Phép gia trì nước tắm để chữa bệnh. Một trong những phép tu của Phật giáo dành cho người đau yếu lâu ngày. Gọi đủ là bệnh giả mộc dục thang gia trì tác pháp (phép gia trì nước tắm để tắm cho người bệnh). Nếu tắm gội cho người bệnh đã mắc bệnh lâu ngày, phải làm phép hộ thân vào nước ở trong thùng, rồi bắt ấn và tụng các câu thần chú sau đây: 1. Hư không võng. 2. Hỏa viện. 3. Bất động (là kết giới chung). 4. Quân đồ lợi (là kết giới riêng, theo phép này, có thể nhờ uy lực của Quân đồ lợi để trừ bỏ chướng ngại của Tì na da ca). 5. Mã đầu (nhờ sức thần chú Cam lộ mà thân được trong sạch và tuổi thọ tăng thêm). Sau đó, dùng chày năm chẽ thư hai chữ llaô, Vaô rồi lai tụng tiếp sáu loại chân ngôn: Bất động, Quân đồ lợi, Mã đầu, Lục tự, Bát tự văn thù và Diên mệnh; sau đó mới tắm cho người bệnh và miệng vẫn phải tiếp tục tụng chú Bất động. Khi tắm xong rồi, lại phải dùng ấn và chân ngôn Nhất tự kim luân gia trì ở năm chỗ trên thân của người bệnh. (xt. Ngũ Xứ Gia Trì).
bệnh hoạn
(病患) Gọi tắt là bệnh. Bệnh của chúng sinh đều là từ thân hữu lậu do bốn đại tạo thành. Khi một đại không điều hòa, sinh ra 101 bệnh, cả bốn đại không điều hòa thì sinh ra 404 bệnh. Có sáu nguyên nhân gây bệnh: bốn đại mất quân bình, ăn uống không chừng mực, ngồi Thiền không điều độ, quỉ thần xâm nhập, ma thần quấy nhiễu, nghiệp ác nổi dậy. Thân hữu lậu của phàm phu mắc bệnh là bệnh thật. Còn bậc thánh đã thoát khỏi thân hữu lậu, cho nên không có bệnh thật. Bậc thánh vốn không có bệnh, nhưng vì lòng đại bi muốn làm lợi ích cho người khác mà thị hiện có bệnh, gọi là bệnh tạm thời (quyền bệnh). Như lai Thích ca đau lưng, hoặc như bệnh tật của Cư sĩ Duy ma v.v…... Lại tông Thiên thai lấy bệnh hoạn làm một đối cảnh trong Thập thừa quán pháp. Quán tưởng cái tướng thể của bệnh hoạn tức là thực tướng, tức là ba đế ba nghìn. [X. luận Đại trí độ Q.8; Ma ha chỉ quán Q.8 phần dưới; luận Thập trụ tâm Q.1 (Không hải)]. BÊNH KHỔ Phạm:Vyàdhi-duhêkha, Pàli: Vyàdhidukkha. Một trong bốn thứ khổ, một trong tám thứ khổ. Tức là khi chúng sinh bị bệnh thì cả thân tâm đều khổ não. Theo luận Đại tì bà sa quyển 78 nói, thì bệnh hay làm tổn hoại những gì đáng yêu và thỏa thích, nên gọi bệnh khổ. Nguyên nhân phát bệnh là do bốn đại không điều hòa, cũng có thuyết cho rằng, vì bốn đại không điều hòa mà sinh ra 404 bệnh. Cứ theo kinh Ngũ vương nói, thì bốn đại (bốn nguyên tố lớn) là đất, nước, lửa, gió. Khi nguyên tố đất không điều hòa thì thân xác nặng nề; nguyên tố nước không điều hòa thì thân hình phù thũng; nguyên tố lửa không điều hòa thì toàn thân nóng bừng; nguyên tố gió không điều hòa thì thân thể cứng đờ ra. Khắp mình đau nhức như bị người đánh, khí lực hư kiệt, ngồi dậy đi đứng phải nhờ người đỡ; mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, trong lòng khô não, nói năng rên rỉ, miếng ngon miếng ngọt vào miệng đều đắng; tất cả đều là nỗi khổ lớn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 61 nói, thì bệnh khổ có năm tướng: 1. Thân thể biến hoại dần. 2. Nỗi lo khổ thêm nhiều gấp bội 3. Đối với cảnh vừa ý không ưa thích nữa. 4. Đối với cảnh không vừa ý mình lại phải gắng gượng thụ dùng. 5. Hay khiến gốc mệnh sống của mình mau hoại diệt. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 12 cũng phân biệt thân bệnh và tâm bệnh: thân bệnh do nước, gió, nóng và những nguyên nhân khác gây ra. Còn tâm bệnh thì do hồi hộp, sợ hãi, lo sầu, ngu dại gây ra. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.6; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ].
bệnh hà
(病暇) Xin nghỉ để dưỡng bệnh. Cũng gọi Bệnh Giả...... Trong Thiền lâm, vì bị bệnh, muốn xin nghỉ để tĩnh dưỡng, thông thường có quy định về việc này. Huyễn trụ thanh qui (Vạn tục 111, 499 hạ) ghi : Nếu gặp bệnh duyên, nên bạch đại chúng, xin dời đến nơi khám bệnh (……… ……... ). Sau khi chữa trị, bệnh được thuyên giảm, phải giữ đúng phép, hết lòng cảm tạ người trực bệnh, rồi về nhà nghỉ ngơi. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.9 Tùng quĩ môn].
bệnh hành
(病行) Một trong năm phương pháp hành đạo của Bồ tát. Nghĩa là Bồ tát dùng đại hạnh vô duyên đại từ và tâm bình đẳng đồng thể đại bi, nhổ tận gốc các phiền não và chữa trị tội nghiệp cho chúng sinh. Tội nghiệp là bệnh. Bệnh ví dụ tội nghiệp cho chúng sinh. Tội nghiệp là bệnh, hạnh chữa bệnh, gọi là Bệnh hạnh.
bệnh khổ
Suffering from sickness.
bệnh khởi lục duyên
(病起六緣) Sáu nguyên nhân phát bệnh. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 8 phần trên, thì bệnh của chúng sinh đều do sáu nguyên nhân gây ra: 1. Bốn đại mất cân bằng. 2. Ăn uống không điều độ. 3. Ngồi Thiền không đúng phương pháp. 4. Quỉ được dịp xâm nhập. 5. Ma, thần thay nhau quấy nhiễu. 6. Nghiệp ác nổi dậy.
Bệnh quyện 病倦
[ja] ビョウケン byōken ||| (aklānta-kāya). To tire of, to give up on. => (s: aklānta-kāya). Mệt nhọc, chán ngán.
bệnh tăng khẩu từ
(病僧口詞) Lời trối trăn của vị tăng bệnh nặng. Trong tùng lâm, khi bệnh tình của vị tăng càng thêm nặng, khó có hy vọng qua khỏi, nên khi hấp hối thường để lại các lời dặn dò. Những lời này phần nhiều liên quan đến quê quán, lí lịch của vị tăng ấy, và những vật sở hữu có những gì và để ở đâu v.v... [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6 Bệnh tăng niệm tụng điều].
bệnh tăng niệm tụng
(病僧念誦) Cũng gọi Bệnh tăng giải thích. Trong tùng lâm, khi một vi tăng bị bệnh, đến ba ngày trở lên mà không khỏi, thì đưa vị ấy đến nhà Diên thọ (người chuyên chữa bệnh) để trị liệu và tĩnh dưỡng. Lúc ấy, những vị tăng đồng hương bạn cũ và cả chúng tăng đều cầu nguỵện cho vị bệnh tăng ấy mau lành. Mọi việc tụng niệm tán Phật hồi hướng ấy, gọi là Bệnh tăng niệm tụng. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6 Bệnh tăng niệm tụng điều].
bệnh tử
Just as a mother loves the sick child most, so Buddha loves the most wicked sinner.
; (病子) Đứa con đau ốm. Ví dụ chỉ cho hạng chúng sinh cực ác – Như người có bảy đứa con, trong đó có một đứa đau ốm; cha mẹ thương các con tuy không thiên vị, nhưng riêng với đứa con ốm đau thì có thương nhiều hơn. Đức Phật cũng thế, đối với chúng sinh, tâm Ngài không phân biệt, nhưng với hạng chúng sinh cực ác, Ngài thương xót nhiều hơn, cũng như cha mẹ thương đứa con bệnh hoạn vậy. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) Q.30] .
bệnh đạo sư
(病導師) Phiền não trói buộc chúng sinh giống như bệnh hoạn, nếu do phàm phu tục tử giáo hóa chỉ bảo, thì chẳng những không khỏi mà bệnh của họ còn nặng thêm. Bởi thế gọi ông thầy phàm phu hóa đạo là Bệnh đạo sư. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 phần đầu].
Bệnh 病
[ja] ビョウ byō ||| (1) Get sick, be sick, suffer from. (2) Illness, disease, sickness, grief, distress, worry, anxiety, affliction, bad habit, weakness, passion. One of the four basic kinds of suffering 四苦. (3) In Buddhist discourse, usually refers to a condition of practice gone errant based on mistaken attachment/understandings of the teachings. See 四病. => 1. Mang bệnh, bị đau, đau khổ. 2. Sầu khổ, thất vọng, phiền muộn, băn khoăn, ưu phiền, tập khí xấu, nhu nhược, đam mê. Một trong 4 nỗi khổ chính. 3. Trong kinh Phật, thường đề cập đến trường hợp hành giả tu tập đi lang thang đây đó do chấp trước sai lầm/ hiểu sai về giáo pháp. Xem Tứ bệnh四病.
bỉ
Cái kia, đối lại với “thử” là cái nầy—The other, in contrast with “this”.
Bỉ bỉ 彼彼
[ja] ヒヒ hihi ||| (Pali: tatra-tatra). (1) This and that, one thing and another. (2) All. (3) Mutually. => (p: tatra-tatra). 1. Đây và đó, cái nầy rồi cái khác. 2. Tất cả. 3. Qua lại lẫn nhau.
bỉ mặt
To despite—To scorn.
Bỉ ngạn
(s: pārimaṃ, tīraṃ, paryavasāna, 彼岸): bờ bên kia, từ đối xứng với thử ngạn (此岸, bờ bên này), chỉ cảnh giới lý tưởng. Cõi mê muội được xem như là bờ bên này, tức là cảnh giới sanh tử; thế giới giác ngộ là bờ bên kia, cảnh giới Niết Bàn. Vì vậy, sang đến bờ bên kia được gọi là Đáo Bỉ Ngạn (s: pāramitā, 到彼岸, âm dịch là Ba La Mật Đa [波羅蜜多]). Tại Nhật Bản, có Bỉ Ngạn Hội (彼岸會, Higane), pháp hội tiến hành trong vòng 7 ngày, giữa Xuân phân và Thu phân, tương truyền do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) sáng lập. Từ đầu thời Bình An (平安, Heian), pháp hội này đã được tiến hành long trọng trong triều đình và đến thời Giang Hộ (江戸, Edo) thì trở thành lễ hội trong năm. Trong thời gian 7 ngày này, tín đồ Phật tử cũng đến lễ chùa, thăm viếng mộ phần ông bà tổ tiên. Với ý nghĩa bỉ ngạn là thế giới giác ngộ và thử ngạn là thế giới mê lầm, Bỉ Ngạn Hội được xem như là hành sự của Phật Giáo hướng về thế giới giác ngộ. Hơn nữa, phát xuất từ việc quán tưởng mặt trời trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經); cũng như vào dịp Xuân phân và Thu phân, khi mặt trời lặn về hướng Tây thì quán tưởng cõi Tây Phương Tịnh Độ của đức Phật Di Đà. Pháp hội này biến dung từ việc sùng bái tổ tiên của Nhật Bản, trở thành pháp yếu cúng dường tổ tiên.
bỉ ngạn
xem bờ bên kia.
; Para (S), Other Shore
; Para (S). The other shore, opposite shore.
; Bờ bên kia—Bên kia bờ của dòng luân hồi sanh tử hay Niết Bàn—The other shore, nirvana—Paramita—The other (yonder) shore of stream of transmigration, i.e. nirvana. 1) Thử ngạn hay bờ bên nầy của luân hồi sanh tử The samsara of reincarnation is this shore. 2) Trung Lưu Giữa dòng của hai bên bờ sanh tử và niết bàn—The stream of karma is the stream between one shore and the other. 3) Bỉ ngạn hay trạng thái giải thoát vượt ra ngoài vòng luân hồi sanh tử The state of emancipation or beyond the realm of samsara.
; (彼岸) I. Bỉ ngạn. Bờ kia. Phạm,Pàli: pàra. Đối lại với Thử ngạn,..... (bờ này). Cõi mê là bờ bên này, gọi Thử ngạn; cõi ngộ là bờ bên kia, gọi Bỉ ngạn. Tức lấy nghiệp và phiền não làm giữa dòng, cảnh giới sống chết là bờ bên này, cảnh giới Niết bàn là bờ bên kia. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.1 phần trên]. II. Bỉ ngạn. Phạm:pàramità. Dịch âm: Ba la mật đa. Nói đủ là Đáo bỉ ngạn (đến bờ kia). Nghĩa là từ cõi mê ở bờ bên này mà đến cõi ngộ ở bờ bên kia. (xt. Ba La Mật). III. Bỉ ngạn. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Là gọi tắt của Bỉ ngạn hội. (xt. Bỉ Ngạn Hội) .
bỉ ngạn hội
(彼岸會) Hội bờ kia. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Gọi tắt là Bỉ ngạn. Lấy ngày xuân phân và thu phân làm chuẩn, rồi trước và sau hai ngày đó đều cộng thêm ba ngày, thì thành bảy ngày. Pháp hội được cử hành trong khoảng bảy ngày này, gọi là Bỉ ngạn hội. Chính ngày xuân phân, thu phân thì đặc biệt gọi là ngày giữa bờ kia. Bờ kia là cõi Niết bàn, tức ý là từ bờ mê hoặc bên này mà đến bờ giác ngộ bên kia. Bờ kia, Phạm:Pàramità, dịch âm Ba la mật đa, nghĩa là đến bờ kia. Thông thường, trong khoảng thời gian này, tín đồ đến các chùa viện lễ bái, hoặc đi viếng mộ; chư tăng thì tụng kinh, cử hành pháp hội hoặc làm các Phật sự v.v... đều gọi là Bỉ ngạn hội. Loại hội này chỉ có ở Nhật bản, chứ Ấn độ và Trung quốc không có.
Bỉ ngạn 彼岸
[ja] ヒガン higan ||| (1) Literally, the "other shore" as in the other side of a river that one intends to cross (Pali pārimaṃ tīraṃ). (2) In Buddhism, this term is used figuratively to refer to the goal of Buddhist practice--the attainment of nirvana or enlightenment. It is used in the context of leaving the world of saṃsāra and "crossing over" to the pure world of nirvana. (3) This is also a connotation of the Sansrit term pāramitā 波羅蜜, meaning "complete perfection." => 1. Có nghĩa “bờ bên kia” là bờ bên kia của một dòng sông mà người ta muốn vượt qua (p: pārimaṃ tīraṃ). 2. Trong Phật giáo, thuật ngữ nầy thường ẩn dụ cho mục đích tu đạo–chứng niết-bàn hay được giải thoát. Được dùng trong ngữ cảnh rời xa cõi giới luân hồi và “vượt qua” đến cõi giới niết-bàn thanh tịnh. 3. Còn có nghĩa rộng tờ thuật ngữ Sanskrit pāramitā (ba-la-mật波羅蜜), có nghĩa là “thành tựu viên mãn”.
bỉ trà
Peta (skt)—See Pitaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bỉ đồng phần
(彼同分) Phạm: tat-sabhàga. Cũng gọi Phi đẳng phận, Dư hữu phận. Vì căn, cảnh, thức quan hệ lẫn nhau, mỗi thứ tự tạo lấy nghiệp, nên gọi là Đồng phận (Phạm: Sabhàga), cũng gọi Hữu phận, Đẳng phận. Trái lại, căn, cảnh, thức quan hệ lẫn nhau,mà không tạo nghiệp riêng, thì gọi là Bỉ đồng phận. Tức là, tuy mỗi thứ không tạo nghiệp riêng, nhưng lại là đồng phận với chủng loại đồng phận có tạo nghiệp, như tướng năng kiến, sở kiến không khác; hơn nữa, lại là cùng xứ, cùng giới, là nhân đồng loại và quả đẳng lưu của nhau, cùng thuộc lẫn nhau, cùng nhau dẫn khởi v.v... cho nên gọi là Bỉ đồng phận. Trong 18 giới, chỉ có pháp giới là đồng phận, còn 17 giới kia thì thông cả hai đồng phận và bỉ đồng phận. Luận câu xá quyển 2 (Đại 29, 10 trung), nói: Nghĩa đồng phận, bỉ đồng phận là thế nào? Căn, cảnh, thức cùng giao thiệp với nhau, gọi là phận. Hoặc có người cho phận là tác dụng riêng, lại cũng có người cho phận là Sở sinh xúc (va chạm sinh ra tác dụng), các thứ (căn, cảnh, thức) cùng có phận này, nên gọi là Đồng phận. Trái lại, thì gọi là Bỉ đồng phận. [X. luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại tì bà sa Q.71, Q.72; luận Du già sư địa Q.56]. (xt. Đồng Phận).
bỉ đồng phận
Sabhàga (S). Being in the same division.
bỉ độ đắc sinh
(彼土得生) Được sinh cõi kia. Nghĩa là bỏ thế giới Sa bà này mà sinh về cõi Phật ở phương khác và chứng ngộ quả Phật ở cõi ấy. Cũng gọi tha độ đắc sinh. Tông Tịnh độ dùng thuyết này (Bỉ độ đắc sinh) để nói rõ nghĩa sinh về Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà ở phương tây để được thành Phật. Trái lại, người ở ngay thế giới Sa bà này mà thành Thánh, chứng được quả A la hán, quả Bích chi phật hoặc quả Phật, thì gọi là Thử độ nhập Thánh (ở cõi này vào Thánh) hoặc Thử độ nhập Thánh đắc quả.
bỉ ổi
Contemptible—Shabby.
Bỉ 彼
[ja] ヒ hi ||| (1) That, the other. (2) He, him. (3) The future, the next world. => 1. Kia, Cái kia. 2. Nó. 3. Tương lai, cõi giới vị lai.
bỉnh
Giữ chặt—To lay hold of—To grasp.
bỉnh cự
Cầm đuốc trong buổi trà tỳ (phép hỏa táng chư Tăng Ni)—To carry the torch for cremation.
; (秉炬) Cầm đuốc. Một nghi thức làm lễ an táng trong Thiền gia. Hàm ý là cầm đuốc châm lửa lúc trà tì (thiêu xác chết). Khi cử hành lễ an táng, vị sư dẫn đường cầm cây đuốc để tượng trưng hỏa táng (thiêu) người chết. Thuyết cũ bảo Bỉnh cự đồng nghĩa với hạ hỏa, hạ cự. Nhưng, cứ theo Thiền lâm tượng khí tiên chép, thì lời pháp nói lúc bỉnh cự dài hơn, còn lời pháp nói lúc hạ hỏa thì ngắn hơn. Hạ hỏa chỉ một người làm, bỉnh cự thì cần mấy người. Vì nghi thức Bỉnh cự lời pháp đã dài và lại nhiều người làm, nếu dùng lửa thật thì chỉ khoảng chốc lát là cháy hết, cho nên phải làm cây đuốc bằng gỗ, trên đầu sơn đỏ trông giống như lửa; hoặc làm hoa bằng tơ bông đỏ dán vào đầu cây đuốc, nhưng không châm lửa. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.3 Thiên hóa Phật sự điều; Thiền lâm tượng khí tiênTang tiến môn]. (xt. Hạ Cự).
bỉnh pháp
Điều thứ nhất trong bốn pháp Yết Ma—The first in the four Karmas—See Yết Ma.
Bỉnh Phất
(秉拂, himpotsu): nghĩa là vị Trú Trì cầm cây Phất Trần; về sau nó có nghĩa là thay thế vị Trú Trì lên Pháp Tòa thuyết pháp cho đại chúng. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) 7 có ghi rằng vào 4 tiết Kiết Hạ, Giải Hạ, Đông Chí và Nguyên Đán thì hành lễ Bỉnh Phất (thăng tòa thuyết pháp). Khi ấy, 5 vị Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Thư Ký (書記), Đông Tạng Chủ (東藏主), Tây Tạng Chủ (西藏主) sẽ thay nhau làm việc này. Đối với Tào Động Tông Nhật Bản, vào đêm Trừ Dạ năm thứ 2 (1236) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), Hoài Trang (懷弉, Ejō) đã thay thế Đạo Nguyên (道元, Dōgen) hành nghi lễ Bỉnh Phất này tại Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji). Khi ấy không có 5 vị đứng đầu, mà chỉ có vị Thủ Tòa thôi. Có lẽ đây cũng là nguồn gốc của lễ Thủ Tòa Pháp Chiến (首座法戰, cuộc luận tranh về pháp giữa các vị Thủ Tòa) và lúc Kết Chế An Cư. Như trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, CBETA No. 1524) quyển 10, Tổ Trân Truyện (祖珍傳), có câu: “Thị dạ Thủ Tòa bỉnh phất, tùy cơ ứng đáp, khấu kích bất cùng (是夜首座秉拂、隨機應答、叩擊不窮, đêm ấy Thủ Tòa lên tòa thuyết pháp, tùy cơ mà ứng đáp, cảm kích không cùng).”
bỉnh phất
Cầm phất trần, thường là người đứng đầu trong chúng hội, năm vị Tăng đứng đầu trong tự viện mới có đặc quyền nầy—To hold the fly-brush, or whisk, the head of an assembly, the five heads of a monastery have this privilege.
; (秉拂) Phất, chỉ cho cây phất trần, là đồ trang nghiêm của nhà Thiền. Vị trụ trì hoặc người thay trụ trì tay cầm phất trần (phất tử) lên nhà giảng nói pháp cho đại chúng nghe, gọi là Bỉnh phất . Những người có tư cách cầm phất tử là Thủ tọa tiền đường, Thủ tọa hậu đường, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ, Thư kí v.v... gọi chung là Bỉnh phất ngũ đầu thủ. Còn người thị giả cầm phất tử, gọi là Bỉnh phất thị giả. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.7 Tứ tiết bỉnh phất điều; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].
bỉnh phất ngữ lục
(秉拂語錄) Sách gồm 2 quyển. Gọi đủ là Cổ sơn Vi lâm thiền sư cư thủ tọa liêu ngữ lục. Cũng Tượng đá trong hang 47 của chùa Bính Linh gọi Vi lâm thiền sư bỉnh phất ngữ lục, Vi lâm đạo bái thiền sư bỉnh phất ngữ lục. Ngài Vi lâm Đạo bái (1615-1702) thuộc tông Tào động soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, Thái tĩnh biên chép, thu vào Vạn tục tạng tập 125. Bộ sách này thu chép Pháp ngữ, Trà thoại, Cử cổ, Phật sự, Kệ, Tụng, Tán v.v... của Đạo bái khi ngài ở Cổ sơn thuộc Phúc châu. Cuối quyển có ghi chép thêm Hộc lâm ai khổn 1 quyển, đây là văn truy điệu thầy của Đạo bái là ngài Vĩnh giác Nguyên hiền. Nội dung quyển Hộc lâm ai khổn gồm có: Tiên hòa thượng qui chân kí, Tối hậu ngữ tự, Tế văn, Tháp chí, Khởi khám cáo văn, Phong tháp cáo văn và lời bạt trao đổi với vị tăng người Nhật bản tên là Liên sơn.
bỉnh trì
Nghiêm trì giới luật—To hold firmly to the discipline or rules.
bị
1) Chịu khổ To suffer. 2) Đắp lại To cover. 3) Mền A quilt—Coverlet. 4) Thụ động Sign of the passive.
bị bắt
Captured.
bị chế ngự
To be conquered.
bị chế nhạo
To be ridiculed.
bị cáo
Accused—Defendant.
bị công kích
To be criticized.
bị cướp bóc
To be robbed.
bị cảm
To have a cold.
bị cảnh duyên khuấy động
Disturbed by (external) environment.
bị diệp y quán âm
Đức Quán Âm mặc đồ bằng lá cây—Kuan-Yin clad in leaves.
bị dập tắt
To be extinguished.
bị giam
To be confined (incarcerated).
bị giáp hộ thân ấn
(被甲護身印) Ấn mặc áo giáp để giữ mình. Cũng gọi Bị giáp hộ thân (mặc áo giáp giữ mình), Giáp trụ ấn, Hộ thân tam muội da. Một trong 18 khế ấn. Hành giả Mật giáo bắt ấn này khiến thân mình mặc áo giáp kim cương để ngăn ngừa thần tà ma ác xâm hại trong khi tu pháp. Tướng ấn: Hai tay đan vào nhau để ở bên trong, hai ngón giữa đứng, hai ngón trỏ co lại làm hình cái móc đặt trên lưng hai ngón giữa, hai ngón cái dựng thẳng, dính sát hai ngón áp út. Chân ngôn: Án phạ nhật la nghĩ nễ bát la nẫm phả đá dã sa bà ha. Nghĩa là lửa kim cương ngùn ngụt rực sáng, có khả năng thiêu rụi bọn quân ma phiền não.
bị giết
To be killed.
bị gạt
To be cheated.
bị hủy diệt
To be destroyed.
bị khuất phục
To be subdued.
bị loại
To be knocked out in a tournament.
bị lạm dụng
To be abused.
bị lệch hướng
To be side-tracked.
bị ma ám
Ghost-haunted—To be deluded—Tu hành mà bị ma ám, xúi dục làm điều xằng bậy, trái với đạo đức, thì kể như tàn một đời—Cultivators who have a deluded mind (delusive thoughts), which steers him to toward doing things contrary to the way; it's considered over with the wholesome path for this entire lifetime.
bị mất tích
To be missing in action.
bị nghiệp ràng buộc
Karma-bound.
bị nạn
To suffer a misfortune or an accident.
bị oan
To be a victim of an injustice.
bị phát la sát nữ
Xem Đa Phát La sát nữ.
bị phạt
To be punished.
bị quyến rũ bởi sắc tốt tiếng dâm
being lured by beautiful forms and sensuous sounds.
bị sa ngã
Fallen into evil conducts.
bị thương
To get hurt (injured).
bị tiêu tan
To be snuffed out.
bị tiếp
(被接) Cũng gọi Thụ tiếp . Theo giáo nghĩa của tông Thiên thai, những người tu hành theo Thông giáo hay Biệt giáo, có căn tính sắc bén, có tư chất và năng lực ưu việt, nhờ sự khai thị và chỉ dẫn của đức Phật mà phát được trí tuệ sẵn có của mình từ quá khứ đến nay, khiến lĩnh hội được lí Trung đạo. Đến đây là giai đoạn trực tiếp vào Biệt giáo hay Viên giáo thù thắng hơn (tức là giai đoạn Bị tiếp, được tiếp vào). Bị tiếp được chia làm ba loại : 1. Bị tiếp Thông: Người tu hành theo Thông giáo, khi đến kiến đạo ngộ lí không mới biết lí không mà Thông giáo nói, chẳng phải chỉ là Đản không, mà còn bao hàm cả Bất đản không của Bất không. Khi đã vượt qua lí không thì lí Trung đạo hiển bày. Khi lí Trung đạo độc lập đối với Không, Giả mà được hiểu là Đãn trung (chỉ là Trung đạo), thì tức là tiến vào Biệt giáo (Biệt tiếp Thông). 2. Viên tiếp Thông: Nếu Không, Giả viên dung tương tức thì lí Trung đạo ở đây được lí giải là Bất đãn trung (không chỉ là Trung) thì liền tiến vào Viên giáo (Viên tiếp Thông). 3. Viên tiếp Biệt: Người tu hành Biệt giáo từ Sơ địa trở lên, do đã đoạn diệt vô minh, hiểu rõ lí Trung đạo thì hoàn toàn nhất trí với cảnh giới giác ngộ của Viên giáo, cho nên không cần phải tiến vào (Bị tiếp) nữa. Bồ tát Địa tiền nếu hiểu lí Trung đạo từ lí Đãn trung tiến vào lí Bất đãn trung, thì tức là tiến vào Viên giáo. Sau khi tiến vào (bị tiếp) giai vị Thập hồi hướng của Biệt giáo, Thập tín của Viên giáo, vì hành giả chỉ mới biết được lí Trung đạo, chứ chưa dứt hết vô minh, cho nên gọi là Tự vị bị tiếp giáo, vì đã ngộ lí Trung đạo, dứt sạch vô minh, nên gọi là Chân vị bị tiếp hoặc Thắng tiến tiếp. [X. Ma ha chỉ quán Q.6 phần dưới; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 phần dưới; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].
bị tràn ngập
To be pervaded.
bị vị
Vật trải ra để tọa thiền—Covered seat for meditation.
; (被位) Bị là bị đơn, miên đơn, hàm ý là tấm nệm hoặc chiếc chiếu dùng để nằm ngủ hay ngồi Thiền, bởi thế, trong nhà Tăng của Thiền tông, mỗi người trong đại chúng đều có chỗ ngồi riêng gọi là Bị vị. Ngoài ra, chỗ ngồi lúc thụ trai, thì gọi là Bát vị. Bát là đồ dùng đựng thức ăn. Lại nữa, trong các tùng lâm, Bát vị thông thường có chia Bản thủ (người đứng đầu trong các phòng tăng), nhưng Bị vị thì không. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Tọa vị môn].
bị vỡ tan
To be burst.
bị xua tan
To be dispelled.
bị ác duyên khuấy động
Disturbed by evil environment.
bị ám ảnh
To be obsessed
bị án
Condemned.
bị đọa tam đồ trong vô lượng kiếp
Sunk (fallen) into the three evil paths for countless eons.
bị động
Passive.
bịa đặt
Bịa chuyện--To fabricate—To make up story—To forge.
bịn rịn
To be attached to.
bịn rịn gia đình
To be attached to the family.
bịnh
Trong đạo Phật, một người chưa giác ngộ là một người bệnh. Phương thức và tiến trình chữa bệnh là đi vào ước vọng đạt được đại giác—Sickness—Disease—In Buddhism, a person who is not enlightened is “ill” by definition. The healing process into the aspiration to attain enlightenment.
bịnh căn
Cause of illness.
bịnh cố chấp
Problem (disease) of grasping.
bịnh khổ
Sickness(disease/to fall ill) is suffering—Suffering of disease.
bịnh ma
Demonic disease.
bịnh nan y
Incurable disease.
bịnh nhẹ
Light (minor or small) illness or ailments.
bịnh nặng
Dreadful disease.
bịnh nội thương hiểm nghèo
Inside (inner) dreadful diseases.
bịnh sơ sài
Mild illness.
bịnh thương khí
Respiratory ailments.
bịnh thần kinh
Nervous disorder
bịnh tâm thần
Mental illness
bịnh tử
1) Bịnh và chết là những nguyên nhân tự nhiên của những biến cố xãy ra trong đời sống chúng ta. Để tránh khổ đau người Phật tử phải chấp nhận chúng trong hiểu biết—Illness and Death—Both illness and death are natural causes of events in our life. To prevent suffering, Buddhists must accept them with understanding. 2) Theo Kinh Niết Bàn, Đức Phật thương những kẻ phàm phu nặng nghiệp nhiều, cũng giống như người mẹ thương đứa con nghèo khó bệnh tật nhiều nhất: According to the Nirvana Sutra, just as a mother loves the sick child most, so Buddha loves the most wicked sinner.
bịp
To cheat—To deceive.
bịt miệng
To hold someone's mouth
bịt mũi
To hold the nose
bịt tai
To stop one's ears
bỏ
To abandon.
bỏ ngoài tai
To pay no attention to.
bỏ nhà
To desert one's home.
bỏ phí thì giờ
To waste one's time.
bỏ quên
To leave behind—To forget.
bỏ ra
To eliminate.
bỏ rơi
To abandon—To desert—To drop—To foresake.
bỏ sót
To omit—To miss out—To leave out—To drop out.
bỏ tù
To imprison—To incarcerate—To put someone in prison.
bỏ đạo
To abandon one's religion.
bỏ đạo phật
To abandon the Buddhist order.
bỏn xẻn
Avaricious—Stingy—Stinginess.
bố
1) Vải: Cloth. 2) Phân bố: To spread. 3) Lo sợ: Uttras or Santras (skt)—Fear—Afraid.
bố bào
(布袍) Áo pháp của giới tăng sĩ Phật giáo Nhật bản mặc; áo này do sửa đổi đạo phục mà thành. Áo mầu đen, ống tay áo hẹp, phía dưới cửa tay áo và hai bên nách có dây cột (tết nút). Mùa đông có thể dùng vải dày, mùa hè thì dùng lụa và the để may.
bố giáo
Truyền bá giáo pháp ra ngoài—To publish—To spread abroad the doctrine.
; (布教) Đem giáo pháp nói cho người nghe. Cùng nghĩa với các tiếng Hoằng giáo, Tuyên giáo, Truyền giáo. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 phần trên (Đại 33, 800 trung, 812 hạ), nói : Như lai bắt đầu bố giáo (...) Thánh nhân bố giáo, đều có người theo về, nhưng các nhà phán giáo thì chẳng phải một. Như vậy, người ta có thể thấy từ ngữ bố giáo vốn chỉ cho việc Phật và Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Đến đời sau, dần dần chỉ cho người vào đạo Phật đã lâu rồi chuyển sang dắt dẫn người khác, hoặc chuyên về việc học tập nghiên cứu kinh điển để giảng đạo nói pháp. Ngược dòng lịch sử, ngay khi chấm dứt mùa an cư của năm đầu tiên sau đức Phật thành đạo, đã có 60 vị đệ tử Phật đi đến các nơi để truyền bá giáo pháp. Sau đức Phật nhập diệt, các bậc đại đức phần nhiều cũng khuyến khích người tu hành đi đến các nơi xa xôi để truyền đạo. Như vào thế kỉ III trước Tây lịch, sau khi Đại hội kết tập lần thứ ba bế mạc, vua A dục liền phái các vị Trưởng lão đến những nước gần biên giới truyền bá giáo pháp: phía bắc đến nước Ca thấp di la, Kiện đà la, phía nam đến châu Sư tử (nước Tích lan), phía tây đến miền Trung á, phía đông đến nước Kim địa thuộc Nam bộ Miến điện. Phật giáo truyền đến Trung quốc vào hai thời Tây Hán, Đông Hán, ban đầu lấy Trường an, Lạc dương làm trung tâm, lưu hành ở một giải lưu vực sông Hoàng, thời Tam quốc truyền đến kinh đô Kiến nghiệp (Nam kinh) ven bờ Trường giang. Thời kì này đã có rất nhiều vị tăng người Trung quốc mạo hiểm đến Tây vực, Ấn độ, như các ngài Chu sĩ hành, Pháp hiển v.v... Năm Hàm an thứ 2 (372) vua Phù kiên phái ngài Thuận đạo đến nước Cao cú li hoằng pháp, dần dà Phật giáo đã truyền bá đến Tân la, Bách tế, để rồi khoảng 200 năm sau thì truyền đến Nhật bản. Hoặc có thuyết nói vào năm Đại minh thứ 5 (461) có năm vị sa môn người nước Kế tân đến nước Phù tang truyền bá Phật pháp. Phật giáo được truyền đến các nước phương đông qua con đường buôn tơ lụa của Trung quốc, rồi các nước phương tây dần dần Phật pháp cũng được truyền bá đến, sớm nhất là các nước Anh, Pháp, kế đó là Thụy sĩ, Hà lan, Bỉ, Nga, Mĩ v.v…... Ở thế kỉ XX, các vị cao tăng đại đức, như ngài tỉ khưu A nan đà của Miến điện, tỉ khưu Kim cương trí và cư sĩ Đạt ma ba la của Tích lan đã lần lượt đưa Phật pháp truyền vào các nước Anh. Năm 1929, ngài Thái hư của Trung quốc đã sáng lập hội Phật giáo Ba lê ở nước Pháp, rồi sang Mĩ quốc hoằng pháp. Năm 1939, hội phát hành nguyệt san Tư tưởng Phật giáo bằng Pháp văn... [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.36; Âu Mĩ Phật giáo chi phát triển (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san)]. (xt. Mĩ Quốc Phật Giáo, Âu Mĩ Phật Giáo).
bố giáo sư
(布教師) Cũng gọi thuyết giáo sư. Chỉ cho người đảm nhiệm việc truyền bá Phật giáo, như giảng kinh, nói pháp, giảng đạo, diễn thuyết v.v... Cũng gọi tuần giáo sư, truyền giáo sư.
Bố giáo 布敎
[ja] フキョウ fukyō ||| Teaching; missionary activities. => Giáo hoá, truyền giáo.
bố hàm
Pusan (S)Nghĩa: Nuôi dưỡng vạn vật.
bố lỗ ba
See Bố Lỗ Bà Bì Đề Ha.
bố lỗ bà bì đề ha
Purva-Videha or Videha (skt)—Một trong những đại châu ở về phía đông núi Tu Di—One of the great continents east of Sumeru.
bố lỗ na bạt đà la
Purnabhadra (skt)—Một trong tám tên tướng của Dạ Xoa—One of the eight yaksa generals.
; (布嚕那跋陀羅) Phạm: Pùrịabhadra#. Là quyến thuộc của trời Tì sa môn, một trong tám đại tướng dạ xoa. Cũng là một trong 16 vị Đại hộ (thần Dạ xoa) giữ gìn Phật pháp và đất nước được ghi trong các kinh và nghi quĩ của Mật giáo. Dịch ý là Mãn hiền, Mãn hiền đại tướng. Trong mạn đồ la do A xà lê truyền, trời Cát tường công đức ngồi ở mé tây của trời Tì sa môn, kế đó là vị tôn này, hai tay cầm cung và tên. Cứ theo kinh Thánh ca ni phẫn nộ nghi quĩ quyển trung chép, nếu mỗi ngày lấy 8000 hoa tô ma na đốt ở trước tượng đại tướng Mãn hiền suốt trong sáu tháng, thì có thể được 1000 quan tiền vàng. [X. kinh Tô bà hô Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5].
bố lộ sa
Purusa (skt)—Bố Lỗ Sa—Bổ Lô Sa—Người—Trượng phu—Sĩ phu—Man—Mankind—A Man—Man as Narayana the soul and origin of the universe—The soul—Supreme being.
bố lộ sa bố la
(布路沙布邏) Phạm: Puruwapura. Kinh đô của nước Kiện đà la ở bắc Ấn độ, nay là thị trấn Bạch hạ ngõa (Peshàwar) ở mạn tây bắc. Trong truyện Cao tăng Pháp hiển, Bố lộ sa bố la được gọi là Phất lâu sa quốc, dịch ý là nước Trượng phu. Thuở xưa, nước này nổi tiếng ở đời là nhờ có chiếc bát của đức Phật, tòa tháp lớn của vua Ca nị sắc ca và cây Ti bát la. Vào thời Đông Tấn, khi ngài Pháp hiển đến nước này gặp lúc Phật giáo đang thịnh, có hơn bảy trăm vị tăng giữ gìn chiếc bát của Phật, Đại tháp của vua Ca nị sắc ca cao hơn 40 trượng, tháp miếu nguy nga tráng lệ, đất nước phồn vinh. Nhưng đến Đại tướng Mãn Hiền đời Đường, khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, thì nơi này đã trở thành cảnh tượng hoang phế. [X. Đại đường tây vực kí Q.2].
bố lợi ca
Purika (skt)—Một loại bánh—A kind of cake.
; (布利迦) Phạm: Pùrikà. Dịch ý là bánh. Đại nhật kính sớ quyển 7 (Đại 39,658 hạ) nói : Bố lợi ca, Hán dịch là bánh dẻo, làm bằng các chất liệu ngon nhất.
bố ma
Làm cho ma quỷ sợ hãi, một từ dùng để gọi Tỳ Kheo—To terrorize the demons or Scare-demon, a term used to call Bhiksu.
; (怖魔) Làm cho ma sợ. Dịch ý từ tiếng Phạm bhikwu(tỉ khưu). Vì các tỉ khưu chắc chắn được vào Niết bàn, làm cho vua ma và dân ma sợ hãi, nên gọi là Bố ma. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25,80 thượng), nói: Tỉ gọi là bố; khưu gọi là năng, nghĩa là tỉ khưu là người cạo tóc xuất gia, mặc áo nhuộm, nhận tịnh giới, có khả năng làm cho vua ma và dân ma sợ hãi. Tại sao phải sợ? Vua ma nói: Người ấy ắt được vào Niết bàn. [X. Pháp hoa nghĩa sớ (Cát tụng) Q.1]. (xt. Tỉ khưu).
Bố ma 怖魔
[ja] フマ fuma ||| To frighten demons. A Chinese translation for bhikṣu 比丘 (biqiu). (HPC 7.22a20) => Làm cho ma khiếp sợ. Hán dịch chữ Tỷ-khưu (比丘c: biqiu; s: bhikṣu).
bố mao thị giả
(布毛侍者) Người hầu lông vải. Vị tăng thuộc tông Ngưu đầu đời Đường. Sư người Hàng châu, họ Ngô, tên Nguyên khanh, pháp danh Hội thông. Thời vua Đức tông nhà Đường, sư giữ chức Lục cung sứ. Khoảng năm Nguyên hòa (806-820) sư xin từ quan để xuất gia và theo thiền sư Điểu khòa ở chùa Chiêu hiền tại Hàng châu. Một hôm sư xin đi nơi khác, ngài Điểu khòa hỏi (Đại 51, 230 trung): Nay ông định đi đến đâu? Sư đáp: Hội thông này vì pháp xuất gia mà Hòa thượng chẳng rủ lòng thương dạy bảo, nên nay đến các nơi khác để học Phật pháp. Thiền sư Điểu khòa nói: Tưởng là gì, chứ nếu để học Phật pháp thì ở đây ta cũng có chút ít. Sư Hội thông hỏi: Vậy Phật pháp của Hòa thượng như thế nào? Ngài Điểu khòa cầm lấy sợi lông vải (bố mao) trên áo của ngài rồi giơ lên mà thổi. Sư Hội thông liền ngay đó ngộ được ý chỉ sâu sa mầu nhiệm. Vì cơ duyên này mà người thời bấy giờ gọi sư là Bố mao thị giả. Sư sinh và tịch năm nào không rõ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15].
bố như điểu phạt da
Punyopaya (skt)—Na Đề—Nadi (skt)—Một vị sư miền Trung Ấn, được kể lại như là vị đã mang sang Trung Hoa 1.500 kinh sách Đại và Tiểu Thừa vào khoảng năm 655 sau Tây Lịch. Đến năm 656 ông được gửi sang đảo Côn Lôn trong biển Nam Hải (có lẽ là Côn Sơn của Việt Nam) để tìm một loại thuốc lạ—A monk of central India, said to have brought over 1,500 texts of the Mahayana and Hinayana schools to China 655 AD. In 656 AD he was sent to Pulo Condore Island in the China Sea for some strange medicine.
bố nặc phu
(布諾夫) Burnouf, Eugène (1801-1852). Học giả Đông phương học và ngôn ngữ học người Pháp. Năm 1826, ông và nhà Ấn độ học người Đức tên là Christian Lassen cùng công bố luận văn TiếngPàli (tức luận văn nghiên cứu về Thánh điển ngữ có liên quan đến bán đảo bờ bên kia sông Hằng) rất được giới học thuật châu Âu coi trọng. Năm 1832, ông nhận dạy tiếng Phạm ở Học viện Cao đẳng giáo dục của nước Pháp (CollègedeFrance). Ông thông hiểu tiếng Ba tư cổ đại, tiếng Phạm, tiếngPàlivà rất có uy tin trong ngành So sánh ngôn ngữ học Ấn Âu. Về phương diện nghiên cứu nguyên điển Phật giáo bằng tiếng Phạm, ông đã có những cống hiến rất lớn. Ông có nhiều học trò ưu tú, đặc biệt nổi bật trong lãnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học, đã một thời gây thành phong trào để rồi dần dần hình thành nền tảng cho phái Phật giáo nước Pháp (Ecole francaise de bouddhologie). Ông là người đi đầu trong việc giải thích văn tự cổ hình cái nêm, dịch và chú giải kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương (Phạm: Kàraịđa-vyùha), nghiên cứu tháp A phàm sĩ (Avesta) và nghiên cứu văn học Phú lan na (Phạm: Bhàgavata-puràịa) của Ấn độ. Trong tác phẩm Introduction à l’histoire du Bouddhisme Indien (Giới thiệu lịch sử Phật giáo Ấn độ), ông đã giới thiệu tóm tắt nội dung của các kinh điển Đại thừa như: Bát nhã, Lăng già, Hoa nghiêm, Kim quang minh, Pháp hoa v.v... Đối với Phật truyện và sự thuyết minh giáo lí Phật giáo mà nói, thì tác phẩm này của ông chứa nhiều ý nghĩa mới của thời đại; ngoài ra, nó cũng xác lập nền tảng cho việc nghiên cứu nền Phật giáo tiếng Phạm. Năm 1837, học giả Đông phương học người Anh là B. H. Hodgson, vì tán thưởng tài học của Burnouf mà đem hơn 170 bản văn Phạm cổ viết tay rất quí giá tặng cho nước Pháp. Năm 1852, Burnouf xuất bản Lotus de la bonne loi là bản dịch tiếng Pháp của kinh Pháp hoa. Do văn dịch nghiêm trang thận trọng mà dịch phẩm này trở thành khuôn phép cho đời sau, khi dịch tiếng Phạm ra các thứ tiếng phương tây. Ông còn có những tác phẩm khác như : Essai sur le Pàli,1826, Commentaire sur leYazna, 1833-1834, Etudes sur la laugue et les textes Zends, 1840-1850, Bhagavat Puràịa,3 vol, 1840-1844 v.v... Ông cũng sáng lập Pháp quốc Á châu hiệp hội.
bố nễ a hạt
(布你阿喝) Phạm: Pùti-agada.Dịch ý là thuốc rữa nát, tức là thuốc bỏ đi, thuốc làm bằng vật mục nát người ta đã vứt đi. Là một trong bốn thứ cần dùng(tứ y) của tỉ khưu. Tứ phần luật khai tông kí quyển 7 phần đầu (Van tục 67, 10 hạ), nói : Bố nễ a hát (Hán dịch: Hủ lạn thực dược) tức là thuốc được làm từ những vật bỏ đi. (xt. Trần Khí Dược).
bố sắc yết la phạt để
(布色羯邏伐底) Phạm: Puwkaràvatì. Là cố đô của nước Kiện đà la thuộc bắc Ấn độ xưa. Gọi tắt là Phất ca la thành. Thành này nằm về mạn đông bắc thành Bố lộ sa bố la (thị trấn Bạch hạ ngõa hiện nay), ngày xưa sử gia Hi lạp gọi là Peukalaotis. Vào thế kỉ IV trước Tây lịch, khi Á lịch sơn đại đế (Alexander the Great) đánh sang phía đông, thành này là một đô thị lớn phồn hoa giầu thịnh và đã bị tướng Astes của Đại đế đánh chiếm. Vào thế kỉ V Tây lịch, ngài Pháp hiển có đến đây. Theo truyền thuyết, thành này là nơi cai trị của con vua A dục là Pháp ích. Trong một kiếp quá khứ, khi tu hạnh Bồ tát, tiền thân đức Phật đã từng bố thí mắt ở nước này và ở chỗ ấy cũng có một tòa tháp lớn trang sức bằng vàng bạc để đánh dấu. Dân chúng nước này phần đông học Tiểu thừa. Về sau, vào đời Đường, khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, thì thành này đã được dời về Bố lộ sa bố la, nhưng dân chúng vẫn còn đông đúc, nhà cửa san sát. Ngoài cửa thành phía tây có một đền thờ trời, phía bắc có một ngôi chùa, bên cạnh chùa có tháp, chính là nơi xưa kia đức Thích tôn đã bố thí mắt lúc tu hạnh Bồ tát. Ngoài ra, phía đông thành còn có một tòa tháp do vua A dục xây dựng để đánh dấu nơi bốn đức Phật quá khứ nói pháp. Trong thành này cũng có những di tích của các luận sư Thế hữu, Pháp cứu v.v... [X. Cao tăng pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.2].
bố sứ
Pausa (skt)—The tenth month in India. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.
bố sử nguyệt
(布史月) Tháng Bố sử. Bố sử, Phạm: Pauwa. Cũng gọi Báo sa nguyệt, Phú sa nguyệt, Bảo sa nguyệt. Dịch ý: Quỉ tú nguyệt (tháng sao quỉ), Trọng đông nguyệt (tháng thứ 2 trong mùa đông), Quỉ nguyệt (tháng quỉ). Chỉ cho tháng 10 của lịch Ấn độ. Mặt trăng trong tháng này từ khi mới tròn cho đến lúc gặp tiết sao Quỉ mới lại thấy tròn nữa, tức tương đương từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11 theo lịch Tàu. Từ nửa tháng trước cộng với một nửa tháng sau là đúng một tháng, nên gọi là Quỉ nguyệt. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 876 thượng), nói : Ba tháng đông là: tháng Báo sa, tháng Ma khư và tháng Phả lặc lũ noa, chính là từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng. [X. kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.41; luận Đại tì bà sa Q.136].
Bố thí
布施; S, P: dāna;|Hành động hiến tặng vật chất, năng lực hoặc trí huệ cho người khác, được xem là hạnh quan trọng nhất trong Phật pháp. Bố thí là một trong sáu hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ), một trong mười Tuỳ niệm (p: anussati) và là một đức hạnh quan trọng để nuôi dưỡng Công đức (s: puṇya). |Trong Tiểu thừa, bố thí được xem là phương tiện để đối trị tính tham ái, ích kỉ và được thực hành để tránh khổ đau của đời sau. Theo Ðại thừa, bố thí là biểu hiện của lòng Từ bi và là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh đến giác ngộ. Hành động bố thí thức ăn cho các vị Khất sĩ hiện nay vẫn còn phổ biến tại các nước theo Phật pháp Nam truyền. Phật tử tại các nước này cúng tặng tiền bạc và phẩm vật cho chùa chiền và tăng sĩ, ngược lại các vị tỉ-khâu »bố thí« Phật pháp, hướng dẫn tu học. Hành động này cũng được xem là để nuôi dưỡng phúc đức.
bố thí
Dadāna (S), Dānaṁ (P), Dāna (P), Giving, Almsgiving(S, P)Đàn na, Thí, Cúng dườngBố thí, cúng dường, phát chẩn.Chỉ dùng làm tiếp vĩ ngữ trong tù kép.
; Dàna (S). Almsgiving. The three kinds of dàna are goods, the doctrine, and courage or fearlessness. Gift, giving, bestowing.
; Dana (skt). (I) Nghĩa của Bố Thí—The meanings of Dana: 1) Theo từ Hán Việt, Bố có nghĩa là rộng lớn hay không có giới hạn, Thí có nghĩa là cho. Bố Thí là cho một cách rộng lớn, cho không giới hạn—According to Vietnamese-Chinese terms, Bố means wide or unlimited, Thí means giving. Bố Thí means to give without any limits. 2) Đàn Na—To give alms—Alms (money, food, clothes offered to the poor)—Generosity—Charity—To bestow—Bố thí thực phẩm hay pháp giáo, đưa đến lợi lạc cho đời nầy và đời sau trong kiếp lai sanh, xao lãng hay từ chối không bố thí sẽ có hậu quả ngược lại. Đức Phật dạy: “Tham lam chính là đầu mối của các sự khổ đau trong vòng luân hồi sanh tử. Vì hễ có tham là có chấp giữ; có chấp giữ là còn bị trói buộc; còn bị trói buộc tức là chưa giải thoát; chưa giải thoát tức là còn luân hồi sanh tử; còn luân hồi là còn làm chúng sanh; còn làm chúng sanh là còn tiếp tục chịu các cảnh khổ đau phiền não.” Vì thấy các mối nguy hại của tham lam, nên Đức Phật đã nhấn mạnh với chúng sanh về pháp môn bố thí—Almsgiving of food or doctrine, with resultant benefits now and also hereafter in the form of reincarnation, as neglect or refusal will produce the opposite consequences. The Buddha taught: “Greed is the origin of various pains and sufferings in the cycle of births and deaths. For if there is greed, there is attachment; if there is attachment, there is bondage; if there is bondage, there is the cylcle of briths and deaths; if there is a cycle of rebirths, one is still a sentient being; if one is still a sentient being, there are still pains, sufferings, and afflictions.” Realizing the calamities from greediness, the Buddha emphasized a dharma door of generosity. 3) Trong phần giảng giải Kinh Bát Đại Nhân Giác, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã giải thích về “Bố Thí” như sau: Bố Thí là cho ra đồng đều, có nghĩa là làm san bằng sự chênh lệnh giàu nghèo. Bất cứ hành động nào khiến cho tha nhân bớt khổ và thực thi công bằng xã hội đều được xem là “Bố Thí.”—In the explanation of the Sutra on The Eight Realizations of the Great Beings, Zen Master Thích Nhất Hạnh explained “Practicing Generosity” as follow: 'Practicing generosity means to act in a way that will help equalize the difference between the wealthy and the impoverished. Whatever we do to ease others' suffering and create social justice can be considered praticing generosity. 4) Một trong lục Ba La Mật: One of the six paramitas—Bố Thí là hạnh tu đầu của sáu phép Ba La Mật. Ba La Mật có nghĩa là đưa người sang bờ bên kia, tức là bờ giải thoát; giải thoát khỏi bệnh tật, nghèo đói, vô minh, phiền não, sanh tử—Practicing generosity is the first of the six paramitas. Paramita means to help others reach the other shore, the shore of liberation from sickness, poverty, hunger, ignorance, desires and passions, and birth and death. 5) Người tu theo Phật phải nên biết hai chữ “Bố thí” và “Cúng dường” cũng đồng một nghĩa—Buddhists should know that both concepts of “giving to charity” and “making offerings” mean the same thing: - Ở nơi chúng sanh thì gọi là “Bố thí.”—With regard to sentient beings, this act is called “Giving.” - Ở nơi cha mẹ, cùng các bậc thầy tổ và chư Thánh nhân thì gọi là cúng dường—With regard to parents, religious teachers, Patriarchs, and other enlightened beings, this act is called “Making offerings.” (II) Chúng sanh Bố Thí—Sentient Beings Giving: Có hai loại chúng sanh bố thí—There are two types: 1) Thí Chủ Hay người cho—The benefactor: Người có tâm thanh tịnh, từ bi, đem của cải, tiền bạc, vân vân, của mình ra mà phân phát cho các kẻ thọ lãnh—This is an individual who has peace, purity, and compassion, and uses his or her wealth of possessions and money to distribute and give to beneficiaries. 2) Người nhận—Receiver: Tức là người nhận của cải, tiền bạc từ nơi thí chủ—The individual who receives the possessions or money from the benefactors. (I) Các loại Bố Thí—Categories of Dana: 1) See Nhị Bố Thí. 2) See Tam Bố Thí. 3) See Tứ Bố Thí. 4) See Ngũ Bố Thí. 5) See Thất Bố Thí. 6) See Bát Bố Thí. 7) Đại Bố Thí: Great giving—Đại bố thí tức là sự bố thí mà thí chủ sẽ có những phước báo lớn trong kiếp nầy hay kiếp tới. Có mười ba loại đại bố thí—This is the giving that will bring the benefactors great meritorious retributions in this life and next life. There are thirteen kinds of great giving. a) Bố thí đúng thời đúng lúc. Nghĩa là kẻ thọ thí đang lúc rất cần khổ và quẩn bách mà mình kịp thời giúp đở: Give at the right time and moment. This means to give with perfect timing when someone is in desperate need. b) Bố thí cho người hành chánh đạo, hay những vị đang giảng dạy Phật pháp, các bậc xuất gia tu hành chân chánh: Give to those who cultivate the proper path. This means to give to those who are on the path of enlightenment in Buddhism, which is to give to ordained Buddhists whose cultivated conducts are true and consistent with the Buddha's teaching. c) Bố thí cho người bệnh và người trị bệnh: Give to the ill and the healer. d) Bố thí cho người giảng thuyết chánh pháp của Phật, tức là những bậc tu hành giảng giải kinh điển, hoằng dương Phật pháp: Give to those who speak and elucidate the proper dharma of Buddhism, i.e., Dharma Masters who teach the sutras and propagate the Buddha Dharma. e) Bố thí cho người sắp sửa đi xa: Give to those who are about to go on a long journey. f) Bố thí cho quốc vương bị mất ngôi đang trên đường bôn tẩu và bị khổ ách của kẻ thù: To give to a king who has lost the throne and is searching for safety to evade the enemy. g) Bố thí cho gnười bị quan quyền bức bách, không có nơi nương tựa: Give to those who are helpless against authority. h) Bố thí cho người tật bệnh, đau khổ, hành hạ thân xác: Give to those who are handicapped, those enduring pain, suffering, and torture. i) Bố thí cho chư Tăng Ni đủ đầy giới đức, đúng lúc đúng thời: Give to Bhiksus and Bhiksunis who maintain their virtuous precepts, at the right time and moment. j) Bố thí cho người tu cầu trí huệ, như những vị tu hành nghèo khổ, thanh tịnh nơi chốn núi rừng để cầu trí huệ giải thoát, chớ không phải những kẻ tu hành giàu sang ở thành thị, có đầy đủ chùa tháp đồ sộ, kinh dinh: Give to those who cultivate for wisdom, i.e., those who practice mendicant conducts, having peace and purity in the isolated mountains and forests, praying to attain wisdom of enlightenment. Thus, there are not people who cultivate in luxury and wealth in great cities who enjoy all modern conveniences. k) Bố thí cho các loài súc sanh, như loài chim, cá, vân vân: Give to various animals, i.e., birds, fish, etc. l) Khuyên người khác bố thí, hoặc tùy hỷ nơi người bố thí cùng các việc bố thí. Tức là tự mình vì nghèo khổ nên không thể bố thí, nhưng khi thấy người khác làm việc bố thí thì mình vui mừng khen ngợi và tán đồng. Đức Phật gọi đây là “Tùy Hỷ Công Đức.” Việc tùy hỷ nầy rất ư là quan trọng, vì có lắm kẻ không bố thí, nhưng cảm thấy khó chịu khi thấy người khác bố thí. Người Phật tử nên cẩn trọng tránh tánh tự kỷ nhỏ nhen nầy: Encourage others to give or rejoice in seeing others give. This means if one is unable to give because one has no means or ability to give, yet when seeing others give, one is able to rejoice and be happy for the giver by prasing that person. The Buddha called this “Rejoice in others virtues and merits.” This is important because sometimes when people cannot give but seeing others give makes them extremely uneasy. As Buddhists, it is important to avoid this selfish nature. m) Bỏ mạng ra để thế mạng cho người: Sacrifice one's life to save another person's life. 8) Vô thượng Bố thí—Boundless Giving: Loại bố thí mà thí chủ có được phước báo lớn lao không thể nghĩ bàn được. Có năm loại vô thượng bố thí—This type of giving will bring the benefactors infinite and endless meritorious retributions. There are five categories. a) Bố thí hay cúng dường ở nơi Đức Phật: Give to the Buddha. b) Bố thí hay cúng dường ở nơi chúng Tăng Ni: Give to the Sangha, or community of ordained Buddhist monks or nuns. c) Bố thí ở nơi người thuyết giảng chánh pháp: Give to those who speak and eludicate the Proper Dharma. d) Bố thí hay cúng dường ở nơi cha: Give to one's father. e) Bố thí hay cúng dường ở nơi mẹ: Give to one's mother. 9) See Thập Nhị Chơn Thật Hảo Tâm Bố Thí Nhơn. 10) See Ngũ Giả Danh Hảo Tâm Bố Thí Nhơn. (II) Tại sao chúng ta nên thực hành hạnh bố thí?—Why should we practice Giving?—Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gửi Người Học Phật, có 14 điều khiến chúng ta nên bố thí—According to Venerable Thích Hải Quang in Letters to Buddhist Followers, there are fourteen reasons for us to practice Giving. 1) Của đem bố thí cho người rồi mới chính là của ta, chớ của còn ở trong nhà chẳng phải là của ta. Vì quả báo tốt đẹp của sự bố thí nầy sẽ đi theo mình đời đời kiếp kiếp, thế nên mới gọi là của mình. Còn của ở trong nhà thì không phải là của mình, mà nó là của năm ông chủ sau đây—Giving possessions are truly what is ours, but remaining possessions inside our homes, really not belong to us. This is true because the wholesome retributions of giving will be with us forever from life to life; therefore, they are ours. In contrast, the possessions inside our homes are not really ours, but they belong to the following five masters: - Nước lụt dâng lên cuốn trôi tất cả: Floodwater will rise to take away everything. - Lửa dữ thiêu rụi tất cả: Raging fire will burn down everything. - Thân quyến phung phí phá tán: Family and relatives waste and destroy. - Tham quan, giặc cướp và trộm cắp lấy đi tất cả: Corrupted officials, bandits and thieves will take away everything. - Tiền thuốc men cho bệnh hoạn ốm đau: Spending for medications for sicknesses. 2) Của đã bố thí thì vững chắc, còn của chưa bố thí thì chẳng vững chắc. Vì của đã bố thí rồi thì được quả báo đáp đền cho mình đời đời, chớ không mất, đúng theo luật nhân quả, tất cả những gì mình làm đều phải có đền trả, dù chúng ta có tái sanh bất cứ ở đâu và dưới bất cứ hình thức nào. Còn của chưa bố thí cũng sẽ bị năm ông chủ trên (1) phá tán lúc nào không hay: Given possessions are secured, but remaining possessions are not secured. For possessions that have been given will have their own appropriate retributions holding them for us for many lives to come without being lost. No matter where we are born in whatever life, they will always follow us, as stated in the Law of Karma, whatever you do, it will find its way back to you. Whereas, possessions that have not been given, may be taken by the above mentiond five masters in (1). 3) Của đã bố thí thì vui ngày sau, còn của chưa thí thì vui hiện tại. Nghĩa là kiếp nầy bố thí thì kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa, phước báo bố thí sẽ theo mình hoài nên luôn được giàu sang sung túc. Còn của ở trong nhà hay của chưa bố thí bất quá chỉ mang lại cho mình sự giàu sang đầy đủ , vui vẻ trong kiếp hiện tại nầy mà thôi: Given possessions are the happines of the future, but remaining possessions are only the hapines of the present. This means if we give in this lie, then in the next life or many future lives after, the meritorious retributions from giving will follow us and we will always have wealth and luxury. Whereas the remaining possessions, things that we have not given or we are not willing to give, will bring us wealth, luxury, and hapiness in the present life. 4) Của đã bố thí thì khỏi phải mất công giữ gìn còn của còn lại chúng ta phải ra công giữ gìn. Nghĩa là của bố thí đã thuộc về người khác, nên họ cần giữ gìn, chớ mình khỏi lo giữ gìn nữa. Còn của còn lại trong nhà thì chúng ta phải luôn luôn giữ gìn vì sợ mất trộm: Given possessions do not need to be safeguarded, but remaining possessions must be safeguarded. For possessions that are given will now belong to others and it is up to them to safeguard their possessions, we do not have to worry about safeguarding those possessions any longer. Whereas, remaining possessions in our homes must be carefully watched because if we don't, we fear they will be taken away from us. 5) Của đã bố thí thì chúng ta khỏi phải bị tham ái trói buộc; trong khi của còn lại thì càng thêm tham ái. Nghĩa là khi đã bố thí rồi thì dứt được tham ái nơi tiền của. Của còn lại thì cứ làm cho mình càng tăng thêm tâm tham lam, luyến ái nơi chúng: Given possessions will no longer be bound by greedy desires; whereas remaining possessions will increase greed. This means if we are able to give, then we will be able to eliminate our greedy desires toward money and possessions. However, the remaining possessions will increase our greed and attachment to them. 6) Của đã thí giúp ta chẳng còn bận lòng; trong khi của còn lại sẽ làm chúng ta thêm bận lòng. Nghĩa là của đã bố thí rồi thì khỏi cần phải bận tâm lo nghĩ chi nữa, chớ của còn lại thì chúng ta cứ nghĩ nhớ tới hoài vì sợ ngày nào đó chúng ta sẽ mất chúng: Given possessions are no longer worrisome, but remaining possessions are worrisome. If possessions that are given away, it is no longer necessary for us to worry or think about them, but if they remain, here will be constant worrying that someday they will be taken way from us. 7) Của đã bố thí thì chẳng lo sợ, còn của còn lại chúng ta sẽ phải lo sợ mãi. Của đã bố thí thì chúng ta không còn lo sợ năm ông chủ cướp đọat, chớ của còn lại thì chúng ta cứ hồi hộp lo sợ chúng sẽ bị năm ông chủ ra tay cướp đoạt không biết lúc nào: Given possessions are no longer feared, but remaining posessions must be feared. If possessions are given, then there is no fear that the “five masters” will steal from us, but if they remain, they will make us fearful and anxious that the “five masters” can come and steal them away at any moment. 8) Của đã thí là cột trụ Chánh đạo, còn của còn lại là cột trụ của ma. Nghĩa là đã bố thí rồi thì sau nầy sẽ đạt được bố thí Ba La Mật, thành một vị Bồ Tát; trong khi của còn lại vì lòng keo kiết bỏn xẻn, thì kiếp sau nầy chúng ta sẽ thành ra con ma đói: Given possessions are the pillars of the Proper Path, but remaining posessions are the pillars of the devil. If we give, then one day we will attain the Giving Paramita and become a Maha-Bodhisattva; while remaining possessions due to stinginess and frugality wull result in being a hungry ghost in the next life. 9) Của đã bố thí thì vô tận, còn của còn lại thì hữu hạn. Nghĩa là khi đã bố thí rồi thì đời đời kiếp kiếp được phước điền vô tận, chớ của còn lại chỉ là hữu hạn, tức là bất quá chỉ có ở trong kiếp nầy rồi thôi, chớ kiếp sau không còn nữa: Given possessions are boundless, but remaining possessions are limited. This means possessions that are given will be the meritorious retributions for many reincarnations to come, but remaining possessions are limited and will only be available in this life, but will not be there in the next. 10) Của đã bố thí thì vui, chớ của còn thì khổ bởi phải lo giữ gìn: Given possessions will bring hapines, but remaining possessions will cause suferings because they must be safeguarded. 11) Của đã bố thí giúp chúng ta lìa gút trói, chớ của còn lại khiến ta càng thêm trói buộc. Nghĩa là khi đã đem của đi bố thí rồi thì chúng ta khỏi bị tâm tham lam trói buộc, chớ của còn lại thì mình cứ luôn luôn bị lòng tham lam của cải trói buộc hoài, đi đâu cũng đều bận tâm lo lắng: Given possessions will lead to greater freedom, but remaining possessions will lead to greater imprisonment. If we are able to give, then, though we are still bound, we have freedom to some degree, but remaining possessions will entrap us even more, so no matter where we go, we are always worrying about them. 12) Của đã thí là lộc, chớ của còn lại chẳng phải là lộc. Nghĩa là của đã bố thí là phước lộc ở kiếp nầy, qua đến kiếp sau sẽ cành được tốt đẹp hơn; chớ của còn lại không phải là phước lộc vì một ngày nào đó chúng ta sẽ tiêu sạch: Given possessions are meritorious, but remaining possessions are not meritorious because someday we will spend them all. 13) Của bố thí là sự nghiệp của bậc đại trượng phu, chớ của còn lại chẳng phải là sự nghiệp của bậc đại trượng phu. Nghĩa là người chân thật đại trượng phu mới biết bố thí, chớ kẻ ngụy đại trượng phu thì không bao giờ biết bố thí, mà trái lại cứ bo bo giữ của: Given possessions are the practices of a great gentleman, but remaining possessions are not the practices of a great gentleman. Only a person who is truly a great gentleman will know to give. While a pretender will never know to give, but will maintain and hold on to everything he or she owns. 14) Của bố thí được Phật khen ngợi, trong khi của còn lại thì được phàm phu khen ngợi. Nghĩa là người biết bố thí vì hợp được với tâm từ bi vô lượng của Phật, Bồ Tát nên được Phật và Bồ Tát khen. Còn kẻ keo kiết thì hợp với tâm phàm phu nên chỉ có phàm phu khen ngợi, chớ Phật và Bồ Tát thì chê: Given possessions are praised by the Buddha, but remaining possessions are praised by ordinary people. This means those who give accord with the minds of the Buddhas of infinite compassion, so these people are praised by the Buddhas and Bodhisattvas. Those who are selfish and stingy accord with the minds of ordinary people and will be praised by ordinary people. They wil not be praised the Budhas and Bodhisattvas. (III) Những ý tưởng khởi sanh khi có người đến cầu bố thí—Thoughts arise when there are people coming to ask for charity: Cũng theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, Đức Phật dạy hàng Phật tử Bồ Tát tại gia thực hành hạnh bố thí. Khi thấy người đến xin thí thì phải luôn phát khởi lên trong tâm những ý tưởng sau đây để tránh các sự buồn tiếc, hối hận, tức tối, hoặc khởi sanh các niệm tham sân si đối với người xin thí, mà làm giảm bớt hoặc mất đi các công đức bố thí của mình—Also according to Venerable Thích Hải Quang in the Letters to Buddhists Followers, the Buddha taught that lay Buddhists Bodhisattvas should practice the “Conduct of Giving.” When someone comes to ask for assistance, it is important to give rise to the following thoughts in order to avoid having regrets, sadness, anger, or giving rise to various thoughts of greed, hatred, and ignorance toward the receiver of charity, only to decrease or lose the virtues and merits they would have obtained from the acts of practicing charity. 1) Vì thuận theo lời Phật dạy—Following the teachings of the Buddha: Khi thấy người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải dụng tâm chơn chánh mà tưởng nghĩ rằng tất cả chư Phật mười phương ba đời do nơi thành tựu được Bố Thí Ba La Mật mà chứng đắc được đạo quả Bồ Đề Vô Thượng. Nay ta là con của Phật, nếu muốn được giải thoát hay được thành Phật, ắt phải hành theo lời Phật dạy là phải siêng năng tu tập hạnh bố thí để diệt trừ các tâm tham lam, keo kiết, vân vân, và như thế thì các việc bố thí mà ta thực hành ngày hôm nay đây chính là thuận theo lời Phật dạy—When someone needs assistance, we should use the sincere mind to think that all the Buddhas in the ten directions across the three time-spans of past, present, and future are able to attain the Ultimate Enlightenment because of their ability to fully realize the “Giving Paramita.” Now that we are Buddha's children, if we wish to attain enlightenment or to become Buddha, it is absolutely essential for us to follow the Buddha's teachings. We should practice His Teachings. We must diligently cultivate the conduct of giving in order to eliminate various mind states of greed, selfishness, and stinginess. In this way, our practice of giving of today demonstrate we are following the teachings of the Buddhas. 2) Khởi sanh ý tưởng thiện hữu tri thức—Giving rise to the thought that asking person is a good knowledgeable advisor: Khi thấy người đến cầu xin bố thí ở nơi mình thì mình phải tưởng nghĩ—When someone comes and asks for assistance, we should think: a) Từ nhiều kiếp trong quá khứ cho đến ngày nay, ta vì tham lam, keo kiết, nên chỉ biết thâu góp, tích chứa cho thật nhiều, chớ không chịu xả thí. Nếu có xả thí thì lại sanh lòng hối tiếc, sầu buồn, hoặc bố thí mà trong tâm không được hoan hỷ, thanh tịnh. Vì thế mà chúng ta cứ mãi làm một bạt địa phàm phu sanh tử, nổi trôi trong sáu nẻo luân hồi. Kiếp nầy ta như vậy, biết rồi đây kiếp kế sẽ ra sao? Của cải kiếp trước của ta bây giờ ở đâu? Còn của cải trong kiếp nầy cũng thế, bởi vì khi ta chết đi rồi thì tất cả đều bỏ lại hết chớ chẳng mang theo được thứ gì. May mắn thay, kiếp nầy nhờ ta biết đạo, biết rõ những lời Phật dạy về hạnh bố thí, vậy thì tại sao nay ta không chịu dõng mãnh thực hành để trừ bỏ cái tánh keo kiết kinh niên cố hữu nầy đi?: From many lives in the past until now, we have been unbelievably greedy and stingy; thus, gathering and accumulating as much as possible are the only things we have known, while we refuse to give and let go of anything. Or even when we did give, we still feel regrets and sadness later, or we may have given but our minds were not peaceful and joyous while giving. Therefore, we continue to remain as unenlightened mortals drifting and drowning in the six realms of the cycle of rebirths. If we are like this in this life, who knows what we will be like in the nex life! Where are all of our possessions from the former lives? It will be the same way with the possessions of this life because once we die, we must leave behind everything, as we will not be able to bring anything along with us. Fortunately, in this life, we are knowledgeable of Buddhism, we know clearly the Buddha's teachings with regard to the conducts of giving. So why should we not courageously practice what we know in order to eliminate our old selfish greedy habits? b) Nay ta vừa phát tâm muốn thực hành hạnh bố thí thì liền có người đến xin thí. Quả là điều may mắn cho ta lắm. Vì nhờ có người nầy mà: Now immediately after we have just developed our minds to carry out the conduct of giving, someone comes to ask for assistance. It is truly a good opportunity. Because owing to this person: - Chúng ta mới bỏ được lòng tham lam keo kiết đã theo ta từ quá khứ kiếp cho đến hôm nay: We are able to abandon the greed and selfishness that have followed us from the infinite past to the present. - Chúng ta mới thành tựu được tâm “Xả Bỏ” và hạnh “Bố Thí” của Thánh nhân: We are able to accomplish the mind of “Letting Go” and the giving conduct of a saintly being. - Chúng ta sẽ thành tựu được các quả vị giải thoát xuất thế trong tương lai: We will be able to accomplish the various fruits of enlightenment and liberation in the future. - Người đến xin thí nầy đích thực là thiện tri thức của ta, là ân nhân của ta, và cũng là nhơn giải thoát cho ta vậy: The person who has asked us is truly our good knowledgeable advisor, our benefactor, as well as our cause for enlightenment. - Do khởi sanh ra các ý tưởng đúng theo chánh pháp như vậy, cho nên chúng ta rất vui lòng và hân hạnh thực hành việc bố thí mà không có chút do dự hay ngại ngùng chi cả: If one is able to give rise to and hold on to these thoughts, that good charitable person will feel happy and honored from giving without having the slightest worries and regrets. 3) Khởi sanh ý tưởng đời khác giàu sang hay được phước báo của cõi Dục Giới—Giving rise to the thought of wealth and luxury in another life or attaining the meritorious retributions in the Desire World: Khi thấy có người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải tưởng nghĩ như vầy—When seeing the needy person approaching us, we should hold the following thought: a) Y theo lời Phật dạy thì tất cả các hạnh bố thí đều được quả báo tốt đẹp, hoặc ở nơi cõi người làm kẻ giàu sang hưởng phước; hoặc là sanh lên cõi trời làm thiên tử với đầy đủ thiên phước vi diệu. Nói về công đức của sự bố thí, cho dù trong tâm ta không hề khởi sanh ý tưởng là muốn cầu giàu sang sung sướng về sau nơi cõi trời người, nhưng phước báo của sự bố thí ấy nó sẽ tự nhiên đến với chúng ta: Just as the Buddha taught, all conducts of giving will result in wholesome retributions. This means one will be a wealthy person reaping merits in the human realm or will be born in Heaven to be a Heavenly Being with complete supreme blessings of the Heaven. Talking about the merits and virtues of the conduct of giving, if we practice conduct of giving, even if our minds do not give rise to the wish of being rich and wealthy in the future in Heaven or Human realms, those meritorious retributions from giving will come to us naturally. b) Kiếp hiện tại đây ta được giàu sang, bạc tiền sung túc, lên xe xuống ngựa, vân vân, đó là nhờ ở nơi kiếp trước ta đã có thực hành hạnh bố thí rồi, cho nên kiếp nầy mới được hưởng phước báo tốt đẹp như vậy: In the present life, we are wealthy, having extra money to spend on nice cars, homes, etc. because in the former life, we practiced giving. Thus, in this life we are able to reap the wholesome karmic retribution in this way. c) Nay ta cứ phóng mắt nhìn ra bên ngoài xã hội và chung quanh ta, thấy còn có rất nhiều người sống đời nghèo nàn, thiếu hụt hoặc vất vả nhọc nhằn trong kiếp tôi đòi, hèn hạ, vân vân. Ấy là vì kiếp trước họ nặng lòng xan tham, keo kiết, không bao giờ biết mở lòng bố thí, cho nên kiếp nầy mới phải bị quả báo nghèo thiếu, nhọc nhằn như vậy: If we just look to the outside world and our surrounding, it will be obvious how many people live in poverty, not having enough of anything, but must struggle to make it from day to day. It is because in their former lives, these people were consumed with greed, stinginess, and never opened their hearts to give to anyone. Consequently, in this life, they must suffer and struggle in povery as their karmic retributions. d) Chúng ta may mắn nhờ phước báo tốt đẹp nên kiếp nầy được cao sang trọng vọng, vậy thì ta càng phải nên bố thí nhiều hơn nữa, để cho—We are fortunate to be able to rely on the wholesome karma of the past enabling us to live luxurious lives; therefore, we should give more so that: - Phước lành của chúng ta ngày càng thêm tăng trưởng: The wholesome merits of the present will increase with each passing day. - Trong các kiếp vị lai về sau ta sẽ tránh thoát được các quả báo thiếu thốn, nghèo cùng: An in the future lives, we will avoid the karmic consequences of not having enoungh. - Do vì khởi sanh ra được các ý tưởng đúng pháp như vậy cho nên người thiện nhân ấy rất vui lòng và hân hạnh hành việc bố thí mà không chút do dự ngại ngùng: If one is able to hold these thoughts that are true to the Proper Dharma, the good person will feel happy and honored to give without having sadness, regrets, and resentments. 4) Vì hàng phục ma quân—In order to conquer evil: Khi có người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải tưởng nghĩ rằng bố thí để tiêu diệt hai cái tánh Tham và Xan—When someone asks us for assistance, we should think that practicing the conduct of giving will help us eliminate the two evil characteristics of greed and stinginess. 5) Với người đến xin có ý thưởng thân thuộc—Look upon those who ask for charity as family and friends: Khi có người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải có ý tưởng rằng từ quá khứ kiếp đến nay, trong sáu nẻo luân hồi, chúng sanh cứ theo hành nghiệp bản hữu mà lăn lên, lộn xuống, hằng luôn thay mặt đổi hình, có khi làm quyến thuộc lẫn nhau, nhưng đến kiếp nầy vì chuyển đời, cách ấm, bị vô minh che lấp, nên không nhận ra nhau mà thôi. Ngày hôm nay ta phát tâm bố thí đây và người đến xin thí nầy, biết đâu quá khứ họ là thân thuộc của ta, hoặc trong kiếp tương lai họ sẽ trở thành kẻ trong vòng lục thân của ta cũng không chừng. Vì nghĩ tưởng như vậy nên chúng ta vui lòng mà bố thí kgông có chút lòng hối hận, hay nuối ciếc chi cả. Đây gọi là vì tưởng thân thuộc mà bố thí: When someone asks for assistance, we should think that from infinite past till now, in the six realms in the cycle of rebirths, sentient beings continue to follow their karmic actions to go up and down constantly, changing their appearances; sometimes they are relatives and friends, but once they pass on to another life, covered by ignorance, they are no longer able to recognize one another. Today we develop the mind to give because those asking for assistance can very well be our family and friends of the past or, who knows, it is possible, in the future lives they will become a part of our immediate or extended family. Having these thoughts we should be happy to give without the slightest regrets or feel we have given in vain. 6) Với vô biên chúng sanh có ý tưởng xuất ly—In the process of endless births gives rise to the thought of liberation: Khi có người đến xin thí thì ta nghĩ rằng chư Phật hoặc chư Bồ Tát cùng với các bậc giải thoát đại thánh nhân khác sở dĩ chứng đắc được đạo quả Bồ Đề, giải thoát ra khỏi vòng sanh tử là do nơi thành tựu được hạnh Bố Thí Ba La Mật. Nhờ chứng đắc được Bố Thí Ba La Mật mà quý ngài không còn sanh tử luân hồi nữa, còn chúng ta thì nay bỏ thân nầy, rồi sanh ra nơi kiếp khác, mang thân khác, cứ như thế mà xoay chuyển trong sáu nẻo luân hồi, hết tử rồi sanh, hết sanh rồi tử, từ vô lượng vô biên kiếp xa xưa cho đến hôm nay mà vẫn không sao thoát ra được. Cho nên hôm nay chúng ta phải quyết tâm và phát nguyện sẽ hành hạnh bố thí nầy không thối chuyển; các người đến xin thí nầy đều thật là ân nhân của ta, đều là nhơn duyên lớn làm cho ta thành tựu được Bố Thí Ba La Mật về sau nầy vậy. Có như thế thì ta mới được xuất ly, được giải thoát ra khỏi vòng vô lượng vô biên kiếp đời sanh tử trong tương lai: When someone asks us for assistance, we should think that all Buddhas and Bodhisattvas, as well as other greatly enlightened sages were able to attain the Bodhi Mind and are liberated from the cycle of rebirths because they were able to attain the conduct of Giving Paramita. Owing to the fact that they have achieved the Giving Paramita, these greatly enlightened beings are able to eliminate the cycle of reincarnations. As for us, sentient beings, in the near future we will abandon this body and then we will be born with another body in another life and will continue to go up and down in the six realms of the cycle of rebirths. In this way, from infinite and endless aeons ago to the present, we have lived and died, died and lived, and yet we are still unable to free ouselves from this vicious cycle of birth and death. Therefore, in this life, we must be determined to develop the vow to practice the conduct of giving without regression. All sentient beings who come to us for assistance are our benefactors and are great opportunities for us to attain the Giving Paramita in the future. Only practicing this we will be able to attain enlightenment and find liberation from infinite and endless lives of births and deaths in the future. 7) Dùng sự bố thí với ý tưởng như là phương tiện để nhiếp thọ hết thảy chúng sanh: Using the conduct of giving as a means of assistance to all sentient beings. 8) Khởi sanh ý tưởng chứng đạo Bồ Đề—Giving rise to the thought of attaining the path of enlightenment: Khi thấy có người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải khởi tâm nghĩ tưởng như vầy—When we see a needy person approaching us, we want to hold the following thoughts: a) Trong lục độ Ba La Mật của chư đại Bồ Tát và chư Phật đã chứng đắc thì Bố Thí Ba La Mật là độ đứng đầu hết thảy. Sở dĩ quý ngài thành tựu được Bố Thí Độ nầy là nhờ quý ngài đã từng hành hạnh bố thí với tâm bất thối chuyển trong vô lượng vô biên kiếp đời quá khứ mà không bao giờ biết mỏi mệt, chán nản và ngưng nghỉ. Vì thế nên quý ngài mới huân tập được vô lượng vô biên phước báo thù thắng không thể nghĩ bàn, các phước báo ấy nếu như đem bố thí cho mười hai loại chúng sanh khắp mười phương thế giới trong vô lượng vô biên kiếp cũng không bao giờ cùng tận cả vì phước báo của quý ngài vốn là vô tận: Among the Six Paramita Practices attained by Maha-Bodhisattvas and the Buddhas, the giving paramitas is first. These Virtuous Beings are able to attain the Giving Paramita because they have often carried out the conducts of giving with a non-retrogression mind in infinite and innumerable kalpas in the past, but are never tired, bored, nor will they rest and stop such practices. Therefore, they are to accumulate infinite, endless, and unimaginably supreme meritorious retributions. If those who meritorious retributions were used to give to all the sentient beings in the ten directions of infinite universes for infinite and innumerable kalpas they would still have some left the meritorious blessing of the Maha-Bodhisattvas are inherently limitless. b) Vả lại, hiện nay quý ngài đã chứng đắc được các giai vị Bồ Tát trong hàng thập Thánh hay Thập Địa Bồ Tát, và đang trên đường đi đến sự thành tựu được quả vị vô thượng Bồ Đề của Phật trong tương lai, đó là nhờ quý ngài biết đem công đức của các việc bố thí kia mà hồi hướng cho chúng sanh và cầu đắc thành được Bồ Đề Phật quả: Furthermore, at the present time, they have attained the various enlighten stages of Maha-Bodidattvahood, an
; (布施) Phạm: Pàli: Dàna. Dịch âm: Đàn na, Đà na, Đàn. Cũng gọi Thí. Hoặc là dịch từ tiếng Phạmdakwiịà, dịch âm: Đạt sấn, Đại sấn, Sấn. Dịch ý là tài thí, thí tụng, sấn thí. Nghĩa là vì lòng từ bi đem phúc lợi ban cho người. Bố thí vốn là pháp mà đức Phật khuyên hàng ưu bà tắc làm theo; nghĩa chính của nó là đem những vật như cơm ăn, áo mặc cho các bậc đại đức và những người nghèo khổ. Đến thời Đại thừa thì Bố thí là một trong sáu ba la mật và, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống ra, còn thêm hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói Pháp cho người nghe) và Vô úy thí (làm cho người khác không sợ hãi) để mở rộng ý nghĩa và phạm vi bố thí. Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ v.v... cho người khác, vì người mà tích lũy công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát. Đại thừa nghĩa chương quyển 12 giải thích nghĩa bố thí như sau: Đem tài vật của mình chia xẻ cho người khác, gọi là Bố. Lòng mình lo lắng cho người, gọi là Thí. Tiểu thừa bố thí nhằm mục đích diệt trừ lòng tham lam bỏn xẻn của cá nhân để thoát khỏi sự nghèo khổ của kiếp sau, Đại thừa thì liên kết bố thí với giáo nghĩa đại từ bi nhằm siêu độ chúng sinh. Người bố thí tài vật gọi là Đàn việt (Phạm: dànapati, hàm ý chủ của sự bố thí, dịch ý là Thí chủ, Đàn na chủ, nói tắt là Đàn na). Tài vật để bố thí gọi là Sấn tư ..Sấn tài, Sấn kim, Sấn tiền, Đường sấn (ý là tài vật bố thí cho chư tăng của nhà Tăng), Biểu sấn (ý là phân chia tài vật), Tín thí (ý là tài vật do tín đồ bố thí). Bố thí là một trong sáu niệm (niệm thí), một trong bốn nhiếp pháp (Bố thí nhiếp), một trong sáu Ba la mật (Bố thí ba la mật), một trong mười ba la mật (Đàn ba la mật). Bố thí có thể khiến người ta trừ bỏ lòng tham, như bố thí những thứ áo mặc, cơm ăn cho Phật, tăng và người nghèo khổ, chắc chắn sẽ được quả báo hạnh phúc. Còn giảng nói chính pháp cho người nghe, khiến họ được công đức lợi ích, gọi là Pháp thí. Làm cho người khác thoát khỏi mọi sự sợ hãi, gọi là Vô úy thí. Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí là ba hạnh của Bồ tát thực hành, trong đó, công đức của Pháp thí lớn hơn cả. Bố thí nhằm diệt trừ lòng tham và mong cầu khai ngộ là bố thí trong sạch; ngược lại là bố thí không trong sạch. Về pháp thí, nếu nói pháp khuyên người ta cầu sinh ở cõi người cõi trời, gọi là Thế gian pháp thí. Còn giáo pháp (37 phẩm trợ đạo và 3 giải thoát môn) khuyên người thành Phật, gọi là xuất thế gian pháp thí. Ngoài ra, về sự khác nhau giữa Bố thí và Bố thí ba la mật, cứ theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 chép, thì Bố thí của Thanh văn, Duyên giác, phàm phu, ngoại đạo và Bố thí của Bồ tát ở hai a tăng kì kiếp đầu thực hành gọi là Thí; còn Bố thí của Bồ tát ở a tăng kì kiếp thứ ba thì gọi là Thí ba la mật. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 1 nói, thì Bồ tát tại gia thực hành Tài thí và Pháp thí; Bồ tát xuất gia làm bốn pháp thí: Bút thí, Mặc (mực) thí, Kinh thí, và Thuyết pháp thí. Còn Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn thì thực hành ba pháp thí: Cụ túc thí, Đại thí và Vô thượng thí. Luận Câu xá quyển 18 nêu ra tám loại bố thí: Đến đâu cho đó, cho sự can đảm, cho để đền ơn, cho cầu báo, cho vì theo thói quen của người trước, cho để cầu mong sinh cõi trời, cho để cầu danh, vì trang nghiêm tâm mà cho v.v... Cũng quyển 18 của sách đã dẫn còn nêu bảy thứ bố thí: cho người khách, cho người đi đường, cho người bệnh, cho người săn sóc bệnh nhân, cho vườn rừng, cho ăn thường, cho tùy lúc v.v... Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 12 phẩm Vô tận tạng thì nêu mười pháp bố thí: tu tập thí, tối hậu nan thí (tức cho cả thân mệnh), nội thí, ngoại thí, nội ngoại thí, nhất thiết thí, quá khứ thí, vị lai thí, hiện tại thí, và cứu kính thí v.v... Vì nội dung, thái độ và mục đích khác nhau của hành vi bố thí nói ở trên nên có những hình thức bố thí không giống nhau. Lại nữa, bản chất người cho, người nhận và vật để cho là không, không bị dính mắc, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh. [X.Trung a hàm Q.30 kinh Phúc điền; kinh Tăng nhất a hàm Q.4, Q.9. Q.20; kinh Đại bát nhã ba la mật Q.469, Q.569; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bố thí; luận Đại trí độ Q.14, Q.29; luận Du già sư địa Q.39]. (xt. Đật Sấn).
bố thí ba la mật
Dānnapāramitā (P), Perfection of Generosity Đàn na Ba la mật, Đàn Ba la mật.
; Charitable Giving-Paramita. - See Bố Thí. - Chúng ta phải bằng mọi cách giúp đở lẫn nhau. Khi bố thí, không nên ấp ủ ý tưởng đây là người cho kia là kẻ được cho, cho cái gì và cho bao nhiêu, được như vậy thì kiêu mạn và tự phụ sẽ không sanh khởi trong ta. Đây là cách bố thí vô điều kiện hay bi tâm dựa trên căn bản bình đẳng. Bố thí Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà trong từng giây phút, chúng ta làm cho chúng sanh hoan hỷ cũng như làm trang nghiêm cõi Phật; nhờ Bố thí Ba la mật mà chúng ta chỉ dạy và hướng dẫn chúng sanh lìa bỏ tánh tham lam bỏn xẻn—Paramita-charitable giving—One should help other people, as best as one can, to satisfy their needs. When giving charity, one does not cherish the thought that he is the giver, and sentient beings are the receivers, what is given and how much is given, thus, in one's mind no arrogance and self-conceit would arise. This is an unconditioned alms-giving or compassion on equlity basis—Dana paramita is also a gate of Dharma-illumination; for with it, in every instance, we cause creatures to be pleasant, we adorn the Buddhist land, and we teach and guide stingy and greedy living beings. - Có người cho rằng rằng mình chỉ có thể bố thí khi mình có nhiều tiền bạc. Điều nầy không đúng. Vài người có nhiều tiền bạc đôi khi ít chịu bố thí, hoặc giả nếu có bố thí cũng chỉ để mua danh mua lợi hay lấy lòng người xung quanh. Những người có lòng thương người lại ít khi giàu có. Tại vì sao? Trước nhất, vì họ hay có lòng chia xẻ với người những gì họ có. Thứ nhì, họ không có ý định làm giàu trên sự nghèo khó khốn cùng của kẻ khác. Chính vì vậy mà Đức Phật nhắc nhở chúng ta về pháp bố thí Ba La Mật. Bố thí Ba La Mật là cho một cách bình đẳng, không phân biệt thân sơ, bạn thù—Some people think that they can only practice generosity if they are wealthy. This is not true. Some people who are wealthy seldom practice generosity. If they do, they do with the aim of gaining fame, merit, profiting, or pleasing others. Generous and compassion people are seldom rich. Why? First of all, because they always share whatever they have with others, secondly because they are not willing to enrich their lives financially at the cost of others' poverty. Thus, the Buddha reminded us on the “Generosity-Paramita.” Generosity-Paramita means to we should consider everyone equally when we practice charitable giving, not discriminating agaisnt anyone, i.e. to give alms to relatives, and not to give alms to enemies, etc. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.
bố thí kệ
(布施偈) Bài kệ bố thí trong kinh Tâm địa quán chỉ rõ người bố trí, người nhận, vật bố thí đều là không. Cũng gọi Tam luân thanh tịnh kệ. Tam luân: người cho, người nhận, vật cho; thanh tịnh, nghĩa là không nhớ nghĩ gì về tam luân này. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 296 trung), nói: Người cho người nhận và vật cho, Ba đời không có gì để được. Chúng con an trụ tâm tốt thắng, cúng dường tất cả Phật mười phương.
bố thí li ngũ chủng pháp
(布施離五種法) Bố thí lìa năm thứ pháp. Cứ theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 5 chép, khi Bồ tát ban phát trí tuệ, nên xa lìa năm điều sau đây: 1. Chẳng lựa có đức không đức, nghĩa là khi Bồ tát bố thí, thì cho khắp cả như nhau, không lựa oán thân. Đối với người có đức sinh lòng yêu kính, đối với người không đức khởi tâm xót thương. 2. Không nói thiện ác: khi Bồ tát bố thí, đem lòng từ bình đẳng, đối với người thiện và người bất thiện, tùy chỗ họ mong cầu, đều làm lợi ích cho khắp cả. 3. Không lựa chủng tính: khi Bồ tát thực hành huệ thí không chia giòng họ, chẳng lựa sang hèn, ai cần giúp đỡ, đều ban cho hết. 4. Không khinh người xin: khi Bồ tát thực hành bố thí, thấy người đến xin, khởi tâm kính trọng, không dám coi khinh, tùy chỗ họ cần mà giúp đỡ họ. 5. Không nói lời thô tục: khi Bồ tát làm việc huệ thí, đối với người đến xin, không thốt ra những lời thô bỉ cục cằn, khiến họ tủi thân.
Bố thí nhiếp
xem Bốn pháp thâu nhiếp.
bố thí pháp
Dhammadānaṁ (P), Dharma giver.
; To preach Buddha-dharma—Nhận biết sự hiểm nguy của sanh tử nên nhắc cho người khác biết những lời Phật dạy với hy vọng cuối cùng họ sẽ hiểu và vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử—Realizing mortal danger so to preach others about Buddha's teachings with the hope that they will eventually understand and be able to escape the cycle of births and deaths.
bố thí sự dâng cúng
Balidānaṁ (S), Giving offering.
bố thí tụng
Dānagātha (S).
bố thí tứ phúc báo
(布施四福報) Bốn phúc báo của sự bố thí. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 10, nói, thì vì hình thức bố thí khác nhau nên cũng có bốn thứ phúc báo sai biệt, đó là: 1. Cho nhiều được phúc ít: cho người uống rượu, cho xem nghe múa hát, phí tổn thì nhiều mà không có phúc báo. 2. Cho ít được phúc nhiều: nghĩa là đem từ tâm, cung phụng người có đạo đức, giúp họ hăng hái học đạo, vật cho tuy ít, phúc lại càng lớn 3. Cho ít được phúc ít: với lòng bỏn xẻn và ý xấu bố thí cho kẻ ngoại đạo tà kiến, thì vật cho đã ít mà được phúc cũng ít. 4. Cho nhiều được phúc nhiều: nếu hiểu rõ thế gian là vô thường mà phát tâm dùng của cải xây dựng chùa tháp, cúng dường Tam bảo thì được phúc báo nhiều như cát sông Hằng, vật thí đã nhiều, được phúc cũng nhiều.
bố thí vô sở trụ
No Attachment in acts of charity—Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật nhắc nhở Tu Bồ Đề về Bố Thí Vô Sở Trụ như sau—According to the Diamond Sutra, the Buddha reminded Sibhuti about “acts of charity without attachment” as follows: - Ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát thực hành phép bố thí phải nên “Vô sở trụ.” Nghĩa là không nên trụ vào sắc mà làm bố thí, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm bố thí. Ông Tu Bồ Đề! Tại sao mà Bồ Tát không nên trụ vào sắc tướng mà bố thí như thế? Vì nếu Bồ Tát không trụ vào hình sắc mà bố thí, thì phúc đức đó không thể suy lường được—Subhuti ! Bodhisattvas in truth have no attachment in cts of charity. One should not attach to sight while giving. One should not attach to sound, smell, taste, touch, or conciousness in giving. Subhuti ! Bodhisattvas should give without attachment. Why ? If they do, the merits and virtues are immeasurable. - Lại nữa, ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát không trụ vào hình tướng mà bố thí, thì phúc đức đó cũng nhiều như thế, không thể suy lường được—Also, Subhuti! Bodhisattvas who give without attachment have equal amounts of merit and virtue. It is incomprehensible and immeasurable. - Ông Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ Tát còn trụ vào pháp sự tướng mà làm hạnh bố thí, thì cũng ví như người ở chỗ tối tăm, không thể trông thấy gì hết, còn nếu Bồ Tát làm hạnh bố thí mà tâm không trụ trược vào sự tướng, thì như người có con mắt sáng, lại được ánh sáng của mặt trời, trông thấy rõ cả hình sắc sự vật—Subhuti! If Bodhisattvas give with attchments, they are walking in darkness and see nothing. If Bodhisattvas give witohout attachments, they are walking under the sunand everything is clear.
bố thí đáo bỉ ngạn
Xem Bố thí ba la mật.
Bố thí độ
xem Đàn Ba-la-mật.
bố thí độ
Xem Bố thí ba la mật.
; Dàna-pàramità (S). The perfect gift. Also Bố thí ba la mật.
Bố thí 布施
[ja] フセ fuse ||| Giving, donation, charity (dāna), one of the six perfections 六波羅蜜. => Tặng phẩm. Ban tặng, lòng nhân đức (s: dāna), một trong Lục ba-la-mật六波羅蜜.
Bố Tát
(s: poṣadha, upavasatha, upoṣadha, upavāsa, p: uposatha, posatha, 布薩): âm dịch là Ưu Ba Bà Tố Đà (優波婆素陀), Ưu Bà Ta (優婆娑), Bố Tát Đà Bà (布薩陀婆), Bố Sái Tha (布灑他), Bố Sa Tha (布沙他), Ổ Ba Bà Sa (鄔波婆沙), Bô Sa Đà (逋沙陀), Bao Sái Đà (褒灑陀), Ổ Bô Sa Tha (鄔逋沙他); ý dịch là Trưởng Tịnh (長淨), Trưởng Dưỡng (長養), Tăng Trưởng (增長), Thiện Túc (善宿), Tịnh Trú (淨住), Trường Trú (長住), Cận Trú (近住), Cọng Trú (共住), Đoạn (斷), Xả (捨), Trai (齋), Đoạn Tăng Trưởng (斷增長), hay Thuyết Giới (說戒). Nghĩa là vào mỗi nữa tháng, chư vị Tỳ Kheo cùng sống chung tập trung tại một trú xứ nhất định, hoặc tại Bố Tát Đường (s: uposathāgāra, 布薩堂, còn gọi là Nhà Thuyết Giới), cung thỉnh vị Tỳ Kheo hành trì giới luật tinh chuyên thuyết giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa (s: prātimokṣa, p: pātimokkha, 波羅提木叉), để phản tỉnh, xem xét lại trong nữa tháng vừa qua bản thân có tuân thủ đúng với giới bổn hay không. Nếu có người phạm giới, thì sẽ sám hối ngay trước đại chúng, giúp cho chúng tăng có thể an trụ lâu trong tịnh giới, làm tăng trưởng thiện pháp và công đức. Nếu như hàng Phật tử tại gia, vào trong 6 ngày trai mà thọ trì Bát Quan Trai Giới (s: aṣṭāṅga-samanvāgatopavāsa, p: aṭṭhaṅga-samannāgata uposatha, aṭṭhaṅgika uposatha, 八關齋戒), cũng được gọi là Bố Tát, nghĩa là có thể làm cho tăng trưởng thiện pháp. Hình thức Bố Tát vốn phát xuất từ nguồn gốc tế lễ từ thời Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) của Ấn Độ; tức là ngày trước lễ Tế Đầu Tháng (s: darśā-māsa, 新月祭) và Tế Giữa Tháng (s: paurṇa-māsa, 滿月祭), người ta cử hành một lễ cúng tế dự bị, được gọi là Bố Tát. Chủ yếu vào ngày cúng tế này, mọi người không ăn, an trú trong giới pháp thanh tịnh, khiến cho cả thân lẫn tâm đều được trong sạch. Về sau, truyền thống này được truyền thừa đến thời đức Phật, nhóm ngoại đạo Ni Kiền Tử (s: Nirgrantha-putra, Nirgrantha-jñātaputra, p: Nigaṇtha-putta, 尼乾子) cũng thường tập trung tại một trú xứ nào đó, tác pháp hành trì 4 giới như không ăn, v.v. Đức Thế Tôn cũng cho phép Tăng chúng tiến hành pháp sự này; cho nên hình thức Bố Tát của Phật Giáo vốn căn cứ vào tập quán nói trên. Theo như sự chế định của Phật, vào dịp này chúng tăng nên tụng toàn bộ giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa; và nếu gặp các duyên nạn thì có thể tụng một phần của giới bổn cũng được. Tứ Phần Luật (四分律) quyển 58 phân Bố Tát thành 4 loại là: (1) Tam Ngữ Bố Tát (三語布薩); (2) Thanh Tịnh Bố Tát (清淨布薩), (3) Thuyết Ba La Đề Mộc Xoa Bố Tát (說波羅提木叉布薩) và (4) Tự Tứ Bố Tát (自恣布薩). Trong khi đó, Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 18 lại phân làm 5 loại khác là: (1) Tâm Niệm Khẩu Ngôn Bố Tát (心念口言布薩), (2) Hướng Tha Thuyết Tịnh Bố Tát (向他說淨布薩), (3) Quảng Lược Thuyết Giới Bố Tát (廣略說戒布薩), (4) Tự Tứ Bố Tát (自恣布薩) và (5) Hòa Hợp Bố Tát (和合布薩). Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 16 thì liệt kê 9 loại là: (1) Thập Tứ Nhật Bố Tát (十四日布薩), (2) Thập Ngũ Nhật Bố Tát (十五日布薩), (3) Hòa Hợp Bố Tát (和合布薩), (4) Tăng Bố Tát (僧布薩), (5) Chúng Bố Tát (眾布薩), (6) Nhất Nhân Bố Tát (一人布薩), (7) Thuyết Ba La Đề Mộc Xoa Bố Tát (說波羅提木叉布薩), (8) Tịnh Bố Tát (淨布薩) và (9) Sắc Bố Tát (敕布薩). Ngay như ngày Bố Tát, các kinh điển cũng nêu lên khác nhau. Như Đại Thiên Nại Lâm Kinh (大天捺林經) của Trung A Hàm (中阿含經) quyển 14, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經) quyển 16, v.v., cho rằng mỗi tháng vào 6 ngày trai giới là mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 thì tiến hành Bố Tát. Tứ Phần Luật quyển 58 thì cho rằng mồng 1, 14, 15 là những ngày Bố Tát. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 13 thì giải thích ngày mồng 1, mồng 8, 14, 16, 23, 29. Nhìn chung, mỗi tháng 3 lần Bố Tát, dần dần sinh ra quy định mỗi nữa tháng một lần. Hơn nữa, từ xưa phong trào Bố Tát và ăn chay vốn đã rất thịnh hành tại Trung Quốc, Nhật Bản cũng như Việt Nam. Trong Đại Tỳ Kheo Tam Thiên Uy Nghi (大比丘三千威儀, Taishō No. 1470) quyển Thượng có đoạn rằng: “Bố Tát giả, Tần ngôn tịnh trú, nghĩa ngôn trưởng dưỡng Tỳ Kheo hòa hợp; nhược tác bách nhất Yết Ma, nhi bất tri hòa hợp, thị danh bất tri Bố Tát (布薩者、秦言淨住、義言長養比丘和合、若作百一羯磨、而不知和合、是名不知布薩, Bố Tát, Tàu dịch là tịnh trú [an trú trong thanh tịnh], nghĩa là nuôi lớn sự hòa hợp của chúng Tỳ Kheo; nếu thực hành trăm lẽ một pháp Yết Ma mà không biết hòa hợp, có nghĩa là không biết Bố Tát).” Hay như trong Thọ Thập Thiện Giới Kinh (受十善戒經, Taishō No. 1486 ) giải thích rằng: “Kim ư tam thế chư Phật, A La Hán tiền, Hòa Thượng tăng tiền, chí thành phát lộ, Ngũ Thể đầu địa, sám hối chư tội, thị danh hành Bố Tát pháp (今於三世諸佛、阿羅漢前、和上僧前,至誠發露,五體投地,懺悔諸罪,是名行布薩法, nay đối trước ba đời chư Phật, trước A La Hán, trước Hòa Thượng tăng, chí thành bộc bạch, năm vóc gieo đất, sám hối các tội, ấy gọi là hành pháp Bố Tát).” Trong Nhập Bố Tát Đường Thuyết Kệ Văn Đẳng (入布薩堂說偈文等, Taishō No. 2852) có bài Thanh Tịnh Diệu Kệ Văn (清淨妙偈文) rằng: “Thanh tịnh như mãn nguyệt, thanh tịnh ưng Bố Tát, thân khẩu nghiệp thanh tịnh, nhĩ nãi đồng Bố Tát (清淨如滿月、清淨應布薩、身口業清淨、爾乃同布薩, trong sạch như trăng rằm, trong sạch nên Bố Tát, nghiệp thân miệng trong sạch, ngươi hãy cùng Bố Tát).”
bố tát
Poṣadha (S), Poṣatha (P), Uposatha (P), Upavasatha (P)Thể thức sám hối hàng tháng.Cử hành vào các ngày rằm và mùng một. Sư cả đọc giới luật, các sư xưng tội nếu có vi phạm trước tăng chúng và thiện nam tín nữ.
; Posadha, Upavasatha, Uposana (S). Uposatha (P). Fasting, a fast, the nurturing or renewal of vows. Buddha's monks should meet at the new and full moon and read the Pràtimoksa sùtra for their moral edification. Also Trưởng tịnh, trưởng dưỡng, trai nhật, ngày chay.
; Là dịch âm từ tiếng Phạn, nghĩa là một hình thức hội họp. Theo giới luật nhà Phật, mỗi tháng có hai kỳ Bố tát để cử hành việc tụng giới (xưa kia, việc truyền giới cũng trong ngày Bố tát). Trước khi tụng giới phải qua việc tự kiểm thảo, vị Chủ tịch lâm thời hỏi Tăng chúng: “Trong nửa tháng qua, ai có phạm giới phải đứng ra tự bạch và sám hối với chúng?” Hỏi như vậy ba lần, nếu cả chúng im lặng thì tuyên bố: “Tất cả giữ giới trong sạch”, rồi mới bắt đầu tụng giới.
; Upavasatha—posadha—Uposana (skt)—Uposatha (p)—Bố Sa Tha—Bố Sái Tha—Bao Sa Đà—Bố Tát Đà Bà—Ưu Bổ Đà Bà—Bát La Đế Đề Xá Da Mị (Pratidesaniya)—Tiếng Hán dịch là Tịnh Trụ, Thiên Trúc hay Trưởng Dưỡng. Theo phép của người xuất gia cứ nửa tháng một lần (vào ngày rằm, 29 hoặc 30), chúng Tăng Ni tập hợp thuyết giới kinh, khiến cho mọi người đều trụ trong tịnh giới và trưởng dưỡng thiện pháp. Trong khi đó người tại gia thì giữ tròn tám giới trong sáu ngày chay để đoạn trừ ác nghiệp và trưởng dưỡng thiện pháp—Fasting—A fast—The nurturing or renewal of vows by abiding in retreat for spiritual refreshment. The Buddhist monks and nuns should meet at the new, full moons, 29th and 30th to read the Pratimoksa Sutra for their moral edification. Also disciples at home should observe the fast days (1st, 15th, 29th, 30th ) and the eight commands.
; (布薩) Phạm: powadha, upavasatha, upowadha, upavàsa. Pàli: uposatha hoặc posatha. Cũng gọi Ưu ba bà tố đà, Ưu bà sa, Bố tát đà bà, Bố sái tha, Bố sa tha, U ba bà sa, Bô sa đà, Bao sái đà, Ô bô sa tha. Hán dịch: trưởng tịnh, trưởng dưỡng, tăng trưởng, thiện túc, tịnh trụ, trường trụ, cận trụ, cộng trụ, đoạn, xả, trai, đoạn tăng trưởng, hoặc gọi là thuyết giới. Nghĩa là các vị tỉ khưu ở chung, cứ mỗi nửa tháng tập họp đông đủ ở một chỗ, hoặc tụ tập ở nhà Bố tát (Phạm: uposathàgàra, tức là nhà thuyết giới), thỉnh vị tỉ khưu thông thạo giới luật nói giới bản Ba la đề mộc xoa (tức giới kinh) để xét lại những hành vi trong nửa tháng vừa qua xem có phù hợp với giới bản không, nếu có ai phạm giới thì ra trước chúng tăng xin sám hối, để các tỉ khưu đều được ở yên lâu dài trong giới thanh tịnh, nuôi lớn pháp lành, thêm nhiều công đức. Lại nữa, tín đồ tại gia, vào sáu ngày trai, nhận giữ tám giới Quan trai, cũng gọi là Bố tát, vì được tăng thêm các pháp lành. Phép Bố tát vốn bắt nguồn từ phép cúng tế trong kinh Phệ đà của Ấn độ xưa, tức là cúng tế dự bị được cử hành một ngày trước ngày cúng tế chính thức vào đầu tháng (Phạm:darza-màsa= trăng mới) và giữa tháng (Phạm:paurịa-màsa= trăng tròn) gọi là Bố tát. Vào ngày tế lễ này, người đứng làm chủ tế phải nhịn ăn, an trụ trong giới pháp thanh tịnh để thân tâm được trong sạch. Về sau, phép Bố tát được truyền đến thời đại đức Phật, ngoại đạo Ni kiền tử, vào những ngày Bố tát, vẫn hội họp ở một chỗ, nhịn ăn giữ bốn giới v.v..., đức Phật cũng cho phép tăng đoàn của Ngài thực hành pháp này, cho nên biết nghi thức Bố tát trong Phật giáo cũng đã bắt nguồn từ tập tục này mà ra. Duy có điều là, nếu y theo lời Phật dạy thì nên tụng toàn bộ Ba la đề mộc xoa, nhưng nếu như gặp các duyên như tám nạn v.v... thì chỉ tụng một phần cũng được. Bởi thế nên biết, tùy theo tình hình an nguy mà việc thuyết giới được đầy đủ hay tóm tắt có khác nhau. Luật Tứ phần quyển 58 chia Bố tát làm bốn loại: Tam ngữ bố tát, Thanh tịnh bố tát, Thuyết ba la đề mộc xoa bố tát và Tự tứ bố tát. Luật Ngũ phần quyển 18 nêu ra năm thứ: Tâm niệm khẩu ngôn, Hướng tha thuyết tịnh, Quảng lược thuyết giới, Tự tứ bố tát và Hòa hợp bố tát. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 16 nêu ra chín thứ: Bố tát ngày 14, Bố tát ngày 15, Bố tát hòa hợp, Bố tát tăng, Bố tát chúng, Bố tát một người, Bố tát thuyết Ba la đề mộc xoa, Bố tát tịnh, Bố tát sắc v.v... Còn về nhật kì của ngày Bố tát thì các kinh luật đều nói khác nhau. Trung a hàm quyển 14 kinh Đại thiên nại lâm, và kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 lấy các ngày mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tức là sáu ngày chay mỗi tháng) làm ngày Bố tát. Luật Tứ phần quyển 58 thì lấy các ngày mồng 1, 14, 15 làm ngày Bố tát. Luận Đại trí độ quyển 13 thì lấy các ngày mồng 1, 8, 14, 16, 23, 29 làm ngày Bố tát. Nói một cách tổng quát, trong nửa tháng mà thuyết giới những ba lần thì e quá phiền, nên về sau mới có qui định nửa tháng thuyết giới một lần. Ở Trung quốc và Nhật bản xưa nay phong tục bố tát và trì trai cũng lưu hành khá rộng rãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Tì ni mẫu Q.2; luật Tứ phần Q.36; luật Thập tụng Q.59; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.1; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 4; Pháp uyển châu lâm Q.88; Huyền ứng âm nghĩa Q.14]. (xt. Bố Tát Nhật).
bố tát hộ
Từ ngữ dùng gọi Bố tát Giới Trai cho người tu tại gia, vì ưu bà tắc và ưu bà di tại gia giữ tám giới mà thành Bố Tát (tại tâm thì gọi là hộ, tại thân khẩu thì gọi là giới)—A term for the lay observance of the first eight commandments on fast days, and it is used as a name for those commands.
; (布薩護) Phạm: Upavàsa-saôvara. Chỉ cho tám giới Quan trai (Cận trụ luật nghi). Đó là tám giới pháp: không giết hại, không trộm cướp v.v... mà người tại gia nhận giữ trong một ngày một đêm và luận Câu xá, luận Đại trí độ đặc biệt gọi là Bố tát hộ. Hộ là giữ cho tâm trong sạch không nghĩ ác; giới là giữ cho thân, miệng không làm ác, nói ác, bởi vậy, hộ cũng có thể được coi là tên khác của giới. Những người tại gia ưu bà tắc, ưu bà di vào sáu ngày chay mỗi tháng và các tháng thần biến (ba tháng chay trường) nhận giữ tám giới mà làm phép Bố tát, gọi là Bố tát hộ. Luận Đại trí độ quyển 13 (Đại 25, 159 trung), nói: Nhận lãnh và hành trì tám giới, đó là Bố tát. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 4 (Đại 40,34 trung), nói: Luận Câu xá gọi tám giới là Bố tát hộ, nói cho rõ là: ở tâm gọi là hộ, ở thân, miệng gọi là giới vậy. (xt. Bố Tát).
bố tát kiền độ
Xem Thuyết giới kiền độ.
; (布薩犍度) Pàli: Uposatha-khandaka. Cũng gọi Thuyết giới kiền độ, Bố tát pháp. Kiền độ có nghĩa tụ tập, chứa nhóm, tức là tập hợp những qui định về các loại hành pháp như: thụ giới, an cư v.v... của tăng, ni. Bố tát kiền độ là tên thiên, chương trong luật điển, nói rõ về phương pháp và nghi thức Bố tát, vì pháp Bố tát tập trung vào một thiên hoặc một chương để qui định, nên gọi là Bố tát kiền độ. Như vậy, Bố tát kiền độ là những qui định về nhật kì Bố tát, về việc sắp đặt nhà thuyết giới, các loại thuyết giới, tư cách người thuyết giới, sự phạm tội trong ngày thuyết giới, mối quan hệ giữa vị tỉ khưu khách và tỉ khưu trụ xứ trong cùng một chỗ thuyết giới v.v... Trong 20 kiền độ của luật Tứ phần, Bố tát kiền độ được gọi là Thuyết giới kiền độ, đây là nói về mặt tác pháp; còn nếu nói theo công năng thì gọi là Bố tát.
bố tát nhật
(布薩日) Ngày Bố tát. Theo các kinh luật, có nhiều thuyết khác nhau, như mỗi tháng 2 ngày, 3 ngày, sáu ngày v.v..., nhật kì qui định cũng không giống nhau. Đến đời sau, phần nhiều cứ nửa tháng cử hành Bố tát một lần, tức là vào 2 ngày: ngày 14 hoặc 15, và 29 hoặc 30 trong mỗi tháng. Nhưng hiện nay, thông thường các chùa viện phần nhiều không theo nhật kì Bố tát như ngày xưa đã qui định, mà mỗi tháng cử hành Bố tát vào ngày mồng 1, ngày rằm, có chùa tự chọn ngày thích hợp; cũng có chùa thỉnh thoảng hoặc hoàn toàn không cử hành. Còn các nước Tích lan, Miến điện, Nepal hiện giờ theo qui định trong Pháp điển Ma nô, cứ mỗi tuần cử hành Bố tát một lần. Tây tạng thì cử hành vào các ngày 14, 15, 29, 30 mỗi tháng. (xt. Bố Tát).
bố tát nhựt
Những ngày Bố Tát là những ngày rằm, 29 và 30 trong tháng—The fast days are the 15th, 29th, and 30th of the moon.
bố tát thực
(布薩食) Chỉ cho các thức ăn uống thanh tịnh trong các ngày chay. Tứ phần luật yết ma sớ quyển 4 phần trên (Vạn tục 64, 472 thượng), nói: Bố tát thực, nghĩa là những thức ăn uống chay tịnh.
bố tát đường
Uposathāgāra (S).
bố tự phẩm
(布字品) Tên phẩm thứ 17 trong 31 phẩm của kinh Đại nhật. Bố tự là đem các chữ chủng tử Ca, Khư bố trí ở đầu, hai tay, hai chân của mình mà thành diệu quán. Đại nhật kính nghĩa thích diễn mật sao quyển 9 (Vạn tục 37, 120 hạ), nói: Bố tự phẩm, bố nghĩa là chia bày ra, tự tức là tự môn: từ các chữ Ca, Khư đến các chữ ám, á v.v... mỗi mỗi đều là vào môn Pháp giới. Tự tức là môn, nên gọi Tự môn. Còn theo Y chủ thích thì tự là sở bố (cái được chia bày ra), bố là Năng bố (cái chia bày). Hành giả tưởng tượng đem 10 chữ chia bày ở mỗi chỗ từ dưới yết hầu lên tới hàm ếch cho đến chỏm đầu thật rõ ràng, rồi tâm thường hiện ở trước. Nếu được như thế thì hành giả có thể được gọi là thành bậc Chính đẳng chính giác, cho đến gọi là bậc Nhất thiết trí.
bố tự quán
Phép quán các mẫu tự Phạn của tông phái Chân Ngôn, bằng cách viết chữ “a” hoặc các chữ khác lên thân thể hành giả—A Shingon meditation on the Sanskrit letter “a” and others, wrtten on the devotee's own body.
; (布字觀) Cũng gọi Bố tự nghiêm thân quán. Trong phép quán Mật giáo, dùng chữ (a) để ở chỗ trái tim hoặc ở đầu và tay chân mà quán tưởng nghĩa chữ A để gia trì tự thân, phép quán này gọi là Bố tự quán. Nếu đem chữ Pháp thân bố trí nơi chi phần thì tự thân tức là Phật. Các phép quán như: Ngũ tự nghiêm thân, Thập cửu bố tự, Bách quang biến chiếu, Tam bộ tứ xứ luân v.v... đều là Bố tự quán. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 755 trung), nói: Đem chữ A đặt ở chỗ trái tim của hành giả. (…...) Trái tim là chủ của tất cả chi phần (đầu, mình, chân, tay v.v...), chữ A cũng thế, là chủ của tất cả chân ngôn. Khi bố trí chữ A rồi thì bố trí những chữ còn lại ở tất cả các chi phần, như nói ở phẩm dưới (chỉ cho phẩm Bố tự). Đại nhật kinh sớ quyển 17 còn nói thêm về phép quán này, bảo rằng, trước hết hành giả quán tưởng trái tim của mình giống hoa sen nở tám cánh, lại quán tưởng trên hoa sen tim có chữ A, rồi nhờ sự tròn sáng rực rỡ của chữ A này đem tâm nhiễm dục của hành giả hòa nhập vào với tâm trí tuệ chân thực, biểu thị cùng ở trong chân thực, chung một bản chất. [X. kinh Đại nhật Q.5; kinh Để lí tam muội da Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.14].
bố uý
Vibhisana (S)Sợ hãi.
; (怖畏) Sợ hãi. Phạm: Vibhìwaịa. Theo kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 34 nói, thì các chúng sinh chưa tỏ ngộ chân lí có năm thứ sợ hãi: 1. Sợ không sống được, tức là sợ cuộc sống bấp bênh, thường tích trữ tài vật. 2. Sợ tiếng xấu, sợ người khác chê cười mà tổn thương danh dự. 3. Sợ chết, sợ lúc sắp chết. 4. Sợ đường ác, sợ sẽ rơi vào địa ngục, quỉ đói. 5. Sợ uy đức của đại chúng, không có lòng tự tin và sợ phải xuất hiện trước đại chúng. Nếu lìa năm sự sợ hãi này thì gọi là Ngũ li bố úy (lìa năm sợ hãi). Các bậc thánh Hữu học, Vô học còn sợ hãi chút ít, nhưng Phật thì hoàn toàn không còn sợ hãi. Ngoài ra, tuy có lòng từ bi bố thí tiền của, nhưng sau khi cho rồi lại sợ là tiền của đã hao hụt, gọi là Bố úy thí, một trong tám bố thí. (xt. Ngũ Bố Úy).
Bố uý 怖畏
[ja] フイ fui ||| Fear; to be frightened, be afraid (bhaya, trasana, uttrāsa) 〔二障義、 HPC 1.198c〕 => Sợ, khiếp đảm, hoảng sợ (s: bhaya, trāsa, trāsita, uttrāsa).
bố úy thí
Bestowing, or giving courage (to s.o.)
; Bố thí bằng cách giúp người trút bỏ nỗi lo âu sợ hãi—Almsgiving to remove one's fear.
bố đát na
Putana (skt)—Bố Đơn Na—Phú Đa—Đà Na—Đơn Na—Một loại quỷ cái làm hại trẻ, một loại quỷ đói hôi hám, và thành công nhứt trong các loài quỷ—A female demon poisoning or the cause of wasting in a child; interpreted as a stinking hungry demon, and the most successful of demons.
bố đát na quỷ
(布怛那鬼) Bố đát na, Phạm: Pùtanà.Cũng gọi Phú đa na quỉ, Phú đan na quỉ, Bố đan nang quỉ, Bố đan nang quỉ, Bồ đan nại quỉ, Phú lâu đa na quỉ, Phú đà na quỉ. Dịch ý là quỉ đói hôi hám, quỉ bệnh nhiệt, quỉ tai quái. Là loài quỉ có phúc báo hơn hết trong loài quỉ đói; thân hình của nó rất hôi thối (có thuyết bảo thân hình nó giống như chim anh vũ), hay gây tai họa cho người và súc vật. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, Q.18; Huyền ứng âm nghĩa Q.21; Phiên phạm ngữ Q.7].
bố đơn na
Putana (skt)—A female demon—See Bố Đát Na.
Bố Đại
布袋|Thiền sư Trung Quốc ở thế kỉ thứ 10. Tương truyền Sư hay mang trên vai một bao bố, có nhiều phép mầu và có những hành động lạ lùng mang tính chất »cuồng thiền«. Lúc viên tịch, Sư mới thổ lộ cho biết chính Sư là hiện thân của Di-lặc, vị Phật tương lai. Trong nhiều chùa tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta hay trình bày tượng Di-lặc dưới dạng của Bố Ðại mập tròn vui vẻ, trẻ con đeo chung quanh.||H 19: Bố Ðại Hoà thượng|Bố Ðại ở Phụng Hoá Minh Châu triều Lương đời Ngũ Ðại, tự xưng là Khế Thử (契此). Hình dạng Sư thì lùn, mập, nói năng tự tại, ăn ngủ tuỳ tiện. Sư thường mang một bao bố trên vai để bị vào đó những vật người cúng dường. Sư được quần chúng mến phục vì có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi Sư ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc Sư đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú thì trời sẽ mưa.|Tính tình của Sư rất ngược đời, đúng như tinh thần Thiền tông. Trả lời câu hỏi già trẻ bao nhiêu, Sư nói »già như hư không.« Giữa chợ, có người hỏi tìm gì, »ta tìm con người«, Sư trả lời. Một hôm có vị tăng đi phía trước, Sư liền vỗ vai ông ta nói: »Cho tôi xin một đồng tiền.« Vị tăng bảo: »Nói được thì tôi cho ông một đồng tiền.« Sư liền bỏ bao xuống đất đứng im lặng khoanh tay.|Sư có nhiều thần thông, ngủ ngoài tuyết, tuyết không rơi vào mình. Trước khi tịch, Sư ngâm câu kệ:|彌勒真彌勒。分身千百億|時時示時人。時人自不識|Di-lặc, Chân Di-lặc|Phân thân thiên bách ức|Thời thời thị thời nhân|Thời nhân tự bất thức.|*Di-lặc, chân Di-lặc|Phân thân trăm ngàn ức|Luôn luôn bảo người đời|Người đời tự chẳng biết.|Sau khi chết, có người vẫn thấy Sư ở nơi khác tại Trung Quốc. Người đời sau vẽ lại hình Sư với bị gạo và từ đó sinh ra hình Di-lặc, ngày nay ở đâu cũng có.
bố đại
Pu-tai (C), Budai (C), Pou-tai (C), Hotei (J)Một nhà sư Trung quốc sống vào thế kỷ thứ 10. Tên thật của ngài là Khế Thử, sống ở tỉnh Chiết Giang ngày nay.
bố đại hoà thượng
(布袋和尚) Hòa thượng mang cái đãy bằng vải. Là vị tăng triều Lương thời Ngũ Đại bên Trung quốc. Ngài là người huyện Phụng hóa thuộc Minh châu (Triết giang), cũng có thuyết nói ngài là người Tứ minh. Họ và năm sinh năm mất đều không rõ. Tự xưng là Khế thử, hiệu là Trường đinh tử. Người đời cho rằng ngài là hóa thân của bồ tát Di lặc. Ngài thường dùng gậy quảy một cái đãy (túi) to bằng vải (bố đại), thấy vật gì thì xin và cho hết vào đãy, nên người đời gọi ngài là Bố đại hòa thượng. Có kệ rằng (Đại 51,434 trung): Nhất bát thiên gia phạn Cô thân vạn lí du Thanh mục đồ nhân thiểu Vấn lộ bạch vân đầu (Dịch ý: Một bát cơm nghìn nhà Thân côi muôn dặm xa Mắt xanh nhìn nhân thế Mây trắng hỏi đường qua). Bài kệ trên đây phản ánh cuộc đời vô định của ngài. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 chép, Bố đại hòa thượng béo phệ, lông mày rậm, bụng to, nói năng không định, gặp đâu ngủ đó; thường dùng gậy quảy một cái túi vải, tất cả vật dụng đều chứa trong túi, người thời ấy gọi ngài là Trường đinh tử Bố đại sư. Ngài có thể dự báo thời tiết và chỉ cho người ta biết điều lành điều dữ. Tháng 3 năm Trinh minh thứ 3 (917) đời Lương, lúc sắp thị tịch, ngài ngồi ngay thẳng trên một tấm đá dưới hồi lang phía đông của chùa Nhạc lâm mà nói kệ rằng (Đại 51,434 trung): Di lặc chân Di lặc Phân thân thiên bách ức; Thời thời thị thời nhân, Thời nhân tự bất thức (Dịch ý: Di lặc thật Di lặc. Phân thân nghìn trăm ức; Luôn luôn dạy mọi người, Người đời chẳng tự biết). Nói kệ xong, ngài an nhiên nhập tịch. Về sau, có người ở châu khác trông thấy ngài mang túi vải mà đi. Người ở Triết giang phần nhiều vẽ tượng của ngài để lưu truyền. Những bức vẽ về ngài ở đời Tống hiện nay chỉ còn lại họa phẩm của ông Lương khải. Sau khi được truyền đến Nhật bản, Bố đại hòa thượng đã trở thành một trong bảy vị phúc thần được nhiều người thờ cúng. [X. Tống cao tăng truyện Q.21; Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.25; Thích thị kê cổ lược Q.3; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 979]. Tượng Bố Đại Hòa Thượng bằng đá ở chùa Linh Ẩn tại Hàng Châu (Trung Quốc) Bố Đại Hòa Thượng (Tranh đời Tống)
bố đại hòa thượng
Vị Đại Tăng còn có hiệu là Trường Đinh Tử, với chiếc túi vải trên lưng (vào thế kỷ thứ 10, vị hòa thượng có hình dáng đẩy đà chậm chạp, trán nhăn bụng phệ, đi đâu lũ trẻ cũng thường hay bu theo chọc ghẹo Ngài)—Great Reverend—Pu-Tai Ho-Shang—Cloth-bag monk, an erratic monk (in the tenth century, usually depicted, scantily clad and surrounded by children).
bố đạt lạp
Potala (skt)—Phổ Đà La—Tu viện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại thủ đô La Sa—The monastery of the Dalai Lama in Lhasa.
bố đạt lạp cung
(布達拉宮) Cung Bố đạt lạp. Cung điện này ở trên núi Mã bố nhật mạn tây bắc Lhasa bên Tây tạng, diện tích chiếm nửa quả núi. Bồ đạt lạp là phiên âm tiếng Tây tạng Potala. Cũng gọi Phổ đà cung, Bố đát la miếu, Bồ đà la miếu, Bồ đát lạc già cung, Bồ đà lạc ca cung. Potala là từ tiếng Phạm potalakamà ra, hàm ý là Thánh địa Phật giáo. Tương truyền vào thế kỉ VII, vua Tán phổ khí tông lộng tán của Thổ phiên kết hôn với công chúa Văn thành của triều Đường, mới xây dựng cung thất này để đón dâu, đời sau được tu bổ nhiều lần. Vào giữa thế kỉ XVII, Đạt lại đời thứ 5 được triều đình nhà Thanh sắc phong, lúc đó ngài Đạt lại mới ra lệnh cho quan Tổng đốc của mình là Đệ ba tang kết gia thố sửa chữa và mở rộng thêm cung này, trải qua thời gian 50 năm mới có được qui mô như hiện nay. Trong chùa có tới 25000 vị tăng trở lên, phòng lầu lớn nhỏ vài nghìn gian, không những là ngôi chùa Phật lớn nhất ở Tây tạng, mà cũng là ngôi chùa Phật lớn nhất trên thế giới. Đây là cung điện mùa đông và là nơi ăn ở của các đời Đạt lại lạt ma, cũng là trung tâm tôn giáo, chính trị của Tây tạng, từ đời Đạt lại thứ 5 trở đi, phàm những nghi thức tôn giáo, chính trị trọng đại đều được cử hành ở đây. Tòa lầu chính của cung này gồm 13 tầng, từ nền đất đến nóc cung cao 110 mét, gần bằng tòa nhà State Building ở New York. Chiều dài từ đông sang tây 600 mét. Toàn bộ cung này được làm bằng gỗ và đá mà không có bất cứ cái đà sắt thép nào để nâng đỡ, đáng gọi là một kì tích về mặt kiến trúc. Các cây cột và đòn xà được vẽ và chạm trổ với mầu sắc vàng ngọc rực rỡ; trên bốn vách có đắp vẽ và chạm trổ hình nổi của người, rồng, phượng, hạc, sư tử v.v... sắc thái lộng lẫy, rất có giá trị nghệ thuật. Bên trong có cung điện, Phật đường, nhà học kinh, cung ngủ nghỉ, điện linh tháp, sân viện v.v... Trong chùa có tới hàng vạn tượng Phật, trong đó, tượng bản tôn Quan âm được nhiều người đến lễ bái coi là thiêng liêng nhất. Có tám tòa linh tháp của các đời Đạt lại lạt ma, thân tháp được phủ kín bằng vàng bạc, khảm ngọc quí, rất huy hoàng tráng lệ. Trong cung còn tồn trữ một lượng lớn các văn vật trân quí, như những chiếu chỉ, sắc phong, ấn tín, lễ phẩm do các Hoàng đế của hai triều Minh, Thanh Trung quốc ban cho các quan, và những kinh văn điển tịch, những tượng Phật hiếm thấy ở các nơi khác.
bố đạt lạp tự
(布達拉寺) Chùa ở núi Sư tử phía bắc thành Thừa đức xứ Nhiệt hà. Cũng gọi Phồ đà tông thừa miếu. Chùa được xây dựng vào khoảng năm Càn long (1736-1795) đời Thanh, là nơi tụng kinh của nhà vua trong mùa hè. Trong khuôn viên chùa có hơn 100 lâu đài, chia làm 78 khu, mỗi khu là một bộ, chính giữa các khu có một tòa lâu đài mầu hồng xây cất trên cái gò cao, người địa phương gọi là Đại hồng đài. Trong Đại hồng đài có sáu dẫy hành lang, dọc theo các hành lang bày xếp hơn 1000 cỗ khám thờ Phật, trong đó để hơn 1000 pho tượng Phật cao bằng người, còn các tượng Phật nhỏ thì có hơn bảy mươi vạn pho, đâu đâu cũng thấy tượng Phật, hệt như đây là nước Phật. Chùa này được xây cất theo kiểu cung Bố đạt lạp kết hợp với nghệ thuật kiến trúc Trung quốc. Toàn chùa được bao quanh bằng một lớp tường thành, trên khoảnh đất hơn hai mươi dặm vuông, giữa cảnh núi non trùng điệp, hùng vĩ tráng lệ, đẹp ngang với kiến trúc cung điện.
bố đốn
(布頓) (1290-1364) Tên Tây tạng : Bu-ston rin-chen grub hoặc Bu-ston kha-che. Cũng gọi Bố đốn nhân khâm trát ba hoặc Bố đốn bảo thành. Là vị tăng học giả thuộc phái Tát ca (Tạng: Sakya-pa) của Phật giáo Tây tạng, lúc đầu theo ngài Ni mã (Tạng: Ĩi-ma rgyalmtshan dpal-bzaí-po) xuất gia học Hiển giáo, sau lại theo vị cao tăng của phái Đỗ phổ (Tạng:Khro-phu) tên là Dưỡng kiệt ba (Tạng: Yan-rtse-ba Rin-chen seí-ge) tu tập Mật giáo, do đó, sư tinh thông cả Hiển giáo và Mật giáo. Sau, sư đến trụ trì chùa Hạ lộ (Tạng :Sha-la) gần Tây ca kết (Tạng:Gshi-ga-tse), làm cho tông phong phát triển mạnh, người đời gọi tông phong của sư là phái Hạ lộ, có ảnh hưởng rất lớn đối với các phái ở đời sau. Sư viết cuốn Thiện thệ giáo pháp sử (Tạng:Bde-gsegs bstanpa#i chos-#byuí, 1322, thường được gọi là Bố đốn Phật giáo sử) và chính nhờ tác phẩm này mà sư được nổi tiếng. Sách này tuy phần nhiều mang tính truyền thuyết, nhưng không vì thế mà mất giá trị sử liệu của nó, trái lại, nó cũng là bộ sách trọng yếu giúp cho việc nghiên cứu để hiểu rõ lịch sử của Tây tạng thời cổ. Sư lại sưu tập những Thánh điển Phật giáo và các bản chú thích những Thánh điển ấy được viết tại Ấn độ, rồi đến các bản dịch Tây tạng của các bộ luận thư v.v... , các bản in tạng kinh Tây tạng cũ ở chùa Nại đường, sau đó, sư sửa chữa rồi thêm những kinh điển mớí được dịch vào, tất cả khoảng 1000 bộ, sư chia làm hai loại lớn là : Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ, rồi sư biên soạn mục lục của hai bộ này. Ngoài ra, còn có Bố đốn toàn thư (Tạng: Bu-ston gsuí-#bum) gồm 206 bộ và Tông khách ba toàn thư (Tạng: Tsoí-kha-pa) đều là những tư liệu trọng yếu của văn hiến Phật giáo bằng tiếng Tây tạng. [X. E. Obermiller: History of Buddhism by Buston, 1931-1932; G.N. Roerich: The Blue Annals, 1949-1953].
bố đốn phật giáo sử
(布頓佛教史) Tạng: Bde-bar-gzegs-pahi bstan-pa#i gsal-byed, Chos-kyi #byuí-gnas gsuírab-rin-po-che#i mdsod ces-bya-ba. Gọi tắt: Bde-gzes bstan-pa#i chos-#byuí. Dịch ý: Thiện thệ giáo minh pháp sinh bảo tạng sử, Thiện thệ giáo pháp nguyên lưu, Thiện thệ giáo pháp sử. Là bộ sử Phật giáo bằng tiếng Tây tạng. Tác giả Bố đốn (Tạng: Bu-ston,1290-1364) sinh ở trung bộ Tây tạng, một vị tăng đại học giả thông suốt giáo lí, lịch sử và văn hiến của cả Hiển giáo và Mật giáo. Sư trứ tác rất nhiều, bộ sử này được hoàn thành vào năm 1322, là tác phẩm tiêu biểu nhất của sư. Sách này có thể được chia làm hai phần: I. Văn hiến Phật giáo và khái luận về giáo pháp, gồm 3 tiết: 1. Giáo pháp (Phạm: Dharma): học tập giáo pháp và công đức của sự truyền thụ giáo pháp. 2. Khái luận về văn hiến của Phật giáo. 3. Phương pháp, qui tắc học tập và giảng dạy. II. Bộ phận lịch sử của Phật giáo, gồm 2 tiết: 1. Bộ phận Ấn độ, trình bày rõ mười việc phi pháp, quá trình từ lần kết tập thứ hai, thứ ba đến giai đoạn chia ra 18 bộ phái. 2. Bộ phận Tây tạng, tường thuật lịch sử Phật giáo Tây tạng. Bộ sách này trình bày rộng về giáo pháp và lịch sử Phật giáo, là tác phẩm hệ thống hóa Phật giáo học của tác giả, là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo Ấn độ và Phật giáo Tây tạng. Cho nên nó được đời sau coi trọng. [X. Obermiller: History of Buddhism; Wassilijew : Der Buddhismus; Rockhill: The Life of the Buddha; Schiefner: Geschichte des Buddhismus in Indien; Tây tạng truyền Ấn độ Phật giáo lịch sử; Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục].
Bố 怖
[ja] フ fu ||| Fear; to be frightened, be afraid (bhaya, trāsa, trāsita, uttrāsa) 〔瑜伽論T 1579.30.363c〕. => Sợ, khiếp đảm, hoảng sợ (s: bhaya, trāsa, trāsita, uttrāsa).
bố-sá-bà-lâu
Potthapada (P)Du sĩ ngoại đạo.
Bố-tát
布薩; S: upavasatha; P: uposatha; J: fusatsu;|Là ngày thanh tịnh, trai giới, lễ sám hối; một trong những ngày lễ quan trọng nhất tại các nước theo Phật giáo Nam truyền, Thượng toạ bộ. Ðó là những ngày 1, 8, 15, 23 âm lịch trong tháng, trong đó các Phật tử tại gia tưởng niệm đến Phật pháp, giữ nhiều giới luật hơn những ngày khác như đi thăm viếng chùa chiền, học tập giáo pháp. Trong ngày này nhiều người giữ tám giới (tám giới đầu của mười giới, xem dưới Giới) hoặc thực hành thiền định. Ðặc biệt trong hai ngày rằm và ba mươi thì các Thượng toạ lại thuyết giảng giới luật của Tăng-già trước đại chúng (Ba-la-đề mộc-xoa).|Các tỉ-khâu bắt buộc phải tham dự các buổi lễ Bố-tát và những buổi lễ này được tổ chức trong một phòng đặc biệt của một Tinh xá (p: vihāra). Phòng này phải đủ lớn để chứa được tất cả tăng chúng. Nếu một tỉ-khâu nào đó mắc bận thì phải tự nói lí do cho một tỉ-khâu khác và bảo đảm rằng, ông ta không tự biết mình vi phạm cấm giới (Ba-la-đề mộc-xoa). Lễ này không thể được tổ chức nếu một tỉ-khâu nào đó không tham dự được vì một lí do khác ngoài bệnh. Các tỉ-khâu nào phạm giới đều phải tự thú với một tỉ-khâu khác trước buổi lễ. Trong buổi lễ chính, vị trụ trì thuyết Ba-la-đề mộc-xoa và yêu cầu ba lần các vị phạm giới tự kiểm điểm. Cư sĩ, Tỉ-khâu-ni, Sa-di và các tỉ-khâu bị trục xuất ra khỏi tăng-già không được tham dự buổi lễ này.|Trong một Thiền viện tại Nhật thì lễ Bố-tát được thực hành hai lần trong tháng và trong hai lần này, thiền sinh phải tự phát lộ những hành vi phạm giới, sám hối và lặp lại Tứ hoằng thệ nguyện.
bố-tát
phiên âm từ Phạn ngữ là upovasatha, đọc trọn là ưu-bổ-đà-bà, nghĩa là “đoạn diệt điều ác, tăng trưởng điều thiện”. Bố-tát tức là thuyết giới, tụng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (prtimokṣa) mỗi tháng hai kỳ, vào ngày sóc và ngày vọng (tức ngày rằm và mồng một). Tuy nhiên, một số nơi cũng quy định vào các ngày 14 và cuối tháng.
Bốc triệu
(卜兆): người xưa thường đốt mai rùa, xem thử hình thái các đường nứt trên mai con rùa ấy như thế nào để đoán tốt xấu; đó gọi là triệu (兆). Trong bài Phục Chí Phú (復志賦) của thi sĩ Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Giả đại quy dĩ thị triệu hề, cầu u trinh chi sở lô (假大龜以視兆兮、求幽貞之所廬, giả rùa lớn để xem bói chừ, cầu u nhàn nơi vui sống).” Từ đó, bốc triệu có nghĩa là bói tìm huyệt chôn. Như trong Ngụy Thư (魏書) quyển 14 có đoạn: “Tích Hiên Viên bốc triệu quy tiêu, bốc giả thỉnh phỏng chư hiền triết, Hiên Viên nãi vốn Thiên lão, Thiên lão vị vi thiện, toại tùng kỳ ngôn, chung trí xương cát (昔軒轅卜兆龜焦、卜者請訪諸賢哲、軒轅乃問天老、天老謂爲善、遂從其言、終致昌吉, xưa kia Hiên Viên đốt mai rùa để bói tìm mộ huyệt chôn; khi bói thì phải thỉnh ý của các bậc hiền triết, Hiên Viên bèn hỏi ông Trời; ông Trời bảo là tốt, liền nghe lời ông Trời, cuối cùng thì được tốt đẹp).” Hay như trong Đại Nhật Bản Sử (大日本史), quyển 111 có đoạn: “Liêm Túc thường vị Định Tuệ viết: 'Đàm phong chi vi địa dã, đông liên Y Thế Sơn, tây đối Kim Cang Sơn, nam giới Kim Phong Sơn, bắc lân Đại Thần Sơn, kỳ linh thánh bất hạ Đường chi Ngũ Đài; ngã bách tuế hậu, bốc triệu vức ư thử, tắc hậu diệp phồn diễn hỷ' (鎌足嘗謂定慧曰:談峰之爲地也、東連伊勢山、西對金剛山、南界金峰山、北鄰大神山、其靈聖不下唐之五臺、我百歲後、卜兆域於此、則後葉繁衍矣, Tướng Quân Liêm Túc thường nói với Định Tuệ rằng: 'Bàn luận đỉnh núi để chọn đất, phía đông gắn liền với Y Thế Sơn, phía tây đối diện với Kim Cang Sơn, phía nam giáp giới Kim Phong Sơn, phía bắc gần với Đại Thần Sơn, sự linh thiêng của mấy ngọn núi này chẳng thua gì Ngũ Đài Sơn bên nhà Đường; sau khi ta qua đời, nên chọn đất mộ chôn ở nơi đây, tất sau này con cháu hưng thịnh vậy').”
Bốc trúc
(卜築): hay bốc cư (卜居), nghĩa là người xưa dùng phương pháp bói toán, Phong Thủy để chọn lựa chỗ ở với khát vọng muốn được an cư lạc nghiệp. Như trong bài Đông Chí Hậu Quá Ngô Trương Nhị Tử Đàn Khê Biệt Nghiệp (冬至後過吳張二子檀溪別業) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Bốc trúc nhân tự nhiên, Đàn Khê bất cánh xuyên (卜築因自然、檀溪不更穿, chọn nơi ở tự nhiên, Đàn Khê chớ xuyên qua).” Hay trong bài thơ Hán Thượng Đề Vi Thị Trang (漢上題韋氏莊) của Nhung Dục (戎昱, ?-?) nhà Đường cũng có câu: “Kết mao đồng Sở khách, bốc trúc Hán giang biên, nhật lạc sổ quy điểu, dạ thâm văn khấu huyền, thủy ngấn xâm ngạn liễu, sơn thúy tá trù yên, điều tiếu đề khuôn phụ, xuân lai tàm kỉ miên (結茅同楚客、卜築漢江邊、日落數歸鳥、夜深聞扣舷、水痕侵岸柳、山翠借廚煙、調笑提筐婦、春來蠶幾眠, làm nhà cùng khách Sở, chọn chỗ sông Hán bên, chiều lặn chim về tổ, đêm khuya nghe mái thuyền, mực nước thấm bờ liễu, núi xanh vương khói tiên, khúc khích mang giỏ nữ, xuân về tằm ngủ yên).” Hoặc như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 10, truyện Lưu Sĩ Quang (劉士光) lại có đoạn rằng: “Sảng Độ thâm tín Phật pháp, tằng dữ Sĩ Quang thính giảng ư Chung Sơn chư tự; nhân cọng bốc trúc Tống Hy Tự đông giản, hữu chung yên chi chí; Thiên Giám thập thất niên tốt ư Sĩ Quang xá (彥度深信佛法、曾與士光聽講於鍾山諸寺、因共卜築宋熙寺東澗、有終焉之志、天監十七年卒於士光舍, Sảng Độ thâm tín Phật pháp, đã từng cùng với Sĩ Quang nghe thuyết giảng ở các chùa Chung Sơn; nhân đó cả hai cùng chọn nơi ở khe suối phía Đông Tống Hy Tự và cuối cùng thỏa chí nguyện của họ; vào năm thứ 17 [518] niên hiệu Thiên Giám, Sảng Độ qua đời tại nhà của Sĩ Quang).”
bốc yết sa
(卜羯娑) Phạm: pulkasa. Cũng gọi Bổ yết sa. Có ba nghĩa sau đây: 1. Tên gọi của chủng tộc giống lai ti tiện. 2. Người hạ tiện đi lượm lặt phế liệu, quét dọn phân dơ hoặc khiêng xác người chết đi chôn. 3. Kẻ tà kiến, không tin nhân quả, tạo các nghiệp ác. [X. Du già luận kí Q.3 phần trên; Tuệ lâm âm nghĩa Q.5; Khả hồng âm nghĩa Q.1].
Bốc độ 卜度
[ja] ボクタク bokutaku ||| Conjecture, presume, suppose, guess, speculate. => Phỏng đoán, đoán chừng, giả định, ước đoán, suy luận.
Bốc 卜
[ja] ボク boku ||| (1) To perform divination by heating tortoise shells and interpreting the cracks that appear. (2) Divination in general, foretell (占). (3) To select, choose. (4) Assign, match to. => Có các nghĩa sau: 1. Thực hiện phép bói bằng cách hơ nóng mai rùa rồi xét đoán sự việc từ những vết nứt trên đó. 2. Sự bói toán nói chung, chiêm đoán. 3. Lựa chọn. 4. Ấn định, cân xứng nhau.
bối
Sankha (skt). 1) Vỏ sò—A shell—A conch. 2) Có giá trị: Valuables—Riches. 3) Loa pháp: Cái loa bằng vỏ ốc dùng trong pháp sự, thổi báo hiệu thời gian tiến hành pháp sự hay tập họp đại chúng—A large trumpet sounded to call the assembly together. 4) Lưng: Back—Behind—To turn the back on—To go contrary to—To carry on the back.
Bối (bái) 唄
[ja] バイ bai ||| A song praising the virtues of the Buddha; to sing such a song. => Bài kinh tán thán đức hạnh chư Phật; tán tụng các bài kệ.
bối chung
Loa vỏ ốc và chuông—Conch and bell.
bối chính
Quay lưng ngoảnh mặt với Phật Pháp—To turn the back on Buddha-truth.
Bối Diệp
(s: pattra, p: patta, 貝葉): Lá Bối, âm dịch là Bối Đa La (貝多羅), gọi tắt là Bối Diệp, Bối Đa (貝多), là lá của loại cây Đa La (多羅, Corypha umbraculifera). Lá của nó dài và rộng, khắc chữ lên lá bằng bút sắt thì rất thích hợp. Trước khi phát minh ra giấy, dưới thời cổ đại Ấn Độ, người ta dùng loại lá cây này thay thế giấy để viết các văn thư, kinh điển và bảo tồn có thể kéo dài đến cả trăm năm. Từ đó, Bối Diệp chỉ cho quyển kinh. Kinh điển được viết trên Lá Bối xuất hiện đầu tiên tại Ấn Độ, sau khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, các thư tịch này cũng được lưu truyền. Hiện tại, ở các tự viện thuộc tỉnh Vân Nam cũng như Tây Tạng vẫn còn bảo trì một số lượng rất lớn loại kinh văn Lá Bối này. Như trong bài Sơn Cư (山居) của Tử Bá Lão Nhân Tập (紫柏老人集, CBETA No. 1452) quyển 26 có đoạn: “Bạch nhật lai tham phục hổ Thiền, nạp y thùy cọng nhiễm hương yên, phong trần hữu lộ thông tâm địa, thủy nguyệt vô nhân vấn tánh thiên, không tưởng huyền am phiên bối diệp, diêu tri lôi vũ hộ kim điền, lãnh lãnh tùng hạ thính hàn lãng, vạn kiếp tình căn nhất sái nhiên (白日來參伏虎禪、衲衣誰共染香煙、風塵有路通心地、水月無人問性天、空想玄菴翻貝葉、遙知雷雨護金田、冷冷松下聽寒浪、萬劫情根一洒然, cọp quỳ ban ngày tham vấn Thiền, rách y ai nhuộm khói hương thêm, phong trần có nẻo thông tâm địa, trăng nước không người hỏi tánh thiên, không tưởng am huyền phiên kinh điển, xa hay mưa sấm giúp ruộng vàng, buốt giá cội tùng nghe sóng lạnh, muôn kiếp tình căn rửa sạch liền).” Hay như trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, CBETA No. 1391) cũng có câu: “Hồ tăng phiên bối diệp, Vương Lão tước sanh khương (胡僧翻貝葉、王老嚼生薑, Rợ tăng dịch kinh điển, Vương Lão nhấm gừng non).”
bối diệp
Pattra (S). Palm leaves from the Borassus flabelli formis, used for writing material.
; See Bối Đa.
bối khắc
(貝克) (BECKH, HERMANN; 1875-1937) Học giả người Đức chuyên nghiên cứu Đông phương học và Phật giáo. Mới đầu ông học luật, nhưng khi xét xử ông nhận thấy luật pháp rất mâu thuẫn với tội ác. Nhân đó, ông chuyển hướng nghiên cứu các tông giáo phương đông với hi vọng tìm một lối thoát cho tâm hồn luôn băn khoăn thao thức. Ông học tiếng Phạm, tiếng Tây tạng, tiếngPàli,tiếng Hi lạp, tiếng Ai cập, tiếng Á rập với lòng ham muốn nghiên cứu triệt để các tông giáo phương đông, đặc biệt về Ấn độ học và Phật học ông đã có kiến thức rất sâu sắc. Ông có xuất bản kinh Đại bát niết bàn bản dịch tiếng Đức (Hingang des Vollendeten, 1925), Nghiên cứu về sự tích đức Phật (Buddha und seine Lehre 2 Bde, 1928) v.v... Trong tác phẩm này, ông đã chỉ rõ phần truyền thuyết và phần lịch sử thực của đức Thế tôn và có ảnh hưởng rất lớn đối với học giới.
bối mẫu
(貝母): cách nói tắt của thí dụ được dẫn trong nhiều kinh luận khác là ngư vương bối mẫu (魚王貝母), đưa ra hình ảnh con cá đầu đàn hay con sò khi kiếm ăn dưới biển sâu, chúng đi đến đâu thì cả bầy theo sau đến đó, cũng như tâm ý dẫn dắt các nghiệp lành, nghiệp dữ theo sau.
bối nhĩ lạp mẫu dữ ước sắt phạt đặc
(貝爾拉姆與約瑟伐特) BARLAAM AND JOSAPHAT Cuốn sách chứa đựng mẫu truyện lạ về các vị thánh Cơ đốc giáo lưu truyền ở châu Âu thời Trung cổ. Sách này phỏng theo truyện kí của đức Thích tôn và lấy tư liệu trong kinh Phổ diệu mà soạn thành. Sách này được các tín đồ Cơ đốc giáo ở Iran hoặc Trung á biên soạn vào khoảng thế kỉ VI, VII và viết bằng tiếng Ấn độ Nhật nhĩ man mà thành. Tên các nhân vật chính Barlaam và Josaphat tong truyện là lấy từ tiếng gốc Bhavagad (Thế tôn) và Bodhisattva (Bồ tát) trong Phật giáo mà ra. Về sau sách này được dịch ra nhiều thứ tiếng lưu truyền ở các nước Âu, Mĩ. Đây là sự kiện rất lí thú trong lịch sử truyền bá Phật giáo và sự giao lưu văn hóa đông tây; nó cũng là điển hình của văn hóa Âu tây chịu ảnh hưởng Phật giáo.
bối niệm
Chán ghét sanh tử, muốn sống yên ổn nơi Niết Bàn—To turn one's back on the transmigration life and abide quietly in the nirvana-mind.
bối rối
Disconcert—Bewildered—Embarrassed—Abashed.
bối văn
Kinh văn được viết trên lá bối—The scriptures written on palm leaves—See Bối Đa.
bối xả
Vứt bỏ ham muốn của thế tục—To turn the back on and leave the world.
bối đa
Tàla (S). Palmyra tree. Alsocây bối, đa la.
; Pattra (skt)—Tên một loài cây kè mọc tại xứ Ma Kiệt Đà, dùng làm vật liệu viết sách (cao từ sáu đến bảy trượng, mùa đông không rụng lá, lá mỏng và mịn có thể dùng để viết chữ)—Palm leaves from the Borassus flabelli-formis, grown in Magadha, used for writing material.
bối đa la diệp
See Bối Đa.
; (貝多羅葉) Là bối đa la. Bối đa la, Phạm: pattra. Loại lá cây dùng để viết tư liệu hoặc văn kinh. Gọi tắt là Bối đa, Bối diệp. Đời xưa, khi giấy chưa được phát minh, người Ấn độ dùng lá bối đa thay giấy để viết. Hiện nay tại khu vực của Phật giáo Nam truyền cũng có người dùng lá bối đa la để viết sách. Pattra tuy là tên của loại thực vật đặc biệt mà tên khoa học là Laurus oassia, nhưng cũng chỉ cho lá của loại thực vật phổ thông, hoặc loại lá cây dùng để viết sách. Trong đó, loại thích hợp nhất cho việc viết chép là lá cây Đa la (Phạm:tàla). Lá cây đa la giống như lá cây cọ, dài và khít mịn. Trước khi viết chữ, đem lá này phơi khô, rồi cắt ra thành miếng, rộng độ sáu phân, dài khoảng sáu tấc, hai bên đều dùi một hay hai cái lỗ nhỏ rồi mới viết chép. Trước hết, dùng vật nhọn như kim, mũi dao hoặc bút sắt đâm khắc mặt lá, rồi lấy mực nước làm bằng mồng hóng thấm lên trên, đợi cho mực khô, lau sạch thì có những dấu vết viết chữ lưu lại trên mặt lá. Nếu văn kinh được viết trên lá ấy thì gọi là kinh lá bối. Khi viết xong, lại lấy chỉ xâu lá bối lại thành bó, dùng hai tấm ván gỗ mỏng bằng khổ lá bối làm bìa ép mặt trên và mặt dưới để khỏi lộn trang và rơi mất.Từ thế kỉ I đến thế kỉ X, Phật tử Ấn độ xưa mang ba tạng Kinh, Luật, Luận viết trên lá bối đến Trung á và Tân cương của Trung quốc, đến Tây tạng và Nepal để truyền bá Phật giáo, tín đồ Phật giáo ở các khu vực này cũng sang Ấn độ học Phật pháp, rồi mang theo về nước nhiều kinh lá bối. Vào các thế kỉ XI, XII, Hồi giáo xâm nhập Ấn độ, tín đồ Phật giáo Ấn độ lại phát động phong trào đem kinh chữ Phạm truyền ra nước ngoài để phiên dịch, cho nên ở những khu vực kể trên rất nhiều kinh lá bối viết bằng tiếng Phạm đã được tìm thấy, nội dung bao gồm kinh điển Phật giáo Tiểu thừa, truyền thuyết, truyện cổ, thi ca, lịch sử, kí sự v.v... Trong đó, các Phạm giáp (bản kinh Phật viết bằng tiếng Phạm) tìm thấy ở Nepal là hoàn bị hơn cả. Mặc dầu sau khi giấy đã được phát minh, nhưng phổ thông kinh lá bối vẫn được bảo tồn, như kinh điển tiếng Tây tạng là một ví dụ. Những bản kinh bắt chước hình dáng kinh lá bối có bốn loại: lá đồng, vỏ cây hoa, giấy, bạch điệp (loại vải dày, mịn). Còn cái bìa bằng tấm ván gỗ mỏng ép kinh lá bối, hoặc là bìa sách, thì gọi là Phạm giáp. Thân cây Đa la một khi đã bị chặt thì không bao giờ nảy chồi lại nữa, cho nên trong các kinh nó thường được dùng để ví dụ các tỉ khưu đã phạm trọng tội Ba la di. Như kinh Lăng già quyển 6 (Đại 19, 132 hạ), nói: Hạng điên ca này đã tiêu diệt hạt giống Phật như người cầm dao chặt cây đa la. Phật nói kẻ ấy vĩnh viễn mất gốc lành, không bao giờ thấy lại nữa, chìm đắm trong biển ba khổ, không thành tam muội. Ngoài ra, những kinh sách được đóng phỏng theo phương pháp đóng kinh điển lá bối, bất luận những kinh sách ấy được viết trên vỏ cây hoa hay trên giấy, cũng đều gọi chung là bản lá bối. Kinh điển viết trên vỏ cây hoa được lưu truyền rất ít. Cây hoa sinh sản dọc theo triền núi vùng cao nguyên, như Kế tân ở miền tây bắc Ấn độ, Trung á, Hòa điền và Cưu tư v.v.., bởi thế kinh điển viết trên vỏ cây hoa mới được đào thấy ở những nơi đó, loại kinh này chỉ viết bằng chữ Ấn độ cổ xưa, và niên đại sao chép rất sớm, về sau vỏ cây hoa dần dần được thay thế bằng lá bối. Bản lá bối rất phổ biến ở Ấn độ, nhưng ở Trung á thì chỉ thông dụng đối với sách Phật mà thôi, và chủ yếu là chữ Phạm, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột v.v.., thỉnh thoảng cũng thấy có bản bằng tiếng Đổ hóa la, tiếng Thổ nhĩ kì cổ đại, tiếng Ấn độ xưa, và một số ít bản bằng chữ Hán.
Bối điển
(貝典): kinh điển, thư tịch viết trên lá bối, còn gọi là Bối Diệp Kinh (貝葉經). Như trong Như Tịnh Hòa Thượng Ngữ Lục (如淨和尚語錄, Taishō No. 2002A) quyển Hạ của Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨, 1163-1228) có câu: “Chí tai Khôn Nguyên đản Phật Quốc Ma Da chi thoại, đại hỷ bối điển chúc Tiên Đào Vương Mẫu chi xuân; chánh đương nhậm ma thả đạo, dĩ hà vi nghiệm, Quan Âm anh lạc diệu trang nghiêm, Thế Chí hoa man trường tự tại (至哉坤元誕佛國摩耶之瑞、大矣貝典祝仙桃王母之春、正當恁麼且道、以何爲驗、觀音瓔珞妙莊嚴、勢至花鬘長自在, tuyệt thay càn khôn mừng Phật Quốc Ma Da điềm lành, lớn thay kinh điển chúc Tiên Đào Vương Mẫu mùa xuân; thế nào mới đúng là đạo, lấy gì chứng nghiệm, Quan Âm anh lạc mầu trang nghiêm, Thế Chí tràng hoa luôn tự tại).” Hay như trong Tiên Giác Tông Thừa (先覺宗乘, CBETA No. 1620) quyển 2, phần Đường Tướng Quốc Bùi Hưu (唐相國裴休) có đoạn: “Thường trai giới, bình thị dục, hương lô bối điển, bất ly tả hữu, vịnh ca tán bối, dĩ vi pháp lạc (常齋戒、屛嗜慾、香爐貝典、不離左右、詠歌贊唄、以爲法樂, thường trai giới, giảm ít ham muốn, xông hương đọc kinh, chẳng rời phải trái, vịnh ca tán tụng, lấy làm pháp lạc).” Hoặc trong Biện Ngụy Lục (辯僞錄, Taishō No. 2116) quyển 4 cũng có đoạn rằng: “Mã Minh Long Thọ toản kỳ huy âm, Vô Trước Thiên Thân bá kỳ di mỹ, phi anh thanh ư tứ hải, đằng mậu thật ư bát phương; Pháp Lan Tăng Hội, tê bối điển nhi Đông truyền; Huệ Viễn Đạo Lâm, xướng huyền phong ư Nam quốc; Phật Đồ Trừng chưởng chiếu thiên lý, A Mục Khư tọa nục quần hung; Vệ Đạo An chú giáo khoa kinh, Tùy Trí Giả phân tông lập phái (馬鳴龍樹纂其徽音、無著天親播其遺美、蜚英聲於四海、騰茂實於八方、法蘭僧會、齎貝典而東傳、慧遠道林、唱玄風於南國、佛圖澄掌照千里、阿目佉坐衄群兇、衛道安注敎科經、隋智者分宗立典, Mã Minh và Long Thọ để lại tiếng thơm, Vô Trước và Thế Thân rộng truyền tốt đẹp; vang tiếng tăm khắp bốn biển, gieo hạt giống nơi tám phương; Trúc Pháp Lan và Khương Tăng Hội, mang kinh điển truyền về phương Đông; Huệ Viễn và Đạo Lâm, cao xướng tông phong nơi nước Nam; Phật Đồ Trừng lãnh đạo sáng khắp ngàn dặm, A Mục Khư ngồi đánh bại quần ma; Thích Đạo An nhà Vệ chú giải khoa kinh, Thiên Thai Trí Khải nhà Tùy phân tông lập phái).”
bối điệp
Kinh văn được viết trên lá bối—Pattra tablets, sutras written on palm leaves.
Bối 背
[ja] ハイ hai ||| (1) To harbor animosity. (2) Back, behind. (3) To turn the back one, go contrary to. Disobey, defy, rebel against. => 1. Nuôi dưỡng lòng thù oán. 2. Lưng, phía sau. 3. Quay ngược lại, đi ngược với. Không vâng lời , coi thường, nổi loạn chống lại.
bốn
Catvari- (S).
bốn binh (chủng)
ở đây chỉ quân đội ngày xưa gồm bốn binh chủng là: quân cưỡi voi, quân cưỡi ngựa, quân dùng xe và quân đánh bộ.
Bốn biện tài không ngăn ngại
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Bốn bộ chúng
(Tứ bộ chúng), cũng gọi là Bốn chúng (Tứ chúng), bao gồm 2 chúng xuất gia là tỳ-kheo và tỳ-kheo ni, 2 chúng tại gia là cư sĩ nam (ưu-bà-tắc) và cư sĩ nữ (ưu-bà-di). Tất cả đệ tử của Phật đều thuộc về một trong bốn chúng này.
Bốn chánh cần
(Tứ chánh cần): (Phạn ngữ: samyakprahṇni), cũng gọi là Bốn tinh tấn, bao gồm: 1. Tinh tấn, chuyên cần trừ bỏ các điều ác chưa sinh khởi (Phạn ngữ: anutpannappakkuśaladharma); 2. Tinh tấn, chuyên cần vượt qua những điều ác đã sinh khởi (Phạn ngữ: utpannappakkuśaladharma); 3. Tinh tấn, chuyên cần phát huy các điều lành đã có (Phạn ngữ: utpannakuśaladharma); 4. Tinh tấn, chuyên cần làm cho các điều lành phát sinh (Phạn ngữ: anut-pannakuśaladharma). Tu tập Bốn chánh cần cũng chính là Chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo.
Bốn chân đế
hay Bốn thánh đế, thường gọi là Tứ diệu đế, gồm có: Khổ đế (Phạn ngữ: duḥkhasatya), Tập đế hay Tập khổ đế (Phạn ngữ: samudayasatya), Diệt đế hay Diệt khổ đế (Phạn ngữ: duḥkhanirodhasatya) và Đạo đế (Phạn ngữ: mrgasatya). Bốn chân đế cũng còn được gọi là Bốn Thánh thật (Tứ Thánh thật) hay Tứ chánh đế. Khổ đế là chân lý chỉ ra rằng tất cả các pháp hiện hữu của thế gian đều có chung tính chất cơ bản là khổ đau. Vì thế, nếu chưa thoát ly khỏi vòng sanh tử thì không thể thoát khỏi khổ đau. Tập đế là chân lý chỉ ra những nguyên nhân gây khổ đau, cụ thể là vòng xoay tương tục của mười hai nhân duyên, với vô minh là mắt xích quan trọng nhất. Diệt đế là chân lý chỉ ra rằng mọi khổ đau đều có thể chấm dứt, diệt trừ nếu chúng ta tu tập và nhận thức đúng để diệt trừ được những nguyên nhân gây ra khổ đau, mà quan trọng nhất là trừ diệt được vô minh. Đạo đế là chân lý chỉ ra con đường tu tập để đạt đến sự diệt trừ khổ đau, mà cụ thể là Bát chánh đạo.
Bốn chúng
xem Bốn bộ chúng.
bốn con rắn độc
xem bốn thứ độc.
bốn con sông hung bạo
(tứ bạo hà): chỉ bốn sự hung bạo thường lôi cuốn chúng sinh trôi lắn trong sinh tử. Đó là tham dục, chấp hữu, kiến chấp và vô minh.
bốn con sông lớn
(tứ đại hà): thường được nhắc đến trong các ví dụ trong kinh điển, chỉ bốn con sông lớn nhất ở Ấn Độ, đều phát nguyên từ dãy núi Hy-mã-lạp, gồm có: sông Hằng, sông Tân-đầu, sông Tư-đà và sông Bác-xoa.
Bốn cách sinh
S, P: caturyoni; Hán Việt: Tứ sinh (四生);|Bốn cách sinh của sáu loài Hữu tình (Lục đạo; s: gati): 1. Sinh con (胎生; thai sinh; s: jarāyuja): loài người, loài có vú; 2. Sinh trứng (卵生; noãn sinh; s: aṇḍaja): chim, bò sát; 3. Sinh nơi ẩm ướt (濕生; thấp sinh; s: saṃsvedaja): côn trùng; 4. Hoá sinh (化生; s: aupapāduka), không do mẹ sinh, do Nghiệp lực (s: karma) sinh (thiên giới, địa ngục, loài sinh trong một thế giới vừa hình thành).
Bốn cõi thiên hạ
(Tứ thiên hạ): Bốn châu ở bốn phương núi Tu-di, dưới quyền thống lãnh của vị Chuyển luân Thánh vương khi vị vua ấy ra đời: Phương bắc là Câu-lô châu, hay Uất-đan-việt châu, phương nam là Thiệm-bộ châu, hay Diêm-phù-đề châu, phương tây là Ngưu-hóa châu hay Cồ-da-ni châu, phương đông là Thắng-thần châu hay Phất-bà-đề châu.
bốn cõi trời hữu sắc
Four heavens of form - cõi trời thứ nhất: chúng sanh ở đó không có vị giác và khứu giác, không cần ăn nhưng có những cơ quan khác; - cõi trời thứ nhì: chúng sanh không có những cơ quan khác, chỉ có tâm trí mà thôi; - cõi thứ ba: chúng sanh vẫn có cơ quan của tâm trí và có phúc lạc rất lớn; - cõi thứ tư: có tâm rất vi tế.
bốn cõi trời vô sắc
Four formless heavens - cõi trời thứ nhất: tâm rỗng rang và bao la như không gian; - cõi trời thứ nhì: sự hiểu và biết không còn giới hạn; - cõi trời thứ ba: tâm phân biệt không còn; - cõi thứ tư: trí huệ phát triển.
Bốn cảnh giới thiền
xem Bốn thiền.
bốn giai cấp
bao gồm các giai cấp bà-la-môn (brhmaṇa), sát-lỵ hay sát-đế-lỵ (kṣatriya) tỳ-xá hay tỳ-xá-da (vaiśya), thủ-đà hay thủ-đà-la (dra). Đây là bốn giai cấp trong hệ thống phân biệt của xã hội Ấn Độ đã có từ trước thời đức Phật. Bà-la-môn chỉ chung các tu sĩ, giữ quyền cúng tế và thực hành các lễ nghi tôn giáo cho cả cộng đồng. Sát-lỵ chỉ giai cấp nắm quyền cai trị, gồm vua chúa, tướng lãnh, quan chức... Tỳ-xá chỉ chung những người buôn bán, thương nhân, cũng gọi là trưởng giả. Thủ-đà là giai cấp thấp hèn, nghèo khó. Ngoài bốn giai cấp này còn có hạng chiên-đà-la bị xem là những người hạ tiện, không thuộc về giai cấp nào cả. Hạng chiên-đà-la bị khinh bỉ đến mức độ luật pháp đương thời cấm họ không được chạm vào người khác. Xem thêm chiên-đà-la.
bốn giới cấm nặng
xem ba-la-di.
Bốn hướng
(Tứ hướng): Hướng hay hướng vị là các địa vị đã dứt trừ kiến hoặc, sắp sửa chứng đắc các thánh quả. Mỗi thánh quả có một hướng vị trước đó, như Tu-đà-hoàn hướng cho đến A-la-hán hướng.
bốn loài
Carturyoni (S)Là: Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh.
bốn loại cúng dường
(tứ sự cúng dường): chỉ việc cúng dường bốn nhu cầu thiết yếu, gồm: thức ăn uống, y phục, chỗ ngủ nghỉ và thuốc thang trị bệnh.
bốn loại gió
(tứ phong): được phân ra theo tác dụng của gió, gồm có: trụ phong, trì phong, bất động phong và kiên cố phong.
bốn loại hoa sen
gồm 4 màu, hoa ưu-bát-la màu xanh, hoa câu-vật-đầu màu vàng, hoa ba-đầu-ma (hay bát-đầu-ma) màu hồng, hoa phân-đà-lỵ màu trắng.
Bốn loại ma
xem Bốn ma.
bốn loại quân
xem bốn binh.
Bốn lời nguyện lớn
Xem Tứ hoằng thệ nguyện
Bốn ma
cũng gọi là Bốn loại ma (Tứ chủng ma), chỉ bốn thứ nghịch hại, gây rối loạn nơi thân tâm chúng sinh: 1. Phiền não ma (hết thảy mọi phiền não trong đời sống). 2. Ấm ma (hay ngũ ấm ma, chỉ các ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là các yếu tố cấu thành thân tâm, cũng là nguyên nhân của đau khổ), 3. Tử ma (Ma chết, chấm dứt mạng sống của chúng sinh), 4. Tha hóa tự tại thiên tử ma (Ma trời dưới quyền Ma vương ở cõi trời Tha hóa tự tại, thường gây mọi trở ngại cho người tu tập Chánh đạo.)
bốn mươi tám nguyện
Forty-eight Vows.
bốn nguyên tắc thiền
Four foundations of meditation, tun mong gi ngon dro shi (T).
Bốn như ý túc
(Tứ như ý túc): cũng gọi là Tứ thần túc, chỉ bốn pháp tu có thể giúp người tu tập có được thần lực, thần thông, nghĩa là sức mạnh vượt qua tất cả chướng ngại trên đường tu tập, bao gồm: 1. Dục như ý túc (lòng mong muốn tha thiết, khát khao giải thoát, ý chí kiên trì trong tu tập); 2. Tinh tấn như ý túc, hay Cần như ý túc (phát triển nghị lực mạnh mẽ trong tu tập, luôn chuyên cần, tinh tấn tu tập Chánh pháp); 3. Tâm như ý túc (nhất tâm, tập trung tâm ý vào sự tu tập, chú tâm); 4. Trạch pháp như ý túc (nghiên tầm, học hỏi giáo lý, phân biệt rõ Chánh pháp, tà pháp).
Bốn niệm xứ
(Tứ niệm xứ): Bốn chỗ quán tưởng, suy xét của người tu tập, gồm có: 1. Quán thân bất tịnh (Thấy rõ sự nhơ nhớp của thân thể do vật chất cấu thành, dễ tan rã, hư hoại); 2. Quán thọ thị khổ (Thấy rõ tất cả mọi cảm thọ đều là khổ não, không chìm đắm, say mê trong đó); 3. Quán tâm vô thường (Thấy rõ mọi tâm niệm thường biến đổi, sinh diệt trong từng sát-na); 4. Quán pháp vô ngã (Thấy rõ tất cả các pháp đều không thật có một bản ngã tồn tại độc lập, chỉ là do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra).
; S: smṛtyupasthāna; P: satipaṭṭhāna; Hán Việt: Tứ niệm xứ (四念處);|Bốn phép Quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán thân, Thụ (s, p: veda-nā), Tâm (s: citta) và các Pháp (tức là những ý nghĩ, khái niệm). Phương pháp quán này được nói rõ trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta) và đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.|Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (p: ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.|Quán Thụ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.|Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).|Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã; biết rõ Năm chướng ngại có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.|Trong Ðại thừa, các phép niệm xứ được hiểu là quán thân, thụ, tâm, pháp; bốn thứ đều là dạng của tính Không.
Bốn niệm xứ kinh
S: smṛtyupasthāna-sūtra; P: satipaṭṭhāna-sutta; Hán Việt: Tứ niệm xứ kinh (四念處經);|Một bài kinh giảng rõ phép quán Bốn niệm xứ, được trình bày trong Trường bộ kinh và Trung bộ kinh, một trong những phép thiền quán quan trọng của Tiểu thừa.
bốn nền tảng đặc biệt
ngndro (T), Four special foundations.
Bốn pháp không ngăn ngại
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Bốn pháp thâu nhiếp
(Tứ nhiếp pháp): Bốn phương pháp thu phục, nhiếp phục lòng người, bao gồm: 1. Bố thí nhiếp: bố thí tài vật, pháp ngữ... để nhiếp phục lòng người; 2. Ái ngữ nhiếp: dùng lời dịu ngọt, nhu hòa dễ mến để nhiếp phục lòng người; 3. Lợi hành nhiếp: dùng những sự việc mang lại lợi ích để nhiếp phục lòng người; 4. Đồng sự nhiếp: dùng cách làm việc chung cùng, hòa đồng để nhiếp phục lòng người. Mục đích chung của bốn pháp thâu nhiếp này là dẫn dắt chúng sanh đi theo mình trên con đường tu tập, hướng thượng.
bốn phép tất đàn
Xem Tất đạt đa.
bốn phương kế cận
xem bốn phương phụ.
bốn phương phụ
(tứ duy), là bốn phương ở giữa bốn phương chính, gồm các phương đông nam, đông bắc, tây nam và tây bắc. Khái niệm mười phương (thập phương) thường dùng trong đạo Phật là xuất phát từ đây, bao gồm các phương đông, tây, nam, bắc, đông nam, đông bắc, tây nam, tây bắc, cùng với hai phương trên và dưới.
Bốn Phạm trú
xem Bốn tâm vô lượng.
Bốn phạm trú
S, P: catur-brahmavihāra; Hán Việt: Tứ phạm trú (四梵住), cũng được gọi là Tứ vô lượng tâm (四無量心);|Một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Bốn phạm trú là: Từ (s: maitrī) vô lượng, Bi (s, p: karuṇā) vô lượng, Hỉ (s, p: muditā) vô lượng và Xả (s: upekṣā) vô lượng. Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn. Trong Ðại thừa, Bốn phạm trú cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật (s: pāramitā; Lục độ). Ðó là tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Bốn phạm trú, thiền giả sẽ tái sinh tại cõi Thiên (s, p: deva). Có khi Bốn phạm trú cũng được gọi là »bốn vô lượng« (vô lượng; s: apramāṇa; p: appa-maññā).|Ðức Phật giảng về phép thiền định này như sau: »Có bốn vô lượng. Hỡi các tỉ-khâu, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng vắng bóng sân hận và phiền não.«
Bốn quả thánh
(Tứ quả hay Tứ thánh quả): là bốn quả vị của hàng Thanh văn thừa, gồm có: 1. Tu-đà-hoàn (Phạn ngữ: śrotanni) dịch nghĩa: Nhập lưu, Dự lưu, là bậc bắt đầu dự vào hàng Thánh quả. 2. Tư-đà-hàm (Phạn ngữ: sakṛḍgmin), dịch nghĩa: Nhất lai. Đây là quả vị chỉ còn tái sinh một lần nữa trước khi đạt giải thoát rốt ráo. 3. A-na-hàm (Phạn ngữ: angmin), dịch nghĩa: Bất lai, Bất hoàn, là bậc không còn phải trở lại vòng sanh tử vì nghiệp quả. 4. A-la-hán (Phạn ngữ: arhat), dịch nghĩa là Bất sanh, là bậc đã diệt trừ hết các phiền não, đoạn diệt nghiệp sanh tử. A-la-hán là quả vị cao nhất, cũng gọi là Hữu dư Niết-bàn hay Niết-bàn của Tiểu thừa.
bốn sự sanh khởi cho một đời sống mới
Bhavuppattiyo (P).
bốn sự điên đảo
xem bốn điên đảo.
Bốn Thiên Vương hộ thế
Bốn vị vua trời có trách nhiệm thủ hộ bốn phương trong thế gian này. Bốn ngài ở lưng chừng theo bốn phía núi Tu-di, gồm có: 1. Trì Quốc Thiên Vương, cai quản phương đông; 2. Quảng Mục Thiên Vương, cai quản phương tây; 3. Tăng Trưởng Thiên Vương, cai quản phương nam; 4. Đa Văn Thiên Vương, cai quản phương bắc.
Bốn thiền
gồm từ thấp lên cao là bốn cảnh giới thiền định: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
bốn thiền, tám định
(tứ thiền, bát định): các mức độ trình tự chứng đắc của người tu tập thiền định. Bốn thiền gồm có Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền, đều còn thuộc trong phạm vi Sắc giới. Tám định bao gồm cả bốn mức định thuộc Sắc giới của Bốn thiền, cộng với bốn mức định thuộc Vô sắc giới là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Bốn Thánh thật
xem Bốn chân đế.
Bốn thánh đế
xem Bốn chân đế.
bốn thứ độc
(tứ chủng độc): Bốn thứ độc hại của các loài rắn, loài trùng, loài ác quỷ, ác ma... Bao gồm: 1. Kiến độc: lấy mắt nhìn gây hại; 2. Xúc độc: xúc chạm vào người gây hại; 3. Khiết độc: cắn, gặm vào người gây hại; và 4. Hư độc (khí độc): phun ra hơi độc gây hại. Bốn thứ độc cũng được dùng để chỉ bốn đại (tứ đại) gồm đất, nước, gió và lửa, được xem là các yếu tố cấu thành vật chất. Vì bốn đại do duyên hợp, không thường tồn, là cội gốc của khổ đau nên người tu hành xem đó là bốn thứ độc, cũng gọi là bốn con rắn độc (Tứ độc xà).
Bốn tinh tiến
S: samyak-prahāṇāni; P: sammā-padhāṇa; Hán Việt: Tứ chính cần (四正勤);|Một phép quán tưởng được đức Phật khuyên làm, nhằm loại trừ bất thiện pháp. Bốn tinh tiến là:|1. Tinh tiến tránh làm các điều ác chưa sinh (s: anutpannapāpakākuśaladharma); 2. Tinh tiến vượt qua những điều ác đã sinh (s: utpanna-pāpakākuśala-dharma); 3. Tinh tiến phát huy các điều thiện đã có (s: utpan-nakuśala-dharma), nhất là tu học Bảy giác chi; 4. Tinh tiến làm cho các điều thiện phát sinh (s: anutpannakuśala-dharma). Bốn tinh tiến chính là Chính tinh tiến trong Bát chính đạo.
Bốn tinh tấn
xem Bốn chánh cần.
Bốn trí không ngăn ngại
(Tứ vô ngại trí): gồm Pháp vô ngại trí, Nghĩa vô ngại trí, Từ vô ngại trí và Lạc thuyết vô ngại trí. Bốn trí không ngăn ngại này cũng chính là Bốn biện tài vô ngại (Tứ vô ngại biện), vì Bồ Tát khi đạt được bốn trí này thì có thể vì tất cả chúng sinh mà biện thuyết Chánh pháp không ngăn ngại. Những ý nghĩa này được đức Phật thuyết giảng rất kỹ trong kinh này, gọi là Bốn pháp không ngăn ngại, xin xem lại bắt đầu từ trang 418 của Tập 3. Đôi khi các pháp này cũng được gọi tắt là Bốn vô ngại (Tứ vô ngại).
bốn trăm lẻ bốn bệnh khổ
Thân thể do tứ đại hợp thành, mỗi đại tăng giảm bất thường có thể sinh ra 101 bệnh não. Do cách tính này nên bốn đại sinh ra 404 bệnh não. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là cách nói tượng trưng, diễn ý là có rất nhiều bệnh tật khác nhau.
Bốn tâm vô lượng
(Tứ vô lượng tâm, 四無量心Phạn ngữ: catvri-apramṇṇi): cũng gọi là Bốn Phạm trú (Tứ Phạm trú - Phạn ngữ, Pli: catur-brahmavihra), gồm có: 1. Từ vô lượng (Phạn ngữ: maitrỵ); 2. Bi vô lượng (Phạn ngữ, Pli: karuṇ); 3. Hỉ vô lượng (Phạn ngữ, Pli: mudit); 4. Xả vô lượng (Phạn ngữ: upekṣ). Đây là bốn tâm nguyện rộng lớn không có giới hạn (vô lượng) của Phật và các vị Bồ Tát. Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn, lại làm lợi ích cho vô lượng vô số chúng sinh, nên gọi là bốn tâm vô lượng.
bốn tư tưởng điên đảo
xem bốn điên đảo.
bốn tỉnh giác
Smṛty-upasṭhāna (S), Appli-cations of mindfulness Niệm xứ, Tứ niệm xứ quánBốn giai đoạn tỉnh giác để thực hành nghi quỹ đại thừa để yên cái tâm gồm có: - thân thanh tịnh - sensation as always resulting in suffering - tâm là vô thường - vật không tự có và không có bản tánh riêng.
bốn tội căn bản
Gồm: - phỉ báng chánh pháp - lìa bỏ tâm bồ đề - khan lận (biết pháp, giữ riêng không nói ai nghe) - não hại chúng sanh.
bốn tội nghiêm trọng
xem ba-la-di.
Bốn tự tín
S: catur-vaiśaradya; P: catuvesārajja; Hán Việt: Tứ vô uý (四無畏), Tứ vô sở uý (四無所畏);|Bốn niềm tự tin của một vị Phật: 1. Tự tin rằng mình thành Phật, bậc Chính đẳng chính giác; 2. Tự tin rằng không còn Ô nhiễm (s: āśrava) sót lại; 3. Tự tin rằng đã vượt qua mọi chướng ngại; 4. Tự tin rằng đã giảng giáo pháp thoát khỏi Luân hồi.
Bốn vô ngại
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Bốn vị Tự tại
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
Bốn xứ
S, P: arūpasamādhi; dịch đúng là »Vô sắc giới định«, nhưng vì định này bao gồm bốn cấp nên được gọi như trên.|Chỉ bốn cõi tâm thức mà phép tu thiền định của Phật giáo nguyên thuỷ có thể dẫn đến. Bốn xứ này nằm trong vô sắc giới (Ba thế giới, Tứ thiền bát định).
bốn điên đảo
(tứ điên đảo, cũng gọi là tứ đảo): Bốn tư tưởng sai trái, đi ngược với chân lý. Đó là: 1. Vô thường cho là thường, thường cho là vô thường; 2. Khổ cho là vui, vui cho là khổ. 3. Không có ngã cho là có ngã, có ngã cho là không có ngã. 4. Bất tịnh cho là tịnh, tịnh cho là bất tịnh. Bốn sự điên đảo này khiến chúng sinh không nhận thức được đúng về bản chất của đời sống, và do bốn sự điên đảo này mà phạm vào mọi việc làm trái ngược với Chánh kiến.
bốn điều tham chiếu
Mahāpadesa (S)- nghe bảo đây là Phật ngôn - nghe sư bảo đây là Phật ngôn - nghe cao tăng bảo đây là Phật ngôn - nghe tỳ kheo cao hạ bảo đây là Phật ngôn Khi nghe thế, không nên chấp nhận hay bác bỏ ngay mà phải so sánh đối chiếu xem có mâu thuẫn với kinh, luận, luật hay không rồi mới kết luận sau.
bốn điều ác của miệng
Bao gồm: nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi và nói lời độc ác.
Bốn đường ác
chỉ các cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la. Xem thêm ba đường ác.
bốn đại
(tứ đại), gồm đất (địa đại), nước (thủy đại), gió (phong đại) và lửa (hỏa đại). Theo quan điểm ngày xưa, bốn đại là bốn yếu tố căn bản tạo thành vật chất. Hiểu theo ý nghĩa tượng trưng thì đây là bốn tính chất phổ biến của vật chất: đất tượng trưng cho độ rắn chắc, kết cấu của vật chất; nước tượng trưng cho độ ẩm, sự hiện diện của nước trong vật chất; lửa tượng trưng cho nhiệt năng hay năng lượng, hàm chứa trong mọi vật chất; và gió tượng trưng cho sự chuyển động, thay đổi của các phân tử cấu thành vật chất. Tất cả vật chất trong vũ trụ đều do bốn tính chất này hòa hợp theo những tỷ lệ khác nhau mà tạo thành. Thân thể con người cũng không phải ngoại lệ, nên được gọi là thân tứ đại. Vì thân tứ đại là cội nguồn của mọi sự tham dục, khổ não nên người tu tập nên quán xét nó như là con rắn độc (tứ đại độc xà).
bốn đại tương khắc
quan điểm y học ngày xưa cho rằng con người sở dĩ có bệnh là do sự tương khắc, không hòa hợp của bốn đại, làm cho cơ thể phát triển không hài hòa. Vì thế, vị thầy thuốc chỉ cần điều chỉnh được sự mất cân đối đó là có thể làm cho bệnh tật mất đi.
bốn đạo binh
xem bốn binh.
Bốn đức chẳng sợ
(Tứ vô sở úy), cũng gọi là Tứ vô úy. Bao gồm: 1. Nhất thiết trí vô sở úy; 2. Lậu tận vô sở úy; 3. Thuyết chướng đạo vô sở úy; 4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy. Đó là bốn đức chẳng sợ của Phật. Lại có bốn đức chẳng sợ của hàng Bồ Tát là: 1. Tổng trì bất vong thuyết pháp vô úy; 2. Tận tri pháp dược, cập tri chúng sanh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy; 3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy; 4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy.
bốn ấm
gồm thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Khi nói bốn ấm là trừ ra sắc ấm vì sắc ấm thuộc về hình sắc. Trong khái niệm danh sắc thì bốn ấm thuộc về danh.
bồ
Cỏ bồ—A kind of fragant grass.
bồ cam
(蒲甘) Pagan. Bồ cam là cố đô của thượng Miến điện, Trung tâm văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc Miến. Bồ cam nằm ở trung du sông Y lạc ngõa để vốn chảy qua giữa Miến, Bắc bộ, Đông bộ có dân tộc Đàn, Nam bộ có tộc Đắc lăng. Tộc miến không có văn hóa riêng, vào thế kỷ XI họ mượn văn tự của tộc Đắc lăng ở Nam bộ để dùng; ở thời kỳ đầu hấp thụ văn hóa Ấn độ. Về tôn giáo thì tin theo Ấn độ giáo và Phật giáo Đại thừa, rồi thế kỷ VIII thì Mật giáo được truyền vào và kết hợp với sự sùng bái tinh linh vốn có từ xưa mà hình thành một thứ Phật giáo mất hết tính chất thuần túy. Giới tăng lữ được gọi là A lị tăng (Ari), truyền thuyết nói rằng họ không tôn trọng giới luật, chịu ảnh hưởng của Mật giáo tả đạo và sống rất phóng đãng. Vào thế kỉ XI, trong tộc Miến đã xuất hiện vị vua sáng suốt tên là A nô luật đà (Anawrata, trị vì 1044-1077), dựng lên Vương triều Bồ cam (1044-1287). Miến điện trước đó không có lịch sử văn hóa, đến vua A nô luật đà mới bắt đầu có niên hiệu và lịch sử. A nô luật đà chịu ảnh hưởng của vị cao tăng A la hán (Arhan) người tộc Đắc lăng. đưa Phật giáo Nam truyền vào Bồcam. Vua sai sứ đến thủ đô Đắc lăng là Thaton thỉnh Thánh điển Pàli, tăng đoàn và các di vật của đức Phật được đưa về, rồi chỉnh đốn tăng đoàn Alị bản xứ. Vua lại mở bang giao thân thiện với nước Tíchlan, thỉnh về đầy đủ ba tạng Kinh, Luật,Luận. Bấy giờ, cả nước từ vua đến dân đều tin theo Phật giáo Nam truyền, Bồ cam nghiễm nhiên trở thành thủ đô của Vương triều Bồ cam và là trung tâm Phật giáo Thượng tọa của Miến điện. Từ đó về sau các vị vua kế tiếp cũng tin thờ Phật giáo, xây dựng nhiều chùa tháp và thủ Di tích tháp của chùa Phật tại Bồ Cam được gọi là Thành bốn trăm vạn bảo tháp. Năm 1287, quân Mông cổ xâm lăng Miến điện, lật đổ Vương triều Bồ cam. Sau đó dân tộc Đàn thay thế Vương triều Bồ cam cai trị Miến điện, Bồ cam vẫn tiếp tục là trung tâm của Phật giáo. Cứ theo sự ghi nhận của cục Điều tra khảo cổ Miến điện năm 1973, thì Bồ cam có 2217 tòa kiến trúc Phật giáo, trong đó nổi tiếng hơn cả là tháp Thụy hỉ cung, tháp Thụy sơn đô, tháp La già nan đà, tháp Ma nô ha, tháp Ma da, tháp A nan đà, tháp Ngạch tối na đương, tháp Tha thủy du và lầu tàng kinh. (xt. Miến Điện Phật Giáo).
bồ câu
Pigeon—Dove.
bồ câu mái
Hen-pigeon.
bồ câu trống
Cock-pigeon.
bồ câu đi thơ
Carrier-pigeon.
bồ công anh
Dandelion.
bồ hòn
Soapberry, which is very bitter.
bồ hóng
Soot.
Bồ Liễu
(蒲柳): tên một loại thực vật, tên khác của Thủy Dương (水楊), thuộc khoa Dương Liễu (楊柳), lá rụng, cây cao hay thấp bụi rậm; vỏ cây màu hồng hay vàng sẫm, vỏ nhánh cây sần sùi, màu xanh lá cây pha tím, vào mùa thu thì tàn rụi, lá rụng trơ trọi. Tên khoa học của nó là Salixgracilistyla, tiếng Anh là willow, bigcatkinwillow. Bên cạnh đó, Bồ Liễu còn tỷ dụ cho người có thân thể suy nhược, yếu mềm hay địa vị thấp hèn. Như trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) thời Nam Triều nhà Tống có câu: “Bồ Liễu chi tư, vọng thu nhi lạc, tùng bách chi chất, kinh sương di mậu (蒲柳之姿、望秋而落、松柏之質、經霜彌茂, dáng cây Bồ Liễu, thu về rơi rụng, chất loại tùng bách, sương thấm càng tươi).” Trong Tấn Thư (晉書), phần Cố Duyệt Chi Truyện (顧悅之傳) cũng có câu tương tợ như vậy: “Bồ Liễu thường chất, vọng thu tiên linh (蒲柳常質、望秋先零, chất thường Bồ Liễu, thu về rụng đầy).” Hay như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 2, phần Bảo Thai (保胎) cũng có câu: “Tùng bách chi tư kinh đông dũ mậu, Bồ Liễu chi chất vọng thu tiên linh (松柏之姿經冬愈茂、蒲柳之質望秋先零, dáng cây tùng bách qua đông càng tốt, chất loại Bồ Liễu chớm thu đã tàn).” Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc (征婦吟曲) của Đặng Trần Côn (鄧陳琨, ?-?, khoảng thế kỷ 18), Việt Nam, cũng có câu liên quan đến loài cây yếu mềm này như: “Biệt sầu thu hận lưỡng tương ma, Bồ Liễu thanh thanh năng kỷ hà (別愁秋恨兩相磨、蒲柳青青能幾何).” Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1748) dịch là “oán sầu nhiều nỗi tơi bời, vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.”
bồ liễu
Tên của hai loại cây có cọng mềm yếu, ý nói bản chất của sự mềm yếu của phụ nữ—Names of two plants which have slender stalks—Nature of delicate constitution of a woman or girl.
bồ mĩ bồng
(蒲美蓬) (1928-?) Vị vua đời thứ 9 của nước Thái lan. Cha là Tống tạp, mẹ là Song uông, lên ngôi lúc 19 tuổi. Ông học ngành cầu đường và chính trị học ở Thụy sĩ, học kiêm các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức và La tinh, thích âm nhạc và mỹ thuật. Năm Phật lịch 2514 (1946) nhà vua qui y ngài Tăng thống Thái lan, phát nguyện làm tỉ khưu nửa tháng, hành trì công khóa rất nghiêm cẩn, y như một vị tỉ khưu thực thụ. Từ khi lên ngôi đến nay (1988), ông hết lòng hộ trì Phật pháp. Trong thời gian thăm nước Mĩ, ông đã giảng diễn tại Quốc hội Mĩ, lấy việc hoằng dương Phật pháp làm tông chỉ. Ông tài trợ cho hội Pàli Thánh Điển (PàliText Society) của nước Anh, in ba tạng kinhPàli theo mẫu tự La tinh và dịch ba tạngPàli sang tiếng Anh; đồng thời, giúp đỡ Phật tử Đông Hồi (East Pakistan) mở rộng các chùa thờ Phật. Nhà vua cũng là người tán trợ cho Tổng hội Phật giáo Thái lan và hội Thanh niên Phật giáo, là người đã cống hiến rất lớn cho sự nghiệp hoằng dương Phật giáo Thái lan.
Bồ Nguyệt
(蒲月): tên gọi riêng của tháng 5 Âm Lịch, vì có tập quán người ta thường lấy cây Xương Bồ (菖蒲) làm kiếm để xua đuổi tà khí vào dịp Tết Đoan Ngọ (端午節, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Ngũ nguyệt kiến Ngọ viết Đôn Tang, hựu viết Nhuy Tân, hoặc danh Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, hựu xưng Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt đẳng (五月建午曰敦牂、又曰蕤賓、或名天中節、或脩月、又稱皋月、蒲月、艾月、榴月等, tháng Năm đúng tháng Ngọ, được gọi là Đôn Tang, còn gọi là Nhuy Tân, hoặc có tên Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt; lại gọi là Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt, v.v.).” Hay trong Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục (新編諸宗敎藏總錄, Taishō Vol. 55, No. 2184) quyển 1 có đoạn: “Thời Nguyên Lộc, tuế thứ Quý Dậu Bồ Nguyệt ký vọng, Tỳ Lô Chánh Tông Tây Hồ Tỳ Kheo Bạch Huyền Thiên Long thư vu Tam Học Sơn thảo đường (時元祿、歲次癸酉蒲月既望、毘盧正宗西湖比丘白玄天龍書于三學山草堂, lúc bấy giờ vào niên hiệu Nguyên Lộc, ngày 16 tháng 5 năm Quý Dậu [1693], Tỳ Kheo Bạch Huyền Thiên Long thuộc Tỳ Lô Chánh Tông viết tại ngôi nhà cỏ ở Tam Học Sơn).”
bồ nhìn
Puppet.
bồ thiện ni
See Bồ Đề Ni.
Bồ Thất Tập
(蒲室集, Hoshitsushū): 15 quyển 7 tập, ngoài ra còn có bản 5 tập và 10 tập, do Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) nhà Nguyên soạn, san hành dưới thời nhà Nguyên. Đây là tác phẩm biên tập toàn bộ Ngữ Lục, thi văn, thư vấn, sớ, v.v., của Tiếu Ẩn Đại Hân, pháp từ của Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙). Tập I là Thiên Ngữ Lục được chia thành 4 quyển: quyển 1 có Ô Hồi Thiền Tự Ngữ Lục (烏回禪寺語錄, do nhóm Diên Tuấn [延俊] biên), Thiền Tông Đại Báo Quốc Thiền Tự Ngữ Lục (禪宗大報國禪寺語錄, do nhóm Huệ Đàm [慧曇] biên), Trung Thiên Trúc Thiền Tự Ngữ Lục (中天竺禪寺語錄, do nhóm Trung Tự [中字] biên); quyển 2 có Đại Long Tường Tập Khánh Tự Ngữ Lục (大龍翔集慶寺語錄, do nhóm Sùng Dụ [崇裕] biên); quyển 3 có các bài tán, kệ tụng, bia minh; quyển 4 có lời tựa, đề bạt. Tập II là thiên về thơ, được chia thành 5 quyển, có những bài cổ từ, cổ thi (tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn), luật thi (ngũ ngôn, thất ngôn). Tập III là thơ tuyệt cú (ngũ ngôn, thất ngôn), bài liễn, tựa. Tập IV là thiên ký lục. Tập V là thiên về văn bia, gồm các bài minh văn bia, bài minh tháp, lời bạt, tán, văn tế, v.v. Tập VI là thiên về thư vấn. Tập VII là thiên về sớ, gồm văn sớ và biểu trình tấu. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn (五山版, 20 quyển, phụ 1 quyển) được san hành vào năm thứ thứ 4 (1359) niên hiệu Diên Văn (延文), bản sao, bản chia ra san hành riêng. Tác phẩm này được giới văn nghệ Ngũ Sơn rất trân trọng và có một số sách chú thích như Bồ Thất Tập Chú Thích (蒲室集註釋) của Trung Nham Viên Nguyệt (中巖圓月), Bồ Thất Tập Sao (蒲室集抄, còn có tên là Bồ Căn [蒲根]) của Nguyệt Chu Thọ Quế (月舟壽桂), Bồ Thất Sớ Sao (蒲室疏抄) của Nguyệt Khuê Thánh Trừng (月溪聖澄), Bồ Thất Bí Chỉ Tứ Lục Khẩu Quyết (蒲室祕旨四六口訣) của Cao Phong Đông Tuấn (高峰東晙), Bồ Thất Sớ Tục Khảo (蒲室疏續考) của cùng tác giả trên, Bồ Thất Tập Thư Vấn Chi Mạn Lược Sao (蒲室集書問枝蔓略抄) của Thử Sơn Huyền Uyên (此山玄淵), v.v.
bồ thất tập
(蒲室集) Sách, 15 quyển, do vị tăng đời Nguyên là Tiếu ẩn Đại hân soạn, nhóm các ông Diên tuấn biên chép, khắc bản in vào đời Nguyên. Sách này thu chép pháp ngữ ở các chùa: Ô hồi, Thiền tông Đại báo quốc, Trung thiên trúc, Đại long tường tập khánh; các bài chân tán, kệ tụng, tựa, đề bạt, cổ từ, cổ thi, luật thi, tuyệt cú, liên, kí, minh, thư vấn, sớ v.v... [X. Thiền tịch mục lục].
Bồ Tát
(s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩): từ gọi tắt của âm dịch Bồ Đề Tát Đỏa (菩提薩埵), hay Bồ Đề Sách Đa (菩提索多), Mạo Địa Tát Đát Phược (冐地薩怛縛), Phù Tát (扶薩); ý dịch là Đạo Chúng Sanh (道眾生), Giác Hữu Tình (覺有情), Đại Giác Hữu Tình (大覺有情), Đạo Tâm Chúng Sanh (道心眾生), Đại Sĩ (大士). Nguyên ngữ của nó được kết hợp bởi 2 từ bodhi và sattva. Từ bodhi (bồ đề [菩提]) có nghĩa là sự khai ngộ, tỉnh thức, được dịch là giác (覺). Sattva (tát đỏa [薩埵]) nghĩa là sinh vật, nên được dịch là chúng sanh (眾生), hữu tình (有情). Khi hai từ này được kết hợp lại với nhau, chúng có nghĩa là người tìm cầu sự giác ngộ hay người có trang bị đầy đủ sự giác ngộ. Đặc biệt, đối với trường hợp của Đại Thừa Phật Giáo, Bồ Tát không phải là người tu hành để tìm cầu sự giác ngộ cho tự thân mình, mà tồn tại trong hiện thực của cuộc đời để tìm cầu chân lý giác ngộ, tu hành thật tiễn (hạnh từ bi lợi tha) cho mọi người trên đời, nỗ lực tinh tấn Tịnh Độ hóa (làm thanh tịnh quốc độ Phật) hiện thực xã hội bằng chân lý giác ngộ. Từ đó, Đại Thừa Phật Giáo phê phán hai thừa Thanh Văn (聲聞) cũng như Duyên Giác (緣覺) vốn thoát ly hiện thực của Phật Giáo Nguyên Thủy, và nhấn mạnh vai trò của Bồ Tát Nhất Thừa (菩薩一乘). Trong các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華), v.v., đôi khi phủ nhận người xuất gia Tiểu Thừa, thay vào đó lập nên hình tượng Bồ Tát. Từ thế giới giác ngộ, vị này thể nhập vào cuộc đời, đồng cam cọng khổ với mọi người và tận lực cứu độ chúng sanh. Do đó, nhiều loại Bồ Tát được dựng lên và được tôn thờ trong dân gian. Tỷ dụ như Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音), Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏), v.v. Chính vì vậy, việc điêu khắc hình tượng Bồ Tát cũng trở nên thịnh hành. Tại Nhật Bản—đất nước có đặc sắc khẳng định con người và trung tâm hiện thực—ngay từ buổi ban sơ khi Phật Giáo mới được truyền vào, chư vị thần được xem như là chúng sanh mê muội chẳng khác gì con người, cũng có địa vị tối cao như là vị thần của quốc gia hay của dân tộc và dần dần được thánh hóa là Bồ Tát. Trường hợp Bát Phan Đại Bồ Tát (八幡大菩薩) là một thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, những con người thực tế như Bồ Tát Hành Cơ (行基), v.v., cũng được Bồ Tát hóa để tôn xưng vị tu hành có đạo cao đức trọng. Ở Việt Nam, trường hợp Bồ Tát Thích Quảng Đức cũng như vậy.
; 菩薩; viết tắt của danh từ dịch âm Bồ-đề Tát-đoá (菩薩薩埵; s: bodhisattva; p: bodhisatta); nguyên nghĩa là »Giác hữu tình« (覺有情), cũng được dịch nghĩa là Ðại sĩ (大士);|Trong Ðại thừa, Bồ Tát là hành giả sau khi hành trì Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) đã đạt Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn, khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Bi (s, p: karuṇā), đi song song với Trí huệ (s: pra-jñā) Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ Tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề (s: bodhicitta) và giữ Bồ-tát hạnh nguyện (s: praṇidhāna). Hành trình tu học của Bồ Tát được chia làm mười giai đoạn, Thập địa (s: daśabhūmi). Hình ảnh Bồ tát của Ðại thừa tương tự như A-la-hán (s: arhat) của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình.|Thật sự thì khái niệm Bồ Tát đã được tìm thấy trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thân đức Phật Thích-ca (Bản sinh kinh). Trong Ðại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền thân của các vị Phật tương lai. Ðại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang sống trên trái đất và Bồ Tát siêu việt (e: trans-cendent). Các vị đang sống trên trái đất là những người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. Các vị Bồ Tát siêu việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả – nhưng chưa nhập Niết-bàn. Ðó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong Luân hồi, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độ chúng sinh. Ðó là các vị được Phật tử tôn thờ và đỉnh lễ, quan trọng nhất là các vị Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara), Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha), Ðại Thế Chí (大勢至; s: mahāsthā-maprāpta) và Phổ Hiền (普賢; s: sa-mantabhadra).
bồ tát
Byang chub sems dpa (T), Bodhisattva (S), A future Buddha. Bodhisatta (P), Bosatsu (J), Bosal (K)Đại chánh tríNgười nguyện được giác ngộ, lập hạnh nguyện Bồ tát, và đắc thành Phật quả cho chính mình và người khác. Đại thừa chia thành 2 hạng bồ tát: Bồ tát địa (World Bodhisattva) và Bồ tát thiên (Transcendent Bodhisattva). Bồ tát địa là người có lòng từ bi, lợi tha và có ước nguyện giác ngộ. Bồ tát thiên là người đắc trí huệ bát nhã và Phật quả nhưng chưa muốn nhập niết bàn. Những Bồ tát thiên thường được nhắc nhỡ như Bồ tát Quán thế âm, Văn thù sư lợi, Phổ hiền... Có nhiều kinh điển nói về Bồ tát, phổ biến nhất là Kinh Thập địa.
; Xem Bồ đề tát đỏa.
; Âm tiếng Phạn là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là Giác hữu tình, có bổn phận khiến cho hữu tình chúng sanh đạt đến giác ngộ.
; Bodhisattva (skt). (A) Nghĩa của Bồ Tát—The meanings of Bodhisattva: 1) Theo Đại Trí Độ Luận, chữ Bodhi có nghĩa là con đường hành đạo của chư Phật, chữ sattva là bản chất của thiện pháp. Bồ Tát là vị có tâm cứu giúp tất cả chúng sanh vượt qua dòng sông sanh diệt—According to the Mahaprajnaparamita sastra, Bodhi means the way of all the Buddhas, and Sattva means the essence and character of the good dharma. Bodhisattvas are those who always have the mind to help every being to cross the stream of birth and death. 2) Đại Đạo Tâm Chúng Sanh (dịch theo cũ): All beings with mind for the truth. 3) Đại Giác Hữu Tình (dịch theo mới). Bồ Tát là bậc tầm cầu sự giác ngộ tối thượng, không phải chỉ cho chính mình mà cho tất cả chúng sanh: Conscious beings of or for the great intelligence, or enlightenment. The Bodhisattva seeks supreme enlightenment not for himself alone but for all sentient beings. 4) Người tu theo Đại Thừa, xuất gia hay tại gia, thượng cầu đại giác, hạ hóa chúng sanh (tự giác, giác tha): A Mahayanist, whether monk or layman, above is to seek Buddhahood, below is to save sentient beings (he seeks enlightenment to enlighten others). 5) Chúng sanh tu hành và xem lục độ Ba La Mật như là phương cách cứu độ và giác ngộ. Mục đích của Bồ Tát là cứu độ chúng sanh. Bốn bản chất vô lượng của Bồ Tát là Từ vô lượng, Bi vô lượng, Hỷ vô lượng và Xả vô lượng. Một người, hoặc Tăng Ni, hay Phật tử tại gia đạt quả vị Niết bàn trong cương vị một Thanh Văn, hay Duyên Giác, nhưng vì lòng đại bi thương xót chúng sanh, nên không vào Niết bàn mà tiếp tục đi trong Ta Bà để cứu độ chúng sanh. Trong lòng của Bồ Tát luôn có Bồ Đề Tâm và nguyện lực. Bồ Đề tâm bao gồm trí tuệ siêu việt là lòng đại bi. Nguyện lực là sự quyết tâm kiên định để cứu thoát tất cả chúng sanh—Bodhisattva—Who makes the six paramitas (lục độ) their field of sacrificial saving work and of enlightenment. The objective is salvation of all beings—Four infinite characteristics of a bodhisattva are kindness (từ), pity (bi), joy (hỷ), self-sacrifice (xả)—A person, either a monk, a nun, a layman or a laywoman, who is in a position to attain Nirvana as a Sravaka or a Pratyekabuddha, but out of great compassion for the world, he or she renounces it and goes on suffering in samsara for the sake of others. He or she perfects himself or herself during an incalculable period of time and finally realizes and becomes a Samyaksambuddha, a fully enlightened Buddha. He or she discovers the Truth and declares it to the world. His or her capacity for service to others is unlimited. Bodhisattva has in him Bodhicitta and the inflexible resolve. There are two aspects of Bodhicitta: Transcendental wisdom (Prajna) and universal love (Karuna). The inflexible resolve means the resolve to save all sentient beings—See Bodhisattva. 6) Theo trường phái Đại Thừa, Bồ Tát từ chối nhập Niết Bàn cho đến khi nào thực hiện xong lời nguyện là cứu độ hết thảy chúng sanh. Ngoài ra, Bồ tát còn xem hết thảy chúng sanh như chính mình nên không nở ăn thịt—According to the Mahayana schools, the bodhisattvas are beings who deny themselves final Nirvana until, accomplishing their vows, they have first saved all the living—An enlightened being who, deferring his own full Buddhahood, dedicates himself to helping others attain liberation. Besides, the Bodhisattva regards all beings as himself ought not to eat meat. 7) Bồ Tát là một chúng sanh đã có sẵn bản chất hoặc tiềm năng của trí tuệ siêu việt hoặc chánh giác tối thượng, là bậc đang đi trên con đường đạt tới trí tuệ siêu việt. Bồ Tát là một chúng sanh có khả năng thành Phật. Với sự tự tại, trí tuệ và từ bi, Bồ Tát biểu thị một thời kỳ cao của Phật quả, nhưng chưa phải là một vị Phật toàn giác. Sự nghiệp tu hành của bậc Bồ Tát kéo dài nhiều đời nhiều kiếp, mỗi đời Ngài đều thực hành lục độ và thập địa để cầu đắc quả chánh giác tối hậu, đồng thời lấy sự phấn đấu vĩ đại và tâm kiên nhẫn phi thường và không ngừng tự hy sinh để mưu cầu sự tốt đẹp cho tất cả chúng sanh—A Bodhisattva is one who has the essence or potentiality of transcendental wisdom or supreme enlightenment, who is on the way to the attainment of transcendental wisdom. He is a potential Buddha. In his self-mastery, wisdom, and compassion, a Bodhisattva represents a high stage of Buddhahood, but he is not yet a supremely enlightened, fully perfect Buddha. His career lasts for aeons of births in each of which he prepares himself for final Buddhahood by the practice of the six perfections (paramitas) and the stages of moral and spiritual discipline (dasabhumi) and lives a life of heroic struggle and unremitting self-sacrifice for the good of all sentient beings—See Bồ Đề Tâm. 8) Bồ Tát là người đã giác ngộ, tự hiến đời mình trợ giúp người khác đạt giải thoát. Với sự tự tại, trí huệ và từ bi, Bồ Tát biểu thị một giai đoạn cao của Phật quả nhưng chưa phải là một vị Phật giác ngộ vô thượng viên mãn hoàn toàn—Bodhisattva is an enlightening being who, defering his own full Buddhahood, dedicates himself to helping others attain liberation. In his self-mastery, wisdom, and compassion a Bodhisattva represents a high stage of Buddhahood, but he is not yet a supreme enlightened, fully perfected Buddha. (B) Phân loại Bồ Tát—Categories of Bodhisattvas: 1) Nhị Chủng Bồ Tát: Two kinds of bodhisattva—See Nhị Chủng Bồ Tát. 2) Nhị Chủng Bồ Tát Thân: Two kinds of bodhisattva's body. (C) Đặc tính của Bồ Tát—Characteristics of Bodhisattva: 1) Bồ Tát không chán ghét thứ gì trong bất cứ thế giới nào mà ngài bước vào, vì biết rằng hết thảy các pháp như ảnh tượng phản chiếu: The Bodhisattva does not detest anything in whatever world he may enter, for he knows (praijna) that all things are like reflected images. 2) Ngài không đam mê trong bất cứ con đường nào mà ngài bước đi, vì biết rằng tất cả chỉ là sự hóa hiện: He is not defiled in whatever path he may walk, for he knows that all is a transformation. 3) Ngài không thấy mỏi mệt trong bất cứ nỗ lực nào điều phục chúng sanh, vì biết rằng tất cả là vô ngã: He feels no fatigue whatever in his endeavor to mature all beings, for he knows that there is nothing to be designated as an ego-soul. 4) Ngài nhiếp hóa chúng sanh không hề mỏi mệt vì từ bi là tinh thể của ngài: He is never tired of receiving all beings, for he is essentially love and compassion. 5) Ngài không sợ phải trải qua nhiều kiếp, vì thấy rõ rằng sinh tử và năm uẩn như ảo tượng: He has not fear in going through all kalpas, for he understands (adhimukta) that birth-and-death and all the skandhas are like a vision. 6) Ngài không hủy diệt bất cứ con đường hiện hữu nào, vì biết rằng hết thảy các giới (dhatu) và xứ (ayatana) đều là pháp giới (dharmadhatu): He does not destroy any path of existence, for he knows that all the Dhatus and Ayatanas are the Dharmadhatu. 7) Ngài không có thiên chấp về các đạo vì biết rằng hết thảy tư tưởng đều như quáng nắng: He has no perverted view of the paths, for he knows that all thoughts are like a mirage. 8) Ngài không bị ô nhiễm dù khi đang ở trong cõi của hàng chúng sanh xấu ác, vì biết rằng hết thảy các thân đều chỉ là những giả tượng: He is not defiled even when he is in the realm of evil beings, for he knows that all bodies are mere appearances. 9) Ngài không hề bị lôi cuốn bởi những tham dục, vì đã hoàn toàn chế ngự tất cả những gì được khải thị: He is never enticed by any of the evil passions, for he has become a perfect master over things revealed. 10) Ngài đi bất cứ ở đâu một cách vô cùng tự tại, vì đã hoàn toàn kiểm soát những giả tướng: He goes anywhere with perfect freedom, for he had full control over all appearances.
; (菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…... Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…... Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh
(菩薩瓔珞本業經) Kinh, 2 quyển, ngài Trúc phật niệm dịch vào năm Kiến nguyên 12 đến 14 (376-378) đời Diêu Tần. Cũng gọi Bồ tát anh lạc kinh, Anh lạc bản nghiệp kinh, hoặc gọi tắt Anh lạc kinh, Bản nghiệp kinh, thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung nói về các giai vị tu nhân và ba tụ tịnh giới của Bồ tát. Anh lạc bản nghiệp là tiếng dùng trong hệ thống hoa nghiêm, vì thế kinh này có rất nhiều chỗ hợp nhau với giáo tướng Hoa nghiêm. Kinh này lập 52 giai vị tu hành của Bồ tát gồm: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Vô cấu địa và Diệu giác v.v…... Toàn bộ kinh chia làm 8 phẩm: Tập chúng phẩm, Hiền thánh danh tự phẩm, Hiền thánh học quán phẩm, Thích nghĩa phẩm, Phật mẫu phẩm, Nhân quả phẩm, Đại chúng thụ học phẩm, Tập tán phẩm, để trình bảy rõ các giai vị và sự tu hành của Bồ tát. Phẩm đại chúng thụ học nói về Tam tụ tịnh giới, lấy tám vạn bốn nghìn pháp môn làm Nhiếp thiện pháp giới; lấy bốn tâm vô lượng từ bi hỉ xả làm Nhiếp chúng sinh giới; lấy mười ba la di làm Nhiếp luật nghi giới (Mười ba la di trong kinh này cũng giống với mười giới nặng của kinh Phạm võng). Kinh này chịu ảnh hưởng kinh Phạm võng rất sâu, nội dung Tam tụ tịnh giới đều thuộc về giới Đại thừa. Đặc điểm ở đây là giới Bồ tát có nhận pháp mà không bỏ pháp, một khi đã được giới thì vĩnh viễn không mất; cho dù có phạm giới ba la di cũng không mất giới thể. Và chủ trương giới lấy tâm làm thể. Khảo xét về kinh này thì ở Ấn độ không thấy căn cứ sử thực. Còn ở Trung quốc, từ Pháp kinh lục trở đi, các kinh lục phổ thông đều ghi do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần, nhưng trong phần dịch kinh của Xuất tam tạng kí tập thì không có tên kinh này, và nó được xếp vào Thất dịch tạp kinh lục (phần ghi chép những kinh mất tên người dịch). Lịch đại tam bảo kỉ thì nói kinh này ngoài bản dịch của ngài Trúc phật niệm ra, còn có bản dịch của ngài Trí nghiêm đời Tống nữa. Thời gần đây, đã có học giả căn cứ vào sự không xác định được người dịch và do xem xét phần nội dung, mà cho rằng kinh này đã được soạn ra ở Trung quốc. [X. Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.thượng; Phạm võng bồ tát giới bản sớ Q.1; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.5, Q.12].
bồ tát bản nghiệp kinh
(菩薩本業經) Kinh, 1 quyển, ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô. Cũng gọi Hoa nghiêm kinh Tịnh hạnh phẩm, Bản nghiệp kinh, Tịnh hạnh phẩm kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 10. Kinh này lấy phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm làm cốt mà soạn thành một kinh riêng, mục đích nói rõ lí tưởng của Bồ tát tại gia. Đối chiếu kinh Hoa nghiêm với kinh này, người ta khó có thể đoán định được kinh này đã được mở rộng ra thành kinh Hoa nghiêm, hay kinh Hoa nghiêm đã được rút gọn lại mà thành kinh này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2].
bồ tát bản nguyện
Bodhisattva vow.
bồ tát bản sinh man luận
(菩薩本生鬘論) Phạm : Jàtakamàlà,16 quyển, các ngài Thánh dũng (Phạm:Àrya-zùra) v.v…... người Ấn độ soạn, các sư Thiệu đức, Tuệ tuân đời Bắc Tống dịch, thu vào Đại chính tạng tập 3. Cũng gọi Bản sinh man luận, Bản sinh man. Sách này thuật lại sự tích của đức Phật trong các kiếp quá khứ khi tu hành đạo Bồ tát và giải thích pháp nghĩa của nó. Nội dung toàn bộ sách được chia làm hai phần, phần trước gồm 4 quyển kể 14 truyện của đức Phật như sau: Gieo mình cho hổ (cọp) ăn, vua Thi tì cứu mạng chim bồ câu, Như lai đi xin ăn, hóa thần thông tối thắng, Như lai không bị chất độc làm hại, thỏ chúa bỏ mình cúng dường Phạm chí, vua rồng từ tâm tiêu trừ oán hại, vua Từ lực đâm vào mình lấy máu bố thí năm quỉ dạ xoa, dạy rõ dù bố thí ít cũng được công đức vì nhân chân chính, Như lai đầy đủ trí tuệ không ghen ghét điều thiện của người khác, Phật rưới nước lên đầu vị tỉ khưu bị bệnh nhờ thế được an lành, xưng niệm công đức của Tam bảo, xây tháp được phúc báo, công đức xuất gia. Phần sau gồm 12 quyển, tức từ quyển 5 trở đi, giải thích rõ về pháp tướng trong Hộ quốc bản sinh…. Đứng về phương diện kết cấu của toàn bộ bản Hán dịch hiện còn mà nói, thì 14 truyện của phần trước, văn nghĩa dễ hiểu, còn nửa trước của phần sau thì thiếu sót, hơn nữa, hành văn trúc trắc, tối nghĩa khó hiểu, có lẽ đã do chắp nối từ nhiều nguyên bản mà ra, cho nên rất khác với nguyên bản tiếng Phạm hiện còn. Bản tiếng Phạm hiện còn thu chép tất cả 34 truyện tích bản sinh của đức Phật, phổ thông đều cho là do ngài Thánh dũng soạn. Cứ theo Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 9 nói, thì nguyên bản tiếng Phạm đã do các ngài Thánh dũng, Tịch biến, và Thánh thiên soạn. Nhưng Duyệt tạng tri tân quyển 38 thì lại nói bốn quyển trước do Tôn giả Thánh dũng Hộ quốc biên tập, 12 quyển sau do các ngài Tịch biến, Thắng thiên soạn. Nếu ngài Thánh dũng, người làm luận Bồ tát bản sinh man này và ngài Đại dũng, soạn giả của kinh Phân biệt nghiệp báo (do ngài Tăng già bạt ma dịch vào đời Lưu Tống) là cùng một người, thì niên đại thành lập nguyên bản tiếng Phạm phải là vào thế kỉ IV Tây lịch. Gần đây, lại có học giả cho rằng tác giả của luận Bồ tát bản sinh man (tiếng Phạm) và tác giả của 150 bài tán, 400 bài tán là một người. Nếu thuyết này đúng, thì niên đại thành lập nguyên bản tiếng Phạm của luận Bồ tát bản sinh man là khoảng thế kỉ II Tây lịch. Tóm lại, về niên đại thành lập nguyên bản tiếng Phạm của luận Bồ tát bản sinh man có hai thuyết: 1. Nếu ngài Thánh dũng và ngài Đại dũng (soạn giả của kinh Phân biệt nghiệp báo) là một người, thì bộ luận Bồ tát bản sinh man bằng tiếng Phạm đã được soạn thành vào thế kỉ IV Tây lịch. 2. Nếu ngài Thánh dũng, người soạn luận Bồ tát bản sinh man (tiếng Phạm), đồng thời, cũng là tác giả của 150 bài tán và 400 bài tán khác nữa, thì luận Bản sinh man được soạn vào thế kỉ II Tây lịch. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 chép, thì Bản sinh man là bài tán vịnh hay nhất trong các bài tán vịnh. Hơn 10 nước thuộc các đảo Nam hải đều có phong tục phúng tụng Bản sinh man. Bản tiếng Phạm ấn hành vào năm 1891; bản dịch tiếng Anh thì được xuất bản vào năm 1895. [X. Anh dịch đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Phạm ngữ Phật điển chi chư văn hiến (Sơn điền Long thành); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II].
bồ tát bộ
(菩薩部) Một trong những cách chia loại tượng Phật. Chỉ Thánh chúng đầy đủ hình tướng Bồ tát. Hình Bồ tát là tướng tại gia, trên đầu có tóc, phần nhiều đội mũ báu, mặc thiên y (áo cõi trời); cổ, ngực đeo vòng hoa và chuỗi ngọc, tứ chi trang sức vòng, xuyến, nói chung đều hiện tướng nhu hòa. Loại tượng như tượng bồ tát Quán thế âm là nhiều nhất. Ngoài ra, các bồ tát Văn thù, Phổ hiền, Phổ hiền diên mệnh, Hư không tạng, Đại thế chí v.v...… đều là Thánh chúng thuộc Bồ tát bộ.
bồ tát chuẩn đề
Cunde (skt)—Hóa thân của Quán Âm Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa. Vị Bồ tát có 18 tay tiêu biểu cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), lục đại (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), và lục thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý)—A transformation body of the Avalokitesvara Maha-Bodhisattva. This Maha Bodhisattva has 18 arms which symbolizes 6 faculties (sight,hear, smell, taste, touch, mind), 6 elements (form, sound, scent, flavor, bodily sensation, and all other elements in general) , and 6 consciousnesses (sight, hearing, smell, taste, touch, and mind).
bồ tát câu hội tại vườn kỳ thọ cấp cô độc viên để nghe phật thuyết kinh hoa nghiêm
These bodhisattvas are among the five hundred Bodhisattvas gathered in the Garden of Anathapindaka in the Jeta Gorve to hear Sakyamuni Buddha to preach The Flower Oranment Scripture: (A) Chư Bồ Tát—Bodhisattvas: Trong số năm trăm Bồ tát nầy thì Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù làm Thượng thủ—Among these 500 Bodisattvas, Samantabhadra and Manjusri Bodhisattvas stand out prominently as the two leaders. 1) Phổ Hiền: Samatabhadra. 2) Văn Thù: Manjusri. 3) Quang Diệm Tràng: Endowed with Perspicacious Knowledge. 4) Tu Di Tràng: Endowed with Sumeru Knowledge. 5) Bửu Tràng:Endowed with Adamantine Knowledge. 6) Vô Ngại Tràng: Endowed with Unemotional Knowledge. 7) Hoa Tràng: Endowed with Blossoming Knowldege. 8) Ly Cấu Tràng: Endowed with Unattached Knowledge. 9) Ly Trần Tràng: Endowed with Undefiled Knowledge. 10) Nhựt Tràng: Endowed with Sunlike Knowledge. 11) Nguyệt Tràng: Endowed with Moonlike Knowledge. 12) Phổ Quang Tràng: Endowed with Radiant Knowledge. 13) Quang Ảnh Sơn Oai Lực: Endowed with Mountainlike Knowledge. 14) Bửu Oai Lực: Jewel Energy. 15) Đại Oai Lực: Great Energy. 16) Kim Cang Trí Oai Lực: Knowledge Thunderbolt Energy. 17) Ly Trần Cấu Oai Lực: Undefiled Energy. 18) Chánh Pháp Nhựt Oai Lực: Energy of the Sun of Truth. 19) Công Đức Sơn Oai Lực: Virtue Mountain Energy. 20) Phổ Kiết Tường Oai Lực: Universal Light Energy. 21) Địa Tạng: Earth Matrix (Store). 22) Hư Không Tạng: Sky Matrix. 23) Liên Hoa Tạng: Lotus Calyx. 24) Bửu Tạng: Jewel Matrix. 25) Nhựt Tạng: Sun Matrix. 26) Tịnh Đức Tạng: Matrix of Virtue. 27) Thiện Nhãn: Good Eye. 28) Tịnh Nhãn: Pure Eye. 29) Ly cấu Nhãn: Undefiled Eye. 30) Vô Ngại Nhãn: Unobstructed Eye. 31) Phổ Kiến Nhãn: All-Seeing Eye. 32) Phổ Quán Nhãn: Perceptive Eye. 33) Thanh Liên Hoa Nhãn: Lotus Eye. 34) Kim Cang Nhãn: Adamantine Eye. 35) Bửu Nhãn: Jewel Eye. 36) Hư Không Nhãn: Space Eye. 37) Joy Eye: Hỷ Nhãn. 38) Phổ Nhãn: Universal Eye. 39) Thiên Quan: Celestial Crown. 40) Phổ Chiếu Thập Phương Quan: All-Illuminating Crown. 41) Nhứt Thiết Phật Tạng Quan: Crown of Jewels Which Give Birth to All Buddhas. 42) Nhứt Thiết Thế Gian Quan: Crown Beyond All Worlds. 43) Siêu Nhứt Thiết Thế Gian Quan: Crown of jewels Illuminating All Things in the Cosmos. 44) Bất Khả Hoại Quan: Invincible. 45) Trì Nhứt Thiết Như Lai Sư Tử Tòa: Crown of Jewels Inset with the Lion Thrones of All Buddhas. 46) Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không: Crown Illuminating the Space of the Whole Cosmos. 47) Phạm Vương Kế: Lord Brahma. 48) Long Vương Kế: Crest of Lord of Dragons. 49) Nhứt Thiết Nguyện Hải Âm Bửu Vương: Crest of Most Excellent Jewels of the Sound of the Ocean of All Vows. 50) Nhứt Thiết Hóa Phật Quang Mink Kế: Crest of Light Emanated by All Buddhas. 51) Nhứt Thiết Phật Quang Minh Ma Ni Kế: Crest of Spew of Jewels Emanating the Halos of All Buddhas. 52) Nhứt Thiết Thị Hiện Hư Không Bình Đẳng Tướng Ma Ni Vương Trang Nghiêm Kế: Crest Adorned with Jewels Showing the Nondifferentiation of All Surfaces of Space. 53) Thị Hiện Nhứt Thiết Như Lai Thần Biến Ma Ni Vương Tràng Võng Thùy Phúc Kế: Crest Covered with a Net of the Finest Jewels Representing the Lights Magically Produced by All Buddhas. 54) Xuất Nhứt Thiết Phật Chuyển Pháp Luân Âm Kế: Crest of Sound of the Wheel of Teaching of All Buddhas. 55) Thuyết Nhứt Thiết Danh Tự Âm Kế: Crest Uttering the Names of Everything in Past, Present, and Future. 56) Đại Quang: Great Light. 57) Ly Cấu Quang: Undefiled Light. 58) Bửu Quang: Jewel Light. 59) Ly Nhiễm Quang: Light of Undefiled Energy. 60) Nhựt Quang: Sun Light. 61) Thiên Quang: Celestial Light. 62) Pháp Quang: Light of Truth. 63) Tịch Tịnh Quang: Light of Peace. 64) Tự Tại Quang: Dispassionate Light. 65) Phước Đức Tràng: Torch of Virtue. 66) Trí Huệ Tràng: Torch of Knowledge. 67) Pháp Tràng: Torch of Truth. 68) Thần Thông Tràng: Torch of Superknowledge. 69) Quang Tràng: Torch of Light. 70) Hoa Tràng: Flower Torch. 71) Ma Ni Tràng: Torch of Enlightenment. 72) Phạm Tràng: Torch of Brahma. 73) Phổ Quang Tràng: Torch of Universal Illumination. 74) Bửu Tràng: Jewel Torch. 75) Phạm Âm: Brahma Sound. 76) Đại Địa Âm: Earth Roaring Sound. 77) Thế Chủ Âm: Voice of a World Leader. 78) Sơn Tướng Kích Âm: Sound of Mountains Colliding. 79) Hàng Ma Âm: Sound of Crushing All Armies of Demons. 80) Đại Bi Phương Tiện Vân Lôi Âm: Sound Emitted by All Didactic Devices of Great Compassion. 81) Chấn Nhứt Thiết Pháp Giới Âm: Voice Pervading. 82) Chấn Nhứt Thiết Hải Lôi Âm: Sound Emitted by Ovean of All Unverses. 83) Tức Nhứt Thiết Thế Gian Khổ An Ủi Âm: Sound of Stopping the Sufferings of All Worlds and Giving Comfort. 84) Pháp Thượng: Born of Truth. 85) Thắng Thượng: Born of Excellence. 86) Trí Thượng: Born of Knowledge. 87) Phước Đức Tu Di Thượng: Born of a Polar Mountain of Vitue. 88) Công Đức San Hô Thượng: Born of Radian of Virtues. 89) Danh Xưng Thượng: Born of Splendor. 90) Phổ Quang Thượng: Born of Universal Illumination. 91) Đại Từ Thượng: Born of Great Kindness. 92) Trí Hải Thượng: Born of a Store of Knowledge. 93) Phật Chủng Thượng: Born of the Family of Buddhas. 94) Quang Thắng: Glowing Splendor. 95) Đức Thắng: Preeminent Virtue Splendor. 96) Thượng Thắng: Exalted Splendor. 97) Phổ Minh Thắng: Radian Splendor. 98) Pháp Thắng: Splendor of Truth. 99) Nguyệt Thắng: Splendor of the Moon. 100) Hư Không Thắng: Splendor of the Sky. 101) Bửu Thắng: Jewel Splendor. 102) Tràng Thắng: Splendor of Brilliance. 103) Trí Thắng: Splendor of knowledge. 104) Ta La Tự Tại Vương:Mountain Lord. 105) Pháp Tự Tại Vương: Lord of Truth. 106) Tượng Tự Tại Vương: Lord of the World. 107) Phạm Tự Tại Vương: Lord Brahma. 108) Chúng Tự Tại Vương: Lord of the Masses. 109) Thần Tự Tại Vương: Lord of the Gods. 110) Tịch Tịnh Tự Tại Vương: Lord of Peace. 111) Bất Động Tự Tại Vương: Immutable Lord. 112) Thế Lục Tự Tại Vương: Mighty Lord. 113) Tối Thắng Tự Tại: Eminent Lord. 114) Tịch Tịnh Âm: Supreme Tranquil Voice. 115) Vô Ngại Âm: Unobstructed Voice. 116) Địa Chấn Âm: Voice of earth. 117) Hải Chấn Âm: Voice of the Ocean. 118) Lôi Chấn Âm: Voice of Thunder. 119) Pháp Quang Âm: Voice of the Light of Truth. 120) Hư Không Âm: Voice of Space. 121) Thuyết Nhứt Thiết Chúng Sanh Thiện Căn Âm: Voice of Encouragement of All Past Vows. 122) Hư Không Giác: Spacelike awareness. 123) Trí Giác: Knowing awareness. 124) Ly Cấu Giác: Unattached awareness. 125) Ly Nhiễm Giác: Undefiled awareness. 126) Tịnh Giác: Purified awareness. 127) Phổ Chiếu Tam Thế Giác: awareness of All Times. 128) Quảng Đại Giác: All- Observing Awareness. 129) Thần Lực Giác: Powerful awareness. 130) Pháp Giới Quang Minh Giác: awareness of Ways to the Reality Realm. (B) Mười đặc tính của chư Bồ Tát nầy—Ten characteristics of these Bodhisattvas: Năm trăm vị Bồ tát nầy thảy đều sinh ra từ hạnh nguyện Phổ Hiền và có mười đặc tính như sau—All the Bodhisattvas are said to have issued from the life and vows of Samantabhadra Bodhisattva, and have the following ten qualifications: 1) Công hạnh của các ngài không còn bị vướng mắc, vì có thể hiện thân khắp trong tất cả cõi Phật: They are unattached in their conduct because they are able to expand themselves in all the Buddha-lands. 2) Họ hiển hiện vô số thân, vì có thể đi đến bất cứ nơi nào có Phật: They manifest innumerable bodies because they can go over wherever there are Buddhas. 3) Họ có nhãn quan thanh tịnh và vô ngại, vì họ có thể thấy được những thần biến của chư Phật: They are in possession of an unimpeded and unspoiled eyesight because they can perceive the miraculous transformations of all the Buddhas. 4) Họ có thể du hành bất cứ nơi đâu không bị giới hạn vào một xứ sở nào, vì họ hằng đến khắp tất cả những chỗ chư Phật thành Chánh Đẳng Chánh Giác: They are able to visit anywhere without being bound to any one locality because they never neglect appearing in all places where the Buddhas attain to their enlightenment. 5) Họ có ánh sáng không giới hạn, vì có thể soi tỏ biển Phật pháp bằng ánh sáng trí tuệ của mình: They are in possession of a limitless light because they can illumine the ocean of all the Buddha-truths with the light of their knowledge. 6) Họ có khả năng biện tài không bao giờ cùng tận, vì ngôn ngữ của họ không ô nhiễm: They have an inexhaustible power of eloquence through eternity because their speech has no taint. 7) Họ an trụ nơi trí tuệ vô đẳng, biết rõ không cùng tận như hư không vì công hạnh của họ thanh tịnh vô cấu: They abide in the highest wisdom which knows no limits like space because their conduct is pure and free from taints. 8) Họ không cố định tại một nơi nào vì họ tự hiện thân tùy theo tâm niệm và nguyện vọng của hết thảy chúng sanh: They have no fixed abode because they reveal themselves personally in accordance with the thoughts and desires of all beings. 9) Họ không bị mê muội vì họ biết rằng không có pháp và không có ngã trong thế giới của chúng sanh: They are free from obscurities because they know that there are rally no beings, no soul-substances in the world of being. 10) Họ có siêu việt trí bao la như hư không, vì soi tỏ hết thảy Pháp giới bằng màn lưới quang minh của chính họ: They are in possession of transcendental knowledge which is as vast as space because they illumine all the Dharmadhatus with their nets of light.
bồ tát có thể vào ra sanh tử mà không bị chướng duyên nhiễu loạn
Bodhisattvas are free to enter and exit births and deaths unhindered and uniterrupted by obstructing conditions.
bồ tát cảnh giới phấn tấn pháp môn kinh
Xem Đại tát giá Ni kiền tử sở thuyết kinh.
bồ tát di lặc
Đương Lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật—Nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát—Maitreya Bodhisattva—Buddha-to-be—One-life Bodhisattva.
Bồ Tát Di-lặc
phiên âm từ Phạn ngữ là Maitreya, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), cũng có tên là Vô Năng Thắng (無能勝), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa, là một vị đại Bồ Tát và cũng là vị Phật trong tương lai, đã được Phật Thích-ca thọ ký. Cõi giáo hoá của ngài hiện nay là cung trời Đâu-suất.
bồ tát diệu kiến
Wonderful Sight Bodhisattva.
Bồ Tát Diệu Đức
tức Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, phiên âm từ Phạn ngữ là Mađjuśrỵ, vì danh xưng Phạn ngữ này được dịch nghĩa là “diệu đức”, cũng dịch là “diệu thủ”, “diệu cát tường”.
bồ tát du già hành tứ bách luận thích
Bodhisattvayogācāra-catuḥśatakā-ṭīkā (S)Tên một bộ luận kinh.
bồ tát giai vị
(菩薩階位) Chỉ cho các giai vị (giai đoạn tu hành) mà Bồ tát phải trải qua, kể từ lúc mới phát tâm Bồ đề rồi qua nhiều kiếp tu hành chứa góp công đức, cho đến khi đạt đến quả vị Phật. Thông thường chữ Vị hoặc chữ Tâm được dùng để gọi thay cho từ giai vị, như: Thập tín vị (cũng gọi là Thập tín tâm), Thập hồi hướng vị (cũng gọi Thập hồi hướng tâm) v.v...… đều là tên gọi giai vị Bồ tát. Tuy nhiên, về thứ tự và danh nghĩa của các giai vị Bồ tát thì các kinh luận nói không giống nhau. Chẳng hạn như thuyết Thập trụ: Phát tâm trụ, Trị địa tâm trụ v.v... …thì đời xưa vốn bao gồm toàn bộ giai vị tu hành của Bồ tát, nhưng đến đời sau thì Thập trụ chỉ tương đương với giai vị đầu tiên của vị Tam hiền trước Thập địa mà thôi. Bởi thế nên biết thuyết giai vị Bồ tát cũng tùy thuộc sự phát triển của lịch sử giáo lí mà có thay đổi. Trong các thuyết về giai vị Bồ tát như: 41 giai vị, 51 giai vị, 52 giai vị, 57 giai vị v.v... …thì thuyết 52 giai vị (Thập tín vị, Thập trụ vị, Thập hành vị, Thập hồi hướng vị, Thập địa vị, Đẳng giác, Diệu giác) của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp là hoàn chỉnh nhất cả về danh nghĩa và thứ bậc, nên từ xưa đến nay thuyết này đã được sử dụng rộng rãi. Liệt kê như sau: - Thập tín tâm (Thập tín): Tín tâm, Niệm tâm, Tinh tiến tâm, Định tâm, Bất thoái tâm, Hồi hướng tâm, Hộ tâm, Giới tâm, Nguyện tâm. - Thập trụ tâm (Thập trụ, Thập giải): Phát tâm trụ, Trị địa (tâm) trụ, Tu hành (tâm) trụ, Sinh quí (tâm) trụ, Phương tiện (tâm) trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái (tâm) trụ, Đồng chân (tâm) trụ, Pháp vương tử (tâm) trụ, Quán đính (tâm) trụ. (Muời tâm này thuộc Tập chủng tính). - Thập hành tâm (Thập hành): Hoan hỉ (tâm) hành, Nhiêu ích (tâm) hành, Vô sân hận (tâm) hành (Vô vi nghịch hành), Vô tận (tâm) hành (Vô khuất tạo hành), Li si loạn (tâm) hành (Vô si loạn hành), Thiện hiện (tâm) hành, Vô trước (tâm) hành, Tôn trọng (tâm) hành (Nan đắc hành), Thiện pháp (tâm) hành, Chân thực (tâm) hành. (Mười tâm này thuộc Tính chủng tính). - Thập hồi hướng tâm (Thập hồi hướng): Cứu hộ nhất thiết chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng tâm, Bất hoại hồi hướng tâm, Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng tâm, Chí nhất thiết xứ hồi hướng tâm, Vô tận công đức tạng hồi hướng tâm, Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng tâm, Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh tâm, Như tướng hồi hướng tâm, Vô phược giải thoát hồi hướng tâm, Pháp giới vô lượng hồi hướng tâm (Mười tâm này thuộc Đạo chủng tính). - Thập địa tâm (Thập địa): Tứ vô lượng tâm (Hoan hỉ địa), Thập thiện tâm (Li cấu địa), Minh quang tâm (Phát quang địa), Diệm tuệ tâm (Diệm tuệ địa), Đại thắng tâm (Nan thắng địa), Hiện tiền tâm (Hiện tiền địa), Vô sinh tâm (Viễn hành địa), Bất tư nghị tâm (Bất động địa), Tuệ quang tâm (Thiện tuệ địa), Thụ vị tâm (Pháp vân địa) (Mười tâm này thuộc Thánh chủng tính). - Đẳng giác - Nhập pháp giới tâm (thuộc Đẳng giác tính). - Diệu giác - Tịch diệt tâm (tâm này thuộc Diệu giác tính). Trên đây là 52 giai vị thuộc sáu chủng tính. Như đã nói ở trước, thuyết 52 giai vị là của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp. Còn các kinh luận khác cũng có những thuyết bất đồng, biểu thị như sau: - Kinh Anh lạc (52 giai vị): Thập tín (ngoại phàm), Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng (nội phàm-tam hiền), Thập địa (Thập thánh), Đẳng giác, Diệu giác. - Kinh Nhân vương (51 giai vị): Thập thiện, Thập tín (Ngoại phàm), Thập chỉ,Thập kiên (Nội phàm-tam hiền), Thập địa, Phật địa. - Kinh Phạm võng (40 giai vị): Thập phát thú, Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương, Thập địa. - Kinh Hoa nghiêm (41 giai vị): (Thập phạm hạnh) Thập trụ, Thập hành,Thập hồi hướng, Thập địa, Phật địa. - Kinh Thủ lăng nghiêm(57 giai vị): Càn tuệ địa, Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Tứ thiện căn (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất), Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác. - Luận Thành duy thức (5 giai vị): Tư lương vị (nội phàm-Tam hiền), Gia hành vị (Tứ thiện căn), Thông đạt vị (mới vào sơ địa), Tu tập vị (Sơ địa trụ tâm trở về sau), Cứu kính vị. - Luận Nhiếp đại thừa (4 giai vị): Nguyện nhạo hành địa, Kiến đạo, Tu đạo, Cứu kính đạo.- Kinh Bồ tát địa trì (13 giai vị): Chủng tính trụ (chưa phát tâm), Giải hành trụ, Hoan hỉ trụ, Tăng thượng giới trụ, Tăng thượng ý trụ, Bồ đề phần pháp tương ứng tăng thượng tuệ trụ, Đế tương ứng tăng thượng tuệ trụ, Duyên khởi tương ứng tăng thượng tuệ trụ, Hữu hành hữu khai phát vô tướng trụ, Vô hành vô khai phát vô tướng trụ, Vô ngại trụ, Tối thượng bồ tát trụ, Như lai trụ. - Kinh Bồ tát địa trì (7 giai vị): Chủng tính địa, Giải hành địa, Tịnh tâm địa, Hành tích địa (bao gồm Tăng thượng giới trụ cho đến Hữu hành hữu khai phát vô tướng trụ ở trên), Quyết định địa, Quyết định hành địa, Tất kính địa (gồm Tối thượng bồ tát trụ và Như lai trụ ở trên). Chủ trương của các tông phái đối với các giai vị bồ tát cũng không giống nhau. Nay hãy đề cập đền thuyết của ba tông phái lớn là Duy thức, Hoa nghiêm và Thiên thai như sau: 1. Tông Duy thức dùng thuyết 41 giai vị, điểm sai khác với thuyết 52 giai vị của kinh An lạc là ở chỗ Thập tín được gom chung vào Sơ trụ trong Thập trụ, Đẳng giác được gom chung vào địa thứ 10 trong Thập địa khi viên mãn thành tựu (tức lúc cuối cùng), còn tâm hồi hướng thứ 10 trong Thập hồi hướng tâm thì được mở rộng ra làm Tứ thiện căn: Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất pháp vị, và lấy 29 tâm trước (tức Thập trụ tâm, thập hành tâm, chín tâm hồi hướng trước của Thập hồi hướng) trong 30 tâm trước Thập địa cùng với một phần tâm thứ 30 (Hồi hướng tâm thứ 10) mà làm Đại thừa thuận giải thoát phần (tức Tam hiền vị), lấy một phần khác nữa của tâm hồi hướng thứ 30 làm Đại thừa thuận quyết trạch phần (tức Tứ thiện căn) Về Thập tín vị, ngài Viên trắc ở chùa Tây minh đời Đường lập riêng hai thuyết khác nhau: a. Chủ trương có giai vị Thập tín, tức thừa nhận rằng, trước khi tiến vào Sơ trụ cần phải có giai vị Tiền phương tiện vị, đây là Bồ tát thường tu Thập thuận danh tự trong Thập tâm. b. Chủ trương Thập tín hành giả, tức chỉ cho tất cả 10 tâm mà các Bồ tát cùng chung tu chứng từ Sơ trụ vị trở lên. Ngài Viên trắc và ngài Khuy cơ tổ của tông Duy thức ở Trung quốc vốn là anh em đồng môn, suốt cuộc đời dốc sức vào việc nghiên cứu, giảng nói, trứ tác Duy thức học, nhưng mỗi khi trình bày ngài Viên trắc thường phê phán bác bỏ thuyết của ngài Khuy cơ và chủ trương khác với sự giải thích chính thống của Duy thức học đương thời, cho nên ngài được coi là nhà Duy thức hiểu biết lệch lạc, như hai thuyết khác nhau về Thập tín vị trên đây là quan điểm rất đặc thù. 2. Tông Hoa nghiêm phán lập Năm giáo khác nhau, do đó có mấy thuyết về thứ bậc của Bồ tát như sau: a. Tiểu thừa giáo trước kiến đạo, có Phương tiện vị tứ thiện căn. b. Đại thừa thủy giáo, lại chia làm hai loại:- Hồi tâm giáo: dắt dẫn người Nhị thừa ngu pháp vào Đại thứa giáo, y theo thứ bậc của Tiểu thừa và căn cứ vào thuyết Tam thừa cộng thập địa (10 địa chung cho ba thừa) của tông Thiên thai mà có 10 địa: Càn tuệ địa, Tính địa, Bồ tát địa, Phật địa v.v...- Trực tiến giáo: tiến thẳng vào Đại thừa giáo, bao gồm các thứ bậc trong Thập tín nên có tất cả 51 giai vị, và lấy Thập hồi hướng trở lên làm Bất thoái vị, cũng tức là tùy theo tính chất, năng lực khác nhau giữa ba hạng người thượng căn, trung căn, hạ căn mà lần lượt ở các giai vị Đệ thất trụ, Thập hồi hướng, Sơ địa v.v... tiến vào ngôi vị Bất thoái chuyển. c. Chung giáo: nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín vẫn chưa chứng được ngôi bất Thoái chuyển, mà chỉ có hành, nên không lập thuyết Thập tín vị, chỉ lập 41 vị thôi. Trong 41 giai vị này, lấy Sơ trụ làm bất Thoái vị. d. Đốn giáo: trong giáo này, nếu người có thể một niệm chẳng sinh, rõ lí dứt hoặc, thì có thể liền ngay đó mà vào ngôi vị Phật, vì thế không lập thứ bậc Bồ tát. đ. Viên giáo chia làm hai loại: - Đốn giáo nhất thừa, cũng không lập thứ bậc riêng biệt mà thu hết vào thứ bậc của bốn giáo trước. - Biệt giáo nhất thừa, trong Hàng bố môn tuy có lập các thứ bậc Bồ tát, nhưng trong Viên dung môn thì chủ trương trong một giai vị có đầy đủ tất cả giai vị nên thừa nhận rằng khi giai vị thành tựu viên mãn thì có thể thành Phật liền, gọi là Tín mãn thành Phật. 3. Tông Thiên thai, trong bốn giáo hóa pháp, ba giáo Thông, Biệt, Viên được phối với các thứ bậc Bồ tát như sau: a. Thông giáo, phối với giai vị Tam thừa cộng thập địa: Càn tuệ địa, Tính địa v.v.. Cũng gọi Thông giáo thập địa, là 10 giai vị của Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác tu chung. b. Biệt giáo, lấy 52 giai vị của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp làm thứ bậc. Nhưng qui nạp 52 giai vị thành 7 khoa: Tính, Trụ, Hành, Hướng, Địa, Đẳng (giác), Diệu (giác), rồi tổng kết 7 khoa thành hai mục lớn là Phàm và Thánh. Tức là trong 52 giai vị lấy Thập tín làm giai vị ngoại phàm (áp phục Kiến hoặc, Tư hoặc trong ba hoặc của giới nội; giới: chỉ cho ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc) và lấy Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng làm giai vị nội phàm (cho đến áp phục vô minh hoặc của giới ngoại), lấy Sơ địa trở lên làm giai vị Thánh. Trong giai vị thánh, lấy Thập địa, Đẳng giác làm nhân của Thánh vị, và lấy Diệu giác làm quả. c. Viên giáo, giáo nghĩa Viên giáo cho rằng tất cả những cái tồn tại xưa nay vốn đã đầy đủ ba nghìn pháp, cho nên nói theo mặt bản thể thì Phật và chúng sinh là bình đẳng không hai, nhưng nói về mặt hiện tượng thì có mê ngộ khác nhau; bởi thế nếu đứng trên lập trường thực tiễn mà nói thì việc tu hành cũng nên có thứ lớp, do đó mới lập ra thuyết Lục tức vị để giúp người tu hành lìa bỏ tâm thấp hèn, ngã mạn. Ngoài ra còn mượn tên của 52 giai vị Biệt giáo để nói rõ thứ bậc của Viên giáo, cho nên ở trước Thập tín vị, có thêm một khoa Ngũ phẩm đệ tử vị. Đồng thời, Thập trụ vị của Viên giáo tương đương với Thập địa vị của Biệt giáo. Lại nữa, thứ bậc của Bồ tát viên giáo cũng có thể được phối hợp sáu luân (bánh xe): Thiết luân (bánh xe sắt, Thập tín), Đồng luân (bánh xe đồng, Thập trụ), Kim luân (bánh xe vàng, Thập hồi hướng), Lưu li luân (bánh xe lưu li, Thập địa), Ma ni luân (bánh xe ngọc như ý, Đẳng giác) v.v... Vì luân bảo (bánh xe báu) của vua Chuyên luân Thánh vương có khả năng hơn tất cả các loại vũ khí, nên nó được dùng để ví dụ mỗi giai vị tu hành đều có thể đoạn trừ phiền não. Trong các giai vị kể ở trên, thì Bồ tát Thập tín vị chỉ có tên chứ không có thực, nên gọi là Danh tự bồ tát, hoặc Trụ tiền tính tướng bồ tát. Đồng thời, Bồ tát từ Sơ trụ trở lên, nhờ tín căn đã thành tựu, không lui mất nữa, nên gọi 30 tâm Địa tiền (Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng) là Tín tướng ứng địa. Lại nữa, Bồ tát từ Tính địa trở lên trong Thập địa: Càn tuệ, v.v... hoặc bồ tát Sơ hoan hỉ địa trở lên trong Thập địa: Hoan hỉ v.v... hoặc bồ tát Sơ hoan hỉ địa, vì lòng thương xót, nghĩ nhớ hết thảy chúng sinh hệt như mẹ nhớ thương con, nên cũng gọi là bồ tát Nhất tử địa. Tịnh độ chân tông Nhật bản đem Nhất tử địa phối với Sơ hoan hỉ địa để làm hiện ích (ích lợi cho đời này) hoặc làm đương ích (ích lợi cho đời sau) của lòng tin. Ngoài ra, luận Tịnh độ của ngài Thế thân có đề cập đến Giáo hóa địa, ý là chỉ cho chỗ giáo hóa của Bồ tát hoặc là giai vị của bồ tát giải tác. Nếu là giai vị giải tác thì tương đương với Đệ bát địa trở lên. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng phẩm Bồ tát giáo hóa; kinh Đại phẩm bát nhã Q.6 phẩm Phát thú; kinh Phạm võng Q.thượng; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) Q.8 phẩm Thập trụ, Q.11 phẩm Thập hành, Q.14 phẩm Thập hồi hướng, Q.23 phẩm Thập địa; luận Đại trí độ Q.49; luận Thập trụ tì bà sa Q.1; Nhân vương kinh sớ Q.trung phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.18; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.5 phần dưới; Đại thừa nghĩa chương Q.12]. (xt. Thập Địa, Ngũ Thập Nhị Vị, Tứ Thiện Căn Vị, Tức).
bồ tát giải thoát ngũ nghĩa
(菩薩解脫五義) Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao nêu năm nghĩa giải thoát của Bồ tát là: 1. Sinh tử bất năng phược, nghĩa là chúng sinh bị sống chết trói buộc, nhưng Bồ tát không bị sống chết trói buộc. 2. Cảnh tướng bất năng phược, cảnh tướng: chỉ cho tất cả tướng của cảnh giới. Nghĩa là Bồ tát tuy thấy tất cả cảnh giới, nhưng không bị dính mắc. 3. Hiện hoặc bất năng phược, hiện hoặc là cái thấy phân biệt trước mắt. Nghĩa là Bồ tát không để bị vướng mắc vào cái đối tượng mình thấy trước mắt, và biết rõ cái tâm hay thấy (năng kiến) cũng là không. 4. Hữu bất năng phược, hữu, chỉ cho tất cả các pháp có tạo tác. Nghĩa là tất cả các pháp có tạo tác (hữu vi) mà Bồ tát thấy đều là không, nên Bồ tát không chấp trước. 5. Hoặc bất năng phược, nghĩa là Bồ tát thấu suốt mê vọng tức chân như, phiền não tức bồ đề, nên dính mắc mà chẳng dính mắc gì cả.
Bồ Tát giới
菩薩戒; S: bodhisattvaśīla;|Là giới luật của một vị Bồ Tát trong Ðại thừa. Kinh Phạm võng (s: brahmajāla-sūtra) ghi rõ 58 điều mà 10 điều cấm kị nhất là: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say rượu, 6. Nói xấu người khác, 7. Khen mình chê người, 8. Ghanh ghét, 9. Hờn giận, 10. Huỷ báng tam bảo. Phật tử Ðại thừa nguyện phải giữ Bồ Tát giới này và lễ thụ giới này thường là một nghi lễ trang trọng.|Giới luật của Ðại thừa có khác biệt với giới của Tiểu thừa. Ðại thừa thường hướng đến ích lợi của người khác, trong lúc Tiểu thừa tập trung đạt phúc đức cho mình. Giới luật Ðại thừa thường có dạng »đại nguyện« – có thể là những phát biểu âm thầm của hành giả, không cần ai chứng minh. Giới luật trong Ðại thừa cốt giữ nơi tinh thần và nếu có bị vi phạm vì ích lợi của một kẻ khác thì có thể được tha thứ. Ngược lại trong Tiểu thừa, vi phạm giới luật quan trọng thường dẫn đến việc bị trục xuất ra khỏi Tăng-già.
bồ tát giới
Bodhisattva-śila (S), Bodhisattca precepts.
; Bodhisattva-sìla (S). Moral rules of Bodhisattva.
; Giới cho chư Bồ Tát, gồm mười giới trọng và 48 giới khinh—The commandments for Bodhisattvas—The commandments or prohibitions for bodhisattvas and monks, including ten primary and 48 secondary precepts. ** For more information, please see Lục Ba La Mật, Mười Giới Trọng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
; (菩薩戒) Là giới luật của Bồ tát Đại thừa nhận giữ. Cũng gọi Đại thừa giới, Phật tính giới, Phương đẳng giới, Thiên Phật đại giới. Đối lại với Tiểu thừa thanh văn giới. Nội dung của giới Bồ tát là Tam tụ tịnh giới (ba nhóm giới trong sạch); đó là: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Cũng tức là thu tóm hết thảy Phật pháp vào ba môn lớn là: Giữ gìn luật nghi, Tu các pháp lành, Cứu độ chúng sinh, và lấy đó làm giới cấm để tuân thủ. Có rất nhiều kinh sách Đại thừa nói về Bồ tát, nhưng có thể tổng hợp làm hai loại sách luật là Phạm võng và Du già. Bồ tát giới bản được lấy ra từ phẩm Luật tạng của kinh Phạm võng gồm có 10 giới nặng, 48 giới nhẹ, bất luận là người xuất gia hay người tại gia đều có thể nhận giữ. Còn giới bản được trích ra từ luận Du già sư địa quyển 40, quyển 41 thì lấy Tam tụ tịnh giới, Tứ chủng tha thắng xứ pháp làm nền tảng. Trước phải nhận giới của bảy chúng Tiểu thừa trong thời gian dài, nếu người nào không vi phạm thì mới được nhận giữ giới Bồ tát. Đời xưa lấy giới Bồ tát trong kinh Du già sư địa làm chính, nhưng ngày nay thì giới Bồ tát trong kinh Phạm võng lại thịnh hành. Giới Viên đốn của tông Thiên thai tức là giới trong kinh Phạm võng. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ chép, thì nhận giữ giới Bồ tát được năm lợi ích: 1. Được chư Phật ở mười phương thương nhớ, che chở. 2. Khi sắp chết được chính kiến, tâm vui mừng. 3. Sinh ở nơi nào đều được làm bạn với các Bồ tát. 4. Chứa góp nhiều công đức, thành tựu giới ba la mật. 5. Đời này đời sau, tính giới phúc tuệ tròn đầy. Giới Bồ tát là Ba la đề mộc xoa (giới biệt giải thoát) nằm ngoài giới của bảy chúng (Ưu bà tắc, Ưu ba di, sa di, sa di ni, thức xoa ma ni, tỉ khưu, tỉ khưu ni). Người nhận giữ giới Bồ tát có thể ở trong bảy chúng, mà cũng có thể ở ngoài bảy chúng, chỗ tôn quí của giới Bồ tát là vượt lên trên và bao trùm tất cả giới. Kinh Phạm võng nói giới Bồ tát là nguồn gốc của chư Phật, là cội rễ của Bồ tát và Phật tử. Tính chất của giới Bồ tát tương tự như tám giới (tám giới quan trai); tám giới cũng là một loại giới Biệt giải thoát nằm ngoài giới của bảy chúng. Nhưng, vì trong giới Bồ tát có một vài giới tương tự như giới Bát quan trai, nên là Đốn lập giới, lại cũng có một số giới không giống giới Bát quan trai mà tương tự như Tiệm thứ giới của giới bảy chúng, cho nên giới Bồ tát có thể được chia làm hai loại: 1. Đốn lập: có thể nhận ngay giới Bồ tát. 2. Tiệm thứ: trước phải nhận ba qui y, năm giới v.v... rồi sau mới nhận giới Bồ tát. Trong tạng kinh Hán dịch, có sáu loại Bồ tát giới bản hoặc Bồ tát giới kinh rất được coi trọng là: kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, Phạm võng kinh Bồ tát giới bản, Du già sư địa luận bồ tát giới bản, Bồ tát địa trì kinh giới bản, Bồ tát thiện giới kinh giới bản và Ưu bà tắc giới kinh giới bản. Nếu sáu thứ trên đây được chia theo hai loại đốn và tiệm, thì Anh lạc và Phạm võng thuộc về Đốn lập, còn các giới kinh Du già, Địa trì, Thiện giới, Ưu bà tắc v.v... thuộc Tiệm thứ. Giới Bồ tát bắt đầu được truyền bá ở Trung quốc do ngài Cưu ma la thập (344 - 413). Trong các bản chép tay tìm thấy ở Đôn hoàng có Thụ bồ tát giới nghi quĩ 1 quyển do ngài soạn. Còn người đầu tiên làm phép thụ giới là ngài Đàm vô sấm (358 - 433) khi ngài trao giới Bồ tát cho nhóm các sư Đạo tiến v.v... gồm hơn mười người ở Cô tang (tỉnh Cam túc, huyện Vũ uy). Đến đời Lương, đời Trần thuộc Nam triều, phong trào thụ giới Bồ tát khá thịnh hành, như Lương vũ đế, Trần văn đế đều nhận giới Bồ tát. Lương vũ đế từng lập đàn giới, thỉnh ngài Tuệ siêu trao giới Bồ tát. Lại năm Thiên giám 18 (519), nhà vua tự phát nguyện rồi theo ngài Tuệ ước nhận giới Bồ tát ở điện Đẳng giác. Thái tử, Công khanh, xuất gia, tại gia v.v... xin thụ giới Bồ tát rất đông, có tới 84.000 người. Cũng có thuyết nói Lương vũ đế nhận giới Bồ tát nơi ngài Trí tạng. Đến đời Tùy, vua Văn đế nhận giới Bồ tát nơi ngài Trí khải, đều xưng là Bồ tát giới đệ tử. Cứ đó mà suy, có thể biết phong trào thụ giới Bồ tát tại Trung quốc vào thời ấy đã thịnh hành đến mức nào. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; kinh Bồ tát thiện giới Q.4; kinh Bồ tát thiện giới (1quyển); kinh Ưu bà tắc giới Q.3; Bồ tát giới bản; Thụ bồ tát giới nghi (Trạm nhiên); luận Đại trí độ Q.46; Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.1; Tứ phần luật hành sự soa tư trì kí Q.thượng; Bát tông cương yếu Q.thượng; Tục cao tăng truyện Q.5; Trí tạng truyện Q.6; Tuệ siêu truyện, Tuệ ước truyện; Quảng hoằng minh tập Q.22]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới, Giới, Truyền Giới, Viên Đốn Giới).
bồ tát giới bản
(菩薩戒本) I. Bồ tát giới bản. Chỉ cho bản văn nói về các giới điều ở sau phần kệ tụng trong kinh Phạm võng quyển hạ. Cũng gọi Bồ tát giới kinh. Ngài Cưu ma la thập (344 - 413) dịch vào đời Hậu Tần. Thu vào Đại chính tạng tập 24. Tên đầy đủ của kinh Phạm võng do ngài La thập dịch là: Phạm võng kinh lô xá na Phật thuyết Bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Cứ theo bài tựa kinh Phạm võng do ngài Tăng triệu viết, thì bản tiếng Phạm của kinh này có 112 quyển 61 phẩm, trong đó, Bồ tát giới bản là phẩm thứ 10 mà ngài La thập đã dịch thành hai quyển, người đời sau chép riêng phần văn nói về 10 giới nặng, 48 giới nhẹ trong quyển hạ ra làm một quyển để tiện việc tụng trì. Nội dung của Bồ tát giới bản: từ Ngã kim lô xá na đến đệ nhất thanh tịnh giả là phần tựa của Giới bản này, rồi từ Phật cáo chư Phật tử đến hiện tại chư Bồ tát kim tụng là phần Chính tông. Văn giới bao gồm 10 giới nặng: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói láo, bán rượu, chê bai Tam bảo v.v... và 48 giới nhẹ: không kính thầy bạn, ăn ngũ tân (hành, tỏi v.v...). Sau đó là phần lưu thông nói về công đức lưu thông Giới bản này. Đối với tông Thiên thai, Giới bản này là giới bản mẫu mực cho Viên giới Đại thừa của tông mình. Về sách chú thích thì có Bồ tát giới nghĩa sớ 2 quyển do ngài Trí khải giảng và đệ tử của ngài là Chương an (Quán đính) ghi chép, Bồ tát giới văn sớ 5 quyển (hoặc 6 quyển) của ngài Pháp tạng, Bồ tát giới sớ 3 quyển của ngài Nghĩa tịnh... II. Bồ tát giới bản, 1 quyển. Ngài Đàm vô sấm (385 - 433) dịch vào đời Bắc Lương. Cũng gọi Bồ tát giới bản kinh, Địa trì giới bản. Đây là phần giới văn nói về bốn Ba la di và 41 giới nhẹ được chép riêng ra từ phẩm Phương tiện xứ giới trong kinh Bồ tát địa trì quyển 4 mà thành. Là giới bản của Bồ tát Đại thừa nhận giữ và do bồ tát Từ thị nói. Thu vào Đại chính tạng tập 24. Về nội dung, ở đầu quyển có bài kệ quí kính, kế đến phần giới nương theo phép tắc Bồ tát thuyết giới mà nêu ra những giới điều nặng nhẹ, cuối cùng là văn khuyên bảo trì tụng. Theo Bồ tát giới bản tiên yếu của ngài Trí húc đời Minh, thì tên gọi của bốn Ba la di là: 1. Tự tán hủy tha (khen mình chê người). 2. Khan tích tài pháp (Sẻn tiếc của cải và Pháp bảo). 3. Sân bất thụ hối (Tức giận không chịu nghe lời khuyên bảo mà ăn năn). 4. Báng loạn chính pháp (Chê bai làm loạn chính pháp). Ngoài ra, Bồ tát giới bản tiên yếu còn chia giới thứ 26 là Học chư ngoại đạo và Ái nhạo tà pháp, nên tất cả là 42 giới nhẹ. Các bản dịch khác của giới bản này còn có: 1. Du già giới bản của ngài Huyền trang nêu 43 giới nhẹ. 2. Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi kinh của ngài Cầu na bạt ma đời Lưu Tống cũng nêu 41 giới nhẹ, nhưng sắp đặt có hơi khác. Nội dung bao gồm kệ qui kính, văn giới, đồng thời nói rõ năm việc công đức giữ giới, khuyên người ta xa lià những việc xấu ác của thân, miệng, tà mệnh, nghiệm sự (việc đồng bóng nhảm nhí), buông lung v.v... và nêu ra phép làm lễ sám hối, phép nhận giường giây (cái võng), nhận gậy tích v.v... 3. Bồ tát thiện giới kinh bản 1 quyển, cũng do ngài Câu na bạt ma dịch, liệt kê tám giới Ba la di và tổng cộng có 50 giới điều. Sách chú thích thì có Bồ tát giới bản tiên yếu 1 quyển của ngài Trí húc. [X. Đại đường nội điển lục Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.12, Q.14]. III. Bồ tát giới bản, 1 quyển, ngài Huyền trang dịch xong vào năm Trinh quán 23 (649). Giới bản này là những luật nghi của giới Bồ tát được sao chép ra từ phẩm Bồ tát sơ địa trì du già xứ giới của Bản địa phần trong luận Du già sư địa (quyển 40-,41) mà thành. Giới bản này do bồ tát Di lặc nói, đời gọi là Du già giới bản, cũng gọi là Du già bồ tát giới bản, Bồ tát giới kinh, Bồ tát giới bản kinh, thu vào Đại chính tạng tập 24. Những giới nhẹ nói trong bản này, tương đương với 48 giới nhẹ của kinh Phạm võng, sách này là cùng bản với Địa trì giới bản, nhưng khác dịch. Nội dung của giới bản này phần lớn giống với nội dung của Địa trì giới bản, nhưng có một vài điểm sai khác là: Giới bản này không có kệ qui kính, nêu tất cả 43 giới nhẹ, tức là chia giới 26 Bất tập học phật ra làm hai giới, rồi ở dưới giới thứ tám thêm riêng một giới nữa là lợi ích phạm giới sinh công đức và ở sau văn giới có đề ra phép sám hối. Ngoài ra, về số giới điều của giới bản này, thì thông thường phần nhiều y theo thuyết của Du già luận kí quyển 10 phần dưới, nêu 43 giới nhẹ; nếu căn cứ theo các bản luật sớ khác, thì vì cách sắp đặt không giống nhau, nên có các thuyết bất đồng, như có 42 giới (tức thường nói 4 nặng 42 nhẹ), 44 giới, 45 giới v.v... Sách chú thích có: Bồ tát giới bản trì phạm yếu kí 1 quyển của ngài Nguyên hiểu, Ứng lí tông giới đồ thích văn sao 2 quyển của ngài Duệ tôn v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
bồ tát giới kinh điển
(菩薩戒經典) Chỉ chung những kinh điển thu chép các giới luật mà Bồ tát phải thụ trì. Những kinh điển này được chia làm bốn loại: 1. Kinh Bồ tát địa trì do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, gồm 10 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 30. 2. Kinh Phạm võng do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, gồm 2 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 24. 3. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, cũng gọi là kinh Anh lạc, gồm 2 quyển, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần, thu vào Đại chính tạng tập 24. 4. Ba loại Bồ tát giới bản được thu vào Đại chính tạng tập 24: a. Bồ tát giới bản, 1 quyển, cũng gọi Địa trì giới bản, gồm những giới điều được chép riêng ra từ phẩm Phương tiện xứ giới trong kinh Bồ tát địa trì quyển 4, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, để tiện việc thụ trì đọc tụng. b. Kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi, 1 quyển, do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, là cùng bản của Địa trì giới bản, nhưng khác dịch. Ngài Cầu na bạt ma còn dịch kinh Bồ tát thiện giới, 1 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 30. c. Bồ tát giới bản một quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Du già sư địa quyển 40, quyể 41 do ngài Huyền trang dịch. Trong những luật điển ghi ở trên, dựa theo thuyết của các học giả xưa nay, có thể tổng hợp lại làm hai loại là: Phạm võng và Du già; kinh Anh lạc và kinh Phạm võng đều thuộc về Phạm võng giới bản, ngoài ra có thể qui hết vào Du già giới bản. Hai hệ thống luật điển này có những chỗ khác nhau rất lớn sau đây: 1. Phạm võng giới bản do dức Phật Thích ca nói; Du già giới bản do bồ tát Từ thị Di lặc nói. 2. Phạm võng giới bản nói rõ 10 giới nặng, 48 giới nhẹ, là những giới mà tăng và tục đều có thể thụ ngay, gọi là Đốn lập giới. Du già giới bản thì lấy ba tụ tịnh giới, bốn pháp tha thắng xứ làm mẫu mực, tuy cũng chung tăng và tục, nhưng trước phải thụ giới của bảy chúng Tiểu thừa trong thời gian lâu mà không trái phạm thì mới nhận giới Bồ tát, nên gọi là Tiệm lập giới. 3. Phạm võng giới bản nghiêm khắc, rườm rà hơn, người nhận lãnh phải tuyệt đối làm theo đúng những điều được chỉ bảo, khéo giữ uy nghi, ngăn ngừa tất cả sự nhơ nhuốm dù nặng hay nhẹ. Còn Du già giới bản thì phương tiện khéo léo hơn, thông quyền đạt biến, thị nhiễm, phi phạm, có khai, có giá (có chỗ cho phép, có chỗ cấm chỉ).Ở Trung quốc, xưa nay Phạm võng giới bản thịnh hành hơn, còn ở Tây tạng thì thụ trì Du già giới bản, chứ không tin và biết đến Phạm võng. Thời gần đây, ngài Thái hư lấy Du già giới bản làm tiêu chuẩn hành trì cho bốn chúng đệ tử. [X. Bồ tát giới bản tiên yếu; Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.thượng ; Du già bồ tát giới bản dữ Phạm võng kinh lược đàm (Minh tính, Hiện đại phật giáo học thuật tùng san tập 89); Giới luật học cương yếu (Thánh nghiêm)]. (xt. Bồ Tát Giới Bản).
bồ tát giới nghĩa sớ
(菩薩戒義疏) Sách, 2 quyển, ngài Trí khải (538 - 597) giảng vào đời Tùy, sư Quán đính (561 - 632) ghi, thu vào Đại chính tạng tập 40. Cũng gọi Phạm võng bồ tát giới kinh nghĩa sớ, Bồ tát giới kinh nghĩa kí, Bồ tát giới kinh nghĩa sớ, Bồ tát giới nghĩa kí, Thiên thai giới nghĩa sớ, Giới sớ. Đây là sách chú thích kinh Phạm võng bồ tát giới. Trước hết, lập ba khoa: Thích danh, Xuất thể, Liệu giản, kế đến, giải thích văn kinh, giải nghĩa rất ngắn gọn, dễ hiểu. Tông Thiên thai, tông Tịnh độ đã căn cứ vào bộ sách này mà lập ra giới Đại thừa viên đốn để truyền thụ trong tông mình. Bồ tát giới nghĩa sớ này đã được thu vào Tịnh độ tông toàn thư quyển 15. Các sách chú thích về bộ Giới sớ này có: Bồ tát giới nghĩa sớ san bổ 3 quyển của ngài Đạo hi, Bồ tát giới nghĩa kí 3 quyển của ngài Uẩn tề, Bồ tát giới nghĩa sớ kiến văn 6 quyển của ngài Đạo quang v.v... [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Luật tông quỳnh giám chương Q.6].
bồ tát ha sắc dục pháp kinh
(菩薩呵色欲法經) Kinh, 1 quyển. Ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. Cũng gọi Bồ tát ha sắc dục kinh, Ha sắc dục pháp. Thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung nói về nữ sắc và cho nó là gông cùm, là tai họa, là nạn suy bại của thế gian, khuyên răn người đời nên tránh xa nữ sắc, chớ để nó mê hoặc dụ dỗ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
bồ tát hiệu
(菩薩號) Tôn hiệu cao nhất được tặng cho các cao tăng đại đức gọi là Bồ tát hiệu. Như ở Trung quốc đời xưa gọi ngài Trúc pháp hộ là Đôn hoàng bồ tát, gọi ngài Trúc phật sóc là Thiên trúc bồ tát; và ngài Chi khiêm được gọi là Nguyệt chi bồ tát. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42; Đại tống tăng sử lược Q.hạ Bồ tát tăng; Tục cao tăng truyện Q.8 Tuệ viễn truyện, Q.12 Đạo phán truyện].
bồ tát hành
Bodhisattva practice Acts of merits to be performed by the bodhisattva for the attainment of Enlightenment.
bồ tát hành hữu tứ nan
(菩薩行有四難) Hạnh Bồ tát có bốn cái khó. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 6 nêu ra, thì người tu hạnh Bồ tát có bốn điều khó khăn: 1. Bội kỉ lợi thế nan (bỏ cái lợi của mình mà mưu lợi cho đời là khó), nghĩa là người tu hành chỉ vì lợi ích chúng sinh, chứ không có mảy may ý nghĩ vì mình. 2. Hành tướng duy khổ nan (chỉ một đường tu khổ hạnh là khó), nghĩa là người tu hành vì lợi ích chúng sinh, theo nguyện của mình mà tu khổ hạnh, không ưa tìm cầu những thú vui của thế gian. 3. Xứ kinh chư hữu nan (trải qua các chỗ khổ là khó), nghĩa là người tu hành vì lợi ích của chúng sinh mà không một chỗ khổ nào không trải qua. 4. Thời kiếp vô lượng nan (thời kiếp không có hạn lượng là khó), nghĩa là người tu hành mong cầu quả Phật vô lượng, lại gồm tu hạnh lợi người, cho nên phải trải qua vô lượng kiếp, không có hạn định.
Bồ Tát hạnh
(菩薩行) Chỉ cho các hạnh sáu độ (sáu Ba la mật) mà hành giả tu để cầu thành Phật. Như đức Phật Thích ca mâu ni, trước khi thành đạo, đã từng đến nơi các vị tiên tu những khổ hạnh; và ở các kiếp trước hiện các loại thân tu những hạnh như bố thí, nhẫn nhục v.v... đều gọi là Bồ tát hạnh. Nội dung kinh Bản sinh là kể lại những hạnh Bồ tát mà đức Phật đã tu trong năm trăm thân đời trước.
bồ tát hạnh
Bodhisattvahood The state of a bodhisattva. Bodhisattvacaryā (S),
; The way or discipline of a Bodisattva. Tự lợi lợi tha, to benefit self and benefit others.
; Bodhisattva practice (cult)—Bồ Tát Hạnh theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa (một vị Bồ Tát muốn thực hành Bồ Tát Hạnh phải trước hết phát tâm Bồ Đề, đối với chúng hữu tình phải có đầy đủ tâm từ bi hỷ xả không ngằn mé. Ngoài ra, Bồ Tát phải luôn thực hành hành nguyện độ tha với lục Ba La Mật. Cuối cùng vị ấy phải lấy Tứ Nhiếp Pháp trong công việc hoằng hóa của mình)—Bodhisattva practice (Bodhisattva's practising) according to the tradition of Northern Buddhism. 1) Phát Bồ Đề Tâm: To to vow to devote the mind to bodhi (bodhicita)—See Bồ Đề Tâm. 2) Thực hành Tứ Vô Lượng Tâm: To practise the four immeasurables—See Tứ Vô Lượng Tâm. 3) Thực hành Lục Độ Ba La Mật: To practise the six Paramitas—See Lục Độ Ba La Mật. 4) Thực hành Tứ Nhiếp Pháp: To practise the four all-embracing virtues—See Tứ Nhiếp Pháp. 5) Theo Kinh Duy Ma Cật—According to the Vimalakirti Sutra: - Bồ Tát là những vị có tiếng tăm, đều đã thành tựu trí hạnh Đại Thừa. Do nhờ sự chỉ giáo của chư Phật mà các ngài đã làm thành bức thành hộ pháp, giữ gìn Chánh Pháp, diễn nói pháp âm tự tại vô úy như sư tử hống giáo hóa chúng sanh, danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các sẵn sàng đến chúng hội để tuyên lưu Tam Bảo, không để dứt mất. Các ngài hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo; sáu căn tam nghiệp thân khẩu ý đều thanh tịnh; trọn lìa năm món ngăn che và mười điều ràng buộc. Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoát. Nhờ niệm định tổng trì và và tâm bình đẳng mà các ngài có khả năng biện tài thông suốt không hề trở ngại. Các ngài đã thành tựu Lục Ba La Mật, các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, cũng như giáo pháp phương tiện thiện xảo lợi mình lợi người thảy đều đầy đủ. Tuy nhiên, với các ngài, những thành tựu nầy không có nghĩa là làm lợi cho chính họ, mà các ngài đã được đến bậc vô sở đắc mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn). Các ngài có khả năng tùy thuận diễn nói pháp luân bất thối; khéo hiểu rõ chân tướng vạn pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh; oai đức bao trùm đại chúng và thành tựu pháp vô úy—Bodhisattvas are those who were well known for having achieved all the perfections that lead to the great wisdom. They had received instructions from many Buddhas and formed a Dharma-protecting citadel. By upholding the right Dharma, they could fearlessly give the lion's roar to teach sentient beings; so their names were heard in the ten directions. They were not invited but came to the assemble to spread the teaching on the Three Treasures to transmit it in perpetuity. They had overcome all demons and defeated heresies; and their six faculties, karmas of deeds, words and thoughts were pure and clean; being free from the (five) hindrances and the (ten) bonds. They had realized serenity of mind and had achieved unimpeded liberation. They had achieved right concentration and mental stability, thereby acquiring the uninterrupted power of speech. They had achieved all the (six) paramitas: charity (dana), discipline (sila), patience (ksanti), devotion (virya), serenity (dhyana) and wisdom (prajna), as well as the expedient method (upaya) of teaching which completely benefit self and others. However, to them these realizations did not mean any gain whatsoever for themselves, so that they were in line with the patient endurance of the uncreate (anutpattika-dharma-ksanti). They were able to turn the wheel of the Law that never turns back. Being able to interpret the (underlying nature of) phenomena, they knew very well the roots (propensities) of all living beings; they surpassed them all and realized fearlessness. - Các ngài dùng công đức trí tuệ để trau sửa tâm mình, bằng cách lấy tướng tốt trang nghiêm thân hình sắc tướng dung nhan bậc nhất, vì thế bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời. Danh tiếng các ngài cao xa vượt hẳn núi Tu Di. Lòng tin thậm thâm của các ngài bền chắc không bị phá vở như kim cương. Pháp bảo của các ngài soi khắp, và mưa cam lồ tuôn đổ nơi nơi. Tiếng thuyết pháp của các ngài là thậm thâm vi diệu bậc nhất—They had cultivated their minds by means of merits and wisdom with which they embellished their physical features which were unsurpassable, thus giving up all earthly adornments. Their towering reputation exceeded the height of Mount Sumeru. Their profound faith (in the uncreate) was unbreakable like a diamond. Their treasures of the Dharma illuminated all lands and rained down nectar. Their speeches were profound and unsurpassable. - Các ngài đã thâm nhập lý duyên khởi, dứt bỏ các tập khí kiến chấp sai lầm, thoát khỏi nhị biên. Các ngài diễn nói các pháp không sợ sệt như sư tử hống, những lời giảng nói như sấm vang. Các ngài không thể bị hạn lượng hạn chế, vì các ngài đã vượt ra ngoài sự hạn lượng—They entered deep into all (worldly) causes, but cut off all heretical views for they were already free from all dualities and had rooted out all (previous) habits. They were fearless and gave the lion's roar to proclaim the Dharma, their voices being like thunder. They could not be gauged for they were beyond all measures. - Các ngài tự chứa nhóm rất nhiều Pháp Bảo như Hải Đạo Sư. Các ngài hiểu rõ nghĩa thậm thâm của các pháp, biết rõ hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm của chúng sanh. Các ngài đã đạt đến trạng thái gần như trí tuệ tự tại vô thượng của chư Phật, đã thành đạt thập lực vô úy, và thập bát bất cộng. Dù các ngài đã ngăn đóng các cửa nẻo ác thú, các ngài vẫn hiện thân trong năm đường hóa độ chúng sanh, làm vị đại y vương khéo trị lành các bệnh, tùy theo trường hợp cá nhân mà cho thuốc một cách công hiệu. Vì thế mà các ngài đã thành tựu vô lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Chúng sanh nào được nghe danh thấy hình đều được lợi ích vì các hành động của các ngài đều không uổng phí. Vì thế các ngài đều đã thành tựu mọi công đức tuyệt hảo—They had amassed all treasures of the Dharma and acted like (skillful) seafaring pilots. They were well versed in the profound meanings of all Dharmas. They knew very well the mental states of all living beings and their comings and goings (within the realms of existence). They had reached the state near the unsurpassed sovereign wisdom of all Buddhas, having acquired the ten fearless powers (dasabala) giving complete knowledge and the eighteen different characteristics (of a Buddha as compared with Bodhisattvas (avenikadharma). Although they were free from (rebirth in ) evil existences, they appeared in five mortal realms as royal physicians to cure all ailments, prescribing the right medicine in each individual case, thereby winning countless merits to embellish countless Buddha lands. Each living being derived great benefit from seeing and hearing them, for their deeds were not in vain. Thus they had achieved all excellent merits. ** For more information, please see Bồ Tát Đạo.
Bồ Tát hạnh nguyện
菩薩行願; S: bodhisattvacāryapraṇidhāna;|Là hạnh nguyện của một vị Bồ Tát, quyết tâm đạt Bồ-đề vì lợi ích của loài hữu tình, nhằm dẫn dắt cho họ đến Niết-bàn. Hạnh nguyện này là hiện thân của Bồ-đề tâm (s: bodhicitta), được các Tỉ-khâu cũng như Cư sĩ trong Ðại thừa phát nguyện (Tứ hoằng thệ nguyện).
bồ tát hộ pháp
Dharma Protector Bodhisattva.
bồ tát kim cang trí
Bồ tát Kim Cang Trí (670-741), con trai một hoàng tộc, lên 10 đã học ở Tịnh xá Na-lan-đà. Năm 28, học Du già luận, Duy thức luận, Biện trung luận với Sribhdra. Đến 31 tuổi ngài đi Nam Ấn, gặp ngài Long Trí thọ giáo học đạo 7 năm với các kinh của Kim Cang Du già, các giáo lý Mật Chú của kinh Đại Nhật, kinh Đại thừa và Ngũ minh Luận. Sau khi nhận lễ quán đảnh ngài về Trung Ấn.
bồ tát kim cương bảo giới
(菩薩金剛寶戒) Là giới viên đốn. Tức là 10 giới nặng 48 giới nhẹ trong kinh Phạm võng được truyền thụ theo tinh thần khai hiển của kinh Pháp hoa. Cũng gọi Phạm võng bồ tát giới,Thiên thai giáo bồ tát giới, Viên đốn đại giới, Viên đốn vô tác giới. (xt. Viên Đốn Giới).
bồ tát long thọ
Bodhisattva Nagarjuna.
bồ tát lớn
Đại Bố Tát---Bodhisattva Mahasattva.
Bồ Tát lục trụ
sự tu tập chứng đắc của hàng Bồ Tát chia làm sáu địa vị, đều đã đạt đến chỗ vững vàng không thối lui nữa, nên gọi là sáu trụ (lục trụ). Sáu trụ ấy cũng tương đương với các giai đoạn tu tập và chứng đắc lên đến Thập địa, phân ra như sau: 1. Chủng tánh trụ, là hàng Bồ Tát tu Thập hạnh; 2. Giải hạnh trụ, là hàng Bồ Tát tu Thập hồi hướng; 3. Tịnh tâm trụ, là hàng Bồ Tát tu chứng Sơ địa; 4. Hành đạo trụ, là hàng Bồ Tát tu chứng từ Nhị địa cho đến Thất địa; 5. Quyết định trụ, là hàng Bồ Tát tu chứng Bát địa và Cửu địa; 6. Cứu cánh trụ, là hàng Bồ Tát tu chứng Thập địa.
bồ tát ma ha tát
Bodhisattva Mahāsattva (S)Đại Bồ tát.
; Bodhisattva, Mahàsattva (S). Great bodhisattva.
; Bodhisattva-Mahasattvas (skt)—Bồ Đề Tát Đỏa Ma Ha Tát Đỏa—Đại Chúng Sanh—Giác Hữu Tình (dịch mới) hay những Bồ Tát Địa Thượng, cao hơn tất cả chúng sanh, ngoại trừ Phật—Bodhisattva Mahasattva is the perfect Bodhisattva, greater than any other being except a Buddha.
bồ tát mã minh
Asvaghosa (skt) Ashvaghosha (p) Bodhisattva.
bồ tát mãn sanh man luận
Jātakamalā-śāstra (S)Phật giáo Cố sự tậpTên một bộ luận kinh.
bồ tát nguyện
Bodhisattvapranihita (S), Bodhisattva vow.
; Pranidhàna-pàramita (S). The vow of Bodisattva.
bồ tát nguyệt quang biến chiếu
Universal Moonlight Brilliance Bodhisattva.
bồ tát ngũ chủng sinh
(菩薩五種生) Năm loại thụ sinh của Bồ tát. Cứ theo kinh Bồ tát điạ trí quyển 10 phẩm Tất kính phương tiện xứ chép, thì Bồ tát do sức nguyện, sức tự tại mà có năm loại thụ sinh như sau: 1. Tức khổ sinh (sinh ra để chấm dứt các nỗi khổ) : gặp thời đói kém thì Bồ tát sinh làm thân cá lớn v.v... vào thời bệnh dịch hoành hành thì Bồ tát sinh làm thầy thuốc giỏi; vào thời chinh chiến thì Bồ tát sinh làm đại lực sĩ v.v... Bồ tát thụ sinh vào vô lượng chỗ như thế để cứu khổ cho chúng sinh. 2.Tùy loại sinh, nghĩa là Bồ tát thụ sinh trong hết thảy chúng sinh, trời rồng quỉ thần, a tu la, ngoại đạo v.v... để giáo hóa và dẫn dắt chúng sinh về đường chính thiện, bỏ đường tà ác. 3. Thắng sinh, nghĩa là Bồ tát tuy thị hiện thụ sinh, nhưng quả báo về tuổi thọ và sắc lực đều hơn cả trời và người. 4. Tăng thượng sinh, nghĩa là trong tất cả nơi thụ sinh, Bồ tát đều là người kì lạ nhất trong đó. 5. Tối hậu sinh (sinh ra lần cuối cùng), nghĩa là trong các loại Bồ tát, Bồ tát này , khi thụ sinh, là Tối thượng bồ tát trụ, được đại pháp thân, đầy đủ sức tự tại, cầu chứng bồ đề, muôn hạnh trọn vẹn, sinh vào dòng vua, được vô thượng chính đẳng chính giác và làm hết thảy Phật sự.
bồ tát ngũ chủng tướng
(菩薩五種相) Trang nghiêm kinh luận nêu ra năm thứ tướng của Bồ tát như sau: 1. Lân mẫn tướng, nghĩa là Bồ tát đem thân từ bi giác ngộ thương nhớ tất cả chúng sinh, dùng nhiều phương tiện làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 2. Ái ngữ tướng, nghĩa là Bồ tát có thể giảng nói tất cả Phật pháp một cách khéo léo, lời nói dịu dàng thương mến, khiến chúng sinh được chính tín. 3. Dũng kiện tướng, nghĩa là Bồ tát vì độ chúng sinh, đối với các việc khó làm, đều làm hết, không chịu lùi bước. 4. Khai thủ tướng, nghĩa là bi nguyện của Bồ tát sâu rộng, dùng của cải và trí tuệ độ khắp tất cả, làm việc bố thí, giúp đỡ người nghèo khổ. 5. Thích nghĩa tướng, nghĩa là Bồ tát vì độ chúng sinh, nên dùng tài biện luận trôi chảy, giải thích nghĩa kinh, thu nhiếp chúng sinh bằng pháp tối thượng.
bồ tát ngũ chủng tự tại
(菩薩五種自在) Năm thứ tự tại của Bồ tát. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 68 phẩm Biến tịnh thiên thụ kí chép, thì Bồ tát nhờ vận dụng cả bi và trí, muôn hạnh trọn đủ, mà được năm thứ tự tại dưới đây: 1. Thọ mệnh tự tại, nghĩa là Bồ tát thành tựu pháp thân tuệ mệnh, đã thoát khỏi sống chết, nhưng vì hóa độ chúng sinh mà tùy cơ thị hiện chân tướng có tuổi thọ dài, ngắn, nhưng tâm Bồ tát không vướng mắc. 2. Sinh tự tại, nghĩa là Bồ tát vì tâm đại bi cứu độ chúng sinh mà tùy loại thụ sinh, làm lợi ích cho tất cả, ở trên cung trời không cho là sướng, vào trong địa ngục không lấy làm khổ, đi hay ở đều được tự do, không bị trở ngại. 3. Nghiệp tự tại, nghĩa là Bồ tát muôn hạnh đã đầy đủ, vận dụng cả bi và trí, vì hóa độ chúng sinh, hoặc hiện thần thông, tuyên nói diệu pháp, hoặc vào thiền định, tu hành khổ hạnh, nhậm vận vô ngại. 4. Giác quán tự tại, giác nghĩa là tâm thô, quán nghĩa là tâm tế. Nghĩa là Bồ tát hoặc tu hạnh Thiền quán, hoặc khởi tâm lợi sinh, tuy có tư duy, nhưng không rơi vào trạng thái tán loạn, rối ren, tùy nguyện độ sinh, bình đẳng vô ngại. 5. Chúng cụ quả báo tự tại, nghĩa là Bồ tát nhờ nhân hạnh của mình sâu rộng, quả báo thù thắng, nên tất cả vật dụng cần thiết, đều có đầy đủ, nhưng tâm không dính mắc.
bồ tát ngũ trí
(菩薩五智) Chỉ cho năm trí của Bồ tát, đó là: 1. Thông đạt trí, trí thấu suốt các pháp, biết rõ vạn hữu như huyễn. 2. Tùy niệm trí, trí có khả năng nhớ hết các việc quá khứ. 3. An lập trí, trí có khả năng kiến lập chính hạnh, khiến chúng sinh tu tập. 4. Hòa hợp trí, trí quán xét tất cả pháp theo duyên hòa hợp. 5. Như ý trí, trí có khả năng thành đạt những điều mong muốn. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.hạ; Nhiếp đại thừa luận thích luận Q.9].
Bồ Tát nhất sinh bổ xứ
xem Bồ Tát thọ thân sau cùng.
bồ tát nhẫn
Bồ Tát nhẫn có bốn: - Người chưởi mắng mà không chưởi mắng lại - Người đánh mà không đánh trả lại - Người làm khổ mình mà mình không làm khổ lại. - Người giận mình mà mình không giận lại.
bồ tát nhị tâm
(菩薩二心) Hai tâm của Bồ tát, tức là tâm đại từ và tâm đại bi. 1. Đại từ tâm, từ là yêu mến, cũng tức là tâm ban vui. Nghĩa là Bồ tát yêu mến tất cả chúng sinh, thường làm lợi ích theo đúng điều họ mong cầu. 2. Đại bi tâm, bi là thương xót, cũng tức là tâm cứu khổ. Nghĩa là Bồ tát thương xót tất cả chúng sinh, thường cứu tế giúp đỡ khiến họ khỏi khổ.
bồ tát nhựt quang biến chiếu
Universal Sunlight Brilliance Bodhisattva
Bồ Tát Pháp Tạng
(s: Dharmākara, 法藏): còn gọi là Pháp Tạng Tỳ Kheo (法藏比丘); âm dịch là Đàm Ma Ca (曇摩迦), Đàm Ma Ca Lưu (曇摩迦留); ý dịch là Pháp Bảo Xứ (法寶處), Pháp Xứ (法處), Pháp Tích (法積), Tác Pháp (作法); là pháp danh của đức Phật A Di Đà khi chưa thành Phật. Theo Vô Lượng Thọ Kinh, quyển Thượng, trong đời quá khứ xa xưa thời đức Thế Tự Tại Vương Phật (世自在王佛) trụ thế, có vị quốc vương, sau khi nghe Phật thuyết pháp, bèn phát tâm vô thượng, xả bỏ vương vị xuất gia, hiệu là Pháp Tạng. Vị này tài cao, minh triết, siêu bạt giữa đời, theo tu tập với Thế Tự Tại Vương Phật, phát 48 lời thệ nguyện để cứu độ chúng sanh và sau một thời gian tu hành lâu xa, ngài thành tựu bản nguyện của mình và được thành Phật. Vị Phật này chính là A Di Đà Phật. Như trong Lễ Niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp (禮念彌陀道塲懺法, CBETA No. 1467) quyển 7, phần Phát Nguyện Vãng Sanh (發願徃生) có đoạn rằng: “Thị cố phục ưng tu học Bồ Đề hạnh nguyện, như A Di Đà Phật tối sơ nhân trung, vi Pháp Tạng Tỳ Kheo, sở phát tứ thập bát nguyện; hựu như Phổ Hiền Văn Thù quảng đại hạnh nguyện, diệc như thập phương tam thế chư đại Bồ Tát sở hữu hạnh nguyện, ngã diệc như thị thứ đệ tu học (是故復應修學菩提行願、如阿彌陀佛最初因中、爲法藏比丘、所發四十八願、又如普賢文殊廣大行願、亦如十方三世諸大菩薩所有行願、我亦如是次第修學, vì vậy lại nên tu học hạnh nguyện Bồ Đề, như trong nhân vị đầu tiên của Phật A Di Đà, là Tỳ Kheo Pháp Tạng, đã phát bốn mươi tám nguyện, cũng như hạnh nguyện rộng lớn của Phổ Hiền, Văn Thù, cũng như hạnh nguyện vốn có của chư vị đại Bồ Tát trong mười phương ba đời, con cũng lần lượt tu học như vậy).”
bồ tát phật quảng
Bodhisattva Universally Expansive.
bồ tát phổ hiền
Bodhisattva Samantabhadra—See Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền.
bồ tát quán thế âm
Tchenrezigs (T), Byakue-Kannon (J), Avalokitesvara (S), Kwan Um (K)Bạch Y Quan âm.
; Avalokitesvara (skt)—Bồ Tát của lòng Đại Bi và tầm thinh cứu khổ. Cũng còn được gọi là Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, một trong ba vị Đại Sĩ của Tịnh Độ. Hai vị khác là A Di Đà và Đại Thế Chí—Bodhisattva of compassion and deep listening (observer of the world's sounds). Also called Kwan Yin,The bodhisattva of compassion—One of the three Pure Land Sages. The others being Buddha Amitabha and Bodhisattva Mahasthamaprapta (Đại Thế Chí). ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
bồ tát sở quán tứ trí
(菩薩所觀四智) Là bốn trí do Bồ tát thành tựu trước khi ngộ nhập lí duy thức. Tông Duy thức chủ trương các pháp đều do tâm thức biến hiện, cho nên phủ nhận các thuyết cho rằng ngoài tâm có thực pháp. Bốn trí này nhằm bác bỏ kiến giải thực ngã thực pháp của ngoại đạo. Đó là: 1. Tương vi thức tướng trí, nghĩa là chúng sinh trong sáu ngả khác nhau, như : quỉ, thần, trời, người v.v... tuy cùng một cảnh vật, nhưng chỗ thấy của mỗi loài khác nhau, vì thế nên biết đó là tùy theo sức nghiệp mà có khác, chứ chẳng phải cảnh giới có thật.2. Vô sở duyên thức trí, khi người ta duyên theo những cảnh hư huyễn ở quá khứ, vị lai, trong giấc mộng, thì những điều do tâm biến hiện, tùy lúc thay đổi, chứ chẳng phải thật có cảnh giới. 3. Tự ưng vô đảo trí, nghĩa là tất cả phàm phu phải nhờ tu hành chứng ngộ mới được giải thoát, chứ không phải tự nhiên mà có thể thành Thánh thành Phật, cho nên biết cảnh giới là hư huyễn. Nếu như cảnh giới là có thật, thì chúng sinh phàm ngu đều có thể không cần trải qua tu chứng mà tự nhiên tỏ ngộ cảnh giới ở ngoài tâm để được giải thoát. 4. Tùy tam trí chuyển trí; lại có ba thứ: a. Tùy tự tại giả trí chuyển trí, nghĩa là bậc Thánh đã chứng được tâm tự tại có thể tùy theo ý muốn mà chuyển biến cảnh giới bên ngoài đều được. Nếu cảnh giới là có thật thì bậc Thánh nhân không thể tùy tâm mà tự tại chuyển biến ngoại cảnh. b.Tùy quán sát giả trí chuyển trí, nghĩa là bậc Thánh đã được thiền định thù thắng trong khi tu quán, chỉ quán xét một cảnh mà các tướng hiện ra trước mặt, vì thế nên biết cảnh giới chẳng phải thật có. c. Tùy vô phân biệt tri chuyển trí, nghĩa là đối với bậc Thánh đã chứng được trí không phân biệt mà nói, thì tất cả cảnh tướng đều không hiện trước mặt, cho nên biết cảnh giới chẳng phải thật có.
bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả
Bodhisattvas fear (are afraid of) causes; living beings fear effects (results or consequences)—Bồ Tát vì sợ quả ác về sau, cho nên chẳng những tránh gieo ác nhân trong hiện tại, mà còn tinh tấn tu hành cho nghiệp chướng chóng tiêu trừ, đầy đủ công đức để cuối cùng đạt thành Phật quả. Còn chúng sanh vì vô minh che mờ tâm tánh nên tranh nhau gây tạo lấy ác nhân, vì thế mà phải bị nhận lấy ác quả. Trong khi chịu quả, lại không biết ăn năn sám hối, nên chẳng những sanh tâm oán trách trời người, mà lại còn gây tạo thêm nhiều điều ác độc khác nữa để chống đối. Vì thế cho nên oan oan tương báo mãi không thôi—Because the Bodhisattvas are afraid of bad consequences in the future, not only they avoid planting evil-causes or evil karma in the present, but they also diligently cultivate to gradually diminish their karmic obstructions; at the same time to accumulate their virtues and merits, and ultimately to attain Buddhahood. However, sentient beings complete constantly to gather evil-causes; therefore, they must suffer evil effect. When ending the effect of their actions, they are not remorseful or willing to repent. Not only do they blame Heaven and other people, but they continue to create more evil karma in opposition and retaliation. Therefore, enemies and vengeance will continue to exist forever in this vicious cycle.
bồ tát tam sự thắng
(菩薩三事勝) Ba việc thù thắng của Bồ tát. Nghĩa là Bồ tát sinh ở cõi trời Đâu suất, có ba việc thù thắng: 1. Mệnh thắng, nghĩa là Bồ tát đã xa lìa sự sống chết trong ba cõi, tuy không tu mệnh nghiệp (tu nhân nghiệp sống lâu), nhưng tuổi thọ của các trời sinh ở cõi Đâu suất là bốn nghìn tuổi, sau đó thì sinh nơi Trung quốc (nơi có văn hóa cao) để được bổ làm Phật. 2. Sắc thắng, Bồ tát tuy không tu sắc nghiệp (tu nhân nghiệp có sắc tướng tốt đẹp), nhưng sinh ở cung trời Đâu suất thì sắc thân vi diệu, ánh sáng rực rỡ, tự nhiên trang nghiêm, khác với các trời. 3. Danh thắng, nghĩa là Bồ tát sinh ở cõi trời Đâu suất, cho nên các trời liền gọi tên Bồ tát là Hộ minh (chỉ cho Phật thích ca), dần dần tiếng xưng hô ấy truyền thấu đến cõi trời Tịnh cư, rồi đến tận cõi trời cao nhất của sắc giới (Sắc cứu kính thiên).
bồ tát tam tu học
(菩薩三修學) Ba phép tu học của Bồ tát. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng phẩm Hiền thánh học quán có nêu ra ba phép tu học của Bồ tát Đẳng giác như sau: 1. Bách kiếp Đính tịch định trung tu chư tam muội (100 kiếp tu tam muội ở trong định Đính tịch), nghĩa là bồ tát Đẳng giác ở trong địnhĐính tịch (là định ở trên hết các định), dùng sức đại nguyện ở lâu trong đó 100 kiếp, tu tất cả tam muội mà vào tam muội Kim cương thì ngầm tương ứng với hết thảy pháp tính mà được một tướng chung. 2. Thiên kiếp Kim cương định trung học chư uy nghi (nghìn kiếp ở trong định Kim cương học các uy nghi), nghĩa là bồ tát Đẳng giác lại ở lâu trong định Kim cương 1000 kiếp để học tất cả uy nghi, tu vô lượng pháp thần thông hóa đạo không thể nghĩ bàn của Phật và vào chỗ hạnh Phật, ngồi ở đạo tràng của Phật. 3. Vạn kiếp Đại tịch định trung học Phật hóa hạnh (một vạn kiếp ở trong định Đại tịch học hạnh giáo hóa của Phật), nghĩa là bồ tát Đẳng giác lại ở lâu trong định Đại tịch một vạn kiếp học hạnh giáo hóa của Phật để thị hiện các sắc tướng giáo hóa chúng sinh, và thị hiện hạnh trung đạo ngang bằng với chư Phật.
bồ tát thanh tịnh đại hải chúng
Bodhisattva of Ocean-Wide Assembly.
bồ tát thiên
Transcendent Bodhisattva Xem Bodhisattva.
bồ tát thiện giới kinh
(菩薩善戒經) I. Bồ tát thiện giới kinh, 9 quyển, ngài Cầu na bạt ma (367- 431) dịch vào đời Lưu Tống. Cũng gọi Bồ tát địa thiện giới kinh, Thiện giới kinh, thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung kinh này chia làm 30 phẩm, trình bày về chủng tính, phát tâm, tu hành, đắc quả, bản hữu chủng tử, tân huân chủng tử v.v... của Bồ tát. Mười vị luận sư lớn của Duy thức dựa vào sự giải thích của văn kinh này mà bàn về chủng tử bản hữu (vốn có sẵn) và tân huân (mới được xông ướp). Lại Du già sư địa luận lược toản quyển 9 đến quyển 12 của ngài Khuy cơ và Du già luận kí quyển 16 đến quyển 24 của ngài Độn luân đều là những tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu kinh này. Kinh này và kinh Bồ tát địa trí là cùng bản và khác dịch, cả hai đều được sao trích ra từ Bồ tát địa trong luận Du già sư địa rồi chỉnh lí thêm mà thành thể tài của kinh. Nhưng nội dung có hơi khác, vì thế có thuyết bảo hai kinh này là hai bản khác nhau. II. Bồ tát thiện giới kinh, 1quyển, ngài Cầu na bạt ma đời Lưu Tống dịch. Cũng gọi Thiện giới kinh, Bồ tát địa thiện giới kinh, Ưu ba li vấn bồ tát thụ giới pháp. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung kinh này nói rõ về tác pháp và tâm đắc của việc thụ giới Bồ tát, bảo rằng người muốn thụ giới Bồ tát thì trước hết phải thụ đầy đủ các giới ưu bà tắc, sa di và tỉ khưu, đồng thời giải thích rõ ràng 10 giới nặng của kinh Phạm võng và 10 giới nặng của kinh Anh lạc.Lại kinh Bồ tát thiện giới bản 9 quyển cũng như bản 1 quyển đều là được sao chép ra từ Bồ tát địa của luận Du già sư địa rồi sửa chữa thêm mà thành là thể tài riêng của kinh. Và bản 9 quyển bao gồm phần Tựa, phần Chính tông, phần Lưu thông, trong khi bản 1 quyển thì chỉ có phần Chính tông mà thôi. Cứ theo sự khảo chứng thì nội dung của bản 1 quyển nên được sáp nhập vào giữa quyển 4 quyển 5 của bản 9 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.7]. (xt. Bồ Tát Địa Trì Kinh).
bồ tát thiện tài
Sudhana (skt)—Good Wealth Bodhisattva.
bồ tát thánh chúng
Bồ Tát Thánh là những vị Bồ Tát từ sơ địa trở lên, đã cắt đứt mê lầm phiền não, đối lại với Bồ Tát phàm là những vị chưa cắt đứt mê hoặc—The Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards, as contrasted with ordinary Bodhisattvas.
; (菩薩聖衆) Bồ tát chưa đoạn trừ phiền não là Phàm phu Bồ tát; Bồ tát từ Sơ địa trở lên đã dứt được mấy phần phiền não là Bồ tát Thánh chúng, cũng gọi là Thánh chúng Bồ tát.
bồ tát thính pháp ngũ chủng tưởng
(菩薩聽法五種想) Luận Du già sư địa quyển 44 phẩm Cúng dường thân cận vô lượng có nói, khi nghe pháp, Bồ tát nên sinh khởi năm thứ tưởng niệm như sau: 1. Bảo tưởng, nghĩa là nghĩ tưởng chính pháp tôn quý, hiếm có khó được. 2. Nhãn tưởng, nghĩa là nghĩ tưởng chính pháp như cặp mắt mở toang màn tăm tối của mình, sinh ra trí tuệ. 3. Minh tưởng, nghĩa là nên nghĩ chính pháp như ánh sáng mặt trời, chiếu soi tất cả một cách bình đẳng. 4. Đại quả thắng công đức tưởng, nghĩa là nên nghĩ chính pháp làm cho mình được niết bàn và quả đại bồ đề công đức thù thắng. 5. Vô tội đại thích duyệt tưởng, nghĩa là nên nghĩ đối với pháp hiện tại tuy chưa chứng quả, nhưng nếu nương theo pháp mà tu hành như thực, xa lìa các tội cáu bẩn, thì được niềm vui rất lớn.
bồ tát thập thí
(菩薩十施) Trong kinh Hoa nghiêm quyển 21 phẩm Thập vô tận tạng có nói, Bồ tát vì lòng từ bi mà làm mười việc bố thí như sau: 1. Phân giảm thí (chia bớt để cho), nghĩa là Bồ tát có lòng nhân từ, thích làm việc bố thí, đem thức ăn ngon của mình trước chia bớt cho chúng sinh rồi sau mới ăn, lại nguyện cho tám vạn hộ trùng (các loại vi trùng) trong thân mình cũng được đủ no. 2. Kiệt tận thí (cho hết tất cả), nghĩa là Bồ tát đem hết thức ăn ngon, áo mặc đẹp và những thứ cần thiết cho cuộc sống, hễ có cái gì đem cho hết tất cả, ngay đến thân mệnh cũng không sẻn tiếc. 3. Nội thí (cho trong), nghĩa là Bồ tát tuổi còn trẻ khỏe, hình tướng đẹp đẽ, ở ngôi Chuyển luân vương, đầy đủ bảy thứ quí báu, làm vua bốn thiên hạ, nhưng vì cứu giúp chúng sinh, cho cả thân mệnh mà không hối tiếc. 4. Ngoại thí (cho ngoài), nghĩa là Bồ tát đem bảy thứ quí báu đẹp đẽ bố thí cho chúng sinh. 5. Nội ngoại thí, nghĩa là Bồ tát đem ngôi vua bố thí cho chúng sinh, đồng thời làm bầy tôi cung kính phục dịch chúng sinh mà không ân hận. 6. Nhất thiết thí (cho tất cả), nghĩa là Bồ tát thương xót chúng sinh, tùy theo chỗ họ mong cầu mà đem tất cả những gì mình có như đất nước, vợ con, tay chân, gan óc v.v... cho hết, không hối tiếc. 7. Quá khứ thí, nghĩa là Bồ tát đối với tất cả pháp và công đức của chư Phật quá khứ không tham đắm, nhưng vì giáo hóa chúng sinh chấp trước để thành thục Phật pháp, nên giảng nói các pháp trọng yếu. 8. Vị lai thí, nghĩa là Bồ tát quán xét các pháp vị lai đều không thể được, nhưng vì nhiếp hóa chúng sinh, nên thường siêng năng tu hành. 9. Hiện tại thí, nghĩa là Bồ tát đối với công đức của các cõi trời lòng không tham đắm, chỉ mong cho chúng sinh lìa bỏ các đường ác, tu đạo thành phật. 10. Cứu kính thí, nghĩa là Bồ tát từ bi bố thí hết cho tất cả chúng sinh, dù có trải qua nhiều kiếp thì cũng không hối tiếc, chỉ một lòng mong cầu thành tựu trí thân thanh tịnh.
bồ tát thập trụ
The ten grounds—See Thập Trụ.
Bồ Tát thập địa
菩薩十地|Thập địa
bồ tát thập địa
Bodhisattvabhùmi The ten stages, or grounds of Bodhisattva.
; The ten stages in a Bodhisattva's progress—See Thập Địa.
bồ tát thế thân
Vasubandhu.
Bồ Tát thọ thân sau cùng
là vị Bồ Tát đản sinh để thành Phật, không còn thọ thân sau nữa. Nguyên bản dùng ‘hậu thân Bồ Tát’, nói đủ là ‘tối hậu thân Bồ Tát’, cũng gọi là ‘Bồ Tát nhất sinh bổ xứ’.
bồ tát thụ trai kinh
(菩薩受齋經) Kinh, 1 quyển, ngài Niếp đạo chân dịch vào đời Tây Tấn. Cũng gọi Bồ tát thụ trai giới kinh, Thụ trai kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung tường thuật: để khích lệ việc hành đạo, nên giữ trai giới vào những ngày trai đặc biệt đã qui định, tu hành sáu ba la mật, tu niệm 10 niệm, 10 giới v.v... Sau khi đã được đời sống trong sạch, thì phát tâm cứu độ chúng sinh. Trong đây, tu niệm 10 niệm là: niệm Phật quá khứ, Phật vị lai, Phật hiện tại, giới ba la mật, thiền ba la mật, phương tiện thiện xảo, bát nhã ba la mật, thiền tam muội sáu vạn bồ tát ở nước Phật A di đà, hòa thượng, a xà lê v.v... khác với 10 niệm phổ thông: Phật, Pháp, tăng, giới, thí, thiên, chỉ quán, an ban, thân, tử v.v... và 10 giới ở đây cũng khác với 10 giới sa di. Ngoài ra về tên người dịch kinh này thì các kinh chép cũng không giống nhau, như Lịch đại tam bảo kỉ quyển 6 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 2 v.v... nói là do Niếp đạo chân dịch; nhưng Đại đường nội điển lục quyển 2 thì lại bảo không rõ ngưới dịch. [X. Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.4].
Bồ Tát thừa
xem Ba thừa.
; 菩薩乘; S: bodhisattvayāna;|Tên gọi khác của Ðại thừa (s: mahāyāna) với khái niệm Bồ Tát.
bồ tát thừa
Bodhisattvayāna (S), Bodhisattva vehicle Bodhisattayāna (P). Xem đại thừa.
; Bodhisattvayàna (S). Vehicle of Bodhisattva.
; Bodhisattvayana (skt)—Một trong ngũ thừa dạy tu hành theo Lục độ Ba la mật để tự giác và giác tha (nhị lợi: tự lợi lợi tha). Mục đích chính là cứu độ chúng sanh và thành Phật quả. Vì mục đích của Bồ Tát thừa là đạt tới Phật tánh tối thượng, nên Bồ Tát Thừa cũng còn được gọi là Phật Thừa hay Như Lai Thừa—Bodhisattva way—One of the five vehicles which teaches the observance of the six paramitas the perfecting of the self and the benefits of others. The objective is the salvation of all beings and attaining of Buddhahood. The aim of Bodhisattvayana is the attainment of Supreme Buddhahood. Therefore, it is also called the Buddhayana or Tathagatayana.
; (菩薩乘) Phạm: Bodhisattva-yàna. Một trong ba thừa, một trong năm thừa. Cũng gọi Phật thừa. Thừa, hàm ý là chuyên chở, vận tải. Dùng pháp môn sáu độ bi và trí làm phương tiện (thừa: xe cộ, thuyền bè) vận chuyển chúng sinh vượt qua cảnh giới ba cõi ba thừa mà đến bờ vô thượng bồ đề đại niết bàn, như ngồi thuyền vượt biển, cho nên gọi là Bồ tát thừa. Cũng có chỗ gọi cơ loại Bồ tát là Bồ tát thừa. [X. Pháp hoa huyền luận Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.2]. (xt. Tam Thừa, Ngũ Thừa).
bồ tát toạ
(菩薩坐) Cách ngồi của Bồ tát, tức là ngồi bán già. Cũng gọi là Bán tọa, Bán già, Hiền tọa, tức là khi ngồi gác một chân lên chân kia. Thông thường đây là kiểu ngồi của Bồ tát, đối lại với kiểu ngồi của đức Như lai gọi là già phu tọa. Trong mạn đồ la của hai bộ Kim cương, Thai tạng Mật giáo, ngoại trừ một số ít Bồ tát như các ngài Hư không tạng, Thiên thủ quan âm, Kim cương tạng vương, Bát nhã v.v... còn hầu hết các Bồ tát khác đều ngồi bán già trên hoa sen. Cách ngồi bán già lại được chia làm hai kiểu: 1. Cát tường bán già tọa, cách ngồi chân phải gác lên chân trái, thường được Mật giáo sử dụng. 2. Hàng ma bán già tọa, cách ngồi chân trái gác lên chân phải, thông dụng trong nhà Thiền. Ngoài ra, cứ theo luật Tứ phần quyển 49, luật Ma ha tăng kì quyển 40 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 30 chép, thì lúc giáo đoàn Phật giáo mới được thành lập, chúng tăng vốn ngồi theo kiểu kết già (toàn già phu tọa), nhưng sau vì quan tâm đến các vị tỉ khưu ni khi ngồi thiền, để tránh việc trùng rắn xâm nhập và kinh nguyệt hiện ra, nên đức Phật mới cho phép các tỉ khưu ni ngồi theo kiểu bán già, và đây cũng là khởi đầu cách ngồi của Bồ tát. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8; Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Kết Già Phu Tọa).
bồ tát tính
Bodhisattva-nature, or character.
bồ tát tăng
Bodhisattva-sangha (skt)— Chư Tăng Đại Thừa, có tranh cải cho rằng chư Tăng Tiểu Thừa cũng là những Bồ Tát Tăng—Mahayana monks, though there has been dispute whether Hinayana monks may be included.
; (菩薩僧) I. Bồ tát tăng. Tiếng gọi chung các vị Bồ tát. Kinh Duy ma quyển hạ (Đại 14, 554 trung), nói: Được nghe tiếng nói của Phật thân miệng ý đều lành, được thấy uy nghi của Phật chỗ tu các thiện pháp càng thù thắng hơn lên, nhờ giáo pháp Đại thừa thành bậc Bồ tát tăng. [X. luận Du già sư địa Q.79]. II. Bồ tát tăng. Là một trong hai loại tăng (Thanh văn tăng và Bồ tát tăng). Người hiện tướng sa môn xuất gia tu học giới, định, tuệ Tiểu thừa, gọi là Thanh văn tăng. Trái lại, người hiện hình tướng tại gia tu học giới, định, tuệ, phối với sáu độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến (giới), thiền định (định), trí tuệ (tuệ)) của Đại thừa, gọi là Bồ tát tăng. Bồ tát tăng cũng là một trong ba loại tăng: Thanh văn tăng, Duyên giác tăng, Bồ tát tăng, hoặc Thanh văn tăng, Bồ tát tăng, Phàm phu tăng. [X. luận Đại trí độ Q.34]. III. Bồ tát tăng. Chỉ cho các vị cao tăng ở thời Bắc Chu bên Trung quốc, bị bắt buộc phải để tóc, đội mũ, mặc áo có trang sức chuỗi ngọc như người ngoài đời. Trong Tam Vũ nhất Tông pháp nạn (Pháp nạn ở thời ba vua Vũ một vua Tông) của lịch sử Phật giáo Trung quốc, Vũ đế nhà Bắc Chu đã đặt ra những điều luật tàn ác để bức hại tăng, ni hòng đạt mục đích hủy diệt Phật pháp của ông ta. Như vào năm Kiến đức thứ 3 (574), Vũ đế ra lệnh lập riêng các đạo quán (nhà thờ của Đạo giáo), rồi tuyển chọn các bậc danh đức của Phật giáo, Đạo giáo buộc họ phải thay đổi hình tướng bằng cách để tóc và được gọi là học sĩ. Sau khi Vũ đế chết, Tuyên đế lên nối ngôi, tuy nhà vua muốn phục hưng Phật giáo, nhưng vì pháp lệnh của Vũ đế còn đó, chưa thể bỏ ngay được, nên hạ lệnh cho chùa Trắc hỗ ở kinh đô đặt 120 vị Thông đạo quán viên, rồi chọn các bậc đại đức của Phật giáo, Đạo giáo để tóc, đội mũ, mặc áo anh lạc (áo trang sức bằng chuỗi ngọc), gọi là Thông đạo quán viên học sĩ. Những vị cao tăng nổi tiếng thời bấy giờ, như các ngài Pháp tạng, Ngạn tông v.v... đều được tuyển chọn. Vì các bậc cao tăng được tuyển chọn đều phải đội mũ hoa, mặc áo anh lạc nên dùng từ Bồ tát tăng để gọi thay. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].
bồ tát tại gia
Xem Bồ tát.
; Layperson Bodhisattva—Layperson-precept Bodhisattva.
bồ tát tạng
Bodhisattavapiṭākam (S), P'u-so tsang (C)Tên gọi chung của kinh điển Đại thừa.
; Tên chung của các kinh điển Đại Thừa, như Pháp Hoa hay Hoa Nghiêm, hàm chứa phép tu chứng quả Bồ Tát—The Mahayana scriptures or canon (the Lotus sutra, or the Hua-Yen sutra), i.e. those of the Bodhisattva schools.
; (菩薩藏) Phạm: Bodhisattva-pitêaka. Kinh điển Đại thừa giải thích rõ về ý nghĩa tu nhân chứng quả của hàng Bồ tát Đại thừa. Là một trong hai tạng, một trong ba tạng, một trong tám tạng. Như các kinh Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... đều bao hàm các pháp tu học của Bồ tát. Kinh Giải thâm mật quyển 4 (Đại 16, 705 thượng), nói: Bồ tát phải nên tu học như thế nào? (....) Phải nên tu học theo năm tướng: Thứ nhất, đối với Bồ tát tạng, trước hết, Bồ tát phải tin hiểu mạnh mẽ Ba la mật đa tương ứng với chính pháp vi diệu... [X. luận Du già sư địa Q.16; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Nhị Tạng, Bát Tạng, Tam Tạng).
bồ tát tỉ khâu
(菩薩比丘) Chỉ cho người bên trong chứng quả Bồ tát mà bên ngoài hiện tướng Thanh văn tỉ khưu. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 107 trung), nói: Có hai vị Bồ tát tỉ khưu, một vị tên là Hỉ căn, một vị tên là Thắng ý. [X. kinh Pháp hoa phẩm Thường bất khinh bồ tát].
bồ tát tứ pháp
(菩薩四法) Theo luận Du già sư địa quyển 47 phẩm Du già xứ phần, thì người tu hạnh Bồ tát, phải tu tập bốn pháp dưới đây: 1. Thiện tu sự nghiệp, nghia là hành giả phải tu rộng rãi các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ v.v...2. Phương tiện thiện xảo, nghĩa là đối với những chúng sinh chưa vào Phật pháp, hành giả nên tìm cách đưa họ vào; người đã vào rồi thì giúp họ được thành thục; người đã thành thục thì làm cho họ được giải thoát, và đặt ra những phương tiện giúp chúng sinh được lợi ích. 3. Nhiêu ích ư tha, nghĩa là hành giả phải thực hiện những hạnh bố thí, ái ngữ, lợi tha, hoặc cùng làm các việc tốt lành để chúng sinh được yên vui. 4. Vô đảo hồi hướng, nghĩa là với tất cả nghiệp lành hạnh lành hành giả đã tu đều đem hồi hướng cho chúng sinh, cầu mong cùng chứng Vô thượng chính đẳng bồ đề, chứ không cầu quả báo thế gian.
bồ tát tứ pháp môn
(菩薩四法門) Bốn pháp môn của bồ tát. Cứ theo kinh Như Lai bất tư nghị bí mật đại thừa quyển 17 phẩm Khứ lai, thì Bồ tát dùng bốn thứ pháp môn để hóa độ chúng sinh là: 1. Trí môn, Bồ tát nhờ có đại trí tuệ mà biết rõ căn tính của tất cả chúng sinh, rồi tùy thuận điều phục, giúp họ được giải thoát. 2. Tuệ môn, Bồ tát dùng đại diệu tuệ vì chúng sinh phân biệt giảng nói nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của Phật pháp, giúp họ mở bung trí tuệ, biết rõ muôn pháp xưa nay vốn rỗng lặng. 3. Đà la ni môn, đà la ni nghĩa là nắm giữ tất cả. Bồ tát nắm giữ tất cả pháp, thuận theo chúng sinh mở đường chính tín, giúp họ diệt các hạnh ác mà tu tất cả pháp lành. 4. Vô ngại giảng môn, Bồ tát dùng trí hiểu thông suốt vì chúng sinh giảng nói nghĩa pháp rất sâu vô tận để khiến họ được trí hiểu biết không trở ngại.
bồ tát tứ sự nhập pháp môn
(菩薩四事入法門) Bồ tát vào pháp môn bốn việc. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 13 hội Mật tích kim cương lực sĩ, Bồ tát muốn hóa độ chúng sinh, thì trước hết phải vào pháp môn gồm bốn việc: Thiền tư, Trí tuệ, Tổng trì và Biện tài. 1. Nhập thiền tư môn, nghĩa là Bồ tát nói pháp mở đường cho chúng sinh, trước hết phải vào định tư duy, quán xét căn khí của chúng sinh để tùy cơ nói pháp. 2. Nhập trí tuệ môn, nghĩa là Bồ tát nói pháp dùng trí tuệ soi rõ tất cả, đối với chương cú nghĩa lí đều thông suốt không ngại, giúp chúng sinh tỏ ngộ để phá trừ sự ngu tối, sinh tâm pháp hỉ. 3. Nhập tổng trì môn, nghĩa là Bồ tát vào thiện pháp nắm giữ không để mất, đối với ác pháp thì giữ không cho phát sinh. 4. Nhập biện tài môn, Bồ tát đối với nghĩa lí Phật pháp quyết đoán phân minh, biện luận lưu loát, mở mang tâm trí của tất cả chúng sinh, giúp họ được vào chính đạo.
Bồ Tát Từ Thị
xem Bồ Tát Di-lặc.
bồ tát vaø nhị thừa
Bodhisattva and the Two Vehicles—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc Mahamati về sự khác biệt giữa Bồ tát và hàng Nhị Thừa như sau: “Này Mahamati, sự khác biệt giữa Bồ Tát và hàng Nhị Thừa như sau: Nhị Thừa không thể tiến qua địa thứ sáu và tại đó chư vị nhập Niết Bàn. Trong khi vị Bồ Tát ở địa thứ bảy, đi qua một kinh nghiệm tâm linh hoàn toàn mới, được gọi là anabhogacarya và có thể được dịch là một đời sống vô mục đích hay vô công dụng. Nhưng được hộ trì bởi thần lực chư Phật là cái năng lực nhập vào các đại nguyện mà vị Bồ Tát thiết lập đầu tiên khi ngài mới khởi đầu sự nghiệp của ngài và giờ đây ngài thiết định nhiều phương pháp cứu độ khác hẳn nhau nhằm lợi lạc cho chúng sanh u mê lầm lạc của ngài. Từ quan điểm tuyệt đối về chân lý tối hậu mà vị Bồ Tát đạt được, thì không có sự tiến bộ của tâm linh như thế trong đời sống của ngài, vì ở đây quả thực không có tầng bậc, không có sự thăng tiến tương tục mà riêng chân lý là không có tướng trạng và tách ly hoàn toàn với sự phân biệt—In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, the distinction between the Bodhisattva and the Two Vehicles is emphasized, as the latter are unable to go up further than the sixth stage where they enter into Nirvana. At the seventh stage, the Bodhisattva goes through an altogether new spiritual experience known as anabhogacarya, which may be rendered “a purposeless life.” But , supported by the majestic power of the Buddhas, which enters into the great vows first made by the Bodhisattva as he started in his career, the latter now devises various methods of salvation for the sake of his ignorant and confused fellow-beings. But from the absolute point of view of the ultimate truth in the Lankavatara Sutra,attained by the Bodhisattva, there is no such graded course of spirituality in his life; for here is really no gradation (krama), no continuous ascension (kramanusandhi), but the truth (dharma) alone which is imageless (nirabhasa), and detached altogether from discrimination.
bồ tát vô trước
See Asangha Asamgra Bodhisattva trong phần Phạn/Pali-Vietnamese.
bồ tát vô tận ý
Boundless Mind Bodhisattva.
bồ tát văn thù sư lợi
Bodhisattva Manjusri—See Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi.
bồ tát xuất gia
Bodhisattva Sangha.
bồ tát đại bi quán thế âm
Kuan Shi Yin Bodhisattva of Great Compassion—See Bồ Tát Quán Thế Âm.
bồ tát đại hạnh phổ hiền
Bồ Tát thực hiện hạnh nguyện siêu việt của chư Phật, thường cỡi voi sáu ngà tượng trưng cho lục Ba La Mật. Ngài nổi tiếng với mười hạnh nguyện mà chúng ta hằng trì tụng trong Kinh Nhật Tụng—Universal Worthy, Bodhisattva of Great Conduct—Samantabhadra Bodhisattva foremost in practice. Bodhisattva who personifies the transcendental practices and vows of the Buddhas, usually depicted seated on a six-tusked elephant (six paramitas). He is best known for his ten great vows which we recite every day in Daily reciting Sutra.
bồ tát đại sĩ
Những Bồ Tát lớn như Văn Thù, Quán Âm, Phổ Hiền, Thế Chí—Bodhisattva-Mahasattva (skt)—A Great Bodhisattva (Manjusri, Kuan Shi Yin, Samantabhadra,Mahasthama-prapta, etc).
bồ tát đại thế chí
Mahasthama-prapta Bodhisattva—Vị Bồ Tát đã đạt được đại lực—Bodhisattva who has attained Great Strength.
bồ tát đại trí văn thù sư lợi
Manjushri Bodhisattva of Great Wisdom (foremost in wisdom).
bồ tát đạo
Bodhisattva mārga (S), Bodhisattva Path, Bodhisattva stages Có 52 bậc khác nhau để hành hạnh Bồ tát.
; Bodhisattva path, or the way or discipline of the bodhisattva. 1) Tự lợi, lợi tha, giác hạnh viên mãn: To benefit self and benefit others, leading to Buddhahood. 2) Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh: Above to seek bodhi, below to transform all beings.
; (菩薩道) Phạm: Bodhisattva-caryà. I. Bồ tát đạo. Sự tu hành của Bồ tát. Tức là con đường tu hành sáu độ muôn hạnh, lợi mình lợi người để thành tựu quả Phật. Bởi thế, đạo Bồ tát là nhân chính yếu để thành Phật, và thành Phật là kết quả của đạo Bồ tát. Người muốn thành Phật, trước hết phải tu đạo Bồ tát. [X. kinh Pháp hoa Q.1]. II. Bồ tát đạo. Chỉ cho Phật giáo Đại thừa. Tức là giáo pháp trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh. [X. kinh Quán đính Q.12].
bồ tát địa
Bodhisattva-bhŪmi (S), Byang chub sems dpa'i sa (T), World Bodhisattva, Bodhisattva levels, Bodhisattva stages Xem Bodhisuthvamarga, Xem Bodhi-sattva.
; (菩薩地) I. Bồ tát địa. Chỉ chung cho 10 địa vị, tức là 10 giai đoạn trong quá trình tu hành. Phổ thông phần nhiều chỉ 10 giai vị chung cho Tam thừa, hoặc chỉ cho 10 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát Đại thừa. Mười giai vị chung cho Tam thừa cũng gọi là Cộng địa, tức là 10 giai vị mà những người ba thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cùng tu. II. Bồ tát địa. Chỉ riêng cho giai vị thứ chín trong 10 giai vị chung của Tam thừa, cũng tức là giai vị thứ chín trong mười giai vị Thông giáo của tông Thiên thai. Giai vị này là giai vị của Bồ tát từ lúc mới phát tâm cho đến trước khi thành đạo. 1. Cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6 phẩm Phát thú chép, thì Bồ tát ở nơi địa thứ chín này có đủ 12 pháp như sau: mong được chư Phật ở vô biên thế giới hóa độ; được toại nguyện ấy; biết rõ tiếng nói của các trời, rồng, dạ xoa v.v...… và nói pháp cho họ nghe; ở trong thai thành tựu; nhà thành tựu; chỗ sinh thành tựu; dòng họ thành tựu; quyến thuộc thành tựu; sinh ra thành tựu; xuất gia thành tựu; cây Phật (cây Bồ đề) trang nghiêm thành tựu; thành tựu đầy đủ các công đức tốt lành. 2. Lại theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 phần dưới và Ma ha chỉ quán quyển 6 phần trên nói, thì Bồ tát ở giai vị này, vì sự giáo hóa và làm lợi ích cho chúng sinh mà sinh trong ba cõi, phúc đức sâu dày, trí tuệ sắc bén, thấu suốt chân đế và tục đế, lại tiến thêm mà dứt trừ các tập khí phiền não thuộc sắc pháp và tâm pháp v.v..., được pháp nhãn đạo chủng trí, cho đến học các pháp Thập lực, Vô sở úy… của Phật. Đến lúc ấy, tập khí còn sót lại sẽ hết, y như đốm lửa cuối cùng đã tắt. Trong ba thừa, chỉ có Bồ tát có khả năng tiến tới giai vị này, cho nên gọi là Bồ tát địa. III. Bồ tát địa. Chỉ chung cho 10 giai vị tu hành của Bồ tát nói trong kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) quyển 23. Đó là: Hoan hỉ địa, Li cấu địa, Minh địa, Diệm địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện tuệ địa, và Pháp vân địa. Đây là giai đoạn tu hành từ giai vị thứ 41 đến giai vị thứ 50 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. (xt. Thập Địa).
bồ tát địa trì kinh
Bodhisattva-bhumī (S), Byang chub sems dpa'i sa (T)Địa trì kinh, Du già Sư địa luận trung Bồ tát địaDo ngài Vô Trước biên soạn.
; (菩薩地持經) Phạm: Bodhisattva-bhùmi. Gồm 10 quyển (hoặc 8 quyển). Cũng gọi Bồ tát địa kinh, Địa trì kinh, Bồ tát giới kinh, Bồ tát địa trì luận, Địa trì luận. Ngài Đàm vô sấm đời Bắc Lương dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Kinh này tuy gọi là Kinh, nhưng thực ra vốn thuộc về Luận; truyền thuyết nói rằng kinh này là do ngài Vô trước ghi chép những lời nói pháp của bồ tát Di lặc mà thành. Thế nhưng, luận Du già sư địa bản Hán dịch lại cho nó là tác phẩm của bồ tát Di lặc; còn bản dịch Tây tạng của kinh này thì coi nó là tác phẩm của ngài Vô trước. Kinh này và Bồ tát địa trong Bản địa phần của luận Du già sư địa là cùng bản, nhưng nó thiếu phẩm Phát chính đẳng bồ tát tâm. Kinh này còn có bản dịch khác là Bồ tát thiện giới kinh (bản 9 quyển) do ngài Cầu na bạt ma dịch. Nội dung kinh này nói rõ phương tiện tu hành của Bồ tát, chia làm ba phần: Sơ phương tiện xứ, Thứ pháp phương tiện xứ, và Tất kính phương tiện xứ, gồm 27 phẩm. Nhờ có giới Đại thừa, nên kinh này lại càng được coi trọng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Đại thừa giới kinh chi nghiên cứu (Đại dã pháp đạo)].
bồ tát địa tạng
Ksitigarbha—Earth Store Bodhisattva, one with foremost in vows).
bồ tát địa tạng bản nguyện kinh
Kṣitigarbha-Praṇidhāna sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
bồ tát ở trong sự sanh tử đáng sợ, phải y nơi sức công đức của như lai
Theo Kinh Duy Ma Cật, sự sanh tử đáng sợ, Bồ Tát nên luôn luôn y nơi sức công đức của Như Lai—According to the Vimalakirti Sutra, in his fear of birth and death, a Bodhisattva should always rely on the power of the Tathagata's moral merits. - Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật: “Sự sanh tử đáng sợ, Bồ Tát phải y nơi đâu?”—Manjusri asked Vimalakirti: “On what should a Bodhisattva rely in his fear of birth and death?” - Ông Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát ở trong sanh tử đáng sợ đó, phải y nơi sức công đức của Như Lai.”—Vimalakirti replied: “A Bodhisattva should always rely on the power of the Tathagata's moral merits.” - Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi đâu?”—Manjusri asked: “What should he do to win support from the power of the Tathagata's moral merits?” - Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi chỗ độ thoát tất cả chúng sanh.”—Vimalakirti replied: “ He should liberate all living beings in order to win support from the power of the Tathagata's moral merit.”
bồ xà ni
(蒲闍尼) Phạm: Bhojanìya.Cũng gọi Bồ thiện ni. Dịch ý: thức ăn chính, thức ăn nhai (đạm thực). Bồ xà ni chỉ cho năm thức ăn chính là: cơm, miến, cơm khô, cá, thịt, hoặc: cơm, cơm đậu mạch, miến, thịt, bánh. Gọi thức ăn chính là những thức ăn đủ no bụng. Còn đạm thực là đối lại với tước thực mà nói (tước thực không phải là thức ăn chính, tức không đủ no bụng, như kẹo, mía v.v...). [X. Tứ phần luật san phồn bồ khuyết hành sự sao Q.hạ đoạn 2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.4]. (xt. Thực).
Bồ đoàn
蒲團; J: buton; |Toạ bồ đoàn
bồ đoàn
Vật dụng ngồi thiền hay quỳ lạy. Bồ đoàn là cái gối được độn đầy bằng vỏ cỏ bồ, hay bông gòn, hình tròn (nên gọi là bồ đoàn)—A sitting mat, rush cushion, or hassock. A mat usually filled with kapok and covered with dark blue fabric, on which the practitioner sits when practicing meditation. It is usually round.
; (蒲團) Cái đồ ngồi (tọa cụ) bện bằng cỏ lác (cỏ bồ) hinh tròn, bằng phẳng. Cũng gọi Viên tọa. Là vật của vị tăng dùng khi ngồi thiền hoặc quỳ lạy. Về sau, nó cũng được bọc bằng gấm. Có nhiều chủng loại, dày thì gọi là Hậu viên tọa, bện bằng cỏ may thì gọi là Gian viên tọa, cũng có loại để một lỗ hổng ở giữa giống như cái vòng. [X.Thiền lâm tượng khí tiên khí vật môn].
bồ đào
Wine.
bồ đào nha
Portugal.
Bồ Đề
(s, p: bodhi, 菩提): ý dịch là đạo (道, con đường, giáo lý), giác (覺, giác ngộ, sự tỉnh thức), trí (智, trí tuệ) và thông thường nó chỉ cho chánh giác, quả vị của chư Phật, và phân biệt thành 3 loại bồ đề là Thanh Văn Bồ Đề (聲聞菩提, tức A La Hán Bồ Đề), Bích Chi Bồ Đề (辟支菩提, tức Bích Chi Phật Bồ Đề) và Chánh Đẳng Bồ Đề (正等菩提, tức Phật Bồ Đề). Hai loại đầu chỉ đoạn phiền não chướng mà thôi, còn Phật Bồ Đề thì đoạn tận phiền não và sở tri, cho nên được gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề (無上正等菩提), Vô Thượng Chánh Đẳng Giác (無上正等覺), Vô Thượng Chánh Chơn Đạo (無上正眞道), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提), Chánh Đẳng Bồ Đề (正等菩提), v.v. Trong Đại Thừa Phật Giáo thì chỉ đề cập đến Phật Bồ Đề mà thôi, còn hai loại kia rất ít khi thấy. Thiền Sư Huệ Trung (慧忠, 683-769), vị tổ thứ 6 của Ngưu Đầu Tông, có bài kệ an tâm rằng: “Nhân pháp song tịnh, thiện ác lưỡng vong, chơn tâm chơn thật, Bồ Đề đạo tràng (人法雙淨、善惡兩忘、眞心眞實、菩提道塲, người pháp vắng lặng, thiện ác đều quên, chơn tâm chân thật, Bồ Đề đạo tràng).”
bồ đề
Bodhi-treeCây bồ đề. Xem Tất ba la.
; Bodhi from Budh (S). Knowledge, understanding; perfect wisdom: the illuminated or enlightened mind. Also giác, giác ngộ.
; Bản thể tự tâm đầy khắp thời gian không gian, tất cả đều thuộc về chính mình, ngoài tâm chẳng có pháp để đắc, nên giác ngộ cái tâm vô sở đắc, tức là Bồ Đề.
; Bodhi (skt)—Awakening—Enlightenment. (A) Nghĩa của Bồ Đề—The meanings of Bodhi: 1) Đạo (dịch theo cũ): Marga (skt)—The way. 2) Giác (dịch theo mới): Sambodhi (skt)—To be aware, or to perceive. 3) Toàn trí: Perfect wisdom. 4) Tâm giác ngộ: The state of bodhi, illuminated or enlightened mind. 5) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ đề thuộc về chúng sanh; nếu không có chúng sanh thì chư Bồ tát sẽ không bao giờ đạt được chánh đẳng chánh giác: According to the Avatamsaka Sutra, Bodhi (enlightenment) belongs to living beings. Without living beings, no Bodhisattva could achieve Supreme, Perfect Enlightenment. (B) Phân loại Bồ Đề—Categories of Bodhi: 1) Tam Bồ Đề: Three kinds of Bodhi—See Tam Chủng Bồ Đề. 2) Ngũ Chủng Bồ Đề: Five stages of enlightenment—See Ngũ Bồ Đề. 3) Tam Phật Bồ Đề: Three Bodhi or wisdom of each of the Trikaya—See Tam Phật Bồ Đề. 4) Tam Thần Bồ Đề: See Tam Phật Bồ Đề.
; (菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
bồ đề (cây)
Bodhidruma (S). Bo-tree. Also bồ đề thụ, giác thụ.
bồ đề chính đạo bồ đề giới luận
(菩提正道菩提戒論) Trứ tác của Phật giáo Tây tạng do ngài Tông khách ba soạn. Nội dung bàn rõ về giới luật của Phật giáo, toàn bộ kết cấu chặt chẽ và rất có hệ thống. Sách được hoàn thành ở chùa Lỗ nhậm vào năm Kiến văn thứ 4 (1402) đời Minh. Qua tác phẩm này, ngài Tông khách ba đã kêu gọi chúng tăng nghiêm giữ giới luật và tạo ảnh hưởng rất lớn đối với công cuộc chỉnh đốn Phật giáo Tây tạng đương thời.
bồ đề cưu chi
Bodhiruci (S)Bồ Đề Lưu ChiSư người Bắc Ấn, vào Trung quốc năm 508 cùng Bảo ý (Ratnamati), Buddhasanta và nhiều người khác đã dịch kinh Thập Địa (Dashabhumika Sutra).
bồ đề già da
(菩提伽耶) Phạm: Buddha-gayà. Cũng gọi Bồ đề đạo tràng (Phạm:Bodhi-maịđa), Phật đà già da, Ma ha bồ đề (Phạm: Mahà-bodhi), Bồ đề tràng. Là nơi đức Phật thành chính giác. Nơi này nguyên là làng Ưu lâu tần loa (Phạm: Uruvelà) phía nam thành Già da nước Ma yết đà thuộc Ấn độ đời xưa, nay làBodhgayà cách thị trấn Già da 7 cây số, gần sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà, Bồ Đề Đạt Ma nay là sông Pháp nhĩ cổ), một chi lưu của sông Hằng, thuộc Nam bộ Tiểu bang Bihar của Ấn độ. Cứ theo kinh điển ghi chép, sau sáu năm tu khổ hạnh, đức Phật di đến nơi này, ngồi xếp bằng trên tòa kim cương dưới cây Tất bát la, chứng ngộ pháp Mười hai nhân duyên, Bốn đế, v.v... mà thành Chính giác. Vì thế cây Tất bát la cũng gọi là cây Bồ đề, nghĩa là cây giác. Vào thời Trung cổ, thành Già da thuộc quyền sở hữu của tín đồ Bà la môn giáo, và để phân biệt với thành Già da của Bà la môn giáo đồ, nên đặc biệt gọi Thánh địa Phật thành đạo là Phật đà già da, rồi cùng với nơi đức Phật sinh (vườn Lâm tì ni), nơi quay bánh xe pháp lần đầu tiên (vườn Lộc dã) và nơi vào Niết bàn (rừng Sa la song thụ, thành Câu thi na) được gọi chung là bốn Đại thánh tích của đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, trải qua các thời đại, đã có rất nhiều chùa tháp, tịnh xá được dựng lên ở nơi Bồ đề già da này để cúng dường, kỉ niệm, tuy đã nhiều lần bị hủy hoại, nhưng cho đến nay vẫn còn khá nhiều di tích: 1.Đại tháp, cũng gọi Đại giác tháp, Đại giác tự, Đại bồ đề tự, Ma ha bồ đề tăng già da (Phạm:Mahàbodhi-saôghàràma), tức là ngôi tịnh xá nằm về phía bắc cây bồ đề. Về năm xây cất tòa Đại tháp này có hai thuyết: hoặc vào thế kỉ II, hoặc vào thế kỉ IV tây lịch. Đầu thế kỉ V, khi ngài Pháp hiển đến Thiên trúc lễ bái các Thánh tích thì ở Bồ đề tràng đã có ngôi Đại tháp này rồi, và gần đó còn có ba tòa già lam, chúng tăng ở đây nổi tiếng về nghiêm trì giới luật. Giữa thế kỉ VI, đại luận sư Duy thức là ngài Hộ pháp, sau khi rời chùa Na lan đà, có lần đã đến đây ở ẩn để soạn văn chú thích Duy thức tam thập tụng. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ đã ghi chép tường tận về ngôi tháp này và các di tích khác chung quanh đó. Lại theo Pháp uyển châu lâm quyển 29 chép, thì vào năm Trinh quán 19 (645) đời Đường, quan huyện huyện Hoàng thủy là Vương huyền sách đã từng đến đây và lập bia ở phía tây tòa tháp. Đại tháp hiện còn là do vua nước Miến điện tu tạo vào khoảng thế kỉ XII, XIII, tháp cao 52 mét, nhìn bề ngoài thì là chín tầng, nhưng thực ra bên trong chỉ có hai tầng, bốn mặt có khắc tượng Phật, khám thờ Phật, nét chạm trổ rất tinh vi đẹp đẽ. Vào thế kỉ XIII, tín đồ Hồi giáo xâm lăng Ấn độ, Phật tử sợ chúng phá hủy bèn lấy đất đắp lên tháp để che giấu, tháp biến thành một quả đồi đất. Cứ như thế Đại tháp bị phủ kín mấy trăm năm, cho mãi dến năm 1881 mới được nhà khảo cổ học người Anh là ông A. Cunningham tìm ra, khiến người đời ngạc nhiên. Hằng năm tín đồ Phật giáo khắp thế giới về hành hương chiêm bái rất đông, nhưng hiện nay chủ quyền vẫn còn ở trong tay những tín đồ Ấn độ giáo. 2.Cây Bồ đề, cây phía ngoài chỗ tiếp giáp với nền của Đại tháp, cao 12 mét. Vì mục đích truyền giáo, con gái vua A dục là Saôghamittà(Tăng già mật đa) đã từng đưa một nhánh cây này sang trồng ở nước Tích an (nay là Sri Lanka). Về sau, cây chính ở Bồ đề đạo tràng bị tín đồ ngoại đạo tàn phá, người ta lại phải chiết lấy một nhánh Toàn cảnh Đại tháp ở Bồ Đề Già Da của cây này ở Tích lan đưa về trồng ở Bồ đề đạo tràng, tức là cây bồ đề hiện nay. 3.Tòa kim cương, ở gốc cây Bồ đề, đức Phật đã ngồi trên tòa này khi chứng được Vô thượng chính đẳng chính giác, chỗ này hiện nay có đặt một tòa bằng đá, dài 2,3 mét, rộng 1,2 mét, cao 0,9 mét, trên tòa có đặt tượng Phật bằng đá. Đời Đường, nhiều vị cao tăng Trung quốc như Huyền chiếu, Đạo hi, Trí quang, Ngộ không v.v... lần lượt đến đây lễ bái tòa kim cương. Ngài Huyền chiếu lưu lại đây bốn năm, học tập nghiên cứu luận Câu xá và luật nghi. Ngài Trí quang cũng lưu lại hai năm, học tập nghiên cứu Câu xá và Nhân minh v.v.... Đến đời Ngũ đại và Nam, Bắc Tống, các ngài Chí nghĩa, Qui bảo, Uẩn thuật v.v... cũng nối tiếp nhau đến đây, dựng bia, tháp ở gần tòa kim cương. 4. Lan can bằng đá, bao bọc chung quanh phạm vi Đại tháp là một lan can bằng đá cao hơn mười thước (Tàu) do vua A dục xây dựng. Theo truyền thuyết, khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt, A dục làm vua nước Ma yết đà. Lúc đầu, nhà vua tôn thờ ngoại đạo, không tin Phật pháp, nên có ác ý ra lệnh chặt cây Bồ đề ở chỗ đức Phật thành đạo. Tuy cành và thân đã bị chặt gần hết, nhưng chẳng bao lâu, cây lại đâm chồi xanh tốt, Vua A dục bèn hối ngộ, mới cho thợ xây lan can chung quanh để giữ gìn. (Có thuyết cho rằng căn cứ vào văn khắc trên cột đá mà suy, thì lan can này đã được xây dựng sau thời vua A dục). Lại nữa, vào đầu thế kỉ VII, vua Thiết thưởng ca (Phạm: Zazàíka) nước Yết la noa tô phạt lạt na (Phạm:Karịa-suvarịa), vì ghen ghét, hủy báng Phật pháp, phá hoại Đại tháp, đốn cây bồ đề, thiêu trụi gốc rễ, chỉ vài tháng sau, vua Bổ lạt noa phạt ma (Phạm: Pùrịa-varman) nước Ma yết đà thuộc dòng dõi vua A dục, lại khôi phục, và để phòng ngừa đời sau đốn phá nữa, vua cho xây bức tường bằng đá cao 2 trượng, 4 thước (Tàu) bao bọc chung quanh để bảo vệ. Ngoài ra, Bồ đề già da còn có các Thánh tích khác, như hứa nguyện tràng (nơi ban cho điều nguyện ước), chỗ đức Phật đi dạo, nơi Phật tắm gội sau khi thành đạo (sông Ni liên thiền) ... [X. Trung a hàm Q.56 kinh La ma; truyện A dục vương Q.2; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Pháp uyển châu lâm Q.29; Đường thư liệt truyện 146 phần trên; A. Cunningham: Mahàbodhi; V. A. Smith: Early History of India; B. Barna: Gayà andBuddha-Gayà].
bồ đề hành kinh
Bodhisattva-caryāvatāra (S), Bodhi-kariyāvatāra (S)Do ngài Santideva (Tịch Thiên) biên soạn.
; (菩提行經) Phạm: Bodhicaryàvatàra hoặc Bodhisa-ttva-caryàvatàra. Kinh, gồm 4 quyển, các bài tụng của bồ tát Long thụ, ngài Thiên tức tai dịch vào đời Tống, thu vào Đại chính tạng tập 32. Kinh này nói về đạo hạnh thành bồ đề. Nội dung gồm 8 phẩm kệ tụng: 1. Tán bồ đề tâm phẩm (Phạm: Bodhicittà-nuzaôsà). 2. Bồ đề tâm thí cúng dường phẩm (Phạm:Pàpadezanà). 3. Hộ giới phẩm (Phạm: Samprajanyarakwaịa). 4. Bồ đề tâm nhẫn nhục ba la mật đa phẩm (Phạm:Kwànti-pàramità). 5. Bồ đề tâm tinh tiến ba la mật đa phẩm (Phạm:Vìrya- pàramità). 6. Bồ đề tâm tĩnh lự ba la mật đa phẩm (Phạm:Dhyàna-pàramità). 7. Bồ đề tâm bát nhã ba la mật đa phẩm (Phạm:Prajĩà- pàramità). 8. Bồ đề tâm hồi hướng phẩm (Phạm: Pari-ịàmanà). Kinh này còn có nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng, mà trong cả hai văn bản này, ở dưới phẩm thứ 2 đều có thêm hai phẩm nữa là: phẩm Bồ đề tâm trì (Bodhicittaparigraha) và phẩm Bồ đề tâm bất phóng dật (Phạm:Bodhici-ttapramàda). Về tác giả của kinh này, bản Hán dịch đề là thánh Long thụ bồ tát tập tụng, nhưng nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng thì lại nói do ngài Tịch thiên (Phạm: Zàntideva) soạn thuật. Ở cuối phẩm Hộ giới trong kinh này nói (Đại 32, 547 trung): Thánh Long thụ bồ tát một lòng soạn tập. Nếu tác giả tự xưng là thánh Long thụ thì rất khó hiểu. Vả lại, kinh Bồ đề hành có rất nhiều chỗ liên quan với bộ luận Đại thừa tập bồ tát học do ngài Tịch thiên soạn, trong khi đặc trưng tư tưởng của ngài Long thụ thì không thấy trong kinh này. Bởi thế, người ta có thể xác định là kinh Bồ đề hành đã do ngài Tịch thiên soạn. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10; Bồ đề hành kinh dữ kì chi nguyên thư (Đại cung hiếu nhuận); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II]. (xt. Nhập Bồ Đề Hành Luận).
bồ đề hạnh kinh
Xem Bồ Đề Hành Kinh.
; Bodhisattvacaryāvatāra (S).
bồ đề hạnh kinh luận
Bodhi-caryāvatāra (S), Bodhisattvacaryāvatara (P)Nhập Bồ đề hạnh luậnTên một quyển kinh do ngài Santideva (Shantideva), hồi thế kỷ thứ 7 sau khi nghiên cứu công phu về Đại thừa soạn ra để giảng dạy về Đại thừa.
Bồ Đề Lưu Chi
(s: Bodhiruci, j: Bodairushi, 菩提流[留]支, ?-527): vị tăng sống dười thời Bắc Ngụy, xuất thân miền Bắc Thiên Trúc, ý dịch là Đạo Hy (道希), học giả của hệ Du Già Đại Thừa, tánh chất thông tuệ, tinh thông cả ba tạng, rành về chú thuật, mang chí nguyện hoằng pháp khắp mọi nơi. Vào năm đầu (508) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) đời vua Tuyên Võ Đế (宣武帝) nhà Bắc Ngụy, ông đến Lạc Dương (洛陽), được nhà vua rất kính trọng, sắc mệnh cho trú trì Vĩnh Ninh Tự (永寧寺) và chuyên tâm phiên dịch các kinh điển Phạn văn khoảng 39 bộ 27 quyển như Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經), Phật Danh Kinh (佛名經), Pháp Tập Kinh (法集經), Thâm Mật Giải Thoát Kinh (深密解脫經), Đại Bảo Tích Kinh Luận (大寳積經論), Pháp Hoa Kinh Luận (法華經論), Vô Lượng Thọ Kinh Luận (無量壽經論), v.v. Ngoài ra, nhân vì ông cùng với Lạc Na Ma Đề (勒那摩提) phiên dịch bộ Thập Địa Kinh Luận, nên được tôn làm vị tổ của Địa Luận Tông. Đối xứng với Nam Đạo Phái ở Tương Châu (相州) thuộc hệ Lặc Na (勒那), Huệ Quang (慧光), dòng phái của ông và Đạo Sủng (道寵) gọi là Bắc Đạo Phái. Ngoài ra, do vì ông thường xiển dương Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經), nên sau này được tôn sùng như là sơ tổ của Tịnh Độ Tông.
bồ đề lưu chi
Bodhiruci (S). Indian monk coming to China in the Đường dynasty, translator.
; Bodhiruci (skt). (I) Bồ Đề Lưu Chi thứ nhất—The first Bodhiruci: Bồ Đề Cốt Lộ Chi—Đạo Hy—Một vị sư người Bắc Ấn Độ, đến Lạc Dương khoảng năm 508 sau Tây Lịch, dưới thời nhà Ngụy. Ông đã phiên dịch 30 bộ kinh. Theo lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, thì vị Bồ Đề Lưu Chi nầy đã lập ra Thập Địa Tông (Dasabhumika school)—A monk from northern India who arrived at Lo-Yang in 508 A.D., under the Wei dynasty. He translated 30 works. (II) Bồ Đề Lưu Chi thứ hai—The second Bodhiruci: Giác Ái (571-727)—Một vị Tăng thuộc miền Nam Ấn vào thế kỷ thứ bảy. Vào thời gian đầu triều đại nhà Đường, nhiều tu sĩ Phật giáo nổi danh từ Tích Lan và Ấn Độ đến Trung Hoa. Bồ Đề Lưu Chi thuộc số tu sĩ Phật giáo ngoại quốc đến ở lâu dài tại Trung Hoa. Tên Ngài là Đạt Ma Lưu Chi (Dharmaruci), được Vũ Hậu cho đổi thành Bồ Đề Lưu Chí. Ông đã dịch 53 bộ kinh vào những năm 693-713 sau Tây Lịch—A monk from Southern India in the seventh century. During the days of the early T'ang dynasty, many renowned Buddhist monks came to China from Ceylon and India. Bodhiruci was among those foreign Buddhists who came to settle permanently in China. His original name was Dharmaruci. His name was changed to Bodhiruci by the order of the Empress Wu. He translated 53 works in 693-713 A.D. He passed away in 727, at the age of 156.
; (菩提流支) Phạm: Bodhiruci. Vi tăng thời Bắc ngụy. Người bắc Thiên trúc. Dịch ý là Đạo hi. Là vị tăng học giả của Phật giáo Đại thừa hệ Du già. Bẩm tính thông minh, học suốt ba tạng, tinh tường chú thuật, sớm có chí hoằng pháp. Niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời vua Tuyên đế nhà Bắc Ngụy, ngài đến Lạc dương, rất được nhà vua kính trọng và mời ngài ở chùa Vĩnh ninh, từ đó ngài lo việc phiên dịch kinh tiếng Phạm ra Hán văn. Những kinh luận do ngài dịch gồm có: Thập địa kinh luận, kinh Kim cương bát nhã, kinh Phật danh, kinh Pháp tập, kinh Thâm mật giải thoát, Đại bảo tích kinh luận, Pháp hoa kinh luận, Vô lượng thọ kinh luận v.v... tất cả được 39 bộ 127 quyển. Ngoài ra, đối với việc phán giáo ngài cũng có cái nhìn độc đáo. Ngài căn cứ theo kinh Niết bàn mà phán thích giáo pháp do đức Phật nói cả một đời làm Bán tự giáo và Mãn tự gíáo, nghĩa là pháp đức Phật nói trong 12 năm đầu sau khi Ngài thành đạo đều là Bán tự gíáo (giáo nửa chữ), còn pháp Ngài nói từ sau 12 năm đó mới là mãn tự giáo (giáo đủ chữ). Theo truyền thuyết, Ngài còn phán lập Nhất âm giáo, nghĩa là đức Như lai nói một tiếng thì đồng thời nói ra muôn pháp, Đại thừa, Tiểu thừa đều rõ ràng, chỉ vì căn tính của chúng sinh không giống nhau, nên tùy theo loài mà hiểu khác. Ngài còn theo kinh Lăng già mà phán lập Đốn giáo và Tiệm giáo. Vì cùng dịch Thập địa kinh luận với ngài Lặc na ma đề nên ngài được tôn là Tổ của tông Địa luận. Và đối lại với phái Nam đạo thuộc pháp hệ của ngài Lặc na, Tuệ quang ở Tường châu, phái của ngài truyền trao kinh Quán vô lượng thọ cho sư Đàm loan, nên sau cũng được tôn làm Sư tổ của tông Tịnh độ. Khoảng năm Thiên bình (534-537) ngài vẫn còn sống, nhưng sau không rõ mất năm nào và ở đâu. [X. Thập địa kinh luận tự; Tục cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3, Q.9].
bồ đề lưu chí
(菩提流志) (562-727) Phạm: Bodhiruci. Dịch ý là Giác ái. Ban đầu tên là Đạt ma lưu chi (Phạm: Dharmaruci), xuất thân từ dòng Bà la môn ở nam Thiên trúc. Thiên tư dĩnh ngộ, 12 tuổi xuất gia, thờ ngoại đạo Bà la xa la làm thầy, thông hiểu thanh minh, số luận, cũng thông cả âm dương lịch số, địa lí thiên văn, chú thuật y phương v.v... Năm 60 tuổi mới hiểu lí sâu xa mầu nhiệm của Phật giáo, bèn ở ẩn trong hang núi tu hạnh đầu đà. Lại theo ngài Da xá cù sa học ba tạng, chưa đầy năm năm đã thông hiểu hết, rồi đi khắp các trường giảng. Vua cao tông nhà Đường nghe danh ngài, sai sứ đến rước. Năm Trường thọ thứ 2 (693) ngài đến kinh đô Trường an, Vũ hậu Tắc thiên rất trọng đãi, thỉnh ngài ở chùa Phật thụ kí tại Lạc dương; cùng năm ấy, ngài dịch các kinh Phật cảnh giới, Bảo vũ v.v... gồm 11 bộ. Năm Thần long thứ 2 (706) đời vua Trung tông, ngài dời về ở chùa Sùng phúc tại Trường an, dịch các kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn, Nhất tự Phật đính luân vương v.v... Ngài lại tiếp tục sự nghiệp của ngài Huyền trang còn bỏ dở mà dịch bộ kinh Đại bảo tích, suốt tám năm trời mới hoàn tất, dịch mới có 26 hội 39 quyển, dịch mới dịch cũ cộng lại có 49 hội 120 quyển. Về sau, ngài thôi không dịch kinh nữa mà chuyên việc Thiền quán. Tuy đã trên 100 tuổi nhưng không hề xao lãng việc đạo nghiệp. Năm Khai nguyên thứ 10 (722), ngài vào ở chùa Trường thọ tại Lạc dương. Tháng 9 năm Khai nguyên 15, ngài chấm dứt ăn uống thuốc thang, nhưng thần sắc vẫn như thường. Đến ngày mùng 5 tháng 11, ngài yên lặng mà thị tịch, thọ 166 tuổi (có thuyết nói 156 tuổi). Vua truy tặng chức Hồng lô đại khanh, thụy hiệu Khai nguyên nhất thiết biến tri tam tạng. (Bậc Tam tạng thời Khai nguyên biết khắp tất cả). Ngài là một nhà dịch kinh lớn ở đời Đường. Tất cả kinh luận ngài đã dịch gồm 53 bộ 111 quyển. [X. Đại bảo tích kinh tự; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.3].
bồ đề môn
Cửa giác ngộ; cửa đông trong bốn cửa của nghĩa địa—The gate of enlightenment; east gate of the four gates of a cemetery.
bồ đề mạn đà la
Bodhi Seat—Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật đã đạt được đại giác—Truth Plot, holy site, place of Enlightenment—The place where the Buddha attained Enlightenment.
bồ đề ngữ
Speaking bodhi—Words of the truth.
bồ đề ni
Bhojaniya (skt)—Còn gọi là Bồ Thiện Ni, là những thức ăn chính của Tăng Ni—To be eaten, edible; what is suitable as the fare of monks and nuns, proper food.
bồ đề phúc tạng pháp hoá tam muội kinh
(菩提福藏法化三昧經) Có 1 quyển. Do vị tăng đời Nam Tề tên là Đạo bị (sau đổi tên là Đạo hoan) soạn vào thời Vũ đế nhà Tề (trị vì 482-493). Thu vào Đại chính tập 55 Xuất tam tạng kí tập quyển 5. Ngờ là kinh giả, vì xét về tác giả của kinh này thì cũng là sư Đạo hoan, người đã soạn Chúng kinh yếu lãm pháp kệ nhị thập nhất thủ vào năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Lương. [X. Đại đường nội điển lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28].
bồ đề phần
Bodhi-pākṣika-dharma (S), Bodhipakkhika (P), Bojjhaṅga (P), Bodhi-pakkhiya-dhamma (P), Samboj-jhaṅga (P), Bodhi shares Xem Giác chi. Xem thất bồ đề phần.
; Bodhyanga (S). A general term for thất bồ đề phần seven factors of enlightenment or thất giác chi seven branches of bodhi-illumination.
; Bodhyanga (skt)—The seven branches of bodhi-illumination—See Thất Giác Chi.
; (菩提分) Phạm: Bodhyaíga, Pàli: bodhipakkhiya. Cũng gọi Giác chi, Giác phần. Phần nghĩa là chi phần, là nhân. Bồ đề phần giải thích theo nghĩa rộng là chỉ chung 37 phẩm trở đạo, là những phương pháp tu hành để tìm cầu trí tuệ, gồm: Tứ niệm trụ, Tứ chính cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chính đạo v.v... Vì 37 pháp này đều thuận tới bồ đề, cho nên đều gọi là bồ đề phần pháp. Bồ đề phần giải thích theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho Thất giác chi (Thất bồ đề phần) trong 37 phẩm trợ đạo, tức là: 1. Niệm giác chi, trong tâm sáng láng, thường nhớ thiền định và trí tuệ. 2. Trạch pháp giác chi, nương vào trí tuệ có thể lựa chọn lấy pháp chân thực, vứt bỏ pháp hư dối. 3. Tinh tiến giác chi, siêng tu chính pháp, không biếng nhác. 4. Hỉ giác chi, được chính pháp mà vui mừng. 5. Khinh an giác chi, chỉ cho trạng thái thân tâm nhẹ nhàng yên ổn. 6. Định giác chi, vào thiền định tâm không tán loạn. 7. Xả giác chi, tâm không chấp trước thiên lệch, luôn giữ được thế quân bình. [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.16]. (xt. Thất Giác Chi, Tam Thập Thất Đạo Phẩm).
bồ đề phần pháp
See Thất Giác Chi.
bồ đề sở
See Bồ Đề Tự.
; (菩提所) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Bồ đề tự, Hương hoa viện. Xưa gọi là Thị tự. Những chùa viện được xây cất để thờ bài vị của tổ tiên các đời. Ở đây làm các pháp sự như tụng kinh, trì chú, cúng Phật, cúng tăng để cầu phúc cho mình hoặc cầu cho các vong linh được siêu thoát. [X. Tam đại thực lục Q.18; Hưng phúc tự lưu kí].
bồ đề thọ
Bodhidruma, Bodhitaru, or Bodhivrksa (skt)—Đạo Thọ—Giác Thọ. 1) Cây Bồ đề hay cây trí tuệ, dưới gốc cây nầy Phật đã đạt được đại giác và thành Phật tại Bồ Đề Đạo Tràng hơn 2.500 năm về trước: Bodhi-tree; the wisdom tree, i.e. the tree under which Sakyamuni attained his enlightenment and became Buddha at Bodha Gaya over 2,500 years ago. 2) Cây Pippala mà Trong Pháp Hiển Truyện gọi sai là cây Bối Đa: The Pippala or Asvattha, wrongly identified by Fa-Hsien as the palm-tree. 3) Trong Tây Vực Ký của Huyền Trang đời nhà Đường, gọi là cây Tất Bát La cao đến 400 bộ, luôn bị chặt phá, mà vào thời đó vẫn còn cao đến bốn năm chục bộ: In the Records of the Western Lands of Hsuan-Tsang, it is described as an evergreen, to have been 400 feet high, been cut down several times, but in the T'ang dynasty still to be 40 or 50 feet. 4) Một nhánh của nó được vua A dục đưa sang Tích Lan trồng và hiện vẫn còn tươi tốt đến bây giờ: A branch of it is said to have been sent by Asoka to Ceylon, from which sprang the celebrated Bo-tree still flourishing there.
bồ đề thọ thần
Vị Thần Nữ hộ trì cây Bồ Đề—The goddess-guardian of the Bo-tree.
bồ đề thụ
Bodhidruma, Bodhitaru, Bodhivrksa (S). The Bodhi-tree, the wisdom-tree,
; (菩提樹) Cây Bồ đề. Phạm: bodhi-druma, bodhi-taru, bodhi-vfkwa, hoặc gọi tắt: bodhi,Pàli: bodhi-rukkha.Cũng gọi Giác thụ, Đạo thụ, Đạo tràng thụ, Tư duy thụ, Phật thụ. Tức là cây Bồ đề ở phía nam thành Già da nước Ma yết đà trung Ấn độ, đức Thích tôn đã chứng được Vô thượng chính giác dưới cây này. Cây Bồ đề vốn tên là Bát đa (Phạm:azvattha), cũng gọi Bối đa, A thuyết tha, A bái đa, dịch ý là cát tường (tốt lành), nguyên cát (tốt lành lớn). Tên khoa học là Ficus religiosa. Quả của nó gọi là Tất bát la (Phạm:pippala), vì thế cũng gọi là cây Tất bát la. Cây này thuộc họ cây dâu, vốn mọc ở đông Ấn độ, là loại cây cao xanh quanh năm, cao từ ba mét trở lên; lá hình trái tim, đầu lá dài và nhọn; hoa ẩn trong túi, hoa hình cầu, khi túi hoa chín thì có màu chanh sậm, trong có quả nhỏ. Cây Bồ đề nơi đức Phật thành đạo, trải qua các thời đại, tuy đã nhiều lần bị chặt phá bởi vua A dục, Vương phi Đê xá la hi đa, vua Thiết thưởng ca v.v..… nhưng vẫn đâm chồi nảy lá xanh tươi. Cứ theo Đại sử (Mahàvaôsa, XIX văn Pàli) và Bồ đề thụ sử (bodhi-vaôsa: lịch sử cây Bồ đề, văn Pàli) ghi chép, thì con gái của vua A dục tên là Tăng già mật đa đã lấy một cành của cây Bồ đề này đưa sang nước Tích lan và trồng nó trong rừng Đại mi già (Mahàmegha) ở phía nam thành A nâu la (Anuràdhapura) là thủ đô nước Tích lan thời bấy giờ. Về sau, vào thế XII, khi tín đồ Hồi giáo xâm nhập Ấn độ, họ đã tàn phá cây Bồ đề chính một cách thê thảm: không những đốn chặt cây cành mà họ còn đào cả gốc rễ! Về sau, một cành cây Bồ đề ở Tích lan được chiết ra và đưa về trồng lại ở Bồ đề đạo tràng, tức là cây Bồ đề hiện nay. Cứ theo Nguyên hanh thích thư quyển 2 chép, thì vào thời Lưu Tống Nam triều, vị tăng người trung Ấn độ là ngài Cầu na bạt đà la đã mang cây Bồ đề đến Trung quốc và trồng nó ở Quảng châu. Không bao lâu, ngài Đạo thúy lại chiết cành của cây này đưa về trồng ở núi Thiên thai. Niên hiệu Thiệu hi năm đầu (1190), vị tăng Nhật bản là ngài Vinh tây cũng chiết cành cây này đưa về trồng ở Nhật. Theo ý nghĩa hóa độ chúng sinh mà nói, thì sự thành đạo của chư Phật đều là cùng một hóa nghi, do đó, sự chứng ngộ thành đạo của các đức Phật quá khứ, vị lai đều giống hệt như đức Thích tôn, mỗi ngài đều có cây Bồ đề của mình. Trong kinh điển đã ghi chép rõ tên cây Bồ đề của bảy đức Phật quá khứ, đó là: cây Ba ba la (Phạm: pàỉalì) của Phật Tì bà thi, cây Phân đà lợi (puịđarìka) của Phật Thi khí, cây Sa la (Phạm:sàla) của Phật Tì xá bà, cây Thi lợi sa (Phạm:sirìwa) của Phật Câu lưu tôn, cây Ô tạm bà la (Phạm: udumbara) của Phật Câu na hàm, cây Ni câu luật (Phạm: nigrodha) của Phật Ca diếp, cây Bát đa của Phật Thích ca mâu ni, và khi bồ tát Di lặc giáng sinh thành Phật trong đời vị lai thì tên cây Bồ đề của ngài sẽ là Na già (Phạm: nàgapuwpa, cây Long hoa). Còn kinh A súc phật quốc quyển thượng và kinh Vô lượng thọ quyển thượng cũng chép, ở Tịnh độ của Phật A súc và Phật A di đà đều có riêng cây Đạo tràng của các ngài. Ngoài ra, còn có một loại cây Bồ đề cao to, tên khoa học là Tilia migueliana, thuộc họ cây Bồ đề, cao từ 12 đến 15 mét, lá khác với lá cây Tất bát la, đầu lá không nhọn, riềm lá hình sóng, quả mầu đen, có thể dùng làm tràng hạt. Tương truyền, vào thời Nam triều Lương, ngài Trí dược mang cây Bồ đề từ Thiên trúc đến trồng ở Việt đông, hạt cây Bồ đề này mặt ngoài có vòng tròn lớn, đường vân giống như mặt trăng, những chấm nhỏ giống như các ngôi sao, gọi là Bồ đề trăng sao, cũng có thể dùng làm tràng hạt. Cây Bồ Đề ở nơi Đức Phật thành đạo. Hiện nay, cây Bồ đề thường được trồng ở các chùa viện là thuộc họ cây Tất bát la nơi đức Thích tôn thành đạo. [X. Trường a hàm Q.1 kinh Đại bản; kinh Tăng nhất a hàm Q.44, Q.45; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Bối đa la thụ hạ tư duy thập nhị nhân duyên; kinh Tì ni mẫu Q.5; luận Đại trí độ Q.12; luận Thập trụ tì bà sa Q.3; Cao tăng pháp hiển truyện; Pháp uyển châu lâm Q.8; Đại đường tây vực kí Q.8; Ma yết đà quốc điều; Quảng đông tân ngữ; Việt đông bút kí].
bồ đề thụ thần
(菩提樹神) Thần cây Bồ đề. Thần giữ gìn cây Bồ đề. Luận Đại tì bà sa quyển 25 chép, thủa xưa, có một ông vua hủy diệt Phật pháp, khi đến chặt cây Bồ đề, thần bảo vệ cây Bồ đề liền hóa hiện thành người con gái tuyệt sắc, đứng ngay trước mặt vua. Thấy người con gái xinh đẹp, nhà vua sinh tâm tham đắm, thiện thần hộ pháp có được cơ hội thuận tiện liền giết vua và quân đội của ông ta, đồng thời, giết luôn các ác thần. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.10 phẩm Bồ đề thụ thần tán thán; luận Đại trí độ Q.3].
Bồ Đề Tiên Na
(s: Bodhisena, j: Bodaisenna, 菩提僊那, 704-760): vị tăng Ấn Độ sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân dòng dõi Bà La Môn ở Nam Ấn Độ, còn gọi là Bà La Môn Tăng Chánh (婆羅門僧正), Bồ Đề Tăng Chánh (菩提僧正). Truyền ký về ông trong Đại An Tự Bồ Đề Truyền Lai Ký (大安寺菩提傳來記) của Nam Thiên Trúc Bà La Môn Tăng Chánh Bi (南天竺婆羅門僧正碑) do đệ tử Tu Vinh (修榮) soạn cũng như Đông Đại Tự Yếu Lục (東大寺要錄), vẫn còn lưu lại. Tiên Na được khắp nơi trong nước tôn kính và rất nhiều tư tưởng gia tán dương. Ông đi từ Trung Á, Tây Á để sang Trung Quốc, theo bước chân truyền bá Phật Giáo của các danh tăng như An Thế Cao (安世高), v.v., từ rặng Hy Mã Lạp Sơn vượt qua Tây Tạng và cuối cùng đến nước Đại Đường, Trung Hoa. Mục đích chính của ông tại đây là tham bái Bồ Tát Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) trên Ngũ Đài Sơn (五台山). Tại nhà Đường, tương truyền ông từng lấy Sùng Phước Tự (崇福寺) ở Trường An (長安) làm cứ điểm hoạt động bố giáo. Sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng sang nhà Đường cầu pháp là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (多治比廣), ông cùng với đệ tử xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam)—Phật Triết (佛哲, hay Phật Triệt [佛徹]) và vị Đường tăng Đạo Tuyền (道璿) sang Nhật Bản vào năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平). Ban đầu, cả ba người dừng chân ở Đại Tể Phủ (大宰府, Dazaifu), rồi được Hành Cơ (行基, Gyōki) nghênh đón lên kinh đô, sau đó đến trú ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Tại đây, ông thường đọc tụng Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṁsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) và tinh thông về chú thuật, cho nên chú thuật Ấn Độ đã được Tiên Na truyền trao cho các vị đệ tử tăng Nhật Bản. Vào năm thứ 3 (751) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寶), ông được bổ nhiệm làm chức Tăng Chánh (僧正), vì vậy ông được gọi là Bà La Môn Tăng Chánh. Năm sau, ông được cung cử làm vị Đạo Sư (Chủ Sám) trong buổi lễ Cúng Dường Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼供養) Lô Xá Na (s: Vairocana, 盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Cây bút ông dùng để khai nhãn lúc bấy giờ hiện vẫn còn lưu lại tại Chánh Thương Viện (正倉院, Shōsō-in) của chùa này. Trong bức nguyện văn của Quốc Gia Trân Bảo Trương (國家珍寶張) có ghi tên ông, chứng tỏ ông có mối quan tâm rất lớn đối với việc xây dựng tượng Đại Phật. Vào năm thứ 2 (758) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (天平寶字), ông được Thượng Hoàng và Hoàng Thái Hậu ban cho tôn hiệu. Vào ngày 25 tháng 2 năm thứ 4 (760) cùng niên hiệu trên, ông hướng về phương Tây, chấp tay an nhiên thị tịch tại Đại An Tự, hưởng thọ 57 tuổi. Năm sau, ông được an táng tại Hữu Bộc Xạ Lâm (右僕射林) thuộc Đăng Mỹ Sơn (登美山). Mấy năm gần đây, ngôi mộ của Bồ Đề Tăng Chánh được khai quật ở Linh Sơn Tự (靈山寺, Ryōsen-ji, thuộc Nara-ken [奈良縣]), nhưng không tìm thấy di vật nào cả; vì thế nó được xem như là ngôi mộ cúng dường thôi. Về vị Bà La Môn trong Vạn Diệp Tập (萬葉集, Manyōshū) 16, có thuyết cho rằng đó là ám chỉ Bồ Đề Tiên Na. Đệ tử của ông có nhóm Tu Vinh (修榮).
bồ đề tiên na
(菩提仙那) (704 - 760) Phạm: Bodhisena. Dịch ý là Giác quân. Ngài là người nam Thiên trúc, dòng Bà la môn, họ Bà la trì, tinh thần sáng suốt, tính tình điềm đạm. Do lòng ngưỡng mộ sự linh ứng của bồ tát Văn thù ở núi Ngũ đài mà đến Trung quốc. Năm Khai nguyên 23 (735, có thuyết nói năm Khai nguyên 18), Bồ đề tiên na lại cùng với các ngài Đạo tuyền và Phật triết người nước Lâm ấp vượt biển đông sang Nhật bản. Năm Thiên bình thắng bảo thứ 3 (751, có thuyết nói năm thứ 2), ngài nhậm chức Tăng chính. Tháng tư năm Thiên bình thắng bảo thứ 4, tượng Đại Phật của chùa Đông đại được hoàn thành, ngài được các sư Hành cơ v.v...… suy cử làm Đạo sư trong lễ khai nhãn cúng dường (tức lễ yểm tâm điểm nhãn). Năm Thiên bình bảo tự thứ tư, ngài dặn dò các đệ tử rồi thị tịch trong tiếng niệm Phật, thọ 57 tuổi. Người đời gọi ngài là Bà la môn tăng chính, Bồ đề tăng chính, hoặc gọi tắt là Bồ đề . [X. Đại an tự bồ đề truyền lai kí; Đường đại hòa thượng đông chinh truyện; Đông đại tự yếu lục Q.1, Q.2, Q.6; Nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao Q.1].
bồ đề tràng
A place, plot, or site of enlightenment.
; bodhimanda (skt)—Bồ Đề Đạo Tràng—Nơi Đức Phật thành đạo là Kim Cang Tọa dưới cội Bồ Đề, bên bờ sông Ni Liên Thiền, nước Ma Kiệt Đà—A place, plot, or site of enlightenment in Magadha, especially Sakyamuni's under the bodhi-tree. ** For more information, please see Bồ Đề Đạo Tràng.
bồ đề trường kinh pháp
(菩提場經法) Phép tu tiêu trừ tội chướng, thành tựu quả Tất địa nói trong kinh Bồ đề trang nghiêm đà la ni. Cũng gọi Bồ đề tràng đà la ni pháp. Tức treo mạn đồ la trong đạo tràng, lấy đức Thích ca Như lai làm Bản tôn (vị tôn chính), y theo pháp Thích ca mà tu. Cách vẽ tượng mạn đồ la: dưới cây báu (tượng trưng cây Bồ đề) ở chính giữa mạn đồ la, vẽ tượng đức Phật Thích ca mâu ni ngồi trên tòa sư tử, trên cây báu vẽ một tượng Phật thuyết pháp, bên phải Phật có bồ tát Văn thù sư lợi, hai tay bưng bình bát dâng cúng Phật, bên trái Phật có bồ tát Kim cương thủ, tay phải cầm chày kim cương, chiêm ngưỡng đức Như lai. Ở phía sau bồ tát Văn thù sư lợi có để bảo chàng, trong bảo chàng có đức Như lai ngồi tòa sư tử trong dáng an úy, phía dưới có thiên nữ Cát tường. Phía sau bồ tát Kim cương thủ đặt hộp báu bồ đề tràng đà la ni, bốn mặt hộp báu có hóa Phật vây quanh, ở dưới vẽ sứ giả kim cương. Phía dưới đức Phật phối trí bốn Thiên Vương : Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục và Đa văn. Người vào mạn đồ la này tiêu trừ được tất cả tội chướng, thành tựu hết thảy tất địa, phúc tuệ thêm lớn, được địa vị không trở lui, tất cả quỷ thần đều không xâm hại và được chư thiên hộ vệ. Chủng tử của phép tu này là (bhahê), hình tam muội da là bình bát. Phép kết ấn : hai tay duỗi thẳng, ngửa lên, tay phải đè lên tay trái, ngửa bàn tay để ở trước ngực. Đây là ấn căn bản của Bồ đề tràng trang nghiêm đà la ni. [X. Đồ tượng sao Q.3; Biệt tôn tạp kí Q.14; Mạn đồ la tập Q.trung (Hưng nhiên)].
bồ đề tát đoả
Bodhisatta (P)Bồ tát.
bồ đề tát đỏa
Bodhisattva (S). A being of enlightenment; one whose essence is wisdom. A being who aspires for enlightenment.
; Bồ Tát, một chúng sanh giác ngộ, và nguyện chỉ đạt được đại giác một khi cứu độ hết thảy chúng sanh—Bodhisattva—A being of enlightenment—One who has Bodhi or perfect wisdom as his essence—One whose beings or essence is bodhi whose wisdom is resulting from direct perception of Truth with the compassion awakened thereby. Enlightened being who is on the path to awakening, who vows to forego complete enlightenment until he or she helps other beings attain enlightenment.
; See Bồ Tát.
bồ đề tâm
Byang chub kyi sems (T), bodhichitta (P), Bodhiṛdaya (S). Bodai-shin (J), Bodhicitta (S), Bodhi-hṛdaya (S), Bodhi-citta (S), Enlightened Mind, Bodhicitta (P); Bodhi mind; Byang chub kyi sems (T)Giác tâm, Đạo tâmTinh thần giác ngộ, muốn được giác ngộ và tâm được giác ngộ. Bồ đề tâm bao gồm hai phương diện song song: quyết tâm đạt Phật quả và muốn cứu độ chúng sanh.
; Bodhicitta (S). The mind for or of bodhi; the awakened or enlightened mind.
; Bodhicitta (skt). (A) Nghĩa của Bồ Đề Tâm—The meanings of Bodhi-mind: 1) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát lòng Vô Thượng Bồ Đề là 'khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh. Khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp, tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn, cầu nhứt thiết trí. Khởi lòng đại bi vô lượng, khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rơi các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát Nhã Ba La Mật. Khởi lòng không siểm dối, vì cầu được trí như thật. Kởi lòng thực hành y như lời nói, để tu đạo Bồ Tát. Khởi lòng không dối với chư Phật, vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu nhứt thiết trí, cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không dừng nghỉ. Bồ Tát dùng những công đức Bồ Đề Tâm nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật như thế, nên được sanh vào nhà Như Lai. Nầy thiện nam tử! Như người học bắn, trước phải tập thế đứng, sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ Tát muốn học đạo nhứt thiết trí của Như Lai, trước phải an trụ nơi Bồ Đề Tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu, song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ Tát tuy mới phát Bồ Đề tâm tu Bồ Tát hạnh, song tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải kính trọng nể vì. Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đã đủ tướng trạng của vua, các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quý. Cũng thế Bồ Tát tuy đối với tất cả nghiệp phiền não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ Đề, hàng nhị thừa không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhứt. Thiện Nam Tử ! Như người máy bằng gỗ, nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế, Bồ Tát nếu thiếu Bồ Đề tâm, thì các hạnh đều phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật pháp. Thiện nam tử ! Như chất kim cương tất cả vật không thể phá hoại, trái lại nó có thể phá hoại tất cả vật, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ Đề tâm của Bồ Tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp, giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc mà hàng nhị thừa không thể muốn làm đều làm được, song kết cuộc vẫn chẳng chán mõi giảm hư.”—According to the Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “Good Buddhists! In Bodhisattvas arise the Bodhi-mind, the mind of great compassion, for the salvation of all beings; the mind of great kindness, for the unity with all beings; the mind of happiness, to stop the mass misery of all beings; the altruistic mind, to repulse all that is not good; the mind of mercy, to protect from all fears; the unobstructed mind, to get rid of all obstacles; the broad mind, to pervade all universes; the infinite mind, to pervade all spaces; the undefiled mind, to manifest the vision of all Buddhas; the purified mind, to penetrate all knowledge of past, present and future; the mind of knowledge, to remove all obstructive knowledge and enter the ocean of all-knowing knowledge. Just as someone in water is in no danger from fire, the Bodhisattva who is soaked in the virtue of the aspiration for enlightenment or Bodhi mind, is in no danger from the fire of knowledge of individual liberation. Just as a diamond, even if cracked, relieves poverty, in the same way the diamond of the Bodhi mind, even if split, relieves the poverty of the mundane whirl. Just as a person who takes the elexir of life lives for a long time and does not grow weak, the Bodhisattva who uses the elexir of the Bodhi mind goes around the mundane whirl for countless eons without becoming exhausted and without being stained by the ills of the mundane whirl. 2) Tâm Bồ Đề là tâm giác ngộ, tâm thấy được bản mặt thật của chư pháp, tâm tin nơi nhân quả và Phật tánh nơi chúng sanh cũng như luôn dụng công tu hành hướng về quả vị Phật: Bodhi mind—The great mind—The mind for or of Bodhi—The Mind of Enlightenment—The awakened or enlightened mind—The mind that perceives the real behind the seeming, believes in moral consequences, and that all have the Buddha-nature, and aims at Buddhahood. 3) Bồ Đề Tâm liên hệ tới hai chiều hướng—The spirit of enlightenment, the aspiration to achieve it, the mind set on Enlightenment. It involves two parallel aspects: - Thượng cầu Phật Đạo: The determination to achieve Buddhahood—Above is to seek Bodhi. - Hạ hóa chúng sanh: The aspiration to rescue all sentient beings—Below is to save or transform all beings. 4) Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na nói: “Bồ Đề Tâm làm nhân, đại bi làm căn bản, phương tiện làm cứu cánh.” Ví như người đi xa, trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến, phải ý thức chủ đích cuộc hành trình bởi lý do nào, và sau dùng phương tiện hoặc xe, thuyền, hay phi cơ mà khởi tiến. Người tu cũng thế, trước tiên phải lấy quả vô thượng Bồ Đề làm mục tiêu cứu cánh; lấy lòng đại bi lợi mình lợi sanh làm chủ đích thực hành; và kế đó tùy sở thích căn cơ mà lựa chọn các pháp môn hoặc Thiền, hoặc Tịnh, hoặc Mật làm phương tiện tu tập. Phương tiện với nghĩa rộng hơn, còn là trí huệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ Tát đạo. Cho nên Bồ Đề Tâm là mục tiêu cần phải nhận định của hành giả, trước khi khởi công hạnh huân tu—The Mahavairocana Sutra says: “The Bodhi Mind is the cause Great Compassion is the root Skillful means are the ultimate.” for example, if a person is to travel far, he should first determine the goal of the trip, then understand its purpose, and lastly, choose such expedient means of locomotion as automobiles, ships, or planes to set out on his journey. It is the same for the cultivator. He should first take Supreme Enlightenment as his ultimate goal, and the compassionate mind which benefits himself and others as the purpose of his cultivation, and then, depending on his references and capacities, choose a method, Zen, Pure Land or Esoterism, as an expendient for practice. Expedients, or skillful means, refer, in a broader sense, to flexible wisdom adapted to circumstances, the application of all actions and practices, whether favorable or unfavorable, to the practice of the Bodhisattva Way. For this reason, the Bodhi Mind is the goal that the cultivator should clearly understand before he sets out to practice. 5) Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nếu quên mất Bồ Đề Tâm mà tu các pháp lành, đó là ma nghiệp.” Lời nầy xét ra rất đúng. Ví như người cất bước khởi hành mà chẳng biết mình sẽ đến đâu, và đi với mục đích gì, thì cuộc hành trình chỉ là quanh quẩn, mỏi mệt và vô ích mà thôi. Người tu cũng thế, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi mình lợi sanh, thì bao nhiêu hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị chìm mê quanh quẩn trong nẻo luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ, nghiệp ma vẫn còn. Như vậy phát tâm Bồ Đề lợi mình lợi người là bước đi cấp thiết của người tu—The Avatamsaka Sutra says: “To neglect the Bodhi Mind when practicing good deeds is the action of demons.” This teaching is very true indeed. For example, if someone begins walking without knowing the destination or goal of his journey, isn't his trip bound to be circuitous , tiring and useless? It is the same for the cultivator. If he expends a great deal of effort but forgets the goal of attaining Buddhahood to benefit himself and others, all his efforts will merely bring merits in the human and celestial realms. In the end he will still be deluded and revolved in the cycle of Birth and Death, undergoing immense suffering. If this is not the action of demons, what, then, is it? For this reason, developing the Supreme Bodhi Mind to benefit oneself and others should be recognized as a crucial step. (B) Đặc tánh của Bồ Đề Tâm—Special characteristics of Bodhicitta: Theo Thiền Sư Suzuki trong Đại Thừa Phật Giáo Khái Luận, Bồ Đề tâm là đặc tánh quan trọng nhất của Bồ Tát, nên thuyết giảng về siêu việt tánh của Bồ Đề Tâm trong Triết Học Trung Quán của Ngài Long Thọ có nhấn mạnh về các đặc tánh của Bồ Đề Tâm như sau—According to Zen Master Suzuki in the Outlines of Mahayana Buddhism, Bodhicitta is the most important characteristic of Bodhisattva, thus on the basis of Nagarjuna's Discourse on the Transcendentality of the Bodhicitta, he gives a detailed description of Bodhicitta as thus: 1) Bồ Đề Tâm siêu việt tất cả mọi hạn định của ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Nó không phải cá biệt mà là phổ quát: The Bodhicitta is free from all determinations, the five skandhas, the twelve ayatanas, and the eighteen dhatus. It is not particular, but universal. 2) Từ bi chính là bản chất của Bồ Đề Tâm, vì thế tất cả Bồ Tát coi Bồ Đề tâm là lý do tồn tại của họ: Love is the esence of the Bodhicitta, therefore, all Bodhisattvas find their reason of being in this. 3) Bồ đề tâm cư ngụ trong trái tim của bình đẳng tánh, tạo nên những phương tiện giải thoát cho cá nhân: The Bodhicita abides in the heart of sameness (samata) creates individual means of salvation (upaya). (C) Phân loại Bồ Đề—Categories of Bodhi-Mind: 1) See Nhị Chủng Bồ Đề. 2) Tam Chủng Bồ Đề: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, đem công đức niệm Phật để cầu phước lợi nhỏ nhen ở thế gian, tất không hợp với bản hoài của Phật, cho nên hành giả phải vì sự thoát ly khỏi vòng sống chết luân hồi mà niệm Phật. Nhưng nếu vì giải thoát cho riêng mình mà tu niệm, cũng chỉ hợp với bản hoài của Phật một phần ít mà thôi. Vậy bản hoài của Phật như thế nào? Bản hoài đích thực của Đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh đều thoát vòng sanh tử, đều được giác ngộ như Ngài. Cho nên người niệm Phật cần phải phát Bồ Đề tâm. Bồ Đề nghĩa là “Giác.” Trong ấy có ba bậc—Three kinds of Bodhi-minds—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, exchanging the virtues of Buddha Recitation for the petty merits and blessings of this world is certainly not consonant with the intentions of the Buddhas. Therefore, practitioners should recite the name of Amitabha Buddha for the purpose of escaping the cycle of Birth and Death. However, if we were to practice Buddha Recitation for the sake of oue own salvation alone, we would only fulfill a small part of the Buddhas' intentions. What, then, is the ultimate intention of the Buddhas? The ultimate intention of the Buddhas is for all sentient beings to escape the cycle of Birth and Death and to become enlightened, as they are. Thus, those who recite Amitabha Buddha's name should develop the Bodhi-Mind or the Aspiration for Supreme Enlightenment. The word “Bodhi” means “enlightened.” There are three main stages of Enlightenment. a) Thanh Văn Bồ Đề: The Enlightenment of the Sravakas or Hearers. b) Duyên Giác Bồ Đề: The Enlightenment of the Pratyeka Buddhas or the Self-Awakened. c) Phật Bồ Đề: Người niệm Phật phát tâm Bồ Đề, chính là phát tâm cầu quả giác ngộ của Phật; quả vị ấy cùng tột không chi hơn, siêu cả hàng Thanh Văn Duyên Giác, nên gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Tâm nầy gồm hai chủng tử chính, là từ bi và trí huệ, hay phát xuất công năng độ thoát mình và tất cả chúng sanh—The Enlightenment of the Buddhas. What Pure Land practitioners who develop the Bodhi Mind are seeking is precisely the Enlightenment of the Buddhas. This stage of Buddhahood is the highest, transcending those of the Sravakas and Pratyeka Buddhas, and is therefore called Supreme Enlightenment or Supreme Bodhi. This Supreme Bodhi Mind contains two principal seeds, compassion and wisdom, from which emanates the great undertaking of rescuing oneself and all other sentient beings. ** For more information, please see Tam Chủng Bồ Đề Tâm. 3) See Lục Tâm. 4) See Tám Cách Phát Bồ Đề Tâm. (D) Làm cách nào để phát Tâm Bồ Đề?—How to develop the Bodhi Mind?—Phát Bồ Đề Tâm như trên đã nói, có thể tóm tắt trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn Pháp môn vô lượng thệ nguyện học Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.” Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, không phải chỉ nói suông “Tôi phát Bồ Đề Tâm” là đã phát tâm, hay mỗi ngày tuyên đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện, gọi là đã phát Bồ Đề Tâm. Muốn phát Bồ Đề Tâm hành giả cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thật, và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong đời tu của mình. Có những người xuất gia, tại gia mỗi ngày sau khi tụng kinh niệm Phật đều quỳ đọc bài hồi hướng: “Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não…” Nhưng rồi trong hành động thì trái lại, nay tham lam, mai hờn giận, mốt si mê biếng trễ, bữa kia nói xấu hay chê bai chỉ trích người, đến bữa khác lại có chuyện tranh cãi gây gổ buồn ghét nhau. Như thế tam chướng làm sao tiêu trừ được? Chúng ta phần nhiều chỉ tu theo hình thức, chứ ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc vẫn cháy hừng hực, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát của Đức Phật đã chỉ dạy. Cho nên ở đây lại cần đặt vấn đề “Làm thế nào để phát Bồ Đề Tâm?” Muốn cho tâm Bồ Đề phát sanh một cách thiết thực, chúng ta nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu yếu điểm như sau (see Lục Tâm)—Awakening the Bodhi Mind, as indicated earlier, can be summarized in the four Bodhisattva vows as follows: “Sentient beings are numberless, I vow to save them all; Afflictions are inexhaustible, I vow to end them all; Dharma foors are boundless, I vow to master them all; Buddhahood is unsurpassable, I vow to attain it.” however, according to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Pure Land Buddhism in Theory and Practice, it is not enough simply to say “ I have developed the Bodhis Mind,” or to recite the above verses every day. To really develop the Bodhi Mind, the practitioner should, in his cultivation, meditate on and act in accordance with the essence of the vows. There are cultivators, clergy and lay people alike, who, each day, after reciting the sutras and the Buddha's name, kneel down to read the transference verses: “I wish to rid myself of the three obstructions and sever afflictions…” However, their actual behavior is different, today they are greedy, tomorrow they become angry and bear grudges, the day after tomorrow it is delusion and laziness, the day after that it is belittling, criticzing and slandering others. The next day they are involved in arguments and disputes, leading to sadness and resentment on both sides. Under these circumstances, how can they rid themselves of the three obstructions and sever afflictions? In general, most of us merely engage in external forms of cultivation, while paying lip service to “opening the mind.” Thus, the fires of greed, anger and delusion continue to flare up, preventing us from tasting the pure and cool flavor of emancipation as taught by the Buddhas. Therefore, we have to pose the question, “How can we awaken the Bodhi Mind?” In order to develop a true Bodhi Mind, we should ponder and meditate on the following six critical points—See Lục Tâm.
; (菩提心) Phạm: bodhi-citta. Gọi đủ: A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm. Cũng gọi là Vô thượng chính chân đạo ý, Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo tâm, Vô thượng đạo ý, Vô thượng tâm, Đạo tâm, Đạo ý, Đạo niệm, Giác ý. Tức là tâm cầu Bồ đề vô thượng (cầu thành Phật). Tâm bồ đề là hạt giống sinh ra hết thẩy chư Phật, là ruộng tốt nuôi lớn các pháp trong sạch. Nếu phát khởi tâm này mà tu hành tinh tiến, thì sẽ mau chóng được bồ đề vô thượng. Cho nên biết tâm Bồ đề là chỗ bắt đầu của tất cả thệ nguyện chân chính, là gốc của Bồ đề, là chỗ dựa của đại bi và Bồ tát học. Bồ tát Đại thừa trước hết cần phải phát tâm rộng lớn, gọi là phát tâm Bồ đề, phát tâm, phát ý; mới bắt đầu phát tâm, gọi là sơ phát tâm, tân phát ý. Người cầu sinh về Tịnh độ, cũng phải phát tâm Bồ đề. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, ba bậc người cầu vãng sinh đều phải phát tâm Vô thượng bồ đề. Về thể tính của tâm Bồ đề, kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Trụ tâm nói, biết tâm mình một cách như thực, đó là Bồ đề. Tức tâm tự tính trong sạch sẵn có là tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề nhờ vào nhiều duyên mà phát khởi. Theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, thì có bốn thứ: 1.Thấy nghe thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn của chư Phật và Bồ tát mà phát tâm. 2. Tuy chưa thấy thần biến, nhưng được nghe nói về Bồ đề và Bồ tát tạng mà phát tâm. 3. Tuy chưa nghe pháp, nhưng tự thấy tướng pháp diệt, vì muốn giữ gìn pháp mà phát tâm. 4. Tuy không thấy tướng pháp diệt, nhưng thấy chúng sinh đời ô trọc bị phiền não quấy phá khó phát được nên mình phát tâm. Lại Phát bồ đề tâm kinh luận quyển thượng phẩm Phát tâm cũng nói có bốn duyên: 1. Tư duy về chư Phật. 2. Quán xét lỗi lầm của thân. 3. Thương xót chúng sinh. 4. Cầu quả tối thắng. Vô lượng thọ kinh tông yếu lấy bốn thệ nguyện rộng lớn làm tâm Bồ đề và chia làm hai loại là Tùy sự phát tâm (do những việc cụ thể mà phát) và Thuận lí phát tâm (do chân lí phổ thông mà phát). Đại thừa nghĩa chương quyển 9 thì lập ba loại phát tâm: 1. Tướng phát tâm, thấy tướng sinh tử và Niết bàn, nhàm chán sinh tử mà phát tâm cầu Niết bàn. 2. Tức tướng phát tâm, biết bản tính của sinh tử vắng lặng không khác gì Niết bàn; lìa tướng sai biệt mới khởi tâm bình đẳng. 3. Chân phát tâm, biết bản tính Bồ đề là tự tâm mình, bồ đề tức là tâm, tâm tức là bồ đề, mà quay về tâm gốc của chính mình. Ma ha chỉ quán quyển 1 thượng nói, các Bồ tát Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, cho đến Viên giáo đều do suy lường về cái lí của Sinh diệt tứ đế, Vô sinh tứ đế, Vô lượng tứ đế, Vô tác tứ đế mà phát tâm, cho nên gọi là suy lí phát tâm. Luận Đại thừa khởi tín thì nói ba loại phát tâm: Tín thành tựu phát tâm, Giải hành phát tâm, và Chứng phát tâm. Trong tín thành tựu phát tâm mà sinh khởi Trực tâm, Thâm tâm, Đại bi tâm thì cũng gọi là ba loại phát tâm. Mật giáo chủ trương phát tâm là một trong năm lần chuyển biến của chữ A, và dựa vào ba thứ tâm bồ đề: Hạnh nguyện, Thắng nghĩa, Tam ma địa trong luận Bồ đề tâm mà lập bốn loại phát tâm: 1. Tín tâm, chỉ cho tâm đối với việc cầu Vô thượng bồ đề không một mảy may ngờ vực. Vì tâm này là nền tảng của muôn hạnh nên cũng gọi là Bạch tịnh tín tâm (lòng tin trắng sạch). 2. Đại bi tâm, sau khi phát Bạch tịnh tín tâm, lại lập bốn thệ nguyện rộng lớn, tâm này cũng gọi là Hạnh nguyện tâm, Hạnh nguyện bồ đề tâm. 3. Thắng nghĩa tâm, trong các giáo pháp, chọn lựa giáo pháp chân thực. Tâm này cũng gọi là Thâm bát nhã tâm, Thắng nghĩa bồ đề tâm. 4. Đại Bồ đề tâm, ngay lúc quyết định bỏ phần kém, chọn phần hơn, thì chư Phật mười phương liền hiện ở trước mặt để chứng minh, các ma thấy thế sợ mà rút lui. Đại Bồ đề tâm này cũng gọi Tam ma địa bồ đề tâm. Tuy chia ra bốn tâm như trên, nhưng vốn là một thể, cho đến lúc thành quả Phật cũng không giây phút nào rời nhau. Được như thế là nhờ tự hành hóa tha, thế gian xuất thế gian tu tam mật của chư tôn mà ra, nên gọi là Hữu tướng bồ đề tâm. Nhưng vì xưa nay vốn có tướng tức không tướng, cũng như hư không lìa tất cả tướng, nên khế hợp với Vô tướng bồ đề tâm. Trong tông Tịnh độ Nhật bản, ngài Nguyên không có soạn Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, cho Bồ đề tâm là tạp hành, nên loại bỏ. Căn cứ vào lí này, phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ mới chia tâm Bồ đề thành Bồ đề tâm Thánh đạo môn và Bồ đề tâm Tịnh độ môn, và cho rằng Bồ đề tâm là Tổng an tâm, Tam tâm (Chí thành tâm, Thâm tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm) là Biệt an tâm, vì thế chủ trương cần phải phát tâm Bồ đề. Lại nữa, phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ chia Bồ đề tâm làm Bồ đề tâm hành môn và Bồ đề tâm quán môn, chủ trương không cần Bồ đề tâm hành môn là vì trong Bồ đề tâm quán môn đã đầy đủ tam tâm rồi. Còn Tịnh độ chân tông thì chia Bồ đề tâm thành Tự lực bồ đề tâm và Tha lực bồ đề tâm. Trong hai tâm này, Phật dùng thệ nguyện gốc cho chúng sinh tâm tin ưa, tức là tín tâm chân thực vì tâm nguyện làm Phật (tâm tự lợi nguyện thành Phật), tâm độ chúng sinh (tâm lợi tha cứu độ hết thảy chúng sinh), cho nên gọi là Tha lực bồ đề tâm, Tịnh độ đại bồ đề tâm. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.9; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.9; kinh Ưu bà tắc giới Q.1; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.14; Ma ha chỉ quán Q.1 hạ].
bồ đề tâm luận
Bodhi-hṛdayaśāstra (S), Bodhi-citta śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Bodhicittà-sàstra (S). Explanation on the Transcendence of Bodhicitta.
bồ đề tâm lý tướng luận
Lakṣaṇavimakta-bodhihṛdaya śāstra (S).
bồ đề tạng
(菩提藏) Chỉ Nhất Phật thừa. Ý nói tạng kinh khiến người ta ngộ được quả Phật Vô thượng bồ đề. Bồ đề là tên gọi của Phật, Nhất Phật thừa là pháp của nhân Phật, quả Phật, giáo tạng nói rõ pháp này, gọi là Bồ đề tạng. [X. kinh Thắng man; Y quán kinh đẳng minh ban chu tam muội hành đạo vãng sinh tán; Ban chu tán chân giải (Nhu viễn)].
bồ đề tử
Dùng làm chuỗi—Used for rosaries. 1) Hạt Bồ Đề cứng, lấy từ một loại cỏ ở Hy Mã Lạp Sơn: Bodhi seeds or beads, the hard seeds of a kind of Himalayan grass. 2) Hạt Bồ Đề lấy từ cây Bồ Đề trên núi Thiên Thai: Seeds of a tree at T'ien-T'ai.
; (菩提子) Quả bồ đề. Là quả cây bo-di-ci trong tiếng Tây tạng, chứ không phải là quả của cây bồ đề mọc ở gần núi Tuyết. Cây của quả này thuộc loại thảo mộc sống trong một năm, mùa xuân nảy mầm, thân cao ba đến bốn thước (Tàu), lá như lá lúa, nở hoa đỏ lợt giống như bông lúa, từ khoảng mùa hè đến mùa thu thì kết quả hình tròn, màu trắng, vỏ cứng, người ta dùng làm tràng hạt niệm Phật, cho nên gọi là Bồ đề tử, (tức là quả ý dĩ). Tại Trung quốc, chỉ trên núi Thiên thai có loại cây này, gọi là Thiênthai bồ đề. Lại trong Bản thảo cương mục vô hoạn tử điều, nêu ra bảy tên gọi khác nhau của cây Vô hoạn tử, và một trong đó tức là Bồ đề tử. Kinh Giáo lượng sổ châu công đức (Đại 17, 727 trung), nói: Nếu dùng quả Bồ đề làm tràng hạt niệm Phật, cầm trên tay, lần niệm một biến, được phúc vô lượng. (xt. Niệm Châu).
Bồ Đề Tự
(菩提寺, Bodai-ji): còn gọi là Đàn Na Tự (檀那寺), Đán Na Tự (旦那寺), Bồ Đề Sở (菩提所), Hương Hoa Viện (香花院). Đối với Phật Giáo Nhật Bản, Bồ Đề Tự chỉ cho ngôi tự viện cầu nguyện siêu độ, hoặc chỉ cho ngôi chùa có các ngôi mộ của tổ tiên qua các đời, là ngôi chùa chuyên lo việc tống táng, cúng dường làm phước thiện cho một gia tộc đã quy y từ đời này sang đời khác.
bồ đề tự
Bodhi-Vihara (skt)—Chùa Bồ Đề, một tên được đặt cho nhiều tự viện—Temple of or for Enlightenment, a name used for many monasteries.
bồ đề viên
Nghĩa trang của tự viện—The bodhi garden—The temple cemetery.
bồ đề đa la
Bodhitara (skt)—See Bồ Đề Đạt Ma.
bồ đề đạo
See Xuất Thế Gian Đạo.
bồ đề đạo thứ đệ luận
Lamrim (T), Stages of the path Tiến trình giác ngộGiáo lý gồm những sắp xếp đặc biệt các lời dạy của đức Phật nhằm hướng dẫn dễ hiểu và dễ thực hành. Giáo lý này chỉ rõ những tiến trình cần thiết để đạt giác ngộ (TT).
; (菩提道次第論) Tạng: Byaí-chub lam-gyi rim-pa. Gọi tắt là Lam rim (Đạo thứ đệ). Ngài Tông khách ba soạn. Luận này căn cứ vào Hiển giáo để nói rõ thứ tự tu tập đạo Phật. Trước hết, trong phần tựa, luận này nói về tiểu sử của ngài A đề sa (Phạm:Atìza) tổ sư của phái Ca đương (Tạng: Bkahê-gdams-pa) và về sự quan trọng của tác phẩm Bồ đề đăng luận do ngài A đề sa soạn. Kế đến, nói về sự cần thiết phải gần gũi thiện tri thức và phép kính lễ họ, sau đó, phần chính văn, trình bày các thuyết của Tam sĩ giáo. Tam sĩ là Hạ sĩ (người, trời), Trung sĩ (Nhị thừa), Thượng sĩ (Đại thừa). Cuối cùng, nói qua về việc hướng tới Kim cương thừa. Từ năm 53 tuổi trở về sau, ngài Tông khách ba lại viết bản tóm tắt luận Bồ đề luận thứ đệ đề là: Rgyalbahi gsuí-rab thams-cad-kyi sĩin-pohêi gnad bsduste gtan-la-phab-pa byaí-chub-lam-gyi rim-pa. Ngoài phần tóm tắt ra, Tông khách ba còn chép thêm nội dung của chương Tì bát xá na. Các bản khắc xưa của luận này có bản của chùa Sùng chúc ở Bắc Lương; bản dịch thì có Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận của ngài Pháp tôn do viện Giáo lí Hán Tạng in năm Dân quốc 25 (1936). [X. Tông khách ba đại sư truyện (Pháp tôn dịch thuật)].
bồ đề đạo thứ đệ truyện đăng pháp sư liệt truyện
(菩提道次第傳燈法師列傳) Bộ truyện gồm 2 quyển ghi chép thứ tự truyền thừa đạo Bồ đề từ thời đức Phật cho đến các vị Lạt ma, do ngài Y hạ cách lỗ tân (Tạng: Yoĩs hêdzin ye zes rgyal mtshan, 1713-1792) soạn ở cung Bố đạt lạp (Potala) tại Lha sa. Về nội dung của quyển thượng gồm có bốn phần: 1. Truyện về các bậc đại sư thuộc Quảng đại hành hệ (hệ thống Du già): từ đức Thích ca mâu ni, Di lặc, Vô trước, Thế thân, cho đến Tịch hộ, A đề sa (Phạm: Dìpaôkarazrìjĩàna Atìza, 980-1054) v.v... 2. Truyện của các ngài thuộc Thậm thâm kiến hệ (hệ thống Trung quán qui mậu luận): từ bồ tát Văn thù, Long thụ, Nguyệt xứng, cho đến A đề sa v.v... 3. Truyện của các ngài thuộc Vô tế hạnh hệ (hai thứ bồ đề tâm hạnh): từ bồ tát Văn thù, Tịch thiên, cho đến A đề sa v.v... 4. Truyện của các sư từ ngài A đề sa trở về sau, bao gồm truyện ghi về A đề sa và các đệ tử thuộc hệ thống Tang bố, cho đến ngài Tông khách ba và các đệ tử của ngài. Về nội dung của quyển hạ thì gồm có hai phần: 1. Các chi hệ của phái Ca nhĩ cư: gồm truyện của các sư thuộc phái Da thiền ca nhĩ cư. 2. Truyện của các vị Đạt lại lạt ma đời thứ nhất cho đến đời thứ tám, ngoại trừ đời thứ sáu. Bộ sách truyện này được thu vào Toàn tập của ngài Y hạ cách lỗ tân.
Bồ Đề Đạo Tràng
(s: Buddha-gayā, 菩提道塲): còn gọi là Bồ Đề Già Da (菩提伽耶), Phật Đà Già Da (佛陀伽耶), Bồ Đề Tràng. Là vùng đất mà đức Phật đã thành chánh giác, nằm ở vùng Bodhgayā cách 7 dặm gần thành phố Già Da về phía Nam của bang Bihar, Ấn Độ, mặt hướng về sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, 尼連禪) thuộc chi lưu của sông Hằng. Vùng đất này nguyên xưa kia là tụ lạc Ưu Lâu Tần Loa (s: Uruvelā, 優樓頻螺) về phía Nam của thành Già Da thuộc nước Ma Kiệt Đà thời Ấn Độ cổ đại. Theo kinh điển có ghi, sau 6 năm trãi qua khổ hạnh, đức Phật đã đến nơi đây ngồi kiết già trên toà Kim Cang dưới gốc cây Tất Bát La, chứng ngộ 12 Nhân Duyên, Tứ Diệu Đế v.v., và chứng quả chánh giác, cho nên cây Tất Bát La còn được gọi là cây Bồ Đề. Vào thời Trung Đại Thành Già Da bị giáo đồ Bà La Môn chiếm hữu trở thành lãnh địa của giáo phái này. Đặc biệt thánh địa nơi đức Phật đã thành đạo thì được gọi là Phật Đà Già Da, cùng với nơi đức Phật đản sanh (Lâm Tỳ Ni [s, p: Lumbinī, 藍毘尼]), nơi đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên (vườn Lộc Uyển [s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑]), nơi nhập Niết Bàn (rừng Sa La Song Thọ của thành Câu Thi Na [s: Kuśinagara, p: Kusinagara, Kusinārā, 拘尸那、倶尸那]) được xem như là 4 thánh tích lớn của Phật Giáo. Sau khi đức Phật nhập diệt, trãi qua các đời, người đã xây dựng ở nơi đây nhiều ngôi tháp để cúng dường, kiến tạo các tinh xá, già lam. Nhưng đến nay không còn nữa mà chỉ còn lại một số các di tích mà thôi.
bồ đề đạo tràng
Bodhi-gaya (S).
; Buddha gaya (S), Dōjō (J), Bodhi-maṇdala (S), Bodhi seat (S)Chỗ đức Phật ngồi lúc đắc đạo dưới cội bồ đề. Từ này còn dùng chỉ: - nơi thực hành chân lý đức Phật - nơi dạy hay học Pháp - nơi Bồ tát xuất hiện. Xem Bodhimandala.
; Bodhimandala (S). The place where the Buddha sat at the time of his enlightenment.
; Bodhimanda (skt)—Bồ đề đạo tràng, gần bên bờ Ni Liên Thiền thuộc bang Bihar trung Ấn, còn gọi là Giác Thành vì đây là nơi Đức Phật đã đạt thành chánh quả. Bồ đề đạo tràng tọa lạc gần thành phố Gaya. Người ta nói nó là trung tâm địa cầu; chư Bồ Tát trước khi thành Phật đều phải ngồi tại chỗ nầy. Riêng đối với Phật tử thuần thành, thì không có nơi nào đáng chú ý và thiêng liêng hơn nơi Đức Phật thành đạo: Bồ Đề Đạo Tràng. Nhiều lăng tẩm và đền đài nguy nga đã được dựng lên khắp nơi quanh đây. Tập ký sự của nhà hành hương Phật Giáo trung Hoa là Huyền Trang đã cho chúng ta một cái nhìn bao quát về sự huy hoàng của thánh địa nầy trong thời quá khứ. Theo Giáo Sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Huyền Trang cho rằng ngôi đền Bồ Đề (Bodhi) ban đầu là do vua A Dục dựng lên. Theo một trong những bia ký, sau khi lên ngôi được mười năm, vua A Dục đã đến chiêm bái nơi nầy mà tên gọi trong bia là Sambodhi, và rất có nhiều khả năng là nhà vua đã cho dựng lên ngôi đền trên thánh địa nầy. Tuy nhiên, ngày nay không thể tìm ra một dấu tích nào của ngôi đền nầy nữa. Ngôi đền nầy đã được hồi phục và tân tạo nhiều lần. Qua sự mô tả của Huyền Trang thì ngôi đền, chủ yếu là qua hình dạng và dáng vẻ bề ngoài hiện nay của nó, đã có từ thế kỷ thứ 17. Đền Đại Bồ Đề ở Miến Điện là một nguyên mẫu của ngôi đền lớn nầy. Theo như chúng ta thấy hiện nay thì đền Mahabodhi ở Bodh-Gaya cao gần 50 mét và gồm một thân thẳng hình kim tự tháp. Đền có nhiều tầng khác nhau. Đền có một tượng Phật mạ vàng, chạm vào mặt đất để tượng trưng cho sự thành đạo thiêng liêng. Xung quanh ngôi đền nầy hiện nay còn vô số di tích mà trong đó quan trọng nhất là những đoạn lan can bằng đá đại diện cho hai thời kỳ xây dựng khác nhau, thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Tây lịch, và thời kỳ sau vào đầu triều đại Gupta. Trong vùng kế cận có bảy thánh địa khác mà theo truyền thuyết là những nơi Đức Thế Tôn đã trải qua bốn mươi chín ngày tĩnh tịch sau khi chứng đắc Phật quả—Bodhi Gaya—Buddha-Gaya—A place near the bank of Nairanjana River in Central India (Bihar), also called the Citadel of Enlightenment because it was where the Buddha attained enlightenment or supreme wisdom (bodhi). Bodhi-Gaya is located near the town of Gaya. It is said to be diamond-like, the navel or centre of the earth; every bodhisattva sits down on such a seat before becoming Buddha. To the devout Buddhists, there is no place of greater interest or sanctity than the holy spot of the Buddha's enlightenment: Bodh-Gaya. Sacred shrines and stately monuments were raised all around and the account of the Chinese pilgrim, Hsuan-Tsang, gives us a glimpse of the past splendor of this sanctified place. According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Hsuan-Tsang ascribes the erection of the original Bodhi shrine to Emperor Asoka. According to one of his rock edits, Asoka visited this place, which is called Sambodhi in the inscription, when he had been consecrated ten years, and it is more than probable that the great emperor constructed a shrine on this holy spot. However, no vestiges os such a shrine can be found at present. This shrine has been restored and renovated many times. From the description of Hsuan-Tsang, it appears that the shrine, essentially in its present shape and appearance, existed already in the seventh century A.D. The Mahabodhi temple in Burma is a prototype of this grand temple. As it now stands, the Mahabodhi shrine at Bodh-Gaya is approximately 160 feet high and consists of a straight pyramidal tower with many storeys. The shrine enshrines a great gilded figure of the Buddha touching the earth which symbolizes the supreme event of enlightenment. Around the shrine lie innumerable remains of which the most important are portions of the stone railing which represent two different periods of construction, the earlier going back to about the second century B.C., and the latter to the early Gupta period. In the immediate vicinity are situated seven sacred sites, which, according to tradition, were identical with those where the Buddha is said to have passed seven tranquil weeks in the enjoyment of his Buddhahood.
bồ đề đạo đăng luận
Bodhi Pathapradīpa (S)Tên một bộ luận kinh.
; (菩提道燈論) Phạm: Bodhipathapradìpa hoặc Bodhima-rgapradìpa, Tạng: Byaí-chub lam-kyi sgron-ma. Cũng gọi Bồ đề đạo cự luận. Do ngài A đề sa (Phạm: Atìza) người Ấn độ soạn. Đây là cuốn sách nhỏ chỉ gồm 8 bài kệ, nội dung trình bày đại cương của giáo học A đề sa. Trước hết nói về thứ lớp tu tạo Tam sĩ giáo, kế đến trình bày về lời răn dạy trong Đát đậc la. Đặc biệt nhấn mạnh sự tu tập Phật pháp phải theo thứ lớp tam sĩ giáo (Hạ sĩ giáo, Trung sĩ giáo, Thượng sĩ giáo), tuần tự nhi tiến; người tu Pháp phải phát tâm bồ đề, giữ nghiêm giới luật, tu tập chỉ quán, tu cả phúc lẫn tuệ. Trên cơ sở của giai đoạn ở Hiển tông này tu trì viên mãn rồi, thì mới có thể tiến vào giai đoạn tu trì Mật tông mà đạt đến Tức thân thành Phật được. Về sau, các ngài Lạc mẫu đông v.v... chuyên truyền bá thuyết này, từ đó đã hình thành phái Ca đương. Đối với Phật giáo Tây tạng, sách này có ảnh hưởng rất sâu xa. [X. Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục (Đại học Đông Bắc); Trung dã giáo thụ cổ hi kí niệm luận văn tập; G. N. Roerich: The Blue annals; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets]
Bồ Đề Đạt Ma
(s: Bodhidharma, 菩提達磨, ?-495, 346-495, ?-528, ?-536): xưa kia người ta viết chữ Ma là 摩, nhưng về mặt truyền thống thì viết là 磨. Các học giả Cận Đại thì viết là 磨, khi xem Đại Sư như là vị Tổ sư; còn viết là 摩 khi xem như là nhân vật lịch sử. Theo hệ thống truyền đăng của Thiền Tông, Đại Sư là vị Tổ thứ 28 của Tây Thiên (Ấn Độ), và là sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Những truyền ký về Đạt Ma thì xưa nay đều y cứ vào bản Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, năm 1004) cũng như Bồ Đề Đạt Ma Chương (菩提達磨章); nhưng theo những nghiên cứu gần đây, người ta có khuynh hướng cấu thành truyền ký về ông dựa trên những tư liệu xưa hơn hai tư liệu vừa nêu trên. Tư liệu về Đạt Ma Truyện thì có nhiều loại như Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, năm 547), Đàm Lâm Nhị Chủng Nhập (曇琳二種入, khoảng năm 600), Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, năm 645), Truyền Pháp Bảo Ký (傳法寳記, khoảng năm 712), Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記, khoảng năm 713, 716), Lịch Đại Pháp Bảo Ký (歷代法寳記, khoảng năm 774), Bảo Lâm Truyện (寳林傳, năm 801), Tổ Đường Tập (祖堂集, năm 952), v.v. Thông qua Bảo Lâm Truyện từ đó các ký lục của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記, năm 1061), v.v., được hình thành. Lại nữa, chúng ta cần phải lưu ý đến những văn bản như Nội Chứng Phật Pháp Tương Thừa Huyết Mạch Phổ (內證佛法相承血脈譜, năm 819) của Tối Trừng (最澄, Saichō), Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận (菩提達摩南宗定是非論, năm 732), Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (問答雜徴義) của Thần Hội (神會), rồi Thiền Môn Sư Tư Tương Thừa Đồ (禪門師資相承圖), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序), Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao (圓覺經大疏鈔) của Tông Mật (宗密). Từ đó, xét về tiểu sử của Đạt Ma, ta thấy rằng Đại Sư sanh ra ở nước Ba Tư (波斯) hay Nam Thiên Trúc (南天竺). Theo như tài liệu mới thành lập sau này cho thấy rằng ông là người con thứ 3 của quốc vương nước này. Ông kế thừa dòng pháp của Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), rồi sau đó sang Trung Quốc. Bảo Lâm Truyện thì cho rằng ông đến Quảng Châu (廣州) vào ngày 21 tháng 9 năm thứ 8 (527) niên hiệu Phổ Thông (普通) nhà Lương. Bản ghi rõ ngày tháng thì có Bảo Lâm Truyện này, nhưng đời sau lại có khá nhiều dị thuyết xuất hiện. Sự việc vua Lương Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) xuất hiện trong câu chuyện Đạt Ma, lần đầu tiên được tìm thấy trong Nam Tông Định Thị Phi Luận và Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa; còn các tư liệu trước đó thì không thấy. Câu trả lời “vô công đức (無功德, không có công đức)” của Đạt Ma đối với vua Lương Võ Đế, mãi cho đến bản Tổ Đường Tập mới thấy xuất hiện. Về sau, Đạt Ma đến tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), ngồi xoay mặt vào vách tường suốt 9 năm trường. Còn câu chuyện Huệ Khả (慧可) tự mình chặt tay giữa lúc tuyết rơi rồi dâng lên cho Đạt Ma để cầu pháp, lần đâu tiên được ghi lại trong Lăng Già Sư Tư Ký; nhưng Tục Cao Tăng Truyện thì lại cho rằng Huệ Khả gặp bọn cướp giữa đường và bị chặt tay. Môn nhân của Đạt Ma có 4 nhân vật nổi tiếng là Đạo Dục (道育), Huệ Khả (慧可), Ni Tổng Trì (尼總持) và Đạo Phó (道副). Đại Sư có trao truyền cho Huệ Khả 4 quyển Kinh Lăng Già, y Ca Sa, và bài kệ phú pháp. Bài này được ghi lại trong Bảo Lâm Truyện. Bản Lạc Dương Già Lam Ký có ghi rằng lúc khoảng 150 tuổi, Đạt Ma tán thán cảnh sắc hoa mỹ của chốn già lam Vĩnh Ninh Tự (永寧寺), rồi xướng danh hiệu Nam Mô, chấp tay mà thị tịch. Còn việc Đạt Ma bị giết chết bằng thuốc độc có ghi lại trong Truyền Pháp Bảo Ký. Trong Lịch Đại Pháp Bảo Ký có đề cập rằng Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支) và Quang Thống Luật Sư (光統律師, tức Huệ Quang [慧光]) đã trãi qua 6 lần bỏ thuốc độc hại Đạt Ma. Về năm Ngài thị tịch, Bảo Lâm Truyện có ghi là vào ngày mồng 5 tháng 12 năm Bính Thìn (536), đời vua Hiếu Minh Đế (孝明帝, tại vị 515-528) nhà Hậu Ngụy. Trong khi đó, bản bia minh của Huệ Khả thì ghi ngày mồng 5 tháng 12 năm thứ 2 (536) niên hiệu Đại Đồng (大同). Bản Tổ Đường Tập thì ghi là năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa (太和); và Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thì ghi là ngày mồng 5 tháng 10 cùng năm trên; hưởng thọ 150 tuổi. Ngài được an táng tại Hùng Nhĩ Sơn (熊耳山), nhưng theo vị sứ nhà Đông Ngụy là Tống Vân (宋雲), ông gặp Đạt Ma ở Thông Lãnh (葱嶺) đang quảy một chiếc hài đi về hướng Tây; nên khi trở về nước, ông cho mở quan tài ra để xem hư thực, mới phát hiện bên trong quan tài chỉ còn lại một chiếc hài mà thôi. Tương truyền vua Võ Đế soạn bài bia minh tháp. Vua Đại Tông ban cho Đạt Ma thụy hiệu là Viên Giác Đại Sư (圓覺大師); trong bản văn tế của Chiêu Minh Thái Tử (昭明太子) thì gọi là Thánh Trụ Đại Sư (聖胄大師). Những soạn thuật của Đại Sư được lưu truyền cho đến nay có Nhị Chủng Nhập (二種入), Tâm Kinh Tụng (心經誦), Phá Tướng Luận (破相論), An Tâm Pháp Môn (安心法門), Ngộ Tánh Luận (悟性論), Huyết Mạch Luận (血脈論), được thâu tập thành bản gọi là Thiếu Thất Lục Môn (少室六門). Còn trong Thiền Môn Nhiếp Yếu (禪門攝要) của Triều Tiên có thâu lục Huyết Mạch Luận, Quán Tâm Luận (觀心論), Tứ Hành Luận (四行論). Sau này trong các văn bản được khai quật ở động Đôn Hoàng (敦煌) còn có Nhị Nhập Tứ Hành Luận (二入四行論), Tạp Lục (雜錄), Tuyệt Quán Luận (絕觀論), Vô Tâm Luận (無心論), Chứng Tâm Luận (證心論), Đạt Ma Thiền Sư Quán Môn (達磨禪師觀門), Đạt Ma Thiền Sư Luận (達磨禪師論), v.v. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phần nhiều đó là những trước tác của chư Tổ sư khác nhưng lại lấy tên Đạt Ma; và người ta cũng công nhận rằng trước tác của Đạt Ma chỉ là Nhị Chủng Nhập mà thôi. Nếu căn cứ vào bản này, ta thấy rằng tư tưởng của Đạt Ma là Tứ Như Thị (四如是, bốn điều như vậy) và Nhị Nhập Tứ Hạnh (二入四行). Tứ Như Thị là Như Thị An Tâm (如是安心), Như Thị Phát Hạnh (如是發行), Như Thị Thuận Vật (如是順物) và Như Thị Phương Tiện (如是方便). Nhị Nhập là Lý Nhập (理入) và Hạnh Nhập (行入). Còn Tứ Hạnh là 4 yếu tố được hình thành từ Hạnh Nhập. Tâm yếu làm cơ sở cho Thiền pháp của Đạt Ma được xem như là y cứ vào 4 quyển Kinh Lăng Già; nhưng đó không phải là văn bản giải thích về mặt học vấn của kinh này, mà nhằm nhấn mạnh việc cần phải lấy trọn tinh thần kinh. Theo Tục Cao Tăng Truyện, giới Phật Giáo đương thời rất chú trọng đến nghiên cứu, giảng diễn kinh luận; trong khi đó, Đạt Ma thì lại cổ xúy Thiền mang tính thật tiễn của cái gọi là “không vô sở đắc (空無所得, không có cái gì đạt được)”; cho nên ông bị học giả lúc bầy giờ phê phán mãnh liệt. Từ đó, các thuật ngữ như giáo ngoại biệt truyền (敎外別傳), bất lập văn tự (不立文字), dĩ tâm truyền tâm (以心傳心), kiến tánh thành Phật (見性成佛), v.v., được thành lập. Thời đại thay đổi cho đến thời Lục Tổ Huệ Năng (慧能) trở về sau, những thuật ngữ này trở nên rất thịnh hành, thông dụng; vậy ta có thể khẳng định rằng manh nha của chúng vốn phát xuất từ thời Đạt Ma.
bồ đề đạt ma
Bodhidharma (S), Bodai Daruma (J).
; Daruma (J), Tamo (J), Bodhi-dharma (S), Pouti Tamo (C), Bodai Daruma (J), Daruma (J)(470-543) Ngài là hoàng tử xuất gia vào Trung quốc năm 520 AD ở tỉnh Quảng đông bằng đường biển ngày 21 tháng 9 âm lịch. Sau đó ngài đến Kiến Khang là kinh đô để diễn giải đạo lý cho vua nhà Lương là Võ Đế, nhưng vì vua và tăng chúng đối với ngài lạt lẽo, lại theo khuynh hướng hữu vi nên Ngài vào nước Ngụy, không ở kinh đô Lạc dương mà vào núi Tung sơn tại chùa Thiếu Lâm thiền định 9 năm và tịch năm 529. Bồ đề Đạt ma là tổ thiền thứ 28 của Ấn độ và là tổ Thiền tông thứ nhất ở Trung quốc. Mãi đến thế kỷ thứ 8, tổ Huệ Năng san định kinh sách lập thành tông phái hẳn hoi. Phương thức thiền định của Ngài Bồ đề Đạt ma còn chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Ấn độ. Ngài chỉ dạy căn cứ vào kinh sách đại thừa, đặc biệt là kinh Lăng già. Có thuyết cho rằng Thiền tông của Ngài là sự pha trộn giữa Thiền Phật giáo gốc Ấn độ và đạo Lão. Sau khi tịch, Ngài truỳ6n y bát cho Huệ Khả, Huệ Khả sau truyền cho Tăng Sáng, rồi đến Đạo Tín, Hoằng Nhẫn, Huệ Năng. Sau đời Huệ Năng, không còn tục truyền y bát nữa.
; Bodhidharma (S). The 28th Indian patriarch and the founder of Ch'an sect Thiền tông in China.
; Bodhidharma (skt)—Bồ Đề Đa La—Bồ Đề Đạt Ma vốn là thái tử thứ ba của vua Kancipura Nam Ấn. Ông là một Tăng sĩ học giả uyên thâm người Ấn, thần huệ sáng thông, nghe đâu ngộ đó. Ngài vâng lời Thầy là Bát Nhã Đa La (Prajnatara) đến triều đình Trung quốc vào khoảng năm 520 sau Tây lịch, với mục đích phổ biến hệ thống triết học của ông—Bodhidharma was the third son of the King of Kancipura, South India. He was a deeply learned Indian Buddhist monk at that time. He was a man of wonderful intelligence, bright and far reaching; he thoroughly understood everything that he ever learned. He obeyed the instruction of his teacher, Prajnatara, Bodhidharma started for the East in China in 520 A.D., with the special purpose of propagating his system of philosophy. - Vua Lương Võ Đế vời Tổ đến Nam Kinh để triều kiến. Vua hỏi: “Từ khi tức vị đến nay, trẫm đã cho tạo chùa, sao chép kinh điển và độ Tăng rất nhiều. Công đức như vậy lớn như thế nào?” “Không có công đức gì cả,” là câu trả lời. Tổ lại nói tiếp: “Tất cả những công việc ấy chỉ là những quả báo nhỏ của một cái thân hữu lậu, như bóng theo hình, tuy có mà không phải thật.” Võ Đế hỏi: “Vậy đúng nghĩa thế nào là công đức?” Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Đó là sự thanh tịnh, giác ngộ, sự hoàn mãn, và thâm thúy. Công đức như thế không xây dựng bằng phương tiện thế gian.” Võ Đế lại hỏi: “Thế nào là Thánh Đế đệ nhất nghĩa? “Tổ trả lời: “Rỗng tuếch, không có Thánh Đế gì hết.” Vua lại hỏi tiếp: “Vậy ai đang diện kiến trẫm đây?” Tổ nói: “Không biết.” Võ Đế không hiểu Tổ muốn nói gì. Sau cuộc nói chuyện nổi tiếng với vua Hán Vũ Đế, Tổ đã vượt dòng Dương Tử và đến Lạc Dương, kinh đô của Bắc Ngụy. Sau một thời gian ở đây, Tổ đến Ngũ Đài Sơn và trú tại Thiếu Lâm Tự, nơi đây ngài diện bích (ngồi xoay mặt vào tường) trong 9 năm trường—The Emperor Wu-Ti invited him to Nanking for an audience. The Emperor said: “Since my enthronement, I have built many monasteries, copied many holy writings and invested many priests and nuns. How great is the merit due to me?” “No merit at all,” was the answer. Bodhidharma added: “All these things are merely insignificant effects of an imperfect cause. It is the shadow following the substance and is without real entity.” The emperor asked: “Then , what is merit in the true sense of the word?” Bodhidharma replied: “It consists in purity and enlightenment, completeness and depth. Merit as such cannot be accumulated by worldly means.” The emperor asked again: “What is the Noble Truth in its highest sense?” Bodhidharma replied: “It is empty, no nobility whatever.” The emperor asked: “Who is it then that facing me?” Bodhidharma replied: “I do not know, Sire.” The Emperor could not understand him. Bodhidharma was famous for his interview with Emperor Han Wu Ti. But after that, Bodhidharma went away. He crossed the Yangtze River and reached the capital, Lo-Yang, of Northern Wei. After a sojourn there he went to Mount Wu-T'ai-Shan and resided in the Shao-Lin Temple where he meditated (facing the wall) for nine years in silence and departed. - Qua cuộc đối thoại với Võ Đế, ta thấy rõ rằng cốt lõi chủ thuyết của Tổ Bồ Đề Đạt Ma là triết lý “Không Tánh” (sunyata), mà cái không thì không thể nào chứng minh được. Do đó, Bồ Đề Đạt Ma cũng đã đối đáp dưới hình thức phủ định. Khi nói về ảnh hưởng của đạo Phật trên đời sống và nền văn hóa của người Trung Hoa, chúng ta không thể không nói đến khuynh hướng bí hiểm nầy của triết lý Bồ Đề Đạt Ma, vì rõ ràng là khuynh hướng nầy đã tác động nhiều trên sự hình thành tinh thần Phật giáo Trung Hoa, và từ đó xuất hiện Phật giáo Thiền tông—As is clear from the dialogue between the emperor and Bodhidharma, the essential core of Bodhidharma's doctrine is the philosophy of emptiness (sunyata), and sunyata is beyond demonstration of any kind. Therefore, Bodhidharma also replied in the negative form. When we speak of the Buddhistinfluence on the life and literature of the Chinese people, we should keep this mystic trend of Bodhidharma's philosophy in mind, for there is no doubt that it has had a great deal to do with the moulding of the spirit of Chinese Zen Buddhism. - Theo các sử gia thì Bồ Đề Đạt Ma bác bỏ việc đọc tụng kinh điển. Do đó hệ thống triết học của ông khiến cho các tu viện ít chú trọng về kiến thức mà thiên về trầm tư thiền định nhiều hơn. Theo Bồ Đề Đạt Ma, Phật tử nên để ý đến thiền, vì chỉ cần hành thiền là có thể đạt đến giác ngộ. Do đó ông chỉ dịch có mỗi quyển Đại Bát Niết Bàn Kinh Luận (Mahaparinirvana-sutra-sastra). Ông là vị tổ thứ 28 của dòng Thiền Ấn Độ và là sơ tổ của dòng Thiền Trung Quốc. Các học giả vẫn còn không đồng ý với nhau về việc Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa từ lúc nào, ở lại đó bao lâu, và mất vào lúc nào, nhưng nói chung giới Phật tử nhà Thiền chấp nhận rằng Bồ Đề Đạt Ma đến Nam Trung Hoa bằng thuyền vào khoảng năm 520 sau Tây Lịch, sau một nổ lực không kết quả để thiết lập giáo thuyết của mình tại đây, ông đã đến Lạc Dương thuộc miền bắc Trung Hoa, và cuối cùng ông định cư tại chùa Thiếu Lâm. Ngài đã mang sang Trung Quốc một thông điệp thù thắng, được tóm gọn trong mười sáu chữ Hán sau đây, dù rằng người ta chỉ nhắc đến thông điệp nầy về sau thời Mã Tổ—According to historians, Bodhidharma denied canon reading, and his system therefore made the Buddhist monasteries much less intellectual and much more meditative than they were ever before. According to Bodhidharma, Buddhists should stress on meditation, because by which alone enlightenment can be attained. Bodhidharma was the 28th Indian (in line from the Buddha) and first Zen Patriarch in China. Scholars still disagree as to when Bodhidharma came to China from India, how long he stayed there, and when he died, but it is generally accepted by Zen Buddhists that he came by boat from India to southern China about the year 520 A.D., and after a short, fruitless attempt to establish his teaching there he went to Lo-Yang in northern China and finally settled in Shao-Lin Temple. Bodhidharma came to Chine with a special message which is summed in sixteen Chinese words, even though Zen masters only mentioned about this message after Ma-Tsu: Bất lập văn tự Giáo ngoại biệt truyền Trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật. “A special tranmission outside the scriptures; No dependence upon words and letters Direct pointing at the soul of man; Seeing into one's nature and the attainment og Buddhahood.” - Tổ Bồ Đề Đạt Ma và môn đệ của ông, Huệ Khả, người mà tổ đã truyền pháp, luôn là đề tài của công án Thiền Vô Môn cũng như bức tranh nổi tiếng của Sesshu, một họa sĩ lừng danh của Nhật Bản. Huệ Khả, một học giả nổi tiếng thời bấy giờ, tìm đến Bồ Đề Đạt Ma lúc ông đang tọa thiền, phàn nàn với ông rằng mình không an tâm và làm thế nào để tâm được an. Bồ Đề Đạt Ma đuổi Huệ Khả đi, bảo rằng muốn đạt được an tâm phải tu lâu và khó nhọc không tự phụ và nản lòng. Sau khi đứng hàng giờ dưới tuyết, Huệ Khả bèn chặt đứt bàn tay trái của mình để dâng lên Bồ Đề Đạt Ma. Bấy giờ tin chắc vào lòng chân thành và quyết tâm của Huệ Khả, Bồ Đề Đạt Ma nhận Huệ Khả làm môn đệ—Bodhidharma and Hui-K'e, his disciple to whom he had transmitted the Dharma, are always the subject of koan in the “No Gate Zen” as well as of a famous painting by Sesshu, Japan's greatest painter. Hui-K'e, a scholar of some repute, complains to Bodhidharma, who is silently doing meditation, that he has no peace of mind and asks how he can acquire it. Bodhidhrma turns him away, saying that the attainment of inward peace involves long and hard disciple and is not for the conceited and fainthearted. Hui-K'e, who has been standing outside in the snow for hours, implores Bodhidharma to help him. Again he is rebuffed. In desperation he cuts off his left hand and offers it to Bodhidharma. Now convinced of his sincerity and determination, Bodhidharma accepts him as a disciple. - Câu chuyện trên đây nhấn mạnh đến tầm quan trọng mà các thiền sư buộc vào kẻ khao khát sự an tâm vào việc tọa thiền, vào lòng chân thành và khiêm tốn, sự kiên nhẫn và nghị lực như là những tiên đề trong sự đạt thành đạo vô thượng. Vì thương kẻ tinh thành nên Tổ bèn chỉ cho chân đạo: “Bích quán là phép an tâm (see Bích Quán) , tứ hạnh là phép phát hạnh (see Tứ Hạnh), phòng ngừa sự chê hiềm là phép thuận vật, và đừng chấp trước là phương tiện tu hành cũng như cứu độ chúng sanh.”—This story emphasizes the importance which Zen masters attach to the hunger for self-realization, to meditation, and to sincerity and humility, perserverance and fortitude as prerequisites to the attainment of the highest truth. He was moved by the spirit of sincerity of Hui-K'o, so he instructed him: “Meditating facing the wall is the way to obtain peace of mind, the four acts are the ways to behave in the world, the protection from slander and ill-disposition is the way to live harmoniously with the surroundings, and detachment is the upaya to cultivate and to save sentient beings.” - Khi ở chùa Thiếu Lâm, Tổ thường dạy nhị tổ bằng bài kệ sau—When he lived at Shao-Lin temple, he always taught the second patriarch with this verse: Ngoài dứt chư duyên Trong không toan tính Tâm như tường vách Mới là nhập đạo (Externally keep you away from all relationships, and, internaly, have no hankerings in your heart; when your mind is like unto a straight-standing wall you may enter into the Path). - Sau chín năm ở Thiếu Lâm, Tổ muốn trở về Thiên Trúc, bèn gọi môn nhân đến bảo: “Ngày ta lên đường sắp đến, các ngươi thử trình xem chỗ sở đắc của mỗi người về Đạo Thiền.” Bấy giờ ông Đạo Phó bạch: “Theo chỗ thấy của tôi, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó là chỗ sở dụng của đạo.” Tổ nói: “Ông được phần da của ta.” Ni Tổng Trì bạch: “Chỗ hiểu của tôi nay như Khánh Hỷ (A Nan) nhìn vào nước Phật A Súc (Bất Động Như Lai), thấy một lần không thấy lại được.” Tổ nói: “Bà được phần thịt của tôi.” Đạo Dục bạch: “Bố đại vốn không, năm ấm chẳng thật, chỗ thấy của tôi là không có gì sở đắc hết.” Tổ nói: “Ông được phần xương của tôi.” Sau cùng, Huệ Khả đến đảnh lễ Tổ, xong cứ thế mà đứng thẳng, chứ không nói gì. Tổ nói: “Ông được phần tủy của tôi.” Những ngày cuối cùng của Tổ Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc không ai biết rõ, sư đi đâu và thị tịch hồi nào. Có người nói sư băng qua sa mạc trở về Ấn Độ, cũng có người nói sư qua Nhật—After nine years at Shao-Lin temple, the Patriarch wished to return to India. He called in all his disciples before him, and said: “The time is come for me to depart, and I want to see what your attainments are.” Tao-Fu said: “According to my view, the truth is above affirmation and negation, for this is the way it moved.” The Patriarch said: “You have got my skin.” Then Nun Tsung-Ch'ih said: “As I understand it, it is like Ananda's viewing the Buddhaland of Akshobhya Buddha: it is seen once and never again.” The Patriarch said: “You have got my flesh.” Tao-Yu said: “Empty are the four elements and non-existent the five skandhas. According to my view, there is not a thing to be grasped as real.” The Patriarch said: “You have got my bone.” Finally, Hui-K'o reverently bowed to the master, then kept standing in his place and said nothing. The Patriarch said: “You have my marrow.” Nobody knows his whereabout and when he passed away. Some people say that he crossed the desert and went to India, and others say that he crossed the sea to go to Japan.
; (菩提達磨) (? - 535) Phạm: Bodhidharma, dịch ý là Đạo pháp. Cũng gọi Bồ đề đạt ma đa la, Đạt ma đa la, Bồ đề đa la. Phổ thông gọi là Đạt ma. Tổ thứ 28 của Ấn độ và là vị tổ đầu tiên của Thiền tông Trung quốc. Ngài là con thứ ba của vua nước Hương chí (có thuyết nói nước Bà la môn, nước Ba tư) thuộc Nam Thiên trúc, học đạo nơi tổ Bát nhã đa la, cùng với ngài Phật đại tiên được coi là hai học trò ưu tú của tổ Bát nhã đa la, sau 40 tuổi ngài được truyền áo bát. Niên hiệu Phổ thông năm đầu (520) đời Vũ đế nhà Lương (có thuyết nói năm cuối đời Nam triều Tống), ngài vượt biển đến huyện Phiên ngung thuộc Quảng châu, vua Vũ đế sai sứ đến rước ngài về kinh đô Kiến nghiệp (Nam kinh). Sau khi đàm đạo với Vũ đế, thấy không khế hợp, ngài bèn qua sông đến đất Ngụy, dừng lại ở chùa Thiếu lâm trên núi Tung sơn, ngồi thiền quay mặt vào vách, người thời bấy giờ không hiểu ý, gọi ngài là Bích quan Bà la môn (thầy Bà la môn nhìn vách). Thời ấy, có sư Thần quang ở Y lạc, xem hết các sách, được nghe tiếng về ngài, hâm mộ nhân cách cao thượng của ngài, sư đến cầu đạo. Và để tỏ lòng chí thành vì pháp, sư Thần quang liền chặt một cách tay. Tổ Đạt ma cảm kích trước tấm lòng cầu pháp cao quí ấy của sư nên truyền chân pháp an tâm phát hạnh, trao tâm ấn Thiền tông cho sư và đổi tên Thần quang làm Tuệ khả. Từ đó, chín năm đã trôi qua, tổ Đạt ma muốn trở về Ấn độ, mới đem chỗ sâu xa kín nhiệm của Thiền tông cùng với ca sa và kinh Lăng già 4 quyển dặn dò rồi trao phó cho sư Tuệ khả. Nhưng chưa bao lâu tổ đã nhập tịch và được an táng tại chùa Thượng lâm trên núi Hùng nhĩ. Hơn ba năm sau, khi sứ thần nước Ngụy là Tống vân đang vượt qua dẫy núi Thông lĩnh thì bỗng gặp tổ Đạt ma quảy một chiếc giầy đi về Ấn độ. Cuộc đời ngài có nhiều truyện thần kì, nhưng cũng khó phân biệt được thật giả. Về năm thị tịch của ngài có mấy thuyết: có thuyết bảo ngài tịch vào năm Đại thông thứ 2 (528) đời Lương, có thuyết nói ngài tịch vào niên hiệu Đại đồng năm đầu (535) hoặc năm Đại đồng thứ hai (536) đời Lương v.v... Vua Lương vũ đế tôn xưng ngài là Thánh trụ đại sư, vua Đại tông nhà Đường ban thụy hiệu là Viên giác đại sư, tên tháp là Không quán. Về các vị đệ tử của tổ Đạt ma thì ngoài sư Tuệ khả ra, còn có các vị khá nổi tiếng, như: Đạo dục, Tăng phó (có chỗ nói Đạo phó), Đàm lâm v.v... Về pháp Thiền của tổ Đạt ma, cứ theo sự khảo cứu các tư liệu đào được ở Đôn hoàng cho thấy, thì trong các tác phẩm lưu truyền học thuyết của tổ Đạt ma xưa nay, hình như chỉ có luận Nhị nhập tứ hành là luận chứa đựng tư tưởng chân chính của ngài. Luận này lấy pháp môn Bích quán làm trung tâm. Nhị nhập, chỉ cho hai phương pháp tu hành là Lí nhập và Hành nhập. Lí nhập thuộc về tư duy giáo lí, đòi hỏi bỏ giả về thực, nhận thức và giải quyết vấn đề. Hành nhập thuộc về thực hành giáo pháp, dạy người bỏ hết tình dục yêu ghét, thực hành lời đức Phật dạy. Đây tức là giáo nghĩa Thiền pháp kết hợp giữa lí luận và thực hành. Lại trong Lăng già sư tư kí Đạt ma truyện có chép cuốn sách nhan đề: Lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hành (bàn sơ lược về bốn hành vào Đạo đại thừa) do đệ tử của tổ Đạt ma là sư Đàm lâm đem lời nói và việc làm của tổ gom thành một quyển. Ngoài ra, còn có Thích lăng già yếu nghĩa 1 quyển, cùng với Lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hành nói trên cũng đều được gọi là Đạt ma luận, lưu hành rất rộng ở đương thời. Nay phổ thông cho những tác phẩm chứa đựng tư tưởng và học thuyết của tổ Bồ đề đạt ma gồm: Thiếu thất lục môn tập, Đạt ma hòa thượng tuyệt quán luận, Thích Bồ đề đạt ma vô tâm luận, Nam thiên trúc Bồ đề đạt ma thiền sư quán môn, Thiếu thất dật thư v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3, Q.30; Truyền pháp chính tông kí Q.5; Nội chứng Phật pháp tương thừa mạch phổ; Tông kính lục Q.97; Truyền pháp chính tông luận Q.hạ; Tổ đình sự uyển Q.2, Q.5, Q.8; Cựu Đường thư liệt truyện 141 Thần tú truyện]. (xt. Nhị Nhập Tứ Hành).
Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận
(菩提達摩南宗定是非論, Bodaidarumananshūteizehiron): còn gọi là Nam Tông Định Thị Phi Luận (南宗定是非論) hay Đốn Ngộ Tối Thượng Thừa Luận (頓悟最上乘論), 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn. Với ý đồ chủ trương hệ thống Đạt Ma của Nam Tông là chánh truyền, đây là ký lục của Thần Hội ghi lại cuộc tông luận bài kích của Bắc Tông do Pháp Sư Sùng Viễn (崇遠) tiến hành tại Đại Hội Vô Già ở Đại Vân Tự (大雲寺), Hoạt Đài (滑臺) vào năm thứ 20 (732) niên hiệu Khai Nguyên (開元). Môn nhân của Thần Hội là Độc Cô Phái (獨孤沛) thâu tập lại và thêm vào lời tựa. Hồ Thích (湖適), người trước đây đã từng phát hiện ra hai bản Đôn Hoàng của tác phẩm này P3047 và P3488, sau này lại tìm thấy một bản khác, P2045, và cho đến nay người ta đã phục nguyên lại toàn bộ nội dung trước tác này. Ngoài ra còn có tàng bản của Nhiệm Tử Nghi (任子宜) nữa.
Bồ đề 菩提
[ja] ボダイ bodai ||| A transliteration of the Sanskrit/Pali term bodhi, meaning wisdom, enlightenment or awakening. (1) The wisdom of the true awakening of the Buddha. Enlightenment. The function of correct wisdom. The situation of the disappearance of ignorance due to the functioning of awakened wisdom. (2) The wisdom of perceiving the realitynature. (3) Sublime enlightenment. The expression of enlightened wisdom. (4) An abbreviation of 菩提道塲 (s: bodhimanda).The place where the Buddha attained his enlightenment. => Phiên âm chữ bodhi từ tiếng Sanskrit và tiếng Pali, có nghĩa là trí huệ, giác ngộ, tỉnh thức. 1. Trí huệ giác ngộ chân chánh của chư Phật. Chứng ngộ. Hoạt dụng của trí huệ chân chính. Trạng thái vô minh không còn nữa do nhờ có trí huệ tỉnh giác. 2. Trí huệ nhận thức thực tại tính. 3. Giác ngộ tối thượng. Biểu hiện của trí huệ giác ngộ. 4. Viét tắt của Bồ-đề đạo tràng 菩提道塲 (s: bodhimanda), nơi Đức Phật thành đạo.
Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經
[ja] ボサツヨウラクホンゴウキョウ Bosatsu yōraku hongō kyō ||| The Pusa yingluo benye jing; 2 fascicles, eight chapters; T 1485.24.1010b1023a. Translation into Chinese was attributed to Zhu fonian 竺佛念 but later scholarship considers it to have been written in China during the fifth or sixth century. In common with the Huayan jing 華嚴經, Renwang jing 仁王經, Sutra of Brahma's Net 梵網經, etc., it discusses the course of the bodhisattva's practice through the fiftytwo stages, the pure precepts, the ten pāramitās , etc. It was commented on by in terms of its relation to the Sutra of Brahma's Net. The only commentary which dealt with this treatise exclusively was the one done by Wŏnhyo 元曉, of which only the second fascicle remains. Commonly referred to by the short titles of 本業經 and 瓔珞經, but the latter abbreviation also refers to another scripture of similar name. => (j: Bosatsu yōraku hongō kyō; c: Pusa yingluo benye jing); 2 quyển, 8 chương. Được xem là do Trúc Phật Niệm 竺佛念 dịch, nhưng các học giả đời sau lại cho rằng kinh nầy được ra đời ở Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ 5 hay thứ 6. Kinh nầy cùng với kinh Hoa Nghiêm, kinh Nhân vương 仁王經, kinh Phạm võng ... thường đề cập đến 52 giai vị tu tập của hàng Bồ-tát, về tịnh giới, về mười ba-la-mật-đa (pāramitā)... Kinh nầy được ngài Trí Khải (c: Zhiyi 智顗) luận giải với những nội dung liên quan đến kinh Phạm võng. Luận giải duy nhất liên quan riêng đến kinh nầy là tác phẩm của Nguyên Hiểu (Wŏnhyo 元曉), nay chỉ còn lại phẩm thứ nhì. thường được gọi tắt là Bản nghiệp kinh hoặc Anh lạc kinh, nhưng về sau tên gọi tắt nầy còn chỉ cho một bản kinh khác mang cùng tên.
Bồ-tát anh lạc kinh 菩薩瓔珞經
[ja] ボサツヨウラクキョウ Bosatsu yōraku kyō ||| 14 fascicles. T 656.16.1127. Not to be confused with the 菩薩瓔珞本業經 (T 1485), both of which are sometimes problematically referred to by the abbreviated title of Yingluo jing 瓔珞經, and which are attributed to the same translator. An explanation of the course of the practice of the bodhisattva. => (j: Bosatsu yōraku kyō), 14 quyển. Không nên nhầm lẫn với Bồ-tát anh lạc bổn nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經, cả hai đôi khi khó phân biệt được do tên gọi tắt Anh lạc kinh (c: Yingluo jing 瓔珞經), được xem là của cùng người dịch. Kinh nầy có nội dung giảng giải công hạnh tu tập của hàng Bồ-tát.
Bồ-tát bản nghiệp anh lạc kinh 菩薩本業瓔珞經
[ja] ボサツホンゴウヨウラクキョウ Bosatsu hongō yōrakukyō ||| Pusa benye yingluojing. See 菩薩瓔珞本業經 => (j: Bosatsu hongō yōrakukyō; c: Pusa benye yingluojing). Xem Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經.
Bồ-tát bản nghiệp kinh 菩薩本業經
[ja] ボサツホンゴウキョウ Bosatsu hongōkyō ||| See 菩薩瓔珞本業經. Xem Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh 菩薩瓔珞本業經.
Bồ-tát bản sinh man luận 菩薩本生鬘論
[ja] ボサツホンショウマンロン Bosatsu hon shōman ron ||| Pusa ben shengman lun; T 160.3.331c385c. => (j: Bosatsu hon shōman ron; c: Pusa ben shengman lun).
Bồ-tát giới bổn 菩薩戒本
[ja] ボサツカイホン Bosatsu kai hon ||| The Pusa jie běn. (1) The *. One fascicle, T 1501.24.11101115. translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Dacien. Contains excerpts from the that explain the disciplines of the bodhisattva. The Bodhisattva Pratimokṣa is attributed in China to Maitreya 彌勒, and in Tibet to Asaṅga 無著. This text served as the Yogācāra pratimokṣa, a routinely performed communal confession for monks and nuns. The Jie mo (菩薩戒羯磨文) expands on this root text. (2) Same title, composed by Maitreya, and translated by Dharmakṣema 曇無讖 of the Northern Liang during 414421. Contains excerpts from the Bodhisattvacaryānirdeśa, which expound the Mahāyāna precepts. T 1500.24.11071110. => 1. (s: Bodhisattvaśīla sūtra, hay Bodhisattvaprātimokṣa; e: On Conferring Bodhisattva Vinaya), 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 649 tại chùa Từ Ân. Nội dung gồm trích dẫn từ Du-già sư địa luận (Yogācārabhūmiśāstra 瑜伽論) để giải thích giới luật của hàng Bồ-tát. Giới ba-la-đề-mộc xoa(s: Pratimokṣa) của hàng Bồ-tát. Người Trung Hoa xem giới bản nầy xuất phát từ ngài Di-lặc, và Tây Tạng xem giới bản nầy xuất phát từ ngài Vô Trước. Bản văn nầy được xem là ba-la-đề-mộc xoa của Du-già hành tông, được tăng ni thường xuyên tụng đọc khi bố tát. Bồ-tát giới yết-ma văn (菩薩戒羯磨文 c: Jie mo) là khai triển từ kinh văn nầy. 2. Kinh văn cùng tên, do ngài Di-lặc soạn, Đàm Vô Sấm (Dharmakṣema 曇無讖) đời Bắc Lương dịch. Gồm những trích dẫn trong Bồ-tát hạnh (s: Bodhisattvacaryānirdeśa) để giảng rộng về giới luật Đại thừa.
Bồ-tát giới yết-ma văn 菩薩戒羯磨文
[ja] ボサツカイケツマブン Bosatsu kaiketsuma bun ||| The Pusa jiejiemo wen (Elaboration of On Conferring Bodhisattva Vinaya). By Maitreya 彌勒, translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Dacien Monastery. One fascicle, T 1499.24.11041107. This text is drawn from the Yogācārabhūmi 瑜伽論; also see T 1501. => (j: Bosatsu kaiketsuma bun; c: Pusa jiejiemo wen: e: Elaboration of On Conferring Bodhisattva Vinaya), của ngài Di-lặc (Maitreya 彌勒), Huyền Trang (c: Xuanzang 玄奘) năm 649 tại chùa Từ Ân( Dacien).
Bồ-tát hạnh nguyện 菩薩行願
[ja] ボサツギョウガン bosatsugyōgan ||| The vows of the bodhisattva. (j: bosatsugyōgan) => Tâm nguyện của hàng Bồ-tát.
Bồ-tát hạnh 菩薩行
[ja] ボサツギョウ bosatsugyō ||| The practices of the bodhisattva (bodhisattvacaryā). Especially, the 52stage path of the bodhisattva. 〔二障義HPC 1.812c〕 => Công hạnh tu tập của hàng Bồ-tát (s: bodhisattvacaryā). Đặc biệt là 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ-tát.
Bồ-tát ma-ha-tát 菩薩摩訶薩
[ja] ボサツマカサツ bosatsu makasatsu ||| A transliteration of the Sanskrit . A bodhisattva. => Phiên âm chữ bodhisattvamahāsattva từ tiếng Sanskrit. Là một vị Bồ-tát.
Bồ-tát thiện giới kinh 菩薩善戒經
[ja] ボサツゼンカイキョウ Bosatsu zenkai kyō ||| Busa shanjie jing; 9 fasc., trans. by Guṇabhadra 求那跋陀羅. T 1582.30.9601012. => (j: Bosatsu zenkai kyō; c: Busa shanjie jing); 9 quyển, Cầu-na-bạt-đà-la (s: Guṇabhadra 求那跋陀羅) dịch. Bồ-tát địa trì kinh 菩薩地持經 (j: Bosatsu jiji kyō; j: Pusa diqi jing; s: Bodhisattvabhūmisūtra); 10 quyển. Do Đàm Vô Sấm (曇無讖 s: Dharmakṣema; c:Tan Wuchen) dịch sang tiếng Hán. Còn gọi là Bồ-tát địa trì luận 菩薩地持論 và Địa trì luận 地持論. Đó vốn là Luận, tương truyền đó là giáo lý mà Ngài Di-lặc truyền dạy cho Vô Trước. Nội dung giải thích chi tiết pháp tu tập của hàng Bồ-tát Đại thừa. => Phật giáo Á đông thường xếp kinh nầy cùng với kinh Phạm võng. Ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch thành 9 quyển với tên Bồ-tát thiện giới kinh (c: Pusa shanjie jing 菩薩善戒經) và ngài Huyền Trang dịch thành một phần của Du-già sư địa luận (Yüch'ieh shihti lun 瑜伽師地論). Bản tiếng Sanskrit và tiếng Tây Tạng vẫn còn lưu hành. 菩薩地持論
Bồ-tát thập nhị chủng trú 菩薩十二種住.
[ja] ボサツジュウニシュジュウ bosatsu jūni ujū ||| Twelve kinds of stages of bodhisattva practices described in the Yogācārabhūmiśāstra: (1) the stage of the bodhisattva nature菩薩種性住。(2) The stage of superb understanding and practice 勝解行住。 (3) The stage of ultimate bliss 極歡喜住。(4) The stage of unimpeded action of the precepts 増上戒住。 (5) The stage of unimpeded thought 増上心住。(68) The three stages of unimpeded wisdom : unimpeded wisdom concomitant with the stems of enlightenment 覺分相應増上慧住, unimpeded wisdom concomitant with all correct perceptions of reality 諸諦相應増上慧住, unimpeded wisdom concomitant with dependent origination, saṃsāra and the stopping of thought 縁起流轉止息相應増上慧住。(9) the markless stage that has preparatory practices and efficacy 有加行有功用無相住。 (10) The markless stage that lack preparatory practices and efficacy 無加行無功無相住。 (11) the stage of unhindered understanding 無礙解住。 (12) The stage of ultimate consummation of bodhisattvahood. 最上成滿菩薩住. This is followed by the stage of the Tathāgata 如來住.〔瑜伽論T 1579.30.552c25553a10〕 => Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmiśāstra) mô tả 12 giai vị tu tập của hàng Bồ-tát: 1. Bồ-tát chủng tánh trụ菩薩種性住. 2. Thắng giải hành trụ 勝解行住. 3. Cực hoan hỷ trụ 極歡喜住. 4. Tăng thượng giới trụ 増上戒住. 5. Tăng thượng tâm trụ 増上慧住. Ba giai vị trí huệ vô ngại 6. Giác phần tương ưng tăng thượng huệ trụ覺分相應増上慧住. 7. Chư đế tương ưng tăng thượng huệ trụ 諸諦相應増上慧住. 8. Duyên khởi lưu chuyển chỉ tức tương ưng tăng thượng huệ trụ 縁起流轉止息相應増上慧住. 9. Hữu gia hạnh hữu công dụng vô tướng trụ 有加行有功用無相住. 10. Vô gia hạnh vô công vô tướng trụ無加行無功無相住. 11. Vô ngại giải trú 無礙解住. 12. Tối thượng thành mãn Bồ-tát trú最上成滿菩薩住 . Đến đây là tuỳ thuận theo Như Lai trụ 如來住.
Bồ-tát trụ 菩薩住
[ja] ボサツジュウ bosatsujū ||| The bodhisattva's stages. See 菩薩十二種. =>Giai vị của hàng Bồ-tát. Xem Bồ-tát thập nhị chủng菩薩十二種. Dictionary References] [Credit] cmuller(entry) Bồ-tát thập nhị trụ 菩薩十二住 . => Xem Bồ-tát thập nhị chủng trú 菩薩十二種住.
Bồ-tát địa trì luận 菩薩地持論
[ja] ボサツジジロン Bosatsu jiji ron ||| => (c: Pusa di chi lun); Xem Bồ-tát địa trì kinh (c: Pusa dichi jing 菩薩地持經). Bồ-tát tùng Đâu suất thiên giáng thần mẫu thai thuyết quảng phổ kinh 菩薩從兜術天降神母胎説廣普經 => (j: Bosatsu jūtojutsu tengōjinmotai setsukō fukyō; c : Pusa cong Doushoutian jiang shen Mutai shuo guangpu jing); 7 quyển, được xem là do Trúc Phật Niệm (c: Zhu Fonian 竺佛念) dịch.
Bồ-tát 菩薩
[ja] ボサツ bosatsu ||| A transliteration of the Sanskrit bodhisattva, which means 'enlightening being.' (1) Generally speaking, a person intent on the attainment of enlightenment, who has fully altruistic motivations. (2) The bodhisattva is the model practitioner in the Mahāyāna 大乘 tradition, who dedicates his/her life entirely to the salvation of other beings. This concept is used in Mahāyāna texts to distinguish from the earlier Indian concept of arhat, a being who is also enlightened, but who, according to Mahāyānists, possesses an inferior, selfishlyattained enlightenment. In this regard, the bodhisattva is said to possess two main characteristics which distinguish her/him from the arhat 阿羅漢, and other inferior religious practitioners: a deep sense of compassion for the suffering of all other beings, and a special type of wisdom based on a realization of the nature of the emptiness (śūnyatā 空) of all existences. The bodhisattva attains his/her enlightenment by arousing the thought of selfless enlightenment (bodhicitta) and practicing the six perfections (pāramitā 六度) based on compassion (karunā). (3) The term bodhisattva is also often applied as an honorific title to the great Buddhist teachers of antiquity, such as Nāgārjuna 龍樹 and Asaṅga 無著. => (k: posal; j: bosatsu). Phiên âm chữ bodhisattva từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là “chúng sinh giác ngộ,” 1. Nói chung Bồ-tát là người phát tâm cầu giải thoát giác ngộ vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh. 2. Bồ-tát là mẫu người tu tập theo Đại thừa, cống hiến trọn đời mình cho việc cứu độ, giải thoát toàn thể chúng sinh. Ý niệm Bồ-tát được dùng trong kinh điển Đại thừa khác hẳn với ý niệm A-la-hán của Ấn Độ trước đây, A-la-hán cũng là người đã chứng ngộ, nhưng theo quan điểm Đại thừa, có khả năng ít hơn, chỉ đạt giác ngộ cho riêng mình. Theo tinh thần nầy, Bồ-tát có hai đặc tính khác hẳn A-la-hán và các pháp tu Tiểu thừa, đó là lòng từ bi慈悲 sâu rộng đối với khổ đau của toàn thể chúng sinh, và trí huệ đặc biệt dựa trên sự trực nhận tánh không (śūnyatā 空) của thực tại. Các vị Bồ-tát đạt được chứng ngộ nhờ phát khởi Bồ-đề tâm và tu tập Lục độ (pāramitā 六度) trên nền tảng của lòng từ bi (karunā). 3. Bồ-tát còn là một tôn hiệu của các bậc Đạo sư thời xưa như Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹) và Vô Trước (Asaṅga 無著).
Bồ-đề
菩提; S, P: bodhi; dịch nghĩa là Tỉnh thức, Giác ngộ (覺悟);|Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, Bồ-đề là từ chỉ trạng thái chứng được bốn cấp trong Thánh đạo (s: āryamārga) bằng cách hành trì 37 Bồ-đề phần và diệt trừ Vô minh, liễu ngộ được Tứ diệu đế.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), Bồ-đề là chứng được Tứ diệu đế, thoát khổ. Ở đây người ta phân biệt ba giai đoạn: tu và chứng quả Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), tu và chứng quả Ðộc giác Phật (s: pratye-kabuddha) và cuối cùng là đạt quả vị Phật tam-miệu (s: samyak-saṃbuddha), tức là đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), có khi gọi là Ðại bồ-đề (s, p: mahābodhi).|Trong Ðại thừa, Bồ-đề được hiểu là trí huệ nhận ra rằng không có sự sai khác giữa Niết-bàn (s: nirvāṇa) và Luân hồi (s: saṃsāra), giữa khách thể và chủ thể. Bồ-đề là chứng được trí Bát-nhã (s: prajñā), nhận ra Phật tính của chính mình hay của muôn loài, nhận ra tính Không của thế gian, nhận biết »sự thật như nó là« (Chân như).|Ðại thừa phân biệt ra ba loại Bồ-đề: giác ngộ cho chính mình (giác ngộ của một vị A-la-hán), giải thoát cho chúng sinh (giác ngộ của một vị Bồ Tát) và giác ngộ hoàn toàn của một vị Phật. Trong quan điểm này, mỗi trường phái Ðại thừa lại có một cách giải thích khác nhau.
Bồ-đề chướng 菩提障
[ja] ボダイショウ bodaishō ||| The obstruction to bodhi; same as noetic hindrance 所知障. 〔成唯識論 T 1585.31.〕 => Chướng ngại cho sự giác ngộ giải thoát. Đồng nghĩa với Sở tri chướng 所知障.
Bồ-đề Kim cương 菩提金剛
[ja] ボダイコンゴウ Bodaikongō ||| An eponym of Vajrabodhi 金剛智. => j: Bodaikongō; s: Vajrabodhi. Tên gọi của ngài Kim cương Trí 金剛智.
Bồ-đề Lưu-chi
菩提流支; S: bodhiruci; dịch nghĩa là Ðạo Hỉ; tk. 5-6;|Cao tăng Bắc Ấn Ðộ đến Trung Quốc năm 508, cùng với Lặc-na Ma-đề (s: ratnamati) và Phật-đà Phiến-đa (s: buddhaśānta) dịch Thập địa kinh (s: daśabhūmika-sūtra) và Thập địa kinh luận (s: daśabhūmika-śāstra) ra chữ Hán.|Bên cạnh đó, Sư cũng giảng giải giáo pháp của Tịnh độ tông và làm quen với Ðàm Loan trong năm 530. Ðàm Loan trở thành đại diện của tông phái này tại Trung Quốc.
Bồ-đề Lưu-chi 菩提流支, 菩提留支
[ja] ボダイルシ Bodairushi ||| (1) (?527) Bodhiruci, one of the most prolific translators of Sanskrit Buddhist texts into Chinese. His name is also transliterated as 菩提留支 and translated according to its meaning as Daoxi 道希. He was originally from northern India, and after settling down in the Northern Wei capital of Loyang, completed the translation of over thirty Mahāyāna sutras and treatises. Most of these were reflective of the latest developments in Indian Mahāyāna, most importantly Consciousnessonly related works, and these translations ended up having a major impact on East Asian Buddhism from this time. Among the most important of these were the Lankāvatāra Sutra 入楞伽經, Jingang panruo jing (Diamond Sutra) 金剛般若經、 Foming jing 佛名經、Faji jing 法集經 、 Shenmi jietuo jing 深密解脱經, Dabao jijing lun 大寶積經論, Fahuajing lun 法華經論, and the Wuliang shoujing lun (Treatise on the Sutra of Infinite Life) 無量壽經論. The northern branch of the Ten Stages sect 地論宗 was formed based on his translation and studies of the Treatise on the Book of the Ten Stages 十地經論. Danluan 曇鸞, one of the early founders of the Pure Land School 浄土宗, based many of his ideas on Bodhiruci's translation of the Treatise on the Sutra of Infinite Life. One of his most important colleagues was Ratnamati 勒那摩提, who worked together with him on the Dilun. Based on the differing interpretations of the two regarding key doctrines contained in this, the Dilun school developed into two branches of northern, started by Daochong 道寵 Bodhiruci's disciple and the southern, represented by Ratnamati's student Huiguang 慧光. (2) There was also a Bodhiruci who came to Loyang during the Tang, who served as a translator under the reign of empress Wu. => s: Bodhiruci; j: Bodairushi (?-527) Là Tăng sĩ Phật giáo dịch nhiều kinh từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán. Tên ngài còn được phiên âm là 菩提留支và được dịch nghĩa là Đạo Hy (c: Daoxi 道希). Ngài xuất thân từ miền Bắc Ấn Độ, sau đó sang định cư ở Lạc Dương, kinh đô thời Bắc Nguỵ, dịch hơn 30 tác phẩm kinh luận Đại thừa. Phần lớn các dịch phẩm nầy phản ánh sự phát triển mới nhất của Đại thừa Ấn Độ, quan trọng nhất là những tác phẩm liên quan đến Duy thức, và các tác phẩm nầy đạt đến đỉnh cao sự ảnh hưởng cho Phật giáo Á đông vào thời nầy. Những tác phẩm quan trọng nhất trong số nầy là Nhập Lăng-già kinh (Lankāvatāra Sutra 入楞伽經), Kim Cương Bát-nhã kinh 金剛般若經 (c: Jingang panruo jing; e: Diamond Sutra); Phật danh kinh (c: Foming jing 佛名經); Pháp tập kinh (c: Faji jing 法集經); Thâm mật giải thoát kinh (c: Shenmi jietuo jing 深密解脱經); Đại Bảo tích kinh luận (c: Dabao jijing lun 大寶積經論); Pháp Hoa Kinh luận (c: Fahuajing lun 法華經論) và Vô lượng thọ kinh luận (無量壽經論 c: Wuliang shoujing lun ; e: Treatise on the Sutra of Infinite Life). Bắc phái Địa luận tông thành lập căn cứ trên dịch phẩm và nghiên cứu về Thập địa kinh luận (十地經論 e: Treatise on the Book of the Ten Stages) của ngài. Đàm Loan (c: Danluan 曇鸞), sơ tổ Tịnh độ tông, đã lập thuyết căn cứ trên bản dịch Vô lượng thọ kinh luận (無量壽經論 c: Wuliang shoujing lun ; e: Treatise on the Sutra of Infinite Life) của ngài. Một trong những vị đồng sự của ngài là Lặc-na-ma-đề (s: Ratnamati 勒那摩提) cùng dịch chung Địa luận với ngài. Căn cứ vào hai kiến giải khác nhau về yếu chỉ của kinh nầy, nên Địa luận tông đã phát triển thành hai nhánh, phía Bắc do đệ tử của ngài Bồ-đề Lưu-chi là Đạo Sủng (c: Daochong 道寵), phía Nam do đệ tử của ngài Lặc-na-ma-đề (s: Ratnamati 勒那摩提) là Huệ Quang慧光) 2. Còn có một Bồ-đề Lưu-chi đã đến Lạc Dương vào đời Đường, làm việc như một dịch giả dưới triều Vũ Hậu.
Bồ-đề phần
菩提分; S: bodhipākṣika-dharma; P: bodhipak-khiya-dhamma;|Nguyên nghĩa là »Những điều cần thiết để đạt Bồ-đề«, bao gồm 37 Bồ-đề phần (三十七助道品; 37 trợ đạo phẩm; s: saptatriṃ-ṣaḍbodhipākṣika-dharma), được chia làm 7 nhóm:|1. Bốn niệm xứ (四念處; Tứ niệm xứ; s: catuḥsmṛtyupasthāna); 2. Bốn tinh tiến (四正勤; Tứ chính cần; s: samyak-prahānāni); 3. Bốn Như ý túc (四如意足; Tứ như ý túc; s: ṛddhipāda); 4. Năm Căn (五根; Ngũ căn; s: pañcendriya); 5. Năm lực (無力; Ngũ lực; s, p: pañcabala); 6. Bảy giác chi (七覺支; Thất giác chi; s: sapta-bodhyaṅga); 7. Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga).
Bồ-đề thọ 菩提樹
[ja] ボダイジュ bodaiju ||| (bodhidruma) 'bodhitree.' (1) The tree underneath which Śākyamuni Buddha attained enlightenment. The original Sanskrit name of the tree was pippala or asvattha. Since Vedic times, it was known as a tree that possessed spiritual power. (2) A term for awakening or enlightenment. => (j: bodaiju; s: bodhidruma; e: bodhitree) 1. Cây mà Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã ngồi tu tập và chứng ngộ ở đó. Từ gốc tiếng Sanskrit của cây nầy là pippala hay asvattha. Do vì trong thời kỳ Vệ-đà (Vedic), cây nầy được biết là vốn có sẵn năng lực tinh thần trong thân. 2. Thuật ngữ chỉ cho tỉnh thức hoặc giác ngộ.
Bồ-đề thụ
菩提樹; S: bodhidruma; cũng được gọi là Giác thụ, có tên Ấn Ðộ là Pipal, Pipphala, Assattha; |Một loại cây với tên khoa học là Ficus religiosa, thuộc họ Dâu tằm (l: moraceae), có nguồn gốc từ châu Á (Ấn Ðộ). Tương truyền rằng, thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) đã giác ngộ hoàn toàn dưới một cây Bồ-đề.|Tại Giác Thành (bodhgayā) ngày nay, bên cạnh đền Ðại Bồ-đề (mahābodhi) còn một cây con của cây Bồ-đề mà ngày xưa đức Phật đã ngồi thiền định 49 ngày sau khi đắc Vô thượng chính đẳng chính giác. Cây Bồ-đề ngày đó đã bị vua Bengale là Śaṣaṅka phá huỷ hồi thế kỉ thứ 7, cây con của cây đó bị bão thổi trốc gốc năm 1876. Cây con ngày nay lấy từ một nhánh của cây Bồ-đề gốc đã được vua A-dục tặng vua Tích Lan trong thế kỉ thứ 3. Ngày nay, tại cố đô Tích Lan A-nu-ra-đa-pu-ra (p: anurādhapura), cây Bồ-đề đó vẫn còn xanh tốt.
Bồ-đề tràng sở kinh 菩提場所經
[ja] ボダイジョウショキョウ Bodaijōsho kyō ||| The Putichangsuo jing; see Pútíchăng suŏshuō Yīzì dĭng lúnwáng jīng 菩提場所説一字頂輪王經. => (j: Bodaijōsho kyō; c: Putichangsuo jing) Xem Bồ-đề tràng sở thuyết nhất tự đảnh luân vương kinh 菩提場所説一字頂輪王經.
Bồ-đề tràng sở thuyết nhất tự đảnh luân vương kinh 菩提場所説一字頂輪王經
[ja] ボダイジョウショセツイチジチョウリンオウキョウ Probably dating to the 7th century CE, it describes several rituals for worldly benefit. One of these, a procedure for sketching 晝法 the nidāna scene, refers to the Bodhimaṇḍālamkārasūtra 菩提場莊嚴陀羅尼經 (T 1008). Its method for invoking the five buddhoṣṇīṣas 五佛頂法 is practiced to the present day in Tendai esotericism 台密. Three Chinese translations are extant: (1) 5 fasc. (T 950.19.193224), . Japnese commentary: Enchin's 圓珍 Brief Commentary on the Meanings of the Seat of Enlightenment Sutra 菩提場經略義釋 (T 2230). (2) 5 fasc. (T 951.19.224263), Sutra of the OneSyllable WheelTurning Ruler 一字頂輪王經, tr. Bodhiruci II 菩提流志. This roughly corresponds to Amoghavajra's version. (3) 4 fasc. (T 952.19.263285) Sutra of the Samādhi of the Five Buddha Coronas 五佛頂三昧陀羅尼經, tr. Bodhiruci II 菩提流志. Manual for rituals related to the aforementioned two texts. => (c: Pútíchăng suŏshuō Yīzì dĭng lúnwáng jīng ; j: Bodaijō shosetsu ichiji chō rinnō kyō; e: Sutra of the One Syllable Wheel Turning Ruler Spoken at the Seat of Enlightenment).Có thể được đánh giá xuất hiện vào thế kỷ thứ bảy sau CN. Kinh mô tả những nghi lễ đáp ứng cho lợi lạc thế gian. Một trong những nghi thức nầy là quy trình hoạ pháp các đồ hình(nidāna), liên quan đến Bồ-đề tràng trang nghiêm đà-la-ni kinh (Bodhimaṇḍālamkārasūtra 菩提場莊嚴陀羅尼經). Nghi pháp trong kinh nầy là để cầu nguyện Ngũ Phật đảnh pháp 五佛頂法, ngày nay vẫn còn được thực hành trong phái Thai mật (台密Tendai esotericism ). Có 3 bản dịch tiếng Hán hiện còn lưu hành: 1. Bồ-đề tràng sở thuyết nhất tự đảnh luân vương kinh 菩提場所説一字頂輪王經 ( e: Sutra of the One Syllable WheelTurning Ruler Spoken at the Seat of Enlightenment), 5 quyển (gọi tắt là Bồ-đề tràng sở kinh菩提場所經 e: Seat of Enlightenment Sutra ), ngài Bất Không (Amoghavajra 不空) dịch. Bản luận giải tiếng Nhật của Viên Trân (j: Enchin's 圓珍) nhan đề Bồ-đề tràng kinh lược nghĩa thích (菩提場經略義釋 e: Commentary on the Meanings of the Seat of Enlightenment Sutra). 2. Nhất tự đảnh luân vương kinh 一字頂輪王經 (e: Sutra of the One Syllable Wheel Turning Ruler), 5 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (Bodhiruci 菩提流志) dịch. Bản nầy gần giống với bản dịch của ngài Bất Không (Amoghavajra) . 3. Ngũ Phật đảnh tam muội đà-la-ni kinh 五佛頂三昧陀羅尼經 (e: Sutra of the Samādhi of the Five Buddha Coronas), 4 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (Bodhiruci 菩提流志) dịch. Nghi quỹ liên quan đến hai bản kinh nói trên.
Bồ-đề Tát-đoá
菩提薩埵; S: bodhisattva; P: bodhisatta;|Bồ Tát
Bồ-đề tâm
菩提心; S: bodhicitta; t: byang chub kyi sems; còn được gọi là Giác tâm (覺心);|Tâm hướng về Giác ngộ, một trong những thuật ngữ quan trọng của Ðại thừa. Theo cách định nghĩa của Phật giáo Tây Tạng thì Bồ-đề tâm có hai dạng, tương đối và tuyệt đối. Bồ-đề tâm tương đối lại được chia làm hai cấp bậc: 1. Xuất phát từ lòng từ bi, hành giả quyết tâm giải thoát để cứu độ chúng sinh; 2. Hành giả hành trì thiền định, mục đích đạt được phương tiện thiện xảo, để biến ước mơ thành hành động.|Bồ-đề tâm tuyệt đối chính là sự chứng ngộ được tính Không của mọi hiện tượng. Ðó là một dấu hiệu chứng tỏ rằng, hành giả đã bắt đầu bước vào cấp Kiến đạo (見道; s: darśanamārga) của Ngũ đạo, đã trở thành một Thánh nhân và từ lúc này trở đi, mỗi khi hành giả trực nhận được tính Không thì tâm thức nội tại lúc ấy của họ chính là Bồ-đề tâm tuyệt đối.|Luận sư A-đề-sa là người đã đưa ra nhiều phương cách để tu dưỡng tâm Bồ-đề, có nhiều ảnh hưởng lên truyền thống Phật giáo Tây Tạng.|Khác với quan niệm nói trên, truyền thống Mật tông tại Tây tạng xem Bồ-đề tâm là một sự thật cụ thể. Sự tiếp cận với sự thật này có thể đưa đến một dạng giác ngộ mà toàn thân thể của một hành giả có thể cảm nhận thật sự.
Bồ-đề tâm luận 菩提心論
[ja] ボダイシンロン Bodaishin ron ||| The Putixin lun (T 1665.32.572575); see Jingangding yujia zhong fa anouduoluo sanmiaosanputi xin lun 金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論. => Xem Kim cương đảnh du già trung phát A-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề tâm luận 金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論 Bồ-đề thần chú kinh 菩提神呪經 [ja] ボダイシンジュキョウ Bodai shinju kyō ||| The Puti shenzhou jing (T 1378a.21.901); alternative title of the Xuanshi futuo suoshuo shenzhou jing 幻師颰陀所説神呪經. => (j: Bodai shinju kyō; c: Puti shenzhou jing); tên gọi khác của kinh Huyễn sư bạt đà sở thuyết thần chú kinh (c: Xuanshi futuo suoshuo shenzhou jing 幻師颰陀所説神呪經).
Bồ-đề đà-la-ni kinh 菩提陀羅尼經
[ja] ボダイダラニキョウ Bodai darani kyō ||| The Puti tuoluoni jing; see Bu2tíchăng zhuāngyán tuóluóní jīng 菩提場莊嚴陀羅尼經. => (j: Bodai darani kyō; c: Puti tuoluoni jing); Xem Bồ-đề tràng trang nghiêm đà-la-ni kinh 菩提場莊嚴陀羅尼經.
Bồ-đề đạo thứ đệ luận
菩提道次第論; T: lam-rim;|Tên chung của một số bản luận do những vị Ðại sư của Phật giáo Tây Tạng sáng tác, dựa theo tác phẩm Bồ-đề đạo đăng luận của A-đề-sa. Những bộ luận này nêu rõ từng chi tiết từ lúc nhập môn đến khi đạt Bồ-đề. Ðiểm đặc sắc nhất là khía cạnh nào của Phật pháp cũng được đề cập đến. Tác phẩm cổ nhất thuộc loại này là bộ Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm của Ðạt-bảo Cáp-giải (t: dvags-po lha-rje) và theo gương quyển này, Tông-khách-ba soạn quyển Bồ-đề đạo thứ đệ và Chân ngôn đạo thứ đệ (một bài luận về Mật giáo). Những bộ sách này rất được ưa chuộng vì vậy được biên soạn và phổ biến rộng rãi trong tất cả các tông phái Phật giáo Tây Tạng.|Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm của Ðạt-bảo Cáp-giải (dvags-po lha-rje hoặc gam-popa) tuyên truyền Bồ-đề đạo đăng luận của A-đề-sa và phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) của Mật-lặc Nhật-ba (s: milarepa [milaras-pa]). Sách này được chia thành sáu chương:|1. Thuyết quan trọng trong chương này là thuyết Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha), có nghĩa rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Thuyết này cũng là đối tượng tranh cãi quyết liệt trong Phật giáo nơi đây và cũng vì vậy, trong tác phẩm Bồ-đề đạo thứ đệ, Tông-khách-ba không đả động đến thuyết này nữa;|2. Kiếp người là cơ hội thuận tiện nhất để đắc Bồ-đề thành Phật. Vì vậy chúng sinh không nên bỏ lỡ cơ hội hiếm có này.|3. Ðiều kiện quan trọng nhất để đắc đạo là sự hướng dẫn của một bạn đạo, đây có nghĩa là một vị Ðạo sư (ở Tây tạng là một Lạt-ma).|4. Phương tiện để đạt Phật quả là những lời hướng dẫn của vị Ðạo sư. Sự hướng dẫn này thường bao gồm những bài giảng về nỗi đau Khổ của tất cả chúng sinh trong Luân hồi, luật Nghiệp báo, tác dụng của tâm Từ bi, việc phát triển Bồ-đề tâm, thực hiện sáu hạnh Ba-la-mật-đa (→Lục độ), →Ngũ đạo;|5. Những lời hướng dẫn này đưa hành giả đến những cấp bậc tiếp thu trực giác, đạt Bồ-đề (Ba thân);|6. Hành giả không đạt Bồ-đề cho chính mình. Bồ-đề chỉ trở thành ý nghĩa cao cả khi hành giả xả thân cứu độ tất cả chúng sinh.|Cách trình bày của những bộ luận Bồ-đề đạo thứ đệ khác cũng tương tự như trên. Chỉ có những điểm quan trọng là được sắp xếp khác nhau. Trong Bồ-đề đạo thứ đệ của Tông-khách-ba thì phép tu Chỉ và Quán được chú trọng đặc biệt, trong khi những bộ thuộc dòng Ninh-mã (t: nyingmapa [rnying-ma]) lại để ý đến phương tiện Ðại cứu kính (s: atiyoga; t: dzogchen [rgzogs chen]) hơn.
Bồ-đề đạo trường
菩提道場; S, P: bodhimaṇḍala|Tên gọi của nơi Phật Thích-ca Toạ thiền, đạt Bồ-đề ở Giác Thành (s: bodhgayā). Những chỗ trang nghiêm thờ Phật cũng được gọi là Bồ-đề đạo trường.
Bồ-đề đạo đăng luận
菩提道燈論; S: bodhipathapradīpa;|Trứ tác của Ðại sư A-đề-sa, người truyền Phật pháp sang Tây Tạng. Tác phẩm này là nền tảng của hầu hết các tông phái Phật giáo tại đây. Ðại ý của tác phẩm này là việc chia ra thứ bậc trong việc tu hành Phật pháp do căn cơ của người ta không giống nhau. Người phát đại tâm là Ðại thừa, người chỉ phát tâm xuất li là Tiểu thừa. Vì vậy cùng là Bố thí, trì Giới (s: śīla), Ðịnh (s, p: samādhi), Huệ (s: prajñā) nhưng kết quả lại không giống nhau. Căn cơ kém của con người ta là do tu tập mà thành, không phải do chủng tộc từ vô thuỷ đến nay đã có sẵn, không thể thay đổi được. Ngay cả con đường tu tập cũng phải tuần tự theo các thứ bậc mà tiến lên, không thể bỏ nhảy vượt qua được, nếu không thì không bao giờ đạt phúc đức vô thượng cả.|Bài tụng từ thứ 2 đến thứ 5 mở đầu của bài luận này là làm rõ hành tướng và thứ bậc ba hạng người được gọi là »Tam sĩ hành tướng thứ đệ« (三士行相次第): 1. Người lang thang trong Vòng sinh tử, nhưng không cho là khổ, cho là vui, lấy việc cầu mong tự lợi làm mục đích. Loại người này được gọi là »hạ sĩ«; 2. Người tuy chán ghét luân hồi sinh tử, xa rời tội nghiệp, nhưng vẫn còn tâm tự lợi. Loại người này được gọi là »trung sĩ«; 3. Người đã dứt hết được mọi đau khổ của mình, muốn cứu giúp chúng sinh, nguyện dứt bỏ mọi nỗi đau khổ cho các loài hữu tình. Loại người này được gọi là »thượng sĩ«.|Trong ba hạng người trên chỉ thượng sĩ có thể đảm nhiệm Ðại thừa nhưng thiện nghiệp của hạng phàm phu, bậc nhị thừa cũng không vứt bỏ. Cái sau hơn cái trước, cái trước được thu nhiếp trong cái sau, đó chính là thứ bậc của sự tu hành.|A-đề-sa chia hạnh của Bồ Tát thành hai loại Hiển-Mật: lấy Bát-nhã của Hiển giáo làm nhân, lấy Vô thượng du-già (s: anuttarayogatantra) làm quả. Giữa khoảng nhân quả thì lấy việc phát Bồ-đề tâm (s, p: bodhicitta) để kết nối quán thông. Thứ bậc trong khoảng đó thì trước hết là Hiển-Mật cùng tu hành, lấy Ba quy y, Ba môn học làm cơ sở. Từ giới đạt định, từ định phát sinh huệ rồi sản sinh những hạnh lợi tha. Sau đó cùng vận dụng cả trí huệ và phương tiện. Ðó chính là phát tâm đại dũng, thực hiện chính hạnh Bồ Tát. Do vận dụng đủ cả bi và trí để tích tập phúc đức trí huệ, sau đó lại tu hành riêng theo Mật thừa, Bồ Tát nhanh chóng chứng đắc Vô thượng bồ-đề.|Tam quy đây tức là yếu chỉ giải thoát, là chổ sở y để phát tâm Bồ-đề. Bồ Tát phải cúng dường tài vật cho Tam bảo. Ðến khi thành Phật thì vẫn phải lấy tâm bất thoái chuyển bảy lần cúng dường nữa, rồi lại lấy cái tâm kiên quyết dứt khoát ấy ba lần dâng Tam bảo nữa thì mới được gọi là thànhk tựu quy y. Lấy Tam quy đó làm căn bản, nẩy nở tâm đại bi (s: mahākaruṇā) với tất cả các loài Hữu tình, quán sát suy nghĩ vì sao các loài chúng sinh đang trôi lăn trong trong vòng sinh tử. Sau khi hiểu rõ thì lại thi hành phương tiện cứu vớt họ và nẩy nở tâm Bồ-đề không lay chuyển (無倒; vô đảo). Tam học đây chính là »Tam tăng thượng học« (三增上學) được giới thiệu như sau:|1. Tăng thượng giới học (增上戒學): Luật nghi của bảy hàng Thanh văn nên thực hành song song với Bồ Tát giới, tuân thủ theo nghi quỹ trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra) của Vô Trước và Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuccaya) của Tịch Thiên (s: śāntideva);|2. Tăng thượng định học (增上定學): Do giới mà sinh định, định được sản sinh thì có rất nhiều phần, tuân theo chín phần của Giác Hiền (s: bud-dhabhadra), tức là: 1. Lìa ma nghiệp; 2. Lấy việc nghe pháp để hướng dẫn; 3. Vứt bỏ lí luận; 4. Không tham nói rộng; 5. Dựa vào tướng mà tác ý; 6. Niệm định phúc đức; 7. Chăm chỉ đối trị; 8. Hoà hội chỉ quán, 9. Hiểu rõ ở, ăn chỉ là phương tiện. Sau khi đầy đủ chín điều kiện này rồi dùng Phương tiện thiện xảo (善巧方便; s: upāyakauśalya) như thế nào để thật tế tu định thì phải có thầy đích thân truyền cho, vì đó không phải là điều văn tự trình bày được hết;|3. Tăng thượng huệ học (增上慧學): Ðịnh (s: samādhi) là một loại công phu của Chỉ (s: śamatha) nhưng tu chỉ vẫn chưa đủ để cắt đứt các chướng ngại như nghiệp, hoặc,… Vì vậy phải thêm công phu Quán (s: vipaśyanā).|Ðó chính là Huệ học mà Bát-nhã và Du-già đã nói nhưng chỉ có trí huệ không thôi thì chưa đạt được cứu kính, phải có thêm phương tiện mới thành tựu được. Trong đây, A-đề-sa dựa vào kiến giải của Giác Hiền (không phải Giác Hiền qua Trung Quốc dịch kinh), chia sáu Ba-la-mật thành hai loại: 1. Gồm: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định là thuộc phương tiện; 2. Bát-nhã là thuộc trí huệ. Lấy phương tiện giúp tăng thượng để tu trí huệ, chứng đắc Bồ-đề, tức là không còn chướng ngại.|Ðây mới chỉ là nói về phương pháp tu hành chung cho Hiển và Mật giáo. Từ Hiển vào Mật giáo thì không cần phải phát tâm nào khác, chỉ cần tuân theo tất cả nghi quỹ chung mà bắt đầu tu tập theo những Tan-tra. Còn như Mật pháp tu hành cụ thể như thế nào phải đích thân Ðạo sư truyền giảng cho, vì đây là điều không mô tả bằng văn tự được.|(Theo Thánh Nghiêm).
Bồ-đề Đạt-ma
菩提達磨; S: bodhidharma; dịch nghĩa là Ðạo Pháp (道法); ~ 470-543.|Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của dòng Thiền Ấn Ðộ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Bồ-đề Ðạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27, Bát-nhã Ða-la (s: prajñādhāra) và là thầy của Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sự tích truyền pháp của Bát-nhã Ða-la cho Bồ Ðề Ðạt-ma được truyền lại như sau:||H 20: Bồ-đề Ðạt-ma|Tổ hỏi: »Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?« Bồ-đề Ðạt-ma đáp: »Vô sinh vô sắc.« Tổ hỏi tiếp: »Trong mọi thứ cái gì vĩ đại nhất?« Bồ-Ðề Đạt-ma đáp: »Phật pháp vĩ đại nhất«.|Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề Ðạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Ðế không thành, Bồ-đề Ðạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề Ðạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói và cũng tại đây, Huệ Khả, Nhị tổ thiền Trung Quốc đã gặp Bồ-đề Ðạt-ma, để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của mình.|Tư liệu về cuộc đời của Bồ-đề Ðạt-ma là một vương tử Nam Ấn Ðộ không rõ ràng. Có truyền thuyết cho rằng, sư phụ của Bồ-đề Ðạt-ma là Bát-nhã Ða-la từng dặn Sư hãy đợi 60 năm sau khi mình chết mới được đi Trung Quốc. Như thế Bồ-đề Ðạt-ma phải cao tuổi lắm lúc đến Trung Quốc. Theo tài liệu khác thì Bồ-đề Ðạt-ma đến Trung Quốc lúc 60 tuổi. Cả hai thuyết này không phù hợp với cuộc đời Sư, từ 470-543, là ngày tháng được phần lớn nguồn tài liệu công nhận. Sau khi đến, Sư nhận lời mời của Vũ Ðế đi Nam Kinh. Trong Bích nham lục, Công án đầu tiên kể lại cuộc gặp giữa Bồ-đề Ðạt-ma và Vũ Ðế. Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Ðế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, tháp. Vũ Ðế hỏi nhà sư từ Ấn Ðộ, nhà vua đã tạo nên phúc đức gì cho kiếp sau, Bồ-đề Ðạt-ma đáp ngắn gọn »Không có phúc đức gì cả.« Hỏi về »Ý nghĩa cao nhất của Phật pháp«, Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Trống rỗng, không có gì là cao cả.« Cuối cùng Vũ Ðế hỏi »Ai đứng trước mặt ta đây?« Bồ-đề Ðạt-ma đáp »không biết.« Ðó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Ðế không lĩnh hội.|Cuộc gặp với Lương Vũ Ðế cho Bồ-đề Ðạt-ma thấy rõ là chưa đến thời truyền pháp tại Trung Quốc. Sau đó – theo truyền thuyết – Sư vượt sông Dương Tử bằng một chiếc thuyền con (chiếc thuyền về sau trở thành một đề tài của hội hoạ thiền), đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. Người ta không biết rõ Sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề Ðạt-ma về lại Ấn Ðộ sau chín năm lưu lại Trung Quốc. |Trước khi về, Sư gọi đệ tử trình bày sở đắc. Người đầu tiên cho rằng, không nên dựa vào văn tự cũng không nên bài bác, nên xem nó là phương tiện trên con đường đạo. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần da của ta.« Người kế là một vị ni sư cho rằng, chân như được ví như quốc độ các vị Phật, chỉ thấy một lần rồi thôi. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần thịt của ta.« Vị đệ tử kế tiếp cho rằng, Tứ đại chủng chỉ là Không và Ngũ uẩn không có thật. Thật tế không có gì để chứng cả. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần xương của ta.« Cuối cùng tới phiên Huệ Khả. Huệ Khả không nói gì, chỉ nghiêng mình im lặng. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần tuỷ của ta.«|Theo một thuyết khác thì Bồ-đề Ðạt-ma sống đến 150 tuổi, cuối cùng bị đầu độc và được chôn ở Hồ Nam. Sau đó một vị tăng đi hành hương ở Ấn Ðộ về gặp Bồ-đề Ðạt-ma trên núi Hùng Nhĩ. Bồ-đề Ðạt-ma, tay cầm một chiếc dép, cho biết mình trên đường về Ấn Ðộ và Trung Quốc sẽ tiếp nối dòng Thiền của mình. Về tới Trung Quốc vị tăng này vội báo cho đệ tử, đệ tử mở áo quan ra thì không thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép. Vì tích này, tranh tượng của Bồ-đề Ðạt-ma hay được vẽ vai vác gậy mang một chiếc dép.|Bồ-đề Ðạt-ma truyền phép thiền định mang truyền thống Ðại thừa Ấn Ðộ, đặc biệt Sư chú trọng đến bộ kinh Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra). Tuy nhiên, Thiền tông Trung Quốc chỉ thành hình thật sự với Huệ Năng, Tổ thứ sáu, kết hợp giữa thiền (s: dhyāna) Ấn Ðộ và truyền thống đạo Lão, được xem là một trường phái đặc biệt »nằm ngoài giáo pháp nguyên thuỷ«. Thiền tông Trung Quốc phát triển rực rỡ kể từ đời Ðường.|Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Bồ-đề Ðạt-ma có thể từng đến Việt Nam (Giao Châu) cuối đời nhà Tống (420-447) cùng với một vị sư Ấn Ðộ tên là Pháp Thiên (s: dharmadeva).
Bồ-đề Đạt-ma 菩提達磨
[ja] ボダイタツマ bodaidachima ||| Bodhidharma (d. 536?) the putative founder of the Chan school 禪宗in China. He is said to have come from India to teach the direct transmission from mind to mind, not relying on scriptural sources 不立文字. The Chan school records him as having passed his enlightenment down to a succession of disciples, who are called the patriarchs of the Chan school. => J: bodaidachima; s: Bodhidharma (d. 536?). Được xem là vị sáng lập Thiền tông Trung Hoa. Ngài từ Ấn Độ sang dạy pháp thiền trực chỉ truyền tâm ấn, không hạn cuộc nơi văn tự (bất lập văn tự 不立文字). Các ngữ lục của Thiền tông ghi lại Ngài đã ấn chứng giác ngộ cho đệ tử nối pháp, sau nầy được gọi là Tổ sư thiền.
bồi bổ
To enrich.
bồi dưỡng
To bring up.
bồi hồi
Anxious—Worried—Uneasy.
bồi lô
(陪臚) I. Bồi lư, Phạm: Bhairava. Cũng gọi Bồi ra phạ, Bồi la phược. Dịch ý: đáng sợ, bi thảm. Một trong những hình của trời Tự tại, một trong những tên của thần Kim cương. Là hóa thân của thần Thấp bà trong Bà la môn giáo, hoặc là con của thần này. Bồi lư được đặt ở góc đông nam của viện Bộ ngoài trong hội Hàng tam thế trên mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo (nhưng ở Tây tạng thì gọi là Bồi ra phạ nữ). Hình tượng Bồi lư là một thân chín mặt, ở trần, mầu đen, hiện thân phẫn nộ, 34 cánh tay, 16 chân. Chủng tử là (hùô), hình tam muội da là chày Kim cương. Vị tôn này mang đậm sắc thái Bà la môn giáo, chỉ có Mật giáo Nhật bản đặc biệt tôn sùng. [X. Phật thuyết diệu cát tường du già đại giáo kim cương bồi ra phạ luân quán tưởng thành tựu nghi quĩ Mạn noa la phần; Quán tưởng phần]. II. Bồi lư. Tên một loại nhạc múa. Cũng gọi Bội lư, Bồi lư phá trận nhạc. Xưa nay Bồi lư cùng Hoàng đế, Tần vương, Vũ xương và Tán thủ v.v... là tên của năm khúc nhạc phá trận. Là nhạc cổ thuộc loại nhạc võ, được hát múa để cầu chúc khi ra trận. Loại nhạc này bắt nguồn ở Ấn độ.
bồi sấn
(陪嚫) Người có nhiều công khó nhọc thì chia thêm vật cúng thí gấp đôi. Bồi.. nghĩa là gấp đôi, dùng như chữ bội.... Sấn là vật do tín đồ bố thí cúng dường. Bị dụng thanh qui quyển 4 Tiên điểm tây đường đầu thủ tân mệnh điều (Vạn tục 112, 44 hạ), nói: Người chuyên trách đến trước vị tân trụ trì trình bày về các vật thí của vị trụ trì cũ, xong rồi lễ tạ, sau đó đem chia các vật thí đã được ấn định và công bố tên của người được chia thêm gấp đôi (bồi sấn).
bồi thiếp
(陪貼) Trong Thiền viện, ngoài những thứ cúng dường chính như cơm gạo, thuốc thang ra, những vật cúng dường phụ thêm như rau, đậu v.v…... được gọi là Bồi thiếp. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 Thiên hóa (Đại 48, 1128 thượng), nói: Người chủ tang phải cùng vị Thủ tọa tính xem y bát để lại nhiều hay ít, rồi thầm chia làm ba phần: một phần dành cho chi phí chôn cất, (...) một phần cúng dường phụ thêm (bồi thiếp) vào thường trụ, một phần biếu đại chúng để chi dùng cho việc tụng kinh và các Phật sự như bảng, trướng v.v..
bồi thường
To compensate—To make up for.
bồi thẩm
Juror.
bồi thực
(陪食) Trong Thiền tông, vào ngày kị Sơ tổ Đạt ma, vị trụ trì không đến nhà Tăng ăn cháo, mà ăn ở Pháp đường để tiếp đãi Tổ sư, gọi là Bồi thực. Ngoài ra, tiếp đãi khách ăn, cũng gọi Bồi thực. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 Đạt ma kị (Đại 48, 1118 thượng), nói: Sáng sớm ngày thứ hai, vị trụ trì dâng hương lễ bái, dâng nước dâng cháo, rồi xuống tòa ngồi một bên tiếp đãi Tổ sư.
bồi đường
(陪堂) I. Bồi đường. Trong Thiền viện, căn nhà ở ngoài Tăng đường, nơi sắp cơm cho khách tăng ăn, gọi là Bồi đường. [X.Thiền lâm tượng khí tiên đệ cửu loại Tùng quĩ môn]. II. Bồi đường. Trong nghi quĩ luật chế, giới sư đầu đơn là khai đường, giới sư nhị đơn là Bồi đường. Bồi đường là người phụ giúp vị khai đường dạy bảo phép tắc thụ giới cho các giới tử.
Bồn 盆
[ja] ボン bon ||| Abbreviation of 盂蘭盆. => Viết tắt của Vu-lan-bồn盂蘭盆.
Bồng lai
(蓬萊): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ Bồng Lai Sơn (蓬萊山), tên ngọn núi thần trong truyền thuyết cổ đại, cũng thường chỉ chung cho cảnh tiên. Như trong Sử Ký (史記), thiên Phong Thiền Thư (封禪書), có ghi lại rằng: “Tự Uy, Tuyên, Yến Chiêu sử nhân nhập hải cầu Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, thử tam thần sơn giả, kỳ phó tại Bột Hải trung (自威、宣、燕昭使人入海求蓬萊、方丈、瀛洲、此三神山者、其傅在勃海中, từ thời vua Uy [Tề Uy Vương, 378-320 ttl.], Tuyên [Tề Tuyên Vương, 350-301 ttl.], Yến Chiêu [tức Tương Vương, ?-279] đã cho người vào biển tìm Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu; ba ngọn núi thần này, gắn liền nhau ở trong Bột Hải).” Hay trong tác phẩm Vô Xuân Ký (春蕪記), phần Thuyết Kiếm (說劍), của Vương Lăng (王錂, ?-?) nhà Minh có câu: “Tha bổn Bồng Lai tiên chủng, ngẫu nhiên ký tích nhân gian (他本蓬萊仙種、偶然寄跡人間, người ấy vốn hạt giống tiên ở chốn Bồng Lai, ngẫu nhiên lưu dấu chốn nhân gian).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ Chú (華嚴經疏注, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 7, No. 234) cũng khẳng định rằng: “Tiên nhân sơn giả, tương truyền thị Đông Hải Bồng Lai Sơn (仙人山者、相傳是東海蓬萊山, núi tiên nhân tương truyền là Bồng Lai Sơn ở biển Đông).” (2) Trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Đậu Chương (竇章傳), có đoạn rằng: “Thị thời học giả xưng Đông Quán vi Lão Thị tàng thất, Đạo gia Bồng Lai Sơn (是時學者稱東觀爲老氏臧室、道家蓬萊山, học giả lúc bấy giờ gọi Đông Quán là nhà tàng ẩn của Lão Tử, là Bồng Lai Sơn của Đạo gia).” Cho nên, sau này người ta dùng từ bồng lai để chỉ cho nhà bí mật. Như trong bài Đăng Bí Thư Tỉnh Các Thi Tự (登秘書省閣詩序) của Dương Quýnh (楊炯, 650-692) nhà Đường có câu: “Chu vương quần ngọc chi sơn, Hán đế bồng lai chi thất (周王群玉之山、漢帝蓬萊之室, núi đủ thứ ngọc của Chu vương, nhà bí mật của Hán đế).” (3) Chỉ cho Bồng Lai Cung. Như trong bài thơ Túc Tích (宿昔) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Túc tích thanh môn lí, Bồng Lai trượng sổ di (宿昔青門裏、蓬萊仗數移, xưa kia cổng xanh biếc, Bồng Lai muôn trượng xa).”
bồng lai
P'eng-lai (C).
Bồng 蓬
[ja] ホウ hō ||| (1) Mugwort or raspberry found growing sporadically among hemp. (2) Overgrown, tangled, disheveled, confused. => 1. Cỏ bồng (cây mâm xôi ) mọc lác đác trong đám cây gai dầu. 2. Mọc tràn ra; rối, lộn xộn; làm rối bời, bối rối.
bổ
1) Bắt giữ: To arrest—To catch. 2) Vá, sửa, phục hồi lại—To patch—To repair—To restore.
bổ ca la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
bổ già la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
bổ khuyết
To complete—To complement.
bổ la phược
Purva (skt)—See Bổ La Phược Vĩ Nễ Hạ.
bổ la phược vĩ nễ hạ
Purva-videha (skt)—Đông Thắng Thần Châu—The eastern continent—See Tứ Châu (4).
bổ la phạ tịnh xá
Xem Đông viên tự.
bổ lư sa
Purusa (skt)—Còn gọi là Bô Sa, Bố Lộ Sa, Bổ Lũ Sa, Phú Lâu Sa, Phú Lũ Sa, Phù Lưu Sa, nghĩa là trượng phu hay người—Man personified—Man collectively or individually—The soul of the universe.
bổ lặt nã
Purna (skt)—See Phú Lâu Na.
bổ nhiệm
Appointment.
bổ sa
Pusya (skt)—Sao quỷ, một trong 28 ngôi sao—One of the twenty-eight stars—The demonous asterism.
bổ sa phật
Xem Để Sa Phật.
bổ sắt trí
Paustika (skt)—Còn gọi là Báo Sắt Trí Ca, hay Bổ Sắt Ca, có nghĩa là tăng ích pháp—Promoting advancement, invigorating, protective.
bổ thử
(捕鼠) Lùng đuổi chuột. Đức Phật dùng chim và chuột để ví dụ gọi những ông tăng phá giới, cho nên Bộ thử hàm ý là ông tăng phá hủy giới cấm. [X. kinh Phật tạng Q.thượng; Thích môn qui kính nghi Q.thượng]. (xt. Điểu Thử Tăng).
bổ tâm
To fortify the heart.
bổ xứ
1) Người sửa chữa và chiếm cứ nơi trống trải: One who repairs, or occupies a vacated place. 2) Sau khi vị Phật trước đã nhập diệt, vị sau thành Phật mà bổ sung vào đó, thì gọi là bổ xứ, như Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật ra đời tiếp nối Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: A Buddha who succeeds a Buddha, as Maitreya is to succeed Sakyamuni.
bổ yết
Bukhara (skt)—Vị trí mà bây giờ gọi là Bokhara—The present Bokhara.
bổ yết sa
Paulkasa, Pukkasa, or Pulkasa (skt)—Còn gọi là Bốc Yết Sa. 1) Tên một giống người hạ tiện ở Ấn Độ ngày xưa, cha thuộc giai cấp thủ đà la, mẹ thuộc giai cấp sát đế lợi: An aboriginal, or the son of a “sudra” father and of a “kshatriya” mother, interpreted as low caste, scavenger. 2) Còn ám chỉ những người không tin luật nhơn quả của nhà Phật: Also an unbeliever in the Buddhist doctrine of law of retribution.
bổ đà
Potala (skt)—Tên của một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc—Name of a famous mountain in China.
bổ đà lạc ca
Potalaca (S). Heavenly Palace of Avalokiresvara. Also Quan âm tịnh độ, Quang minh sơn.
; Potala, or Potalaka (skt). 1) Tên một hải cảng thời cổ thuộc cửa sông Ấn Hà, có người gọi là Thattha, người ta nói rằng đây là quê hương của tổ tiên Phật Thích Ca: An ancient sea-port on the Indus, identified by some with Thattha, said to be th ancient home of sakyamuni ancestors. 2) Quang Minh Sơn nằm về phía đông nam của Malakuta, ở đó có vị Bồ Tát tên là Quán Thế Âm: A mountain south-east of Malakuta, reputed as the home of Avalokitesvara Bodhisattva. 3) Hải Đảo Sơn, nằm về phía đông Ningpo, trung tâm của Ngài Quán Âm: The island of Pootoo, east of Ningpo, the Kuan-Yin centre. 4) La Sa Phổ Đà ở Tây Tạng, nơi trú ngụ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tái sanh của Ngài Quán Âm Bồ Tát—The Lhasa Potala in Tibet, the seat of the Dalai Lama, an incarnation of Avalokitesvara Bodhisattva.
bổ đà lạc hải hội quỹ
(補陀落海會軌) Nghi quĩ, 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. Gọi đủ là: Nhiếp vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh kế nhất pháp trung xuất vô lượng nghĩa nam phương mãn nguyện bổ đà lạc hải hội ngũ bộ chư tôn đẳng hoằng thệ lực phương vị cập uy nghi hình sắc chấp trì tam ma da tiêu xí mạn đồ la nghi quĩ. Cũng gọi Bổ đà lạc hải hội chư tôn trụ lược xuất uy nghi hình sắc nghi quĩ, Bổ đà lạc hải hội chư tôn trụ lược xuất uy nghi hình sắc, Nhiếp vô ngại kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Sách này trình bày uy nghi hình sắc của các vị tôn thuộc năm bộ Kim cương giới và bồ tát Quan thế âm nghìn tay nghìn mắt cùng các vị tôn trong Đại mạn đồ la. [X. Tự tại kim cương tập Q.4; Bí tạng sao Q.6].
bổ đà lạc sơn
(補陀洛山) Núi Bổ đà lạc. Phạm: Potalaka hoặc Potala, Potaraka. Dịch ý: cây hoa nhỏ, hoa trắng nhỏ, cây nhỏ xum xuê đẹp đẽ, hòn đảo ngoài biển, ánh sáng. Cũng gọi Bố đát lạc ca sơn, Bảo đà lạc ca sơn, Bô đa la sơn, Bảo đà la sơn. Núi nằm ở bờ biển nam Ấn độ, tương truyền là chỗ ở của bồ tát Quán thế âm, tức là ở phía đông núi Mạt lạt da (Phạm:Malaya) thuộc nước Mạt la củ tra ở nam Ấn độ, trong đó có Thạch thiên cung (cung trời bằng đá) nơi bồ tát Quan thế âm thường qua lại. Cứ theo kinh Hoa nghiêm (dịch mới) quyển 68 chép, thì núi này được tạo thành bằng các thứ quí báu, rất là thanh tịnh, đầy dẫy hoa quả cây rừng, ao hồ khe suối. Đại đường tây vực kí quyển 10 nam Ấn độ Mạt la củ tra quốc điều cũng ghi: trên đỉnh núi có ao, nước ao trong suốt, chảy ra sông lớn, dòng chảy quanh núi rồi đổ vào biển Nam. Bên cạnh ao có cung trời bằng đá, là nơi bồ tát Quán tự tại thường lui tới, ai muốn được thấy Bồ tát, phải phát tâm nguyện lớn, trèo non vượt suối, quên cả hiểm nguy, thì Bố Trịch Minh Vương mới đến được, bởi thế, rất ít người đến được đây. Vì núi Bổ đà lạc là linh địa do bồ tát Quan thế âm cư trú, nên rất nhiều nơi lấy Bổ đà lạc để đặt tên, như núi Phổ đà ở tỉnh Triết giang Trung quốc, chùa Bổ đà lạc ở núi Na trí Nhật bản v.v... [X. kinh Quan thế âm bồ tát vãng sinh tịnh độ bản duyên; Hoa nghiêm kinh sớ Q.57; Tuệ lâm âm nghĩa Q.40; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Quan thế âm bồ tát chi nghiên cứu]. (xt. Phổ Đà Sơn).
bổ đặc ca la
Pudgala (S). Individual, person, self, soul. Also bản ngã.
bổ đặc già la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
; (補特伽羅) Phạm: pudgala. I. Bổ đặc già la. Cũng gọi Phú đặc già la, Phất già la, Phúc già la. Dịch là người, chúng sinh, sổ thủ thú, chúng số giả. Chỉ cho chủ thể của sự luân hồi tái sinh. Sổ thủ thú. hàm ý là nhiều lần đi lại vòng quanh trong năm đường. Một trong 16 tri kiến của ngoại đạo. Tức là tên khác của ngã, hoặc chỉ riêng cho người. Phật giáo chủ trương thuyết Vô ngã nên không thừa nhận Bổ đặc già la chân thực (Bổ đặc già la thắng nghĩa) là chủ thể của sự sống chết, nhưng vì phương tiện giải nói nên tạm gọi người là Bổ đặc già la (Bổ đặc già la thế tục). Tuy nhiên, trong các bộ phái Phật giáo, thì Độc tử bộ, Chính lượng bộ và Kinh lượng bộ lại thừa nhận Bổ đặc già la là có thực. Lại có phái cho Bổ đặc già la đồng nghĩa với người, như luận Pháp uẩn túc quyển 2 gọi quả vị tu hành Tứ song bát bối (bốn đôi tám bậc) là Tứ song bát chích bổ đặc già la. [X. kinh Đại bát nhã Q.409; kinh Đại nhật Q.1 phẩm Trụ tâm; luận Đại trí độ Q.35; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13; luận Du già sư địa Q.83; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. II. Bổ đặc già la. Kì na giáo giải nghĩa Bổ đặc già la là vật chất, gồm đủ sắc, hương, vị, xúc, nhưng không có ý thức. Vật chất này được chia làm hai loại: một loại là các nguyên tử đất, nước, lửa, gió vĩnh viễn không thể phân chia; loại kia là thể phức tạp do các nguyên tử cấu thành.
Bổn A Di Quang Duyệt
(本阿彌光悅, Honami Kōetsu, 1556-1637): nhà thư pháp, nghệ thuật và là nhà làm đồ gốm danh tiếng, sống dưới thời đại Giang Hộ, xuất thân Kyoto, rất sở trường trong việc giám định về đao kiếm; được xem như là Tổ của Dòng Quang Duyệt (光悅流). Ông có theo học Thư Đạo với Tôn Triều Pháp Thân Vương (尊朝法親王). Ông là một trong 3 cây bút tài tình, gồm Tùng Hoa Đường Chiêu Thừa (松華堂昭乘, Shūkadō Shōjō), Cận Vệ Tam Miệu Viện (近衛三藐院, Konoe Sammyakuin, tức Cận Vệ Tín Duẫn [近衛信尹, Konoe Nobutada]) và ông. Bên cạnh đó, ông còn rất giỏi về làm nghề gốm sứ, cũng như điêu luyện về Trà Đạo.
bổn giác
Original bodhi.
Bổn Giác Tự
(本覺寺, Hongaku-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiệu là Thường Tại Sơn (常在山), hiện tọa lạc tại Mishima-shi (三島市), Shizuoka-ken (靜岡縣). Tương truyền rằng ngôi chùa này do Nhất Thừa Phòng Nhật Xuất (一乘房日出) khai sáng vào năm 1424 (Ứng Vĩnh [應永] 31). Ông vốn là vị Tăng của Thiên Thai Tông, sau được Nhật Học (日學) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺) tại Thân Diên Sơn (身延山) giáo hóa, nên ông cải hóa theo Nhật Liên Tông, rồi đến bố giáo ở các vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai), Y Đậu (伊豆, Izu).
Bổn Hưng Tự
(本興寺, Honkō-ji): một trong những ngôi chùa Đại Bản Sơn của Dòng Bổn Môn (本門流) thuộc Pháp Hoa Tông; hiện tọa lạc tại số 3-13 Kaimei-chō (開明町), Amagazaki-shi (尼崎市), Hyōgo-ken (兵庫縣); hiệu là Tinh Tấn Viện (精進院). Năm 1420 (Ứng Vĩnh [應永] 27), nhờ lãnh chúa Tế Xuyên Mãn Nguyên (細川滿元, Hosokawa Mitsumoto) quy y theo, Nhật Long (日隆) mới sáng lập ra chùa này và trở thành Tổ khai sơn. Ban đầu, Nhật Long trú tại Bổn Năng Tự (本能寺) ở kinh đô Kyoto, tuyên xướng học thuyết của Phái Bát Phẩm (八品派) và tách riêng ra khỏi chùa này. Bổn Hưng Tự vốn là ngôi chùa dành cho nghiên cứu học tập, nên rất nổi tiếng. Vị trú trì đời thứ 8 của chùa là Nhật Thừa (日承), chính là con nuôi của Phục Kiến Cung Gia (伏見宮家); nên các vị trú trì về sau cũng trở thành con nuôi của dòng họ này. Vào năm 1620 (Nguyên Hòa [元和] 6), do vì dòng họ Hộ Điền (戸田) xây dựng thành quách, nên chùa được di chuyển về vị trí hiện tại. Chùa hiện có một số kiến trúc như Chánh Điện, Tổ Sư Đường, Khai Sơn Đường, Tam Quang Đuờng (三光堂), Trai Điện, v.v. Bảo vật của chùa có tượng Nhật Long (tạc năm 1454), Thái Đao do nghệ nhân Thanh Giang Hằng Thứ (青江恆次) chế tác, 3 bức Đại Mạn Trà La do chính thủ bút của Nhật Liên vẽ, v.v.
Bổn Mãn Tự
(本滿寺, Honman-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, là một trong 21 ngôi Đại Bản Sơn ở kinh đô Kyoto, hiệu là Quảng Tuyên Lưu Bố Sơn (廣宣流布山), hiện tọa lạc tại Tsuruyama-chō (鶴山町), Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市). Ngọc Động Diệu Viện Nhật Tú (玉洞妙院日秀) là người khai sáng ra chùa này. Sau này nhóm Nhật Trùng (日重), Nhật Càn (日乾), Nhật Viễn (日遠) là những nhà lãnh đạo trong việc phát triển về giáo học cũng như giáo đoàn, và nơi đây là cứ điểm của Phái Thọ Nhận, đối lập với Phái Không Thọ Nhận.
Bổn Môn Tự
(本門寺, Honmon-ji): một trong những ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Chánh Tông, hiện tọa lạc tại số 4965 Kitayama (北山), Fujinomiya-shi (富士宮市), Shizuoka-ken (靜岡縣); còn gọi là Bắc Sơn Bổn Môn Tự (北山本門寺), Trọng Tu Bổn Môn Tự (重須本門寺); hiệu núi là Phú Sĩ Sơn (富士山). Đây là ngôi chùa do Nhật Hưng (日興), một trong 6 đệ tử chân truyền của Nhật Liên, sáng lập vào năm 1298. Đầu tiên Nhật Hưng giữ chức Biệt Đương của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở Thân Diên (身延, Minobu); sau theo di mệnh của Nhật Liên, ông đến sáng lập Đại Thạch Tự (大石寺, Taiseki-ji), rồi 2 năm sau thì chuyển đến vùng Trọng Tu (重須, Omosu). Tại đây, Nguyên Năng Trung (源能忠) quy y theo ông, dựng lên một ngôi chùa tại tư dinh của ông; đó là gốc tích của Bổn Môn Tự. Năm 1899, chùa này tách riêng hẳn với Môn Phái Hưng (興門派) và tự xưng là Bổn Môn Tông (本門宗). Bảo vật của chùa có bộ Trinh Quán Chính Yếu (貞觀政要) 2 quyển do tự tay Nhật Liên viết, bản Kinh Pháp Hoa được viết dưới thời Bình An, cả hai đều thuộc loại di sản văn hóa trọng yếu của quốc gia. Ngoài ra, còn khá nhiều bảo vật khác nữa.
bổn nguyện lực
Primal vow power.
Bổn Nguyện Tự
(本願寺, Hongan-ji): ngôi chùa trung tâm chính của Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, tọa lạc tại vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani), thuộc kinh đô Kyoto. Ban đầu nó là miếu đường, nơi cải táng di cốt của Thân Loan và an trí hình ảnh của ông, sau đó thì cháu Thân Loan là Giác Như (覺如, Kakunyo) đã cải thành chùa. Chính Giác Như gọi Thân Loan là Thánh Nhân của Bổn Nguyện Tự, tông tổ của Tịnh Độ Chơn Tông; Như Tín (如信, Nyoshin) là vị tổ thứ 2 và Giác Như là tổ thứ 3 của chùa, cho nên ông đã tận lực thành lập nên giáo đoàn Bổn Nguyện Tự. Sau đó, chùa này có lần bị suy vi và bị đồ chúng của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) phá hoại. Thế nhưng đến thế kỷ thứ 8 thì chùa lại được Liên Như (蓮如, Rennyo) xây dựng lại vào năm 1480 ở địa phương Sơn Khoa (山科, Yamashina), và hình thành nên quần thể Tự Nội Đình với trung tâm là Ngự Ảnh Đường và A Di Đà Đường; từ đó, vận chùa trở nên đột nhiên hưng thạnh. Đến thời Chứng Như (証如, Shōnyo) đời thứ 10, chùa này lại bị cháy tan tành, và sau đó thì được dời về gần Thành Osaka. Đến thời Hiển Như (顯如, Gennyo) đời thứ 11, ông gây chiến với Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), nên đã lui về ẩn cư ở vùng Lộ Sum (鷺森, Saginomori, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]). Sau khi Chức Điền Tín Trưởng qua đời, vào năm 1591, được sự giúp đỡ của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), chùa được dời về vùng đất Tây Thất Điều (西七條) ở Kyōto. Sau khi Hiển Như qua đời, con trai đầu của ông là Giáo Như (敎如, Kyōnyo) nhường dòng kế pháp cho em mình là Chuẩn Như (準如, Junnyo). Đến năm 1602, nhờ Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) dâng cúng cho miếng đất ở vùng Đông Lục Điều (東六條), nên Giáo Như mới cung đón linh ảnh của Thân Loan từ Diệu An Tự (妙安寺, Myōan-ji) ở vùng Cứu Kiều (厩橋, Umayabashi), Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]) về và lập riêng ngôi chùa nơi đây. Từ đó về sau, phái Chuẩn Như được gọi là Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji), còn phái Giáo Như là Đông Bổn Nguyện Tự (東本願寺, Higashihongan-ji), và cứ như vậy duy trì mãi cho đến ngày nay.
Bổn Năng Tự
(本能寺, Honnō-ji): một trong 4 ngôi chùa trung tâm của Dòng Bổn Môn (本門流) thuộc Pháp Hoa Tông; hiện tọa lạc tại Teramachidōri (寺町通), Chūkyō-ku (中京區), Kyoto-shi (京都市); hiệu là Mão Mộc Sơn (卯木山). Tượng thờ chính là bức đồ hình Mạn Trà La Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (南無妙法蓮華經). Đây là ngôi chùa rất nổi tiếng mà ai ai cũng biết đến như là nơi cuối đời của Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) dưới thời đại Chiến Quốc. Tên cũ của chùa là Bổn Ứng Tự (本應寺). Chùa được Nhật Long Thượng Nhân (日隆上人) sáng lập vào năm 1415 (Ứng Vĩnh [應永] 22), nhưng không bao lâu sau đó thì bị phá tan tành do cuộc tranh giành trong cùng môn phái. Đến năm 1433 (Vĩnh Hưởng [永享] 5), chùa được Như Ý Vương Hoàn (如意王丸) tái kiến lại, và đổi tên chùa như hiện tại. Vào năm 1535 (Đại Vĩnh [大永] 5), chùa lại bị đồ chúng Sơn Môn đốt cháy lần nữa. Quần thể kiến trúc đương thời khi xảy ra Vụ Biến Động Bổn Năng Tự là kiến trúc vô cùng to lớn do Nhật Thừa (日承), vị Tổ đời thứ 8 của chùa, di dời đến vào năm 1545 (Thiên Văn [天文] 14). Thế nhưng vào ngày mồng 2 tháng 6 năm 1582 (Thiên Chánh [天正] 10), Chức Điền Tín Trưởng bị Minh Trí Quang Tú (明智光秀, Akechi Mitsuhide) tấn công bất ngờ và đốt cháy toàn bộ kiến trúc chùa. Địa vức hiện tại của chùa là vị trí được di chuyển đến vào năm 1591 (Thiên Chánh 17), được dòng họ Đức Xuyên hộ trì đắc lực, nhưng cũng đã mấy lần bị hỏa tai. Bổn Năng Tự hiện tại là kiến trúc được xây dựng vào năm 1928 (Chiêu Hòa [昭和] 3), có tháp cúng dường cho Chức Điền Tín Trưởng, mộ của vị quan sủng mộ của ông là Sum Lan Hoàn (森蘭丸), v.v.
Bổn Pháp Tự
(本法寺, Honbō-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, do Nhật Thân (日親) khai sáng, hiện tọa lạc tại Honbōjimae-chō (本法寺前町), Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市). Tượng thờ chính là Thập Giới Mạn Trà La (十界曼荼羅). Ban đầu khoảng vào năm 1437 (Vĩnh Hưởng [永享] 9), chùa được xây dựng tại Đông Động Viện (東洞院), rồi sau đó khi Nhật Thân bị bắt giam vào ngục thất thì chùa bị phá hủy, và đến khoảng niên hiệu Khang Chánh (康正, 1455-1457), chùa được Tứ Điều Cao Thương (四條高倉) tái kiến lại. Đến năm 1487 (Trường Hưởng [長享] nguyên niên), Nhật Thân bắt đầu chế ra phần Bổn Pháp Tự Pháp Thức (本法寺法式), viết cuốn Bổn Pháp Tự Duyên Khởi (本法寺緣起) để trình bày những việc làm của mình. Đây là một trong 21 ngôi Đại Bản Sơn ở kinh đô Kyoto. Sau đó, thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), chùa được dời về vị trí hiện tại vào năm 1590 (Thiên Chánh [天正] 18). Chùa này là một trong 3 cứ điểm của Dòng Phái Trung Sơn (中山門流).
Bổn Phước Tự
(本福寺, Honfuku-ji): ngôi chùa của phái Bổn Nguyện Tự, thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, hiệu là Tịch Dương Sơn (夕陽山), hiện tọa lạc tại số 22-30 Honkatata (本堅田), Ōzu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣). Người khai cơ chùa này là Thiện Đạo (善道), nhưng sau khi được Tịnh Tín (淨信), môn đệ của Giác Như (覺如) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), giáo hóa thì ông ta quy y theo vị này, và chùa thuộc về Bổn Nguyện Tự. Đến đời vị trú trì thứ 2 là Giác Niệm (覺念), chùa lại được chuyển sang Thiền Tông. Đến đời vị Tổ thứ 3 của chùa là Pháp Trú (法住), chùa lại quay trở về Bổn Nguyện Tự. Pháp Trú có mối quan hệ mật thiết với Liên Như (蓮如), thống lãnh chúng môn đồ hỗ trợ cho Bổn Nguyện Tự. Vào thượng tuần tháng 2 năm 1467, do sự đàn áp của chúng đồ Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), Liên Như phải mang ảnh tượng của Thân Loan (親鸞, Shinran) chạy đến lánh nạn ở Bổn Phước Tự. Đến ngày mồng 7 tháng 12 năm 1491, chùa bị đốt cháy tan tành, nhưng sau đó thì được tái kiến lại. Đến đời vị trú trì thứ 7 của chùa là Minh Thuận (明順), chùa đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc hợp chiến ở Thạch Sơn (石山). Đến năm 1954, Chánh Điện, Liên Như Miếu Sở bị cháy rụi, nhưng sau đó thì được xây dựng lại cho đến ngày nay.
Bổn Quốc Tự
(本國寺 hay 本圀寺, Honkoku-ji): một trong 4 ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Misasagiōiwa-chō (御陵大岩町), Yamashina-ku (山科區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); sơn hiệu là Đại Quang Sơn (大光山), được kiến lập vào năm 1253 (Kiến Trường [建長] 5). Đây là ngôi chùa do Nhật Tĩnh (日靜) lập nên nhờ sự ngoại hộ của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji). Năm 1263 (Hoằng Trường [弘長] 3), chùa được đổi tên thành Đại Quang Vô Lượng Sơn Bổn Quốc Độ Diệu Tự (大光無量山本國土妙寺). Vào năm 1345 (Trinh Hòa [貞和] nguyên niên), ông dời ngôi Pháp Hoa Đường do Nhật Liên Thánh Nhân lập nên ở Tùng Diệp Cốc (松葉谷), Liêm Thương, đến vùng Lục Điều Quật Xuyên (六條堀川) thuộc kinh đô Kyoto. Đến năm 1536 (Thiên Văn [天文] 5), do vì pháp nạn, chùa bị đồ chúng của Diên Lịch Tự (延曆寺) đốt cháy tan tành, nhưng 11 năm sau thì chùa lại được tái hưng như cũ, khai mở đàn lâm và tập trung học tăng về rất đông. Cái tên Hán văn Bổn Quốc Tự (本國寺) được đổi thành Bổn Quốc Tự (本圀寺) là do vị quan Trung Nạp Ngôn Thủy Hộ Quang Quốc (水戸光圀, Mito Mitsukuni) đã từng ngoại hộ đắc lực cho chùa. Và đến năm 1970 (Chiêu Hòa [昭和] 45), chùa được dời về vị trí hiện tại. Tượng thờ chính của chùa là bức đồ hình Mạn Trà La do Nhật Liên vẽ nên. Chùa hiện còn lưu giữ rất nhiều bảo vật có giá trị.
bổn sanh truyện
Jātaka (P), Birth stories Xà đà giàMột trong 15 phẩm trong Tiểu bộ kinh, gồm 547 Kinh văn Phật dạy về các hạnh đại bi của Phật đã tu hành trong quá khứ.
bổn sơ bổn phật
Xem Tối thắng Phật.
bổn sơ giác giả
Xem Tối thắng Phật.
bổn sơ phật
Primordial Buddha.
Bổn sư, bản sư
(本師): Phật Giáo lấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm vị thầy dạy căn bản, nên gọi là bổn sư. Như trong bài Họa Tây Phương Tránh Ký (畫西方幀記) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có đoạn: “Ngã bổn sư Thích Ca Như Lai ngôn, tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới hiệu Cực Lạc (我本師釋迦如來言、從是西方遇十萬億佛土、有世界號極樂, đức Thích Ca Như Lai bổn sư của chúng ta dạy rằng, từ phương Tây này qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới hiệu là Cực Lạc).” Ngoài ra, từ này còn có nghĩa là vị thầy dạy dỗ, truyền trao học vấn. Như trong Sử Ký (史記) quyển 80, Lạc Nghị Liệt Truyện (樂毅列傳) thứ 20, có đoạn: “Lạc Thần Công học Hoàng Đế, Lão Tử, kỳ bổn sư hiệu viết Hà Thượng Trượng Nhân (樂臣公學黃帝、老子、其本師號曰河上丈人, Lạc Thần Công học Hoàng Đế, Lão Tử, thầy dạy của ông là Hà Thượng Trượng Nhân).” Hay trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 37, Hoàn Vinh Đinh Hồng Liệt Truyện (桓榮丁鴻列傳) cũng có đoạn rằng: “Hà Thang vi Hổ Bôn Trung Lang Tướng, dĩ Thượng Thư thọ Thái Tử; Thế Tổ Tùng Dung vấn Thang bổn sư vi thùy (何湯爲虎賁中郎將、以尚書授太子、世祖從容問湯本師爲誰, Hà Thang làm Hổ Bôn Trung Lang Tướng, lấy Thượng Thư dạy cho Thái Tử; vua Thế Tổ Tùng Dung hỏi Hà Thang thầy dạy là ai).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 2, phần Phật Giáng Đản (佛降誕), lại có đoạn: “Cung ngộ bổn sư Thích Ca Như Lai Đại Hòa Thượng giáng đản lệnh thần, suất Tỳ Kheo chúng, nghiêm bị hương hoa đăng chúc trà quả trân tu, dĩ thân cúng dường (恭遇本師釋迦如來大和尚降誕令辰、率比丘眾、嚴備香花燈燭茶果珍羞、以伸供養, kính gặp lúc tốt bổn sư Đại Hòa Thượng Thích Ca Như Lai đản sanh, chỉ huy chúng Tỳ Kheo, chuẩn bị tinh nghiêm hương hoa, đèn nến, trà, trái cây, món ăn trân quý, để dâng cúng dường).”
bổn sự
Itivṛtaka (S)Y đế mục đa.
bổn trí
Original wisdom.
bổn tế trí
trí tuệ sáng suốt của chư Phật thấy biết được cội nguồn (bổn) và giới hạn (tế) của tất cả các pháp nên gọi là bổn tế trí.
bổng giáo
(棒教) Tạng: Bon-po. Là tôn giáo nguyên thủy của người Tây tạng trước khi Phật giáo được truyền vào nước này. Một phái thuộc Tát mãn giáo (Shamanism). Cũng gọi Bổn giáo, Bổn ba giáo, Phạm giáo, Phàm giáo. Thông thường gọi là Hắc giáo. Tức là tín ngưỡng dân gian sùng bái linh hồn, chú thuật, cúng dường vật hi sinh. Theo truyền thuyết Tây tạng, vị tổ khai sáng của tôn giáo này tên là Tuyết lạp ba (Tạng:Gshen-rab). Mới đầu lưu hành ở vùng A lí của Hậu tạng, sau truyền bá từ tây sang đông đến khắp các miền Tây tạng. Tôn giáo này thờ cúng thần quỉ tinh linh của trời đất, núi rừng, sông ngòi, đầm rạch và các vật tự nhiên, cho rằng trong vũ trụ có vô số linh hồn tồn tại, có khả năng biến hiện các việc lành dữ, phúc họa; vì các tinh linh nương ở trong những vật thể như cây, đá, chiêng, trống v.v... nên nảy sinh quan niệm sùng bái những vật ấy, coi trọng tế tự, đồng bóng, bói toán, giải hạn, tin tưởng ông đồng bà cốt là môi giới giữa người và các linh hồn, nên ông đồng có thể nói trước mọi việc lành dữ. Ở thời kì đầu triều vua Thổ phồn, Bổng giáo chiếm địa vị thống trị. Vào giữa thế kỉ thứ VII, sau khi Phật giáo từ Ấn độ, Nepal truyền vào, Bổng giáo đã từng chống đối Phật giáo trong thời gian dài. Sau thế kỉ VIII, vì Vương thất Thổ phồn nâng đỡ Phật giáo mà đè nén Bổng giáo, nên thế lực Bổng giáo suy dần. Sau Bổng giáo hấp thụ một phần giáo nghĩa Phật giáo, đổi kinh Phật giáo thành kinh Bổng giáo, phát triển giáo lí mà trở thành một giáo phái tương tự như Phật giáo Tây tạng. Vì chịu ảnh hưởng hình thức tín ngưỡng và giáo nghĩa của Phật giáo, nên Bổng giáo đã chia làm hai thời kì mới và cũ: hình thái thời kì cũ là Bổng giáo nguyên thủy, hình thái ở thời kì mới là Bổng giáo tổ chức, tức tổ chức giáo nghĩa để làm thành kinh điển. Kinh điển Bổng giáo bàn về lí luận tu hành gồm có ba bộ: Thập vạn bạch long, Thập vạn hắc long, Thập vạn ban long. Bổng giáo chịu ảnh hưởng của Phật sâu đậm và đã thay đổi nhiều, được gọi là Bạch bổn ba. Bổng giáo còn giữ được nhiều đặc điểm nguyên thủy thì gọi là Hắc bổn ba. Đầu thế kỉ XV, sau khi ngài Tông khách ba lập nên Hoàng giáo (phái Mũ vàng trong Phật giáo Tây tạng), thế lực bành trướng khắp xứ Tây tạng, thì thế lực Bổng giáo tàn lụi, chỉ còn rớt lại chút ít trong đám dân du mục ở vùng biên thùy phía bắc và miền đông Tây tạng mà thôi. Hiện nay người Tây tạng tin thờ Lạt ma giáo, tuy nói đặc sắc của Lạt ma giáo là Phật giáo hấp thu thành phần Bổng giáo và Bổng giáo cũng lấy Phật giáo làm điểm tựa để tồn tại, nhưng, trong thực chất, cả hai vẫn nghiễm nhiên đối lập. [X. Đường thư Q.196 Thổ phồn truyện; Bạch lưu li luận (Vaidùrya dkar-po); Thập vạn bảo chiếu (Maịi-bka#-#bum); Tây tạng văn hóa chi tân nghiên cứu (Thanh mộc văn giáo); Ch. Bell: Religion of Tibet (Kiều bản quang bảo dịch, Tây tạng chi Lạt ma giáo )]. (xt. Tát Mãn Giáo).
Bổng hát
(棒喝): phương pháp tiếp độ của vị thầy đối với người đệ tử bằng cách đánh bằng gậy hay la hét, tỷ dụ như cây gậy của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運, ?-?) và Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑, 780-865), tiếng hét của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, ?-866), v.v.
; 棒喝; J: bōkatsu;|Nghĩa là »Gậy và Quát«; là phương thức tiếp dẫn giáo hoá đệ tử của các vị Tổ sư trong Thiền tông. Các vị khi tiếp dẫn người học để lấp tuyệt tư duy hư vọng, hoặc khảo nghiệm cảnh ngộ thì dùng gậy hoặc quát to. Người ta cho rằng dùng gậy thì bắt đầu từ Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám, tiếng quát (Hát) bắt đầu từ Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền.|Ðức Sơn nổi danh vì cây gậy trên tay không kém tiếng quát của Lâm Tế. Thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) đề cao phương pháp hoằng hoá này trong một thời mà Thiền tông đang trên đường suy vi, chết cứng trong các sắc thái, nghi lễ rườm rà bên ngoài. Với một âm điệu chế nhạo – đặc trưng cho thiền – Sư ca ngợi phong cách của hai vị tiền bối. Tự gọi mình là »Cuồng vân« (狂雲; j: kyōun), Sư viết như sau trong một bài kệ được lưu lại trong Cuồng vân tập (狂雲集; j: kyōunshū):|Cuồng vân, cuồng phong|Hỏi ta đó là gì?|Sớm lang thang trên núi,|Chiều lại đến thành đô.|Vung cây gậy đúng lúc,|Lâm Tế cùng Ðức Sơn,|Gương mặt đầy hổ thẹn.
Bổng hát 棒喝
[ja] ボウカツ bōkatsu ||| "stick and shout." Two methods developed in Tang dynasty Chan which were used in the instruction of students. Deshan was famous for the stick and Linji was famous for the shout. => 'Gậy và hét'. Hai phương pháp được thiền tông đời Đường phát triển ứng dụng trong việc chỉ dạy cho thiền sinh. Thiền sư Đức Sơn nổi tiếng dùng gậy và Lâm Tế với tiếng hét.
bổng hạt
(棒喝) Là phương pháp tiếp hóa đệ tử của các tổ sư Thiền tông. Bậc tông tượng (bậc thầy nhiều kinh nghiệm) trong nhà Thiền, khi tiếp dẫn người học, hay dùng gậy đánh (bổng) hoặc dùng tiếng hét (hát) để dứt hẳn tư duy vọng tưởng hoặc để xét nghiệm chỗ ngộ của họ. Đây cũng là cách chỉ bày và mở tỏ cho học trò. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 142 trung), nói: Dù có vung gậy như mưa, hét vang như sấm, cũng chưa thể đảm đương được việc hướng thượng trong tông thừa. Tương truyền việc dùng gậy đánh bắt đầu từ các Thiền sư Đức sơn Tuyên giám và Hoàng bá Hi vận; còn việc dùng tiếng hét thì bắt đầu từ ngài Lâm tế Nghĩa huyền (hoặc có thuyết nói ngài Mã tổ Đạo nhất). Vì ngài Đức sơn khéo dùng gậy, ngài Lâm tế giỏi dùng tiếng hét, nên đã có câu: Cây gậy Đức sơn, tiếng hét Lâm tế. Về sau, các Thiền sư tiếp dẫn người học phần nhiều dùng cả đánh và hét, không ngoài mục đích nhờ đó thúc giục người học giác ngộ. Đời sau, đối với việc thức tỉnh sự mê chấp của người gọi là đương đầu bổng hát (đánh và hét đúng lúc đúng cơ). Ngũ gia tông chỉ toản yếu (Vạn tục 114, 25 thượng), nói: Gia phong Lâm tế, toàn cơ đại dụng, đánh hét đều dùng. Vị thủy tổ của tông Lâm tế là Thiền sư Nghĩa huyền chịu ảnh hưởng của ngài Hoàng bá có nói về cái gọi là bốn hét và tám gậy. Tám gậy là: 1. Gậy giải lệnh chi huyền, là gậy phạt. 2. Gậy tiếp cơ theo chính, gậy tiếp dắt người theo về chính đạo. 3. Gậy dựa vào lí huyền vi mà làm thương tổn điều chân chính, là gậy phạt. 4. Gậy ấn thuận tông chỉ, tức là gậy ấn chính cơ đến, là gậy thưởng. 5. Gậy nghiệm thử hư thực, tức là vừa thấy liền đánh để thử xem sự tu hành của người đến học thực hay hư, không liên quan gì đến thưởng phạt. 6. Gậy mù quáng, tức là mắt mù, đánh loạn bậy, do lỗi của thầy. 8. Gậy dẹp trừ phàm thánh, là gậy chân chính cao tột Bốn hét là: 1. Có lúc tiếng hét như thanh gươm kim cương quí báu, có tác dụng chặt đứt sự hiểu biết theo tình chấp. 2. Có khi tiếng hét như sư tử dậm chân, có tác dụng ngăn trở sự hiểu biết theo tình chấp. 3. Có khi tiếng hét như cây sào quơ bóng cỏ, có tác dụng khám nghiệm người học.4. Có khi tiếng hét không có tác dụng của hét, có tác dụng không dám xúc phạm húy.
bổng trượng
Danda (S). Stem, stick. Also đãn đồ, chiếc gậy.
bộ
1) Bộ Anh: Foot. 2) Bộ lạc: A tribe—A group. 3) Bộ phận: Division—Section. 4) Bộ sách: A work in volumes—A heading or section of a work. 5) Bước đi: Pada (skt)—Step—Pace. 6) Cuốn sổ: A notebook. 7) Sổ bộ: Register.
bộ chấp
Chấp kiến của tông phái—The tenet of a sect, or school.
bộ chấp di luận
(部執异論) Sách, 1 quyển. Do bồ tát Thế hữu của Ấn độ soạn, ngài Chân đế dịch vào thời Trần. Cũng gọi Bộ dị tông luận. Một trong những sách luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung của luận này trình bày sự chia rẽ của 20 bộ phái Tiểu thừa và phần giáo nghĩa của các bộ phái này. Đây là bản dịch khác của luận Dị bộ tông luân. Về sách chú thích thì có Bộ chấp dị luận sớ 10 quyển của ngài Chân đế. (xt. Dị Bộ Tông Luân Luận).
bộ chủ
Vị tổ khai sáng ra tông phái—The founder of a sect, or school, or group.
bộ chủ bộ mẫu
(部主部母) Trong Mật giáo, Thai tạng giới có ba bộ, Kim cương giới có năm bộ, vị Bản tôn (vị tôn chính) của mỗi bộ, gọi là Bộ chủ. Vị Bản tôn sinh ra bộ chủ hoặc các vị tôn khác, thì gọi là Bộ mẫu. Trong năm bộ Kim cương giới, Bộ chủ của Phật bộ là đức Phật Tì lô giá na là nguồn gốc của các pháp, nên không lập bộ mẫu riêng. Bộ chủ của Kim cương bộ là Phật A súc, bộ mẫu là bồ tát Kim cương ba la mật. Bộ chủ của Bảo bộ là Phật Bảo sinh, bộ mẫu là bồ tát Bảo ba la mật. Bộ chủ của Liên hoa bộ là Phật A di đà, bộ mẫu là bồ tát Ba la mật. Bộ chủ của Yết ma bộ là Phật Bất không thành tựu, bộ mẫu là bồ tát Yết ma ba la mật. Trong đó, bốn bồ tát Ba la mật biểu thị Định, bốn Phật biểu thị Trí, hàm ý là nương vào Định mà sinh ra Trí. Trong ba bộ Thai tạng giới, bộ chủ của Phật bộ là Kim luân phật đính, bộ mẫu là bồ tát Phật nhãn. Bộ chủ của Liên hoa bộ là bồ tát Mã đầu Quan thế âm, bộ mẫu là bồ tát Bạch y Quan thế âm. Bộ chủ của Kim cương bộ là bồ tát Kim cương thủ, bộ mẫu là bồ tát Mang ma kê. Bộ chủ cũng biểu thị Trí, bộ mẫu biểu thị Định. Trong ba bộ Thai tạng giới, ngoài bộ chủ, bộ mẫu ra, Đà la ni môn chư bộ yếu mục còn lập riêng Minh phi, Phẫn nộ tôn, tức là Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ đều lấy bồ tát Vô năng thắng, bồ tát Đa la và bồ tát Kim cương tôn na lợi làm Minh phi, lấy Bất động tôn, Phẫn nộ câu, Quân đồ lợi làm Phẫn nộ tôn. [X. Bổ đà lạc hải hội quĩ; Bí tạng kí].
bộ cú la
Vakula (skt). 1) Tên của một đệ tử thông thái của Phật: Name of an intelligent disciple of sakyamuni. 2) Tên của một loài quỷ: Name of a demon.
bộ dẫn đà
1) Thủy tinh hay sao Thủy—The planet Mercury. 2) Phật: A Buddha.
bộ giáo
Bộ và giáo (lời dạy của Đức Phật thuận theo thứ tự thời gian, cũng như sự nông sâu của giáo thuyết)—The sutras, or canon, and their exposition.
bộ hành độc giác
(部行獨覺) Vị Duyên giác cùng tu hành với số đông người nhưng chỉ một mình mình giác ngộ chứng quả. Đối lại với Lân giác dụ độc giác. Là một trong hai loại Độc giác. Độc giác, cũng dịch là Duyên giác. Cứ theo luận Câu xá quyển 12 và Câu xá luận quang kí quyển 12 nói, thì những người thuộc ba quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn trong Thanh văn thừa, cho đến người lợi căn nhất trong Tứ thiện căn (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp), lúc sắp chứng quả A la hán thứ tư, tạm rời bỏ giáo pháp của Phật, nhóm hợp một số đông người cùng tu, nhưng chỉ một mình quán xét, một mình tư duy, hoặc quán ngoại duyên như hoa bay lá rụng, hoặc quán lí 12 nhân duyên mà chứng ngộ đắc quả, gọi là Bộ hành độc giác. Vì tụ họp một số đông người cùng tu hành ở một chỗ, tổ chức thành đảng bộ, nên gọi là Bộ hành. Lại vì không thầy chỉ dạy mà một mình tự ngộ chứng quả, nên gọi là Độc giác. Trái lại, vị Duyên giác ở một mình một chỗ để chứng ngộ đắc quả, thì gọi là Lân dác dụ độc giác. (xt. Lân Giác Dụ Độc Giác).
Bộ kinh
部經; P: nikāya;|Danh từ chỉ những bộ kinh trong Kinh tạng văn hệ Pā-li. Danh từ »Bộ« (部; p: nikāya) của Pā-li đây đồng nghĩa với A-hàm (阿含; s: āgama) của Phạn ngữ (sanskrit). Kinh tạng Pā-li bao gồm năm bộ kinh: Trường bộ (p: dīgha-nikāya), Trung bộ (p: majjhima-nikā-ya), Tương ưng bộ (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ (p: khuddaka-nikāya).
bộ kinh a hàm
Āgamas (S), Buddhist scriptures Nikāya (P)Ngũ bộ kinh → Nikāya (P) = A hàm kinh →Ngũ bộ kinh (Ngũ bộ kinh - Agama- chỉ Tam Tạng kinh nguyên thủy viết bằng tiếng Sanskrit kiết tập sau. A hàm kinh - Nikaya - chỉ Tạng kinh nguyên thủy viết bằng tiếng Pali kiết tập trước. Cả hai đều căn cứ vào kiểu mẫu kinh văn đầu tiên bằng tiếng Ma kiệt đà - Magadhi, tiếng Pali thời đức Phật). Buddhist scriptures →It is one of the oldest Buddhist scriptures. These sutras contain the sermons of Shakyamuni Buddha during the first two to three years after he attained Enlightenment and during the year proceeding his Nirvana. The sutras consists of four collections: 1. Dīrghāgama (Long Collecrtion) 2. Madhyamāgama (Medium Collection) 3. Samyuktāgama (Miscelaneous Collection) 4. Ekottarikāgama (Numerical Collection) 5. Ksudrakagama (Minor Saying). Ksudrak-Agama is only included in Pali canon.The five collections is called Sutta-pitaka →Bộ kinh Bắc tạng có Tứ bộ kinh gồm: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương Ưng bộ (tập trung vấn đề thiền định), Tăng Chi bộ (kinh sắp xếp theo số). Phật giáo Bắc phương gọi Trường, Trung, Tạp, Tăng Nhất là bốn bộ A hàm, A hàm là kinh điển của Tiểu thừa. Phật giáo Nam phương thêm Tạp bộ hay Khuất-đà-ca hay Tiểu bộ Kinh thành 5 bộ A hàm.
bộ la hán
A set of Arahants.
bộ loại
Aṅga (S, P)xứ Ương-già, Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili1- Một trong 3 thể tài của Tạng kinh (Pitaka). 2- Ương già: 1 trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáo.
bộ lạc thần
(部落神) Vị thần do tôn giáo bộ lạc tin thờ. Có quan hệ mật thiết với truyền thuyết thần thoại về nguồn gốc của bộ lạc; cũng có khi được coi là thủy tổ chung của bộ lạc.
bộ lạc tông giáo
(部落宗教) Một trong những hình thái tôn giáo nguyên thủy ở thời kì đầu tiên tự nhiên phát sinh từ trong thị tộc. Vào thời ấy, văn hóa chưa phát triển, cơ cấu xã hội còn đơn giản, nên tôn giáo cũng mới ở trạng thái thô sơ. Về sau, các thị tộc gần gũi nhau dần dần kết thành thị tộc đồng minh, rồi liên kết thành bộ lạc, lúc đó hình thành tôn giáo mới được xác định, nhưng vẫn chưa hình thành hệ thống giáo nghĩa và thần học rõ ràng, song truyền thuyết thần thoại đã có nội dung phong phú hơn, đặc biệt là thần thoại về nguồn gốc bộ lạc từ đâu mà ra (bộ phận văn hóa tiến triển hơn thì còn có thần thoại về nguồn gốc trời đất). Những nghi tiết và các điều cấm kị đều tương quan mật thiết với thần thoại và sinh hoạt xã hội. Sử học tôn giáo, đối với việc nghiên cứu tôn giáo nguyên thủy, phổ thông đều lấy thần thoại làm điểm xuất phát cơ bản. Như Bà la môn giáo Ấn độ tôn thờ thần thoại Phệ đà, trong đó đã ghi chép hình thái sinh hoạt và tôn giáo của người Aryan Ấn độ cổ đại.
bộ phái
Xem Môn phái.
; Vàda (S). Doctrine, sect, theory. Also môn phái.
bộ phái phật giáo
(部派佛教) Từ ngữ gọi chung các phái được phân chia ra từ trong giáo đoàn của Phật giáo nguyên thủy. A. Sự thành lập Bộ phái Phật giáo: Cứ theo luận Đại tì bà sa và luận Dị bộ tông luân chép, thì sau đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, vị tỉ khưu Đại thiên đưa ra năm việc (Đại thiên ngũ sự ), yêu cầu giáo đoàn thừa nhận. Đây là nguyên nhân khiến giáo đoàn lần đầu tiên chia thành Thượng tọa bộ (phái phản đối năm việc) và Đại chúng bộ (phái tán thành). Nhưng cứ theo Đại sử ......(Pàli: Mahàvaôsa), Đảo sử ......(Pàli: Dìpavaôsa) của Phật giáo Nam truyền ghi chép, thì sau đức Phật nhập diệt 100 năm, có tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì ở đông bộ Ấn độ xưa đưa ra 10 điều giới luật mới (Thập sự). Chủ trương mới này bị các vị Trưởng lão tỉ khưu, đứng đầu là ngài Da xá, phản đối; sau đó, ngài Da xá triệu tập 700 tỉ khưu mở Đại hội kết tập, tuyên bố 10 điều giới luật mới là phi pháp; đồng thời, các tỉ khưu tán thành chủ trương mới cho mười điều ấy là đúng nên cũng tổ chức kết tập. Do đó mà giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy chia thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ mà trong sử gọi là sự chia rẽ căn bản. Về sau, từ hai bộ căn bản này lại chia thành 20 bộ (theo thuyết chia phái của Bắc truyền) hoặc 18 phái (theo thuyết chia phái của Nam truyền, tức trừ Tây sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ), gọi là sự chia rẽ ngành ngọn). Như vậy, tóm lại, giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy lần đầu tiên bị chia thành hai bộ căn bản là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, rồi vầ sau, từ hai bộ căn bản này lại chia ra thành 20 bộ phái (theo Bắc truyền) hoặc 18 phái (theo Nam truyền). Cứ theo luận Dị bộ tông luân ghi chép, thì Phật giáo bộ phái gồm 20 bộ, tức là sau đức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, từ Đại chúng bộ căn bản lại chia ra ba bộ phái nữa là: 1. Nhất thuyết bộ, chủ trương pháp thế gian, xuất thế gian chỉ là tên giả, không có thể thực. 2. Xuất thế bộ, cho rằng pháp thế gian chỉ có tên giả, pháp xuất thế gian thì đều là chân thực. 3. Kê dận bộ, chỉ hoằng dương tạng A tì đạt ma trong ba tạng, còn cho kinh, luật đều là giáo pháp phương tiện của đức Phật. Không bao lâu sau, từ Kê dận bộ lại chia ra hai bộ nữa là: 4. Đa văn bộ, vì sự học vấn của phái này vượt hơn Đại chúng bộ, nên gọi là Đa văn bộ (bộ phái nghe nhiều). 5. Thuyết giả bộ, chủ trương trong pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều có phần ít là giả. Vào cuối thời kì 200 năm sau đức Phật nhập diệt, một vị tỉ khưu ngoại đạo bỏ tà về chính, ở núi Chế đa; chư tăng thuộc Đại chúng bộ phần nhiều ở núi này. Trong một dịp bàn thảo lại vấn đề năm việc của ngài Đại thiên, vì chủ trương bất đồng nên chư tăng ở núi Chế đa lại chia ra ba bộ nữa là: 6. Chế đa sơn bộ, bộ này vẫn ở lại núi Chế đa. 7. Tây sơn trụ bộ, bộ này dời đến ở phía tây núi Chế đa. 8. Bắc sơn trụ bộ, bộ này dời về phía bắc của núi Chế đa. Như vậy, Đại chúng bộ hợp cả gốc lẫn ngọn gồm có chín bộ phái. Sau khi hai bộ gốc (tức là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ) bị phân chia lần đầu tiên (100 năm sau Phật nhập diệt) thì Thượng tọa bộ dời đến ở tại vùng Hi mã lạp sơn (tức là núi Tuyết sơn). Đến khoảng 300 năm sau Phật nhập diệt, lại chia ra: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ, cũng gọi Thuyết nhân bộ, chủ trương tất cả pháp hữu vi, vô vi đều có thực thể. 2. Tuyết sơn bộ, tức là do Thượng tọa bộ gốc dời đến Hi mã lạp sơn (Tuyết sơn) nên bộ này lấy tên là Tuyết sơn. Không bao lâu sau, từ Thuyết nhất thiết hữu bộ lại chia ra: 3. Độc tử bộ, lấy A tì đạt ma do ngài Xá lợi phất soạn làm luận điểm căn bản, tương truyền Bộ chủ là dòng dõi con bê con, nên gọi là Độc tử bộ......... Về sau, do nội dung giáo nghĩa của Độc tử bộ nghèo nàn nên có chủ trương lấy nghĩa kinh để bổ túc thêm, nhưng do quan điểm bất đồng nên Độc tử bộ lại chia làm: 4. Pháp thượng bộ, Pháp thượng là tên của Bộ chủ. 5. Hiền trụ bộ, là dòng dõi của A la hán Hiền. 6. Chính lượng bộ, chủ trương pháp nghĩa sâu xa do mình nói ra đã được san định không còn sai lầm nữa. 7. Mật lâm sơn trụ bộ, Bộ chủ ở tại núi Mật lâm. Đồng thời, Thuyết nhất thiết hữu bộ lại chia ra: 8. Hóa địa bộ, 300 năm sau đức Phật nhập diệt, có người Bà la môn tên là Hóa địa, xuất gia được quả A la hán, đệ tử nối dõi, gọi là Hóa địa bộ. Rồi từ Hóa địa bộ lại chia ra: 9. Pháp tạng bộ, ngài Pháp tạng là đệ tử của tôn giả Mục kiền liên. Các sư của bộ này nói năm tạng: kinh, luật, a tì đạt ma, minh chú, Bồ tát bản hạnh sự. Vào cuối năm 300 sau Phật nhập diệt, từ Thuyết nhất thiết hữu bộ lại chia: 10. Ẩm quang bộ, cũng gọi Thiện tuế bộ. Ẩm quang tức là Ca diếp ba, là họ của Bộ chủ. Vào đầu năm 400 sau Phật nhập diệt, Thuyết nhất thiết hữu bộ lại chia ra: 11. Kinh lượng bộ, cũng gọi Thuyết chuyển bộ, chỉ nương vào kinh làm chính lượng, không dựa theo luật và đối pháp (luận), khi viện dẫn chứng cứ thì đều lấy kinh làm chứng. Như vậy, Thượng tọa bộ hợp cả gốc lẫn ngọn gồm 11 bộ phái, cộng với 9 bộ của Đại chúng bộ thành là 20 bộ phái. B. Giáo lí của Phật giáo Bộ phái: giáo lí của Phật giáo nguyên thủy, trong các kinh điển nguyên thủy (kinh A hàm), chưa có tổ chức, chưa được thống nhất. Đem các giáo thuyết do đức Phật giảng nói suốt cuộc đời Ngài được ghi chép trong kinh điển nguyên thủy ra mà thuyết minh, giải thích, chỉnh lí cả phần nội dung lẫn hình thức cho có hệ thống, phù hợp với tính cách học thuật nghiên cứu gọi là phương pháp nghiên cứu A tì đạt ma. Phương pháp nghiên cứu này về sau dần dần phát triển, đến khi Phật giáo sắp bị phân hóa thành các bộ phái, thì sự giải thích bất đồng về giáo lí đã trở thành nguyên nhân dẫn đến sự chia rẽ, vì thế, mỗi bộ phái đều tự tổ chức và giải thích giáo lí, viết ra các bộ luận về giáo lí của riêng mình, gọi là A tì đạt ma căn bản. Như bảy bộ luận của Phật giáo Nam truyền (Thượng tọa bộ phương Nam), bảy bộ luận Hán dịch của Thuyết nhất hữu bộ và luận A tì đàm của ngài Xá lợi phất thuộc Chính lượng bộ hệ đều là loại A tì đạt ma căn bản. Các bộ luận của mỗi bộ phái đều hiển bày đường lối phát triển giáo lí của riêng bộ phái đó. Các bộ luận ở thời kì đầu chỉ là những sách thuyết minh và giải thích cùng hệ thống hóa giáo lí trong kinh điển nguyên thủy, cho nên trong thời kì này các bộ luận có quan hệ mật thiết với kinh. Nhưng trong các bộ luận ở thời kì sau, mối quan hệ với kinh điển nguyên thủy đã mờ nhạt dần, để rồi cuối cùng, A tì đạt ma đã thành lập học thuyết riêng biệt, không dính dáng gì đến nguyên thủy. Gíáo lí Phật giáo nguyên thủy lấy thực tiễn làm lí luận nền tảng, luận thuyết nào không liên quan đến thực tiễn thì không tồn tại. Đây là dựa theo qui luật biến hóa của các pháp mà quan sát hiện tượng vũ trụ nhân sinh (duyên khởi phổ thông và duyên khởi lưu chuyển), ứng dụng qui luật để đạt thành lí tưởng (duyên khởi hoàn diệt). Nhưng các bộ luận của Phật giáo bộ phái của thời kì sau thì dùng phương pháp luận cứu tồn tại luận không dính dáng gì tới thực tiễn mà khảo sát về tính có, không, giả, thực của sự vật, điều này được coi là đã chịu ảnh hưởng của ngoại đạo. Khác với ngoại đạo, Phật giáo không lập thực thể tồn tại vĩnh viễn bất biến, mà Phật giáo quan sát hiện tượng tồn tại sinh diệt biến hóa. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương pháp thể hằng có trong ba đời, đây cũng khác với thực thể luận của ngoại đạo. Phật giáo bộ phái khi bàn về sự tồn tại của các pháp, đã đem các hiện tượng tồn tại biến hóa lập làm pháp hữu vi, tồn tại không biến hóa lập làm pháp vô vi. Tuy nhiên chủ trương pháp thể hằng có sau này đã bị Phật giáo Đại thừa bác bỏ, vì cho chủ trương này là một loại Hữu ngã thuyết, và Đại thừa đề xuất tưtưởng triệt để vô ngã (không). Trong thời Phật giáo bộ phái đã có các cuộc tranh luận về học thuyết và giáo lí giữa các bộ phái với nhau. Các vấn đề giáo lí được các bộ phái thảo luận gồm có: Phật đà luận, Tăng già luận, Bồ tát luận, Phàm phu luận, Tu đạo luận, Thiền định luận, Thánh quả luận, Sắc pháp luận, Bổ đặc già la luận v.v... Các văn hiến chỉnh lí và giới thiệu những vấn đề này, về phía Phật giáo Nam truyền thì có Luận sự (Pàli: Kathàvatthu) và chú thích của nó; về phía Phật giáo Bắc truyền thì có bản Hán dịch của các luận: Dị bộ tông luân, Đại tì bà sa, Câu xá, Thuận chính lí, Thành thực, và bản Tạng dịch: luận Dị bộ tông luân, Dị bộ tông tinh thích, Dị bộ thuyết tập v.v... [X. Đại thừa huyền luận Q.5; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Tam luận huyền nghĩa; Cao tăng pháp hiển truyện]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo).
bộ phẩm
Varga (S). Chapter, section (of a book). Also phẩm.
bộ tha
Phật Đà—Buddha.
bộ trịch kim cang minh vương
Pada-naksipa (S)Tên một vị thiên. Một trong 8 đại minh vương.
bộ trịch minh vương
(步擲明王) Bộ trịch, Phạm: Padanaksipa. Dịch âm: Bá ban nẵng kết sử ba minh vương. Một trong tám Đại minh vương. Cũng gọi Bộ trịch kim cương. Gọi đủ là Bộ trịch kim cương minh vương. Cứ theo kinh Đại diệu kim cương đại cam lộ quân đồ lợi diệm man xí thịnh Phật đính chép, thì Minh vương này là hóa thân của bồ tát Phổ hiền, tay phải cầm cây lọng, tay trái cầm chày kim cương, khắp mình màu xanh da trời, phóng ra ánh lửa. Nói về uy đức của vị Minh vương này, cứ theo Bá ban nẫng kết sử ba kim cương niệm tụng nghi quĩ nói (Đại 21, 170 trung): Mở bày cho hàng Nhị thừa phát được không tuệ rất sâu của Đại thừa; trong thế giới phàm phu, ánh sáng uy đức của Ngài chiếu soi tới đâu thì những chủng tử tạp nhiễm chứa trong tạng thức của họ trở nên thanh tịnh, khiến họ xa lìa ba đường, đầy đủ hạnh Phổ hiền; bàng sinh quĩ đói hết kiếp này không còn thụ sinh lại nữa; các loại địa ngục đều hoại diệt hết; tội nhân giải thoát, phát tâm bồ đề; các loài ác ma gặp ánh sáng này đều phải khuất phục, bỏ chạy tứ tán. Một thời gian lâu, làm lợi ích như thế rồi, Ngài mới thu ánh sáng uy đức lại vào trong thân, sau đó ra khỏi thiền định. Về hình tượng của vị bản tôn Minh vương này, cũng theo nghi quĩ đã dẫn, toàn thân màu xanh, gồm 18 tay, lấy rồng làm chiếc mũ anh lạc, chau mày dữ tợn, răng nanh chìa ra, nhọn hoắt. Chủng tử là (hùô), chân ngôn: Án (oô) hiệt lâm (hrìô) khuất lâm (kroô) bộ lâm (bhroô) tố lâm (sroô) nho lâm (jroô) ngược (gahê). [X. Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp Q.1; Tứ thập thiếp quyết Q.7].
bộ tập
Xem Thánh điển.
bộ tộc sakya
Tên của một bộ tộc tại Bắc Ấn trong đó Cồ Đàm hay Phật Thích Ca Mâu Ni được sanh ra dưới tên Thái tử Sĩ Đạt Đa—Sakya tribe—Name of a tribe dwelling in Northern India in which Gotama, or Sakyamuni Buddha was born as Prince Siddhartha.
bộ tộc sân
Dveṣa-kula (S).
bộ đa
Bhuta (skt). 1) Bộ đa có nghĩa là đã sinh ra: Been, become, produced, formed, being, existing, etc. interpreted as the consciously existing; 2) Bộ đa cũng có nghĩa là tứ đại đất, nước, lửa, gió, được nắm bắt bởi sự xúc chạm: The four great elements, earth, fire, wind, water, as apprehended by touch. 3) Bộ đa lại có nghĩa là loài quỷ tự sinh (loài quỷ do cha mẹ sinh ra gọi là dạ xoa): Bhuta also means a kind of demon produced by metamorphosis. 4) Chân như: The bhutatathata.
bộc
1) Dòng thác—A torrent—A cataract—A cascade. 2) Nô bộc: A servant.
bộc lưu
Floods.
; Ogha (S). Flood, torrent. Also dòng thác.
; Ogha (skt)—Dòng thác hay dòng thác của dục vọng và phiền não—A torrent, the stream of passion, or illusion.
bộc lộ
To disclose.
bộc na
Dấu tréo ngón tay, cách thứ tư trong mười hai cách đặt những bàn tay vào nhau—A digital sign; the fourth of the twelve ways of placing the hands together.
bộc noa
(僕拏) Phạm: pùịa. Kiểu chắp tay như hoa sen mới nở. Là kiểu chắp tay thứ tư trong 12 cách thức chắp tay. Hình thức kiểu chắp tay này là: trước tiên, chắp hai tay làm hình hoa sen chưa nở (mười ngón tay chập lại, hơi khum khum, lòng bàn tay để rỗng), kế đến, hai ngón cái, hai ngón út áp sát nhau, các ngón còn lại hơi mở ra dáng như hoa sen mới nở. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).
bộc phát
To break out suddenly.
bội
1) Đi theo: To accompany—Associated with. 2) Thêm vào: To add. 3) Trợ giúp: To assist.
bội giáo
See Bội Đạo.
bội la phược
Bhairava (skt)—Tên của các vị Thần Siva, Visnu, hay các chư Thiên, hay của Kim Cang Thần—The terrible name of Siva, also of Visnu and other devas, and of the guardian spirits of the Buddhist order.
Bội li dục
倍離欲; C: bèilíyù; J: bairiyoku;|(Tâm) rời khỏi tham dục mạnh gấp đôi. Tình thế khi hành giả phải chế ngự »gấp đôi« căn bản phiền não của mình, mà nơi đó vẫn còn nhiều việc phải làm. Một trong Tam li dục (三離欲) đề cập trong Du-già sư địa luận; đến đây tương đương với hành giả chứng được quả vị Nhất lai (一來果, theo Du-già luận 瑜伽論).
Bội ly dục 倍離欲
[ja] バイリヨク bairiyoku ||| Double separation from desire. A condition where the practitioner has quelled much of ("double") the amount of his or her original afflictions, but where much is still left to do. One of the three kinds of removal of desire 三離欲 taught in the Yogācārabhūmi-śāstra, where it is equated with the attainment of the level of once-returner 一來果. 〔瑜伽論 T 1579.30.436b18〕 => (Tâm) xa lìa tham dục mạnh gấp đôi. Tình thế khi hành giả phải chế ngự "gấp đôi" căn bản phiền não của mình, mà nơi đó vẫn còn nhiều việc phải làm. Một trong Tam ly dục đề cập trong Du-già sư địa luận, đến đây tương đương với hành giả chứng được quả vị Nhất lai.
bội nghĩa
Ungrateful—Unthankful—Thankless.
bội nghịch
To revolt—To rebel.
bội nguyện
To break one's vow.
bội niệm
(背念) Niệm chán bỏ sống chết mà ở yên nơi Niết bàn. Du già luận kí quyển 6 phần trên (Đại 42, 435 trung), nói: Niệm cầu ra khỏi thế gian, chán bỏ sống chết; nghĩa là niệm trái với sống chết, ở yên nơi Niết bàn vô lậu, nên gọi là Bội niệm.
bội phản
To betray.
bội quái kinh bình
(背膾經屏) Dùng lưng tượng Phật bằng gỗ làm thớt cắt cá hoặc đem kinh luận của Phật dán làm bình phong. Là ví dụ chỉ cho hạng người chấp không một cách mù quáng, làm những điều trái đạo lí mà không biết hổ thẹn. [X. Ma ha chỉ quán Q.10].
bội thệ
To break one's oath.
bội thực
1) Ăn quá nhiều nên bị chứng khó tiêu hóa: To have an indigestion. 2) Cùng ăn với ai: To keep one company at meals.
bội tín
breach of trust.
Bội Văn Vận Phủ
(佩文韻府, Haibunimpu): tên một loại thư tịch, gồm chánh tập 106 quyển, thâu tập 106 quyển, tổng cọng 212 quyển. Về sau, bộ này được chia thành 444 quyển, được phân loại, phối trí tùy theo âm vận cuối của các thành ngữ, có phần xuất xứ điển tịch và rất tiện lợi cho việc làm thơ. Vào năm thứ 43 (1704) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh, nhóm Trương Ngọc Thư (張玉書) gồm 76 người vâng mệnh hoàng triều biên tập nên bộ này. Bội Văn (佩文) là tên thư phòng của vua Khang Hy.
bội ân
Ungrateful—False-hearted—Unthankful—Thankless-Ingratitude.
bội đạo
To abjure—To abandon one's original religion—To apotatize.
bội ước
To break one's words (promises).
Bội-sát-nhĩ-da-ngu-lỗ
偝殺爾耶虞嚕; C: bèishāěryé yúlū; J: bai-satsuniya guro;|Phiên âm của chữ Bhaiṣajya-guru trong tiếng Phạn, nghĩa là Dược Sư Phật.
bột lợi cáp tư phạ đế
Brhaspati (S)Mộc Tinh, Sao TuếThần tế đàn.
bột mì khô
Tsampa (S), Four.
bột thơm
Gandhayuti (S), Fragrant powder.
bột đà
(馞陀) Phạm: buddha. Dịch ý là giác giả, tức là đức Phật. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6 (Đại 45, 345 hạ), nói: Phạm: Bột đà, nếu chỉ gọi tắt là Phật thì sai. Kinh Niết bàn nói: Phật là bậc giác ngộ, tức là tự mình giác ngộ và giác ngộ người khác. (xt. Phật).
bờ bên kia
(bỉ ngạn): chỉ Niết-bàn, khi đã dứt phiền não và thành Phật. Đối nghĩa với bờ bên này (thử ngạn) tức là luân hồi, còn phiền não, là chúng sanh. Kinh Phật dùng cụm từ đáo bỉ ngạn (đến bờ bên kia) theo tiếng Phạn là ba-la-mật-đa (pramit), hay nói gọn là ba-la-mật, Hán dịch nghĩa là độ, là đưa qua, nghĩa là pháp môn giúp “đưa qua bờ bên kia”, đạt đến sự giải thoát. Đó là sáu pháp ba-la-mật hay còn gọi là Lục độ (六度), bao gồm: Bố thí độ (布施度– Phạn ngữ: dna pramit), Trì giới độ (持戒度– Phạn ngữ: ỵla pramit), Nhẫn nhục độ (忍辱度– Phạn ngữ: kṣnti pramit), Tinh tấn độ (精進度– Phạn ngữ: vỵrya pramit), Thiền định độ (禪定度– Phạn ngữ: dhyna pramit) và Trí [huệ] độ (智慧度– Phạn ngữ: prajđ pramit).
bờ sông hằng
Gaṅgātīra (S), The bank of the Ganges.
bụi
Xem trần.
bụi rậm
Brushwood—Undergrowth.
bụi trần
Rajas (S), Dust TrầnTrần (bụi). Màu bụi, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; Những việc trần thế làm mờ bản tánh sáng suốt, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp—Worldly dust—All mundane things that can cloud our bright self-nature. These include form, sound, scent, taste, touch and dharmas.
bụng dạ
Heart
bụng rộng rãi
See Bụng Tốt.
bụng trống
Empty stomach.
bụng tốt
Good heart—Good-hearted—Generous—Bountiful.
Bụt
S, P: buddha; cũng gọi là Bụt-đà;|Một cách dịch âm khác của danh từ Buddha, xem Phật.
bụt
See Phật.
bủn rủn
To be paralized.
bủn xỉn
Stingy—miserly—Mean.
bức
Cưỡng bức—To press—To constrain—To harass—To urge.
bức bách
Bắt buộc hay áp lực mạnh mẽ—To compel—To force—To constrain—To bring strong pressure to bear.
bức hiếp
To oppress.
bức hôn
To force into marriage.
bức rức
Fidgety and uneasy.
bức sô
See Bật Sô and Tỳ Kheo.
bức sô ni
See Tỳ Kheo Ni.
bức thơ
Letter.
bức tranh
Painting—Picture.
bứng
To uproot—To disroot.
bứt rứt
Irritation—Uneasy.
bứt tóc
To tear out one's hair.
bừa bãi
Untidy—In disorder.
bừng bừng nổi giận
To ablaze with anger.
bừng mắt
To open the eyes suddenly.
bửu chí
Paochi (C), Hoshi (J), Pao-chih (C)Tên một vị sư.
bửu hưng
Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây từ lâu lắm, có lẽ vào giữa thế kỷ thứ 18. Trong chánh điện có ba tấm bao lam chạm trổ rất công phu. Pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ, cao 2 mét 5, do triều đình Huế gửi cúng dường cho chùa. Bên phải chùa có một số tháp mộ của các Hòa Thượng Giác Châu, Bửu Thành, và Giáo Đạo—Name of a famous ancient pagoda located in Hòa Long village, Lai Vung district, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago, probably in the middle of the eighteenth century. In the Main Hall, there are three drafts carved painstakingly. A wooden statue of Amitabha Buddha, 2.5 meters high, offered by Huế Court, is worshipped in the Main Hall. On the right-habd side of the pagoda stand the tomb stupas of Most Venerable Giác Châu, Bửu Thành, and Giác Đạo.
bửu lâm
Paolin (C)Chùa Bửu Lâm.
; Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc ở thôn Bửu Hội, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 3 thị xã Mỹ Tho). Chùa do bà Nguyễn Thị Đại xây dựng vào năm 1803. Vị trụ trì đầu tiên là Hòa Thượng Từ Lâm, nguyên ở chùa Hội Tôn tỉnh Bến Tre. Sau cơn bão lớn năm 1904, chùa được Hòa Thượng Thiên Tường trùng tu năm 1905. Chùa cất theo kiểu chữ “Tam,” chánh điện được chạm trổ rất công phu, nghệ thuật, và có nhiều câu đối có ý nghĩa về Phật Pháp. Chùa đã trải qua 10 đời truyền thừa, các Hòa Thượng Từ Lâm, Huyền Dương, Thông Nam, Thiên Tường, Nguyên Tịnh, Chơn Minh, Tỳ Kheo Ni Diệu Đạt, Hòa Thượng Tịnh Tính, Đại Đức Lệ Tín, và Hòa Thượng Huệ Thông—Name of an ancient pagoda, located in Bửu Hội hamlet, Kiến Hòa district (now is third quarter, Mỹ Tho town), Định Tường province, South Vietnam. Ms. Nguyễn Thị Đại started to build the pagoda in 1803. The first Head of the pagoda was Most Venerable Từ Lâm from Hội Tôn Pagoda of Bến Tre province. After being destroyed by the heavy storm in 1904, the pagoda was restored in 1905 by Most Venerable Thiên Tường. The pagoda was constructed in the “San” shape. In the Main Hall, there are many painstakingly carved drafts and ancient parallel sentences of profound meanings in Dharma. Bửu Lâm Pagoda has apssed through ten successive Heads as Most Venerable Từ Lâm, Huyền Dương, Thông Nam, Thiên Tường, Nguyên Tịnh, and his disciple Chơn Minh, as well as Venerable Bikkhuni Diệu Đạt, Most Venerable Tịnh Tính, Reverend Lệ Quảng, Most Venerable Huệ Thông.
bửu phong
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, một danh lam thắng cảnh, tọa lạc trên đồi Bửu Long, xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên vào thế kỷ thứ 17, lúc đầu chỉ là một cái am nhỏ, sau đó Hòa Thượng Pháp Thông xây lại thật tôn nghiêm. Năm 1829, chùa được trùng tu và mở rộng. Đặc biệt trước chùa được trang trí rất công phu. Chùa vẫn tiếp tục được mở rộng vào các năm cuối thế kỷ 19 và các năm gần đây. Trong chánh điện có pho tượng cổ A Di Đà. Chung quanh vùng núi có các ngôi tháp cổ và các pho tượng lộ thiên khá lớn như tượng Đức Phật Đản Sinh, và tượng Đức Phật Nhập Niết Bàn—Name of a famous ancient pagoda, a spectacular scenery, located on Bửu Long Hill, Tân Bửu hamlet, Biên Hòa City, South Vietnam. The pagoda was built in the seventeenth century. Formerly, it was only a small temple which was later rebuilt by Most Venerable Pháp Thông. In 1829, the pagoda was rebuilt and enlarged, espcially the facade was decorated so meticulously. It has continuously been extended in the last years of the nineteenth century and in recent years. The ancient statue of Amitabha Buddha is worshipped in the Main Hall. The mountainous area is surrounded with ancient stupas and unroofed big statues sucha as the statue of Lord Buddha at his Holy Birth and that of Nirvan Buddha.
bửu quang
1) Tên của một ngôi chùa mới được xây dựng về sau nầy, tọa lạc trong thị xã Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được Hội Phật Học Sa Đéc xây dựng trong thập niên 1950—Name of a recently built pagoda located in Sa Đéc town, South Vietnam. It was built in the 1950s by the Buddhist Studies Association of Sa Đéc. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng của Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam, tọa lạc tại ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, quận Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ năm 1939 đến 1940. Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam xuất phát từ Cam Bốt do một nhóm cư sĩ tại đây đã nghiên cứu giáo lý Nam Tông, soạn dịch kinh điển Pali ra tiếng Việt và lập chùa Sùng Phước, ngôi tổ đình của Phật Giáo Nguyên Thủy do người Việt Nam sáng lập tại Cam Bốt. Cũng từ ngôi chùa nầy mà Đại Đức Hộ Tông đã du nhập vào Việt Nam và một số chùa được ngài kiến lập như chùa Bửu Quang, Kỳ Viên. Đến năm 1957, một Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy được thành lập. Đại Đức Hộ Tông là vị Tăng Thống đầu tiên—Name of a famous Theraveda Pagoda, located in Gò Dưa hamlet, Tam Bình village, Thủ Đức district, Saigon City, South Vietnam. It was built from 1939 to 1940. Vietnam Theraveda Buddhism came from Cambodia. A group of Vietnamese Buddhist monks and lay people have lived there and studied Hinayana, edited, translated many Pali Buddhist Canonical books into Vietnamese and established Sùng Phúc Pagoda, known as the Patriarch Theravada Temple built in Cambodia by Vietnamese. It is from this pagoda that the Theravada Sect has penetrated into Vietnam. Afterwards, other Theravada pagodas were built in Vietnam as Bửu Quang and Kỳ Viên. Up to 1957, Vietnam Theravada Buddhist Association was founded. Venerable Hộ Tông was its first chairman.
bữa ăn
Bhojaniya (P), Meal.
bực bội
Discomfort.
bực mình
Displeased—Vexed.
bực trung
Middle class—Average.
bực tức
To enrage—Hard to tolerate.
bực tức khó nhẫn
See Bực tức.
ca
1) Anh trai: Elder brother. 2) Bản nhạc: A song. 3) Ca hát: To sing.
; (迦) Chữ (ka) của mẫu tự Tất đàm. Một trong 50 chữ cái, một trong 42 chữ cái Tất đàm. Cũng đọc là cát, kiết, yết, kha, cá, các, cám, cước. Là phụ âm đầu tiên trong 35 phụ âm của tiếng Phạm. Chữ Ca biểu thị nghĩa: tất cả pháp xa lìa sự tạo tác. Bởi vì khi nghe chữ này thì người ta liên tưởng ngay đến các tiếng Ca ra ca (Phạm: Kàraka, người tạo tác) và Ca lí da- (Phạm: Kàrya, nghiệp được tạo tác) đều bắt đầu bằng Ca, nên mới có thuyết cho rằng, khi nghe chữ Ca thì xa lìa mọi sự tạo tác. Đại nhật kinh sớ quyển 7 cắt nghĩa là người tạo tác và cho rằng các pháp đều do tạo tác mà thành, nếu rốt ráo không tạo tác thì đó chính là nghĩa vốn chẳng sinh chân thực. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng lên chữ Ca (thượng thanh) thì phát ra tiếng vào quả nghiệp (Phạm: Karmavipàkàvatàra-zabda). Ngoài ra, chữ Ca còn có các nghĩa đại từ bi (Phạm:n Karuịà, thương xót), trùm khắp không dứt v.v... Cứ theo kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 nói, thì chữ Ca biểu thị chủng tử của bồ tát Quán tự tại 11 mặt, vị tôn vì lòng đại bi sâu nặng, nên hiện vô lượng thân, tạo ra vô biên đất nước vi diệu; mười mặt tượng trưng khả năng giáo hóa mọi căn cơ trong mười cõi, còn một mặt chính là bản thân Ngài. Ở đây cho rằng đại bi là tác nghiệp của chư Phật và Bồ tát, bởi thế lấy chữ Ca (Kàrya: tác nghiệp) làm chủng tử. Đại an lạc bất không chân thực kim cương tát đọa ở viện Biến tri của Thai tạng giới cũng lấy chữ Ca làm chủng tử. [X. kinh Đại nhật Q.6 phẩm Bách tự thành tựu trì tụng; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; Tất đàm tạng Q.5].
ca bái
(歌唄) Là từ Hán Phạm hỗn hợp. Ca: ca vịnh; Bái: viết tắt của chữ Phạm: pàỉhanghĩa là tán tụng, tán thán. Cũng gọi Bái nặc. Kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện (Đại 9, 9 thượng) chép: Những tiếng hay như thế, đều đem cúng dường hết; hoặc với lòng vui mừng, ca ngợi (ca bái) đức của Phật [X. Pháp hoa văn cú kí Q.5 trung].
ca bô đại điểu
(迦逋大鳥) Chim ca bô. Ca bô đại, Phạm: Kapota. Cũng gọi Ca bô điểu. Tên chim bồ câu, chim tu hú. Chim to gọi là Ban cưu, chim nhỏ gọi là Ca bô đức ca (Phạm:kapotaka). Cũng có thuyết bảo từ kapotaka là tiếng gọi chung các loài chim. [X. kinh Đại uy đức đà la ni Q.7; Bát nhã đăng luận thích Q.13].
ca bố la hương
(迦布羅香) Ca bố la, Phạm: Karpùra. Cũng gọi Yết bố la hương. Dịch ý: Long não hương. Tên khoa học: Cinamonum camphora, Buds. Là loại cây cao thường xanh, chất gỗ mịn, cứng chắc, mầu vàng nhạt. Lá có cuống dài, mặt lá sáng bóng. Khoảng tháng 5, nở hoa nhỏ màu vàng lợt, sau kết quả mầu đen, to bằng hạt đậu, mùi thơm đặc biệt khác lạ. [X. Đại đường tây vực kí Q.10].
ca bố đức ca
Kapotaka (skt)—Chim bồ câu—A dove—Pigeon.
ca bố đức ca già lam
Kapotaka-samgharama (skt)—Chùa Ca Bố Đức Ca (thời nhà Đường gọi là chùa chim Bồ Câu). Chùa được mang tên nầy là vì trong một thời xa xưa, Đức Phật từng thuyết pháp cho đại chúng trong một khu rừng. Khi Đức Phật đang thuyết pháp, có người thợ săn giăng bẫy bắt chim trong khu rừng, nhưng suốt ngày chẳng được con nào. Anh ta bèn tới chỗ Phật, nói to rằng: “Hôm nay Như Lai thuyết pháp ở đây, làm tôi không bẫy được con chim nào, vợ con tôi đến chết đói mất.” Phật bảo anh ta hãy đốt lửa lên rồi Ngài sẽ ban cho thực phẩm. Khi ấy Đức Phật liền thị hiện làm thân chim bồ câu rồi lao mình vào lửa để làm thực phẩm cho người thợ săn và vợ con anh ta. Lần sau anh lại đến chỗ Đức Phật đang thuyết pháp, đứng nghe Phật giảng và thấy hối hận, từ đó phát tâm xuất gia tu hành giác ngộ—A monastery of the Sarvastivadah school, so called because the Buddha in a previous incarnation is said to have changed himself into a pigeon and to have thrown himself into the fire in order to provide food for a hunter who was prevented from catching game because of Buddha's teaching. When the hunter learned of Buddha's power, he repented and asked the Buddha to allow him to join the order. He later attained enlightenment.
ca ca
Kaka or Kakala (skt)—Ca Ca Ca—Ca Ca La—Con quạ—A crow.
ca ca bà catần đồ la
Kapinjala (skt)—Một loại chim trĩ—A patridge or pheasant.
ca ca ca
Kaka (skt)—See Ca Ca.
ca ca la
Kakala (skt)—See Ca Ca.
ca ca la trùng
Kakala (skt)—Một loại sâu đen (loài sâu cắn chết sâu mẹ)—A black insect or worm.
ca ca na
Gagana (skt)—Bầu trời hay không trung—The firmament—Space.
ca ca điểu
(迦迦鳥) Chim ca ca. Ca ca, Phạm Kaøka. Cũng gọi Ca ca ca điểu. Ca ca là theo tiếng nó kêu mà đặt tên và thường được nói đến trong kinh điển Phật. Loài chim này sống bên ngoài núi Tuyết ở Ấn độ, lông trên cổ phần nhiều mầu xám. Ngoài ra, còn một loại chim gọi là Ca ca la (Phạm: Kàkàla, hoặc Phạm: Kàkola), mình lớn hơn, lông đen tuyền, tiếng kêu hơi khác với tiếng chim Ca ca, nhưng lại gần giống như tiếng người. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.19,Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Phạm ngữ tạp danh].
ca chiên diên
Katsyna (S), Mahā-katyayāna (S)Katyayana, Ma ha Ca chiên diên, Văn Sức tôn giảMột trong thập đại đệ tử của Phật, được Phật công nhận là bậc luận nghĩa đệ nhất trong hàng chư đệ tử.
; Katyàyana (S) One of the ten great disciples of the Buddha.
ca chiên diên tử
Xem Ca Đa Diễn Ni Tử.
; Katyayana or Mahakatyayana, or Mahakatyayaniputra (skt). 1) Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật: One of the ten noted disciples of Sakyamuni. 2) Bộ Luận Vi Diệu Pháp được người ta gán cho ông là tác giả, kỳ thật bộ luận nầy được viết bởi một người cùng tên, nhưng sanh sau ông từ 300 đến 500 năm—The foundation work of the Abhidharma philosophy (Abhidharma-jnana-prasthana-sastra) has been attributed to him, but it is by an author of the same name 300 to 500 years later. ** For more information, please see Ma Ha Ca Chiên Diên.
ca chiên lân đà
Kacilindika (S)Một loài chim.
ca chiên lân đề điểu
(迦旃鄰提鳥) Chim Ca chiên lân đề. Ca chiên lân đề, Phạm: Kàcilindi. Cũng gọi Ca chiên lân đà điểu, Ca già lân địa điểu. Dịch ý là chim thật dễ thương. Một loài chim sống dưới nước. Lông nó mịn, mềm mại, có thể dùng để may áo. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 19 nói, thì Ca chiên lân đề là tên của giống chim báo điềm lành, lông nó rất mềm mịn, nhẹ như tơ, có thể đánh sợi để may áo, vua Chuyển luân mới mặc loại áo này. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.8; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].
ca chá
Kaca (skt)—Pha lê—Crystal—Glass.
ca câu bà thụ
(迦拘婆樹) Cây ca câu bà. Ca câu bà, Phạm, Pàli: Kakubha. Tên khoa học: Terminalia arjuna. Một loại thực vật thuộc họ Ha lê lặc. kinh Phật bản hạnh tập quyển 41 có nói về loại cây này.
ca cưu sử thụ
(迦鳩駛樹) Cây Ca cưu sử. Ca cưu sử, Phạm: Kàkwi. Dịch ý: hương hoặc hương liệu. Cũng gọi Ca cưu thụ. Một trong những giống cây Kim tước nhi thuộc họ đậu. Tên khoa học: Cytisus Cajan. Loại cây thường được nói đến trong kinh Phật. [X. kinh Tăng già la sát sở tập Q.trung; Phiên Phạm ngữ Q.9].
ca da
Kaya (skt). 1) Thân—Body—Assemblage. 2) See Gaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca da sơn
Gajasìrsa (S). Elephant head mount. Also Tượng đầu sơn.
ca di
Kāśi (S), Kāsi (P).
; Kàsì (S). Old name of Benares.
ca di ni
Kamini (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
ca diếp
Kāśyapa (S), Kassapa (P); Mahākāśyapa (S); Pippalayana (S)1- Ca Diếp. Còn gọi Mahakasyapa, Đại Ca-diếp. Tổ thứ 1 giòng Ấn. 2- Ca Diếp Phật: Trong Hiền Kiếp (đại thiên niên kiếp) này, đức Ca la ca tôn đại Phật là Phật thứ nhất, đức Kim Tịch Phật là Phật thứ nhì, Ngài Ca Diếp Phật là Phật thứ ba, đức Thích Ca là Phật thứ tư, đức Di Lặc là Phật thứ năm. 3- Ca Diếp Tiên: Tên một vị tiên trong thần thoại Ấn độ.
; Kasyapa (S).
; Kasyapa (skt)—Ca Nhiếp—Ca Diếp Ba—Ca Nhiếp Ba. 1) Ẩm Quang Thiên: Drinking Light Deva—A class of divine beings similar or equal to Prajapati. 2) Cha của hết thảy chúng sanh (trời, thần, người, cá, loài bò sát, và hết thảy thú vật)—The father of gods, demons, men, fish, reptiles, and all animals. 3) Chòm sao “nuốt ánh sáng” của mặt trời và mặt trăng (nhưng không có sự kiểm chứng rõ ràng)—The constellation of “drinking light,” i.e. swallowing sun and moon (but without apparent justification). 4) Một trong bảy hay mười bậc Thánh của Ấn Độ—One of the seven or ten ancient Indian sages. 5) Tên của một bộ lạc hay một chủng tộc: Name of a tribe or race. 6) Phật Ca Diếp là vị Phật thứ ba trong năm vị Phật hiền kiếp, là vị Phật thứ sáu trong bảy vị Phật thời cổ: Kasyapa Buddha, the third of the five Buddhas of the psent kalpa, the sixth of the seven ancient Buddhas. 7) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ma Ha Ca Diếp là một vị Bà La Môn của xứ Ma Kiệt Đà, trở thành một trong những đại đệ tử của Phật Thích Ca. Sau khi Phật nhập diệt, ông đã trở thành trưởng chúng Tỳ Kheo, và triệu tập và chủ trì hội nghị kiết tập kinh điển đầu tiên, chức vị thượng tọa của ông có từ đấy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms, Mahakasyapa, a brahman of Magadha, who became one of the principal disciples of sakyamuni, and after his death became leader of the disciples, convoked and presided (directed) the first synod,whence his title chairman (Arya-Sthavira) is derived. 8) Đệ nhất hạnh Đầu Đà trước khi giác ngộ: He is accounted the chief of the ascetics before the enlightenment. 9) Vị kiết tập kinh điển đầu tiên và vị tổ thứ nhất sau thời Phật: The first compiler of the canon and the first patriarch. 10) Vị Bồ Tát mà tên đứng đầu trong một chương của Kinh Niết Bàn: A Bodhisatva, whose name heads a chapter in the Nirvana Sutra.
; (迦葉) Phạm: Mahà-kàzyapa, Pàli: Mahàkassapa. Tên đầy đủ: Đại ca diếp, Ma ha ca diếp. Cũng gọi Ca diếp ba, Ca nhiếp ba, dịch ý: Ẩm quang. Một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật. Là vị tổ thứ nhất được đức Phật trao phó Pháp tạng. Ngài sinh ra trong một gia đình Bà la môn ở phía ngoài thành Vương xá. Đức Phật thành đạo được ba năm thì ngài qui y theo Phật, tám ngày sau Ngài chứng quả vị A la hán. Ngài tu hành không chấp trước, Ca Bố La Hương nhân cách thanh liêm, rất được đức Phật tin cậy. Sau khi đức Phật nhập diệt, Ngài lãnh đạo giáo đoàn, triệu tập Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất ở thành Vương xá. Sau khi truyền pháp cho tôn giả A nan (Phạm: Ànanda), Ngài vào núi Kê túc nhập định đợi bồ tát Di lặc ra đời mới vào Niết bàn. Thiền tông cho Ngài là người tu hạnh không chấp trước vào bậc nhất trong hàng đệ tử đức Phật và suy tôn Ngài là Đầu đà đệ nhất. Lại sự tích Niêm hoa vi tiếu liên quan đến việc ngộ đạo của Ngài còn được truyền tụng mãi đến ngày nay. Ngoài ra, đức Phật thứ sáu trong bảy đức Phật quá khứ cũng gọi là Phật Ca diếp. Còn trong hàng đệ tử của Phật, các ngài Ưu lâu tần loa ca diếp, Già da ca diếp v.v... đều có tên là Ca diếp. Lại vị tổ của Ẩm quang bộ Tiểu thừa ra đời 300 năm sau đức Phật nhập diệt cũng có tên là Ca diếp. [X. kinh Tạp a hàm Q.41; Tăng nhất a hàm Q.20, Q.35, Q.44; kinh Phật bản hạnh tập Q.45 phẩm Đại ca diếp nhân duyên; Đại ca diếp bản kinh; luật Tứ phần Q.54; luật Ngũ phần Q.30; kinh Tì ni mẫu Q.1; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.1]. (xt. Kim Sắc Ca Diếp).
ca diếp ba
(迦葉波) Jagdiz Kàsyap (1908-1976). Học giả Phật giáo người Ấn độ. Sư sinh ở Lan khế . Năm 1933 sư học tiếng Pàli và nghiên cứu kinh Phật bằng tiếng Pàli ở viện Phật học Trí nghiêm tại Tích lan, năm sau thụ giới. Sau khi trở về Ấn độ, sư thành lập các cơ sở nghiên cứu văn Pàli và tiếng Ma yết đà. Sư cũng giữ chủ nhiệm và giảng dạy khoa nghiên cứu tiếngPàlivà Phật giáo tại Đại học Phạm văn Ngõa lạp na tây, trụ trì chùa Na lan đà mới. Năm 1974 sáng lập Đại học nghiên cứu Phật giáo Quốc tế ở vườn Lộc dã. Sau sư phiên dịch các kinh Di lan đà vương vấn, Tự thuyết, ương ứng bộ, Trường bộ v.v... từ văn Pàli sang tiếng Hindi. Sư có các tác phẩm: Pàli ngữ đại từ điển, A tì đạt ma triết học, Phật giáo khái luận v.v... sư còn chủ biên Tam tạng Pàlitheo thể Thiên thành được 41 quyển, và am tạng Pàli mục lục.
ca diếp di
Kasyapiya (skt)—Ca Diếp Duy—Ca Diếp Tỳ—Ca Diếp Ba—Sau khi Đức Phật nhập diệt, trường phái Tiểu Thừa Nguyên Thủy được chia làm năm nhánh, trường phái Ca Diếp Di là một, giáo thuyết căn bản dựa vào bộ Luận Ca Diếp Di—A school formed on a division of the Mahasanghikah into five schools a century after the Nirvana. Kasyapiya was one of which teaching based on the Kayapiya Sastra.
ca diếp di bộ
Xem Ca Diếp Tỳ bộ.
; Kàsyapìya (S). A Buddhist sect. Also Ẩm quang bộ.
ca diếp duy bộ
Xem Ca Diếp Tỳ bộ.
Ca Diếp Ma Đằng
(s: Kāśyapamātaṅga, Kashōmatō, 迦葉摩騰, ?-?): người Trung Ấn Độ, thông hiểu các kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa. Xưa kia ông thường giảng Kim Quang Minh Kinh cho một tiểu quốc đề phòng sự xâm lược của địch, cho nên thanh danh của ông rất được người đương thời hâm mộ. Vào năm thứ 10 (67) niên hiệu Vĩnh Bình (永平), được sự thỉnh mời của vua Minh Đế nhà Hậu Hán, ông cùng Trúc Pháp Lan (竺法蘭) ở lại thành Lạc Dương (洛陽) dịch Tứ Thập Nhị Chương Kinh (四十二章經) và được xem như là một trong những người truyền bá Phật pháp đầu tiên tại Trung Quốc.
ca diếp ma đằng
Kāśyapa-Mātaṅga (S),, Kassapa-Mātanga (P)Nhiếp Ma ĐằngMột trong hai vị Sa môn Ấn độ được vua Minh Đế thỉnh qua Trung quốc truyền đạo Phật đời Hậu Hán (25 - 220). Ngài cùng Ngài Trúc Pháp Lan dịch bộ Tứ Thập Nhị chương kinh. Xem Ming-ti.
; Kasyapa Màtanga (S).
; Kasyapa-Matanga (skt)—Nhiếp Ma Đằng—Trúc Nhiếp Ma Đằng—Một vị sư người miền Trung Ấn Độ. Thời Hán Minh Đế, vua sai một phái đoàn sang Ấn Độ cầu pháp đã gặp sư. Sư cùng với ngài Trúc Pháp Lan mang tượng Phật và kinh điển về Lạc Dương khoảng năm 67 sau Tây Lịch—The monk who with Gobharana, of Central India, or Dharmaraksa, i.e. Chu-Fa-Lan, according to Buddhist statements, brought images and scriptures to China with the commissioners sent by Ming-Ti, arriving in Lo-Yang in around 67 A.D.
; (迦葉摩騰) ( ?-73 ) Phạm: Kàzyapa-màtaga. Người đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung quốc. Ngài là người trung Ấn độ. Cũng gọi Nhiếp ma đằng, Trúc nhiếp ma đằng, Trúc diệp ma đằng. Gọi tắt là Ma đằng. Ngài sinh trong gia đình Bà la môn, thông hiểu các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa. Ngài từng đến một nước nhỏ ở miền tây Ấn độ giảng kinh Kim quang minh, nhờ nhân duyên ấy mà nước này thoát khỏi họa đao binh. Vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Hậu Hán, nhận lời mời của vua Minh đế, ngài cùng với ngài Trúc pháp lan đem kinh và tượng Phật đền kinh đô Lạc dương, ở chùa Bạch mã, hai ngài cùng dịch kinh 42 chương, là cuốn kinh đầu tiên được phiên dịch ở Trung quốc, Phật giáo Đông độ cũng bắt đầu từ đó. Ngày mùng một tháng giêng năm Vĩnh bình 14, có 690 đạo sĩ trong nước do Chử thiện tín cầm đầu, xin vua dùng lửa đốt kinh để xem sự hơn kém của Phật giáo và Đạo giáo. Ngày rằm tháng giêng vua triệu tập mọi người ở trên một cái nền cao, rồi đem kinh sách của hai đạo ra đốt để thử nghiệm, sách của Đạo giáo cháy ra tro hết, còn kinh điển của Phật thì không hề hấn gì. Hai ngài Ma đằng và Pháp lan mới đứng ra tuyên dương công đức của Phật, những người thấy nghe đều bảo nhau qui y theo Phật. năm Vĩnh bình 16, ngài thị tịch ở Lạc dương, không rõ tuổi thọ. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.35; Hậu Hán thư Q.42].
Ca Diếp Phật
(s: Kāśyapa-buddha, p: Kassapa-buddha, 迦葉佛): tên của vị thứ 6 trong 7 vị Phật thời quá khứ, vị Phật thứ 3 của thời hiền kiếp. Là vị Phật trước đức Thích Ca Mâu Ni, ngài là thầy của đức Thích Ca, xuất hiện vào lúc con người có tuổi thọ 20.000 năm. Xuất thân của ngài là dòng dõi Bà La Môn, họ là Ca Diếp (迦葉), cha tên Phạn Đức (梵德), mẹ là Tài Chủ (財主) và ngài cư trú tại thành Ba La Na (波羅那). Ngài ngồi dưới gối cây Ni Câu Luật (尼拘律), thành chánh giác và tế độ hơn 20.000 người, trong số đó có Đề Xá (提舍) và Bà La Bà (婆羅婆).
ca diếp phật
Kassapa (P), Kāśyapa (S), Kāśyapa-Buddha (S), ẩn sĩ Ca-diếp, Bà-la-môn Ca-diếpTên một vị Phật hay Như Lai. Vị Phật có trước và là Đức bổn sư của Phật Thích Ca, đã thọ ký cho Thích Ca thành Phật.
; Kasyapa-Buddha (S). The 6th of the seven former Buddha.
; Vị Phật thứ sáu trong bảy vị cổ Phật—The sixth of the seven ancient Buddhas. ** For more information, please see Ca Diếp(6) and Thất Phật in Vietnamese-English Section.
; (迦葉佛) Phạm: Kàzyapa-Buddha. Cũng gọi Ca diếp ba Phật, Ca nhiếp ba Phật. Dịch ý là Ẩm quang Phật. Ngài là đức Phật thứ sáu trong bảy đức Phật quá khứ, cũng là đức Phật thứ ba trong 1000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Theo truyền thuyết, đời trước Ngài là thầy của đức Phật Thích ca mâu ni, đã từng nói trước đức Thích ca trong tương lai nhất định sẽ thành Phật. Theo Trường a hàm quyển 1 kinh Đại bản chép, Phật Ca diếp ra đời trong kiếp Hiền, bấy giờ người ta thọ hai vạn tuổi. Ngài họ Ca diếp, thành Phật dưới cây Câu ni luật (Pàli: Nigrodha), có hai vạn đệ tử, hai đệ tử cao túc là Đề xá (Pàli: Tissa) và Bà la bà (Pàli: Bhàradvàja), đệ tử thị giả tên là Thiện hữu (Pàli: Sabbamitta). Cha tên là Phạm đức (Pàli: Brahmadatta), giòng Bà la môn. Mẹ tên là Tài chủ (Pàli: Dhanavatì). Con trai tên là Tập quân. Vua lúc ấy tên là Cấp tì (Pàli: Kiki), trị vì thành Ba la nại (Pàli: Bàraịasì). Còn Tứ phần luật tỉ khưu giới bản thì chép (Đại 22, 1022 hạ): Tránh tất cả việc ác, làm hết thảy điều thiện, giữ tâm mình trong sạch, đó là lời Phật dạy và bảo đây là Giới kinh do đức Phật Ca diếp nói. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.3; kinh Phật danh Q.8]. (xt. Ca Diếp).
ca diếp tiên
(迦葉仙) Phạm: Kàzyapa. Cũng gọi Ca diếp ba tiên, Ca nhiếp ba tiên. Tên một vị tiên trong Ca Diếp Ma Đằng thần thoại Ấn độ cổ đại. Một trong bảy vị đại tiên trong A thát bà phệ đà. Tương truyền vị tiên này do con của Phạm thiên là Ma lị chi (Phạm: Marìci) sinh ra, kinh điển Phật bảo tiên này là một trong 10 vị đại tiên, một trong 12 đại tiên của Bà la môn. Mật giáo thì lấy vị tiên này làm quyến thuộc của Hỏa Thiên. Trong mạn đồ la do A xà lê truyền được vẽ trong Đại nhật kinh sớ quyển 6 thì có tượng của vị tôn này, nhưng trong Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la thì không có. [X. kinh Tạp a hàm Q.49; Trường a hàm Q.13 kinh A ma trú; luận Đại tì ba sa Q.14].
ca diếp tỳ bộ
Kāśyapīya (S), Suvarsaka, Kassapiya (P)Ẩm quang bộ, Ca Diếp di bộ, Ca Diếp duy bộ, Thiên Tuế bộMột trong 20 bộ phái của Tiểu thừa thành lập khoảng 300 năm sau khi Phật nhập diệt, cũng là tên một bộ luật. Bộ này tách ra từ Nhất Thiết Hữu Bộ. Còn gọi là Thiện tuế bộ (Suvarsaka).
ca diếp đảo khước sát can
(迦葉倒却刹竿) Ca diếp xô đổ cây cột phướn. Tên công án trong Thiền tông. Là nhân duyên truyền nối pháp giữa ngài Ma ha ca diếp và ngài A nan. Cứ theo Vô môn quan tắc 19 chép, thì tôn giả A nan hỏi tôn giả Ca diếp (Đại 48, 295 hạ): Ngoài áo kim lan ra đức Thế tôn còn truyền vật gì khác không? Ngài Ca diếp gọi: A nan! Ngài A nan đáp: Dạ! Ngài Ca diếp nói: Xô đổ cây phướn trước cửa đi!. Cây cột phướn trước cửa là vật tiêu biểu của chùa tháp, biểu thị nơi hoằng pháp, mà đây ngài Ma ha ca diếp lại bảo Xô đổ cây cột phướn trước cửa đi thì hẳn có ý là định chỉ sự hoằng pháp. Bởi vì ngài A nan suốt đời thị giả đức Thế tôn nghe Phật nói pháp, không sót một pháp nào. Nhưng lại chưa hiểu rằng người học Phật là học cái bản lai diện mục của chính mình, ngoài ra không một vật gì khác có thể được. Cho nên khi ngài A nan gạn hỏi Phật còn truyền vật gì khác không thì ngài Ca diếp dùng câu nói Xô đổ cây cột phướn trước cửa đi! để giúp ngài A nan tỉnh ngộ. [X. Niêm bình tam bách tắc bất năng ngữ Q.trung tắc 69].
Ca Duy Vệ
(迦惟衛): từ gọi tắt của Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), âm dịch là Ca Duy La Duyệt (迦維羅閲), Ca Duy La Việt (迦維羅越), Ca Duy La Vệ (迦維羅衛), Ca Tỳ La Bà Tô Đô (迦毘羅婆蘇都), Ca Tỷ La Bà Tốt Đổ (迦比羅皤窣堵), Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ (劫比羅伐窣堵), Bà Đâu Thích Xí Sưu (婆兜釋翅搜), Ca Duy La (迦維羅), Ca Di La (迦夷羅), Ca Tỳ La (迦毘羅); ý dịch là Thương Thành (蒼城, thành màu xanh), Hoàng Xích Thành (黃赤城, thành màu vàng đỏ), Diệu Đức Thành (妙德城, thành có uy đức diệu kỳ), Hoàng Đầu Tiên Nhân Trú Xứ (黃頭仙人住處, chỗ ở của vị tiên nhân đầu vàng), Hoàng Phát Tiên Nhân Trú Xứ (黃髪仙人住處, chỗ ở của vị tiên nhân tóc vàng), v.v. Đây là tên của thành đô do dòng họ Thích Ca cai quản, hay tên một quốc gia. Tương truyền Ca Tỳ La Tiên Nhân (迦毘羅仙人), vị tổ của Phái Số Luận (s: Sāṅkhya, p: Saṅkhyā, 數論), đã từng sống tại thành đô này, nên có tên gọi như vậy. Hiện tại nó ở tại vùng Đề La Lạp Khấu Đặc (s: Tilorakoṭ, 提羅拉寇特) thuộc địa phương Ta-rai của vương quốc Nepal, là nơi đức Phật đản sanh. Quốc vương của thành này là vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯), hoàng thân của đức Thích Ca; vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼), nơi đức Phật đản sanh, là biệt trang của nhà vua, nằm về phía Tây thành. Sau khi dòng họ Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly (s: Virūḍhaka, 毘瑠璃) của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅) thảm sát, thành Ca Tỳ La Vệ đi đến tình trạng suy vong, vùng đất này dần dần bị hoang phế. Khi cao tăng Pháp Hiển (法顯, 340?-?) nhà Tấn của Trung Quốc sang chiêm bái, thành quách nơi đây đã hoàn toàn lụi tàn và dân chúng chỉ còn lại mấy mươi người mà thôi. Đến khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) thời nhà Đường sang Tây du, ông vẫn còn thấy các ngôi già lam, tháp và trụ đá lớn do A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) kiến lập nên. Trụ đá ấy được khai quật vào năm 1897. Trong Phật Quốc Ký (佛國記) của cao tăng Pháp Hiển (法顯, 340?-?) nhà Tấn có giải thích về Thành Ca Tỳ La Vệ rằng: “Tùng thử đông hành giảm nhất do diên, đáo Ca Duy La Vệ Thành, thành trung đô vô vương dân, thậm như khâu hoang, chỉ hữu chúng tăng dân hộ số thập gia nhi dĩ (從此東行減一由延、到迦維羅衛城、城中都無王民、甚如坵荒、只有眾僧民戶數十家而已, từ đây đi về hướng đông, chưa đầy một do tuần, đến Thành Ca Duy La Vệ, trong thành đều không có vua và dân, thậm chí như đất hoang, chỉ có chúng tăng, hộ dân vài chục nhà mà thôi).” Trong Thủy Kinh Chú (水經註), phần Hà Thủy (河水) của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, 466 hay 472-527) nhà Bắc Ngụy (北魏, 386-534) có đoạn rằng: “Hằng thủy hựu đông nam, kinh Ca Duy La Vệ Thành bắc, cố Bạch Tịnh vương cung dã (恆水又東南、逕迦維羅衛城北、故白淨王宮也, sông Hằng lại chảy về hướng đông nam, đi thẳng về phía bắc Thành Ca Duy La Vệ, là vương cung của vua Tịnh Phạn).” Hay như trong Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự Kinh (七佛父母姓字經, Taishō No. 4) lại có câu: “Kim ngã tác Thích Ca Văn Ni Phật, phụ tự Duyệt Đầu Đàn Sát Lợi Vương, mẹ tự Ma Ha Ma Da, sở trị quốc danh Ca Duy La Vệ (今我作釋迦文尼佛、父字閱頭檀剎利王、母字摩訶摩耶、所治國名迦維羅衛, ta nay làm Thích Ca Văn Ni Phật, cha tên là Duyệt Đầu Đàn Sát Lợi Vương, mẹ là Ma Ha Ma Da, trị vì nước tên là Ca Duy La Vệ).”
ca già lân địa
Kacalindikaka or Kacilindi (skt)—Ca Lân Đà—Ca Lân Đề—Ca Chỉ Lật Na—Ca Già Lân Để Ca—Một loài chim mà lông của nó dùng để đan áo—A sea bird, from whose feathers robes are made.
ca già lân địa y
(迦遮鄰地衣) Phạm: Kàcalindika. Cũng gọi Kiếp tạp lâm thời đặc bạch, Ca chiên lân đề y, Ca chân lân để ca, Ca chỉ lật na miên. Dịch ý là áo gấm mịn. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 13 (Đại 54, 383 thượng), nói: Ca giá lân địa là tiếng Phạm, Trung quốc dịch là mềm mại mịn màng, là áo thượng hạng.
ca già ma ni
(迦遮摩尼) Phạm: Kàcamaịi. Cũng gọi Ca giá mạt ni, Ca chá mạt ni. Ca giá, loại thủy tinh; ma ni, đá quí, tính chất hơi kém lưu li (Tì lưu li bảo). Bởi thế các kinh luận thường dùng của báu vô giá để ví dụ chỉ kinh điển Đại bát nhã ba la mật đa rất sâu xa, và dùng Ca giá ma ni để ví dụ chỉ các kinh điển tương ứng của Nhị thừa. [X. luận Bồ đề tư lương Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.21; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3, Q.6].
ca già mạt ni
Kacamani (skt)—Ca Thác Mạt Ni—Tên mọi loài ngọc lưu ly—Crystal—Quartz.
ca hi na y
(迦絺那衣) Ca hi na, Phạm: Kaỉhina. Cũng gọi Ca khích na y, Yết sỉ na y. Dịch cũ dịch là áo thưởng thiện phạt ác. Dịch ý là áo bền chắc, áo công đức. Áo này được phép mặc vào khoảng thời gian bốn, năm tháng sau hạ an cư kết thúc, vì trong thời gian ấy giới luật tương đối nới lỏng, cho nên được phép mặc. Theo luật Tứ phần quyển 43 Ca hi na y kiền độ chép, thì các tỉ khưu an cư, ngày rằm tự tứ xong, ngày 16 đi bái kiến đức Thế tôn, giữa đường gặp mưa, y phục ướt hết, áo Tăng già lê thấm nước, mặc rất nặng, đức Phật mới cho phép mặc áo công đức này. Cũng theo sách đã dẫn, nhận áo này được năm điều lợi ích: 1. Được cất giữ áo thừa. 2. Được ngủ cách đêm không phải mang áo theo. 3. Được ăn riêng ở ngoài chúng tăng. 4. Được ăn nhiều lần ở nhiều chỗ trước giờ ngọ. 5. Trước bữa ăn sau bữa ăn, không cần dặn tỉ khưu khác mà vẫn được vào tụ lạc. Ngoài ra, ở Tích lan, trong thời kì an cư cũng có thể được dùng áo này, nhưng vải thì phải do người ta cúng dường và trong một ngày phải may cho xong. [X. luật Thập tụng Q.29; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18].
ca hy na
Kathina (skt)—Ca Đề—Yết Hy Na. 1) Cứng—Không uyển chuyển—Không tương nhượng: Hard—Inflexible—Unyielding. 2) Tên của một loại áo của chư Tăng Ni, nhận sau mùa an cư kiết hạ: Name of a monk's or nun's robe, received after the summer retreat. 3) Ca Hy Na Nguyệt—Tháng ở giữa tháng mười và tháng mười một, sau khi xong an cư kiết hạ, khi chư Tăng Ni nhận áo Ca Hy Na (Hạ Lạp): Kathina-masa, the month in October-November, interpreted as the month after the summer retreat, when monks and nuns received the “kathina” robe of merit.
ca khúc
Sama Veda (S)Ca vịnhKinh điển Vệ đà.
; A song.
ca kệ
Verses for singing—To sing verses.
ca la
Kàla (S). Time. Also thời gian, thực thời.
; Kala (skt) 1) Một phần cực nhỏ: A minute part. 2) Một nguyên tử: An atom. 3) Một phần trăm của đường kính sợi tóc của con người: The hundredth part lengthwise of a human hair. 4) Một phần mười sáu: A sixteenth part of anything. 5) Một koảng thời gian xác định: A definite time, a division of time. 6) Thời gian làm việc hay nghiên cứu, đối lại với thời gian nhàn rỗi: The time of work, or study, as opposed to leisure time. 7) Màu đen: Black.
; (迦羅) I. Ca la. Phạm, Pàli: Kàla. Cũng gọi Kha la. Dịch ý là thời. Ở Ấn độ, thời được chia làm hai loại: Ca la và Tam ma da. Thời mà trong luật Phật giáo nói, như phi thời thực, thời dược, thời y v.v... là Ca la. Vì sợ lẫn lộn với thời (Phạm: Kàla) mà ngoại đạo chấp là thực tại rồi sinh ra tà kiến, nên chỉ trừ thời được dùng trong các luật, còn ngoài ra Phật giáo phần nhiều dùng Tam ma da. Cũng có thuyết chia thời làm ba loại là Ca la thời, Tam ma da thời và Thế lưu ba thời. Còn kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 42 phẩm Tinh tú nói: 1 Ca la = 1600 sát na, tương đương với 48 giây hiện nay. [X. luận Đại trí độ Q.1; Tục hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí Q.2]. (xt. Tam Ma Da).II. Ca la. Phạm: Kalà. Tên gọi số lượng rất nhỏ. (xt. Ca La Phần).
ca la ba sa lâm
(迦囉波沙林) Ca la ba sa, Phạm: Kalpàsiya, Pàli: Kappàsika, hoặc Kappàsiya. Dịch ý là rừng Bạch điệp, tên một khu rừng ở nước Ma yết đà. Theo Luật tạng đại phẩm chép, sau khi quay bánh xe pháp lần đầu tiên hóa độ năm vị tỉ khưu ở vườn Lộc dã, trên đường từ nước Ba la nại đi đến thôn Ưu lâu tần loa (Pàli: Uruvelà), đức Phật vào nghỉ trong rừng Ca la ba sa. Lúc ấy, có 30 người con trai của thôn Ưu lâu tần loa kết thành một đoàn du hí gọi là Bạt đà la bạt đề (Pàli: Bhaddavaggiya-kumàrà) mang theo đàn bà vào chơi trong rừng này. Bấy giờ, có người con gái cầm áo chạy trốn, mấy chàng trai đuổi theo, giữa đường gặp đức Phật. Ngài hỏi: Tìm kiếm hính mình quan trọng hay tìm kiếm đàn bà quan trọng?. Nghe câu hỏi này, mấy người tỉnh ngộ liền xin xuất gia theo Phật. [X. luật Tứ phần Q.32; luật Ngũ phần Q.15; Pháp cú kinh chú (Pàli: Dhammapada Aỉỉhakathà 1; Đại sự (Phạm:Mahàvastu III)].
ca la ca
1) Một loài hắc long (rồng đen): Kaliyaka (skt)—A naga or a black dragon inhabiting the Yamuna (Jumna), slain by Krsna. 2) Loại áo ca lê ca có màu lốm đốm (dệt bằng hoa cát bối): Kalika (skt)—A garment of diverse colours. 3) Tác Nhân: Karaka (skt)—One who dos, or causes—An agent.
ca la cư đà ca chiên diên
Kakuda Kātyāyana (S), Pakudha Kaccāyana (P).
ca la cưu tôn đà phật
Xem Câu Lưu Tôn Phật.
ca la cưu đà ca chiên diên
Kakuda Kātyāyana (P), Pakudha-kaccāyana (P)Một trong 6 sư ngoại đạo.
; Kakuda-Kàtyàyana (S). One of the six famous heretical leaders.
; (迦羅鳩馱迦旃延) Phạm: Kakuda-katyàyana. Một trong sáu thầy ngoại đạo của Ấn độ đời xưa. Cũng gọi Ca la câu đà ca chiên diên, Ca cứ đa ca chiên diên, Cước câu đà ca đa diễn na, Bà phù đà già tra na, La vị sa ca già diên, Ba hưu ca chiên. Gọi tắt là Ca chiên. Ca chiên diên là họ, dịch ý: cắt tóc; Ca la cưu đà là tên chữ, dịch ý: cổ đen. Ngoại đạo này cho rằng tất cả tội phúc của chúng sinh đều do trời Tự tại tạo ra, trời Tự tại mừng thì chúng sinh yên vui; trời Tự tại giận thì chúng sinh khổ não. Bởi thế, đem tất cả tội phúc qui cho chúa tể Tự tại, con người không thể nói có tội phúc. Ngoại đạo này cũng cho rằng nếu người giết hại tất cả chúng sinh mà lòng không thấy hổ thẹn, thì cuối cùng không rơi vào đường ác, giống như hư không chẳng thấm nước dính bụi. Nhưng nếu sinh tâm hổ thẹn thì liền vào địa ngục, giống như nước thấm sâu vào lòng đất. Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, thì đây là loại ngoại đạo tà kiến vô liêm sỉ. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.19; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
ca la cầu la trùng
(迦羅求羅蟲) Cũng gọi Ca la cữu la trùng, Gia la cầu la trùng. Dịch ý là trùng gỗ đen. Nguyên ngữ tiếng Phạm không rõ, nếu là dịch âm của tiếng Phạm: Kfkalàsa, thì là một giống mọt. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25,113 trung), nói: Ví như Ca la cầu la trùng, thân nó nhỏ bé, gặp gió thì to ra, có thể ăn nuốt mọi thứ. Ánh sáng cũng thế, hễ gặp chúng sinh có thể độ được thì chuyển tăng vô hạn. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 đoạn 1; Phiên Phạm ngữ Q.7].
ca la dục vương
(迦羅育王) Ca la dục, Phạm: Kàlàzoka. Thủy tổ triều vua Nan đà (Phạm: Nanda) nước Ma yết đà trung Ấn độ đời xưa. Cũng gọi Ca la a dục vương, Ca la do già vương, A tu vương. Hán dịch: Hắc thời vương (vua thời đen). Ông vua này ra đời khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, lúc đầu chỉ gọi là vua A dục, nhưng về sau, để phân biệt với vua A dục của vương triều Khổng tước (Phạm: Maurya) mới đổi là Ca la dục vương. Ông là con trai của vua Tu tu na ca (Pàli: Susunàga), đóng đô ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉaliputra), trị vì 28 năm, nhưng Phật giáo miền Bắc phần nhiều không thừa nhận quyền hành của vua Ca la dục. Cứ theo Đảo sử chép, nhà vua lên ngôi được 10 năm thì tỉ khưu Bạt kì tử (Pàli: Vajjiputta) ở thành Tì xá li đưa ra mười việc phi pháp, lúc đầu vua có tham dự việc này, nhưng sau quay về với chính pháp và tổ chức Đại hội kết tập lần thứ hai. Sau khi vua băng hà, 10 người con theo nhau nối ngôi. Nhưng tra cứu lịch sử của các triều vua cùng thời đại và những sử liệu khác thì không thấy có chỗ nào ghi chép về vị vua này. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, Q.2; truyện A dục vương Q.1; Phiên Phạm ngữ Q.4; P.Bigandet: The Life or Legend of Gaudama vol. II].
ca la la
Kalala (skt)—Phôi thai—An embryo—The womb—An embryo shortly after conception.
ca la lưu thôn
Xem Ca la tôn đại Phật.
ca la phần
(歌羅分) Ca la, Phạm, Pàli: Kalà. Tên gọi số lượng rất nhỏ. Cũng gọi Già la phần. Dịch ý là chia, tính phần, có sức mạnh hơn, phép chia, phần lượng so sánh. Phần Giáp chú ......(chú thích ở trên đầu hoặc ở bên cạnh tác phẩm) trong Tuệ lâm âm nghĩa ........... quyển 10 (Đại 54, 368 trung), nói: Nếu chia một sợi lông làm 100 phần, thì mỗi phần gọi là Ca la phần. Các luận dựa theo nghĩa mà phiên dịch từ ngữ này là có sức mạnh hơn, ý nói một ca la phần của vô lượng thiện pháp vô lậu có sức mạnh hơn 1000 ca la phần của pháp hữu lậu. Còn Tuệ uyển âm nghĩa ........... quyển thượng thì nói, một phần trăm hoặc một phần mười sáu của một sợi lông trên thân của người ta, gọi là Ca la phần. [X. kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Kim cương bát nhã ba la mật (ngài Bồ đề lưu chi dịch); Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13, Q.27]. CA LA XA: I. Ca la xa. Phạm: Kalaza. Cũng gọi Yết la xá, Yết la xa. Dịch ý là Bảo bình...... (bình báu), Hiền bình, Bình. Là cái bình dùng để đựng năm thứ báu, năm thứ hương, năm thứ thuốc, năm thứ hạt cây và nước thơm để cúng dường các vị tôn trong mạn đồ la của Mật giáo. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; kinh Tô tất địa yết la Q.trung, Q.hạ]. II. Ca la xa. Là vật trang sức đặt trên nóc chùa tháp ở Ấn độ. Trên nóc các chùa tháp thường làm quả Am ma la (Phạm: Àmalaka) để trang trí, rồi ở trên quả Am ma la để Ca la xa. Vật trang sức này tương đương với lộ bàn..... (mâm lộ thiên) ở Trung quốc. [X. Đại đường tây vực kí Q.7]. CA LAN ĐÀ TRÌ Ao Ca lan đà. Phạm, Pàli: Kalaịđamahì. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9 chép, ao Ca lan đà cách tinh xá Trúc lâm, thành Vương xá về phía Bắc hơn hai trăm bước, thuở xưa đức Như lai thường nói pháp ở đây. Nước ao lắng trong, đủ tám công đức, nhưng sau khi đức Phật nhập Niết bàn, nước ao cạn hết. Cách ao về phía tây bắc từ hai đến ba dặm, có tòa tháp do vua A dục xây, cao hơn 60 thước, bên cạnh tháp có cột đá, trên đầu cột khắc ghi sự tích xây tháp; cột cao hơn 50 thước, trên đầu cột khắc hình con voi. CA LAN ĐÀ TRÚC LÂM Rừng tre Ca lan đà. Phạm: Veịuvana-Kalandakanivàsa, Pàli: Veơuvana-Kalandakanivàpa. Cũng gọi Ca lan đà trúc viên, hoặc Ca lan đa trúc lâm, Ca lan na gia trúc lâm, Ca lăng trúc lâm. Dịch ý là rừng tre sóc (con sóc), rừng tre chim đẹp, rừng tre nhiều chim, rừng tre chim hách. Rừng tre này ở phía bắc thành Vương xá nước Ma yết đà trung Ấn độ là nơi ở của loài chim Ca lan đà. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9 chép, thì rừng tre này thuộc quyền sở hữu của Trưởng giả Ca lan đà, là khu rừng đẹp nhất trong các khu rừng thành Vương xá. Trưởng giả Ca lan đà vốn tin thờ ngoại đạo và đã dâng rừng tre này cho ngoại đạo Ni kiền, nhưng sau nghe đức Phật nói pháp, mới lấy lại và đem dâng cúng Phật để làm tinh xá cho chư tăng. Song theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 4 và luật Tứ phần quyển 50 nói, thì rừng tre này là của vua Tần bà sa la nước Ma yết đà dâng cúng đức Phật. [X. kinh Trung bản khởi Q.thượng phẩm Độ Bình sa vương; kinh Sơ phần thuyết Q.hạ]. (xt. Trúc Lâm Tinh Xá).
ca la sa dã
Kasaya (skt)—Ca La Sa Dị—Áo nhuộm của chư Tăng Ni, đối lại với áo trắng của Phật tử tại gia—A monk's dyed robe, in contrast with white lay garb.
ca la sa dị
Kasaya (skt)—See Ca La sa Dã.
ca la trấn đầu
Kalaka and Tinduka (skt). 1) Ca La: Kalaka (skt). a) Trái cây có chất độc: A poisonous fruit. b) Vị Tăng phá giới: A bad monk. 2) Trấn Đầu: Tinduka (skt). a) Trái cây không có chất độc: A non-poisonous fruit. b) Một vị Tăng tinh chuyên tu hành: A good monk.
ca la tôn đại phật
Krakucchanda Buddha (S)Ca la cưu tôn đà Phật, Câu lưu tôn Phật, Câu lưu tần Phật, Câu lưu tôn, Cưu la tần, Ca la lưu thônTên một vị Phật hay Như Lai. Lúc chưa đi tu, có cha là Ký Đắc (Aggidatta), mẹ là Thiện Chi (Visakha), ở thành An hoà (Khemavati), thành đạo dưới gốc cây Thi lợi sa (Sirisa), có thị giả là Thiện Giác (Buddhija).
; Krakucchanda (S), Kakusandha (P)Tên một vị Phật hay Như Lai.
ca la tý nã ca
Kalapinaka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca La Tý Nã Ca (Kalapinaka) là thành phố Ma Kiệt Đà, khoảng 20 dậm đông nam Kulika, phía nam của thành phố Behar bây giờ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kalapinaka was the city of Magadha, 20 miles southeast of Kulika, south of the present city Behar.
ca la tần ca
Kalavinka (skt)—See Ca Lăng Tần Già.
ca la tỳ ca
See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca la tỳ la
Karavira (skt)—Một loại trúc đào có bông thơm—A fragrant oleander.
ca la việt
Xem Cư sĩ.
; Kulapati (skt). 1) Người đứng đầu bộ tộc: The head of a clan, or family. 2) Đàn Việt hay cư sĩ: Lay people.
ca lan già
Xem Ca lăng tần già.
ca lan đà
Kālanda (S)Vị Trưởng giả thành Vương xá.
; Karanda or Karandaka (skt). 1) Một loài chim bay thành đoàn và có giọng hót hay: A bird which flies in flocks and has a pleasant note. 2) Một loài sóc đã đánh thức vua Bình Sa Vương để báo cho ngài biết về một con rắn: A squirrel which awakened Bimbisara to warn him against a snake. 3) Ca Lan Đà-Trúc Lâm Tịnh Xá, thuộc một vị trưởng giả tên Ca Lan Đà, trước đó nhóm Ni Kiền Tử cư ngụ, về sau vua Bình Sa Vương hiến cho Phật Thích Ca Mâu Ni (đây là Tăng Viện sớm nhất ở Ấn Độ): The Karanda-Venuvana, a garden belonging to an elder called Karanda, used by Nirgrantha sect, then presented by King Bimbisara to Sakyamuni.
ca lan đà trúc lâm
Karanda-Venuvana (skt)—See Ca Lan Đà (3).
ca lan đà trưởng giả
An elder named Karanda who owned the Karanda-Venuvana—See Ca Lan Đà (3).
ca lan đà tử
(迦蘭陀子) con của ca lan đà. phạm: kalandakaputtra, pàli: kalandaka-putta. cũng gọi yết lan đạc ca tử. là con của trưởng giả ca lan đà ở thôn ca lan đà nước tì xá li trung ấn độ. tên chính là tu đề na (phạm, pàli: sudinna, cũng gọi tô trận na, tu đạt đa), còn gọi da xá (phạm:yaza). từng nghe đức phật nói pháp ở nhà giảng trùng các (pàli: kùỉagàra-sàlà) mà xuất gia, nhưng sau vì làm dâm với vợ, nên đức phật đã chế giới cấm dâm dục. [x. luật ngũ phần q.1; luật ma ha tăng kì q.1; luật tứ phần q.1]. ca lăng tần già điểu ca lăng tần già, phạm: kalaviíka, pàli: karavìíka. cũng gọi ca la tần giả điểu, yết la tần già điểu, ca lăng tì già điểu. gọi tắt ca lăng tần điểu, ca lâu tân điểu, ca lăng điểu, yết tì điểu, tần già điểu. dịch ý là chim tiếng tốt, chim tiếng đẹp, chim tiếng hay. loài chim này sinh sản ở ấn độ, vốn ở núi tuyết, ở đồng hoang cũng nhiều. chim màu đen, lông rất đẹp, mỏ thì đỏ, còn ở trong trứng đã biết kêu, tiếng dịu dàng, hòa nhã, êm ái, âm thanh của trời, người, khẩn na la, và tất cả chim khác đều không sánh bằng. trong các kinh điển phật giáo tiếng loài chim này thường được dùng để ví với âm thanh mầu nhiệm của phật và bồ tát. có thuyết cho rằng loài chim này là chim ở tịnh độ cực lạc. trong tịnh độ mạn đồ la, ca lăng tần già được vẽ hình đầu người thân chim. [x. kinh đại bát nhã ba la mật đa q.381; luận đại trí độ q.28; tuệ uyển âm nghĩa q.hạ; phiên dịch danh nghĩa tập q.6].
ca lan đà viên
Karanda (S)Trúc lâm tinh xa(Xem Venuvana).
ca lân đề
Karavinka (S)
ca lâu la
khyung (T).
; Garudas (S) Mythical bird. Also thần điểu, kim xí điểu.
; Garuda (skt)—See Garuda in English-Vietnamese and Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca lâu na vương
MahāpŪrṇa (S)1- Một vị vua trong loài Ca lâu na. 2- Đại viên mãn đà la ni Thần chú, uế tích chơn ngôn.
ca lâu đà di
See Kaludayin in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca lê ca
Kaliyaka (skt)—Se Ca La Ca.
ca lê sa xá ni
Karsaniya (skt)—Sự tha thứ—Forgiveness.
ca lí ca
(迦理迦) Phạm: Kàlika. Vị thứ 7 trong 16 vị Đại A la hán. Cũng gọi Ca lực ca, Kiết lễ kiết, Ca la. Ngài cùng với 1000 vị A la hán quyến thuộc cùng ở châu Tăng già đồ, là bậc Thánh giữ gìn chính pháp, làm ích lợi cho chúng sinh. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ hình tượng Ngài ngồi trên tảng đá với tướng lông mày dài quấn quanh mình. Tô đông pha khen rằng: Ngài có ba thứ: tóc, mày và râu. Đã bỏ râu tóc, chỉ còn lông mày. Nhân đó dạy chúng, vật không thể hai. Đã được không sinh, thì hết sống chết. Ngài Đức thanh đời Minh cũng khen rằng: Khuôn mặt đầy đặn, năm căn rõ ràng. Thanh sắc hương vị, đều có phép tắc. Thân dưới tám thước, mày dài hơn trượng. Dùng mày làm lưỡi, tùy thời nói, lặng. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
ca lô nã
Karuna (skt)—Bi (thương xót)—Pity—Pitying.
ca lý ca
Kārikā (S)Tụng1- Một trong 16 đại A la hán được đức Phật cử đi hoằng pháp ở nước ngoài. 2- Tụng: một thể loại kinh (e.g: Số luận tụng: Samkhya-karika).
ca lăng già quốc
Kaliṅga (S).Xem Yết lăng già quốc.
ca lăng già vương
Xem Ca lợi vương.
Ca Lăng Tánh Âm
(迦陵性音, Karyō Shōon, ?-1726): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Ca Lăng (迦陵), xuất thân Thẩm Dương (瀋), họ Lý (李). Năm 24 tuổi, ông đến tham bái Chơn Nhất (眞一) ở Cao Dương Tỳ Lư (高陽毘廬) và xuất gia. Sau khi thọ Cụ Túc giới, ông theo tham học với Mộng Am Siêu Cách (夢庵超格), đắc pháp với vị này và đã từng sống qua một số danh lam như Thiên Phật (千佛), Lý An (理安), Quy Tông (歸宗), Đại Giác (大覺). Vào ngày 29 tháng 7 năm thứ 4 (1726) niên hiệu Ung Chính (雍正), ông thị tịch. Ông được truy phong hiệu là Viên Thông Diệu Trí Thiền Sư (圓通妙智禪師). Trước tác của ông có Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林) 72 quyển và 10 hội Ngữ Lục.
Ca Lăng Tần Già
(s: kalaviṅka, p: karavika, 迦陵頻伽): còn gọi là Ca La Tần Già (歌羅頻伽), Ca Lan Già (加蘭伽), Ca Lan Tần Già (迦蘭頻伽), Yết La Tần Già (羯羅頻迦), Ca Lăng Tần Già (迦楞頻伽), Ca Lăng Tỳ Già (迦陵毘伽), Ca Lăng Già (迦陵伽), Yết Lăng Già (羯陵伽), Yết Tỳ Già La (羯毘伽羅), Yết Lăng Già La (羯陵伽羅), Ca Tỳ Già La (迦毘伽羅), Hạt Thất Già La (鶡鵯伽羅), Ca Vĩ La (迦尾羅), v.v.; ý dịch là hảo thanh điểu (好聲鳥, chim có tiếng hót hay), mỹ dung điểu (美容鳥, chim có hình dáng đẹp), diệu thanh điểu (妙聲鳥, chim có âm thanh tuyệt diệu). Đây là tên của một loài chim, thường thấy chủ yếu ở Ấn Độ, xuất xứ từ trên Tuyết Sơn (s, p: Himālaya, 雪山); nó sắc màu đen mượt giống như chim sẻ, bộ lông rất đẹp, ở phần cổ có màu đỏ. Khi còn trong trứng, chim đã có thể cất tiếng hót, âm thanh trong trẻo, hòa nhã, vi diệu, so với tiếng của Trời, người, Khẩn Na La (s: kiṃnara, 緊那羅) cũng như tất cả những loài chim khác đều thua xa. Như trong A Di Đà Kinh Yếu Giải Tiện Mông Sao (阿彌陀經要解便蒙鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 430) quyển Trung có giải thích rằng: “Sơn cốc khoáng dã, kỳ trung đa hữu Ca Lăng Tần Già, xuất diệu âm thanh, nhược thiên nhược nhân, Khẩn Na La đẳng, vô năng cập giả (山谷曠野、其中多有迦陵頻伽、出妙音聲、若天若人、緊那羅等、無能及者, nơi hang núi đồng rộng, trong đó có nhiều chim Ca Lăng Tần Già, phát ra tiếng hót vi diệu, dẫu Trời dẫu người, Khẩn Na La vân vân, không thể sánh bằng).” Trong kinh điển Phật Giáo, thường lấy âm thanh của loài chim này để ví cho tiếng vi diệu của chư Phật, Bồ Tát; hoặc xem Ca Lăng Tần Già như là loài chim của thế giới Cực Lạc. Trong đồ hình Mạn Trà La Tịnh Độ, Ca Lăng Tần Già được vẽ dưới hình dạng đầu người thân chim. Trong Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (大乘集菩薩學論, Taishō Vol. 32, No. 1636) quyển 23 có câu: “Mâu Ni Tam Nghiệp siêu Tam Hữu, thí nhược phù cừ bất trước thủy, Ca Lăng Tần Già tịnh diệu thanh, thị cố ngã kim khể cụ lễ (牟尼三業超三有、譬若芙蕖不著水、迦陵頻伽淨妙聲、是故我今稽具禮, Mâu Ni Ba Nghiệp vượt Ba Cõi, giống như hoa sen chẳng thấm nước, Ca Lăng Tần Già tiếng vi diệu, vì vậy con nay cúi đầu lạy).” Hay trong Phật Thuyết Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Đại Thừa Kinh (佛說護國尊者所問大乘經, Taishō Vol. 12, No. 321) quyển 3 có đoạn: “Phước Quang Thái Tử viên uyển chi nội, hữu chủng chủng phi điểu, Anh Vũ, Cù Dục, Uyên Ương, Nga Áp, Khổng Tước Xá Lợi, Câu Chỉ La Điểu, Câu Nỗ La Điểu, Ca Lăng Tần Già, Mạng Mạng Điểu đẳng (福光太子園苑之內、有種種飛鳥、鸚鵡、鴝鵒、鴛鴦、鵝鴨、孔雀舍利、俱枳羅鳥、俱拏羅鳥、迦陵頻伽、命命鳥等, trong vườn của Thái Tử Phước Quang có nhiều loại chim bay, như chim vẹt, sáo, uyên ương, vịt trời, chim sẻ Xá Lợi, chim Câu Chỉ La, chim Câu Nỗ La, chim Ca Lăng Tần Già, chim Mạng Mạng, vân vân).” Trong Tam Thời Hệ Niệm Nghi Quỹ (三時繫念儀範, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1465) lại có đoạn: “Lục thời hành đạo bảo lâm gian, Cửu Phẩm tiêu danh kim chiểu nội, thủy điểu thọ lâm năng thuyết pháp, Ca Lăng Tần Già cọng đàm Thiền, bảo lan bảo can ảnh linh lung, bảo tọa bảo tràng quang xán lạn (六時行道寶林間、九品標名金沼內、水鳥樹林能說法、迦陵頻伽共談禪、寶欄寶網影玲瓏、寶座寶幢光燦爛, sáu thời hành đạo nơi rừng báu, Chín Phẩm đề danh trong hồ vàng, chim nước rừng cây còn thuyết pháp, Ca Lăng Tần Già thảy bàn Thiền, lan can quý báu ảnh lung linh, tòa báu tràng phan sáng rực rỡ).”
ca lăng tần già
Karavīka (S)Diệu âm điểu, Tần giàTên loài chim ở cõi cực lạc.
; Karavinka. (S) Bird with miraculous song. Also diệu âm điểu.
; Kalavinkas (skt)—Ca Lan Già—Ca Lan Tần Già—Yết La Tần Ca—Ca Lăng Tỳ Già—Ca Tỳ Già La—Cáp Tỳ Già La—Yết Tỳ Già La—Ca Tỳ Già—Ca Vĩ La—Một loại chim sẻ ở Ấn Độ, được đề cập trong Kinh A Di Đà, loại chim có giọng hót thảnh thót. Người ta nói loài chim nầy có thể hót từ trong trứng, trước khi được nở ra—A kind of sparrow in Indian, mentioned in the Amitabha Sutra, described as having a melodious voice, found in the valley of Himalaya. It is said to sing in the shell before hatching.
ca lăng tần già vương
Kapinjalaraja (skt)—Tiền thân của Đức Phật là một con chim trĩ—A previous incarnation of Sakyamuni as a pheasant.
ca lăng tần già điểu
Kālaviṅka (S)Diệu âm điểu, Mỹ âm điểuMột giống chim ở cực lạc quốc.
ca lăng tần vũ
(迦陵頻舞) Khúc nhạc múa Ca lăng tần. Ca lăng tần là nói tắt của Ca lăng tần già (Phạm: kalaviíka). Cũng gọi Ca lâu tần vũ, Ca lâu tân vũ, Già lâu tân vũ. Một trong tám khúc nhạc múa của nước Lâm ấp. Do bốn em bé múa điệu Sa đà (hoặc điệu Nhất việt), bốn em đều đội mũ trời, mặc áo cánh chim, hai tay cầm não bạt nhỏ, bắt chước Diệu âm mà múa. Tương truyền thủa xưa, vào ngày cúng dường ở chùa Kì viên bên Thiên trúc, có Ca lăng tần đến múa, lúc đó trời Diệu âm tấu khúc nhạc này, ngài A nan truyền lại để lưu hành ở đời. [X. Long minh sao Q.thượng Ca lăng tần điều; Vũ nhạc yếu lục]. (xt. Ca Lăng Tần Già Điểu).
ca lưu la điểu
Xem Ca lâu la.
Ca Lưu Đà Di
(s: Kālodāyin, p: Kāḷudāyi, 迦留陀夷): còn gọi là Ca Lâu Đà Di (迦樓陀夷), Ca Lô Đà Di (迦盧陁夷), Ca Lộ Na (迦路娜), Ca Lô (迦盧), hay Hắc Ưu Đà Di (黑優陀夷); ý dịch là Đại Thô Hắc (大粗黑), Hắc Diệu (黑曜), Thời Khởi (時起), Hắc Thượng (黑上), Hắc Quang (黑光), v.v., vì ông có thân hình đen thui, nhưng tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Ông là một trong các vị đại đệ tử của đức Phật, xuất thân dòng dõi Bà La Môn. Trong khi Thái Tử Tất Đạt Đa đang còn sống trong cung nội, chưa xuất gia, lúc ấy ông đã xuất gia và là một thành viên trong Lục Quần Tỳ Kheo (六群比丘, 6 vị tỳ kheo đệ tử của Phật, đã từng làm các việc ác, không đúng pháp, gồm Nan Đà [s: Nanda, 難陀]; Ô Ba Nan Đà [s: Upananda, 鄔波難陀]; Ca Lưu Đà Di [s: Kālodāyin, p: Kāḷudāyi, 迦留陀夷]; Xiển Đà [s: Chanda, 闡陀], hay Xa Nặc [車匿]; A Thuyết Ca [s: Aśvaka, 阿說迦] hay Mã Túc [馬足]; Bổ Nại Bà Tố Ca [s: Purnarvasu, 補捺婆素迦] hay Mãn Túc [滿足]), được gọi là Thuyết Pháp Đệ Nhất. Có rất nhiều truyền thuyết về vị đại đệ tử này. Theo Hữu Bộ Phá Tăng Sự (有部破僧事) quyển 2 giải thích về việc nguyên do da ông đen ngòm, vì ông chém chết con độc xà trên đường, bị trúng phải khí của con rắn độc ấy, nên thân hình ông biến hóa thành màu đen. Theo Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經) quyển 17, Tứ Phần Luật (四分律) quyển 14 cho biết, thân hình ông đen ngòm, nên thường đi khất thực vào ban đêm. Có hôm nọ ông đến khất thực ban đêm tại nhà của người phụ nữ kia đang mang thai. Người phụ nữ ấy nhìn thấy ánh sáng chói rực cứ tưởng là quỷ đen hiện đến, quá kinh sợ đến nỗi sẩy thai. Sau khi hỏi ra mới biết là đệ tử của Phật, bà kia chửi mắng ông thậm tệ. Đức Như Lai biết được sự việc này, bèn chế ra giới điều không được đi khất thực quá ngọ. Theo Nhân Quả Kinh (因果經) quyển 2, Ca Lưu Đà Di có học vấn sâu rộng, cùng tuổi với Phật. Trước khi đức Thích Ca xuất gia, ông là thầy dạy trong cung nội. Sau khi đức Phật thành đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ca Lưu Đà Di vâng mệnh đức vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯), cùng với Xa Nặc đi cung thỉnh Ngài về thuyết pháp, và cũng từ nhân duyên này mà Ca Lưu Đà Di phát tâm xuống tóc xuất gia. Tuy nhiên, ông rất nặng về vấn đề sắc dục, nên sau khi xuất gia rồi, ông thường rất khổ tâm về vấn đề này. Biết rõ đây là một trong những chướng ngại vô cùng to lớn đối với người tu hành, nên ông tận lực tu hành và cuối cùng chứng Thánh quả. Theo Thập Tụng Luật (十誦律), Ca Lưu Đà Di là một thành viên trong nhóm 6 Tỳ Kheo, trước kia đã từng tạo ra rất nhiều việc ác, sau đó hối hận, tận lực tu tập, sám hối và cuối cùng chứng quả. Đối với những gia đình trong Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), nơi trước đây ông đã từng hối nhục, nay ông đem tâm thành đến sám hối và giáo hóa họ theo chánh pháp được 999 gia đình. Đến gia đình thứ 1000, ông cũng giáo hóa thành công, nhưng lại bị nhà này giết chết. Gia đình này cũng dòng họ Bà La Môn, ông đến giáo họ và thường nhận cúng dường của vợ chồng nhà này. Chính hai vợ chồng cũng dặn dò con mình rằng sau khi họ qua đời thì cũng nên tiếp tục truyền thống cúng dường như vậy. Tuy nhiên, có hôm nọ người vợ lại đi thông dâm với một thiếu niên tướng mạo trẻ đẹp. Khi Ca Lưu Đà Di đến nhà này, thỉnh thoảng có thuyết giảng cho hai vợ chồng này nghe về tội lỗi xưa kia mình đã từng dâm dục như thế nào để cảnh tỉnh họ. Người vợ bán tín bán nghi, tưởng rằng Ca Lưu Đà Di đã biết chuyện ngoại tình của mình, sợ bị phát giác ra, bèn lập mưu với chàng thiếu niên kia, một hôm nọ giả bệnh, mời ông đến. Sau khi mặt trời lặn, đưa ông ra ngoài chỗ chôn phân, giết chết rồi chặt đầu ông chôn vào trong đống phân. Đức Phật biết được sự việc này, cùng với chư tăng đến chỗ phân kia, lấy thi hài Ca Lưu Đà Di đem ra ngoài thành hỏa táng. Tương truyền sau đó, vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) nước Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅) hay tin như vậy, hạ lệnh tiêu diệt gia đình bà la môn kia cùng với thân thích bảy đời của họ.
ca lưu đà di
Kalodayin (S)Một vị thanh văn, đệ tử đức Phật.
ca lưu đà già
Kalodaka (S)Thời ThuỷMột vị Sa môn Ấn độ sang Tàu dịch kinh tại thành Kiến Khương từ năm 392.
; (迦留陀伽) Phạm: Kàlodaka. Dịch ý là Thời thủy. Người Tây vực, đến Trung quốc vào năm Thái nguyên 17 (392) đời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, có dịch kinh Thập nhị du 1 quyển. Những sự tích khác và tuổi thọ của Ngài đều không rõ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5]. CA MA Phạm: Kàma. I. Ca ma. Thần tượng trưng ái dục trong thần thoại Ấn độ. Trong Lê câu phệ đà và A đạt bà phệ đà đều nói thần này sinh trước các trời và loài người, cũng có thuyết cho Ca ma là nữ thần của hi vọng. II. Ca ma. Tên của quỉ đói. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 17 có nói đến quỉ đói Ca ma chú thích là (Đại 17, 97 hạ): Ca ma lưỡng lư ba, Hán dịch là dục sắc.
ca lật để ca
Karttika (skt)—Tháng ở giữa tháng mười và tháng mười một—The month between October and November—See Thập Nhị Nguyệt.
ca lật để ca nguyệt
(歌栗底迦月) Tháng Ca lật để ca. Phạm: Kàrttika, Pàli: Kattika. Chỉ cho tháng 8 của lịch Ấn độ. Cũng gọi Ca lạt để ca nguyệt, Yết lật để ca nguyệt, Ca hi na nguyệt, Ca đề nguyệt. Dịch ý là tháng sao Mão. Mặt trăng tháng này từ lúc bắt đầu tròn cho mãi đến tiết sao Mão (Phạm: Kfttikà) mới lại thấy tròn nữa, vì thế nên gọi là tháng sao Mão. Tức là tương đương với ngày 16 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng; Luận Đại tì bà sa Q.183; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Đại đường tây vực kí Q.2, Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11]. CA LÂU LA ĐIỂU Chim Ca lâu la. Phạm: garuđa, Pàli: garuơa. Cũng gọi Gia lâu la điểu, Già lâu la điểu, Yết lộ đồ điểu. Dịch ý là ăn nhả tiếng thương đau. Hoặc gọi Tô bát lạt ni (Phạm: Suparịi), tức là chim cánh vàng (kim sí), chim cánh vi diệu. Một loài chim lớn giống như chim cắt, tính hung dữ được thần cách hóa trong thần thoại Ấn độ đời cổ. Thần Tì thấp nô hay ngồi trên lưng chim này. Theo truyền thuyết, khi chim này sinh ra, trên thân có ánh sáng rực rỡ, các trời lầm tưởng đó là Hỏa thiên và thay nhau lễ lạy. Trong các kinh điển Phật giáo đều có nói đến tên của loài chim này, như kinh Trường a hàm quyển 19 chép, chim kim sí (cánh vàng) có bốn loại: đẻ trứng, đẻ bọc , đẻ nơi Ca Lăng Tần Già Điểu ẩm ướt và tự nhiên hóa ra. Chim kim sí đẻ trứng có thể ăn rồng đẻ trứng; chim kim sí đẻ bọc có thể ăn rồng đẻ trứng, đẻ bọc; chim kim sí đẻ chỗ ẩm ướt có thể ăn rồng đẻ chỗ ẩm ướt, đẻ trứng, đẻ bọc, chim kim sí tự nhiên hóa ra có thể ăn rồng tự nhiên hóa ra và các loại rồng khác. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 nói; loài chim này vì nghiệp báo mà được dùng rồng làm món ăn, ở Diêm phù đề, trong một ngày, chim này có thể ăn hết một rồng chúa và 500 rồng nhỏ. Kinh Luật dị tướng quyển 48 nói, chim này khi vỗ cánh phát ra gió, nếu gió ấy quạt vào mắt người thì mắt sẽ mù. Kinh Bồ tát tòng đâu suất thiên giáng thần mẫu thai thuyết quảng phổ quyển 7 chép, chim chúa Kim sí thân dài 8000 do tuần, mỗi cánh dài 4000 do tuần. Trong các kinh Đại thừa, chim này là một trong tám bộ chúng lớn, cùng với trời, rồng; a tu la v.v... cũng được liệt vào hội tọa nghe đức Phật thuyết pháp. Trong Mật giáo, Ca lâu la là hóa thân của Phạm thiên, Tì nữu thiên, Đại tự tại thiên v.v... hoặc có thuyết cho là hóa thân của bồ tát Văn thù sư lợi, được đặt ở phía nam của bộ Kim cương ngoài thuộc Thai tạng giới. Hình tượng Ca lâu la có nhiều loại, Ca lâu la trong di tích Sơn kì (Sànchi)ở Ấn độ chỉ đơn thuần là hình chim, nhưng hình tượng được truyền lại ở đời sau thì phần nhiều là đầu cánh móng mỏ giống như chim cắt, còn mình và chân tay giống như người, mặt trắng, cánh đỏ, thân vàng. [X. kinh Hải long vương Q.4; kinh Pháp hoa Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.5; luận Lập thế a tì đàm Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2]. CA LÂU LA PHÁP Cũng gọi Ca lâu la đại pháp. Phép tu bí mật trong Mật giáo, lấy Ca lâu la vương (chim Kim sí) làm Bản tôn (vị tôn chính) tu để trừ bệnh hoạn, phòng mưa bão và tránh sấm sét v.v... Cứ theo kinh Ca lâu la cập chư thiên mật ngôn chép, thì người trì pháp môn này, trên trời, dưới trời đều có thể qua, chẳng những mọi kẻ oán địch và quỉ thần đều không dám gần, mà người này còn là người hơn hết trong các pháp tất địa thành tựu. Cứ theo Giác thiền sao Ca lâu la pháp chư quĩ nói, thì tu pháp này hành giả có thể được các công đức lợi ích ở đời mạt pháp như: linh nghiệm nhanh chóng, được của báu ở cung rồng, được cam lồ trên trời, trừ nạn trăm rắn, đánh tan quân trận, hàng phục oán gia, trừ các bệnh hoạn v.v... [X. kinh Kim cương quang diệm chỉ phong vũ đà la ni; Văn thù sư lợi bồ tát căn bản đại giáo vương kinh phẩm Kim sí điểu vương]. CA LÊ CA LONG VƯƠNG Ca lê ca, Phạm: Kàlika. Rồng dữ thuộc loài quỉ. Cũng gọi Ca la ca long vương, Già lăng già lăng vương, Gia lê gia long vương. Dịch ý là Câu thời long vương, Hắc sắc long vương. Rồng này cùng với rồng ác kim tì la điều bị đức Phật điều phục. Rồng này ở Chim Ca Lâu La (trong Đồ tượng sao) Chim Ca Lâu La (ở Sơn Kì) dưới sông Ni liên thiền, mù cả hai mắt, sau được gặp đức Phật mới thấy lại ánh sáng. Cứ theo kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật quyển 4 chép, khi Bồ tát tu hành bát nhã ba la mật đa, thì từ luân tướng nghìn bánh xe dưới bàn chân của Bồ tát phóng ra ánh sáng lớn, rồng này thấy thế liền cúng dường. [X. Hữu bộ tì nại da Phá tăng sự Q.5; Phật sở hành tán Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4]. CA LÊ LONG VƯƠNG Ca lê, Phạm: Kàla. Cũng gọi Ca la long vương. Gia lê Gia long vương, Ca la ca lê long vương, Hắc long vương. Rồng chúa thuộc loài quỉ. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 31 chép, sau khi đức Phật thành đạo, có lần Ngài đã nhận lời mời của long vương này xuống dưới cung điện của rồng . Còn theo kinh A dục vương quyển 2 ghi thì khi đức Phật lên đạo tràng Bồ đề, long vương này dâng bài ca khen ngợi Phật. Lại Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 4 thì nói, long vương này cùng với long vương Kiều đàm ma đều từ biển lớn đến thành Tô ba la nghe đức Phật nói pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Chính pháp niệm xứ Q.18; truyện A dục vương Q.2].
ca lợi
Kali (skt)—Ca Lê—Cát Lợi—Ca Lam Phù—Ca La Phú—Striver—Ill-born. 1) Đấu Tránh Ác Sanh: Striver—Ill-born. 2) Đấu Tránh Vương—Ác Thế Vô Đạo Vương: Kaliraja or Kalingaraja (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, Ca Lợi hay vua Ca Lam Phù hay Đấu Tránh Vương là vua của xứ Ma Kiệt Đà, nổi tiếng về sự bạo động của ông ta. Người ta nói rằng trong tiền kiếp, ông đã từng cắt tai, xẻo mũi, hay chặt tay chân của Đức Phật—According to the Nirvana Sutra, Kaliraja was a king of Magadha noted for his violence; it is said that in a former incarnation he cut off the ears, nose, and hands of the Buddha, who bore it all unmoved.
ca lợi quật viện
(迦利窟院) Ca lợi, Phạm: Kàrlì. Tên một tự viện (Phạm: Caitya=chi đề) hang đá ở Bombay, Ấn độ. Viện hang này do nhà trước nhà sau tạo thành, nhà trước rộng khoảng 83 mét, dài 24 mét. Nửa bên phải của mặt trước đã hư hỏng rõ rệt, không có cột, mặt chính còn sót lại bức vách ngăn che, chỗ này có ba cửa vào ăn thông với nhà sau, bên trên các cửa này là các cửa sổ lớn hình móng ngựa làm lối lấy ánh sáng vào nhà sau; hình chạm nổi trên bức vách bên cạnh là tượng Phật và tượng những người dâng cúng. Nhà sau là phần chính của viện hang đá này, rộng chừng 73 mét, dài 199 mét, cao 74 mét. Dọc theo mặt vách, cách khoảng 16 mét có 37 cây cột đá đứng thẳng hàng. Phía trong nhà sau chia làm ngoại trận và nội trận, chỗ sâu nhất của nội trận có đặt một tòa tháp hình bát úp, thiên tỉnh hình vòm trời, có lẽ là loại hình kiến trúc sáng tạo thời bấy giờ. Trên nền tầng thứ hai của tòa tháp đặt cái bát úp, trên bát úp có nóc bằng và cây lọng. Cây lọng làm bằng gỗ, đến nay đã hơi hư hao, nhưng vì nó đã được sáng tạo vào thời ấy nên được xem là di tích lọng tháp duy nhất của đời xưa hiện còn.Bên trong tháp hiện nay rỗng không, chẳng còn thứ di vật nào. Trong 37 cây cột đá, bảy cột chung quanh tháp là cột tám góc đơn thuần, còn hai bên cạnh đều có 15 cây cột tám góc, nhưng trên đầu cột có hình quả chuông và những chạm trổ khác. Những chạm trổ ấy gồm có: voi hai đầu đang quì, phối với người đàn ông đàn bà và các con vật, nét khắc rất đẹp. Phía trước hang bên trái, có cột sư tử (Phạm: siôha-stambha) khắc hình sư tử bốn đầu trên đầu cột; bên phải có Tăng viện (Phạm: vihàra) nằm riêng rẽ trên nóc do bốn cây cột tạo thành. Người ta nhận lầm Quật viện này là phẩm vật dâng tế thần Thấp bà (Phạm: Zìva), nên nhiều tín đồ của Thấp bà giáo đã đến đây cư ngụ, vì những lớp mồ hóng đen ngòm, nên không biết rõ có những bức tranh vẽ trên vách hay không ? Về niên đại đục mở hang viện này thì không được rõ, nhưng cứ theo văn khắc của Trưởng giả Bố đạt ba la (Phạm: Bhùtapàla) ở Tì ca diên đề (Phạm: Vaijayantì)ghi chép lí do tạo dựng viện hang đá này và theo thể chữ viết của ông mà suy đoán, thì tự viện này được khai sáng vào khoảng thời kì đầu của kỉ guyên Tây lịch.Ngoài ra, còn có văn khắc ghi sự kiện Thiện tuế bộ đã dâng điện trước gồm chín phòng cúng dường chư tăng bốn phương, đặc biệt là chư tăng thuộc Đại chúng bộ, việc này xảy ra dưới triều vua Thất lợi phổ lỗ mã tì (Phạm: Zrìpulumavì) của Vương triều Án đạt la vào giữa thế kỉ thứ hai Tây lịch. Viện hang đá này là Chi đề lớn nhất còn sót lại ở Ấn độ, rất đáng giá để bảo tồn. [X. Fergusson and Burges: Cave Temples of India; Fergusson: History of Indian and Eastern Architecture, vol. I; Monier Williams: Buddhism; Coomaraswamy: History of Indian and Indonesian Art; Ấn độ mĩ thuật sử; Ấn độ Phật tháp tuần lễ kí].
ca lợi sa
Karsa or Karsana (skt)—Một đơn vị đo lường trọng lượng của người Ấn, tương đương với nửa lượng của người Trung Hoa—An Indian measure of weight, equivalent to half a Chinese ounce.
ca lợi sa ba nã
Karsapana (skt)—Một đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, tương đương với 400 tiền vàng—An Indian monetary unit, equivalent to 400 candereens.
ca lợi sa bát na
(迦利沙鉢那) Phạm: Kàrwàpaịa, Pàli: Kahàpaịa. Cũng gọi Yết lợi sa bát noa, Kế lợi sa bàn, Ca lật sa bát noa, Ca lợi sa ba noa. Tên một loại tiền tệ của Ấn độ thời xưa. Về giá trị của loại tiền này các thuyết nói không giống nhau. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 4 chép: 20 bối châu là một Ca chỉ nễ, 4 Ca chỉ nễ là một ma sái, 20 ma sái là một Ca lợi sa bát na, cho nên 1 Ca lợi sa bát na tương đương với 1600 bối châu. Phần chú thích của ngài Nghĩa tịnh trong kinh Kim quang minh tối thắng vương cũng nói: 1 Ca lợi sa bát na là 1600 bối châu. Nhưng Huyền ứng âm nghĩa quyển Di Tích Viện Hang Ca Lợi 25 và Câu xá luận bảo sớ quyển 22 đều nói: 80 bối châu là 1 bát noa, 16 bát noa là 1 ca lợi sa bát na, tức là 1280 bối châu. Còn Thiện kiến luật tì bà sa quyển 8 thì bảo 20 ma sa ca là 1 ca lợi sa bát na. [X. luận Du già sư địa Q.79; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13]. CA LỢI VƯƠNG Phạm: Kaliígaràja hoặc Kaliràja. Tên vị vua trong truyện tiền thân của đức Phật. Cũng gọi Yết lợi vương, Ca lê vương, Ca lăng già vương, Yết lăng già vương, Ca lam phù vương. Dịch ý Đấu tránh vương, Ác sinh vương, Ác thế vương, Ác thế vô đạo vương. Trong thời quá khứ, khi đức Phật là vị tiên tu hạnh nhịn nhục, vua Ca lợi bạo ngược vô đạo. Một hôm vua đưa cung nhân ra ngoài du ngoạn, thấy vị tiên Nhẫn nhục đang ngồi thiền dưới gốc cây, các thị nữ liền bỏ vua Ca lợi mà đến chỗ tiên Nhẫn nhục nghe pháp, nhà vua thấy thế sinh tâm ác, cắt hết chân tay vị tiên. Đây là câu chuyện rất nổi tiếng về hạnh nhẫn nhục của Bồ tát. Đại đường tây vực kí quyển 3 chép, về phía đông thành Mang yết li nước Ô trượng na ở bắc Ấn độ có ngôi tháp lớn, người đời truyền rằng đó là nơi vị tiên Nhẫn nhục chịu khổ. Còn Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 thì nêu ra thuyết cho rằng vua Ca lợi là quốc vương nước Ba la nại ở trung Ấn độ. [X. kinh Hiền ngu Q.2; kinh Lục độ tập Q.5; kinh Xuất diệu Q.23; kinh Kim cương bát nhã ba la mật; luận Đại trí độ Q.14]. CA LƯU ĐÀ DI Phạm: Kàlodàyin, Pàli: Kàơudàyin. Cũng gọi Ca lâu đà di, Ca lư đà di, Ca lộ na, Ca lư. Hoặc gọi là Hắc ưu đà di. Dịch ý là Đại thô hắc (đen rất thô), Hắc diệu (đen nhánh), Thời khởi, Hắc thượng. Vị tỉ khưu có nhiều hành vi xấu ác trong hàng đệ tử Phật, một trong bọn sáu tỉ khưu xấu (lục quần tỉ khưu). Kinh Tăng nhất a hàm quyển 47 và luật Tứ phần quyển 40 chép, thân hình Ca lưu đà di rất đen, thường đi xin ăn ban đêm. Một hôm, khi trời tối đen muốn mưa, Ca lưu đà di đến nhà người ta xin, người đàn bà nhà ấy đang mang thai; trong ánh chớp, nhìn thấy Ca lưu đà di, người đàn bà tưởng là quỉ đến, bà ta sợ quá đến nỗi xẩy thai. Sau khi biết là đệ tử Phật, bà ta chửi mắng thậm tệ. Đức Như lai biết được chuyện này nên đã chế giới cấm ngặt các tỉ khưu đi xin ăn sau giờ ngọ. Còn có mấy người khác trùng tên với Ca lưu đà di thấy trong kinh Long tượng Trung a hàm quyển 26, kinh Tự hoan hỉ Trường a hàm quyển 12; và Hữu bộ tì nại da Phá tăng sự quyển 2 v.v... [X. kinh Hiền ngu Q.12; kinh Đại bảo tích Q.61; luận Đại trí độ Q.33].
ca lợi vương
Kalingarāja (S), Kalinrāja (S)Ca lăng già vương.
; Kaliraja or Kalingaraja (skt)—See Ca Lợi.
ca ma
Kama (skt). 1) Tham dục: Desire. 2) Luyến ái: Love. 3) Mong cầu: Wish. 4) Ngạ quỷ: A hungry ghost.
ca ma la bệnh
(迦摩羅病) Ca la ma, Phạm: Kàmalà. Bệnh vàng da. Cũng gọi Già mạt la bệnh, Già ma la bệnh, Ca mạt la bệnh, Ca ma lệnh. Dịch là bệnh vàng da, bệnh rụng tóc, bệnh nhiệt, bệnh phong. Tây tạng dịch là bệnh vàng mắt. Người mắc bệnh này, bị hư con mắt, thấy tất cả mầu sắc đều là mầu vàng, bệnh này rất khó chữa. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 nói đây là do cáu ghét xấu ác ở trong bụng, biểu thị nghĩa không thể chữa trị. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.19; luận Thập môn biện hoặc Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].
ca ma la thập la
Kāmalaśīla (S)Liên Hoa GiớiCùng thời với Liên Hoa Sanh thượng sư và ngài Tịch Hộ, thế kỷ thứ 8.
ca ma lãng ca
Kamalanka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kamalanka là một vương quốc cổ bên Ấn Độ, có lẽ là một phần của Chittagong bây giờ, đối diện với cửa sông Hằng—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kamalanka was an ancient country in India, probably part of the present Chittagong, opposite the mouth of the Ganges.
ca ma lãng ca quốc
(迦摩浪迦國) Ca ma lãng ca, Phạm: Kàmalaíka. Cũng gọi Lãng ca quốc, Lãng ca thú quốc. Tên một nước xưa ở miền đông Ấn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, nước này ở phía biển đông nam nước Tam ma đát tra. Lại theo Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng chép, luận sư Nghĩa huy quê ở Lạc dương trên đường từ Ấn độ trở về nước đã lâm bệnh và mất ở xứ này. Luật sư Nghĩa lãng người Thành đô (Trung quốc) khi đến nước này được Quốc vương tiếp đãi theo lễ thượng khách. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. II].
ca ma lũ ba
Kamarupa (skt)—Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca Ma Lũ Ba, bây giờ là Kamrup, là một vương quốc cổ được thành lập bởi một phần đất tây bộ của Assam (theo Tây Vực Ký của Huyền Trang, thì xứ nầy rộng trên vạn dậm, giống người nhỏ bé, nói tiếng khác với Ấn Độ, thờ phụng thiên thần, không tin Phật Pháp. Đến đời nhà Đường vẫn chưa thấy dựng chùa thờ Phật. Người dân chỉ lén lút niệm Phật. Đến đời vua Câu Ma La, nghe tin Huyền Trang đi ngang, bèn thỉnh ngài đến thuyết pháp)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kamarupa, now Kamrup, an ancient kingdom formed by the western portion of Assam. Until the T'ang dynasty, no temples were ever built there. When King Kamala heard that Hsuan-Tsang crossed by the country, he invited Hsuan-tsang to stop by to preach Buddha's teaching.
ca ma lũ ba quốc
(迦摩縷波國) Ca ma lũ ba, Phạm, Pàli: Kàmrùpa. Cũng gọi Ca ma ba quốc. Một nước xưa ở phía đông Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì nước này chu vi hơn 10.000 dặm, tướng người thấp bé, tiếng nói hơi khác với tiếng trung Ấn độ. Nhân dân nước này thờ cúng thiên thần, không tin Phật pháp. Từ khi Phật giáo hưng khởi cho đến đời Đường, ở nước này vẫn chưa xây dựng chùa Phật và chiêu tập tăng chúng, những tín đồ có lòng tin thanh tịnh thì chỉ thầm niệm Phật mà thôi. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, vua nước này là Câu ma la (Phạm, Pàli: Kurmàra) nghe tin Tam tạng Huyền trang đang ở Ma yết đà liền sai sứ đến mời. Theo lời khuyên của luận sư Giới hiền, ngài Huyền trang bèn đến Ca ma lũ ba, khen ngợi thánh đức của vua Đại Đường, rồi cùng với vua Câu ma la cùng về dự hội Vô già của vua Giới nhật. Nước Ca ma lũ ba xưa hiện nay là vùng tây bộ Assam ở phía đông bắc Bengal. [X. Giải thuyết tây vực kí].
ca ma sa ba đà
Xem Lộc túc vương.
ca ma sa đà vương
Xem Ban túc vương.
ca ma đà đô
Kamadhatu (skt)—Dục Giới gồm thế giới nầy và sáu cõi trời—Bất cứ thế giới nào mà những yếu tố tham dục chưa được khắc phục—The realm of desire, of sensuous gratification; this world and the six devalokas; any world in which the elements of desire have not ben suppressed.
ca na già mâu ni
Xem Kim Tịch Phật.
; Kanakamuni (skt)—Câu Na Hàm Mau Ni—Cát Nặc Già Mâu Ni. 1) See Ca Na Đề Bà. 2) Vị Phật thứ hai trong năm vị Phật Hiền kiếp, vị Phật thứ năm trong bảy vị Phật quá khứ: The second Buddha in the five Buddhas of the Bhadrakalpa, and the fifth of the seven ancient Buddhas—See Ngũ Phật and Thất Phật.
ca na mâu ni phật
Xem Kim Tịch Phật.
ca na đề bà
Kāṇadeva (S)Thánh Thiên, Ca na Đề bàTổ sư thứ 15 trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ.
; Xem Ca na Đề bà.
; Kànadeva (S). Disciple of Nagarjuna. Also Độc nhãn đề bà.
; Kanadeva (skt)—Ca Na GiàMâu Ni (Kanakamuni)—Đệ tử của ngài Long Thọ và là tổ thứ 15, người miền Nam Ấn, dòng dõi quý tộc. Người ta nói ông chỉ có một mắt nên mang tên “Kuna.” Ông còn có tên là Đề Bà Bồ Tát—A disciple of Nagarjuna and fifteenth patriarch, a native of South India, of the Vaisya caste; said to have only one eye, hence Kana his name; known also as Deva-Bodhisattva.
; (迦那提婆) Phạm: Kàịa-deva.Dịch ý là Đơn nhãn đề bà (Đề bà một mắt). Cũng gọi Đề bà (Phạm: Deva), Thánh đề bà (Phạm: Àryadeva), Thánh thiên. Truyền pháp chính tông kí quyển 3 ghi ngài là tổ thứ 15 của Thiền tông Tây thiên. Ngài ra đời vào thế kỉ thứ III Tây lịch trong một gia đình Bà la môn ở nam Thiên trúc. Cũng có thuyết cho rằng Ngài là người nước Chấp sư tử. Học rộng, hiểu sâu, biện tài siêu tuyệt. Ngài từng đục lấy một mắt trên tượng vàng của trời Đại tự tại, sau lại tự khoét một con mắt của mình trả cho trời Đại tự tại, vì thế Ngài có tên Đơn nhãn đề bà. Lần đầu tiên Ngài yết kiến bồ tát Long thụ, Bồ tát sai đệ tử đem bát nước đầy đặt ở trước mặt ngài, Đề bà liền lấy một cây kim ném vào bát nước, hai người tự nhiên khế hợp. Ngài xin xuất gia làm đệ tử bồ tát Long thụ. Sau ngài đi khắp Ấn độ, đem tài hùng biện hàng phục ngoại ngoại, hóa độ hơn trăm vạn người. Sau vì kết oán, Ngài bị đồ chúng ngoại đạo giết chết. Trước khi chết, Ngài để lại bài kệ như sau: Các pháp vốn không, không ta của ta, không người làm hại, không người bị hại. Bảo lâm truyện quyển 3, Tổ đường tập quyển 1 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2, đều có ghi chép sự tích của ngài. Về tác phẩm thì có: Bách luận 2 quyển, Quảng bách luận bản 1 quyển. [ X. truyện Đề bà bồ tát; Phật tổ lịch đại thông tải Q.5; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Xuất tam tạng ký tập Q.12]. CA NẶC CA BẠT LI ĐỌA XÀ Phạm: Kanakabharadvàja. Vị thứ ba trong 16 vị đại A la hán, cũng gọi là Ca nặc ca bạt lê đọa xà, Kiết nạp kiết lạt xuyết tập. La đọa. Bậc Thánh cùng với 600 vị A la hán quyến thuộc của ngài cùng ở châu Đông thắng thần để giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ tượng Ngài gầy trơ xương, mắt nhìn thẳng, lông mày ngang như lưỡi gươm, tay phải cầm phất trần, tay trái đặt trên đầu gối. Tô đông pha làm bài tán khen rằng: Nhướng mày nhìn thẳng, phất trần ngang gối. Hỏi đại sĩ này, là nói hay im? Im tựa sấm sét, nói như tường vách. Chẳng nói chẳng im, là cách của tổ. Ngài Chân khả đời Minh thì khen rằng: Xương bằng củi khô, quên mình và vật. Mắt sáng mày ngang, thấy người chôn sống. Tay phải cầm phất, phủi hết khen chê. Vai cao chân bằng, là giống rồng voi. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
ca ngâm
To sing poems.
ca ngợi
To congratulate.
ca nhạ ca bạt ly hoa xà
Kanakabharadva (S)Một trong 16 đại A la hán được đức Phật cử đi hoằng pháp ở nước ngoài.
ca nhạ ca phạt ta
Kanakavata (S)Một trong 16 đại A la hán được đức Phật cử đi hoằng pháp ở nước ngoài.
ca nhạc
Music and song.
Ca nhạc thần
歌樂神; C: gēlèshén; J: kagakujin;|Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Khẩn-na-la (緊那羅).
Ca nhạc thần 歌樂神
[ja] カガクジン kagakujin ||| Music spirit. A translation of the meaning of kiṃnara. See 緊那羅. => Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Xem Khẩn-na-la 緊那羅.
ca nhị sắc ca
Kanishka (S) Name of a king.
ca nhị sắc già
Kaniska (skt)—See Ca Ni Sắc Ca.
ca ni ca
Kanaka or Kanika (skt)—Một loại cây, có lẽ là cây chiên đàn—A tree or plant, probably a kind of sandal-wood.
ca ni sắc ca
Kanishka (skt)—Vua nước Nguyệt Chi (tộc Nguyệt Thị, tổ tiên xuất phát từ Trung Á), cai trị xứ Kiện Đà La, phía bắc Punjab bây giờ, ông đã thống trị một vùng rộng lớn mà phía tây giáp đến Đại Hạ, vùng lãnh thổ rộng lớn từ Kabul, Gandhara, Sindh, Tây bắc Ấn Độ, Kashmir và một phần của Madhyadesa về sau đời vua A Dục. Ông là một ông vua đầy quyền uy thuộc dòng dõi Saka hoặc Turuska. Ông là vị hộ pháp lớn của Phật giáo, chỉ sau có vua A Dục và Di Lan Đà. Chuyện quy-y theo đạo Phật của Ca Ni Sắc Ca cũng diễn ra giống hệt như chuyện vua A Dục. Người ta nói rằng thuở thiếu thời, quốc vương Nguyệt Chi đã không có sự tôn trọng đối với đạo Phật. Ông không tin vào nghiệp báo và đối xử với đạo Phật một cách khinh mạn. Rồi chính nỗi ân hận trước cảnh giết chóc trong các cuộc chinh phục Kashgar, Yarkand và Khotan đã khiến ông tìm đến với giáo lý của đạo Phật, và sau đó ông đã truyền bá một cách tận tình. Ông đã hoàn tất công việc của vua A Dục và giúp cho Phật pháp hoằng dương thắng lợi khắp châu Á. Hoạt động truyền giáo không ngừng nghỉ xuyên qua đế quốc rộng lớn của ông ta từ Madhyadesa ở Ấn Độ đến Trung Á. Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, niên đại của Ca Ni Sắc Ca có lẽ vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất. Vào khoảng từ 125 đến 165 sau Tây Lịch, ông đã triệu tập hội đồng kiết tập kinh điển lần thứ tư, với 500 vị Tăng dưới sự chủ tọa của Thế Hữu đại sư tại vùng Kashmir. Nhưng theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, thì triều đại Ca Ni Sắc Ca từ 78 đến 101 sau Tây Lịch đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong lịch sử Phật giáo và văn học Phật giáo. Triều đại nầy đã chứng kiến sự trổi dậy của Phật giáo Đại Thừa và hoạt động văn học rực rỡ được khởi đầu từ những danh Tăng như Hiếp Tôn Giả, Mã Minh, Thế Hữu và các vị khác. Chính trong thời đại nầy, tiếng Pali đã phải nhường chỗ cho tiếng Phạn. Trong lãnh vực nghệ thuật, trường phái điêu khắc Gandhara nổi tiếng đã phát triển và các bức tượng Phật, tượng Bồ Tát đã bắt đầu xuất hiện. Việc đóng góp to lớn nhất mà vua Ca Ni Sắc Ca đã dành cho Phật giáo là việc triệu tập Nghị Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ tư tại Kashmir (see Kết Tập Kinh Điển IV). Theo Tây Vực Ký Truyện của Huyền Trang thì Nghị Hội đã diễn ra tại Kashmir. Mục đích của nghị hội là kết tập các giáo lý của Đức Phật và viết luận giải cho giáo lý nầy theo Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada school). Nghị Hội lần thứ tư đã kết tập được bộ Tỳ Bà Sa Luận. Về Tam Tạng của giáo điển, nghị hội đã biên tập được 10 vạn bài tụng của bộ luận Ưu Ba Đề Xà (upadesa-sastra) giải thích kinh tạng, mười vạn bài tụng của bộ Tỳ Nại Đa Tỳ Bà Sa (Vinaya-vibhasa-sastra) giải thích Luật Tạng, và mười vạn bài tụng của bộ A Tỳ Đạt Ma Tỳ Bà Sa giải thích Luận Tạng. Bộ Đại Tỳ Bà Sa (Mahavibhasa) hiện còn bản Hoa ngữ, có lẽ là tiêu biểu cho các bộ luận đã được biên soạn tại Nghị Hội nầy. Khi kinh điển đã được kiết tập, ông bèn cho khắc vào bản đồng và lưu trữ trong tháp. Ngoài ra, vua Ca Ni Sắc Ca còn cho xây dựng nhiều tu viện và bảo tháp. Ông đã xây dựng nên một thành phố có tên là Kanishkapura, được xác định là thành phố Kanispur ngày nay tại Kashmir. Riêng tại Purusapura, nay là Peshawar, ông đã cho xây dựng một đại điện mang tên ông, phía tây của điện nầy là Đại Tu Viện Ca Ni Sắc Ca. Đại điện Ca Ni Sắc Ca là một kiến trúc uy nghi, cao 120 mét, phần đáy có năm tầng, cao 45 mét. Các vị khách hành hương từ Trung Quốc là Pháp Hiển, Tống Vân, và Huyền Trang đã không tiếc lời ca ngợi vẻ đẹp kiến trúc của ngôi tháp quan trọng nầy. Còn Đại Tu Viện Ca Ni Sắc Ca là một tu viện cổ, vào thế kỷ thứ bảy khi Huyền Trang đến thăm viếng, ngài đã kể lại là trên các tầng của tu viện có nhiều sân thượng được nối nhau bởi những hành lang, và mặc dù các tòa nhà đã đổ nát nhưng có thể nói đây là công trình nghệ thuật hiếm có. Trong tu viện ấy, vẫn còn một số Tỳ Kheo thuộc phái Tiểu Thừa—King of the Yueh-Chih, i.e. of Tukhara and the Indo-Scythians, ruler of Gandhara in northern Punjab, who conquered northern India and as far as Batria from Kabul, Sindh, North West India, Kashmir, and part of Madhyadesa. He became a patron of Buddhism, the greatest after Asoka and Milinda. The story of Kanishka's conversion to Buddhism followed the same way as that of Ashoka. It is said that Yueh-Chi monarch in his early life had no respect for the Buddhist religion. He did not believe in Karma, and treated Buddhism with crushing contempt. It was his remorse at the bloodshed during his conquests of Kashgar, Yarkand, and Khotan that drew him to the quietist teachings of Buddhism which he propagated later with such zeal. It was during Kanishka's reign and largely through his efforts that Buddhism was successfully introduced into Central and Eastern Asia. There was ceaseless missionary activity throughout his vast empire which extended from Madhyadesa in India to Central Asia. According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, his date probably at the close of the first century. At around 125-165 A.D., he convoked the fourth synod in Kashmir (see Kết Tập Kinh Điển III), of 500 leading monks under the presidency of Vasumitra. However, according to Prof. Bapat in Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, Kanishka's reign (78-101 A.D.) also marked an important turning point in the history of Buddhism and Buddhist literature. It witnessed the rise of Mahayana Buddhism and the magnificent literary activity started by Parsva, Asvaghosa, Vasumitra, and others. It was in this age that Pali gave place to Sanskrit. In the field of art, the celebrated Gandhara sculptures developed and figures of the Buddha and Bodhisattvas began to appear. The King's greatest contribution to Buddhism was his convention of the Fourth Council. According to Hsuan-Tsang in the Records of Western Countries, the Council met in Kashmir. The chief aim of the Council was the compilation of the doctrines of Buddhism and the writing of commentaries on them according to the Sarvastivada school of Buddhism. The Fourth Council compiled the commentaries known as the Vibhasa-sastra. On the three Pitakas of the Buddhist Canon, the Council composed 100,000 stanzas of the Upadesa-sastras explaining the canonical sutras, 100,000 stanzas of the vinaya-vibhasa-sastras explaining the Vinaya, and 100,000 stanzas of the Abhidharma. The Mahvibhasa, which is still preserved in Chinese, perhaps represents the commentaries prepared by this Council. When the canon was revised and settled; this he is said to have had engraved on brass and placed in a stupa. Besides, king Kanishka founded many monasteries and stupas. He founded a city named Kanishkapura which has been identified with the modern Kanispur in Kashmir. Kanishka erected a Great Stupa which was named after him. To the west of the stupa, he built a large monastery which was known as Kanishka Mahavihara. Both these structures were erected at Purusapura, now Peshawar. The Great Stupa was a magnificent structure, 400 feet high, the base being in five stages and 150 feet high. The Chinese pilgrim Fa-Hsien, Sung-Yun, and Hsuan-Tsang have lavished great praise on the architectural beauty of this important relic tower. The Kanishka Mahavihara was an old monastery, at the time when Hsuan-Tsang visited it in the seventh century A.D., its upper storeys and many terraces were connected by passages and although the buildings were in ruins they could be said to be of rare art. There were still in the monastery a few Hinayanist monks.
ca niệm phật
(歌念佛) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nghĩa là khi niệm Phật, âm thanh ngân dài, cũng như ca vịnh phải nhịp nhàng hòa điệu. Cũng gọi Phù thế niệm Phật. Cách niệm Phật theo tiếng kiểng, hoặc theo bước đi nhún nhảy theo nhịp trống do Thượng nhân Không dã bày ra. Cách niệm Phật này nhằm mục đích giáo hóa quần chúng bình dân, nhưng sau dần dần trở thành lối hát xướng ngâm vịnh tầm thường, thế tục, làm mất đi ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo. [X. Nhân luân huấn mông đồ vựng Q.7; Hí du tiếu lãm Q.6 phần trên].
Ca Nặc Ca
(迦諾迦): gọi tắt là Nặc Ca (諾迦), tức vị cao tăng trong mộng đã giúp Quốc Sư Ngộ Đạt (悟達, 811-883) chữa lành bệnh và tạo nhân duyên cho pháp sám hối Thủy Sám ra đời. Trong bài tựa của Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám (慈悲道塲水懺) có câu: “Cái thủ Tam Muội thủy, tẩy oan nghiệp vi nghĩa, mạng danh viết Thủy Sám, thử Ngộ Đạt cảm Ca Nặc Ca chi dị ứng (蓋取三昧水、洗冤業爲義、命名曰水懺、此悟達感迦諾迦之異應, vì vậy lấy nước Tam Muội rửa sạch oan nghiệp làm nghĩa, đặt tên là Thủy Sám, đây là do Ngộ Đạt cảm ứng được điều linh dị nơi Tôn Giả Ca Nặc Ca).”
ca nặc ca bạt lỵ đọa xà
Kanakabharadvaja (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
ca nặc ca phạt sa
Kanakavatsa (S)Một trong 16 vị La hán được đức Phật cử đi hoằng pháp.
ca nặc ca phạt tha
(迦諾迦伐蹉) Phạm: Kanakavatsa. Vị thứ hai trong 16 vị Đại A la hán. Cũng gọi Kiết nạp kiết ba tát, Na ca bạt. Bậc thánh cùng với 500 vị A la hán quyến thuộc của ngài cùng ở tại nước Ca thấp di la phương bắc để giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho loài hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ tượng ngài vai trái mang gậy, hai tay kết ấn. Ông Tô đông pha làm bài tán khen rằng: Tuổi tác bao nhiêu? Sao trông vẫn trẻ. Tôi biết tâm ngài, Phật chẳng cười bậy. Giận, mừng tuy giả, cười thì chẳng giận. Đem cái không lo, cho vô lượng người. Ngài Chân khả đời Minh thì tán rằng: Thân như cây khô, chợt mở nét mặt. Trông khoảng giây lát, mắt quắc, mũi nở. Một cành cây lật, cầm chắc trong tay. Có tâm không tâm, bút mực khó tả. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập]. CA NHỊ SẮC CA VƯƠNG Ca nhị sắc ca, Phạm: Kaniwka. Cũng gọi Kế nị ca vương, Kế nị già vương, Đàn kế nị tra vương, Cát nị thi cát vương, Ca nị sắt tra vương. Vua nước Kiện đà la (nước Nguyệt chi) thuộc Ấn độ đời xưa. Vua đời thứ ba của vương triều Quí sương (Phạm: Kuwàna), niên đại của ông được coi là thời đại then chốt trong lịch sử văn hóa và lịch sử chính trị của Ấn độ, tuy nhiên, năm ra đời và năm lên ngôi vua của ông có nhiều thuyết khác nhau: 1. Cứ theo bài tựa trong kinh Tăng già la sát sở tập và kinh Tạp bảo tạng quyển 7 chép, thì vị vua này ra đời khoảng 700 năm sau đức Phật nhập niết bàn. 2. Bài tựa kinh Tì bà sa nói vua ra đời khoảng 600 năm sau đức Phật nhập diệt. 3. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện và luận Chương sở tri quyển thượng chép niên đại của vua là sau đức Phật nhập diệt 500 năm.4. Theo luận Đại tì bà sa quyển 200 và Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2 chép, thì vua ra đời khoảng 400 năm sau đức Phật vào niết bàn. 5. Lạc dương già lam kí quyển 5 nói, vua ra đời khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt. 6. Đại đường tây vực kí đồng ý với thuyết thứ tư ở trên, chủ trương vua ra đời khoảng 400 năm sau Phật nhập diệt, tức là vào thế kỉ thứ nhất Tây lịch. Các học giả cận đại phần nhiều nhất trí với thuyết này. 7. Tam quốc chí Ngụỵ thư quyển 3 chép: Năm Thái hòa thứ ba (229) đời Minh đế, vua nước Đại nguyệt chi là Ba điều (cháu của vua Ca nị sắc ca) sai sứ đến nước Ngụy. Cũng có người căn cứ vào sử kiện này mà cho rằng vua Ca nị sắc ca ra đời vào thế kỉ thứ II tây lịch. Vua Ca nị sắc ca tiếp nối vua A dục xây dựng đế quốc lớn, chi phối toàn miền bắc Ấn độ. Trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, Ca nị sắc ca và A dục đều được ca tụng là hai vị vua hộ trì Phật pháp. Vua dời thủ đô từ Trung á đến thành Phú lâu sa ở vùng Kiện đà la phía tây bắc Ấn độ thời xưa. Nhà vua tiếp xúc mật thiết với văn hóa Trung quốc, Hi lạp, La mã, tạo nên sự dung hợp giữa các nền văn hóa đông và tây. Lúc đầu nhà vua tôn sùng dị giáo, hông tin tội phúc, khinh rẻ Phật pháp, sau nhờ sự cảm hoá của bồ tát Mã minh vua mới quy y Phật giáo. Nhưng Đại đường tây vực kí quyển 2 và kinh Tạp bảo tạng quyển 7 ghi chép nhân duyên qui y của vua lại khác. Về sau vua ra sức bảo hộ Phật giáo, xây dựng chùa viện của Thuyết nhất thiết hữu bộ, và triệu tập 500 vị A la hán gồm các ngài Hiếp tôn giả, Thế hữu, Pháp cứu, Giác thiên v.v... đến Ca thấp di la để kết tập và chú thích Tam tạng. Cứ theo truyền thì bộ luận Đại tì bà sa 200 quyển hiện còn là luận chú thích tạng luận trong Tam tạng đó, duy có điều là thực hư thế nào thì khó xác định. Thời kì vua Ca nị sắc ca trị vì, Phật giáo được truyền bá rộng rãi, nhiều cao tăng xuất hiện, công cuộc biên soạn các kinh điển Đại thừa được xúc tiến. Rồi đến thời đại con của vua là Phú tây sắc ca vương (Phạm: Huviwka), vì chịu ảnh hưởng văn hóa Hi lạp một cách sâu đậm nên mỹ thuật Phật giáo Kiện đà la đã một thời rất thịnh. [X. luận Đại tì bà sa Q.114; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Đại đường tây vực kí Q.3; Rhys Davids: Buddhism; V. A. Smith: Early History of India]. CA NHỊ SẮC CA VƯƠNG VI THIÊN ĐẦU NGƯ Vua Ca nhị sắc ca sinh làm con cá nghìn cái đầu. Vua Ca nhị sắc ca của nước Kiện đà la thuộc Ấn độ thời xưa một đời đánh dẹp bốn phương, phạm tội giết hại rất nhiều, tuy nghebồ tát Mã Minh nói pháp, qui y Phật giáo, nhưng sau khi chết vẫn phải sinh vào biển lớn làm con cá nghìn đầu, bị người dùng gươm chặt hết đầu và cứ chặt đến đâu lại sinh ngay đến đấy, luân hồi không dứt. Lúc đó có vị La hán làm Duy na đánh kiền chùy (kiểng), cá nghe tiếng kiền chùy thì hết đau đớn, bèn xin vị La hán dùng bản gỗ đánh liên tục để giảm nghiệp khổ cho mình. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng đoạn 1]. (xt. Ca Nhị Sắc Ca Vương).
ca nị sắc vương
Kniska (S)Đại hội kết tập, thế kỷ I sau Công nguyên.
ca phạm ba đề
Xem Kiều phạm ba đề.
ca phạn đạt ma
Bhagava-dharma (S) Translator of the Avalokitesvara's great compassion heart dharani. Also Tôn pháp.
Ca Sa
(s: kaṣāya, kāṣāya; p: kāsāya, kāsāva, 袈裟、毠㲚): theo nguyên ngữ nó có nghĩa là y phục có màu sắc sần sùi như trái thị, người ta nhuộm y của tu sĩ Phật Giáo băng màu sắc trái thị nên y đó được gọi là Ca Sa; còn hoàng y (黃衣, y vàng), hoại sắc (壞色) là ý dịch. Nó còn được gọi là Tệ Y (弊衣, y xấu), Phấn Tảo Y (糞掃衣, y quét phân), Cát Tiệt Y (割截衣, y cắt ra từng mảnh), Nạp Y (衲衣, y nghèo nàn), Điền Tướng Y (田相衣, y có hình như ô ruộng), Phước Điền Y (福田衣, y ruộng phước), Công Đức Y (功德衣, y công đức), Giải Thoát Y (解脫衣, y giải thoát), v.v. Tệ Y và Phấn Tảo Y là loại nguyên lai người ta lượm những mảnh vải vứt bỏ ở các nghĩa trang hay đống rác, rồi đem giặt, nhuộm màu vàng và kết thành. Cát Tiệt Y và Nạp Y là loại được khâu lại từ nhiều mảnh vải vụn. Điền Tướng Y cũng như Phước Điền Y là loại được tạo theo hình dáng ô ruộng. Ca Sa là loại y phục có sắc màu xấu xí, không gây ấn tượng mạnh, nên không sợ bị mất cắp; vì thế vị Tỳ Kheo mang y này có thể xa lìa niệm trần tục mà chú tâm vào việc tu tập, đạt được giải thoát cho tự thân và có được công đức to lớn, nên nó được gọi là Công Đức Y hay Giải Thoát Y. Tùy theo số lượng mảnh vải được nối ráp lại, người ta phân ra làm nhiều loại như 5 điều, 7 điều, 9 điều, 13 điều, 15 điều, 25 điều, v.v. Y có từ 9 điều trở lên được gọi là Đại Y hay Tăng Già Lê (s: saṅgāṭī, 僧伽梨), y 7 điều là Thượng Y hay Uất Đa La Tăng (s: uttarasaṅga, 鬱多羅僧), y 5 điều là Nội Y hay An Đà Hội (s: antarvāsa, 安陀會). Đó gọi là Tam Y. Trong Thiền Tông, việc truyền trao pháp là truyền trao y bát, cho nên người ta rất tôn trọng y Ca Sa. Đặc biệt, ngài Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị tổ sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, đã nhấn mạnh rằng Ca Sa là ấn chứng của Phật pháp chánh truyền. Cùng với sự truyền bá của Phật Giáo, Ca Sa đã phát sanh ra rất nhiều thay đổi tùy theo sự khác nhau về khí hậu, phong thổ, y phục, tập quán, v.v. Tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ca Sa được mặc trên Pháp Y; đặc biệt loại Ca Sa dùng trong các nghi thức trọng yếu đã trở thành loại trang sức rất hoa mỹ, có thêu các hoa văn. v.v.
ca sa
(袈裟) Phạm: Kawàya, Pàli: Kasàya hoặc Kasàva. Dịch ý: hoại sắc (mầu xấu xí), bất chính sắc (không phải mầu chính), xích sắc (mầu đỏ), nhiễm sắc (mầu nhuộm). Chỉ cho áo pháp của chư tăng. Cũng gọi Ca sa dã, Ca la da duệ, Ca sa, Gia sa. 1. Về mầu sắc: các bộ luật tuy nói khác nhau, nhưng đại để đều tán đồng thuyết dùng ba thứ hoại sắc: mầu xanh, mầu bùn (đen), mầu mộc lan (vỏ dà). Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ đoạn 1 nêu ra những mầu không đúng phép, đó là: a. Năm mầu chính: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. b. Năm mầu pha trộn: đỏ thắm, đỏ lợt, đỏ tươi, xanh biếc, vàng khè. Nhưng, Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ và kinh Xá lợi phất vấn lại nói mầu áo của năm bộ có khác nhau: mầu xanh (Hóa địa bộ), mầu vàng (Đại chúng bộ), mầu đỏ (Pháp tạng bộ), mầu đen (Thuyết nhất thiết hữu bộ), mầu mộc lan (Ẩm quang bộ) là năm mầu đúng phép. Trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 3, ngài Pháp tạng giải thích: mầu của Ca sa là đem hòa năm mầu: xanh, vàng v.v... mà nhuộm thành một mầu không phải là mầu chính. Nhưng, ngài Nghĩa tịch trong cùng bản sớ quyển 3 nói: năm bộ Tiểu thừa mỗi bộ dùng một mầu, còn bồ tát Đại thừa đối với năm mầu không chấp riêng một mầu nào mà mặc luôn cả năm mầu hoại sắc. Còn Kim cương bát nhã sớ quyển 2 của ngài Cát tạng, Huyền ứng âm nghĩa quyển 15 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 v.v... đều cho rằng mầu ca sa đỏ nhờ nhờ mới chính là mầu do đức Phật chế định, còn ba mầu xanh, vàng, mộc lan chỉ là dấu Nhiếp diệp chấm được in lên áo để phân biệt mà thôi. Truyền thuyết này có vẻ không ổn. Kinh Tì ni mẫu quyển 8 nói, áo pháp của các Tỉ khưu phai mầu, Phật cho phép dùng 10 thứ mầu để nhuộm: đây là chứng minh cho thấy áo pháp không phải chỉ nhuộm một thứ mầu đỏ nhờ nhờ. Sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc, ở các đời Hán, Ngụy, các sư mặc áo mầu đỏ, về sau lại có áo mầu đen, áo mầu xanh, áo mầu vàng sẫm. Từ đời Đường, Tống trở về sau, triều đìnhthường ban cho các bậc cao tăng áo lụa tía, áo lụa đào. Vào thời Minh, Phật giáo được chia làm ba loại khác nhau: Thiền (Thiền tông), Giảng (các tông Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp tướng), Giáo (cũng gọi Luật, theo việc tang nghi, nghi thức pháp sự), và qui định: Thiền tăng mặc áo mầu vàng sẫm với Ca sa mầu xanh lam, Giảng tăng mặc áo mầu xanh với ca sa mầu đỏ lợt, Giáo tăng mặc áo đen với ca sa mầu hồng nhạt, nhưng về sau tất cả đều mặc áo đen. 2. Về tài liệu (vải) để may ca sa, gọi là y thể hoặc y tài. Về vấn đề này, Thiện kiến luật tì bà sa quyển 14 nêu ra sáu loại: Khu ma, cổ bối, cú xa da, khâm bà la, sa na và bà hưng già. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 16 nêu hai loại: áo cư sĩ, áo phấn tảo. Luật ma ha tăng kì quyển 28 nêu bảy loại, luật Tứ phần quyển 39 nêu 10 loại.Tất cả các loại áo trên đây đều được may với một lớp vải; nhưng, trong trường hợp vải quá mỏng thì được phép dùng vài lớp, gọi là Trùng pháp (phép may kép). Áo pháp của chư tăng phải khác với thế tục, tức là không được may bằng những chất liệu mà người tại gia hoặc ngoại đạo thường dùng. Bởi thế, luật Tứ phần quyển 40 đã chỉ rõ: áo thêu bằng tay, áo bằng cỏ, áo vỏ cây v.v... là áo của ngoại đạo, chư tăng không được dùng. Luật Ma ha tăng kì quyển 28 nói, chúng tăng không được mặc áo với mầu sắc giống như người thế gian, nghĩa là không được nhuộm các màu khâu khư, ca di già, mầu xanh, mầu hoa v.v... Nhưng vấn đề có được dùng tơ lụa để may áo pháp hay không thì từ xưa đã có nhiều thuyết khác nhau: luật sư Đạo tuyên cho đó là trái phép, nhưng ngài Tam tạng Nghĩa tịnh lại cho là đúng pháp. 3. Cách may cắt ca sa: trước hết, cắt vải nhỏ ra thành từng miếng, sau đó khâu nối những miếng ấy lại với nhau để nêu tướng điền (ruộng), gọi là Cát tiệt y (áo cắt đứt), lâu dần từ ngữ Cát tiệt y thành là tên khác của ca sa. Cát tiệt có nghĩa là vải may ca sa đã bị cắt ra thành từng miếng nhỏ rồi khâu chắp lại không thể dùng để bán hoặc đổi chác lấy vật khác. Như thế, có thể giúp các đệ tử xả bỏ tâm tham muốn đối với áo mặc và dứt trừ được ý nghĩ trộm cắp.Ba áo tuy cắt may theo cách thức trên là đúng phép, nhưng, trong trường hợp khó khăn, như ít tiền, thiếu vải, thì được phép đặt những lá nẹp bên ngoài chứ không phải cắt vải, gọi là Điệp diệp (lá xếp). Còn loại áo An đà hội (áo năm nẹp) đặc biệt cho phép xếp vải làm lá, gọi là Nhiếp diệp . Cách khâu ca sa có thể chia làm hai kiểu: răng ngựa và chân chim. Viền bốn cạnh ca sa để phòng khỏi hư rách, bốn góc trong mép viền đặt bốn miếng vải vuông nhỏ gọi là Tứ điệp (bốn miếng vải gấp xếp nhỏ) thường gọi là Tứ thiên vương, có công dụng khiến khi cầm ca sa lên được nhẹ nhàng thêm. Vai bên trái dễ bị cáu ghét, thường tẩy rửa luôn,mau rách, nên đặt thêm miếng vải ở mặt trong gọi là Kiên điệp (miếng vải xếp ở vai). Ca sa phải có móc hoặc giải đính ở phần trước ngực để cài hoặc thắt lại giữ cho ca sa khỏi tuột xuống. Chỗ để móc hoặc giải cũng có những thuyết bất đồng, và chất liệu để làm móc cũng có những chỗ nói khác nhau. Đời sau dùng ngà voi làm thành cái vòng gọi là hoàn, hoặc là vòng Chiết na thay cho móc và để ở trước ngực. 4. Cách mặc ca sa, có hai cách: khoác kín cả hai vai hoặc để lộ vai bên phải, che kín vai bên trái. Khi cúng dường Phật và sư tăng thì trật vai bên phải, khi đi ra ngoài hoặc vào nhà tại gia thì phải che kín cả hai vai. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng nêu năm việc khi mặc áo pháp, cũng liên quan đến việc đi ra ngoài. Luật Tứ phần quyển 19 và Tì nại da quyển 10 nói chúng tăng phải mặc ba áo cho chỉnh tề. Luật Ngũ phần quyển 20 nói, tùy lúc ca sa được mặc trái. Lại theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng thì có bốn trường hợp người không mặc ca sa cũng không bị tội: a. Không có chùa tháp. b. Không có tỉ khưu tăng. c. Có trộm cướp. d. Vua không ưa thích đạo . 5. Công đức và tên gọi khác của ca sa: Ca sa là tiêu biểu của bậc hiền thánh, từ xưa đã được giáo đoàn Phật giáo tôn trọng. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 5 nêu ra 10 lợi ích của ca sa; kinh Bi hoa quyển 8 và kinh Đại thừa bi phân đà lợi quyển 6 chép, ca sa của Phật có thể thành tựu năm công đức của bậc thánh. Ca sa cũng có nhiều tên gọi khác, như: áo ruộng phúc, tức là biểu thị ý ruộng áo pháp mở rộng bốn lợi ích, tăng thêm ba tâm thiện, nuôi pháp thân tuệ mệnh. Dùng ba thứ hoại sắc làm áo, khiến lòng tham không sinh khởi, gọi là áo lìa bụi nhơ. Người vào đạo mặc áo này trên mình thì phiền não rơi rụng hết, gọi là áo gầy mòn. Lại ví dụ thân thể không cấu nhiễm, thơm sạch như phù cừ (hoa sen) gọi là áo hoa sen. Lại áo ca sa được khoác trên thân, giống như cờ pháp trang nghiêm, gọi là áo cờ thù thắng; không bị ngoại đạo phá hoại, gọi là áo trừ tà; không bị bọn tà khuynh đảo, cho nên cũng gọi áo tướng cờ, áo tướng cờ giải thoát. Ngoài ra còn có các tên như: áo công đức, áo không cáu bẩn, áo không có tướng, áo không gì hơn, áo giải thoát, áo đạo, áo xuất thế, áo từ bi, áo nhịn nhục, áo a nậu đa la tam miệu tam bồ đề v.v... 6. Sự diễn biến: theo như đức Phật chế định, ca sa gồm có ba loại: An đà hội (áo năm điều), Uất đa la tăng (áo bảy điều) và Tăng già lê (áo chín điều), gọi là ba áo. Về mầu sắc, tuy có nhiều thuyết, nhưng đại để không cố chấp mà lấy sự chất phác làm chủ yếu. Thế nhưng đời sau, ưa hoa mĩ, dùng các mầu sắc chính, như vàng, đỏ, thậm chí áo Kim lan, làm mất pháp chế căn bản của đức Phật. Về cách mặc ca sa thì Ấn độ vốn thuộc vùng nhiệt đới, phần nhiều ca sa được mặc trực tiếp trên mình, cho nên chư tăng Ấn độ chỉ giữ có ba áo. Còn ở Trung quốc và Nhật bản thì ca sa được khoác ở ngoài áo lễ gọi chung là Áo cà sa. Đặc biệt ở Nhật bản áo An đà hội đã biến hình đổi dạng rất nhiều, như: ca sa năm điều, năm điều nhỏ, ca sa ba mối năm điều, ca sa chủng tử (hoặc ca sa luân), năm điều xếp, lạc tử, uy nghi tế, linh huyền v.v... Ngoài ra còn có các loại bình ca sa, giáp ca sa, nạp ca sa, viễn sơn ca Khâu kiểu chân chim Khâu kiểu răng ngựa sa v.v…... rất nhiều loại. Tương truyền áo Kim lan do bà di mẫu Ma ha ba xà ba đề dâng cúng đức Phật. Kinh Trung a hàm quyển 13 và kinh Hiền ngu quyển12 ghi chép việc này, nhưng các bộ luật thì không thấy có ghi. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.59; Tì ni thảo yếu Q.thượng phần cuối; Đạo tuyên luật sư cảm thông lục; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18]. (xt. Tam Y, Y Thể). CA SA BIẾN BẠCH Ca sa đổi trắng. Có nghĩa là ca sa của chúng tăng biến thành mầu trắng như áo của người tại gia, đây là tướng báo trước đời mạt pháp, pháp sẽ diệt hết. Người tại gia Ấn độ mặc áo trắng, vì thế, trong chính pháp, đức Phật mới chế định người xuất gia phải mặc ca sa nhuộm mầu xanh, đen, hoặc mộc lan cho khác với mầu áo tại gia. Như vậy, ca sa biến thành mầu trắng là dấu hiệu báo trước chính pháp sắp hủy diệt. Kinh Ma da quyển hạ (Đại 12, 1013 hạ), nói: Một nghìn ba trăm năm sau, ca sa đổi trắng, không chịu nhuộm mầu (tức là đến đời mạt pháp, ca sa của người xuất gia cứ để nguyên mầu trắng chứ không nhuộm hoại sắc). Sự lưu truyền và biến thiên của giáo pháp đức Phật có thể được chia làm ba thời kì: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Thông thường 1000 năm hoặc 2000 năm sau đức Phật nhập diệt được coi là thời kì mạt pháp, tức là thời kì chính pháp đã tuyệt diệt. Kinh Ma da nói 1300 năm là đang ở thời kì Mạt pháp.
ca sa ngũ đức
(袈裟五德) Năm đức của ca sa. Tức là ca sa có năm thứ công đức. Thích thị yếu lãm quyển thượng chép: Tiền thân đức Thích ca thủa xưa, khi còn là bồ tát Đại bi, ngài đã từng thệ nguyện trước đức Phật Bảo tạng: Khi con thành Phật, ca sa có thể thành tựu năm thứ công đức: 1. Đệ tử Phật tuy phạm các thứ tà kiến, nhưng nếu có lòng cung kính tôn trọng ca sa, thì sẽ đạt tới quả vị ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, được bất thoái chuyển (không trở lui). 2. Trời, rồng, thần, quỉ, người và chẳng phải người, nếu hay cung kính ca sa, thì có thể ở trên đường giải thoát của ba thừa mà được bất thoái chuyển. 3. Nếu có quỉ thần, loài người bị đói khát, nghèo cùng bức bách, thì chỉ được một miếng nhỏ ca sa cũng có thể no đủ. 4. Nếu chúng sinh đang xung đột với nhau, sinh ý thù oán, nếu nghĩ đến thần lực của ca sa thì họ sinh tâm từ bi ngay lúc đó. 5. Khi lâm trận, nếu mang theo một miếng nhỏ của ca sa, cung kính tôn trọng, thì người ấy thường thắng. [X. kinh Bi hoa Q.8; kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.6; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ đoạn1].
ca sa thập lợi
(袈裟十利) Mười điều lợi ích của ca sa. Có xuất xứ từ kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 5. Cũng gọi 10 thắng lợi. Đó là: 1. Dùng để che thân, khỏi xấu hổ, biết thẹn thùng. 2. Tránh lạnh nóng, ruồi muỗi, thú dữ. 3. Hiện tướng sa môn, người trông thấy vui mừng, xa lìa tâm tà. 4. Là tướng tiêu biểu quí báu của người và trời, có thể được phúc sinh lên cõi trời Phạm thiên. 5. Lúc mặc ca sa, nghĩ tưởng pháp báu, diệt trừ các tội. 6. Nhuộm thành hoại sắc, dứt bỏ ý tưởng năm dục, không sinh tâm tham đắm. 7. Ca sa là áo thanh tịnh của Phật, vĩnh viễn trừ bỏ phiền não, tạo thành ruộng tốt lành.8. Tiêu diệt tội ác, sinh mười điều thiện. 9. Như ruộng đất lành, hay nuôi lớn đạo bồ đề. 10. Như áo giáp, tên độc phiền não không hại được. Ca sa có 10 điều lợi như trên, cho nên chư Phật ba đời đều mặc áo này. [X. Chính pháp nhãn tạng Ca sa công đức].
ca sa thập nhị danh
(袈裟十二名) Mươi hai tên gọi của ca sa. Dựa theo ý nghĩa khác nhau mà ca sa có 12 tên gọi. Cứ theo Phật chế tỉ khưu lục vật đồ, thì 12 tên của ca sa là: 1. Ca sa, Phạm: kawàya, hàm ý là mầu xấu xí, không phải mầu chính, không phải động lòng tham, là áo khác với áo thế gian. 2. Đạo phục, là áo của người tu đạo mặc. 3. Xuất thế phục, áo của người ra khỏi thế gian mặc. 4. Pháp y, áo may đúng phép Phật chế định.5. Li trần y, áo của người xa lìa sáu trần cảnh mặc. 6. Tiêu sấu phục, vì áo này có công năng làm tiêu mòn phiền não, nên gọi là tiêu sấu phục (áo gầy mòn). 7. Liên hoa phục, áo lìa nhơ bẩn được thơm sạch, giống như hoa sen. 8. Gián sắc phục, áo dùng mầu lẫn lộn để tránh năm mầu chính. 9. Từ bi phục, áo của người tu hạnh từ bi. 10. Phúc điền y, hình thức tấm áo ca sa giống như thửa ruộng của thế gian, ruộng thế gian có thể sản xuất thóc gạo để nuôi sắc thân, ruộng áo pháp thì mở rộng bốn điều lợi, tăng thêm ba tâm thiện để nuôi pháp thân tuệ mệnh. 11. Ngọa cụ, dùng làm đồ nằm giống như chăn, nệm. 12. Phu cụ, dùng làm đồ trải ra để ngồi giống như cái chiếu. Thích thị yếu lãm quyển thượng thì nêu các tên là: 1. Ca sa. 2. Li nhiễm phục. 3. Xuất thế phục. 4. Vô cấu phục. 5. Nhẫn nhục khải. 6. Liên hoa y. 7. Chàng tướng. 8. Điền tướng y. 9. Tiêu sấu y. 10. Li trần y. 11. Khử uế y. 12. Chấn việt. Ngoài ra còn có các tên gọi như: Vô thượng y, Giải thoát y, Vô tướng y, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề y, Công đức y v.v…... [X. Kim cương bát nhã sớ Q.2].
ca sa vị
(袈裟味) Mùi vị ca sa. Ca sa, Phạm: Kawàya, nguyên nghĩa là đục, nhuộm. Trong cây cỏ có nhiều vị kết tụ lại khó có thể dùng làm thức ăn, phần nhiều phải nấu thành chất lỏng rồi trộn lẫn với nhau, chất hỗn hợp ấy gọi là ca sa vị. Vị này cùng với vị chua, ngọt, đắng, chát, mặn gọi chung là sáu vị hỗn hợp. Ngoài ra, cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 nói, thì ca sa vị cũng tức là áo ca sa được nhuộm bằng các mẫu hỗn hợp. [X. luật Tứ phần Q16; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 1 đoạn 1].
ca sa đại
(袈裟袋) Túi đựng ca sa. Phạm: Cìvara-bfsikà. Cũng gọi Y đại, Đả bao, Thịnh y, Y nang, Tam y đại. Cái túi đựng ba tấm ca sa và các vật thường dùng như Kinh sách, giới điệp, khánh, tràng hạt, dao cạo v.v... đeo ở cổ hoặc khoác trước ngực khi vị Thiền tăng đi hành cước. Loại túi đựng ca sa này đã do luật Phật chế mà chuyển hoá ra, nhưng chuyển hóa từ lúc nào thì không được rõ. [X. luật Ngũ phần Q.21]. CA SA MẠN ĐỒ LA Mạn đồ la được kiến lập bằng cách vẽ tượng Phật và tượng chư tôn trên tấm ca sa. Trong các kinh và nghi quĩ hoàn toàn không thấy ghi chép về loại mạn đồ la này, mà cũng không biết rõ đã do ai truyền thừa.
ca sĩ
Gāthaka (S), Singer.
ca thanh
Tiếng hát của loài khẩn na la—The sound of singing of Kinnaras.
ca thi
Kasi (skt). 1) Tên của một loại trúc: Name of a kind of bamboo. 2) Một địa danh về phía bắc của Kosala, mang địa danh như vậy vì có nhiều loại trúc tốt được dùng làm tên—A place said to be so called because its bamboos were good for arrows, north of Kosala.
ca thi na
Xem áo công đức.
ca thiên
Gītadevata (S)Tên một vị thiên.
ca thấp di la
Kasmira (S)Thành phố nước Kế Tân, vùng Tây Bắc Ấn độ, thời vua Ca Nị Sắc Ca (128 - 151), là nơi 500 A la hán và 500 Bồ tát kiết tập kinh điển vào thượng bán thế kỷ II sau công nguyên.
; Kasmìra, kasmir (S). Cachemire. Also Kế tân.
; Kasmira or Kashmir (skt)—Yết Thấp Nhĩ La—Ca Diếp Di La—Theo Tây Vực Ký, Ca Thấp Di La là tên gọi của nước Kế Tân hồi xưa, bây giờ là Kabul, ở về phía Bắc Ấn Độ. Ca Thấp Di La là nơi kiết tập kinh điển lần cuối dưới triều vua Ca Nhị Sắc Già (Kaniska)—According to the Records of Western Lands, Kasmira formerly known as Chi-Pin, the modern Kabul, north of India. Kasmira was the seat of the final synod for determining the Canon under King Kaniska.
Ca thần
歌神; C: gēshén; J: kajin;|Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Xem Khẩn-na-la (緊那羅).
Ca thần 歌神
[ja] カジン kajin ||| Music spirit. A translation of the meaning of kiṃnara. See 緊那羅. => Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Xem Khẩn-na-la 緊那羅.
ca tài
(迦才) Vị tăng đời Đường. Năm sinh năm mất không rõ. Khoảng năm Trinh quán, ngài ở chùa Hoằng pháp tại Trường an, siêng tu tịnh nghiệp, hoằng dương pháp môn Tịnh độ. Chịu ảnh hưởng của ngài Đạo xước, Ca tài bắt đầu chỉnh lí các bộ luận viết về Tịnh độ, rồi soạn bộ luận Tịnh độ gồm 3 quyển, chủ trương niệm Phật lấy quán tưởng làm cốt yếu. Cứ theo truyện Tĩnh lâm trong Tục cao tăng truyện quyển 20 chép, thì chùa oằng pháp là do Chính bình công Lí an viễn sáng lập vào năm Vũ đức thứ 3 (620) đời vua Cao tổ nhà Đường và ngài Tĩnh lâm là vị sư đầu tiên trụ trì chùa này. Ngài Tĩnh lâm là người hoằng dương Nhiếp luận, bởi vậy, nếu căn cứ vào mục lục các kinh, luận, chương, sớ mà tông Tịnh độ dựa vào để suy đoán, thì ngài Ca tài có lẽ là vị tăng thuộc tông Nhiếp luận. Còn những sự tích khác về ngài không được biết rõ. CA TẦN XÀ LA ĐIỂU Ca tần xà la, Phạm: Kapiĩjala.Cũng gọi Ca tân xà la điểu. Dịch ý là chim tu hú hoặc chim trĩ, một giống chim chá cô...... [X. luật Tứ phần Q.50; luận Đại trí độ Q 12; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. CA TẤT THÍ QUỐC Ca tất thí, Phạm: Kapiza. Cũng gọi Ca tí thi quốc. Tên một nước xưa ở vùng tây bắc Ấn độ, tức là nước Cao phụ ở đời Hán. Đất này tương đương với vùng đất Khách bố nhĩ cốc thuộc vương quốc A phú hãn hiện nay. Phía đông đối diện với nước Kiện đà la ở tây bắc Ấn độ. Phía bắc chung lưng với dãy núi Hưng đô khố thập. Hai phía còn lại cũng liền với núi. Đây là giải đất xung yếu suốt từ vùng Trung á đến bắc Ấn độ.Theo Đại đường tây vực kí quyển 1 nói, thì những hàng hóa quí hiếm từ nơi xa lạ phần nhiều dồn về nước này. Chữ viết cũng giống chữ của nước Đổ hóa la; có hơn 1.000 vị tăng, phần nhiều tu học giáo pháp Đại thừa. Dưới thời vua Ca nhị sắc ca, lãnh thổ nước này rộng đến phía đông dãy Thông lĩnh và các bộ tộc Hà tây đều phải đưa con tin đến. Trong nước có ngôi mảnh xương đỉnh đầu của đức Như lai cùng với tóc và răng sữa của ngài khi còn thơ ấu, và hàng tháng đến sáu ngày chay thì vua và các đại thần đến chùa này rải hoa cúng dường. Trong nước có hai tòa thành là: Cù lự tát báng và Tập tệ đa phạt thích từ. Ngài Huyền trang khi sang Ấn độ và lúc trở về nước, đi qua xứ này và rất được nhà vua trọng đãi. [X.Từ ân truyện Q.5; Tục cao tăng truyện Q.2 Đạt ma cấp đa truyện]. CA THẤP DI LA QUỐC Ca thấp di la, Phạm: Kazmìra, Pàli: Kasmìra. Cũng gọi Yết thấp nhĩ la quốc, Ca diếp di la quốc, Ca thất mật quốc. Tên nước xưa ở chân núi Hi mã lạp sơn, vùng đông bắc Kiện đà la thuộc tây bắc Ấn độ, đời Hán của Trung quốc gọi nước này là Kế tân. Dựng nước vào khoảng 2400 năm trước tây lịch, trải qua 47 đời, thì đến vua A dục lên ngôi vua. Vua A dục rất thâm tín phật pháp, xây dựng vô số chùa tháp, đây là kí sự sớm nhất về Phật giáo được ghi chép trong Vương thống sử. Lại theo phẩm Ác hạnh trong kinh Pháp cú thí dụ quyển 2 chép, thì đức Phật từng sai La hán Tu mạn mang tóc và móng của Ngài đến miền nam Kế tân và xây chùa Phật đồ ở trong núi để thờ. Truyền đạo sư Mạt xiển đề (Pàli: Majjhantika) do vua A dục phái đi từng đến Kế tân truyền đạo. Về sau, xứ này bị đặt dưới quyền thống trị của vua nước Kiện đà la là Ca nị sắc ca, nhà vua đã triệu thỉnh 500 vị danh tăng cao đức đến đây biên soạn bộ luận Đại tì bà sa gồm 200 quyển, từ đó, Kế tân đã trở thành trung tâm nghiên cứu A tì đạt ma rất thịnh.Về sau, cũng tại nơi này, có lần Phật giáo đã bị bách hại, rồi lại hưng thịnh để cuối cùng trở thành một đại căn cứ địa của Phật giáo Đại thừa. Trong các kinh điển Đại thừa như kinh Đại tập, kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn v.v... đều có nói đến tên của nước này. Và trong số các bậc cao tăng thạc đức từ Ca thấp di la đến Trung quốc để tham gia việc dịch kinh, có các ngài: Tăng già đề bà, Tăng già bạt trừng, Phật đà da xá, Câu ma bạt na, Phật đà đa la… v.v... Ngài Huyền trang sang Ấn độ lúc ngài đến Ca thấp di la là năm 630 Tây lịch đối chiếu với những ghi chép trong Vương thống sử thì năm ấy vua Thái tổ Durlabhavardhana của Vương triều Karkoỉađang cai trị Ca thấp di la và ngài Huyền trang đã được nhà vua tiếp đãi rất trọng hậu. Ngài Huyền trang lưu lại đây học tập các bộ luận Câu xá, Thuận chính lí, Nhân minh. Thanh minh v.v…... với Đại đức Tăng xứng. Thời bấy giờ, các nước lân cận như Tăng ha bồ la, Ô lạt thi, Bán nô ta, Hạt ra xà bổ la v.v... đều là thuộc địa của nước Ca thấp di la. Năm Càn nguyên thứ 29 (759) đời vua Túc tông nhà Đường, ngài Ngộ không phụng chiếu đi sứ Kế tân, ngài lưu lại đây bốn năm. Lúc đó xứ này vẫn còn hơn 300 ngôi chùa và vô số tượng tháp. Về sau, các vương triều Utpala (thành lập năm 855), Tiền Lohala (thành lập 1003), Hậu Lohala thành lập năm 1101) nối nhau trị vì nước này. Từ thế kỉ XII, XIII trở về sau, Kế tân hoặc rơi vào tay tín đồ Hồi giáo, hoặc bị Thiếp mộc nhi thôn tính, hoặc bị người A phú hãn thống trị, trải qua nhiều biến thiên để rồi cuối cùng, vào năm 1846, trở thành thuộc địa của người Anh. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.3; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 53; V. A. Smith: The Early History of India]. (xt. Kế Tân Quốc). CA THI QUỐC Ca thi, Phạm: Kàzi. Tên một nước xưa ở trung Ấn độ, một trong 16 nước lớn ở thời đại đức Phật. Ca thi vốn là tên giống tre ở Tây vực, vì nước này sản xuất nhiều tre nên gọi là Ca thi. Cũng gọi Già thi quốc, Già sí quốc, Ca di quốc, Ca xá quốc, Già xa quốc. Dịch ý là nước cây lau. Nước này ở phía bắc nước Kiều tát la, thủ đô là Bàràịasì, tức là Varanasi hiện nay, thánh địa của Phật giáo và Bà la môn giáo. Trong Đại đường tây vực kí, nước này được gọi là Bà la ni tư quốc. Truyền thuyết nói rằng, ở thời đức Phật Ca diếp,nước này do vua Cấp tì (Phạm: Kiri) cai trị. Vào thời đại đức Phật, Ca thi bị nội thuộc nước Kiêu tát la. Nước này ở quãng đường giữa Kiêu tát la và Ma yết đà mà đức Phật thường qua lại. Ca thi được nổi tiếng nhờ có vườn Lộc dã nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên hóa độ năm vị tỉ khưu. [X. Trường a hàm Q.1 kinh Đại bản; kinh Tăng nhất a hàm Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.22; Phiên Phạm ngữ Q.4, Q.8]. CA THIÊN Trời ca nhạc. Phạm: Gìta devatà. Là quyến thuộc của Phong thiên (trời gió) trong Mật giáo. Có tất cả ba vị, hai vị ngồi mé bên trái của Nhạc thiên (trời âm nhạc) ở phía tây trong mạn đồ la Thai tạng giới, một vị ngồi mé ngoài phía bắc của Khẩn na la phương bắc. Trong hai vị ở phía tây, một vị thổi sáo (có thuyết nói thồi kèn), vị kia thổi ống địch (sáo ngang). Hoặc có thuyết bảo vị thổi sáo ngang là Thiên nữ ca hát. Vị ở phía bắc cũng thổi sáo và hợp tấu với Nhạc thiên. Trong các kinh, sớ không thấy lưu chép các vị tôn này, trong mạn đồ la do A xà lê truyền cũng không thấy. Có lẽ đã do đời sau theo ý muốn của A xà lê mà thêm vào chăng? [X. Thanh long tự nghi quĩ; Chư thuyết bất đồng kí Q.10; Thai tạng giới thất tập Q.hạ ]. CA TÌ ĐÀ THỤ Cây Ca tì đà. Ca tì đà, Phạm: Kapittha, hoặc Kapitthaka; Pàli: Kapiỉỉha, Kavittha, Kapitthaka. Cũng gọi Ca ti tha thụ, Kiếp tỉ đà thụ,Kiếp bỉ tha thụ, Kiếp tất tha thụ, Kha tất tha thụ, Ca tì đà la thụ. Dịch là cây lê. Kinh Tạp a hàm quyển 26 (Đại 2, 190 thượng), nói: Có năm loại cây to, giống thì rất nhỏ mà cây thì phát triển to lớn, cành lá um tùm, che rợp hết các cây nhỏ, làm cho chúng không lớn lên được. Năm loại cây ấy là: cây kiện già na, cây ca tì đa la, cây a thấp ba tha, cây ưu đàm bát la và cây ni câu lưu tha’’. Tên khoa học: Feronia elepantum, tiếng Anh gọi là elephant apple (táo voi), cũng gọi wood apple (táo rừng). Loại cây cao nhỏ rụng lá, lá sinh đôi, hình trứng, có mùi thơm đặc biệt. Hoa màu đỏ lợt, quả hình cầu, đường kính 3-6 phân, ăn được, cũng có thể dùng làm thuốc chữa bệnh yết hầu. Gỗ mầu vàng hoặc mầu xám, cứng chắc, có thể dùng cất nhà hoặc làm nông cụ. Loại cây này mọc ở vùng Hi mã lạp sơn, địa phương Ngũ hà (Punjab) và Tích lan v.v... [X. luật Ma ha tăng kì Q.34; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.11].
ca tì la
Kapila (S), Kapina (P)Kiếp tân na, Hoàng Xích Sắc Tiên NhânTổ sư phái số luận.
; Kapila (S). Leader of the heretic sect Số luận. Also Hoàng xích sắc tiên nhân.
ca tì la thần
(迦毗羅神) Ca tì la, Phạm: Kapila. Thần thủ hộ già lam. Cũng gọi Kiếp tỉ la thần, Kiếp tất la thần. Dịch là thần mầu vàng. Một trong bốn Dạ xoa, giữ gìn phương đông. Khi Tam tạng Đàm ma mật đa- nhà dịch kinh đời Tống - đi đến nước Kế tân thuộc bắc Ấn độ, nhờ có đức lớn mà cảm được thần vương Ca tì la đi theo hộ vệ. Đến nửa đường thần này muốn trở lại, mới hiện nguyên hình để từ biệt thiền sư Mật đa và nói (Đại 50, 343 thượng): Thần lực của Ngài biến thông, đi đến tự tại, từ đây tôi sẽ không đi theo Ngài cùng về phương nam nữa. Nói xong, thần Ca tì la biến mất. Ngài Mật đa bèn trở lên chùa Định lâm (cũng gọi chùa Kì hoàn) vẽ tượng vị thần mà Ngài đã thấy lên vách chùa. Lại cứ theo Thường hiểu hòa thượng thỉnh lai mục lục chép, thì vị thần này coi về phúc đức ở thế gian, nếu người đời hết lòng thành khẩn với thần để cầu phúc thì đều được mãn nguyện. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; kinh khổng tước vương chú Q.hạ; Lương cao tăng truyện Q.3; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. CA TÌ LA TIÊN Ca tì la, Phạm: Kapila. Ông tổ của ngoại đạo Số luận. Cũng gọi Kiếp tỉ la tiên, Ca tì la tiên, Khẩn bế la tiên. Gọi đủ là Ca tì la đại tiên. Dịch ý là tiên đầu vàng, tiên giống rùa, tiên mầu đỏ. Vị tiên này râu tóc, sắc mặt đều vàng đỏ nên có tên là tiên vàng đỏ. Tiên Ca tì la sinh vào khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch. Khi ông sinh ra tự nhiên đã đủ cả bốn đức: Pháp, Trí, Li dục,Tự tại. Thấy thế gian này mê tối chìm đắm, động lòng đại bi, mới vì bà la môn A tu lợi (Phạm: Asuri) nói nghĩa 25 đế, kế đến, nói pháp cho Ban già thi ha (Phạm: Paĩcazikha) nghe, pháp này gồm 10 vạn bài kệ gọi là Tăng khư luận. Nhưng, theo các học giả hiện nay thì tiên Ca tì la là nhân cách hóa của thần Kim thai (Phạm: iraịyagarbha), chứ về mặt lịch sử thì hoàn toàn không có người đó. Tuy nhiên, thuyết này cũng chưa xác định. [X. kinh Hiền ngu Q.10; luận Kim thất thập Q.hạ; Thành thực luận thuật kí Q.1 phần cuối; Pháp hoa văn cú khoa bản Q.8; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. CA TÌ LA VỆ Phạm: Kapila-vastu, Pàli: Kapilavatthu. Cũng gọi Ca tỉ la bà tốt đồ, Ca tì la bà tô đô, Kiếp tỉ la phạt tốt đổ, Bà đâu thích sí sưu, Ca duy la vệ. Gọi tắt: Ca tì la, Ca duy. Dịch ý là thành đỏ vàng, chỗ ở của người tiên tóc vàng, thành diệu đức v.v... Nay là vùng Tilorakot gần biên giới nước Nepal, là nơi đức Phật ra đời và là đất nước của dòng họ Thích ca. Theo truyền thuyết, thủy tổ của phái Số luận là tiên nhân Ca tì la cũng ở trong thành này, do đó mới lấy tên của ông làm tên nước. Khi đức Phật về già, giòng họ Thích ca ở Ca tì la vệ bị vua Tì lưu li của nước Kiêu tát la giết hại mà suy vong, nên thành này dần dần cũng trở nên hoang phế. Khi ngài Pháp hiển đời Tấn đến đây, thành này đã hoang vu, chỉ có lác đác vài chục nóc nhà. Vào đời Đường, lúc ngài Huyền trang sang Ấn độ, ngài vẫn còn thấy chùa tháp và cột đá lớn do vua A dục tạo dựng. Hiện nay di tích không còn gì, ngoại trừ cây cột đá lớn bị chôn vùi sâu trong đất mới được đào thấy năm 1897. [X. Trường a hàm Q.2 kinh Du hành; kinh Phật bản hạnh tập Q.7; Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.6; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. II; W. W. Rockhill: The life of the Buddha]. CA TÌ MA LA Pham: Kapimala. Tổ thứ 13 (có thuyết nói tổ thứ 12) của Thiền tông Ấn độ. Ngài người thành Hoa thị nước Ma yết đà. Lúc đầu ngài là thầy ngoại đạo thống lãnh 3.000 đệ tử, dùng thần lực nhiễu hại bồ tát Mã minh, nhưng cuối cùng bị luận nghĩa của Bồ tát khuất phục, và xin quy y làm đệ tử Bồ tát. Sau khi được bồ tát Mã minh truyền pháp, ngài đến nam Thiên trúc giáo hóa, soạn luận Vô ngã gồm 100 bài kệ để áp phục ngoại đạo. Sau đến tây Ấn độ, có vị vương tử tên là Vân tự tại cúng dường ngài một hang động trong núi ở phía bắc đô thành để Tôn giả dùng làm nơi ngồi thiền cho tĩnh mịch. Không bao lâu, Tôn giả truyền pháp cho ngài Long thụ để kết thúc nhân duyên hóa độ. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2].
ca tì la vệ
Kapilavastu (S). Name of place.
ca tì ma la
Kapimala (S). 13th Indian patriarch.
ca tất thí
Kapisa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca Tất Thí là tên nước Kanaka có chu vi 4000 dậm, thủ đô cũng cùng tên nước, với chu vi 10 dậm. Đây là nơi an cư kiết hạ của Đức Phật dưới triều vua Ca Nhị Sắc Già (Kaniska)—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kapisa was an ancient kingdom, south of Hindukush, said to be 4,000 miles around, with a capital of the same name 10 miles in circumference; formerly a summer resort of Kaniska
ca tần xa la
Kapinjala (S). Partridge. Also chim trĩ.
ca tần xà la
Kapijala (S), Partridge Chim trĩMột loài chim.
ca tụng
To sing—To chant—To compliment—To commend—To congratulate—To praise.
; (歌頌) Là kệ tụng tán thán công đức của chư Phật và lịch đại tổ sư. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 trung), nói: Trong đây đã có toàn thân của Như lai, nên đem tất cả hương hoa, anh lạc, phan lọng, cờ phướn, ca tụng, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán tháp này’’. Kệ tụng khen ngợi đức của người khác, gọi là ca kệ. Luận Đại trí độ quyển 35 (Đại 25, 316 hạ): Cô gái Hỉ đức thấy thái tử, tự mình làm ca kệ khen ngợi thái tử, nhìn một cách trìu mến, mắt không hề chớp’’. Dùng ca dao tán thán công đức của Phật, gọi là ca thán. [X. kinh Chính pháp hoa Q.4; kinh Phật thuyết vô lượng thọ Q.hạ]. CA VĂN Tiếng gọi tắt của Thích ca văn Phật, tức là đức Phật Thích ca mâu ni. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 16 (Đại 47, 786 trung), nói: Bậc lão nhân Ca văn từ lâu vẫn giữ im lặng về điểm cốt tủy này, hơn 300 hội vẫn không nói rõ ràng ra, chỉ tùy cơ cứu vớt, chờ thời tiết đến. CA VỊNH Hàm ý ca tụng, ngâm vịnh. Giới luật cấm ngặt hát ngâm, nếu tỉ khưu tụng kinh với giọng hát ngâm ê a thì mắc tội vượt pháp. Nhưng Đại thừa thì cho được hát ngâm, như Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 6 nói: mỗi tiếng ca vịnh đều là chân ngôn. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 534 thượng), nói: Thắp hương, rải hoa, ca vịnh, khen ngợi, đi quanh trăm vòng, trở lại chỗ cũ, ngồi thẳng tư duy, nghĩ đến Phật Dược sư lưu li quang có vô lượng công đức. [X. Tì nại da tạp sự Q.6].
ca tỳ la
1) Tác giả của bộ Tăng Khư Luận (nói về nghĩa của 25 đế): Kapila (skt)—Author of the Sankhya philosophy. 2) Ca Tỳ La Vệ: See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca tỳ la bà tô đô
See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Tỳ La Vệ
(s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛): xem Ca Duy Vệ ở trên.
ca tỳ la vệ
Kapilavastu (S), Kapilavatthu (P)Ngày nay là Bhuila trong quận Basti, cách Bengal 3 km, tây bắc nhà ga Babuan, cạnh con sông Rohini nay gọi là sông Rohana. Nơi Thái tử Tất đạt đa sinh sống lúc thiếu thời.
; See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca tỳ la vệ phế tích
Phế tích thành Ca Tỳ La Vệ, nay là làng Tilaurakot, chừng 70 dậm về phía bắc Ba La Nại, kinh đô của bộ tộc Thích Ca do vua Tịnh Phạn cai trị ngày xưa. Tại đây các nhà khảo cổ Ấn Độ cũng tìm thấy phế tích cổng hoàng cung của vua Tịnh Phạn, nơi mà Thái Tử Sĩ Đạt Đa đã ra đi xuất gia tu hành khổ hạnh—The ruins at Kapilavastu, modern village Tilaurakot in Nepal, about 70 miles north of Benares, the capital of the Sakya's tribe of whom king Suddhodana was a ruler. Here, Indian archaelogists also found ruins of thegate of Suddhodana's palce by which Prince Siddhartha went out to become an ascetic.
ca tỳ ma la
Kapimala (skt)—Một vị Tăng ở Ma Kiệt Đà bây giờ là Patna, vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch. Trước ngài theo ngoại đạo, sau được ngài Mã Minh khuất phục nên xin làm đệ tử Phật. Ngài là Tổ thứ 13 ở Ấn Độ. Người ta nói ngài chính là người đã khuất phục và truyền pháp cho ngài Long Thọ—A monk of Magadha (Patna), around the second century A.D., converted by Asvaghosa. He was the thirteenth Patriarch and he himself is said to have converted Nagarjuna.
ca tỷ la
Kapila (skt)—See Ca Tỳ La.
Ca vũ
歌舞; C: gēwŭ; J: kabu;|Ca hát và khiêu vũ, vốn tăng sĩ Phật giáo không được phép. Xem giải thích rộng trong tác phẩm của Iwanami Bukkyō jiten, p. 128.
ca vũ
Song and dance—To sing and dance.
ca vũ bồ tát
(歌舞菩薩) Bồ tát hát múa. Có thể chia làm hai loại: Bồ tát ca vũ của mạn đồ la Tịnh độ và Bồ tát ca vũ của mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Trong các hội vũ nhạc của mạn đồ la Quán kinh (Tịnh độ biến tướng), đều có vẽ Bồ tát ca vũ. Trong bức tranh vẽ trên vách ở hang 139A động Thiên Phật tại Đôn hoàng, ở chính giữa đài có một vị Bồ tát dơ chân làm dáng đang nhảy múa, hai bên tả hữu đều có năm vị Bồ tát ngồi hướng vào nhau cùng tấu nhạc. Trong mạn đồ la Đương ma có vẽ tám đồng tử mầu trắng ở trần đứng trước đài hoặc nhảy múa, hoặc tấu nhạc. Phía sau có hai vị Bồ tát ngồi múa, hai bên đều có bốn Bồ tát ngồi tấu nhạc, gồm tất cả 10 Bồ tát mầu vàng. Về ý nghĩa của bức tranh, theo Đương ma mạn đồ la chú quyển 5 của ngài Chứng không, loại vũ nhạc này biểu thị tham, sân của chúng sinh, lấy tham làm nhạc, sân làm vũ; lấy trí tuệ làm Nội cúng dường, từ bi làm Ngoại cúng dường. Lại lấy từ bi làm sân, trí tuệ làm tham; lấy từ bi làm vũ, trí tuệ làm nhạc. Còn lấy tám vị Bồ tát mới sinh (đồng tử) mầu trắng làm tham dục của chúng sinh. Tức là lấy 10 vị Bồ tát mầu vàng làm sân khuể của chúng sinh. Tức là lấy tham dục của tất cả chúng sinh làm nhạc, vì thế là pháp môn của các phương tiện ví dụ. Có rất nhiều nhạc khí khi hát múa và hình dáng cũng có nhiều loại.Ngoài ra,các Bồ tát ca vũ của mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo là chỉ cho bồ tát Kim cương ca và bồ tát Kim cương vũ. (xt. Nội Tứ Cúng Dường).
ca vũ nhân
(歌舞人) Người hát múa. Chỉ cho hai vị Bồ tát cúng dường ở phía tây và phía bắc là Kim cương ca và Kim cương vũ trong Nội tứ cúng dường của Kim cương luân thuộc mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Bí tạng bảo thược quyển thượng (Đại 77, 363 trung), nói: Kim bảo pháp nghiệp ca vũ nhân. Nghĩa là bồ tát Kim cương ca (cũng gọi Kim cương ca vịnh đại thiên nữ) đem giọng hát vịnh cúng dường Vô lượng thọ Như lai. Còn bồ tát Kim cương vũ thì đem sự nghiệp múa vui cúng dường Bất không thành tựu Như lai. (xt. Nội Tứ Cúng Dường).
Ca vũ quan thính
歌舞觀聽; C: gēwŭguāntīng; J: kabukan-chō;|Xem nghe trình diễn âm nhạc khiêu vũ. Theo 10 giới, tăng sĩ Phật giáo không được dự vào việc nầy.
Ca vũ quan thính 歌舞觀聽
[ja] カブカンチョウ kabukanchō ||| The viewing of theatrical performances and listening to music which is prohibited for members of the Buddhist clergy in the ten precepts 十戒. => Xem nghe trình diễn âm nhạc khiêu vũ. Theo trong Thập giới, tăng sĩ Phật giáo không được dự vào việc nầy.
ca vũ tam ma địa
(歌舞三摩地) Chỉ cho Ca tam ma địa, Vũ tam ma địa của Đại nhật Như lai. Tức là Đại nhật Như lai ở trong tam ma địa này biến hiện ra hình Thiên nữ, hát vịnh cúng dường đức Di đà Như lai ở phương tây và lại nhảy múa cúng dường Bất không thành tựu Như lai ở phương bắc. Sự múa hát này đều là đức nội chứng của pháp thân Đại nhật Như lai. Mỗi câu hát, mỗi điệu múa đều là Phật sự sâu xa mầu nhiệm, vì trong đó có đầy đủ công đức pháp tính, và nếu ứng hợp với những câu hát điệu múa ấy thì đều thành tựu được Tất địa. Bởi lẽ chư Phật hiền thánh đều là những người xa lìa tham muốn, đối với tất cả pháp tâm không vướng mắc, đối với các pháp thế gian lại càng không mong cầu, chỉ vì thương xót chúng sinh mà ra đời, tùy nơi người cúng dường mà ưng thuận, đáp ứng nguyện vọng của họ để họ được phúc, vì thế nên nhận sự cúng dường. Lại nữa, Bồ tát muốn làm cho cõi Phật thanh tịnh, muốn giúp chúng sinh trong cõi nước được nghe âm thanh tốt lành để tâm trở nên nhu hòa dễ tiếp nhận sự giáo hóa, cho nên đem nhân duyên âm thanh cúng dường Phật. [X. luận Đại trí độ Q.13].
Ca vũ 歌舞
[ja] カブ kabu ||| Song and dance, which is not permitted for Buddhist clergy. See extensive explanation in the Iwanami Bukkyō jiten, p. 128. => Ca hát và khiêu vũ, vốn tăng sĩ Phật giáo không được phép. Xem giải thích rộng trong tác phẩm của Iwanami Bukkyō jiten, trang. 128.
ca vịnh
Xem Ca khúc.
ca xa
Kasa (skt). 1) Một nắm cỏ dùng làm chiếu, được nhân cách hóa như là thị giả của Diêm Ma Vương—A piece of grass, used for mats, thatch, etc.; personified as one of Yama's attendants. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, kasa là nắm cỏ dùng để làm chổi cho Đức Phật, vẫn còn là một vật thờ phượng: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms, kasa is a piece of grass, of which a broom was made, and used by Sakyamuni. It is still an object of worship.
ca xa bố la
Kasapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kasapura là tên thành của nước Bát La Da Già—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kasapura used to be a city between Lucknow and Oudh.
ca xa bố la thành
(迦奢布羅城) Ca xa bố la, Phạm: Kazapura, hoặc Kàzapura, Kàjapura. Tên 1 tòa thành của nước Kiêu thưởng di (Phạm: Kauzàôbì) thuộc trung Ấn độ đời xưa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, về phía đông bắc Long quật (Kiêu thưởng di), từ trong rừng Đại lâm đi hơn 700 dặm, qua sông Hằng, có thể đi từ phương bắc đến thành Ca xa bố la. Thành này chu vi hơn 10 dặm, dân cư giầu có yên vui. Bên cạnh thành có chùa, nhưng chỉ có nền cũ, là nơi xưa kia luận sư Hộ pháp hàng phục ngoại đạo. Ở đây còn có ngôi tháp do vua A dục tạo dựng, chính là cái nền cũ chỗ đức Phật nói pháp trong khoảng sáu tháng. Về vị trí của thành này có nhiều thuyết khác nhau, nay được suy đoán là đất Sultanpur bên bờ sông Gumti - một nhánh của sông Hằng. Thành này có thể là nước Gia xá được ghi trong kinh Trung a hàm quyển 17 và nước Ca xa nói trong quyển 4 kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luận. [X. A. Cunningham: The Ancient Geogeaphy of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol.I]. CA XA THẢO Cỏ Ca xa. Ca xa, Phạm: Kàza. Cũng gọi Ca thi thảo. Dịch ý là cỏ mùa thu ẻo lả. Tên khoa học: Saccharum spon-taneum. Thực vật thuộc loài cỏ, có thể dùng làm nệm để ngồi. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1 chép, thì trong ba vật báu của chùa Nạp phược ở nước Phược hát, có cây chổi bện bằng cỏ ca xa, dài hơn 2 thước (Tàu), rộng 7 tấc, cán được trang sức bằng các thứ quí báu. Xưa kia đức Phật thường dùng cây chổi này. [X. luật Ngũ phần Q.25; Phiên Phạm ngữ Q.10].
ca xướng
See Ca.
ca đa diễn ni tử
Katyayiniputra (S).
; Katyayaniputra (S)Ca Chiên Diên tửĐại luận sư của Nhất thiết Hữu bộ, thế kỷ 3.
; (迦多衍尼子) Phạm: Kàtyàyanì-putra. Cũng gọi Ca đà diễn na tử, Ca chiên diên ni tử, Ca đà diễn ni, Ca chiên diên tử. Dịch ý là Giòng cắt tóc, Văn vẻ. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà la môn danh tiếng ở Ấn độ, là vị đại luận sư của Hữu bộ truyền bá Phật giáo ở vùng tây bắc Ấn độ. Luận A tì đạt ma phát trí 20 quyển do ngài soạn là luận điển căn bản của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Về sau, 500 vị A la hán biên soạn luận Đại tì bà sa gồm 200 quyển là do chú giải luận A tì đạt ma phát trí mà thành. Về niên đại ra đời của ngài có nhiều thuyết: Dị bộ tông luân luận thuật kí cho rằng ngài sinh vào đầu năm 300 sau Phật nhập diệt, Đại đường tây vực kí quyển 4 và Câu xá luận bảo sớ quyển 1 đều cho là ngài sinh vào giữa năm 300; còn Câu xá luận quang kí quyển 1 thì cho rằng cuối năm 300 và Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì bảo vào giữa năm 500. Các thuyết trên đây đều cho rằng ngài Ca đa diễn ni tử ra đời sau đức Phật nhập diệt từ khoảng 300 đến 500, như vậy có thể suy đoán ngài là nhân vật ở khoảng trước sau Tây lịch. Còn việc ngài xuất gia theo bộ phái nào thì các luận nói cũng không giống nhau: Dị bộ tông luân luận thuật kí nói ngài xuất gia với Thượng tọa bộ, Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì cho rằng ngài xuất gia trong Tát bà đa bộ. [X. luận Đại trí độ Q.2; Tam luận huyền nghĩa].
ca đàm ba
Kadamba (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree or plant with fragrant flowers.
ca đàm bà thụ
(迦曇婆樹) Cây ca đàm bà. Ca đàm bà, Phạm: Kadamba. Loại cây cao mọc ở Ấn độ. Cũng gọi Ca đàm ba thụ. Dịch ý là cây hoa mềm mại, cây hoa trắng. Tên khoa học: Nauclea cadamba. Chồi lá cây này phát triển rất nhanh và xanh tươi quanh năm. Vào mùa mưa (khoảng trung tuần tháng 6) thì nở hoa, hoa có hương thơm và đậu mãi đến tháng 9. Hoa hình cầu, mềm mại như lụa, mầu trắng và hơi pha lẫn vàng nhạt. Tín đồ Ấn độ giáo cho cây này là cây Thánh. Kinh Khởi thế quyển 1 (Đại 1, 311 trung), nói: Châu Phất bà đề, có một cây lớn, tên là Ca đàm bà, gốc nó chu vi 7 do tuần, rễ ăn sâu dưới đất 21 do tuần, cao 100 do tuần, cành lá che phủ 50 do tuần. Đây là cây Ca đàm bà được ghi trong thần thoại, chứ không phải cây Ca đàm bà trong thực tại. [X. kinh Bồ tát niệm Phật tam muội Q.1 phẩm Bất không kiến bản sự; kinh Đại lâu thán Q.1; Phiên Phạm ngữ Q.9].
ca đương phái
(迦當派) Ca đương, tên Tây tạng: Bkah-gdams. Cũng gọi Cam đan phái, Cát đương phái, Giáo sắc phái. Một trong những giáo phái mới của Phật giáo Tây tạng. Giáo phái này lấy ngài A đề sa (Phạm: Atìza,thế kỉ XI) làm tổ khai sáng, rồi qua đến sư Lạc mẫu đông (Tạng: Hbrom-ston-pa, cũng gọi Chủng đôn ba, 1004-1064) đặt vững nền tảng, và do các sư Phác khung ngõa đồng chàng (Tạng: Phu-chuí-ba Gshon-nu rgyal mtshan), Bác đóa ngõa bảo minh (Tạng: Po-to-ba Rin-chen gsal, 1031- 1105) v.v... phát triển rất rực rỡ. Ở Tây tạng, sau thời kì Phật giáo được mở rộng, sự tu học của chư tăng dần dần trở nên hỗn tạp, Hiển giáo, Mật giáo chia rẽ, nhà vua mới thỉnh ngài A đề sa từ Ấn độ vào Tây tạng hoằng pháp. Ngài A đề sa soạn luận Bồ đề đạo đăng nêu rõ lí Hiển giáo, Mật giáo không mâu thuẫn nhau và việc tu hành phải tuân theo thứ tự. Sau khi ngài A đề sa thị tịch, môn đồ phần nhiều nương theo đệ tử của ngài là sư Lạc mẫu đông để tu hành. Niên hiệu Gia hữu năm đầu (1056) đời Tống, sư Lạc mẫu đông xây chùa Lỗ nhậm (Tạng: Rwa-sgreí) ở Trung ương Tây tạng để mở rộng giáo nghĩa của ngài A đề sa. Đệ tử của sư Lạc mẫu đông là Bác đóa ngõa lấy luận Bồ đề đạo đăng của ngài A đề sa làm Thánh điển cơ bản, và thêm các bộ luận khác như: Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Bồ tát địa, luận Đại thừa tập bồ tát học, luận Nhập bồ đề hành, luận Bồ tát bản sinh man và luận Pháp tập yếu tạng v.v... gọi là Ca đương lục luận (sáu luận của phái Ca đương) và dựa vào các luận trên để giải thích rõ thứ tự của phép tu bí truyền, nhờ đó mà tiếng tăm phái Ca đương lừng lẫy. Sau sư Lạc mẫu đông, giáo phái này phát triển thành ba hệ phái: 1. Hệ phái Tông điển. (Tạng: Gshuí-pa) của sư Bác đóa ngõa thành lập, lấy tư tưởng Tất cả kinh luận đều là phương tiện để thành Phật, tất cả giáo điển đều là căn cứ của sự tu hành của ngài A đề sa làm tông chỉ, và lấy bảy bộ luận của phái Ca đương làm kinh luận chủ yếu, bởi thế hệ phái này mang đậm sắc thái Hiển giáo. 2. Hệ phái Giáo thụ. (Tạng: Gdams-íag-pa) do các sư Cẩn nga ngõa, Cồ phạ ô (Tạng: Dgon-pa-ba, 1016-1082) và Nạp ô thư lỗ phạ (Tạng: Sĩehu-ur-pa, 1042-1118) thành lập. Hệ phái này lấy Tam sĩ đạo thứ đệ trong luận Bồ đề đạo đăng làm tông chỉ, truyền dạy lí Tứ đế, Duyên khởi, Nhị đế để nêu rõ nghĩa vô ngã. Tất cả kinh điển Đại thừa là chính y, kinh Hoa nghiêm, luận Bảo man của ngài Long thụ, luận Tập học của ngài Tĩnh thiên và luận Nhập học là biệt y. hệ phái này mang đậm sắc thái Mật giáo. 3. Hệ phái Giáo giới, do sư Phác khung ngõa (1031-1106) truyền lại. Hệ phái này lấy việc răn dạy hằng trụ nơi năm niệm làm tông chỉ, lấy phép tu mười sáu điểm sáng làm pháp môn tâm yếu. Từ Ca đương hàm ý là giáo nghĩa của Tam sĩ đạo thứ đệ (Tạng: Lam-rim) trong luận Bồ đề đạo đăng của ngài A đề sa. Ngài A đề sa tinh thông Trung quán của ngài Long thụ, Du già hành của ngài Vô trước, Nhiếp chân thực (Phạm: Tattvasaôgraha= hội đầu của kinh Kim cương đính) và các Đát đặc la Du già khác. Căn bản của sự dạy học và luận đạo của ngài A đề sa và sư Lạc mẫu đông là ở nơi luận Hiện quán trang nghiêm, cho nên quan hệ rất mật thiết với Di lặc ngũ pháp. Điểm này, nếu đối chiếu với phái Ngạch nhĩ đức (Tạng: Dge-lugspa) đời sau lấy Ngũ bộ tụ của ngài Long thụ làm căn cứ giáo học thì lại càng rõ ràng. Lại nữa, các sư Lạc mẫu đông, Bác đóa ngõa đứng trên lập trường Hiển giáo mà truyền bá đạo thứ đệ của ngài A đề sa. So với phái Ca nhĩ cư thì phái này có thái độ phê phán hơn, và ũng đậm sắc thái Hiển giáo hơn. Trung tâm hoạt động của phái này là chùa Thác định........ (Tạng: Mtho-ldií) ở phía tây và chùa Lỗ nhậm ở trung ương. Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XII thế lực rất mạnh. Các giáo phái Tát ca, Ca nhĩ cư, Hi giải v.v... đều có chịu ảnh hưởng của phái này, để rồi về sau chia ra rất nhiều chi phái. [X. Tây tạng Phật giáo đích Ca đương phái (Pháp tôn); Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm) thiên II chương 3; L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets (The Religions of Tibet)].
ca đương phái nguyên lưu
(迦當派源流) Một trong những bộ sách sử của Phật giáo Tây tạng. Tên đầy đủ trong tiếng Tây tạng là: Bka#-gdams-kyi rnam-par-tharpar, Bka#-gdams-c#os-#byuí gsal-ba#i sgron-me.Nghĩa là: Lịch sử của phái Ca đương, Ngọn đèn sáng của nguồn pháp phái Ca đương do Khẳng cát lam tăng (Tạng: Kun-dgan rgyal-mtshan) soạn. Nguyên bản tiếng Tây tạng dày tới 417 trang, phương pháp biên soạn và hình thức trình bày giống như Thanh sử (Tạng: Deb-ther síon-po) và cũng có nhiều chỗ trích dẫn tác giả Thanh sử. Toàn bộ sách chia làm 3 thiên, 10 chương. Nội dung bao gồm: Định nghĩa, Đặc tính, Do lai, Dị thuyết, Lịch sử Truyền thừa, Phái biệt v.v... của phái Ca đương. Bộ sử này nghiên cứu về phái Ca đương một cách tổng hợp, đồng thời, cũng là bộ sách trọng yếu mà các nhân sĩ của phái Hoàng mạo trong Lạt ma giáo cần đọc. [X. Lược thuật Tây tạng sử tịch - Ca đương phái nguyên lưu (Lâm truyền phương, Nội minh tạp chí kì 16, kì 17)].
ca đương thất luận
(迦當七論) Bảy bộ luận của phái Ca đương. Tức gọi chung bảy bộ luận do ngài A đề sa soạn. Đó là: luận Bồ đề đạo đăng, Đại thừa trang nghiêm kinh luận (Trang nghiêm kinh luận), Bồ tát hạnh (Bồ tát địa), luận Đại thừa tập bồ tát học, luận Nhập bồ đề hạnh (Nhập hạnh luận), luận Bồ tát bản sinh man (luận Bản sinh) và luận Pháp tập yếu tụng. Đây là những bộ luận chủ yếu do phái Ca đương trong Phật giáo Tây tạng nghiên cứu học tập và diễn giảng.
ca đại
See Skandha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ca-ca-la
phiên âm từ Phạn ngữ là kkla, chỉ con quạ, nhân theo tiếng kêu của quạ nên tiếng Phạn gọi tên là ca-ca-la.
Ca-chiên-diên
phiên âm từ Phạn ngữ là Ktyyana, là một trong Mười đại đệ tử (Thập đại đệ tử) của Phật, là vị có danh xưng Luận nghị đệ nhất (論議第一).
Ca-diếp
迦葉; S: kāśyapa; P: kassapa; dịch nghĩa là Ẩm Quang (飲光; »uống ánh sáng«);|Là tên người, Phật. Có nhiều vị mang tên này:|1. Vị Phật của thời kiếp trước thời kiếp này, xem Phật;|2. Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa; p: mahā-kassapa), một đệ tử xuất sắc của Phật Thích-ca. Ca-diếp nổi tiếng có hạnh Ðầu-đà (tu khổ hạnh) nghiêm túc nhất và là người đứng đầu Tăng-già sau khi Phật nhập diệt. Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ, là người được đức Phật Thích-ca truyền tâm ấn (Niêm hoa vi tiếu);|3. Tên của ba anh em tu sĩ thời đức Phật, ban đầu theo đạo Bà-la-môn, thờ thần lửa, nước, được đức Phật giáo hoá. Ba vị này là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (p: uruvela-kassapa), Già-da Ca-diếp (p: gayā-kassapa) và Na-đề Ca-diếp (p: nadī-kassapa).
ca-già-lân-địa
xem ca-lân-đề.
ca-la-ca
xem ca-lưu-ca.
Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên
phiên âm từ Phạn ngữ là Kakuda-katyyana, cũng đọc là Cước-câu-đà Ca-na-diễn-na, Hán dịch là Hắc Lĩnh, là một trong 6 vị thầy ngoại đạo thời đức Phật.
Ca-la-ma
xem A-la-la.
Ca-la-phú
tên một thành phố, phiên âm từ Phạn ngữ là Garpu.
ca-la-ra
giai đoạn đầu tiên của một chúng sanh khi bào thai mới hình thành.
ca-lu-ca
xem ca-lưu-ca.
ca-lân-đề
Ca-lân-đề, phiên âm từ Phạn ngữ Kcalindikka, cũng đọc là ca-già-lân-địa, là một loài chim biển rất đẹp, cùng họ với chim uyên ương. Các loài chim này con trống và con mái luôn theo sát nhau, không lúc nào rời xa. Vì thế trong văn chương thường dùng hình ảnh uyên ương để ví những cặp vợ chồng hay tình nhân luôn gắn bó quấn quýt nhau.
Ca-lâu-la
迦樓羅; S: garuḍa; còn được gọi là Kim sí điểu;|Một loài thần điểu, nửa người nửa chim. Ca-lâu-la được xem là một trong »thiên long bát bộ«, là thần vật của Phật Bất Không Thành Tựu (s: amoghasiddhi). Tương truyền lúc Phật giảng kinh Diệu pháp liên hoa tại núi Linh Thứu, vô số Ca-lâu-la đã đến nghe.
ca-lâu-la
xem chim cánh vàng.
ca-lưu-ca
(cũng đọc là ca-lu-ca hay ca-la-ca) và trấn đầu (hay trấn-đầu-ca) là hai thứ trái rất giống nhau, rất khó phân biệt, nhưng trái ca-lưu-ca có độc, ăn vào phải chết, còn trái trấn-đầu là loại trái ăn được.
Ca-lợi
歌利; C: gēlì; J: kari;|1. Phiên âm chữ kali trong tiếng Phạn. Kali-yuga, trong vũ trụ quan cổ đại Ấn Độ nay là thời ác trược; 2. Nữ thần Kali.
Ca-lợi vương
歌利王; C: gē lì wáng; J: kariō; S: kalinga-rāja. |Phiên âm chữ kalinga-rāja từ tiếng Phạn, có nghĩa là »Vua ác«, Hán dịch là Ác vương. Vua Ca-lợi là ác vương trong thói quá khứ đã làn lượt cắt đứt chân tay Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (trong một đời trước) để thử năng lực nhẫn nhục của Đức Phật. Ca-lợi được đề cập trong kinh Kim Cương, nhưng chuyển kể đầy đủ về ông có trong tạng Pāli nguyên thuỷ.
Ca-lợi vương 歌利王
[ja] カリオウ Kariō ||| A transliteration of the Sanskrit kalinga-raja ("evil king"), also written in Chinese as 惡王. King Kalinga was an evil king of the distant past gradually dismembered Śākyamuni (in an earlier incarnation) in order to test his power of endurance. Kalinga is mentioned in the Diamond Sutra, but the full story is contained in earlier Pali materials. => (j: kariō; s: kalinga-rāja). Phiên âm chữ kalinga-raja từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'Vua ác', tiếng Hán dịch là Ác vương. Vua Ca-lợi là ác vương trong thời quá khứ đã lần lượt cắt đứt chân tay Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (trong một đời trước) để thử năng lực nhẫn nhục của Đức Phật. Ca-lợi được đề cập trong kinh Kim Cương, nhưng chuyện kể đầy đủ về ông có trong tạng Pali nguyên thuỷ.
Ca-lợi 歌利
[ja] カリ kari ||| (1) A transliteration of the Sanskrit kali. Kali-yuga, which in early Indian cosmology is the present evil age. (2) The goddess Kali. => 1. Phiên âm chữ Kali trong tiếng Sanskrit. Kali-yuga, trong vũ trụ quan cổ đại Ấn Độ nay là thời ác trược. 2. Nữ thần Kali.
Ca-nhĩ-cư phái
迦爾居派; T: kagyupa [bKa'-brgyud-pa]; dịch nghĩa là »Thánh ngữ tương thừa giả«;|Một trong bốn tông lớn của Phật giáo Tây Tạng. Tông này chủ trương thực hành giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) của Na-rô-pa (t: nāropa). Vào thế kỉ thứ 11, Mã-nhĩ-ba (t: marpa) là người đưa giáo pháp này từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, truyền cho Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa [mi-la-ras-pa]), rồi Ðạt-bảo Cáp-giải – môn đệ chính của Mật-lặc Nhật-ba – trao truyền các ấn quyết đó trong tông này. Từ tông này phát sinh ra những bộ phái khác như Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kag-yu). Phái Ca-nhĩ-cư rất chú trọng đến việc tâm truyền tâm, từ Ðạo sư trực tiếp đến đến đệ tử.|Giáo pháp của Ca-nhĩ-cư bắt nguồn từ Bản sơ Phật (s: ādibuddha) Phổ Hiền (s: samantabhadra), được xem là hoá thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân) và được Tai-lô-pa (s: tilopa) truyền cho Na-rô-pa (t: nāropa). Mã-nhĩ-ba (t: marpa) – nhà dịch thuật – mang qua Tây Tạng và người lĩnh hội hết các điểm tinh yếu của giáo pháp này là Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) sau những năm dài tu khổ hạnh. Trong thế kỉ thứ 12, trường phái này hấp thụ thêm giáo pháp của Cam-đan (t: kadampa) và từ đó trở thành một tông lớn, lấy nơi sinh của người sáng lập là Dag-po Kag-yu làm danh hiệu. Chỉ trong thế hệ sau, tông này đã phân thành bốn nhánh: 1. Kam-tshang hay Cát-mã Ca-nhĩ-cư (karma-kagyu), 2. Tsal-pa Kag-yu, 3. Ba-ram Kag-yu, 4. Phag-mo Druk-pa Kag-yu. Nhánh cuối cùng (4.) lại chia làm 8 bộ phái, trong đó Druk-pa Kag-yu và Dri-gung Ka-gyu còn tồn tại tới ngày nay.|Một tông phái khác có liên hệ với phái Ca-nhĩ-cư do Khyun-po Nal-jor (sinh 1310) thành lập. Tên phái này là Shang-pa Kag-yu và phái này có một hệ thống Ðại thủ ấn riêng do em gái của Na-rô-pa là Ni-gu-ma truyền lại. Ngày nay truyền thống này vẫn còn tồn tại.
ca-tra phú đơn na
Pataphutana or Kataputana (skt)—Kỳ Xú Quỷ—Cà Tra Bố Đơn Na—Một loài quỷ cực kỳ xấu xí với thân hình hôi hám, khi bắt người thì khiến cho họ kêu khóc một cách thống khổ. Loài quỷ nầy cũng gây nhiều nguy hiểm cho loài người—A kind of extremely ugly demons (pretas of remarkably evil odour) whose bodies expel the foulest odors, who makes people scream and cry out in pain and agony. They also cause a lot of danger to humans.
ca-tân-xà-la
chim trĩ, đây là tên phiên âm từ Phạn ngữ kapiṅjara. Danh nghĩa tập, quyển 2 có đoạn viết: “Ca-tân-xà-la, thử vân trĩ.” (迦頻闍羅,此云雉。。 – Ca-tân-xà-la, xứ này gọi là [chim] trĩ.)
Ca-tì-la-vệ
迦毗羅衛; S: kapilavastu; P: kapilavatthu;|Thành phố sinh trưởng của đức Phật lịch sử, Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama), dưới chân Hi-mã-lạp sơn, ngày nay thuộc nước Nepal. Ca-tì-la-vệ ngày xưa là thủ đô của dòng họ Thích-ca (s: śākya). Ðức Phật được sinh ra tại Lam-tì-ni (s: lumbinī) gần đó và sống thời niên thiếu tại Ca-tì-la-vệ.|Năm 1898, người ta tìm thấy tại Ca-tì-la-vệ di cốt của đức Phật. Trong một ngôi tháp, người ta tìm ra một cái hủ với một hộp đá gồm có năm bình nhỏ. Một trong năm bình có mang dòng chữ »Hộp này đựng di cốt của vị Phật dòng Thích-ca, là phẩm vật của Sukiti cũng như của toàn thể các anh chị em, con trai và các phu nhân.«
Ca-tì-ma-la
迦毗摩羅; S: kapimala;|Tổ thứ 13 của Thiền tông Ấn Ðộ
Ca-tỳ-la
phiên âm từ Phạn ngữ là Kapila, là tên một bộ luận, cũng đọc là Ca-tỳ-lê hay Kiếp-tỳ-la, Hán dịch nghĩa là Hoàng đầu (黃頭) hay Xích sắc (赤色). Đúng ra đây là tên của vị luận sư ngoại đạo đã chế tác bộ luận căn bản của phái Số luận, còn có tên là Tăng-khư luận, nêu lên ý nghĩa nhị thập ngũ đế. Ở đây lấy tên người làm tên bộ luận.
Ca-tỳ-lê
xem Ca-tỳ-la.
cai la
See Cai Nhiếp.
cai nhiếp
1) Nhất Thừa thâu nhiếp Tam Thừa: The one vehicle containing the three. 2) Thâu tóm, toàn thể, không phân cách: Containing, inclusive, undivided, whole.
cai nhiếp môn
Giáo lý thuyết minh tam thừa là nhất thừa, đối lại với “phân tướng môn” hay giáo thuyết giải thích sự khác biệt giữa nhứt thừa và tam thừa—The doctrine which maintains the three vehicles to be the one vehicle, in contrast with the doctrine which differentiates the one vehicle from the three.
cam
Kansu (skt). 1) Ngọt—Sweet. 2) Willing: Chịu (cam chịu). 3) Đồng Ý: Agreeable.
cam bồ
Kamboja (skt)—Quả Cam Bồ được diễn tả là màu đỏ, tròn, có ba ngấn ngang. Nơi cổ của Đức Phật cũng có hình tướng nầy, một trong 32 tướng hảo của Đức Phật—Described as a round reddish fruit, the Buddha having something resembling it on his neck, one of his characteristic marks.
cam bồ già quốc
(甘菩遮國) Cam bồ giá, Phạm, Pàli: Kamboja. Dịch ý là dễ thương, tốt đẹp, được hơn. Còn gọi là Kiếm bình sa quốc, Kiếm ma kì quốc, Cam mô nhạ quốc, Kiếm bồ đề quốc, Kiếm phù sa quốc, Kiếm bồ xà quốc, Kiếm bồ quốc, Cam bồ quốc. Là một trong mười sáu nước lớn tại Ấn độ xưa, nhờ có nhiều đàn bà đẹp mà nổi tiếng. Hiện nay là địa phương nằm về tây ngạn sông Ấn độ, tương đương với A phú hãn. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 15 (Đại 35, 381 trung), nói: Nước Cam bồ nói đúng là Kiếm bồ, là miền bắc Ấn độ. Nước này có nhiều đàn bà đẹp, cho nên đặt tên là Kiếm bồ. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 47 chép, nước Cam bồ giá chính tên là Cám bồ, tức tên quả, quả mầu đỏ lợt tròn trịa, hơi giống quả lâm cầm (sa quả) ở Trung quốc; bởi vì nước này có nhiều đàn bà xinh đẹp, lại sắc diện giống như Cám bồ (màu lá liễu), cho nên dùng đàn bà đẹp làm tên nước. Hoặc có thuyết bảo đô thành của nước này là Đa Môn (Phạm: Dvàraka), cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 45 phẩm Chư Bồ tát trụ xứ chép, thì nơi này hiền từ nhất trong nước, là nơi ở của Bồ tát. [X. Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Phiên Phạm ngữ Q.8].
cam bồ quốc
Kamboja (skt)—Một trong 16 vương quốc thuộc Ấn Độ thời cổ, nổi tiếng với những người đàn bà đẹp—One of the sixteen countries in ancient India, noted for its beautiful women.
cam châu nhĩ
Kanjur (tib)—Một trong hai phân bộ của Tạng Kinh Tây Tạng, gồm 160 quyển, mỗi quyển 1.000 trang—One of the two divisions of the Tibetan canon, consisting of 160 books (chuan), each book 1,000 leaves.
; (甘珠爾) Tên Tây Tạng: Bkahê-hêgyur hoặc Kàhgyur. Dịch ý là Giáo sắc dịch điển, là tổng tập về giáo pháp của đức Phật được biên chép bằng văn Tây tạng, bao gồm hai bộ môn lớn là tạng kinh và tạng luật. Học giả người Tây tạng là Nhân khâm trát ba (Tạng: Rin-chen-grags-pa, tức Bố đốn Bu-ston) từng tham gia công việc hiệu đính bản mục lục sách ba của Đại tạng kinh Tây tạng, rồi căn cứ theo đó mà soạn Thiện thệ giáo pháp sử ngữ bảo tạng (gọi tắt là Ngữ bảo mục lục) và chia các kinh điển Phật được dịch sang tiếng Tây tạng làm hai bộ môn lớn là Giáo sắc dịch điển (Cam châu nhĩ, cũng gọi là Chính tạng) và Luận thuật dịch điển (Đan châu nhĩ, Bstan-hêgyur, cũng gọi là Phó tạng), đây là phương pháp phân loại đặc biệt của tạng kinh Tây tạng. Bố đốn chủ trương Cam châu nhĩ chia thành Hiển giáo kinh thừa và Mật giáo chú thừa, trong Kinh thừa lại căn cứ theo thời đại đức Phật nói pháp có trước có sau mà chia thành ba bậc pháp luân: đầu, giữa, cuối. Pháp luân đầu là pháp bốn đế và những giới luật căn bản do đức Phật nói ở vườn Lộc dã; Pháp luân giữa là pháp vô tướng đức Phật nói trên núi Linh thứu, như kinh Bát nhã; Pháp luân cuối là pháp phân biệt đức Phật nói ở thành Tì xá li và các nơi khác, như kinh Hoa nghiêm, Bảo tích v.v... Sự phân loại này đã trở thành định chế cho sự ấn hành biên tập của Tây tạng ở đời sau. Các bản in kinh Đại tạng bằng văn Tây tạng rất nhiều, nội dung khác nhau, trong đó, tạng Đức cách, tạng Tân nại đường và tạng Bắc kinh là ba tạng có tính đại biểu hơn cả, đặc biệt là bản Đức cách là một bộ hoàn hảo nhất hiện còn đến nay. Nội dung chia làm hai bộ (Cam châu nhĩ, Đan châu nhĩ) hai mươi bốn loại, trong đó, bộ Cam châu nhĩ Luật bộ, Bát nhã bộ, Hoa nghiêm bộ, Bảo tích bộ, Kinh bộ (chia thành kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa), Bí mật bộ (chia thành Thập vạn đát đặc la bộ, Cổ đát đặc la) và Tổng mục lục v.v... gồm một trăm pho hơn bảy trăm bộ. Trong hai bộ của tạng Tân nại đường, thì Cam châu nhĩ lại chia làm hai môn, trong đó, Nhân thừa bát nhã bộ bao gồm mục lục, Giới luật bộ, Bát nhã bộ, Hoa nghiêm bộ, Bảo tích bộ, Tạp kinh bộ, Niết bàn bộ, tất cả tám mươi pho ba trăm bộ. Quả thừa bí mật bộ thì bao gồm bốn thứ kinh là Vô thượng du già bí kinh, Du già bí kinh, Tu bí kinh và Tác bí kinh, tất cả hai mươi pho ba trăm bộ. Tổng cộng cả hai môn là một trăm linh hai pho ba trăm bộ. Tạng Bắc kinh cũng chia làm hai bộ, trong đó, Cam châu nhĩ bao gồm Bí mật bộ, Bát nhã bộ, Bảo tích bộ, Hoa nghiêm bộ, Chư kinh bộ và Giới luật bộ, tổng thu một trăm linh sáu hòm một nghìn bộ. (xt. Tây Tạng Đại Tạng kinh).
Cam chỉ
(甘旨): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) ngon ngọt; như trong Luận Quý Túc Sớ (論貴粟疏) của Triều Thác (晁錯, 200-154 trước CN) nhà Hán có câu: “Phù hàn chi ư y, bất đãi khinh noãn, cơ chi ư thực, bất đãi cam chỉ (夫寒之於衣、不待輕煖、飢之於食、不待甘旨, hễ lạnh thì nhờ vào áo mặc, chẳng kể thứ nhẹ ấm; hễ đói thì nhờ vào thức ăn, chẳng đợi đồ ngon ngọt).” (2) Loại thực vật ngon ngọt. Như trong Kim Lâu Tử (金樓子), Lập Ngôn (立言) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Cam chỉ bách phẩm, nguyệt tế nhật tự (甘旨百品、月祭日祀, trăm thứ ngon ngọt, tháng cúng ngày thờ).” Hay như trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cửu Sơn Vương (九山王) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Nga nhi hành tửu tiến soạn, bị cực cam chỉ (俄而行酒薦饌、僃極甘旨, trong chốt lát thì tiến hành dâng cúng rượu, mâm cỗ, chuẩn bị loại ngon ngọt nhất).” (3) Chỉ loại thức ăn dùng để nuôi dưỡng song thân. Trong tờ Tấu Trần Tình Trạng (奏陳情狀) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có đoạn: “Thần mẫu đa bệnh, thần gia tố bần, cam chỉ hoặc khuy, vô dĩ vi dưỡng, dược bính hoặc khuyết, không trí kỳ ưu (臣母多病、臣家素貧、甘旨或虧、無以爲養、藥餌或闕、空致其憂, mẹ thần nhiều bệnh, nhà thần nghèo cùng, thức ăn ngon ngọt có khi thiếu thốn, chẳng lấy gì nuôi dưỡng song thân, thuốc men khuyết hụt, không có gì làm cho người yên lòng).” Từ đó, có cụm từ “cúng cam chỉ (供甘旨)” nghĩa là cung phụng cha mẹ hết mực để báo hiếu. Như Trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Phụ Mễ Dưỡng Thân (負米養親, vác gạo nuôi song thân) của Tử Lộ (子路) có đoạn thơ rằng: “Phụ mễ cúng cam chỉ, ninh từ bách lí diêu, thân vinh thân dĩ một, do niệm cựu cù lao (負米供甘旨、寧辭百里遙、身榮親已沒、猶念舊劬勞, vác gạo nuôi cha mẹ, chẳng từ trăm dặm xa, giàu sang người đã mất, còn nhớ công ơn xưa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Pháp Ngữ (大慧普覺禪師法語) quyển 20 có đoạn: “Phụ mẫu bất cúng cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, thân cư thanh tịnh già lam, mục đỗ cam dung thánh tướng (父母不供甘旨、六親固以棄離、身居清淨伽藍、目睹紺容聖相, cha mẹ chẳng tròn hiếu đạo, Lục Thân lại phải xa rời, thân sống già lam thanh tịnh, mắt trông thánh tướng dung hiền).” Hoặc trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) cũng có câu tương tự như vậy: “Phụ mẫu bất cung cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự (父母不供甘旨、六親固以棄離、不能安國治邦、家業頓捐繼嗣, cha mẹ chẳng tròn hiếu đạo, Lục Thân lại phải xa rời, chẳng thể an nhà trị nước, gia nghiệp dứt bỏ kế thừa).”
cam chịu
To accept one's fate—To be content with one's lot.
cam giá
1) Mía—Sugar-cane. 2) Iksvaku (skt): Một trong các họ của dòng Thích Ca, theo truyền thuyết là một trong những ông tổ của Ngài đã được sanh ra từ trong một cây mía—One of the surnames of Sakyamuni, from a legend that one of his ancestors was born from a sugar cane.
cam giá thị
Xem Nhứt xoa cưu Vương.
cam giá vương
Ikṣvāka (S)Vua Cam Giá, hệ thống Nhật chủng (Suryaramsa), trong dòng giống Aryan, tổ dòng họ Thích Ca (Sakya).
; Iksvaku-Virudhaka (skt)—Vua Mía, mà người ta nói là một trong những ông tổ của dòng Thích Ca, nhưng những người khác cũng cho đây là tổ của dòng họ mình—King of the sugar-cane, said to be one of the ancestors of Sakyamuni, but the name is claimed by others.
; (甘蔗王) Cam-giá, tên Phạm: Ikwvàku, Pàli: Okkàka. Phiên âm: Ý ma di, Ý sư ma, Thanh ma, Y ma. Là vua Nhật chủng đầu tiên của nước A du xà thuộc trung Ấn độ. Còn gọi là Thiện sinh vương (Phạm: Sujàtà), Nhật chủng vương (Phạm: Sùryavaôza). Trong Phật giáo, vị vua này được nhận là tổ của dòng họ Thích ca. Cũng là một trong năm ngành họ của đức Thích tôn. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 5 chép, trước vua Cam-giá, có vua tên là Đại mao thảo vương, bỏ ngôi vua đi xuất gia, được năm thần thông, gọi là Vương tiên. Vương tiên già yếu không đi được, các đệ tử ra ngoài xin ăn, sợ thầy ở nhà bị hùm sói bắt, bèn để thầy vào chiếc lồng bằng cỏ rồi treo lên cây. Bấy giờ có người đi săn, nhận lầm Vương tiên là con chim trắng, mới giương cung bắn chết, chỗ máu của Vương tiên rỏ xuống, sau mọc lên hai cây mía, mặt trời nóng quá, hai cây mía nứt ra và sinh một bé trai, một bé gái. Đại thần hay tin, rước về trong cung nuôi nấng. Bé trai vì ánh nắng làm nứt cây mía mà sinh, nên đặt tên là Thiện giá sinh; lại do mặt trời nung nên gọi là Nhật chủng; còn bé gái thì đặt tên là Thiện hiền. Sau lập Thiện sinh làm vua, và Thiện hiền được lập làm Hoàng hậu. Thiện hiền sinh được một đứa con. Sau vua lấy thêm hai người vợ sinh được bốn đứa con. Thiện hiền muốn lập con mình làm vua, bèn khuyên vua đuổi bốn đứa con kia ra khỏi nước. Bốn người con ấy dựng nước phía sau núi Tuyết, lập họ là Thích ca (Phạm: Sàkya), hiệu là Xá di, đó tức là thành Ca tì la. Sau ba người kia chết, còn một người làm vua, tên là Ni câu la, sinh được một con tên là Câu lô, sau Câu lô truyền cho con là Cù câu lô, Cù câu truyền cho con là Sư tử giáp (Phạm: Siôhahanu), Sư tử giáp lại truyền cho con là Duyệt đầu đàn (Phạm: Zuddodana), tức là vua cha của Thái tử Tất đạt đa. Phật sở hành tán quyển 1 (Đại 4, 1 thượng), nói: Con cháu của Cam giá, vua Vô thắng thích ca, tài đức đều thuần tịnh, nên được gọi là Tịnh Phạn. Cam giá cũng còn được dùng để thí dụ số nhiều của sự vật. Kinh Duy ma cật phẩm Pháp cúng dường (Đại 14, 535 trung), nói: Các đức Như lai đầy dẫy trong ba nghìn đại thiên thế giới, ví như mía (cam giá) tre lau lúa vừng (mè) rừng rậm. [X. kinh Trường a hàm Q.13; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.6; luật Ngũ phần Q.15].
cam hách thuỵ thạch quật
(甘赫瑞石窟) Cam hách thụy, Phạm: Kaịhari. Là hang đá trên núi Sa nhĩ tuyết đức (Salsette) ở nam Ấn độ. Cách Khải lợi á na (Phạm: Kalyàịa hoặc Kalyàịì) độ bốn mươi cây số, cách Mạnh mãi (Bombay) về phía đông bắc khoảng ba mươi hai cây số, là hang đá do vương triều Án đạt la (Phạm: Andhra) khai quật vào thế kỉ thứ hai Tây lịch. Trước hang, trên vách có Cao nhục điêu được coi là kiểu cách truyền thống của trung Ấn độ. Chính giữa hang đặt cái tháp xá lợi, hai bên tả hữu đều tạo thượng Phật đứng cao khoảng sáu mét, trên các cột gần nhau ở hai bên, củng tròn, òm móc đều có chạm trổ hình tượng Phật nhỏ, cúng dường xá lợi, chư thiên đang bay, cùng các hoa văn trang trí rất tinh tế. Đây là những cấu trúc của thế kỉ thứ VII còn sót lại. [X. Thế giới mĩ thuật toàn tập thứ 3; A. Cunningham: Ancient Geography of India; J. Ferguson; Cave Temples of India].
Cam Lồ
(s: amṛta, p: amata, 甘露): âm dịch là A Mật Rị Đa (阿密哩多), A Mật Lật Đa (阿蜜㗚哆), ý dịch là Bất Tử (不死, không chết), Bất Tử Dịch (不死液, chất dịch bất tử), Thiên Tửu (天酒, rượu trời), là loại thuốc thần diệu bất tử, rượu linh trên trời. Trong kinh Phệ Đà (Veda) có nói rằng Rượu Tô Ma là loại mà các vị thần thường hay uống, khi uống nó vào có thể không già, không chết, vị của nó ngọt như mật, cho nên gọi là Cam Lồ. Người ta còn lấy Cam Lồ để ví cho pháp vị nhiệm mầu của Phật pháp, có thể trưởng dưỡng thân tâm của chúng sanh. Trong Mật Giáo gọi nước quán đảnh của hai bộ Bất Nhị Chơn Ngôn là Bất Tử Cam Lồ (不死甘露). Trong Chú Duy Ma Kinh (注維摩經, Taishō 38, 395) quyển 7 có đoạn rằng: “Chư Thiên dĩ chủng chủng danh dược trữ hải trung, dĩ bảo sơn ma chi, linh thành cam lồ, thực chi đắc tiên, danh bất tử dược (諸天以種種名藥著海中、以寳山摩之、令成甘露、食之得仙、名不死藥, Các vị trời dùng nhiều loại thuốc hay đỗ vào trung biển, lấy núi báu mài với thuốc ấy, khiến thành Cam Lồ, ăn nó vào thành tiên, gọi là thuốc bất tử)”, hay “Thiên thực vi Cam Lồ vị dã, thực chi trường thọ, toại hiệu vi bất tử thực dã (天食爲甘露味也、食之長壽、遂號爲不死食也, Thức ăn của trời có vị Cam Lồ, ăn vào thì sống lâu, ấy mới gọi là thức ăn bất tử)”. Hơn nữa, trong Vô Lượng Thọ Kinh (, Taishō 12, 271) quyển thượng cũng có cho biết rằng: “Bát công đức thủy, trạm nhiên doanh mãn, thanh tịnh hương khiết, vị như Cam Lồ (八功德水、湛然盈滿、清淨香潔、味如甘露, Nước có tám thứ công đức vốn vắng lặng, đầy đủ, trong sạch, thơm tinh khiết, mùi vị của nó như Cam Lồ).” Tại Giang Thiên Thiền Tự (江天禪寺) ở Trấn Giang (鎭江), Giang Tô (江蘇), Trung Quốc có 2 câu đối tương truyền do Hoàng Đế Càn Long (乾隆, tại vị 1735-1795) ban tặng là: “Cam Lồ thường lưu công đức hải, hương vân diêu ánh Phổ Đà Sơn (甘露常流功德海、香雲遙映普陀山, Cam Lồ thường chảy công đức biển, mây hương xa sáng Phổ Đà Sơn).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毘尼日用切要, Taishō No. 1115) quyển 1 có bài kệ Tẩy Bát (洗鉢, Rửa Chén) có liên quan đến Cam Lồ như: “Dĩ thử tẩy bát thủy, như thiên Cam Lồ vị, thí dữ chư quỷ thần, tất giai hoạch bão mãn. Án, ma hưu ra tất tá ha (以此洗鉢水、如天甘露味、施與諸鬼神、悉皆獲飽滿、唵、摩休囉悉莎訶, lấy nước rửa bát này, như vị Cam Lồ trời, ban cho các quỷ thần, tất đều được no đủ. Án, ma hưu ra tất tá ha).”
cam lồ
Amṛta (S), Healing nectar dut tsi (T), Amata (P)Nước phép, Thánh thủy, A mật rị đa, mỹ lộ trường sanh tửu, bất tử tửu1- Thiên tửu: rượu tiên 2- Cam lộ: có 4 màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, là trường sanh tửu làm đồ uống của chư thiên. 3- Cam lộ vương Như lai, Cam lộ vương Phật. Là một tên hiệu khác Mật giáo dùng gọi A di đà Phật.Xem đạo quả Vô sanh bất diệt.
cam lồ thủy
Healing nectar.
cam lộ
Phạn ngữ là amṛta, phiên âm là a-mật-lý-đa (阿密哩多), chỉ loại nước mà chư thiên dùng để uống, nên cũng gọi là thiên tửu. Cam lộ có vị ngọt, được tin là uống vào sẽ được sống lâu, thân thể an ổn khỏe mạnh, nên cũng gọi là bất tử dược. Pháp Phật làm lợi ích thân tâm cho tất cả chúng sinh nên thường được ví như nước cam lộ.
; Amrta (S). Sweet dew, ambrosia, the nectar of immortality.
; Amrta (skt)—Tô Đà—Tô Ma (soma). 1) Lọc lựa ra để lấy tinh chất: To distil—To extract—To generate. 2) Sương Ngọt: : Sweet dew. 3) Phấn Ong (phấn hoa do ong tích tụ trong tổ để ăn)—Ambrosia. 4) Thần Tửu: Một loại thức uống có rượu làm từ một loại cây mà trước đây được dùng để tế lễ Phạm Thiên—Wine of gods—The alcoholic drink made from the plant named “Soma” and formerly offered to the Brahminical gods. 5) Nước (mật) Bất Tử: The nectar (water) of immortality—The nectar from heaven. 6) Thiên Tửu (rượu trời): Deva-wine—The nectar of gods. There are four kinds: a) Thanh Cam Lộ: Green Ambrosia. b) Hoàng Cam Lộ: Yellow Ambrosia. C) Hồng (Xích) Cam Lộ: Red Ambrosia. d) Bạch Cam Lộ: White Ambrosia.
; (甘露) I. Cam lộ. Phạm: Amfta, Pàli: Amata. Phiên âm: A mật lí đa. Dịch ý: bất tử, chất lỏng bất tử, rượu trời. Tức là thuốc thần không chết, rượu thiêng của cõi trời. Trong Phệ đà bảo rượu Tô ma là thứ rượu các thần thường uống, uống vào có thể không già không chết, vị ngọt như mật, cho nên gọi là Cam lộ (nước thơm ngọt). Cũng dùng cam lộ để thí dụ pháp vị của Phật pháp là vị mầu nhiệm nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh. Mật giáo thì gọi nước gội đầu của hai bộ chân ngôn bất nhị là Cam lộ bất tử. Chú Duy ma kinh quyển 7 (Đại 38, 395 thượng), chép: Thập nói: các trời đem những thứ thuốc danh tiếng bỏ vào trong biển, nhờ núi báu xoa xát mà thành cam lộ, uống rồi thành tiên, gọi là thuốc không chết (...). Sinh nói: Thức ăn của trời là vị cam lộ, ăn được sống lâu, bèn gọi là thức ăn không chết. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng), nói: Nước tám công đức, phẳng lặng tràn đầy, trong trẻo thơm tho, mùi như cam lộ. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.22]. II. Cam lộ. Là một trong ba danh hiệu của Phật A di đà (Vô lượng thọ, Vô lượng quang, Cam lộ). Mật giáo gọi đức Phật A di đà là vua Cam lộ. (xt. Cam Lộ Vương Như Lai).
cam lộ cổ
The ambrosial drum. Also trống cam lộ
; Trống Cam Lộ hay Phật Pháp—The ambrosial drum, the Buddha-truth.
; (甘露鼓) Đem tiếng diệu pháp ví như tiếng trống cam lộ. Kinh Trung a hàm quyển 56 (Đại 1, 77 trung), nói: Ta đến Ba la nại, dóng trống diệu cam lộ, chuyển xe pháp vô thượng, đời chưa bao giờ chuyển.
cam lộ diệt
The nectar of nirvana.
; Cam lộ được ví với niết bàn tịch tịnh—The nectar of nirvana, the entrance is the Nirvana.
; (甘露滅) Chỉ Niết bàn. Được Niết bàn tức là diệt trừ sống chết, cho nên gọi là Cam lộ diệt. Kinh Duy ma phẩm Phật quốc (Đại 14, 519 hạ), nói: Ngồi dưới cây Phật, ra sức hàng ma, được cam lộ diệt, đạo thành chính giác. Duy ma kinh lược sớ quyển 2 (Đại 38, 586 trung), nói: Thấy lí bốn đế, tức được cam lộ; chính tập đều hết, nên gọi là diệt. [X. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ Q.2 phần đầu; Duy ma nghĩa kí Q.1 phần cuối].
cam lộ giới
Amṛta-dhātu (S)Tên một cõi giới.
; Nectar city, nectar region.
; Cam lộ giới được ví với Niết Bàn—The nectar region or nirvana.
; (甘露界) Phạm: Amfta-dhàtu. Chỉ cảnh giới Niết bàn. Kinh Trung a hàm Q.2 (Đại 1, 431 trung), nói: Thân chứng cõi cam lộ, vô lậu chẳng nghĩ bàn.
cam lộ huyền môn
The method of the ambrosial truth.
Cam lộ kinh đà-la-ni chú 甘露經陀羅尼呪
[ja] カンロキョウダラニジュ Kanrokyō darani ju ||| The Ganlujing tuoluoni zhou; Skt. Parimitaguṇānuśaṃsā-dhāraṇī Tib. yon tan bsngags pa dpag tu med pa [To.679/851]; (Ambrosia Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1316.21.468), trans. unknown. Alternate translation: 甘露陀羅尼呪 (T 1317). => (c: Ganlujing tuoluoni zhou; s: Parimitaguṇānuśaṃsā-dhāraṇī; t: yon tan bsngags pa dpag tu med pa; e: Ambrosia Dhāraṇī). 1 quyển. Dịch giả vô danh. Tên gọi khác là Cam lộ đà-la-ni chú甘露陀羅尼呪.
cam lộ môn
Nectar gate, the teaching of Buddha.
; Nirvana.
; (甘露門) Phạm: Amfta-dvàra. I. Cam lộ môn. Chỉ giáo pháp của đức Như lai, cam lộ là thí dụ Niết bàn, cho nên cửa ngõ đi vào Niết bàn ví là Cam lộ môn. Còn gọi là Cam lộ pháp môn. Kinh Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 8 hạ), nói: Ta xótthương các ngươi, nay sẽ mở bày cửa pháp cam lộ. Kinh pháp hoa phẩm Hóa thành dụ (Đại 9, 24 hạ), nói: Hay mở cửa cam lộ để rộng độ hết thảy. II. Cam lộ môn. Chỉ Phật đại tiên và Bồ đề đạt ma (?-535) ở thế kỷ thứ năm Tây lịch, cùng theo Bát nhã đa la học đạo và gọi chung là môn hạ nhị cam lộ môn. (Đại ý là hai người đệ tử lớn). Phật đại tiên là người nước Kế tân thuộc bắc Ân độ, một vị sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người truyền trì phép thiền. Bồ đề đạt ma là con vua nước Hương trí ở nam Thiên trúc, tổ thứ 28 tại Tây thiên và là sơ tổ Thiền tông Trung quốc.
cam lộ nhật
(甘露日) Chỉ ngày tốt lành. Tức là ngày Thất diệu và Nhị thập bát tú ứng hợp với nhau. Kinh Tú diệu quyển hạ (Đại 21, 398 trung), nói: Ngày, tháng Thái dương hợp sao Chẩn, ngày, tháng Thái âm hợp sao Tất (...). Ngày, tháng Thổ diệu hợp sao Tinh. Trên đây gọi là ngày cam lộ, ngày tốt lành nhất, nên lập đàn thụ pháp Quán đính, làm chùa viện, thụ giới, học tập kinh pháp, xuất gia tu đạo, tất cả đều tốt lành.
cam lộ pháp
The ambrosial truth, Buddha-truth.
; Giáo pháp của Đức Phật ví như nước cam lộ (trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Thảo Dụ, Đức Thế Tôn đã khẳng định vì muốn cho chúng sanh được yên ổn mà Ngài xuất hiện nơi đời, vì đại chúng mà Ngài thuyết Cam Lộ Pháp, pháp chỉ thuần một vị giải thoát)—The ambrosial truth or rain—The Buddha truth.
; (甘露法) Giáo pháp của đức Như lai. Tức pháp vị thanh tịnh, nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh, ví như tính chất của cam lộ. Kinh Pháp hoa phẩm Dược thảo dụ (Đại 9, 20 thượng), nói: Ta là Thế tôn, chẳng ai sánh kịp, an ẩn chúng sinh, nên hiện ra đời. Vì đại chúng nói Cam lộ tịnh pháp, pháp có một vị, giải thoát Niết bàn. Thập địa kinh luận quyển 2 (Đại 26, 130 trung), nói: Như bệnh mong thuốc tốt, như ong nương nơi mật, chúng con cũng như vậy, mong nghe pháp cam lộ. [X. luận Phật địa Q.4; Chú duy ma cật kinh Q.7].
Cam lộ pháp giới 甘露法界
[ja] カンロホウカイ kanro ōkai ||| The nature of the dharma, which is like sweet nectar. => Bản chất của pháp, như cam lộ dịu ngọt.
cam lộ pháp môn
Pháp môn giải thoát (niết bàn)—The method of the ambrosial truth (nirvana).
cam lộ pháp vũ
(甘露法雨) Ví giáo pháp của Như lai cũng như trận mưa nước Cam lộ. Kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 371), nói: Bạch đức thế tôn! Thân con nay đã có trâu hiền ruộng tốt, trừ sạch gai gốc, cỏ dại, chỉ còn mong trận mưa nước cam lộ của đức Như lai. Kinh Pháp hoa phẩm Phổ môn (Đại 9, 58 thượng), nói: Mưa rưới nước cam lộ, diệt trừ lửa phiền não. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
Cam lộ pháp vũ 甘露法雨
[ja] カンロホウウ kanrohōu ||| The sweet dharma-rain. A metaphor for the Buddhist teachings, which pleasantly nourish sentient beings. => Mưa pháp dịu ngọt. Dụ cho giáo lý đạo Phật, nuôi dưỡng ngọt ngào cho chúng sinh.
Cam lộ pháp 甘露法
[ja] カンロホウ kanrohō ||| The nectar-like dharma. A metaphor for the Buddha's teaching, which sweetly nourishes the bodies and minds of the sentient beings who study and practice. => Pháp như cam lộ. Ẩn dụ cho giáo lý của Đức Phật, nuôi dưỡng ngọt ngào cho thân tâm người tu tập.
cam lộ phạn
Amṛtodana (S), Amitodāna (P)Bào đệ thứ nhì của vua Tịnh Phạn, phụ thân của Ma ha Nam và A na luật Đà.
; Amrtodana (skt)—A Di Đô Đàn Na—Vị vua có tên là “Cam Lộ Phạn,” là cha đẻ của A Nậu Lâu Đà và Bhadrika, và là chú của Phật Thích Ca—The king whose name was “Ambrosia-Rice,” a prince of Magadha, father of Anurudha and Bhadrika, and paternal uncle of Sakyamuni.
cam lộ phạn vương
(甘露飯王) Cam lộ phạn, Phạm: Amftodana, Pàli: Amitodana. Phiên âm: A di đô đàn na. Cũng gọi là Cam lộ tịnh vương. Là con của vua Sư tử giáp ở thành Ca tì la, em ruột vua Tịnh phạn, chú của đức Thích tôn. Về vua Sư tử giáp, trong các kinh luận có nhiều thuyết. Luật ngũ phần quyển 15 bảo Sư tử giáp là vua Ni hưu la, kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2 thì nói là vua Tinh hạ hạ nỗ. Còn về Cam lộ phạn, theo đảo sử (Dìpavaôsa,iii) và Đạ sử (Mahàvaôsa,ii) văn Pàli cũng như truyền thuyết Miến điện, là con thứ năm của vua Sư tử giáp; Đại sự (Mahàvastu) tiếng Phạm, kinh Phật bản hạnh tập quyển 4 và truyền thuyết Tây tạng thì bảo là con thứ tư, còn các kinh khác hoặc nói là con thứ ba, hoặc bảo là con thứ hai... Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 5 chép, thì Cam lộ phạn cưới hai người con gái của vua Thiện giác ở thành Thiên tí làm vợ. Lại vấn đề con cái của Cam lộ phạn cũng có nhiều thuyết khác nhau: có thuyết nói có hai con trai là A nan đà, Đề bà đạt đa và một con gái là Tế phạ la; có thuyết nói có hai con trai là A nan đà, Đề bà đạt đa, có thuyết nói hai con trai là Bà bà và Đạt đề, lại có thuyết bảo có ba con trai là A nê lô đậu, Ma ha nam và Bạt đề. [X. kinh Thập nhị du; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng; Thích ca phổ Q.1].
cam lộ quang như lai
Xem Vô lượng quang Như Lai.
cam lộ thành
Thành cam lộ được ví với Niết Bàn—The nectar city or nirvana.
; (甘露城) Chỉ cho thành Niết bàn. Trong các kinh luận, từ Cam lộ thành được dùng để thí dụ Niết bàn. Chẳng hạn như luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 82 thượng), nói: Các công đức tín, giới, xả, định, tụê hơn tất cả các của báu, (...) có thể đưa đến thành cam lộ.
cam lộ thủy chân ngôn
Sweet Dew True Words.
cam lộ vũ
The ambrosial rain—See Cam Lộ Pháp.
cam lộ vương
Nectar-king, Dharma-king, Amitabha Buddha.
; 1) Ám chỉ bất tử là tên của Đức A Di Đà Như Lai (thường đi chung với Cam Lộ Chú, Cam Lộ Đà La Ni Chú, Thập Cam Lộ Chú hay Thập Cam Lộ Minh, Cam Lột Kinh): Amrta (skt)—In its implication of immortality is a name of Amitabha (connected with him are the Mantra of Ambrosia, the Mantra of Ambrosial Dharani, Ten Mantras of Ambrosia, Sutra of Ambrosia). 2) Cha của A Nậu Lâu Đà: Amrtodana (skt)—Father of Anuruddha.
cam lộ vương như lai
Amṛta-rāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Biệt hiệu xưng tụng Phật A di đà.
; Amitabha and his implication of immortality.
; (甘露王如來) Cam lộ vương, Phạm: Amfta-ràja. Một trong năm đức Như lai. Là biệt hiệu của A di đà Như lai. Khi hóa thân của đức Như lai nói pháp, thì đúng lúc ấy, trời mưa nước Cam lộ, cho nên dùng danh xưng Cam lộ vương để ca tụng cái đức của Ngài. Chú thuật của Ngài gọi là Cam lộ chú, Đại chú gọi là Thập cam lộ minh. Danh hiệu Cam lộ vương Như lai phần nhiều được tụng trong pháp hội cúng thí thực ngã quỉ, tụng cùng một lúc với danh hiệu của bốn đức Như lai khác. Trước hết viết tên Ngài lên lá phan để thờ trên đàn thí thực rồi niệm như sau: Nam mô Cam lộ vương Như lai, pháp gội thân tâm khiến được vui sướng. [X. kinh Bồ đề tâm tập Q.thượng; Bí tạng kí; A sa phọc sao Q.53 A di đà].
cam lộ vương tôn
Amrtakundalin (skt)—Một trong năm vị Minh Vương, vị luôn hiện dưới ba hình thức khác nhau—One of the five Ming-Wang, who has three different forms: 1) Kim Cang Cam Lộ Minh Vương: Vajra-Amrtakundalin. 2) Liên Hoa Cam Lộ Minh Vương: Lotus-Amrtakundalin. 3) Cam Lộ Minh Vương: Nectar-Amrtakundalin.
cam lộ vị luận
(甘露味論) Gồm hai quyển. Do ngài Cù sa người Ấn độ viết. Được dịch vào thời Tam quốc Ngụy (220-265), mất tên người dịch. Còn gọi là A tì đàm cam lộ vị luận, Cam lộ vị A tì đàm, Cam lộ vị kinh. Là tác phẩm thuộc bộ Tiểu thừa. Nội dung chia làm mười sáu phẩm, như Bố thí trì giới phẩm, Tạp phẩm v.v... tường thuật về tông nghĩa cương yếu của Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ). Còn sư Cù sa, Phạm:Ghowa, dịch mới là Diệu âm, là luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, cùng với Pháp cứu, Thế hữu và Giác thiên là bốn vị luận sư lớn của Bà sa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2].
cam lộ vị quốc
(甘露味國) Là nước trong đó trưởng giả Thanh liên hoa hương cư trú. Thanh liên hoa hương là một trong năm mươi ba thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 19 (Đại 35, 468 hạ), nói: Nước cam lộ vị biểu tỏ cứu hộ chúng sinh bậc nhất (...) Cam lộ vị là vị thù thắng cứu sinh khéo léo vậy.
Cam lộ đà-la-ni chú 甘露陀羅尼呪
[ja] カンロダラニジュ Kanro darani ju ||| The Ganlu tuoluoni zhou; Skt. Parimitaguṇānuśaṃsā-dhāraṇī; Tib. yon tan bsngags pa dpag tu med pa [To.679/851]; (Ambrosia Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1317.21.468), trans. Śikṣānanda 實叉難陀. Alternate translation: 甘露經陀羅尼呪 (T 1316). => (c: Ganlu tuoluoni zhou; s: Parimitaguṇānuśaṃsā-dhāraṇī; t: yon tan bsngags pa dpag tu med pa ; e: Ambrosia Dhāraṇī). 1 quyển. Thật-xoa Nan-đà (s: Śikṣānanda 實叉難) dịch. Bản dịch khác là Cam lộ kinh đà-la-ni chú 甘露經陀羅尼呪.
Cam lộ 甘露
[ja] カンロ kanro ||| (1) The nectar (amṛta, soma; Pali amata) of the gods, which wards off old age and death. (2) A metaphor for the teaching of the Buddha. (3) Originally, the Sanskrit a-mrta means 'no-death.' (4) Prior to Buddhism, this term "sweet dew" referred to the delicious dew that pervaded the realm during the rulership of a benevolent sage-king. 〔老子、三十二〕 => 1. Rượu (s: amṛta, soma; p: amata) của chư thiên, uống vào thì khỏi già và chết. 2. Dụ cho giáo lý của Đức Phật. 3. Ban đầu, chữ a-mrta trong tiếng Sanskrit có nghĩa là 'không chết'. 4. Trước thời Đức Phật, từ nầy chỉ cho giọt sương thơm ngọt toả khắp các cõi nước dưới sự dẫn dắt của một vị vua nhân từ.
cam phát
Còn gọi là Cam Đỉnh, lông tóc của Đức Phật có màu cam lưu ly (xanh pha lẫn đỏ tía)—The purplish colour of the Buddha's hair.
cam phường
Tên của một tự viện—Name for a Buddhist monastery.
Cam Sơn tự 甘山寺
[ja] カンセンジ Kansenji ||| Kamsan-sa Monastery. Built in 719 in Kyŏngju. No longer extant. => Tu viện Kamsan-sa. Xây dựng năm 719 ở Kyŏngju. Nay không còn.
cam thù
Kanjur (T)Một trong 2 bộ Đại tạng kinh điển của Tây tạng: Cam thù và Đan thù.
cam tiệp
Lông mày của Đức Phật màu cam lưu ly—The Budha's violet or red-blue eyebrows.
cam trà
(甘茶) Chỉ loại trà mầu vàng, vị ngọt. Là trà dùng lá khô của cây cam trà pha với nước sôi mà thành. Khi tắm Phật, dùng cam trà, nước thơm pha với nước nóng làm thành nước cam lộ để tắm. Tương truyền, khi đức Thích ca đản sinh, Long vương trên trời đem nước cam lộ rưới lên đỉnh đầu Phật, từ đó về sau, việc này vẫn được noi theo và trở thành phong tục. Cam trà, tên khoa học: Hydrangea Opuloi-bes. Là loại quán mộc (cây rậm) thuộc họ cỏ tai hổ, một loại hoa bát tiên. Còn gọi Diệp cam thảo. Cũng gọi Thổ thường sơn, để phân biệt với cây cam trà mạn. Có hai thứ hoa, vành ngoài hoa, có đài hoa lớn. Mầu sắc lúc đầu xanh, sau biến thành đỏ lợt. Vào đầu tháng sáu thì nở hoa. Hái lá vào giữa mùa hè, sao héo cho hết chất nước xanh, đợi khi nào khô thì pha trà được. (xt. Cam Lộ).
cam túc
Kan-su (C)Một thành phố ở Trung quốc.
cam đan
Dgahldan (tib)—Tự viện bản sơn của phái Hoàng Giáo, khoảng 30 dậm đông bắc của thủ đô La Sa, được ngài sơ tổ Tông Khách Ba xây dựng—The monastery of Yellow sect, 30 miles northeast of Lhasa, built by Tson-Kha-Pa.
cam đan phái
Blah-gdams-pa (T)Tên một tông phái.
cam địa
(甘地) (Gandhi, Mohandas Kasamchand 1869-1948)Nhà chính trị lãnh đạo cuộc vận động giành độc lập cho Ấn độ, người cha của dân tộc Ấn độ độc lập, được tôn là Linh hồn vĩ đại (Phạm: Mahàtmà). Ngài sinh tại Ba ban đạt (Porbandar) miền tây Ấn độ. Năm 1886 sang Anh học luật, sau khi về nước, hành nghề luật sư. Năm 1893 ngài đi Nam phi làm việc, thấy nhà đương quyền địa phương đối xử hết sức tàn tệ với đồng bào Ấn độ của mình, bèn cực lực phản đối. Để giành lại quyền cơ bản của con người và thủ tiêu chính sách kì thị chủng tộc, Cam địa mở ra cuộc đấu tranh bất bạo động hơn hai mươi năm. Năm 1914 sau khi trở về Ấn độ, Cam địa trở thành người lãnh đạo phong trào vận động độc lập để giải phóng dân tộc, liên tục chống đối chủ nghĩa đế quốc của nước Anh. Trong cuộc thế chiến thứ nhất, ngài chịu điều kiện tham chiến để đổi lấy nền tự trị cho Ấn độ. Sau chiến tranh, nước Anh lấy cớ duy trì nền an ninh trật tự, năm 1918, đặt ra điều luật đàn áp bạo động, tiếp tục đàn áp mạnh hơn, năm 1920, Cam địa đưa ra cuộc vận động bất hợp tác (Non-Cooperation Mouve-ment) đòi hỏi tự trị, bình đẳng dân tộc, đề cao hàng hóa trong nước, tẩy chay hàng hóa nước Anh, kết quả là mấy lần vào tù, nhưng trước sau vẫn không nản chí, tiếp tục vận động bất hợp tác, dùng nguyên tắc bất bạo động chống đối đến cùng. Trước sau vào tù hơn mười mấy lần và ở tù lại tuyệt thực để chống đối, cuối cùng chính phủ Anh phải nhượng bộ. Tư tưởng căn bản của Cam địa đại lược là nắm chắc chân lí, không đổ máu (không làm hại), giữ gìn thân tâm thuần khiết, dùng phương sách chính đáng không bạo động để đạt mục đích khiến thế lực xấu xa phải lùi bước, cuối cùng, dựa vào niềm tin ấy mà đã toàn thắng. Tức Cam địa đã nhờ vào tinh thần kỉ luật của mình mới có thể ứng dụng phương sách chính đáng để thực hiện lí tưởng. Về sau, đảng Quốc đại Ấn độ vẫn tiếp tục phương án bất hợp tác của Cam địa, khiến giai cấp công dân và nông dân đều thức tỉnh và phấn chấn, nhờ đó mà củng cố cơ sở giành độc lập giải phóng dân tộc về mặt chính trị và xã hội. Cuối cùng, vào năm 1947, nước Anh phải trả lại chủ quyền độc lập cho Ấn độ và từ đó, Cam địa lại dồn hết năng lực vào việc giải quyết xung đột giữa Ấn độ giáo và Hồi giáo, đi khắp nơi vận động sự hòa giải và khoan dung giữa hai tôn giáo. Năm 1948, Cam địa đã bị một người Ấn độ, đảng viên một đảng chính trị cấp tiến ám sát tại Tân đề li vào ngày 9-1-1948. Thánh hùng Cam địa không những chỉ được nhân dân toàn cõi Ấn độ sùng kính, mà còn được cả thế giới tôn trọng. Trong suốt cuộc đời, Cam địa lấy việc chống áp bức bất công, chống xâm lược và kì thị chủng tộc làm thiên chức của mình, tinh thần ấy sẽ bất hủ.
Cam 甘
[ja] カン kan ||| Sweet; sweetness (Skt. madhu; Tib. mṅar ba). One of the "five flavors." => Ngọt, tính ngọt (s: madhu; t: mṅar ba). Một trong 'năm mùi vị'.
Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ
甘珠爾丹珠爾; T: kangyur/tengyur [bK'-'gyur/ bsTan-'gyur];|Tên của Ðại tạng tại Tây Tạng, bao gồm toàn bộ kinh điển của Phật giáo tại đây. Ðại tạng này bao gồm hơn 300 bộ kinh, được dịch từ văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Cam-châu-nhĩ là Kinh tạng với những lời giáo hoá của Phật Thích-ca, gồm 92 bộ với 1055 bài; Ðan-châu-nhĩ bao gồm các bộ luận của các Ðại sư Ấn Ðộ, có thể gọi là Luận tạng, gồm 224 bộ với 3626 bài.|Kinh luận Phật giáo phát xuất từ Ấn Ðộ ngày nay hầu như chỉ còn trong dạng chữ Hán và Tây Tạng. Trong thời kì đầu của Phật giáo Tây Tạng, nhiều kinh sách được phiên dịch nhưng sau đó vì mất bản gốc chữ Phạn nên các bản dịch đó không được chính thức thừa nhận. Ðến khoảng thế kỉ thứ 11, người ta mới xét lại các bản dịch và cho vào thư mục Ðan-châu-nhĩ/Cam-châu-nhĩ.|Cam-châu-nhĩ được chia làm sáu phần: 1. Mật bộ (Tan-tra); 2. Bát-nhã ba-la-mật bộ (s: prajñāpāra-mitā); 3. Bảo tích bộ (s: ratnakūṭa); 4. Hoa nghiêm bộ (s: buddhāvataṃsaka); 5. Kinh bộ (s: sūtra, giáo pháp Ðại thừa, Tiểu thừa) và 6. Luật bộ (s: vi-naya).|Ðan-châu-nhĩ được chia làm 3 phần: 1. Tán tụng (s: stotra); 2. Tan-tra; 3. Kinh luận. Các tập luận về kinh chứa đựng các tác phẩm Bát-nhã, Trung quán, Duy thức học cũng như A-tì-đạt-ma, và còn có thêm những luận giải về Nhân minh học (lí luận lo-gic), thơ văn, y khoa và ngữ pháp. Văn học Tây Tạng cũng dựa vào các bản dịch mà dần dần phát triển một cách toàn diện.
Cam-đan phái
甘丹派; T: kadampa [bKa'-gdams-pa]; nguyên nghĩa là »khai thị bằng lời«;|Một tông phái của Phật giáo Tây Tạng do Ðại sư A-đề-sa sáng lập. Tông này chủ trương thiết lập lại kinh điển sau khi thấy Phật giáo suy tàn ở thế kỉ thứ 10 tại Tây Tạng. Giáo pháp quan trọng nhất được gọi là Lo-jong (sám hối). Tông này không còn truyền đến ngày nay, nhưng học thuyết lại được các tông khác hấp thụ, nhất là phái Cách-lỗ (t: gelugpa).|Ðóng góp lớn nhất của tông này vào Phật giáo Tây Tạng là một số phép tu thiền, ngày nay được gọi là »phép sám hối.« Phép này dựa trên quan điểm Bồ Tát đạo và được xem như một cách tu để phát triển Bồ-đề tâm. Trong thời A-đề-sa, phép tu này chỉ được truyền miệng, về sau mới được ghi chép lại. Hai văn bản quan trong nhất là »Tám câu sám hối« của Kadampa Geshe Langri Thangpa và »Bảy ý nghĩa của sám hối.« Câu kệ sau đây là của Lạt-ma Ðông-đốn (t: dromton, 1008-1064), một vị Lạt-ma quan trọng của tông Cam-đan:|Nếu nghe lời không đẹp,|Hãy xem là tiếng dội.|Nếu thân chịu khổ ải,|Xem đó là tiền nghiệp.|Sáu bộ luận căn bản (s: ṣaḍājñādeśa) của phái này: 1. Bồ Tát địa luận (s: bodhisattvabhūmi); 2. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (s: mahāyānasūtra-laṅkara); 3. Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuc-caya); 4. Nhập Bồ Tát hạnh (s: bodhisattvacāryā-vatāra) hoặc Nhập bồ-đề hành luận (s: bodhicaryā-vatāra); 5. Bản sinh kinh (s: jātakamala); 6. Tự thuyết (s: udāna).
can
1) Miếng che: A shield. 2) Cây chống đỡ: A stem—A pole.
can chứng
Witness.
can dự
To take part.
can gián
Dissuasion—Expostulation.
can huệ địa
(幹慧地) Phạm: Zukha-vidarsanà-bhùmi. Tức là địa thứ nhất của Tam thừa cộng thập địa (mười ngôi vị chung cho ba thừa) trong các giai vị tu hành của Bồ tát; địa này có tuệ mà không định, cho nên gọi Can tuệ địa. Cũng gọi Quá diệt tịnh địa, Tịch nhiên tạp kiến hiện nhập địa, Siêu tịnh quán địa, Kiến tịnh địa. Vì các bậc thánh ba thừa, bắt đầu tu ba phép quán Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm xứ, Tổng tướng niệm xứ, tuy đã có tuệ quán, nhưng chưa hoàn toàn được nước lí pháp tính chân đế, cho nên gọi là Can tuệ địa (trí tuệ khô khan). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 75 chép, thì Can tuệ địa có hai thứ: 1. Thanh văn, chỉ cầu Niết bàn, cho nên siêng năng tinh tiến, giữ giới, hoặc tập quán Phật tam muội, quán bất tịnh, hoặc quán từ bi, vô thường, gom góp các pháp lành, xả trừ các pháp bất thiện; tuy có trí tuệ mà không được nước Thiền định, thì không thể đắc đạo, vì thế gọi là Can tuệ địa.2. Bồ tát, thì từ mới phát tâm cho đến chưa được thuận nhẫn. Lại cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 6 phần trên chép, thì đem mười địa phối hợp với năm mươi ba giai vị Bồ tát, trong đó, lấy Tam hiền ngoại phàm làm Can tuệ địa, gọi là Thập tín. (xt. Thập Địa).
can lật đà
Hrdaya (skt)—Can Lật Thái—Càn Lật Đà—Cạt Lợi Đa—Trái tim—The physical heart.
can mộc
(竿木) Chỉ cây gậy các sư dùng khi có pháp hội, hoặc chỉ cây gậy thông thường dùng trong khi đi đường. Trong Thiền lâm, từ này được chuyển dụng để chỉ cho cây gậy vô hình mầu nhiệm trong tâm thầy dùng để tiếp hóa học trò. Cho nên, trong Thiền lâm, mỗi khi nói đến câu Can mộc tùy thân(cây gậy mang theo mình) là thí dụ cái cơ dụng tự tại vô ngại.Thung dung lục tắc 10 (Đại 48, 233 thượng), nói: Có thu có phóng, gậy gỗ tùy thân, cho sống cho chết, quyền hành trong tay.
can ngăn
To prevent—To hinder.
can qua
Shield and spear—Hostility.
can thiệp
To interfere—To intervene—To meddle.
can trường
Courage—Bravery.
Can tâm 肝心
[ja] カンシン kanshin ||| Essential, important, fundamental. => Cốt yếu, quan trọng, nền tảng.
can án
To be condemned (convicted).
can đảm
Brave—Courageous—Fearless—Dauntless.
can đầu tiến bộ
(竿頭進步) Tên công án trong Thiền lâm. Hàm ý trên đầu cây sào cao một trăm thước (Tàu), tiến thêm một bước nữa. Có xuất xứ từ Vô môn quan tắc 46 (Đại 48, 298 hạ), nói: Hoà thượng Thạch sương hỏi: Trên đầu cây sào một trăm thước, làm thế nào để tiến bước? Lại nữa, Cổ đức có nói: Người ngồi trên đầu cây sào một trăm thước, tuy đã được vào, nhưng chưa phải là thực. Đầu sào trăm thước cần phải tiến bước, thì mười phương thế giới hiện toàn thân. Thạch sương, tức là Thiền sư Khánh chư ở núi Thạch sương; Cổ đức, tức chỉ cho Hoà thượng Cảnh sầm ở Trường sa. Có nghĩa là đầu cây sào một trăm thước tuy cao, nhưng nếu người cứ ngồi trên đó mà an hưởng, không chịu đi xuống, thì trí tuệ lại trở thành tội chướng, như vậy chẳng phải là giác ngộ chân chính; mà cần phải tiến thêm bước nữa, đi xuống các ngã, hiện toàn thân trong thế giới ở mười phương để nhiếp hóa vạn cơ. Cho nên ngài Vô môn Tuệ khai bình rằng: Tiến được bước, quay được thân, thì còn sợ chỗ nào không xưng tôn? Tuy nhiên như thế, vả nói, đầu sào trăm thước, tiến bước làm sao? Ha!. Lại tụng rằng: Mắt mù lầm đường, quay thân bỏ mạng, một người mù, dắt một lũ mù. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.10 mục Trường sa cảnh sầm; Thung ung lục tắc 79].
can đồ na
Kancana (skt)—Kiện Chiết Na—Golden—A shrub of trees, with golden hue, described as the leguminous order.
Can 肝
[ja] カン kan ||| The liver--thus, something essential. => Lá gan– những điều gì thiết yếu.
canh
1) Canh tân: Sự thay đổi—To change. 2) Canh gát: A night watch. 3) Lần nữa: Again—The more. 4) Ngôi thứ bảy trong Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý)—The seven of the ten celestial stems. 5) Tuổi tác: Age. 6) Phía tây: West. 7) Thưởng: To reward.
canh cổ
(更鼓) Trống canh. Còn gọi là canh điểm. Tức chỉ cái trống báo thời khắc ban đêm. Canh là một phần năm của một đêm, tùy mỗi canh mà đánh trống, thí dụ canh một thì đánh một tiếng, canh hai đánh hai tiếng v.v...… cho nên gọi là Canh cổ. Tại Trung quốc đời xưa thường đều dùng cách này, về sau, trong các Thiền lâm cũng thực hành. Từ chập tối đến tờ mờ sáng là một đêm, chia làm 5 canh, cứ mỗi canh, vị Hương tư ......(chức vụ chuyên báo giờ giấc trong Tùng lâm) đều phải đánh trống để báo thời khắc. CANH THÂN Chỉ hội Canh thân tế thần linh. Trung quốc từ ngàn xưa đã dùng mười can, mười hai chi để ghi ngày, từ Giáp tý đến Quý hợi gồm sáu mươi ngày là hết một vòng, cứ mỗi lần gặp ngày Canh thân thì dân gian tế thần, gọi là Canh thân. Tín ngưỡng này vốn thuộc Đạo giáo, sau cũng pha trộn với trời Đế thích và Kim cương mặt xanh trong Phật giáo mà trở thành một tín ngưỡng dân gian. Cứ theo Bão phác tử nội thiên quyển 6 (sách của Đạo giáo) chép, thì vào ngày ấy, quỉ thần linh phách Tam thi ...... (Tam bành) trong thân thể người ta, lúc loài người đang ngủ say, lên trời báo cáo Tư mệnh đạo nhân về tội lỗi của loài người, hễ người tội nặng thì giảm thọ ba trăm ngày, người tội nhẹ thì giảm thọ ba ngày. Thuyết này nhấn mạnh số mệnh con người, có thể do hành vi thiện ác ở hiện tại mà thêm hoặc bơt, Phật giáo cũng tiếp nhận tư tưởng này. Trong các kinh Tứ thiên vương, kinh Tam phẩm đê tư, kinh Dược sư lưu li quang, kinh Tịnh độ tam muội v.v...… đều có thuyết Tư mệnh đoạt toán. Từ thời trung cổ trở đi, Canh thân trở thành tín ngưỡng dân gian của Trung quốc và Nhật bản. Hội Canh thân còn gọi là Canh thân đãi, Canh thân tế. Cứ theo Đại tống tăng sử lược chép, thì để ngăn chặn Tam thi lên trời tâu trình tội lỗi của loài người, dân gian phần nhiều thành lập hội Canh thân, vào đêm Canh thân, tập trung đông đảo, khua não bạt, tụng kinh niệm Phật, lễ bái hành đạo, suốt đêm không ngủ. Tại Nhật bản, khi làm nghi thức này, ở chính giữa đàn đặt tượng Kim cương mặt xanh, tượng ba con vượn, tượng thần Viên điền ngạn v.v…... rồi nhóm họp người trong cả xã đến cùng tế lễ. Nhưng đến đời sau thì nghi thức này dần dần biến thành dịp dân chúng vui chơi. [X. Bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quĩ].
canh dược
Phi Thời Dược—Một trong tám loại thuốc uống cho chư Tăng Ni, chỉ uống từ rạng đông đến đầu hôm (nước rễ mai, nước chuối chín, nước táo chua, nước hạt quả Bồ Đề, nước một loại quả ở Ấn Độ giống như quả mận, nước nho, nước một loại quả ở Ấn Độ giống như quả táo nhỏ)—Medicines that should be taken between dawn and the first watch, of which eight are name.
canh giữ
To guard—To watch
canh thân hội
Hội cúng dường vào đêm Canh Thân cầu cho quốc thái dân an, lấy Kim Cương mặt xanh dưới hình con khỉ làm bổn tôn. Đây là một nghi thức Lão Giáo, được Phật Giáo Trung Hoa công nhận như một nghi thức Phật giáo tại địa phương (mở đầu hội thì đánh chuông khua thanh la, ca hát xưng tụng Phật, chúng hội vừa đi vừa niệm Phật, một số thì đánh đàn thổi sáo, suốt đêm không ngủ)—An assembly for offerings on the night of Kêng-Shên to an image in the form of a monkey, which is the Shên symbolical animal. This is a Taoist rite adopted by Chinese Buddhism as a local Buddhist rite.
cao
High, lofty, eminent.
; Cao vút: Eminent—Lofty; Chiều cao: High—Tall; Mỡ loãng: Fat—Oil—Unguent. 1) Cao Ẩn: To retire from the world. 2) Cao Bay Xa Chạy: To be at large—To run away. 3) Cao Cả: Exalted—Eminent—Noble—Great—Lofty. 4) Cao Cấp: High rank. 5) Cao Cường: Superior in strength. 6) Cao Danh: Eminent reputation. 7) Cao Dày: Heaven and earth. 8) Cao Diệu: Eminent—Sublime. 9) Cao Đẳng: High level. 10) Cao Hứng: Inspired. 11) Cao Kiến: Deep knowledge. 12) Cao Kỳ: Extraodinary. 13) Cao Lương Mỹ Vị: Savoury dishes. 14) Cao Ly: Nước Triều Tiên—Korea. 15) Cao Minh: a) Mỡ loãng và ánh sáng: Ánh sáng chiếu trên mỡ loãng, chiếu rõ sự vật cho chúng sanh—Oil and light, oil being right conduct, with the resultant shining before men. b) Sự hiểu biết rõ ràng: Erudite and clairvoyant. 16) Cao Ngạo: Arrogant—Haughty—Proud. 17) Cao Nhân: A great man. 18) Cao Niên: Old—Aged. 19) Cao Quý: Noble. 20) Cao Ráo: High and dry. 21) Cao Sang: Noble—Eminent. 22) Cao Sang Hay Thấp Hèn: Of noble birth or low. 23) Cao Siêu: Sublime—Lofty. 24) Cao Thâm: High and deep. 25) Cao Thủ: Smart person. 26) Cao Thượng: Noble—Lofty—Fine. 27) Cao Tiết: Lofty virtue. 28) Cao Ủy: High commissioner. 29) Cao Vọng: High ambition. 30) Cao Vút: Very high. 31) Cao Xa: Very high—Far-reaching—Exalted. 32) Cao Xanh: heaven—Sky.
cao an đại ngu
Kao an Tai yu (C)Tên một vị sư.
Cao Biền
(高駢, 821?-887): thi nhân cuối đời nhà Đường, tướng tài của Trung Hoa, tinh thông địa lý, tự là Thiên Lí (天里), người vùng U Châu (幽州, tức Bắc Kinh ngày nay), Tỉnh Hà Bắc. Dòng họ ông cả mấy đời đều làm lính vệ trong cung nội. Ông là con của Nam Bình Quận Vương Cao Sùng Văn (南平群王高崇文), rất giỏi về văn học, và đã từng giao tiếp với rất nhiều văn sĩ đương thời; bên cạnh đó, ông còn rất giỏi về võ nghệ, chiến lược. Ông làm việc cho Chu Thúc Minh (朱叔明, tức Sóc Phương Tiết Độ Sứ) và từng trãi qua các chức quan như Tư Mã (司馬), Thị Ngự Sử (侍御史). Có lần ông chỉ bắn một phát tên mà rớt một đôi chim diều hâu, nên được gọi là Lạc Điêu Thị Ngự (落雕侍御). Ông đã từng đem quân sang chinh phạt An Nam (安南, tên gọi ngày xưa của Việt Nam) và lập nên thành tích rất chói lọi dưới triều vua Y Tông (860-874) Trung Hoa, rồi lên làm vua Bột Hải Quận (勃海郡). Sau đó, ông lợi dụng cuộc nỗi loạn Hoàng Sào (黃巢), muốn có dã tâm chiếm hết thiên hạ. Họ Hoàng đã biết rõ dã tâm ấy, nên phong cho ông làm Thị Trung (侍中) rồi tước đoạt hết binh quyền của ông. Hoàn toàn thất vọng không thể nào thực hiện được ý đồ của mình, ông trở về vui thú thần tiên, nhưng cuối cùng ông bị bộ hạ thân tín giết chết.
Cao Dã Sơn
(高野山, Kōyasan): linh địa của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, được bao bọc bởi ngọn núi cao trên dưới 1000 mét, nằm phía đông bắc Wakayama-ken (和歌山縣), tọa lạc tại Kōya-chō (高野町), Ito-gun (伊都郡). Vào năm 816 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 7), Không Hải Đại Sư (空海大師, Kūkai Daishi) thọ ân tứ của triều đình, lấy nơi đây làm đất nhập định cho bản thân mình và sáng lập ra ngôi Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji), ngôi chùa trung tâm của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản. Cao Dã Sơn còn là tên gọi thông thường của Kim Cang Phong Tự. Không Hải Đại Sư đã nhập diệt tại thánh địa này. Ngôi già lam được hình thành theo dạng thức độc đáo của Mật Giáo, phối trí ở hậu phương đông tây lấy Giảng Đường và Trung Môn làm trục, có ngôi Đại Tháp (tức Căn Bổn Đại Tháp) và Tây Tháp, tượng trưng cho vũ trụ theo hai bộ Thai Tạng Giới (胎藏界, Taizōkai) và Kim Cang Giới (金剛界, Kongōkai). Sau khi Không Hải qua đời, thánh địa này đi đến tình trạng suy vong vì quá cách xa với kinh đô; nhưng từ khoảng giữa thế kỷ thứ 10 trở đi, tín ngưỡng cho rằng Không Hải chỉ nhập định thôi, vẫn còn sống và cứu độ chúng sanh, bắt đầu xuất hiện, cho nên tầng lớp quý tộc cũng như hoàng tộc liên tục lên núi tham bái, nhờ vậy nơi đây hưng thịnh trở lại. Vào khoảng đầu thế ký 15, nhờ sự xuất hiện của các bậc học tượng như Hựu Khoái (宥快, Yūkai), Trường Giác (長覺, Chōkaku), v.v., giáo học của Cao Dã Sơn được hình thành có hệ thống và truyền thống đó vẫn được kế thừa cho đến ngày nay. Vào năm 1872 (niên hiệu Minh Trị [明治] thứ 5), luật cấm không cho người nữ lên núi được giải bỏ, dần dần các cư sĩ tại gia lên núi lập nghiệp. Hiện tại nơi đây hình thành một thị trấn tên Môn Tiền Đinh (門前町, Monzen-machi) có 117 ngôi tự viện, các cơ quan giáo dục như trường Đại Học, Trung Học và rất nhiều hiệu buôn. Mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu người đến tham bái thánh địa này.
Cao Dã Xuân Thu
(高野春秋, Kōyashunjū): tên gọi tắt của bộ Cao Dã Xuân Thu Biên Niên Tập Lục (高野春秋編年輯錄), 21 quyển, do Hoài Anh (懷英) biên, là bộ biên niên sử về sự thật lịch sử của Cao Dã Sơn trong vòng 900 năm, từ năm 816 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 7) cho đến 1718 (niên hiệu Hưởng Bảo [享保] thứ 3, năm người biên tập từ chức Kiểm Hiệu). Bộ này gồm quyển Tựa 1 quyển, Thiên Chính 18 quyển, Thông Khảo 2 quyển. Phần Thiên Chính có 17 quyển đầu là ký sự cho đến năm 1697 (niên hiệu Nguyên Lộc [元祿] thứ 10), và quyển 18 là phần ghi chép những năm còn lại. Phần Thông Khảo nêu lên Tổng Cương Mục, rất dễ nhìn thấy, và ghi rõ cuộc kháng tranh của hai phe Học Lữ (學侶), Hành Nhân (行人), rồi được an định vào năm 1692 (niên hiệu Nguyên Lộc thứ 2) thể theo mệnh lệnh của chính quyền Mạc Phủ (幕府, Bakufu), từ đó nêu rõ những điểm đúng sai của họ. Thái độ biên tập bộ sách này rất công phu, dựa trên sự chính xác mang tính thực chứng, tìm tòi kho báu của các tự viện để đưa ra dẫn chứng các ký lục cổ; cho nên hiện tại tác phẩm này vẫn có giá trị rất lớn về mặt tư liệu.
Cao Dã Xuân Thu Biên Niên Tập Lục
(高野春秋編年輯錄): xem Cao Dã Xuân Thu (高野春秋, Kōyashunjū) bên trên.
cao li tạng
The Korean canon of Buddhism, one of the three collections which still exists in the Hải ấn tự, trong 639 hộp, 1521 bộ, và 6589 quyển.
cao ly tạng
Còn gọi là Tạng hay Bộ Đại Tạng do nước Cao Ly khắc in—The Korean canon of Budhism, one of the three collections.
cao lục
(高六) Cao, là Cao tổ; tức là Đại sư Trí khải, ở núi Thiên thai. Lục, là lục tổ, tức là Đại sư Trạm nhiên ở Kinh khê, đây là cách xưng hô của tín đồ thuộc tông Thiên thai. CAO LI QUỐC PHỔ CHIẾU THIỀN SƯ TU TÂM QUYẾT Có một quyển. Còn gọi là Phổ chiếu Thiền sư tu tâm quyết, Tu tâm quyết. Do vị tăng người Cao li là Phổ chiếu Tri nạp (1158–1210) soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 48. Tri nạp dùng minh tâm tu tâm, đốn ngộ tiệm tu và không tịch linh tri để bàn rõ về bí quyết tu tâm. 1. Tỏ tâm cầu Phật là ở chỗ chứng được tự tâm mình tức là Phật thật, tự tính mình tức là pháp thật. 2. Thấu suốt phàm phu tức Phật, đó là đốn ngộ; huân tu pháp lực, đó là tiệm tu, phép tắc mà nghìn thánh ngộ đạo, không ngoài hai môn ấy. 3. Cái tâm tĩnh lặng trong sáng tức là tâm tịnh minh tối thắng của chư Phật, là nguồn gốc tính giác của chúng sinh; cũng tức là thể (định), dụng (tuệ) của tự tính, cho nên, hễ thường biết thường lặng thì thế tất sẽ đạt đến cảnh định tuệ song tu.
cao minh
(膏明) Dầu, đèn.Từ dùng để thí dụ hành (thực hành), giải (hiểu biết) cả hai phải dựa vào nhau mới thành tựu. Cao, chỉ dầu, thí dụ chính hành; minh, chỉ đèn sáng, thí dụ diệu giải. Nhờ sự thấy, nghe, học tập mà hiểu được giáo lý, thuộc về môn Giải; nhờ sự tu hành thực tiễn mà hiểu được giáo lý, thì thuộc về môn Hành. Hai môn này phải giúp rập lẫn nhau mới thành tựu được, hễ thiếu một thì không thành; cũng như dầu, nếu không có đèn thì không có tác dụng phát sáng; ngược lại, nếu đèn mà thiếu dầu thì chỉ cháy một lúc rồi tắt, không thể tiếp tục chiếu sáng. Vì thế, dầu thí dụ chính hành, đèn thí dụ diệu giải, chủ ý nhằm nhấn mạnh sự quan trọng của giải hành tương trợ, đây cũng là bước đầu mà các tông phái Phật giáo đều căn dặn dạy bảo những người học Phật, tu Phật. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 48 hạ), nói: Nay y vào diệu giải mà lập chính hành, dầu đèn nương nhau, mắt chân giúp nhau. Hành giải đã thành, thì ba chướng bốn ma đều mất.
cao miên
(高棉) (CAMBODIA) Tên một nước ở vùng Đông Nam Á, xưa gọi là Giản bộ trại. Nằm về phía tây nam của bán đảo Trung nam. Trung quốc xưa gọi nước này là Phù nam (Funan, thế kỷ I đến thế kỷ VI), thế kỷ VI đến thế kỷ IX gọi là Vương quốc Chân lạp, thế kỷ IX đến thế kỷ XII là thời kỳ cực thịnh của Vương triều Ngô ca, từ thế kỷ XIV trở đi thì suy thoái. Từ thế kỷ XIV, trong năm thế kỷ, từng bị nước Thái xâm lược, đến năm 1863 thì thành là thuộc địa của nước Pháp, năm 1945 tuyên bố độc lập. Đời Nam triều lương (khoảng thế kỷ thứ VI), các vị tăng Cao miên là Mạn đà la tiên, Tăng già bà la, từng đã đến Trung quốc theo việc dịch kinh điển Phật ra chữ Hán.Về sau trong khoảng hơn nghìn năm, Cao miên là đất tín ngưỡng Phật giáo hưng thịnh, từ sau ngày 19 tháng 4 năm 1975, bị rơi vào vòng thống trị của C.S, hoạt động tôn giáo bị cấm chỉ hoàn toàn. Dân cư tuyệt đại đa số là dân tộc Cát miệt (Khmers). Chùa An ca (Angkor Wat) và thành An ca (Angkor Thom) là những di tích kỳ quan của dân tộc Cát miệt, đã bị chôn vùi từ lâu, cho mãi đến năm 1851 đến 1861, mới được nhà học giả người Pháp Henri Monkot phát hiện. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Đại đường tây vực kí Q.13; Lương thư hải nam chư quốc truyện thứ 48; Tùy thư Nam man truyện thứ 47; Minh sử Chân lạp truyện thứ 212; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 101]. (xt. Ăng Co Nghệ Thuật, Phù Nam Quốc, Nam Truyền Phật Giáo).
cao nam thuận thứ lang
(高楠順次郎) (1866–1945) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Người huyện Quảng đảo, họ cũ là Trạch tỉnh, hiệu Tuyết đỉnh. Thuộc Chân tông, phái chùa Tây bản nguyện. Từng du học tại Đại học Oxford, theo Tiến sĩ Max Müller học tập tiếng Phạm, Văn học Ấn độ, triết học, tôn giáo tỷ giảo học. Lại đi thăm các đại học trứ danh tại Đức, Pháp, Ý. Sau khi về nước, làm giảng sư, giáo thụ tại Văn khoa Đại học Đông kinh, kiêm Hiệu trưởng trường Ngoại ngữ. Sau lại làm hiệu trưởng trường Đại học Đông dương. Năm Đại chính thứ 10 (1921), cùng với Độ biên Hải lúc bắt tay vào việc xuất bản Đại chính tân tu đại tạng kinh, hoàn thành gồm một trăm quyển. Về sau chủ biên Nam truyền Đại tạng kinh, sáu mươi lăm quyển, ấn hành Hiện đại Phật giáo tạp chí, sáng lập Vũ tàng dã nữ tử học viện. Năm Chiêu hoà thứ 9 (1944) được vua ban Huân chương văn hóa. Từng dịch kinh Quán vô lượng thọ (Anh dịch), ngoài ra ông còn viết rất nhiều sách. CAO PHẬT ĐÍNH Phạm: Abhyudgutowịìwa. Còn gọi là Quảng sinh Phật đính, Phát sinh Phật đính, Tối thắng Phật đính, Tối cao Phật đính. Một trong 5 Phật đính, một trong tám Phật đính. Là vị tôn thứ tư được bày ở hàng dưới bên trái đức Trung tôn Thích ca mâu ni Phật, trong viện Thích ca trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Hình tượng vị tôn này màu vàng, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ, bàn tay phải dơ thẳng, ngón áp út co lại, tay trái đặt ở cạnh sườn và cầm bông sen, trên sen có viên ngọc màu xanh lục, mặt quay về bên phải. Mật hiệu là Nan đô kim cương. Người chăm tụng niệm vị tôn này, thì trong lúc đánh nhau, cãi lý hoặc kiện tụng đều có thể thắng. Nếu viết thần chú của vị tôn này lên đầu thì được tốt lành, trong sạch, diệt tội được phúc và được biện tài vô ngại. [X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.2; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.14; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
cao phong diệu tổ
Kaofeng (C), Kōhō (J)Tên một vị sư.
cao phong giác minh
Kōhō Kakumyō (J)Tên một vị sư.
Cao Phong Hiển Nhật
(高峰顯日, Kennichi, 1241-1316): vị Thiền Tăng của Phái Phật Quang (佛光派) thuộc Lâm Tế Tông, con của Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō), hiệu là Cao Phong (高峰), sinh vào năm thứ 2 niên hiệu Nhân Trị (仁治) ở Ly Cung phía Tây thành. Năm lên 16 tuổi, ông đến bái yết Viên Nhĩ (圓爾) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), rồi xuống tóc xuất gia thọ Cụ Túc Giới. Đến năm đầu (1260) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), khi Ngột Am Phổ Ninh (兀庵普寧) trở về nước và đến sống tại Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) thì ông đến đó làm thị giả cho vị này. Lâu sau, ông lánh vào sống trong rừng, nên chúng tín đồ mới đến xin ông cho dựng thảo am lấy tên là Vân Nham Tự (雲巖寺). Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An, Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) trở về nước rồi đến sống ở Kiến Trường Tự, mới mời Cao Phong đến Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji), và khi ấy Cao Phong đến tham kiến Vô Học. Từ đó về sau Cao Phong theo học pháp với Vô Học và cuối cùng thì ngộ được yếu chỉ. Vô Học ấn khả cho ông, rồi truyền trao tín y cũng như pháp ngữ. Sau đó, ông trở về lại Vân Nham Tự ở vùng Na Tu (那須, Nasu, thuộc Tochigi-ken [栃木縣]), rồi đến năm thứ 2 (1300), ông đến ở tại Tịnh Diệu Tự (淨妙寺) ở vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), và liên tiếp thay chuyển đến sống tại hai chùa Vạn Thọ (萬壽) và Kiến Trường (建長). Đến cuối đời thì ông trở về sống ở Vân Nham Tự, và đến ngày 20 tháng 10 năm thứ 5 niên hiệu Chánh Hòa (正和) thì ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời, 61 hạ lạp. Ông được sắc ban thụy hiệu là Phật Quốc Ứng Cúng Quảng Tế Quốc Sư (佛國應供廣濟國師).
cao phong hiển nhật
Kōhō Kennichi (J)Tên một vị sư.
Cao Phong Nguyên Diệu
(高峰原妙, Kōhō Genmyō, 1238-1295): vị tăng của phái Phá Am và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Cao Phong (高峰), xuất thân Huyện Ngô Giang (呉江縣), Phủ Tô Châu (蘇州府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), họ Từ (徐), sanh ngày 23 tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Hy (元熙) nhà Nam Tống. Năm 15 tuổi, ông xuống tóc xuất gia, đến năm 17 tuổi thì theo tu học với Pháp Trú (法住) ở Mật Ấn Tự (密印寺) vùng Gia Hòa (嘉禾). Ông còn học cả giáo học Thiên Thai, sau đến tham vấn Đoạn Kiều Diệu Luân (斷橋妙倫), rồi Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽) và đắc pháp với vị này. Vào năm thứ 2 (1266) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), ông ẩn cư tại vùng Long Tu (龍鬚), Lâm An (臨安) và 5 năm sau thì hoát nhiên triệt ngộ. Đến năm thứ 10 cũng niên hiệu trên, ông đến trú tại Song Kế Phong (雙髻峰), rồi đến năm thứ 16 (1279) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông đến Tây Phong (西峰) trên Thiên Mục Sơn (天目山) và bắt đầu hoằng pháp ở Sư Tử Nham (獅子巖). Ông sáng lập ra 2 ngôi chùa Sư Tử (獅子) và Đại Giác (大覺), đệ tử tham học có đến cả ngàn người và thọ giới hơn vạn người. Ông dùng gia phong gọi là Tam Quan Ngữ (三關語) để lại cho hậu thế bộ Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục (高峰大師語錄) 2 quyển. Vào ngày mồng 1 tháng 12 năm đầu niên hiệu Nguyên Trinh (元貞), ông thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời và 43 hạ lạp, được ban tặng cho thụy hiệu là Phổ Minh Quảng Tế Thiền Sư (普明廣濟禪師). Chi Tốn (之巽) soạn văn bia tháp, cư sĩ Trực Ông (直翁) và Hồng Kiêu Tổ (洪喬祖) viết hành trạng của ông.
cao phong nguyên diệu
Kao feng Yuan miao (C)Tên một vị sư.
; Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, còn gọi là Cao Phong Diệu Tổ—Zen Master Kao-Feng-Yuan-Miao (1238-1295), also called Kao-Feng Miao-Tsu—Thiền Sư Trung Hoa, theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, Kao-Feng-Yuan-Miao, a Chinese Zen Master in the thirteenth century. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Buddhism, Book II: • Cao Phong Diệu Tổ là một đại sư cuối đời nhà Tống. Khi sư phụ ngài lần đầu trao cho ngài công án chữ “Vô” của Triệu Châu để tham quán, ngài chuyển hết khí lực bình sanh vào đề án. Ngày kia, bất thần sư phụ hỏi: “Ai mang cho ông cái thân vô tri giác ấy?” Ngài khựng, không biết sao mà thưa thốt, mà thầy ngài thì khắc nghiệt, thường là hỏi đâu thì đánh đó. Sau đó, lúc nửa đêm khi ngài đang ngủ, sư sực nhớ trước kia thầy cũ có giao cho sư tìm ra diệu nghĩa câu nói 'Muôn vật trở về một.' Thế là suốt đêm ấy và mấy đêm sau, ngài không sao ngồi yên hay chợp mắt được, trong tâm thần căng thẳng cực độ ấy. Ngày kia sư bất chợt thấy mình đang đọc bài thơ của Ngũ Tổ Pháp Diễn viết trên chân dung của Tổ, trong đó có câu: Trăm năm, ba vạn sáu ngàn ngày Lão hán ấy luôn luôn cử động. Thế là những thắc mắc của sư về câu hỏi 'Ai mang cho ông cái thân vô tri giác ấy?' phút chốc được giải trừ ngay. Ngài được ấn chứng và trở thành một người hoàn toàn mới. Trong bộ Cao Phong Ngữ Lục, sư có viết: “Trước kia, khi còn ở Trường Khánh, trước khi vào Thiền đường một tháng, đêm kia trong giấc ngủ say tôi bất chợt thấy tôi để hết tâm trí vào câu hỏi 'Muôn vật trở về một, một trở về gì?' Tôi chiếu cố đến đề án chuyên nhất đến nỗi quên mất ngủ nghỉ ăn uống, không còn phân biệt phương hướng ngày đêm gì hết. Khi trải khăn bàn, hay sắp chén dĩa, hay đi tiểu tiện, dầu động hay tịnh, dầu nói hay im, toàn thể cuộc sống của tôi như gói trọn trong nghi niệm 'Cái một trở về gì?' không xen lộn mảy may niệm nào khác; vả lại dầu muốn, tôi vẫn không thể nghĩ gì lệch ngoài trung tâm điểm ấy, dầu chỉ nghĩ thoáng qua thôi. Tưởng chừng như tôi bị đóng cứng hoặc chôn chân tại chỗ; dầu tôi cố vùng vẫy mấy nó vẫn không buông tha; dầu giữa đám đông, giữa Tăng chúng, tôi vẫn cảm thấy như hoàn toàn chỉ có một mình tôi từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, tinh khiết làm sao, thanh tịnh làm sao, tư tưởng của tôi trang nghiêm, lướt trên muôn vật. Một niệm thanh khiết làm sao, không gợn mảy bụi! Một niệm bao trùm muôn thuở! Thế giới bên ngoài vắng lặng làm sao, tôi không còn biết có ai khác nữa. Như một kẻ ngốc, như một tên ngu dại, trải qua sáu ngày sáu đêm như vậy, kế tôi vào chánh điện với chư Tăng khác, và khi đang đọc kinh, mắt tôi chợt đặt trên câu thơ của Ngũ Tổ Pháp Diễn. Thế là đột nhiên tôi thức tỉnh cơn mê, và ý nghĩa câu hỏi 'Ai mang cho ông cái thân vô tri giác ấy' vụt sáng trong tôi, câu hỏi mà thầy tôi trao cho tôi ngày trước. Tôi cảm như cả không gian vô biên nầy vỡ tan từng mảnh và đại địa sụp đâu mất. Tôi quên tôi, tôi quên thế gian; đó như một tấm gương phản chiếu một tấm gương, tôi thử tham quán vài công án khác, sao mà công án nào cũng sáng rỡ đến vậy! Từ nay tôi không còn nghi hoặc diệu dụng của trí Bát Nhã nữa.”—Kao-Feng was one of the great masters in the end of the the Sung dynasty. When his first let him attend to the Chao-Chou's Wu, he exerted himself hard on the problem. One day his master, Hsueh-Yen, suddenly asked him: “Who is it that carries for you this lifeless corpse of yours?” The poor fellow did not know what to make of the question, for the master was merciless and it was usually folowed by a hard knocking down. Later, in the midst of his sleep one night, he recalled the fact that once when he was under another master he was told to find out the ultimate significance of the statement 'All things return to one,' and this kept him up the rest of that night and through the several days and nights that succeeded. While in this state of an extreme mental tension he found himself one day looking at Fa-Yen's verse on his portrait, which partly read: “One hundred years, thirty-six thousand morns. This same old fellow moved on forever.” This at once made him dissolve his eternal doubt as to 'Who carying around this lifeless body of yours?' He was baptized and became an altogether new man. He leaves us in his Saying Records: “On olden days when I was at Shuang-Ching, and before one month was over after my return to the Meditation Hall there, one night while deep in sleep, I sudenly found myself fixing my attention on the question 'All things return to the One, but where does this One return?' My attention was so rigidly fixed on this that I neglected sleeping, forgot to eat, and did not distinguish east from west, nor morning from night. While spreading the napkin, producing the bowls, or attending to my natural wants, whether I moved or rested, whether I talked or kept silent, my whole existence was wrapped up with the question 'Where does this one return?' No other thoughts ever disturbed my consciousness; even if I wanted to stir up the least bit of thought irrelevant to the central one, I could not do so. It was like being screwed up or glued; however, much I tried to shakemyself off, it refused to move. Though I was in the midst of a crowd or congregation, I felt as if I were all by myself. From morning till evening, from evening till morning, so transparent, so tranquil, so majestically above all things were my feelings! Absolutely pure and not a particle of dust! My one thought covered eternity; so calm was the outside world, so oblivious of the existence of other people I was. Like an idiot, like an imbecile, six days and nights thus elapsed when I entered the Shrine with the rest, reciting the Sutras, and happened to raise my head and looked at the verse by Fa-Yen. This made me all of a sudden awake from the spell, and the meaning of 'Who carries this lifeless corpse of yours?' burst upon me, the question once given by my old master. I felt as if this boundless space itself were broken into pieces, and the great earth were altogether levelled away. I forgot myself, I forgot the world, it was like one mirror reflecting another. I tried several koans in my mind and found them so transparently clear! I was no more deceived as to wonderful working of Prajna (transcendental wisdom). • Cao Phong là người chủ trương tu tập công án như vầy: “Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là 'vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ?' Tôi khuyên họ hãy tham cứu câu nầy. Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi tình lớn đối với ý nghĩa cứu cánh của công án. Vạn pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một trở về đâu? Tôi bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo mỗi mối nghi tình nầy, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua. Rồi ra cái Một trở về đâu? Hãy cố mà đi tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi nầy. Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du, mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới, bền bĩ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết. Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng nở.” Thật vậy, chúng ta không đề khởi công án hiện tiền, mà phải đặt nó vào trong tâm bằng tất cả sức mạnh của nghi tình. Một khi công án được chi trì bởi một tinh thần như thế, thì theo Thiền Sư Đại Huệ, nó giống như một ngọn lửa cháy lớn đốt cháy tất cả những con sâu hý luận đang xăm tới. Và cũng chính vì vậy mà tất cả các Thiền sư đều đồng ý rằng 'Trong sự tham Thiền, điều trọng yếu nhất là giữ vững nghi tình; nghi tình càng mạnh, ngộ càng lớn. Quả thực chẳng bao giờ có ngộ nếu không có nghi—Zen master Kao-Feng-Yuan-Miao talked about the koans as follows: “The koan I ordinarily give to my pupils is 'All things return to One; where does the One return?' I make them search after this. To search after it means to awaken a great inquiring spirit for the ultimate meaning of the koan. The multitudiness of things is reducible to the One, but where does the One finally return? I say to them: 'Make this inquiry with all the strength that lies in your personality, giving yourself no time to relax in this effort. In whatever physical position you are, and in whatever business you are employed, never pass your time idly. Where does the One finally return? Try to get a definite answer to this query. Do not give yourself up to a state of doing nothing; do not exercise your fantastic imagination, but try to bring about a state of identification by pressing your spirit of inquiry forward, steadily and uninterruptedly. You will be then like a person who is critically ill, having no appetite for what you eat or drink. Again you will be like an idiot, with no knowledge of what is what. When your searching spirit comes to this stage, the time has come for your mental flower to burst out.” In fact, we can't just hold up a koan before the mind, we must make it occupy the very center of attention by the sheer strength of an inquiring spirit. When a koan is cultivated with such a spirit, according to Zen master Ta-Hui, it is like a great consuming fire which burns up every insect of idle speculation that approaches it. Therefore, it is almost a common sense saying among Zen masters to declare that , 'In the mastery of Zen the most important thing is to keep up a spirit of inquiry; the stronger the spirit the greater will be the enlightenment that follows; there is, indeed, no enlightenment when there is no spirit of inquiry.
Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục
(高峰原妙禪師語錄, Kōhōgenmyōzenjigoroku): tức Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục (高峰大師語錄, Kōhōdaishigoroku), 2 quyển, do Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙) soạn, nhóm Vương Nhu (王柔) biên, san hành dưới thời nhà Nguyên, tái san hành vào năm thứ 27 (1599) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), là bộ Ngữ Lục của Nguyên Diệu―pháp từ của Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽). Tác phẩm này thâu lục những bài pháp ngữ thượng đường, dạy chúng, niêm cổ, tụng cổ, kệ tụng, các Phật sự nhỏ, các bài tán chư Phật tổ, bài tự tán, hành trạng, bài minh của tháp, v.v. Sau khi qua đời, môn nhân của Nguyên Diệu đã tiến hành biên tập và cho san hành; vào năm thứ 27 niên hiệu Vạn Lịch, Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏) có ghi thêm lời tựa cho nên bộ này lại được tái san hành. Về sau, nó được đưa vào Tục Tạng nhà Minh vào năm thứ 6 (1667) niên hiệu Khang Hy (康熙). Ngoài ra còn có bản san hành năm thứ 25 (1899) niên hiệu Quang Tự (光緒). Tại Nhật Bản, thư tịch này được san hành dưới thời đại Nam Bắc Triều, có bản năm thứ 3 (1657) niên hiệu Minh Lịch (明曆). Vào khoảng niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), bộ này được san hành tại Cao Nguyên Tự (高源寺, Kōgen-ji) vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc Hyōgo-ken).
cao phong nguyên diệu thiền sư ngữ lục
(高峰原妙禪師語錄) Có một quyển, cũng gọi Cao phong đại sư ngữ lục. Do sư Nguyên diệu (1238-1295) đời Tống soạn, san hành vào đời Nguyên. Thu vào Vạn tục tạng tập 122. Nội dung thu chép các pháp ngữ dạy chúng của ngài Song kế am ở Hồ châu, những bài nói pháp của Tây thiên Mục sơn ở chùa Sư tử thiền, các bài chiêm cổ, bổ di, kệ tụng, tán Phật tổ, hành trạng, tháp minh, âm thích v.v…...Ngoài ra, Hồng kiều tổ . ở đời Nguyên còn biên tập Cao phong nguyên diệu thiền sư thiền yếu 1 quyển, cũng gọi là Cao phong Hoà thượng thiền yếu, cũng thu vào Vạn tục tạng tập 122. Nội dung thu chép các buổi nói pháp khai đường, pháp ngữ dạy chúng, tiểu tham, nêu lên yếu chỉ của sự tham thiền học đạo. Bản chú thích về sách này thì có Cao phong hoà thượng thiền yếu tư kí 1 quyển, do vị tăng riều tiên tên là Bạch pha cắng tuyền soạn.
cao phong quán tam muội
(高峰觀三昧) Chỉ tam muội của đức Phật. Phật vào tam muội, như lên đỉnh núi cao, nhìn mười phương không có cao thấp; trụ trong tam muội này, quán xét chúng sinh trong mười pháp giới chỉ là một tướng một vị.
Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục
(高峰大師語錄, Kōhōdaishigoroku): xem Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục (高峰原妙禪師語錄, Kōhōgenmyōzenjigoroku) bên dưới.
cao phật đảnh
Abhyudgatosnisa (S)Quảng sanh phật đảnh, Phát sanh Phật đảnh, Tối thắng Phật đảnh, Tối cao Phật đảnhTên một vị Phật hay Như Lai.
cao quý tứ đức chi giáo
(高貴四德之教) Chỉ phẩm Cao quý đức vương trong kinh Niết bàn (bản Bắc) từ quyển 21 đến quyển 26. Nội dung đức Phật nói về lí mầu nhiệm của bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh và mười công đức của sự tu hành kinh Niết bàn cho bồ tát Cao quí đức vương nghe.
Cao Quý Tự
(高貴寺, Kōki-ji): ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Kanan-chō (河南町), Minamikawauchi-gun (南河內郡), Osaka-fu (大阪府); tên núi là Thần Hạ Sơn (神下山). Theo truyền ký của chùa cho biết rằng khi Văn Võ Thiên Hoàng (文武天皇, Mommu Tennō, tại vị 697-707) cho chép phẩm thứ 28 của Kinh Pháp Hoa, rồi đem an trí 28 nơi tại Cát Thành Sơn (葛城山), và chùa này thuộc một trong 28 chỗ đó, với tên gọi ban đầu là Thần Hạ Sơn Hương Sơn Tự (神下山香山寺). Đến thời Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823), Hoằng Pháp Đại Sư đã có lần đến quải tích dựng thảo am tại đây. Khi Đại Sư tu pháp Tam Mật Du Già, thấy xuất hiện ánh sáng kỳ diệu dưới sàng của Cao Quý Đức Vương Bồ Tát (高貴德王菩薩), nên mới đổi tên chùa thành Cao Quý Tự. Từ đó, thể theo sắc chỉ của Thiên Hoàng, các ngôi đường tháp, già lam được tạo dựng; nhưng sau đó do vì binh hỏa nên ngọn pháp đăng nơi đây hầu như tắt ngúm. Tuy nhiên, về sau khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永, 1772-1781), Huệ Vân (慧雲) mới đến vùng này tu hành, dần dần chiếm được uy tín với Hoàng Thất, ông tiến hành phục hưng ngôi già lam này, và đến năm 1786 thì được tôn làm vị Tổ thứ nhất thời Trung Hưng của chùa. Cảnh nội của chùa có Kim Đường, Khai Sơn Đường, Giảng Đường, Thập Tam Tháp, Ngự ảnh Đường, Huệ Vân Tôn Giả Thảo Am, v.v.
Cao Sa Di
(高沙彌, Kōshami, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, môn hạ thuộc dòng Thanh Nguyên, pháp từ của Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), không rõ xuất xứ ở đâu. Sau khi từ giã thầy, ông đến trú tại một thảo am, thường ngày tiếp đón khách vãng lai và tùy duyên hóa độ.
Cao Sa-di
高沙彌; tk. 8/9, cũng được gọi là Dược Sơn Cao Sa-di (c: yàoshān gāo shāmí);|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm.|Không rõ quê quán của Sư ở đâu. Ban đầu, Sư đến vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Nam Nhạc đến.« Dược Sơn hỏi: »Ði về đâu?« Sư thưa: »Ði Giang Lăng Thụ giới« Dược Sơn hỏi: »Thụ giới mong làm gì?« Sư thưa: »Mong thoát khỏi sinh tử.« Dược Sơn hỏi thêm: »Có một người không thụ giới, cũng không sinh tử để khỏi, ông biết chăng?« Sư hỏi: »Thế ấy thì giới luật của Phật dùng để làm gì?« Dược Sơn bảo: »Cái ông sa-di này còn môi lưỡi.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, lễ bái rồi lui.|Ðến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi: »Sa-di đến hồi sớm ở đâu?« Sư bước ra, Dược Sơn hỏi: »Ta nghe Trường An náo loạn, ông có biết chăng?« Sư thưa: »Nước con an ổn.« Dược Sơn hỏi: »Ông do xem kinh được, hay thưa hỏi được?« Sư thưa: »Chẳng do xem kinh, cũng chẳng do thưa hỏi.« Dược Sơn hỏi lại: »Có lắm người chẳng xem kinh, cũng chẳng thưa hỏi, vì sao họ chẳng được?« Sư thưa: »Chẳng nói họ chẳng được, chỉ vì chẳng chịu nhận.«|Sư từ giã Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Ði đâu?« Sư thưa: »Con ở trong chúng có ngại nên đến bên đường cất một am tranh tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.« Dược Sơn hỏi: »Sinh tử là việc lớn, sao chẳng thụ giới đi?« (có nghĩa là thụ giới để chính thức trở thành một Tỉ-khâu). Sư thưa: »Biết thì những việc ấy liền thôi, lại gọi cái gì là Giới?« Dược Sơn hài lòng bảo: »Ông đã biết như thế chẳng được lìa xa ta. Có lúc ta cùng ông lại cần gặp nhau.«|Không biết Sư tịch nơi nào.
cao sĩ
Eminent scholar; old traduction for bodhisattva.
; 1) Bồ Tát: Bodhisattva. 2) Học giả nổi tiếng: Eminent scholar.
; (高士) Tiếng gọi khác của Bồ tát (dịch cũ là Cao sĩ). Chỉ những người Đại thừa trên cầu Phật đạo, dưới hóa chúng sinh, tu sáu độ muôn hạnh. [X. Tam giáo chỉ qui Q.2]. (xt. Bồ Tát).
cao sơn đốn thuyết
(高山頓說) Đại sư Trí khải tông Thiên thai lập phán giáo năm thời; cho rằng đức Thế tôn lúc mới thành đạo, diễn nói thực nghĩa Hoa nghiêm cao nhất, cũng như mặt trời khi mới mọc, trước hết chiếu trên đỉnh núi cao. Núi cao thí dụ căn cơ Bồ tát, đốn thuyết có nghĩa là không qua thứ tự cấp bậc, mà nói ngay diệu pháp Đại thừa. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 50 phẩm Như lai xuất hiện chép, ví như ánh sáng mặt trời khi lên từ phương đông, trước hết chiếu trên núi cao, kế đó chiếu các cao nguyên, đồng bằng, nhưng mặt trời không hề phân biệt, ánh sáng tốt lành của đức Như lai cũng thế, trước giáo hóa các Bồ tát, kế đến giáo hóa Duyên giác, sau cùng giáo hóa Thanh văn và chúng sinh, mà Phật vốn chẳng có ý phân biệt. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Pháp hoa huyền nghĩa Q.1].
cao thanh niệm phật
(高聲念佛) Còn gọi Lệ thanh niệm Phật. Tức cất tiếng to mà niệm danh hiệu Phật. A di đà kinh thông tán quyển trung của ngài Từ ân, nói rằng cất tiếng to mà niệm Phật có mười thứ công đức: 1. Có thể át được sự buồn ngủ. 2. Khiến thiên ma phải sợ hãi. 3. Tiếng niệm Phật vang mười phương. 4. Ngưng cái khổ trong ba ngã. 5. Tiếng động bên ngoài không lọt vào được. 6. Tâm không tán loạn. 7. Dũng mãnh tinh tiến. 8. Chư Phật hoan hỉ. 9. Chính định hiện trước. 10. Vãng sinh tịnh độ. Kinh Đại tập quyển 43 (Đại 13, 285 hạ), nói: Niệm nhỏ thấy nhỏ, niệm to thấy to. Tóm lại, tiếng niệm Phật to có thể ngăn chặn tâm, không cho rong ruổi, dễ thành tựu chính định.
Cao Thương Học Liêu
(高倉學寮, Takakuragakuryō): tên gọi ngày xưa của trường Đại Học Đại Cốc (大谷大學, Ōtani Daigaku), được đặt vào năm 1755 (Bảo Lịch [寶曆] 5).
cao thế da
(高世耶) Phạm: Kauzeya. Cũng gọi là Kiêu xá da, Kiêu thế da, Kiêu xa da, Kiêu thi. Dịch ý là tấm lụa. Cao thế da vốn là tên loại tằm hoang, loại tằm này không phải nuôi, mà sinh ở chằm, núi - các nước Tây vực không có cây dâu, tằm phần nhiều sống trên các cây táo và ăn lá táo. Thân hình màu trắng, to bằng ngón tay cái, dài hai ba tấc (Tàu), hơn một tháng thì già, tự quấn mình trong lá rồi hóa thành nhộng, to bằng ngón chân cái, rất cứng, lấy rang nóng lên thì có thể chế thành lụa, lụa rất bền, mịn nhưng không bóng. Nếu để nhộng sống thì một tháng sẽ từ trong kén chui ra thành con ngài, hai cánh dang ra, có vằn rực rỡ như màu gấm đỏ, đến nửa đêm, con đực, con cái gặp nhau, lại ăn lá cây rồi đẻ trứng trên cây. Dùng tơ của loại tằm hoang này để may áo Cao thế da, là một trong mười loại áo. [X. Tứ phần luật sớ sức tông kí Q.5 phần cuối - Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].
cao thế da tăng tất lí lợi
(高世耶僧悉哩唎) Phạm: Kauzeya-saôstara. Dịch ý là Dã tàm ngọa cụ. Tức là đồ dùng để nằm dệt bằng tơ của tằm hoang. [X. Tứ phần luật sớ sức tông kí Q.5 phần cuối].
cao toà
(高座) Có nghĩa là tòa ngồi cao hơn chỗ ngồi thông thường được thiết trí mỗi khi nói pháp, giảng kinh, tụng giới và tu pháp thì ngồi, phỏng theo tòa kim cương mà đức Thích tôn đã ngồi trên đó khi Ngài thành đạo. Hình dáng theo luật qui định, to nhỏ khác nhau. To nhất là một đến hai mét vuông, cao từ ba mươi đến năm mươi phân. Các pháp sư giảng kinh của Trung quốc, theo cách thức xưa, phải lên tòa cao để giảng kinh hoặc nói pháp, gọi là Khai đại tọa. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1 - Loại tụ danh vật khảo Q.27].
cao tát la
Kosala (skt)—Kiều Tát La—See Kosala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cao túc
Superior pupils or disciples.
; Đại đệ tử—Superior pupils or disciples.
cao tăng
Eminent monk.
; Eminent monk—Venerable Buddhist—Elder monk or master.
; (高僧) Chỉ vị tăng tu hành có đức hạnh cao cả. Cũng là từ tôn xưng đối với các tu sĩ Phật giáo. Thiền uyển thanh qui quyển 8 Toạ thiền nghi (Vạn tục 111, 460 thượng), nói: Nếu được Thiền định, thì sức định tối thắng. Xưa có vị cao tăng tập định, ngồi thường mở mắt. Lại các truyện kí ghi chép tiểu sử của các vị cao tăng, thì gọi là Cao tăng truyện. (xt. Cao Tăng Truyện).
Cao Tăng Truyện
(高僧傳, Kōsōden): trước tác của Huệ Kiểu (慧皎, 497-554), viết vào năm thứ 18 (519) niên hiệu Thiên Giám (天監) nhà Lương, gồm 14 quyển, là tuyển tập ghi lại những truyện ký của 257 vị cao tăng sống trong vòng 453 năm, kể từ năm thứ 10 (67) niên hiệu Thiên Bình (天平) đời vua Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Hậu Hán cho đến năm thứ 18 (519) đời nhà Lương. Cọng thêm những phần phụ ký, tuyển tập này thâu lục 500 câu chuyện của những vị cao tăng. Thông thường người ta gọi đây là Cao Tăng Truyện bản nhà Lương. Phần Tự và Tổng Mục Lục là 1 quyển, phần Chánh Văn gồm 13 quyển. Phần Chánh Văn lại được chia thành 10 khoa, gồm: (1) Dịch Kinh (譯經), (2) Nghĩa Giải (義解), (3) Thần Dị (神異), (4) Tập Thiền (習禪), (5) Minh Luật (明律), (6) Vong Thân (亡身), (7) Tụng Kinh (誦經), (8) Hưng Phước (興福), (9) Kinh Sư (經師), (10) Xướng Đạo (唱道). Quyển thứ 14 là phần Tựa của Huệ Kiểu và Tổng Mục Lục. hiện bộ này được thâu tập trong quyển 50 của bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經, Taishō).
cao tăng truyện
Kuo-seng-chuan (C).
; (高僧傳) I. Cao tăng truyện. Các truyện kí ghi chép tiểu sử của các bậc Tăng già đạo cao đức trọng. Đứng về phương diện thời đại mà nói, thì bộ Cao tăng truyện xưa nhất là bộ Cao tăng truyện gồm 14 quyển của sư Tuệ kiểu triều Lương, kế đó có bộ Tục cao tăng truyện 30 quyển của sư Đạo tuyên đời Đường, Tống cao tăng truyện 30 quyển của sư Tán ninh đời Tống, Đại minh Cao tăng truyện 8 quyển của sư Như tỉnh đời Minh. Bốn bộ truyện kể trên, hợp lại gọi chung là Tứ triều cao tăng truyện...... Về sau có Bổ tục cao tăng truyện 26 quyển của Minh hà triều Minh, Tân tục cao tăng truyện 65 quyển của nhóm Dụ khiêm thời Dân quốc. Vị tăng người Nhật bản là Nghiêu như biên soạn Tăng truyện bài vận ..... 106 quyển là sách dẫn của bốn mươi tám loại tăng truyện thuộc Cao tăng truyện Trung quốc. Cao tăng truyện của Đại hàn thì có Hải đông cao tăng truyện 2 quyển của sư Giác huấn triều Cao li. Nhật bản thì có Bản triều cao tăng truyện 75 quyển của Sư man. Kế đó, có Tục nhật bản cao tăng truyện 11 quyển của Đạo khế, Đông quốc cao tăng truyện 10 quyển của Tính đôn. Ngoài ra còn có Phó pháp tạng nhân duyên truyện, Thiên thai cửu tổ truyện. Trong các Cao tăng truyện, có bộ chỉ ghi chép truyện các vị Cao tăng của một tông phái, chẳng hạn như Luật uyển tăng bảo truyện, Tịnh độ bản triều cao tăng truyện; có bộ chỉ ghi chép các cao tăng ở một địa phương, chẳng hạn như Vũ lâm tây hồ cao tăng sự lược, Nam đô cao tăng truyện; cũng có bộ chỉ biên chép truyện các cao tăng đi cầu pháp, chẳng hạn như Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện, Nhập đường ngũ gia truyện v.v...… II. Cao tăng truyện, gồm 14 quyển. Còn gọi Lương cao tăng truyện, Lương truyện. Do sư Tuệ kiểu (497-554) triều Lương soạn thuật. Sách được hoàn thành vào năm Thiên giám 18 (519) triều Lương. Thu vào Đại chính tạng tập 50. Toàn bộ sách thu chép tiểu sử của hai trăm năm mươi bảy vị cao tăng, kể từ khi Phật giáo bắt đầu được truyền vào Trung quốc vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, cho đến năm Thiên giám thứ 18 triều Lương, gồm khoảng bốn trăm năm mươi ba năm, lại thêm tiểu sử của các cao tăng được ghi bên cạnh bộ sách thì thực thụ là năm trăm vị. Toàn bộ sách chia làm mười khoa, ba quyển đầu là truyện của các vị tăng dịch kinh từ ngài Nhiếp ma đằng trở xuống, gồm ba mươi lăm người. Quyển 4 đến quyển 8 là truyện của các vị tăng nghĩa giải từ ngài Chu sĩ hành trở xuống, một trăm linh một người. Quyển 9, quyển 10 là truyện của các vị tăng thần dị từ ngài Phật đồ trừng trở xuống, hai mươi người. Quyển 11 là truyện của các vị tăng tập Thiền từ ngài Tăng hiển trở xuống hai mươi mốt người, và các vị tăng thông hiểu luật từ ngài Tuệ do trở xuống, mười ba người. Quyển 12 là truyện của các vị tăng vong thân từ ngài Tăng quần trở xuống, mười một người và các vị tăng tụng kinh từ ngài Đàm thúy trở xuống, hai mươi mốt người. Quyển 13 là truyện của các vị tăng Hưng phúc, từ ngài Tuệ đạt trở xuống, mười bốn người và các kinh sư từ ngài Bạch pháp kiều trở xuống, mười một người; và truyện của các vị tăng xướng đạo từ ngài Đạo chiếu trở xuống mười người. Quyển 14 chép tựa là bài tựa của chính Tuệ kiểu và tổng mục lục của bộ sách, ngoài ra còn thu chép hai thiên văn thư qua lại giữa Vương mạn dĩnh và Thích quân bạch (biệt hiệu của Tuệ kiểu). Trong mười khoa kể trên, thì từ khoa Vong thân thứ sáu đến khoa Xướng đạo thứ mười, trực tiếp thu chép các truyện độ chúng và tận lực giáo hóa, mà trong loại truyện kí thường hay bỏ qua, đây chính là đặc sắc của bộ sách này. Về phần tư liệu mà bộ sách này sử dụng thì, cứ theo bài tựa của tác giả và thư tín của Vương mạn dĩnh, được biết các tư liệu đó bao gồm: các loại Tăng truyện hiện có lúc ấy và Cao dật sa môn truyện của Pháp tế đời Tấn, Chí tiết của Pháp an đời Tề, Du phương của Tăng bảo, Luận truyền của Pháp tiến, Tăng sử của Vương cân ở Lang gia,Xuất tam tạng kí tập của Tăng hựu, Đông sơn tăng truyện của Khích cảnh hưng , Lư sơn tăng truyện của Trị trung Trương hiếu tú, Tuyên nghiệm kí, U minh lục của Khang vương nghĩa Khánh ở Lâm xuyên đời Tống, Cảm ứng truyện của Vương diên tú ở Thái nguyên, Trưng ứng truyện của Chu quan thai, Sưu thần lục của Đào uyên minh, Minh tường kí của Vương diễm, Ích bộ tự ký của Lưu tuấn, Kinh sư tháp tự ký của Đàm cảnh đời Tống, Tam bảo kí truyện của Văn tuyên vương nhà Tề, Sa môn truyện của quan Trung thư Lục minh hà v.v...… Tất cả vài mươi loại. Trong bài tựa của mình, Tuệ kiểu cũng nói đã sưu tầm chép nhặt của hơn vài mươi nhà, và các sách sử xuân thu của các đời Tấn, Tống, Tề, Lương, cùng các hoang triều ngụy lịch Tần, Triệu, Yên, Lương, đồng thời thu nhặt những ghi chép trong các sách cổ xưa để làm tư liệu. Sách này đặt Trúc pháp lan, Đàm kha ca la đời Hậu Hán vào truyện chính còn Chi khiêm, Khang tăng khải, là những người chiếm một địa vị trọng yếu trong lịch sử dịch kinh thì, trái lại, chỉ được đặt vào truyện phụ: đây là một khuyết điểm của sách này. Lại như lời bình luận của sư Đạo tuyên, tác giả Tục cao tăng truyện Biên sơ Ngô Việt, lược bớt Ngụy Yên, chưa thu chép rộng rãi tăng truyện ở các địa phương, đây cũng là một khuyết điểm lớn nữa. Lý do tại sao sách này biên chép tường tận ở Giang nam mà sơ lược về đất Bắc, là vì soạn giả là nhân vật thuộc đời Lương Nam triều. Sách này tuy có một vài thiếu sót kể trên, nhưng đối với lịch sử Phật giáo Trung quốc ở thời kỳ đầu, nó là tư liệu đáng tin cậy nhất; về sau, Tục cao tăng truyện của Đạo tuyên đời Đường, Tống cao tăng truyện của Tán ninh đời Tống, Đại minh cao tăng truyện của Như tỉnh đời Minh v.v...… đều lấy sách này làm khuôn phép mà xác lập điển hình của các loại tăng truyện đời sau. [X. Tục cao tăng truyện Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
Cao Tằng Vân
(高層雲, 1634-1690): tự là Nhất Bảo (一鮑), Tắc Uyển (謖苑), Tắc Viên (謖園), hiệu là Cô Thôn (菰邨); xuất thân vùng Hoa Đình (華亭, nay là Tùng Giang [松江], Thượng Hải [上海]). Năm thứ 15 (1676) đời Khang Hy (康熙), ông đỗ Tiến Sĩ, làm chức quan Thái Thường Tự Khanh (太常寺卿).
cao tỉnh quán hải
Takai Kankai (J)Tên một vị sư. 1884 - 1953.
cao tổ
Vị sơ tổ sáng lập ra tông phái—The founder of a sect or school—Great great grandfather.
; (高祖) Chỉ vị thủy tổ của một tông phái, tức tổ sư đã khai sáng tông nghĩa giáo thuyết. Cao là tiếng tôn sùng. Chẳng hạn như tông Thiên thai lấy bồ tát Long thụ làm Cao tổ, Cao tổ của tông Tịnh độ là đại sư Thiện đạo và Cao tổ của Chân tông Nhật bản là ngài Thân loan.
cao vương quán thế âm kinh
(高王觀世音經) Có một quyển. Còn gọi Cao vương bạch y quan âm kinh. Nói tắt là Cao vương kinh. Thu vào Vạn tục tạng tập 87. Kinh này là kinh Quan âm mà Tôn kính đức cảm được vào khoảng năm Thiên bình (534-537) đời Đông Ngụy, nhưng theo đại sư Liên trì đời Minh thì đây là kinh giả. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 17 chép, trong năm Thiên bình đời Ngụy, có Tôn đức kính ở Định châu tạo tượng Quan âm, hàng ngày lễ bái - sau bị giặc cướp dẫn đi, rồi bị nghi oan là đồng lõa nên phải tội chém. Trước ngày bị chém, đêm Tôn kính đức nằm mộng thấy một vị sa môn bảo tụng kinh Cứu sinh quan thế âm một nghìn lần thì sẽ thoát chết. Ngày hôm sau đao phủ trói Đức đưa ra chợ để chém, vừa đi Đức vừa tụng kinh, khi đến nơi thì vừa đủ một nghìn lần, đao phủ chém Đức, nhưng dao gãy mà da thịt Đức không sao, ba lần thay dao đều gãy như trước. Đao phủ trình báo, Thừa tướng là Cao hoan xin vua tha chết cho Đức, rồi sai chép kinh ấy truyền bá ở đời. Nay gọi là kinh Cao vương quan thế âm. Trí kính triều Thanh có chú thích kinh Cao vương quan thế âm 1 quyển, thu vào Vạn tục tạng tập 93.
cao vị thần
(高位神) Vị thần được coi là có địa vị đặc biệt sùng cao, có năng lực vượt lên trên tất cả thần linh phổ thông. Bắt đầu từ thời kỳ sau của tôn giáo nguyên thủy và tôn giáo cổ đại. Như Thương thiên thần, Thiên phụ thần, Địa mẫu thần v.v…... Những văn hiến sớm nhất cho thấy các tôn giáo Mĩ sách bất đạt mễ á (Mesopotamia) và tôn giáo Ai cập cách nay đã bốn, năm nghìn năm. Những dấu tích tương tự trong xã hội nguyên thủy còn sót lại mà thời cận đại cũng còn được thấy.
cao xuất tam muội
saṃudgata-samādhi (S).
; (高出三昧) Một trong một trăm linh tám tam muội. Là tam muội khiến hành giả sinh phúc đức và trí tuệ. Nếu Bồ tát vào tam muội này thì phúc đức trí tuệ đều tăng trưởng, tính của các tam muội cũng từ nơi tâm mà ra. [X. luận Đại trí độ Q.47].
cao xương
Karakhojo (skt)—Tên một vương quốc cổ ở Tây Vực có cổ thành Cao Xương, khoảng 30 dậm về phía đông của Turfan thuộc Turkestan, xưa kia là một trung tâm Phật giáo quan trọng, từ nơi đó nhiều vị cao Tăng đã mang kinh điển đến Trung quốc để hoằng hóa. Vào trước thế kỷ thứ bảy người ta đã nghe nói tại đây có dân tộc Turks sinh sống trong khu vực Orkhon đến khoảng năm 840 sau Tây Lịch, họ bị người Kirghiz đánh đuổi nên chia làm hai nhóm; một nhóm đi đến Kansu và sinh tồn đến khoảng năm 1020; còn nhóm kia tồn tại đến thời kỳ đế quốc Mông Cổ. Họ có mẫu tự lấy từ mẫu tự Soghdian mà về sau nầy Thành Cát Tư Hãn đã cho dùng như chữ viết chính thức của người Mông Cổ. Vào năm 1294 thì toàn bộ giáo điển Phật giáo đã được phiên dịch ra chữ Uighur (theo sử liệu Trung Hoa, Hán Thư và Tân Cựu Đường Thư, thì đây là đất cũ của Hiệu Úy Mậu Kỷ đời Hậu Hán và Tiền Bộ Xa Sư đời Hán, nay là vùng phụ cận Thổ Lổ Phồn, và Cáp Thích Hòa Trác, đông bắc sa mạc Gô Bi, thuộc tỉnh Tân Cương. Thời xưa Phật giáo rất thịnh hành ở đây. Những kinh điển bằng chữ Phạn và chữ Hán đều được xử dụng. Thời Bắc Lương xuất hiện những thầy Pháp Thịnh, Pháp Chúng; thời Bắc Ngụy xuất hiện các thầy Đàm Lộc và Uy Đức dịch Kinh Hiền Ngu; thời Đông Tấn những thầy Trí Nghiêm, Trí Giản sang Tây Trúc, trên đường sang Tây Trúc có ghé qua vùng nầy tìm lương thực đi đường. Về sau ngài Huyền Trang cũng dừng lại đây một tháng, được vua Cúc Văn Thái rất kính trọng)—The ancient town of Kao-Ch'ang, 30 miles east of Turfan in Turkestan, formerly an important Buddhist centre, whence came scriptures and monks to China. The Turks in Karakhojo were first heard of in the seventh century in the Orkhon district where they remained until 840 A.D. when they were defeated and driven out by the Kirghiz; one group went to Kansu, where they remained until about 1020 A.D.; another group founded a kingdom in the Turfan country which survived until Mongol times. They had an alphabet which was copied from the Soghdian. Chingis Khan adopted it for writing Mongolian. In 1294 A.D. the whole Buddhist canon was translated into Uighur.
cao xương cố thành
(高昌故城) Thành cũ Cao xương, tiếng Duy ngô nhĩ gọi là Diệc đô hộ thành, tiếng Hán gọi là Cao xương bích, Cao xương lũy. Thành ở A tư tháp na (Hán gọi là Tam bảo ) thôn đông, Cáp lạt hòa trác (Hán gọi là Nhị bảo) thôn nam cách huyện lị Thổ lỗ phồn hơn bốn mươi cây số về phía đông, thuộc tỉnh Tân cương. Niên đại Kiến trúc và qui mô cơ bản được hình thành vào khoảng trước đời Lương (324-376) đến thời đại Vương triều Cao xương khúc thị. Tổng diện tích hai triệu mét vuông, phần lớn tường thành đã đổ, đại khái là hình vuông, chu vi khoảng năm cây số. Bộ phận cửa thành đắp bằng đất, dấu vết vẫn còn, có thể đi xe qua được. Toàn thành chia làm ba bộ phận là thành ngoài, thành trong và thành cung, bố cục hơi giống như thành Trường an đời Đường. Thành trong kiến trúc la liệt, góc tây nam thành ngoài còn lại nền một ngôi chùa, diện tích độ mười nghìn mét vuông, cổng chùa, quảng trường, nhà điện, tháp cao, khám thờ Phật, còn có thể đếm được rõ ràng, du khách có thể đi qua sân vào nhà. Thành trong có một nền cao, ở trên còn lại một tòa kiến trúc cao tới mười lăm mét, tục gọi là Khả hãn bảo và gần đó phát hiện nền đá khắc đồ án.
cao xương quốc
(高昌國) Tên một nước xưa ở Tây vực. Nay là địa phương Cáp lạt hoà trác (Karakhoja) về mạn đông nam Thổ lỗ phồn (Turfan) thuộc tỉnh Tân cương. Thời Hán gọi là nước Xa sư tiền, thời Tấn gọi là quận Cao xương. Từng đã có lần được độc lập gọi là nước Cao xương (khoảng 420), sau bị Thái tôn nhà Đường chinh phục, rồi đặt tên là Tây châu (khoảng 640). Từng đã phụ thuộc Hồi cốt (từ cuối thế kỷ VIII đến đời Nguyên) sau lại phụ thuộc Trung quốc, là một Trung tâm lớn của Phật giáo, các kinh Phật đã được phiên dịch tại đây. Từ sau thế kỷ XIX trở đi, các nhà khảo cổ đã thám hiểm nhiều lần, đào được vô số tượng Phật, tranh Phật và các kinh điển bằng tiếng Phạm, tiếng Hồ, tiếng Hồi cốt. Các di tích trứ danh của Phật giáo gồm có: thành cũ Cao xương, thành cũ Giao hà, động Nghìn Phật Bối sa khắc lỗ khắc và hào Thổ dục. Thành Cao xương và thành Giao hà là những di tích già lam được kiến tạo trên mặt đất, còn Bối sa khắc lỗ khắc thì là động đá do hai quần thể hang động tạo thành. (xt. Thiên Phật Động).
cao đài
Caodaism.
cao đế
Kunti (skt)—Tên của một loài La Sát Nữ—Name of a raksasi, a female demon.
cao đế la sát nữ
Kunti (S)Hà Sở La sát nữTên một vị thiên.
Cao đế 皐帝
[ja] コウタイ Kōtai ||| Kuntī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a25〕 => s: Kuntī. Một trong 10 La-sát nữ (s: rākṣasīs) hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập la-sát nữ十羅刹女.
Cao Đức Viện
(高德院, Kōtoku-in): xem Đại Phật Liêm Thương (鎌倉大佛, Kamakuradaibutsu) bên dưới.
cashmir
Xem Kế Tân.
cau có
Fractious.
cay
Katuka (S), Chilly.
cay nghiệt
Cruel and wicked.
cay đắng
Peppery and bitter.
cay độc
Piquant and poisonous—Cruel.
cha
Father.
cha chú
Father and uncle.
cha con
Father and child.
cha ghẻ
Stepfather.
cha mẹ
Parents.
cha truyền con nối
heredity.
cha đở đầu
Godfather.
Cha-ba-ri-pa
S: carbaripa, javari, caparipa, cavaripa, capā-lipa, cārpaṭi; biệt danh »Người biến hoá đá«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, có lẽ sống trong cuối thế kỉ 9, đầu thứ 10.|Thời nọ có một nông dân giàu có tại Ma-kiệt-đà, có hàng ngàn bị ngựa. Lúc đám tang cha, ông ra sông Hằng cầu nguyện, vợ con ông ở nhà. Khi ông đi vắng thì Cha-ba-ri-pa đến nhà khất thực, người vợ lúc đầu không dám bố thí, sợ chồng la rầy nhưng cuối cùng bố thí và được nghe thuyết pháp. Ðến lúc gia đình chồng về, bị mẹ chồng la mắng, người vợ tủi thân bồng con đi tìm Cha-ba-ri-pa. Vị Du-già sư này rảy nước thánh lên hai mẹ con và biến hai người thành tượng Phật bằng đá. Trong lúc đó người chồng về nhà, tìm vợ không thấy, cuối cùng ông đến chỗ Cha-ba-ri-pa. Người chồng cũng bị biến thành tượng đá. Cuối cùng cả gia đình đi tìm rồi ai cũng thành tượng đá cả, tổng cộng 300 người và bị con đều thành đá.|Trong số người hoá đá đó thì người con trai nhỏ của nông dân nọ đạt tám Tất-địa và nổi tiếng khắp vùng. Nhà vua Cham-pa (s: campā) quý trọng, cho dựng một ngôi đền để thờ người con trai và ba trăm tượng đá. Ở đền này có nhiều chuyện lạ xảy ra và người ta nói rằng đền này vẫn còn đứng vững để chờ Phật Di-lặc ra đời. Cha-ba-ri-pa được gọi là »người biến hoá đá«, để lại chứng đạo ca như sau:|Thờ cúng Phật cao nhất,|thật không có gì bằng,|tự mình chứng giác ngộ.|Ai tự mình chứng thật,|Tâm thanh tịnh vô thuỷ,|người đó có tri kiến,|như tất cả chư Phật.|Cha-kra sam-va-ra tan-tra|S: cakrasaṃvara-tantra; cũng được gọi ngắn là Saṃ-va-ra tan-tra;|Một Tan-tra, được biên soạn trong thế kỉ thứ 8. Cha-kra sam-va-ra có nghĩa là »Người chặn đứng bánh xe (Luân hồi)« Nhiều Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) tu học và đạt thánh quả với Tan-tra này.
Cha-ma-ri-pa
S: cāmāripa, hoặc cāmāri, cāmāra; biệt danh là »Người đóng giày«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người thợ giày, nhưng không hài lòng với nghề nghiệp. Một ngày nọ gặp một Sa-môn, ông liền mời vào nhà tiếp đãi ân cần rồi quì xuống lạy nói: »Tôi chán, tôi bệnh vì cái khổ nhọc, cái vô minh, tham vọng của thế giới này. Hãy chỉ dạy cho tôi con đường giải thoát.« Vị Sa-môn liền dạy một phương pháp thiền quán thích hợp với khả năng của ông. Ông vâng lời tu tập ngay trong lúc đóng giày, có khi vị Hộ thần của nghề thủ công là Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān) xuất hiện, làm thay ông để ông rảnh rổi tu tập. Sau 12 năm, ông đạt thánh quả, quy phục được rất nhiều người theo Phật pháp. Thánh đạo ca của ông như sau:|Ta lấy da thành kiến|và miếng da khái niệm,|đem cắt thành dạng hình|Không tính và Từ bi;|Lấy giùi của trực giác|may bằng sợi chỉ đời|vô thuỷ lẫn vô chung.|Ta đã giải thoát khỏi,|tám bận tâm thế gian (Bát phong),|may chiếc giày Pháp thân|Không một chút lo nghĩ.
Cha-tra-pa
S: catrapa; biệt danh: »Khất sĩ hạnh phúc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, không định rõ được thời đại.|Ông là một người ăn xin nhưng lúc nào cũng mang theo một tập sách trên tay. Một lần nọ, một vị Du-già sư đi ngang qua, thương hại ông và cho phép ông tu tập Hô kim cương tan-tra (s: hevajratantra), dạy phép quán tất cả đều từ tâm sinh. Sau sáu năm tu tập, ông đạt Tất-địa (s: siddhi). Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Những gì mà ta thấy,|đều là bài giáo hoá.|Tri kiến rốt ráo rằng,|vạn sự đều vô sinh,|tri kiến đó: vị thầy.|Chứng được phi nhị nguyên,|đó mới thật là đạo.|Tác động của thiện ác,|đã biến thành một thứ.
Cham-pa-ka
S: campaka; với biệt hiệu là »Nhà vua ái hoa«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là nhà vua xứ Cham-pa (s: campā), Cham-pa cũng là tên của một loài hoa sắc trắng, vàng. Vương quốc của ông phồn vinh và trong thời trẻ tuổi, ông không hề nghĩ gì đến kiếp sau của mình. Lần nọ, có một vị Du-già sư (s: yogin) đến khất thực, ông tiếp đãi nồng hậu và hãnh diện hỏi có nước nào thơm tho trong sạch như nước ông. Vị Du-già sư trả lời rằng hoa thì thơm thật nhưng thân thể ông không thơm bằng và một ngày nào nó ông sẽ từ giã cõi đời, trong tay không có gì cả. Nhà vua giật mình tỉnh ngộ và xin học Phật pháp. Vì nhà vua không quên được mùi thơm của hoa nên vị này dạy ông quán tưởng như sau:|Hãy quán mọi hiện tượng,|đều là tính Không cả,|đó là đoá hoa thơm,|của lời khai thị này.|Ong bướm trên cành hoa,|đó chính là tâm thức.|Nhuỵ hoa, nguồn bất tận.|Hoa, bướm cùng với nhuỵ,|cả ba đều là một,|mật mới là Ðại lạc.|Ðó là chân ngôn của,|Bậc Ðại Trì Kim Cương,|Phật thứ sáu, không sai.|(Phật thứ sáu Ma-ha Kim Cương Trì [s: mahāvajra-dhāra] là Bản sơ Phật s: ādibuddha], xem Phổ Hiền).
chan chứa
Overflowing—Plentiful—Abundant—Absorbing.
chang chub kyi sem
Xem Bồ đề tâm.
chao đảo
Imbalance.
chau mày
To frown.
chay
Xem Chay tịnh.
; vegetarian.
chay (trai giới)
Posadha (S). Fasting days.
chay tịnh
Virati (S), Abstinence Kiêng, chay.
che chở
To shield—To protect.
che dấu
To hide—To cover.
che khuất
To eclipse—To screen.
che lấp
Xem Triền cái. Xem Cái.
che mưa
To shield from the rain.
che mắt ai
To blind someone's eyes.
che mặt ai
To hide one's face.
che nắng
To shield from the sun rays.
che đậy
To camouflage.
chen ju tao jen
Xem Chân Giác Thắng.
chen nhau
To squeeze together.
chi
1) Cành—Branch. 2) Chi ra: To pay. 3) Loại cây thơm: A felicitous plant—Sesamum. 4) Loài quỷ núi trông giống như cọp: A mountain demon resembling a tiger. 5) Mỡ: Fat—Lard.
chi câu la sấm
Lohasema (S). Name of person.
chi cương lương lâu
Chih-chiang liang lou (C)Tên một vị sư.
; Kalaruci (S).Name of person. Also Cương lương lâu chi.
chi cương lương tiếp
Kalasivi (S)Một vị Sa môn Ấn độ dịch kinh ở Tàu tại Kiến nghiệp vào năm 255 hay 256 đời Tam quốc, đất Ngô.
; (支疆梁接) Vị Tam tạng dịch kinh ở thời đại Tam quốc. Cương lương tiếp là tên Phạm, dịch làChính vô úy. Còn gọi là Chi khương . Vào niên hiệu Cam lộ năm đầu (256) đời Tào Ngụy, ngài dịch kinh Pháp hoa tam muội tại Giao châu, gồm sáu quyển. Nay đã thất truyền. Nhưng, cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 4 nói, thì kinh này thực ra là tên khác của kinh Chính pháp hoa. Về niên đại dịch kinh thì có thuyết cho là vào năm Ngũ phụng thứ hai (255) đời Ngô. Năm sinh năm mất của ngài không được rõ. [X. Pháp hoa du ý - Khai nguyên thích giáo lục Q.2 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.5].
chi cụ
(支具) Thông thường chỉ các thứ đồ dùng cần thiết trong thời kỳ tu pháp trong Mật gáo. Bao gồm các đồ pháp khí, thức cúng dường, hương thắp, các đồ vật lớn nhỏ để bố trí trong đạo tràng. (xt Chi Độ).
chi diệu
(支曜) Vị tăng dịch kinh ở đời Đông Hán. Người Tây vực, thông suốt các sách, hiểu thấu lẽ huyền vi. Ngài đến Lạc dương vào năm Trung bình thứ 2 (185) đời Linh đế nhà Đông Hán, trước sau dịch các kinh Thành cụ quang minh định ý, gồm cả kinh Đại thừa, Tiểu thừa mười bộ mười một quyển. Hiện còn đến nay là kinh Thành cụ quang minh định ý, kinh A na luật bát niệm, kinh Mã hữu tam tướng, kinh Mã hữu bát thái thí nhân, kinh Tiểu đạo địa v.v...… mỗi bộ có một quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.1 - Khai nguyên thích giáo lục Q.1 - Đại đường nội điển lục Q.1].
chi diệu âm
(支妙音) Vị tỷ khưu ni đời Ngụy Tấn. Năm sinh năm mất không rõ. Mộ đạo từ thủa nhỏ, thông suốt các học nội ngoại, có tài văn chương. Thời Hiếu vũ đế, kết giao với Vương đạo tử, Mạnh khải ở Cối kê, Đạo tử làm chùa Giản tĩnh cúng sư. Đồ chúng rất đông, giàu nhất đô ấp, tham dự cả chính sự, quyền uy một thời, sau không biết kết cục ra sao.
chi dụng
To divide or to distribute for use.
; (支用) Chi, hàm ý chia. Nghĩa là chia dùng tiền của v.v... Trong Thiền lâm, chức vụ trông coi việc chi dùng tiền của của thường trụ là Phó tự..... (người giữ kho). Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1132 hạ) nói: Trông coi tiền gạo vải vóc bắp đậu của thường trụ, tùy thời xuất nhập chi dùng. [X. Thiền uyển thanh qui quyển 4 Khố đầu - Thiền lâm tượng khí tiên Q.12].
chi hương
Nhang làm từ những cành cây, một trong ba loại nhang—One of the thre kinds of incense, incense made of branches of tree. **For more information, please see Tam Chủng Hương.
chi khiêm
Tcheu-K'ien (C)Tên một vị sư.
; Chi Khiêm là tên của một vị sa môn xứ Nguyệt Chi, đến Lạc Dương vào cuối đời nhà Hán, sư người cao, mảnh khảnh, da ngâm đen, mắt nâu, uyên bác và khôn ngoan—Chih-Ch'ien, name of a Yueh-Chih monk who said to have come to Loyang at the end of the Han dynasty and under the Wei; tall, dark, emaciated, with light brown eyes, very learned and wise.
; (支謙) Nhà dịch kinh ở thời Tam quốc Ngô. Người nước Đại nguyệt chi vào cuối thế kỉ thứ III Tây lịch. Tự là Cung minh. Lúc đầu, ông theo họ hàng dời đến Trung quốc, ngụ cư tại Hà nam. Thông hiểu tiếng nói của sáu nước, thụ nghiệp nơi Chi lượng đệ tử của ngài Chi lâu ca sấm - đọc khắp các sách, người đương thời gọi ông là cái túi khôn và cùng với ngài Chi lâu ca sấm, Chi lượng, gọi chung là tam chi (ba ông Chi). Sau ông lánh nạn chiến loạn, vào nước Ngô, được vua Ngô tôn quyền trọng đãi, tôn làm bác sỹ, dạy Thái tử Tôn lượng. Từ niên hiệu Hoàng vũ năm đầu đời Ngô đến năm Kiến hưng (222-253) gồm khoảng hơn 30 năm, ông đã dốc sức vào việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Hán, như kinh Duy ma cật, kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, kinh Đại minh độ v.v...… Về số các bộ kinh điển do ông dịch thì có nhiều thuyết, như Lương cao tăng truyện quyển 1 chép là bốn mươi chín bộ, Lịch đại tam bảo kỉ quyển 5 thì chép là một trăm hai mươi chín bộ. Lời văn dịch trong sáng đẹp đẽ được người đời khen ngợi. Ngoài ra, ông dựa theo kinh Vô lượng thọ và kinh Trung bản khởi, làm cácbài liên cú tán Bồ tát, Phạm bái tam khế và chú giải kinh Liễu bản sinh tử. Đến khi Thái tử lên ngôi (252) ông bèn vào núi Khung ải (long) ở ẩn, theo ngài Trúc pháp lan giữ giới trong sạch, lắng tâm thiền lặng, rất nhiều công khanh sĩ đại phu vào núi xin quy y. Về già ông lâm bệnh và mất, thọ sáu mươi tuổi. Năm sinh năm mất không rõ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.7, Q.13 - Pháp kinh lục Q.1 - Đại đường nội điển lục Q.2 - Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
Chi Khiêm 支謙
[ja] シケン Shiken ||| Zhiqian (fl. 223-253); a Chinese layman of Wu 呉 during the Three Kingdoms period, translator of numerous texts, among which some of the most important are the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經 and the Ruiying benqi jing 瑞應本起經. He was said to be proficient in six languages. Passed away at the age of 60. => c: Zhiqian (223-253); cư sĩ Trung Hoa họ Ngô (Wu 呉), sống vào thời Tam quốc, là dịch giả của nhiều bộ kinh, trong đó có những bộ kinh quan trọng như Duy ma kinh (s: Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經), Thuỵ ứng bản khởi kinh (c: Ruiying benqi jing 瑞應本起經). Tương truyền ông thành thạo sáu ngôn ngữ. Ông qua đời vào năm 60 tuổi.
chi lang
Tên gọi xưa kia của các vị Tăng, người ta nói tên nầy bắt nguồn từ “Tam Chi” thời nhà Ngụy là Chi Khiêm, Chi Sám và Chi Lượng—Chih-Lang, formerly a polite term for a monk, said to have arisen from the fame of the three chih of the Wei dynasty, Chih-Ch'ien, Chih Ch'an and Chih Liang.
; (支郎) Tên tao nhã của chư tăng. Cao tăng truyện chép, sư Chi khiêm đời Ngụy, thân hình cao, nhỏ nhắn, đen và gầy (ốm), mắt nhiều lòng trắng, con ngươi thì vàng, thông minh đa trí, người hiền đương thời gọi sư là Chi lang (chàng Chi), về sau danh từ chi lang được chuyển dụng làm tên gọi tao nhã của tăng sĩ. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].
chi lâu ca sám
Chih-Lou-Chia-Ch'an—See Chi Sám.
Chi Lâu Ca Sấm
(s: Lokaṣema, j: Shirukasen, 支婁迦讖, 147-?): vị tăng dịch kinh dưới thời nhà Hán, còn gọi là Chi Sấm (支讖), người Đại Nguyệt Thị (大月氏, tên một vương quốc ngày xưa ở Trung Á). Vào năm cuối đời vua Hoàn Đế (桓帝) nhà Hậu Hán, ông đến thành Lạc Dương (洛陽) tham gia dịch kinh. Đến trong khoảng thời gian niên hiệu Quang Hòa (光和) và Trung Bình (中平, 178-189) đời vua Linh Đế (靈帝), ông dịch được hơn 20 bộ như Đạo Hạnh Bát Nhã Kinh (道行般若經), Ban Chu Tam Muội Kinh (般舟三昧經), A Xà Thế Vương Kinh (阿闍世王經), Tạp Thí Dụ Kinh (雜譬喩經), Thủ Lăng Nghiêm Kinh (首楞嚴經), Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (無量清淨平等覺經), Bảo Tích Kinh (寳積經), v.v.. Tuy nhiên, hiện tồn chỉ còn lại 12 bộ mà thôi. Ông được xem như là người đầu tiên dịch kinh và truyền bá lý luận giáo học Bát Nhã của Phật Giáo Đại Thừa tại Trung Quốc. Trong số các kinh điển ông phiên dịch, Đạo Hạnh Bát Nhã Kinh được xem như là quan trọng nhất và là dịch bản sớm nhất trong các kinh điển của hệ Bát Nhã. Bên cạnh đó, Ban Chu Tam Muội Kinh cũng là kinh điển trọng yếu lấy đức Phật A Di Đà ở phương Tây làm đối tượng, là tín ngưỡng của Di Đà Tịnh Độ vào thời kỳ đầu ở Trung Quốc, được dùng làm kinh điển gối đầu chủ yếu cho các tổ chức kết xã niệm Phật như Đông Lâm Tự (東林寺) trên Lô Sơn (廬山) của Huệ Viễn (慧遠), v.v. Sau khi dịch các kinh xong, không rõ ông qua đời tại đâu và khi nào.
chi lâu ca sấm
Chi Lou chia ch'ien (C)Tên một vị sư.
; (支婁迦讖) (147 - ?) Phạm: Lokawema. Vị tăng dịch kinh đời Hán. Cũng gọi là Chi sấm. Người Đại nguyệt chi (một nước xưa ở Trung á). Ngài đến Lạc dương vào cuối đời Hoàn đế nhà Hậu Hán, theo việc dịch kinh. Đến khoảng năm Quang hòa, Trung bình (178-189) đời Linh đế, ngài dịch tất cả được hơn hai mươi bộ, gồm các kinh Đạo hành bát nhã, kinh Ban chu tam muội, kinh A xà thế vương, kinh Tạp thí dụ, kinh Thủ lăng nghiêm, kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, kinh Bảo tích v.v…... nhưng hiện nay chỉ còn mười hai bộ. Ngài là vị tăng đầu tiên phiên dịch và truyền bá lí luận Bát nhã học của Phật giáo Đại thừa tại Trung quốc. Trong các kinh do ngài dịch, kinh Đạo hành bát nhã là trọng yếu nhất, là bản dịch sớm nhất trong các loại kinh điển thuộc hệ Bát nhã. Loại kinh điển hệ Bát nhã này đã đẩy mạnh cái phong khí huyền học thanh đàm ở thời đại Ngụy Tấn, còn kinh Ban chu tam muội là kinh điển trọng yếu lấy Phật A di đà ở phương tây làm đối tượng, trong lịch sử Phật giáo Trung quốc thời kỳ đầu, kinh này là kinh chủ yếu của tín ngưỡng Di đà Tịnh độ mà Liên xã niệm Phật của sư Tuệ viễn ở chùa Đông lâm trên núi Lư sơn đã dựa vào. Ngoài ra, sự truyền dịch kinh Thủ lăng nghiêm thì mở đầu cho công cuộc Đại thừa hóa Phật giáo Trung quốc ở thế kỷ thứ IV, thứ V. Ngài có tiếng là người siêng năng tinh tiến, nghiêm giữ giới pháp, đọc tụng các kinh, hết sức giảng đạo. Cuối đời, không biết kết cục ra sao. [X. Lương cao tăng truyện Q.1 - Khai nguyên thích giáo lục Q.1 - Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.13].
chi lương
(支亮) Vị tăng ở đầu thời đại Tam quốc, tự Kỉ minh, là học trò của ngài Chi lâu ca sấm, thầy của sư Chi khiêm. Năm mất và sự tích lúc sống đều không được rõ. [X. Hợp thủ lăng nghiêm kinh kí (Chi mẫn độ)].
chi mi
1) Quỷ dữ: Evil spirits. 2) Loài quỷ ở vùng đầm lầy, có đầu heo mình người: A demon of marshes having the head of a pig and body of a man.
chi mạt hoặc
1) Chi Mạt Vô Minh hay nghiệp tướng, kiện tướng, cảnh giới tướng dựa vào căn bản vô minh mà dấy lên, đối lại với căn bản vô minh (chúng sanh không đạt lý nhất pháp giới bỗng nhiên vi động vọng niệm): Ignorance in detail or branch and twig illusion, in contrast with root or radical ignorance (căn bản vô minh), i.e. original ignorance out of which arises karma, false views and realms of illusion which are the “branch and twig” condition or unenlightenment in detail or result. 2) Bốn địa đầu trong Ngũ Trụ Địa, địa cuối cùng là căn bản vô minh: The first four of the five causal relationships, the fifth being the original ignorance. ** For more information, please see Ngũ Trụ Địa.
chi mạt vô minh
See Chi Mạt Hoặc.
; (枝末無明) Tức là từ trong vô minh căn bản, lại sinh ra các loại phiền não rõ rệt khác. Còn gọi là Chi mạt bất giác. Đối lại với Căn bản vô minh. Khởi tín luận sớ bút tước kí quyển 3 (Đại 44, 309 trung), nói: Trong đó có căn bản, chi mạt khác nhau, chi mạt lại có ba tế sáu thô. Đây có nghĩa rằng, y vào vô minh căn bản mà sinh khởi ba tế là Nghiệp tướng, Năng kiến tướng, Cảnh giới tướng, và y vào cảnh giới duyên mà sinh khởi sáu thô là Trí tướng, Tương tục tướng v.v...… gọi chung là Chi mạt vô minh. [X. luận Đại thừa khởi tín - Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối - Khởi tín luận sớ Q.thượng (Nguyên biểu) - Đại thừa khởi tín luận giảng kí (Ấn thuận)]. (xt. Căn Bản Vô Minh).
chi mẫn độ
(支湣度) Vị tăng đời Tấn. Là một trong sáu nhà bảy tông thuộc học phái Bát nhã, người sáng lập Tâm vô tông. Năm Vĩnh gia, tránh loạn xuống miền Nam. Thời Thành đế, cùng với các sư Khang tăng uyên, Khang pháp sướng, du lịch vùng Giang nam, đời khen là sáng suốt. Lại cảm khái vì các nhà phiên dịch kinh luận chưa được rõ ràng, bèn thu tập các bản dịch khác nhau, rồi làm cho văn nghĩa được sáng thêm. Có viết Hợp thủ lăng nghiêm kinh kí, Hợp duy ma cật kinh tự, Kinh luận đô lục 1 quyển. Năm sinh năm mất đều không được rõ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.7 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.6, Q.15].
chi na
Cina (skt)—Tiếng người ngoại quốc gọi nước hay người Trung Quốc—The name by which China or Chinese is referred to.
; (脂那) Cũng gọi là Chí na. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3 Chi na điều chép, danh từ Chi na có hai nghĩa: 1. Chỉ Chi na ý là nước văn vật, tức khen ngợi nước ấy là đất giàu sang văn vẻ. Như Đại đường tây vực ký quyển 5 nói: Ma ha chí na tức chỉ Đại đường. (Đại 51, 894 hạ) nói: Nước Đại đường ở về phương nào? (...…) Tức là nước mà Ấn độ gọi là Ma ha chí na, cách đây hơn vài vạn dặm về phía đông bắc. 2. Chỉ Chi nan. Hàm ý miền đất ở gần biên giới, tức chỉ các địa phương không phải là Trung quốc.
chi na nội học viện
(支那內學院) Là viện Phật học trứ danh của Trung quốc thời hiện đại, do nhà Duy thức học Âu dương Kính vô sáng lập vào năm Dân quốc 11 (1922). Vì Ấn độ xưa gọi Trung quốc là Chi na, Phật giáo tự xưng là nội học, cho nên có tên Chi na nội học viện. Viện ở đường Công viên trong thành phố Nam kinh. Do chính họ Âu dương làm viện trưởng, đặt các cơ quan học vụ, biên soạn lưu thông, quản trị phân chia các chức vụ, nghiên cứu, diễn giảng, thư viện, xuất bản đối chiếu, biên soạn, các việc vặt v.v…... Về phần giáo thụ thì ngoài Âu dương ra, còn có Thang dụng đồng, Lữ trừng, Khưu hư minh, Vương ân dương, Niếp ngẫu canh v.v...… Học viện ngoài những học sinh chính thức ra, người thuộc các giới trong xã hội cũng thường đến Viện học hỏi. Năm Dân quốc 14, Viện đặc biệt mở khoa Đại học Pháp tướng, thu nhận các học viên tỷ khưu, cư sĩ hơn bốn mươi người, năm 16, khoa đặc biệt này phải đình chỉ vì lý do kĩ thuật. Năm Dân quốc 26, cuộc chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, thành phố Nam kinh bị Nhật chiếm. Viện phải dời vào Giang tân tỉnh Tứ xuyên và đổi tên là Thục viện. Năm Dân quốc 32, sau khi họ Âu dương qua đời, Lữ trừng kế tiếp làm Viện trưởng. Khi ở Nam kinh đã khắc được một trăm mười bộ kinh, gồm một nghìn năm mươi lăm quyển, vào Thục lại khắc được ba mươi ba bộ, hơn năm mươi quyển nữa. Viện do họ Âu dương, một nhà học Phật trứ danh, chủ trì và ban giáo thụ cũng là những người được lựa chọn cẩn thận, cho nên rất được giới Phật học của cả Trung quốc lẫn Nhật bản coi trọng, nghiễm nhiên là nơi trung tâm nghiên cứu Phật học của Trung quốc đương thời. Viện lấy Sư, Bi, Giáo, Giới làm nguyên tắc dạy dỗ của viện. Viện có ấn hành Nội học niên san ........... cùng với tạp chí Hải triều âm của ngài Thái hư là hai ấn phẩm lớn của Phật giáo thời Dân quốc trở lại đây.
chi na đề bà cù hằng la
Cina Deva Gotra (skt)—Hán Thiên Chủng—The “solar deva” of Han descent, first king of Khavandha, born to a princess of the Han dynasty on her way as a bride elect to Persia, the parentage being attributed to the solar deva.
chi pháp lãnh
(支法領) Vị tăng đời Đông Tấn. Học trò của ngài Tuệ viễn ở Lư sơn. Năm Thái nguyên 17 (392) đời Hiếu vũ đế, sư cùng với Pháp tịnh sang Tây vực cầu pháp, đến nước Vu điền, được kinh Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm, gồm ba vạn sáu nghìn bài kệ, và luật Tứ phần tiếng Phạm, đồng thời, gặp Tam tạng Phật đà da xá. Năm Hoằng thủy thứ 10 (408) đời Diêu Tần, ngài Phật đà da xá vào Trường an, dịch luật Tứ phần, sư Chi pháp lãnh và đệ tử là Tuệ biện đều tham gia việc phiên dịch. Còn kinh Hoa nghiêm do sư mang về thì được ngài Phật đà bạt đà la dịch ở chùa Đạo tràng tại Dương châu vào năm Nghĩa hi 14 (418) tức nay là Hoa nghiêm kinh sáu mươi quyển (bản dịch cũ). Sau không biết kết cục ra sao. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. [X. Hoa nghiêm kinh hậu tự (bản dịch cũ) - Tứ phần luật tự - Xuất tam tạng kí tập Q.14 Phật đại bạt đà truyện - Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
chi pháp độ
(支法度) Vị tăng dịch kinh đời Tây Tấn. Niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (301) đời Huệ đế, sư dịch kinh Thệ đồng tử, kinh Thiện sinh tử, kinh Thập thiện thập ác, mỗi thứ một quyển, và kinh Văn thù sư lị hiện bảo tạng hai quyển. Trong đó, hai bộ kinh Văn thù sư lị hiện bảo tạng và kinh Thập thiện thập ác đều đã thất truyền. Năm sinh năm mất và quê quán của sư đều không rõ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6 - Đại đường nội điển lục Q.2 - Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
chi phạt la
Civara (skt)—Trí Phược La—Quần áo của người khất sĩ—A mendicant's garment.
; (支伐羅) Phạm:Cìvara, cũng gọi là Chí phọc la. Dịch là áo. Là tiếng gọi chung ba áo (Tăng già lê, Uất đa la tăng, An đà hội) của tỷ khưu do đức Phật chế định. Thông thường bảo ca sa (Phạm:Kawàya) là tiếng gọi chung của ba áo, nhưng trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2, ngài Nghĩa tịnh nói ca sa là nghĩa màu đỏ, các nước phương bắc phần nhiều gọi áo pháp là ca sa, thực ra đó không phải là tiếng trong luật điển, Chi phạt la mới là tên của ba áo.
chi phần
Svayava (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; (支分) I. Chi phần. Như bốn chi năm thể tay chân v.v...… gọi là Chi phần. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 4 thượng), nói: Tất cả chi phần của Thế tôn đều xuất hiện thân Như lai. II. Chi phần. Các chi cụ, ấn minh mà khi tu phép Quán đính trong Mật giáo phải cần đến, gọi là chi phần. Phép hộ ma cần cây sữa, hương, thuốc v.v…... gọi là Hộ ma chi phần - lại khi tụng chú, kết ấn mà lầm lẫn thiếu sót, thì gọi là Khuyết chi phần. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 3, khi nói rõ các chi phần vào mạn đồ la, còn nêu lên các tên gọi như A xà lê chi phần, Đệ tử chi phần v.v...… cho nên biết phạm vi sử dụng của danh từ Chi phần rất rộng.
chi phần sinh mạn đồ la
(支分生曼荼羅) Còn gọi là Chi phần thượng Mạn đồ la. Chi phần là nghĩa bốn chi năm thể. Tức Mật giáo dùng quan niệm mà kiến lập mạn đồ la trên thân của bản tôn (Tôn vị chính) của A xà lê hoặc của hành giả. Có hai loại: 1. Tam trùng mạn đồ la, còn gọi là Tam trùng lưu hiện mạn đồ la. Lấy đầu làm Viện trung đài bát diệp, từ trái tim đến yết hầu, đặt viện thứ nhất của các Chấp kim cương nội quyến thuộc, từ tim đến rốn đặt viện thứ hai của các Bồ tát đại quyến thuộc, từ rốn trở xuống phối trí sinh thân của đức Thích ca và các quyến thuộc Nhị thừa, sáu ngã. Tức trong một thân hiện ra thai tạng mạn đồ la. Loại này có xuất xứ từ Đại nhật kinh sớ quyển3, quyển14. 2. Ngũ luân thành thân mạn đồ la, còn Chi Phần Sinh gọi Ngũ tự nghiêm tâm quán, Ngũ luân quán. Lấy chân đến rốn làm Đại kim cương luân (địa luân), từ rốn đến tim làm thủy luân, ngực làm hỏa luân, đầu làm phong luân, đỉnh đầu làm không luân, lần lượt quán pháp năm luân vương, tròn, ba góc, hình bán nguyệt, hình trụ và quán tháp năm luân ấy tức là Đại nhật, Đại nhật tức là hành giả. Loại này có xuất xứ từ kinh Đại nhật quyển 5 phẩm Bí mật mạn đồ la, Đại nhật kinh sớ quyển 14. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5 - Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.2, Q.47 - Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích]. (xt. Ngũ Luân Quán).
Chi phần 支分
[ja] シブン shibun ||| (anga). A part, a limb, a section. => Một phần, một phần thân thể, một bộ phận.
chi phận
Anga (S). The division of the teaching of the Buddha into nine angas or limbs. Also ứng già.
chi phật
Bích Chi Phật là người thấu hiểu mười hai nhân duyên, và do đó đạt được trí huệ. Bậc nầy đã đạt được Bích Chi Địa. Đây là những bậc tu hành tìm cầu giác ngộ cho chính mình, được định nghĩa trong Kinh Pháp Hoa là những vị tinh chuyên hành trì, thích nơi vắng vẻ yên tĩnh, tu hành viên mãn mà không có thầy bạn dạy bảo, một mình tự nhiên giác ngộ, chứ không cứu độ tha nhân như mục đích của các vị Bồ Tát (quán sát hoa bay lá rụng và 12 nhân duyên mà đạt đến giác ngộ). Các nhà Thiên Thai thì cho rằng “Chi Phật” hay “Độc Giác” là loại ngộ đạo khi đời không có Phật, tự mình giác ngộ, không nhờ thầy bạn, và cũng không cứu độ ai—Pratyeka-buddha who understands the twelve nidanas, or chain of causation, and so attains to complete wisdom. His stage of attainment is Pratyeka-buddha stage. One who seeks enlightenment for himself, defined in the Lotus sutra as a believer who is diligent and zealous in seeking wisdom, loves loneliness and seclusion, and understands deeply the nidanas. It is a stage above Sravaka and is known as the middle vehicle. T'ien-T'ai distinguishes as an ascetic in a period without a Buddha, as a pratyeka-buddha. He attains his enlightenment alone, independently, of a teacher, and with the object of attaining nirvana and his own salvation rather than that of others, as is the object of a bodhisattva. ** For more information, please see Pratyeka-buddha.
chi phật địa
Bích Chi Phật Địa—The stage of Pratyeka-buddha. ** For more information, please see Pratyeka-buddha.
chi phối
To direct—To control.
chi quá
(支過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Đối lại với Khuyết quá Chỉ sự sai lầm của ba chi Tôn (mệnh đề) Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ) trong luận thức Nhân minh. Còn gọi là Chi thất. Tức cái mà các nhà Nhân minh mới gọi là ba mươi ba lỗi trong đó, có chín lỗi thuộc Tôn, mười bốn lỗi thuộc Nhân và mười lỗi thuộc Dụ. [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Tam Thập Tam Quá).
chi sám
Chi Sám hay Chi Lô Ca Sám, một vị sa môn xứ Nguyệt Chi, đến Lạc Dương, Trung Quốc vào khoảng năm 147 sau Tây Lịch để làm công việc dịch thuật cho đến năm 186 sau Tây Lịch—Chih-Ch'an or Chih-Lou-Chia-Ch'an, a sramana who came to China from Yueh-Chih around 147 AD and worked at translations till 186 AD at Loyang.
chi thí luân
(支施侖) Người Ưu bà tắc nước Nguyệt chi. Suốt thông các kinh, đặc biệt giỏi về Phương đẳng tam muội. Năm Hàm an thứ 3 (373) đời Đông Tấn, ông mang kinh điển đến Lương châu, được quan thứ sử Trương thiên tích rất kính trọng - dịch miệng kinh Tu lại một quyển, kinh Thủ lăng nghiêm 2 quyển, kinh Thượng nghiêm quang thủ hai quyển, kinh Như huyễn tam muội hai quyển. Về sau, kết cục không rõ. Năm sinh năm mất không được tường. [X. Thủ lăng nghiêm hậu kí (thu trong Xuất tam tạng kí tập Q.7) - Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
chi tiêu
To spend.
chi tiết
Details.
; (支節) I. Chi tiết. Phạm: Prasàkhà, Dịch âm: Bát la xa khư, Bát la xả khư. Là vị thứ 5 trong năm vị ở trong bào thai được nói trong luận Câu xá. Tức là vị sau tuần lễ thứ năm kể từ lúc mới vào thai, thì hình tướng chi tiết đều đã đầy đủ. Ngoài ra trong luận Du già sư địa quyển 2, có thuyết tám vị trong thai, trong năm tuần lễ gọi là Bát la xa khư, trong sáu tuần lễ gọi là vị tóc, lông, móng, trong bảy tuần lễ gọi là vị đủ các căn, từ bảy tuần lễ trở đi gọi là hình vị. Tức lấy vị Bát xa la khư trong năm vị làm thứ tư. [X. luận Câu xá Q.9 - Pháp hoa kinh huyền tán Q.4 - Câu xá luận quang kí Q.9 - Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Thai Nội Ngũ Vị). II. Chi tiết. Phạm: Marman. Dịch âm là Mạt ma. Còn gọi là tử huyệt. Chỉ cái huyệt hiểm bên ngoài thân thể mà chỉ cần một chút thương tích cũng có hể mất mạng. [X. luận Câu xá Q.10 - Câu xá luận quang kí Q.10]. (xt. Mạt Ma, Đoạn Mạt Ma).
chi uyển
Tên của Ngài Nguyên Chiếu tại Tự viện Linh Chi thuộc thành phố Hàng Châu—Name for Yuan-Chao of Ling-Chi Monastey in Hang-Chou—See Nguyên Chiếu.
chi uyển di biên
(芝苑遺編) Gồm ba quyển. Còn gọi là Chi viên di biên. Do vị tăng đời Bắc Tống là Nguyên chiếu soạn, Đạo tuân biên tập. Thu vào Vạn tục tạng tập 105. Nội dung, quyển thượng có sáu thiên bao gồm chương Giới thể, chương Trì phạm thể, Đại tiểu thừa luận v.v…... quyển trung có năm thiên, gồm nghi thức thụ Đại thừa Bồ tát giới, Giới sa di văn v.v…... quyển hạ có 5 thiên, gồm khai giảng yếu nghĩa, Nam sơn luật tông tổ thừa đồ lục v.v…... Sư Nguyên chiếu còn có Chi lan tập hai quyển, cũng thu vào Vạn tục tạng tập 105, nội dung bao gồm Hàng châu nam bình sơn Thần ngộ pháp sư tháp minh, Đường Kì châu Thanh trứ pháp sư hành nghiệp kí, Tú châu Lữ thị linh cốt tán, Bác dịch giải, Cao li lý tướng công lục đạo tập tự, tất cả ba mươi hai hạng mục. Cuối quyển có phụ lục Bổ tục chi viên tập một quyển.
Chi Ðộn
支遁; C: zhīdùn; 314-366, còn được gọi là Chi Ðạo Lâm (c: zhī-dàolín);|Cao tăng Trung Quốc đời Tấn. Sư là người sáng lập trường phái Bát-nhã (Lục gia thất tông) trong thời gian đầu của Phật giáo Trung Quốc. Sư là người đầu tiên luận giải lại danh từ Lí (理) theo quan niệm Phật giáo. Lí theo quan niệm xưa của Trung Quốc chỉ là quy luật của vũ trụ nhưng Sư lại cho rằng, Lí tức là Chân lí cùng tột, Tuyệt đối, Chân như. Quan niệm Lí của Sư sau được các tông khác thâu nhập và phát triển thêm (Hoa nghiêm tông).
chi đàm dược
(支曇籥) Vị tăng đời Đông Tấn. Người nước Nguyệt chi. Năm sinh năm mất không rõ. Ngụ cư tại Kiến nghiệp, xuất gia lúc thiếu thời, ở trên núi Hổ khâu tại nước Ngô. Giới hạnh tinh nghiêm, ai cũng kính phục. Đầu thời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, vua thỉnh sư vào chùa Kiến sơ truyền năm giới cho vua, vua kính lễ sư như bậc thầy. Sư bẩm sinh có tiếng thật tốt, đọc tụng rất hay, từng mộng thấy Thiên thần trao cho âm pháp, tỉnh dậy bèn chế ra tiếng mới, phổ thành Phạm bái sáu chữ, đời sau lấy đó làm khuôn phép. Thọ tám mươi mốt tuổi.
Chi Đàm Lan
(支曇蘭, Shidonran, ?-?): vị tăng xuất thân vùng Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông). Tương truyền ông thường sống rất đạm bạc, vui với Thiền tập và tụng kinh hơn 30 vạn lời. Trong khoảng niên hiệu Thái Nguyên (太元, 376-396) nhà Tấn, ông dừng chân tại Xích Thành Sơn (赤城山), Thỉ Phong (始豐), chọn nơi có suối rừng tĩnh lặng, nhàn nhã và an trú. Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hy (元熙, 419-420), ông thị tịch tại núi này, hưởng thọ 83 tuổi.
chi đạo căn
(支道根) Vị tăng dịch kinh đời Đông Tấn. Du hóa các phương nói pháp lợi chúng. Niên hiệu Hàm khang năm đầu (335) đời Thành đế, sư dịch kinh Phương đẳng pháp hoa năm quyển, sau còn dịch kinh A súc Phật sát Bồ tát học thành phẩm hai quyển, nay đều đã thất truyền. Không rõ tuổi thọ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
chi đế phù đồ
Caitya (skt)—Tháp là nơi để thờ phượng—A stupa, or a place or object of worship.
chi đề
Caitya (skt)—Chi Đế—Chi Trưng—Chế Đa—Chế Để Da—Nơi để xá lợi, kinh sách hay hình tượng của Phật. Có tám Chi Đề nổi tiếng từ xưa—A tumulus, a mausoleum; a place where the relics of Buddha were collected, hence a place where his sutras or images are placed. Eight famous Caityas formerly existed. 1) Vườn Lâm Tỳ Ni: See Lumbini. 2) Bồ Đề Đạo Tràng: See Buddha-Gaya. 3) Thành Ba La nại: Varanasi (skt)—See Benares. 4) Vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc: Jetavana (skt)—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên. 5) Sông Ni Liên Thiền: See Kanyakubja. 6) Thành Vương Xá: See Rajagriha. 7) Thành Xá Vệ: See Vaisali. 8) Ta La Song Thọ ở Câu Thi Na: Sala Grove in Kusinagara.
; (支提) Phạm: Caitya, Pàli: Cetiya. Còn gọi là Chi đế, Chi đà, Chi trưng, Chế đa, Chế để, Chế để da. Có nghĩa là tích tập. Còn dịch là tụ tướng. Khi hỏa táng đức Phật, người ta tích tụ củi thơm thành một đống to, đó là nguồn gốc của Chi đề. Về sau, tại các nơi linh tích của đức Phật, người ta xếp gạch, đất thành đống cao to, và bảo phúc đức vô lượng của đức Thế tôn tụ tập tại đó, cho nên hễ nói đến tháp miếu, linh miếu, miếu, mộ phần v.v..đều gọi là Chi đề. Ngoài ra, đặc biệt đục khoét hang đá để cấu tạo cũng gọi là chi đề. Tháp (Phạm: Stùpa, dịch âm: Tốt đổ ba) và Chi đề có khác. Theo luật Ma ha tăng kì nói, ở trong có đặt xá lợi là tháp, không có xá lợi là chi đề. Đời sau phần nhiều dùng lẫn lộn cả. Địa trì kinh luận chủ trương dù có hay không có xá lợi đều gọi là Chi đề. Lại theo kinh A dục vương quyển 7 nói bốn nơi đức Phật sinh, thành đạo, chuyển pháp luân, Niết bàn gọi là 4 Chi trưng, nhưng người đời biết đến nhiều là Bốn linh tháp lớn, đó cũng là trường hợp dùng lẫn lộn. Còn có thuyết bảo, gọi chung là Tháp gọi riêng là Chi đề. Hiện nay, tại Ấn độ, những hang đá được gọi là Chi đề thì rất nhiều, trong đó, các hang Thất diệp (Phạm: Sapta parịa– guhà), Sử đạt mã (Sudàma), Lạc mã tư lị tịch (Lomas Rishi) v.v...… được coi là các Chi đề nguyên thủy. Còn như các hang Phạ giả (Bhàja) và Bối đạt sa (Bedsà) thì được coi là các chi đề đại thành. [X. kinh Khởi thế Q.7 - luật Ma ha tăng kì Q.33 - Hữu bộ mục đắc ca Q.10 - Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần dưới - Pháp hoa nghĩa sớ Q.11 - Huyền ứng âm nghĩa Q.3 - Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
chi đề gia bộ
See Chi Đề Sơn Bộ.
chi đề quốc
(支提國) Chi đề, Phạm: Ceti, còn gọi là Chi đà, Chi đề du, Chi đề dữu. Dịch ý là Chúng tễ, Ức. Tên một nước xưa tại Ấn độ. Nay là phần đất Ban đắc nhĩ khẳng đức (Bundelkand) về mạn tây nam A lạp cát ba (Allahabad) và một bộ phận tỉnh Trung ương (Central Provinces) tại Ấn độ, phía tây là chi nhánh Ca lị hưng đô (Kali-sindh) của sông Cham-bul, phía đông tới sông Đốn sĩ (Tonse). Trung a hàm quyển 55 kinh Trì trai, Trường a hàm quyển 5 kinh Xà ni sa đều bảo nước Chi đề là một trong mười sáu nước lớn tại Ấn độ vào thời đại đức Phật. Lại theo Trung a hàm quyển 10 kinh Bát thiên và luật Tứ phần quyển 16 nói, thì đức Phật đã từng thuyết pháp tại nước này. [X. kinh Tạp a hàm Q.2 - kinh Ưu pha di đọa xá ca - Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng - T. W. Rhys Davids: Buddhist India].
chi đề sơn
(支提山) Phạm: Caitya-giri. I. Chi đề sơn. Tên Phạm còn gọi Caityaparvata, Pàli: Cetiya-giri. Cũng gọi Chi da kì lị, Chi da ka lê, Chi đế da sơn. Núi, tiếng Phạm:giri (dịch âm: ki li). Núi Chi đề ý là núi tích tụ công đức, núi Voi, hoặc núi tích tụ, ở đảo Tích lan (nay là Sri Lanka). Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 ghi chép việc Ngài Ma hi da (Mahinda) đến Tích lan truyền đạo và Cao tăng pháp hiển truyện chép, thì biết rằng núi Mi sa ca nằm về mạn đông cố đô A nâu la đà bổ la (Pàli: Anuràdhapura) của Tích lan, còn được gọi là núi Chi đề, nay là núi Mật hi đạt liệt (Mihintale) nằm về phía đông A nâu na đà bổ la khoảng mười ba cây số. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2, và Đảo sử , Đại sử tiếngPàli, thì ngài Ma hi đà đã từng nói pháp cho vua Thiên ái đế tu (Pàli: Devànaôpiyatissa) nghe tại núi này, và làm chùa trong đó, gọi là chùa núi Chi đề (Pàli: Cetiyapabbata-vihàra) và trồng cây Bồ đề. Nay ngôi tháp An ba tu đa la (Ambasthala) trên núi Mật hi đạt liệt, tương truyền là nơi mai táng di cốt của Ma hi đà. [X. Ấn độ lữ hành kí - J. Fergusson: History of Indian and Eastern Architecture, Vol.I]. II. Chi đề sơn. Còn gọi là Chế đa sơn, Chi kiên cố sơn. Là nơi ở của bồ tát Thiên quan. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 45 phẩm Chư bồ tát trụ xứ chép là núi Chi đề. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 29 phẩm Bồ tát trụ xứ thì gọi là núi Chi kiên cố. Lại theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 15, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 47 chép, thì núi Chi đề chính ở miền nam Trung quốc. Trong hai mươi bộ Tiểu thừa có Chế đa sơn bộ, căn cứ địa của bộ này là núi Chế đa, hiện nay là núi Chi đề (Caitiya-giri), đối diện với thành phố Bồi tọa ngõa lạp (Bezwada) bên bờ sông Kì tư đa na (Kistna), nhưng có đích xác là núi Chi đề không thì chưa thể biết được. [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí - Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. III. Chi đề sơn. Tên gọi khác của Ti địa tả. Là tên núi thuộc nước Ưu thiền ni ở miền nam Ấn độ. (xt. Ti Địa Tả). IV. Chi đề sơn ở huyện Ninh đức, tỉnh Phúc kiến. Núi Chi đề cao hơn mặt biển hơn tám trăm mét, núi quanh co nối liền nhau hai mươi lăm cây số, xa gần la liệt 99 ngọn, vách đá sừng sững, ngọn núi nhọn hoắt, cây cối ngất trời, là một trong ba mươi sáu động ở Trung quốc.
chi đề sơn bộ
Caityaśailah (S).
; Caityasaila (S). Buddhist sect.
; Jetavaniyah (skt)—See Chế Đa Sơn Bộ.
chi độ
The various articles required for worship.
; (支度) Hàm ý đo lường, chuẩn bị. Trong Mật giáo, khi tu pháp, trước hết phải chuẩn bị Bản tôn và các thứ đồ dùng, như chuông vàng hoặc đồng, các thứ hương long não, các vật ngũ cốc thất bảo, các loại hoa quả v.v..., công việc chuẩn bị này, gọi là chi độ. Từ chi độ, có lẽ là độ chi (tính liệu việc chi tiêu tiền bạc) được chuyển dụng, hàm ý tính toán cung cấp. [X. kinh Đà la ni tập Q.12 - kinh Tô đất địa yết la Q.trung - Chư tôn yếu sao Q.3, Q.4, Q.11].
chi độn
(支遁) (314-366) Vị tăng học giả đời Đông Tấn. Người Trần lưu (huyện Khai phong tỉnh Hà nam) có thuyết bảo là người Lâm lư tỉnh Hà đông (huyện Chương đức tỉnh Hà nam) họ Quan. Tự Đạo lâm, sau đổi họ theo thầy, đời gọi là Chi đạo nhân, Chi đạo Lâm. Gia đình đời đời thờ Phật, sớm tỉnh ngộ lẽ vô thường, ở ẩn trong núi Dư hàng thuộc Cối kê, chuyên nghiên đọc kinh Đạo hành bát nhã và các kinh điển thuộc hệ Bát nhã. Hai mươi lăm tuổi sư xuất gia, sau đến Kinh sư (thủ đô) Kiến khang giảng đạo, được các danh sĩ rất thán phục. Đời bấy giờ đang chuộng Lão trang, sư thường cùng với các nhân vật lỗi lạc đương thời, như Vương mông, Tôn xước, Hứa tuân, Ôn hạo, Tạ an và Vương hi v.v...… bàn về Trang tử, ngôn từ lưu loát, thao thao bất tuyệt, khiến đời kinh ngạc và rất tán thưởng. Sư hình dáng khác lạ, ưa rong chơi núi rừng, viết chữ thảo rất đẹp, văn bút quán thế. Sau sư lập chùa Chi sơn tại đất Ngô, do đó còn có hiệu là Chi hình. Chưa bao lâu sư nhận lời của Vương hi đến huyện Ngô hưng, lúc đầu ở chùa Linh gia, sau lại lập Tinh xá ở Diệm sơn, chúng tăng có hơn trăm người. Rồi lại dời đến núi Thạch thành, sáng lập chùa Thê quang, ăn cơm rau uống nước suối, thả hồn ngao du nơi rừng Thiền, chú giải kinh An ban và Tứ thiền, noi theo ý chỉ Mã minh, Long thụ. Cuối đời lại xuống núi, tuyên giảng kinh Duy ma. Niên hiệu Long hòa năm đầu (362), vua Ai đế triệu thỉnh sư vào ở chùa Đông an tại Kinh sư, thuyết giảng kinh Đạo hành Bát nhã, ba năm sau dâng thư xin từ. Tháng 4 năm Thái Hòa năm đầu sư thị tịch tại núi Dư diêu lúc năm mươi ba tuổi. Có các tác phẩm: Tức sắc du huyền luận, Thánh bất biện tri luận, Đạo hành chỉ qui, Học đạo giới v.v...… Sư viết Bát nhã học tức sắc nghĩa, chủ trương tư tưởng Tức sắc bản không, là một trong sáu nhà bảy tông thuộc Bát nhã học. [X. Quảng hoằng minh tập Q.30 - Lương cao tăng truyện Q.4 - Thích thị kê cổ lược Q.2 - Xuất tam tạng kí tập Q.12 Pháp luận mục lục - Phật tổ thống kỉ Q.36].
Chi 支
[ja] シ shi ||| (1) To branch off, to separate. (2) A branch. (3) A limb (arm or leg). (4) To pay; hand over. (5) Used in the transliteration of Sanskrit shi sound. => 1. Phân nhánh, tách rời ra. 2. Một nhánh. 3. Một chi phần thân thể (tay hoặc chân). 4, Chi trả, trao cho. 5. Dùng để ký âm shi trong tiếng Sanskrit.
chia
To divide—To separate.
chia buồn
To offer one's condolences to.
chia uyên rẽ thúy
To separate two lovers.
chia xẻ
To partake—To share.
chia xẻ buồn vui
To share joys and sorrows.
chiavui xẻ cực
To share both troubles and pleasures—To share ups and downs.
chim ca lăng tần già
Kalavinka bird—An Indian cuckoo.
chim cánh vàng
(kim sí điểu): cũng gọi là chim kim sí, một loài chim rất lớn. Loài chim này được mô tả như là chúa của các loài chim, thân hình rất to lớn và ăn thịt được cả loài rồng, nên cũng gọi là Kim sí điểu vương. Tên Phạn ngữ của loài chim này là garuḍa, dịch âm là ca-lâu-la, được nhắc đến như một trong Tám bộ chúng.
chim kim sí
xem chim cánh vàng.
chim sẻ
Kalandaka (S), Squirrel.
chim xá lợi
Egret (S).
chinh
Cái chiêng—Loại não bạt nhỏ dùng để đánh trong nghi thức lễ lạc—A small gong struck during the worship, or service.
chinh cổ
Chiêng trống, nhạc khí dùng trong nghi thức lễ lạc Phật giáo—Cymbals, or small gongs and drums.
; (鉦鼓) Tức là cái trống làm bằng kim thuộc. Còn gọi là Chung cổ, Thường cổ, Chinh (cái chiêng). Còn gọi là chiêng và trống nói gộp lại. Trước khi vào pháp hội, đánh trống để thông báo, hoặc đánh trước giờ niệm Phật. Trong văn hiến xưa, có chép tên chiêng, trống, tức là các nhạc khí dùng trong vũ nhạc, nhã nhạc và âm nhạc Phật giáo. Nay là một trong các pháp khí được dùng hàng ngày tại các chùa ở Nhật bản. Hai bên phía ngoài trống có vòng móc, dùng để treo trên giá gỗ. Trong vũ nhạc thường dùng hai trống to nhưng hiện nay chỉ có một trống treo trong bái đường. Đến đời sau, hình dáng trống được thu nhỏ lại và để bằng trên cái giá ba góc, khi niệm Phật, dùng dùi gỗ gõ lên mặt trống, nhịp trống và tiếng niệm Phật hòa nhau. [X. Hậu hán thư đế hậu kỉ 1 thượng - Oa danh loại tụ sao Q.4 mục Chinh cổ - Loại tụ danh vật thảo Q.317].
chinh khấu
(鉦叩) Khi niệm Phật, vừa đánh cái chậu hình giống như cái chiêng, vừa đi trên đường để xin của bố thí, gọi là Chinh khấu. Lại người đánh chiêng cũng gọi là Chinh khấu. Đời sau tiếng Chinh khấu hàm ý là xin ăn.
chinh phục
To conquer—To subdue.
chiêm
To look up to, or for; revere, adore, expect.
; 1) Chiếc đệm: Thatch—Mat. 2) Chiêm ngưỡng: To look up to, or for—To adore—To revere. 3) Tiên đoán: Guess—To estimate. 4) Sự tiên đoán hay báo trước—Divine—Prognosticate.
; (占) Bói toán. Là phương pháp dựa vào điềm báo trước, thuật chiêm tinh và tiếp xúc với một loại vật thể mà tri thức của người thường không cảm biết được, để đạt được sự tình mà mình muốn biết trước. Nếu giải thích theo nghĩa rộng, thì tính chất của sự biết và nói trước ấy cũng giống như sự sùng bái tinh linh (Shamanism), được lưu hành phổ biến trong xã hội. Phật giáo xưa nay chưa bao giờ dùng. Đại biểu cho bói toán phương đông lấy bói Chu dịch làm nền tảng. Bói mu rùa trước Chu dịch, tư tưởng đạo giáo pha trộn bói toán và thuật chiêm tinh v.v…... đều đã lưu hành rộng rãi tại Trung quốc và Nhật bản. Trong tư tưởng Phật giáo và Ấn độ, vì tư tưởng luân hồi cực sâu đậm, cho nên rất ít dùng phương pháp bói toán. Tại Trung quốc, căn cứ theo phương pháp xem xét được ghi chép trong kinh Chiêm sát mà đã sản sinh phong tục viết hai chữ thiện và ác lên miếng gỗ 4 góc (tướng bánh xe), sau khi thắp hương lễ Phật, khấn nguyện xong, cầm gieo xuống để xem lành dữ. Lại căn cứ theo kinh Quán định phạm thiên thần bút, trong các chùa miếu tại Nhật bản cũng rất thịnh hành một loại bói rút thẻ (xin xăm). Ngoài ra, còn có các chức nghiệp quan âm dương, quan thần kì do các nhà âm dương và thần đạo đặc biệt nắm giữ.
chiêm ba
Campa or Campaka (skt)—See Chiêm Bặc Ca.
chiêm ba la quật
Hang động nơi có nhiều cây Chiêm Ba—A cave where grown a lot of campa-trees.
chiêm ba quốc
Nước Chiêm Ba ở miền Trung Ấn Độ, bên bờ sông Hằng (xứ có nhiều cây Chiêm Ba hay Mộc Lan, nên lấy tên ấy mà đặt cho xứ), là một nước ở miền trung Ấn Độ, mà theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, bây giờ là Bhagalpur hay vùng phụ cận phía trên Punjab được thành lập bởi dân Chiêm Ba—Campaka (skt)—A kingdom and city od Campa in the central India, along the riverbank of the Ganges, according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, the modern Bhagalpur or a place in its vicinity, founded by Campa, a district in the upper Punjab.
; (瞻波國) I. Chiêm ba quốc. Chiêm ba, Phạm, Pàli: Campà,dịch ý là Vô thắng. Một nước xưa nằm về mạn nam nước Phệ xá li thuộc trung Ấn độ. Còn gọi là Chiêm bà quốc, Chiêm bặc quốc, Xiển bặc quốc, Diệm ba quốc, Chiên ba quốc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì đô thành nước này nằm về nam ngạn sông Hằng. Thời kiếp sơ, có một thiên nữ xuống nơi này, Thiên nữ sinh được 4 con đều lập đô tại Châu thiệm bộ, Chiêm ba là một trong số đó, đây là những đô thành được sáng lập đầu tiên tại châu Thiệm bộ. Chiêm ba có vài chục ngôi Già lam đã cũ nát, có hơn hai trăm vị tăng Tiểu thừa, hơn hai mươi đền thờ trời, chứng tỏ tình hình các đạo khác ở lẫn lộn. Nhưng cứ theo Trường a hàm quyển 5 kinh Điển tôn và quyển15 kinh Chủng đức, Sử thi La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa) chép, thì Chiêm ba là đô thành của nước Ương già Phạm: Aíga) vốn gọi là Mã lợi ni (Phạm: Màlinì), đến thời vua Chiêm ba kiến lập thành này mới đặt tên theo mình. Trong các kinh điển cho thấy nước Chiêm ba là nơi Đức Phật đã đến giáo hóa nhiều lần. Như kinh Tạp a hàm quyển 30 chép, đức Phật từ nước Ma yết đà qua nước Chiêm ba du hóa đến Tu ma (Phạm: Sambha). Luật thập tụng quyển 40 chép, nước Chiêm ba là một trong sáu đô thành lớn mà đức Phật đã đến nói pháp, và đã từng ở đây nói các kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9 và kinh Chủng đức quyển 15, kinh Chiêm ba trong Trung a hàm quyển 9 và kinh Ưu bà di quyển 52 v.v...… Lại như Chiêm bà kiền độ chép trong luật Tứ phần quyển 44, luật Thập tụng quyển 30 đã được chế định tại nước này.Về vị trí hiện nay của nước Chiêm ba, cứ theo sự khảo chứng của nhà khảo cổ học người Anh là Cunningham, thì ở vào Ba gia phô (Bhagalpur) của Mạnh gia lạp (Bengal) hiện nay. Lại cứ theo sự khảo chứng của học giả Đức thị (N. L. Dey) thì giáo tổ của đạo Kì na là Đại hùng (Phạm: Mahàvira) cũng đã từng hoằng pháp tại nước này, cho nên đây là đất thánh của Kì na giáo và vẫn còn có nhà thờ Đại hùng. [X. kinh Trường a hàm quyển 3 - kinh Tăng nhất a hàm Q.1 phẩm Tựa, Q.48 kinh Hải bát đức - kinh Hiền ngu Q.5 phẩm Kim thiên - A dục vương truyện Q.1 - Cao tăng pháp hiển truyện - Phiên Phạm ngữ Q.8 - S. Hardy: Manual of Buddhism - A. Cunningham: Ancient Geography of India - N. L. Dey: The Geographycal Dictionary of Ancient and Mediaeval India - T. W. Rhys Davids: Buddhist India]. II. Chiêm ba quốc, còn gọi là nước Lâm ấp. Một nước xưa nằm về mạn nam Thuận hóa thuộc miền nam Việt nam. (xt. Lâm Ấp Quốc).
chiêm bao
Dream.
chiêm bà la
Jambhala or Jambhira (skt)—Chiêm Bộ La—Tên của một loài cây giống như cây chanh (hoa vàng và có mùi thơm tỏa ngát)—Name of a tree similar to the citron tree.
chiêm bái
To idolize, to worship, to bow in veneration.
; To adore.
Chiêm Bặc
(s, p: campaka, 薝蔔): âm dịch là Chiêm Bặc (瞻蔔), Chiêm Bặc Gia (瞻蔔加), Chiên Ba Ca (旃簸迦), Chiêm Bác Ca (占博迦), Chiêm Ba Ca (瞻波迦), Chiêm Ba (詹波、占波、瞻波), Chiêm Bà (占婆), v.v.; ý dịch là Kim Sắc Hoa Thọ (金色花樹), Hoàng Hoa Thọ (黃花樹), tên khoa học là Michelia champaka. Cây của nó cao, lá có tỏa ánh sang dịu, nở hoa màu vàng và có hương thơm. Da cây, lá, hoa và quả của nó được dùng làm hương liệu và dược liệu. Có thuyết cho rằng nó là loài hoa dành dành (梔, gardenia).
chiêm bặc ca
Campa or Campaka (skt)—Chiêm Ba Ca—Chiêm Bà—Chiêm Bác—Chiêm Bác Ca—Chiêm Bặc—Kim Sắc Hoa hay Mộc Lan, tên của một loại bông thơm màu vàng, hương thơm của nó lan tỏa rất xa—A yellow fragrant flower. Its fragrance spreading very far.
chiêm bặc hoa
Campaka (S)Một loại hoa cõi trời.
Chiêm bặc hoa 占匐華
[ja] センフケ senfuke ||| Transcription of the Sanskrit campaka, referring to a yellow flowering plant known for its powerful odor. Possibly a chrysanthemum. 〔道行般若經 224.8.471c12〕 => Phiên âm chữ campaka từ tiếng Sanskrit, là một loại cây có hoa vàng và mùi hương rất thơm. Có lẽ đó là một loại hoa cúc. Theo Đạo hành Bát-nhã kinh道行般若經.
chiêm bặc thụ
(瞻蔔樹) Chiêm bặc, Phạm,Pàli: Campaka. Còn gọi là Chiêm ba thụ. Chiêm bác ca thụ, Chiêm bà thụ. Dịch ý là cây hoa màu vàng, cây hoa vàng. Mọc ở vùng rừng núi nhiệt đới tại Ấn độ, cây cao lớn, mặt lá láng bóng, dài sáu, bảy tấc (Tàu), lá có phấn trắng và lông mềm - hoa màu vàng và thơm, rực rỡ như vàng, mùi thơm bay xa vài dặm, gọi là hoa Chiêm bặc, còn gọi Hoàng hoa, hoa kim sắc. Vỏ cây cũng tiết ra nhựa thơm, cùng với lá và hoa đều có thể dùng làm thuốc hoặc làm hương liệu. Hương thắp được chế từ hoa này, gọi là hương hoa chiêm bặc. [X. kinh Trường a hàm Q.18 - kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Phân biệt công đức - Tuệ lâm âm nghĩa Q.8 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].
chiêm bệnh
Xem bệnh hay khám bệnh—To examine a sick person medically.
chiêm bệnh ngũ đức
(瞻病五德) Còn gọi là Khán bệnh ngũ đức. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41 chép, thì năm phép của người khám bệnh là: 1. Biết người bệnh ăn được hay không ăn được, và vật có thể ăn được mới cho ăn. 2. Không e sợ những vật bẩn thỉu của người bệnh, như phân giải đờm dãi. 3. Đem lòng thương xót mà săn sóc người bệnh và không mong cầu người bệnh sẽ đền đáp lại. 4. Có khả năng điều chế thuốc thang đúng phép. 5. Có thể nói pháp cho người bệnh khiến họ vui vẻ, đồng thời cũng khiến cho pháp lành của chính mình do đó mà được tăng tiến. Lại cứ theo luật Ngũ phần quyển 20 chép, thì đức Phật đã từng xem bệnh cho vị Tỷ khưu đau ốm đã lâu, tự tay ngài tắm rửa kỳ cọ, giặt giũ quần áo, quét dọn chỗ ở, đỡ cho nằm xuống rồi nói pháp cho nghe - sau lại chế giới, bảo các đệ tử, thấy những người đau ốm, phải săn sóc cúng dường đúng như Phật, không khác. Lại kinh Phạm võng quyển hạ chép, trong các công đức, công đức săn sóc người bệnh là lớn hơn hết, thuộc đệ nhất phúc điền trong tám phúc điền. [X. luật Ma ha tăng kì Q.28 - Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Khán Bệnh).
chiêm bộ
See Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
chiêm diêm
See Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
chiêm lăng
(詹陵) Một nhà nho ở thời kỳ đầu đời vua Thế tôn (ở ngôi 1521-1566) nhà Minh. Năm sinh năm mất không rõ. Làm sách Dị đoan biện chính, thu lượm các bài luận nói xấu Phật giáo trong thời đại Đường, Tống rồi dựa vào đó mà công kích Phật giáo, phê phán Đạo giáo và cực lực bênh vực Nho giáo.
chiêm mạt la
Camara (skt)—Tên của vài loại cây ở Ấn Độ—Name of several plants in India.
chiêm nghiệm
To experiment.
chiêm ngưỡng
To look up at (s.o., sth) with respect.
; See Chiêm (2).
chiêm phong
Hy vọng có gió chân lý Phật pháp thổi đến để cứu độ—To hope for the wind of Buddha truth or aid.
chiêm sát
Một cách thanh lọc thánh thiện trong Mật giáo bằng cách trì mẫu tự “a” trong Phạn ngữ—A method of divination in the esoteric school by means of the sanskrit letter “a.”
; (占察) Phép xem bói. Trong Mật giáo, hành giả quán tâm mình là vừng trăng hoặc là hoa sen, trên đó quán chữ (a), biến chữ A thành viên ngọc báu như ý và khiến ngọc báu tràn đầy pháp giới, trong đó, đều hiện hết thảy tướng thiện ác và có thể biết phép bí mật lành, dữ, hoạ, phúc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4].
chiêm sát kinh
(占察經) Gồm hai quyển. Còn gọi Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh, Địa tạng bồ tát nghiệp báo kinh, Địa tạng bồ tát kinh, Đại thừa thực nghĩa kinh, Tiệm sát kinh. Do ngài Bồ đề đăng thời Tùy dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này do bồ tát Địa tạng tuân mệnh đức Phật, nói cho chúng sinh ở đời mạt pháp, muốn cầu pháp lành nghe. Quyển trên nói rõ về pháp xem xét nghiệp báo thiện ác, quyển dưới thuật rõ thực nghĩa của Đại thừa. Tức dùng những miếng gỗ tròn để xem xét nghiệp thiện ác của người ta ở kiếp trước và các việc khổ vui lành dữ ở hiện tại. Cách làm: Khắc từng điều một trong mười điều thiện, mười điều ác trên những miếng gỗ nhỏ tròn, và viết tên thân khẩu ý trên đó, rồi vẽ những nét dài ngắn sâu nông to nhỏ và mười tám chữ số từ một đến mười tám, đoạn cầm những miếng gỗ gieo xuống một vật sạch, rồi cứ theo các chữ hiện trên mặt gỗ mà xem lành hay dữ. Quyển dưới nói về phép quán thực nghĩa của Đại thừa, nghĩa là người muốn hướng tới Đại thừa thì, trước hết, phải biết cảnh giới nhất thực căn bản để tu hành, phương pháp học tập thì có hai loại phép quán là quán duy tâm thức và quán chân như thực. Nếu người tin và hiểu muốn tiến tới thì phải tu phép vãng sinh tịnh độ. Từ đời Tùy trở đi, rất nhiều người căn cứ theo kinh này mà tu phép diệt tội, đủ biết dân tục và tư tưởng Phật giáo tại Trung quốc đã kết hợp làm một. Có điều trước kia kinh này bị coi là kinh giả, vì chẳng rõ xuất xứ từ đâu, đến đời Đường thì mới được coi là kinh thật và được thu chép vào Đại chu san định chúng kinh mục lục, Khai nguyên thích giáo lục và truyền bá rất rộng. Sư Trí húc đời Minh có viết Chiêm sát kinh huyền nghĩa 1 quyển, Chiêm sát nghĩa sớ 2 quyển, Chiêm sát hành pháp 1 quyển, đều là chú sớ kinh này. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12 - Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10 - Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu].
Chiêm sát kinh 占察經
[ja] センザツキョウ Senzatsukyō ||| The Zhancha jing; popular shortened title for the Chanzha shane yebao jing 占察善惡業報經 => Tên gọi tắt và thông dụng của Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh占察善惡業報經.
Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh 占察善惡業報經
[ja] センザツゼンアクギョウホウキョウ Sensatsu zen'aku gyōhōkyō ||| The Chanzha shane yebao jing (Sutra on the Divination of the Effect of Good and Evil Actions); T 839.17.901c-910c. This text teaches the method of determining the effects of good and bad karma in the first fascicle, and in the second fascicle gives an explanation of the true meaning of Mahāyāna, comparable to the philosophy of the Awakening of Faith. Because of the content and writing style, it is thought that this text was originally composed in East Asia, rather than India. => Kinh nầy dạy phương pháp xác định nghiệp báo thiện ác trong quyển một, và trong quyển hai đưa ra giải thích ý nghĩa chân xác của Đại thừa, đối chiếu với tư tưởng trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Vì nội dung và văn phong như thế, nên người ta cho rằng kinh nầy có nguồn gốc biên soạn từ Á đông hơn là Ấn Độ.
Chiêm sát 占察
[ja] センザツ senzatsu ||| A method of divination in the Esoteric School, done using the Sanskrit letter "a." => Phương pháp bói toán của Mật tông, dùng mẫu tự A trong tiếng Sanskrit.
chiêm thú nã
Tchansuna (skt)—Thủ đô cổ của vương quốc Vrji, một vương quốc cổ nằm về phía Bắc Ấn Độ và phía Đông Nam xứ Né-Pal—An ancient capital of Vrji, an ancient kingdom north of the Ganges and southeast of Nepal.
chiêm tinh gia
Astrologer.
chiêm tinh thuật
(占星術) Tiếng Anh: Astrology. Là thuật dựa vào các ngôi sao để bói xem lành dữ. Tức là luật căn cứ theo vị trí và hình thái của các hành tinh và tinh tú để bói xem vận mệnh lành dữ tốt xấu của cá nhân và quốc gia. Cũng là một thuật phán đoán thiện ác. Từ nghìn xưa các nước đều có thuật này. Tại Ấn độ, sớm nhất, đã bắt đầu từ thời đại Lê câu phệ đà, trong các văn hiến Phệ đà rải rác đều có thấy ghi chép. Trong A thát bà Phệ đà có ghi chép nhiều loại phép chú có liên quan đến các vấn đề hiện thực, đồng thời, bắt đầu thấy xuất hiện tên của hai mươi tám vì tinh tú (Phạm: Awỉàvimzatinaksatràịi). Đến thời đại sách Thánh phú lan na (Phạm: Puràịa) của Ấn độ giáo, thấy xuất hiện một thuật chiêm tinh rất có phong cách Ấn độ. Cứ theo suy đoán thì thuyết hai mươi tám tinh tú của Ấn độ đã từ tây phương truyền sang - lại có thuyết bỏ sao Ngưu (Phạm: Abhijit- sao Chức nữ) đi mà thành thuyết hai mươi bảy sao, đó là đặc sắc của thuật chiêm tinh Ấn độ. Nhà chiêm tinh tiêu biểu là Duy lạp cáp mễ lạp (Phạm: Varàhamihira, 505-587), rất giỏi về Thiên văn học tây phương, viết hai cuốn sách Phổ lợi hách đặc tang hi đạt (Phạm: Bfhatsaôhità) và Phổ lị hách ca đạt ca (Phạm: Bfhajjàtaka) là tập đại thành của thuật chiêm tinh và sự phán đoán lành dữ ở thời xưa. Kinh Hạ nhĩ đô lạp ca như na ngõa đạt na (Phạm: Zàrdùlakarịàvadàna) đã được dịch ra Hán văn vào thế kỉ thứ III Tây lịch, rồi lần lượt có các kinh Ma đăng già (do Trúc luật viêm và Chi khiêm dịch chung), kinh Xà đầu giản thái tử nhị thập bát tú (do Trúc pháp hộ dịch), kinh này có liên quan đến Thiên văn học và Chiêm tinh thuật đương thời tại Ấn độ. Nội dung thuật rõ về tên gọi, số lượng, hình tướng, hành trình, vị trí của hai mươi tám vì sao, đồng thời nói rõ về vận số, tính cách, chức nghiệp của những người sinh dưới ảnh hưởng của sao nào thì sẽ như thế nào, và các việc lành dữ trong sinh hoạt hàng ngày. Kinh Đại tập ở thế kỉ thứ VI Tây lịch và các kinh điển Phật giáo khác, cũng có liên quan đến thuyết chiêm tinh. Lại sách Tất đàn đa (Phạm: Sidhànta) và Tây phương thập nhị cung hạm:ràzi) cũng đã xuất hiện vào thời kỳ này. Thuật chiêm tinh được tổ thành bởi hai mươi tám sao, bảy sao, mười hai cung, tức là nguồn gốc của thuật chiêm tinh được lưu hành tại Trung quốc và Nhật bản ngày nay, mà tác phẩm tiêu biểu là kinh Tú diệu do ngài Bất không (705-774) dịch. Đức Phật đã phản đối sự viện dẫn và vận dụng thuật chiêm tinh và bói toán lành dữ trong giáo nghĩa của Ngài. Nhưng, sau khi đức Phật nhập diệt, đến thời Mật giáo phát triển thì thuật chiêm tinh bèn trở thành một vấn đề trọng yếu. Tại Trung quốc và Ấn độ đều có nhiều pháp chiêm tinh. Đà la ni (dhàraịi) lấy việc cúng sao làm mục đích đã làm cho nhiều nghi thức tôn giáo phát đạt. Trong đó phải kể đến Bắc đẩu thất tinh hộ ma pháp của ngài Nhất hạnh (683-727) là nổi bật nhất. Tín ngưỡng Bắc đẩu thất tinh là theo thuyết Ngũ hành của Trung quốc mà Phật giáo thu dụng. Tại Nhật bản xuyên qua các kinh điển Hán dịch, rất nhiều phép Chiêm tinh của Ấn độ được truyền vào, nhất là thuật chiêm tinh do các tăng sĩ của Mật giáo ứng dụng, đã được nghi thức hóa và vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.20 phẩm Tam muội thần túc, Q.41 phẩm Tinh tú - kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.hạ - luận Đại trí độ Q.8 - Đại nhật kinh sớ Q.4]. (xt. Phật Giáo Thiên Văn Học).
chiêm tướng cát hung
(占相吉凶) Chỉ sự xem tướng. Một trong năm thứ tà mệnh trong Phật giáo. Đức Phật cấm chỉ các tỉ khưu học nghề xem tướng, đoán sự lành dữ tốt xấu cho người ta để cầu lợi dưỡng. (xt. Ngũ Tà Mệnh).
chiêm y
Ước lượng giá trị sở hữu của một vị Tăng đã thị tịch và phân phát cho những vị Tăng khác—To estimate the value of a deceased monk's personal possessions and to distribute them to the other monks.
Chiêm 瞻
[ja] セン sen ||| To look, to see. Observe. Look around, survey (vyavalokita). => Quan sát. Nhìn quanh, khảo sát (s: vyavalokita).
Chiêm-bác-ca 占博迦
[ja] センバカ senbaka ||| Transcription of the Sanskrit campaka. See 占匐華. 〔攝大乘論釋 1597.31.329c16〕 => Phiên âm chữ campaka từ tiếng Sanskrit. Xem Chiêm bặc hoa占匐華.
chiên dục ca
(旃育迦) Tên một ông vua tại Ấn độ xưa. Ra đời bảy trăm năm sau đức Phật nhập diệt, rất tin Phật pháp, làm lại tinh xá Kì viên. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 39 nói, thì Tinh xá Kì viên nguyên trước kia do Thái tử Kì đà và Trưởng giả Tu đạt cùng kiến tạo. Thời ấy chiếm khoảng tám mươi khoảnh đất (một trăm mẫu Tàu là một khoảnh) gồm có một trăm hai mươi tám viện, chiều đông tây khoảng mười dặm, chiều nam bắc hơn bảy trăm bước. Nhưng trải hơn hai trăm năm thì hoàn toàn bị thiêu rụi, rồi qua năm trăm năm sau mới có vua Chiên dục ca kiến thiết lại ở nguyên chỗ đất cũ. Nhưng trước kia mười phần thì nay làm lại không được một.
chiên già ma na
(旃遮摩那) Phạm: Ciĩca-mànavika. Còn gọi là Chiên xà ma, Chiên giá, Chiến giá, Hoài bàn nữ tử. Dịch ý là bạo chí. Chỉ người con gái Bà la môn ngăn trở việc độ chúng của đức Phật, nàng được xếp chung với Đề bà đạt đa, Cù già lê, Tôn đà lị. Khi đức Thế tôn thuyết pháp ở tinh xá Kì viên, danh tiếng của Ngài càng ngày càng nổi, ngoại đạo ghen ghét, ngầm sai người con gái này vào tinh xá, buộc bát gỗ ở bụng, giả làm có mang (chửa), đứng giữa đại chúng tuyên bố là người đang nói pháp đã tư thông với y thị, đứa con trong bụng là dòng họ Thích. Lúc ấy đại chúng ngơ ngác, chẳng biết thực hư ra sao, trời Đế thích bèn hóa ra con chuột trắng, chui vào áo của y thị, cắn đứt những sợi dây buộc, chiếc bát gỗ liền rơi ra, việc đã rõ ràng, đại chúng đều hoan hỉ. Khi ấy đất tự nhiên nứt ra, người con gái rơi xuống địa ngục A tị. Khi các ngài Pháp hiển, HuyềnTrang đến Ấn độ vẫn còn thấy dấu tích của cái hố sâu. [X. kinh Xuất diệu Q.10 phẩm Bài báng - Cao tăng pháp hiển truyện - Đại đường tây vực kí Q.6].
chiên niệm thị hiện
Adesana-pratiharya (S), Adesanapatiharia (P)Tha tâm thị hiện, Tha tâm luân, Quán tha tâm, Quán sát tha tâm thần túcDùng tha tướng, tha niệm,... để quán xét các pháp như tha ý, quá khứ, vị lai, hiện tại,...
chiên trụ la
Xem Chiên đỗ la.
chiên đà la
Xem Chiên đà lỵ.
; Candala (skt)—Giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Độ, dưới cả bốn giai cấp chính thức, gồm những dân chày, tội nhân và những tay mãi võ, vân vân—The lowest class in the Indian caste system, beneath even the lowest of the four formal castes. Its members are fishermen, jailers, slughterers, etc. ** For more information, please see Candala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (旃陀羅) Dịch âm từ tiếng Phạm: Caịđàla. Còn gọi là Chiên đồ la. Dịch ý là lửa hừng, dữ tợn, người hiểm độc, người bạo ác, người chủ việc giết chóc, người trị chó. Trong chế độ giai cấp của xã hội Ấn độ, Chiên đà la là giai cấp thấp nhất, dưới giai cấp Thủ đà la. Giai cấp này chuyên làm các nghề coi nhà tù, buôn bán, đồ tể, lưới cá v.v…... Cứ theo pháp điển Ma nô chép, thì Chiên đà la là chỉ giống người lai, cha là Thủ đà la, mẹ là Bà la môn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 (Đại 2, 636 thượng), nói: Hoặc có người sinh vào nhà ti tiện hoặc giống Chiên đà la, hoặc giống ăn thịt người, hoặc giống làm thợ thuyền. [X. kinh Pháp hoa phẩm An lạc hạnh - kinh Quán vô lượng thọ - luật Thập tụng Q.9]. (xt. Tứ Tính).
chiên đà la (chủng)
Candala (S). Lowest caste in India, outcast, untouchable. Also cùng đinh.
chiên đà la cấp đa
(旃陀羅笈多) Phạm: Candragupta. Dịch ý là Nguyệt hộ. Người mở ra Vương triều Khổng tước tại Ấn độ, ở ngôi khoảng từ 316 đến 293 trước Tây lịch. Xuất thân từ Vương triều Nan đà (Phạm: Nanda) của nước Ma yết đà (Phạm: Magadha) vốn thuộc giai cấp hạ tiện. Vào khoảng năm 317 trước Tây lịch, cất quân từ mạn tây bắc, tiến công khu vực Ma yết đà, đánh vua đời thứ chín của Vương triều Nan đà là Đạt nạp nan đà Phạm: Dhanananda), lật đổ Vương triều Nan đà, rồi thôn tính luôn các nước lân cận mà lập nên vương triều Khổng tước. Năm 305 trước tây lịch, vua nước Tự lị á (Syria) là Tây lưu khắc tư (Seleukos) đệ nhất xâm nhập Ấn độ và bị đẩy lui, lại phải cắt nhượng các vùng đất nay là A phú hãn, vì thế, bản đồ đế quốc Chiên đà la cấp đa, phía bắc đến núi Hi mã lạp nhã, phía nam chạy dài xuống mãi khu vực phương nam, phía đông đến eo biển Mạnh gia lạp (Bengal), phía tây đến biển A lạp bá (Arabian sea) và dãy núi Hưng đô khố thập, là một đại đế quốc thống nhất đầu tiên tại Ấn độ, lấy Ba la lị phất đa la (Phạm: Pàỉaliputra Hoa thị, nay là thành phố Patna) làm thủ đô. Chiên đà la cấp đa là ông vua vĩ đại của Ấn độ, là anh hùng dân tộc. Sự thành công của ông phần lớn nhờ ở tài mưu lược, khôn ngoan của Tể tướng Chànakya. Lại giao thiệp rất thân thiện với Vương triều Tây lưu khắc tư ở phương Tây mà đã từng cử đại sứ Mĩ gia tô đắc ni tư Megasthenès, khoảng 350-290) đến Ấn độ, ở tại thủ đô của Vương triều Khổng tước. Trong thời gian lưu trú tại Ấn độ, ông có viết Kiến văn lục (Ấn độ chí Ta Indika) là tư liệu rất quí báu để hiểu rõ tình huống của Ấn độ thời bấy giờ. Hình như vua Chiên đà la cấp đa tin dùng Kì na giáo. Người nối ngôi ông là Tân đầu sa la (Phạm: Bindusàra), con ông, và vua A dục là cháu đích tôn của ông.
chiên đà la cấp đa nhất thế
(旃陀羅笈多一世) Phạm: Candragupta I Là người khai sáng triều đại Cấp đa (Cấp đa, Phạm: Gupta, dịch âm là Cổ phổ tháp) vào thế kỉ thứ IV Tây lịch, ở ngôi từ năm 320 đến 330 Tây lịch, tổ phụ nguyên là một tiểu vương ở khu vực Ma yết đà, kết hôn với công chúa Khố mã lạp đức duy (Phạm: Kumàra Devi) thuộc chủng tộc Lí tra phệ, thế lực nhân đó mà được bành trướng. Thủ đô là Ba la lị phất đa la (Pàỉaliputra). Lúc đầu xưng hiệu là Đại vương của các vua chúa (Phạm: Mahàràjàdhiràja). Về sau thôn tính các nước lân cận, chiếm cứ địa phương trung du sông Hằng, đặt định nền móng cho đế quốc Cấp đa. Năm ông lên ngôi (320) là kỉ nguyên Cấp đa trọng yếu về mặt niên đại học. Con ông là Sa mẫu đà la cấp đa (Phạm: Samudragupta) sau nối ngôi ông.
chiên đà la cấp đa nhị thế
(旃陀羅笈多二世) Phạm: Candragupta II. Tức là vua Siêu nhật. Còn gọi là Duy khắc lạp mã đệ đặc á (Phạm: Vikramàditya). Ở ngôi từ năm 380 đến năm 414 Tây lịch. Là vua đời thứ 3 của Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) kế thừa sự nghiệp viễn chinh vĩ đại của vua cha Sa mẫu đà la cấp đa, tiêu diệt các tỉnh Tây tát đà phổ, sát nhập các đất Mã lạp ngõa, Ô chiêm và Phổ lạp nhã cách vào vương triều Cấp đa. Ngoài bán đảo phía nam và tây nam Ấn độ ra, đại bộ phận đất đai trên bản đồ Ấn độ là thuộc vương triều Cấp đa vào thời kỳ thịnh nhất. Cao tăng Pháp hiển của Trung quốc đã đến Ấn độ vào đúng thời gian này (405-411). Thời đó, có Ca lí đà sa Phạm: Kalidasa), được gọi là Thánh thơ, là người tiên khu của thời đại Hoàng kim của nền văn hoá triều Cấp đa.
Chiên Đà La hay Chiên Trà La
(s, p: caṇḍāla, 旃陀羅 hay 旃茶羅): âm dịch là Phiến Đề La (扇提羅), Chiên Đề La (旃提羅); ý dịch là nghiêm xí (嚴熾), bạo ác (暴惡), đồ giả (屠者), sát giả (殺者). Đây là tên gọi của một giai cấp hèn hạ, thấp kém nhất trong các giai cấp của Ấn Độ ngày xưa. Nó còn thấp hơn giai cấp Thủ Đà La (首陀羅, śūdra). Theo Ấn Độ Giáo, họ là hạng người lấy giai cấp Thủ Đà La làm cha, lấy giai cấp Bà La Môn làm mẹ mà sanh ra. Họ và con cháu họ chuyên sinh sống bằng săn bắt, nghề đồ tể, hay thủ ngục, v.v.
chiên đà lỵ
Candala (S)Giai cấp bị coi là hạ tiện trong xãhội Ấn thời xưa. Nam gọi là Chiên đà la (Candala), nữ gọi là Chiên đà lỵ.
chiên đà việt quốc vương kinh
Cadrapati sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Chiên Đàn
(s, p: candana, 栴檀 hay 旃檀): âm dịch là Chiên Đàn Na (栴檀那), Chơn Đàn (眞檀), là tên của một loại cây có hương thơm ở các vùng nhiệt đới như Ấn Độ, v.v. Nó là loại thực vật, cây rất to lớn, cao đến mấy trượng, gỗ của nó có mùi thơm ngào ngạt, thuộc khoa Sơn Trà (山茶). Người ta thường dùng nó để tạc tượng Phật và Bồ Tát, còn rễ của nó thì nghiền thành bột làm hương. Có các loại như Hoàng Đàn (黃檀), Bạch Đàn (白檀), Xích Đàn (赤檀), Tử Đàn (紫檀), v.v., phần lớn được dùng làm thuốc. Như cây Bạch Đàn thì trị bệnh sốt, còn Xích Đàn thì trị phù thủng. Nếu nói về hương thì loại Bạch Đàn là thơm nhất. Trong Ngũ Khổ Chương Cú Kinh (五苦章句經, hay Tịnh Trừ Tội Cái Ngu Lạc Phật Pháp Kinh [淨除罪盍娛樂佛法經], do Trúc Đàm Vô Lan [竺曇無蘭] nhà Đông Tấn dịch) có giải thích về loại thực vật quý hiếm này rằng: “Mạc quá Chiên Đàn, kỳ hương vô lượng, hương giá quý ư Diêm Phù Đề kim; hựu liệu nhân bệnh, nhân hữu trú độc, đầu thống thể nhiệt, ma chiên đàn tiết, dĩ đồ kỳ thượng; nhược dĩ phục chi, bệnh tức trừ dũ, nhất thiết chúng sanh, mạc bất nguyện đắc; hữu nhân đại đắc Chiên Đàn Hương thọ, thúc tân mại chi, vô mãi chi giả; Phật tại thế thời, sở thuyết kinh pháp, linh nhân đắc đạo, vô bất độ giả; bát Nê Hoàn hậu, thập nhị bộ kinh, lưu tại thế gian, động hữu quyển số, vô nhân thị giả, diệc như Chiên Đàn, thúc tân mại chi, vô hữu mãi chi giả dã (莫過栴檀、其香无量。其香無量、香价贵于阎浮提金。香價貴於閻浮提金、又疗人病。又療人病、人有中毒。人有中毒、头痛体热。頭痛體熱、磨栴檀屑。磨栴檀屑、以涂其上。以塗其上、若以服之。若以服之、病即除愈。病卽除愈、一切众生。一切眾生、莫不愿得。莫不願得、有人大得栴檀香树。有人大得栴檀香樹、束薪卖之。束薪賣之、无买之者。無買之者、佛在世时。佛在世時、所说经法。所說經法、令人得道。令人得道、无不度者。無不度者、般泥洹后。般泥洹後、十二部经。十二部經、留在世间。留在世間、动有卷数。動有捲數、无人视者。無人視者、亦如栴檀。亦如栴檀、束薪卖之。束薪賣之、无有买之者也。無有買之者也, chớ có xem thường Chiên Đàn, hương thơm của nó vô lượng, hương giá quý như vàng của cõi Diêm Phù Đề; lại có thể trị được bệnh con người, có người trúng độc, đầu đau thân thể phát nóng, mài bột Chiên Đàn, đem thoa lên chỗ đau nhức; nếu uống nó vào, bệnh tức giảm ngay; hết thảy chúng sanh, nên cầu nguyện để có được; có người may được một cây Chiên Đàn Hương, bó thành củi đem bán, chẳng ai mua nó cả; khi đức Phật còn tại thế, các kinh pháp do ngài thuyết, giúp người đắc đạo, chẳng ai không được độ; sau khi ngài nhập Niết Bàn, mười hai bộ kinh, lưu lại thế gian, có rất nhiều quyển, chẳng ai dòm ngó đến; cũng như Chiên Đàn, bó thành củi đem bán, chẳng ai thèm mua cả vậy).”
chiên đàn
Candāna (S)Một thứ gỗ thơm ở núi ma la da nam Ấn.
; Ghanda Candana (S). Santal wood.
chiên đàn hương bích chi phật
Candanagandha-Pratyeka-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; (旃檀香辟支佛) Phạm: Candana-gandha-pratyekabuddha. Tên đức Phật trong Thai tạng giới của Mật giáo. Là Lân dụ độc giác trong bốn Duyên giác. Được bày vào vị trí thứ tám ở đầu phía bắc trong viện Thích ca trên Thai tạng giới mạn đồ la. Mật hiệu là Thanh hương kim cương. Hình tượng ngài hơi gầy (ốm) toàn thân màu vàng ròng, ca sa trùm cả hai vai, tay phải cầm chéo ca sa, bàn tay trái duỗi thẳng quay ra ngoài, ngồi trên hoa sen đỏ. [X. kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên - Chư thuyết bất đồng kí Q.7 - Thai tạng thất tập Q.trung].
chiên đàn hương phật
Xem Đa ma La bạt chiên đàn hương Phật.
Chiên đàn hương thân đà-la-ni kinh 栴檀香身陀羅尼經
[ja] センタンコウシンダラニキョウ Sendankōshin daranikyō ||| The Zhantan xiang shen tuoluonijing; Skt. Candanāṅga; Tib. tsandan gyi yan lag [To 518/857]; (Dhāraṇī of the Sandalwood Limb). 1 fasc. (T 1387.21.906), trans. Faxian 法賢. => (c: Zhantan xiang shen tuoluonijing; s: Candanāṅga; t: tsandan gyi yan lag; e: Dhāraṇī of the Sandalwood Limb). 1quyển; Pháp Hiền dịch.
Chiên đàn hương 栴檀香
[ja] センタンコウ sentankō ||| The fragrance of sandalwood; sandalwood incense. => Mùi hương của cây chiên đàn. Nhang bằng chiên đàn.
chiên đàn kế nễ trá vương
(旃檀罽昵咤王) Tức là vua Ca nhị sắc ca của nước Nguyệt chi. Uy đức rất lớn, chí khí hùng mạnh, anh dũng hơn đời, không ai địch lại được. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên quyển 5 chép, thì nhà vua chinh phục thành Hoa thị, khi nghị hòa, đòi thành Hoa thị phải bồi thường chín ức vàng, vua thành Hoa thị đem bồ tát Mã minh và chiếc bát của đức Phật để thay thế, nhà vua cả mừng và rút quân về nước. Nhà vua hết sức hộ trì Phật giáo, trong đó có việc kết tập kinh điển là nổi tiếng nhất. (xt. Ca Nhị Sắc Ca Vương).
chiên đàn nhĩ
(旃檀耳) Pàli: Sùkara-maddava. Cũng gọi là Đàn nhĩ, Đàn nhung, Đàn thụ nhĩ. Là mộc nhĩ sinh từ cây Chiên đàn. Thời xưa ở Ấn độ, thông thường loại mộc nhĩ này được coi là thứ thực vật trân quí hiếm có trên đời. Cứ theo Trường a hàm quyển 3 kinh Du hành chép, thì ngày xưa đức Phật ở trong vườn Xà đầu tại thành Ba bà, vì con của người thợ rèn là Chu na (Phạm, Pàli: Cunda) mà nói pháp. Chu na nghe pháp xong vui mừng tin chịu, bèn thỉnh đức Phật ngày hôm sau đến nhà để nhận sự cúng dường. Ngày ấy đức Phật và chúng đệ tử đến nhà, Chu na dâng canh nấu với mộc nhĩ chiên đàn, khi ấy đức Phật bảo Chu na đừng dâng canh cho các vị tỉ khưu khác. Đức Phật ăn xong lại nói pháp, đến nửa đêm thì nhập Niết bàn. Nhưng cứ theo kinh Đại ban niết bàn bản Pàlinói, thì Chu na dâng Sùkara-maddava cúng dường Phật, các học giả Tây phương căn cứ vào danh từ Pàli này mà khảo chứng, thì thấy rằng, Sùkaradịch là lợn (heo) - Maddava, hàm ý là khô. Như vậy Sùkara-maddava giải thích là thịt lợn rừng khô. Cũng có thuyết giải thích là một loại thịt lợn rừng mềm. Song, cứ theo sự nghiên cứu khảo chứng của nhà học giả về Ấn độ học của Nhật bản là Cao nam thuận thứ lang, thì tiếng Pàli Maddava, là tiếng Phạm Màrdava, hàm ý là vị ngon trân quí. Cho nên ông giải thích đó là một thứ có vị ngon quí mà lợn rừng thích ăn, tức là một loại thực vật được gọi là nấm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 - Tây tạng truyền Ấn độ Phật giáo lịch sử Q.thượng - Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết].
chiên đàn thuỵ tượng
(旃檀瑞像) Tượng đức Phật Thích ca bằng gỗ chiên đàn do vua Ưu điền tạo thành. Sau khi đức Phật thành đạo, ngài lên cung trời Đao lị ba tháng nói pháp cho mẫu hậu nghe, vua Ưu điền nước Kiều thưởng di, khó ngăn được nỗi nhớ nhung, bèn thỉnh Tỳ thủ yết ma thiên, dùng gỗ chiên đàn đầu trâu tạo hình tượng Phật, đó là pho tưọng Phật đầu tiên. Đồng thời với vua Ưu điền tạo tượng bằng gỗ chiên đàn, vua Ba tư nặc cũng tạo tượng bằng vàng. Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, tinh xá lớn ở nước Kiều thưởng di cao sáu mươi thước, trong đó để tượng chiên đàn do vua Ưu điền khắc. Khi ngài Huyền trang tây du đã từng lễ bái tượng này và có khắc tượng phỏng theo đó để mang về. Lại vua Vũ đế nhà Lương đã từng nằm mộng thấy tượng Phật Thích ca dời về phương đông. Niên hiệu Thiên giám năm đầu (502), sai Hác kiển, Tạ văn hoa, gồm tám mươi tám người đến nước Xá vệ Ấn độ để cầu thỉnh. Năm Thiên giám thứ 10 (511) pho tượng khắc phỏng theo tượng của vua Ưu điền tạc đã được đưa về đến nơi, nhà vua sai trăm quan đón rước vào điện Thái cực để cúng dường. Thời Nguyên đế, vua dựng chùa Đại minh tại Kinh châu ở phía bắc thành để tôn thờ. Lương cao tăng truyện quyển 1 mục Trúc pháp lan chép, thời vua Minh đế nhà Hậu Hán, nhóm ông Sái am đi sứ phương Tây, được tượng vẽ của Phật Thích ca mang về, Minh đế sai thợ vẽ vẽ lại để trong đài Thanh lương và trên lăng Hiển tiết, tượng ấy hiện nay đã không còn. Nếu những điều nói trên đây là thực, thì đó là tượng Phật có sớm nhất tại Trung quốc. Kế đó là tượng do ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần khi đông du mang đến. Tượng này xưa nay rất linh nghiệm, đời đời truyền nối, trong triều ngoài nội đều tôn sùng, trải bốn triều Tống, Tề, Lương, Trần thờ phụng ở chùa Long quang tại Giang nam. Đời Tùy dời đến chùa Trường lạc tại Dương châu, khoảng đời Ngũ đại, nhà Nam đường đóng đô ở Kim lăng, dời tượng này đến chùa Trường tiên, đầu đời Bắc Tống để ở viện Vĩnh an của chùa Khai bảo tại Biện kinh - thời Thái tôn được rước vào điện Tư phúc để cúng dường rồi sau đó làm chùa Khai thánh ngoài cửa Tây hoa để tôn thờ. Đời Nguyên thờ trong đại nội, đầu đời Thanh rước vào chùa Linh phong - năm Khang hi thứ 5 (1666) dời đến chùa Hoằng nhân. Trong cuộc loạn năm Canh tí (1900) chùa bị đốt, không biết cuối cùng pho tượng này ra sao. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28].
chiên đàn thụ
(旃檀樹) 1. Cây chiên đàn. Chiên đàn, Phạm, Pàli: Candana. Còn gọi là Chân đàn thụ, Chiên đàn na thụ, Chân đàn. Bản thảo cương mục gọi là Bạch đàn, Đàn hương. Thuộc họ đàn hương. Là loại cây xanh luôn, thân cao vài trượng, gỗ thơm phức, có thể dùng để chạm trổ - rễ nghiền thành bột, có thể dùng làm hương thắp, hoặc chế dầu thơm, lá dài độ năm phân tây, đầu nhọn, mọc đối nhau, hoa có từng ngăn một. Hột trong quả lớn bằng hạt đậu tằm, khi chín thì đen, có nhiều dầu và rất cứng. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 bảo có mấy loại đỏ, trắng và tía. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 21, dẫn Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng nói, đàn trắng có thể chữa bệnh nhiệt, đàn đỏ có thể trừ bệnh phù, đều có khả năng trị bệnh, bởi thế còn dịch là cho niềm vui. Còn có chiên đàn đầu trâu (Phạm: Gozìwa-candana) đàn lòng rắn (Phạm: Uragasàra-candana). 2. Loại chiên đàn ở núi Ngưu đầu, màu vàng tro, mùi thơm ngào ngạt, người xưa dùng tạc tượng Phật, như vua Ưu điền dùng gỗ thơm này để khắc tượng Phật, khắp đời nghe tiếng - loại lòng rắn còn được gọi là chiên đàn ô lạc ca, vì nó đặc biệt trừ được nọc rắn độc, cho nên gọi đàn lòng rắn. [X. Trung a hàm Q.34 Dụ kinh - luận Đại trí độ Q.10 - Đại đường tây vực kí Q.2, Q.10]. (xt. Ngưu Đầu Chiên Đàn).
chiên đàn tân tận
(旃檀薪盡) Củi chiên đàn đã hết. Chỉ cho việc đức Phật đã vào Niết bàn. Củi chiên đàn được dùng để đồ tì (hỏa thiêu) đức Phật, cho nên nói việc đức Phật diêt độ cũng như củi hết thì lửa tắt. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tựa].
chiên đàn yên
(旃檀烟) Chỉ sự đồ tì đức Phật. Đồ tì , hàm ý là hỏa táng. Chiên đàn được dùng làm củi để hỏa thiêu đức Phật, khi đốt khói bốc lên, cho nên goị là Chiên đàn yên (khói chiên đàn) gọi thay cho sự đồ tì đức Phật.
Chiên đàn 栴檀
[ja] センタン sendan ||| A transliteration of the Sanskrit/Pali candana, translated into English as sandalwood. It is a tree whose bark is used as a medicinal herb, as well as for incense. => Phiên âm chữ candana từ tiếng Sanskrit và Pali, dịch sang Anh ngữ là sandalwood. Là một loại cây có vỏ dùng làm dược thảo, và làm nhang.
chiên đỗ la
Catura (S)Chiến đầu la, Chiên trụ la, Đề đồ laMột trong 12 bộ tướng của Dược Sư Phật.
chiên-đà-la
phiên âm từ Phạn ngữ là candla, chỉ những người bị xem là hạ tiện nhất ở Ấn Độ vào thời đức Phật, thậm chí không được xem là một giai cấp. Xã hội thời ấy có bốn giai cấp, hay bốn chủng tộc là: sát-đế-lỵ (hàng vua chúa, quan tướng), bà-la-môn (hàng tu sĩ, thầy tế), phệ-xá (Vaisya, hàng trưởng giả, phú hộ), thủ-đà-la (hàng thợ thuyền, nông dân hoặc thương nhân buôn bán nhỏ). Ngoài bốn giai cấp ấy, còn một hạng bị xem là hạ tiện, không đáng kể đến, đó là hạng chiên-đà-la. Xem thêm bốn giai cấp.
Chiên-đàn
栴檀; C: zhān tán; J: sendan; |Phiên âm chữ candana từ tiếng Phạn và Pāli, dịch sang Anh ngữ là sandalwood. Là một loại cây có vỏ dùng làm dược thảo, và làm nhang.
Chiên-đàn hương
栴檀香; C: zhāntánxiāng; J: sentankō; |Hương của cây chiên đàn. Nhang bằng chiên đàn.
Chiên-đàn hương thân đà-la-ni kinh
栴檀香身陀羅尼經; C: zhāntán xiāng shēn tuóluóníjīng; J: sendankōshin daranikyō; S: candanāṅga; t: tsandan gyi yan lag;|1 quyển, Pháp Hiền dịch.
chiên-đàn Ngưu Đầu
Phạn ngữ là Goỵrṣaka-candana, là một loại chiên-đàn cực quý, chỉ có ở núi Ngưu Đầu, nên gọi là chiên-đàn Ngưu Đầu. Ngọn núi này cao vút, đỉnh có hình giống đầu trâu nên gọi là núi Ngưu Đầu. (Theo Danh nghĩa tập名義集-, quyển 3) Theo Trí độ luận quyển 18 thì ngoài ngọn núi này ra không còn nơi nào khác có thể tìm được loại gỗ thơm chiên-đàn này.
Chiêu
昭; C: zhāo; J: shō;|Rõ ràng. Chói sáng.
chiêu
Call, to invite to come, beckon, notify; cause; confess.
chiêu an
To proclaim an amnesty; to calm, quiet, still.
chiêu bài
Signboard, label. Dưới chiêu bài ái quốc under the label of patriotism.
chiêu cảm
To attract.
chiêu dụ
To reassure, cheer, hearten; to restore s.o. to serenity.
chiêu huyền thập thống
(昭玄十統) Tên gọi một chức quan tăng được đặt ra ở đời Bắc Tề. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 8 Pháp thượng truyện chép, thì vào năm Thiên bảo thứ 2 (551) vua Văn tuyên nhà Bắc Tề đặt ra chức Thập thống, sai Pháp thượng làm đầu Thập thống, gọi là Chiêu huyền đại thống, cũng gọi là Chiêu huyền thống, còn chín người kia thì gọi là Thông thống, nói gộp lại là Chiêu huyền Thập thống. Chín người Thông thống đa số là học trò của ngài Pháp thượng và của ngài Tuệ quang, bậc thạc đức luật học thời bấy giờ.
chiêu huyền tự
(昭玄寺) Còn gọi là Chiêu huyền tào. Là quan thự do Bắc triều thiết lập để cầm đầu tăng giới vào thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ VI Tây lịch. Sau pháp nạn diệt Phật của Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, Văn thành đế lên nối ngôi, niên hiệu Hưng an năm đầu (452), hạ lệnh phục hưng Phật giáo, đồng thời, đặt Giám phúc tào làm cơ cấu Tăng quan trung ương, tăng quan chủ sự lấy Đạo nhân thống làm chánh, Đô duy na làm phó. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), đổi là Chiêu huyền tự, đặt một Đại thống, một Thống, ba Đô duy na và các viên Tào công, Chủ bạ để thống nhiếp các Sa môn tào và Châu thống, Quận thống, Huyện thống tại các châu, và phán quyết các Tăng Ni phạm tội. Các đời Bắc triều đều dùng theo chế độ này, có sửa đổi đôi chút. Nhưng Nam triều thì không dùng các danh xưng như trên, mà đặt ra các Tăng quan gọi là Tăng chính, Tăng chủ, Pháp chủ. Đời Tùy đổi Chiêu huyền tự làm Sùng huyền thự, đặt dưới Hồng lô tự (là cơ cấu tiếp đãi khách nước ngoài và những người đến triều cống), đến đời Đường cũng có đặt Sùng huyền thự. [X. Tùy thư bách quan chí thứ 22]. (xt. Tăng Quan, Quản Thuộc Tăng Ni).
chiêu họa
To bring evil or calamity on oneself.
chiêu hồn
To call home the soul of s.o.; to invite the spirit of s.o. to return home; to invoke, call forth a spirit.
; To call up a spirit.
chiêu hồn pháp
(招魂法) Là phép tu bí mật để trừ linh hồn tác quái và cầu sống lâu. Còn gọi là Chiêu hồn tác pháp, Diên mệnh chiêu hồn pháp, Khứ thức hoàn lai pháp. Cứ theo kinh Đại giáo vương (bản ba mươi quyển) quyển 14 chép, thì khứ thức hoàn lai, có nghĩa là tâm thức y vào thân mà trụ, cho nên không thể lìa thân mà đi một mình, sự sống của kiếp này sắp hết, thì thức, tâm do nghiệp kiếp trước cảm được cũng sắp diệt, lúc này dùng sức Khế ấn chân ngôn gia trì, giúp cho các nghiệp trước, khiến cho thức, tâm đi và đến nối nhau mà kéo dài sự sống của kiếp này, giống như cái mà sách ngoài nói là phản hồn (hồn trở lại), cho nên cũng gọi là Chiêu hồn pháp. Xuất tam tạng kí tập quyển 5 tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục, có ghi kinh Quán đính độ tinh chiêu hồn đoạn tuyệt phục liên 1 quyển. Kinh Quán đính quyển 12 có ghi Tục mệnh pháp. Lại cứ theo pháp uyển châu lâm quyển 97 chép, thì phép chiêu hồn phổ thông là đem quần áo của người chết đắp lên xác chết để gọi hồn phách. [X. Chư kinh yếu tập Q.19].
Chiêu Khánh Tỉnh Đăng
(招慶省僜, Shōkei Shōtō, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Tống, còn được gọi là Văn Đăng (文僜), pháp từ của Bảo Phước Tùng Triển (保福從展) ở Chương Châu (漳州), hiệu là Tịnh Tu Thiền Sư (淨修禪師). Ông đã từng sống tại Chiêu Khánh Viện (招慶院), Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến).
chiêu minh thiền tự
(昭明禪寺) Chùa trên ngọn Ngọc bình núi Thiên mục nằm về mạn đông huyện Lâm an tỉnh Chiết giang. Thái tử Chiêu minh nhà Lương sáng lập chùa này để làm nơi tu thiền, thời ấy gọi là Chiêu minh viện, sư Bảo chí cũng đã từng chú tích tại đây. Tương truyền khoảng năm Đại thông (527-528) đời Lương được ban hiệu Chiêu minh thiền tự, Đường, Tống trở đi trải bao hưng phế, sau bị thiêu hủy vào cuối đời Nguyên. Năm Hồng vũ thứ 10 (1377) đời Minh đựơc làm lại, các sư Vô thú Như không triều Minh, Độc siêu, Đạo nguyên đời Thanh đã từng ở đây. Năm Hàm phong 11 (1861) bị quân Thái bình thiên quốc phá hủy thành là một đống gạch ngói tan hoang. Về sau sư Trí hải, Đốn giác và đệ tử là Tĩnh năng Viên tham, từ phía tây núi Thiên mục đến, lần lượt sửa sang và dần dần đã khôi phục được cảnh cũ. Trong chùa có Đại hùng bảo điện, điện Vi đà, gác Nghìn Phật, lầu để kinh v.v..…. gác Nghìn Phật là do Bảo phương kiến thiết, trong đặt một nghìn pho tượng Phật bằng đồng mầu vàng từ thời Tống, Nguyên. [X. Thiên mục sơn danh thắng chí (Tiền văn soạn)].
chiêu minh thái tử
(昭明太子) (499-529) Là con trưởng của vua Vũ tiêu diễn đời Nam triều Lương, tên là Thống, tự Đức thi. Sinh ra đã thông minh, ba tuổi học Hiếu kinh, Luận ngữ, năm tuổi đọc khắp năm kinh. Niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) được lập làm Hoàng thái tử. Vũ đế phát triển Phật giáo, Thái tử cũng tin sâu Phật pháp, thụ giới Bồ tát, giữ gìn nghiêm cẩn, xem khắp các kinh, suy cứu giáo chỉ. Ông lập riêng điện Tuệ nghĩa ở trong cung, thỉnh các vị cao tăng vào giảng diễn bàn luận. Niên hiệu Phổ thông năm đầu (520), tháng 4, điện Tuệ nghĩa mưa Cam lộ. Thái tử soạn Giải nghĩa nhị đế, bàn về chân tục, cảnh mê ngộ. Thái tử là người hiếu kính chân thành, đối với những kẻ phạm tội, phần nhiều rộng rãi tha thứ, thiên hạ đều cho là có lòng nhân từ, hơn hai mươi năm không nghe đàn hát, thường mời các nhà văn học vào thảo luận kinh sách, trong Đông cung tàng trữ có đến ba vạn cuốn sách, từ đời Tấn, Tống đến nay, thật là một việc ít có. Tháng 3 năm Đại thông thứ 3 Thái tử lâm bệnh, đến tháng 4 thì mất, hưởng dương ba mươi mốt tuổi. Trong triều ngoài nội ai cũng thương tiếc. Thụy hiệu Chiêu minh. Tác phẩm có Văn tập 20 quyển, còn biên soạn Cổ kim điển cáo văn ngôn chính tự 10 quyển, Anh hoa tập 20 quyển, Văn tuyển 30 quyển. [X. Lương thư Q.8 - Cư sĩ truyện Q.9].
chiêu như
(昭如) (1276-1312) Vị tăng tông Lâm tế đầu đời Nguyên. Người Tân cam, Giang tây, họ Dương. Bảy tuổi học Phật tại viện Hương thất chùa Kiến hưng ở quê nhà, mười chín tuổi xuống tóc, năm sau thụ giới. Lần lượt bái yết các sa môn Trí minh, Tổ khâm ở Tuyết nham. Năm Chí nguyên 19 (1282), sư nhận làm Thủ tọa Ngưỡng sơn. Về sau sư ở các chùa Hưng hóa thiền tự tại Thái bình, Tuệ lực thiền tự trên núi Thụy quân, Tiến phúc thiền tự ở Đông hồ. Năm Nguyên trinh thứ 2 (1296) sư được ban hiệu Phổ chiếu đại thiền sư. Tháng 6 niên hiệu Hoàng khánh năm đầu nhập tịch, thọ sáu mươi bảy tuổi. Có Hải ấn hoà thượng ngữ lục lưu hành ở đời. Lý thích, Tăng đức dụ soạn bài minh tháp. [X. Hải ấn hòa thượng ngữ lục phụ tháp minh].
chiêu oán
To draw hatred upon oneself
chiêu thiền tự
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong làng Yên Lãng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 4 dậm về phía tây. Chùa còn gọi là Chùa Láng. Chùa được xây từ thời vua Lý Anh Tông (1138-1175), và đã được trùng tu nhiều lần. Kiến trúc chùa hiện nay là do lần trùng tu vào giữa thế kỷ thứ 19. Trong chùa, ngoài các pho tượng Phật, có đặt thờ tượng vua Lý Thần Tông và tượng Thiền Sư Từ Đạo Hạnh. Chùa chẳng những là một trong những danh lam thắng cảnh của miền Bắc Việt Nam, mà còn là một nhóm kiến trúc rất đẹp. Cổng vào là một hàng bốn cột hoa kiểu bằng gạch với ba mái cong thanh thoát, qua cổng chùa là sân lót gạch bát tràng, cuối sân là cổng tam quan, có nhà bát giác, nơi đặt tượng Thánh khi làm lễ dâng hoa trong những ngày lễ hội—Name of a temple, located in Yên Lãng village, Láng Thượng quarter, Đống Đa district, about 4 miles west of Hanoi. It is also called Chùa Láng. The temple was first built during the period of King Lý Anh Tông (1138—1175), and has been rebuilt many times. The present structure was chosen when it was rebuilt in the middle of the nineteenth century. Besides the Buddha statues, the statues of King Lý Nhân Tông and Ch'an Master Từ Đạo Hạnh are placed and worshipped in the temple. Chiêu Thiền Temple is not only one of the most famous sceneries of North Vietnam, but it is also a beautiful architecture complex. On the gateway there is a row of four flower-shaped pillars made of brick, with three elegant, curved up roofs. Going through the gateway, one can find front yard paved with tiles from Bát Tràng village. At the end of the yard is the three-entrance gate where the octagonal house was built to worship the Holy Personages' statues placed when the ceremony of flower offering begins the festival.
chiêu đãi
To entertain.
chiêu đường
(昭堂) Chỉ nhà Khai sơn. Đối lại với nhà Tổ sư. Nhật bản gọi nhà thờ các tổ sáng lập (khai sơn) ra các chùa, các am là Chiêu đường. Nguồn gốc có lẽ noi theo chế độ Chiêu mục đường. của Trung quốc, tức các tôn miếu cổ.
chiêu đề
Catùrdisà (S). Belonging to the four directions. Also tứ phương.
; (招提) Phạm: Catur-diza, Pàli: Catu-disa. Dịch âm là Chá đấu đề xá. Còn gọi là Chiên đấu đề xá. Dịch ý là bốn phương, tăng bốn phương, phòng tăng bốn phương. Tức chỉ cho nhà khách mà tăng chúng từ bốn phương (Chiêu đề tăng) đến đều có thể nghỉ lại qua đêm. Vì thế, những vật chung của tăng đoàn, hoặc các vật mà đại chúng cùng có thể sử dụng được gọi là Chiêu đề tăng vật, hoặc tứ phương tăng vật. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 14 nói, thì quỉ Tì sa đem một hang núi bố thí cho Chiêu đề tăng. Cao tăng pháp hiển truyện nói, kiến thiết phòng tăng bốn phương để cung cấp cho khách tăng. Lại phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7 chép, niên hiệu Thủy quang năm đầu (424), Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy tạo lập già lam, gọi là Chiêu đề, người đời bèn lấy Chiêu đề làm tên gọi khác của chùa viện. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 16 chép, thì tiếng Phạm Catur-diza, dịch âm là Chá đấu đề xa, nói tắt là Chá đề , vì hình dáng chữ chá ( ……) và chữ chiêu ( .) gần giống nhau, cho nên thông thường dễ lầm mà nói là Chiêu đề. Lại cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 2, Tuệ lâm âm nghĩa quyển 26 chép, thì cũng có thuyết giải nghĩa hai chữ Chiêu đề là: Chiêu, tức mời, dẫn - đề, tức nắm tay nhau cùng đi, thuyết này thấy lại càng sai lầm hơn nữa. Còn Tuệ lâm âm nghĩa quyển 41 thì bảo, Chế để (Phạm:caitya) người xưa gọi là Chi đề, Chiêu đề - thuyết này lẫn lộn giữa Chiêu đề và Chế để , cũng lại sai nốt. [X. kinh Bi hoa Q.8 - luật Ngũ phần Q.9 - Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 2 - Đại tống tăng sử lược Q.thượng - Thích thị yếu lãm Q.thượng].
chiêu đề thiên tuế truyện kí
(招提千歲傳記) Gồm chín quyển. Do vị tăng Nhật bản là Nghĩa trừng soạn. Thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 105. Nội dung tường thuật về sự sáng lập đạo tràng giới luật tại Nhật bản là chùa Đường chiêu đề mới và cũ, đồng thời thu chép sự tích của các nhà truyền luật và thuyết minh luật. Chia làm ba phần Thượng, Trung, Hạ, mỗi phần đều ba quyển: ba quyển thượng gọi là Truyền luật thiên, tức là tiểu sử của các vị trụ trì chùa Đường chiêu đề qua các đời - ba quyển Trung chia làm bốn thiên Minh luật, Vương thần, Cư sĩ và Ni nữ - ba quyển hạ chia làm mười bốn thiên Nhà điện, các việc cũ, các tích cũ, Linh báu, Linh tượng, các việc pháp, các viện chi nhánh, sự soạn thuật, phong lục, biện sự sai lầm, giải quyết sự hoài nghi, các thuyết khác, chép thêm những chỗ còn thiếu sót, liên danh v.v...…
chiêu đỗ la
(招杜羅) Phạm: Catura. Trong Mật giáo, là một trong mười hai thần tướng Dược sư, thần vương Dạ xoa ủng hộ Phật pháp. Còn gọi Tùng đỗ la, Chiêu trụ la, Đề đồ la, Chu đỗ la, Chiếu đầu la. Dịch ý là nhanh nhẹn, khéo léo. Cứ theo Dược sư lưu ly quang vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, thì Đại tướng Dược xoa Chiêu đỗ la thân mầu xanh, cầm dùi báu - Chiêu Đỗ La trong phép tu Dược sư bố đàn thì thân màu lam, tay cầm gậy. [X. kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức - kinh Đà la ni tập Q.2 - kinh Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương - Dược sư lưu li quang như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).
Chiêu 昭
[ja] ショウ shō ||| Clear, clearly. To illuminate. => Rõ ràng. Chói sáng.
chiêu-đề tăng phường
danh từ chiêu-đề viết đủ là chiêu-đấu-đề-xá (拓鬥提舍), phiên âm từ Phạn ngữ là caturdeśa, có nghĩa là bốn phương. Vì thế, chiêu-đề tăng phường chỉ tất cảnhững nơi chư tăng cư trú khắp bốn phương.
Chí Đạo Vô Nan
(至道無難, Shidō Munan, 1603-1676): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Giang Hộ, húy Vô Nan (無難), đạo hiệu Chí Đạo (至道), hiệu Kiếp Ngoại (劫外), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]). Ông có chí nguyện xuất gia, nhưng sau lại kế thừa gia nghiệp. Đến năm 40 tuổi, nhân trên đường đi hành hóa, ông được Đông Thật (東寔) ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) cảm hóa, rồi theo hầu vị nầy đến Chánh Đăng Tự (正燈寺) vùng Giang Hộ (江戸, Edo) và xuất gia. Vào năm 1649, ông tham cứu công án Chí Đạo Vô Nan (至道無難, đến với đạo không khó) và đạt ngộ. Sau đó ông khai sáng Đông Bắc Am (東北庵) ở vùng Ma Bố (麻布, Azabu), được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Cương (德川家綱, Tokugawa Ietsuna) và các đại bản doanh quy y theo, và ông làm tổ khai sơn Đông Bắc Tự (東北寺, Tōhoku-ji). Vào cuối đời ông dựng Chí Đạo Am (至道庵) và ẩn cư nơi đây. Trước tác của ông có Chí Đạo Vô Nan Thiền Sư Giả Danh Pháp Ngữ (至道無難禪師假名法語) 1 quyển, Đạo Ca Tập (道歌集) 1 quyển.
chiếc bóng
Lonely shadow.
chiếm giải
To win a prize.
chiếm hữu
To possess.
chiếm đóng
To occupy.
chiếm ưu thế
To predominate—Pre-eminent.
chiến
War—Hostilities—Battle.
chiến chủ quốc
(戰主國) Chiến chủ, Phạm, Pàli: Yuddhapati. Tên một nước xưa tại lưu vực sông Hằng thuộc trung Ấn độ, nằm về mạn đông nước Ba la nại. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7 nói, thì đô thành nước này ở gần sông Hằng, vật thực dồi dào, nhân dân no đủ, có hơn mười ngôi Già lam, tăng đồ gần nghìn người, đều học tập giáo pháp Tiểu thừa, lại có hai mươi đền thờ trời, đạo khác ở xen lẫn. Trong già lam phía tây bắc đô thành, có ngôi Tốt đổ ba (tháp) do vua A dục kiến tạo, trong đó có để một thăng xá lợi của đức Phật. Về phía đông đô thành cũng có ngôi Tăng già lam A tị đà yết thích nô (Phạm: Aviddhakarna-sanghàràma), dịch là Tinh xá không đeo vòng tai do nhà vua làm cho các sa môn của nước Đổ hóa la ở. Còn có đền thờ trời Na la diên, chỗ đức Phật hàng phục quỷ Khoáng dã và tháp Bình do người Bà la môn chia xá lợi (tức Bà la môn Hương tính) kiến tạo. Vị trí của nước này tương đương với Ngõa lạp ma tây (Benares) hiện nay về phía đông, ở khoảng giữa sông Hằng và sông Tang (Son), còn đô thành thì được suy định là dải đất Cách cát bốc (Ghàgipur) hiện nay. [X. Thích ca phương chí Q.thượng - Cao tăng pháp hiển truyện - A. Cunningham: Ancient Geography of India - T. Watters: On Yuan Chwang, vol.II - Giải thuyết Tây vực kí].
chiến nại la
See Chiến Đạt La.
chiến nại la dã
(戰捺羅野) Phạm: Candràya. Là chân ngôn của Nguyệt thiên tử (Phạm: Candra, dịch âm Chiến nại la). Vì mặt trăng có thể dập tắt hết thảy phiền não nóng bức của thế gian, mang lại sự mát mẻ cho nên gọi là Cam lộ. Chiến, là thể của chân ngôn, có nghĩa là không chết, trong tất cả các vị cam lộ, Tịnh nguyệt tam muội là hơn hết, người uống vị tam muội này, có thể xa lìa mọi thứ biến thiên mà không chết không sống. Nại, có nghĩa là cho - La, là nghĩa không bụi bặm, cũng là tác dụng của mặt trăng trong - tiếng của chữ Mạt vĩ gia dã, hàm ý là mặt trăng đi trên trời. Lại cứ theo kinh Đại nhật quyển 2 phẩm Chân ngôn tạng chép, thì Chân ngôn hoàn chỉnh của Nguyệt thiên tử là: Nam ma tam mạn đa bột đà nâm chiến nại la dã sa ha. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10 - Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].
chiến quỷ
(戰鬼) Tức vị tôn được bày bên trái cung Sư tử ở phương trên, chỗ gần góc đông bắc trong viện Ngoại Kim cương bộ trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Hình tượng vị này mặc áo lót, đầu đội mũ báu, hai tay cầm một vật giống như cái hốt, ngồi trên đám mây năm sắc. Tên Phạm của vị tôn này đầu tiên thấy chép trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển hạ, vốn có xuất xứ từ hiệu tiếng Phạm Kiếm bà (Phạm:Kampa, tức thần chấn động) được ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 5. Chiến quỉ, tức thần chấn động, được đặt ở chỗ gần góc tây bắc trong Thai tạng đồ tượng, nhưng trong Thai tạng đồ kiểu cũ thì bày ở góc đông bắc. Qua Đại nhật kinh sớ, Thai tạng đồ tượng, Thai tạng đồ kiểu cũ cho đến Huyền pháp tự nghi quĩ v.v...… có thể thấy vị trí và tên gọi của vị tôn này có dần dần thay đổi.
chiến thắng lâm
1) Rừng chiến thắng—The grove of victory. 2) Rừng Kỳ Thọ Cấp Cô Độc: Jetavana or Jetrvana.
chiến tranh tôn giáo
Religious war.
chiến đạt la
Candra (skt)—Chiến Nại La. 1) Mặt Trăng: The moon. 2) Nguyệt Thần: The moon deity. 3) Tên của một vị lãnh đạo một phái ngoại đạo: Name of a heretical leader.
chiến đạt la bát lạt bà
Candraprabha (skt)—Tên của Phật Thích Ca trong tiền kiếp khi Ngài còn là một vị quốc vương, cắt đầu bố thí—Moonlight, name of Sakyamuni when a king in a former incarnation, who cut off his head as a gift to others.
chiến đầu la
Xem Chiên đỗ la.
chiết
To snap, break; decide; compound; fold.
; Bẻ gãy—Gấp lại—To break—To fold.
chiết câu ca
Cakoka (skt)—Xứ Karghalik thuộc vùng Turkestan—Karghalik in Turkestan.
chiết giang
Chekiang (C).
chiết khấu
To discount.
chiết lư
Đám sậy bị chặt gẫy mà người ta nói Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dùng để vượt sông Dương Tử từ Nam Kinh—The snapped-off reed on which Bodhidharma is said to have crossed the Yangtsze from Nanking.
chiết lợi đản la
Caritra (skt)—Phát Hạnh Thành—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Chiết Lợi Đản La, một cảng nằm về phía đông nam biên giới Uda, nơi có những cuộc trao đổi thương mãi đáng kể với xứ Tích Lan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Caritra, a port on the south-east frontier of Uda (Orissa) whence a considerable trade was carried on with Ceylon.
chiết ma đà na
Calmadana (skt)—Niết Mạt—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Chiết Ma Đà Na là tên của một vương quốc cổ nằm về phía đông nam sa mạc Gobi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Calmadana is an ancient kingdom and city at the south-east borders of the desert of Gobi.
chiết phục nhiếp thọ
Khuất phục kẻ ác, thâu nhiếp người thiện (hai cửa chính của đạo Phật. Khuất phục là cửa Trí Huệ, còn thâu nhiếp là cửa Từ Bi)—To subdue the evil and receive the good.
chiết phục nhiếp thụ
To subdue the evil and receive the good.
; (折伏攝受) Chỉ sự hàng phục những kẻ ác và tiếp nhận những người thiện. Cũng gọi là Nhiếp chiết nhị môn. Nói tắt là Chiết nhiếp. Đây là vì muốn làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài ở đời để lợi ích chúng sinh mà đặt ra. Gặp những kẻ cứng cỏi thì dùng môn trí tuệ phối hợp với thế lực để khiến họ phải khuất phục mà bỏ ác tu thiện - gặp những người nhu hòa thì dùng môn từ bi phối hợp với đạo lực để khiến họ tiếp tục tăng cường điều thiện. Thắng man bảo quật quyển thượng phần cuối (Đại 37, 23 hạ) nói: Lực có hai thứ, một là thế lực, hai là đạo lực. Thế lực là, Bồ tát có khi ở ngôi vua, có thể dùng quyền uy để ngăn chặn những kẻ làm ác, hoặc làm trời rồng quỉ thần, khiến họ xa lìa nghiệp ác. Đạo lực là, Bồ tát dùng sức đạo đức, hiện thần thông biến hoá để khiến họ dứt nghiệp ác - cứng cỏi thì phải phục, phục khiến lìa ác, nhu hòa thì nhận, nhận khiến ở mãi nơi pháp lành, vì thế gọi là Chiết phục nhiếp thụ. Ma ha chỉ quán quyển 10 phần dưới (Đại 46, 137 hạ) nói: Phật pháp có hai cách, một là nhiếp, hai là chiết, như cho yên vui, không kể hơn kém, đó là nghĩa nhiếp - cầm dao cầm gậy cho đến đánh đập, đó là nghĩa chiết. Tuy cho và lấy hai cách khác nhau, nhưng đều khiến được lợi ích. Hai phương pháp được dẫn trên đây đều là những phương tiện được đặt ra để tiếp hóa chúng sinh. [X. kinh Thắng man chương Thập thụ - luận Du già sư địa Q.86 - Du già luận kí Q.22 phần dưới - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1 - Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10 đoạn 2 - Thắng man kinh sớ tường huyền kí Q.6].
Chiết phục 折伏
[ja] セップク seppuku ||| To subdue. (1) The Buddha's forcing into submission of ideological opponents through his powerful and persuasive elocution of the dharma. Said in contrast to the concept of 攝受, which is the open-minded acceptance of people into the fold of the sangha regardless of their personal views. (2) The overcoming of defilements. => Hàng phục 1. Uy lực của Đức Phật hàng phục hệ tư tưởng đối nghịch thông qua năng lực và sự thuyết phục bằng thuyết giáo. Ngược với ý niệm Nhiếp thọ攝受, là tâm bao dung tiếp nhận mọi căn cơ vào hàng xuất gia bất luận quan điểm riêng của họ. 2. Khắc phục phiền não.
Chiết phục 折服
[ja] セップク seppuku ||| Same as 折伏above. => Đồng nghĩa với chiết phục折伏 ở trên.
chiết thuỷ
(折水) Có hai nghĩa: 1. Chỉ nước đã rửa bát đũa thìa vào rồi thì đổ đi. 2. Chỉ nước sạch để rửa bát đũa thìa. Còn gọi là Khí bát thủy. Chiết, hàm ý bỏ đi, hủy bỏ. Khi lấy nước (chiết thủy) thì miệng bát phải hướng vào khoảng bên trong. Cứ theo Nhập chúng tu tri (những điều cần biết khi nhập chúng) của Tôn thọ nói, thì không được dùng nước sôi để rửa bát, khi múc nước không được để chảy ra trên mặt đất, cũng không được gây bất cứ tiếng động nào. Bài kệ được đọc khi đổ nước vào thùng, gọi là Chiết thủy kệ. Ngoài ra, cái đồ đựng nước gọi là Chiết thủy khí. Đồ này phần nhiều dùng cái thùng gỗ vuông, cho nên gọi là chiết thủy dũng - hình dáng giống như cái thùng nhỏ thông thường, nhưng một bên thùng có lắp cán.
chiết thạch
Phá thạch hay đập vỡ đá. Một trong bốn thí dụ về Ba La Di—A broken stone, i.e. irreparable. ** For more information, please see Ba La Di, and Ba La Di Tứ Dụ.
; (折石) Là một trong bốn ví dụ của tội Ba la di. Còn gọi là Phá thạch. Thí dụ tội Ba la di như một hòn đá đã bị đập vỡ thì không thể liền lại được nữa, cho nên gọi là Chiết thạch. Có nghĩa là tỉ khưu đã phạm tội Ba la di thì không có cách nào cứu được nữa.
chiết tự
Graphology.
chiết đoạn
Làm vỡ ra—To break off.
chiếu
Chiếu sáng—To shine—To illuminate—Illustrious.
chiếu giám
(照鑒) Tức soi thấy. Chỉ Phật và Bồ tát soi thấy suốt các hành vi của chúng sinh - bởi thế còn dùng câu Chiếu giám vô tư để biểu thị thái độ công bằng vô tư của Phật và Bồ tát đối với hết thảy chúng sinh.
chiếu huyền tự
Vào thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch, nhà Đường đặt ra Chiếu Huyền Tự dành cho Ni chúng—The bureau for nuns in the fifth century A.D.
chiếu kiến
Soi gương, bị cấm trong đạo Phật, ngoại trừ những lý do đặc biệt—To reflect—To look at oneself in a mirror, forbidden to monks except for special reasons.
Chiếu kiến 照見
[ja] ショウケン shōken ||| Shed light on, illuminate. To observe clearly; to determine by seeing; to come to understand. => Toả sáng, chiếu sáng. Quán sát tường tận; biết rõ qua nhìn thấy; hiểu ra.
Chiếu liễu 照了
[ja] ショウリョウ shōryō ||| To manifest. To enlighten. => Rõ ràng, hiển nhiên. Sáng tỏ, tỏ ngộ.
Chiếu lâm 照臨
[ja] ショウリン shōrin ||| (1) To illuminate the surrounding area from a high place. (2) A powerful man in a high position influences the people. => 1. Chiếu soi khắp vùng từ một vị trí trên cao. 2. Năng lực của một người có địa vị cao ảnh hưởng đến những người khác.
chiếu phất
Vị sư quản lý trong tự viện—The manager of affairs in a monastery.
chiếu tịch
Diệu dụng chân như chiếu rọi thanh tịnh khắp mười phương của Phật hay chân như—The shining mystic purity of Buddha, or the bhutatathata.
; (照寂) Chiếu, có nghĩa là sức diệu dụng của chân như chiếu rọi khắp mười phương - Tịch, có nghĩa là cái thể mầu nhiệm của chân như xa lìa mọi lỗi lầm. Tướng thực của sự diệu dụng là thể vắng lặng, gọi là Chiếu tịch (chiếu rọi mà vẫn vắng lặng) - chỗ thực của thể vắng lặng là sự diệu dụng, gọi là tịch chiếu. (Vắng lặng mà vẫn chiếu rọi).
chiếu tịch huệ
See Đẳng Giác Huệ.
Chiếu tịch huệ 照寂慧
[ja] ショウヨウ shōyō ||| To shine on, shed light on, illuminate. Shine brightly. => Trí huệ toả chiếu. Trí huệ chân như.
Chiếu tịch 照寂
[ja] ショウジャク shōjaku ||| Luminous and quiescent: a description of the characteristics of suchness. Also written 寂照. 〔二障義HPC 1.805b1〕 => Toả sáng và tịch lặng: diễn tả về chân như. Còn gọi là Tịch chiếu 寂照. [ja] ショウジャクエ shōjaku e ||| The wisdom of illumination and quiescence. 〔起信論疏 1844.44.215c〕
chiếu đường
(照堂) Giữa khoảng cửa sau của nhà tăng và chỗ rửa mặt rửa tay, có một hành lang mà nóc rất cao, ánh sáng không lọt vào được, cho nên phải để một cửa sổ trên nóc lợp kính để ánh sáng chiếu xuống, gọi là chiếu đường. Về sau, trong các Tùng lâm, thường đặt một chiếc ghế Thiền ở nhà Chiếu đường là nơi vị Thủ tọa thay thế vị trụ trì nói pháp và chỉ đạo chúng tăng. Ngoài ra, đời sau, thường dùng lẫn lộn Chiêu đường và Chiếu đường. Tại Nhật bản, Chiêu đường là chỉ riêng nhà thờ các vị Tổ sư đã khai sáng các chùa các am, đối lại với Tổ sư đường là nơi thờ từ Bồ đề đạt ma cho đến các vị tiền tổ trải qua các đời kể cả tổ khai sáng của bản tự. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.5 mục Phương trượng đặc vị tân quải đáp trà].
Chiếu 照
[ja] ショウ shō ||| (1) To illumine, reflect, shine on. (2) Illumination, efflorescence. (3) To look after. (4) To understand completely. (5) According to; as; seeing that. (6) Figure, shape, form. (7) Proof, verification. => 1. Soi sáng, phản chiếu, chói sáng. 2. Sự chiếu sáng, sự nở hoa. 3. Trông nom, chăm sóc. 4. Hiểu rõ. 5. Chiếu theo; tuỳ theo; theo đó. 6. Hình, dáng, vật thể. 7. Bằng chứng, sự xác minh.
chiền
Xem chế đa.
cho
To give—To bestow—To offer—To endow.
cho biết
To make known—To inform.
cho hay
See Cho Biết.
cho không
To give something free.
cho phép
To permit—To allow—To authorize—To empower—To enable—To let.
cho quyền
To empower-To enable.
cho đến
Till—Until.
Chu
周; C: zhōu; J: shū;|1. Chung quanh, đi quanh, chuyền quanh, quay tròn, xoay quanh; 2. Sự tuần hoàn; 3. Toàn thể, bao gồm tất cả, trùm khắp. Hoạt dụng trùm khắp; 4. Đến, trải dài đến; chỗ tột cùng; 5. Năm đủ.
chu
Around, on every side, complete.
; 1) Vòng quanh: Around. 2) Xung quanh: On every side. 3) Chu toàn: Complete.
Chu biến
周遍 (徧); C: zhōubiàn; J: shūhen;|Bao quát, phổ biến. Cùng khắp, lan toả và vận hành khắp chốn.
chu biến
Universal, everywhere on every side.
; Khắp mọi nơi—Universal—Everywhere—On every side.
chu biến pháp giới
The universal dharma-dhatù; the universe as an expression of the dharmakàya.
; Chốn sở tại của pháp gọi là pháp giới; vì pháp vô tận nên pháp giới vô biên. Công đức của pháp thân rộng khắp cả pháp giới vô biên—The universe; the universal dharmadhatu; the universe as an expression of the dharmakaya. **For more information, please see Pháp Giới.
; (周遍法界) Phật giáo gọi chỗ ở của pháp là Pháp giới. Các pháp vô lượng vô biên, đầy ắp vũ trụ, Pháp giới cũng không bờ không cõi, bởi thế, chu biến pháp giới là biểu thị cái nghĩa không đâu mà không đến. Mật giáo thì bảo công đức pháp thân của Đại nhật Như lai phổ cập hết thảy, tràn khắp pháp giới. [X. kinh Kim cương đính phẩm Mạn thù sư lị bồ tát ngũ tự tâm đà la ni].
chu chiêu chi
(朱昭之) Người Tiền đường (Hàng huyện, Chiết giang) thời Nam triều. Năm sinh năm mất không rõ. Từng phê phán Di hạ luận …… của Cố hoan mà viết ra Nạn Cố đạo sĩ di hạ luận, trong bản văn này, ông phê phán và vặn hỏi Cố hoan về các vấn đề Cố hoan coi trọng Đạo giáo và muốn đặt Đạo giáo lên trên Phật giáo. (xt. Di Hạ Luận).
Chu Chiêu Vương
(周昭王, tại vị 1052-1002 ttl, hay 995-977 ttl.): còn gọi là Chu Chiêu (周昭), tên của vị thiên tử nhà Chu, họ là Cơ (姬), tên Hà (瑕), vị vua thứ 4 của nhà Tây Chu (西周), con trai của Chu Khang Vương (周康王). Sử Ký (史記) gọi ông là (昭王); tuy nhiên, các bài minh khắc trên những đồ dùng bằng đồng xanh thời Tây Chu lại ghi là Thiệu Vương (卲王), hay Vương Thiệu Vương (王卲王); và trong khi đó, các bài minh khắc trên những đồ dùng bằng đồng xanh thời nhà Chu thì ghi là Chu Văn Vương (周文王). Sau khi tức vị, nảy sinh cuộc phản loạn của Chuẩn Di (准夷), nên ông thân chinh cử quân bình định. Vào năm thứ 19 (1002 ttl) đời Chiêu Vương, ông viễn chinh sang nước Sở và không trở về. Tương truyền ông bị chết tại Hán Thủy (漢水). Về nguyên nhân cái chết, sử thư giấu kín không đề cập đến. Có thuyết cho rằng ông bị quân nhà Sở công kích và chết trng chiến trận. sau đó, Thái Tử Cơ Mãn (姬滿) lên kế vị, tức Chu Mục Vương (周穆王).
chu châu lai
Chu chou Lai (C).
chu cấp
To supply one's family.
chu du
To travel.
chu dịch thiền giải
(周易禪解) Gồm ba quyển. Do sa môn Tri húc (1599- 1655) đời Minh soạn vào năm Sùng trinh 14 (1641). Trí húc cho Dịch là lí rất mực của trời đất, là nguồn gốc của muôn vật, rộng lớn tinh vi, không chỗ nào mà không có. Và nếu lấy tư tưởng gốc mà xét, thì là Dịch của nhà Nho - lấy thuật số mà bàn, là Dịch của nhà bốc phệ (xem bói) - dùng nhân duyên mà giải thích, là Dịch của nhà Phật. Cho nên, ngài Trí húc viện dẫn thuyết của nhà Nho để đưa vào tông thú của nhà Phật mà vạch ra rằng, các học giả Trình, Chu chưa phát huy hết được cái chí lí, đồng thời, ngài nêu tỏ toàn thể đại dụng của Thái cực mà thành sách này.
chu hi
(朱熹) (1130-1200) Nhà Lí học đời Nam Tống. Người Vụ nguyên, Huy châu (tỉnh An huy), tự Nguyên hối, Trọng hối, hiệu Hối am, Hối ông, Tử dương, đời gọi là Chu tử hoăc Chu văn công. Đậu tiến sĩ năm Thiệu hưng 18 (1148). Năm hai mươi mốt tưổi gặp Lí diên bình, được nghe Lạc học chính thống, bèn theo Bình và tĩnh tâm tu dưỡng, rồi noi theo cái học của hai Trình và Chu liêm khê mà tập đại thành nền Lí học đời Tống. Học thuyết của ông được mệnh danh là Tống học, Tính lí học, Lí khí học, Lí học, Đạo học v.v... Khi còn ít tuổi ông từng đã đọc tụng các trứ tác của các Thiền sư Đại tuệ Tôn cảo, Qui sơn Linh hựu, Vĩnh minh Diên thọ và nghiên cứu rộng các kinh điển. Ngoài ra, cứ theo truyền, ông còn ngồi Thiền nữa, do đó có thể biết, học thuyết của ông đã chịu ảnh hưởng Phật giáo rất nhiều. Tuy nhiên, đối với Phật giáo, ông cũng tự đứng về các phương diện mà phê phán và luận nạn một cách nghiêm khắc, nhất là đối với thuyết Duy tâm của Phật giáo, ông đã bỏ hết công sức ra để phê phán, đồng thời cho rằng, các kinh điển Phật, ngoài kinh Bốn mươi hai chương ra, tất cả các kinh khác đều có thể đã do người Trung quốc ngụy soạn hoặc nhuận sắc. Ông trứ tác rất nhiều, có: Tứ thư chương cú tập chú, Thông giám cương mục, Chu văn công tập, Chu tử ngũ loại v.v... Ông mất vào năm Khánh nguyên thứ 6 đời vua Ninh tôn, thọ bảy mươi mốt tuổi.
Chu Hy
(朱熹, 1130-1200): nhà Nho học dưới thời Nam Tống, tên lúc nhỏ là Trầm Lang (沉郎), tự lúc nhỏ là Quý Diên (季延); lớn lên có tự là Nguyên Hối (元晦), Trọng Hối (仲晦), hiệu Hối Am (晦庵), cuối đời có tên là Hối Ông (晦翁), Tử Dương Tiên Sinh (紫陽先生), Khảo Đình Tiên Sinh (考亭先生), Thương Châu Bệnh Tẩu (滄州病叟), Vân Cốc Lão Nhân (雲谷老人); bút hiệu là Chu Văn Công (朱文公), thường được tôn xưng là Chu Tử (朱子). Ông viết rất nhiều sách như Tứ Thư Tập Chú (四書集註), Dịch Bản Nghĩa (易本義), Thông Giám Cương Mục (通鑑綱目), Tiểu Học (小學), v.v.
chu hy
Chu Hsi (C)Một trong những triết gia lớn trong lịch sử Trung quốc, 1120-1200.
chu kiều nhất tai
(舟橋一哉) (1909 - ?) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Người huyện Ái tri. Tốt nghiệp khoa Phật giáo tại Đại học Đại cốc năm 1932. Là cao đệ của Xích chiểu Trí thiện. Từng là giảng sư của Đại học Kinh đô, Vụ trưởng học vụ Đại học Đại cốc, hội viên hội Nhật bản học thuật, giáo thụ Đại học Đại cốc. Nhà học giả chuyên khảo về Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái. Trứ tác có: Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng chi nghiên cứu, Nghiệp chi nghiên cứu, Quán đạo bản Câu xá luận sách dẫn, Câu xá luận chi nguyên điển giải minh (viết chung với Sơn khẩu ích), Phật giáo học từ điển (biên chung với Hoành siêu Tuệ nhật, Đa ốc lại tuấn).
chu kính trụ
(朱鏡宙) (1889-1985) Người Lạc thanh, Chiết giang. Từ trước ngày chính phủ di tản, ông đã từng giữ các chức vụ trọng yếu trong quân chính, giới thông tin. Sau khi ra Đài loan, lắng tâm học Phật và ra sức hoằng pháp. Năm Dân quốc 38 (1949), ông mở nhà in kinh tại Đài loan để lưu thông kinh sách Phật. Trứ tác có: Ngũ thừa Phật pháp dữ Trung quốc văn hóa, Độc kinh đáp kí, Mộng ngân kí, Vịnh nga đường văn lục 6 quyển, Tư quá trai tùng thoại 10 quyển v.v... Qua đời vào tháng mười năm Dân quốc 74, thọ chín mươi bảy tuổi.
chu kỵ
Kỷ niệm ngày giỗ thứ nhất của người quá vãng—The first anniversary of a death.
chu kỵ trai
Lễ cúng cơm trong buổi giỗ—The anniversary masses in an anniversary of a death.
chu la
Cuda (skt)—See Chu La Phát.
chu la phát
Cuda (skt)—Chu Đạo La—Tiểu Kế—Chu La—Bậc Sa Di khi nhập đạo trên đầu vẫn còn để một chỏm tóc con, sau đó thầy sẽ cắt bỏ để chứng tỏ quyết tâm tu hành theo Phật của người ấy—A topknot left on the head of an ordinand when he receives the commandments; the locks are later taken off by his teacher as a sign of his complete devotion.
; (周羅髮) Phạm: Cùđa, Pàli: Cùơà. Đây là dịch ghép chung cả Phạm và Hán, chỉ khi cạo tóc xuất gia, để lại một chỏm tóc trên đỉnh đầu. Còn gọi là Chu la. Dịch ý là lọn tóc, lọn tóc nhỏ, chỏm tóc, tóc đỉnh đầu. Chú thích trong kinh Khởi thế nhân bản quyển 1 nói, các dịch giả đời Tùy, dịch Chu la là lọn tóc, tức người nước ngoài để một ít tóc dài trên đỉnh đầu rồi tết bện lại thành lọn, thành búi. Lại cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 18 chép, thì Chu la dịch là nhỏ, tức lọn tóc nhỏ - cũng sách đã dẫn quyển 1 đem từ Chu la bảo nói trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 51 dịch là Tiểu bảo, vì Chu la hàm ý là bé nhỏ. Cũng có thuyết bảo tóc Chu la là mớ tóc được cạo sau cùng. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.44 phẩm Nhập pháp giới - luận Đại trí độ Q.31 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.20].
chu lí
(周理) (1591 - 1647) Vị tăng tông Lâm tế đời Minh. Người Vân nam, họ Đỗ. Hiệu Triệt dung, Nhật triệt (hiệu cũ là Triệt dung). Xuất gia từ nhỏ. Tính chậm chạp thật thà, vụng nói, do lễ bái Quan âm mà hoát nhiên đại ngộ. Tham yết Lãng mục Bản trí ở chùa Hoa nghiêm núi Phú độ và nối pháp Lãng mục. Từng tập định không quán, được thâm nhập. Sau tham yết Mật tạng Đạo khai, Mật vân Viên ngộ và ở núi Diệu phong. Niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu, sư tịch, thọ năm mươi bảy tuổi. Có thuyết nói tịch vào năm Sùng trinh thứ 9 (1636). Có biên soạn Trúc thất tập, Tào khê nhất trích 9 quyển - trứ tác có Cốc hưởng tập 1 quyển, Vân sơn mộng ngữ trích yếu 1 quyển truyền ở đời.
Chu Lăng
(朱陵): tức Chu Lăng Động Thiên (朱陵洞天), là một trong 36 động thiên của Đạo Gia, ở tại Huyện Hành Sơn (衡山縣), Hồ Nam (湖南), Trung Quốc. Từ đó, từ này được mượn dùng để chỉ cho nơi trú ngụ của chư vị thần tiên. Như trong bài Đạo Sĩ Bộ Hư Từ (道士步虛詞) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Xích ngọc linh văn hạ, Chu Lăng chơn khí lai (赤玉靈文下、朱陵眞氣來, ngọc đỏ văn giáng xuống, Chu Lăng linh khí về).” Hay trong bài thơ Túc Nam Đài Tự (宿南臺寺) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh cũng có câu: “Minh triêu cánh mích Chu Lăng lộ, đạp biến tử vân do vị toàn (明朝更覓朱陵路、踏遍紫雲猶未旋, sớm mai lại kiếm Chu Lăng nẻo, giẫm khắp tía mây vẫn chửa về).”
chu lợi bàn đặc
(周利槃特) Phạm: Cùđapanthaka, Cullapatka, Kwullapanthaka, Uddhipaôthaka, Pàli: Cullapanthaka, Cùơapanthaka. Vị thứ 16 trong 16 La hán. Còn gọi là Chu lị bàn đà già, Chú đồ bán thác ca, Côn nỗ bát đà na, Chú lị bàn đà già, Tri lị mãn đài, Chu la ban đà. Nói tắt là Bàn đà, Bàn thác già. Dịch ý là Đường nhỏ, Sinh bên đường. Là con một người Bà la môn ở thành Xávệ lúc đức Phật còn tại thế, sau cùng với anh là Ma ha bàn đặc (Phạm: Mahàpanthaka) cùng làm đệ tử Phật. Bẩm tính thô kịch ngờ nghệch, phàm đọc giáo pháp thì đọc trước quên sau, cho nên người ta gọi là Đường ngu. Về sau, đức Phật chỉ dạy một câu ngắn gọn là quét bụi trừ bẩn, bảo sư khi lau chùi giày dép của các tỉ khưu thì đọc đi đọc lại, cứ thế dần dần trừ được nghiệp chướng và, một ngày kia, thình lình tỏ ngộ chứng được quả A la hán. Sau khi chứng ngộ, có đủ các thần thông, có thể thị hiện các loại hình tượng, từng hiện sức thần lớn nói pháp cho lục quần tỉ khưu nghe. Đến đời sau, phổ thông đều tin rằng Chu lị bàn đặc cùng với một nghìn sáu trăm A la hán quyến thuộc cùng ở núi Trì trục, hộ trì chính pháp, lợi ích hữu tình. Quán hưu đời Đường vẽ các La hán rất khéo, đã từng vẽ Chu lị bàn đặc ngồi trong hốc cây khô, tay trái dơ ra, ngón tay có ngón co ngón duỗi. Lại trong Đại a la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí, ngài được xếp vào vị thứ 16 trong 16 La hán, còn Tây tạng truyền thì liệt vào vị thứ 11. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.8 - kinh Pháp cú thí dụ Q.2 - luật Thập tụng Q.11 - Hữu bộ tì nại da Q.31 - Thiện kiến luật tì bà sa Q.16 - luận Đại tì bà sa Q.18].
chu mộng nhan
(周夢顔) (1656-1739) Người Côn sơn, đời Thanh. Còn gọi là Tư nhân , tự An sĩ, hiệu Hoài tây cư sĩ. Bác thông kinh tạng, tin sâu pháp môn Tịnh độ. Nhận thấy chúng sinh gây tội phần nhiều là do hai nghiệp dâm, sát mà ra, bèn viết Vạn thiện tiên tư tập 4 quyển, bàn rõ về việc giết hại để khuyên răn - và Dục hải hồi cuồng 3 quyển, bàn rõ cái hại của dâm dục. Ông còn viết Tây qui trực chỉ 4 quyển, là học thuyết trọng yếu về mặt giáo lí Tịnh độ. Năm Càn long thứ tư, ông qua đời, thọ tám mươi tuổi. Đời sau đem ba bộ sách của Mộng nhan tập thành An sĩ toàn thư.
Chu Mục
(周穆): tức Mục Vương (穆王, 1001-947 ttl.), vị thiên tử nhà Chu. Bộ Mục Vương Thiên Tử Truyện (穆王天子傳), 6 quyển, có ghi lại những câu chuyện Tây du của Mục Vương.
chu na
Cunda (skt)—See Thuần Đà.
chu ngung
(周顒) Người thời Nam Bắc triều. Năm sinh năm mất không rõ. Người Nam thành, Nhữ nam (Nhữ nam, Hà nam). Tự ngạn luân. Học khắp bách gia và sở trường Phật lí. Gặp lúc Minh đế nhà Lưu Tống rất thích huyền học, bèn vời ông vào nội điện hầu việc, chưa dám can ngăn những hành vi độc ác của nhà vua một cách lộ liễu, ông bèn tụng kinh Phật trong đó có nói đến nhân duyên tội phúc, hành vi nhà vua nhân đó giảm bớt. Từng tham yết sư tăng ở chùa Thảo đường núi Chung sơn, chuyên nghiên cứu Tam luận, lãnh hội nghĩa cốt tủy. Thời bấy giờ các sư lập nghĩa Nhị đế và giải thích nghĩa mỗi đế, Ngung bèn viết Tam tông luận, trình bày kiến giải của mình, nhưng rất tiếc sách ấy nay không còn. Ông lập ba tông Không giả danh, Bất không giả danh và Giả danh không, dùng không giả danh luận nạn bất không giả danh rồi lại dùng Giả danh không luận nạn Không giả danh và Bất không giả danh. Ngung cũng tinh thông Lão tử, kinh dịch, từng tranh luận với đạo sĩ Trương dung về sự dị đồng giữa hai giáo Phật và Đạo. Trương dung hô hào Phật, Đạo là một, bảo Phật là thùy tích, Đạo là bản địa - Ngung bèn viết thư đáp lại, nói rõ sự sai khác giữa hai giáo. Từng giữ các chức Diệm lệnh, Sơn âm lệnh, Quốc tử bác sĩ. [X. Đại thừa huyền luận Q.1 - Lương cao tăng truyện Q.7, Q.8 - Phật tổ thống kỉ Q.36 - Nam tề thư liệt truyện 22].
chu phi
(朱斐) (1921 - ? ) Người Ngô huyện, Giang tô. Tốt nghiệp trường cao đẳng Thương nghiệp Trường kì tại Nhật bản. Từng giữ các chức Chủ nhiệm tổng vụ Đồ thư quán tỉnh Đài trung, Chủ biên nguyệt san Giác sinh. Hiện là người phát hành kiêm chủ biên tạp chí Bồ đề thụ, Trị sự trưởng ban Thường vụ hội Trung hoa Phật giáo cư sĩ, Hội trưởng hội Phật giáo Mật tạng viện từ thiện sự nghiệp, Hội trưởng Trung hoa Hán Tạng văn hoá hiệp hội v.v......, cũng là người sáng lập nhà Bồ đề nhân ái. Vốn nhiệt tâm đối với văn hoá Phật giáo và sự nghiệp hoằng pháp. Tờ nguyệt san Bồ đề thụ do ông phát hành từ 1949 đến nay là tờ báo Phật giáo rất nổi tiếng tại Đài loan. Ông từng tham gia việc thành lập viện Bồ đề cứu tế và Bồ đề y viện tại Đài trung, đã nhiều lần tham dự các hoạt động tuyên dương văn hoá Phật giáo tại nước ngoài và là Đại biểu tham dự Đại hội Phật giáo thế giới hữu nghị lần thứ 12, 13 và 14. Trứ tác có: Không trung hành cước, Phật đà họa truyện, Hư vân hòa thượng họa truyện.
chu phất hoàng
(朱芾煌) Người Giang tân, Tứ xuyên vào cuối đời Thanh đầu đời Dân quốc. Năm sinh năm mất không rõ. Là đệ tử của Hàn thanh tịnh, trong Tam thời học hội ở Bắc lương, chuyên khảo về Pháp tướng học Phật giáo. Năm Dân quốc 26 (1937), họ Chu đã biên soạn bộ từ điển Pháp tướng, là bộ sách đầu tiên tại Trung quốc về loại này, rất tiện cho việc nghiên cứu Pháp tướng duy thức học.
chu quảng chi
(朱廣之) Người Tiền đường (Hàng huyện, Chiết giang) thời Nam tề, tự là Xứ thâm. Năm sinh năm mất không rõ. Ông rất giỏi luận đàm lí huyền diệu, thường đi lại với Lâm xuyên vương thời Nam tề. Từng viết Nghi di hạ luận tư cố đạo sĩ để đối lại Di hạ luận của Cố hoan....... Trong luận này, ông đứng trên lập trường nhà Nho cho rằng hai giáo Phật, Đạo đều có chỗ hữu dụng mà đề xướng thuyết điều hòa.
chu sĩ hành
(朱士行) (203 - 282) Vị tăng thời Tam quốc Ngụy. Là vị tăng Trung quốc đầu tiên đi Tây vực cầu pháp. Cũng có thuyết bảo sư là vị tăng xuất gia đầu tiên tại Trung quốc. Người Dĩnh xuyên (phía đông bắc Hứa châu, Hà nam). Còn gọi là Chu tử hành. Sư lấy việc hoằng pháp làm trách nhiệm của mình, dốc sức vào việc nghiên cứu kinh điển. Đã từng giảng kinh Đạo hành bát nhã ở Lạc dương vào năm Cam lộ thứ 2 (257) đời Ngụy, là người giảng kinh thuyết pháp sớm nhất ở Trung quốc. Vì sư cảm thấy câu văn trong kinh Đạo hành bát nhã quá giản lược, nghĩa lí khúc mắc, khiến người ta khó mà hiểu được ý chỉ của Đại thừa, nên năm Cam lộ thứ 5 (260) sư vượt biên ải đến Vu điền để tìm cầu bản tiếng Phạm, sau chép được chín mươi chương của kinh Bát nhã chính phẩm bằng tiếng Phạm, gọi là Phóng quang bát nhã kinh, vào năm Thái khang thứ 3 (282) đời Vũ đế nhà Tây Tấn, sư sai đệ tử là Phất như đàn (Pháp nhiêu) mang về Trung quốc. Niên hiệu Nguyên khang năm đầu (291), do Trúc thúc lan, Vô la xoa (cũng gọi là Vô xoa la) dịch ra Hán văn tại chùa Thủy nam, đây chính là kinh Phóng quang bát nhã 20 quyển. Năm Thái an thứ 2 (303), Trúc pháp tịch và Trúc pháp lan ở chùa Thủy bắc xem xét lại kinh Bát nhã, bản in bèn được hoàn thiện. Bản dịch khác của kinh Đạo hành bát nhã là kinh Đại minh độ vô cực 6 quyển, do Chi khiêm đời Ngô dịch, đã mở ra cái phong khí nghiên cứu Bát nhã học - bây giờ Chu sĩ hành sang Tây vực cầu kinh thì lại đẩy mạnh thêm trào lưu hưng thịnh của Bát nhã học thời Tây Tấn. Chu sĩ hành đi Tây vực cầu pháp qua hơn mười nghìn dặm, ở đó hơn 20 năm và đã tịch tại Vu điền vào năm Thái khang thứ ba, thọ tám mươi tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.4 - Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.7, Q.13 - Tập Thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.3 - Pháp uyển châu lâm Q.18 - Phật tổ thống kỉ Q.36]. (xt. Phóng Quang Bát Nhã Kinh).
chu sĩ hành hán lục
(朱士行漢錄) Là mục lục dịch kinh ở thời đại Đông Hán, do Chu sĩ hành đời Tào Ngụy biên chép. Trong các kinhđiển hiện còn, sách viện dẫn bản mục lục này đầu tiên là Lịch đạitam bảo kỉ của Phí trường phòng đời Tùy, nhưng trong Lịch đạitam bảo kỉ quyển 10 lại đặc biệt ghi câu Chưa từng được thấy và đem liệt nó vào một trong các bản lục của hai mươi bốn nhà, do đó có thể biết, bản Hán lục của Chu sĩ hành mà Lịch đại tam bảo kỉ thấy, không phải là nguyên bản. [X. Khai nguyênthích giáo lục Q.18].
Chu Thuấn Thủy
(朱舜水, 1600-1682): tức Chu Chi Du (朱之瑜), hay Chi Dư (之璵), tự là Lỗ Tự (魯嶼), hiệu Thuấn Thủy (舜水); xuất thân Dư Diêu (餘姚), Triết Giang (浙江). Sau khi nhà Minh diệt vong, ông sang Nhật cầu xin viện trợ để khôi phục nhà Minh, nhưng không thành; cuối cùng ông lưu sống tại Nhật, lấy thuật trị thiên hạ dạy cho người Nhật. Sau ông làm việc cho chính quyền Mạc Phủ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), cuối cùng lưu truyền học phong của ông trên đất Nhật. Trước tác của ông có Thuấn Thủy Văn Tập (舜水文集).
chu thúc ca
(周叔迦) (1899 - 1970) Người thời Dân quốc, không rõ quê quán. Là nhà học giả trọng yếu của giới Phật giáo Hoa bắc. Lúc dầu học kĩ sư, sau gặp một đại đức Mật tông, bèn thụ trì mật chú và bắt đầu nghiên cứu kinh điển. Từng đến nơi Hàn thanh tịnh nghiên cứu Duy thức học. Năm dân quốc 22 (1933), giảng dạy triết học Duy thức tại Đại học Bắc kinh. Ông viết một cuốn sách nghiên cứu duy thức, là sách Duy thức học nhập môn và lưu thông rất rộng. Năm 1953, hiệp hội Phật giáo Trung quốc được thành lập tại Bắc kinh, cai quản toàn thể Phật giáo đoàn trên đại lục, lấy Hiện đại Phật học làm tạp chí chỉ đạo duy nhất, ông là một trong những người quan trọng đã mở ra hiệp hội và tạp chí này. Mất tại Bắc kinh vào năm 1970.
chu toàn
Tana (S).
; Perfect—Complete.
chu tri sách
(周知册) Là cuốn sổ danh tịch ghi tên các tăng, ni được cấp độ điệp. Đời Minh, để phòng ngừa tăng, ni giả danh, sổ danh tịch, tức Chu tri sách, được cấp cho các chùa viện trong nước để ghi tên các tăng, ni chính thức có độ điệp để kiểm tra. Còn gọi là Chu tri bản sách, Chu tri văn sách. Cứ theo Thích giám kê cổ lược tục tập quyển 2 chép, thì năm Hồng vũ thứ năm (1372) đời Minh, nhà vua ra lệnh cho Ti Tăng đạo lục làm Chu tri sách ban cho các chùa viện và Đạo quan trong nước, để ghi danh sách tăng ni, đạo sĩ chính thức. Tháng 1 năm 27, ban lệnh cấm Tăng đạo không được niêm yết tên tăng ni trên bảng, mà mỗi chùa phải xuất trình Chu tri sách để các quan địa phương kiểm thực. Về sau, lâu ngày xao lãng, đến tháng 10 niên hiệu Chính thống năm đầu (1436), theo lời tâu xin của Thượng thư bộ lễ là Hồ huỳnh, nhà vua lại ban lệnh làm Chu tri sách, nhưng sức quản trị của Nha tăng đạo đã suy yếu dần, cuối cùng, không còn hiệu lực để kiểm sát sự lạm dụng nữa. [X. Thích giám kê cổ lược tục tập Q.3 - Anh tông thực lục Q.23 - Minh hội điển Q.226 - Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 56, 64].
chu triều
Chou dynasty.
chu trung nhất
(周中一) (1906 - ?) Người Hoàng cương, Hồ bắc. Tốt nghiệp trường Cao đẳng sĩ quan tại Bắc kinh. Đã từng giữ các chức trưởng ti thuộc bộ Nội chính và giáo thụ trường cao đẳng sĩ quan Cảnh sát trung ương. Lúc về già chuyên tâm tìm hiểu Phật pháp và kiến thức rất sâu. Từng giảng Phật pháp tại các đại học, chùa viện. Có viết các sách Phật học luận trứ, Phật học nghiên cứu, Thiền thoại v.v...
chu trình cuộc sống
Life cycle—Theo Phật giáo, chu trình cuộc sống của một chúng sanh bắt đầu khi thần thức đi vào thai mẹ, đây là lúc thọ thai, hay lúc bắt đầu cuộc sống của một sinh vật khác—According to Buddhism, the life cycle of a sentient being begins when the consciousness enters the womb, and traditionally this has been considered the moment of conception, another life cycle begins.
chu trục
(朱軸) Tên gọi khác của quyển kinh. Cũng gọi là Xích trục...... Vì ngày xưa kinh điển Phật giáo phần nhiều dùng giấy vàng và đỏ để viết rồi cuộn lại thành quyển, cho nên gọi là Chu trục (quyển đỏ).
chu tuyên đức
(周宣德) (1899 - ) Người Nam xương, giang Tây. Tự Tử thận. Sau khi tất nghiệp Đại học công nghiệp tại Bắc kinh năm Dân quốc 11(1922), Chu tuyên đức bèn hiến thân cho sự nghiệp văn hóa giáo dục. Năm 38 (1949) ra Đài loan, giữ các chức vụ Trưởng xưởng của xưởng làm đường Nguyệt mi và Chánh kĩ sư của công ti Đường nghiệp. Ông đã tin Phật từ lúc trung niên, từng gần gũi với các Đại sư Thái hư, Trí quang. Năm Dân quốc 41 (1952), bắt đầu hoạt động Không trung hoằng pháp tại Đài bắc, Đài nam và Cao hùng, dùng đài phát thanh giảng đạo cho thính chúng. Bắt đầu từ năm 48, hô hào tăng tục hợp lực thành lập quĩ học bổng để giúp các sinh viên đại học chuyên về Phật học. Năm 50 (1961), cùng với Chiêm lệ ngô xuất bản nguyệt san Đuốc tuệ để khuyến khích sinh viên đại học chuyên nghiên cứu Phật học. Đồng thời giúp đỡ các Đại học và các trường chuyên khoa.
chu tường
Kỷ niệm lễ Phật Đản—The anniversary of Buddha's birthday.
chu tường quang
(周祥光) (1919-1963 ) Người Hoàng nham, Chiết giang. Từng theo đệ tử nhập thất của Dương nhân sơn là Cung vân bạch học Phật, sau du học tại các Đại học Gia nhỉ các đáp (Calcutta University) và đại học Đức lí (Dehli University) bên Ấn độ và đậu tiến sĩ. Lần lượt dạy tại các Đại học Quốc tế và Đại học A lạp cáp ba ở Ấn độ. Đối với Phật học, sử học đều có kiến thức rất sâu. Có các trứ tác như: Trung quốc Thiền tông phát triển sử (bản tiếng Anh), Trung quốc Phật giáo sử (bản tiếng Anh), Ấn độ triết học sử, Ấn độ thông sử và Chân lí chi quang v.v... Ông đã có những đóng góp rất lớn cho việc xúc tiến sự trao đổi văn hóa Trung - Ấn. Năm Dân quốc 52 (1963), ông lâm bệnh và mất tại Ấn độ.
Chu Tại Tuấn
(周在浚, ?-?): tự là Tuyết Khách (雪客), xuất thân vùng Tường Phù (祥符), Hà Nam (河南); con của Chu Lượng Công (周亮工), không rõ năm sinh và năm mất; ước khoảng trong thời gian trước sau 1675. Vốn kế thừa truyền thống học phong của gia đình, ông rất am thông sử truyện, chú thích Nam Đường Thư (南唐書) 18 quyển. Ông lại có sở trường về thi từ, thường làm Kim Lăng Bách Vịnh (金陵百詠), Trúc Chi Từ (竹枝詞). Trước tác của ông còn có Vân Yên Quá Nhãn Lục (雲煙過眼錄) 20 quyển, Lê Trang Di Cốc Tập (梨莊遺谷集), Thu Thủy Tập (秋水集), Thanh Sử Liệt Truyện (清史列傳), v.v.
chu tản
(朱傘) Lọng đỏ. Còn gọi là Chu cái, Chu bích tản, Đại tản. Chỉ cái lọng làm bằng giấy dầu nhuộm đỏ. Dùng để che cho vị đạo sư hoặc vị tăng chủ yếu khi hành lễ ngoài trời. Cán lọng dài tám thước, phía dưới quăm lại như móc câu. Loại lọng này bắt nguồn từ Ấn độ, vì khí hậu tại Ấn độ nóng bức, cho nên những bậc vương giả, quí nhân phần nhiều dùng để che. Tại Trung quốc từ xưa lọng cũng đã được dùng nhiều, nhưng vì màu đỏ Lọng Đỏ tượng trưng cho sự cao quí nên chỉ có nhà vua và các quí nhân mới được phép dùng, còn những người thường chỉ được dùng lọng màu xanh. Ngoài ra, trong các chùa viện thuộc các tông tại Nhật bản thông thường phần nhiều lọng cũng được dùng trong các dịp hội hè đình đám.
chu tục chi
(周續之) (358 - 432) Người Nhạn môn đời Đông Tấn. Tự Đạo tổ. Mười hai tuổi đến thụ nghiệp nơi Phạm ninh, Thái thú Dự chương, thông suốt năm kinh, năm vĩ, người ta gọi ông là Thập kinh đồng tử ............ Lớn lên, đóng cửa đọc sách, tin Phật pháp rất thành kính, tinh thông diệu lí Bát nhã. Sau vào Lư sơn, thờ Tuệ viễn làm thầy, theo Liên xã tu tịnh nghiệp. Khi Vũ đế nhà Lưu Tống đánh miền Bắc, Thái tử từng rước Tục chi vào chùa An lạc, giảng sách Lễ kí hơn một tháng rồi trở về Lư sơn. Khi cao tuổi, Vũ đế triệu ông đến quán Đô gián ngoài thành phía đông để hỏi về kinh lễ. Đời gọi là Thông ẩn tiên sinh . Suốt đời, Tục chi không lập gia đình, ăn cơm rau, mặc áo vải - vì bị bệnh phong tê, sau dời đến Trung sơn dưỡng bệnh. Ông mất vào niên hiệu Cảnh bình năm đầu, thọ sáu mươi sáu tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26].
chu đà
Ksudra (skt)—See Châu Lợi Bàn Đà Già.
chu đôn di
Chou Tun-i (C)1017-1073, một triết gia tânKhổng giáo đã phát triển ý tưởng Thái cực đồ.
; Chou I-tun (C)Một nhà triết học Tân nho giáo.
chu đạo la
Cuda (skt)—See Chu La Phát.
Chu-cô
T: tulku [sprul-sku]; S: nirmāṇakāya;|Thuật ngữ rất quan trọng được dịch âm từ tiếng Tây Tạng nhằm chỉ một hiện tượng chỉ tồn tại nơi đây và Mông Cổ. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ hai thứ tiếng, Phạn và Mông Cổ. Tại Mông Cổ, người ta sử dụng hai danh từ tương ưng với ý nghĩa gần như nhau là: 1. Hô-tất Lặc-hãn (hoblighan khublighan) với nghĩa »Tự tại chuyển sinh« (自在轉生) và 2. Hô-đồ Khắc-đồ (khutuktu), nghĩa là »Minh tâm kiến tính, sinh tử tự chủ« (明心見性生死自主). Danh từ Phạn ngữ (sanskrit) tương ưng là »Nirmāṇakāya«, Hán dịch nghĩa là »Ứng hoá thân« (應化身) hoặc »Hoá thân« (化身; Ba thân).|Tại Tây Tạng, danh từ này chuyên chỉ các dòng tái sinh (s: jātimāla) và các vị tái sinh, chỉ các vị khi chết không quên bản tính, đầu thai trở lại và tiếp nối chức vị và sự việc hoằng hoá trước. Ðó là những người được công nhận là sự tái sinh của một người đã chết, sau khi được thử thách kiểm nghiệm. Quan điểm này phát sinh từ giáo pháp Ba thân và được áp dụng tại Tây Tạng với sự phát hiện Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ 2, Cát-mã Ba-hi (karma pakshi, 1204-1283). Chu-cô là một phương tiện quan trọng nhằm giữ vững sự nối tiếp bất đoạn về tinh thần và lĩnh đạo trong các trường phái Tây Tạng. Tây Tạng có 4 dòng tái sinh lớn mà dòng quan trọng nhất là Ðạt-lại Lạt-ma. Ngoài ra có một số lớn các dòng tái sinh khác. Các vị Chu-cô thường được dân chúng tôn là »Phật sống« (Hoạt Phật).|Kinh điển Ðại thừa đã nói đến khả năng chủ động trong sự tái sinh. Người bình thường vì chưa đoạn được vọng niệm, còn bị thần thức lôi cuốn, theo Nghiệp (s: karma) mà chuyển sinh, không tự tại. Còn các vị đã cắt đứt vọng niệm, đã đoạn ô nhiễm thì chứng ngộ được Pháp tính (法性; s: dharmatā), không còn bị nghiệp lực lôi cuốn trôi nổi mà ngược lại, có thể tự chủ được sinh tử, tuỳ cơ ứng biến hoằng hoá, trải qua ải tái sinh mà không bị mê hoặc. Ðó là khả năng của các vị Bồ Tát đã đạt địa vị thứ tám trong Thập địa. Cùng với quan điểm Ba thân (s: trikāya), trong đó thân người được xem là hiển hiện của Pháp thân (s: dharmakāya), quan niệm này là cơ sở của hiện tượng Chu-cô.|Trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) của Tây Tạng, nguyên lí chủ động tái sinh được tận dụng, nhất là nhằm bảo vệ giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) Khi một đứa trẻ được khám phá ra là Chu-cô, các vị thầy dốc sức giúp trẻ phát triển để sớm nắm vững toàn bộ giáo pháp và tới thời kì, đứa trẻ đó lại chỉ dạy giáo pháp cho các thầy để chuẩn bị cho việc tái sinh của các vị đó. Quan niệm tái sinh cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự lĩnh đạo, mà thí dụ rõ nhất là các vị Ðạt-lại Lạt-ma. Các vị tái sinh quan trọng nhất thời nay là Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 Ðăng-châu Gia-mục-thố (t: tenzin gyatso, sinh 1935), giáo chủ dòng Cách-lỗ (t: gelugpa); Cát-mã-ba Lãng-tuấn Lôi-tỉ Ða-kiệt (rigpe dorje, 1924-1982), giáo chủ dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa); Ðôn-châu (dujom, 1904-1987), giáo chủ dòng Ninh-mã (nyingmapa) và Tát-ca-ba Tát-ca Xứ-châu (sakyapa sakya trizin, sinh 1945), giáo chủ phái Tát-ca (sakya).
Chu-đà
周陀; C: zhōutuó; J: shūda;|1. Tên của Tỉ-khâu Śuddhipanthaka; 2. Thuần Đà (s: cunda), đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Thuần-đà (純陀). ›
chua
Amla (S), Sour.
Chung
(鐘、鍾): chuông; tên một loại pháp khí được dùng trong các tự viện Phật Giáo để báo thì giờ, tập trung tăng chúng. Tại Ấn Độ, khi triệu tập tăng chúng, người ta thường đánh loại Kiền Chùy (s: ghaṇṭā, 揵椎) bằng gỗ. Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 24 có ghi lại việc đức Phật dạy tôn giả a nan đánh Kiền Chùy để tập trung đại chúng: “Nhữ kim ư lộ địa tốc kích Kiền Chùy, sở dĩ nhiên giả ? Kim thất nguyệt thập ngũ nhật thị thọ tuế chi nhật (汝今於露地速擊揵椎、所以然者、今七月十五日是受歲之日, các ngươi nay ở nơi đất trống mau đánh Kiền Chùy, vì cớ sao vậy ? Vì hôm nay ngày 15 tháng 7 là ngày nhận thêm tuổi).” Chuông có hai loại chính: Phạn Chung (梵鐘) và Hoán Chung (喚鐘). (1) Phạn Chung, còn gọi là Đại Chung (大鐘, chuông lớn), Điếu Chung (釣鐘), Chàng Chung (撞鐘), Hồng Chung (洪鐘), Kình Chung (鯨鐘), Bồ Lao (蒲牢), Hoa Kình (華鯨), Hoa Chung (華鐘), Cự Chung (巨鐘), v.v.; thông thường cao khoảng 150 cm, đường kính khoảng 60 cm; được treo trên lầu chuông, dùng để triệu tập đại chúng, hay để báo thời khắc sáng tối. Phần trên của Phạn Chung có đầu rồng, được gọi là điếu thủ (釣手, tay câu). Phần bên dưới có hình hai tòa hoa sen tương đối, được gọi là bát diệp (八葉, tám cánh). Trong Thiền lâm, chuông này được dùng để thông báo thời gian Tọa Thiền vào đầu đêm, nên có tên là Định Chung (定鐘); hay để thông báo đại chúng vào Tăng Đường, được gọi là Nhập Đường Chung (入堂鐘). Về ngữ nghĩa Bồ Lao, Lý Thiện (李善, 630-689), học giả thời nhà Đường, có chú dẫn lời của Tiết Tông (薛綜, ?-243) nhà Ngô thời Tam Quốc rằng: “Hải trung hữu đại ngư viết Kình, hải biên hựu hữu thú danh Bồ Lao; Bồ Lao tố úy Kình, Kình ngư kích Bồ Lao, triếp dại minh; phàm chung dục linh thanh đại giả, cố tác Bồ Lao ư thượng, sở dĩ chàng chi giả vi Kình ngư (海中有大魚曰鯨、海邊又有獸名蒲牢、蒲牢素畏鯨、鯨魚擊蒲牢、輒大鳴、凡鐘欲令聲大者、故作蒲牢於上、所以撞之者爲鯨魚, trong biển có con cá lớn gọi là Kình, ven biển lại có con thú tên là Bồ Lao; Bồ Lao chẳng sợ cá Kình, cá Kình đánh Bồ Lao, thường tạo ra tiếng vang lớn; hễ chuông muốn có âm thanh lớn thì nên tạc hình con Bồ Lao lên trên, vì vậy vật để đánh chuông là cá Kình).” Cho nên, đùi đánh chuông thường được khắc hình con cá Kình. Theo Thăng Am Ngoại Tập (升庵外集) quyển 95 của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh cho biết rằng tục truyền rồng sinh ra chín con, con thứ ba tên là Bồ Lao, hình như con rồng nhưng nhỏ; và nay chính là hình con rồng trên đầu chuông. (2) Hoán Chung, còn gọi là Bán Chung (半鐘, chuông bằng một nữa), Tiểu Chung (小鐘, chuông nhỏ); thông thường cao khoảng 60 đến 80 cm, dùng để thông báo bắt đầu tiến hành pháp hội, v.v., nên được gọi là Hành Sự Chung (行事鐘). Tại Trung Quốc, từ xưa đã có chế tạo chuông bằng đồng, nhưng không rõ nguồn gốc. Trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 28 cho biết rằng vào năm 566 (Thiên Hòa [天和] thứ 5) nhà Bắc Chu, có bài Chu Võ Đế Nhị Giáo Chung Minh (周武帝二敎鐘銘); Đường Thái Tông Đại Hưng Thiện Tự Chung Minh (唐太宗大興善寺鐘銘); Đường Đông Cung Hoàng Thái Tử Tây Minh Tự Chung Minh (唐東宮皇太子西明寺鐘銘), v.v. Theo Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 29, Truyện Trí Hưng (智興傳), vào năm 609 (Đại Nghiệp [大業] thứ 5) nhà Tùy, trong khi trú tại Thiền Định Tự (禪定寺) ở Kinh Sư, Trí Hưng đã từng giữ chức Thời Chung. Theo thông tin trên, việc tạo lập Phạn Chung từ thời Bắc Chu trở đi đã bắt đầu thịnh hành. Ngoài ra, chuông ở Hàn Sơn Tự (寒山寺), Tô Châu (蘇州), nhờ bài Phong Kiều Dạ Bạc (楓橋夜泊) của thi nhân Trương Kế (張繼, ?-779) nhà Đường mà trở nên nổi tiếng. Căn cứ vào tác phẩm Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Ký (入唐求法巡禮記) quyển 3 của Viên Nhân (圓仁, Ennin, 794-864), vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường cầu pháp, tại Ngũ Đài Sơn (五臺山) có hang lầu chuông với chuông vàng, lầu báu, là nơi Bồ Tát Văn Thù thường thị hiện. Tại Nhật Bản, hiện còn lưu lại một số chuông được đưa từ Trung Quốc vào, như chuông ở Vũ Tá Thần Cung (宇佐神宮, Usa Jingū) vùng Phong Tiền (豐前, Buzen); ở Ba Thượng Cung (波上宮, Nami-no-uegū) vùng Lưu Cầu (琉球, Ryūkyū); ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi), v.v.; chuông hiện tồn tối cổ được đúc vào năm 698 (Văn Võ Thiên Hoàng [文武天皇] thứ 2), và bảo lưu tại Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), Kyoto. Chuông đối với việc tu hành có công đức rất lớn và đóng vài trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống tâm linh của tín đồ Phật Giáo. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 8, Chương Pháp Khí (法器章) thứ 9, phần Chuông, có giải thích rằng: “Đại Chung, tùng lâm hiệu lịnh tư thỉ dã, hiểu kích tắc phá trường dạ cảnh thùy miên, mộ kích tắc giác hôn cù sơ minh muội (大鍾、叢林號令資始也、曉擊則破長夜警睡眠、慕擊則覺昏衢疏冥昧, chuông lớn là vật khởi đầu hiệu lịnh trong tùng lâm; đánh buổi sáng thì phá tan sự đêm dài, đánh thức ngủ say; đánh buổi tối thì làm tỉnh thức con đường mê muội, tối tăm).” Trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) lại dạy rằng: “Hồng chung chấn hưởng giác quần mê, thanh biến thập phương vô lượng độ, hàm thức quần sanh phổ văn tri, bạt trừ chúng sanh trường dạ khổ, Lục Thức thường hôn chung dạ khổ, vô minh bị phú thức mê tình, tĩnh dạ văn chung khai giác ngộ, di thần tịnh sát đắc thần thông (洪鐘震響覺群迷、聲遍十方無量土、含識群生普聞知、拔除眾生長夜苦、六識常昏終夜苦、無明被覆識迷情、靜夜聞鐘開覺悟、怡神淨剎得神通, Hồng chung vang vọng tỉnh quần mê, tiếng khắp mười phương vô lượng cõi, nhận thức quần sanh khắp nghe biết, đoạn trừ chúng sanh đêm dài khổ, Sáu Thức thường mờ suốt đêm khổ, vô minh che lấp cõi mê tình, đêm lắng nghe chuông bày giác ngộ, hân hoan trong sạch chứng thần thông).” Lại nữa, trong Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 4 có dẫn lời dạy của Kinh Tăng Nhất A Hàm rằng: “Nhược đả chung thời, nhất thiết ác đạo chư khổ, tinh đắc đình chỉ (若打鐘時、一切惡道諸苦、幷得停止, nếu khi đánh chuông, hết thảy các nỗi khổ của đường ác, đều được dừng lại).” Trong Phú Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện (付法藏因緣傳, Taishō Vol. 50, No. 2058) quyển 5 có ghi lại câu chuyện quốc vương nước Nguyệt Chi (月支) là Chiên Đàn Kế Nặc Tra (栴檀罽昵吒) cùng giao chiến với nước An Tức (安息), sát hại 9 ức người. Do vì nhân ác đó, nhà vua sau khi chết bị đọa làm thân con cá có ngàn cái đầu, vòng kiếm quay quanh thân chém đứt từng đầu, nhưng rồi lại sanh ra đầu khác; đau đớn vô cùng, không thể nào kể xiết. Tuy nhiên, mỗi khi nghe tiếng chuông thì vòng kiếm kia dừng lại; cho nên nhà vua cầu xin vị La Hán thường xuyên đánh chuông. Vị này thương xót, đánh chuông liên tục trong vòng 7 ngày thì không còn chịu khổ nữa. Trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 29, phần Đường Kinh Sư Đại Trang Nghiêm Tự Thích Trí Hưng Truyện (唐京師大莊嚴寺釋智興傳) có đề cập đến câu chuyện người anh của sư trên đường cùng với nhà vua đến Bành Thành (彭城) thì đột nhiên qua đời giữa đường. Người này về báo mộng cho vợ biết rằng mình đã chết, nay đọa xuống Địa Ngục, chịu khổ báo vô cùng, nên bảo rằng: “Lại dĩ kim nguyệt sơ nhật mông Thiền Định Tự tăng Trí Hưng minh chung phát thanh hưởng chấn Địa Ngục, đồng thọ khổ giả nhất thời giải thoát (賴以今月初日蒙禪定寺僧智興鳴鍾發聲響振地獄、同受苦者一時解脫, vào ngày mồng một tháng này, nhờ tăng sĩ Trí Hưng ở Thiền Định Tự đánh chuông phát ra tiếng vang chấn động Địa Ngục, khiến cho người chịu khổ nhất thời được giải thoát).” Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 1 ghi lại câu chuyện vua Ca Nị Sắc Ca (s: Kaniṣka, p: Kanisika, 迦膩色迦) của vương quốc Kiện Đà La (s, p: Gandhāra, 健駄羅) nhận lời thỉnh cầu của con rồng ác, kiến lập chùa chiền, đánh chuông và nhờ đó mà tâm sân hận của rồng được tiêu tan. Vì tầm quan trọng của tiếng chuông như vậy, trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1116) trích dẫn lời dạy của Tạp Thí Dụ Kinh (雜譬喻經) về thái độ của người nghe chuông: “Sở tại văn chung thanh, ngọa giả tất tu khởi, hiệp chưởng phát thiện tâm, hiền thánh giai hoan hỷ (所在聞鐘聲、臥者必須起、合掌發善心、賢聖皆歡喜, nơi mình nghe tiếng chuông, người nằm phải nên dậy, chấp tay phát thiện tâm, hiền thánh đều hoan hỷ).” Cũng điển tịch này có dẫn lời của cổ đức rằng: “Văn chung ngọa bất khởi, hộ pháp thiện thần sân, hiện tiền giảm phước huệ, hậu thế đọa xà thân (聞鐘臥不起、護法善神嗔、現前減福慧、後世墮蛇身, nghe chuông nằm không dậy, hộ pháp thiện thần sân, hiện tiền giảm phước huệ, đời sau đọa rắn thân).” Trong Thiền môn có các bài kệ nguyện chuông rất phổ biến như: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác (願此鐘聲超法界、鐵圍幽暗悉皆聞、聞塵清淨證圓通、一切眾生成正覺, nguyện tiếng chuông này siêu pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, nghiệp trần trong sạch chứng viên thông, tất cả chúng sanh thành chánh giác).”; hay “Văn chung thanh phiền não khinh, trí huệ trưởng bồ đề sinh, ly Địa Ngục xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật độ chúng sinh (聞鐘聲煩惱輕、智慧長菩提生、離地獄出火坑、願成佛度眾生, nghe tiếng chuông phiền não tan, trí huệ lớn bồ đề sanh, lìa Địa Ngục ra hỏa than, nguyện thành Phật độ chúng sanh).” Theo nghiên cứu cho thấy rằng trong bộ Toàn Đường Thi (全唐詩) cũng như Toàn Đường Thi Bổ Biên (全唐詩補編), có gần 1100 câu thơ về tiếng chuông, về Phạn Chung có 300 câu, cho ta thấy tầm quan trọng của tiếng chuông chùa như thế nào. Xin giới thiệu một số tác phẩm liên quan đến tiếng chuông như sau. Trong bài Trường Thọ Tự Xán Công Viện Tân Trứu Tỉnh (長壽寺粲公院新甃井) của Lý Kì (李頎, 690-751) có đoạn: “Tăng phòng lai trú cửu, lộ tỉnh mỗi đồng quan, bạch thạch bảo tân trứu, thương đài y cựu lan, không bình uyển chuyển hạ, trường cảnh lộc lô bàn, cảnh giới nhân tâm tịnh, tuyền nguyên kiến để hàn, chung minh thời quán đảnh, đối thử nhật nhàn an (僧房來往久、露井每同觀、白石抱新甃、蒼苔依舊欄、空瓶宛轉下、長綆轆轤盤、境界因心淨、泉源見底寒、鐘鳴時灌頂、對此日閒安, tăng phòng đến đây ở, giếng nước ngày mỗi xem, đá trắng che mặt giếng, rêu xanh vẫn lan cùng, gàu nước buông thong thả, dây dài theo trục xoay, cảnh giới theo tâm lắng, suối nguồn tận đáy trong, chuông ngân dài quán đảnh, đối diện ngày an nhàn).” Trương Kế có làm bài Phong Kiều Dạ Bạc (楓橋夜泊): “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên, Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (月落烏啼霜滿天、江楓漁火對愁眠、姑蘇城外寒山寺、夜半鐘聲到客船, trăng tà chiếc quạ kêu sương, lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ, thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông Chùa Hàn San).” Như trong Vãn Đường Chung Thanh (晚唐鐘聲) của Phó Đạo Bân (傅道彬) có nêu một đoạn trong bài thơ Du Long Môn Phụng Tiên Tự (遊龍門奉先寺) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770): “Dĩ tùng Chiêu Đề du, cánh túc Chiêu Đề cảnh, âm hác sanh hư lại, nguyệt lâm tán thanh ảnh, thiên khuyết tượng vĩ bức, vân ngọa y thường lãnh, dục giác văn thần chung, linh nhân phát thâm tỉnh (已從招提遊、更宿招提境、陰壑生虛籟、月林散清影、天闕象緯逼、雲臥衣裳冷、欲覺聞晨鐘、令人發深省, từ độ thăm Chiêu Đề, lại luyến cảnh Chiêu Đề, hang tối vang tiếng vọng, rừng trăng bóng tỏ mờ, cổng trời bóng voi hiện, mây nằm áo lạnh băng, muốn dậy nghe chuông sớm, khiến người tỉnh thức sâu).” Trong bài Kinh Thiếu Lâm Tinh Xá Ký Đô Ấp Thân Hữu (經少林精舍寄都邑親友) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) có câu: “Xuất hi thính vạn lại, nhập lâm trạc u tuyền, minh chung sanh đạo tâm, mộ khánh không vân yên (出巘聽萬籟、入林濯幽泉、鳴鐘生道心、暮磬空雲煙, ra hang vạn dây vướng, vào rừng rửa suối thiêng, chuông ngân sanh đạo tâm, khánh chiều mây khói quyện).” Lô Luân (盧綸, 739-799) có làm bài Thù Quý Đoan Công Dã Tự Bệnh Cư Kiến Ký (酬李端公野寺病居見寄): “Dã tự chung hôn sơn chánh âm, loạn đằng cao trúc thủy thanh thâm, điền phu tựu hướng hoàn y thảo, dã trĩ kinh phi bất quá lâm, trai mộc tạm tư đồng tĩnh thất, thanh luy dĩ giác trợ Thiền tâm, tịch mịch nhật trường thùy vấn tật, liệu quân duy thủ cổ phương tầm (野寺鐘昏山正陰、亂藤高竹水聲深、田夫就餉還依草、野雉驚飛不過林、齋沐暫思同靜室、清羸已覺助禪心、寂寞日長誰問疾、料君惟取古方尋, chùa hoang chuông chiều núi tỏa râm, dây leo trúc bám tiếng nước trầm, nông phu cất bước theo lối cỏ, gà đồng kinh hoảng bay qua rừng, chay tịnh ưu tư cùng tịnh thất, gầy xanh mới rõ ấy Thiền tâm, vắng lặng tháng ngày ai hỏi bệnh, khuyên người thôi chớ nhọc công tìm).” Hay trong bài Du Vân Tế Tự (遊雲際寺) của Chương Hiếu Tiêu (章孝標) có câu: “Vân lãnh phù danh khứ, chung chàng đại mộng tỉnh, mang mang sơn hạ sự, mãn nhãn tống lưu bình (雲領浮名去、鐘撞大夢醒、茫茫山下事、滿眼送流萍, mây núi phù danh bỏ, chuông ngân đại mộng tỉnh, mênh mang chuyện đời mặc, trước mắt bèo dạt trôi).” Trong bài Tặng Thiên Khanh Tự Thần Lượng Thượng Nhân (贈天卿寺神亮上人) của Triệu Hỗ (趙嘏, 806-853) cũng có đề cập đến tiếng chuông: “Ngũ khán xuân tận thử giang phần, hoa tự phiêu linh nhật tự huân, không hữu từ bi tùy vật niệm, dĩ vô tung tích tại nhân quần, nghênh thu nhật sắc diêm tiền kiến, nhập dạ chung thanh trúc ngoại văn, tiếu chỉ bạch liên tâm tự đắc, thế gian phiền não thị phù vân (五看春盡此江濆、花自飄零日自曛、空有慈悲隨物念、已無蹤跡在人群、迎秋日色簷前見、入夜鐘聲竹外聞、笑指白蓮心自得、世間煩惱是浮雲, năm bận đón xuân nơi bến sông, ngày nắng chói chan hoa phiêu bồng, không tâm từ bi theo vật nhớ, đã chẳng dấu tích chốn nhân quần, đón thu ngày mới trước thềm thấy, đêm về chuông vọng trúc ngoài vang, cười chỉ trắng sen lòng tự đắc, thế gian phiền não ấy phù vân).” Hay như trong bài Quá Hương Tích Tự (過香積寺) của Vương Duy (王維, ?-761) cũng vậy: “Bất tri Hương Tích Tự, sổ lí nhập vân phong, cổ mộc vô nhân kính, thâm sơn hà xứ chung, tuyền thanh yến nguy thạch, nhật sắc lãnh thanh tùng, bạc mộ không đàm khúc, an Thiền chế độc long (不知香積寺、數里入雲峰、古木無人逕、深山何處鐘、泉聲咽危石、日色冷青松、薄暮空潭曲、安禪制毒龍, nào hay Hương Tích Tự, mấy dặm trong mây rừng, cây xưa không người bước, núi sâu chuông chốn nào, tiếng suối ngâm lòng đá, ngày lên lạnh tùng xanh, chiều buông trên hồ vắng, tọa Thiền chế độc long).” Tại Tây Hồ, Hàng Châu có 2 ngôi danh lam là Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ở Tịnh Từ Tự có một đại hồng chung rất nổi tiếng, nơi nhà bia an trí chuông có bút tích của vua Khang Hy với dòng chữ: “Nam Bình Vãn Chung (南屏晚鐘, Chuông Chiều Nam Bình).” Thi sĩ Trương Đại (張岱, ?-?) nhà Đường có làm bài thơ để diễn tả sự xuất thần nhập hóa của tiếng chuông chùa này như sau: “Dạ khí ổng Nam Bình, khinh phong bạc như chỉ, chung thanh xuất thượng phương, dạ độ không giang thủy (夜氣滃南屏、輕風薄如紙、鐘聲出上方、夜渡空江水, màn đêm trùm khắp Nam Bình, gió nhè nhẹ thổi như hình giấy manh, tiếng chuông vút tận trời xanh, buông vào đêm vắng sông thanh nghìn trùng).” Sau này dân gian vẫn có câu: “Ngọc Bình thanh chướng mộ yên phi, cam điện chung thanh lạc thúy vi (玉屏青嶂暮煙飛、紺殿鐘聲落翠微, Ngọc Bình mây khói chiều lặng bay, điện báu chuông chùa rụng sương chầy).” Về phía Việt Nam, cũng có khá nhiều bài thơ nói về tiếng chuông, như trong bài Cảnh Chùa Đọi của Nguyễn Khuyến (阮勸, 1835-1909) có đoạn: “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá, sư cụ nằm chung với khói mây, chuông trưa vẳng tiếng người không biết, trâu thả sườn non ngủ gốc cây.” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của Hòa Thượng Thạch Liêm (石濂, 1633-1702) cũng có đoạn diễn tả như sau: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong, trúc li thảo kính phù lam yểm, thạch hác hà lâu đảo ảnh không (綠柳垂垂隠梵宮、鐘聲迢遞滿河風、竹籬草徑浮嵐掩、石壑霞樓倒影空, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông, lối cỏ bờ trúc mây khói phủ, hang đá lầu chiều bóng nghiêng lồng).” Tục ngữ dân gian Việt Nam thường có câu: “Đánh tan tục lụy hồi chuông sớm, gõ nát trần tâm tiếng mõ trưa”; hay “Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Sương, mịt mù khói toả ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.” Hòa Thượng Giác Tiên (1880-1936), Tổ khai sáng Chùa Trúc Lâm (竹林寺), Huế, có câu thơ: “Tuần diêm thanh khánh sao minh nguyệt, nhiễu thọ sơ chung khấu bích thiên (巡簷清磬敲明月、繞樹疏鐘扣碧天, tiếng khánh quanh nhà lay trăng sáng, cùng cây chuông sớm gõ trời xanh).” Cố Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997), nguyên trú trì và khai sơn Hồng Ân Ni Tự (鴻恩尼寺) tại Huế, cũng có lưu lại bài thơ ca ngợi về nét Thiền vị của chùa Trúc Lâm như sau: “Bước đến Trúc Lâm luống chạnh lòng, chuông chùa tiếng dội khắp rừng thông, trông lên bảo tháp mây quang đãng, ngó xuống ao sen cá vẫy vùng, cảnh tịnh soi tâm tâm cũng tịnh, nước trong trăng chiếu bóng thường trong, cảnh này nếu được đem thêu vẽ, tỏa rạng ngàn năm nét Đại Hùng.”
chung
1) Chết: Death. 2) Chung: Common. 3) Chuông: Ghanta (skt)—A bell. 4) Kết thúc hay chung cuộc: End—Termination—Final.
; (鐘) Là quả chuông. Trong các chùa viện thường dùng chuông để thông báo giờ giấc, hoặc triệu tập chúng tăng. Tại Ấn độ, khi triệu tập đại chúng, thường đánh kiền chùy (Phạm: Ghaịỉà) chế tạo bằng gỗ. Như kinh Tăng nhất a hàm quyển 24 chép, ngày 15 tháng 7 là ngày nhận tuổi, đức Phật bảo A nan đánh kiền chùy triệu tập đại chúng nơi đất trống. Tại Trung quốc thì thay kiền chùy bằng chuông đồng. Chư kinh yếu tập quyển 20 Minh chung duyên điều, có dẫn dụng kệ trong kinh Tạp dụ mà bảo rằng, nếu nghe tiếng chuông thì những người đang nằm đều phải dậy hết. Tiếng chuông nói ở đây có lẽ là dịch ý chữ kiền chùy chăng? Chuông có hai thứ là Phạm chung và Hoán chung. 1. Phạm chung , còn gọi là Đại chung, Điếu chung, Chàng chung, Hồng chung và Kình chung. Thông thường cao độ một trăm năm mươi phân Tây, đường kính khoảng sáu mươi phân, treo trên lầu chuông, dùng để triệu tập đại chúng, hoặc để báo giờ giấc sớm hôm. Phần trên của Phạm chung khắc đầu rồng, gọi là Điếu thủ .(tay câu), bộ phận dưới có hai tòa sen đối nhau, cũng gọi là tám cánh, hai tòa dùng hai nẹp giao nhau, nẹp góc thẳng liên kết nhau, gọi là khuyết áo ca sa, hoặc gọi là sáu đường - còn ở phần trên thì có những cái núm tròn lồi lên, gọi là vú chuông, từ tòa sen trở xuống gọi là thảo gian (khoảng cỏ), riềm dưới gọi là câu trảo (móng ngựa). Trong Thiền lâm, dùng chuông thông báo giờ ngồi thiền lúc đầu đêm, cho nên gọi là Định chung - cũng dùng để báo cho chúng vào nhà Tăng, cho nên còn gọi là Nhập đường chung. Lại tiếng Phạm chung cũng gọi là Kình âm......(tiếng cá kình). 2. Hoán chung còn gọi là Bán chung, Tiểu chung. Thông thường cao từ sáu mươi đến tám mươi phân Tây, treo ở một góc nhà Phật đường, dùng để thông báo giờ bắt đầu làm việc pháp hội, cho nên cũng gọi là Hành sự chung. Trung quốc từ xa xưa đã có chế chuông đồng, nhưng không rõ bắt nguồn từ đâu. Quảng hoằng minh tập quyển 28 chép, năm Thiên hòa thứ 5 (566) đời Bắc Chu, chế Đại Chu nhị giáo chung minh (do Vũ đế nhà Bắc Chu chế), ngoài ra còn có chuông ở chùa Hưng thiện đời Đường, năm Lân đức thứ 2 (665) đời Đường, đúc chuông ở chùa Tây minh tại kinh đô. Lại cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 29 truyện Trí hưng chép, thì năm Đại nghiệp thứ 5 (609) đời Tùy, Trí hưng giữ chức Thời chung ở chùa Thiền định tại kinh đô. Qua những ghi thuật trên đây, người ta được biết, từ đời Bắc Chu trở xuống đã có nhiều lần tạo lập Phạm chung. Ngoài ra, nhờ bài thơ Phong kiều dạ bạc của nhà thơ rương kế đời Đường mà tiếng chuông chùa Hàn sơn tại Tô châu rất nổi tiếng. Lại cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí quyển 3 của vị tăng người Nhật là Viên nhân nói, thì trên núi Ngũ đài có hang lầu chuông, là nơi bồ tát Văn thù thị hiện lầu báu chuông vàng. Tại nước Hàn xưa nay đã có kỹ thuật đúc chuông rất khéo, cho nên vẫn còn những quả Phạm chung cực đẹp, như quả chuông ở chùa Thái đức đúc vào năm Tân la Huệ cung vương thứ 7 (771) - những năm gần đây được treo trên lầu chuông, ở ngoài cửa nam Khánh châu. Tại Nhật bản thì có nhiều chuông từ Trung quốc truyền vào, đã được liệt làm quốc bảo, như các chuông tàng trữ ở Vũ tá thần cung tại Phong tiền, Ba thượng thần cung tại Lưu cầu, chùa Huệ nhật tại Phí tiền, và chùa Viên thành tại Cận giang. Quả chuông xưa nhất hiện còn, được đúc vào năm Văn vũ Thiên hoàng thứ 2 (698), nay để ở chùa Diệu tâm tại Kinh đô. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ đoạn 4 - Phật tổ thống kỉ Q.42 - Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Pháp khí chương - Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn].
chung chạ
In common.
chung cuộc
Final—End—Ending.
chung giáo
Giai đoạn thứ ba trong ngũ giáo Hoa Nghiêm—The third in the category of the Hua-Yen School—See Ngũ Giáo (A) (3).
; (終教) Là giáo thứ ba trong năm giáo do tông Hoa nghiêm phán thích. Giáo này hàm chứa nghĩa lí trong kinh Lăng già, kinh Thắng man, luận Đại thừa khởi tín và luận Bảo tính. Nói đủ là Đại thừa chung giáo. Giáo nghĩa chủ yếu của giáo này là bàn về Định tính nhị thừa, Vô tính xiển đề đều sẽ thành Phật, cho nên so sánh với chủ trương Ngũ tính các biệt của Đại thừa Thủy giáo, không thừa nhận lí hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật, thì giáo này mới nói hết cái lí chung cực của Đại thừa, vì thế gọi là Chung giáo. Lại vì giáo này thuyết minh cái nghĩa bất không chân như tùy duyên, cho rằng hết thảy duy chỉ là thực đức của Như lai tạng chân như, nên vượt xa thuyết chân như ngưng nhiên của Thủy giáo - vì nó tương xứng với thực lí, cho nên gọi là Thực giáo. Hai từ Chung giáo và Thực giáo nói gộp lại, gọi là giáo Chung thực. Trong Hoa nghiêm huyền đàm quyển 5, Trừng quán đã đứng về phương diện tính, tướng mà nêu lên mười thứ dị biệt: một thừa ba thừa, một tính năm tính, duy tâm chân vọng, chân như tùy duyên lặng yên, ba tính không hữu vừa tức vừa li, chúng sinh và Phật không thêm không bớt, hai đế không hữu vừa tức vừa li, bốn tướng một thời trước sau, năng sở đoạn chứng vừa tức vừa li, Phật thân vô vi hữu vi v.v... để bàn luận và xếp hạng sâu cạn hơn kém của Thủy giáo, Chung giáo. Lại hai giáo Thủy, Chung đều y theo các giai vị tu hành nhất định mà tu hành dần dần, cho nên gọi chung là Tiệm giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
chung lâu
(鐘樓) Lầu chuông. Tục gọi là Chung chàng đường (nhà đánh chuông), Chung đường, Chung đài, Điếu chung đường (nhà treo (câu) chuông). Là một trong bảy nhà. Tức là nhà treo Phạm chung (chuông lớn) trong các chùa viện. Thời xưa, đối nhau với lầu kinh, bây giờ thông thường đối nhau với lầu trống ở hai bên đầu chùa. Lầu chuông tuy bắt nguồn từ chuông pha lê treo ở nhà Vô thường trong tinh xá Kì viên tại Ấn độ, nhưng Ấn độ và Tích lan không thấy có làm lầu chuông, duy có Trung quốc, Nhật bản là đặt lầu chuông. Ngoài ra, theo Tự tháp kí bình khang phường mục Bồ tát tự chép, thì ngày xưa đặt lầu chuông ở phía đông. [X. Chi na Phật giáo sử tích Q.4, Q.5].
chung lầu
Gác chuông—Bell-tower.
chung nam sơn
Mt. Chung-nan.
; 1) Ngọn núi Chung Nam ở Sơn Tây: Chung-Nan Shan, a mountain in Shan-Si. 2) Tước hiệu của ngài Đổ Thuận, sơ tổ tông Hoa Nghiêm bên Trung Quốc: A posthumous name for Tu-Shun, founder of the Hua-Yen or Avatamsaka School in China.
; (終南山) Núi ở phía tây huyện Trường an tỉnh Thiểm tây khoảng hai mươi chín cây số. Phía đông bắt đầu từ Lam điền, phía tây đến huyện Mi, chạy dài hơn tám trăm dặm, là một bộ phận của dãy núi Tần lĩnh. Còn gọi là Trung nam sơn, Thái ất sơn, Địa phế sơn. Nói tắt là Nam sơn. Tên núi thấy sớm nhất trong kinh Thi. Vị trí gần Tây an, trong núi có rất nhiều cổ tích danh thắng, các danh tăng thạc đức và các cấu trúc chùa viện. Trong thế kỉ thứ V, thứ VI, các bậc cao tăng vân tập, như năm Kiến đức thứ 2 (573) đời Bắc Chu sư Pháp tạng đã dựng nhà Thiền trên núi Tử cái trong dãy núi này - sư Tĩnh ái cũng đem đồ chúng vào núi kiến thiết hai mươi bảy ngôi chùa - năm Kiến đức thứ 3, Vũ đế bài Phật, hơn ba mươi vị danh tăng từ kinh ấp vào lánh nạn trong núi này. Đời Tùy, có sư Trí tạng dựng chùa Phong đức, sư Đạo phán làm chùa Long trì, sư Tĩnh uyên sáng lập chùa Chí tướng, sư Tịnh nghiệp kiến thiết chùa Ngộ chân, sư Tăng chiếu tạo lập chùa Thần điền. Tổ thứ nhất của tông Hoa nghiêm là Đỗ thuận (Pháp thuận) đời Đường, nhân ở ẩn trong núi Chung nam mà đời gọi là Chung nam Pháp thuận - sư Pháp lâm làm chùa Long điền - sư Trí nghiễm ở chùa Chí tướng, hoằng dương tông Hoa nghiêm, đời gọi là Chí tướng đại sư. Sư Thiện đạo của tông Tịnh độ ở chùa Ngộ chân tu hành niệm Phật, đời gọi là Chung nam đại sư. Sư Đạo tuyên của Luật tông ở chùa Phong đức, hoằng truyền Tứ phần luật tông, hệ thống của sư tức gọi là Nam sơn luật tông. Các vị cao tăng đưọc chôn cất ở đây cũng nhiều, bắt đầu từ Tín hành của Tam giai giáo, còn có Tuệ tịch, Trí phạm, Đạo tôn, Tuệ nhân, Trí chính v.v... Các chùa tháp nổi tiếng ở núi Chung nam thì có tháp mộ Huyền trang ở chùa Hưng giáo, tháp Từ ân và tháp Viên trắc ở chùa Tây minh, hai tháp gạch lớn nhỏ ở chùa Hương tích và các tháp ở chùa Bách tháp. Ngoài chùa tháp ra, còn có rất nhiều bia, minh. [X. Tục cao tăng truyện Q.11, Q.16, Q.19, Q.27 - Từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.10 - Khai nguyên thích giáo lục Q.8 - Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.39, Q.42 - Trường an chí Q.9, Q.12 - Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 65 - Kim thạch tụy biên Q.57, Q.62, Q.66, Q.71, Q.75].
chung phạm
(鍾梵) Là Chung thanh và Phạm bái nói gộp lại, cả hai đều là những tiếng thường nghe hàng ngày trong các chùa viện Phật giáo. Vì trong Tùng lâm, hàng ngày đánh chuông để thông báo giờ giấc hoặc để triệu tập chúng tăng, thì là Chung thanh...... (tiếng chuông) - còn giọng tụng đọc kinh kệ trầm bổng nhịp nhàng, gọi là Phạm bái (đọc canh).
chung quy ư không
Tất cả vạn hữu cuối cùng rồi cũng trở về dạng không—All things in the end return to the Void.
chung quỳ
(鍾馗) Là ông thần trừ tà theo truyền thuyết dân gian Trung quốc, thần này thề nguyền bắt các tà quỷ. Còn gọi là Cung quì đại thần, Chung quì thần, Tảo quì. Tương truyền, khi Đường Huyền tôn ngọa bệnh, nằm mộng thấy Chung nam tiến sĩ Chung quì buộc phải ăn tiểu quỉ, tỉnh dậy liền khỏi bệnh, bèn triệu họa công Ngô đạo tử sai vẽ hình tượng Chung quì - đời sau lấy tượng vẽ của Chung quì làm bùa khu trừ yêu ma quỉ quái. Tại Nhật bản, từ cuối đời Túc lợi trở xuống, phong tục vẽ tượng Chung quì cũng đã từng thịnh hành.
chung sĩ
(鍾士) (JONES, SIR WILLIAM 1746-1800) Nhà học giả về Đông phương học người Anh. Thông hiểu các thứ tiếng Hi bá lai, A lạp bá và Ba tư. Từng làm việc trong Cao đẳng Pháp viện tại Gia nhĩ các đáp (Calcutta) thuộc Ấn độ (1783-1794), và sáng lập Mạnh gia lạp Á châu hiệp hội (Asiatic Society of Bengal) và giữ chức Hội trưởng trong mười một năm từ 1784. Ông là nhà học giả người Anh đầu tiên chính thức nghiên cứu tiếng Phạm, cũng là người mở đầu phong trào Anh quốc Ấn độ học. Ông cho rằng, tiếng Phạm, Hi lạp, La tinh đều có tính gần gũi, rồi đặt giả thuyết Ân - Âu mẫu ngữ mà thành lập Ấn - Âu tỉ giảo học. Ngoài ra, ông còn phiên dịch tiếng Phạm cổ và pháp điển của Ấn độ xưa và nghiên cứu Thần thoại học. Năm 1789, lần đầu tiên ông đem vở hí kịch kiệt tác Sa côn đát la (Sacontala) của Gia lí đà sa, giới thiệu với châu Âu, đã khiến giới trí thức châu Âu chấn động. Đại văn hào Ca đức rất tán thưởng. Cuối đời, ông còn dịch pháp điển Ma no (Institutes of Manu, 1794). Tiếp theo, khi ông đang dịch Ấn độ cổ đại pháp trích yếu (Digest of Hindu Laws, 1800), chưa xong thì rất tiếc ông đã qua đời tại Gia nhĩ các đáp.
chung sơn
(鍾山) Vị trí núi ở trong phạm vi Nam kinh, Giang tô. Còn gọi là Tưởng sơn, Bắc sơn, Kim lăng sơn, Thần liệt sơn, Tử kim sơn, Thánh du sơn. Núi cao bốn trăm sáu mươi tám mét. Phía đông tiếp với các núi Thanh long, Nhạn môn, phía bắc liền với hai núi Phú chu, Trĩ đình, phía tây tới Thanh khê, phía nam giáp sông Chung phố. Ngọn cao nhất gọi là Bình phong lĩnh, phía đông có nước tám công đức, phía tây có suối Đạo quang, suối Tống hi, ngọn bắc có suối Một người, đều là những danh thắng trong núi. Cứ theo sách của Đạo giáo chép, thì núi này từng lập ba mươi mốt cái động, Tưởng tử văn đời Hán vào chết trong núi này, đến thời vua Ngô, rất linh thiêng, nhà vua bèn làm miếu thờ, cái tên Tưởng sơn từ đó mà có. Thời đại Lục triều, nơi đây đã có các chùa lớn, như chùa Định lâm, Đạo lâm, Trúc lâm, Tống hi, Ái kính, Điện không có xà ngang ở chùa Linh Cốc núi Chung Sơn Thảo đường, Dược vương, Khai thiện (triều Minh đổi là chùa Linh cốc) v.v... , phần lớn có các cao tăng đại đức trụ trì. [X. Đại minh nhất thống chí Q.6 - Đại thanh nhất thống chí Q.50 - Kim lăng phạm sát chí Q.3].
chung sức
To join (unite) one's efforts.
Chung thiên
(終天): suốt đời, lâu dài. Trong bài thơ Bệnh Trung Khốc Kim Loan Tử (病中哭金鑾子) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu rằng: “Mạc ngôn tam lí địa, thử biệt thị chung thiên (莫言三里地、此別是終天, chớ bảo xa ba dặm, chia tay này suốt đời).” Hay trong bài Thuật Ai (述哀) của Phương Văn (方文) nhà Thanh cũng có câu: “Thử hận bão chung thiên, ai ngâm hà thời tất (此恨抱終天、哀吟何時畢, hận này ôm suốt đời, buồn ngâm bao giờ nguôi).” Ngoài ra, trong Ai Vĩnh Thệ Văn (哀永逝文) của Phan Nhạc (潘岳) nhà Tấn cũng có đoạn rằng: “Kim nại hà hề nhất cử, mạc chung thiên hề bất phản (今奈何兮一舉、邈終天兮不反, nay làm sao chừ cử động, xa mãi mãi chừ không đáp).” Câu “phụ khí Thung Đình, mạc bão chung thiên chi thống (父棄椿庭、莫抱終天之痛)” có nghĩa là cha lành đã qua đời rồi, làm sao ôm nỗi đau mất mác trọn suốt đời.
chung thân
Throughout one's life.
Chung tư chập chập
(螽斯蟄蟄): chung tư (螽斯) hay tư chung (斯螽) là con giọt sành, một loài sâu nhả tơ, tương truyền một lần sinh ra 99 con sâu con; chập chập (蟄蟄) có nghĩa là đông đúc, số lượng nhiều, đầy đàn, lúc nhúc, v.v. Câu này thường dùng để chúc tụng hay ví cho con cháu đông đúc, đầy đàn. Nó phát xuất từ trong phần Quốc Phong (國風), Chu Nam (周南) của Thi Kinh: “Chung tư vũ sân sân hề, nghi nhĩ tử tôn chấn chấn hề; chung tư vũ hoảng hoảng hề, nghi nhĩ tử tôn thằng thằng hề; chung tư vũ ấp ấp hề, nghi nhĩ tử tôn chập chập hề (螽斯羽詵詵兮、宜爾子孫振振兮、螽斯羽薨薨兮、宜爾子孫繩繩兮、螽斯羽揖揖兮、宜爾子孫蟄蟄兮, cánh giọt sành lớp lớp chừ, nên con cháu ngươi đông đúc chừ; cánh giọt sành ào ạt chừ, nên con cháu ngươi nối tiếp chừ; cánh giọt sành lúc nhúc chừ, nên con cháu ngươi đông đảo chừ).” Hơn nữa, trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2 cũng có đoạn rằng: “Khả ái giả, tử tôn chi đa nhược chung tư chi chập chập; kham tiện giả, hậu nhân chi thạnh như qua điệt miên miên (可愛者、子孫之多若螽斯之蟄蟄、堪羨者、後人之盛如瓜瓞綿綿, Dễ thương thay, cháu con thêm nhiều như giọt sành chúng đông đúc; thật thích thay, người sau thịnh vượng như dưa trái trổ lâu dài).”
chung đầu
(鐘頭) Là vị tăng giữ phận sự thỉnh chuông trong Thiền môn. Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí quyển 8 (Vạn tục 111, 428 thượng), nói: Tri khách sai Chung đầu thỉnh ba hồi chuông, Tri khách thắp hương cầm nơi tay. Lại Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu quyển hạ (Vạn tục 112, 24 thượng), nói: Buổi sớm giao cho Cúng đầu (người dâng lễ) và Chung đầu đợi khi lên tòa rồi, đến trước nhà Tăng đánh chuông, tức chuông lớn, và bảo Cúng đầu trải chiếu lễ. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4 mục Điện chủ chung đầu].
chung đốn tiền hậu
(終頓前後) Chỉ quan điểm bất đồng giữa tổ thứ ba là Pháp tạng và tổ thứ năm là Trừng quán của tông Hoa nghiêm đối với thứ tự trước sau của Chung giáo và Đốn giáo trong năm giáo phán. Quan điểm bất đồng phát sinh là do chủ trương khác nhau của hai nhà về mối quan hệ tương thuộc của năm giáo và mười tông. Tổ Pháp tạng gọi Chung giáo là Chân đức bất không tông và đặt vào hàng thứ tám trong mười tông - gọi Đốn giáo là Tướng tưởng câu tuyệt không và đặt vào hàng thứ chín trong mười tông. Song, tổ Trừng quán thì gọi tông thứ tám trong mười tông là Chân không tuyệt tưởng tông, nhiếp vào Không thủy giáo và Đốn giáo - gọi Chung giáo là Không hữu vô ngại tông, và đặt vào hàng thứ chín trong mười tông. Pháp tạng lấy dung hợp tính tướng làm chủ, Trừng quán lấy quyết phán tính tướng làm chủ, cho nên mới có ý kiến bất đồng về vị trí trước sau của Chung giáo và Đốn giáo. Lại cứ theo Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 16 của sư Ngưng nhiên vị tăng Nhật bản chép, thì mười tông của Pháp tạng là chuẩn theo thuận tự năm giáo, còn mười tông của Trừng quán thì chuẩn theo thứ tự của bốn pháp giới, vì thế mà tạo thành luận điểm khác biệt giữa hai nhà. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
Chuy lưu
(緇流): từ gọi khác của tăng đồ, tu sĩ. Nguyên lai, tăng ni thường mặc y phục màu đen, nên có tên gọi như vậy. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16, bài Tế Chơn Tịch Văn Cốc Đại Sư (祭眞寂聞谷大師), có đoạn: “Tảo mộ chơn đế, thâm yếm tục trần, ký nhập chuy lưu, toại bồi huệ chủng (早慕眞諦、深厭俗塵、旣入緇流、遂培慧種, sớm thích giải thoát, chán ghét tục trần, gia nhập tăng thân, bồi hạt giống tuệ).”
Chuy y
(緇衣): hay truy y, còn gọi là hắc y (黑衣), mặc y (墨衣), tức áo nhuộm màu đen, pháp y màu đen, là y phục thường dùng của tăng lữ. Từ này còn được dùng để chỉ cho tăng lữ, đồng nghĩa với chuy lưu (緇流), chuy môn (緇門), chuy đồ (緇徒); đối nghĩa với bạch y (白衣, áo trắng), được dùng cho cư sĩ tại gia. Chư tăng thuộc Thiền Tông thường dùng loại y màu đen này. Dưới thời nhà Tống (宋, 420-479) có vị tăng Huệ Lâm (慧琳) thường hay mặc áo đen tham nghị việc triều chính, được Khổng Khải (孔凱) gọi là Hắc Y Tể Tướng (黑衣宰相). Hay hai vị tăng Huệ Dữ (慧與) và Huyền Sướng (玄暢) ở Trúc Lâm Tự (竹林寺), Kinh Châu (荊州), sống vào đầu nhà Tề (齊, 479-502) được gọi là Hắc Y Nhị Kiệt (黑衣二傑). Cho nên, từ truy y trở thành tên gọi chuyên dùng cho vị Sa Môn (沙門). Trong Đại Tống Tăng Sử Lược (大宋僧史略) của Tán Ninh (讚寧) quyển Thượng trích dẫn phần Khảo Công Ký (考工記), có đoạn giải thích về truy y có màu sắc như thế nào: “Vấn: 'Truy y giả, sắc hà trạng mạo ?' Đáp: 'Tử nhi thiển hắc, phi chánh sắc dã' (問、緇衣者、色何狀貌、答、紫而淺黑、非正色也, Hỏi: 'Truy y, màu sắc của nó có hình dáng thế nào ?' Đáp: 'Màu tía mà đen nhạt, không phải thuần đen').” Như trong câu 5 trong 12 câu thỉnh Cô Hồn tương truyền do Thi Sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) sáng tác, có đoạn: “Nhất tâm triệu thỉnh: Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng, tinh tu Ngũ Giới tịnh nhân, phạm hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chơn thuyên, bạch cổ lê nô, tùng diễn khổ không diệu kệ. Ô hô ! Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt, Thiền thất hư minh bán dạ đăng. Như thị truy y Thích tử chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chúng (一心召請、出塵上士、飛錫高僧、精修五戒淨人、梵行比丘尼眾、黃花翠竹、空談秘密眞詮、白牯黧奴、徒演苦空妙偈、嗚呼、經窗冷浸三更月、禪室虛明半夜燈、如是緇衣釋子之流、一類孤魂等眾, Một lòng triệu thỉnh: ly trần thượng sĩ, chứng đạt cao tăng, chuyên tu Năm Giới tịnh nhân, các Tỳ Kheo Ni phạm hạnh, hoa vàng trúc biếc, chơn pháp bí mật luận không, trâu trắng mèo đen, nhọc thuyết khổ không diệu kệ. Than ôi ! Trăng canh ba qua cửa lạnh thấm, đèn nửa khuya Thiền thất ảo mờ. Như vậy dòng tu sĩ mặc áo thâm đen, một loại cô hồn các chúng).” Hoặc trong bài thơ Vô Đề (無題) của vua Trần Thái Tông (陳太宗, tại vị 1225-1258) Việt Nam có câu: “Nhất úng tao khang khúc nhưỡng thành, kỷ đa trí giả một thông minh, phi duy độc phá truy lưu giới, bại quốc vong gia tự thử sinh (一甕糟糠麴釀成、幾多智者沒聰明、非惟獨破緇流戒、敗國亡家自此生, một vò bã rượu ủ men thành, bao người trí tuệ chẳng thông minh, chẳng riêng phá giới tu hành kẻ, bại nước mất nhà tự đây sinh).” Tuy nhiên, trong Thủy Kinh Chú (水經注) quyển 6 của Li Đạo Nguyên (酈道元, ?-527) nhà Bắc Ngụy (北魏, 386-534), gọi các đạo sĩ hái thuốc là “Truy phục tư huyền chi sĩ (緇服思玄之士, hạng người mặc áo đen và tư duy những điều huyền nhiệm).” Như vậy, chúng ta có thể biết được rằng màu đen là phục sắc của tôn giáo từ ngày xưa, không phải chỉ riêng Phật Giáo. Cả Thích Giáo lẫn Đạo Giáo phần lớn đều giống nhau, chỉ khác nhau ở mũ đội trên đầu. Cuối cùng, mũ vàng là loại chuyên dụng của đạo sĩ, áo đen là biệt hiệu của tăng sĩ; và dần dần y phục màu đen trở thành phục sắc chính của tu sĩ Phật Giáo. Trong Bắc Sử (北史) quyển 2, Thượng Đảng Cang Túc Vương Hoán Truyện (上黨剛肅王煥傳) có chi tiết cho hay rằng: “Sơ Thuật thị ngôn: 'Vong cao giả, hắc y, do thị tự Thần Võ Hậu mỗi xuất môn bất dục kiến tang môn, vi hắc y cố dã' (初術氏言、亡高者黑衣、由是自神武后每出門不欲見桑門、為黑衣故也, ban đầu họ Thuật bảo rằng: 'Người mất tuổi cao thì mặc áo đen, do vậy từ khi Thần Võ Hậu mỗi lần ra cổng thành thì chẳng muốn thấy tăng sĩ, vì họ mặc áo đen').” Qua đó, chúng ta biết rằng nhà vua kỵ gặp Sa Môn Phật Giáo, chứ không phải đạo sĩ. Sau này Chu Võ Đế (周武帝, 560-578) nhân lời sấm ngữ này mà cấm tu tăng sĩ mặc sắc phục màu đen, và ra lịnh đổi thành màu vàng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân vì sao ngày nay tu sĩ Việt Nam mặc y phục màu vàng. Sắc phục hiện tại của tu sĩ Phật Giáo các nước tập trung chủ yếu ở 4 màu: vàng đậm, vàng, đen, xám. Trong Lương Hoàng Sám (梁皇懺) quyển 3 có câu: “Nguyện Phật nhật dĩ đương không, chiếu u đồ chi khổ thú, cưu Tam Học chi truy lưu, lễ tam thiên chi Đại Giác, ngã tâm khẩn khẩn, Phật đức nguy nguy, ngưỡng khấu hồng từ, minh huân gia bị (願佛日以當空、照幽途之苦趣、鳩三學之緇流、禮三千之大覺、我心懇懇、佛德巍巍、仰叩洪慈、冥熏加被, nguyện trời Phật thường trên không, chiếu tối tăm chốn nẻo khổ, chuyên Tam Học bậc tu hành, lạy ba ngàn đấng Đại Giác, tâm con khẩn thiết, đức Phật vời vợi, ngưỡng lạy ơn từ, thầm thương gia hộ).”
chuyên
Single, only; special; solely; particular; attentive; devoted to.
; 1) Cây đòn tay trên nóc nhà: Rafters. 2) Chỉ một—Solely.
Chuyên Chiếu Tự
(專照寺, Senshō-ji): ngôi chùa bản sơn của Phái Tam Môn Đồ (三門徒派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại Minori, Fukui-shi (福井市), Fukui-ken (福井縣); hiệu núi là Trung Dã Sơn (中野山). Vào năm 1290 (Chánh Ứng [正應] 3), Như Đạo (如道[導], Nyodō), đệ tử của Viên Thiện (圓善) ở Kiêm Chiếu Tự (兼照寺) thuộc Shizuoka-ken (靜岡縣), sáng lập nên một ngôi chùa và lấy tên là Chuyên Tu Tự (專修寺). Vào năm 1396 (Ứng Vĩnh [應永] 3), ông đổi tên chùa thành Chuyên Chiếu Tự, rồi đến năm 1437 (Vĩnh Hưởng [永享] 9), Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori) cúng dường lãnh địa Lộc Uyển Viện (鹿苑院) ở vùng Việt Hậu (越後, Echigo). Dưới thời đại của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), chùa trở thành ngôi chùa Môn Tích rất nổi tiếng và hưng thạnh; nhưng đến năm 1873 (Minh Trị [明治] 6) thì phụ thuộc vào Phái Đại Cốc của Chơn Tông. Đến năm 1878 (Minh Trị 11), chùa độc lập tách riêng ra, lập thành phái Tam Môn Đồ.
chuyên chính
Absolutism.
chuyên chú
Anusmrti (S). Attentive, recollection, contemplation.
chuyên cần
Industrious.
chuyên hành
(專行) Có nghĩa là chuyên chú tu một điều thiện. Tức bỏ các pháp khác mà chỉ chuyên làm một pháp. [X. Giáo hành tín chứng Q.6]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).
chuyên na già
Culanāga (P).
chuyên nhất
Concentration, devoted to one thing; specially; particularly.
chuyên nhứt
To devote to one thing.
chuyên nhứt công phu
Single-mindedly make effort.
chuyên niệm
To fix the mind, or attention, upon.
; Chuyên chú niệm vào một cảnh—To fix the mind—To attend upon—Solely to invoke a certain Buddha.
; (專念) Chuyên tâm nhớ nghĩ về một đối tượng nào đó. Kinh Trường a hàm quyển 2(Đại 1, 15 trung), nói: Phật tu hành bốn thần túc Cổng Chùa Chúc Thánh đã nhiều, chuyên niệm không quên. Lại niệm tuy có hai nghĩa là niệm thành tiếng, niệm trong tâm, nhưng chuyên niệm trong tông Tịnh độ là đặc biệt chỉ sự tu hành chuyên xưng niệm danh hiệu của đức Phật A di đà. Trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo có câu: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Di đà.
chuyên niệm phật
Solely invoke a certain Buddha.
chuyên phật
(磚佛) Tức là các hình tượng Phật nhỏ nặn bằng đất sét rồi nung lên mà thành, cũng có tòa sư tử, lọng trời v.v... phần nhiều làm hình vuông, hình chữ nhật. Từ thời đại Bắc Ngụy đã rất thịnh hành và được truyền đến Nhật bản vào khoảng đời Đường. Hiện còn đến nay thì có tượng bồ tát Quan âm được đắp vào năm Hưng hòa thứ 5 (543) đời Đông Ngụy, nhưng ở các địa phương tại Tây tạng cho đến nay vẫn còn đắp tượng Phật bằng đất. Cứ theo Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ truyện Tăng triết chép, thì vua nước Tam ma đát tra thuộc đông Ấn độ mỗi ngày nặn (có khuôn) mười vạn tượng Phật bằng đất, đọc mười vạn kệ tụng Bát nhã. Lại phía ngoài Lan cống thuộc Miến điện, có nhiều tượng Phật Niết bàn đều nặn bằng đất sét nung rồi tráng vàng ở ngoài. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
chuyên tinh
Solely and purely (to advance in the way); to specialize in sth.
; Solely or purely.
chuyên tu
Focused practice—Chuyên tu là chọn lấy một pháp môn duy nhất nào đó rồi y theo pháp môn ấy mà tu cho đến suốt đời không thay đổi; thí dụ như chọn pháp môn Tịnh Độ thì suốt đời chỉ chuyên niệm Phật cầu vãng sanh mà thôi. Nếu tu thiền thì chỉ chú tâm vào thiền quán mà thôi, chứ không nên nay tu pháp môn nầy, mai đổi pháp môn khác—Focused practice is to selct a single Dharma Door and then practice according to the teachings of that Dharma Door for the remainder of the cultivator's life without changing and mixing in other practices. For example, once a person chooses to practice Pureland Buddhism, then for the entire life, he should always and often focus his energy into reciting the Buddha's virtuous name and pray to gain rebirth. If he or she chooses to practice meditation, he or she should always focus on meditation and contemplation. Thus, the wrong thing to do is to practice one Dharma Door one day and switch to another the next.
; (專修) Có nghĩa chuyên môn tu tập một việc. Trái lại, tu nhiều pháp hỗn hợp thì gọi là tạp tu. Trong tông Tịnh độ, chuyên tu chỉ sự tu hành cầu vãng sinh thế giới Cực lạc, cũng tức là hành vi và tâm cảnh đều khế hợp với chính đạo vãng sinh Tịnh độ, và chuyên tâm tín phụng Phật A di đà. Thông thường chỉ năm chính hành đọc tụng, quan sát, lễ bái, xưng danh và tán thán cúng dường, hoặc chỉ đem tâm chính tín tu hạnh Xưng danh trong năm chính hành, đây gọi là chuyên tu niệm Phật. Trái lại, tạp tu là chỉ các tạp hành xưng niệm danh hiệu của chư Phật và Bồ tát khác, hoặc ngoài chính hành xưng danh ra, còn tu các hành nghiệp (trợ nghiệp) khác cùng một lúc với việc xưng danh (trợ, chính kiêm tu) để làm nhân cho việc vãng sinh. Lại giữ tâm chuyên tu và tạp tu, gọi là Chuyên tạp chấp tâm, và tâm trợ, chính kiêm hành, gọi là Trợ chính gián tạp tâm. Trong Vãng sinh lễ tán kệ, ngài Thiện đạo phân tích về sự hơn kém, được mất của chuyên tu và tạp tu, nói chuyên tu có bốn cái được, tạp tu có mười ba cái mất. Người chuyên tu chắc được vãng sinh, cho nên nói nghìn người không mất một người, người tạp tu chắc không được vãng sinh, trong nghìn người không có một người - trong vạn người không có một người vãng sinh.
Chuyên Tu Tự
(專修寺, Senjū-ji): ngôi chùa hiện tọa lạc tại số 1482 Takada (高田), Ninomiya-machi (二宮町), Haga-gun (芳賀郡), Tochigi-ken (栃木縣); hiệu là Cao Điền Sơn (高田山), thuộc phái Cao Điền Sơn của Chơn Tông. Tượng thờ chính là Nhất Quang Tam Tôn Phật (一光三尊佛, tức A Di Đà Tam Tôn theo dạng thức của Thiện Quang Tự, gồm A Di Đà Như Lai, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát). Ngôi chùa bản sơn trung tâm cùng tên hiện tọa lạc tại số 2819 Isshinden-chō (一身田町), Tsu-shi (津市), Mie-ken (三重縣). Vì vậy, vị trú trì của chùa này thường kiêm nhiệm luôn cả ngôi chùa ở Mie-ken. Nguồn gốc tên chùa vốn phát xuất từ đặc trưng của các Tông phái thuộc hệ Tịnh Độ là “Chuyên Tu Niệm Phật (專修念佛)”. Nhờ sự hỗ trợ đắc lực của vị Thành Chủ của Thành Chơn Cương (眞岡城, Mooka-jō) là Đại Nội Quốc Thời (大內國時, Ōuchi Kunitoki), ngôi chùa này do Thân Loan kiến lập vào năm 1226 (Gia Lộc [嘉祿] 2), làm đạo tràng căn bản để truyền bá Chơn Tông khắp vùng Quan Đông (關東, Kantō). Năm sau, triều đình sắc phong cho chùa tên Chuyên Tu A Di Đà Tự (專修阿彌陀寺). Từ đó trở đi, ngôi chùa trở thành nơi hoạt động trung tâm của Chơn Tông ở vùng Quan Đông và rất phồn vinh, rồi dòng pháp của vị Tổ đời thứ 2 của chùa là Chơn Phật (眞佛, Shinbutsu) và thứ 3 là Hiển Trí (顯智, Kenchi) đã hình thành nên một dòng phái khác, lấy tên là dòng Tịnh Độ Hạ Dã (淨土下野). Đến năm 1465 (Khoan Chánh [寛正] 6), dưới thời vị Tổ thứ 10 là Chơn Tuệ Thượng Nhân (眞慧上人) đất chùa được dời đến vùng Mie-ken (三重縣), rồi sau đó chùa cũng hưng long. Tượng Bổn Tôn A Di Đà Như Lai tương truyền do Thân Loan thỉnh từ ngôi chùa Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji) ở vùng Tín Nùng (信濃, Shinano). Hiện chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật vô giá như Tây Phương Chỉ Quy Sao (西方指南抄), 6 quyển, thủ bút của Thân Loan; tam thiếp hòa tán (三帖和讃), 3 quyển, thủ bút của Thân Loan; Ngự ảnh Đường, Như Lai Đường, tượng A Di Đà Như Lai đứng bằng gỗ, v.v.
chuyên tu vô gián
Uninterrupted cultivation—Theo thuyết Chuyên Tu Vô Gián của Trung Quốc Tịnh Độ Liên Tông Nhị Tổ là ngài Thiện Đạo Đại Sư, Nhứt Tâm Niệm Phật cần phải hội đủ các điều kiện sau đây—According to the “Uninterrupted Cultivation” method of the the Second Patriarch of Chinese Pureland Buddhism, the Great Venerable Master Sen-Tao, in order for recitation to be considered a “Singlemindedness Buddha Recitation,” it is necessary to have the following criteria: 1) Thân chuyên lễ Phật A Di Đà, chớ không lễ tạp nhạp: Body must often prostrate to Amitabha Buddha, and not prostrate in a random or disorderly way. 2) Miệng chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà, chứ không xưng tạp hiệu: Mouth must often recite the virtuous name of Amitabha Buddha, and not recite in a random and disorderly way. 3) Ý chuyên tưởng Phật A Di Đà, chứ không tưởng tạp niệm: Mind must often think of Amitabha Buddha, and not think in a random and disorderly way.
chuyên tâm
With single mind; whole-heartedly; devoted to.
; Chuyên chú tâm hay tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì—To apply oneself to—To concentrate on—To give all one's attention to—With single mind—Whole-heartedly.
; (專心) Tức hàm ý là một lòng, không hai lòng. Cũng tức là chỉ sự tập trung tâm tư, không nghĩ lăng xăng tạp nhạp. Như kinh Tạp a hàm quyển 39 nói Chuyên tâm thiền tư, Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa của Thiện đạo nói Chuyên tâm niệm Phật đều là nghĩa ấy. [X.Giáo hành tín chứng Q.2]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).
chuyên tín
(專信) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, khi sai phái một người đi đâu để xử lí một sự vụ đặc biệt nào đó, thì gọi là Chuyên sứ, bức thư tín mà người chuyên sứ cầm đi, gọi là Chuyên tín. Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 hạ), nói: Chuyên sứ đến trước vị trụ trì vái ba vái rồi nói: Chuyên tín này vâng mệnh tôn nhan đi đưa, người không có nhiệm vụ không được xem đến. Nói xong hàn huyên đôi lời, lại vái ba vái rồi đi.
chuyên tưởng
To think wholly, or only, of or upon.
; Chuyên quán vào một cảnh mà tâm không tán loạn—To think wholly—To think only.
; (專想) Chỉ sự chuyên chú quán tưởng một cảnh (đối tượng) mà tâm không tán loạn, di động. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng), nói : Ngồi ngay ngắn hướng về phía chính tây, nhìn kĩ mặt trời, khiến tâm bám sát, chuyên tưởng không dời.
chuyên tạp nhị tu
(專雜二修) Tức chỉ chuyên tu và tạp tu. Nói tắt là Chuyên tạp. Có nhiều giải thích khác nhau về hai cách tu này. Sa môn Hoài cảm lấy kinh Bồ tát xử thai làm căn cứ, nói giữ tâm không bền gọi là Tạp tu, dụng tâm kiên cố gọi là Chuyên tu. Những người tạp tu sinh vào nơi giải mạn, những người chuyên tu mới sinh nơi Cực lạc, đây là theo sự dốc lòng hay không dốc lòng mà bàn về chuyên, tạp khác nhau. Trạch anh và Nguyên không cho hai cách tu ấy là hai hạnh Chính, Tạp, bảo rằng, đem ba nghiệp thân khẩu ý mà lễ bái, nhớ nghĩ Phật A di đà, gọi là chuyên tu, dùng tâm tản mạn mà tu các pháp lành gọi là tạp tu. Chứng không thì căn cứ vào hai đường khó, dễ mà giải thích hai cách tu, bảo rằng Tạp tu là Nan hành đạo (đạo khó làm), Chuyên tu là Dị hành đạo (đạo dễ làm). Lại còn thuyết khác cho rằng, bất luận là chính hành hay tạp hành, chỉ căn cứ vào sự có đủ hay không đủ ba tâm, bốn tu mà chia thành hai cách tu. Ngài Thiện đạo chia sự tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ thành năm chính hành và năm tạp hành, trong đó, năm chính hành lấy việc niệm Phật làm chính nghiệp, các hành khác là trợ nghiệp, mà ngoài việc niệm Phật ra, kiêm tu các trợ nghiệp và tạp hành khác thì gọi là tạp tu.Ngoài ra, còn bàn về sự hơn kém, được mất của hai cách tu mà bảo rằng, chuyên tu có bốn cái được, tạp tu có mười ba cái mất. Lại nói người chuyên tu chắc được vãng sinh là nghìn người không mất một người, người tạp tu chắc chẳng được vãng sinh, là trong nghìn người không có một người, trong muôn nghìn người không có một người vãng sinh [X.luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4,Vãng sinh lễ tán kệ tiền tự (Thiện đạo), Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập - vãng sinh lễ tán yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao Q.3 - Niệm Phật danh nghĩa tập Q.thượng]. (xt. Chính Tạp Nhị Hành).
Chuyết Am Đức Quang
(拙庵德光, Settan Tokkō, 1121-1203): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, được gọi là Chuyết Am (拙菴), Đông Am (東菴), xuất thân vùng Tân Dụ (新喩), Lâm Giang (臨江, Tỉnh Giang Tây), họ là Bành (彭). Năm 15 tuổi, ông theo xuất gia với Thiền Sư Cát (吉禪師) ở Đông Sơn Quang Hóa Tự (東山光化寺), sau đó tham học với Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) ở Dục Vương Sơn (育王山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông trú tại Quang Hiếu Tự (光孝寺), kế đến vào năm thứ 7 (1180) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông sống qua các nơi như Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Kính Sơn Tự (徑山寺), v.v. Ông được vua Hiếu Tông nhà Nam Tống quy y theo và ban cho hiệu là Phật Chiếu Thiền Sư (佛照禪師). Vào năm thứ 3 (1203) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Phổ Tuệ Tông Giác Đại Thiền Sư (普慧宗覺大禪師). Pháp từ của ông có Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰), Vô Tế Liễu Phái (無濟了派), Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡), v.v. Trước tác của ông có Phật Chiếu Thiền Sư Tấu Đối Lục (佛照禪師奏對錄) 1 quyển, Phật Chiếu Quang Hòa Thượng Ngữ Yếu (佛照光和尚語要) 1 quyển.
Chuyết Công
拙公; 1590-1644|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, pháp hệ thứ 34. Sư là người đầu tiên truyền tông này sang Việt Nam, miền Bắc.|Sư quê ở Tiệm Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Thuở nhở, Sư đã học thông sử sách và sau khi xuất gia tinh thông tam tạng kinh điển.|Sau, Sư đến Thiền sư Tăng Ðà Ðà ở Nam Sơn và được vị này Ấn khả. Danh tiếng của Sư từ đây vang khắp mọi nơi.|Sư đến kinh đô Thăng Long năm 1633, trụ tại chùa Khán Sơn, sau lại đến chùa Phật Tích ở huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc hoằng pháp. Trong thời gian giáo hoá ở đây, Sư được Chúa Trịnh Tráng quý trọng, vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu cũng đều tôn kính. Môn đệ nổi danh kế thừa Sư là Thiền sư Minh Lương.|Sắp tịch, Sư gọi chúng lại nói kệ:|瘦竹長松滴翠香。流風疏月度微涼|不知誰住原西寺。每日鐘聲送夕陽|Sấu trúc trường tùng trích thuý hương|Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương|Bất tri thuỳ trụ Nguyên Tây tự|Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương|*Tre gầy thông vót nước rơi thơm|Gió thoảng trăng non mát rờn rờn|Nguyên Tây ai ở người nào biết?|Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.|Nói kệ xong, Sư bảo chúng: »Nếu ai động tâm khóc lóc thì không phải là đệ tử của ta.« Sau đó, Sư ngồi yên thị tịch, nhằm ngày rằm tháng 7 năm Giáp Thân, thọ 55 tuổi.
chuyết công thiền sư
Zen master Chuyết Công (1590-1644)—Thiền sư Trung Hoa, quê ở Tiệm Sơn, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Ngài đã tỏ ra thông minh lúc tuổi hãy còn rất nhỏ. Thoạt đầu ngài theo học thiền với Thiền sư Tiệm Sơn. Về sau, ngài theo học với Thiền sư Tăng Đà Đà ở Nam Sơn và trở thành pháp tử đời thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế. Năm 1633, ngài đến Thăng Long, Bắc Việt. Ngài được cả Chúa Trịnh và vua Lê Huyền Tông kính trọng và tôn sùng. Sau khi trùng tu chùa Ninh Phúc, Chúa Trịnh mời ngài về trụ trì tại đây để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch năm 1644—A Chinese Zen master from Tiệm Sơn, Phước Kiến, China. Since his young age, he was very intelligent. First, he studied Zen with Zen master Tiệm Sơn. Later, he studied with Zen master Tăng Đà Đà in Nam Sơn. He was the Dharma heir of the thirty-fourth generation of the Linn-Chih Zen Sect. In 1633, he arrived at Thăng Long, North Vietnam. He was respected and honored by both Lord Trịnh and King Lê Huyền Tông. After rebuilding Ninh Phúc Temple, Lord Trịnh invited him to stay there to revive and expand Buddhism until he passed away in 1644.
chuyết hoả định
(拙火定) Là một phép tu định của Mật tông thuộc Phật giáo Tây tạng. Tức là luyện tập các tác dụng sinh lí, (như luyện khí, mạch và điểm sáng......) để đạt được công năng chống lại đói rét. Phái Ca nhĩ cư cho đây là phép tu căn bản trong việc truyền thừa đại pháp, cho nên phải dạy dỗ và tu luyện. Cứ theo truyền thuyết thì Mật lặc nhật ba của phái Ca nhĩ cư đã tu phép Chuyết hỏa định mà được thành tựu.
chuyết độ
(拙度) Đối lại với Xảo độ. Chỉ phép tế độ vụng về trì độn, không rốt ráo, dùng để phê bình phép quán của Tiểu thừa. Ma ha chỉ quán quyển 3 phần trên (Đại 46, 23 hạ), nói: Phép chỉ quán ấy tuy ra khỏi sống Chùy Châm chết, nhưng là chuyết độ (tế độ vụng về), diệt được sắc rơi vào không.
chuyền tay
To pass from one hand to another
chuyển
Vartana, pravartana; vrtti (S). Turn, transform, revolve, evolve, change, the process of birth and rebirth; again, re-.
; 1) Chuyển Dịch: To translate. 2) Chuyển Đổi: Turn—To change—To turn into—To evolve—To revolve. 3) Chuyển Hóa: Vartana (skt)—To transform—Thực hành Phật pháp là chuyển hóa những tư tưởng xấu xa thành tốt hoặc có lợi lạc—Practice Dharma is to transform our negative thoughts into positive or beneficial ones—Practice Dharma is to transform bad karma into good karma: Tu là chuyển nghiệp. 4) Tiến trình sanh và tái sanh: Pravartana or Vrtti (skt)—The process of birth and rebirth.
; (轉) Phạm: Pravftti. 1. Ý là sinh khởi, nghĩa là nương vào nhân duyên mà sinh khởi. Thông thường có các tiếng dùng như chuyển khởi, chuyển sinh... [X. luận Thành duy thức Q.2]. 2. Hàm ý là làm cho xoay chuyển, hoạt động, tác dụng, và nói bày tuyên giảng. Như nói quay bánh xe đại pháp, quay bánh xe diệu pháp... (xt. Chuyển Pháp Luân). 3. Hàm ý là làm cho biến hóa, biến đổi. Như đổi tông, chuyển thức được trí, chuyển phàm vào Thánh, đổi chỗ nương tựa, đều là ý ấy. 4. Hàm ý quay vòng, quay chuyển. Như nói chuyển kinh, phiên chuyển, hoán chuyển, thi chuyển...
chuyển biến
Parinàma (S). Change, transform, evolve, develop.
; Parinama (skt)—Sự chuyển biến hay không ngừng thay đổi (nhân duyên sinh ra các pháp, nhân duyên nối tiếp tác động ảnh hưởng kết hợp với nhau thành ra mọi sự vật có hình tướng, có tên gọi, có đặc tính khác nhau, nhưng tất cả đều phải trải qua bốn thời kỳ sanh, trụ, dị, diệt)—Change—Transform—Evolve. ** For more information, please see Tứ Tướng
; (轉變) Hàm ý là chuyển hóa đổi khác. 1. Chuyển biến. Tức phiếm chỉ cái tướng chuyển hóa biến đổi của các pháp. Thuyết chuyển biến (Phạm: pariịàmavàda) và thuyết Tích tập (Phạm:àrambhavàda) là tư tưởng trung tâm của Áo nghĩa thư mà các phái triết học Ấn độ phần nhiều thu dụng, trong đó, lấy thuyết Chuyển biến của học phái Số luận làm đại biểu điển hình. Học phái này cho rằng, bản tính của cái nhân vật chất của muôn vật đều có tính chuyển biến. Các học phái khác, như phái Du già cũng thu dụng thuyết này. Lại trong học phái Phệ đàn đa, thuyết Chuyển biến của La ma nô già (Phạm: Ràmànuja) và thuyết Hóa hiện (Phạm: Vivarta-vàda) của Thương yết la (Phạm: Saíkara) đối lập nhau. Trong Phật giáo, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương, trong vòng nối tiếp của các pháp hữu vi, từ khoảng sát na trước đến khoảng sát na sau, thể của chúng không có sự đổi khác (tự thể chuyển biến), nhưng đối với sự không khởi động, đang khởi động hoặc sắp khởi động của tác dụng, thì về mặt biến hóa của vị lai, hiện tại và quá khứ, thừa nhận có chuyển biến (tác dụng chuyển biến). Tông Duy thức chủ trương thuyết Thức chuyển biến (Phạm: Vijĩàna-pariịàma), thuyết này đứng về phương diện nhân tính và quả tính mà khảo sát sự chuyển biến của thức, và cho rằng nhân chuyển biến là y vào thức hiện hành, trong thức A lại da có các tập khí đẳng lưu và dị thục - quả chuyển biến là từ tập khí dị thục trong thức A lại da sản sinh các thức A lại da chúng đồng phận khác, rồi lại từ tập khí đẳng lưu mà sản sinh thức hiện hành. Như vậy, thuyết Thức chuyển biến, một mặt thuyết minh mối quan hệ nhân quả giao thoa của thức A lại da và thức hiện hành, mặt khác lại hiển bày cái tình hình thức A lại da nối tiếp sinh diệt từng sát na, không gián đoạn. Trong luận Thành duy thức quyển 7, từ chuyển biến được dịch là Năng biến, do đó, có những giải thích như sau: cái gọi là chuyển biến (khái niệm tác dụng) tức là năng biến (khái niệm thể tính). Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 38 hạ), nói : Các thức ấy, nghĩa là thức Tam năng biến và tâm sở kia như đã nói ở trước, đều hay biến ra hai phần Kiến và Tướng, cho nên đặt tên là chuyển biến. Kiến phần sở biến, gọi là Phân biệt, vì hay nhận lấy tướng - Tướng phần sở biến, gọi là Sở phân biệt, vì do Kiến nhận lấy. Ý nghĩa trên đây, tức là hai phần Kiến, Tướng được hiện trong các thức đều gọi là chuyển biến, bất luận là Kiến phần năng thủ hay Tướng phần sở thủ, đều là do thức biến hiện. Tông Duy thức lấy đó mà thành lập nghĩa Hết thảy đều do thức, là tư tưởng trung tâm của tông này. [X. Duy thức nhị thập luận - Duy thức tam thập tụng - Thế thân duy thức nguyên điển giải minh]. (xt. Nhân Năng Biến, Quả Năng Biến). II. Chuyển biến. Là một trong mười tám biến. Có nghĩa là Phật và Bồ tát dựa nơi sức định mà có thể chuyển biến tính chất của muôn vật một cách tự tại. Thuyết này có xuất xứ từ luận Du già sư địa quyển 37. (xt. Thập Bát Biến).
chuyển biến vô thường
Change and impermanence.
; Sự chuyển biến và vô thường—Change and impermanence.
chuyển bánh xe pháp
Turning The Wheel of the Dharma.
chuyển cách lan
Đi vòng tam bộ nhứt bái quanh Chùa Trung Tâm Lhasa, để cầu nguyện tiêu tai cát tường—The circuit of the central Lhasa temple, made by prostrations every third step, to get rid of evils or obtain blessing.
chuyển căn
(轉根) Hàm ý là chuyển căn tính. Còn gọi là Tăng tiến căn. Có nghĩa là điều luyện căn tính cùn lụt kém cỏi để chuyển thành căn tính sắc bén tốt hơn. Tức từ căn tính Thanh văn, Duyên giác chuyển làm căn tính Bồ tát. Lại từ nam căn chuyển thành nữ căn, nữ căn chuyển thành nam căn, cũng gọi là Chuyển căn. [X. luận Đại tì bà sa Q.7, Q.68 - luận Câu xá Q.23, Q.25 - luận Thuận chính lí Q.70].
chuyển cốt
(轉骨) Nghi thức chôn cốt trong Thiền lâm. Khi đưa người chết vào tháp, bắt đầu từ phòng ngủ thì để chân hướng về phía tháp, nhưng đến nửa đường thì quay chuyển vị trí mà trở đầu về phía tháp, đồng thời, dâng nước trà cúng dường vong linh. Nghi thức này gọi là Chuyển cốt Phật sự. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.14 Tang tiến môn].
chuyển cổ
(轉鼓) Phương pháp đánh trống trong Thiền lâm, khi đánh đến nửa chừng thì đổi sang một lối đánh khác, gọi là Chuyển cổ. Chẳng hạn như đánh trống Thướng đường, khi chư tăng nghe tín hiệu tiếng trống thì đều ra nhà Tăng, lúc ấy, đánh trống liền có sự chuyển biến trong hồi thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 1 mục Thánh tiết (Đại 48, 1113 thượng), nói: Thị giả chuyển trống đến đứng bên trái tòa pháp chờ đại chúng tụ tập. (...) Người lãnh chúng đi, đưa đến sắp hàng trước nhà kho, đứng chờ chuyển trống.
chuyển di
Pariṇāma (S), Transference Hồi hướng.
chuyển di tâm thức
Phowa (T), Pravṛtti-vijāna (S), Transference of Consciousness Meditation, Mind transferrence
chuyển di, chuyển dịch
To displace, shift.
chuyển diệu pháp luân
Turning the Wonderful Dharma-wheel.
chuyển dục
(轉欲) Khi chúng tăng làm pháp sự, nếu vì một lí do nào, như đau ốm chẳng hạn, một vị tỉ khưu không tham dự được, thì nhờ một tỉ khưu khác đem sự tán đồng của mình nói trước đại chúng, đây gọi là Dục pháp . Vị tỉ khưu nhận lời chuyển sự tán đồng ấy, gọi là Thụ dục . Người vắng mặt nhờ người khác thông báo trước đại chúng, gọi là Dữ dục . Nếu vị tỉ khưu đã nhận lời (thụ dục), lại cũng vì một lí do nào đó mà không tham dự được, lại nhờ (dữ dục) một tỉ khưu khác chuyển lời, thì gọi là Chuyển dục. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng đoạn 1].
chuyển giao
To hand over—To transfer.
chuyển giáo
Thuyết giáo lưu truyền từ người nầy sang người kia—To teach or preach through a deputy; to pass on the doctrine from one to another.
chuyển giáo dung thông
(轉教融通) Là tiếng dùng để biểu thị cái đặc trưng của thời Bát nhã thứ tư trong năm thời phán giáo của tông Thiên thai. Nói đủ là Chuyển giáo phó tài dung thông đào thải. Từ ngữ này có xuất xứ từ Thiên thai Tứ giáo nghi của Đế quán. Trong hội Bát nhã, các vị Thanh văn Tu bồ đề, nhờ sức Phật gia bị, đã thay đức Phật mà diễn nói pháp môn Bát nhã cho các Bồ tát nghe, gọi là Chuyển giáo. Dung thông, là ý dung hội vô ngại, có nghĩa là pháp môn Bát nhã nói hết thảy pháp đều là Ma ha diễn (Đại thừa), Đại, Tiểu dung hợp, không hai không khác. Như nay thời Bát nhã có việc chuyển giáo dung thông. Tiếng phó tài, đào thải là thí dụ hiển bày ý Phật. Chữ phó tài..... là lấy ý từ phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa, tức Thanh văn chuyển giáo hiển bày ý Phật là pháp tài Đại thừa được trao phó cho Thanh văn, cũng như ông Trưởng giả đem gia tài ủy thác cho đứa con nghèo cùng. Nhưng lí mầu nhiệm của Bát nhã Đại thừa nguyên chẳng phải là điều mà những người Thanh văn biết được, song nhờ đức Phật gia bị khiến họ vì các Bồ tát mà diễn nói, cho nên phẩm Tín giải bảo (Đại 9, 17 trung): Lãnh biết mọi vật, (...) mà không mong cầu lấy cho một bữa. Còn đào thải....., là ý rửa sạch các vật nhơ bẩn. Tức thời Phương đẳng thứ ba nói cả bốn giáo sinh ra tình chấp có Đại, Tiểu khác nhau, cho nên ở thời Bát nhã hiển bày pháp môn Đại, Tiểu dung thông mà quét sạch tình chấp. Đây cũng như nước sạch tẩy trừ sự cáu bẩn của vật, tức cái gọi là Pháp mở hội của Bát nhã vậy. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2 phẩm Tam giả, Q.7 phẩm Vô sinh - luận Đại trí độ Q.41 - Pháp hoa văn cú Q.6 phần dưới - Thiên thai bát giáo đại ý - Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10 đoạn 2 - Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng - Tứ giáo tập giải Q.thượng].
chuyển hoá
(轉化) Cũng như nói thiên hóa, thiên chuyển giáo hóa ở các cõi khác. Hoặc là nghĩa thiên chuyển biến hóa, nghĩa là khi mệnh chung từ thế giới Sa bà chuyển sinh sang cõi Tịnh độ. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung), nói: Hai Bồ tát ấy ở đất nước này, tu hạnh Bồ tát, mệnh chung chuyển hóa, sinh sang cõi nước của đức Phật kia.
chuyển hoán
To commute.
chuyển hóa
Proselytizing.
; • Chuyển hóa: Parinam (skt)—To alter—To be transformed into. • Đang chuyển hóa: Parinamin (skt)—Altering—Changing—Transforming. • Sự chuyển hóa: Parinama (skt)—Alteration—Change—Transformation.
chuyển hóa nội tâm
Internal practice
chuyển hướng
To turn the head to; to change one's direction; to alter one's course, one's route.
; To change (shift) one's direction.
chuyển hướng từ thiền sang tịnh
To shift from Zen to the Pure Land method.
chuyển họa vi phúc
To turn misery into luck.
chuyển hồi
1) Trở lại: To return—To revolve. 2) Tái sanh: To be reborn.
chuyển hồi, luân hồi
To return, revolve, be reborn; transmigration.
chuyển khám
(轉龕) Nghi thức tống táng trong Thiền lâm. Khi đưa người quá cố đến cửa sơn môn thì quay khám hướng vào trong, rồi dâng trà thang cúng dường vong linh, gọi là Chuyển khám Phật sự. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.14 Tang tiến môn].
chuyển khởi
(轉起) Chuyển, tức là nghĩa dấy lên. Có nghĩa là các pháp hữu vi nương vào nhân duyên mà sinh khởi. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 240 trung), nói: Chuyển là nghĩa dấy lên. Theo các duyên mà dấy lên các thứ tướng ngã pháp.
chuyển kinh
To recite a scripture; to scan a scripture by reading the begining, middle, and end of each chapter.
; 1) Tụng kinh: To recite a scripture. 2) Chuyển đọc: Chỉ đọc có mấy hàng đầu, mấy hàng giữa, mấy hàng cuối của mỗi chương—To scan a scripture by reading the beginning, midle, and end of each chapter.
; (轉經) I. Chuyển kinh. Đọc tụng kinh điển. Đồng nghĩa với Phúng kinh. Cứ theo thuyết trong Cao tăng truyện kinh sư luận, thì ngâm vịnh kinh gọi là chuyển đọc, ca tán thì gọi là Phạm âm. II. Chuyển kinh. Đọc tụng trọn cả một bộ kinh, gọi là Chân độc ...... Nhưng như kinh Đại bát nhã là bộ kinh lớn, có nhiều quyển, thì chỉ tụng đọc vài dòng ở đầu, giữa và cuối, hoặc chỉ lật từng trang bắt chước như đọc kinh, đều gọi là Chuyển kinh, cũng gọi là Chuyển đọc. Pháp hội tụng kinh, gọi là Chuyển kinh hội. Đọc Đại tạng kinh, gọi là Chuyển tạng. III. Chuyển kinh. Là một pháp hội Phật giáo thịnh hành ở triều đại Cao li tại Triều tiên. Cách thức tiến hành là, trước hết, đặt một pho tượng Phật nhỏ bằng vàng trên một cỗ xe, nhạc công đi bộ tấu nhạc trước và sau xe, một số vị tăng đứng đầu hai bên tả hữu cầm hương, tụng kinh, phía trước hàng người đi thành hàng dẫn đầu, tay cầm cờ, phan, đám rước đi qua các đường phố, lại có một chú tiểu (điệu) ngồi trên xe đánh trống. Trong khi đi rước, khi dứt tụng kinh thì tấu nhạc, khi tiếng nhạc chấm dứt thì lại tụng kinh. Có thuyết bảo rằng việc làm ấy vốn là di phong của địa phương Tây vực.
chuyển kinh đồng
(轉經筒) Là vật pháp mà tín đồ Phật giáo Tây tạng dùng để cầu nguyện. Hình dáng giống như cái thùng, ở giữa có trục để quay, phía trong có để giấy in kinh văn, chung quanh khắc sáu chữ Chân ngôn - đưa tay đẩy thì quay chuyển, quay một vòng biểu trưng tụng một biến sáu chữ Chân ngôn. Còn có mấy loại gió quay chuyển, nước quanh chuyển, chân đạp v.v..., và tên gọi thì có Ma ni luân, Kì đảo đồng.
chuyển kiếp
Transmigration
chuyển kế
(轉計) Tiếng dùng trong Nhân minh. Kế, tức là nghĩa tính toán phân biệt, hoặc chỉ tông nghĩa tính toán phân biệt được thành lập. Trong luận thức Nhân minh, nếu tông nghĩa bị đối phương vặn hỏi, thì nhân đó mà chuyển đổi tông nghĩa, gọi là Chuyển kế.
chuyển luân
Cakravarti (S). A ruler the wheels of whose chariot roll everywhere without hindrance. Revolving wheels, to turn a wheel.
; See C(h)akravartin in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Chuyển luân thánh vương
xem Chuyển luân vương
chuyển luân thánh vương
Cakravartina (S), Balatcakravatin (S), Cakkavattirāja (P), Cakra-vartīrājan (S), koro gyur wa (T), Cakkavattirāja (P), Śākyavartin (S), Cakravartīrāja (S), Soverign ruler, Wheel-turning monarch Chuyển Luân Vi Sơn vươngKim Luân vương, Chuyển Luân vương. Chuyển luân thánh vương, Chuyển luân thánh đế. Tên cha đức Phật Đại Thông Trí Thắng. Là vị Thánh vương vỉ pháp lý mà cai trị khắp hoàn cầu.
; Cakravarti-raja (skt)—Wheel-king, or Wheel-Turning King. ** For more information, please see C(h)akravartin, Luân Vương and Luân Bảo.
; (轉輪聖王) Phạm: Cakra-varti-ràjan,Pàli: Raja cakkavattin. Dịch âm là Chước cu la phạt lạt đề át la xà, Già ca la bạt đế, Già gia việt. Dịch ý là Chuyển luân vương, Chuyển luân thánh đế, Phi hành hoàng đế. Nghĩa là ông vua quay chuyển bánh xe báu (tương đương với chiến xa). Vua có bảy thứ quí báu (bánh xe, voi, ngựa, ngọc, nữ, cư sĩ, bề tôi chủ binh), đầy đủ bốn đức (sống lâu, không đau ốm, dung mạo hồng hào, kho báu phong phú), thống nhất bốn châu Tu di, dùng chính pháp trị đời, đất nước giàu có, nhân dân hòa vui. Thuyết Chuyển luân thánh vương xuất hiện và thịnh hành ở thời đại đức Thích tôn, trong các kinh luận, có rất nhiều chỗ đem đức Phật so sánh với vị vua này. Kinh Tạp a hàm quyển 27, luận Đại trí độ quyển 25, đem bảy thứ quí báu và sự hóa trị của Chuyển luân thánh vương nêu ra song song với bảy giác chi của Phật. Hoặc gọi sự thuyết pháp của đức Phật là Chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp) sánh với sự quay bánh xe báu của Chuyển luân thánh vương. Lại luận Đại tì bà sa bảo bánh xe báu của Chuyển luân thánh vương có bốn thứ là vàng, bạc, đồng, sắt, đều có luân vương. Kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng phẩm Bồ tát giáo hóa, kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng phẩm Hiền thánh học quán, căn cứ theo các loại bánh xe trên đây mà phối với hành vị Bồ tát, lấy Luân vương sắt làm ngôi Thập tín, Luân vương đồng làm ngôi Thập trụ, Luân vương bạc làm ngôi Thập hành, Luân vương vàng làm ngôi Thập hồi hướng. Pháp uyển châu lâm quyển 43, nêu Luân vương có Quân luân vương, Tài (của cải) luân vương và Pháp luân vương. A dục vương là Quân (việc binh) luân vương, bốn luân vương từ vàng đến sắt là Tài luân vương, còn Như lai là Pháp luân vương. Xét về Chuyển luân thánh vương thì phần nhiều đã xuất hiện ở thời thái cổ, các kinh luận có đề cập đến rất nhiều tên, Đính sinh vương, Đại thiện kiến vương, Dân chủ thiện tư vương v.v... đều là những vua thực sự đã ra đời tại Ấn độ vào thời thái cổ. Ngoài ra, Trường a hàm quyển 6 kinh Chuyển luân thánh vương tu hành chép, trong vị lai, khi Phật Di lặc ra đời, sẽ có Nhương già Chuyển luân thánh vương xuất hiện. Kinh Bi hoa quyển 3 phẩm Đại thí chép, trong kiếp San đề lam giới thiện trì, có vô lượng Tịnh chuyển luân thánh vương ra đời. Kinh Như lai trí ấn chép, khi đức Phật Nguyệt kế ra đời thì có Tuệ khởi chuyển luân thánh vương xuất hiện. Lại luận Câu xá quyển 12 chép, khi Chuyển luân thánh vương ra đời thì người ta thọ vô lượng tuổi đến tám vạn tuổi. Nhưng Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4 thì nói, khi Luân vương vàng ra đời thì người ta nhất định thọ tám vạn tuổi, còn Luân vương bạc cho đến Luân vương sắt thì không nhất định, như khi A dục vương là Luân vương sắt ra đời thì người ta thọ một trăm tuổi. [X. kinh Tạp a hàm Q.15 - Trung a hàm Q.11 kinh Tứ châu, Q.41 kinh Phạm ma - Trường a hàm Q.15 kinh Cứu la đàn đầu, Q.18 phẩm Chuyển luân thánh vương - kinh Đại bảo tích Q.59, Q.75, Q.76 - kinh Hiền ngu Q.8, Q.13 - luận Đại tì bà sa Q.30, Q.150, Q.183 - luận Đại trí độ Q.4, Q.24, Q.82 - Đại đường tây vực kí Q.1].
chuyển luân thánh vương sư tử hống kinh
Cakkavattirajàsìhanàda-sutta (P).
chuyển luân thánh vương, chuyển luân vương
Cakravartiràja (S). Wheel king; world ruler.
chuyển luân thánh đế
See C(h)akravartin, Luân Vương and Luân Bảo.
chuyển luân vi sơn vương
Xem Chuyển Luân Thánh vương.
Chuyển luân vương
vị vua có phước đức và sức mạnh khuất phục được tất cả các vua khác, cũng gọi là Chuyển luân thánh vương, vì khi vị vua này ra đời thì tự nhiên xuất hiện các báu vật để vua sử dụng, giúp vua chinh phạt mọi nơi trong thiên hạ.
; 轉輪王; S: cakravartin, cakravartī-rāja;|Là một vị vua quay bánh xe. Có bốn thứ bánh xe: bánh xe bằng vàng, bạc, đồng, sắt. Danh hiệu Chuyển luân vương cũng được dành để chỉ một vị Phật, người chuyển pháp luân với giáo pháp toàn triệt, tuyệt đối.
chuyển lộc lộc địa
(轉轆轆地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là A lộc lộc địa. Lấy sự quay vòng của chiếc bánh xe để thí dụ sự quay chuyển không ngại trở, cảnh địa tự do tự tại. Bích nham lục tắc 53 (Đại 48, 188 thượng), nói: Thấy người ấy sau khi ngộ, A lộc lộc địa.
chuyển lời nói ra hành động
To translate all one's words into action.
chuyển mê khai ngộ
To reject the illusion of the transmigrational worlds and enter into nirvàna-enlightenment.
; Dẹp bỏ mê muội của thế giới luân hồi sanh tử để bước vào giác ngộ niết bàn—To reject the ilusion of the transmigrational worlds and enter into nirvana enlightenment.
; (轉迷開悟) Đồng nghĩa với Chuyển phàm thành thánh. Chuyển ra khỏi sự sống chết mê vọng trong ba cõi mà đạt đến cảnh giới Niết bàn giác ngộ. Cũng tức là lìa bỏ phiền não mê vọng mà được bồ đề Niết bàn tịch tĩnh. Trong giáo pháp của đức Phật, giáo chỉ chuyển mê khai ngộ có thể chia làm mấy thứ là: Tịnh độ môn chứng được cõi khác, Thánh đạo môn chứng vào cõi này, Tiệm giáo tu hành trải qua nhiều kiếp và Đốn giáo ngay thân này thành Phật.
chuyển ngữ
Là lời nói chẳng có sở trụ, chỉ có người kiến tánh mới nói được. Cũng như nói CÓ, ý chẳng phải cho là CÓ, nói KHÔNG, ý chẳng phải cho là KHÔNG, cho đến nói ĐÚNG, ý chẳng phải cho là ĐÚNG, nói SAI, ý chẳng phải cho là SAI…
; (轉語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tùy từng căn cơ mà thay đổi lời nói một cách tự do tự tại để dẫn đạo học trò, gọi là Chuyển ngữ. Trong lúc học trò mê hoặc không hiểu, tiến lui đều bị kẹt, thầy bèn thay đổi phương pháp, chuyển biến lời nói, khiến học trò lãnh hội. Có các tên gọi như Nhất chuyển ngữ, Tam chuyển ngữ...
chuyển nữ bồ tát sở vấn thọ quyết kinh
Xem Thuận quyền Phương tiện kinh.
chuyển nữ thành nam
To transformed from, or transform, a female into a male.
; Được chuyển hay tự chuyển từ nữ sang nam—To be transformed from, or transform, a female into a male.
; (轉女成男) Hàm ý là chuyển thân gái thành thân trai. Đồng nghĩa với Biến thành nam tử. Ấn độ từ xưa đã coi nguời đàn bà chẳng phải pháp khí, bắt đầu từ Trung a hàm quyển 28 kinh Cù đàm di, rồi kế tiếp, các kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa phần nhiều cho thân đàn bà có cái ngại trở năm chướng ba tòng, nếu muốn thành Phật thì phải chuyển đổi thân hình. Lại đàn bà không thể vào được các cõi Tịnh độ của chư Phật, cho nên Phật A di đà và Phật Dược sư đều lập bản nguyện riêng, mong được chuyển nữ thành nam. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói, nếu người đàn bà nghiệp chướng sâu nặng mà niệm danh hiệu Phật, thì nhờ sức bản nguyện của Phật Di đà, có thể được phúc báo chuyển nữ thành nam. Kinh Pháp hoa quyển 5 phẩm Đề bà, Long nữ tám tuổi biến làm thân trai, sinh đến thế giới phương nam mà thành Phật. Vì địa vị nữ tính tại Ấn độ thấp kém, nên mới có thuyết đàn bà không thể thành Phật, nhưng thuyết này đã mâu thuẫn với giáo thuyết của Phật giáo Đại thừa, chủ trương hết thảy chúng sinh đều có tính Phật, đều có khả năng thành Phật. [X. kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ - kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức - kinh Pháp hoa Q.6 phẩm Dược vương bồ tát bản sự - kinh Chuyển nữ thân - kinh Phúc trung nữ thính - kinh Nguyệt nữ - luận Du già sư địa Q.38 phẩm Bồ đề - luận Đại trí độ Q.4 - Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. (xt. Nữ Tử Ngũ Chướng, Long Nữ Thành Phật).
chuyển nữ thân bồ tát kinh
Xem Thuận quyền Phương tiện kinh.
Chuyển nữ vi nam
(轉女爲男): hay chuyển nữ thành nam (轉女成男), biến thành nam tử (變成男子), nghĩa là chuyển thân nữ thành nam. Từ ngàn xưa, tại Ấn Độ, người nữ không được xem là pháp khí, vì thân người nữ có 5 thứ chướng ngại; cho nên nếu muốn thành Phật thì cần phải chuyển đổi thân hình. Hơn nữa, người nữ không thể nhập vào cõi Tịnh Độ của chư Phật, vì vậy A Di Đà Phật cũng như Dược Sư Phật có lập bản nguyện riêng để cho người nữ chuyển thành thân nam. Theo như Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) quyển thượng cho biết, người nữ nào có chướng ngại nặng thì nên chuyên tâm Xưng Danh Niệm Phật, nhờ sức bản nguyện của đức Phật Di Đà, có thể chuyển biến thân nữ thành nam. Trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) của Kinh Pháp Hoa có thuật lại câu chuyện Long Nữ 8 tuổi biến thành thân nam, vãng sanh về thế giới phương Nam và thành Phật: “Nhĩ thời Ta Bà thế giới Bồ Tát, Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ, nhân dũ phi nhân, giai diêu kiến bỉ Long Nữ thành Phật, phổ vị thời hội nhân thuyết pháp, tâm đại hoan hỷ tất diêu kính lễ, vô lượng chúng sanh văn pháp giải ngộ đắc bất thối chuyển (爾時娑婆世界菩薩聲聞天龍八部人與非人、皆遙見彼龍女成佛、普爲時會人天說法、心大歡喜悉遙敬禮、無量眾生聞法解悟得不退轉, lúc bấy giờ, các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Tám Bộ Trời Rồng, người và loài không phải người của thế giới Ta Bà, ở xa đều thấy vị Long Nữ kia thành Phật, vì khắp chúng trời người trong hội lúc ấy mà thuyết pháp, tâm họ rất hoan hỷ, thảy đều kính lẽ từ xa; vô lượng chúng sanh nghe pháp được giải ngộ, được không thối chuyển).” Đặc biệt, trong Phật Thuyết Chuyển Nữ Thân Kinh (佛說轉女身經, Taishō No. 564) có giải thích rất rõ các pháp giúp cho người nữ chuyển biến thành thân nam như: “Phục thứ, nữ nhân thành tựu ngũ pháp, đắc ly nữ thân, tốc thành nam tử. Ngũ pháp như hà ? Nhất lạc cầu thiện pháp, nhị tôn trọng chánh pháp, tam dĩ chánh pháp nhi tự ngu lạc, tứ ư thuyết pháp giả kính như sư trưởng, ngũ như thuyết tu hành; dĩ thử thiện căn, nguyện ly nữ thân, tốc thành nam tử, hồi hướng Bồ Đề, thị chuyển nghiệp chi ngũ (復次、女人成就五法。女人成就五法、得离女身。得離女身、速成男子。速成男子、五法云何。五法云何、一乐求善法,二尊重正法,三以正法而自娱乐,四于说法者敬如师长,五如说修行。一樂求善法、二尊重正法、三以正法而自娛樂、四於說法者敬如師長、五如說修行、以此善根。以此善根、愿离女身。願離女身、速成男子。速成男子、回向菩提。迴向菩提、是转业之五。是轉業之五, Lại nữa, người nữ thành tựu năm pháp, được lìa thân nữ, mau thành người nam. Năm pháp ấy là gì ? Một là vui cầu pháp lành, hai là tôn trọng chánh pháp, ba là lấy chánh pháp để tự làm niềm vui, bốn là đối với người thuyết pháp thì cung kính như thầy dạy, năm là theo đúng như lời dạy mà tu hành; lấy căn lành này, nguyện lìa thân nữ, mau thành người nam, hồi hướng Bồ Đề, đó là nam pháp để chuyển nghiệp).”
chuyển phàm thành thánh
To transform ordinary beings into sages.
chuyển phàm vi thánh
(轉凡爲聖) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng nói là Chuyển phàm nhập thánh. Đồng nghĩa với Chuyển mê khai ngộ. Có nghĩa là chuyển cái trạng thái mê vọng của phàm phu mà vào cái cảnh giới khai ngộ của Thánh nhân. (xt. Chuyển Mê Khai Ngộ).
chuyển pháp hoa
To read the Lotus Sutra and to realize the real Universe.
Chuyển Pháp luân
xem Chuyển Đại Pháp luân.
Chuyển pháp luân
轉法輪; S: dharmacakra-pravartana; P: dham-macakkappavattana;|Chỉ lần đầu đức Phật Thích-ca giáo hoá sau khi Giác ngộ tại Lộc uyển (gần Benares). Lần đó, Phật giảng Tứ diệu đế và Bát chính đạo cho Năm tỉ-khâu, những người cùng tu học với Phật trước khi Ngài thành đạo.
chuyển pháp luân
Turn the wheel of the Dharma. Dharma-cakra-pravartana (S)Dhamma-cakka-pravattanaGiáo pháp của Phật gọi là pháp luân (bánh xe pháp). Truyền nói giáo pháp tức là chuyển (quay) pháp luân. Ngụ ý là giáo pháp Phật truyền khắp chúng sanh, phá tan phiền não. Chuyển đây còn có nghĩa là chuyển pháp từ tâm mình, chuyển di sang tâm người khác.
; To turn the dharma-cakra, or wheel of dharma, to preach, to teach, to explain the religion of Buddha.
; • Chuyển bánh xe Phật Pháp hay thuyết Phật Pháp—To turn the Dharma Cakra (wheel) of dharma—To turn or roll along the Law-wheel, i.e. to preach Buddha-truth, or to explain the religion of Buddha—Buddhist preaching. • Chuyển Pháp Luân có nghĩa là tuyên thuyết lý tưởng của Phật, hay thể hiện lý tưởng của Phật trong thế gian, nghĩa là kiến lập vương quốc của Chánh Pháp: Turning the Wheel of Truth means 'preaching the Buddha's Ideal,' or the 'realization of the Buddha's Ideal in the world,' i.e., the foundation of Kingdom of Truth.
; (轉法輪) Phạm: Dharma-cakra-pravartana - Pàli: Dhamma-cakka-ppavattana. Còn gọi là Chuyển phạm luân. Là một trong tám tướng thành đạo. Sự hóa hiện của một đời đức Phật tóm lại có tám thứ tướng, trong đó, Chuyển pháp luân là chỉ sự thuyết pháp của đức Thích tôn khiến cho chúng sinh được đạo. Chữ Cakra vốn là chiến xa của Ấn độ thời xưa, vì quay chuyển chiến xa có thể nghiền nát kẻ địch, thí dụ giáo pháp do đức Phật nói, quay chuyển trong chúng sinh, tức có thể phá tan sự mê mờ của chúng sinh.Lại Chuyển luân thánh vương chuyển động bánh xe vàng để hàng phục quân địch - mà đức Thích tôn thì nói pháp để hàng phục ác ma, cho nên gọi là Chuyển pháp luân. Sau khi thành đạo, lần đầu tiên đức Thích tôn nói pháp Tứ đế cho năm vị tỉ khưu gồm Kiều trần như v.v... tại vườn Lộc dã, đó là bắt đầu chuyển pháp luân, gọi là Sơ chuyển pháp luân. Về ngày giờ Sơ chuyển pháp luân, thì kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3, kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm Phương tiện, bảo là ba cái bảy ngày (tức hai mươi mốt ngày) sau đức Phật thành đạo. Thập địa kinh luận quyển 1 thì nói sau bảy ngày thứ hai. Luật Tứ phần quyển 31 chép là sau sáu cái bảy ngày. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 10, nói sau bảy cái bảy ngày. Luật Ngũ phần quyển 15 bảo sau tám cái bảy ngày. Luận Đại trí độ quyển 7, quyển 34 thì chép là sau năm mươi cái bảy ngày. Đối lại với Sơ chuyển pháp luân tại vườn Lộc dã, các kinh điển Đại thừa bảo kinh Đại thừa là Chuyển pháp luân lần thứ hai hoặc thứ ba. Kinh Đại bát nhã quyển 12 phẩm Vô tác chép, pháp luân Tứ đế ở vườn Lộc dã là Sơ chuyển, nói pháp Bát nhã là chuyển pháp luân lần thứ hai. Kinh Giải thâm mật quyển 2 phẩm Vô tự tính tướng chép, nói pháp Tứ đế ở Lộc dã là thời đầu, nói Bát nhã đều không là thời thứ hai - giáo thâm mật Trung đạo là thời thứ ba. Lại các ngài Chân đế và Huyền trang lập thuyết Tam pháp luân, Hữu giáo thời kì đầu là Chuyển pháp luân, Không giáo thời thứ hai là Chiếu pháp luân, Trung đạo giáo thời thứ ba là Trì pháp luân. Trong Pháp hoa du ý, ngài Cát tạng lại y cứ vào kinh văn trong kinh Pháp hoa quyển 2 mà lập riêng Tam pháp luân, bảo rằng giáo Nhất thừa Hoa nghiêm là Căn bản pháp luân, giáo ba thừa ở khoảng giữa là Chi mạt pháp luận, Hội tam qui nhất của Pháp hoa là Nhiếp mạt qui bản pháp luân. Trên đây đều là căn cứ vào nội dung nói pháp của đức Thích tôn mà lập ra các Chuyển pháp luân khác nhau. Ngoài ra, các kinh luận cũng dựa vào sự thuyết pháp bất đồng của chư Phật và Bồ tát, mà lập các tên pháp luân, như kinh Hải long vương quyển 3 phẩm Nữ bảo cẩm thụ quyết, nói Bảo cẩm nữ quay các bánh xe pháp như: bánh xe không động, bánh xe vốn không, bánh xe không dứt, bánh xe không dính, bánh xe không hai, bánh xe không lời, bánh xe trong sạch, bánh xe dứt những pháp không điều hòa, bánh xe không rối loạn, bánh xe chí thành, bánh xe không vô v.v... Kinh Bi hoa quyển 5 chép, Bồ tát thành tựu bốn pháp thanh tịnh, quay bánh xe pháp hư không, bánh xe pháp chẳng thể nghĩ bàn, bánh xe pháp không thể tính lường, bánh xe pháp vô ngã, bánh xe pháp không nói năng, bánh xe pháp xuất thế, bánh xe pháp thông suốt v.v... Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 31 chép, hết thảy chư Phật quay bánh xe pháp mầu nhiệm, bánh xe pháp vô lượng, bánh xe pháp hết thảy giác, bánh xe pháp biết hết thảy pháp tạng, bánh xe pháp vô trước, bánh xe pháp vô ngại, bánh xe pháp đèn của hết thảy thế gian, bánh xe pháp thị hiện hết thảy trí, bánh xe pháp hết thảy chư Phật đồng nhất v.v... Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 59 nói, Như lai quay bánh xe pháp có mười việc: 1. Bốn vô úy đầy đủ thanh tịnh. 2. Phát ra âm thanh thuận theo bốn biện tài. 3. Khéo léo mở bày tướng bốn chân đế. 4. Thuận theo sự giải thoát vô ngại của chư Phật. 5. Có thể khiến cho tâm chúng sinh đều có niềm tin trong sạch. 6. Có thể nhổ mũi tên độc đau khổ của chúng sinh. 7. Gia trì sức bi nguyện lớn. 8. Âm thanh phát ra vang khắp hết thảy thế giới trong mười phương. 9. A tăng kì kiếp nói pháp không dứt. 10. Tùy pháp được nói, đều có thể sinh khởi các pháp căn lực giác đạo Thiền định giải thoát tam muội v.v...... Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần đầu, Pháp hoa kinh quyển 2, quyển 4, đứng về phương diện năm môn mà phân biệt thể của pháp luân, tức là: tám Thánh đạo là thể của pháp luân - các pháp bốn Thánh đế, mười hai nhân duyên, ba tính là cảnh của pháp luân - công đức năm uẩn là quyến thuộc của pháp luân - ba tuệ văn tư tu là nhân của pháp luân - Bồ đề Niết bàn là quả của pháp luân. Còn tượng chuyển pháp luân của đức Thích tôn, gọi là Chuyển pháp luân tượng, cái tòa cao ngài ngồi nói pháp, gọi là Chuyển pháp luân tọa, ngôi nhà trong đó ngài nói pháp, gọi là Chuyển pháp luân đường. [X. kinh Tạp a hàm Q.15 - kinh Trường a hàm Q.1 - kinh Tăng nhất a hàm Q.10, Q.14 - kinh Trung bản khởi Q. thượng - kinh Duy ma cật sở thuyết Q.thượng phẩm Phật quốc - kinh Bồ tát xử thai Q.5 - kinh Như lai bất khả tư nghị bí mật đại thừa Q.11, Q.12 - luật Tứ phần Q.32 - luận Đại tì bà sa Q.41, Q.82 - luận Đại trí độ Q.1, Q.52, Q.65 - luận Du già sư địa Q.49, Q.95 - Chuyển pháp luân kinh Ưu ba đề xá - Câu xá luận quang kí Q.24]. (xt. Pháp Luân).
chuyển pháp luân bồ tát
Kim cang Ba La Mật Bồ Tát—Vajra-paramita Bodhisattva (Dharma Wheel-Turning Bodhisattva)—The preaching Bodhisattva.
chuyển pháp luân cái
(轉法輪蓋) Còn gọi là Nhân thiên cái, Bạch cái. Là chiếc lọng (ô, dù) đuợc treo phía trên tòa cao của người thuyết pháp trong Pháp đường. Bắt nguồn từ Ấn độ, người ta dùng nó để che nắng, che mưa, về sau, các chùa viện dùng làm một trong các đồ trang nghiêm. (xt. Cái).
chuyển pháp luân kinh
Dhammacakka sutta (P) Dhammachakkappavattana sutta (P), Dhammacakka Sutta (P)Kinh Sự thành lập triều đại của chánh phápTên một bộ kinh. Kinh nay đề cập đến Tứ diệu đế, và là bài pháp đấu tiên của đức Phật.
; Dhammacakkappa-vattana-sutta (P). Sutta of the Setting in motion of the Wheel of Doctrine.
chuyển pháp luân nhật
Ngày Đức Phật thuyết pháp lần đầu trong vườn Lộc Uyển là ngày mồng tám tháng tám—The day when the Buddha first preached, in the Deer Park, i.e. the eighth day of the eighth month.
chuyển pháp luân pháp
(轉法輪法) Là phép bí mật lấy bồ tát Chuyển pháp luân làm bản tôn (vị tôn chính) mà tu để dẹp trừ các ma oán địch, khiến đất nước được yên ổn. Còn gọi là Xa thủy luân pháp, Tồi nhất thiết ma oán pháp, Tồi ma oán địch pháp. Khi tu phép này, trước hết thiết lập đàn lớn và đàn Hộ ma trước mặt bản tôn, kế đó, trải mạn đồ la lên đàn lớn, dùng gỗ hay đồng làm thành cái ống, đặt ở chính giữa, chung quanh ống vẽ hình mười Đại dược xoa, ba Đại long vương và Đại thiên hậu, vẽ tám cái nan hoa bánh xe trên nắp ống, ở khoảng nan hoa viết mười chữ Chân ngôn của Vô ngại vương là: Án phạ nhật la tát đát vũ sắt ni sái hồng phát tra. Chữ Tra đặt ở rốn bánh xe, dưới đáy ống cũng viết chân ngôn này, rồi dùng một tờ giấy trắng hoặc một mảnh lụa vẽ hình tượng kẻ oán gia trên đó, viết họ tên ở hai chân (chân trái, viết họ, chân phải, viết tên) và vẽ Ngũ đầu thiên vương và Bất động tôn đạp lên tượng ấy, bỏ vào trong ống - nếu khi tu tiểu pháp, dùng đàn Hộ ma kiêm cả đàn lớn, thì dùng mạn đồ la treo và đặt cái ống ở trước lư hương. [X. Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp - Bí tạng kim bảo sao Q.1 - Bí sao vấn đáp Q.10 Chuyển pháp luân - Biến khẩu sao Q.4]. 991
chuyển pháp luân tiết
(轉法輪節) Là ngày lễ tiết Phật giáo tại Tích lan và các nước Đông nam á thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Còn gọi là Thất nguyệt cúng dường tiết. Cử hành vào ngày trăng tròn tháng 7 hàng năm để kỉ niệm đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc dã.
chuyển pháp luân tướng
Một trong tám tướng thành đạo của Đức Phật, nói về một đời thuyết pháp của Phật từ khi thành đạo đến khi nhập diệt—The sign of preaching, one of the eight signs that Sakyamuni was a Buddha.
; (轉法輪相) Là tướng thứ bảy trong tám tướng thành đạo. Tức tướng thuyết pháp của đức Thích tôn từ khoảng thành đạo đến vào Niết bàn. [X. Thập địa kinh luận Q.3 - luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Bát Tướng).
chuyển pháp luân ưu ba đề xá
Dharma-cakrapravatana śāstropadesa (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Thế Thân biên soạn.
chuyển pháp luân ấn
Dharmacakra-mùdra (S). Gesture of the Setting in motion of the Wheel of Doctrine.
; (轉法輪印) Phạm: Dharmacakra-mudrà. Là ấn tướng tượng trưng cho sự quay bánh xe pháp. Ân này biểu trưng sự dùng pháp luân để phá trừ phiền não, khiến thân tâm được thanh tịnh. Còn gọi là Pháp luân ấn, Kim cương luân ấn, Thuyết pháp ấn, Thắng nguyện cát tường pháp luân ấn. Tức hai tay úp vào nhau, tám ngón trái, phải móc tréo nhau, ngón cái bên trái đặt vào lòng bàn tay phải, lấy đầu ngón cái bên phải đè lên ngón cái bên trái. Kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn nói, phàm người cứu đời, phải quay bánh xe này. Trong pháp Thai tạng giới, trước hết, kết ấn Pháp giới tính (ấn Tịnh pháp giới), thứ đến, kết ấn Pháp luân. Ân này có thể khiến hành giả trụ nơi tâm Bồ đề, vào Mạn đồ la, cho nên dùng ấn này để gia trì năm chỗ (trán, hai vai, ngực, yết hầu). [X. kinh Đại nhật Q.3 phẩm Chuyển tự luân mạn đồ la hành, Q.7 phẩm Tăng ích thủ hộ thanh tịnh hành - Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ Q.thượng - Đại nhật kinh sớ Q.13].
chuyển phạm luân
Chuyển Pháp Luân. Tiếng Phạn có nghĩa là thanh tịnh—To turn the noble or pure wheel. ** For more information, please see Chuyển Pháp Luân.
chuyển sanh
To transmigrate—Transmigration.
chuyển sinh
(轉生) I. Chuyển sinh. Phạm: Jàtiparivarta#. Có nghĩa là chết ở nơi này, sinh ở chỗ kia. Cũng gọi là Hoán thế......(đổi đời), Luân hồi chuyển sinh (Chuyển sinh vòng quanh). Luận Đại trí độ quyển 16 (Đại 25,175 trung), nói : Bồ tát được mắt trời, thấy chúng sinh vòng quanh năm ngã, luẩn quẩn ở trong đó. Chết trong cõi trời, sinh trong cõi người - chết trong cõi người, sinh trong cõi trời - (...) chết trong cõi trời Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng, sinh trong địa ngục A tị. Cứ như thế đắp đổi sinh trong năm ngã. (xt. Luân Hồi). II. Chuyển sinh. Là chế độ được đặt ra để giải quyết vấn đề thừa kế lãnh tụ Phật giáo của Tây tạng. Còn gọi là Chuyển thế. Mở đầu từ Cầu tùng khẳng ba của phái Ca nhĩ mã ca nhĩ cư thuộc hệ thống Ca nhĩ cư vào thế kỉ thứ XIII. (xt. Chuyển Thế).
chuyển thanh tụng
Vibhakti-kārikā (S).
chuyển thế
To return to this life.
; Trở lại kiếp nầy—To return to this life.
Chuyển thức
轉識; T: phowa ['pho-ba]; S: saṃkrānti; nguyên nghĩa là »đổi chỗ«;|Một phương pháp tu tập trong Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) của Na-rô-pa (t: nā-ropa), là các phép tu mà Mã-nhĩ-ba (t: mar-pa) đưa từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng trong thế kỉ thứ 11. Ðó là phép tu nhằm chuyển hoá tâm thức mình vào một Tịnh độ, cõi Phật (s: bud-dhakṣetra), thí dụ như cõi Cực lạc của Phật A-di-đà trong lúc cận tử. Hành giả Tây Tạng theo phép tu này đã tập luyện và chuẩn bị trong lúc còn sống, phần lớn họ đọc tụng một số thần chú và thiền theo Kim cương thừa (Nghi quỹ; s: sādhana). Tại phương Tây phép tu này được phái Ca-nhĩ-cư (t: ka-gyupa) phổ biến.
chuyển thức
Pravrtti-vijnàna (S). Evolving of Mind (Consciousness).
; Pravrtti-vijnana (skt). • Chuyển thức còn gọi là sanh khởi thức, là cái thức trong khía cạnh năng động của nó, tức là đang phát triển nối kết với các cơ quan cảm giác hay căn: Also called arising or appearance, the vijnana in its dynamic aspect, i.e., as evolving in conjunction with the sense-organs. • Chuyển thức là kiến thức giúp chuyển phàm thức trong thế giới luân hồi sanh tử thành Phật thức: Pravrtti-vijnana means the knowledge which transmutes the common knowledge of this transmigration-world into Buddha-knowledge. • Theo Khởi Tín Luận, chuyển thức là vô minh căn bản của nghiệp thức, tâm thức được khuấy lên bởi thế giới trần cảnh bên ngoài đi vào tâm thức, đây là một trong năm thức: According to the Awakening of Faith (Sraddhopada-Sastra), Pravrtti-vijnana means knowledge or mind being stirred, the external world enters into consciousness, the second of the five processes of mental evolution. • Theo Duy Thức Học, chuyển thức là bảy giai đoạn chuyển thức, ngoại trừ A Lại Da Thức: According to the Teaching of Consciousness, Pravrtti-vijnana means the seven stages of knowledge (vijnana), other than the alaya-vijnana.
; (轉識) I. Chuyển thức. Phạm: Pravfttivijĩàna. Tông Duy thức nói về bảy thức chuyển khởi, tức là bảy thức trước: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na. Chuyển, là nghĩa chuyển biến, chuyển đổi, chuyển khởi, chuyển dịch. Có nghĩa là bảy thức trước lấy thức A lại da làm chỗ nương tựa, rồi duyên theo các cảnh sắc, thanh... mà chuyển khởi, có khả năng chuyển đổi ba cảm thụ khổ, lạc, xả, chuyển biến ba tính thiện, ác, vô kí, vì thế gọi là bảy chuyển thức. Lại Nhiếp đại thừa luận thích, (bản dịch đời Lương), quyển 2 gọi đó là thức sinh khởi, nhưng chỉ là sáu thức trước, chứ không bao gồm thức thứ bảy. [X. kinh Nhập lăng già Q.2 - luận Du già sư địa Q.51, Q.63 - luận Thành duy thức Q.2 đến Q.4 - Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Thất Chuyển Thức). II. Chuyển thức. Tên gọi khác của thức A lại da thứ tám. Tiếng dùng của tông Duy thức. Thức A lại da có hơn mười loại tên gọi khác nhau, vì thức A lại da là nơi các pháp nương vào mà chuyển khởi, cho nên có tên gọi này. [X. Duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4 phần đầu]. III. Chuyển thức. Nói tắt của từ ngữ Chuyển thức đắc trí, Chuyển thức thành trí. Tông Duy thức chủ trương, chuyển đổi các thức hữu lậu là thức A lại da thứ tám, thức mạt na thứ bảy, ý thức thứ sáu và năm thức trước, lần lượt thành các trí vô lậu là trí Đại viên kính, trí Bình đẳng tính, trí Diệu quan sát và trí Thành sở tác, đó là nghĩa Chuyển thức đắc trí. [X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Chuyển Thức Đắc Trí). IV. Chuyển thức. Là ý thứ hai trong năm ý được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Chuyển tướng trong Môn vô minh được gọi là Chuyển thức trong Môn thức thể. Tức là chuyển đổi nghiệp thức vô minh căn bản (ý thứ nhất trong năm ý) thành thức năng kiến. Cũng tức là chuyển sinh tác dụng chủ quan sáng suốt đồng thời với sự sản sinh nghiệp thức. Trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần cuối, Pháp tạng bỏ ý thứ hai trong năm ý ra, còn lại gọi là Chuyển thức, cũng gọi Sự thức là Chuyển thức. Nếu phối với tám thức, thì ý thứ hai trong năm ý là Chuyển thức thuộc về thức thứ tám - Sự thức là Chuyển thức thuộc về sáu thức trước. Lại trong Đại thừa nghĩa chương quyển 3 phần cuối, Tuệ viễn căn cứ theo ý của luận Khởi tín mà giải thích Chuyển thức là tên gọi khác của thức thứ bảy, điều này khác với thuyết của ngài Pháp tạng - nhưng bảo Sự thức là Chuyển thức thì đồng với quan điểm của Pháp tạng.
chuyển thức đắc trí
(轉識得智) Còn gọi là Chuyển thức thành trí. Du già hành phái và tông Duy thức chủ trương, trong quá trình tu hành đến quả Phật, có thể chuyển tám thức hữu lậu thành tám thức vô lậu, từ đó mà được bốn thức trí tuệ: 1. Khi năm thức trước (mắt tai mũi lưỡi thân) chuyển đến vô lậu thì được trí Thành sở tác .(cũng gọi là trí Tác sự), trí này vì muốn làm lợi lạc cho hữu tình, nên có thể, trong mười phương, dùng ba nghiệp thân khẩu ý vì chúng sinh mà làm các việc thiện. 2. Khi thức thứ sáu (ý thức) chuyển đến vô lậu thì được trí Diệu quán sát , thức này khéo quán xét tự tướng, cộng tướng của các pháp, có thể tùy theo căn cơ bất đồng của chúng sinh mà nói pháp một cách tự tại vô ngại để chuyển hóa chúng sinh. 3. Khi thức thứ bảy (thức mạt na) chuyển đến vô lậu thì được trí Bình đẳng tính........... (còn gọi là trí Bình đẳng), trí này quán xét hết thảy pháp, mình, người và hữu tình đều bình đẳng, đại từ bi như nhau, hằng cùng tương ứng, có thể phổ độ hết thảy chúng sinh một cách bình đẳng. 4. Khi thức thứ tám (thức A lại da) chuyển đến vô lậu thì được trí Đại viên kính ., trí này lìa mọi phân biệt, các hành tướng sở duyên nhỏ nhiệm khó biết, không vọng không ngu, hết thảy cảnh tướng tính tướng đều thanh tịnh, xa lìa tất cả sự tạp nhiễm, sáng láng như tấm gương tròn lớn, có thể ánh hiện khắp muôn tượng, một mảy may không sót. [X. Đại trang nghiêm kinh luận Q.3 - luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Tứ Trí Tâm Phẩm).
chuyển tuỳ chuyển
(轉隨轉) Là chuyển và tùy chuyển nói gộp lại. Chuyển, tiếng Phạm: Pravftti, tức chuyển khởi, có nghĩa là sự dấy lên của các pháp. Tùy chuyển, tiếng Phạm:anuvftti, có nghĩa là theo các pháp kia mà dấy lên. Khi sắp tạo nghiệp, thì nhân đó có thể dẫn phát tâm tạo nghiệp, gọi là Chuyển tâm, cũng gọi là Năng chuyển tâm. Cái tâm sinh khởi cùng một lúc với nghiệp kia, không rời nhau, gọi là Tùy chuyển tâm. Cả hai Chuyển tâm và Tùy chuyển tâm, đều duyên theo Thẩm lự tư, Quyết định tư và Động phát thắng tư mà dấy nghiệp, cho nên gọi là Đẳng khởi, dịch cũ là Duyên khởi. Trong đó, Chuyển tâm ở chính lúc trước khi gây nghiệp là nhân, có thể dẫn phát nghiệp, cho nên gọi là Nhân đẳng khởi, tức đối với hậu quả mà gọi là nhân, dịch cũ gọi là Sinh nhân duyên khởi. Lại y theo hậu quả có xa, có gần mà chia làm Viễn nhân đẳng khởi, Cận nhân đẳng khởi. Tùy chuyển tâm là chỉ tâm và tâm sở ở đúng vào cái sát na tạo nghiệp, cho nên gọi là Sát na đẳng khởi, dịch cũ là Cộng sát na duyên khởi. [X. luận Đại tì bà sa Q.117 - luận Câu xá Q.13 - luận Thuận chính lí Q.36 - luận Du già sư địa Q.1 - luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].
chuyển tâm
(轉心) Đối lại với Tùy chuyển tâm. Chuyển, là dịch ý của chữ Phạm: Pravftti, có nghĩa là sự sinh khởi của pháp. Khi sắp tạo nghiệp, thì nhân đó có thể phát ra tâm Biểu nghiệp, Vô biểu nghiệp, gọi là Chuyển tâm, cũng gọi là Năng chuyển tâm. Lại chuyển tâm ở vào đúng lúc tạo nghiệp là nhân có thể dẫn phát nghiệp, gọi là Nhân đẳng khởi. (xt. Chuyển Tùy Chuyển).
chuyển tướng
See Kiến Tướng.
chuyển tạng
See Chuyển Đọc, Chuyển Đại, Chuyển Đại Bát Nhã Kinh, and Chuyển Kinh (2).
; (轉藏) I. Chuyển tạng. Chuyển đọc Đại tạng kinh. Chuyển, có nghĩa là chuyển đọc, tức là đọc sơ lược vài hàng. (xt. Chuyển Kinh). II. Chuyển tạng. Là ý quay bánh xe kinh tạng. Đem Đại tạng kinh từ trong lầu kinh ra để trên cái giá sách, rồi làm một bánh xe để tiện quay tròn, gọi là Luân tạng. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 3 Tháp miếu chí chép, thì Đại sĩ Thiện tuệ triều Lương đã sáng chế ra Tạng chuyển luân, bảo những người tín đồ thuần thành rằng, hễ quay luân tạng một vòng thì công đức cũng bằng đọc cả tạng kinh. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.1 mục Đán vọng tạng điện chúc tán].
chuyển tề chuyển diệt
(轉齊轉滅) Là chuyển tề và chuyển diệt nói gộp lại, danh mục nói về chủng tử do tông Duy thức lập ra. Tức là, chuyển đổi cái tính kém cỏi của chủng tử liệt tính (hạ phẩm) cho ngang bằng với cái tính chất tốt hơn sẵn có (trung phẩm) của chủng tử tiên thiên, gọi là Chuyển tề - diệt hết tính kém cỏi của chủng tử liệt tính, chuyển đổi thành chủng tứ có tính chất tốt hơn, gọi là Chuyển diệt. Tông Duy thức, khi bàn về khởi nguyên của chủng tử, có ba phái chủ trương ba thuyết, đó là: Duy bản hữu thuyết, cho là tiên thiên, Duy tân huân thuyết cho là hậu thiên, và Tân cổ hợp sinh thuyết chiết trung hai phái trên. Trong đây, phái Tân cổ hợp sinh thuyết bảo rằng, chủng tử có ba phẩm Thượng, Trung, Hạ, chủng tử Kiến đạo sơ vô lậu là Hạ phẩm sẵn có, tức lấy sự huân tập nghe làm duyên tăng thượng mà sinh hiện hành - do sức tu tập của trí vô phân biệt khi đến vị tu tập, lại do chủng tử vô lậu Trung phẩm sẵn có sinh hiện hành, đồng thời, chủng tử Hạ phẩm ở trên cũng do sức hiện hành của chủng tử Trung phẩm sẵn có mà chuyển thành chủng tử Trung phẩm - đến ngôi vị Phật lại chuyển Trung phẩm đều thành Thượng phẩm. Chủ trương này tức thuộc thuyết Chuyển tề. Trái lại, hai phái Duy tân huân thuyết và Duy bản hữu thuyết, không lập chủng tử làm ba phẩm riêng lẻ, mà chủ trương chủng tử là một chủng loại duy nhất. Khi vào Kiến đạo, thì do chủng tử vô lậu Hạ phẩm sinh hiện hành, lần lượt diệt tính kém cỏi hạ đẳng mà thành phẩm trung đẳng tốt hơn. Chủ trương này tức thuộc Chuyển diệt thuyết. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần đầu - Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối - Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2 phần cuối]. CHUYỂN THẾ I. Chuyển thế(đổi đời). Là một trong hai mươi bảy Hiền Thánh. Ở kiếp trước, sau khi đã chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, chuyển đến đời này được quả Bất hoàn. Các bậc Thánh này không vào cõi Sắc, cõi Vô sắc, mà đi thẳng vào Niết bàn. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 - Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng - Bát tông cương yếu]. (xt. Nhị Thập Thất Hiền Thánh). II. Chuyển thế. Là chế độ kế thừa Phật sống của Phật giáo Tây tạng. Còn gọi là Chuyển sinh. Bắt nguồn từ các thuyết linh hồn chuyển thế, và Sinh tử luân hồi. Mở đầu từ Cầu tùng khẳng ba của phái Ca nhĩ mã ca nhĩ cư thuộc hệ phái Ca nhĩ cư vào thế kỉ thứ XIII. Sau khi phái Cách lỗ hưng khởi, nghiêm cấm chư tăng lấy vợ, bắt đầu từ Đạt lại đời thứ ba, chế độ Chuyển thế được ứng dụng để giải quyết vấn đề thừa kế lãnh tụ tôn giáo. Người chuyển thế gọi là Hoạt Phật (Phật sống), sau khi Phật sống thị tịch, các vị cao tăng y theo nghi thức bói quẻ, giáng thần mà đi tìm kiếm một số trẻ con sinh đúng vào giờ Phật sống thị tịch, từ trong số đó, chọn lấy một trẻ tinh anh để làm Phật sống chuyển thế, rước về chùa thừa kế ngôi vị tôn giáo của Phật sống. Sau vì bị những người tuyển chọn thao túng, vào năm Càn long 57 (1792) đời Thanh, qui định phép Rút thăm từ chiếc bình vàng tại viện Lí phiên để chọn vị đại Hoạt Phật chuyển thế, nhằm tránh các mối tệ. Những vị Lạt ma có chút tiếng tăm tại các chùa viện nhỏ khác, cũng có thể tự đi tìm kiếm những trẻ tinh khôn mà chuyển thế, do đó xuất hiện nhiều Phật sống lớn nhỏ.
Chuyển Vô thượng Pháp luân
xem Chuyển Đại Pháp luân.
chuyển vật
Chuyển hóa vạn vật bằng lực siêu nhân—To transform things, especially by supernatural power.
chuyển y
Aśrayaparāvṛtti (S), Sudden change Parāvṛtti (S)Đột biến.
; Paràvrtti (S). Revolution at substratum, transformation at the base.
; (轉衣) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nghĩa là từ áo mầu đen chuyển sang áo mầu sắc rực rỡ. Trong Thiền gia, khi ra nhận chức trụ trì một ngôi chùa lớn gọi là Chuyển y. Còn gọi là Canh y , Thụy thế, Tham nội. Trong tông Tào động, giai cấp Tăng lữ còn được chia làm năm thứ là: Đắc độ, Lập thân, Truyền pháp, Chuyển y và Kết chế. Tăng lữ từ cấp bậc Truyền pháp trở lên, sau khi có tư cách trụ trì hai bản sơn (hai chùa lớn), thì phải đến Vĩnh bình nắm giữ một trong hai bản sơn, mặc áo mầu sắc rực rỡ, hành lễ Tấn sơn (lễ nhậm chức Tân trụ trì, nhập tự), chức này gọi là Chuyển y, tục gọi là Nhất dạ trụ chức. [X. Chư tông giai cấp Q. thượng Tào động ngự luân đính tái chuyển y chi Hòa thượng ca sa y thứ đệ].
; (轉依) Phạm: Àzraya-parivftti hoặc Àzrayaparàvftti. Nghĩa là chuyển đổi chỗ sở y (chỗ nương tựa). Còn gọi là Sở y dĩ chuyển, Biến trụ (đổi chỗ ở). Chuyển, là nghĩa chuyển bỏ, chuyển được - Y, là khiến chỗ sở y của các pháp nhiễm tịnh mê ngộ được thành lập. Chuyển y, tức chuyển bỏ chỗ sở y của pháp kém cỏi, mà chứng được chỗ sở y của pháp tốt hơn. Như tông Duy thức nói, nhờ tu Thánh đạo, đoạn diệt phiền não chướng, sở tri chướng, mà chứng được quả Niết bàn, Bồ đề, hai quả này tức gọi là hai quả chuyển y hoặc là hai quả chuyển y mầu nhiệm, đó là cảnh giới thù thắng nhất của sự tu tập. Trong điều trình bày trên, hai chướng phiền não và sở tri bị đoạn trừ, tức là pháp bị chuyển bỏ - hai quả Niết bàn và Bồ đề mầu nhiệm được chứng, tức là pháp chứng được. Trong luận Thành duy thức quyển 9, có hai thuyết giải thích về Chuyển y: 1. Y, là chỗ nương tựa của các pháp nhiễm tịnh, tức chỉ tính y tha khởi. Chuyển, là chuyển bỏ tính biến kế sở chấp trên tính y tha khởi, mà chuyển được tính viên thành thực trong tính y tha khởi. Đây là đứng trên quan điểm ba tính để thuyết minh tư tưởng người ta phải như thế nào để từ trong thế gian chuyển hướng ra khỏi thế gian, đối với các hiện tượng duyên khởi không nên chấp là thực ngã, thực pháp, mà nên thấu đáo chân tính duy thức. 2. Y, chỉ chân như duy thức là chỗ nương tựa của sinh tử và Niết bàn: Chuyển, là diệt trừ sinh tử nương nơi chân như duy thức, mà chứng được Niết bàn nương nơi chân như duy thức. Đây là trực tiếp đứng trên lập trường nhận thức mê, ngộ về chân như duy thức mà thuyết minh làm thế nào để từ cái khổ sống chết đạt đến niềm vui Niết bàn. Loại chuyển y này đều thông qua sự tiêu trưởng sinh diệt của chủng tử trong thức A lại da mà được thực hiện, chuyển bỏ chủng tử phiền não chướng liền chuyển được quả Niết bàn, chuyển bỏ chủng tử sở tri chướng liền chuyển được quả Bồ đề. Luận Thành duy thức quyển 10 lại còn nêu lên bốn nghĩa chuyển y nữa: 1. Năng chuyển đạo, chỉ trí chứng ngộ chuyển y - tức là đạo năng phục, áp chế thế lực chủng tử của hai chướng phiền não, sở tri, khiến chúng không sinh được tác dụng, tức vô hiệu hóa các chủng tử, và đạo năng đoạn, đoạn diệt hết các chủng tử. 2. Sở chuyển y, chỉ chỗ nương tựa khi chuyển y. Có thức căn bản (trì chủng y) giữ gìn chủng tử của các pháp mê ngộ. 3. Sở chuyển xả, chỉ cái phải chuyển bỏ. Có các chủng tử của hai chướng phải chuyển bỏ, và chủng tử của các pháp hữu lậu khác cùng chủng tử vô lậu kém cỏi cũng phải chuyển bỏ. 4. Sở chuyển đắc, chỉ cái phải chuyển được. Tức là chuyển được Niết bàn và Bồ đề. Ngoài ra, Phật địa kinh luận quyển 7, cứ theo ý sở chuyển đắc mà giải thích Chuyển y, cho rằng chuyển y là tướng của Pháp thân. Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ, căn cứ theo ngôi vị chứng được có khác nhau mà chia Chuyển y làm sáu thứ, gọi là Lục chuyển y. Luận Tam vô tính quyển hạ, thì y theo giai vị tu hành mà chia làm năm thứ chuyển y, tức là: 1. Nhất phần chuyển y, có nghĩa là người Nhị thừa diệt hết ngã kiến ngã ái, được vô lậu tương tục mà khác với phàm phu. 2. Cụ phần chuyển y, có nghĩa là các Bồ tát Sơ địa chứng được nhân không, pháp không. 3. Hữu động chuyển y, Bồ tát dưới Thất địa có quán ra, quán vào (tức là hơi thở) cho nên gọi là Hữu động. 4. Hữu dụng chuyển y, Bồ tát dưới Thập địa, có việc chưa làm xong, chưa bỏ công dụng, cho nên gọi là Hữu dụng. 5. Cứu kính chuyển y, đến ngôi vị Như lai, được quả tròn đầy rốt ráo. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 10, liệt kê ba loại chuyển y: 1. Được đạo Vô học, chứng pháp tính, gọi là Tâm chuyển y. 2. Việc cần làm đã làm xong, đạo quả tròn đầy cùng tột, gọi là Đạo chuyển y. 3. Vĩnh viễn xa lìa hết thảy phiền não tùy niệm, gọi là Thô trọng chuyển y. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 phẩm Bồ đề thì nêu lên sự chuyển y của Như lai có mười thứ khác nhau. [X. kinh Giải thâm mật Q.5 - Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7 - luận Câu xá Q.15 - luận Du già sư địa Q.51, Q.74, Q.78 - luận Hiển dương thánh giáo Q.16 - Giải thâm mật kinh sớ Q.9]. (xt. Lục Chuyển Y).
chuyển ác thành thiện ích
(轉惡成善益) Là một trong mười điều lợi ích trong đời hiện tại do Tịnh độ chân tông Nhật bản lập ra. Nghĩa là lòng tin của người tu hành niệm Phật đối với Phật A di đà có thể được lợi ích trong đời hiện tại là diệt trừ tội chướng năm nghịch mười ác trong ba đời, thành tựu đại thiện căn không nói xiết. [X. Hiển Tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại Q.3]. (xt. Hiện Thế Lợi Ích).
chuyển điệp
(轉叠) Đánh chuông trên điện liên tục, từ chậm rãi đến dồn dập, gọi là Chuyển điệp. [X. Hành trì quĩ phạm Q.3 Minh vật pháp].
chuyển đại
Đọc lướt qua một quyển kinh—To roll or unroll a scripture-roll—See Chuyển Kinh (2) and Chuyển Đại Bát Nhã Kinh.
chuyển đại bát nhã kinh
Đọc lướt qua 600 quyển Kinh Đại Bát Nhã để mong được công đức (chỉ đọc những dòng ở đầu, giữa và cuối kinh) To turn over the leaves of the scan for acquiring merit, the 600 books of the complete Prajna-paramita.
Chuyển Đại Pháp luân
chuyển bánh xe pháp vô thượng (Chuyển Vô thượng Pháp luân): chỉ việc Phật thuyết pháp Đại thừa. Khi Phật thuyết pháp lần đầu ở thành Ba-la-nại, giảng pháp Tiểu thừa thì chỉ gọi là Chuyển Pháp luân.
chuyển đạo
(轉道) (1872-1943) Người Nam an, Phúc kiến, họ Hoàng. Húy Hải thanh. Bẩm tính thông minh, năm mười chín tuổi làm lễ Thiền sư Thiện tu ở chùa Nam sơn thuộc Chương châu xin xuất gia. Năm sau, thụ giới Cụ túc tại chùa Sùng phúc ở Nam sơn. Năm ba mươi ba tuổi, để báo ân mẹ, phát nguyện hành hương bốn núi danh tiếng lớn để sám hối nghiệp chướng, trước sau lễ núi Ngũ đài ba lần, núi Phổ đà hai mươi lần. Sau vì muốn thiết lập học viện Tăng già tại chùa Nam Phổ đà ở Hạ môn, nên đã đi Nam dương để vận động kinh phí. Đến Tân gia ba được Hoa kiều hiến đất làm già lam, tức chùa Phổ đà. Tám năm sau lại sáng lập chùa Phổ giác, từng thỉnh pháp sư Viên anh đến đó giảng luận Đại thừa khởi tín. Về sau, sư sửa lại chùa Khai nguyên ở Tuyền châu, chùa Nam sơn ở Chương châu, và lập Nam sơn Phật hóa học viện. Năm Dân quốc 16 (1927), sư đi Ấn độ chiêm bái các nơi Phật tích và thỉnh được bảy viên xá lợi mang về, cúng dường ở chùa Khai nguyên, Tuyền châu. Sau, hai lần giữ chức Hội trưởng hội Phật giáo Trung hoa. Cuối đời, xướng lập hội Phật giáo Hoa văn, khiến Hoa kiều được nghe Phật pháp, được đọc Hoa văn. Ngày nay, chùa Phật tại Tân gia ba và Mã lai rất nhiều, suy đến ngọn nguồn, công lao của sư rất lớn, thực không thể mai một được.
chuyển đạt
To convey—To transmit.
chuyển đọc
See Chuyển Kinh (2) and Chuyển Đại Bát Nhã Kinh.
chuyển đổi
• Chuyển đổi: Paravrit (skt)—To change—To exchange—To turn back. • Sự chuyển đổi: Paravritti (skt)—Turning back—Change—Exchange.
Chuyển 囀
[ja] テン ten ||| (1) Seen used in Buddhist texts as a variant of 轉. (2) Found in some Buddhist lexicons, such as the Japanese-English Buddhist Dictionary, confused with the character 嚩. => Có 2 nghĩa: 1. Thường thấy dùng trong kinh Phật, biến thể của chữ chuyển 轉. 2. Thường thấy trong vài thuật ngữ Phật học, như trong Từ điển Phật học Nhật-Anh (Japanese-English Buddhist Dictionary), dùng lẫn lộn với chữ phược 嚩.
chuyện ma
Ghost story.
chuyện phiếm
Idle talk.
chuyện thiên cung
Vimānavatthu (P), Stories of the Mansion Vimana (P)Tỳ ma na, Thiên cung sựMột trong 15 tập của bộ Tiểu bộ kinh, gồm những truyện tái sanh ở cõi trời.
chuyện truyền khẩu
Stories transmitted by words (mouth).
chuyện đời xưa
Old stories.
chuôi
Beads (S).
chuông
Drilbu (T), Belltượng trưng sự cảnh tỉnh.
; Bell.
chuông cảnh tỉnh hành giả
A ringing bell which is awakening cultivators.
chuông gia trì
Gong.
chuông nhỏ
Xem Linh.
chuẩn
1) Đúng: Correct. 2) Chính xác: Exact. 3) Phê chuẩn: Chuẩn thuận—To grant—To permit—To acknowledge. 4) Tiêu chuẩn: Standard—Rule.
chuẩn hứa
To Allow—To grant.
chuẩn khai sơn
(准開山) Có nghĩa là người đạo hạnh cao cả, công lao khắp sơn môn. Gọi là Trung hưng tổ. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.3 Linh tượng môn].
Chuẩn Như
(准如, Junnyo, 1577-1630): vị tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 12 của Tây Bổn Nguyện Tự, húy là Quang Chiêu (光昭), tên lúc nhỏ là A Trà Hoàn (阿茶丸), thụy hiệu là Tín Quang Viện (信光院), hiệu là Chuẩn Như (准如); xuất thân vùng Osaka, con trai thứ 4 của Hiển Như (顯如)—vị Tổ đời thứ 11 của Bổn Nguyện Tự. Vào năm 1593, vâng mệnh Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), ông thay thế cha mình là Giáo Như (敎如) làm trú trì đời thứ 12 của Bổn Nguyện Tự. Vào năm 1602, Giáo Như được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường cho một khu đất nên làm chùa riêng; từ đó Bổn Nguyện Tự bị phân chia thành hai phái Đông và Tây. Năm sau, Chuẩn Như dời miếu đường của Thân Loan (親鸞, Shinran) đến vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama), tận lực cải thiện mối quan hệ với chính quyền Mạc Phủ. Năm 1617, Bổn Nguyện Tự bị cháy tan tành, nhưng năm sau thì được xây dựng lại nguyên vẹn. Trước tác của ông có Khánh Trường Tam Niên Đại Phản Ngự Phường Di Đồ Ngự Pháp Sự Ký (慶長三年大阪御坊移徒御法事記), Văn Lộc Tam Niên Nhật Thứ Chi Ký (文祿三年日次之記), Ngự Tiêu Tức Loại Tập (御消息類集).
chuẩn nhận
To accept—To agree—To confirm.
chuẩn tông giáo hiện tượng
(准宗教現象) Hiện tượng ảo tưởng do ảnh hưởng của hành động chủ quan, hoặc chi phối sự vật khách quan, sản sinh từ trước khi tôn giáo nguyên thủy xuất hiện, là một hình thái sinh hoạt ý thức sớm nhất của nhân loại mà ngày nay người ta biết được. Đã có nhân tố của một phần tôn giáo, nhưng vẫn chưa có quan niệm siêu tự nhiên rõ ràng, đối với khách thể, chưa được thần cách hóa, cũng chưa có ý niệm kính bái cầu cúng. Những phép thuật và đồng bóng lưu hành ở xã hội cổ đại, phần nhiều thuộc loại này. Nhưng sau khi quan niệm tôn giáo và thần linh xuất hiện, thì phép thuật và đồng bóng vẫn được giữ lại và phụ thuộc vào các loại tôn giáo, mà vẫn giữ được cái đặc trưng của hiện tượng chuẩn tôn giáo: đã không lấy hách thể làm đối tượng sùng bái, cũng chẳng dựa vào thần lực để hoạt động, mà chỉ hoạt động theo phương thức cố định để khống chế hoặc gây ảnh hưởng đối với khách thể. Chẳng hạn như dùng mũi kim đâm vào hình người cắt bằng giấy hoặc đẽo bằng gỗ để hòng hãm hại đối tượng bị nhắm tới - hoặc đội ngọc đá để mong được sống lâu, giàu có, cho đến đội một vật đặc biệt nào đó để mong tránh khỏi ách nạn v.v... đều thuộc loại này.
chuẩn xác
Accurate—Certain.
chuẩn đà
See Thuần Đà.
Chuẩn Đề
(s: Cundi, t: bskul-bye-kma, 準提): âm dịch là Chuẩn Đề (准提、准胝), Chuẩn Nê (准泥), ý dịch là thanh tịnh, còn gọi là Chuẩn Đề Quan Âm (准提觀音), Chuẩn Đề Phật Mẫu (准提佛母), Phật Mẫu Chuẩn Đề (佛母准提), Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm (天人丈夫觀音), Thất Câu Chi Chuẩn Đề Đại Phật Mẫu (七俱胝準提大佛母); là vị Bồ Tát thường xuyên hộ trì Phật pháp, hộ mạng và làm cho những người đoản mạng được sống lâu; có sự cảm ứng rất lớn, trí tuệ cũng như phước đức của Ngài thì vô lượng. Bên cạnh đó, Ngài còn được sùng tín để cầu tiêu trừ tai nạn, cầu con, trừ tật bệnh, v.v., tùy duyên hóa hiện để cứu độ chúng sanh, làm cho thế gian và xuất thế gian tròn đầy hết thảy sự cầu nguyện. Trong Thiền Tông của Trung Quốc và Nhật Bản, Ngài được xem như là một trong những đấng chủ tôn của Quan Âm Bộ. Đặc biệt Thai Mật của Nhật Bản lấy Chuẩn Đề nhập vào Phật Mẫu, trở thành một trong những đối tượng tôn thờ của Phật bộ. Còn Đông Mật của Nhật Bản xem Chuẩn Đề là một trong 6 Quan Âm (Thiên Thủ Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm) của Liên Hoa Bộ. Ngài là thân ứng hóa của Quan Âm, phân nhập vào trong Sáu Đường để cứu độ chúng sanh. Ngài được an trí tại Biến Tri Viện (遍知院) của Hiện Đồ Thai Tạng Giới, hình tượng thường có 3 mắt với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, hay 18 tay, v.v. Trong Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (佛說七俱胝佛母心大准提陀羅尼經) có thuật lại rằng khi ở tại Vườn Cấp Cô Độc (給孤獨園), thuộc nước Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), đức Phật tư duy quán sát, thương tưởng các chúng sanh trong đời tương lai, nên tuyên thuyết “Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Chuẩn Đề Đà La Ni Pháp (七俱胝佛母心准提陀羅尼法)”, tức là Chuẩn Đề Chú (準提咒) được các tín đồ Phật Giáo thường trì tụng. Bản tiếng Sanskrit của thần chú này là: “Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddha-koṭīnāṃ tad yathā. Oṃ cale cule cundi svāhā.”; âm Hán dịch theo bản Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (七倶胝佛母所說准提陀羅尼經) của Bất Không (不空) dịch là: “Na mạc tát đa nam tam miệu tam một đà cu chi nam đát nhĩ dã tha, án, giả lễ chủ lễ chuẩn nê ta phạ ha (娜莫颯多南三藐三没駄倶胝南怛儞也他唵者禮主禮准泥娑嚩訶)”; nghĩa là “Con xin quy y theo đức Phật Chánh Đẳng Giác Thất Câu Chi (vạn ức). Tức là, Oṃ (Án). Hỡi đấng chuyển động quanh ! Hỡi đấng trên đảnh đầu ! Hỡi đức Chuẩn Đề ! Svāhā (ta phạ ha) !” Thần chú này được xem như là vua trong các thần chú, vì uy lực gia trì của nó không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng của nó thì rất nhanh và mãnh liệt. Người trì tụng thần chú này có thể cầu được thông minh, trí tuệ, biện luận lanh lợi; chồng vợ thương kính nhau, khiến cho người khác sanh tâm kính mến; cầu được con nối dõi, kéo dài mạng sống, trị lành các bệnh tật, diệt trừ tội chướng; cầu được trời mưa, rời xa giam cầm, thoát khỏi nạn ác quỷ, ác tặc, v.v. Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có 8 vị Bồ Tát là quyến thuộc, như Quán Tự Tại Bồ Tát (觀自在菩薩), Di Lặc Bồ Tát (彌勒菩薩), Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩), Kim Cang Thủ Bồ Tát (金剛手菩薩), Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (文殊師利菩薩), Trừ Cái Chướng Bồ Tát (除蓋障菩薩) và Địa Tạng Bồ Tát (地藏菩薩).
chuẩn đề
Chundi (S). A female appearance of Avalokitesvara.
; Candi or Cundi (skt)—Cundi Bodhisattva. 1) Theo huyền thoại Bà La Môn thì Chuẩn Đề là một hình thức của Durga hay Parvati, vợ của Thần Siva: In Brahmanic mythology a vindictive form of Durga, or Parvati, wife of Siva. 2) Theo huyền thoại Trung Hoa, Chuẩn Đề giống như Ma Lý Chi hay Thiên Hậu. Bà được tiêu biểu bởi những hình tượng ba mắt mười tám tay: In China identified with Marici, Queen of Heaven. She is represented with three eyes and eighteen arms 3) Một hình thức của Đức Quán Âm hay quyến thuộc của ngài: A form of Kuan-Yin, or Kuan-Yin's retinue.
; (准提) Phạm: Cundì. Còn gọi là Chuẩn đê, Chuẩn nê, Chuẩn đề quan âm, Chuẩn đề Phật mẫu, Phật mẫu chuẩn đề. Dịch ý là thanh tịnh. Là vị Bồ tát giữ gìn Phật pháp, và bảo hộ mạng sống cho những chúng sinh đoản mạng được thêm tuổi thọ. Mật tông lấy Chuẩn đề làm một vị tôn thuộc Quan âm bộ và rất được sùng kính. Thai mật của Nhật bản đưa Chuẩn đề vào trong Phật mẫu, làm một vị tôn thuộc Phật bộ. Đông mật của Nhật bản thì lấy Chuẩn đề làm một trong sáu Quan âm, nhiếp vào sáu Quan âm (Thiên thủ Quan âm, Thánh Quan âm, Mã đầu Quan âm, Thập nhất diện Quan âm, Chuẩn đề Quan âm, Như ý luân Quan âm) thuộc Liên hoa bộ. Vì Quan âm chia thân ứng hóa vào sáu đường để tế độ chúng sinh. Được đặt trong Viện Biến tri trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la, mình mặc áo lụa mỏng, ống tay áo rộng, lưng thắt giải lụa, cổ tay đeo vòng trắng, hiện tướng ba mắt mười tám cánh tay. [X. kinh Chuẩn đề đại minh đà la ni].
chuẩn đề bồ tát
Cundi (S)Chuẩn đề Quán âm, Chuẩn đề Phật mẫuTên một vị Bồ tát.
chuẩn đề phật mẫu
Xem Chuẩn đề Bồ tát.
Chuẩn Đề Quan Âm
(准胝觀音) Chuẩn đê (Chi), Phạm: Cundì. Cũng là Chuẩn đề, Chuẩn nê. Còn gọi là Tôn na Phật mẫu, Chuẩn đề Phật mẫu, Phật mẫu chuẩn đề, Thất câu đê (chi) Phật mẫu. Là một trong sáu Quan âm, một trong bảy Quan âm. Ngoài tượng mười tám tay ra còn có nhiều loại hình tượng khác. Trong Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo, vị tôn này được đặt ở ngay đầu bên trái trong viện Biến tri. Cứ theo kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni chép, thì Chuẩn đề Phật mẫu thân màu vàng lợt, ngồi kết già trên hoa sen, sau lưng có vòng hào quang, mặc the mỏng, trên dưới đều mầu trắng, có thiên y, dác lạc, anh lạc, đội mũ, mười tám cánh tay đều đeo vòng xuyến, có ba mắt, hai tay bên trên làm tướng nói pháp, tay thứ hai bên phải làm tướng Thí vô úy, tay thứ ba c â m gươm, tay thứ tư cầm lọn tóc báu, trên bàn tay thứ năm đặt quả câu duyên, tay thứ sáu cầm búa rìu, tay thứ bảy cầm móc câu, tay thứ tám cầm chày kim cương, tay thứ chín cầm tràng hạt - tay thứ hai bên trái cầm cờ báu như ý, tay thứ ba cầm hoa sen nở rộ, tay thứ tư cầm bình nước, tay thứ năm cầm giải lụa, tay thứ sáu cầm bánh xe, tay thứ bảy cầm tù và, tay thứ tám cầm hiền bình, trên bàn tay thứ chín đặt Bát nhã tiếng Phạm. Chuẩn đê quan âm ở Tây tạng là tượng bốn tay, ngồi trên hoa sen, tay phải tay trái thứ nhất đặt trên đầu gối, cầm bát, tay phải thứ hai rủ xuống kết ấn Thí vô úy, tay trái thứ hai co lại ở trước ngực cầm hoa sen trên hoa sen đặt hộp kinh Bát nhã chữ Phạm. Lại tượng đồng truyền ở Tích lan là bốn tay, trên đầu đội định ấn hóa Phật, tay trái thứ nhất đặt ở trước rốn, tay thứ hai cầm ngọc báu - tay phải thứ nhất cầm chày một chẽ, tay thứ hai dơ lên, ngón tay cái và ngón vô danh búng vào nhau. Ngực đầy biểu thị tướng Phật mẫu. Ngoài ra, còn có tượng mười bốn tay, sáu tay. Mật hiệu là Tối thắng kim cương, chủng tử là (bu), hình tam muội da là Hiền bình hoặc Giáp trụ, chày năm chẽ, hoa sen, tù và. Căn bản chân ngôn là: Na mô táp đá nẫm tam miệu tam bột đà câu chi nam đát diệt tha án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề sa ha. Phép tu lấy vị tôn này làm bản tôn (vị tôn chính) gọi là Chuẩn đề pháp, Chuẩn đề độc bộ pháp, là phép tu để trừ tai họa, cầu thông minh, trị bệnh v.v…... Cứ theo kinh Thất câu chi Phật mẫu chuẩn đề đại minh đà la ni chép, thì tụng trì Chuẩn đề đà la ni sẽ được sáng láng rạng rỡ, các tội chướng đều tiêu diệt, tuổi thọ lâu dài, phúc tuệ tăng tiến, và được chư Phật, Bồ tát hộ trì, đời đời kiếp kiếp xa lìa các ngã ác, mau chứng vô thượng bồ đề. [X. Thất câu chi Phật mẫu tâm đại chuẩn đề đà la ni pháp - Thất câu chi Phật mẫu tâm đại chuẩn đề đà la ni kinh].
chuẩn đề quán âm
Xem Chuẩn đề Bồ tát.
chuẩn đề quán âm bồ tát
Xem Đại Chuẩn Đề.
Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh 准提陀羅尼經
[ja] シュンダイダラニキョウ Shundai darani kyō ||| ; see Qi juzhi fomusuoshuo zhunti tuoluoni jing 七倶胝佛母所説准提陀羅尼經. (T 1076.20.178-185). => Xem Thất Câu Chi Phật Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh 七倶胝佛母所説准提陀羅尼經
Chuẩn-đề đà-la-ni kinh
准提陀羅尼經; C: zhǔntí tuóluóní jīng; J: shundai darani kyō;|Thất Câu Chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經).
chuồn êm
To slip away—To fade away—To make a fade away.
chuỗi
Rosary—String of beads for counting prayers.
chuỗi hạt
Màlà (S). Garland, rosary. Also sổ châu.
chuỗi ngọc
Xem anh lạc.
chuỗi niệm phật
Pāśaka-mālā (S)Tràng hạt.
chuộc danh dự
To retrieve one's honour.
chuộc lại
To redeem
chuộc lỗi
Phật giáo không nhấn mạnh vào sự chuộc lỗi; mà mỗi người phải tự tu hành lấy để giải thoát. Chúng ta có thểø giúp người bằng lời nói hay hành động, nhưng chúng ta không thể gánh vác hậu quả gây nên bởi tội lỗi của người khác. Tuy nhiên, Phật giáo nhấn mạnh vào lòng từ bi cứu độ chúng sanh thoát khổ của chư Bồ tát—To redeem a fault—To make up for one's faults—Atonement—Buddhism does not stress on atonement (sự chuộc lỗi); each person must work out his own salvation. We can help others by thoughts, words, and deeds, but we cannot bear another's results or take over consequences of another's errors or misdeeds. However, Buddhism stresses on compassion of Bodhisattvas which help other beings relieve sufferings.
chuộng
To be fond of—To esteem—To like—To love.
chuộng cái học qua kinh điển mà quên đi phần thực hành
To prefer to make use of the education or the study of Buddhist sutras and forget the practices.
chuộng tánh quên tướng
To prefer nature while neglecting marks.
chuộng tướng quên tánh
To prefer marks while neglecting nature.
chuỳ chiêm
(槌砧) Tức cái khí cụ đánh lên để báo hiệu cho chúng tăng chuẩn bị tề chỉnh đến họp hội nơi Luật viện hoặc Thiền đường. Còn gọi là Chùy tĩnh, Chùy đôn. Chùy, tức là cái vồ để đánh - Châm, tức cái bảng gỗ nhỏ. Chùy là cái vồ có tra cán gỗ ngắn, Châm là cái bản gỗ, cả hai đều là hình tám góc, tượng trưng tám phương của núi Tu di trong vũ trụ quan Phật giáo. Đánh chùy, còn gọi là đánh tĩnh. Phép đánh tĩnh được chép trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 Lưỡng tự chương Đông tự tri sự duy na điều (Đại 48, 1132 trung): Mỗi ngày hai thời lên nhà Tăng, đứng trước nhà đánh chuông, rời vị trí đi vào nhà Tăng, đứng trước Thánh tăng, tay trái dâng hương, lùi lại hai bước rưỡi, hỏi han chắp tay rồi đến đứng bên cạnh chùy. Trước hết xem tên vị thần kì hồi hướng ngày hôm ấy, chuông trống dứt, đánh một tiếng chùy. Chúng tăng mở bát xong, lại đánh một tiếng chùy nữa, chắp tay mặc niệm hồi hướng vị thần kì hôm ấy. Tay trái đặt vào châm, nói rằng : Xin đại chúng niệm Thanh tịnh pháp thân Tì lô giá na Phật, Viên mãn báo thân v.v......, tay phải đánh chùy, khi dứt tiếng niệm mới thôi, nhanh chậm đúng phép. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ đoạn 4 (Đại 40, 146 trung), nói: Trước hết, Duy na đứng ngoài cửa, đầy đủ uy nghi, từ bên cạnh cửa đi vào rồi, đến đứng chắp tay vào chỗ tay phải cầm chùy lên, dặt dặt vào châm rồi sau mới đánh một tiếng, không được đánh mạnh quá. Phép đánh chùy còn có cách đánh về phía bên phải của mặt châm, gọi là Thuận chùy - đánh phía bên trái, gọi là Nghịch chùy. Còn về giờ giấc đánh chùy, thì ngoài hai bữa cơm, cháo ra, phàm các việc trong nhà tăng, như mở bát, niệm Phật, hiến cúng, biến thực, thí tài, bạch chúng v.v... cũng đều có cách đánh chùy. Lại Tri sự cáo lui, lễ thỉnh Tri sự, Trụ trì nhập tự khai đường thuyết pháp, cũng đều có đánh chùy. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.8 Pháp khí chương Chùy điều - Thiền uyển thanh qui Q.1 - Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn].
chuỳ diệp tượng
(錘鍱像) Còn gọi là Chùy diệp Phật, Áp xuất tượng, Áp xuất Phật. Là một phương pháp tạo tượng Phật. Tức là tượng Phật được tạo bằng những tấm lá đồng đàn mỏnggiống như tượng khắc nổi. Ngoài những pho tượng Phật lớn dùng vào việc thờ phụng lễ bái ra, người ta còn tạo các pho tượng Phật nhỏ kiểu này để trong nhà để trang trí. Ngày xưa phương pháp tạo tượng Phật loại này cũng thịnh hành tại các nước Tây vực. Lương cao tăng truyện quyển 5 truyện Trúc đạo nhất chép, khoảng năm Thái nguyên (376-396) đời Đông Tấn, Đạo nhất ở chùa Gia tường huyện Cối kê đã tạo một nghìn tượng bằng lá vàng dàn mỏng. Cũng sách trên quyển 13 Thích pháp hiến truyện và Xuất tam tạng kí tập quyển 12 chép, năm Nguyên huy thứ 3 (475), Pháp hiến ở chùa Định lâm thượng đến nước Vu điền, được tượng bằng lá vàng dàn mỏng làm ở nước Cứu tư.
chà đạp
To trample.
chào
To salute.
chào đời
To be born.
chán ghét
To dislike.
chán ngán
To grow weary.
chán nãn
Discouraged—Depressed—Despondent.
chán ta bà nên tìm vui tịnh độ
To be tired of the Saha world, to seek the happiness in the Pure Land.
chán đời
To be tired of this world.
chánh
Sammā (P), Right Samyak (S), Samyag (S).
; 1) Đúng: Right—Proper—Correct—Just. 2) Chánh Yếu: Chief—Principal. 3) Chính Xác: Exact. 4) Chánh Nguyệt: Tháng giêng—The first month.
chánh biến giác
Xem Tam miệu Tam Phật đà.
; Samyak-sambuddha (skt)—See Chánh Biến Tri.
Chánh Biến Tri
(s: samyak-saṃbuddha, 正遍知、正徧知): còn gọi là Chánh Biến Trí (正遍智), Chánh Biến Giác (正遍覺), Chánh Chân Đạo (正眞道), Chánh Đẳng Giác (正等覺), Chánh Đẳng Chánh Giác (正等正覺), Chánh Giác Đẳng (正覺等), Chánh Đẳng Giác Giả (正等覺者); âm dịch là Tam Miệu Tam Phật Đà (三藐三佛陀), Tam Da Tam Phật Đàn (三耶三佛檀); là một trong 10 hiệu của Như Lai. Chánh Biến Tri ở đây có nghĩa là biết một cách chân chánh, đúng đắn, cùng khắp hết thảy các pháp. Ngoài ra, cón Phạn ngữ samyaksaṃbodhi, âm dịch là Tam Miệu Tam Bồ Đề (三藐三菩提); cựu dịch là Chánh Biến Tri, Chánh Biến Tri Đạo (正遍知道); tân dịch là Chánh Giác Đẳng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ Đề là nương vào pháp mà nói, Phật Đà thì nương vào người mà xưng danh. Cho nên, Tam Miệu Tam Bồ Đề chỉ cho Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác; còn Tam Miệu Tam Phật Đà chỉ cho người có Chánh Biến Tri, có Chánh Đẳng Giác. Trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ có giải thích rằng: “Chánh Biến Tri giả, tri nhất thiết chư pháp thật bất hoại tướng, bất tăng bất giảm (正遍知者、知一切諸法實不壞相、不增不減, Chánh Biến Tri là biết hết thảy các pháp thật không có tướng hư hoại, không tăng không giảm).”
chánh biến tri
Sammā-sambuddha (P), Samyak-saṃbuddha (S)Tam miệu Tam bồ đề, Chánh đẳng chánh giácTrong một hệ thống thế gian chỉ có một đấng chánh biến tri mà thôi. Xem Tam miệu Tam Phật đà.
; Cái biết cùng khắp không gian thời gian chẳng có năng sở đối đãi, tức là cái biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian thì chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn; khắp không gian thì chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.
; Samyaksambuddha (skt)—Chánh Biến Giác—Chánh Đẳng Chánh Giác—Chánh Tận Giác—Phổ giác nhứt thiết pháp (biết rộng và biết đúng về tất cả chư pháp)—Correct equal or universal enlightenment—Completely enlightened—The universal knowledge of a Buddha.
chánh biến tri hải
Biển phổ giác hay biển tri thức của chư Phật—The ocean of omniscience (universal knowledge of a Buddha).
chánh báo
Thân Độ—Làm con người hiện tại, tốt hay xấu, tùy thuộc vào kết quả của nghiệp đời trước, như phải giữ căn bản ngũ giới nếu muốn tái sanh trở lại làm người—One's body—Being the resultant person, good or bad, depends on or results from former karma—Direct retribution of the individual's previous existence, such as being born as a man is the result of keeping the five basic commandments for being reborn as a man. ** For more information, please see Thân Độ and Nhị Báo.
chánh báo y báo
Giáo pháp của Phật chủ trương chánh báo và y báo hay tất cả thân thể và sở trụ của chúng sanh đều do tâm của họ biến hiện—Buddhist doctrine believes that direct retribution of individual's previous existence and the dependent condition or environment created by the beings' minds. 1) See Chánh Báo. 2) See Y Báo.
chánh chủ khảo
Chairman of the examining board.
chánh cần
Prahāṇa (S), Right endeavours Tứ tinh tấn, Tứ ý đoạn, Tứ chánh đoạn, Tứ chánh thắngSiêng năng gắng chí tu tập theo chánh đạo. Gồm: ác đã sinh thời làm cho chóng dứt, ác chưa sanh thời làm cho không sinh ra được, thiện chưa sanh thời làm cho chóng sanh, thiện đã sanh thời làm cho tăng trưởng.
; Right effort.
chánh giác
Saṃbuddha (S). Xem Tam bồ đề.
; Sambodhi (skt)—Tam Bồ Đề—Thực trí của Như Lai hay giác trí chân chánh về chư pháp—The wisdom or omniscience of a Buddha.
Chánh Giác Thiền Ni
(正覺禪尼, Shōgaku Zenni, ?-?): vị Ni sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương, người ngoại hộ đắc lực cho Đạo Nguyên (道元, Dōgen). Bà quy y theo Đạo Nguyên sau khi ông từ bên nhà Tống trở về nước, rồi khoảng năm 1223, bà cúng dường xây dựng Quan Âm Đạo Lợi Viện (觀音導利院, tức là Hưng Thánh Bảo Lâm Tự [興聖寶林寺]) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), Thâm Thảo (深草, Fukakusa). Cũng không rõ xuất xứ của bà như thế, nhưng tương truyền bà là vợ của Cửu Điều Giáo Gia (九條敎家), em gái của vị Đại Thần Cửu Ngã Thông Thân (久我通親).
chánh giáo
1) Giáo dục chánh trị: Political teaching—Governmental education. 2) Chánh trị và tôn giáo: Politics and religion.
chánh giới
Correct rules (precepts).
chánh hạnh
Samyak-pratipatti (S).
; 1) Right conduct. 2) Chánh hạnh nơi thân là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tam nghiệp hằng thanh tịnh—Right conduct of the actions of the body is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, the three kinds of behavior are pure.
chánh hạnh chân như
Samyak-praptipatti-tathatā (S)Chánh hạnh nhưTức Đạo Thánh đế.
chánh hạnh kinh
Phật Thuyết A Hàm Chánh Hạnh Kinh—Kinh Đức Phật dạy về chánh hạnh nơi thân—The sutra in which the Buddha taught about right deeds of the body.
chánh hạnh như
Xem Chánh hạnh chân như.
chánh kiến
Sammā-diṭṭhi (P), Right view Samyak-dṛṣṭi (S)Chánh kiến ngược với Tà kiến. Có 2 loại loại: chánh kiến hữu lậu và chánh kiến vô lậu. Bậc đắc chánh kiến nhận thấy thế gian đếu: vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh (= đạt Chánh kiến hữu lậu). Thấy vậy nên tìm giải thoát (= Chánh kiến vô lậu). Một trong Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
; Samyagdrsti (skt). (A) Nghĩa của Chánh Kiến—The meanings of Right Understanding—Hiểu được bốn sự thật cao quí. Sự hiểu biết nầy là trí tuệ cao cả nhất nhìn thấy sự thật tối hậu, nghĩa là thấy sự vật đúng là như thế. Đây là giai đoạn đầu tiên trong Bát Thánh đạo—Right understanding, right views, or knowledge of the four noble truth. This understanding is the highest wisdom which sees the Ultimate Reality. That is to say to see things as they are—Understanding the four noble truths, the first of the eightfold noble path. (B) Phân loại Chánh Kiến—Categories of Right Understanding—Theo Tiến Sĩ K. Sri. Dhammananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, có hai loại Chánh Kiến—According to Dr. K. Sri. Dhammananda in the Gems of Buddhism Wisdom, there are two sorts of understanding: 1) Phàm Kiến: Kiến thức về một sự tích lũy của trí nhớ—an accumulated of memory, an intellectual grasping of a subject according to certain given data. 2) Thánh Kiến: Hiểu biết thật và sâu xa, hay thâm nhập, nghĩa là nhìn sự vật đúng bản chất của nó, chứ không theo tên hay nhãn hiệu bề ngoài. Sự thâm nhập nầy chỉ xãy ra khi tâm ta đã gột rữa hết những bất tịnh và đã hoàn toàn phát triển qua thiền định—Real deep understanding, a penetration or an intellectual seeing a thing in its true nature, without name and external label. This penetration is possible only when the mind is free from all impurities and is fully developed through meditation. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo.
chánh kỵ
The day of decease.
chánh lý luận
Nyāya (S)Như1- Một tôn phái Bà la môn vào thế kỷ thứ VII. 2- Một trong 4 hành tướng của Đạo đế: Đạo, Như, Hành, Xuất.
chánh lý nhất trích luận
Nyāyabindu (S)Chánh lý Trích luậnTên một bộ luận kinh.
chánh lý phái
Naiyayika (S), Ninhu (S)Một học phái ra đời khoảng thế kỳ thứ nhất. Có nhiều điểm tương đồng với học phái Thắng luận, nhưng chú trọng luận lý học. Tổ là ngài Kiều đạt na (Gautama), kinh căn bản là Ni dạ đa (Naiyayika).
chánh lưu bồ tát
Xem Bất không kiến Bồ tát.
chánh lượng bộ
Sammitīya (P), Sammitiya (P), Saṅmatīyah (S)Sa ma đếMột trong 20 bộ phái Tiểu thừa.
; Sammatiya or Sammitiya (skt)—Một trong 18 bộ của trường phái Tiểu Thừa. Pháp của phái bộ nầy là chánh lượng hay đúng y với Phật pháp nguyên thủy không sai lệch. Ba trăm năm sau ngày Phật nhập niết bàn thì bốn phái Độc Tử Bộ được thành lập, trong đó Chánh Lượng Bộ là bộ thứ ba—One of the 18 sects of early Hinayana. The school of correct measures, or correct evaluation. Three hundred years after the Buddha's nirvana it is said that from the Vatsiputriyah school four divisions were formed, of which this was the third.
chánh môn
Main gate.
chánh mạng
một trong Tám chánh đạo. Chánh mạng là sanh sống bằng nghề nghiệp chân chánh, không làm tổn hại đến người khác.
; Sammā-ājīva (P), Right livelihood Samyag-ājīva (S), Samyak-ājīva (S)Chánh mệnh Một trong Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
; Cuộc sống đúng đắn của hàng tu sĩ là khất thực. Làm việc hay làm thương mại là tà mệnh—Right livelihood—The right livelihood for a monk is to beg for food. To work for a living or to do worldly business is an improper life. (A) Bỏ lối sống sai trái, gây đau khổ cho người—Abandon wrong ways of living which bring harm and suffering to others: • Buôn súng ống và vũ khí: Selling arms and lethal weapons. • Buôn bán súc vật để hạ thịt: Selling animals for slaughter. • Buôn bán nô lệ: Dealing in slaves. • Buôn bán những thức uống có chất cay độc: Selling intoxicating and/or poisonous drinks. (B) Nên sống bằng những nghề nghiệp lương thiện, không làm hại mình hại người: One should live by an honest profession that is free from harm to self anf others.
chánh mệnh
Xem Chánh mạng.
chánh nghiệp
Sammā-kammanta (P), Right action Samyak-karmanta (S)Một trong Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
; Samyakkarmanta (skt)—Hành động đúng, tránh làm việc ác, thanh tịnh thân là giai đoạn thứ tư trong Bát Thánh Đạo—Right action, avoiding all wrong, purity of body, the fourth of the eightfold noble path. (A) Không nên làm (Nên tránh)—Not to do or avoid: • Không sát sanh: Abstaining from taking life. • Không trộm cắp: Abstaining from taking what is not given. • Không tà dâm: Abstaining from carnal indulgence or illicit sexual indulgence. (B) Nên làm—Should do: • Nên trau dồi từ bi: Cultivate compassion. • Chỉ lấy khi được cho: Take only things that are given. • Sống thanh tịnh và trong sạch: Living pure and chaste.
chánh nguyện
Vāṣpa (S), Vappa (P)Một vị trong ngũ Tỳ kheo.
chánh ngữ
Sammā-vācā (P), Samyak-vācā (S), Samyag-vāc (S), Right speech
; Samyagvak (skt)—Nói đúng là giai đoạn thứ ba trong Bát Thánh đạo—Right speech, the third of the eightfold noble path. (A) Không nói—Don't speak the following: • Nói đúng là không nói xấu phỉ báng vu khống và nói năng có thể mang lại sân hận, thù oán, chia rẽ và bất hòa giữa cá nhân và các đoàn thể: Abstaining from backbiting slander and talk that may bring about hatred, enmity, disunity and disharmony among individuals or groups of people. • Không nói dối: Abstaining from lying. • Không lạm dụng nhàn đàm hý luận: Abstaining from abuse and idle talk. • Không nói lời cộc cằn thô lỗ, thiếu lễ độ, hiểm độc và những lời sỉ nhục: Abstaining from harsh, rude, impolite, malicious language. • Không nói lời bừa bãi: Abstaining from careless words. (B) Nói—Do speak the following: • Nói điều chân thật: To speak the truth. • Nói bằng lời dịu dàng thân hữu và nhân đức: Utilize words that are soft, friendly and benevolent. • Dùng lời vui vẻ lịch sự, có ý nghĩa và có lợi ích: Utilize words that are pleasant, gentle, meaningful and useful. • Nói đúng lúc đúng chỗ: Speak at the right time and place. (A) Nếu không cần nói, hay không nói được điều lợi ích, thì Đức Phật khuyên chúng ta nên giữ im lặng, vì đây là sự im lặng cao thượng: If not necessary, or if one cannot say something useful, the Buddha advised people to keep silent. This is a noble silence. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo.
chánh ngữ mã sư
Xem A Thuyết Thị.
chánh nhân phật tánh
The Buddha-nature or Bhutatathata. ** For more information, please see Duyên Nhân Phật Tánh.
chánh nhẫn
The right patience—The ability to bear patience and to use right faith to eliminate all illusion in order to realize the Middle Path (those who are in the ten stages or characteristics of a Buddha, i.e. Bodhisattvas).
chánh nhựt
The day of a funeral.
chánh niệm
Sammā-sati (P), Right mindfulness Samyak-smṛti (S)Có chánh niệm về thân, chánh niệm về thọ cảm, chánh niệm về ý, chánh niệm về pháp.
; Sammasati (p)—Samyaksmrti (skt)— Right mindfulness—Chánh niệm là nhớ đúng nghĩ đúng là giai đoạn thứ bảy trong Bát Thánh đạo. Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức. Chánh niệm có nghĩa là lìa mọi phân biệt mà niệm thực tính của chư pháp. Theo Bát Chánh Đạo, chánh niệm là “Nhất Tâm.”—Right remembrance, the seventh of the eightfold noble path, means remembering correctly and thinking correctly. The looking or contemplating on the body and the spirit in such a way as to remain ardent, self-possessed and mindful. Right remembrance means looking on the body and spirit in such a way as to remain ardent, self-possessed and mindful, having overcome both hankering and dejection. According to the eightfold noble path, right mindfulness means the one-pointedness of the mind. • Nơi thân tỉnh thức bằng cách thực tập tập trung vào hơi thở: Be attentive to the activities of the body with the practice of concentration on breathing. • Nơi cảm thọ tỉnh thức bằng cách quán sát sự đến đi trong ta của tất cả mọi hình thức của cảm thọ, vui, buồn, trung tính: Be aware of all forms of feelings and sensations, pleasant, unpleasant, and neutral, by contemplating their appearance and disappearance within oneself. • Nơi những hoạt động của tâm tỉnh thức bằng cách xem coi tâm ta có chứa chấp dục vọng, sân hận, lừa dối, xao lãng, hay tập trung: Be aware whether one's mind is lustful, hatred, deluded, distracted or concentrated. • Nơi vạn pháp tỉnh thức bằng cách quán sát bản chất vô thường của chúng từ sanh trụ dị diệt để tận diệt chấp trước và luyến ái: Contemplate the impermanence of all things from arise, stay, change and decay to eliminate attachment.
chánh niệm và tỉnh giác
Sati ca sampajananan ca (p)—Mindfulness and clear awareness (clarity of awareness).
chánh niệm và tỉnh thức
Mindfulness and awareness—See Chánh Niệm, and Tỉnh Thức.
chánh pháp
Right Dharma.
; Saddharma (skt)—Saddhamma (p)—Chánh Pháp Thọ—Correct Doctrine of the Buddha—Right method—The period of correct Dharma—Chánh Pháp còn là phương pháp đúng, thường được dùng để chỉ Bát Chánh Đạo—Correct (right or true) doctrine of the Buddha also means the right method, is often used as a name for the Noble Eightfold Path. (I) Nghĩa của “Chánh Pháp”—The meanings of “Saddharma”: 1) Chánh pháp là giai đoạn kéo dài 500 năm (có người nói 1.000 năm) sau ngày Phật nhập diệt. Tuy Phật đã nhập diệt, nhưng pháp nghi giới luật của Ngài dạy và để lại vẫn còn vững chắc. Hơn nữa, trong giai đoạn nầy chúng sanh nghiệp nhẹ tâm thuần, nên có nhiều có tới 80 đến 90 phần trăm người nghe pháp tu hành đắc quả. Nghĩa là có người hành trì chân chánh và có người tu chứng. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nói: “Này Mahamati! Khi Chánh Pháp được hiểu thì sẽ không có sự gián đoạn của dòng giống Phật.”—True dharma—The period of Correct Law (Correct Doctrine of the Buddha) —The perfect age of dharma—The Proper Dharma Age—The real period of Buddhism which lasted 500 years (some says 1,000 years) after the death of the Buddha (entered the Maha-Nirvana). Although the Buddha was no longer in existence, His Dharma and precepts were still properly practiced and upheld. Furthermore, there would be many Buddhists who had light karma and their mind were intrinsically good, therefore, many of them would attain enlightenment in their cultivation. From eighty to ninety out of one hundred cultivators would attain enlightenment. That is to say there were true and genuine practitioners who attained enlightenment. In the Lankavatara Sutra, the Buddha said: “Mahamati! When the right doctrine is comprehended, there will be no discontinuation of the Buddha-family.” 2) Trong Kinh Ma Ha Ma Gia, Đức Phật có tiên đoán rằng sau khi Ngài nhập Niết Bàn rồi thì—In the Mahamaya Sutra, the Buddha prophesied that after He entered the Maha-Nirvana: • Một trăm năm sau, có Tỳ Kheo Ưu Ba Cúc Đa, đủ biện tài thuyết pháp như Phú Lâu Na, độ được vô lượng chúng sanh: One hundred years later, there will be a Bhikshu named Upagupta (see Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4)) who will have the complete ability to speak, elucidate, and clarify the Dharma similar to Purna Maitrayaniputtra. He will aid and rescue infinite sentient beings. • Một trăm năm sau đó (tức là hai trăm năm sau khi Phật nhập diệt), có Tỳ Kheo Thi La Nan Đà, khéo nói pháp yếu, độ được mười hai triệu người trong châu Diêm Phù Đề: In the following one hundred years (two hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana), there will be a Bhikshu named Silananda, able to speak the crucial Dharma discerningly and will aid and save twelve million beings in this Jambudvipa continent (the earth). • Một trăm năm kế đó (tức là ba trăm năm sau khi Phật nhập diệt), có Tỳ Kheo Thanh Liên Hoa Nhãn, thuyết pháp độ được nửa triệu người: In the following one hundred years (or three hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana), there will be a Bhikshu named Hsin-Lien-Hua-Ran, who will speak the Dharma to aid and save five hundred thousand beings. • Một trăm năm kế nữa (tứ bốn trăm năm sau khi Phật nhập diệt), có Tỳ Kheo Ngưu Khẩu thuyết pháp độ được một vạn người: One hundred years after Hsin-Lien-Hua-Ran (four hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana), there will be a Bhikshu named Niu-k'ou, who will speak the Dharma and rescue ten thousand beings. • Một trăm năm kế tiếp đó (tức 500 năm sau ngày Phật nhập diệt), có Tỳ Kheo Bảo Thiên thuyết pháp độ được hai vạn người và khiến cho vô số chúng sanh phát tâm vô thượng Bồ Đề. Sau đó thì thời kỳ Chánh Pháp sẽ chấm dứt: One hundred years after Niu-K'ou (five hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana), there will be a Bhikshu named Bao-T'ien, who will speak the Dharma to aid and save twenty thousand beings and influence infinite others to develop the Ultimate Bodhi Mind. After this time, the Proper Dharma Age will come to an end. • Sáu trăm năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn, có 96 thứ tà đạo sống dậy, tà thuyết nổi lên phá hoại Chánh Pháp. Lúc ấy có Tỳ Kheo Mã Minh ra đời. Tỳ Kheo nầy dùng trí huệ biện tài hàng phục ngoại đạo: Six hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana, ninety-six types of improper doctrines will arise, false teachings will be born to destroy the Proper Dharma. At that time, a Bhikshu named Asvaghosha will be born. This Bhikshu will use great wisdom to speak of the Dharma to combat these false religions. • Bảy trăm năm sau khi Phật nhập diệt, có Tỳ Kheo Long Thọ ra đời, dùng chánh trí hay trí huệ Bát Nhã chân chánh, xô ngả cột phướn tà kiến, đốt sáng ngọn đuốt Chánh Pháp: Seven hundred years after the Buddha's Maha-Nirvana, there will born a Bhikshu named Nagarjuna; he will use the power of the Proper Prajna or great wisdom to destroy false views to light brightly the Buddha's Dharma's torch. (II) Những lời Phật dạy về “Chánh Pháp” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Saddharma” in the Dharmapada Sutra: 1) Đêm rất dài với những kẻ mất ngủ, đường rất xa với kẻ lữ hành mỏi mệt. Cũng thế, vòng luân hồi sẽ tiếp nối vô tận với kẻ ngu si không minh đạt chánh pháp—Long is the night to the wakeful; long is the road to him who is tired; long is samsara to the foolish who do not know true Law (Dharmapada 60). 2) Hăng hái đừng buông lung, làm lành theo Chánh pháp. Người thực hành đúng Chánh pháp thì đời nầy vui đời sau cũng vui—Eagerly try not to be heedless, follow the path of righteousness. He who observes this practice lives happily both in this world and in the next (Dharmapada 168). 3) Hãy làm lành theo Chánh pháp, việc ác tránh không làm. Người thực hành đúng Chánh pháp, thì đời nầy vui đời sau cũng vui—Follow the path of righteousness. Do not do evil. He who practices this, lives happily both in this world and in the next (Dharmapada 169).
Chánh pháp bảo thành
xem thành báu Chánh pháp.
chánh pháp cự
Ánh đuốc chân lý hay Phật Giáo—The torch of the truth or Buddhism.
chánh pháp hoa kinh
Cheng-fa hua ching (C)Tên một bộ kinh.
; 10 quyển dịch của bộ kinh Pháp Hoa được dịch bởi ngài Trúc Pháp Hộ đời Tấn vào khoảng năm 286 sau Tây Lịch, hiện nay vẫn còn (đại để cũng giống như bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập sau nầy)—The earliest translation of the Lotus Sutra in 10 books by Dharmaraksa in around 286 A.D., still in existence.
Chánh Pháp Hoa kinh 正法華經
[ja] ショウホウケキョウ Shō hokke kyō ||| The Zheng fahua jing, which is the earliest Chinese translation of the Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, known in English as the Lotus Sutra. It was translated in ten chapters and twenty-seven fascicles by Dharmarakṣa 竺法護 during the Western Jin. It traditionally has not been as popular as the translation by Kumārajīva 鳩摩羅什, called the Miaofa lianhua jing 妙法蓮華經. For a comprehensive Chinese-Sanskrit-English glossary of Dharmarakṣa's translation, see Karashima (1998). => (c: Zheng fahua jing). Bản dịch sớm nhất của kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra; e: Lotus Sutra). Ngài Trúc Pháp Hộ dịch 10 phẩm, 27 cuốn vào thời Tây Tấn. Theo truyền thống, bản nầy không được thông dụng bằng bản dịch của Cưu-ma-la-thập, nhan đề Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (c: Miaofa lianhua jing 妙法蓮華經). Về bản đối chiếu thuật ngữ Hán-Sanskrit-Anh về bản dịch của Cưu-ma-la-thập , xin xem của Karashima (1998).
chánh pháp hưng thịnh
The True Dharma is still flourished.
chánh pháp minh như lai
Vị Như Lai hiểu tường tận chánh pháp. Danh hiệu Phật mà Đức Quán Thế Âm đã đắc thành trong quá khứ—The Tathagata who clearly understands the true law, i.e. Kuan-Yin, who attained Buddhahood in the past.
chánh pháp nhãn
The Right Dharma Eye—Right or true experience of reality.
chánh pháp nhãn tạng
Shōbōgenzō (J).
; Tạng dụ cho kho tàng, kho này tự tánh sẵn có. Khi hiện cái dụng của chánh pháp nhãn, thì theo căn cơ mà tùy duyên hóa độ mọi chúng sanh, gọi là chánh pháp nhãn tạng.
; The right Dharma eye treasury—Something that contains and preserves the right experience of reality.
chánh pháp niệm xứ kinh
Saddharma-smṛty-upasṭhāna-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
chánh pháp thọ
See Chánh Pháp.
Chánh Pháp Tự
(正法寺, Shōhō-ji): ngôi danh sát của Tào Động Tông, hiện tọa lạc tại Ōshū-shi (奥州市), Iwate-ken (岩手縣); hiệu là Đại Mai Niêm Hoa Sơn Viên Thông Chánh Pháp Tự (大梅拈華山圓通正法寺), tượng thờ chính là Như Ý Luân Quan Âm. Người khai sáng ngôi chùa này là Vô Để Lương Thiều (無底良韶), một trong 25 đệ tử nổi tiếng của Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩), vị Tổ đời thứ 2 của Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) ở vùng Hạc Kiến (鶴見, Tsurumi). Ngôi chùa được sáng lập vào năm 1348. Thiền sư cảm mộng có con gấu hiện ra, từ đó phát nguyện lập nên nơi đây một ngôi chùa. Nơi đây là lãnh địa của hai vị lãnh chúa Hắc Thạch (黑石) và Trường Bộ (長部), ông được sự sùng tín của Hắc Thạch Chánh Đoan (黑石正端) và Trường Bộ Thanh Trường (長部清長), nên dựng lên nơi đây ngôi già lam, và trở thành ngôi danh sát nổi tiếng nhất ở địa phương Áo Vũ (奥羽). Vào năm 1350, Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) và Tổng Trì Tự được Sùng Quang Thiền Hoàng (崇光天皇, Sukō Tennō, tại vị 1348-1351) công nhận tư cách của hai ngôi Đại Bản Sơn của Tào Động Tông; đến năm 1441, chùa lại được Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng (後花園天皇, Gohanazono Tennō, tại vị 1428-1464) ban tặng cho hiệu là Tứ Tử Xuất Thế Đạo Tràng (賜紫出世道塲). Từ đó trở về sau, nó trở thành ngôi chùa bổn sơn trung tâm của Phái Vô Để (無底派) ở hai châu Áo Châu (奥州) và Vũ Châu (羽州). Tất cả những tăng lữ của phái này trong đời phải một lần nhập sơn tu hành tại chùa này, và chùa có đến khoảng hơn 1000 ngôi chùa con trực thuộc. Chùa rất trang nghiêm tráng lệ, nhưng do bị hỏa tai, nên kiến trúc ngày xưa còn sót lại chỉ có Sơn Môn mà thôi. Chánh Điện, Khai Sơn Đường, Lầu Chuông, Nhà Kho, v.v., tất cả gồm 16 kiến trúc thì được xây dựng lại gần đây thôi. Đại Chánh Điện, Tăng Đường là hai kiến trúc rất to lớn, hùng vĩ. Hiện chùa vẫn còn có 78 ngôi tự viện con trực thuộc, và nơi đây là chốn tu hành chuyên môn, nên chư tăng thường xuyên tập trung về tu tập. Chùa hiện còn lưu lại rất nhiều bảo vật.
chánh pháp y
1) Phật là chỗ tựa của Chánh Pháp: He, the Buddha, on whom the truth depends. 2) Danh hiệu của Phật: A term for a Buddha.
chánh phụ
Primary and secondary.
chánh phủ
Government.
Chánh quả
(正果): có hai nghĩa khác nhau: (1) Chỉ cho sự chứng ngộ nhờ tu tập đúng chánh pháp; còn gọi chứng quả (證果). Sở dĩ gọi là chánh quả, vì đó là quả nhờ học Phật chứng đắc được; khác với ngoại đạo tu luyện mù lòa, sai lầm. (2) Đặc biệt chỉ cho thân của hữu tình, là quả báo chánh thể cảm đắc nhờ nghiệp nhân quá khứ; còn gọi là chánh báo (正報). Như trong Lăng Nghiêm Kinh Yếu Giải (楞嚴經要解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 11, No. 270) quyển 2 có câu: “Chúng sanh nghiệp chủng thành tụ, hành nhân bất thành chánh quả, giai do bất tri nhị bổn thác loạn tu tập (眾生業種成聚、行人不成正果、皆由不知二本錯亂修習, chúng sanh giống nghiệp tích tụ, người hành trì không thành chánh quả, đều vì chẳng biết hai gốc rễ tu tập thác loạn).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) lại có câu: “Dĩ thành chánh quả viết Thánh, linh siêu vạn vật viết nhân, mô phạm hậu học viết sư, Lục Hòa thanh tịnh viết Tăng (已成正果曰聖、靈超萬物曰人、模範後學曰師、六和清淨曰僧, đã thành chánh quả gọi là Thánh, linh ứng vượt qua vạn vật gọi là người, làm mô phạm cho học đồ đi sau gọi là thầy, sống Lục Hòa thanh tịnh gọi là Tăng).”
chánh quả
Hệ quả trực tiếp, tốt hay xấu là do bởi kết quả của tiền nghiệp—One's direct reward, good or bad, depends on or results from former karma. ** For more information, please see Chánh Báo.
chánh sách
Policy.
chánh sĩ
Xem Bồ tát.
; 1) Bậc thức giả chơn chánh: Correct scholar. 2) Bồ Tát: Bodhisatva.
Chánh Thân Đinh Thiên Hoàng
(正親町天皇, Ōgimachi Tennō, tại vị 1557-1586): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Chiến Quốc, hoàng tử thứ 2 của Hậu Nại Lương Thiên Hoàng (後奈良天皇, Gonara Tennō), tên là Phương Nhân (方仁, Michihito). Ông tức vị vào năm 1560 (niên hiệu Vĩnh Lộc [永祿] thứ 3). Trong thời gian tại vị, ông cùng với các tướng quân Tín Trưởng (信長, Nobunaga) và Tú Cát (秀吉, Hideyoshi) thống nhất quốc nội.
chánh thọ
Xem Chánh thọ.Xem đại định.
; Cảm thọ đúng về đối tượng trong khi thiền quán—Correct sensation of the object contemplated.
chánh thọ lão ông
Shoju (J)Tên một vị sư.
chánh tinh tấn
Sammā-vāyāma (P), Right effort Samyak-vyāyāma (S), Samyag-prahānāni (S).
; Samyagvyayama (skt)—Cố gắng đúng là giai đoạn thứ sáu trong Bát Thánh đạo—Right effort, zeal or progress, unintermitting perseverance, the sixth of the eightfold noble path. • Ngăn chận các tư tưởng tội lỗi và bất thiện chưa sanh: To prevent the arising of evil and unwholesome thoughts that have not yet arisen. • Trấn áp tất cả những trạng thái xấu xa: To supress the rising of evil states. • Loại bỏ khi chúng vừa chớm khởi dậy: To eradicate (discard) those which have arisen. • Làm cho phát sanh và phát triển những tư tưởng thiện chưa sanh: To produce and develop wholesome thoughts not yet arisen. • Nuôi dưỡng và làm tăng trưởng những trạng thái tốt : To stimulate good states, and to perfect those which have come into being (to promote and maintain the good thoughts already present). ** For more information, please see Bát Chánh Đạo.
chánh trung
See Chính Trung.
Chánh Truyền Tự
(正傳寺, Shōden-ji): ngôi chùa của Phái Nam Thiền Tự (南禪寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu núi là Cát Tường Sơn (吉祥山); hiện tọa lạc tại 72 Nishikamo (西賀茂), Chinjuan-chō (北鎭守菴町), Kita-ku (市北區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府), gọi cho đủ là Chánh Truyền Hộ Quốc Thiền Tự (正傳護國禪寺). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Khởi đầu, vào năm thứ 5 (1282) niên hiệu Hoằng An (弘安), pháp từ của Ngột Am Phổ Ninh (兀菴普寧) là Đông Nham Huệ An (東巖慧安) kiến lập một ngôi chùa ở vùng Nhất Điều Kim Xuất Xuyên (一條今出川), và người khai cơ chùa này là Tĩnh Thành Pháp Ấn (靜成法印). Sau đó, Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō) ban sắc hiệu cho chùa là Chánh Pháp Hộ Quốc Thiền Tự (正法護國禪寺), và nơi đây trở thành ngôi danh lam của vùng Lạc Bắc (洛北). Đến tháng 4 năm đầu (1340) niên hiệu Hưng Quốc (興國), chùa được liệt ngang hàng với những ngôi danh lam khác. Các tòa đường vũ của chùa hiện tại là kiến trúc ngôi điện của Thành Đào Sơn (桃山城, Momoyama-jō) được dời đến dựng nên, vì thế hiện tại quần thể kiến trúc của chùa được nhà nước đặc biệt bảo hộ. Chánh Điện chùa là kiến trúc được dời từ Thành Phục Kiến (伏見城, Fushimi-jō) vào năm thứ 2 niên hiệu Thừa Ứng (承應).
chánh trí
Samyak-jāna (S), Right wisdom Sammā-āṇa (P).
; Samyagjnana (skt)—Right knowledge—Trí của các bậc Hiền Thánh, một trong ngũ pháp—Correct knowledge—Sage-like or saint-like knowledge, one of the five Dharmas—See Ngũ Pháp (4).
chánh trị
Politics.
chánh trực
1) Thẳng Thắn: Correct and straight. 2) Nhứt Thừa Thiên Thai: The One Vehicle teaching of the T'ien-T'ai.
chánh trực xả phương tiện
Con đường thẳng loại bỏ tất cả mọi phương tiện—The straight way which has cast aside expediency.
Chánh Ty Khảo Kì
(正司考祺, Shōji Kōki, 1793-1857): nhà kinh thế sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; tự là Tử Thọ (子壽); thông xưng là Trang Trị (庄治); hiệu Thạc Khê (碩溪), Nam Quyết (南鴂); xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen). Ông đã từng giao lưu với An Tích Cấn Trai (安積艮齋), Tá Đằng Nhất Trai (佐藤一齋); từ lập trường của Tứ Dân Phân Nghiệp Luận (四民分業論), ông chủ trương rằng hoạt động kinh tế tự do của thương nhân mang lại sự toàn hảo cho sức mạnh quốc gia. Trước tác của ông có Kinh Tế Vấn Đáp Bí Lục (經濟問答秘錄), Gia Chức Yếu Đạo (家職要道), v.v.
chánh tâm hành xứ
Điều kiện trong đó sự vận hành của tâm vững chắc và hòa hợp với đối tượng—The condition when the motions of the mind are steadied and harmonized with the object.
chánh tín
Right belief—Cửa ngõ đầu tiên đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tâm ta luôn kiên định không thối chuyển—The first entrance to the great enlightenment; for with it, the steadfast mind is not broken.
chánh tính ly sinh
According to Abhidharma-kosa, the life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people—See Thánh Tính Ly Sinh.
chánh tư duy
Samyak-saṃkalpa (S), Right thought Sammā-saṅkappa (P)Một trong Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
; Samyaksamkalpa (skt)—Suy nghĩ đúng là giai đoạn thứ nhì trong Bát Thánh đạo. Suy nghĩ đúng về cuộc sống xuất gia, từ bi lợi chúng—Right thought and intent, the second of the eightfold noble path. Right aspiration towards renunciation, benvolence and kindness.
chánh tượng mạt
Ba thời kỳ chính của Phật giáo là thời Chánh Pháp, Tượng Pháp, và Mạt Pháp—Three main periods of Buddhism, the real or correct, the formal or semblance, and the final or termination—See Chánh Pháp, Tượng Pháp, and Mạt Pháp.
chánh tận giác
See Chánh Biến Tri.
chánh án
Presiding judge.
chánh điện
The Main Hall—Buddha hall—Shrine.
chánh đáng
Righteousness.
chánh đương nhâm ma thời
Just at such and such an hour.
chánh đạo
Right path.
chánh đẳng chánh giác
Xem Tam miệu Tam Phật đà. Xem A nậu đa la. Xem Tam bồ đềXem Chánh biến tri.
; A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề—Perfect universal enlightenment, knowledge, or understanding—Supreme or perfect enlightenment (Anuttara-samyak-sambodhi—A Nậu đa la tam miệu Tam bồ đề)—See Chánh Biến tri. ** For more information, please see Chánh Biến Tri.
chánh đẳng giác
Samyakbuddhi (bodhi) Chánh trí vô thượng của Phật (trí giác biết các pháp không sai lệch)—Correct universal perfect enlightenment—The perfect universal wisdom of a Buddha. ** For more information, please see Chánh Biến Tri.
chánh địa bộ
Mahisasakah (skt)—See Hóa Địa Bộ.
chánh định
Sammā-samādhi (P), Right concentration Samyak-samādhi (S)Một trong Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
; Samyak-samadhi (skt). • Tâm cố định và không bị khuấy rối. Giai đoạn cuối cùng trong Bát Thánh Đạo: Right concentration or abstraction so that becomes vacant and receptive—The mind fixed and undisturbed—The last link of the Eightfold Path. • Chánh Định là yếu tố kỷ luật tinh thần cuối cùng dẫn đến Tứ Thiền hay bốn giai đoạn của Thiền: Right Concentration is the last mental discipline that leads to the four stages of jhana—See Tứ Thiền. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo.
chánh định lực
Samadhibhala (skt)—Định lực của tâm hay định lực thiền giúp ta không lầm lẫn cũng như dong ruỗi—The power of concentration of mind or meditation which helps destroying confused or wandering thoughts.
chánh định nghiệp
Thuận theo 18 lời nguyện của Phật A Di Đà và cõi Tây Phương Cực Lạc mà nhất tâm chuyên niệm hồng danh của Ngài—Concentration upon the eighteen vows of Amitabha and the Western Paradise, in repeating the name of Amitabha.
chánh định tụ
Samyak-traniyatarasi (S)Người nhất định chứng ngộ.
chánh định vương kinh
Samādhirāja-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
chánh ứng
Sự cảm ứng linh nghiệm của chư Phật và chư Thánh—The influence of Buddha; the response of the Buddhas, or saints.
cháu chắt
Grand children.
châm
Suci (skt)—Cây kim—A needle.
; (砧) Vốn là cái đe bằng sắt của người thợ rèn. Trong Thiền lâm, là cái chùy châm (cái kiểng) dùng để đánh khi thầy lên thuyết pháp, khai thị học trò, hoặc khi vị Duy na tập chúng để bạch việc gì, hoặc rước đại chúng lên khóa tụng - nhưng có khi cũng làm bằng gỗ. Hình dáng là hình tám góc, đường kính độ mười lăm phân, cao khoảng một trăm hai mươi phân. Thiền uyển thanh qui quyển 1 mục Phó chúc phạn (Vạn tục 111, 441 thượng), nói: Sau đó, Duy na vào nhà trai lạy trước Thánh tăng xong, thắp hương đứng ra một bên, đánh châm, đại chúng mở bát.
châm biếm
Ironical.
châm chích
Caustic.
Châm chước 斟酌
[ja] シンシャク shinshaku ||| (1) To act appropriately to the situation. To due as the circumstance demand. 〔二障義 HPC 1.814b〕(2) To serve food and drinks. => 1. Xử sự thích ứng với hoàn cảnh. Đúng như yêu cầu của tình thế. 2. Phục vụ thức ăn uống.
châm chọc
To tease.
châm cơ bạ
(砧基簿) Cuốn sổ ghi chép những vật liệu kiến trúc hoặc những vật tạp nhạp dùng hằng ngày trong tùng lâm. Châm cơ, nguyên chỉ viên đá tảng của vật kiến trúc, ở đây chuyển chỉ các vật lặt vặt. Quyển sổ này chỉ cần cho việc qui định chính điện, nhà tăng v.v... khi bắt đầu làm chùa, nhưng vị trụ trì không thể không biết đến - bởi thế sau khi nhập tự phải xem xét cho cặn kẽ. Lại Châm cơ đạo nhân là vị tăng trông coi về thuế đất trong tùng lâm, có tính chất là một viên quan lại. Chức này được đặt ra đầu tiên vào năm Hồng vũ 19 (1386) đời Minh. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.5 mục Nhập viện - Tăng đường thanh qui Q.5].
châm giới
Hạt cải và mũi kim, ví với việc thị hiện của Đức Phật còn hiếm hơn việc hạt cải bay từ không trung mà rớt vào ngay lổ kim—Needle and mustard seed; the appearance of Buddha is as rare as hitting the point of a needle on earth by a mustard seed thrown from the sky.
; (針芥) Cũng gọi Châm phong...... Đặt ngửa cái trôn kim trên mặt đất, rồi từ trên trời ném xuống một hạt cải, mà muốn nó trúng vào lỗ trôn kim là một việc vô cùng khó khăn. Thí dụ được gặp Phật ra đời là việc rất khó. [X. kinh Niết bàn (bản Nam) phẩm Thuần đà].
châm khẩu quỷ
Một trong chín loại quỷ, là loại quỷ có miệng nhỏ như cây kim, không ăn uống gì được—One of the nine classes of pretas, needle-mouth ghosts, with mouth so small that they cannot satisfy their hunger or thirst—See Ngạ Quỷ, and Cửu Quỷ.
châm khổng
Lổ kim, ý nói tái sanh làm người còn khó hơn chuyện một sợi chỉ từ trên không bay xỏ vào ngay lổ kim dưới đất (theo Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 31, “Nếu như có một người đứng trên đỉnh núi Tu Di kéo ra một sợi dây cực nhỏ, một người đứng dưới chân núi tay cầm cây kim đón lấy đầu dây, ở lưng chừng gió lốc, gió xoáy lại nổi lên dữ dội vào sợi dây, sợi dây thật là khó chui vào được đúng lổ kim. Làm được thân người còn khó hơn thế ấy nữa)—A needle eye; it is as difficult to be reborn as a man as it is to thread a needle on earth by throwing the threadat it from the sky.
; (針孔) Cắm cây kim trên mặt đất rồi từ trên trời gieo một sợi chỉ xuống, khiến nó xỏ qua lỗ kim, việc ấy rất khó. Thí dụ thân người khó được. [X. Pháp uyển châu lâm Q.31].
châm mao quỷ
Một trong chín loài quỷ—One of the nine classes of pretas—See Cửu Quỷ.
châm ngôn
Maxim—Precept.
châm ngôn tục ngữ
Precepts and Proverbs Đời là êm dịu và hoan hỷ với những ai có tâm hồn thuần khiết: Life is a sweet and joyful thing for one who has a pure conscience. Cỏ dại không cần phải gieo trồng: Weeds want no sowing. Có công mài sắt có ngày nên kim: By hard labor one will succeed. Chó sủa mặc chó, lữ hành cứ đi: The dogs bark, but the caravan goes on. Chọn bạn mà chơi: Better be alone than in ill company. Ở đời không có gì là vĩnh cửu: The morning sun never lasts a day.
Châm ngải 鍼艾
[ja] シンガイ shingai ||| . Acupuncture and moxibustion. The practice of this art by Buddhist monks was prohibited. (2) Medical treatment. => 1. Thuật châm cứu. Việc nầy Tăng sĩ Phật giáo bị cấm đoán không được làm. 2. Phép trị bệnh.
châm phong
See Châm Giới.
châm đồng
(針筒) Cái ống đựng kim khâu. Thông thường ống có nhiều loại: sắt, đồng, chì, tre, gỗ v.v..., nhưng theo trong Luật chế thì phải làm bằng ngà voi, hoặc bằng sừng, chứ không được làm theo ý muốn.
chân
True, real, genuine, actual.
; • Chân thực: Tattva (skt)—True—Real—Truth—Reality. • Trạng thái thực: Tattvata (skt)—Real state—Truth—Reality.
; (真) I. Chân thực. Đối lại với các nghĩa giả, ngụy, tục. Nghĩa rốt ráo cùng tột gọi là chân - giả là nghĩa phương tiện, tạm thời. Chẳng hạn như thân Phật chia làm chân thân và ứng thân, đối lại với thân ứng hóa thì gọi là chân thân. Lại như pháp môn chia làm chân đế và tục đế, đối lại với thế tục đế thì gọi là chân đế. Ngoài ra, chân giả và quyền thực là những tiếng cùng nghĩa. Có thuyết bảo tục là chỉ sự vật che lấp cái thật - còn ngụy thì chỉ sự vật hư dối không thật mà lại giống như thật. II. Chỉ chân ảnh, tức tượng khắc, tượng đắp hoặc tượng vẽ của các tổ sư và các bậc tôn túc. (xt. Chân Ảnh).
chân ba tị
(真巴鼻) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đích thực là người có đầy đủ lỗ mũi. Nghĩa bóng: chỉ bậc đại trượng phu thực sự đại triệt đại ngộ.
Chân Biểu 眞表
[ja] シンヒョウ Shinhyō ||| Chinp'yo; a Silla monk of the eighth century who was a major scholar in the area of Consciousness-only/dharma-characteristic (唯識・ 法相) philosophy. => Tăng sĩ Cao Ly vào thế kỷ thứ 18, là học giả nổi bật trong lĩnh vực triết học Duy thức và Pháp tướng.
chân bà la môn
(真婆羅門) Chỉ phạm thiên. Kinh Nhất tự tâm chú (Đại 19, 316 hạ), nói: Nếu muốn hàng phục chân bà la môn thì dùng hoa thượng hảo hạng và hạt cải trắng, y theo phép trước, thì được như ý.
chân bàn mộc
(真盤木) Một thứ cây thơm, nhựa cây màu nâu sẫm, khi đốt lên, mùi thơm bay ra ngào ngạt. Có thuyết nói gỗ trầm hương có hai loại đen và trắng, loại đen gọi là Chân bàn.
chân ca la
(甄迦羅) Phạm:Kaíkara. Một trong các số mục của Ấn độ đời xưa. Còn gọi Căng yết la, Hằng ca la. Tương đương với một nghìn muôn ức. Kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 53 trung), nói: Lại được nghe tám trăm nghìn muôn ức na do tha, chân ca la, tần bà la, a súc bà bài kệ của kinh Pháp hoa này. [X. luận Câu xá Q.12 - Pháp hoa huyền tán Q.10 - Huyền ứng âm nghĩa Q.6].
Chân châu 眞珠
[ja] シンジュ shinju ||| A pearl (lohita-muktā), one of the seven jewels . => Ngọc quý (s: lohita-muktā), là một trong bảy loại châu báu.
chân chính
Legitimate.
chân chính phát tâm
(真正發心) 1. Chỉ sự phát tâm của hàng Bạc địa phàm phu, trước Thập địa. 2. Trong Mật giáo, đặc biệt chỉ Sơ địa - là vì đã đến được Sơ địa thì có thể xa lìa hết thảy phiền não, mở ra cái kho báu kim cương vốn có của tự tâm, hiển bày tâm đại bồ đề chân thật, như hư không vô nhiễm. Lại nhờ an trụ nơi tâm đại bồ đề này mà có thể xa lìa tà kiến, thông suốt chính kiến, vì thế gọi Sơ địa là chân chính phát tâm.
chân chính yếu tập
Xem Nhiếp Chân thật luận.
chân chứng
Bằng chứng của sự giác ngộ—Real evidence, proof or assurance, or realization of truth. The knowledge, concept, or idea which corresponds to reality.
chân cáo
(真誥) Kinh điển Đạo giáo, 30 quyển. Do Đào hoằng cảnh đời Nam triều Lương soạn. Thu vào Đạo tạng tập 637 đến 640. Chân cáo, hàm ý chân nhân (thần tiên) truyền miệng. Sách này do phê phán, sửa đổi sách Chân tích của Cố hoan soạn, rồi thu góp những yếu nghĩa của các bậc chân nhân phái Thượng thanh trong Đạo giáo chỉ bày mà thành. Nội dung bao hàm những điểm trọng yếu của sự tu hành, thuyết địa lý của đạo giáo, đồng thời thu chép hai mươi chương trong kinh Bốn mươi hai chương, do đó có thể thấy sách này đã chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâu đậm, và là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử của phái Thượng thanh trong Đạo giáo và về tình hình chịu ảnh hưởng của Phật giáo.
chân cảnh
Cảnh giới của chân lý—The region of truth or reality.
chân diễn
(真衍) (1621-1677) Vị tăng tông Lâm Tế cuối đời Minh. Người Cô tô, Ngô quận, Trường châu (Giang tô), họ Hứa. Tự Trúc am, biệt hiệu Ngẫu am. Mười chín tuổi lễ Thạnh công ở chùa Vân thê xin xuất gia, hai mươi ba tuổi đến thụ giới Cụ túc nơi ngài Vạn phong, rồi trở về hầu Thạnh công. Sau, sư xem kinh Viên giác, tham học ngài Vạn phong ba năm, sau lại tham học với ngài Mộc trần Đạo mân mà được khế ngộ. Vì mắc bệnh dạ dày, nên sư đóng cửa tĩnh tu tại Phúc thành thuộc tỉnh Sơn đông, tụng trì và biên chép kinh Pháp hoa mà khỏi bệnh. Năm bốn mươi lăm tuổi, sư đến tham học nơi ngài Ngộ tiến, hiệu Giới am, ở chùa Kimminh, đuợc phó chúc, năm sau vể Ngẫu am ở Nam thành. Khang hi năm 16 sư thị tịch, thọ năm mươi bảy tuổi. Có ngữ lục hai quyển lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.81].
chân diện mục
True face, true physiognomy, features; reality.
chân diệu
Chân thực vi diệu—The mysterious reality; reality in its profundity.
chân du bất bác kim
(真俞不博金) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chân du, bề ngoài giống như vàng nhưng hoàn toàn không phải vàng, do đó không thể lẫn lộn hoặc thay cho giá trị vàng. Trong tùng lâm hay dùng từ ngữ này để thí dụ trí ngu, chính tà không thể lẫn lộn và so sánh với nhau được.
chân dung
(真容) Nguyên chỉ dáng vẻ của người. Trong Thiền lâm, chỉ cho tôn tượng của các Tổ sư khai sơn qua các đời.
Chân Dung Tông Diễn
真融宗演; 1640-1711|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng đời thứ 37, dòng được truyền sang miền Bắc. Sư nối pháp Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt.|Sử sách không ghi rõ tên tục của Sư, chỉ biết rằng, Sư mất cha lúc còn nhỏ và được mẹ nuôi nấng. Một hôm, mẹ Sư dặn ở nhà nấu canh cáy (là con còng, một loài cua). Thấy những con cáy sủi bọt dường như khóc, Sư không nỡ bỏ vào cối giã và đem phóng sinh hết. Vì trái ý mẹ nên Sư bị ăn đòn và sợ hãi, quay lưng chạy một mạch đi biệt tích.|Cuộc đời phiêu bạt của Sư sau đó không được nghe nhắc đến. Chỉ biết rằng, nghe tin Thiền sư Thông Giác từ Trung Quốc trở về trụ trì chùa Vọng Lão trên núi Yên Tử, Sư đến yết kiến. Thông Giác hỏi: »Như khi ta đang nghỉ, đợi đến bao giờ mới có tin tức?« Sư đáp: »Ðúng Ngọ thấy bóng tròn, giờ Dần mặt trời mọc.« Thông Giác hỏi: »Bảo nhậm thế nào?« Sư trình kệ:|應有萬緣有。隨無一切無|有無俱不立。日耿本當晡|Ưng hữu vạn duyên hữu|Tuỳ vô nhất thiết vô|Hữu vô câu bất lập|Nhật cảnh bản đương phô|*Cần có muôn duyên có|Ưng không tất cả không|Có không, hai chẳng lập|Ánh nhật hiện lên cao.|Thông Giác bước xuống bảo: »Tào Ðộng hợp quân thần, tiếp nối dòng của ta. Nên cho ngươi pháp danh Tông Diễn« và nói kệ truyền pháp:|一切法不生。一切法不滅|佛佛祖祖傳。蘊空蓮頭舌|Nhất thiết pháp bất sinh|Nhất thiết pháp bất diệt|Phật Phật Tổ Tổ truyền|Uẩn không liên đầu thiệt.|*Tất cả pháp chẳng sinh|Tất cả pháp chẳng diệt|Phật Phật Tổ Tổ truyền|Uẩn không sen đầu lưỡi.|Hơn ba mươi năm sau, khi đã trở thành một Hoà thượng trụ trì, Sư nhớ đến mẹ liền về quê cũ tìm kiếm. Gặp mẹ tại một quán nước, Sư nhận ra ngay sau vài câu dọ hỏi. Sư mời bà về chùa ở cùng với tăng chúng – lúc này Sư vẫn không để lộ tung tích của chính mình – và tuỳ khả năng mà tu tập hoặc phụ giúp chúng công tác. Mỗi ngày, Sư phân công bà làm những việc nhỏ như nhổ cỏ, quét sân và luôn luôn nhắc nhở bà tu hành.|Một thời gian sau, bà tịch trong lúc Sư vắng mặt. Vì biết trước sự việc này nên Sư căn dặn đệ tử không đậy nắp áo quan và đợi Sư về. Về đến chùa, Sư nhìn mặt mẹ lần cuối rồi đậy nắp quan lại, nói to: »Như lời Phật dạy: một người tu hành ngộ đạo cha mẹ sinh thiên, nếu lời ấy không ngoa xin cho quan tài bay lên hư không để chứng minh lời Phật« Sư liền cầm Tích trượng gõ ba cái, quan tài từ từ bay lên hư không rồi hạ xuống. Nhân đây mọi người mới biết bà lão là mẹ của Sư.|Niên hiệu Vĩnh Trị đời nhà Lê, vua Lê Hi Tông chiếu chỉ đuổi tăng ni già trẻ vào rừng núi. Thấy tình cảnh như thế, Sư vận dụng tất cả tài năng của mình để thuyết phục được vua. Vì những lời giảng chân thật, đầy thuyết phục của Sư về các vấn đề an dân trị nước theo nguyên lí đạo Phật nên vua nghe theo, lệnh thu hồi chiếu chỉ. Vì đã thấm nhuần Phật pháp nên vua cũng sai đúc tượng vua quì mọp trên lưng vác tượng Phật để sám hối.|Sau, Sư trụ trì chùa Hồng Phúc (hay chùa Hoè Nhai nằm ở phố Hàng Than, Hà Nội), thường tới lui giảng đạo cho vua chúa nghe.|Sắp đến ngày viên tịch, Sư gọi đệ tử đến phó chúc và nói kệ:|花開春方到。葉落便智秋|枝頭霜瑩玉。萼上雪連珠|清晨雲散產龍甲。白日霞光裸象軀|豹文雖見一。鳳眾體全俱|達摩西來傳何法。蘆花涉海水浮浮|Hoa khai xuân phương đáo|Diệp lạc tiện tri thu|Chi đầu sương oánh ngọc|Ngạc thượng tuyết liên châu|Thanh thần vân tán sản long giáp|Bạch nhật hà quang loả tượng khu|Báo văn tuy kiến nhất|Phụng chúng thể toàn câu|Ðạt-ma Tây lai truyền hà pháp?|Lô hoa thiệp hải thuỷ phù phù.|*Xuân đến hoa chớm nở|Thu về lá vàng rơi|Ðầu cành sương lóng lánh|Cánh hoa tuyết rạng ngời|Buổi sáng trời trong rồng bày vẩy|Ngày trưa mây sáng voi hiện hình|Vằn cọp tuy thấy một|Bầy phụng thể toàn đồng|Ðạt-ma Tây sang truyền pháp gì?|Cành lau qua biển thổi phau phau.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Báo thân của ta đến đây đã hết« rồi ngồi trên giường thiền yên lặng thị tịch, thọ 72 tuổi.
chân duy thức lượng
(真唯識量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Còn gọi Duy thức tỉ lượng. Chân duy thức lượng này được dựa theo học thuyết Duy thức của ngài Hộ pháp, rồi tiến thêm một bứớc nữa mà luận chứng: Cảnh sắc không lìa thức, tức là lí luận chủ trương rằng, thế giới khách quan không thể thoát li ý thức chủ quan.
chân dị thục
(真异熟) Dị thục chân thực. Là quả thể tổng báo của thức thứ tám do tông Duy thức thuyết minh. Cũng gọi là dị thục. Nếu đối với Chân dị thục mà nói thì quả báo riêng rẽ (biệt báo) của sáu thức trước, gọi là Dị thục sinh. Duy thức luận xu yếu quyển thượng phần cuối giải thích Chân dị thục có ba nghĩa: 1. Nghiệp quả, nghĩa là nghiệp đời trước mang lại quả báo. 2. Bất đoạn, nối tiếp không dứt. 3. Biến tam giới, có khắp trong ba cõi. Thức thứ bảy có đủ hai nghĩa không dứt và khắp ba cõi, nhưng thiếu hai nghĩa nghiệp nhân, còn dị thục sinh của thức thứ sáu thì đủ hai nghĩa nghiệp quả và khắp ba cõi, nhưng lại thiếu nghĩa không dứt, dị thục sinh của năm thức trước chỉ có nghiệp quả mà thiếu hai nghĩa không dứt và khắp ba cõi, cho nên đều không phải là chân dị thục, duy chỉ có thức thứ tám là đủ cả ba nghĩa, vì thế được gọi là chân dị thục. [X. luận Thành duy thức thuật kí Q.4].
chân giá trị
True value.
chân giác
The true and complete enlightenment, i.e.the perfect nirvàna of the Buddha; the perception of ultime truth.
; Sự toàn giác chân chính, như niết bàn toàn thiện của Phật—The true and complete enlightenment, i.e. the perfect nirvana of Buddha, the perception of ultimate truth.
; (真覺) I. Chân giác. Sự giác ngộ cùng tột của Phật. Để phân biệt với Tương tự giác, Tùy phần giác của Bồ tát, nên gọi là chân giác. II. Chân giác (605-713). Vị thiền tăng đời Đường. Người huyện Vĩnh gia, tỉnh Triết giang. Tự Minh đạo. Lúc đầu tập Thiên thai chỉ quán, sau tu Thiền quán. Có lần cùng với Huyền lãng ở Tả khê và Huyền sách ở Đông dương đến tham yết Lục tổ. Khi gặp tổ, qua mấy câu vấn đáp liền được ấn khả, và lưu lại một đêm, cho nên người đương thời gọi là Nhất túc giác........ (giác ngộ trong một đêm). Sau về Ôn châu, đại chấn Thiền phong, học giả từ bốn phương đến học rất đông, người thời bấy giờ tôn xưng là Chân giác đại sư. (xt. Huyền Giác). III. Chân giác (1265-1334). Vị tăng phái Hổ khâu thuộc tông Lâm tế đời Nguyên. Người huyện Thiên thai, tỉnh Triết giang, họ Diệp. Tự Vô kiến, pháp danh Tiên đổ. Theo ngài Cổ điền hậu công ở Thiên minh xuất gia thụ giới, sau tham học ngài Văn bảo ở Phương sơn, được đại ngộ và làm đệ tử nối pháp. Sư dựng am cỏ trên nền chùa cũ của ngài Cao am Thiện ngộ trên Thiên thai hoa đính, hóa đạo rất thịnh, đời gọi là Cao am tái thế. Năm Nguyên thống thứ 2 sư thị tịch, thọ bảy mươi tuổi. Hiệu tháp là Tịnh quang. Có hai quyển Vô kiến Đổ thiền sư ngữ lục truyền ở đời. [X. Tục đăng tồn cảo Q.7 - Phật tổ cương mục Q.41 - Ngũ đăng nghiêm thống Q.21].
chân giác thắng
Chen chueh Sheng (C)Chen ju Tao jen (C).
chân giác tự
(真覺寺) Chùa nằm về mạn bắc huyện Thiên thai tỉnh Triết giang, một trong những chùa nổi tiếng ở núi Thiên thai. Được sáng lập vào năm Khai hoàng đời Tùy, là nơi đại sư Trí giả thị tịch. Sau hoang phế đã lâu, mãi đến khoảng năm Long khánh (1567 -1572) đời Minh, sư Chân nhẫm làm lại điện Phật, phòng tăng. Đến khoảng năm Gia khánh, Đạo quang (1796 - 1850) đời Thanh, Tướng quốc Nguyễn văn đạt quyên góp tiền của để trùng tu. Nay còn điện Tổ, nhà khách hai bên đông tây và điện Kim quang. Điện tổ là tòa bảo tháp hình sáu góc, để chân thân của đại sư Trí giả. Ở mặt chính đặt cỗ khám, trong đó thờ tượng của Đại sư. Trên các bức vách nhỏ giữa khoảng các đấu và củng, có các bức chạm nổi, trên đó khắc sự tích Đại sư. Phía sau nhà khách có bia đạo tràng tu Thiền, văn bia do Hàn lâm học sĩ Lương túc đời Đường soạn, do quan thứ sử Thai châu là Từ phóng viết, do sư Hành mãn dựng vào ngày 12 tháng 11 năm Nguyên hòa thứ 6 (812) đời Đường. Bia này vốn để ở chùa Đại từ, sau chùa hư nát mới được dời về chùa Chân giác.
Chân Giác 覺
[ja] シンカク Shingaku daishi ||| (1) 眞覺大師 Zhenxiao Dashi; See 雪峰義存Xuefeng Yicun. (2) 眞覺國師 Chingak kuksa; the posthumous title of Hyesim 慧諶; the leading student of Chinul 知訥. => Chân Giác Đại sư (眞覺大師 Zhenxiao Dashi); Xem Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存Xuefeng Yicun) -Chân Giác Quốc sư (眞覺國師 Chingak kuksa); thuỵ hiệu của Huệ Kham (k: Hyesim 慧諶); đệ tử đầu của Trí Nột (k: Chinul 知訥).
chân giả
True and false.
; (真假) Chân, tức là thật, không dối, thực nghĩa cùng tột - giả, là nghĩa chưa cùng tột, là pháp môn quyền giả phương tiện, dùng tạm rồi bỏ. Chân thực và quyền giả là hai danh từ đối nhau, phần nhiều được các tông dùng để phán giáo. Chẳng hạn như tông Pháp tướng lập Tam thừa chân thực và Nhất thừa phương tiện, tông Hoa nghiêm, tông Thiên thai thì nói Nhất thừa chân thực và Tam thừa phương tiện, đều dùng hai môn đối đãi nhau mà phán lập nghĩa chân, giả.
chân giả bát nguyện
(真假八願) Trong bốn mươi tám nguyện của đức Phật A di đà, có nguyện chân thực cùng tột và nguyện quyền giả tạm thời, trong đó, nguyện Trụ chính định tụ thứ 11, Quang minh vô lượng nguyện thứ 12, Thọ mệnh vô lượng nguyện thứ 13, Chư Phật xưng dương nguyện thứ 17, Niệm Phật vãng sinh nguyện thứ 18 và Tất chí bổ xứ nguyện thứ 22, là các nguyện chân thực cùng tột - còn nguyện Lai nghinh tiếp dẫn nguyện thứ 19 và Hệ niệm định sinh nguyện thứ 20 thì là các nguyện quyền giả tạm thời, gộp lại mà gọi chung là Chân giả bát nguyện (tám nguyện chân và giả). Đây là giáo pháp do Tịnh độ chân tông của Nhật bản lập ra.
chân giả nhị môn
(真假二門) Chân môn và Giả môn nói gộp lại. Thuật ngữ của Chân tông Nhật bản dùng để phán giáo. Tức một pháp niệm Phật là Chân môn, còn muôn hạnh thiện khác là Giả môn. Giả môn, là pháp môn Định, Tán nói trong kinh Quán vô lượng thọ, tức Định, Tán thu nhiếp giáo pháp một đời vào môn hoằng nguyện niệm Phật phương tiện, đây là ý trong nguyện thứ 19, gọi là Phương tiện giả môn. Chân môn, kinh A di đà nói danh hiệu thiện bản đức bản, tức kinh này bỏ muôn hạnh thiện khác, mà quay về một hạnh niệm Phật, để trừ tâm hoài nghi về tự lực, đây theo ý trong nguyện 20, gọi là Chân môn. Và hai môn này đều hòa nhập vào Tha lực hoằng nguyện phương tiện thứ 18. [X. Tam kinh vãng sinh văn loại thiện quang lục].
chân giả đại thế
(真假大勢) Một trong bốn thế lớn của tông Lâm tế. Hàm ý mượn giả để hiểu rõ thật. Trong tùng lâm, khi thầy dạy trò, thường hay mượn việc thế gian để hiển bày lí Phật pháp. Ngũ gia tông chỉ soạn yếu quyển thượng (Vạn tục 114, 259 hạ), nói: Thế lớn chân giả thứ ba là mượn giả để tỏ thật, ý nằm ở ngoài lời, không câu chấp nhất định.
Chân giả 眞假
[ja] シンケ shinke ||| The real and the provisional. Truth and expedient means. Same as 權實. 〔成唯識論 T 1585.31.50b12〕 => Thực và giả. Pháp chân thật và phương tiện. Đồng nghĩa vớinQuyền và Thật 權實.
chân giải thoát
Release from all the hindrances of passion and attainment of the Buddha's nirvàna.
; Sự giải thoát thật sự là sự thoát khỏi mọi chướng ngại của dục vọng phiền não để đạt tới Niết Bàn của Phật (dứt bỏ trói buộc gọi là giải, an nhiên tự tại gọi là thoát). Niết bàn của Phật có đầy đủ pháp thân, bát nhã và giải thoát, mà không thiếu vắng đại bi mẫn chúng—Release from all the hindrances of passions and afflictions to attain the Buddha's nirvana, which is not a permanent state of absence from the needs of the living, but is spiritual, omniscient, and liberating.
; (真解脫) Có nghĩa sự giải thoát chân thực. Chỉ sự giải thoát của Như lai, cũng là tên riêng của Như lai. Tức đã dứt tuyệt hết thảy phiền não, chứng được Niết bàn của Phật. Giải nghĩa là lìa sự trói buộc - thoát, nghĩa là tự tại. Sự giải thoát của Nhị thừa an trụ nơi Niết bàn, cho nên chưa phải là giải thoát chân thực - Phật vì lòng từ bi, không trụ nơi Niết bàn - lại vì đại trí, nên trụ nơi sinh tử, đây là Niết bàn vô trụ, cho nên gọi là chân. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 5 cũng nói, chẳng sinh chẳng diệt tức là chân giải thoát, chân giải thoát tức là Như lai.
chân hiện lượng
(真現量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lượng, có nghĩa là qui củ, ấn định mực thước chuẩn xác. Trong luận thức nhân minh, quá trình cấu thành tri thức, hoặc chính tri thức, đều gọi là Lượng. Hiện lượng, tức chỉ năng lực của năm cảm quan trực tiếp nhận biết những hiện tượng ngoại giới. Sự nhận biết này là nền tảng cấu thành tri thức. Chẳng hạn do mắt mà nhìn thấy vẻ tươi đẹp của hoa cỏ, do mũi mà ngửi thấy mùi thơm của hoa cỏ, nhờ thế mà trong tâm thức người ta đã cấu thành một khái niệm nhất định về hoa cỏ. Tuy nhiên, trong hiện lượng, không phải chỉ toàn những sự thực bất di bất dịch, nhưng nếu vì một nguyên nhân nội tại nào đó (sự thất thường của cảm quan) hoặc ngoại tại (sự thác loạn của ngoại cảnh, như lay động, tia sáng, cự li v.v...) thì dễ đưa đến sự thấy biết lầm lẫn của cảm quan. Sự thấy biết tựa hồ như đúng mà thực thì sai, gọi là Tựa hiện lượng (hiện lượng ang áng, chứ không giống hẳn) - trái lại, sự thấy đúng với cảnh diễn ra trước mắt, không một chút sai trật, thì gọi là Chân hiện tượng.
chân huệ tự
(真慧寺) Còn gọi là Đại trung đông sơn tự, Ngũ tổ tự. Chùa ở núi Ngũ tổ (còn gọi là núi Phùng mậu, núi Đông), phía đông bắc huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc. Do Ngũ tổ Hoằng nhẫn của Thiền tông đời Đường sáng lập, vua Tuyên tông nhà Đường đặt tên là Đại trung đông sơn tự. Trong núi có các di tích cổ, như động truyền pháp, đài giảng kinh, ngọn Bạch liên, ao rửa tay v.v...… Đến khoảng năm Cảnh đức (1004– 1007) đời Tống, nhà vua đổi tên là Chân tuệ tự. Về sau ngài Pháp diễn (?–1104) đã từng ở đây truyền bá Thiền phong của phái Dương kì. Khoảng năm Vạn lịch (1573– 1619) đời Minh, năm Hàm phong thứ 4 (1854) đời Thanh, đã 2 lần bị hỏa hoạn, sau lại được phục hồi.
chân hành
(真行) Còn gọi Thị chân hành giả. Một chức vụ trong Thiền lâm. Chân, chỉ chân ảnh của Tổ sư. Thị chân, là chức vụ có trách nhiệm trông nom nhà Chân ảnh (nhà Tổ), còn Thị chân hành giả là chức dưới quyền Thị chân, vị tăng làm các việc lặt vặt trong nhà Chân ảnh.
chân hình
(真形) Hình thể chân thật, chỉ cho chân thân vô tướng của đức Phật. Lâm tế lục dẫn kệ tụng của Phó đại sĩ (Đại 47, 500 thượng): Có thân chẳng phải giác thể, không tướng mới là chân hình.
chân hóa
1) Cứu độ người bằng chân lý giải thoát—To convert people by using teaching of the Truth. 2) Giáo thuyết của Chân Tông: The teaching of the True Sect or Shingon.
chân hóa nhị thân
Chân thân là pháp thân và báo thân; và hóa thân là ứng thân—The true body is the dharmakaya and sambhogakaya, and the transformation body is the nirmanakaya. ** For more information, please see Nhị Thân.
chân hưu chi xứ
(真休之處) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ sự chấm dứt toàn bộ hoạt động của ý thức, là trạng thái tâm tuyệt đối yên tĩnh.
chân hạnh phúc
Advaitananda (S), The bliss of knowledge of the Absolute.
chân hạnh phúc kinh
Mahàmangala-sutta (P). Sùtra on the True Happiness.
Chân Không
真空; 1045/46-1100|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 16. Sư nối pháp Thiền sư Thảo Nhất. Sư có hai vị kế thừa nổi danh là Thiền sư Viên Học và Ni sư Diệu Nhân.|Sư họ Vương, quê ở làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du. Thuở nhỏ, Sư chỉ thích ở riêng một mình, siêng năng đọc sách và đến năm 15 tuổi đã tinh thông sách sử. Lên 20, Sư xuất gia dạo khắp tùng lâm tìm đạo.|Ðến chùa Tĩnh Lự núi Ðông Cứu, Sư nghe giảng kinh Pháp Hoa bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư ở lại đây sáu năm và được truyền tâm ấn. Sau, Sư đến núi Từ Sơn dừng trụ, hai mươi năm không hề xuống núi. Ðạo hạnh của Sư vang đến tai Lí Nhân Tông. Vua xuống chiếu mời vào vương triều giảng kinh thuyết pháp. Người người nghe giảng đều kính phục.|Ngày mùng 1 tháng 11, niên hiệu Hội Phong thứ 9, Sư gọi chúng lại phó chúc và nói kệ:|妙本虛無明自誇。和風吹起遍娑婆|人人盡識無爲樂。若得無爲始是家|Diệu bản hư vô minh tự khoa|Hoà phong xuy khởi biến Sa-bà|Nhân nhân tận thức vô vi lạc|Nhược đắc vô vi thuỷ thị gia.|*Diệu bản thênh thang rõ tự bày|Gió hoà nổi dậy khắp Sa-bà|Người người nhận được vô vi lạc|Nếu được vô vi mới là nhà.|Ðến nửa đêm, Sư bảo: »Ðạo của ta đã thành, ta giáo hoá đã xong, vậy ta tuỳ ý ra đi« và ngồi kết già thị tịch, thọ 55 tuổi, 36 tuổi hạ.
chân không
ShinkŪ (J).
; Sùnyatà (S). Emptiness; absolute void; nothingness.
; 1) Chân không không có nghĩa là trống rỗng, mà có nghĩa là cái không mà không phải là không; chân không làm khởi lên diệu hữu: Emptiness—Wonderful existence—True emptiness is not empty; it gives rise to wonderful existence. Wonderful existence does not exists; it does not obstruct True Emptiness. From the void which seemingly contains nothing, absolutely everything descends. 2) Người ta nói chân không là Niết Bàn của Tiểu Thừa (chân không tức niết bàn diệt đế, chẳng phải giả nên gọi là chân, lìa bỏ hành tướng nên gọi là không): The absolute void, completely vacuity, said to be the nirvana of the Hinayana. 3) Không Chân Như: Theo Khởi Tín Luận, Duy Thức Học, và Kinh Hoa nghiêm, chân không là lý tính chân như—According to the Awakening of Faith, Only-Consciousness, and The Flower Adornment Sutra, emptiness means the essence of the bhutatathata. • Xa lìa các tướng do mê tình nhìn thấy trong Khởi Tín Luận—See Chân Như (c) (1) and (f) (2). • Nhị Không trong Duy Thức—See Nhị Không. • Chân Không tam quán trong Hoa Nghiêm—See Tam Quán. 4) Phi Không Chi Không: Đối với hữu trong phi hữu là diệu hữu, nói không trong phi không là chân không—The void or immaterial as reality, as essential or substantial, the not-void void, the ultimate reality, the highest Mahayana concept of true voidness, or of ultimate reality. ** For more information, please see Diệu Hữu
; (真空) I. Chân không. Lí thể chân như xa lìa tất cả mọi hình tướng, dứt tuyệt có, không đối đãi, cho nên gọi là chân không. Như Không chân như nói trong luận Đại thừa khởi tín, Nhị không chân như nói trong Duy thức, Chân không quán trong ba quán của Hoa nghiêm... đều là chân không. Lại Đại thừa gọi cái có của chẳng có là Chân không. Đây là chân không cùng tột của Đại thừa. (xt. Không, Chân Không Diệu Hữu). II. Chân không. Chỉ cảnh giới Niết bàn của Tiểu thừa. Vì chẳng phải giả nên gọi là Chân - vì xa lìa hình tướng nên gọi là Không. Đó là cái không thuần không. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí Q.1 phần trên].
chân không diệu hữu
The true void is the mysteriously existing; truly void, or immaterial, yet transcendentally existing.
; Tánh có nghĩa là tinh thần hay tinh yếu; dấu hiệu có nghĩa là tướng. Tánh và tướng đối nghịch nhau, giống như tinh thần đối chọi với hiện tượng. Tuy nhiên, thật tướng thật tánh hay Phật tánh thường hằng không thay đổi. Thật tánh của thế giới hiện tượng là chân không, thường hữu mà hư vô; tuy hư vô nhưng thường hữu (cái không chẳng phải là không, cái hữu chẳng phải là hữu mà phàm phu suy nghĩ)—The true void—The true void is the mysteriously existing—Truly void, or immaterial yet transcendetally existing—True emptiness—Wonderful existence—Nature means noumenon or essence; mark mean characteristics, forms or physiognomy. Marks and nature are contrasted, in the same way noumenon is contrasted with phenomenon. However, true mark stands for true form, true nature, Buddha nature always unchanging. True mark of all phenomena is like space; always existing but really empty; although empty, really existing.
; (真空妙有) Tức là Tính viên thành thực trong ba tính do Duy thức thuyết minh. Tính viên thành thực là chân lí do lìa hai chấp ngã, pháp mà được hiển hiện. Vì xa lìa hai chấp nên gọi Chân không - cũng chẳng phải cái không tương đối với cái có do Tiểu thừa chủ trương, mà là cái có một chân thực, cho nên gọi là Diệu hữu. Vì là chân không, nên các pháp duyên khởi y nhiên như thế - vì là diệu hữu nên muôn pháp nhân quả nhất như. Đó là nghĩa sắc tức không, không tức sắc. Vì thế nên biết chân không và diệu hữu chẳng phải sai khác - tất cả sự tồn tại (năm uẩn) đều do các điều kiện (nhân duyên) hòa hợp mà thành, cho nên không có thể thực (không) mà chỉ là sự tồn tại giả có (hữu), nhưng quan niệm thế gian lại thừa nhận sự tồn tại ấy là có thực. Tư tưởng Chân không diệu hữu không phải chỉ giới hạn trong Duy thức học mà ngay cả tư tưởng thuộc Như lai tạng hệ cũng nhấn mạnh điều đó. Chân không trong Phật giáo chẳng phải chủ nghĩa hư vô, là tác dụng mầu nhiệm sâu kín đối với hiện thực mà được phát huy. [X. Bát nhã tâm kinh tán - Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.23]. (xt. Hữu Vô).
chân không gia hương vô sinh phụ mẫu
(真空家鄉無生父母) Tám chữ bí truyền được lưu hành trong tông giáo nhân gian từ giữa đời Minh trở đi. Do La giáo đặt ra đầu tiên. Giáo này cho Tịnh độ vô cực là nguồn gốc vũ trụ và dựa vào đó để xiển phát nghĩa đế chân không. Chân không gia hương (quê nhà là chân không), tức cung trời, là nơi con người từ đó sinh ra, rồi cuối cùng lại trở về đó an nghỉ. Vô sinh phụ mẫu (không sinh là cha mẹ) là phủ nhận quan hệ huyết thống thân thuộc - về sau, Vô sinh phụ mẫu biến thành Vô sinh lão mẫu (mẹ già vô sinh) là mẹ của người đời.
chân không giáo
(真空教) Còn gọi Không đạo. Một trong những tông giáo dân gian đời Thanh. Liêu đế sính sáng lập vào thời Đồng trị (1862 - 1874). Lấy trở lại cội nguồn, về một về không làm chủ yếu, ứng dụng phương pháp tu hành tĩnh tọa, tỉnh ngộ để đạt đến cảnh giới dung hợp chính mình với bản thể chân không. Tín đồ không trì trai, trái lại, cho sát sinh ăn thịt, là ngụ ý cứu chuộc. Không dùng thuốc men, chữa bệnh bằng phương pháp ngồi yên lặng, cấm hút thuốc.
chân không quán
(真空觀) Một trong ba phép quán pháp giới do tông Hoa nghiêm lập ra. Tức quán Lí pháp giới trong bốn pháp giới. Chân, chỉ cho ý nghĩ không hư dối. Không, chỉ sắc tướng không có hình chất chướng ngại. Pháp giới, chỉ cảnh sở quán. Quán, chỉ cho tâm năng quán. Tức trụ nơi quán bình đẳng, quán sắc chẳng phải sắc thực, thể của nó là chân không - quán không chẳng phải đoạn không, thể của nó là sắc giả - cũng tức là quán sắc tức không, không tức sắc, nhờ thế mà thoát được tất cả sự trói buộc của trần lụy, đạt đến cảnh không, sắc không trở ngại nhau. Đó là Chân không quán. Ngài Đỗ thuận chia làm bốn câu mười môn: 1. Hội sắc qui không quán, nghĩa là hội tụ tất cả các sắc pháp về tính chân không. Ở đây có bốn môn: a. Sắc phi đoạn không môn, nghĩa là sắc tuy là giả, nhưng quyết không phải là cái không đoạn diệt, mà là tất cả thể đều chân không. b. Sắc phi chân không môn, nghĩa là, sắc thực chẳng phải chân không. c. Sắc không phi không môn, nghĩa là sắc thực và đoạn không đều chẳng phải chân không. d. Sắc tức thị không môn, nghĩa là cả sắc và không đều không có thể tính, cho nên là chân không. 2. Minh không tức sắc quán, có nghĩa chân không tức là bản tính của hết thảy sắc pháp. Như vậy, hễ là chân tức là tục giả, ở đây do bản tính của sự vật mà nói chân không. Cũng chia làm bốn môn : a. Không phi huyễn sắc môn, nghĩa là cái không đoạn diệt chẳng phải tức là sắc giả. b. Không phi thực sắc môn, nghĩa là chân không chẳng phải tức là sắc thực. c. Không phi không sắc môn, nghĩa là chân không quyết không phải là cái không đoạn diệt và sắc thực ở trước mắt mà là chỉ cái bản tính của chân không. d. Không tức thị sắc môn, nghĩa là nói về lí không, vô ngã là do lí không sắc tương tức. Không, tức chân không, sắc, thì kiêm cả sắc giả. 3. Không sắc vô ngại quán, nghĩa là tất cả thể của sắc tướng là chân không, mà tất cả thể của chân không cũng không khác sắc tướng - vì sắc là sắc giả nên cũng chẳng trở ngại không cũng chẳng trở ngại sắc, cho nên quán hai pháp không, sắc chẳng trở, chẳng ngại. 4. Mẫn tuyệt vô kí quán, Mẫn tuyệt, nghĩa là dứt tuyệt sắc không, lìa tất cả tướng. Vô kí, có nghĩa là chẳng còn lời nói chữ nghĩa nào có thể gửi gấm được. Tức là cái chân không sở quán ấy siêu tuyệt mọi đối đãi, dứt hết mọi lời nói, suy tư, không có cách nào diễn tả được. Cho nên phải đạt đến cảnh địa bất khả tư nghị, tâm cảnh đều diệt mới có thể thấy được toàn thể chân không. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn - Chú hoa nghiêm pháp giới quán môn tự]. (xt. Tam Trùng Quán Môn).
chân không thiền sư
Zen Master Chân Không (1045-1100)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Đổng, Tiên Du, Bắc Việt. Năm 20 tuổi sư xuất gia tại chùa Tĩnh Lự trên núi Đông Cứu. Ngài là pháp tử đời thứ 16 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài dời đến núi Từ Sơn và trụ tại đây vài năm. Vua Lý Nhân Tông gửi chiếu chỉ triệu hồi ngài về triều đình thuyết pháp. Sư vào trong Đại nội và thuyết kinh Pháp Hoa làm thức tỉnh nhiều người. Sau đó sư về trụ tại chùa Chúc Thánh trên núi Phả Lại. Một ngày nọ có vị sư tới hỏi: “Thế nào là diệu đạo?” Sư đáp: “Hãy ngộ đi rồi sẽ biết!” Khi về già, sư trở về quê hương trùng tu chùa Bảo Cảm và trụ tại đây tiếp tục hoằng hóa Phật giáo cho đến khi thị tịch vào năm 1100, thọ 55 tuổi—A Vietnamese Zen master from Phù Đổng, Tiên Du, North Vietnam. He left home at the age of 20. First, he went to Tĩnh Lự Temple on Mount Đông Cứu to stay there to practice meditation. He was the dharma heir of the sixteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he moved to Mount Từ Sơn and stayed there for several years. King Lý Nhân Tông sent an Imperial Order to summon him to the capital to preach Buddha Dharma to the royal family. He went to the Great Citadel to preach the Lotus sutra to awaken many people. Later, he stayed at Chúc Thánh Temple on Mount Phả Lại. One day, a monk caem to ask him: “What is the wonderful way?” He replied: “When you obtain enlightenment, you will know it by yourself.” When he was old, he returned to his home district to rebuild Bảo Cảm Temple and stayed there to revive and expand Buddhism until he passed away in 1100, at the age of 55.
chân khả
(真可) (1543-1603) Vị tăng đời Minh. Người huyện Ngô giang tỉnh Giang tô, họ Trần. Tự Đạt quang. Hiệu Tử bá lão nhân. Tính sư hùng mạnh,dáng người to lớn, lúc nhỏ thích vũ. Mười bảy tuổi sư xuất gia theo ngài Minh giác ở Hồ khâu. Hai mươi tuổi thụ giới Cụ túc, nhập thất ba năm trong chùa Cảnh đức tại Vũ đường. Khi ra thất, sư đi bốn phương, tình cờ ở Ngũ đài tham vấn một bậc kì túc mà được ngộ. Niên hiệu Vạn lịch năm đầu (1573) sư đến Kinh đô, theo ngài Biến dung . chín năm. Sư nhận thấy Đại tạng kinh bản Phạm giáp trước đây đọc rất bất tiện, năm Vạn lịch 17, trên núi Ngũ đài, sư lấy tạng Bắc đời Minh làm nền tảng, kiểm xét lại tạng Nam đời Minh, bắt đầu khắc Đại tạng kinh kiểu bản vuông. Sư ở Ngũ đài bốn năm, sau dời đến Kính sơn (tỉnh Triết giang), tiếp tục khắc, nhân đó mới gọi là tạng Kính sơn (tức bản tạng Vạn lịch đời Minh). Sư lại bàn với sư Hàm sơn sửa Đại minh truyền đăng lục. Vì Thiền tông tàn lụi, sư đến Tào khê khơi lại mạch pháp. Năm Vạn lịch 28, triều đình thu thuế quá nặng, bọn quan lại sâu mọt thừa cơ đi các nơi sách nhiễu dân, sư bèn chống gậy vào Kinh đô, ý định giải thích việc ấy. Không bao lâu, triều đình bắt được cuốn sách nặc danh nói về sự khuynh loát trong nội bộ cung đình, việc này chấn động dư luận trong ngoài, những kẻ ghét sư thừa cơ hãm hại, bảo đó là sách do sư viết, vì thế sư bị bắt giam. Năm Vạn lịch 31, tháng 12, sư tịch ở trong tù, thọ sáu mươi mốt tuổi. Mười năm sau, di cốt của sư được đưa về an táng tại Kính sơn. Sư để lại Tử bá tôn giả toàn tập ba mươi quyển. Sư cùng với các ngài Liên trì, Hàm sơn, Ngẫu ích được gọi chung là bốn vị cao tăng lớn đời Minh. [X. Thích thị kê cổ lược Q.3 - Tục đăng tồn cảo Q.12 - Đạt quan đại sư tháp minh (thu vào quyển đầu trong Tử bá tôn giả toàn tập)].
chân kim
Vàng ròng—Pure gold.
chân kim phổ
(真金鋪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cửa tiệm chuyên bán vàng ròng. Trong Thiền lâm, tán dương sự truyền bá Thiền phong thuần túy là Chân kim phố (tiệm bán vàng thật). Tổ đường tập quyển 4 chương Dược sơn Duy nghiễm chép: Một hôm sư viết thư, trong thư nói: ‘Thạch đầu là chân kim phố (tiệm bán vàng ròng), Giang tây là tạp hóa phố (tiệm bán tạp hóa)’.
chân kim sơn
1) Một trái núi bằng vàng ròng: A moutain of pure gold. 2) Thân Phật: Buddha's body.
; (真金山) Thí dụ thân của Phật. Thân Phật có vô lượng ánh sáng, giống như một quả núi vàng, cho nên gọi là Chân kim sơn. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.5].
chân kim thất sắc
(真金失色) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ người tu Thiền ngộ đạo, cơ dụng linh hoạt có thể khiến cho vàng cũng mất ánh sáng rực rỡ. Người đạt đạo, hoạt dụng xảo diệu, nắm chắc một vật, không cho vật nào xuất hiện - tước bỏ tất cả, ngay khi kim thân trượng sáu cũng biến thành cộng cỏ. Bích nham lục tắc 31 (Đại 48, 170 thượng), nói: Buông ra, thì gạch ngói phát ánh sáng - mà thu lại thì vàng ròng mất sắc (chân kim thất sắc).
chân kim tượng
1) Một pho tượng bằng vàng ròng—An image of pure gold. 2) Thân Phật: The body of the Buddha.
chân kinh
Authentic scriptures.
chân kiến
Dris-tattva (skt)—True perceiving.
chân kiến đạo
Giác ngộ được cái lý chân như vô phân biệt—The realization of reality in the absolute as whole and undivided. ** For more information, please see Tam Đạo (B) (1).
chân liên đà
Mucilinda. King of the Dragon.
chân loan
Shiran (J)(giáo tổ Chân tông -Shinshu- ở Nhật)Xem Thân Loan.
chân lí
(真理) Phạm: Satya. Đứng về phương diện nguyên ngữ mà nói thì chân lí là tại..., một danh từ trừu tượng, hàm ý phải đầy đủ. Tức ở ngay trong cái hiện thực tồn tại mà giác ngộ chân lí, ngoài hiện thực, không có chân lí. Tư tưởng này thừa kế lập trường Phạm ngã nhất như (Phạm: Brahma-àtma-aikyam) trong Áo nghĩa thư. Phật giáo Đại thừa thì dùng từ Chân như..... (Phạm: Tathatà) để biểu thị chân lí. Đứng về phương diện ngữ ngôn mà nói thì Tathatàlà danh từ trừu tượng Tathà, hàm ý có như ..., như cùng với.... Nếu muốn nắm bắt được hiện thực tồn tại mà không dùng như cùng với ... để biểu thị thì không thể nói hay thí dụ được. Trung quốc xưa nay dịch là chỉ ma ý là tự nhiên như thế. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 32 nói thì Như, Pháp tính, Thực tế đều là tên gọi khác của thực tướng các pháp. Vì thế nên biết, Chân như, Pháp tính (Phạm: Dharamatà), Thực tế (Phạm: Bhùta-koỉi), Chư pháp thực tướng (Phạm: Tattvasya lakwana, Dharmatà) v.v... đều là tên khác của chân lí. Ngoài ra, còn có tiếng đồng nghĩa nữa là danh từ Duyên khởi (Phạm:pratìtya-samutpàda), có nghĩa là muôn sự muôn vật tồn tại được là nhờ các mối quan hệ hỗ tương - tư tưởng này bắt nguồn từ tư tưởng căn bản của Phật giáo nguyên thủy, cho đến Phật giáo Đại thừa, là chân lí quan nhất quán của Phật giáo. Phật giáo Nhật bản, ngoài danh từ chân lí ra, các ngài Pháp nhiên, Thân loan còn đề xướng từ Tự nhiên pháp nhĩ . Trong Mạt đăng sao, ngài Thân loan nói, chữ tự trong cái gọi là tự nhiên, là chính cái lí ấy chứ không phải xí đồ của hành giả. Cái gọi là nhiên là vốn nó như thế, chứ không phải do hành giả an bài. Hết thảy đều do thệ nguyện của Như lai dẫn đến, cho nên gọi là Pháp nhĩ. Tức tư tưởng cho rằng người ta phải buông bỏ tất cả tư khảo, kế hoạch đối với muôn pháp, tất cả phải tiếp thu thệ nguyện của Phật Di đà mới có thể biết được chân lí.
Chân lí quy ước
S: saṃvṛti-satya; còn gọi là Thế tục đế;|Là chân lí tương đối của thế giới hiện tượng, ngược lại với Chân đế (chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Quan điểm »hai chân lí« (Nhị đế; s: satyadvaya) này được nhiều tông phái Phật giáo chủ trương, nhưng cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Chân lí tuyệt đối
S: paramārtha-satya;|Chân đế
chân lý
Satya (S), Sacca (P)ĐếSở kiến không còn tranh luận.
; Truth, the true principle, the principle of truth; the absolute apart from phenomena.
; The true principle. (I) Nghĩa của “Chân Lý”—The meanings of “True Principle” • Chân lý là lẽ tự nhiên, không chối cãi được. Chân lý chính là nguyên nhân diệt trừ khổ đau: Truth—Suchness—True emptiness—The true principle—The principle of truth—The absolute apart from phenomena—Wonderful existence—True teachings. The truth is the destructive cause of pain. • Trong Phật Giáo Đại Thừa, chân lý được nói trong Kinh Liên Hoa và Hoa Nghiêm: In Mahayana, true teachings primarily refer to those of Lotus and Avatamsaka Sutras—Expedient teachings include all other teachings. (II) Những lời Phật dạy về “Chân Lý”—The Buddha's teachings on “True Principle” 1) Hão huyền mà tưởng là chơn thật, chơn thật lại thấy là phi chơn, cứ tư duy một cách tà vạy, người như thế không thể nào đạt đến chơn thật—In the untruth the foolish see the truth, while the truth is seen as the untruth. Those who harbor such wrong thoughts never realize the truth (Dharmapada 11). 2) Chơn thật nghĩ là chơn thật, phi chơn biết là phi chơn, cứ tư duy một cách đúng đắn, người như thế mới thật chứng được chơn thật—What is truth regarded as truth, what is untruth regarded as untruth. Those who harbor such right thoughts realize the truth (Dharmapada 12).
chân lý qui ước
Saṃvṛti-satya (S).
chân lý tương đối
kun sop (T),Relative truth
chân lý tương đối-chân lý tuyệt đối
Relative truth-Absolute truth—Theo chân lý tương đối thì tất cả các sự vật đều hiện hữu, nhưng trong chân lý tuyệt đối thì không có gì hiện hữu cả; trong chân lý tuyệt đối, người ta thấy rằng tất cả các sự vật đều không có tự tính, nhưng trong chân lý tương đối có một sự nhận thức chỗ nào không có tự tính—According to relative truth all things exist, but in absolute truth nothing is; in absolute truth one sees that all things are devoid of self-nature; however, in relative truth, a perception where there is no self-nature.
chân lắm tay bùn
Dusty feet and muddy hands—Hard toil.
chân minh
Trí tuệ bát nhã hay trí huệ của sự giác ngộ chân lý đối lại với hình tướng bên ngoài—The truth wisdom—Buddha-illumination—True knowledge or enlightenment (in regard to reality in contrast with appearance).
chân môn
The gateway of truth or reality.
; (真門) Chân, là nghĩa chân thực - đối với giáo pháp phương tiện mà gọi sự chứng đạo chân thật là Chân môn. Như Tịnh độ chân tông của Nhật bản lấy một pháp niệm Phật làm Chân môn, mà cho muôn hạnh thiện khác là Giả môn.
chân nguyên
Source of truth.
; Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726)—Zen Master Chân Nguyên (1647-1726)—Một nhà sư nổi tiếng Việt Nam, quê ở Hải Dương. Thuở nhỏ ngài rất thông minh. Ngài xuất gia năm 16 tuổi. Năm 19 tuổi ngài đến chùa Hoa Yên và trở hành đệ tử của Thiền sư Tuệ Nguyệt với pháp hiệu là Tuệ Đăng. Khi thầy thị tịch, ngài trở thành du Tăng khất sĩ, thực hành hạnh tu khổ hạnh. Sau đó ngài trụ lại tại chùa Cô Tiên để hoằng dương Phật pháp. Ngày nọ, ngài viếng chùa Vĩnh Phúc gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Minh Lương. Ngài thị tịch năm 1726—A Vietnamese famous monk from Hải Dương. When he was young, he was very intelligent. He left home and became a monk at the age of 16. When he was 19, he went to Hoa Yên Temple to meet Zen Master Tuệ Nguyệt and became his disciple with the Dharma name Tuệ Đăng. After his master passed away, he became a wandering monk who practised ascetics. Later, he stayed at Cô Tiên Temple to expand the Buddha Dharma. One day he visited Vĩnh Phúc Temple, there he met and became the disciple of Zen Master Minh Lương with the Dharma name Chân Nguyên. He passed away in 1726, at the age of 80.
Chân Nguyên Huệ Ðăng
真源慧燈; 1647-1726|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Minh Lương. Sư sau cũng được truyền y bát của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.|Sư tên Nguyễn Nghiêm, tự Ðình Lân, người làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Năm lên 19, Sư xin xuất gia với Thiền sư Chân Trụ Huệ Nguyệt. Sau khi Bản sư tịch, Sư cùng với bạn là Như Niêm đi tham vấn nhiều nơi. Về sau đến học với Thiền sư Minh Lương, chùa Vĩnh Phúc.|Sư hỏi Minh Lương: »Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy thế nào, là sao?« Minh Lương đưa mắt nhìn Sư, Sư nhìn lại liền cảm ngộ, sụp lạy. Minh Lương bảo: »Dòng thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa làm thịnh ở đời«, đặt cho Sư pháp hiệu Chân Nguyên và nói bài kệ truyền pháp:|Mĩ ngọc tàng ngoan thạch|Liên hoa xuất ứ nê|Tu tri sinh tử xứ|Ngộ thị tức Bồ-đề|*Ngọc quý ẩn trong đá|Hoa sen mọc từ bùn|Nên biết chỗ sinh tử|Ngộ vốn thật Bồ-đề.|Sau khi đắc pháp với Thiền sư Minh Lương, Sư đến trụ trì chùa Long Ðộng, núi Yên Tử. Trong dịp xây đài Cửu Phẩm Liên Hoa, Sư đốt hai ngón tay, phát nguyện hành hạnh Bồ Tát. Năm 1692 vua Lê Hi Tông phong cho Sư hiệu là Vô Thượng Công. Năm 1722, vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống, ban hiệu Chính Giác Hoà Thượng.|Sư phục hưng truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử, đào tạo nhiều đệ tử và trong đó ưu tú nhất là hai vị Như Trừng Lân Giác và Như Hiện Nguyệt Quang. Như Trừng viết nhiều tác phẩm quan trọng và về sau trở thành Khai tổ phái thiền Liên Tông. Sư để lại nhiều tác phẩm như Tôn sư phát sách đăng đàn thụ giới, Nghênh sư duyệt định khoa…|Năm 1726, Sư họp đệ tử lại đọc bài kệ:|顯赫分明十二時。此之自性任施爲|六根運用真常見。萬法縱橫正遍知|Hiển hách phân minh thập nhị thời|Thử chi tự tính nhậm thi vi|Lục căn vận dụng chân thường kiến|Vạn pháp tung hoành chính biến tri.|*Bày hiện rõ ràng được suốt ngày|Ðây là tự tính mặc phô bày|Chân thường ứng dụng sáu căn thấy|Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.|Ðến cuối mùa đông đó, Sư viên tịch. Xá-lị được tôn trí trong tháp ở chùa Quỳnh Lâm và Long Ðộng.
chân ngã
Parmātman (S), True selfness Ngã siêu việt xa lìa ngã chấp, ngã kiến đạt đến tự tại.
; The real or nirvàna ego, the transcendental ego, as contrasted with the illusory or temporal ego.
; Intrinsic essence. 1) Chân ngã hay Niết Bàn ngã của chư Phật, tức là cái ngã siêu việt, đối lại với vọng ngã của phàm phu: The real or nirvana ego, the transcendental ego, as contrasted with the illusory or temporal ego. 2) Cái ngã mà ngoại đạo cho là thực, Phật giáo thì cho là giả ngã: The ego as considered real by non-Buddhists.
; (真我) Ý nói là ta chân thực. Đối với cái ta giả dối của ngoại đạo, phàm phu mà chủ trương cái ta Niết bàn là chân thực, là vì cái ta chân thực của Niết bàn có đủ tám đức tự tại. Ngoài ra, ngài Pháp tạng chia cái ta làm sáu thứ: ta chấp ta, ta kiêu mạn, ta tập khí, ta trôi theo dòng đời, ta tự tại, ta chân thực. Và bảo cái ta chân thực có đủ bốn đức chân như thường lạc ngã tịnh. [X. Đại tạng pháp số Q.12 - Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.1].
chân ngôn
Xem Dà la ni.
; True words, words of Truth, the words of Tathàgata, the Buddha-truth; mantra, dharani; sacred formulae, spells, esoteric words.
; Dharani (skt)—Mạn Đát La—Mạn Đồ La—Đà La Ni Chú Minh—Thần Chú. 1) Ngữ mật trong tam mật của Đức Như Lai , chỉ riêng thuyết pháp của pháp thân Phật (còn gọi là bí mật hiệu, mật ngôn, mật ngữ, chú minh): Precept, true words, right discourse, words of truth, or the words of Tathagata, Buddha-truth. One of the three mystic things of the Tathagata—See Tam Mật. 2) Chân ngôn còn để chỉ Đà La Ni hay Tổng Trì hay Mật Chú: The term is used for mantra and dharani, indicating magical formulae, spells, charms, esoteric words. 3) Chư Phật và chư Bồ Tát đều có mật âm tiêu biểu bởi Phạn ngữ, tiên khởi với âm “a” hay “Chân Ngôn Cứu Thế Giả” của Đức Đại Nhật Như Lai: Buddhas and Bodhisattvas have each an esoteric sound represented by a Sanskrit letter, the primary Vairocana letter, the alpha of all sounds being “a” which is also styled the True Word that saves the world.
; (真言) Phạm: mantra. Dịch âm: Mạn đát la, Mạn đồ la. Cũng gọi Đà la ni, Chú, Minh, Thần chú, Mật ngôn, Mật ngữ, Mật hiệu. Hàm ý là lời nói chân thực, không hư dối. Trong Mật giáo, Chân ngôn tương đương với Ngữ mật trong ba mật, và nói Chân ngôn bí mật. Hoặc còn chỉ Đức bản thệ của chư Phật, Bồ tát, chư Thiên, hoặc là tên riêng của các Ngài - hoặc chỉ các câu nói bí mật chứa đựng những giáo nghĩa sâu kín, mà phàm phu và Nhị thừa không thể biết được. Trung quốc và Nhật bản đều không phiên dịch chân ngôn, mà chỉ trực tiếp dùng phiên âm của nguyên ngữ. Cho rằng, xướng niệm, viết chép hoặc quán tưởng là quán tưởng văn tự chân ngôn, có thể được công đức tương ứng với chân ngôn. Cho nên, chân ngôn không những chỉ có thể đưa đến thành Phật ngay thân này, mà còn có thể thỏa mãn các nguyện vọng thế gian. Chẳng hạn như Chân ngôn Quang minh nói trong kinh Bất không quyên sách Tì lô giá na Phật đại quán đính quang chân ngôn, có thể khiến người nghe diệt trừ các tội chướng. Lại như tụng Chân ngôn Quang minh gia trì vào cát vàng, rồi đem cát ấy rắc lên xác chết, hoặc lên mộ người chết, nhờ sức gia trì, mà người chết diệt hết tội lỗi được vãng sinh Tây phương cực lạc thế giới. Danh từ Chân ngôn (Mạn đát la), từ nguồn gốc vốn là công cụ biểu hiện sự tư duy, cũng tức là ý văn tự, ngữ ngôn, đặc biệt chỉ cho lời nói thiêng liêng do thần, quỷ phát ra. Phong tục tụng đọc Mạn đát la đã rất thịnh hành tại Ấn độ ngày xưa, các kinh Phệ đà đã cho thấy rõ điều đó. Nhưng trong văn học Mạn đát la, thì Mạn đát la được giải thích là ý giải phóng tư duy, cũng tức là tư duy giải phóng con người từ sự trói buộc của sống chết. Ngoài sự giải thích như trên ra, Chân ngôn cũng còn bao hàm mấy nghĩa sau đây: 1. Minh, tiếng Phạm: Vidyà, hàm ý học vấn, tri thức. 2. Đà la ni (Phạm: Dhàranì, tổng trì), từ miệng nói ra là Chân ngôn đà la ni, biểu hiện ở nơi thân thì gọi là Minh. 3. Nếu chân ngôn do những câu dài tạo thành, thì gọi Đà la ni, còn chỉ với vài câu tạo thành, thì gọi Chân ngôn - có khi một chữ, hai chữ thì gọi chủng tử. Nói theo nghĩa rộng, không những chỉ văn tự, ngôn ngữ biểu thị thần chú bí mật, mới gọi là Chân ngôn, mà ngay cả sự nói pháp của Pháp thân Phật cũng gọi là Chân ngôn. Như các kinh điển, Mật giáo của Đông mật tại Nhật bản, hoặc các kinh điển Hiển giáo Mật giáo của Thai mật, về mặt biểu diện, đều dùng ngôn ngữ phổ thông, nhưng về mặt bản chất, thì đều căn cứ vào sự gia trì bí mật của Đại nhật Như lai, cho nên gọi là Chân ngôn bí mật tạng. Ngoài ra, như tiếng gió rì rào trên ngọn tùng, tiếng nước róc rách trong khe suối, tất cả đều là tiếng Như lai diễn nói pháp chân như thực tướng, cho nên gọi là Chân ngôn. Trong Mật giáo, chân ngôn được chia làm nhiều loại: 1. Đứng về phương diện người nói Mật ngữ khác nhau mà chia, thì có năm loại: Như lai nói, Bồ tát kim cương nói, Nhị thừa nói, chư Thiên nói và Địa cư thiên nói. 2. Đứng về phương diện ba bộ lớn của Mật giáo mà chia, thì tức là ba loại chân ngôn của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. 3. Đứng về phương diện tính chất của phép tu mà chia, thì có bốn loại: Tức tai pháp, Hàng phục pháp, Nhiếp triệu pháp và Tăng ích pháp. 4. Đứng về phương diện hình thức mà phân loại, thì có nhiều chữ (đà la ni), một chữ (chân ngôn) và không chữ (thực tướng) khác nhau. Ngoài ra, chân ngôn của một vị tôn cũngcó rộng, vừa và lược phân biệt gọi là Đại chú (Đại tâm chú), Trung chú (Tâm chú) và Tiểu chú (Tâm trung tâm chú).Thu tập chân ngôn của chư tôn mà biên thành sách, thì có: 1. Năm Diên bảo thứ 8 (1680), ngài Tịnh nghiêm tại Nhật bản bắt đầu in Phổ thông chân ngôn tạng. 2. Năm Gia khánh thứ 5 (1800) đời Thanh, chùa Vọng nguyệt ở Triều tiên in Chân ngôn tập. [X. kinh Trường a hàm Q.14 - kinh Tô tất địa yết la Q.thượng phẩm Chân ngôn tướng - kinh Đại nhật Q.1, Q.2 - Đại nhật kinh sớ Q.7, Q.12 - Tổng thích Đà la ni nghĩa tán - Pháp hoa nghĩa sớ Q.12 (Cát tạng)]. (xt. Chú, Đà La Ni).
chân ngôn bát chủng nghĩa
(真言八種義) Tám nghĩa chân ngôn được nêu lên trong Từ thị bồ tát nghi quĩ (do ngài Thiện vô úy dịch) quyển thượng. Đó là: 1. Nghĩa chân như tính nhất thể, tức là không sinh không diệt, không đến không đi, chẳng một chẳng khác, lìa lời lìa tướng, dứt tuyệt nói năng, tâm hành xứ diệt, tính vốn thanh tịnh. 2. Nghĩa tùy ý tưởng được thành tựu, vì tính vốn thanh tịnh nên ứng hóa được tương ứng. 3. Nghĩa gia bị hộ niệm, nhờ sức nghiệp, sức Phật, sức chân ngôn, sức thuốc là bốn loại sức chẳng thể nghĩ bàn hộ niệm thành thục.4. Nghĩa tùy theo những điều cầu mong của chúng sinh khác nhau, mà bản nguyện của chư Phật cũng như thuốc thần, hễ uống liền có hiệu nghiệm, mà được thành tựu. 5. Nghĩa từ bi, tức đem lòng từ bi mà chứng cho. 6. Nghĩa Phật nguyện độ hữu tình. 7. Nghĩa chư Bồ tát độ hữu tình. 8. Nghĩa hết thảy chư Phật bất khả tư nghị, nhờ sức bất khả tư nghị của chân ngôn mà thành quả vô thượng bất khả tư nghị.
chân ngôn bát tổ
Eight patriarchs of the True Word Sect. 1) Đệ Nhất Tổ Giáo Chủ Bí Mật Đại Nhật Như Lai: The first patriarch, the Mantra Lord, Vairocana Buddha. 2) Đệ Nhị Tổ: Ngài Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát—The second patriarch, The imaginary Bodhisattva Vajrasattva. 3) Đệ Tam Tổ: Ngài Long Thọ Bồ Tát—The third patriarch, Nagarjuna Bodhisattva. 4) Đệ Tứ Tổ: Ngài Long Trí Bồ Tát—The fourth patriarch, Dragon-wisdom Bodhisattva. 5) Đệ Ngũ Tổ: Ngài Kim Cang Trí Tạng Bồ Tát—The fifth patriarch, Vajramati Bodhisattva. 6) Đệ Lục Tổ: Ngài Bất Không Tam Tạng Bồ Tát—The sixth patriarch, Amoghavajra Bodhisattva. 7) Đệ Thất Tổ: Ngài Huệ Quả—The seventh patriarch, Hui-Kuo. 8) Đệ Bát Tổ: Ngài Không Hải (Nhật Bản)—The eighth patriarch, K'ung-Hai (Japan).
chân ngôn bí mật
Bản tánh bí mật của chú và đà la ni—The mystic nature of the mantras and dharanis.
; (真言秘密) Chỉ cho giáo pháp chân ngôn là pháp môn rất sâu xa kín nhiệm - vả lại, chân ngôn là Ngữ bí mật trong ba bí mật của Như lai, vì thế gọi là Chân ngôn bí mật. Bí mật ở đây không phải nghĩa bí truyền, không chỉ bảo cho ai, mà là ba nghiệp của chư Phật rất sâu xa mầu nhiệm, nếu chẳng phải là Bồ tát Đẳng giác thì không thể nào thấy biết được, cho nên gọi là bí mật.
chân ngôn chỉ quán
The use of a mantra is characteristic of the esoteric Buddhism of the Shingon Sect.
chân ngôn chủ
(真言主) Chỉ đức Đại nhật Như lai. Đại nhật Như lai là giáo chủ của giáo phái Chân ngôn, vì thế gọi là Chân ngôn chủ [X. Để lí tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng bí mật pháp Q.thượng].
chân ngôn cung điện
(真言宮殿) Chỉ nơi nói hội thứ chín trong mười tám hội Kim cương đính thuộc Mật giáo. Thập bát hội chỉ qui (Đại 18, 286 hạ): Hội thứ chín tên là Nhất thiết Phật tập hội nô cát ni giới võng du già, được nói ở cung điện Chân ngôn.
chân ngôn cứu thế giả
(真言救世者) Chỉ chữ (a) hoặc chữ (aô) Tất đàm cứu thế, tiếng tôn xưng đức Thế tôn. Chữ A và chữ Ám là chúa của hết thảy chân ngôn, cũng như đức Thế tôn là bậc vua Pháp cứu đời, cho nên thí dụ là Chân ngôn cứu thế. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6].
chân ngôn giáo
Xem Kim cang thừa.
chân ngôn giáo pháp
(真言教法) Tức là giáo pháp chân ngôn đà la ni. Chân ngôn, hàm ý lời nói thực, lời nói như, không dối, không khác - Đà la ni, Phạm: Dhàranì, dịch ý: tổng trì, có nghĩa lời nói của Như lai dù là một chữ, một câu, đều có thể thâu tóm nghĩa lí của vô lượng giáo pháp. Bởi vì giáo pháp chân ngôn là pháp môn của các đức Như lai thấu qua từ chữ (a), nghĩa là hết thảy các pháp vốn chẳng sinh, đến chữ (ha), nghĩa là hết thảy các pháp đều không thể được, Như lai dùng trí hết thảy trí, sức hết thảy phúc trí, sức nguyện trí, sức gia trì hết thảy pháp giới, rồi tùy thuận chúng sinh, theo chủng loại của chúng sinh mà mở bày giáo pháp bí mật [X. kinh Đại nhật Q.2].
chân ngôn hoa
(真言花) Hoa đã được gia trì chân ngôn, gọi là Chân ngôn hoa. Kinh Tô tất địa yết la quyển thượng (Đại 18, 668 hạ), nói: Dâng hoa chân ngôn cúng dường và phát nguyện rằng: ‘Hoa này thanh tịnh, nơi sinh ra cũng thanh tịnh, nay con dâng cúng, xin rủ lòng nạp thụ và khiến cho con được thành tựu’.
chân ngôn hành nhân
(真言行人) Còn gọi Chân ngôn hành giả. Chỉ nhà Du già học pháp chân ngôn của Mật giáo, tu hành năm tướng, ba mật.
chân ngôn luật tông
(真言律宗) Một phái thuộc Luật tông Nhật bản. Lấy giáo chỉ chân ngôn làm cơ bản, y vào các giới Đại thừa, Tiểu thừa của luật Tứ phần và luận Du già sư địa mà thụ suốt ba tụ tịnh giới. Vị khai tổ là sư Duệ tông, chùa chính là chùa Tây đại ở Đại hòa. Lúc nhỏ, sư Duệ tông thờ ngài Duệ hiền ở núi Đề hồ làm thầy, chẳng bao lâu, thấu suốt Mật thừa, sau mở ra dòng Tây đại tự, đồng thời, tới chùa Đông đại học luật Nam sơn. Tháng tám năm Gia trinh thứ 2 (1236), cùng với sư Giác thịnh, trước Phật điện của chùa Đông đại, tự thệ thụ giới, rồi về ở chùa Tây đại, hoằng truyền giới luật. Sau thuyết giới Bồ tát tại nhiều nơi, đệ tử thụ giới rất đông. Là Ngũ đế quốc sư, đời gọi là Luật pháp trung hưng. Học trò có Nhẫn tính, Hiền nhẫn, Thiện tôn v.v... hơn mười người, là những cao tăng một đời, cùng nhau mở rộng giáo môn của thầy. Niên hiệu Trường khánh năm đầu (1596 - 1614), có Minh nhẫn, nguyên là đồ đệ của Tấn hải ở núi Cao hùng, cảm khái vì giới học đã suy đồi, bèn cùng với Tuệ vân đến chùa Tây đại học luật, sau về chùa Cao sơn, cùng vời Tuệ vân, Hữu tôn, y theo pháp Đại thừa tam tụ thông thụ, tự thệ thụ giới. Sau Tấn hải làm nhà ở trên núi Chân vĩ, trên nền cũ của viện Bình đẳng tâm vương, Minh nhẫn về ở đó, sau Minh nhẫn, Tuệ vân cũng ở đó, hoằng dương luật pháp, người từ khắp nước đến học. Thời ấy còn có Tuệ mãnh, ở chùa Dã trung thuộc Hà nội, từng truyền bá bí ấn của Duệ tông và mật chỉ của dòng Tùng kiều, kiêm việc chấn hưng luật pháp. Học trò có Tín hành, Huệ kiên và Tuệ nhiếp v.v... Ngoài ra còn có Tịnh nghiêm, từng đến Giang hộ giáo hóa, định ra thanh qui, hết sức phục hưng luật pháp. Sáng lập chùa Linh vân ở Thang đảo đề làm cơ sở chung cho Chân ngôn luật tông tại Quan đông. Tháng 9 năm Minh trị thứ 5 (1872), chùa ấy chuyển làm khu quản hạt của tông Chân ngôn. Tháng sáu năm Minh trị 28 được độc lập, gọi là Chân ngôn luật tông, đặt trưởng quản, do vị trưởng lão của chùa Tây đại giữ chức ấy. Có hai mươi bảy chùa phụ thuộc.
chân ngôn mật giáo bộ loại tổng lục
(真言密教部類總錄) Gồm hai quyển. Do sư An nhiên, vị tăng thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Nói đủ là Chư A xà lê Chân ngôn mật giáo bộ loại tổng lục. Nói tắt là Bát gia bí lục. Thu vào Đại chính tạng tập 56. Sư An nhiên đem các kinh quỹ, đồ tượng của Mật giáo, do các vị tăng Nhật bản Nhập đường bát gia (tám nhà vào Trung quốc) đến Trung quốc thỉnh về, y theo bộ loại và thứ tự mà biên thành Tổng mục lục. Nội dung chia làm hai mươi bộ: Tam quán đính, Thai tạng giới, Kim cương giới, Tô tất địa, Chư Như lai, Chư Phật đính, Chư Phật mẫu, Chư kinh pháp, Chư Quan âm, Chư Bồ tát, Chư Kim cương, Chư Phẫn nộ, chư Lễ tán, Chư tán thán, Chư Tất đàm, Chư bi truyện và Chư đồ tượng. Các thư mục còn nêu ra những chú kí, dị đồng, cụ lược của các nhà. Sách này, ngoài điểm lấy mục lục của tám nhà làm chủ yếu ra, còn có nhiều chỗ tham chiếu Trinh nguyên thích giáo, mục lục và tạng sách của hai chùa Viên giáo, Phạm thích.
chân ngôn mật ngữ
(真言密語) Cũng gọi là Chú, Thần chú, Mật chú, Cấm chú. Những tiếng nói có khả năng hiển hiện thần nghiệm bắt rồng, trói quỉ, tương tự như Đà la ni của Ấn độ, cho nên có thể coi là những tiếng đồng nghĩa. Chẳng hạn như chú Đại bi cũng có thể gọi là Đại bi tâm đà la ni.
chân ngôn phó pháp truyện
(真言付法傳) Có một quyển. Do Không hải, tổ của Chân ngôn tông Nhật bản soạn. Còn gọi là Phó pháp truyện, Chân ngôn phó pháp tạng thư. Truyện tóm tắt về các vị tổ của tông Chân ngôn. Tức ghi chép, tường thuật một cách sơ lược về lịch sử của các tổ Đại nhật, Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả, Thiện vô úy, Nhất hạnh v.v..., trong truyện Huệ quả, ghi ngài Không hải là người thứ nhất trong sáu người đệ tử thụ pháp. Sách này, trước hết trình bày đại ý và nguồn gốc của Chân ngôn mật giáo, kế đến, thu chép tiểu sử và đức hạnh của bảy vị tổ từ Đại nhật Như lai trở xuống đến Huệ quả, cuối cùng, giải đáp mối hoài nghi đối với sự truyền thừa liên quan đến Nam thiên thiết tháp (tức ngài Không hải trả lời vấn nạn của Đức nhất). [X. Hoằng pháp đại sư ngự tác thư mục lục - Mật tông thư tịch mục lục].
chân ngôn sư
(真言師) Tức các sư trì tụng chú. Nói theo nghĩa rộng thì chỉ các vị A xà lê chân ngôn - nói theo nghĩa hẹp thì đặc biệt chỉ tăng sĩ, y vào pháp chân ngôn mật giáo, chuyên trì tụng các chú để cầu đảo.
chân ngôn tam tự
(真言三字) Chân ngôn của Mật giáo có nhiều loại khác nhau, nếu theo hình thức thì có thể chia làm ba loại: loại nhiều chữ, loại một chữ, loại không chữ. 1. Loại nhiều chữ, cũng gọi câu dài, như Phật đính đà la ni. 2. Loại một chữ, cũng gọi chủng tử. 3. Loại không chữ, là lí viên giác vô tướng.
chân ngôn thừa
1) Mật Chú Thừa: The True World, or Mantra Vehicle. 2) Thần Thông Thừa: Thừa theo giáo pháp chân ngôn mà đến đất Phật một cách nhanh chóng: The supernatural vehicle, because of immediate attainment of the Buddha-land through tantric methods.
; (真言乘) Chỉ Mật tông. Còn gọi Thần thông thừa. Có nghĩa là tông Chân ngôn nương vào giáo pháp chân thật của Như Lai mà đạt đến quả Phật, cho nên gọi là Chân ngôn thừa. Lại nhờ sức thần biến gia trì của Như lai mà nói Thừa giáo, cho nên gọi là Thần thông thừa. Lại nương vào sức thần thông đến thẳng chỗ cần đến, cho nên dùng Thần thông thừa để ví dụ sự thành Phật nhanh chóng của Thừa chân ngôn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2 - Bí tạng bảo thược Q.trung]. (xt. Mật Tông).
chân ngôn truyện
(真言傳) Gồm bảy quyển. Do sư Vinh hải vị tăng Nhật bản soạn. Thu chép sự tích của các nhân vật nổi tiếng, cả tăng và tục, trong Chân ngôn mật tông của Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản và có liên quan đến truyền thuyết hoằng dương Mật giáo. Quyển thứ nhất kể truyện của bảy vị tổ sư Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Thiện vô úy, Bất không, Nhất hạnh và Huệ quả - quyển thứ hai ghi chép sự linh nghiệm của việc trì tụng Kim cương Đà la ni, Bất động sứ giả, Tùy cầu Đà la ni, kinh Nhân vương và Thiên thủ Đà la ni - còn các quyển thứ ba, tư, năm, sáu, bảy thì tường thuật về sự tích và linh ứng của các đại đức tăng, tục Nhật bản.
chân ngôn trí
Chân ngôn trí vượt trên mọi thứ trí khác—The mantra wisdom which surpasses all other wisdom.
; (真言智) Chữ (a) Tất đàm là gốc của hết thảy chân ngôn, cho nên trí phát sinh từ chữ A có thể biết thực tướng của các pháp và có khả năng chứng được thể tính tam muội của pháp giới, vì thế gọi là Chân ngôn trí, không gì hơn, không lỗi lầm. [X. kinh Đại nhật Q.5].
chân ngôn tâm
(真言心) Chỉ chữ (a) Tất đàm. Chữ A là trung tâm căn bản của hết thảy chân ngôn, từ chữ này mà hết thảy chân ngôn do Như Lai nói tuôn ra. Lại sự nội chứng của tất cả Như Lai đều qui về lí chữ A vốn chẳng sinh, cho nên gọi chữ A là tâm của chân ngôn. [X. kinh Đại nhật Q.5 - Đại nhật kinh sớ Q.17].
Chân ngôn tông
真言宗; J: shingon-shū;|Dạng Mật tông tại Nhật, do Hoằng Pháp (j: kōbō) Ðại sư Không Hải (j: kūkai, 774-835) sáng lập. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và chuyên học về Man-tra (chân ngôn, chân âm, thần chú). Ðặc biệt tông này rất quan tâm đến »ba bí mật« (Thân, khẩu, ý), đó là ba phương tiện để mỗi người đạt được Phật quả.|Ba bí mật nói trên được khẩu truyền giữa thầy với trò trong các buổi hành lễ, điều này khác hẳn với các tông phái thuộc hiển giáo. Chân ngôn tông thờ Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana), chính là Pháp thân vô tận, là vị Phật nguyên thuỷ tuyệt đối, và chỉ kẻ được điểm đạo mới được tu tập theo tông này. Phái này chủ trương không thể diễn tả giáo pháp bằng văn tự mà chỉ bằng hình ảnh nghệ thuật và vì vậy các Man-đa-la đóng một vai trò quan trọng trong tông này.|Chân ngôn tông không phủ nhận tính có thật của thế giới hiện tượng này cũng như hạnh phúc của con người trong thế giới đó. Chân ngôn tông cho phép tăng sĩ hành lễ và được thu tiền. Qua thời gian, trong tông này nảy sinh tệ mê tín dị đoan và vì vậy cũng có nhiều bộ phái nhỏ xuất hiện. Ngày nay, tông này vẫn là một tông phái mạnh tại Nhật.|Bí mật của Thân được bày tỏ qua các thủ Ấn, trong các tư thế thiền định và trong cách sử dụng các pháp khí như Kim cương chử hay hoa sen. Các điều đó được xem có liên hệ cụ thể với một vị Phật hay Bồ Tát.|Bí mật của Khẩu được diễn tả trong Man-tra và Ðà-la-ni. Bí mật của ý dựa trên »năm trí« và thông qua năm trí đó hành giả tiếp cận với Chân như. Qua các phép hành lễ với Thân, khẩu, ý, hành giả sẽ đạt mối liên hệ với vị Phật, đạt tri kiến »Phật ở trong ta, ta trong Phật«, đạt Phật quả ngay trong đời này.|Hai Man-đa-la quan trọng nhất của Chân ngôn tông là Mẫu thai giới (s: garbhadhātu-maṇḍala) và Kim cương giới (s: vajradhātu-maṇḍala), trình bày Phật Ðại Nhật và các vị Phật khác. Trong một buổi lễ quan trọng của tông này, đệ tử Chân ngôn tông cầm hoa ném vào Man-đa-la, hoa rơi đúng vị Phật nào thì đó là vị Ðạo sư của người đệ tử đó.
chân ngôn tông
Shingon-shŪ (J).
; The true-word sect.
; Mantrayana (skt). (A) Nghĩa của Chân Ngôn Tông—The meanings of the True Word Sect: 1) Cũng gọi là Mật Tông, hay Du Già Tông, vì chuyên về những nghi thức và giáo thuyết bí mật: Also called Esoteric or Yogacara sects, characterized by mystic ritualism and speculative doctrines. 2) Tông Chân ngôn Đà La Ni là tông giáo bí áo của chư Phật, đặc biệt là Đức Đại Nhật Như Lai—The True Word or Shingon Sect, founded on the mystical teaching “of all Buddhas,” the “very words” of the Buddhas; the special authority being Vairocana. (B) Cương yếu Chân Ngôn—Preliminary of the Shingon School: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: 1) Chân Ngôn là dịch nghĩa của chữ Phạn “Mantra,” có nghĩa là “Bí Mật giáo,” một giáo pháp không thể phát biểu bằng những ngôn ngữ thông thường. Giáo pháp đó, được nói bằng chính ngôn ngữ của Phật, phải được phân biệt với lý tưởng ẩn kín trong tâm Phật vốn không biểu lộ bằng lời. Chân Ngôn tông nhằm tìm hiểu chính Phật lý không biểu hiện thành ngôn ngữ đó. Một hình thức của Phật giáo dưới hình thức Mật Thừa (Mantrayana) dường như đã được thành hình tại Na Lan Đà (Nalanda) vào thời của Nghĩa Tịnh, vào thế kỷ thứ bảy say Tây Lịch, vì Nghĩa Tịnh có đề cập đến một số văn học Mật Giáo đang được lưu hành tại đây, mà chính ông cũng từng học tập về mật giáo mặc dầu không am tường hoàn toàn. Trung tâm học tập của Mật giáo hình như dời về đại học Vikramasila tận cuối dòng sông Hằng, vì Phật giáo Tây Tạng có liên hệ đặc biệt với đại học nầy: Shingon ot 'true word' is a translation of the Sanskrit 'mantra' which means a 'mystic doctrine' that cannot be expressed in the Buddha's words should be distinguished from the ideal which was conceived in the Buddha's mind but not expressed in words. The Shingon School aims at the Buddha's own ideal not expressed in any way. An organization of Buddhists something like a Mantrayana seems to have existed at Nalanda at the time of I-Ching in the seventh century, for he mentions the existence of a bulk of Mantra literature there and he himself is said to have been trained in the esoteric doctrine though he could not master it satisfactorily. The center of learning of mysticism, however, seems to have moved to the Vikramasila University farther down the Ganges, for Tibetan Buddhism had special connections with the University. 2) Một điều rõ ràng là tại Ấn Độ, ngay từ thời Vệ Đà, đã có những tập tục về ma thuật, gồm bốn lối tôn thờ thần Homa hoàn toàn trùng hợp với những tập tục của Phật giáo. Lối tôn thờ nầy có thể là những tập quán của thổ dân Ấn Độ hay có thể là của di dân thời cổ. Sau một thời gian thực hành lâu dài, tập tục nầy dần dần đồng hóa với mật giáo, một tông phái thường bị nhầm lẫn với Kim Cang Thừa (Vajrayana) của Phật giáo. Nếu vì lý do nào đó mà Mật giáo của Phật giáo có liên hệ đến những tập tục đáng ghét kia thì nó không thể được gọi là Kim Cang Thừa, vì đây là một từ ngữ dùng để chỉ cho tông chỉ bí mật cao siêu, vượt hẳn cả Tiểu và Đại Thừa. Kim Cang Thừa như thế chỉ có thể được tiêu biểu nơi Hoằng Pháp Đại Sư (774-835) là người tập đại thành toàn bộ Mật Giáo: It is a well-known fact that in India as early as the Vedic period there existed the Atharva practice of sorcery, which had four kinds of the Homa cult (burnt sacrifice) in an exact coincidence with those of the Buddhist practice. Such a cult might have been the practice of Indian aborigines or at any rate of earlier immigrants. Through a prolonged practice it eventually amalgamated into what we call 'Tantrism' which is often erroneously confused with the Buddhist Diamond Vehicle Vajrayana. If it is in any way connected with obnoxious practices, it cannot be called Diamond Vehicle, for that is a name given to a higher mystic dotrine, transcending all Hinayana and Mahayana doctrines. Such Diamond Vehicle is only represented by Great Master Hung-Fa to whom the completion of the Mantra doctrine is due. (C) Sự sáng lập và lịch sử của tông Chân Ngôn—The establishment and history of the the True Word Sect: Trong số các chi phái Phật giáo thì Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa ít được biết đến nhất. Phần nhiều người ta nghĩ rằng đây là sự phát triển về sau nầy. Tuy nhiên, trong giáo điển Pali, người ta tìm thấy đã có những câu thần chú (mantra) ở nhiều đoạn, chẳng hạn như trong Kinh Atanatiya. Dù rằng rất khó mà biết được chắc chắn vai trò của câu thần chú trong giai đoạn đầu của Phật giáo, nhưng có thể nói không sai rằng do tính chất cổ xưa của các câu thần chú cho nên cốt lõi của Chân Ngôn thừa đã từng có một thời gian dài phát triển song song với những trường phái cổ xưa khác của Phật giáo. Việc sáng lập và truyền thụ của tông Chân Ngôn khởi đi từ khi Đức Đại Nhật Như Lai siêu việt tam thế, Ngài an trụ trong pháp giới tam điện của cõi trời sắc cứu cánh, giảng kinh Đại Nhật cho ngài Kim Cương Tát Đỏa Bồ Tát, sau khi Đức Thế Tôn tịch diệt khoảng 800 năm thì ngài Long Thọ Bồ Tát nối tiếp, đến năm 733 sau Tây Lịch được ngài Kim Cang Trí Tam tạng và ngài Bất Không Kim Cang nối tiếp (see Bất Không 2). Ngài Bất Không được xem như là người đã hoằng dương tông Chân Ngôn bên trung Quốc vào thời nhà Đường. Ông được xem như là tổ Chân Ngôn thứ sáu bên Ấn Độ, và là tổ thứ hai bên Trung Quốc (sau ngài Kim Cang Trí Tam Tạng)—From among the many branches of Buddhism, Mantrayana and Sahajayana are the least known. Generally one is of the opinion that they are late developments. Mantras, however, are already found in certain passages of the old Pali Canon, as for instance, in the Atanatiya-sutta. Although it is difficult to ascertain the role of mantras in the earlier phases of Buddhism, it may safely be assumed that because of the antiquity of the mantras the essentials of Mantrayana for a long time developed along lines parallel with the more antique schools of Buddhism. The founding of the esoteric sect is attributed to Vairocana, through the imaginary Bodhisattva Vajrasattva, then through Nagarjuna to Vajramati and to Amoghavajra around 733 A.D. ; the latter became the effective propagator of the Yogacara school in China during the T'ang dynasty; he is counted as the sixth patriarch of the school and second in China. (D) Triết lý Chân Ngôn—The philosophy of the Shingon School: Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa đề cập chủ yếu đến những khía cạnh tâm lý của sự phát triển tinh thần. Các lời chỉ dạy có tính cách hết sức riêng biệt và các nội dung ấy phải được hiểu qua sự kinh nghiệm trực tiếp. Điều nầy giải thích cho sự khó hiểu của hai trường phái nầy đối với một đầu óc chỉ quen hiểu các sự việc theo những quan hệ được mô tả bằng lời. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Chân Ngôn tông tự cho là Mật giáo duy nhất trong lúc các tông khác được xem như là Hiển Giáo. Sự phân biệt giữa hai giáo lý mật và hiển là do nơi luận giải về Pháp thân của Đức Phật. Pháp thân là thể tánh nên theo hiển giáo là không hình danh sắc tướng, không thuyết giáo. Trong lúc theo Mật giáo của Mật tông thì Đức Phật hóa thân thuyết pháp tự thân đã là pháp thân và có đủ hình tướng sắc danh và có thuyết pháp. Những lời dạy của Ngài được ghi lại trong Đại Nhật và Kim Cang Đảnh Kinh. Thêm vào đó, hiển giáo nhận rằng nhân duyên của Phật quả có thể giải thích được từng phần trong lúc quả báo thì không thể giải thích bằng cách nào được. Trạng thái bất khả tư nghì của Phật quả lại được giải thích trong các kinh mật kể trên. Còn về thời gian để tự chứng được Phật quả thì hiển giáo cho rằng phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp trong lúc mật giáo quan niệm chỉ cần một niệm hay cùng lắm trong cùng một đời là đủ, và quả quyết chính tự thân nầy của chúng ta sẽ thành Phật. Chỉ có một tông phái dựa trên tam tạng kinh điển trong lúc các tông phái khác chú trọng hình thức nghi lễ hơn—Mantrayana and Sahajayana deal primarily with the psychologically effective aspects of spiritual development. Their instructions are of highly individual character and their contents must be grasped with the immediacy of expereince, which accounts for the difficulty these two aspects of Buddhism present to an understanding which is accustomed to comprehend things only in terms of their verbally designated relations to each other. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Shingon School claims to be the only esoteric doctrine whereas all other schools are considered exoteric. The distinction of the two doctrines is found in the treatment of the spiritual body (Dharmakaya) of the Buddha. According to the exoteric doctrine, the spiritual body is the body of the principle and therefore is colorless, formless and speechless; whereas according to the esoteric doctrine of the mystic school the preaching Buddha himself is of spiritual body and is with form, color and speech. His speech is found in the Great Sun (Mahavairocana) text and the Diamond Head (Vajra-sekhara). Again, the exoteric schools recognize that the state of cause of Buddhahod is explicable in parts, but the state of effect of it can in no way be explained. This state of the inexplicable Buddhahood has been explained in the above mystic texts. As to the time occupied before the attainment of Buddhahood the exoteric schools hold it to be three long periods (kalpas), while the esoteric school regards it as merely one thought-moment or at any rate the one life, and asserts that this body of ours becomes Buddha. In the one school the Tripitaka literature is depended upon, but in the other schools the rituals (kalpa or vidhi) are regarded as authoritative. (E) Phương pháp thực hành của Chân Ngôn thừa—Methods of practices of the Mantrayana: a) Chân Ngôn thừa dĩ nhiên là cũng nhằm mục đích thực hiện những gì mà các tông phái Phật giáo khác đang làm, như là sự hợp nhất nơi con người, sự giác ngộ và sự thuần thục về mặt tâm linh—It is, of course, that the Mantrayana aims at achieving what the other branches of Buddhism also claim to deal with, i.e., the integration of the human being, enlightenment or spiritual maturity. • Bước đầu tiên vẫn là quy-y Tam Bảo và hướng đến Bồ Đề tâm. Tuy nhiên, quy-y Tam Bảo ở đây không còn là quy-y nơi những con người hay kinh sách cụ thể, mà có thể nói đây là sức mạnh tâm linh được biểu trưng qua Tam Bảo. Sự quy-y nầy gắn liền với quyết tâm đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình và sự quyết tâm nầy tạo nên một sự thay đổi quan điểm nhiều hơn, trong đó, người học đạo từ bỏ một cách ý thức sự dẫn dắt của kiểu suy luận theo lý trí để bắt đầu nhìn thấy mình và thế giới xung quanh bằng một quan điểm trực giác: The first step is taking refuge in the Triratna and the formation of an attitude directed toward enlightenment (bodhicitta). However, taking of refuge in the Triratna here no longer means taking of refuge in concrete persons (Buddha, Dharma, and Sangha) and scriptures, but, it may be said, spiritual forces symbolically represented by the Three Jewels. This taking of refuge is intimately connected with the resolve to attain enlightenment for the sake of all sentient beings and this resolve furthers the change of attitude, where the aspirant consciously turns away from the directness of ordinary intellectual reasoning and begins to see himself and the world around him from an intuitive standpoint. • Bước tiếp theo là củng cố và phát triển quan điểm mới đó. Trong quá trình trầm tư nầy, việc tụng niệm thần chú có vai trò quan trọng vì nó là phương tiện để trục xuất các điều kiện đối nghịch, gạt bỏ các quyền năng tà mị đang che phủ (see Thần Chú): The next step is to strengthen and to develop this new attitude and this meditative process the recitation of mantras plays an important part as the means to remove the opposing conditions, the veiling power of evil. • Sau đó thì đến việc trưng bày các Mạn Đà La (mandala) như là một cách hoàn thiên các điều kiện tiên quyết để đạt được công đức và tri thức. Khoa Phân Tâm Học ngày nay đã phát hiện giá trị tự thân của các Mạn Đà La trong quá trình tạo nên sự hợp nhất. Ở đây một lần nữa Phật giáo lại vượt xa các phát hiện tâm lý học hiện đại và giải quyết vấn đề một cách toàn diện hơn vì Phật giáo không tách biệt con người ra khỏi bối cảnh của nó, bối cảnh nầy là vũ trụ toàn thể chứ không phải là kiểu vũ trụ được xã hội công nhận. Mỗi bước trong việc chuẩn bị mạn đà la tương ứng với lục độ ba la mật (see Lục Độ Ba La Mật). Điều nầy có nghĩa là việc xây dựng một mạn đà la có một giá trị thực tế vì nó có ảnh hưởng trên phép tu tập của cá thể: After this comes the offering of a mandala 'as the means to perfect the prerequisites of merits and knowledge.' Modern depth psychology has rediscovered the intrinsic value of the mandala for the process of integration. Buddhism here again goes far beyond the findings of modern psychology and deals with the problem more exhaustively , in that it does not separate and isolate man from his context, this context being the whole universe and not a mere socially accepted pattern. Each step in the preparation of the mandala corresponds to one of the six perfections (paramita)—See Lục Độ Ba La Mật. • Bước cuối cùng—The final step: Guru-yoga—Phương cách thiết lập khả năng thực tế vững vàng trong cá thể. Qua giai đoạn nầy, người ta thực hiện được sự hợp nhất bất khả phân giữa bản thân với thực tại tối hậu. Mặc dù theo nghĩa cơ bản thì 'Guru' có nghĩa là đạo sư. Đây chính là giai đoạn tối quan trọng, vì dù rằng thực tế được tìm thấy trong mọi vật chứ không phải trong một cái tuyệt đối tưởng tượng chỉ có giá trị lu mờ, nhưng nếu không có sự giúp đỡ của một đạo sư, tức là của một con người mà bản thân đã hành trì yoga và do đó có thể dẫn dắt cho người mới tập trên bước đường khó khăn, thì tất cả những phương pháp của Chân ngôn thừa, dù hay đến thế mấy, cũng chỉ là vô dụng—The Guru-yoga is the means to have the all-sustaining power of reality settled on one's self. By the Guru-yoga one realizes the indivisible unity of one's self with the ultimate reality. The guru-yoga is a most exclusive discipline and its methods are intricate. Although, in the ultimate sense, the guru is really itself and although reality is found in everything and not in a fancied 'absolute' of dubious validity, without the help of a human guru, who himself has practised this yoga and hence is able to guide the aspirant on his difficult path, all the methods of the Mantrayana, no matter how good they are, are all in vain. b) Tam Mật Hành—The three esoteric duties: Tam mật về thân khẩu ý của Đức Phật sẽ vĩnh viễn là bi mật nếu không có phương tiện dẫn độ. Một phương tiện dẫn độ như vậy, theo mật giáo, phải bắt đầu từ gia trì lực (adhisthana) chứ không do nỗ lực hữu hạn của hành giả. Phương tiện đó cũng chỉ là biểu hiệu của năng lực bí mật, có thể được bộc lộ qua ba nghiệp của chúng sanh (thân khẩu ý). Qua đó chúng ta có thể biết được cảm ứng toàn vẹn của Đức Phật và chúng sanh, từ đó đạt được kết quả “Phật trong ta, ta trong Phật” (nhập ngã, ngã nhập); từ đó thực hành về giáo tướng của Phật quả khả đắc ngay nơi nhục thân nầy—The three mysteries of the body, speech and thought of the Buddha will remain mysteries forever, according to the esoteric schools, if there is no means of communion. Such a means of communion should come from the mystic power or enfolding power (adhisthana) of the Buddha, but not from the limited effort of an aspirant. The means itself is nothing but the manifestation of the mystic power, which can be expressed through the three activities of men, i.e., our body, speech, and thought. According to the ritualistic prescription (vidhi or kalpa), the means of communion has three aspects: 1) Thân Mật Hành thân: Tay nắm giữ biểu tượng hay kết án khế (mudra), và những cử chỉ khác của thân—The esoteric duty of body is to hold the symbol in the hand, or finger-intertwining and other attitudes of one's body. 2) Khẩu Mật Hành: Khẩu niệm mật chú hay niệm chân ngôn và những lời cầu nguyện khác—The esoteric of mouth is to recite the dharanis, or mystic verse and other words of prayer. 3) Ý Mật Hành: Ý quán tưởng mật ngữ “a” hay nhập bổn tôn tam ma địa tương ứng với ba nghiệp của chúng ta—The esoteric of mind is to ponder over the word “a” as the principle of the ungenerated, i.e. the eternal, or yoga concentration, corresponding to our three activities. (F) Các tông Phái Chân Ngôn—The True Word Sects: 1) Pháp Tướng Tông: Dharmalaksana Sect—See Tông Phái (12). 2) Tam Luận Tông: Madhyamika School of Nagarjuna—See Tông Phái (4). 3) Thiên Thai Tông: Saddharma-pundarika Sect—See Tông Phái (10). 4) Hoa Nghiêm Tông: Avatamsaka Sect—See Tông Phái (11). 5) Chân Ngôn Tông Nhật Bản: Tổ đình tọa lạc trên đỉnh Koya, trong khu vực Wakayama Perfecture, được Ngài Hoằng Pháp Đại Sư truyền từ Trung Quốc sang Nhật vào khoảng năm 804—Japanese Shingon with its monastic center located on Mount Koya in Wakayama Perfecture, introduced to Japan from China by Kukai (774-835) around 804. (G) Các Kinh của tông Chân Ngôn—Sutras of Shingon Sects: a) Chân Ngôn Trung Quốc—Chinese Shingon sects: • Đại Nhật Kinh: Maha-Vairocana-Bhisambodhi sutra. • Kim Cang Đảnh Kinh: Vajrakesekhara sutra. b) Chân Ngôn Nhựt Bản—Japanese Shingon: • Du Chỉ Kinh: Yugikyo sutra. • Đại Tỳ Lô Giá Na Phật Thuyết Yếu Lược Niệm Tụng Kinh: Maha-Birushana-Bussetsuyaryo-kunnenjukyo-sutra.
; (真言宗) Có hai nghĩa rộng và hẹp: I. Chân ngôn tông theo nghĩa rộng là chỉ chung Mật tông từ Ấn độ truyền sang Tây tạng, Trung quốc và Nhật bản. (xt. Mật Tông). II. Chân ngôn tông theo nghĩa hẹp thì đặc biệt chỉ Mật tông lưu truyền ở Nhật bản. Là một trong tám tông ở Nhật bản. Lấy Tức sự nhi chân, Tam mật gia trì làm pháp môn chủ yếu. Còn gọi Chân ngôn đà la ni tông, Chân ngôn mật tông, Bí mật tông, Mạn đồ la tông, Du già tông, Đà la ni tông, Tam ma địa tông. Vì coi trọng việc niệm tụng chân ngôn (tức lời chú), cho nên gọi là Chân ngôn tông. Tổ khai sáng là Hoằng pháp đại sư Không hải (774 - 835). Để phân biệt với Thiên thai mật tông (tức Thai mật) do ngài Tối trừng truyền, nên còn gọi là Đông mật. Pháp thống của tông này là từ giáo tổ Đại nhật Như lai (tức Ma ha tì lô giá na) truyền cho Kim cương tát đóa (tổ thứ hai), Long mãnh (tổ thứ ba), Long trí (tổ thứ tư), Kim cương trí (tổ thứ năm), Bất không (tổ thứ sáu), Huệ quả (tổ thứ bảy), Không hải (tổ thứ tám), gọi là Phó pháp bát tổ (tám tổ truyền pháp). Kinh điển căn bản của tông này là kinh Đại nhật (Thiện vô úy dịch), kinh Kim cương đính (Bất không dịch), gọi là hai bộ kinh lớn. Ngoài ra còn y cứ theo kinh Tô tất địa, Kinh Du kì, luận Thích ma ha diễn, luận Bồ đề tâm và Đại nhật kinh sớ. Lại nữa, luận Thập trụ tâm, Bí tạng bảo thược, luận Biện hiển mật nhị giáo, nghĩa Tức thân thành Phật, nghĩa Thực tướng tiếng chữ, nghĩa chữ Hồng, Bát nhã tâm kinh bí kiện v.v... do chính ngài Không hải soạn, cũng rất trọng yếu. Về đại cương giáo nghĩa, thì tông Chân ngôn giảng thuyết ba viên dung lớn: sáu đại (thể), bốn mạn (tướng), ba mật (dụng), thiết lập hai bộ Mạn đồ la, lấy Tức thân thành Phật làm chủ yếu. Do ngài Không hải hết sức truyền bá, y cứ vào sự phán định hai giáo Hiển, Mật và mười trụ tâm mà kiến lập hai giáo ngang dọc thuần Mật để biểu thị Mật tông trội hơn các tông khác. Mật tông tuy đã suy vi tại Trung quốc, Ấn độ, nhưng vẫn còn được lưu truyền ở Tây tạng và Nhật bản. Năm Diên lịch 23 (804), ngài Không hải đến Trung quốc, thờ tổ Huệ quả làm thầy - niên hiệu Đại đồng năm đầu (806), ngài trở về nước, thời cơ thuận lợi, được cả trong triều ngoài nội hướng về. Trước đây, những vị tăng Nhật bản đến Trung quốc thỉnh kinh sách đem về, tuy có cái gọi là Nhập Đường bát gia (tám nhà vào Đường, tức Trung quốc đời Đường), nhưng người được sự chính truyền của bảy tổ, và giáo hóa rộng, thì chỉ có ngài Không hải, vì thế ngài được kể là tổ phó pháp thứ tám, và được tôn làm tổ khai sáng tông Chân ngôn Nhật bản. Năm Hoằng nhân thứ 7 (816), ngài sáng lập chùa Kim cương phong trên đỉnh núi Cao dã. Năm Hoằng nhân 14, Thiên hoàng Tha nga ban cho hùa Đông (tức chùa Giáo vương hộ quốc), cùng với chùa Kim cương phong cùng là đạo tràng căn bản của tông này. Học trò rất đông, trong đó, mười nhân vật kiệt xuất là Chân tế, Chân nhã, Thực tuệ, Đạo hùng, Viên minh, Chân như, Cảo lân, Thái phạm, Trí tuyền và Trung diên, người ta ví như mười vị đệ tử lớn của đức Thế tôn. Ngài Không hải và mười đệ tử ấy đã làm cho tông phong nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đến mọi giai tầng xã hội trong thời đại Bình an. Nhưng sau ngài Không hải nhập tịch khoảng một trăm năm, sự truyền thừa chia làm hai dòng phái lớn là Tiểu dã và Quảng trạch. Tức dưới Chân nhã có Nguyên nhân, dưới Nguyên nhân có Ích tín và Thánh bảo. Sau Ích tín vài đời, đến thời Khoan triều, thì dòng Khoan triều gọi là dòng Quảng trạch - sau Thánh bảo vài đời, đến thời Nhân hải, thì dòng Nhân hải gọi là dòng Tiểu dã. Hai dòng trên đây, mỗi dòng lại chia làm sáu, gộp lại gọi chung là mười hai dòng Dã, Trạch, về sau lại chia thành ba mươi sáu dòng, hơn bảy mươi dòng. Dòng Quảng trạch lấy sư Ích tín làm tổ khai sáng, dùng chùa Biến chiếu của Tha nga làm đạo tràng trung tâm, Thiên hoàng Vũ đa rất tôn kính sư Ích tín. Năm Xương thái thứ 2 (899), Thiên hoàng qui y, xuống tóc, thụ giới Cụ túc - niên hiệu Diên hỉ năm đầu (901), nhà vua được truyền phép Quán đính và trở thành Pháp hoàng (vua pháp), đặt tăng phòng (ngự thất) tai chùa Nhân hòa - từ đó chùa Nhân hòa trở thành đạo tràng căn bản của dòng Quảng trạch. Đến thời Khoan trợ, dòng Quảng trạch lại chia thành sáu phái, gọi là Quảng trạch lục lưu (sáu dòng Quảng trạch): 1. Dòng vua chùa Nhân hòa, do Pháp thân vương là Giác pháp mở, chức trụ trì đều do các Hoàng tử xuất gia đảm nhiệm, đây là sự bắt đầu của chế độ chùa viện Hoàng tộc tại Nhật bản. 2. Dòng Bảo thọ viện, do Vĩnh nghiêm mở.3. Dòng Tây viện, do Tín chứng mở. 4. Dòng Hoa tạng viện do Pháp thân vương Thánh tuệ mở. 5. Dòng Nhẫn nhục sơn, do Khoan biến mở. 6. Dòng truyền pháp viện, do Giác tông mở. Dòng Tiểu dã lấy Thánh bảo làm tổ khai sáng. Thánh bảo từng học tập Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm, đặc biệt tinh thông Tam luận, dùng viện Đông nam của chùa Đông đại làm đạo tràng căn bản, chuyên hoằng dương Tam luận, đồng thời lại mến mộ hành tích của Tổ Dịch tiểu dác thuộc Tu nghiệm đạo tu hành trong núi, cho nên đời sau gọi là nhân vật trung hưng Tu nghiệm đạo. Sau khi thầy là Chân nhã thị tịch, Thánh bảo theo Chân nhiên thụ mật pháp Quán đính, lại theo Nguyên nhân thụ phép bí áo của Đông mật, thanh danh ngang với Ích tín. Năm Khoan bình thứ 9 (897), chùa Đề hồ do sư kiến tạo được liệt vào hàng chùa quan, ngang hàng với chùa Nhân hòa của dòng Quảng trạch. Dưới Thánh bảo, lần lượt truyền đến Quán hiền, Thuần hựu, Nguyên cảo, Nhân hải, là thời kì cực thịnh của dòng Tiểu dã. Nhân hải và Khoan triều của dòng Quảng trạch, được gọi là hai trọng trấn lớn của Đông mật. Dưới Nhân hải có Thành tôn, học trò Thành tôn có Nghĩa phạm, Phạm tuấn, Minh toán. Dưới Nghĩa phạm truyền cho Thắng giác, dưới Phạm tuấn truyền cho Nghiêm giác, từ hai người này mỗi người đều mở ra ba dòng, thành là Tiểu dã sáu dòng: 1. Dòng Tam bảo viện, do Định hải mở. 2. Dòng Lí tính viện, do Thánh giác mở. 3. Dòng Kim cương viện, do Thánh hiền mở.4. Dòng Khuyến tu tự, do Khoan tín mở.5. Dòng Tùy tâm viện, do Tăng tuấn mở.6. Dòng An tường tự, do Tông ý mở. Niên hiệu Thiên thừa năm đầu (1131), sư Giác tông, người mở ra dòng Truyền pháp viện thuộc dòng Quảng trạch, lên núi Cao dã sáng lập viện Đại truyền pháp, kiêm chức tọa chủ chùa Kim cương phong, lúc ấy vào cuối thời kì Bình an. Núi Cao dã và Đông tự trước nay chủ trương thuyết Đại nhật Như lai bản địa Pháp thân (Pháp thân bản địa của Đại nhật Như lai), đối lại với thuyết này, sư Giác tông đề xướng thuyết Tự tính gia trì thân (Thân tự tính gia trì). Do đó, hai phái tuyên bố tách rời, phái núi Cao dã gọi là tông Chân ngôn nghĩa cũ, còn sư Giác tông và những người ủng hộ sư gọi là tông Chân ngôn nghĩa mới. Về sau, sư Giác tông bị môn đồ của núi Cao dã ghét, vào năm Bảo diên thứ 6 (1140), dời đến chùa Căn lai thuộc huyện Hòa ca sơn để làm cơ sở cho phái nghĩa mới. Dưới sư Giác tông, có Kiêm hải, Chứng ấn, sau Kiêm hải có Lại du, cũng chủ trương thuyết Gia trì, và nhận sự phó pháp của Hiền thâm, mở ra dòng Trung tính viện, đến đời Thánh hiền thì tập đại thành thuyết gia trì, xác lập cơ sở của phái nghĩa mới. Sau khi chùa Căn lai bị thiêu hủy, sư Chuyên dự về ở chùa Trường cốc tại Đại hòa, sư Huyền hựu về ở chùa Trí tích tại Kinh đô, đều dựng cờ pháp, mở ra hai phái Phong sơn (chùa Trường cốc) và Trí sơn (viện Trí tích). Về phần núi Cao dã thì có các sư Hựu khoái, Trường giác cố giữ thuyết Bản địa. Về sau các sư truyền đến Trường dự, Khoái toàn, Thành hùng, Thiên biến và Ấn dung. Đến thời đại Giang hộ, có các sư Tuệ quang, Đàm tịnh, Đạo không và Hoằng đạo, hết sức dung hợp hai thuyết mới và cũ, về sau pháp của Phong sơn đứng vững và tập đại thành. Tông Chân ngôn Nhật bản bắt đầu từ hai dòng gốc là Tiểu dã và Quảng trạch, tuy có phát sinh nhiều dòng phái, nhưng từ thời Trung cổ trở lại đây thì chỉ có hai phái Nghĩa mới và Nghĩa cũ. Trong thời Giang hộ, phái Nghĩa cũ phần nhiều thuộc núi Cao dã, còn phái Nghĩa mới thì lệ thuộc hai phái Trí sơn và Phong sơn. Năm Minh trị thứ 5 (1872), đặt ra giáo bộ tỉnh, đầu tiên lấy núi Cao dã làm trụ sở chính của phái Nghĩa cũ, lấy Trí sơn và Phong sơn làm trụ sở chính của phái Nghĩa mới, do cả hai phái ba chùa thay nhau ở để chưởng quản tông Chân ngôn, không bao lâu, Đông tự cũng được thừa nhận là trụ sở chính của phái Nghĩa cũ, bèn do hai phái bốn chùa thay nhau quản chưởng, cai quản toàn bộ các chùa viện thuộc tông Chân ngôn trên toàn nước Nhật. Năm Minh trị thứ 11, bảy chùa Nhân hòa, Đại giác, Quảng long, Thần hộ, Pháp long, Tây đại và Chiêu đề hợp lại làm Tây bộ Chân ngôn tông (tông Chân ngôn mạn Tây), đặt chức quản chưởng riêng biệt, bỏ chế độ bốn chùa luân lưu thay nhau, Đông tự và Cao dã thì gọi là tông Chân ngôn. Năm sau, nội vụ tỉnh ra lệnh bỏ hết các chưởng quản của các bộ phái, mà chỉ để một quản chưởng cho một tông mà thôi và Đông tự được dùng làm trụ sở chính của tông này, đặt ra Pháp vụ sở để cai quản toàn tông. Năm Minh trị 18, hai dòng Trí, Phong hợp lại gọi là Tông Chân ngôn phái Nghĩa mới. Năm Minh trị 29, chùa Đề hồ xin được là một phái độc lập. Năm Minh trị 33, trong phái Nghĩa cũ, chùa Nhân hòa gọi là Chân ngôn tông ngự thất phái (phái nhà vua), núi Cao dã gọi là Cao dã phái, chùa Đại giác gọi là Đại giác tự phái, chùa Đề hồ là Đề hồ tự phái, còn bốn chùa là Đông tự, Khuyến tu tự, Tùy tâm viện và Dũng tuyền tự gộp lại gọi là Chân ngôn tông. Trong phái Nghĩa mới, thì Trí sơn, Phong sơn, cũng chia ra làm hai, gọi là Tân nghĩa Chân ngôn tông Trí sơn phái và Tân nghĩa Chân ngôn tông Phong sơn phái, và đặt quản chưởng riêng. Năm Minh trị 40, tông Chân ngôn bốn chùa cũng chia rẽ ra thành Chân ngôn tông Đông tự phái, Chân ngôn tông Sơn giai phái (chùa Khuyến tu), Chân ngôn tông Tiểu dã phái (viện Tùy tâm), Chân ngôn tông Tuyền dũng tự phái. Năm Đại chính 14 (1925), ba phái Cao dã, Ngự thất, Đại giác liên kết lại với nhau và lấy chùa Kim cương phong làm trụ sở chính, còn hai chùa kia (Ngự thất, Đại giác) là chùa thường, đổi tên gọi là Cổ nghĩa Chân ngôn tông. Năm Chiêu hòa thứ 6 (1931), phái Tiểu dã lại lấy chùa Thiện thông làm chùa chính và đổi tên phái là Thiện thông tự phái.Hiện nay, tông Chân ngôn nghĩa cũ, có bảy phái lớn tương đối trọng yếu, đó là: 1. Chân ngôn tông Cao dã phái, tông Tổ là ngài Không hải, trụ sở chính là chùa Kim cương phong trên núi Cao dã - năm Hoằng nhân thứ 7 (816), ngài Không hải dâng biểu lên Thiên hoàng Tha nga xin nơi này, vua ban là Cao dã sơn. Có hai nghìn bảy trăm sáu mươi chùa lệ thuộc. Theo qui chế liên hiệp các phái nghĩa cũ, vị tọa chủ chùa Kim cương phong, giữ chức viện trưởng trường Đại học núi Cao dã của tông Chân ngôn liên hiệp và là hiệu trưởng trường Trung học núi Cao dã, đồng thời các chùa phái hiệp lực cùng nhau quản trị các trường chuyên môn tại Kinh đô và trường Trung học của Đông tự (chùa Đông) để dạy dỗ các đệ tử môn hạ. 2. Chân ngôn tông Sơn giai phái, Tông tổ là Không hải, Phái tổ là Nghiêm giác, trụ sở chính là chùa Khuyến tu ở Sơn khoa. Chùa này do mẫu hậu của Thiên hoàng Đề hồ phát nguyện xây dựng vào năm Xương thái thứ 3 (900), lấy Thừa tuấn làm vị khai sơn (trụ trì đầu tiên). Có một trăm hai mươi chùa phụ thuộc. Các chùa phái cùng nhau mở các trường chuyên môn tại Kinh đô và trường Trung học ở Đông tự để giáo dục các học trò trong phái. 3. Chân ngôn tông Đề hồ phái, Tông tổ là Không hải, Phái tổ là Thánh bảo, trụ sở chính là chùa Đề hồ tại Sơn thành. Phái tổ Thánh bảo nhận sự phó pháp của Nguyên nhân - pháp tôn của Không hải, vào năm Trinh quán 16 (874) đời Thiên hoàng Thanh hòa, sáng lập chùa Đề hồ làm đạo tràng tu pháp, dòng pháp của sư gọi là dòng Tiểu dã. Có chín trăm bốn mươi chùa phụ thuộc, các chùa phái hợp đồng quản trị các trường chuyên môn tại Kinh đô và trường Trung học ở Đông tự. 4. Chân ngôn tông Ngự thất phái, Tông tổ là Không hải, phái tổ là Pháp hoàng Khoan bình (Thiên hoàng Vũ đa), trụ sở chính là chùa Nhân hòa Ngự thất tại Sơn thành. Chùa Nhân hòa là do Thiên hoàng Quang hiếu phát nguyện sáng lập tại chân núi Đại nội, làng Tiểu tùng các năm Nhân hòa thứ 2 (886). Phái này còn triển khai các dòng khác, như dòng Quảng trạch ngự, dòng Tây viện, dòng Bảo thọ viện, dòng Nhẫn nhục sơn, dòng Truyền pháp viện, dòng Hoa tạng viện v.v... Có một nghìn hai trăm chùa lệ thuộc, và chung nhau kinh doanh các trường chuyên nghiệp tại Kinh đô và trường Trung học ở Đông tự để dạy dỗ con em trong phái. 5. Chân ngôn tông Đông tự phái, Không hải là tổ khai sáng, trụ sở chính là Đông tự tại Kinh đô. Năm Hoằng nhân 14 (823), Thiên hoàng Tha nga đem Đông tự ban cho ngài Không hải, chuyên nghiên tu kinh luật luận của tông Chân ngôn, trở thành đạo tràng căn bản truyền bá Chân ngôn. Có một trăm tám mươi chùa lệ thuộc, các chùa phái cùng nhau thiết lập các chùa chuyên môn và trường Trung học ngay trong nội tự chùa Đông để dạy dỗ các đệ tử của các phái dưới. 6. Chân ngôn tông Thiện thông tự phái, tông tổ là Không hải, phái tổ là Tăng tuấn, trụ sở chính là chùa Thiện thông tại Tán kì. Có ba mươi chùa phụ thuộc, các chùa phái hợp lực kinh doanh các trường chuyên môn và trường Trung học trong nội tự chùa Đông tại Kinh đô để giáo dục đệ tử. 7. Chân ngôn tông Tuyền dũng tự phái, tông tổ là Không hải, phái tổ là Tuấn nhận, trụ sở chính là chùa Tuyền dũng tại Kinh đô. Vào khoảng năm Kiến cửu, Tuấn nhận đến Trung quốc (đời Tống) học pháp, sau khi trở về Nhật bản, làm chùa Tuyền dũng khiến trở thành đạo tràng của bốn tông, kiêm học Thai, Mật, Thiền, Luật. Có bốn mươi chùa phụ thuộc, cũng kinh doanh các trường chuyên môn tại Kinh đô và trường Trung học Đông tự. Còn hai phái lớn của tông Chân ngôn nghĩa mới thì phân biệt là: 1. Tân nghĩa Chân ngôn tông Trí sơn phái, gọi tắt là Trí sơn phái. Tông tổ là Không hải, Phái tổ là Giác tông, tổ trung hưng là Huyền hựu, trụ sở chính là viện Trí tích tại Kinh đô, do Đức xuyên gia khang quyên cúng. Có ba nghìn bảy mươi chùa lệ thuộc, thiết lập trường chuyên môn Trí sơn tại Đông kinh để giáo dục đệ tử trong phái. 2. Tân nghĩa chân ngôn tông Phong sơn phái, gọi tắt là Phong sơn phái. Cao tổ là Không hải, Tông tổ là Giác tông, Phái tổ là Chuyên dự, trụ sở chính là chùa Trường cốc Phong sơn tại Đại hòa. Có hai nghìn hai trăm chín mươi chùa phụ thuộc, vào niên hiệu Chiêu hòa năm đầu (1926), liên kết với hai tông Thiên thai và Tịnh độ, mở viện Đại học Đại chính tại Đông kinh để giáo dục đệ tử trong phái. (xt. Nhập Đường Bát Gia, Không Hải, Mật Tông, Giác Tông).
chân ngôn tông bát tổ
Eight patriarchs of the True Word Sect—See Chân Ngôn Bát Tổ.
; (真言宗八祖) Còn gọi là Bát tổ tương thừa. Chỉ cho tám vị tổ của Mật giáo: 1. Đại nhật Như Lai. 2. Kim cương tát đóa. 3. Long mãnh. 4. Long trí. 5. Kim cương trí. 6. Bất không. 7. Huệ quả. Từ tổ Huệ quả trở xuống, tại Trung quốc chưa có ai nhưng tại Nhật bản thì lấy ngài Không hải làm tổ thứ tám. Trong các tông, liệt Đại nhật Như lai làm tổ thứ nhất, thì chỉ có tông Chân ngôn mà thôi. Vả lại, sự kế thừa trong Hiển giáo chỉ là kế thừa pháp, không kể niên đại cách nhau, còn sự kế thừa trong Mật giáo thì chính mình phải nhận lễ quán đính từ nơi thầy làm hạn, cho nên gọi là Huyết mạch. Vì được trao phó giáo chính truyền, cho nên gọi là Phó giáo bát tổ - lại theo việc truyền trì hoằng dương Mật giáo, nên cũng gọi là Truyền trì bát tổ.
chân ngôn tông toàn thư
(真言宗全書) Gồm bốn mươi hai quyển. Thu chép các tác phẩm chủ yếu của tông Chân ngôn Nhật bản, do nhóm Cao cương long tâm biên soạn. Lựa chọn chặt chẽ các kinh quĩ luận sớ, trước thuật của các tổ sư, tông yếu, sự tướng, Thánh điển, lịch sử, truyện kí, các bộ chú thích luận chương v.v... rồi theo thứ tự phân loại biên soạn, phàm những sách quí, hoặc các ấn bản có giá trị đặc biệt, đều được thu chép hết. Sách này không những chỉ là điển tịch trọng yếu đối với giáo học tông Chân ngôn, mà còn là một tác phẩm lớn về lịch sử văn hóa của Phật giáo Nhật bản.
Chân ngôn tông 眞言宗
[ja] シンゴンシュウ Shingon shū ||| The True Word School, in Chinese, Zhēnyán zōng, in Japanese Shingon shū. This school did not develop to a significant degree in Korea. "True Word" is one Chinese of translation of the Sanskrit mantra , and this school can be considered as the East Asian version of mantrayāna/tantrayāna/vajrayāna, also known as the Esoteric Sect (密教、密宗). The formation of the school in China is based largely on scriptures brought to China by Śubhākarasiṃha 善無畏, Vajrabodhi 金剛智, and his disciple Amoghavajra 不空. Śubhākarasiṃha arrived first in 716 and translated the Mahāvairocana Sutra (大日經 T 848.18.1). Vajrabodhi and Amoghavajra arrived in 720 and produced two selective translations of the Sarvatathagatatattvasamgraha (T. 866, 865). For the next fifty years the wonder-working abilities of these ācāryas ("teachers" 阿闍梨) and the prestige of their newly imported teachings bolstered the school until, under Amoghavajra and Emperor Daizong 大宗 (r. 762-779). The Shingon school was established in Japan by Kūkai 空海, who received the True Word teachings from Huiguo 惠果, and it was in Japan where this tradition become firmly established as an independent school, based primarily on the Mahāvairocana Sutra and the Vajraśekhara-sūtra 金剛頂經. => (c: Zhēnyán zōng; j: Shingon shū; e: True Word School). Tông nầy không được phát triển nổi bật ở Cao Ly. 'Chân ngôn' là Hán dịch từ chữ mantra trong tiếng Sanskrit, và tông nầy có thể được xem là Man-tra thừa (mantrayāna), Tan-tra thừa (tantrayāna), Kim cương thừa (vajrayāna) của Phật giáo Đông Nam Á, còn được gọi là Mật giáo, Mật tông (密教、密宗; e: Esoteric Sect). Sự hình thành của tông nầy ở Trung Hoa phần lớn căn cứ vào các kinh điển do Vô Uý Ấn (s: Śubhākarasiṃha 善無畏), Kim cương Trí (s: Vajrabodhi 金剛智) và đệ tử của ngài là Bất Không (s: Amoghavajra 不空) mang vào Trung Hoa. Ngài Vô Uý Ấn đến Trung Hoa đầu tiên vào năm 716 và dịch kinh Đại Nhật (大日經 s: Mahāvairocana Sutra), ngài Kim Cương Trí và Bất Không đến Trung Hoa năm 720 và cho ra đời hai bản dịch Kinh Nhất thiết Như Lai Kim cương đỉnh (s: Sarvatathagatatattvasamgraha). Trong 50 năm kế tiếp, năng lực hoằng pháp kỳ diệu của hai vị A-xà-lê (s: ācāryas 阿闍梨) và thanh thế của pháp môn mới du nhập nầy đã làm lớn mạnh tông phái cho đến đời của ngài Bất Không (s: Amoghavajra) và Hoàng đế Đại Tông (Daizong 大宗; trị vì 762-779). Chân ngôn tông truyền sang Nhật Bản do Ngài Không Hải (j: Kūkai 空海),ngài được thụ truyền giáo pháp Chân ngôn từ ngài Huệ Quả (c: Huiguo 惠果), ở Nhật Bản, tông nầy bén rễ vững chắc và trở nên một tông độc lập, căn cứ chủ yếu vào Kinh Đại Nhật và Kinh Kim cương đỉnh (Vajraśekhara-sūtra 金剛頂經).
chân ngôn tạng gia
(真言藏家) Tông Chân ngôn y cứ vào tạng Chân ngôn, cho nên, đối với các tông khác mà nói, thì gọi là Chân ngôn tạng gia. Chân ngôn tạng tức là tạng Đà la ni thứ năm trong năm tạng nói trong kinh Lục ba la mật. [X. Nhị giáo luận Q.thượng].
chân ngôn vương tôn
(真言王尊) Tiếng tôn xứng đức Đại nhật Như lai. Đại nhật Nhưlai, Phạm: Ahàvairocana. Dịch âm: Ma hà tì lô giá na. Ma ha, là lớn, thắng - tì, là phổ biến, cao sáng - lô giá na, là ánh sáng, đẹp đẽ, cho vui. Đức Phật căn bản tối thượng của Mật giáo. Có Kim cương giới Đại nhật và Thai tạng giới Đại nhật khác nhau. Mật hiệu là Biến chiếu kim cương. [X. kinh Đại nhật Q.1 - Kim cương đính nghị quyết]. (xt. Đại Nhật Như Lai).
chân ngôn đại thứ đệ luận
(真言大次第論) Nói đủ là Thắng giả phổ biến chủ đại kim cương trì đạo thứ đệ tổng khai bí mật chi yếu nghĩa. Nói tắt là Chân ngôn đại thứ đệ. Cũng gọi Bí mật đạo thứ đệ (Tạng: Síags-rim chen-mo). Do Tôn khách ba (Tạng: Tsoí-Kha-pa blo-bzaí gras-pa), tổ khai sáng phái Mạch nhĩ đức Tạng:Dgelugs-pa) của Phật giáo Tây tạng, trước tác. Sách này được viết vào khoảng năm 1400 tây lịch, biên tập những tư tưởng rất sâu xa của Phật giáo bí mật. Tôn khách ba còn soạn Bồ đề đạo thứ đệ luận (Tạng: yaíchub lam-gyi rim-pa), là bộ sách bàn khái quát về Hiển giáo - còn sách này thì nói khái quát về Mật giáo. Phật giáo Tây tạng thông thường chia giáo học làm hai loại: Ba la mật đa thừa (Phạm: Prajĩà-pàramità-yàna) và Đát đặc la thừa (Phạm: Tantra-yàna). Loại truớc là giáo lí Phật giáo phổ thông, là nền tảng của hết thảy giáo học - loại sau lấy loại trước làm nòng cốt. Nếu đứng trên lập trường quan hệ nhân quả mà nhận xét, thì Đát đặc la thừa thuộc về Quả thừa, tức cuối cùng được quả thì có thể thành Phật. Nhưng muốn chứng được quả thừa thì phải tu hành và chứng Mật giáo, sách này chính là bộ sách chỉ đạo cho loại hành chứng trọng yếu ấy. Nội dung bộ sách cũng thuyết minh lập trường của cả Hiển giáo và Mật giáo, nhất là nêu rõ tính đặc biệt khác của thừa Kim cương. Trong sách trình bày tường tận bốn loại Đát đặc la: 1. Tác đát đặc la (Tạng: Kya-bahi rgyud, Phạm: Kri-yàtantra). 2. Hành đát đặc la (Tạng: Spyodpahirgyud, Phạm: Caryà-tantra). 3. Du già đát đặc la (Tạng: Rnal-hbyorgyi rgyud, Phạm: Yoga-tantra). 4. Vô thượng du già đát đặc la (Tạng: Rnal-hbyor bla-na med-pahi rgyud, Phạm: Mahàyoga-tantra). Sách được thu vào toàn tập của Tôn khách ba, nhưng cũng có lưu truyền bản in riêng.
Chân ngôn 眞言
[ja] シンゴン shingon ||| (1) Literally, "true word," an expression of reality. (2) A mantra, or a short dhāraṇī. A mystical utterance that contains the power to bring about spiritual or temporal results. Originally in Brahmanistic Indian religion, a syllable, word, or verse that was revealed to a seer while in meditation. Transcribed into Chinese as 曼怛羅, and variously translated as 陀羅尼、咒、明、神咒、密言、密語、密號. (3) A reference to the True Word sect 眞言宗 of East Asian Buddhism. => 1. Nghĩa là 'lời nói chân thật', biểu hiện của chân như. 2. Chú, hay một đà-la-ni ngắn. Lời nói huyền nhiệm chứa đựng năng lực đưa đến kết quả siêu nhiên hay thế tục. Xuất phát từ đạo Bà-la-môn của Ấn Độ cổ xưa, họ dùng một chủng tự (âm tiết), một lời nói, hay một câu kệ được tiết lộ qua một nhà tiên tri trong khi thiền định. Phiên âm sang tiếng Hán là mạn-đát-la 曼怛羅, các phiên âm khác là đà-la-ni 陀羅尼, chú咒, minh明, thần chú神咒, mật ngôn密言, mật ngữ密語, mật hiệu密號. 3. Chỉ cho Chân ngôn tông (眞言宗e: True Word sect) của Phật giáo Á Đông.
chân ngụy
True and false.
chân ngụy = chân giả
True and false.
chân ngữ
Lời thguyết lý chân như nhứt thực hay lời nói của Như Lai là chân thật và đúng mãi—True words, especially as expressing the truth of the bhutatathata; the words of Tathagata are true and consistent.
; (真語) Nghĩa là lời nói chân thực. Cũng như Chân ngôn. Đức Như lai nói theo ý mình, không hề quanh co hư dối, nói như thật, như chân, cho nên gọi là Chân ngữ.
chân nhiên
Shinnen (J)Tên một vị sư.
Chân nhân
(眞人): Thiền ngữ độc đáo của Lâm Tế dùng để thể hiện Phật Đà hay người tự giác ngộ.
chân nhân
Zhenren (C), Chen-ren (C), Zhenren (C), Shinnin (J), Taoism master
; One who embodies the Truth, an arhat; a Buddha.
; 1) Nguyên nhân chân thực: The true cause—Reality as causes. 2) Người chứng đắc chân lý: The one who embodies the truth. 3) A La Hán: An Arhat. 4) Phật: A Buddha.
; (真因) Đối lại với Chân quả. Chỉ bốn mươi mốt giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác trong năm mươi hai giai vị thuộc Ngũ phẩm đệ tử của Viên giáo. Bốn mươi mốt giai vị này tương đối với Chân quả... (cực quả Diệu giác), cho nên gọi là Chân nhân. Thuộc nhân vị dứt vô minh, chứng Trung đạo. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 780 thượng), nói: Dùng chân nhân của ta làm cực quả của nhà ngươi, vì thế biết Chân nhân là đối lại với Cực quả mà gọi là Chân nhân. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần trên].
; (真人) Tên gọi khác của A la hán. Vì A la hán là các bậc tu hành đạo chân chính, không hư ngụy, cho nên gọi là Chân nhân. Ngoài ra, các bậc tu hành vĩ đại (đức Phật), hoặc các Thánh nhân đã chứng pháp đích thực, mà không tự kiêu, khinh dễ người khác, đều gọi là Chân nhân. (xt. A La Hán).
chân nhã thiền sư
Shinga (J)Tên một vị sư. 801 - 879.
Chân như
真如; S, P: tathatā, bhūtatathatā;|Một khái niệm quan trọng của Ðại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lí luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến được Chân như tức là Giác ngộ, vượt ra khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính, Pháp thân.
chân như
BhŪta-tathatā (S), de kho na nyi (T), Tathatā (S, P), Shinnyo (J), Suchness, The true reality Nhất như, Thật tánhChân thật, Chân thật đúng như bản thể của tự tánh,Xem Pháp tính.
; Bhùtatathatà (S). Chân là chân thật: the real; Như là như thường:thus always, eternally so. Suchness of existence.
; Chân thật đúng như bản thể Tự tánh.
; Bhutatathata or Tathata (skt)—Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm—Phật Tính—Pháp Thân—Như Lai Tạng—Thực Tướng—Pháp Giới—Pháp Tính—Viên Thành Thực Tính—Real—Reality—Suchness—According to reality—Natural purity—Theo Trung Quán Luận, chân như là chân lý, nhưng nó phi nhân cách. Để hiển hiện, nó cần có một môi giới. Như Lai chính là môi giới của nó. Như Lai là trực ngộ về thực tại. Ngài là Thực Tại được nhân cách hóa. Đồng thời Ngài còn có cả hai loại tính chất của Tuyệt Đối và hiện tượng. Ngài đồng nhất với Chân Như, nhưng được thể hiện trong hình dạng của một con người. Đây là lý do tại sao Chân Như cũng còn được gọi là Như Lai Tạng—According to Madhyamaka Philosophy, Tathata is the Truth, but it is impersonal. In order to reveal itself, it requires a medium. Tathagata is that medium. Tathagata is the epiphany of Reality. He is Reality personalized. Tathagata is an amphibious being partaking both of the Absolute and phenomena. He is identical with Tathata, but embodied in a human form. That is why Tathata is also called the womb of Tathagata (Tathagatagarbha)—See Tự Tánh Thanh Tịnh (A) Nghĩa của Chân Như—The meanings of the bhutatathata: • Chân là chân thực: “Chân” means the “real,” or “true.” • Như là như thường: “Như” means “so,” “such,” “suchness,” “thus,” “thusness,” “thus always,” “ in that manner,” or “eternally so.” (A) Những từ khác cho “Chân Như”—Other terms for “Bhutatathata” • Chân Thực Như Thường: The eternal reality. • Bất Biến Bất Cải: Unchanging or immutable. • Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm: Self-existent pure Mind. • Phật Tánh: Buddha-nature. • Pháp Thân: Dharmakaya. • Như Lai Tạng: Tathagata-garbha, or Buddha-treasury. • Thực Tướng: Reality. • Pháp Giới: Dharma-realm. • Pháp Tính: Dharma nature. • Viên Thành Thực Tánh: The complete and perfect real nature. (B) Nhất Chân Như—The undifferentiated whole. (C) Nhị Chân Như—There are two kinds of bhutatathata: a) Theo Chung Giáo của Tông Hoa nghiêm—According to the Final Teaching of the Flower Adornment Sect: 1) Bất Biến Chân Như: Chân tính của vạn pháp là bất biến (vạn pháp là chân như)—The immutable bhutatathata in the absolute. 2) Tùy Duyên Chân Như: Tùy theo duyên vô minh mà dấy lên vọng pháp (chân như là vạn pháp)—The bhutatathata in relative or phenomenal conditions. b) Theo Biệt Giáo của Tông Thiên Thai—According to the Differentiated teaching of the T'ien-T'ai Sect: 1) Như Thật Không: The essence in its purity—The void—Static—Abstract—Noumenal. 2) Như Thật Bất Không: The essence in its differentiation—The not-void—Dynamic--Phenomenal. a) Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận—According to The Awakening of Faith: 1) Thanh Tịnh Chân Như The pure bhutatathata. 2) Nhiễm Tịnh Chân Như: Infected (affected) bhutatathata. d) 1) Hữu Cấu Chân Như: Chân như nơi chúng sanh—Defiled bhutatathata, i.e. that of all beings. 2) Vô Cấu Chân Như: Chân như nơi chư Phật—Undefiled or innocent bhutatathata, i.e. that of Buddhas e) 1) Tại Triền Chân Như: Bonded (In bonds) bhutatathata. 2) Xuất Triền Chân Như: Free bhutatathata. f) Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận—According to the Awakening of Faith: 1) Y Ngôn Chân Như: Dựa vào danh nghĩa lời nói giả danh để hiện rõ bản tướng—Bhutatathata that is expressible in words. 2) Ly Ngôn Chân Như: Thể của chân như vốn là xa lìa tướng ngôn từ, xa lìa tướng tâm niệm—Bhutatathata that is inexpressible. g) Theo Đại Trí Độ Luận, có ba loại Chân Như—According to the Mahaprajnaparamita-Sastra, there are three kinds of Tathata or essential nature: 1) Chân Như là tánh đặc thù của mỗi sự vật: Tathata means the specific, distinct nature of everything. 2) Chân Như là tánh tối hậu của những bản chất đặc thù của sự vật về tánh hạn định hay tánh tương đối của mọi sự vật: Tathata means the non-ultimacy of the specific natures of things, of the conditionless or relativity of all things that are determinate. 3) Chân Như là Thực Tại tối hậu của mỗi sự vật: Bản chất tối hậu, vô hạn định hay phi nhân duyên của tất cả sự vật mới đích thật đúng nghĩa Chân Như—Tathata means the ultimate reality of everything. Only this ultimate, unconditioned nature of all that appears which is Tathata in the highest sense. ** For more information, please see Nhị Chân Như. (D) Tam Chân Như—Three kinds of bhutatahata: a) 1) Vô Tướng Chân Như: Thể của chư pháp là hư tướng—Formless bhutatathata. 2) Vô Sinh Chân Như: Chư pháp do nhân duyên sinh ra, nên là vô thực sinh—Uncreated bhutatathata. 3) Vô tánh Chân Như: Chân thể của chư pháp, tuyệt hết tất cả mọi suy nghĩ và lời nói—Without nature bhutatathata (without characteristics or qualities, absolute in itself). b) 1) Thiện Pháp Chân Như: Chân như tùy duyên mà thành thiện pháp—Good-deed bhutatathata. 2) Bất Thiện Pháp Chân Như: Chân như tùy duyên mà thành bất thiện—bad-deed bhutatathata. 3) Vô Ký Pháp Chân Như: Chân như tùy duyên mà thành vô ký pháp—Indeterminate bhutatathata.
; (真如) Phạm: Bhùta-tathatàhoặctathatà. Chỉ bản thể chân thực tràn khắp vũ trụ - là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. Còn gọi Như như, Như thực, Pháp giới, Pháp tính, Thực tế, Thực tướng, Như lai tạng, Pháp thân, Phật tính, Tự tính thanh tịnh thân, Nhất tâm, Bất tư nghị giới. Trong sách Phật Hán dịch ở thời kì đầu dịch là Bản vô. Chân, chân thật không hư dối - Như, tính của sự chân thật ấy không thay đổi. Tức là cái mà Phật giáo Đại thừa gọi là Bản thể của muôn vật. Nhưng luận cứu một cách tường tận, thì mỗi tông, mỗi nhà giải thích danh từ Chân như đều có khác, tổng kết có thể đưa ra mấy định nghĩa như sau đây. Cứ theo các kinh điển A hàm chép, thì lí pháp duyên khởi là chân lí vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như. Lại cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì trong chín vô vi mà Hóa địa bộ liệt kê, có Thiện pháp Chân như, Bất thiện pháp Chân như, Vô kí pháp Chân như, Đạo chí Chân như, Duyên khởi Chân như. Trong đây, ba tính Thiện, Bất thiện, Vô kí, tám chính đạo và lí pháp sinh tử duyên khởi, đều là chân thực và vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như. Phật giáo Đại thừa chủ trương: bản tính của hết thảy sự tồn tại là Nhân vô ngã, Pháp vô ngã, bản tính ấy siêu việt các tính sai biệt, cho nên gọi là Chân như - như tự tính Pháp thân của Như lai chẳng hạn. Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 7, thì Chân như là thực tính của hết thảy hiện tượng (chư pháp), hình tướng tuy sai biệt, nhưng bản thể thì là một, lời nói, suy tư không thể lường được. Để phân biệt với quan điểm sai lầm, hư dối mà tạm gọi là Chân như thôi. Nếu cho đó là chỗ nương tựa của hết thảy pháp lành, thì gọi là Pháp giới - để tránh quan niệm cho là không, thì gọi Thực hữu - để tránh quan niệm nhận là có, thì gọi Không vô - là chân thực, thì gọi Thực tế - vì là trí không phân biệt nên tạm gọi là Thắng nghĩa. Kinh Đại bát nhã quyển 360, nêu mười hai tên gọi: Pháp giới, Pháp tính, Tính không hư dối, Tính không đổi khác, Tính bình đẳng, Tính lìa sống, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không giới và Bất tư nghị giới. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì nêu ra sáu tên: Chân như, Tính không, Vô tướng, Thực tế, Thắng nghĩa và Pháp giới. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 phần dưới thì nêu ra mười bốn tên: Thực tướng, Diệu hữu, Chân thiện diệu sắc, Thực tế, Tất kính không, Như như, Niết bàn, Hư không, Phật tính, Như lai tạng, Trung thực lí tâm, Phi hữu phi vô trung đạo, Đệ nhất nghĩa đế và Vi diệu tịch diệt. Ngoài ra còn gọi là Nhất như thực tướng, Chân như nhất thực, Chân thực tế, Chân thắng nghĩa đế v.v... Vì tướng chân như bình đẳng tuyệt đối nên cũng gọi là Nhất tướng. Kinh Giải thâm mật quyển 3, có nói bảy Chân như: 1. Lưu chuyển chân như (lí pháp duyên khởi). 2. Thực tướng chân như (thực tính của các pháp). 3. Liễu biệt chân như (lí pháp vạn pháp duy thức). 4 đến 7 phối hợp với bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo theo thứ tự là: An lập chân như, Tà hành chân như, Thanh tịnh chân như và Chính hành chân như. Trong bảy Chân như kể trên, ngoài Thực tướng chân như ra, sáu thứ còn lại cũng gọi là sáu Chân như, vì tự thể của các lí pháp vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như, đó là do các tướng trạng được hiển hiện bởi Chân như thực tướng mà đặt tên là Chân như. Thuyết của tông Pháp tướng, cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 chép, thì Chân như là pháp xa lìa sự phân biệt hư dối, là tính Nhân vô ngã, Pháp vô ngã, tương đương với tính Viên thành thực trong ba tính. Tông này chủ truơng hết thảy hiện tượng đều từ thức A lại da sinh ra, cho nên bản thân Chân như là cái thể vắng lặng tuyệt đối, siêu việt hết thảy hiện tượng, tự thể của nó không trở thành hiện tượng, cho nên nói Chân như vắng lặng, không tạo các pháp. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 10 chép, thì Bồ tát phải đến Sơ địa mới ngộ lí Chân như. Theo thứ tự sâu, cạn của nội dung giác ngộ mà lập mười Chân như khác nhau: 1. Biến hành chân như, tức lí nhân không, pháp không tràn khắp muôn vật. 2. Tối thắng chân như, Chân như do thân hoàn toàn trụ trì giới Cụ túc mà ngộ được, vì nó có vô lượng công đức, nên gọi Tối thắng. 3. Thắng lưu chân như, giáo pháp từ Chân như lưu xuất, có phần hơn các giáo khác, mà căn bản của giáo ấy tức là Chân như. 4. Vô nhiếp thụ chân như, ý là không trở thành đối tượng của sự chấp trước. 5. Loại vô biệt chân như, nghĩa là sinh tử và Niết bàn chẳng phải hai, mê ngộ nhất như. 6. Vô nhiễm tịnh chân như, Chân như siêu việt nhơ và sạch. 7. Pháp vô biệt chân như, nghĩa là Chân như đã lìa tướng sai biệt, cho nên bất luận bàn về pháp nào thì thể của nó vẫn là một. 8. Bất tăng giảm chân như, nghĩa là đoạn diệt các phiền não ô nhiễm nó chẳng giảm, mà tu các pháp thanh tịnh nó cũng chẳng vì thế mà tăng, tức lìa sự chấp trước tăng giảm. Một khi ngộ được Chân như này, có thể biến hiện các loại hình trạng và quốc độ một cách tự tại, cho nên cũng gọi là Tướng độ tự tại sở y chân như. 9. Trí tự tại sở y chân như, ý là được tự tại đối với bốn trí vô ngại. 10. Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như, tất cả tác dụng của thân khẩu ý, như thần thông, tổng trì, Thiền định v.v... đều được tự tại. Lấy mười Chân như trên đây làm thuận tự, từ Sơ địa đến Thập địa, tu hành mười ba la mật, đoạn trừ mười trọng chướng mà đến Bồ đề. Ngoài ra, Chân như của nhân vô ngã (Nhân không chân như) và Chân như của pháp vô ngã (Pháp không chân như) gộp lại gọi là Nhị không chân như - trong đó, Nhị thừa chỉ ngộ được Nhân không chân như, Bồ tát thì có thể ngộ Nhị không chân như. Tông Địa luận chủ trương, tự thể của thức A lại da thứ tám (tông Nhiếp luận gọi là thức A ma la thứ chín) là tâm tự tính thanh tịnh, tâm tự tính thanh tịnh ấy tức là Chân như. Thức của nó, vì chịu sự huân tập của vô minh, cho nên mới hiển hiện ra các hiện tượng nhơ và sạch. Luận Đại thừa khởi tín chủ trương, Chân như là bản thể của tâm chúng sinh, vì nó dứt tuyệt nói năng, suy tưởng nên gọi là Li ngôn chân như - nhưng nếu phải miễn cưỡng dùng lời nói mà biểu hiện, thì gọi là Y ngôn chân như, cả hai Chân như này gộp lại, gọi là Nhị chân như. Đứng về phương diện Y ngôn chân như mà nói thì thể của nó xa lìa tâm mê mà không, cho nên là Như thực không (Không chân như) - vả lại, thể của nó đầy đủ công đức thanh tịnh vô lậu rất mực trong sạch, cho nên là chân thực bất không (Bất không chân như). Đồng thời tâm chúng sinh (tức Chân như) có đủ cả Tâm chân như môn tuyệt đối bất động, và duyên với vô minh mà khởi động sinh diệt, rồi hình thành Tâm sinh diệt môn của các hiện tượng nhơ và sạch, là Tùy duyên chân như, gộp cả hai lại, cũng gọi là Nhị chân như. Thông thường, đối với pháp sinh khởi vạn hữu, nếu thuyết minh theo Chân như bất biến hoặc tùy duyên, thì gọi là Chân như duyên khởi (Như lai tạng duyên khởi). Còn hai Chân như sau đây đều là tiếng đồng loại: Thanh tịnh chân như và Nhiễm tịnh chân như, hoặc Phi an lập Chân như và An lập chân như (An lập, hàm ý là khiến vạn hữu sinh khởi đều đúng vị trí). Tông Hoa nghiêm y theo thuyết Tính khởi, chủ trương Bản thể tức hiện tượng, hàm ý Chân như vốn là muôn pháp, muôn pháp vốn là chân như. Đồng thời, chia Chân như thành Nhất thừa chân như và Tam thừa chân như - Nhất thừa chân như lại chia làm Biệt giáo chân như, Đồng giáo chân như - Tam thừa chân như lại chia làm Đốn giáo chân như, Tiệm giáo chân như, đều do lí giải Chân như một cách bất đồng mà có sự khác nhau như thế. Tông Thiên thai y theo thuyết Tính cụ, chủ trương bản thân Chân như xưa nay vốn có đủ các pháp sạch nhơ thiện ác. Lại tự tính (Chân như) của chư Phật, gọi là Vô cấu chân như, hoặc Xuất triền chân như - còn thể tính Chân như của chúng sinh, vì bị phiền não làm cho nhơ bẩn, cho nên gọi là Hữu cấu chân như, hoặc Tại triền chân như. Gộp cả hai lại, tức là Lưỡng cấu chân như (hai Chân như cáu bẩn). Cứ theo luận Ma ha diễn quyển 3 chép, thì Chân như là ngộ được lí của hai trí Thủy giác và Bản giác, cho nên lập hai nghĩa Tính chân như và Lí hư không. Lí hư không thanh tịnh có mười nghĩa: nghĩa vô ngại, nghĩa chu biến, nghĩa bình đẳng, nghĩa quảng đại, nghĩa vô tướng, nghĩa thanh tịnh, nghĩa bất động, nghĩa hữu không, nghĩa không không và nghĩa vô đắc. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, Q.21 - Phật địa kinh luận Q.4, Q.7 - Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12 - luận Thành duy thức Q.2 - luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) Q.hạ - Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Đường) Q.8 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối].
chân như bản tính
The absolute, the ultimate source and character of all phenomena.
chân như chi nguyệt
(真如之月) Thí dụ nhờ thể ngộ Chân như mà từ trong tất cả mê hoặc giải thoát ra được, cũng như vầng trăng sáng phá tan bóng đêm đen tối.
chân như duyên khởi
The absolute in its causative or relative condition; the bhùtatathatà influenced by environment, or pure and impure conditions, produces all things.
; Chân như bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, điều kiện thanh tịnh hay bất tịnh, tạo ra chư pháp—The absolute in its causative or relative condition—The Bhutatathata influenced by environment, or pure and impure conditions, produces all things. ** For more information, please see Duyên Khởi and Tứ Duyên Sanh (3).
chân như hải
The ocean of the bhùtatathatà, limitless.
; Biển chân như—Pháp tính chân như có đầy đủ vô lượng công đức tính—The ocean of the Bhutatathata, limitless.
; (真如海) Chân như pháp tính có đầy đủ vô lượng công đức, cho nên thí dụ với biển cả mênh mông. [X. Khởi tín luận qui kính tụng - Quán kinh huyền nghĩa phận qui kính tụng]. CHÂN NHƯ HUÂN TẬP Có nghĩa là pháp chân như tự huân tập tâm chúng sinh. Chân như huân tập có hai loại: Tự thể tướng huân tập và Dụng huân tập. Chân như là tâm tự tính thanh tịnh mà người ta ai ai cũng có sẵn, tâm ấy có đủ nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Chân như vốn tự đầy đủ các pháp vô lậu, cũng thành là tính cảnh giới của trí - thường huân tập tâm chúng sinh, khiến chúng sinh dần dần chán ghét sinh tử, mong cầu Niết bàn, và tin rằng mình vốn có đủ tính Chân như mà phát tâm tu hành, như thế gọi là Tự thể tướng huân tập. Nếu nhờ chư Phật, Bồ tát dùng sức huân của duyên ngoài, khiến nghiệp thiện của chúng sinh tăng trưởng, thì gọi là Dụng huân tập. [X. luận Thành duy thức Q.8 - Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ phần trên - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6]. (xt. Huân Tập).
chân như kim cang bồ tát
Xem Bất không kiến Bồ tát.
chân như ngưng nhiên
(真如凝然) Nói đủ là Chân như ngưng nhiên, bất tác chư pháp. Thuyết của tông Pháp tướng. Có nghĩa là Chân như ngưng tụ vắng lặng, không một mảy may theo duyên khởi động. Tông Pháp tướng cho Chân như là pháp vô vi không biến hóa, không tác dụng, chẳng vì huân tập mà sinh các pháp, tức là lí thường trụ bất biến, bình đẳng vô tướng. Nếu như theo duyên mà khởi động, thì trái ngược với điều kiện vô vi vô tác dụng, mà sẽ rơi vào pháp hữu vi sinh diệt đổi dời. Đó là Chân như quan của tông Pháp tướng, trái với thuyết Chân như duyên khởi của luận Khởi tín, kiến giải mỗi khác, bèn diễn thành sự khu biệt Tam thừa Nhất thừa.
chân như nhứt thực
Chân như là chân lý duy nhất—Bhutatathata the only reality, the one bhutatathata reality.
chân như nội huân
The internal perfuming or influence of the bhùtatathatà, or Buddha spirituality.
; Hương thơm từ bên trong hay ảnh hưởng của chân như (pháp tánh của chân như là sự cảm hóa từ bên trong trong. Chân như là tự tánh thanh tịnh tâm mà ai ai cũng đều có, là pháp thân của chư Phật. Pháp thân nầy có khả năng trừ bỏ vọng tâm ở bên trong. Còn bên ngoài thì nhờ hai báo thân và hóa thân của chư Phật để lại giúp đở huân tập. Nhờ đó mà chúng sanh dần dần phát tâm Bồ Đề, chán cõi thế tục và cầu thành Phật)—The internal perfuming or influence of the bhutatathata, or Buddha-spirituality.
Chân như pháp giới 眞如法界
[ja] シンニョホウカイ shinnyo hōkai ||| The dharma-realm of suchness. Since dharma-realm and suchness imply basically the same meaning, it is just a special way of talking about the nature of reality perceived by the buddhas. 〔二障義 HPC 1.810a〕 => Pháp giới của chân như. Vì pháp giới và chân như về cơ bản hàm ý như nhau, đó chỉ là một cách đặc biệt nói đến thể tính chân như mà chư Phật cảm nhận được.
chân như pháp thân
The absolute dharmakàya, or spiritual body, all embracing.
; 1) Bất Không Chân Như có đầy đủ pháp công đức vô lượng: Not-void, or phenomenal bhutatathata has limitless virtue. 2) Cái thể của pháp thân, chân thực như thường: The absolute as dharmakaya or spiritual body, all embracing.
; (真如法身) Pháp thân của Như lai lấy Chân như làm tự tính, cho nên gọi là Chân như pháp thân. Chân như là tính thực của hết thảy hiện tượng, siêu việt các tướng sai biệt - Pháp thân Như lai lấy đó làm tự tính, diệt trừ hết thảy phiền não chướng, đầy đủ hết thảy pháp lành, như như bất động. [X. kinh Hợp bộ Kim quang minh Q.1 phẩm Tam thân phân biệt - Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.14]. (xt. Chân Như).
chân như quán
(真如觀) Còn gọi là Quán chân như thiền, Chân như thực quán, Pháp thân chân như quán, Như quán, Chân như tam muội. Tức quán chân như vô tướng bình đẳng, tâm tưởng được tịch lặng, diệt trừ các phiền não. Kinh Nhập lăng già quyển 3 (Đại 16, 533 thượng), nói : Quán chân như thiền là gì? Nghĩa là quán xét nhân duyên hư dối phân biệt, biết hai thứ vô ngã một cách như thực, phân biệt hết thảy các pháp không có tướng thực thể. Lúc ấy không trụ nơi tâm phân biệt, được cảnh giới tịch lặng. Đại tuệ! Thế gọi là Quán chân như thiền. Nếu có thể quán xét các pháp chẳng có chẳng không mà đạt đến lí hết thảy pháp vô tướng bình đẳng, thì có thể phục diệt các phiền não mà hoàn thành Phật đạo. [X. luận Đại thừa khởi tín - Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối - Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.3].
chân như tam muội
The meditation in which all phenomena are eliminated and the bhùtatathatà or absolute is realized.
; Thiền định quán lý chân như vô tướng, trong đó mọi hiện tượng đều tận diệt và chân như hiển lộ—The true thusness samadhi—The meditation in which all phenomena are eliminated and the Bhutatathata or absolute is realized—See Nhứt Tướng Tam Muội.
; (真如三昧) Tam muội trụ nơi cảnh Chân như. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, ngài Khuê phong Tôn mật chia Thiền làm năm loại: Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền, Như lai thanh tịnh thiền. Trong đó, Như lai thanh tịnh thiền là Tối thượng thừa thiền. Ngài Tôn mật còn gọi đó là Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội, và bảo tam muội này là căn bản của hết thảy tam muội. Người vào tam muội này, có khả năng ngộ ngay tức khắc tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không có phiền não, vốn tự đầy đủ tính trí vô lậu, tâm ấy tức là Phật và cùng với Phật không khác. Tuy nhiên, các kinh luận khác nói về Nhất hạnh tam muội chưa coi nó là đồng với Chân như tam muội, tên Chân như tam muội là đối với cảnh mà đặt, còn tên Nhất hạnh tam muội thì từ nơi pháp thực hành mà đặt. (xt. Nhất Hạnh Tam Muội).
chân như thật nghĩa kiến
Yathàbhùtàrtha-sthànadarsanam (S). The view of the truth of the world.
chân như thật tướng
The essential characteristic or mark (laksana) of the bhùtatathatà, i.e. reality chân như is bhùtatathatà from the point of view of the void, attributeless absolute; thật tướng is bhùtatathatà from the point of view of phenomene.
; (真如實相) Chỉ sự chân thực của hết thảy vạn hữu. Chân như và thực tướng thể giống nhau, mà tên thì khác - đứng về phương diện diệu hữu củaGiả đế mà nói thì gọi Thực tướng - còn đứng về phương diện nhất như của Không đế mà nói thì gọi Chân như. Ngoài ra, Thực tướng cũng là tên gọi chung của ba đế Không,Giả, Trung, vì thế, danh từ Chân như thực tướng cũng thông cả ba đế Không, Giả, Trung. [X.Vãng sinh yếu tập Q.trung phần đầu]. (xt. Chân Như, Thực Tướng).
chân như thực nghĩa kiến
YathābhŪtārtha-sthānadarśanam (S).
chân như thực tướng
Chân như và thực tướng là đồng thể, nhưng tên gọi khác nhau. Đối với nghĩa nhất như của không đế thì gọi là chân như; còn đối với nghĩa diệu hữu của giả đế thì gọi là thực tướng—The essential characteristic or mark (laksana) of the Bhutatathata, i.e. reality. The bhutatathata from the point of view of the void, attributeless absolute; the real-nature is bhutatathata from the point of view of phenomena.
Chân như tính khởi 眞如性起
[ja] シンニョショウキ shinnyo shōki ||| The arising of all phenomena dependent upon or due to tathatā. => Sự sinh khởi của mọi hiện tượng tuỳ thuộc hoặc nương vào chân như.
chân như tùy duyên
The conditioned bhùtatathatà, i.e. as becoming; it accords with vô minh nhiễm duyên nconscious and tainting environment to produce all phenomene.
; Tùy duyên chân như là tùy theo nhiễm duyên vô minh mà sinh ra vọng pháp, hay chân như ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, tịnh hay bất tịnh, mà sanh ra vạn pháp—The conditioned Bhutatathata or relative condition—The Bhutatathata influenced by environment, or pure and impure conditions, produces all things—See Chân Như Duyên Khởi.
Chân như tướng 眞如相
[ja] シンニョソウ shinnyosō ||| The eighth of the 'ten dedications of merit' of the path of the bodhisattva. The stage where the bodhisattva, using the wisdom of the middle path, clarifies existence and non-existence, and sees that everything is the reality-realm. => Tướng thứ tám trong 'Thập hồi hướng' theo pháp tu của hàng Bồ-tát. Giai vị mà hàng Bồ-tát dùng trí huệ trung đạo để gạn lọc rõ ràng tính chất hữu vô của các pháp, và thấy các pháp đều là thực tại giới.
chân như tịch diệt tướng
(真如寂滅相) Chỉ Vô nhiễm tịnh chân như trong mười chân như. Nghĩa là thể của chân như lìa tất cả sự nhơ, sạch, không theo các duyên mà khởi động đổi dời, cho nên dùng tướng tịch diệt mà đặt tên.
chân như vô vi
(真如無爲) Là một trong sáu vô vi của tông Pháp tướng. Là lí thể chân thực như thường do quán xét Nhân, Pháp cả hai đều không mà hiển hiện. Cứ theo Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ quyển hạ chép, thì pháp tính xưa nay vốn thường vắng lặng, không biến động đổi dời, gọi là chân như. Loại chân như này tức chỉ cho chân tính Duy thức của tông Pháp tướng. (xt. Lục Vô Vi).
Chân như vô vi 眞如無爲
[ja] シンニョムイ shinnyomui ||| 'Suchness.' One of the six unconditioned existences (dharmas) in Consciousness-only theory. True reality is the real nature of all existences, yet zhenru 眞如 is called an 'unconditioned existence' due to the notion that even the awakened wisdom of the Buddha is in itself not really 'true reality', since the wisdom of enlightenment is classified as a conditioned existence. => Là một trong sáu loại chân như trình bày trong giáo lý Duy thức. Chân như là thể tính chân thực của mọi hiện tượng, nên chân như 眞如 được gọi là Vô vi do vì ý niệm ngay cả trí huệ giác ngộ của chư Phật tự nó vốn chẳng thực là 'chân như', do vậy, trí huệ giác ngộ được xem như là vô vi.
chân như đạo nhân
Chen ju Tao jen (C).
Chân như 眞如
[ja] シンニョ shinnyo ||| (tathatā); 'true thusness,' suchness. Things as they are. For something to be as it is. The establishment of reality as empty. 'Reality-nature', the nature of existence. Universally pervading principle. The existence of the mind as true reality. 'As-it-is-ness.'(tattva) The source of all existence. See also 七種眞如. (tathatā; e: true thusness, suchness). => Các pháp như chúng vốn là. Sự an lập của thực tại như là Tính không. 'Thể tính chân thực', bản tính của mọi hiện hữu. Chân tính như thật (tattva). Nguồn gốc của mọi hiện hữu. Xem Thất chủng chân như 七種眞如.
chân năng lập
(真能立) Tiếng dùng trong Nhân minh. Môn thứ nhất trong tám môn Nhân minh. Nói tắt là Năng lập. Đối lại với Tự năng lập . Trong phương thức biện luận Nhân minh, khi người lập luận (Lập) thành lập luận đề của mình một cách chính xác, đúng đắn, khiến đối phương (Địch) không thể tìm ra chỗ sơ hở, lầm lỗi nào, thì gọi là Chân năng lập. Phàm khi biện luận, thì Nhân (lí do), Dụ (thí dụ) đều phải chính xác, và nghĩa của Tông (mệnh đề) được thành lập cũng phải đầy đủ, khiến cho người nghe hiểu rõ, cho nên gọi là Năng lập. Có bốn điều kiện: 1. Ba dữ kiện trọng yếu là Tông, Nhân, Dụ đều phải đầy đủ, không được thiếu một dữ kiện nào. 2. Cả ba đều không phạm lỗi lầm. 3. Ba tướng của Nhân phải đầy đủ. 4. Không được phạm lỗi quyết định trái nhau. Tuy nhiên, về vấn đề Năng lập, sự phân loại của các học giả Nhân minh, mới cũng như cũ, đều có khác nhau. Trong Nhân minh đại sớ liệt kê tám năng lập (luận Du già sư địa, luận Hiển dương thánh giáo, luận Đối pháp), bốn năng lập (cổ Bà la môn), ba năng lập (Thế thân), hai năng lập (Thiền na) v.v... [X. luận Du già sư địa Q.15 - luận Hiển dương thánh giáo Q.11 - luận Nhân minh nhập chính lí - Nhân minh đại sớ Q.thượng phần đầu].
chân năng phá
(真能破) Tiếng dùng trong Nhân minh. Môn thứ hai trong tám môn Nhân minh. Nói tắt là Năng phá. Trong phương thức biện luận Nhân minh, người lập luận (Lập) và đối phương (Địch) dùng ba phần Tông, Nhân, Dụ tiến hành tranh luận, sau khi người lập luận đã trình bày luận điểm của mình rồi, nếu có lỗi thì đối phương bác bỏ ngay, hoặc đưa ra một lập luận khác để chứng minh mà bác bỏ, như thế gọi là Năng phá. Năng phá còn chia làm hai: 1. Đưa ra một luận thức chính xác khác để bác bỏ luận đề của đối phương, gọi là Lập lượng phá . 2. Nếu chỉ vạch ra những lỗi lầm của đối phương thôi, mà tự mình không đưa ra một lập luận khác, thì gọi là Hiển quá phá . Trong ba mươi ba lỗi Nhân minh, thì sáu lỗi như tỉ lượng tương vi, vi quyết, bốn tương vi v.v... có thể trái với lập lượng, cho nên thuộc về Lập lượng phá - còn hai mươi bảy lỗi kia thì thuộc về Hiển quá phá. Lại Chân năng phá là đối lại với Tự năng lập mà có, nếu không có Tự năng lập thì chẳng cần có Chân năng phá. [X. luận Nhân minh chính lí - Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ].
chân phong độ dược
(真風度籥) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thược, chỉ cái ống sáo thổi. Độ thược, là cái đồ dùng để đong lường đúc bằng kim loại. Trong tùng lâm, dùng Chân phong độ thược để thí dụ cái pháp khí mà thầy sử dụng để tiếp dẫn học trò. Thung dung lục tắc 86 (Đại 48, 283 thượng), nói: Chim non chín bao, ngựa non nghìn dặm - chân phong độ thược, máy thiêng bật then.
chân pháp
The real or absolute dharma without attributes, in contrast to phenomena which are regarded as momentary constructs.
; Chân pháp vô tướng, đối lại với hiện tượng được coi như những kiến lập tạm thời—The real or absolute dharma without attritbutes, in contrast to phenomena which are regarded as momentary constructs.
chân pháp cúng dường
(真法供養) Chỉ sự cúng dường được ghi chép trong kinh Pháp hoa phẩm Dược vương. Bồ tát Dược vương xưa kia, khi là Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến bồ tát, đã từng thiêu thân cúng dường Nhật nguyệt tịnh minh đức Như lai. Thời ấy, chư Phật đều tán thán là chân pháp cúng dường.
chân pháp giới
The region of reality apart from the temporal and unreal.
; Pháp giới của chân lý, dứt tuyệt hư vọng—The region of reality apart from the temporal and unreal.
; (真法界) Lí thể chân như của pháp giới dứt hết hư vọng, cho nên gọi là Chân pháp giới. Ngoài ra, Mật giáo lấy Chân pháp giới làm nguồn gốc của hết thảy các pháp, cũng tức là lí thể của chữ (a) vốn chẳng sinh, đồng thời, bảo nước trí của Như lai từ đó chảy tới thế gian, nhuần thấm các Đẳng trì, làm lợi ích thế gian. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.9 phần cuối].
chân phát minh tánh
Tinh thần chân đại giác hay giới luật của tâm trong việc phát triển tinh thần Phật tánh căn bản—The spirit of true enlightenment (the discipline of the mind for the development of the fundamental spiritual or Buddha-nature.
chân phật
The real Buddha, i.e. the sambhogakàya or reward body in contrast to the nirmànakàya, or manifested body; also the Dharmakàya Pháp thân.
; 1) Báo thân Phật, đối lại với hóa thân Phật: The sambhogakaya or reward body (the unreality of the ego or phenomena), in contrast with the nirmanakaya, or manifested body. 2) Pháp Thân Phật (vô tướng): The Dharmakaya. 3) Đức Phật tự nhiên chân thực nơi mình (Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Tâm ta tự có Phật.”): The real Buddha in self. 4) Bản tánh thanh tịnh nơi mình (Kinh Pháp Bảo Đàn: “Bản tánh tự nơi mình vốn thanh tịnh.”): The natural purity in self.
; (真佛) I- Chân Phật. Chỉ báo thân Phật - đối với Hóa thân Phật mà gọi là Chân Phật. Cũng chỉ Pháp thân không có tướng [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II- Chân Phật (1209-1258). Vị tăng thuộc Tịnh độ chân tông của Nhật bản. Họ Bình. Vốn là con của Chân bích quốc xuân, cai trị nước Hạ dã, sau nhường nước cho em, theo ngài Thân loan xuất gia. Năm Gia lộc thứ 2 (1226), sáng lập chùa Chuyên tu tại Cao điền, thờ ngài Thân loan làm Sơ tổ, và tự lãnh đời thứ hai. Tháng 3 năm Chính gia thứ 2, sư mặc áo sạch, chắp tay, quay về hướng tây, cất tiếng niệm Phật bốn mươi tám lần rồi tịch, hưởng dương năm mươi tuổi.
chân phật tử
A true Buddha son, i.e. one who has attained the first stage of bodhisattvahood.
; Theo Thiên Thai Biệt Giáo, chân Phật tử là Bồ Tát sơ địa (đã chứng đắc chân như ngã pháp nhị không)—According to the Diiferentiated Teaching of the T'ien-T'ai Sect, a true Buddha son is the one who has attained the first stage of bodhisattvahood, where he knows thoroughly the unreality of theego and phenomena.
chân phật đệ tử
(真佛弟子) Là đệ tử chân chính của đức Phật. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 10 chép, thì nếu người nào biết được hết thảy pháp do đức Phật nói, đều là hư vọng chẳng thực, lại có thể biết rõ thực tướng các pháp, tu hành Bát nhã ba la mật, gần với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thì gọi là Chân Phật tử. Luận Đại trí độ quyển 99 thì bảo, người có thể chứng được thực tướng của các pháp thì tức là Phật - những người tuy chứng được thực tướng của các pháp, nhưng có sai biệt, thì là Tu đà hoàn cho đến Bích chi phật và Đại bồ tát, được gọi là Chân Phật đệ tử. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
chân phật độ
(真佛土) Chân Phật và Chân độ nói gộp lại. Tông Tịnh độ bảo cõi Phật và thân Phật của cảnh giới mầu nhiệm mà đức Phật A di đà tự chứng, cũng tức là cõi Phật mà những người tin sâu và tu hành chân thực được vãng sinh sẽ thấy được. (xt. Chân Độ).
chân phổ hiền
A true P'u-Hsien or samanatabhadra, a living incarnation of P'u-Hsien.
chân phụ
(真父) Thế gian cho người cha thương yêu mình là chân phụ (người cha thực) - trong đạo thì đức Phật Thích ca mâu ni, bậc đại đạo sư trong ba cõi, được gọi là Chân phụ.
Chân quyết 眞訣
[ja] シンケツ shinketsu ||| The most profound meaning of true reality. => Nghĩa sâu mầu nhất của chân như.
chân quá
(真過) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cảnh giới đại triệt đại ngộ - người đạt đến cảnh giới ấy, tất đã vượt qua cảnh giới học và vô học, cho nên gọi là Chân quá. Bích nham lục tắc 44 (Đại 48, 180 hạ), nói: Còn học tập là nghe, dứt học là gần kề - người đã vượt qua cả hai, là Chân quá. (Hòa sơn thùy ngữ).
Chân quán 眞觀
[ja] シンカン shinkan ||| (1) Correct contemplation; true observation. 〔二障義HPC 1.792c〕(2) Observation of the truth; observation of the principle of reality. (3) The true eye. (śubha-locana) 〔觀音經T 262.9.58a〕 => 1. Sự quán sát đúng đắn; pháp quán chân thật. 2. Quán sát về chân lý; quán sát nguyên lý chân như. 3. Cái nhìn chân thật (s: śubha-locana).
chân run
Legs tremble.
chân sinh nhị môn
(真生二門) Pháp môn trong luận Đại thừa khởi tín. Tức là Tâm chân như môn và Tâm sinh diệt môn nói gộp lại. Cả hai môn đều hàm nhiếp trong tự tính thanh tịnh Như lai tạng. 1. Chân như môn, là lí thể của chân như pháp tính tuyệt đối bình đẳng, là nguyên nhân thứ nhất sinh khởi muôn pháp, lí thể ấy chẳng sinh chẳng diệt, không thêm không bớt, lìa tướng sai biệt, chân thực thường như. Nhưng phàm phu vì nặng vọng tình, nên không thấy lí thể bình đẳng, nếu trừ hết vọng tình, thì thể chân như tự hiện. Như người đau mắt thấy hoa đốm đầy trời, nhưng người mắt sáng chỉ thấy bầu trời xanh thẳm muôn dặm mà thôi. 2. Sinh diệt môn, nhất tâm của Như lai tạng theo duyên sinh diệt, khởi lên các tướng sai biệt, vì có tâm khởi động sinh diệt, nên gọi Sinh diệt môn. Chân như môn là thể của Như lai tạng, Sinh diệt môn là tướng của Như lai tạng. Tâm Như lai tạng vốn chẳng sinh chẳng diệt, sinh diệt hòa hợp, chẳng khác chẳng một, nhưng vì vọng duyên vô minh mà toàn thể khởi động, sinh ra các tướng sai biệt, đây chẳng phải ngoài tâm Như lai tạng còn có thể riêng biệt - cũng như nước biển, gió lặng thì sóng yên, gió sinh thì nuớc động, lặng động tuy khác, nhưng thể của nước chỉ là một.
chân sám hối
Real repentance—Serious repentance—Tội vốn không tướng, do bởi ảo tưởng lầm mê trong tâm mà gây ra. Khi tâm sạch, tội cũng hết. Khi cả tâm lẫn tội đều không, đó là chân sám hối—Sins are empty, but created by illusions and thoughts from a deluded mind. If the minds are purified, sins become vacant. When both minds and sins are empty, then, it's a real repentance.
Chân sư
真師|Ðạo sư
chân sắc
The mystic or subtle form of the bhùtatathtà, the form of the void.
; Dharmakaya (skt)—Diệu Sắc trong Như Lai Tạng, tức là cái diệu sắc chân không (theo Kinh Lăng nghiêm, trong Như Lai Tạng cái tính sắc tự nhiên thanh tịnh khắp trong pháp giới)—The mystic or subtle form of bhutatathata (chân như—absolute)—The form of the void or immaterial.
; (真色) Còn gọi là Tính sắc. Tức là diệu sắc của chân không. Y vào chân thiện diệu sắc, gọi là Pháp thân hữu tướng. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 117 hạ), nói: Trong Như lai tạng, tính sắc chân không, tính không chân sắc.
chân thiền
(真禪) Thiền thứ tư trong bốn Thiền định, ý nói Thiền chân thực. (xt. Tứ Thiền).
chân thiện diệu hữu
(真善妙有) Chỉ pháp chân không diệu hữu. Tức là pháp Giả đế trong ba đế do tông Thiên thai lập ra. (xt. Tam Đế).
chân thiện mỹ
The true, the good and the beautiful.
; The truth—The good—The beautiful.
chân thuyên
Những bài luận giải về chân lý—Commentaries or treatises on relaity.
; (真詮) Thuyên, ý là rõ ràng, sáng tỏ. Những câu văn mà chân lý được rõ ràng, sáng tỏ, thì gọi là chân thuyên. [X. Câu xá tụng sớ Q.1 - Tông kinh lục Q.26].
chân thuyết
Lời thuyết giảng hay giáo pháp của Đức Như Lai—True speech or teaching—The teaching or preaching of the Buddha.
; (真說) Sự nói pháp chân thực, cũng chỉ giáo pháp từ chính cửa miệng Như lai nói ra.
chân thành
Devout—Sincerity.
chân thành cầu đạo
To be faithfully wishing for the Dharma.
chân thân
Saṃvṛtikāya (S), Paramarthakāya (P).
; The true body; body of an enlightened man; own self.
; Dharmakaya (skt)—Thân chân thật của Phật—The true body—Buddha as absolute. ** For more information, please see Kim cang Thân and Nhị Thân.
; (真身) Pháp thân của chư Phật. Luận Đại trí độ quyển 30 (Đại 25, 278 thượng), nói: Phật thân có hai thứ, một là Chân thân, hai là Hóa thân. Chúng sinh mà thấy được chân thân của Phật thì không một nguyện gì không được thỏa mãn. Chân thân của Phật tràn khắp hư không, ánh sáng chiếu khắp mười phương, tiếng nói pháp cũng vang khắp mười phương vô lượng hằng sa thế giới, đại chúng trong các thế giới ấy đều cùng lắng nghe pháp và tiếng nói pháp của Phật không dứt. Chỉ trong khoảnh khắc, từ chỗ nghe mà được tỏ ngộ. (...) Các pháp do thân Pháp tính của Phật nói, trừ Bồ tát ngôi Thập trụ ra, các bậc Tam thừa không ai có thể hiểu được. Vì Bồ tát Thập trụ nhờ trí lực phương tiện chẳng thể nghĩ bàn mới có thể lắng nghe và ngộ được. Còn chúng sinh nào được thấy Pháp thân Phật thì phiền não ba độc tiêu tan, các nỗi khổ nóng lạnh đều diệt, không một nguyện vọng nào không được thỏa mãn. Luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Ngụy) quyển thượng (Đại 31, 97 thượng), nói: Có ba loại Phật thân, một là Chân thân, hai là Báo thân, ba là Ứng thân. Trong đây, Chân thân (thân Pháp tính) của luận Đại trí độ là nói về Báo thân, Chân thân của luận Nhiếp đại thừa là nói về Pháp thân. Lại trong Quán kinh sớ quyển 3, ngài Thiện đạo gọi phép quán Phật A di đà thứ chín được nói trong kinh Quán vô lượng thọ là Chân thân quán. [X. luận Thành thực Q.1 phẩm Cụ túc - Chư pháp vô tránh tam muội pháp môn Q.thượng - Đại thừa nghĩa chương Q.18 - Phật học khái luận (Lâm truyền phương) Bản luận hạ thiên đệ nhị chương đệ nhất tiết].
chân thân quán
(真身觀) Là một trong mười sáu phép quán được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Khi quán tưởng, lấy thân bình đẳng của Như lai tràn khắp pháp giới làm đối tượng, gọi là Chân thân quán. Kinh Quán vô lượng thọ bảo, nếu quán tưởng chân thân của đức Phật A di đà, thì có thể thấy hết thẩy chư Phật ở mười phương, cho nên phép quán tưởng này còn được gọi là Biến quán nhất thiết sắc thân tưởng. (xt. Thập Lục Quán).
chân thúc ca bảo
(甄叔迦寶) Chân thúc ca, Phạm : Kiôzuka, Pàli: Kiôsuka. Còn gọi là Khẩn chúc ca bảo, Kiên thúc ca bảo, dịch ý là vật báu màu đỏ. Là một loại đá quý. Giống như hoa của cây Chân thúc ca mà đẹp, và vì là màu đỏ cho nên gọi như thế. Di lặc thướng sinh kinh sớ của ngài Khuy cơ (Vạn tục 35, 292 hạ), nói: Chân thúc ca, dáng giống như ngọc lưu li đỏ. Lưu li có nhiều màu sắc, mà màu đỏ là quý nhất. Còn Pháp hoa kinh nghĩa sớ quyển 12 của ngài Cát tạng thì bảo vật báu này gọi là anh vũ, bởi vì màu đỏ của nó giống như màu của mỏ chim anh vũ. Đây e rằng do chim anh vũ tiếng Phạm là zuka và Chân thúc ca tiếng Phạm là Kiôzukamà có sự sai lầm lẫn lộn chăng. [X. kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp - Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ - Tuệ lâm âm nghĩa Q.16, Q.31, Q.32].
chân thúc ca thụ
(甄叔迦樹) Chân thúc ca, Phạm: Kiôzuka, dịch ý là hoa màu đỏ lợt. Cây thiêng liêng của Bà la môn giáo Ấn độ. Còn gọi là Khẩn thúc ca thụ, Kiên thúc ca thụ, Khẩn chúc ca thụ. Cây to lớn, thuộc họ đậu, tên khoa học: Butea frondosa. Sinh sản tại Ấn độ, từ núi Hy mã lạp nhã ở miền bắc đến Tư lí lan tạp (Tích lan) ở phía nam đều có sinh trưởng. Thân cây phần nhiều cao từ mười hai, mười ba mét trở lên, lá to hoa to, chất nước cốt của cây có thể chế thuốc nhuộm, hạt ép ra dầu có thể dùng làm thuốc sát trùng. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 11 chép, thì hoa màu đỏ lợt, hình giống như tay người, còn gọi là vô ưu thụ, A thúc ca thụ (Phạm: azoka). Tên khoa học là Joncsia asoka, thuộc họ đậu, nở hoa lớn màu hồng. Ngoài ra, trong các tên khoa học của cây Ca na ca (Phạm: Kanaka) cũng có một tên là Butea frondosa. Và cây Ba la xa cũng còn gọi là cây Ca na ca. Cho nên có thuyết bảo các cây nói trên đều là tên gọi khác của cây Chân thúc ca. Tuy nhiên, theo kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 9 nói, thì cây này khác giống với cây A thúc ca và cây Ba la xa. [X. kinh Tạp a hàm Q.43 - kinh Đại bảo tích Q.1 - Đại ban niết bàn kinh sớ Q.1 - Huyền ứng âm nghĩa Q.7 - Chỉ quật dịch thổ tập Q.9]. (xt. Ba La Xa Thụ).
chân thường
True and eternal; the eternal reality of Buddha-truth.
; Pháp chân thực thường trụ mà Đức Như Lai sở đắc—True and eternal; the eternal reality of Buddha-truth.
; (真常) I. Chân thường là pháp chân thực thuờng trụ Như lai chứng được. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 121 trung), nói: Thế tôn đã diệt sạch hết thảy các vọng, chỉ còn lại diệu chân thường. II. Chân thường chỉ cảnh Niết bàn chân không thường tịch của Như lai.
chân thường lưu chú
(真常流注) Lưu chú, hàm ý dừng ở, bám chặt, có nghĩa dừng ở, bám chặt lấy cảnh đệ nhất nghĩa chân không thường tịch, đây là cái bệnh của pháp tính. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 Linh vân Chí cần chương (Đại 51, 285 trung) Hỏi: ‘Khi đạt đến thuần thanh tịnh dứt điểm thì thế nào?’ Sư nói: ‘Cũng như chân thường lưu chú vậy’.
Chân thường 眞常
[ja] シンジョウ shinjō ||| Real and eternal; a description of the state of nirvana. 〔大乘廣百論釋論 1571.30.235b5〕 => Chân thật và thường hằng; biểu hiện của niết-bàn.
chân thạnh
Shinzei (S)Chân Tế800 - 860, khai tổ Thiên Thai tông Nhật bản.
chân thật
Sacca (P), Satya (S), Tatta (P), Tattva (S), Truth, Reality
; Tattva (S). Truth, reality; true, real; real nature.
; The real—Honest—Frank—Sincere.
; (真實) I. Chân thực. Tiếng dùng về mặt chia loại các giáo pháp. Đối lại với Phương tiện quyền giả. Thiên thai phán giáo, lấy ba giáo Tạng, Thông, Biệt làm giáo phương tiện và lấy Viên giáo làm giáo chân thực. II. Chân thực. Dùng về mặt thực tu, đối lại với Hư dả chẳng thực. Thân khẩu mỗi khác, nói nghĩ không thực, gọi là hư dả. Nếu trong ngoài như một, không có hư dối thì gọi là chân thực
chân thật báo độ
(真實報土) Còn gọi Thực báo độ. Đồng với Thực dụng độ. Chỉ cõi nước trong đó Báo thân Phật cư trụ, tức cõi Tịnh độ do các hành nguyện tu nhân ở quá khứ của Phật báo đáp lại. Cõi báo chân thực này là do nơi hành nghiệp vô lậu ở giai vị tu nhân huân phát mà hiển hiện ra cõi nước vô lượng trang nghiêm thanh tịnh. Ngoài ra, Tịnh độ chân tông Nhật bản nói, cõi nước mà những người có lòng tin chân thực niệm Phật được sinh đến, gọi là Chân thực báo độ. [X. Pháp hoa kinh luận - Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.13 - Đại thừa nghĩa chương Q.19].
chân thật cứu kính giải thoát
The true end of salvation.
chân thật hạnh
Xem thập hạnh.
Chân thật hạnh 眞實行
[ja] シンジツギョウ shinjitsugyō ||| 'Practicing reality' 'attaining to the true principle.' The tenth of the 'ten practices' 十行 stages in the path of bodhisattvahood. => 'Hạnh chân như', 'đạt được nguyên lý chân thật'. Giai vị thứ mười trong Thập hạnh của Bồ-tát đạo.
Chân thật kinh 眞實經
[ja] シンジツキョウ Shinjitsukyō ||| The Zhenshi jing; see Zhufo jingjie shezhenshi jing 諸佛境界攝眞實經 => (c: Zhenshi jing); Xem Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thật kinh (c: Zhufo jingjie shezhenshi jing 諸佛境界攝眞實經).
chân thật lí môn
(真實理門) Là một trong hai môn do tông Pháp tướng thành lập. Y theo bản ý của Phật và Bồ tát mà nói giáo pháp chân thực, gọi là chân thực (lí) môn - nếu tùy theo trình độ của những đối tượng giáo hoá mà nói giáo pháp phương tiện, thì gọi là tùy chuyển (lí) môn. Hai môn trên đây hơi giống với tùy tự ý và tùy tha ý . CHÂN THỰC MINH Là một trong ba mươi bảy hiệu của đức Phật A di đà. Chân thực, có nghĩa là phù hợp vớilí như thực. Minh tức là trí tuệ sáng láng. Dứt vô minh, phát trí tuệ như lí là chân thực minh, minh này tức là trí Phật, biểu trưng đức bát nhã trong ba đức, ở đây được dùng làm biệt hiệu của Phật Adiđà. Trong Hòa tán quan hải thiên, ngài Tăngduệ bảo: tuệ minh chân thực chẳng điên đảo, chẳng hư dối - chẳng điên đảo thì khế hợp với pháp tính tự chứng, chẳng hư dối thì nhiếp thụ chúng sinh mà không lầm. Đó tức là hai trí quyền, thực của Phật Adiđà, cũng là hai trí chân thực tự chứng và hoá tha.
chân thật minh
The Truth-wisdom, or Buddha illumination, i.e. prajna.
Chân thật nghĩa
xem Đệ nhất nghĩa.
chân thật nghĩa
Meaning of absolute truth.
; (真實義) Nghĩa chân thực của các pháp có bốn thứ: 1. Thế lưu bố chân thực nghĩa, nghĩa là chúng sinh thấy đất thì bảo là đất, thấy lửa thì bảo là lửa, chưa từng bao giờ bảo nước là lửa. Phàm các pháp thế gian như vậy tuy là mượn danh lập tướng, nhưng đều được nhận và gọi giống nhau, đó là Thế lưu bố chân thực nghĩa (nghĩa chân thực phổ thông ở thế gian). 2. Phương tiện lưu bố chân thực nghĩa, nghĩa là ở đời, những người có trí, trước dùng tâm ý suy xét, trù tính, rồi tùy nghi phương tiện, viết ra những kinh sách luận nghị để hướng dẫn người đời, đó là phương tiện lưu bố chân thực nghĩa. 3. Tịnh phiền não chướng chân thực nghĩa, nghĩa là các bậc Thanh văn, Duyên giác dùng đạo vô lậu phá tan các phiền não, được trí vô ngại, đó là tịnh phiền não chướng chân thực nghĩa. 4. Tịnh trí tuệ chướng chân thực nghĩa, nghĩa là Thanh văn, Duyên giác tuy đã được trí vô ngại, nhưng vẫn chưa có thể hiển rõ lí trung đaọ, cho nên gọi là trí tuệ chướng - Phật và Bồ tát đoạn được chướng ấy, lí trung đạo tự nhiên hiển hiện, đó là tịnh trí tuệ chướng chân thực nghĩa. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.2].
Chân thật nghĩa ngu 眞實義愚
[ja] シンジツギグ shinjitsugigu ||| Same as 眞實愚. 〔對法論T 1606.31.728c9〕 => Như Chân thật ngu 眞實愚.
Chân thật nghĩa 眞實義
[ja] シンジツギ shinjitsugi ||| (1) True meaning, real meaning (artha). (2) Truth, reality (tattva, yathā-artha). => 1. Nghĩa chân thật, nghĩa thực tế (artha). 2. Chân lý, thực tế (s: tattva, yathā-artha).
Chân thật ngu 眞實愚
[ja] シンジツグ shinjitsugu ||| Folly regarding reality. To be unclear in regard to a true principle, such as the Four Noble Truths. Same as 眞實義愚〔瑜伽論T 1579.30.322c〕 => Ngu muội khi nhìn về thực tế. Không sáng suốt nhận ra đạo lý chân thật, như Tứ diệu đế. Đồng nghĩa với Chân thật nghĩa ngu眞實義愚.
Chân thật ngôn 眞實言
[ja] シンジツゴン shinjitsugon ||| True speech; to speak the truth (sacca-vāda). => Lời nói chân thật; nói lời chân thật (sacca-vāda).
Chân thật ngữ 眞實語
[ja] シンジツゴ shinjitsugo ||| True words; the words of the Buddha. => Lời nói chân thật; lời nói của chư Phật.
chân thật nhân thể
(真實人體) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi là Chân thực thể. Ở tất cả các nơi, trong tất cả thời gian, đều có thể hiện rõ bản lai diện mục của chính mình một cách toàn nhiên, đây có nghĩa là Phật pháp hiển bày, không ẩn dấu. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 21 An quốc tuệ cầu chương (Đại 51, 372 hạ) nói: Sư hỏi viện chủ Liễu: ‘Cứ như các bậc thầy trước đã nói, khắp mười phương thế giới là chân thực nhân thể, vậy ông đã thấy nhà tăng chưa?’. CHÂN THỰC TÁC Ý Là tính chất của pháp quán trong Mật giáo. Đối lại với Thắng giải tác ý. Trong pháp quán của Mật giáo, lấy các vật thực như Tất đàm, tôn tượng làm đối tượng, gọi là Chân thực tác ý. Phép quán này còn có thể chia làm Tự tướng tác ý và Cộng tướng tác ý. Tự tướng tác ý là quán tưởng tính cá biệt của vật được quán tưởng - Cộng tướng tác ý thì quán tưởng cái pháp lý cộng thông của vật ấy. Trong phép quán của Hiển giáo, đối tượng đuợc quán không cứ phải hạn ở các vật thực như trong bảy mươi lăm pháp của Câu xá, tâm sở tác ý trong đại địa pháp, có nói ba loại tác ý: tự tướng, cộng tướng và thắng giải. CHÂN THỰC TÂM Lòng thành thật không dối trá. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa (Thiện đạo) chí thành tâm thích quyển 4 (Đại 37, 270 hạ) nói: Chí là chân, thành là thực. Nếu hết thảy chúng sinh muốn tu hành ba nghiệp thân khẩu ý, thì phải tu chân thực ngay từ trong tâm, chứ đừng hiện tướng hiền thiện tinh tiến bề ngoài, mà trong lòng thì giả dối (...) Khi đức Phật A di đà còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị - cho dù chỉ trong một niệm, một sát na cũng đủ đem lòng chân thực mà tu hành ba nghiệp. Bất cứ làm việc gì cũng đều chân thực. Chân thực có hai thứ: tự lợi chân thực, lợi tha chân thực. Hiển tịnh độ chân thực tín văn loại cũng nói, hết thảy chúng sinh từ vô thủy đến nay, nhơ nhớp bẩn thỉu không tâm trong sạch, giả dối quỉ quyệt không tâm chân thực, cho nên, Như lai vì thương xót hết thảy chúng sinh khổ não, trong các số kiếp không thể nghĩ bàn, khi tu hạnh Bồ tát, tu hành ba nghiệp cho dù chỉ một niệm, một sát na, không lúc nào không trong sạch, không lúc nào không chân thực. Như Lai nhờ tâm chân thực thanh tịnh, thành tựu chí đức viên dung vô ngại, chẳng thể nghĩ bàn, không thể tính đếm, không thể nói được vì Như lai chí tâm hồi thí cho hết thảy chúng sinh phiền não ác nghiệp tà trí, để hiển bày chân tâm lợi tha, cho nên tâm nghi ngờ không xen lẫn được [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5 phẩm Phương tiện xứ giới - Vãng sinh lễ tán kệ - Vãng sinh yếu tập. Trung phần đầu - Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
chân thật như lai
Mùlatathàgata (S). Real Tathàgata.
Chân thật pháp 眞實法
[ja] シンジツホウ shinjitsuhō ||| Real dharma; true teaching. 〔法華經 T 262.9.26c9〕 => Giáo pháp chân thật, giáo lý đúng đắn.
chân thật thân
(真實身) Một trong ba thân của Phật, đối lại với ứng thân, hóa thân. Chỉ chân thân của Phật, tức là báo thân, pháp thân hoặc gọi chung Báo thân, Pháp thân. (xt. Chân Thân).
chân thật trí
Tattvajnàna (S). Knowledge of absolute truth.
chân thật tâm
Xem Nhục đoàn tâm.
Chân thật tâm 眞實心
[ja] シンジツシン shinjitsushin ||| A true mind, or true heart, especially as possessed by the buddhas and bodhisattvas. => Chân tâm, tấm lòng chân thật, đặc biệt của chư Phật và Bồ-tát.
chân thật tướng
The absolute true appearance of all things.
Chân thật tướng 眞實相
[ja] シンジッソウ shinjissō ||| (1) True, authentic marks. 〔法華經 T 262.9.31c17〕(2) The marks of reality. The reality-nature--same as 圓成實相性. => 1. Tướng đích thực, chân xác. 2. Tướng chân như. Tính chân như–đồng nghĩa với Viên thành thật tướng tính 圓成實相性.
chân thật tế
The region of reality.
Chân thật tự 眞寂寺
[ja] シンジャクジ Shinjakuji ||| Zhenji si; residence of Xinxing 信行, founder of the Sanjie 三階教 無盡藏, their charitable lending organization; the name of the temple was later changed to Huadu si 化度寺. => (c: Zhenji si); Trú xứ của ngài Tín Hành (c: Xinxing 信行), người sáng lập Tam giai giáo Vô tận tạng (c: Sanjie 三階教 無盡藏), ngài đã đem lòng nhân từ tận lực cho tổ chức nầy; ngôi chùa về sau đổi thành Hoá Độ tự (Huadu si 化度寺)
chân thật vi diệu pháp
Real, exquisite Dharma.
Chân thật 眞實
[ja] シンジツ shinjitsu ||| (uttama-artha, tathātva, tattva). (1) The form of something, the way it is. (2) True and not false. (3) Substantial, full, complete. (4) Substance, essence. (5) The most lofty truth. (6) The true or real teachings. (7) The (four) noble truths 諦. 〔二障義 HPC 1.800c14〕 => (s: uttama-artha, tathātva, tattva) 1. Hình thái của một vật, cách thức vật thể hiện hữu. 2. Chân thật, không hư dối. 3. Có thực chất, trọn vẹn, hoàn toàn. 4. Thực chất, bản chất. 5. Chân lý cao thượng nhất. 6. Giáo pháp thực tế và đúng đắn. 7. (Bốn) Sự thật cao quý. (Đế 諦).
chân thức
Buddha-wisdom; the original, unadulterated, or innocent mind in all, which is independant of birth and death. Real knowledge free from illusion.
; 1) Chân Thức hay trí huệ Phật, tâm vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử, là một trong ba thức được nói đến trong Kinh Lăng Già: Buddha-wisdom, innocent mind in all which is independent of birth and death, one of the three states of minf or consciousness mentioned in the Lankavatara Sutra. 2) Theo Khởi Tín Luận, chân thức là tâm thức lìa bỏ vọng niệm, là tịnh tâm hay thức thứ sáu (ý thức): According to the Awakening of Faith, the real knowledge is a knowledge which is free from illusion, the sixth vijnana—See Bát Thức (6).
chân thừa
The true vehicle, i.e. the true teaching or doctrine.
; Chân Ngôn Thừa—The true vehicle—The true teaching or doctrine—Mantra Vehicle.
; (真乘) Thừa, dùng thuyền bè, xe cộ thí dụ như công cụ để vượt qua biển sống chết, đường khổ đau mà đến bờ bên kia, cho nên danh từ chân thừa tức chỉ cho giáo pháp chân thực. Các tông phái trong Phật giáo đều tự cho tông chỉ của phái mình là pháp yếu chân thực không sai. Chẳng hạn Thiền tông thì bảo Thiền là diệu pháp đích truyền của Phật tổ. Mật giáo thì nói chân ngôn mật thừa là thừa chân thực trong tất cả pháp. [X. Bí tạng bảo thược Q.thượng].
chân thực
Tattva (skt). • Chân tính và thành thực (lìa bỏ mê tình, dứt hết hư vọng)—Truth—Reality—True—Real. • Điều gì thực sự xãy ra: What has actually been or happened. • Sự kiện: Fact. • Sự việc thực tế: Matter of fact. • Sự việc xãy ra: An actual occurrence. • Thực tại: Reality. • Trạng thái có thật của sự kiện hay trường hợp: The real state of a case or circumstance.
chân thực lý môn
Tùy theo bản ý của chư Phật và chư Bồ Tát mà làm sáng tỏ thực nghĩa—Teaching of the truth revealed by the Buddhas and Bodhisatvas. ** For more information, please see Tùy Chuyển Lý Môn.
chân thực minh
Sự chiếu sáng của Phật trí hay Bát Nhã—The Truth-wisdom, or Buddha-illumination, i.e. prajna.
chân thực như lai
MŪlatathāgata (S).
chân thực trí
Tattvajnana (skt)—Trí hiểu biết về chân lý tuyệt đối, đối lại với phương tiện trí—Knowledge of absolute truth, which is contrasted to knowledge of means (wisdom or knowledge that uses skillful means to save others) or Upayajnana—See Phương Tiện Trí.
chân thực tế
Chân như—The region of reality, the bhutatathata.
chân tri
Tattva-jna (skt)—Biết bản thể chân thực hay biết hoàn toàn—To know the true nature or to know thoroughly.
; (真知) Cái biết của chân trí, Thích thi kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 383 hạ), nói: Biết thực không biết, vì cái nhất tâm ‘biết và lặng chẳng phải hai’ phù hợp với trung đạo ‘không và có đều mất’.
chân trung chân
(真中真) Chỉ giáo chân thực đặc biệt trong giáo chân thực, là lời tán thán Viên giáo của tông Thiên thai so với ba giáo Tạng, Thông, Biệt. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, 5 (Đại 46, 177 thượng), nói: Chân trong chân, là đứng về phương diện chân đế và tục đế mà phán. So với Tạng giáo, thì Thông giáo là chân trong tục, hai giáo cũng đều gọi là tục - Biệt giáo phá tục, cũng là chân trong tục - Viên giáo tức tục, gọi là chân trong chân. Tịnh độ chân tông Nhật bản thì dùng chân trung chân để tán thán giáo nghĩa Nhất thừa hoằng nguyện, tức đối lại với tự lực niệm Phật mà gọi tha lực niệm Phật là chân trong chân, hoặc đối lại với Thánh đạo môn mà gọi Tịnh độ niệm Phật là chân trung chân.
chân truyền
Genuine, authentic, orthodox.
; Orthodox.
chân trí
Xem Căn bản trí.
; Wisdom or knowledge of ultimate truth or the absolute.
; Tattva-jnana or Viveka (skt)—True knowledge—Intuitive wisdom—Knowledge of truth. 1) Trí chân thật: Trí Bát Nhã—Wisdom or Knowledge of absolute (ultimate) truth. 2) Vô Trí: Knowledge of the no-thing, i.e. of the immaterial or absolute. 3) Thánh Trí: Trí duyên theo chân như thực tướng—Sage wisdom, or wisdom of the sage. 4) Chân trí là trí thấy sự vật như thực—Intuitive wisdom means knowledge of things as they are. 5) Trí hiểu biết về chân lý tuyệt đối, ngược lại với phương tiện trí. Chân trí có khả năng phân tích và phân loại vạn pháp theo thực tính của chúng: Knowledge of absolute truth which is contrasted to skilful knowledge. True knowledge has the ability to analyze and classify things according to their real properties.
; (真智) Cũng gọi là thánh trí. Trí duyên theo chân như thực tướng, gọi là Chân trí. Vì cái mà nó duyên theo là cái duyên vô duyên, cho nên cũng gọi là vô trí.
Chân trí 眞智
[ja] シンチ shinchi ||| True wisdom, which is based on an awareness of the emptiness of all things. As contrasted with "worldly wisdom" shisuzhi 世俗智. 〔莊嚴經論、T 1604.31.653c〕 => Trí huệ chân thật, căn cứ trên giác ngộ về Tính không của các pháp. Ngược lại là Thế tục trí (c: shisuzhi 世俗智).
chân trạng
True aspect.
chân tu
Genuine religious; holy man.
; Devout person—True cultivation (Practice).
chân tu duyên tu
(真修緣修) Không nhờ sự chú ý, cứ tự nhiên nhậm vận tương ứng với lý thể mà tu, gọi là Chân tu - nương vào lý chân như mà phát khởi sự tu có tâm, có ý thì gọi là Duyên tu. Duyên tu có thể được xem như phương tiện của chân tu. Từ ngữ này vốn do các sư Địa luận sử dụng. Đại sư Trí khải tông Thiên thai cho diệt trừ chân vọng, phá chín cõi, hiển bày cõi Phật là duyên tu, còn dung chân vọng, dứt pháp hiển là chân tu. Lại hai trí không, giả là duyên tu, trí quán trung đạo là chân tu. Đứng về phương diện bốn giáo hóa pháp của tông Thiên thai mà nói, thì ngài Trí khải cho hai giáo Thông, Biệt là Duyên tu, Viên giáo là chân tu. Nghĩa là từ Sơ địa của Biệt giáo trở về trước, từ Sơ trụ của Viên giáo là Duyên tu - từ Sơ địa của Biệt giáo, từ Sơ trụ của Viên giáo trở lên là chân tu. Lại y vào Viên giáo mà tạm lập Chân tu, Duyên tu, từ Sơ trụ trở lên (phần chứng tức) Chân tu. Như Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tôn sao quyển 2 ( Đại 37, 203 trung), nói: Phần chứng tức, tức tâm quán Phật, mượn cảnh hiển tình, tuy được tương tự, nhưng còn thuộc duyên tu - nay thì thân chứng, thuộc về chân tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.6 phần dưới - Pháp hoa văn cú Q.4 phần trên - Pháp hoa huyền nghĩa Q.3 phần dưới].
chân tài
Real talent.
chân tánh
Original nature Xem Phật tánh.
; Tatbhava, Bhutabhava, or Vastu (skt). • Thể tánh chân thật: True nature or true being. • Chân như Phật tính hay tâm thể thanh tịnh trong sáng nơi mỗi người (không hư vọng là chân, không biến đổi là tính)—The true nature; the fundamental nature of each individual, i.e. the Budha-nature.
chân tánh của các pháp
Suchness of all dharmas.
chân tánh sự vật
Vastu-dharma (skt)—The true nature of things.
chân tánh yếu tập nạn ngữ thích
Tattva-saṃgraha-Panjika (S)Tên một bộ luận kinh.
chân tánh yếu tập tụng
Tattva-saṃgraha-kārikā (S)Nhiếp Chân thật luậnTên một bộ luận kinh. Có 3646 bài tụng.
chân tâm
True hearted; sincere; in the true character or disposition of man; true to one's nature.
; (真心) Chỉ tâm chân thực, hoặc lí bản tính của tâm. Tịnh độ chân tông Nhật bản gọi là Tín tâm tha lực. Trái lại, vọng tâm là tâm phân biệt sai lầm, tâm hư dối, tâm hư vọng điên đảo mà phàm phu phát động hàng ngày trong các sinh hoạt hiện thực.
chân tâm (như lai tạng tâm)
Chân tâm là một trạng thái thật bao hàm cả hữu vi lẫn vô vi—True mind—True nature—The original, simple, pure, natural mind of all creatures—The Buddha-mind (tâm Phật)—The mind of the Buddha—Buddha nature (Phật tánh)—Womb of the Tathagata (Như Lai tạng)—Dharma realm (pháp giới)—Dharma nature (pháp tánh)—True mark (Thật tướng)—Nirvana (Niết bàn)—Dharma body (Pháp thân)—True mind (chơn tâm)—Alaya consciousness of the Tathagata (A Lại Da thức)—Prajan (Bát nhã)—Original face (Bản lai diện mục)—Self-nature (tự tánh)—True nature (bản tánh)—True emptiness (chân không)—Chân tâm là một thực thể chung gồm hai phần hữu vi và vô vi. Tất cả những danh từ vừa kể trên đều có nghĩa là “Chân Tâm.”—True mind is a common true state encompassing both the conditioned and the unconditioned. All of the above expressions refer to that “True nature.”
chân tâm quán
(真心觀) Phép quán của tông Thiên thai. Trong tông Thiên thai, khi quán Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên, thì lấy tâm làm đối tượng để quán xét và thông thường chia làm Chân tâm quán và Vọng tâm quán. Chân tâm quán do các sư Nguyên thanh, Hồng mẫn, Khánh chiêu của phái Sơn ngoại, và những người dị giải của phái Sơn gia, như Tông dục, thuộc tông Thiên thai thời Triệu Tống, đề xướng. Họ được gọi là Chân tâm gia, chủ trương tâm là bản thể của hết thảy sự vật, là tâm của lí chân như. Vọng tâm quán, do sư Tri lễ của phái Sơn gia tông Thiên thai đề xướng, gọi là Vọng tâm gia, chủ trương tâm vô kí là tác dụng hằng ngày của thức thứ sáu trong phàm phu. Hai thuyết trên căn cứ vào thuyết của các ngài Trí khải và Trạm nhiên mà thành lập. Trong hai thuyết, thuyết quán chân tâm, đối với người mới tu quán mà nói, rất khó mà đạt được. Hơn nữa, Chân tâm quán lại rất gần với thuyết Duy tâm duyên khởi của tông Hoa nghiêm, cho nên, đại đa số các nhà Thiên thai xưa nay không nhận là thuyết Chân tâm là chính thống. Tuy nhiên, tông Thiên thai Nhật bản thì cho cả hai pháp quán Chân tâm và Vọng tâm đều quan trọng, đều có thể tu song song.
chân tâm rộng lớn
Broad and spacious true mind.
chân tâm sáng chói và tỏa khắp
The true mind is all-extensive and all-illuminating.
Chân tâm trực thuyết 眞心直説
[ja] シンシンジキセツ Shinshin jikisetsu ||| Chinsim chiksŏl (Straight Talk on the True Mind). by Chinul 知訥; HPC 4.715a-723c. This work is divided into fifteen topical sections, each of which treats the relationship between the true mind and its various phenomenal manifestations in terms of essence-function. => (k: Chinsim chiksŏl; e: Straight Talk on the True Mind). Tác phẩm của Trí Nột (k: Chinul 知訥); Tác phẩm nầy chia làm 15 chương, mỗi chương có đề tài đề cập đến mối tương quan giữa tâm và các hiện tượng biểu hiện theo thể-dụng.
chân tâm vi diệu sáng chói
The wonderful, bright true mind.
chân tình
Sincere sentiment.
chân tính
The true nature; the fundamental of each individual, i.e. the Buddha-nature.
; See Chân Tánh.
; (真性) Bản tính chân thực không hư không biến. Là tâm thể mà người ta ai ai cũng có sẵn. Phật giáo cho rằng, chân tính của chúng sinh và chân tính của Phật, Bồ tát, vốn không phải hai, không phải khác. [X. kinh Lăng nghiêm Q.1].
chân tính kệ
(真性偈) Thơ nói về tâm tính do tổ Bồ đề đạt ma làm. Chẳng hạn như bài thơ (Đại 48, 373 trung): Thân rất mực tròn sáng, chiếu rọi suốt lí không - theo tình tính lìa chân, trước sau cực diệu thường. [X. luận Thiếu thất lục môn ngộ tính].
chân tính nhị thân
Pháp thân và Hóa thân—The Dharmakaya and Nirmanakaya. ** For more information, please see Nhị Thân.
chân tính yếu tập
(真性要集) Phạm: Tattva-saôgraha. Còn gọi là Chân tính yếu tập tụng (Phạm: Tattvasaôgraha-kàrikà), Nhiếp chân thực luận. Do ngài Tịch hộ của Ấn độ soạn. Tác giả liệt kê, phân loại các phái triết học Ấn độ và các phái Phật giáo khác, rồi phê phán và nêu tỏ thuyết của tông mình. Chia làm hai mươi sáu phẩm, ba nghìn sáu trăm bốn mươi sáu tụng, là bộ luận theo thể tài kệ tụng của Phật giáo Đại thừa thuộc thời kỳ sau ở Ấn độ. Tác giả sách này chưa cho thấy mình thuộc học phái nào. Tây tạng thì cho là ngài thuộc Du già sư Trung quán Ý tự khởi phái (Phạm: Yogàcàrya-màdhyamikasvàtantrikà) một chi trong phái Trung quán, xem ý bàn trong sách thì đại khái có vẻ phù hợp. Trong sách phần nhiều bàn về các luận sư của các phái khác như Cam ba lạp a tu ngõa đạt lạp (Phạm: Kambalàzvatara) của phái Thuận thế, Ngõa đặc sa á na (Phạm: Vàtsàyana) của phái Chính lý v.v... trong sáu phái triết học và nhà Tu từ học đương thời là Phạ mã cáp (Phạm: Bhàmaha), các nhà học giả Phật giáo như Thế hữu, Pháp cứu, Chúng hiền, Thế thân, Trần na v.v..., theo đó đủ biết tính trọng yếu về mặt nghiên cứu của bộ sách. Bộ chú sớ quan trọng nhất của sách này là bộ Chân tính yếu tập nan ngữ thích (Phạm: Tattvasaôgraha-paĩjikà) do học trò của ngài Tịch hộ là Liên hoa giới (Phạm: Kamalazìla) soạn. Nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng với chú sớ (Nan ngữ thích) hiện nay đều còn.
chân tông
Chen-Tsung (C)Một hoàng đế nhà Hán (968-1022).
; True sect. 1) Điều mà các tín đồ dùng để gọi tông mà mình tôn theo: The true sect or teaching, a term applied by each sect to its own teaching. 2) Tông chỉ làm sáng tỏ cái thực lý của chân như pháp tướng: The teaching which makes clear the truth of the butatathata. 3) Chân Tông hay Tịnh Độ Tông của ngài Chân Loan sáng lập tại Nhật Bản vào năm 1224—The True Sect, or Shin Sect of Japan, founded by Shinran in 1224 A.D., known as the Hongwanji sect. a) Không đòi hỏi Tăng Ni sống độc thân: Celibacy of priests is not required. b) Phật A Di Đà là vị Tôn Chủ của tông phái: Amida is the especial object of trust. c) Cõi Tịnh Độ của Ngài là cõi nguyện vãng sanh của tín đồ: The followers hope or wish to be reborn in his Pure Land.
; (真宗) I. Chân tông. Có nghĩa là tông chỉ của đạo lý chân thực. Đối lại với Nho giáo, gọi Phật giáo là chân tông, còn các tông cũng đều tự gọi tông mình là chân tông. Ngoài ra theo sự phán giáo mà phân biệt thì có các thuyết sau đây: 1. Là một trong bốn tông do sư Đàm ẩn chùa Đại diễn đời Bắc Tề lập ra. Sư Đàm ẩn bảo kinh Niết bàn, kinh Hoa nghiêm là giáo pháp giảng nói về tính Phật, về lí của pháp giới, cho nên gọi là Chân tông. 2. Là một trong năm tông do sư Tự quĩ chùa Hộ thân đời Tề lập ra. Tức chỉ giáo pháp trong kinh Niết bàn giảng nói về tính Phật thường trụ 3. Là một trong sáu tông do sư An lẫm chùa Kì xà đời Nam triều Trần lập ra. Chỉ kinh Bát nhã giảng nói về lý chân không của các pháp. 4. Chỉ tông nêu rõ thực lí chân như pháp tướng. Đồng nghĩa với danh từ Tính tông như Biệt giáo của tông Thiên thai, Chung giáo của tông Hoa nghiêm trở lên đều thuộc tông này. II. Chân tông. Chỉ giáo thuyết nhờ vào sức bản nguyện của Phật A di đà mà mong có ngày được vãng sinh thành Phật, đây tức là Chân tông của Nhật bản. Còn gọi Tịnh độ Chân tông, là một trong mười ba tông tại Nhật bản. Tổ mở tông là ngài Thân loan (1173 - 1262) lấy một lòng hướng qui mệnh niệm Phật A di đà làm giáo chỉ, cho nên còn gọi là Nhất hướng tông. Lại lấy Vô ngại quang Như lai khắp mười phương làm tôn vị chính, sung sướng được ánh sáng của ngài nhiếp thụ cho nên cũng gọi là Vô ngại quang tông. Tông này lấy ba bộ kinh: Vô lưọng thọ, Quán vô lượng thọ và A di đà làm kinh điển chủ yếu, kế thừa bảy vị tổ của ba nước, tức là các ngài Long thụ, Thế thân của Ấn độ, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo của Trung quốc và Nguyên tín, Nguyên không của Nhật bản. Trong bảy vị tổ, đặc biệt lấy luận Tịnh độ của ngài Thế thân làm luận chính yếu. Tổ Thân loan thờ ngài Nguyên không làm thầy, viết Hiển tịnh độ chân thực giáo hành tín chứng văn loại là kinh điển chủ yếu. Ngài Nguyên không chủ trương lấy niệm Phật là chính. Sư Thân loan thì nhấn mạnh tín tâm là gốc, cho rằng giáo pháp chân thực của Phật là kinh Vô lượng thọ, bộ phận trọng yếu nhất là bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà, bản thể của những nguyện này là danh hiệu Nam mô A di đà Phật, đồng thời lấy tha lực vãng sinh làm đặc sắc. Cái gọi là tha lực vãng sinh, tức là phàm phu nhờ vào sức nguyện của Phật A di đà mà được lòng tin, về sau niệm Phật tức là niệm để báo ân cảm tạ. Lại người đã được lòng tin, thì tất trụ nơi chính định tụ và cùng với Như lai bình đẳng không hai. Sư Thân loan lại bảo sống cuộc đời thế tục ăn thịt có vợ cũng không trở ngại gì cho việc tu hành niệm Phật, thái độ sinh hoạt ấy khác xa với các chi phái khác của tông Tịnh độ. Đến tằng tôn của sư Thân loan là Giác như, chính thức lấy chùa Bản nguyện làm trụ sở chính của Chân tông, đến Liên như đời thứ tám, thì thế lực bỗng bột phát, thời ấy, Đức xuyên gia khang e ngại thế lực chùa Bản nguyện quá mạnh, cho nên vào năm Khánh trường thứ 7 (1602) đem chia chùa Bản nguyện làm hai chùa Đông và Tây, đó tức là hai phái chùa Bản nguyện (chùa Tây Bản nguyện gọi là Bản nguyện tự phái, chùa Đông Bản nguyện gọi là Đại cốc phái) thừa kế pháp mạch của sư Thân loan đến nay. Ngoài ra, môn hạ Thân loan phồn thịnh, chi phái dần dần chia rẽ, có phái Cao điền, phái chùa Phật quang, phái Hưng chính, phái Mộc biên, phái Tam môn đồ, phái Sơn nguyên, phái chùa Thanh chiếu, phái Xuất vân lộ v.v... cộng với hai phái trước, gọi chung là mười phái Chân tông. Tông này lập giáo pháp Nhị song, Tứ trùng. Nhị song, Tứ trùng chỉ Thụ xuất, Thụ siêu, Hoành xuất, Hoành Siêu. Thụ, chỉ Tự lực Thánh đạo môn (đạo khó làm) - Hoành, chỉ Tha lực Tịnh độ môn (đạo dễ làm). Xuất, chỉ Tiệm giáo là giáo phương tiện tạm thời - Siêu, chỉ Đốn giáo là giáo chân thực. Cũng tức là ngưòi tu hành trải qua nhiều kiếp mới mong chứng quả, như giáo thuyết của Pháp tướng. Tam luận là Tiệm giáo của đạo khó làm trong Thánh đạo môn, gọi là Thụ xuất - còn người mong ngay thân này thành Phật chứng quả như giáo thuyết của Phật tâm, Chân ngôn, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v...... là Đốn giáo của đạo khó làm trong Thánh đạo môn, gọi là Thụ siêu - y theo pháp môn vãng sinh Tịnh độ của giáo định tán thiện trong Quán kinh mà tu hành, mong được sinh vào nơi biên địa giải mạn, là Tiệm giáo của đạo dễ làm trong môn Tịnh độ, gọi là Hoành xuất - y vào pháp môn Tịnh độ của giáo hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Vô lượng thọ mà tu hành, mong được vãng sinh là thành Phật liền, như giáo thuyết của Tịnh độ chân tông, là Đốn giáo của đạo dễ làm trong môn Tịnh độ, gọi là Hoành siêu, cũng là giáo bản nguyện chân thực duy nhất trong Nhị song, Tứ trùng. Giáo Nhất thừa tha lực của bản nguyện Di đà này, trong tất cả các loại giáo thuyết, là giáo đốn trong đốn, viên trong viên, tuyệt đối chẳng hai. Vì thế chủ trương, cho dù kẻ phàm phu ngu ác, kém cỏi nhất, nếu khi gặp được pháp nhất thừa tha lực bản nguyện này, rồi chỉ trong một niệm mà vào nơi chính định tụ, thì tức khắc có thể chứng được diệu quả thành Phật. Lại nữa, tông này lấy bốn pháp Giáo, Hành, Tín, Chứng làm cương yếu chia làm hai môn Chân, Giả, lấy lòng tin làm nhân chính để được vãng sinh, đề xướng tịnh nghiệp thành tựu ngay lúc bình sinh. Mười phái của Tông này là: 1. Phái Chân tông tam môn đồ, trụ sở chính là chùa Chuyên chiếu ở nước Việt tiền. Năm Chính ứng thứ 3 (1290) sư Như đạo dựng một ngôi chùa ở quận Túc vũ, gọi là chùa Chuyên tu, đề xướng pháp môn Bí sự. Không bao lâu sư Đạo tính ở chùa Chứng thành, sư Như giác ở chùa Thành chiếu, cũng truyền pháp này. Mỗi người đều có môn đồ, bèn thành cái thế chân vạc, đời gọi là Chúng ba môn đồ không lạy nhau. Khoảng năm Minh Trị, được phép độc lập thành phái riêng biệt, đặt chưởng quản riêng gọi là Chân tông tam môn đồ phái, có hơn ba mươi chùa phụ thuộc. Tông nghĩa của phái này cũng giống tông nghĩa phái chùa Bản nguyện. 2. Phái Chân tông đại cốc, trụ sở chính là chùa Bản Nguyện tại kinh đô. Năm Văn vĩnh thứ 9 (1272) con gái của Thân loan là sư ni Giác tín, xây mộ cho cha ở Đại cốc, phía đông Kinh đô, môn đệ bàn nhau sáng lập nhà tổ, đó là nguồn gốc của chùa Bản nguyện. Đời gọi là chùa Đông bản nguyện, còn gọi là Đông phái. Sau có Tuệ không, trước tác rất nhiều, đặt nền tảng Chân tông học cho phái này. Phái chân tông đại cốc dốc toàn lực vào công cuộc truyền bá giáo thuyết. Năm Minh trị thứ 5 (1872), cùng với các phái khác của tông này gọi chung là Chân tông. Tháng 4 năm Minh trị thứ 10 biệt lập và đặt Chưởng quản riêng, tháng 6 năm thứ 14 đổi tên đông phái thành Đại cốc phái, chức trụ trì chùa chính (Bản sơn) theo chế độ cha truyền con nối và lấy Đại cốc làm họ, hiện có hơn tám nghìn bốn trăm ngôi chùa phụ thuộc. Ngoài ra, tại Đại hàn, Nam dương, Trảo oa, Bắc mỹ cũng thiết lập các viện và các cơ sở truyền giáo riêng biệt. Đồng thời tại chính Nhật bản, mở các trường gồm đủ các cấp Tiểu, Trung, Đại học, sau lại mở Đại học Đại cốc tại Kinh đô để dạy các con em của phái mình. 3. Chân tông sơn nguyên phái, trụ sở chính là chùa Chứng thành tại nước Việt tiền. Quá trình sáng lập không được rõ. Hình như do sư Đạo tính khai sáng. Phái này chủ trương pháp môn bí sự. Năm Minh trị 11 (1878) độc lập thành phái riêng, đặt Chưởng quản, gọi là Chân tông sơn nguyên phái, có mười hai chùa phụ thuộc. Tông nghĩa của phái này cũng giống như tông nghĩa chùa Bản nguyện. 4. Chân tông mộc biên phái, trụ sở chính là chùa Cẩm chức ở nước Cận giang, do sư Thân loan sáng lập vào năm Gia trinh năm đầu (1235). Truyền qua mấy đời, lúc thịnh lúc suy, đến Minh trị năm đầu, gọi là Chân tông. Về sau được độc lập, gọi là Chân tông mộc biên phái, đặt Chưởng quản riêng, hiện nay có hơn năm mươi chùa phụ thuộc. 5. Chân tông xuất vân bộ phái, trụ sở chính là chùa Hào nhiếp tại nước Việt tiền. Chùa do Thừa chuyên sáng lập. Năm Minh trị 11 (1878) được độc lập, đặt Chưởng quản riêng, có hơn bốn mươi chùa lệ thuộc. Về mặt Tông nghĩa thì có khác với phái chùa Bản nguyện. 6. Chân tông bản nguyện tự phái, trụ sở chính là chùa Bản nguyện tại Kinh đô. Tháng 11 năm Hoằng trường thứ hai (1262), sau khi Thân loan tịch, học trò đưa di cốt đến táng tại Đại cốc. Năm Văn vĩnh thứ 9 (1272), con gái Thân loan là sư ni Giác tín, dời phần mộ về Đại cốc ở Đông sơn, học trò cùng nhau kiến thiết nhà Tổ, đó là nguồn gốc của chuà Bản nguyện. Đến đời thứ tám là Liên như, nhà tổ bị đốt cháy, Liên như mang tượng tổ chạy trốn đến Đại tân và lại dựng chùa Bản nguyện tại Sơn thành. Về sau, tăng chúng ở chùa Phật quang, Cẩm chức, Chứng thành tại Việt tiền lục tục kéo về, thế lực lại một thời lớn mạnh, khiến Chân tông thành cái thế thống nhất. Lại nhờ Liên như xác lập Tông qui Lòng tin là gốc, phép vua là nền mà sự nghiệp trung hưng chùa Bản nguyện đại thành. Về sau, trải qua bao tang thương biến đổi, chùa Bản nguyện lại được dời về phía đông Kinh đô, đường 6 Ô hoàn, và từ đó chùa Đông, Tây Bản nguyện trở thành cái thế đối chọi. Đến như giáo thuyết các phái cũng bất nhất, mỗi phái lập riêng thuyết khác, đến năm Minh trị thứ 5 (1872) mới gọi là Chân tông, tháng 4 năm Minh trị thứ 10, các phái chia nhau đặt Chưởng quản, phái này gọi là Chân tông bản nguyện tự phái, cho mãi đến ngày nay. Trụ trì cha truyền con nối, gọi là họ Đại cốc. Các chùa lệ thuộc được chia làm 4 loại: Viện riêng, Viện riêng đặc cách, chùa phụ thuộc, chùa phụ thuộc chi nhánh. Tổng số chùa phụ thuộc có tới hơn chín nghìn bảy trăm năm mươi chùa, tại trụ sở chính có đặt cơ quan chấp hành để tổng quản các chùa. Đồng thời mở các trường học để giáo dục con em trong phái. 7. Chân tông Phật quang tự phái, trụ sở chính là chùa Phật quang tại Kinh đô. Thứ tự truyền thừa của phái này là: Thân loan, Chân phật, Nguyên hải, Liễu hải, Thệ hải, Minh quang, Liễu nguyên. Người đặt nền là Liễu nguyên. Chùa Phật quang được dựng vào năm Nguyên ứng thứ hai (1320) lúc đầu gọi là chùa Hưng chính. Sau Liễu nguyên, sư Kinh dự đem bốn mươi hai chùa lệ thuộc chi nhánh theo về chùa Bản nguyện thuộc môn hạ Liên như, lại sáng lập chùa Hưng chính riêng bị các chùa khác thuộc phái Phật quang phản đối kịch liệt. Sau việc ấy phái Phật quang chỉ còn lại 6 chùa chi nhánh cố giữ hệ thống chùa phái. Nhưng đến thời Kinh quang, Kinh phạm, thế lực của phái được khôi phục dần dần. Tháng 3 năm Minh trị thứ 7 (1874) độc lập, đặt Chưởng quản riêng, gọi là Chân tông Phật quang tự phái, hiện nay có hơn ba trăm bốn mươi chùa phụ thuộc. 8. Chân tông cao điền phái. Trụ sở chính là chùa Chuyên tu tại Y thế. Lúc đầu Thân loan đi hóa đạo các nước phía đông, đã từng dựng một ngôi chùa lợp tranh ở nước Hạ dã, gọi là chùa Chuyên tu, sau đó giao cho đệ tử là Chân phật - đó là nguồn gốc của phái này. Khoảng năm Minh trị đổi Chân tông chuyên tu tự phái, làm Cao điền tự phái có hơn 600 chùa phụ thuộc, còn lập viện Khuyến học và trường Trung học để dạy các con em trong phái. 9. Chân tông thành chiếu tự phái, trụ sở chính là chùa Thành chiếu ở nước Việt tiền. Chùa này do Như giác sáng lập vào niên hiệu Hoằng an năm đầu (1278), lúc đầu gọi là chùa Chân chiếu. Đến thời Thiên hoàng Hoa viên mới ban hiệu hiện nay. Năm Minh trị được độc lập và đặt Chưởng quản, gọi là Chân tông thành chiếu tự phái, có hơn năm mươi chùa phụ thuộc. Tông nghĩa của phái này cũng giống như tông nghĩa của chùa Bản nguyện. 10. Chân tông hưng chính phái, trụ sở chính là chùa Hưng chính. Năm Văn minh 14 (1482), đời thứ 14 của phái chùa Phật quang là Kinh hào, vì hâm mộ đức của Liên như chùa Bản nguyện, nên mới quay về cửa Liên như, đổi tên là Liên giáo, nhường chùa Phật quang cho em là Kinh dự. Sau Liên giáo dựng một ngôi chùa mới ở Khoa sơn và lấy lại tên cũ gọi là chùa Hưng chính. Khoảng năm Minh trị thì độc lập, gọi là Chân tông hưng chính phái, đặt chưởng quản riêng, hiện có hơn hai trăm tám mươi chùa phụ thuộc.
chân tông bách đề khải mông
(真宗百題啓蒙) Có một quyển. Do Túc lợi Nghĩa sơn thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản soạn. Toàn bộ chia làm một trăm luận đề, bàn về ba bộ kinh của Tịnh độ, và các luận của các tổ Tịnh độ tại Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản như các ngài Long thụ, Thế thân, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Nguyên tín, Nguyên không v.v...… Cuối sách biện minh về các vấn đề ăn thịt có vợ của Chân tông.
chân tông toàn thư
(真宗全書) Gồm bảy mươi tư tập. Do thư viện tạng kinh Nhật bản biên tập. Thu góp các điển tịch chủ yếu do các học giả của mọi phái thuộc Tịnh độ chân tông biên soạn mà thành. Thê mộc trực lương chi biên tập. Tháng 2 năm Đại chính thứ 2 (1913) bắt đầu, đến tháng 1 năm thứ 4, mỗi tháng in hai tập. Đến tháng 2 năm thứ 5 thì hoàn thành hai bộ chính, tục gồm một trăm ba mươi sáu bộ chú sớ, sáu mươi bảy bộ sử truyện, bốn bộ luận đề, hai mươi lăm bộ hộ pháp, hai mươi chín bộ thi văn, hai mươi bốn bộ mục lục, một trăm sáu mươi sáu bộ tạp nhạp, trong đó phần lớn là các bản truyện viết tay xưa nay chưa in.
chân tông tùng thư
(真宗叢書) Gồm ba quyển mười ba tập. Thu chép các điển tịch và chú sớ của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Do Tiền điền Tuệ vân và Thị sơn Huệ giác cùng biên soạn. Hoàn thành vào năm Chiêu hòa thứ 6 (1931). Các sách chú thích được thu vào sách này, để tránh khỏi trùng lặp với Chân tông toàn thư, phần nhiều thu chép những học thuyết có tính ổn định và uy tín. Các bản thảo, bản sao được so sánh đối chiếu, rồi đều ghi các chú thích của nguyên bản ở trên đầu, ở bên cạnh và ở dưới chân, đồng thời ở cuối mỗi quyển, có phụ thêm giải thích đề mục.
chân tông đại hệ
(真宗大系) Gồm ba mươi bảy tập. Do hội Nhật bản Chân tông điển tịch san hành biên tập và xuất bản. Sưu tập các luận phẩm và các bài giảng thuyết của các học giả tiêu biểu trong phái Đại cốc thuộc Tịnh độ chân tông. Năm Đại chính 12 (1923) ấn hành Hồi thứ nhất, năm 14 thì hoàn tất, thời gian ấy xảy ra trận động đất lớn tại Quan đông, các bản in bị cháy hết. Đến năm Chiêu hòa 24 (1949) các bộ phận trọng yếu trong bản cũ được lựa chọn rồi đem in lại, năm Chiêu hòa 28, hoàn thành toàn bộ 23 tập, đó là Chân tông đại hệ tân biên.
chân tông đại sư
Shinshu Daishi (J), Zhenzongdashi (C), Shinshu Daishi (J)Danh hiệu của Hà Trạch.
chân tướng
The real appearance; true aspect.
; The reality.
Chân tướng 眞相
[ja] シンソウ shinsō ||| The truth, the facts, the real situation. => Sự thật, thực tế, trạng thái chân thật.
Chân tướng, chơn tướng
(眞相): tức bản tướng (本相, hình tướng gốc), thật tướng (實相, hình tướng thật), bản lai diện mục (本來面目, mặt mũi xưa nay) của sự vật, vạn pháp. Trong Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh Chú Giải (楞伽阿跋多羅寶經註解, Taishō Vol. 39, No. 1789) quyển 1 định nghĩa rằng: “Chơn tướng giả, tùy duyên bất biến, thể tánh chơn tịnh dã (眞相者、隨緣不變、體性眞淨也, chơn tướng là tùy duyên không thay đổi, thể tánh trong sạch).” Hay trong Tục Thanh Lương Truyện (續清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2100) quyển Hạ có đoạn: “Thứ nhật, cúng dường chơn dung cập chư Thánh tượng dĩ; ngọ hậu, hiện Bồ Tát đại chơn tướng, ư bạch vân chi đoan (次日、供養眞容及諸聖像己、午後、現菩薩大眞相、於白雲之端, ngày hôm sau, khi cúng dường chơn dung và các tượng Thánh xong; sau buổi trưa, hiện hình tướng thật to lớn của Bồ Tát, nơi đầu đám mây trắng).” Hoặc trong Vi Lâm Thiền Sư Lữ Bạc Am Cảo (爲霖禪師旅泊菴稿, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1442) quyển 4, bài Thế Tôn Chiên Đàn Thụy Tượng Tán (世尊旃檀瑞像贊), lại có câu: “Như Lai chơn tướng nguyên vô tướng, xảo tượng như hà khắc đắc thành (如來眞相原無相、巧匠如何刻得成, Như Lai chơn tướng vốn không tướng, thợ khéo làm sao khắc được thành).”
chân tượng
Real image.
chân tế
Xem Chân Thạnh.
; The region of reality, ultimate truth—See Chân Thực.
; (真際) I- Chân tế. Nói tắt của Chân như thực tế. Dứt hết tướng sai biệt tương đối, hiển hiện lí thể Chân như pháp tính bình đẳng nhất như. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng phẩm Quán Như lai (Đại 8, 835 trung), nói : Các pháp tính tức là chân thực, không đến không đi, chẳng sinh chẳng diệt, cũng như chân tế pháp tính, không hai không khác. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ]. II- Chân tế(778 - 897) tức là Thiền sư Triệu châu Tùng thẩm đời Đường. Vào khoảng năm Đại trung (847-859) cuối đời Đường, ngài Tùng thẩm lấy Triệu châu (huyện Triệu tỉnh Hà bắc) làm trung tâm, đại chấn Thiền phong Nam tông. Vào năm Càn ninh thứ 4 đời Chiêu tôn, ngài thị tịch, thọ một trăm hai mươi tuổi. Chân tế là thụy hiệu của ngài. (xt. Triệu Châu).
chân tể
(真宰) Chỉ trời. Trời là chúa tể của muôn vật, cho nên gọi là Chân tể, cũng như gọi Tạo vật chủ. Nhưng trong Phật giáo đặc biệt chỉ chư Thiên thiện thần hộ trì Phật pháp.
chân tịch
Niết bàn của Đức Phật, đối lại với niết bàn của hàng nhị thừa—The true Buddha-nirvana as contrasted with that of the Hinayana.
; (真寂) Đặc biệt chỉ cho Niết bàn của đức Phật. Tịch, ý là Niết bàn. Niết bàn của Nhị thừa, không phải là Niết bàn thù thắng tột bực, để phân biệt với Niết bàn của Nhị thừa, Niết bàn của Phật đưọc gọi là chân tịch (chân thực vắng lặng).
chân tịnh
The true and pure teaching of the Mahàyanà.
; Giáo pháp chân thực và thanh tịnh của Đại Thừa, đối lại với hàng nhị thừa—The true and pure teaching of the Mahayana, in contrast to the Hinayana.
chân tịnh bồ đề tâm
(真淨菩提心) Tâm bồ đề sẵn có của chúng sinh, bản tính thanh tịnh và chân thực cho nên gọi là chân tịnh Bồ đề tâm. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 589 hạ) nói: Chính quán tâm mình, không có chỗ sinh, thì được vào tâm chân tịnh bồ đề.
chân tịnh đại pháp
(真淨大法) Chỉ kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa là pháp do đức Như Lai đã chứng, pháp ấy chân thực thanh tịnh - đối với Nhị thừa chưa cùng tột, nên gọi chân thực, phiền não trói buộc đã hết sạch, nên gọi thanh tịnh. Trong kinh Pháp hoa phẩm Như lai thần lực, Bồ tát Đại dũng từng khen rằng (Đại 9, 51 hạ) : Chúng con cũng muốn tự mình được đại pháp chân tịnh này, để thụ trì đọc tụng, giải nói, viết chép mà cúng dường. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7].
chân tục (chân giả)
1) Tên khác của “Sự Lý” (sự lý do nhân duyên sinh ra gọi là “tục,” lý tánh bất sinh bất diệt gọi là “chân”): Truth and convention—The true view and the ordinary. 2) Chân lý và hình tướng bên ngoài (chân là không hay tuyệt đối, tục là giả hay tương đối) : Reality and appearance.
chân tục bất nhị
(真俗不二) Nghĩa là chân đế tức tục đế, tục đế tức chân đế. Đây là thuyết từ Biệt giáo của tông Thiên thai và Chung giáo của tông Hoa nghiêm trở lên. Chân như có thể theo duyên mà tạo ra các pháp, cho nên các pháp tức là chân như.
chân tục nhị đế
(真俗二諦) Phạm: Paramartha–saôvfti–satyau. Là chân đế và tục đế nói gộp lại. Chân đế còn gọi là Thắng nghĩa đế, Đệ nhất nghĩa đế, chỉ lý chân thực bình đẳng - Tục đế còn gọi là Thế tục đế, Thế đế, chỉ lý thế tục sai biệt. Ngoài ra, chân, tục cũng là tên gọi khác của sự và lý - sự lý do nhân duyên phát sinh, gọi là tục, lí tính chẳng sinh chẳng diệt, gọi là Chân. Hai chữ chân, tục là danh xưng đối nhau, vì đối nhau mà diễn thành các tên gọi khác nhau, như thế, xuất thế, tại gia, xuất gia v.v…... ý nghĩa của hai đế trong các kinh luận, Đại thừa, Tiểu thừa nói không giống nhau, các nhà trước nay như Thành thực, Tì đàm, Tam luận, Pháp tướng (Duy thức), Địa luận, Thiên thai, cũng đều thành lập nghĩa mới, khiến cho nền học vấn của Phật giáo trở thành một hệ thống lớn, như trăm hoa đua nở. (xt. Nhị Đế). CHÂN TỤC TRUNG TAM ĐẾ Tức là ba đế Không,Giả, Trung, là đế lí của Thông giáo do tông Thiên thai phán lập. Không, tức là các pháp do nhân duyên sinh, nói đó là không là tự tính không nương vào nhân duyên mà sinh, chẳng phải thực tính có, vì nương vào nhân duyên nên tạm gọi là có. Nhưng mà, vì các pháp là không, nên chẳng phải cógiả - vì là giả, nên chẳng phải thực không, lại vì là Không đế nên là thực không, vì làGiả đế nên là cógiả. Như vậy, chẳng phải có giả, chẳng phải thực không - cũng là thực không cũng là có giả, tức là Trung đế. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 phần dưới - Pháp hoa văn cú Q.8]. (xt. Tam Đế).
chân tử
Con của bậc Như Lai Chân Chánh, hay hành giả chân thực sanh ra từ miệng Phật, theo giáo lý của Đức Phật, y vào chánh pháp mà sinh ra—A son of the True One, i.e. Tathagata; a Buddha-son, one who embodies Buddha's teaching.
; (真子) Các Bồ tát là con chân thực của Như lai, vì đối với Phật pháp, họ tin thuận, có thể tiếp nối sự nghiệp của Phật. Thắng man bảo quật quyển hạ nói, con Phật có năm nghĩa: 1. Lấy lòng tin làm hạt giống. 2. Lấy bát nhã làm mẹ. 3. Lấy thiền làm thể. 4. Lấy nhẫn làm sữa. 5. Lấy Phật làm cha. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. Chùa Chân Tuệ
chân vô lượng
(真無量) Là một trong ba mươi bảy hiệu của đức Phật A di đà. Tức chỉ tuổi thọ, ánh sáng, sức thần thông, bản nguyện, trí tuệ, công đức, từ bi, phương tiện, y báo, chính báo v.v…... tất cả đều là chân thực và vô lượng.
chân vô lậu trí
The true knowledge of the Mahàyàna in its concept of mental reality, in contrast with Hinayàna concepts of material reality.
; Trí chân thực vô lậu hay vô lậu trí của Phật và Bồ Tát đối lại với vô lậu trí của hàng nhị thừa (hàng nhị thừa không dứt bỏ pháp chấp, không lìa bỏ sở tri chướng)—The true knowledge of the Mahayana in its concepts of mental reality, in contrast with Hinayana concepts of material relaity.
; (真無漏智) Đối với vô lậu trí của Nhị thừa mà gọi vô lậu trí của Phật và Bồ tát là Chân vô lậu trí. Bởi vì Nhị thừa không đoạn pháp chấp, chẳng diệt sở tri chướng, cho nên chưa phải là trí chân vô lậu.
chân văn
Văn nghĩa của chân lý hay văn nghĩa mà chư Phật và chư Bồ Tát thuyết giảng—The writings of truth, those giving the words of the Buddha or bodhisattvas.
; (真文) Chỉ các câu văn do Phật và Bồ tát nói, hoặc ở trong các kinh điển. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng thuyết quyển 2 (Đaị 46, 216 trang), nói: Nay ở vào thời vận Tượng pháp, Mạt pháp, để lại chân văn này.
chân vọng
True and false, real and unreal.
; Tất cả chư pháp đều có hai tính chân và vọng—All things have two characteristics: true and false, or real and unreal. 1) Pháp tùy theo tịnh duyên tam học (Phật Pháp) thì gọi là chân, pháp tùy theo nhiễm duyên vô minh (không giác ngộ) mà khởi lên thì gọi là vọng: That which arises in Buddha-truth, meditation and wisdom is true, influences of unenlightenment is untrue. 2) Chân như chân thực (bất sinh bất diệt) thì gọi là chân pháp, Các pháp do nhân duyên sinh ra thì gọi là hiện tượng hay là vọng pháp: The essential bhutatathata is the real, phenomena as the unreal.
; (真妄) Hết thảy pháp có chân và vọng, các pháp theo duyên vô minh ô nhiễm mà sinh khởi, là vọng - các pháp theo duyên ba học thanh tịnh mà sinh khởi, là chân. Lại như các pháp do nhân duyên sinh, tất cả đều chẳng thực, nên là pháp vọng - chân như chẳng sinh chẳng diệt thì là chân thực, nên là pháp chân. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối].
Chân vọng giao triệt 眞妄交徹
[ja] シンモウコウテツ shinmōkōtetsu ||| Interpenetration of the true and the false. (Awakening of Faith). => Sự tương giao giữa chân thực và hư vọng (Khởi tín luận).
chân vọng nhị tâm
Chân tâm và vọng tâm—The true and false minds: 1) Chân Tâm hay chân như tâm—The true bhutatathata mind defined as the ninth Amalavijnana. 2) Vọng Tâm tiêu biểu bởi tám thức: The false or illusion mind as represented by the eight vijnanas.
; (真妄二心) Là chân tâm và vọng tâm nói gộp lại, cũng gọi Chân thức vọng thức. Tâm tự tính thanh tịnh, thường hằng, chẳng biến đổi, gọi là Chân tâm - tâm tạp nhiễm hư giả và sinh diệt chuyển biến, là vọng tâm. Các tông phái nói về hai tâm chân, vọng không hoàn toàn giống nhau, như Đại thừa nghĩa chương quyển 3 phần cuối bảo, thức a lại da thứ tám tức là tạng tâm Như lai, gọi là chân thức, còn bảy thức trước thì gọi chung là vọng thức, đó là chủ trương của các nhà Địa luận. Còn Trung quán luận sớ quyển 7 phần đầu thì nói, thức A ma la thứ chín là tâm tự tính thanh tịnh, gọi là Chân tâm, còn tám thức từ thức thứ tám trở xuống thì là vọng tâm do vô minh sinh khởi - đây là chủ trương của các nhà Nhiếp luận. Ngoài ra, kinh Lăng già dùng nước và sóng để thí dụ - nước thường trụ không biến, là chân - sóng thì khởi diệt vô thường, là vọng. Hai tâm chân vọng có thể chia làm: 1. Duy Chân tâm, nghĩa là một tâm chân sinh chẳng hai, chỉ tâm của chư Phật Như lai. 2. Duy vọng tâm, nghĩa là tâm tám thức do vô minh sinh khởi, chỉ tâm của ngoại đạo, phàm phụ. 3. Tòng chân khởi vọng tâm, nghĩa là vọng tâm do chân như theo duyên mà khởi, chỉ tâm của Biệt giáo trở lên - từ Biệt giáo trở xuống cho đến ngoại đạo, phàm phu thì không biết đến vọng tâm này. 4. Vọng tức chân tâm, lìa chân tâm thì không có vọng tâm, nghĩa là vọng tâm tức chân tâm, đây là tâm của các Bồ tát từ Sơ địa trở lên. [X. luận Đại thừa khởi tín - luận Quyết định tạng Q.thượng - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6 phần trên].
chân vọng quán cảnh
(真妄觀境) Trong tông Thiên thai, khi tu Viên quán, bàn về cảnh sở quán, có người chủ trương quán chân tâm, cũng có người chủ trương quán vọng tâm, nên hai tâm cảnh chân và vọng nói gộp lại tức là Chân vọng quán cảnh. Thai tông nhị bách đề quyển 11 chép, khi tu Viên quán, cảnh được quán là vọng tâm, nghĩa là những người tu Viên giáo, tuy có trí hiểu rõ các pháp vốn chân thực, nhưng khi tu hành, vẫn phải lựa chọn, cố giữ lấy một niệm vọng ấm của phàm phu làm cảnh sở quán. Trái lại, Ma ha chỉ quán thì lấy chân tâm làm cảnh sở quán. (xt. Vọng Tâm Quán, Chân Tâm Quán).
chân vọng tụng
(真妄頌) Vào thời vua Trung tôn nhà Đường, sư Phục lễ có làm 10 câu kệ tụng để hỏi các học giả bốn phương về mối quan hệ giữa Chân như vàVô minh. Bài kệ ấy là (Vạn tục 148, 297 thượng): Pháp chân, tính vốn sạch, vọng niệm từ đâu ra? Từ chân sinh ra vọng, vọng ấy ngừng ở đâu? Không đầu thì không cuối, có cuối phải có đầu - không đầu và không cuối, lòng ngờ mãi lý này, xin mở máy nhiệm màu, nhờ đó thoát sống chết. Ý là chân như pháp tính xưa nay vốn trong sạch, vậy thì vô minh vọng niệm sinh khởi từ đâu? Nếu từchân như mà sinh, thì cũng như chân như, vô minh không có cuối, và khi diệt hết vô minh, thì cuối cùng vô minh lại trở về chân như chăng? Trong tông môn, bài tụng này được lưu truyền khá thịnh, học giả các đời cũng hết sức giải thích, trong các sách thấy rải rác các chú sớ, như các ngài Lợi thiệp thuộc tông Pháp tướng ở chùa An quốc, Trừng quán thuộc tông Hoa nghiêm ở chùa Thanh lương, Hoài huy, Đức hồng (Giác phạm) thuộc Thiền tông ở chùa Chương kính, Tri lễ, Như cảo, Khả độ thuộc tông Thiên thai v.v…... [X. Hoa nghiêm kinh đại sớ sao Q.34 phần dưới - Viên giác kinh lược sớ sao Q.7 (Tôn mật)].
Chân vọng 眞妄
[ja] シンモウ shinmō ||| Truth and falsity. That which arises conditioned by ignorance is falsity, that which arises conditioned by religious practice is truth. => Chân thực và hư vọng. Những pháp sinh khởi duyên theo vô minh là hư vọng, các pháp duyên theo công phu tu đạo là chân thật.
Chân Yết Thanh Liễu
真歇清了; C: zhēnxiē qīngliǎo; J: shingetsu shōryō; 1089-1151;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng, người nối pháp Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần.|Sư họ Ung, quê ở Tả Miên. Lúc còn bồng nách, cha mẹ đem vào chùa thấy tượng Phật, Sư vui mừng chớp mắt nhướng mày. Ðến 18 tuổi, Sư thi kinh Pháp hoa được độ làm tăng.|Sau đó Sư yết kiến Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần. Ðan Hà hỏi: »Thế nào là chính mình trước không kiếp?« Sư suy nghĩ để đáp, Ðan Hà bảo: »Ngươi còn ồn hãy đi.« Một hôm, Sư lên ngọn bát vu bỗng nhiên khế ngộ, thẳng về đứng hầu. Ðan Hà tát bảo: »Sẽ bảo ông biết có.« Sư vui vẻ lễ bái. Hôm sau, Ðan Hà thượng đường nói: »Nhật soi cô phong biếc, nguyệt đến nước khe trong, Tổ sư huyền diệu quyết, chớ hướng tất lòng an.« Nói xong liền xuống toà. Sư tiến đến trước thưa: »Ngày nay đăng toà lại chẳng lừa được con.« Ðan Hà hỏi: »Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng toà xem?« Sư im lặng giây lâu, Ðan Hà bảo: »Sẽ nói ông khắp đất.« Sư liền đi ra.|Sư thượng đường: »Trên cảnh Cô Phong qua cây cầu độc mộc, đi thẳng thế ấy vẫn là chỗ chân cao chân thấp của thời nhân. Nếu thấy được triệt chẳng ra khỏi cửa mà thấu khắp mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trong thất. Nếu kia chưa như thế, nhân trời mát bửa một gốc củi.«|Sư tịch tại chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh. Vua sắc thuỵ là Ngộ Không.
chân yết thanh liễu
Shingetsu Shōryō (J)Tên một vị sư.
; (真歇清了) (1809–1151) Vị tăng thuộc tông Tào động đời Tống. Là pháp tự của Thiền sư Tử thuần ở Đơn hà, người huyện An xương (tỉnh Tứ xuyên), họ Ung. Còn gọi là Tịch am. Mười một tuổi, theo ngài Thanh tuấn ở chùa Thánh quả xuất gia, lúc đầu học Pháp hoa. Mười tám tuổi thụ giới Cụ túc, vào chùa Đại từ tại Thành đô học kinh Viên giác, kinh Kim cương. Lần lượt lên núi Nga mi, Ngũ đài lễ bồ tát Phổ hiền và Văn thù. Đến núi Đơn hà ở Đặng châu (tỉnh Hà nam) tham yết ngài Tử thuần, được tỏ ngộ và nối pháp ngài. Sau sư đến thị giả Tổ chiếu ở Trường lư. Năm Tuyên hoà thứ 3 (1121) Ngài Tổ chiếu lâm bệnh, thỉnh sư nhận đệ nhất tòa. Năm Tuyên hòa thứ 4, làm chủ Trường lư. Năm Kiến viêm thứ 2 (1128), lên núi Phổ đà lễ bồ tát Quan âm. Năm Kiến viêm thứ 4 vào làm chủ chùa Tuyết phong, mở mang tông phong Tào động. Năm Thiệu hưng 15 (1145) ở chùa Năng nhân hưng thánh vạn thọ thiền, năm 21 ở Viện Sùng tiên hiển hiếu thiền. Tháng 10 năm ấy sư nhập tịch, thọ sáu mươi ba tuổi, bốn mươi lăm tuổi hạ. Thụy hiệu là Ngộ không thiền sư. Viết tín tâm minh niêm cổ 1 quyển, Nhất chưởng lục. Học trò biên tập Trường lư Liễu hòa thượng kiếp ngọai lục một quyển [X. Gia thái phổ đăng lục Q.9 - Ngũ đăng hội nguyên Q.14 - Tục tuyền đăng lục Q.17].
chân yết thanh liễu thiền sư ngữ lục
(真歇清了禪師語錄) Gồm hai quyển. Còn gọi là Ngộ không thiền sư ngữ lục. Do ngài Thanh liễu (1089– 1151) đời Tống soạn, thị giả Đức sơ, Sơ nghĩa biên tập. Thu vào Vạn tục tạng tập 124. Quyển thượng, nguyên đề là Kiếp ngoại lục, nói đủ là Chân châu Trường lư Liễu hòa thượng kiếp ngoại lục, thu chép các bài thuyết pháp, các lời dạy chúng, cơ duyên, kệ tụng, bài minh Tháp sùng tiên chân yết Liễu thiền sư, do sư Hoằng trí Chính giác soạn, bài ký Hoa tạng vô tận đăng, Tịnh độ tông yếu, Thuyền tử giáp sơn thoại v.v…... Quyển hạ nguyên đề là: Chân yết hòa thượng niêm cổ, là loại chú sớ sớm nhất trong các loại chú sớ về Tín tâm minh. Đồng thời với Thanh liễu, có ngài Đại tuệ Tôn cảo cực lực đề xướng Khán thoại thiền để chê trách Mặc chiếu thiền do Thanh liễu và Hoằng trí Chính giác chủ trương - bởi thế Thanh liễu mới viết Tín tâm minh niêm cổ để đáp lại sự chê trách của Tôn cảo và phát huy ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của thiền, đồng thời vạch ra các mối tệ của đương thời để răn dạy những kẻ ngộ mù quáng làm rối loạn đạo thiền. Nội dung tuy là chú giải, nhưng thực thì là những niêm đề trình bày về tông thừa, chứ không phải là chỉ giải thích những câu nói không thôi.
chân đa ma ni hào tướng ấn
(真多摩尼毫相印) Còn gọi Chân đa ma ni ấn, Như lai hào tướng ấn, Hào tướng ấn. Chân đa ma ni, tiếng Phạm:cintàmaịi, dịch ý: ngọc báu như ý. Hào tướng, tức là tướng lông trắng ở khoảng giữa chân mày, là một trong ba mươi hai tướng của Như lai. Kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn nói, khi kết ấn này, tay phải nắm lại, đặt ở khoảng giữa chân mày. Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì bảo, tay phải nắm lại, đặt ở trước lông mày, ngón trỏ duỗi thẳng ngay chính giữa khoảng chân mày.
chân đan
Chân Đán—Thần Đan—Thần Đán—Trần Đan—Một từ ngữ cổ của Ấn Độ dùng để gọi Trung Quốc—An ancient Indian term for China.
; (真丹) Người Ấn độ đời xưa gọi Trung quốc là nước Chân đan. Cùng với Chấn đán, Thần đan đều là những chữ dịch khác. Tên gọi này được thấy tản mạn trong các kinh luận, như luận A tì đàm tì bà sa quyển 36, quyển 41, luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2, Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 56 phẩm Tinh tú nhiếp thụ, kinh Đại bảo tích quyển 10 v.v...
chân đà ma ni
(真陀摩尼) Phạm: Cintàmaỉi. Dịch ý là ngọc báu như ý. Chân đà, cũng nói là Chấn đa, Chấn đà. Ma ni, còn gọi là Mạt ni. (xt. Như Ý Bảo Châu).
chân đà ma ni hào tướng ấn
Cintamani (S)Như ý bảo chân ấn, Chân Đà Ma ni ấn, Như Lai ấn, Ngọc như ýNgọc như ý: Khi tâm nghĩ điều gì thì có điều đó.
chân đà ma ni ấn
Xem Chân Đà ra ni Hào tướng ấn.
chân đê thiên
(真胝天) Chân đê, Phạm: Cinti. Dịch ý: Thiện tư duy thiên (Trời khéo suy nghĩ). Tên cõi trời. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.4].
chân đình
(真亭) Một thứ đồ dùng trong lễ tang tại các tùng lâm. Là cái đình nhỏ trong đó đặt tượng hoặc ảnh của vị cao tăng đã viên tịch. Bốn góc có cột, như một cái đình hóng mát, chung quanh treo phan, cờ bằng giấy hoặc bằng lụa. [X. Thiền uyển thanh qui mục Tôn túc thiên hóa].
chân đường
Hall for Patriarchs' images—Trueness Hall.
; (真堂) Nhà thờ tượng các vị Tổ sư trong Thiền lâm. Thông thường, Chân đường và Thổ địa đường được dựng ở hai bên đại điện (điện Phật), trong đó thờ tượng của các Tổ sư mở ra các tông phái, tổ Đạt ma, Bách trượng, Lâm tế v.v... Ngoài ra, vị tăng trông coi Chân đường, gọi là Chân đường chủ.
chân đại đạo giáo
Chen-ta-tao chiao (C)Một học thuyết Đạo giáo do Liêu Đức Nhân sáng lập năm 1142.
chân đạo
The Truth, the true way; reality.
; Con đường của chân lý—The Truth, the true way; reality.
chân đạo vô thể
(真道無體) Tiếng dùng trong Thiền lâm, Nghĩa là đạo chân thực không có hình thể cố định. Là tiếng đồng loại với các từ Chân Phật vô hình, Chân pháp vô tướng. [X. Lâm tế Thiền sư ngữ lục thị chúng].
chân đạt la thần
Sindura (S)Chân Trì la thầnMột trong 12 bộ tướng Phật Dược sư.
; (真達羅神) Chân đạt la, Phạm: Sindùra. Là một trong mười hai thần tướng của Phật Dược sư. Còn gọi là Chân đặc la thần, Chân trì la thần, Chân đà lỗ thần, Chân đạt la phọc thần. Lãnh đạo bảy ức chúng dạ xoa, thề nguyền giữ gìn Phật pháp, đứng đầu các vương thần dạ xoa. Theo các kinh nói, thì hình tượng thần này màu vàng, cầm vòng giây lụa - có thuyết nói cỡi lợn (heo) tay phải cầm móc câu, ngón tay út, ngón vô danh của tay trái co lại, mầu đen như mực - cũng có thuyết cho là thần màu đỏ, khuỷu tay trái giơ lên và nắm tay hướng về nam, tay phải nắm lại đặt trên cạnh sườn. [X. Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp - Tu dược sư nghi quĩ bố đàn pháp].
Chân đế
真諦; S: paramārtha-satya;|Có hai nghĩa:|1. Chân lí tuyệt đối, ngược lại với Chân lí quy ước, chân lí tương đối (s: saṃvṛti-satya).|2. Chân Ðế (paramārtha, 499-569), một vị Cao tăng, chuyên dịch kinh ra tiếng Hán. Sư người Ấn Ðộ, đến Trung Quốc năm 546. Ban đầu Sư ở Nam Kinh, nhưng không bắt đầu ngay được công trình dịch thuật mà đợi đến khi về Quảng Ðông, Sư mới bắt đầu dịch các tác phẩm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda) như Nhiếp đại thừa luận (s: mahāyāna-saṃgraha) của Vô Trước (s: asaṅga), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhi-dharmakośa), Duy thức nhị thập luận tụng (vijñāptimātratāviṃśatikā-kārikā) của Thế Thân (s: vasubandhu) và kinh Kim cương ra chữ Hán. Tổng cộng, Sư dịch 64 tác phẩm với 278 tập.|Với các tác phẩm dịch thuật của mình, Chân Ðế đã giúp đưa Duy thức tông vào Trung Quốc với dạng Pháp tướng tông mà người sáng lập là Huyền Trang và Khuy Cơ. Bản dịch Câu-xá luận của Sư đã trở thành giáo pháp của Câu-xá tông tại Trung Quốc.
chân đế
Chân thể của tự tánh vượt không gian, thời gian và số lượng.
; Paramattha (P), Paramārtha (S)Xem Đệ I nghĩa đế.Xem Thắng nghĩa đế.
; Paramàrtha-satya (S). Supreme, ultimate truth; essential point; quintessence, finality;
; Chân đế của tự tánh siêu việt không gian thời gian và số lượng, chẳng thể diễn tả gọi là Chân đế.
; Paramartha-satya (skt)—Ultimate truth—Categories of reality in contrast with ordinary categories (tục đế)—Giáo pháp giác ngộ tối thượng của Phật hay cái thực không hư vọng vốn có, đối lại với thế đế (tục đế) của phàm phu, hạng chỉ biết hình tướng bên ngoài chứ không phải là chân lý—The correct dogma or averment of the enlightened—Phật pháp: The Buddha law—Đệ nhất nghĩa đế—Thắng đế—The asseveration or categories of reality. Truth in reality, opposite of ordinary or worldly truth (Thế đế) or ordinary categories; they are those of the sage, or man of insight, in contrast with those of the common man, who knows only appearance and not reality.
; (真諦) I. Chân đế. Là một trong hai đế, một trong ba đế. Chỉ nghĩa lí chân thật, không hư dối. Như nói pháp thế gian là Tục đế, pháp xuất thế gian là Chân đế. (xt. Nhị Đế). II. Chân đế (499 - 569). Vị tăng dịch kinh nổi tiếng vào khoảng thế kỉ thứ V, thứ VI. Tên Phạm: Paramàrtha. Dịch âm: Ba la mạt tha, Ba la mạt đà. Còn gọi là Câu la na đá (Phạm:Kulanàtha). Người xứ Ưu thiền ni (Phạm:Ujjainì) tây bắc Ấn độ, giòng Bà la môn, họ Phả la đoạ (Phạm: Bhàrata). Sư thông minh, biện luận thao thao. Lúc nhỏ, sư đi các nước tìm thầy tham học, nhớ dai, nghiên cứu tinh tường bốn bộ kinh Vedas và sáu bộ luận, quán thông ba tạng năm bộ, rõ suốt diệu lí Đại thừa. Niên hiệu Trung đại đồng năm đầu (546) đời Nam triều Lương, sư mang theo kinh điển đến Trung quốc. Năm Thái thanh thứ 2 (548), sư vào Kiến nghiệp (Nam kinh) yết kiến Vũ đế, lúc ấy Hầu cảnh nổi loạn, sư bèn lánh về phía nam, lần lượt đi khắp các địa phương, nay là Tô (Giang tô), Triết (Triết giang), Cám (Giang tây), Mân (Phúc kiến) và Quảng châu v.v... và đến đâu sư cũng dịch kinh không ngưng nghỉ, xong lại soạn sớ để giải thích rõ nghĩa thú trong các kinh luận. Niên hiệu Thái kiến năm đầu đời Trần, sư thị tịch, thọ bảy mươi mốt tuổi. Từ cuối đời Vũ đế nhà Lương đến niên hiệu Thái kiến năm đầu đời Trần, sư dịch được sáu mươi tư bộ, hai trăm bảy mươi tám quyển kinh luận, nay chỉ còn ba mươi sáu bộ, đại đa số là những kinh điển trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo. Sư ùng với các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang và Nghĩa tịnh, được gọi chung là bốn nhà phiên dịch lớn. Phương pháp phiên dịch và học thức của sư đối với lịch sử truyền bá Phật giáo và phiên dịch kinh điển ở Trung quốc có thể xếp vào hàng cự phách. Ngoài các luận điển Duy thức chủ yếu như luận Chuyển thức, luận Đại thừa duy thức v.v..., sư còn dịch kinh Kim quang minh, luận Nhiếp đại thừa, Nhiếp đại thừa luận thích, luận Luật nhị thập nhị minh liễu, luận Trung biên phân biệt, luận Thập thất địa (luận này được rút ra từ Luận du già sư địa), Câu xá luận thích, luận Đại thừa khởi tín v.v... Trong số này, Nhiếp đại thừa luận và Nhiếp đại thừa luận thích có ảnh hưởng lớn nhất, là căn cứ lí luận chủ yếu của học phái Nhiếp luận thời Nam triều, cũng do đó mà ngài Chân đế được tôn làm tổ của tông phái Nhiếp luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.1 - Nhiếp đại thừa luận tự - Đại đường nội điển lục Q.4, Q.5].
chân đế ba la mật
Sacca-pāramitā (S), Perfection of Truthfulness.
chân đế khuông
Paramattha-manjusa (P)Một trong những luận kinh do Dhammapala, thế kỷ 5, soạn và chú thích kinh điển Pali.
chân đế tam tạng (513-569)
Paramartha, Gunarata, or Kulanatha (skt)—Ba La Mạt Đà—Câu Na La Đà. (A) Tiểu sử của Chân Đế— Paramartha's Biography: Theo Khởi Tín Luận, Chân Đế Tam Tạng là một nhà sư, nhà dịch thuật nổi tiếng, từ vùng Tây Ấn. Chân Đế quê quán ở Ujjayini, có lẽ quan hệ đến đại học Valabhi, vùng Tây Ấn Độ, một trung tâm học Phật. Khoảng năm 546-548, một hoàng đế Trung Hoa cử một phái đoàn đến Ma Kiệt Đà để thỉnh cầu vua nước nầy cử một học giả có thể giảng dạy giáo lý đạo Phật cho Trung Hoa. Chân Đế đã theo phái đoàn đến Trung Hoa để đáp lại lời thỉnh cầu. Ông mang theo một số lớn kinh Phật và đi bằng đường biển đến Nam Kinh vào năm 548. Theo mong ước của nhà vua, trong khoảng thời gian đó đến năm 557, ông đã dịch 70 tác phẩm. Người ta nói ông cũng có viết trên 40 tác phẩm khoảng 200 quyển. Đối tượng chính của ông là truyền bá học thuyết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá và Nhiếp Đại Thừa Luận. Hoạt động văn học của ông hình như đã gây ảnh hưởng lớn trong tâm hồn Trung Hoa thời bấy giờ; điều nầy được minh chứng với nhiều đồ đệ xuất sắc dưới trướng. Chân Đế thiết lập Câu Xá Tông và hoạt động của ông chỉ có thể so sánh được với Cưu Ma La Thập ở thế hệ trước và Huyền Trang ở thế hệ sau ông mà thôi. Sau đó ông bị buộc phải đi lang thang nhiều nơi do những biến động chánh trị ở Trung Hoa. Ông sống những năm cuối đời trong ẩn dật. Năm 569 ông thị tịch, thọ bảy mươi mốt tuổi—According to the Awakening of Faith, Paramartha was a famous translator, a monk from Ujjayini, western India, probably connected with Valabhi University. Around 546-548 A.D., a Chinese emperor had sent a mision to Magadha to request the king of that country to send a scholar who could teach the Buddha-Dharma to China. Paramartha accompanied the Chinese envoys back to China in response to this request. He carried with him a large collection of Buddhist texts and travelled by the sea route, arriving in Nanking in 548 A.D. In accordance with the desire of the emperor, from that time to 557, he translated seventy texts. He is also said to have written more than forty works, altogether amounting to two hundred Chinese volumes. His chiefly object was to propagate the doctrine of Abhidharma-kosa and the Mahyana-samparigraha. His literary and religious activity seems to have greatly influenced the Chinese mind of the time as is testified by the fact that he had many able pupils under him. Paramartha founded the realistic Kosa School and his activities can be compared only with Kumarajiva who came before him and Hsuan-Tsang who came after him. Thereafter he was compelled to wander from place to place on account of political upheavals in China. The last years of his life were spent in solitude and retirement and he died in 569 A.D. at the age of seventy-one. (B) Sự nghiệp dịch thuật các kinh sách tiếng Phạn và hoằng pháp của Chân Đế—Paramartha's career of translating Sanskrit texts and propagation of Buddhism: Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, sự nghiệp dịch thuật các kinh sách tiếng Phạn của Chân Đế có thể chia làm hai phần—According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Paramartha's career of translating Sanskrit texts can be divided into two parts: a) Thời kỳ từ năm 548- đến 557—The period from 548 to 557 A.D.: Trong thời kỳ nầy ông đã dịch khoảng 10 tác phẩm, trong đó 6 cuốn còn tồn tại cho đến năm 730—During this period he translated about 10 works, of which six were still in existence in 730 A.D. b) Thời kỳ từ năm 557 đến 569 sau Tây Lịch—The period from 557 to 569 A.D.: Trong thời kỳ nầy ông đã dịch một số lớn kinh sách dưới sự bảo trợ của triều đình nhà Hán và tiếp tục công việc của của mình cho đến khi thị tịch năm 569—During this period, he worked on numerous texts under the patronage of the Han dynasty and continued his labours till he died in 569 A.D. c) Chân Đế lập ra Nhiếp Luận Tông (Mahayanasampari-graha-sastra school) tại Trung Hoa. Trường phái nầy dựa trên nền tảng của nhiều kinh sách tiếng Phạn được ông dịch ra chữ Hán. Quan trọng nhất là bộ Nhiếp Đại Thừa Luận (Mahayanasamparigraha-sastra), kinh sách căn bản của trường phái nầy. Trường phái nầy đã có những môn đệ xuất sắc và chiếm số đông trong các học giả Phật giáo Trung Hoa suốt một thời gian khoảng 80 năm. Tuy nhiên, cũng giống như bao trường phái khác ở Trung Hoa, trường phái nầy cũng phải chịu những gò bó chung về chính trị, những suy thoái của chùa chiền, và mất đi sự hậu thuẫn của dân chúng. Bên cạnh đó, sự phổ biến của Pháp Tướng Tông (Dharmalaksana school) do Huyền Trang đề xướng cũng có thể xem là một trong những lý do làm suy yếu Nhiếp Luận tông. Chân Đế coi trọng sự cần thiết phải nghiên cứu Nhiếp Đại Thừa Luận, nhưng Huyền Trang thì lại dịch bộ Thành Duy Thức Luận (Vidyamatrasiddhi-sastra) và nhấn mạnh trên sự cần thiết phải nghiên cứu một số kinh điển chọn lọc gồm sáu cuốn kinh và mười bộ luận, kể cả Nhiếp Đại Thừa Luận. Do đó Nhiếp Luận tông do Chân Đế sáng lập đã bị hòa nhập vào Pháp Tướng tông của Huyền Trang. Trường phái nầy được gọi là phái 'Tân Dịch Thuật' (New Translation Method), còn phái Nhiếp Luận tông do Chân Đế sáng lập ra được gọi là 'Cựu Dịch Thuật.' Mặc dù bị hòa nhập vào một trường phái khác, nhưng Nhiếp Luận tông vẫn còn là một tổ chức Phật giáo Trung Hoa tồn tại: Paramartha established the Mahayanasamparigraha-sastra school (She-Lun-Tsung) in China. This school was based on many Sanskrit texts translated by him , the most important being the Mahayanasamparigraha-sastra, a basic text of that school. This school had eminent disciples and prevailed among Buddhist scholars in China for about 80 years. However, like other Buddhist schools in China, this school, too, suffered from general political restrictions, the deterioration of temples, and the loss of popular support. Besides these conditions, the popularity of the Dharmalaksana school established by Hsuan-Tsang might also be considered one of the reasons for the decline of the She-Lun-Tsung. Paramartha greatly emphasized the necessity of studying the Mahayanasamparigraha-sastra, but Hsuan-Tsang, in his turn, translated the Vidy amatrasiddhi-sastra and laid emphasis on the necessity for the study of selected texts, which consist of six sutras and eleven sastras and include the Mahayanasamparigraha-sastra. Thus the Mahayanasamparigraha-sastra school established by Paramartha was absorbed by the Dharmalaksana school founded by Hsuan-Tsang. This school was called the New Translation Method while the She-Lun-Tsung founded by Paramartha was known as the Old Translation Method. In spite of the fact that the She-Lun-Tsung was absorbed by another school, it remains a permanent Chinese Buddhist institutionin China. d) Các bản dịch từ Phạn ra Hán của Chân Đế—Paramartha's translation of Sanskrit texts: • Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa: Vajracchedika-Prajnaparamita-sutra. • Nhiếp Đại Thừa Luận: Mahayanasamparigraha-sastra. • Trung Biện Phân Biệt Luận: Madhyantavibhaga-sastra. • A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Chính Luận: Abhidharma-kosa-vyakhya-sastra. • Nhiếp Đại Thừa Chính Luận: Mahayanasamparigraha-sastra-vyakhya. • Luật Nhiếp Minh Liễu Luận: Vinaya-dvavimsatiprasannartha-sastra.
chân đế tục đế
The twofold truth, the higher truth and the worldly truth. 1) Chân Đế: Higher truth—Chân lý tuyệt đối—The higher truth. 2) Tục Đế: Worldly truth—Chân lý của thế giới hiện tượng—The phenomenal truth. ** For more information, please see Nhị Đế.
chân đế đăng
Paramattha-dipāni (P)Một trong những luận kinh do Dhammapala, thế kỷ 5, soạn và chú thích kinh điển Pali.
Chân đế 眞諦
[ja] シンタイ Shintai ||| (1) The absolute truth, holy truth. Reality as perceived by enlightened people (paramārtha-satya). See 勝義諦. (2) Paramārtha (499-569), also read Shindai in Japanese. A scholar-monk of brahman background from Ujayinī in the Avanti region of Western India, who become one of the "four great translators" in Chinese Buddhist history. After traveling throughout India, he came to Guangzhou by sea route in 546. In response to the request of the emperor Wu of Liang 梁武帝 (r. 502-549) of the southern court, he came to Jiankang 建康 where he undertook the translation of Buddhist texts as a way of bringing peace to a land long torn by military struggles. Among the 64 works in the 278 fascicles that he translated, were such influential scriptural texts as the Suvarna-prabhāsa-(uttama)-sūtra 金光明經, the Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論 and the Madhyānta-vibhāga 中邊分別論. He is also attributed with the translation of the Awakening of Mahāyāna Faith 大乘起信論. His work on the Mahāyāna-saṃgraha would cause that text to become very influential as an arbiter of the Mahāyāna/Hīnayāna discussion, such that Paramārtha would eventually come to be regarded as the founder of the Mahāyāna-saṃgraha school 攝論宗. =>1. Sự thật tuyệt đối, chân lý cao quý. Thực tại được nhận biết bởi người giác ngộ (s: paramārtha-satya). Xem Thắng nghĩa đế 勝義諦. 2. Chân Đế (s: Paramārtha 499-569), còn đọc là Shindai trong tiếng Nhật. Là một vị tăng học giả thuộc dòng họ Bà-la-môn thuộc miền Avanti, nước Ujayinī, ở phía Tây Ấn Độ, trở thành một trong “Bốn vị dịch kinh lớn” trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Sau khi đi khắp Ấn Độ, sư đến Quảng Châu bằng đường biển năm 546. Đáp lời thỉnh cầu của Lương Vũ Đế (梁武帝 của Nam triều, trị vì năm 502-549), sư đến Kiến Khang 建康, nơi sư đảm trách việc dịch kinh như là một cách mang đến sự bình an cho quốc gia đã nhiều năm bị xâu xé vì chiến tranh. Trong số 64 tác phẩm gồm 278 cuốn kinh sư đã dịch, bộ kinh quan trọng nhất là Kim quang minh kinh (s: Suvarna-prabhāsa-(uttama)-sūtra 金光明經), Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論), và Trung biên phân biệt luận (s: Madhyānta-vibhāga 中邊分別論). Sư cũng được xem là người dịch luận Đại thừa khởi tín. Cuốn Nhiếp Đại thừa luận của sư rất có ảnh hưởng như một trọng tài cho các luận điểm Đại thừa/Tiểu thừa, điều đó khiến cuối cùng Sư được xem là người sáng lập Nhiếp Luận tông攝論宗.
chân độ
(真土) Còn gọi Chân báo độ. Đối lại với Phương tiện hóa độ. Tông Tịnh độ nói, cảnh giới mầu nhiệm mà đức Phật A di đà chứng được, tức là cõi Tịnh độ vắng lặng lìa tướng, chân thân của chư Phật an trụ, cũng là nơi chúng sinh có lòng tin chân thực được sinh đến. Là cõi chân thực chứ không phải cõi phương tiện, cho nên gọi là Chân độ. Đức Phật A di đà có vô lượng ánh sáng, sống lâu vô lượng, phát đại nguyện cứu độ chúng sinh, chúng sinh trong khoảng một niệm, nhanh chóng siêu chứng đạo chính chân vô thượng. Tướng trang nghiêm và nhân duyên thù thắng ở cõi này, đã được miêu tả rất tường tận trong ba kinh Tịnh độ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng - Duy ma kinh nghĩa kí Q.2 - Đại thừa nghĩa chương Q.19].
chân độc
(真讀) Phương pháp tụng đọc kinh Đại bát nhã có hai: Chân độc (đọc chân thực) và Chuyển độc (đọc qua). Từ đầu đến cuối theo thứ tự tụng hết sáu trăm quyển, gọi là Chân độc, còn chỉ đọc mỗi quyển mấy hàng đầu và giữa rồi chuyển sang quyển khác thì gọi là Chuyển độc.
chân đức bất không tông
(真德不空宗) Tông thứ tám trong mười tông do tông Hoa nghiêm phán thích. Tức là Đại thừa chung giáo, giáo thuyết cho hết thảy pháp đều là chân như, lấy tính công đức vô lậu đầy đủ Như lai tạng làm chủ yếu, như thuyết trong các kinh Thắng man, Mật nghiêm và các luận Khởi tín, Phật tính v.v... đều thuộc tông này. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
chân ảnh
Ảnh tượng chân dung, bao gồm tranh vẽ chân dung, hình ảnh hay tượng gỗ—The reflection of the truth, i.e. a portrait, photograph, image, etc.
; (真影) Còn gọi là Chân tượng, Chân nghi, gọi tắt là Chân. Ý là ảnh tượng của thân thật, chia làm hai loại đắp vẽ và chạm trổ. Tại Ấn độ, tượng Phật và Bồ tát khá thịnh hành, nhưng tượng các bậc danh đức và thiện tri thức thì rất ít. Tại Trung quốc, về sau rất thịnh hành - chân ảnh của Phật, Bồ tát, Cao tăng đại đức, các bậc đế vương truyền ở đời không ít. Tượng lại chia làm toàn mình, nửa mình - nhà Thiền gọi tượng nửa mình là Đính tượng....., nay còn lại rất nhiều tác phẩm, trong nhà Tổ, nhà Khai sơn các tông phái đều có đặt tượng các Tổ sư. Lại nữa, trong nghi thức an táng các bậc tôn túc, có thiết trí một cỗ khám rồi đặt tượng nửa mình của người quá cố trong đó, gọi là Chân khám. [X. Lương cao tăng truyện Q.1].
Chân ảnh 眞影
[ja] シンエイ shin'ei ||| (1) True shape, true form. (2) The painted or carved image of a famous saint. => 1. Hình bóng chân thật, sặc tướng chân thật. 2. Tranh hay ảnh tượng của bậc thánh.
Chân 眞
[ja] シン shin ||| (1) True, actual, real; pure, undiluted, undefiled; correct. (tattva) (2) Really, truly, completely. (3) Way, path. (4) As it is; naturally. (tathā) => 1. Thật, có thật, thực tế; nguyên chất, không pha tạp; đúng (s: tattva). 2. Thật, đích thực, hoàn hảo. 3. Đạo, pháp. 4. Như là; đương nhiên (s: tathā).
Chân-đà-la 甄陀羅
[ja] ケンタラ kentara ||| One of the alternative transcriptions of kiṃnara. See 緊那羅. => Phiên âm khác của chữ kiṃnara. Xem Khẩn-na-la 緊那羅.
châu
1) Bảo châu Mani: Mani (skt)—A pearl—A bead. 2) Chân lý Phật pháp: The Buddha-truth. 3) Lục địa: Continent.
; (珠) Phạm, Pàli: Maịi Dịch âm: Ma ni, chỉ cho ngọc báu, thông thuờng còn gộp cả dịch âm, dịch ý lại gọi là Ma ni châu. Trong các kinh luận, nhiều chỗ nói về các công đức thù thắng của Ma ni bảo châu, như trong suốt, sáng rỡ, đầy đủ mọi tướng, có khả năng chữa khỏi các bệnh lạnh, nóng, lở loét, phù thũng, cho đến nọc độc của các loài ong, rắn, rết v.v…... là một trong bảy thứ báu của vua Chuyển luân thánh vương. Trong kinh điển còn dùng làm thí dụ, như trong Y châu dụ (dụ hạt ngọc trong áo), đem viên ngọc thí dụ sự ngu tối của phàm phu, chẳng biết trong tâm của chính mình vốn có sẵn tính Như Lai tạng - Kế châu dụ (dụ viên ngọc trong búi tóc) dùng viên ngọc thí dụ thực lý nhất thừa. Ngoài ra, thông thường phần nhiều cũng dùng nó để thí dụ diệu lý thực tướng. (xt. Y Châu Dụ, Kế Châu Dụ).
Châu anh
(珠纓): giải mũ bằng hạt châu quý, thường dùng để trang sức trên đầu, từ đó nó nó chỉ cho người cao quý mang các loại trân quý trên mình. “Châu anh bảo quân (珠纓寳君)” có nghĩa là người vợ hiền cao quý như các thứ trân báu trên đời.
châu biến
Universal—Everywhere—On every side.
châu biến pháp giới
The universal dharmadhatu—The universe as an expression of the dharmakaya—The universe.
Châu biến 周遍
[ja] シュウヘン shūhen ||| Extensive, universal. Extensively, or universally going and operating. => Bao quát, phổ biến. Cùng khắp, lan toả và vận hành khắp chốn.
châu báu
Ratna (P), Ratanam (P), kern cho (T), Treasure BảoXem ratna. - tiratanam, rattanattayam: Tam bảo.
châu bảo
Precious things (stones).
châu bảo bát công đức
(珠寶八功德) Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 2 nói, thì Thần châu bảo trong bảy báu của vua Chuyển luân thánh vương có tám thứ công đức sau đây: 1. Năng tác quang minh, nghĩa là trong đêm tối, Thần châu bảo có thể phóng ra ánh sáng, khiến người ta thoát ra khỏi bóng tối, còn lúc ban ngày nóng bức thì tỏa ra ánh sáng mát rợi, khiến người ta khỏi khổ nóng nực, được sự mát mẻ. 2. Năng tế khát phạp, nghĩa là ở giữa nơi đồng hoang không có nước, Thần châu bảo có khả năng phun ra nước trong mát để giải khát cho tất cả. 3. Tùy thuận vương ý, nghĩa là khi Chuyển luân vương khởi lên ý nghĩ, thì Thần châu bảo thuận theo ý vua, như khi vua nghĩ đến nước, thì ngọc báu liền tuôn ra nước trong sạch để giúp đời. 4. Thể cụ chúng sắc, nghĩa là Thần châu bảo có đủ tám góc, các góc đều phóng ra mầu xanh, vàng, đỏ, trắng tươi sáng. 5. Năng li bệnh khổ, nghĩa là Thần châu bảo có khả năng khiến người ta lìa cái khổ bệnh tật và tâm được ngay thẳng, tất cả điều mong cầu đều được toại nguyện. 6. Năng giáng cam vũ, nghĩa là thế lực của Thần châu bảo chỉ bắt rồng dữ rưới xuống những hạt mưa mát mẻ ngọt ngào, chứ không cho trút xuống những trận mưa to gây ngập lụt. 7. Năng sinh chư vật, nghĩa là tại những nơi không có nước, không có cây cỏ, thì Thần châu bảo có thể khiến những ao nước dạt dào, cỏ cây xanh tốt. 8. Tại xứ lợi ích, nghĩa là ở nơi có Thần châu bảo thì con người không ức hiếp, giết hại lẫn nhau, không tức giận mà lúc nào cũng hòa vui.
châu cam tự
(珠甘寺) Châu cam, tên Tây tạng: Jo-khaí. Chùa ở trung tâm Lạp tát (Lha sa) tại Tây tạng. Còn gọi là Đại triệu tự, Đại chiêu tự, là ngôi chùa xưa nhất cũng là ngôi tịnh xá thiêng liêng nhất ở Tây tạng, cho nên rất nổi tiếng. Ngôi chùa này do vua Tây tạng Khí tôn lộng tán (Tạng: Sroí-btsan sgam-po) kiến tạo vào thế kỷ thứ bảy Tây lịch. Nhà vua cưới công chúa Ba lị khố cơ (Bhfkuỉi) của Ni bạc nhĩ (Nepal) và công chúa Văn thành của nhà Đường làm vợ. Hai người đàn bà này đều tin theo Phật giáo, cho nên, khi công chúa Ni bạc nhĩ thỉnh được pho tượng phật A súc bằng kim đồng rất lớn đưa về, nhà vua bèn làm một ngôi chùa tại trung tâm Lạp tát, quay hướng tây để thờ, chùa này về sau gọi là chùa Châu cam. Công chúa Văn thành thì thỉnh một pho tượng Phật Thích ca bằng kim đồng, nhà vua ũng làm chùa Lạp ma tiệp (Tạng: Ra-mo-che, tức Tiểu chiêu tự) ở góc phía bắc Lạp tát, quay hướng đông nhìn về Trường an, để thờ. Sau vì chiến loạn, người Tây tạng đem tượng phật A súc dời đến chùa Lạp ma tiệp, rồi đưa pho tượng Phật Thích ca của công chúa Văn thành về dấu trong điện Phật của chùa Châu cam, từ đó về sau, pho tượng Phật Thích ca vẫn để thờ ở chùa này, và trở thành nơi trung tâm tín ngưỡng Phật giáo ở thời ấy. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ nhã nhân) - Tây tạng văn hoá tân nghiên cứu (Thanh mộc văn giáo)]. (xt. Đại Chiêu Tự, Tiểu Chiêu Tự).
châu chử
(洲渚): chỉ hòn đảo hay cồn đất lớn nổi lên giữa sông, biển; trong nhiều kinh văn thường được dùng để ví với cảnh giới giải thoát, Niết-bàn, vì giống như giữa biển sanh tử nổi lên hòn đảo lớn, có thể an trú nơi đó, cách biệt hẳn với Ba cõi.
; Một bãi cát biệt lập, ý nói tách biệt với thế giới bên ngoài hay cắt đứt phiền não, đồng nghĩa với Niết Bàn—An island, i.e. cut off, separated, a synonym for nirvana.
châu hoàng
Shuko (J).
Châu Hoằng
袾宏|Vân Thê Châu Hoằng
châu hoằng
Chu-hung (C), Zhuhong Triều nhà Minh, đã tổng hợp Thiền và Tịnh độ (1535-1615).
; (袾宏) (1532-1612) Vị tăng đời Minh. Người Hàng châu, họ Trầm, tự Phật tuệ, hiệu Liên trì. Lúc nhỏ học Nho, mười bảy tuổi đỗ Tú tài, học hành nổi tiếng. Chịu ảnh hưởng của người hàng xóm, nương tâm nơi Tịnh độ, viết bốn chữ Sinh tử sự đại ở đầu án sách để tự cảnh tỉnh. Qui y Phật giáo lúc trung niên, y vào sa môn Vô môn Tính thiên ở Tây sơn xuống tóc và theo sa môn Vô trần ở chùa Chiêu khánh thụ giới Cụ túc. Lấy việc tham vấn bốn phương làm chính. Năm Long khánh thứ năm (1571), sư vào núi Vân thê tại Hàng châu, ở trong một ngôi chùa đã hoang phế. Sư thường tiến tu niệm Phật tam muội, giáo hoá xa gần, tăng chúng tìm đến, chùa bèn trở thành nơi tùng lâm. Năm Vạn lịch 12 (1584) viết Vãng sinh tập 3 quyển, năm 30 soạn Lăng nghiêm kinh mô tượng khí một quyển. Thời ấy, đàn giới bị cấm đã lâu, sư bảo những người cầu giới sắm đủ ba áo rồi lên trước đức Phật thụ giới xin Phật chứng minh - lại chế định Thủy lục nghi văn và Du già diệm khẩu pháp để cứu nỗi khổ trong chốn tối tăm. Trong ngoài thành, đào ao phóng sinh, soạn Giới sát phóng sinh văn để răn cấm sự giết hại. Sư chủ trương Tịnh độ, kịch liệt chê trách kẻ cuồng Thiền, cực lực đề xướng Thiền Tịnh song tu, đạo phong mỗi ngày một thịnh. Một thời, các bậc sĩ đại phu như Tống ứng xương, Lục quan tổ và Phùng mộng trinh v.v... đều được cảm hóa. Tuổi già, bệnh phát, sư lại càng siêng Tịnh nghiệp, viết ba mươi hai điều chẳng lành để cảnh tỉnh mình và người, lại viết ba điều đáng tiếc, mười điều đáng mừng để đốc thúc đồ chúng. Năm Vạn lịch 40 (có thuyết nói 43), sư tịch, thọ tám mươi mốt tuổi. Đời gọi là Vân thê hòa thượng, Liên trì đại sư - cùng với Tử bá, Hàm sơn, Ngẫu ích gọi chung là bốn đại cao tăng đời Minh. Ngoài các trứ tác đã ghi ở trên, sư còn có: Thiền quan sách tiến, Phạm võng giới sớ phát ẩn, A di đà kinh sớ sao, Hoa nghiêm kinh cảm ứng lược kí v.v..., tất cả hơn 30 loại. Sau do Vương vũ Xuân thu tập các trứ tác của sư lại thành Vân thê pháp vựng 34 quyển. [X. Thích giám kê cổ lược tục tập Q.3 - Tịnh độ thánh hiền lục Q.5 - Bổ tục cao tăng truyện Q.5 - Tục đăng tồn cảo Q.12 - Ngũ đăng nghiêm thống Q.16].
châu hoằng đại sư
Chou-Hung—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Châu Hoằng Đại Sư là vị Tổ thứ tám của Tịnh Độ Trung Quốc. Ngài tự là Phật Tuệ, hiệu Liên Trì. Người họ Trầm đời nhà Minh, quê ở quận Nhân Hòa tỉnh Hàng Châu. Năm 17 tuổi ngài đã được bổ nhậm làm chức Giáo Thọ, nổi tiếng là người học hạnh kiêm toàn. Láng giềng của ngài có một bà lão, mỗi ngày niệm Phật vài ba ngàn câu, lấy làm thường khóa. Nhân lúc rảnh rỗi ngài sang chơi, thấy thế mới hỏi duyên cớ, thì bà lão đáp rằng: “Ông nhà của tôi lúc sanh tiền chuyên lo niệm Phật, đến khi sắp chết, không đau bệnh chi cả mà trái lại còn vui vẻ vòng tay cáo biệt mọi người rồi mới qua đời. Do đó nên tôi biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn.” Ngài nghe xong rất lấy làm cảm động. Từ đó luôn để ý đến pháp môn Tịnh Độ, ngài lại còn viết thêm bốn chữ “Sống Chết Việc Lớn” dán vào nơi vách đầu nằm để tự răn nhắc. Năm 30 tuổi ngài xuất gia. Sau khi xuất gia xong, ngài đi du phương tham học đạo pháp nơi các bậc cao Tăng. Cuối cùng ngài đến học đạo với Ngài Tiếu Nham Nguyệt Tâm Thiền Sư. Ngài tham cứu câu “Niệm Phật Là Ai.” Một hôm đang đi và tham cứu, bỗng ngài chợt tỉnh ngộ, liền làm bài kệ rằng: “Hai chục năm qua việc đáng nghi, Ngoài ba ngàn dậm gặp sao kỳ. Đốt hương, liệng kích dường như mộng, Ma, Phật tranh suông: Thị lẫn phi.” Năm Long Khánh thứ 5, đại sư đi khất thực ngang qua miền Vân Thê, thấy cảnh nước non cực kỳ u nhã, nên ngài quyết ý cất am ở tu. Trong núi ấy có nhiều cọp, ngài mới hành pháp Du Già Thí Thực, từ đó cọp beo cùng các loài thú dữ đều không còn quấy hại dân cư trong vùng nữa. Mấy năm sau, gặp lúc nắng hạn lâu ngày, suối cạn, đồng khô, mùa màng thất bát nên dân cư quanh vùng đến nơi am của ngài xin ngài cầu mưa. Ngài đáp: “Tôi chỉ biết có niệm Phật mà thôi chớ không có tài chi khác.” Mọi người vẫn cố nài thỉnh xin ngài từ bi. Đại sư cảm lòng thành của dân chúng nên ngài bước ra khỏi thảo am, gõ mõ và đi dọc theo bờ ruộng mà niệm Phật. Bước chân của ngài đi đến đâu thì mưa lớn rơi theo đến đó. Dân chúng vui mừng, kính đức, cùng nhau hiệp sức xây điện, cất chùa. Tăng chúng khắp nơi lần lượt hướng về, không bao lâu chỗ ấy trở thành một cảnh tòng lâm trang nghiêm, thanh tịnh. Đại sư tuy tỏ ngộ thiền cơ, song vì thấy căn lực của con người thời mạt pháp yếu kém, kẻ nói lý thời nhiều, song chứng ngộ được lý thì rất ít. Vì muốn lợi mình lợi người, nên ngài chủ trương hoằng dương Tịnh Độ, cực lực bác bỏ “Cuồng Thiền.” Bộ sách Phật Thuyết A Di Đà Kinh Sớ Sao do ngài trước tác, dung hòa cả sự lẫn lý, gồm nhiếp khắp ba căn, trong đó lời ngài dẫn giải rất uyên áo. Trước kia các bậc tôn đức trong Phật giáo, tuy là hoằng tuyên Tịnh Độ, song vẫn không bỏ Thiền Tông. Đến phiên đại sư là người được chánh truyền tâm ấn từ nơi ngài Tiếu Nham Thiền Sư thuộc dòng Lâm Tế, mà lại chỉ chuyên môn hoằng dương về Tịnh Độ. Vì thế cho nên các nhà Thiền học đương thời rất không bằng lòng. Bình thường đại sư cũng tu thêm các công đức, phước lành khác để phụ trợ cho tịnh nghiệp của mình. Ngài cũng truyền trao giới pháp Sa Di, Tỳ Kheo, Bồ Tát, Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, và khai ao phóng sanh. Ngoài ra, ngài lại thẩm định nghi thức “Thủy Lục Trai Đàn” (cúng vong trên bờ và vớt vong dưới sông), Hành Pháp Du Già để cứu khổ u minh, truyền bá văn Giới Sát (khuyên không nên sát sanh), khuyên người cải ác, quy hóa, làm lành rất nhiều. Ngài cũng dùng những bài kệ cảnh tỉnh thế nhân và khuyến hóa người người thức tỉnh, hồi đầu tu niệm. Năm Vạn Lịch thứ 40, cuối tháng sáu, đại sư vào thành từ biệt các đệ tử và những người cố cựu, nói rằng: “Tôi sắp đi nơi khác.” Nói xong ngài trở về chùa thiết tiệc trà từ giả đại chúng. Mọi người không ai hiểu là duyên cớ gì. Đến chiều ngày mùng một tháng bảy, ngài vào Tăng đường bảo đại chúng: “Mai nầy tôi sẽ đi.” Qua chiều hôm sau, đại sư kêu mệt rồi vào trong tư thất ngồi kiết già nhắm mắt. Chư Tăng và các đệ tử tại gia cùng những người cố cựu trong thành đều hội đến chung quanh. Ngài mở mắt ra nhìn mọi người rồi nói rằng: “Các vị nên chân thật niệm Phật, đừng làm điều chi khác lạ cả, và chớ phá hoại quy củ của tôi.” Nói xong, ngài hướng mắt về Tây, chắp tay niệm Phật mà qua đời. Ngài hưởng thọ 81 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Chou-Hung was the Eighth Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His self-given name was Buddha's Wisdom and his Dharma name was Lien-Chih. He was a son of the Trầm family of the Nhân Hòa District, Heng-Chou Province. He lived during the Ming Dynasty. When he turned seventeen, he was already appointed as a teacher and was renowned for being a complete person having both virtues and talents. One of his neighbors was an elderly woman who practiced Buddha Recitation, reciting up to several thousand times a day as her daily ritual. Seeing this, he asked the woman for a reason, and he was told: “When my husband was alive he practiced Buddha Recitation regularly; when nearing death, he was not sick or anything; in contrast, he seemed happy and at peace as he placed his palms together to bid a final farewell to everyone before passing away. For this reason, I know the virtues and merits of practicing Buddha Recitation are unfathomable.” After hearing this, he was greatly touched. From that time, he often paid attention to the Pureland Dharma Door. Moreover, he also wrote these four words “Life and Death is a Great Matter” and pinned them on the walls, table, headboard, etc, in order to remind himself. When he turned thirty, he was ordained and became a Bhiksu. After completing the ceremony, he traveled abroad to learn the Buddha-Dharma from well-known, highly respected and virtuous Buddhist Masters. Eventually, he came to learn Buddhism with Zen Master Tiếu Nham Nguyệt Tâm to examine and investigate fully the meanings behind the question “Who Is Buddha?” One day, while walking and pondering deeply, he suddenly awakened and immediately composed this poem: “Twenty years with one persisting doubt, Beyond three thousand miles encounters a star Light incense throws away all illusions, Devil, Buddha who's better is just a futile discussion. In the fifth year of the Lung-Hsing reign period, while traveling as a mendicant monk in Wen-His region, he saw how utterly serene and anchanting the mountainous area was and decided to build a temple there. In that mountain, there were many tigers so he began feeding them. From that time, the tigers and other predators in the region no longer harmed or disturbed local residents as they had done in the past. Several years later, the region had a long drought, creeks and farming fields dried up. With the severe climate changes, no crops could be planted. Eventually, the local residents came to the Great Master's cottage and asked him to “Pray For Rain.” He replied: “I only know how to recite Buddha's name, otherwise I have no other talent or ability.” Everyone continued to plead with the Great Master to please have compassion and being sympathetic to their sincere prayers, he came out of his small shrine with a gong in his hand. As he followed the perimeter of the fields to begin chanting Buddha's name, with each step the Great Master took great rain followed immediately behind him. The people were overjoiced and greatly admired and respected his virtues. As a mean to demonstrate their gratitude and appreciation, the community collaborated to built a temple for him. Gradually, the Sangha from everywhere began gathering there, and before long, the area had become a pure, peaceful and adorning Congregation. Despite already being awakened to and fully penetrating Zen teachings, when the Great Master examined carefully, he observed: "“he cultivated capacity and will power of people in the Dharma Ending Age is weak and deficient. Those who speak of Theory are in abundance but those who actually attain and realize Theory are extremely rare.” Because he wished to benefit both himself and others, the Great Master advocated and propagated Pureland Buddhism and objected strongly to “Mad Zen.” The volume “Comentary on Buddha Speaks of Amitabha Sutra” was written by him as he harmonized both practice and theory including all three cultivated levels. The tachings within it were deep and penetrating. In earlier times, although many of the highly virtuous Buddhist Masters propagated Pureland Buddhism, they still did not abandon Zen practices. However, once the Great Master assumed the leadership position of the Lin-Chi Zen Tradition, when he had fully attained its theoretical teaching from Zen Master Tiếu Nhâm, he focused and limited his propagation by teaching only Pureland. For this reason, Zen scholars of the day were quite discontented with him. Usually, the Great Master also cultivated additional virtuous and meritorious practices to support karma of purity. He also granted and gave Dharma precepts to Buddhists for them to maintain from Five Precepts, Eight Precepts, Ten Precepts to Sramanera Precepts, Bhiksu PreceptsBodhisattva Precepts. He also built ponds to free aquatic animals. Additionally, the Great Master performed various religious ceremonies to donate food to spirits on land and to rescue spirits who had died in the water. He also wrote the practicing the Dharma “Food Giving” to aid those suffering in the Under World by reciting certain mantras, propagating dharma speeches on the non-killing precept to encourage Buddhists to avoid killing, murdering and destroying any living creatures, encouraging many others to change and overcome their wicked ways and to practice goodness and virtues. Aside from various propagation and dharma teaching practices, the Great Master often used various poems to disillusioned and help guide people so they would become awakened and atone for their actions, taking the cultivatd path, etc. Toward the end of June in the fortieth year of Wen-Hsing reign period, the Great Master came into the city to bid farewell to his disciples as well s people he had known for a great many years. He told them: “I will soon go to another place.” He then returned to his temple to have a tea party to bid farewell to his assembly. No one understood what he was doing. Then on the evening of the first of July, he came to the meeting room for the Sangha and told the great assembly: “I am leaving tomorrow.” Then, during the evening of the next day, he said he was tired and went to his room, closed his eyes and sat down in meditation. The Bhiksus and lay Buddhists, as well as his long time acquaintances in the city all gathered around him. He opened his eyes and said: “All of you need to practice Buddha Recitation sincerely and genuinely, don't do anything diferent, and don't destroy the tradition I have established.” After speaking, he turned to face the West and then put his palms together to recite Buddha's name as he passed away. He was 81 years old.
châu hy
Chou his (C).
châu kế bồ tát
Maṇicuda (S)Tên một vị Bồ tát.
châu lệ
Tears.
Châu Lợi Bàn Đà Dà
(s: Cūḍapanthaka, Cullapatka, Kṣullapanthaka, Śuddhipaṃthaka, p: Cullapanthaka, Cūḷapanthaka, 周利槃陀伽): vị La Hán thứ 16 trong Thập Bát La Hán (十八羅漢). Âm dịch là Châu Trĩ Ban Tha Già (周稚般他伽), Côn Nỗ Bát Đà Na (崑努鉢陀那), Chú Lợi Ban Đà Già (咒利般陀伽), Châu Lợi Bàn Đặc (朱利槃特), Chú Đồ Bán Thác Ca (注荼半托迦); gọi tắt là Bàn Đà (般陀), Bán Thác Già (半託伽); ý dịch là Tiểu Lộ (小路), Lộ Biên Sanh (路邊生). Khi đức Phật còn tại thế, ông là con của một vị Bà La Môn tại Thành Vương Xá (s: Rājagṛha, p: Rājagaha, 王舍城), sau cùng với anh là Ma Ha Bàn Đặc (s: Mahāpanthaka, 摩訶槃特) đều xuất gia làm đệ tử Phật. Bẩm tánh của ông chậm lụt, ngu độn; khi học giáo lý, tụng kinh qua, ông đều quên mất, chẳng nhớ một câu một từ nào, thậm chí đến tên của ông cũng quên mất, không nhớ; cho nên người đương thời gọi ông là Ngu Lộ (愚路). Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm có kể câu chuyện anh ông thấy vậy bảo rằng nếu ngu si không thuộc chữ nào thì nên trở về thế tục, không nên ở trong chùa và đuổi ông ra khỏi chùa. Ông ra trước cổng chùa đau xót, khóc lóc thảm thiết. Đức Phật dùng tuệ nhãn thanh tịnh thấy được tình cảnh này, bèn từ tĩnh thất đến Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), gặp Châu Lợi Bàn Đặc, khuyên nhũ ông nên dùng chổi để quét sạch những vô minh, ngu muội, nghiệp chướng trong người mình. Ngài chỉ dạy cho một câu “phất trần trừ cấu (拂塵除垢, quét bụi trừ nhớp)” và khuyên ông nên ngày đêm vừa lau chùi dép của chư tăng, vừa tụng niệm, quán sát, tư duy và thực hành. Ông chậm lụt đến nỗi khi đọc câu trên thì quên quét, đọc chữ trước quên chữ sau, hay quét thì quên đọc câu kệ ấy. Có một hôm nọ, khi đang tụng câu đó, ông hốt nhiên đại ngộ, chứng quả A La Hán. Sau khi chứng ngộ, thần thông của ông rất kỳ diệu, có thể hiện các hình tượng khác nhau, thường dùng thần thông thị hiện thuyết pháp cho nhóm Lục Quần Tỳ Kheo (六郡比丘). Tương truyền vào cuối đời, ông cùng với 1.600 vị Tỳ Kheo khác đến trú tại Trì Tụ Sơn (持軸山) để hộ trì chánh pháp và làm lợi ích chúng sanh. Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có vẽ hình tượng của ông ngồi dưới gốc cây khô, đưa tay trái ra.
châu lợi bàn đà dà
Suddhipanthaka (S)Xem Châu lỵ bàn đặc ca. Xem Sudhipanthaka.
châu lợi bàn đà già
Suddhipanthaka (skt)—Bàn Đặc—Ksudrapanthaka (skt)—Châu Lợi Bàn Đặc—Châu Lợi Bàn Đặc Già—Châu Lợi Bàn Thố—Kế Đạo—Tiểu Lộ—Châu Đồ Bán Thác Ca. 1) Tịnh Đạo: Purity-path. 2) Tiểu lộ: Little or mean path. 3) Hai anh em sinh đôi, một tên Bàn Đặc, và một tên Châu Lợi Bàn Đà Già (Châu Lợi Bàn Đặc). Người anh thì thông minh lanh lợi, người em thì đần độn đến nỗi không nhớ cả tên mình, nhưng sau nầy người em trở thành một trong những đại đệ tử của Đức Phật, và cuối cùng đắc quả A La Hán—Twin brothers were born on the road, one called Suddhipanthaka or Purity-path, the other born soon after and called Ksudrapanthaka, or small road. The elder was clever, the younger stupid, not even remembering his own name, but later became one of the great disciples of the Buddha, and finally an arhat.
châu lợi da
Culya or Caula, or Cola (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Châu Lợi Da là một vương quốc cổ, nằm về phía đông bắc khu Madras, nơi được mô tả là vào khoảng năm 640 sau Tây Lịch hãy còn dã man, cư dân ở đây lúc ấy quyết liệt chống lại đạo Phật—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Caula is an ancient kingdom in the northeast corner of the present Madras presidency, described in 640 A.D. as a scarcely cultivated country with semi-savage and anti-Buddhistic inhabitants.
châu lợi da quốc
(珠利耶國) Tên một nước xưa tại nam Ấn độ. Châu lị da là dịch âm từ tục ngữChoơya của miền nam Ấn độ đời xưa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì nước Châu lị da chu vi hai nghìn bốn trăm năm mươi dặm, Đô thành chu vi hơn 10 dặm, đất đai bỏ không, rừng rú hoang vu, dân cư thưa thớt, trộm cướp công khai, phong tục gian dối, tính người dữ tợn, tin sùng ngoại đạo, già lam đổ nát, có ít tăng đồ, có vài chục đền thờ trời, phần nhiều là ngoại đạo khỏa hình (ở truồng). Về mạn đông nam Đô thành không xa, có tòa tháp do vua A dục dựng. Khi xưa đức Như lai đã từng hiển thị thần thông ở nước này, nói pháp vi diệu, hàng phục ngoại đạo, độ các trời người, về phía tây Thành đô không xa, có ngôi già lam cũ, là nơi bồ tát Đề bà nghị luận với các La hán. [X. Đại đường đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4 - Đông nam Ấn độ chư quốc chi nghiên cứu - Nam phương quyển chi tôn giáo - Trung quốc Nam dương giao thông sử].
châu lỵ bàn đà già
Sudapanthaka (S)Chú đồ bán thác ca, Châu lỵ bàn đặc na, Châu đà, Kế đạo, Đại lộ biên.
châu lỵ bàn đặc ca
Sudhipanthaka (S), Suddhipanthaka Châu Đà, Châu lợi bàn đà dàMột trong 16 vị A la hán, đệ tử Phật, phái đi hoằng pháp nước ngoài. Khi mới xuất gia, ông Châu Đà rất tối dạ học mãi một bài kệ 4 câu mà không thuộc. Thế nhưng ông cố gắng tu và nhờ Phật điểm hoá mà đắc A la hán.
châu lỵ bàn đặc na
Xem Châu lỵ bàn đà già.
châu ma ni
Ngọc Ma Ni—See Mani in English-Vietnamese Section.
châu man
(珠鬘) Là lọn tóc dùng các châu ngọc vàng bạc, lưu li để kết thành, là vật cúng dường hoặc vật trang sức trong Mật giáo.
châu ngọc
See Châu bảo.
châu phất bà đề
Xem Đông thắng Thần châu.
Châu Thương Tướng Quân
(周倉將軍): vị phó tướng của Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Truyền thuyết cho rằng ông người vùng Bình Lục (平陸), nhà Đông Hán. Khi Quan Thánh Đế Quân trấn thủ Kinh Châu (荆州), ông được cử trấn thủ Mạch Thành (麥城); lúc bấy giờ quân Đông Ngô tấn công Kinh Châu, Quan Thánh Đế Quân bị bại trận phải chạy đến Mạch Thành lánh nạn, nhưng giữa đường bị giết chết. Châu Thương đứng trên thành nhìn xuống thấy đầu Quan Thánh, bèn tự vẫn chết theo. Ông được thờ trong Miếu Quan Thánh cùng với Quan Bình Thái Tử (關平太子), hình tượng đứng, mặt đen, râu ngắn, mắt sáng quắt, tròn xoe, thân mang áo giáp, tay trái cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀), khuôn mặt thể hiện thần sắc uy lẫm. Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có xưng tán rằng: “Chí tâm quy mạng lễ: Phù Thiên Dũng Tướng, Sát Địa Mãnh Thần, thiết tu ngân xỉ, hắc diện chu thần, tinh trung đặc lập, kính tiết kinh nhân, khể tra thiện ác, củ sát phàm trần, minh minh hiển hách, xứ xứ du tuần, sừ gian sừ ác, cứu thế ưu dân, trung thần nghĩa sĩ, phù bỉ siêu thần, quai nhi nghịch tử, bất thắng nỗ sân, duy trì thế giáo, khuông chánh nhân luân, trảm yêu hộ pháp, đại đạo thường tồn, tối linh chơn tể, tối hiển thần quân, hộ triều hộ quốc, Cương Trực Trung Dũng Đại Thiên Tôn (志心皈命禮、扶天勇將、察地猛神、鐵鬚銀齒、黑面朱唇、精忠特立、勁節驚人、稽查善惡、糾察凡塵、冥冥顯赫、處處遊巡、鋤奸鋤惡、救世憂民、忠臣義士、扶彼超伸、乖兒逆子、不勝怒瞋、維持世敎、匡正人倫、斬妖護法、大道常存、最靈真宰、最顯神君、護朝護國、剛直忠勇大天尊, Một lòng quy mạng lễ: Phò Trời Dũng Tướng, Xét Đất Mãnh Thần, râu sắt răng bạc, mặt đen môi hồng, trung nghĩa hiên ngang, tiết vững kinh người, kiểm tra thiện ác, xem xét phàm trần, mờ mờ hiển hách, chốn chốn tuần du, trừng gian phạt ác, cứu thế độ dân, trung thần nghĩa sĩ, giúp người việc phải, con cái trái nghịch, giận dữ khôn xiết, duy trì đạo đời, chỉnh đốn nhân luân, chém yêu hộ pháp, đạo lớn thường tồn, tột linh chơn tể, tột hiển thần quân, giúp vua giúp nước, Cương Trực Trung Dũng Đại Thiên Tôn).”
châu thới
Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng (còn gọi chùa Núi Châu Thới), tọa lạc trên một ngọn đồi cao 85 mét trên núi Châu Thới, thuộc ấp Châu Thới, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Phước Long, Nam Việt Nam. Chùa do Thiền sư Khánh Long tạo dựng vào thế kỷ thứ 17. Theo sách Thiền Sư Việt Nam của Hòa Thượng Thích Thanh Từ thì chùa được dựng năm 1612 và trải qua 18 đời truyền thừa. Kiến trúc chùa hiện nay do cuộc trùng tu năm 1954, cổng được xây năm 1970. Ở chánh điện có ba pho tượng Phật cổ bằng đá. Chùa cũng có pho tượng Quán Âm được Hòa Thượng Thiện Hóa tạc từ gỗ mít trên 100 năm, hiện vẫn còn. Đại hồng chung của chùa cao 1 mét 85, đường kính 1 mét 10 phân—Name of a famous ancient pagoda located on the slope of the hill of 85 meters high and 208 stairs, in Châu Thới hamlet, Bình An village, Thuận An district, Phước Long province, South Vietnam. The pagoda was established by Ch'an Master Khánh Long in the seventeenth century. According to “Thiền Sư Việt Nam” composed by Ch'an Master Thích Thanh Từ, the pagoda was built in 1612 and headed by eighteenth successive Most venerables. The present structure was built in 1954. The gate was built in 1970. In the Main Hall, there are three Buddha statues made of stone. Carved in jacktree wood by Most Venerable Thiện Hóa (passed away in 1849), the statue of Avalokitesvara Bodhisattva has been enshrined in the pagoda for over one hundred years. The great bell, 1.85 meters in height and 1.10 meters in diameter, has been kept in the pagoda.
Châu Tước
(朱雀): (1) Tên của một loại thần điểu, như trong Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談) quyển 7 có câu: “Tứ phương thủ tượng, Thương Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Quy Xà; duy Châu Tước mạc tri hà vật, đản vị điểu nhi châu giả, vũ tộc xích tường thượng, tập tất phụ mộc, thử hỏa chi tượng dã; hoặc vị chi trường cầm (四方取象、蒼龍、白虎、朱雀、龜蛇、唯朱雀莫知何物、但謂鳥而朱者、羽族赤而翔上、集必附木、此火之象也、或謂之長离, bốn phương có các hình tượng là Thương Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Quy Xà; chỉ có Châu Tước không biết thuộc vật nào; có người bảo rằng chim màu đỏ là loại có lông đỏ mà bay liệng trên cao; khi tập trung thì nương vào cây; loại này tượng trưng cho lửa; hoặc bảo nó là loài chim dài).” (2) Tên gọi chung của bảy ngôi sao ở phương Nam, gồm: Tỉnh (井), Quỷ (鬼), Liễu (柳), Tinh (星), Trương (張), Dực (翼) và Chẩn (軫). Cho nên, trong Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 của Đạo Giáo gọi Nam Phương Châu Thôi Tinh Quân (南方朱崔星君) là Tỉnh Tú Thiên Tỉnh Tinh Quân, Quỷ Tú Thiên Quỹ Tinh Quân, Liễu Tú Thiên Trù Tinh Quân, Tinh Tú Thiên Khố Tinh Quân, Trương Tú Thiên Bình Tinh Quân, Dực Tú Thiên Đô Tinh Quân, Chẩn Tú Thiên Nhai Tinh Quân (井宿天井星君、鬼宿天匱星君、柳宿天廚星君、星宿天庫星君、張宿天秤星君、翼宿天都星君、軫宿天街星君). (3) Một trong Tứ Linh (四靈), là vị thần thủ hộ phương Nam trong thần thoại cổ đại Trung Quốc, còn gọi là Châu Điểu (朱鳥), cũng gọi là Phụng Hoàng (鳳凰) hay Huyền Điểu (玄鳥). Châu là màu đỏ, tượng trưng cho lửa, phương Nam thuộc lửa, nên có tên Phụng Hoàng. Châu Tước cũng thuộc một dạng của Bất Tử Điểu (不死鳥) ở phương Tây, vì vậy có tên là Khiếu Hỏa Phụng Hoàng (叫火鳳凰). Trong Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) của Đạo Giáo có đề cập đến hiệu của Châu Tước là “Lăng Quang Thần Quân (陵光神君).” Trong Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Nam phương Châu Thôi, tùng cầm chi trưởng, đan huyệt hóa sanh, bích lôi lưu hưởng, kỳ thái ngũ sắc, thần nghi Lục Tượng, lai đạo ngã tiền (南方朱崔、從禽之長、丹穴化生、碧雷流響、奇彩五色、神儀六象、來導吾前, Châu Thôi phương Nam, từ loài chim lớn lên, hóa sanh trong hang đỏ, sấm xanh vang tiếng, năm sắc kỳ diệu, dung nghi vượt Sáu Loài, dẫn đến trước ta).” Đạo Giáo dùng tên Châu Tước làm thuật ngữ luyện đan, như trong Vân Cấp Thất Hy (雲笈七羲) quyển 72 có dẫn bài Cổ Kinh (古經), cho rằng: “Châu Thôi giả, Nam phương Bính Đinh Hỏa Chu Sa dã; bào dịch thành long, kết khi thành điểu; kỳ khí đằng nhi vi thiên, kỳ chất trận nhi vi địa; sở dĩ vi đại đan chi bổn dã; kiến hỏa tức phi, cố đắc Châu Thôi chi xưng dã; Thanh Long đích phương vị thị Đông, đại biểu Xuân quý; Bạch Hổ đích phương vị thị Tây, đại biểu Thu quý; Châu Tước đích phương vị thị Nam, đại biểu Hạ quý; Huyền Võ đích phương vị thị Bắc, đại biểu Đông quý (朱崔者、南方丙丁火朱砂也、刨液成龍、結氣成鳥、其氣騰而爲天、其質陣而爲地、所以爲大丹之本也、見火卽飛、故得朱崔之稱也、青龍的方位是東、代表春季、白虎的方位是西、代表秋季、朱雀的方位是南、代表夏季、玄武的方位是北、代表冬季, Châu Thôi là Chu Sa, Bính Đinh, thuộc Hỏa; biến chất dịch thành rồng, kết khí thành chim; khí của nó bốc lên làm trời, chất của nó dàn trận thành đất, nên được gọi là nguồn gốc của màu đỏ huyết; thấy lửa thì bay, nên có tên gọi Châu Thôi; phương vị của Thanh Long là Đông, đại diện cho mùa Xuân; phương vị của Bạch Hổ là Tây, đại diện cho mùa Thu; phương vị của Châu Tước là Nam, đại diện cho mùa Hạ; phương vị của Huyền Võ là Bắc, đại diện cho mùa Đông).” (4) Tên gọi của một trong Lục Thú (六獸) hay Lục Thần (六神), gồm: Thanh Long (青龍), Châu Tước (朱雀), Câu Trần (勾陳), Đằng Xà (騰蛇), Bạch Hổ (白虎) và Huyền Võ (玄武). (5) Tên của một trong 12 vị Thiên Tướng, gồm: Thanh Long (青龍), Bạch Hổ (白虎), Huyền Võ (玄武), Châu Tước (朱雀), Quý Nhân (貴人), Đằng Xà (螣蛇), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Thiên Không (天空), Thái Thường (太常), Thái Âm (太陰) và Thiên Hậu (天后). (6) Tên gọi của một trong 8 vị thần, gồm: Trực Phù (直符), Đằng Xà (螣蛇), Thái Âm (太陰), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Châu Tước (朱雀), Cửu Địa (九地) và Cửu Thiên (九天).
châu đà
Xem Châu lỵ bàn đà già. Xem Châu lợi bàn đà dà.
Châu Đà 周陀
[ja] シュウダ Shūda ||| (1) The name of a bhikṣu named Śuddhipanthaka. (2) Śākyamuni's disciple Cunda. See 純陀. => s: Shūda 1. Tên của tỷ-khưu Śuddhipanthaka. 2. Thuần-đà (s:Cunda), đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Xem mục Thuần-đà純陀.
Châu Đôn Gi
(周敦頤, 1017-1073): tự Mậu Thúc (茂叔), hiệu Liêm Khê (濂溪), bút hiệu Nguyên Công (元公), được xem như là vị tổ của Tống học. Trước tác của ông có Thông Thư (通書), Thái Cực Đồ Thuyết (太極圖説), v.v.
châu đảnh vương bồ tát
Maṇikutarāja (S), Mahākutarāja (S)Tên một vị Bồ tát.
Châu 周
[ja] シュウ shū ||| (1) Around, go around, send around, revolve, circle. (2) Round. (3) Universal, all-embracing, pervasive. To function universally. (4) To reach, to extend to; the ultimate. (5) A full year. => 1. Chung quanh, đi quanh, chuyền quanh, quay tròn, xoay quanh. 2. Sự tuần hoàn. 3. Toàn thể, bao gồm tất cả, trùm khắp. Hoạt dụng trùm khắp 4. Đến, trải dài đến; chỗ tột cùng. 5. Một năm tròn.
Châu 珠
[ja] シュ shu ||| (1) A pearl. (2) A round jewel. (3) Something beautiful. => 1. Ngọc quý. 2. Viên ngọc . 3. Vật quý đẹp.
Châu-ran-gi-pa
S: cauraṅgipa; »Người con ghẻ bị chặt đoạn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một vị hoàng tử. Khi mẹ mất đi, vua cha lấy một bà khác, nàng này đem lòng yêu mến ông. Bị ông từ chối, hoàng hậu bày mưu và sau đó ông bị vua cha sai người chặt tay chân vứt vào rừng. Sau đó ông được Mi-na-ba (s: mīnapa) hướng dẫn vào một Nghi quỹ (s: sādhana) 12 năm với một cách điều khiển hơi thở đặc biệt (s: kumbhaka) và trong thời gian này, ông được Gô-rắc-sa (s: gorakṣa) săn sóc. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Tất-địa (s: siddhi), tay chân mọc lại như cũ. Tương truyền rằng gốc cây ngày xưa ông ngồi ngày nay vẫn còn.|Người ta cho rằng phép tu của ông là quán tưởng Pháp thân, sau đó mọi tư duy tưởng tượng đều hiện thành vật chất. Bài thánh ca (s: dohā) của ông như sau:|Từ tận thuở vô thuỷ,|gốc rễ của vô minh,|đã được tưới bằng nước, |của thói quen hàng ngày,|đã thành lá thành cành.|Nghe, ngẫm nghĩ, thực hành!|Hãy đốn cây đó đi, |bằng chiếc rìu lời dạy,|của Ðạo sư đích thật.
chép miệng
To smack one's lips.
chê
To belittle—To blame—To find fault with.
chê cười
To ridicule—To laugh at—To mock.
chê trách
To blame.
Chê-lu-ka-pa
S: celukapa hoặc celuki, cilupa; »Kẻ giãi đãi tái sinh«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 12.|Ông sinh tại Man-ga-pa-lua (s: maṅgapalur), thuộc giai cấp thấp kém. Ông là người lười biếng, không ham thích gì cả. Lần nọ, ông đang ngồi dưới gốc cây thì Du-già sư Mai-tri-pa (s: maitripa) đi qua. Mai-tri-ba khuyến khích ông tu tập Phật pháp, nương vào đó mà đối trị tính giải đãi. Vị này cho ông nhập môn, truyền năng lực của Cha-kra sam-va-ra và khai thị: »Tập trung toàn bộ hoạt động của đời sống lên Thân khẩu ý, tưởng tượng Thân là hồ nước và khả năng nhận thức là con thiên nga bơi lượn trên hồ. Trong trạng thái vô niệm ngươi sẽ vượt qua tình trạng mệt mỏi.«|Chê-lu-ka-pa quán tưởng suốt chín năm, loại trừ ô nhiễm khỏi tâm và đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: ma-hāmudrāsiddhi). Bài ca ngộ đạo của ông có những dòng sau:|Nghe lời bậc Ðạo sư,|năm này qua năm khác,|Ðất, Nước, Lửa và Gió,|dần dần tận hoại diệt.|Tất cả mọi hiện tượng,|bỗng tự nhiên hoá thành,|Ðại thủ ấn huyền diệu!
chênh lệch
Unequal—Disproportionate.
chìm lắng
Submerged and stilled.
chìm đắm
Sunk—Immersed.
chìm đắm trong vô minh
To sleep in ignorance.
chí
1) Ghi nhớ: Chí Đắc—To record—To remember. 2) Ý chí—Tâm chí—Will—Resolve.
Chí An 志安
[ja] シアン Shian ||| Chian (posthumously named Hwansŏng 喚醒 1664-1729). Traveled throughout Korea and spend time at numerous temples. During his tenure as master at Kŭmsan-sa 金山寺, he initiated, as part of his program, a set textual study track. The most basic, called the Four Teachings Course (sagyo-kwa 四經科) included the four seminal scriptures of the Sinitic Mahāyāna doctrinal tradition: the Sutra of the Heroic March Samādhi 首楞嚴經, the Awakening of Faith 起信論, the Diamond Sutra 金剛經 and the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. This track of study would have a permanent influence on the style of training for Korean monks and nuns, who still nowadays follow a similar course of study. (k: Chian) => Thuỵ hiệu của Hoán Tỉnh (k: Hwansŏng 喚醒 1664-1729). Thiền sư Triều Tiên. Sư đã đi tham phương khắp Cao Ly và ở tại rất nhiều chùa. Khi sư giữ cương vị như một giáo thọ tại chùa Kim Sơn (k: Kŭmsan-sa 金山寺), sư bắt đầu như một phần của toàn chương trình chiều hướng nghiên cứu yếu nghĩa của kinh văn. Tác phẩm căn bản nhất là Tứ kinh khoa (k: sagyo-kwa 四經科), bao gồm bốn bộ kinh có ảnh hưởng mạnh đối với giáo lý Phật giáo Đại thừa Trung Hoa, như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Luận Đại thừa khởi tín, Kinh Kim Cương, và Kinh Viên Giác. Chiều hướng nghiên cứu nầy có lẽ đã có ảnh hưởng thường xuyên trong phong cách đào luyện Tăng ni Cao Ly, mãi đến ngày nay vẫn theo đuổi tiến trình nghiên cứu như vậy.
chí bàn
(志磐) Vị tăng đời Nam Tống. Quê quán, tuổi thọ đều không rõ. Hiệu Đại thạch. Ở chùa Phúc tuyền núi Tứ minh, học Thiên thai giáo quán, nối tiếp chư tổ chính thống các đời, hiển dương đại giáo. Viết Tông môn tôn tổ nghi một thiên, sửa lại Thích môn chính thống của Tông giám, biên thuật Phật tổ thống kỉ, ghi chép rất tinh tường các sự tích lưu truyền của Thai giáo, lại ngó qua các nhà Thiền và Luật, người đời xem rất tiện và lưu thông rộng rãi. Ngoài những trước tác kể trên sư còn có Pháp giới thánh phàm thủy lục thắng hội tu trai nghi quĩ sáu quyển. [X. Phật tổ thống kỉ tự].
chí bất chí tương tự quá loại
(至不至相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Còn gọi Chí phi chí tương tự quá loại, Chí bất chi nạn. Là lỗi thứ tám trong mười bốn lỗi Tự năng phá trong Nhân minh, do ông tổ của cổ Nhân minh là Túc mục lập ra. Là lỗi cố nại ra để vặn hỏi nhằm phá đối phương, vì lẽ Nhân (lí do) sát hay không sát với Tôn (mệnh đề). Tức là khi người lập luận dựa vào Nhân để lập Tôn, thì người vấn nạn ra sức vặn hỏi. Bảo rằng: nếu Tôn sát với Nhân, thì Tôn và Nhân không sai khác, nếu Nhân không sát với Tôn, thì Tôn và Nhân không quan hệ, vì thế, Nhân sát hay không sát đều không thể chứng thành Tôn. Hai phương diện vấn nạn này là lỗi lầm vì phương tiện mà tạo nên, gọi là Chí bất chí tương tự quá loại (loại lỗi tương tự sát hay không sát). Chẳng hạn, người vấn nạn muốn phá luận thức Âm thanh là vô thường (Tôn) vì gắng sức mà có (Nhân) của người lập luận, bảo rằng, trong đó Nhân gắng sức nếu sát với Tôn, thì Tôn và Nhân không có sự sai biệt nhân quả, không sai biệt thì không thành năng lập, sở lập, như nước hồ chảy vào biển, hai nước hợp nhau không khác. Trái lại, nếu Nhân không sát Tôn, thì cũng không thể thành Nhân, như lửa không sát thì không thể đốt, dao không sát thì không thể cắt, cho nên, như lập luận Âm thanh là thường vì mắt trông thấy, thì Nhân mắt trông thấy này không hợp với Tôn Âm thanh là thường vì không thể sát với Tôn, mà chỉ là Nhân tương tự. Như vậy, sát và chẳng sát đều không thể thành lập. Ở đây không cần bàn đến Nhân ba tướng có đủ hay không, mà chỉ đứng về hai phương diện Nhân của đối phương sát hay không sát thì người vấn nạn cũng đã tự chuốc lấy cái lỗi Chí bất chí tương tự này rồi. [X. Như thực luận Đạo lý nan phẩm - luận Nhân minh chính lí môn phần đầu - Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.6 phần cuối - Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
chí cao
Extremely high.
chí cao thần
(至高神) Chỉ vị thần được tôn là cao hơn hết, tức là đấng chúa tể tối cao trong trời đất muôn vật, hoặc là người sáng tạo ra thế giới và loài người. Đây không chỉ hạn trong Nhất thần giáo mà có nhiều tôn giáo đa thần, tuy không có quan niệm về chúa sáng thế, nhưng cũng tôn thờ một vị thần tối cao là chúa tể hết thảy, như Ngọc hoàng đại đế của Đạo giáo vậy.
chí công
1) Công minh: Very just. 2) Vị Tăng nổi tiếng người Trung Quốc: A famous Chinese monk.
chí giáo lượng
(至教量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Cũng gọi là Thánh giáo lượng, Thanh lượng, Chính giáo lượng. Một trong ba lượng, một trong bốn lượng. Tức trong luận thức Nhân minh, thuận theo lời dạy của thánh hiền, dựa vào đó mà lượng biết nghĩa lí. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 15 chép, thì Chí giáo lượng có thể chia làm ba thứ: 1. Bất vi Thánh ngôn, nghĩa là lời nói của các Thánh đệ tử, hoặc kinh giáo do chính đức Phật nói, đắp đổi truyền bá, đến nay không trái chính pháp, không trái chính nghĩa. 2. Năng trị tạp nhiễm, nghĩa là khi theo pháp ấy mà khéo tu tập, thì có thể vĩnh viễn điều phục đuợc hết thảy phiền não và tùy phiền não, như tham, sân, si v.v…... 3. Bất vi pháp tướng, tức không phản lại tướng của các pháp. Nhưng nếu đối với pháp không tướng mà tăng lên làm pháp có tướng, rồi chấp trước có ta, có mệnh sống hữu tình, có sinh, rồi cho sinh mệnh là thường còn hoặc dứt mất, chấp trước các pháp là có sắc hoặc không sắc - hoặc đối với pháp có tướng mà giảm đi làm pháp không tướng, hoặc đối với pháp quyết định, lập làm pháp bất định v.v...… như thế đều là phản lại tướng của các pháp - nếu ngược lại thì mới không là trái pháp tướng. [X. Nhân minh nhập chínhh lí luận sớ Q.thượng - Đại thừa nghĩa chương Q.10 - Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. (xt. Tam Lượng, Thánh Giáo Lượng).
chí hiếu
Very pious.
chí hướng
Tendency.
Chí hạnh
(至行): phẩm hạnh tuyệt vời, trác tuyệt, đạt đến tột cùng. Như trong Chu Xung Truyện (朱衝傳) của Tấn Thư (晉書) có đoạn: “Thiếu hữu chí hạnh, nhàn tĩnh quả dục, hiếu học nhi bần, thường dĩ canh nghệ vi sự (少有至行、閑靜寡欲、好學而貧、常以耕藝爲事, lúc nhỏ đã có phẩm hạnh tốt, thích thanh vắng, ít ham muốn, hiếu học mà nghèo, thường lấy nghề canh nông mà sống).” Hay như trong Trầm Khải Truyện (沉顗傳) của Nam Sử (南史) cũng có câu rằng: “Khải tự Xử Mặc, ấu thanh tĩnh hữu chí hành (顗字處默、幼清靜有至行, Trầm Khải có tên chữ là Xử Mặc, lúc nhỏ có phẩm hạnh tốt, thích thanh tĩnh).” Câu “chí hạnh đa đoan (至行多端)” có nghĩa là phẩm hạnh tuyệt vời có nhiều cách, đầu mối khác nhau.
chí hạnh
Good behavior.
chí hồng
(志鴻) Vị tăng thuộc tông luật Nam sơn đời Đường, người Trường thành Hồ châu (thuộc Triết giang), họ Tiền, vốn tên là Nghiễm. Năm sinh năm mất không rõ. Sư theo luật sư Đạo hằng học tập Nam sơn sao. Về sau, trụ trì chùa Song lâm tại Ngô quận. Thọ một trăm linh tám tuổi, thụy hiệu là: Trường thọ đại sư. Có soạn Tứ phần luật sưu huyền lục hai mươi quyển (nay chỉ còn hơn hai quyển), sưu tập rộng tinh nghĩa trong các sách kí, sao của Đại từ, Linh ngạc trở xuống hơn bốn mươi nhà. Khoảng năm Đại lịch (766-779) đời Đại tôn, tổ thứ tư tông Hoa nghiêm là Trừng quán có viết bài tựa cho bản lục này. [X. Tống cao tăng truyện Q.15].
chí khai
(志開) (1911–1981) Người Đông đài, Giang tô. Tự Liễu nhiên. Mười một tuổi xuống tóc ở chùa Đại giác, núi Bạch tháp huyện Nghi hưng. Năm Dân quốc 17 (1928), thụ giới Cụ túc ở núi Bảo hoa. Tốt nghiệp tại Viện Phật học Tiêu sơn, tham học ở chùa Giang thiên, Kim sơn. Năm Dân quốc 25, thụ pháp nơi Trác thành lão hòa thượng tại núi Thê hà, pháp danh là Nguyệt đăng, năm Dân quốc 32, đuợc bổ trụ trì chùa Thê hà sơn, ngôi danh lam nghìn Phật, một thắng địa của thời Lục triều. Từng cùng với các sư Đại bản, Giác dân sáng lập viện Luật học Thê hà. Năm Dân quốc 35, sáng lập trung học Tôn ngưỡng, lần lượt mở xưởng dệt, lò vôi, lò gạch v.v..…. là người đầu tiên đặt nặng vấn đề sản xuất trong Phật giáo. Trong thời kháng chiến chống Nhật, sư lo việc giữ chùa, giữ đạo cứu giúp nạn dân, được các nơi tán thán. Sư giỏi ngôn từ, tướng pháp trang nghiêm,Tinh vân ở Phật quang sơn là môn hạ của sư. Các vị Pháp tông, Siêu thần, Ngộ nhất hiện đang hoằng pháp tại Hương cảng, Đài loan đều là học trò của sư.
chí kim
Until now.
chí lý
Most reasonable.
chí lý nhã để
Trijati (skt)—Ba giai đoạn của sanh là quá khứ, hiện tại, và vị lai—Three stages of birth, past, present, and future.
chí minh
(志明) Vị tăng đời Kim. Người An châu (An tân Hà bắc), họ Hác. Tự Bá hôn. Hiệu Thố am, Lạc chân tử, năm sinh năm mất và tông phái đều không rõ. Sư từng viết Quán hoa tiêu nguyệt tập, do Khiết thủ tọa khuyến khích xuống tóc, y vào ngài Hương lâm tịnh làm thầy, ngài thụ giới Cụ túc cho. Sau tham yết ngài Thắng tĩnh phổ và nối pháp ngài. Sư đến ở chùa Thiếu lâm núi Tung sơn, đời gọi là Thố am Chí minh. Năm Chính đại đời Thái tôn nhà Kim (1125) sư sưu tập các hành trạng của các nhà trong rừng Thiền, rồi soạn thành sách Thiền uyển mông cầu, cũng gọi là Thiền uyển dao lâm, gồm ba quyển, là sách tham khảo trọng yếu cho những người mới học để hiểu đạo tu hành. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].
chí na bộc để quốc
(至那仆底國) Chí na bộc để, Phạm: Cìnabhukti, dịch ý: Hán phong. Một vương quốc xưa thuộc bắc Ấn độ. Nằm về mạn tây nước Xà lan đà la, tức nay là giải đất nằm giữa nơi hai con sông Bái á tư (Bias) và sông Sách đặc lai trị (Sutlej) gặp nhau. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 4 chép, thì nước này là đất của Vương tử được nhà Hán phong cho, vì thế nên đặt tên là Chí na bộc để, ý là Hán phong. Nước này chu vi hơn hai nghìn dặm, đô thành rộng mười bốn, mười lăm dặm, của cải phong phú, khí hậu nóng bức, học kiêm đạo đời, tin cả tà chính, có mười ngôi già lam, tám đền thờ trời. Nơi cách Thủ đô về phía đông nam hơn trăm dặm, có chùa Ám lâm (Phạm: Tamasàvana, dịch âm: Đáp mạt tô phạt na), chúng tăng hơn ba trăm người, chuyên học tập Thuyết nhất thiết hữu bộ. Sau đức Phật nhập diệt ba trăm năm, luận sư Ca đa diễn na đã từng viết luận Phát trì tại đây. Lại Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2 chép, ngài Huyền trang đã đến nước này ở chùa Đột xá tát na (Phạm:Towasana) gặp đại đức Tì nhị đa bát lạp bà (Phạm: Vinìtaprabha, dịch là Điều phục quang), và lưu lại đây mười bốn tháng, học tập luận Đối pháp, luận Hiển tôn, luận Lí môn v.v…... [X. A. Cunningham: Ancient Geography of India - S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol 1 - T. Watters: On Yuan Chwang, Vol. 1].
chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục
(至元法寶勘同總錄) Gồm mười quyển. Do hai mươi chín vị đại đức đời Nguyên, đứng đầu là ngài Khánh cát tường, phụng mệnh vua soạn tập. Nói tắt là Chí nguyên lục. Năm Chí nguyên 22 (1285) đời Thế tổ nhà Nguyên, vua triệu Đế sư Bạt hợp tư ba và các bậc sa môn thông hiểu ngôn ngữ các nước, họp ở Đại đô (Bắc bình) chiếu theo Tây phồn đại giáo mục lục, hiệu đính kinh điển ở Trung quốc, ghi chép các bộ nào có, bộ nào không, số quyển nhiều hay ít, mà thành bộ Nhất thiết kinh mục lục này. Bộ lục này chia làm bốn khoa: 1. Nêu tổng quát niên đại, gồm người và pháp. 2. Ghi năm tháng riêng để biết sự sai khác. 3. Nói sơ lược về thừa tạng, nêu rõ trình tự của các bản lục xưa. 4. Trình bày rộng các tên đề,nói rõ thứ tự ngày nay. Tổng cộng thu chép ba tạng được liệt kê trong Khai nguyên thích giáo lục, gồm một nghìn bốn trăm bốn mươi bộ, năm nghìn năm trăm tám mươi sáu quyển. Đặc sắc của bộ lục này là có cả tạng kinh Hán dịch và tạng kinh Tây tạng để đối chiếu, các đề mục kinh, luật, luận đều có phụ chép tiếng Phạm.
chí nguyện
Will—Desire.
chí nguyện độ tha
Altruistic determination.
Chí nhất thiết xứ 至一切處
[ja] シイッサイショ shi issaisho ||| 'Arriving in all places' The fourth stage of the 'ten dedications of merit' (十廻向) in the path of bodhisattvahood. The stage where the bodhisattva enters all Buddha-lands, and cultivates practice together with all Buddhas. => Giai vị thứ tư trong Thập hồi hướng của Bồ-tát đạo. Giai vị mà các vị Bồ-tát nhập vào Phật địa và cùng tu tập với chư Phật.
chí nhứt thiết xứ hồi hướng của chư đại bồ tát
Dedication reaching all places of great enlightening beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 25—Ten Dedications)—Đệ tứ Hồi hướng trong thập hồi hướng—The fourth dedication of the ten dedications: 1) Đại Bồ Tát lúc tu tập tất cả thiện căn tự nghĩ rằng—When enlightening beings cultivate all roots of goodness, they think: “Nguyện năng lực của thiện căn công đức nầy đến tất cả chỗ: May the power of virtue of these roots of goodness reach all places” a. Ví như thực tế không chỗ nào là chẳng đến: Just as reality extends everywhere without exception. b. Đến tất cả vật: Reaching all things. c. Đến tất cả thế gian: Reaching all worlds. d. Đến tất cả chúng sanh: Reaching all beings. e. Đến tất cả quốc độ: Reaching all lands. f. Đến tất cả pháp: Reaching all phenomena. g. Đến tất cả không gian: Reaching all space. h. Đến tất cả thời gian: Reaching all time. i. Đến tất cả hữu vi và vô vi: Reaching all that is compounded and uncompounded. j. Đến tất cả ngôn ngữ và âm thanh: Reaching all speech and sound. 2) Đại Bồ Tát tu tập thiện căn tư nghĩ rằng—When enlightening beings cultivate all roots of goodness, they think: a. Nguyện thiện căn nầy đến khắp chỗ của tất cả Như Lai: May these roots of goodness reach the abodes of all enlightened ones: b. Cúng đường tất cả tam thế chư Phật: Be as offerings to all those Buddhas. c. Phật quá khứ hạnh nguyện đều viên mãn: The past Buddhas whose vows are fulfilled. d. Phật vị lai đầy đủ sự trang nghiêm: The future Buddhas who are fully adorned. e. Phật hiện tại cùng quốc độ đạo tràng chúng hội cùng khắp tất cả hư không pháp giới: The present Buddhas, their lands, sites of enlightenment, and congregations, filling all realms throughout the entirety of space. 3) Chư Bồ Tát cũng nguyện dùng những đồ cúng dường của chư Thiên để dâng lên chư Phật khắp vô lượng vô biên thế giới—Enlightening beings also aspire to present to all Buddhas offerings like those of the celestials: a. Do tín giải oai lực lớn: By virtue of the power of faith. b. Do trí huệ rộng lớn không chướng ngại: By virtue of great knowledge without obstruction. c. Do tất cả thiện căn đều hồi hướng: By virtue of dedication of all roots of goodness. 4) Lúc tu tập Chí nhứt thiết xứ Hồi hướng, Đại Bồ Tát lại nghĩ đến—When cultivating dedication reaching all places, great enlightening beings think to: a. Chư Phật Thế Tôn cùng khắp tất cả hư không pháp giới: The Buddhas pervade all realms in space. b. Những hạnh nghiệp tạo ra: Various actions produced in. • Trong vô lượng mười phương thế giới: In the worlds of all the unspeakably many world systems in the ten directions. • Trong bất khả thuyết Phật độ: In unspeakably many Buddha-lands. • Trong bất khả thuyết Phật cảnh giới: In unspeakably many Buddha-spheres. • Trong các loại thế giới: In all kinds of worlds. • Trong vô lượng thế giới: In infinite worlds. • Trong vô biên thế giới: In worlds without boundaries. • Trong thế giới xoay chuyển: In rotating worlds. • Trong thế giới nghiêng: In sideways worlds. • Trong thế giới úp và thế giới ngửa: In worlds facing downward and upward. c. Trong tất cả thế giới như vậy, chư Phật hiện tại trụ thế thị hiện những thần thông biến hóa: In all worlds such as these, all Buddhas manifest a span of life and display various spiritual powers and demonstrations. d. Trong những thế giới đó lại có những Bồ Tát dùng sức thắng giải vì những chúng sanh đáng được giáo hóa mà—In these worlds there are enlightening beings who, by the power of resolution for the sake of sentient beings who can be taught: • Khắp khai thị vô lượng thần lực tự tại của Như Lai: They appear as Buddhas in all worlds and reveal everywhere the boundless freedom and spiritual power of the enlightened. • Pháp thân đến khắp không sai biệt: The body of reality extending everywhere without distinction. • Bình đẳng vào khắp tất cả pháp giới: Equally entering all realms of phenomena and principles. • Thân Như Lai Tạng bất sanh bất diệt: The body of inherent Buddhahood neither born nor perishing. • Dùng phương tiện thiện xảo hiện khắp thế gian chứng pháp thiệt tánh, vì vượt hơn tất cả, vì được sức bất thối vô ngại, vì sanh nơi trong tri kiến vô ngại đức tánh rộng lớn của Như Lai: By skillful expedients appearing throughout the world, because of realizing the true nature of things, transcending all, beause of attainment of nonregressing power, because of birth among the people of vast power of unobstructed vision of the enlightened.
Chí Niệm
(志念, Shinen, 535-608): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, người vùng Tín Đô (信都, Huyện Kí [冀縣], Hà Bắc [河北]), họ Trần (陳). Ban đầu ông theo pháp sư Đạo Trường (道長) ở kinh đô Nghiệp học Đại Trí Độ Luận (大智度論), thâm hiểu toàn bộ nghĩa lý. Kế đến ông đến làm môn hạ của Đạo Sủng (道寵) học về Thập Địa Luận (十地論), theo Huệ Tung (慧嵩) học Tỳ Đàm (毘曇), và đều thông suốt tận cùng áo nghĩa của chúng. Xong ông trở về cố hương hoằng hóa trong hơn 10 năm. Sau nhân gặp phải nạn phá Phật của Võ Đế nhà Bắc Chu, ông trốn ra sống nơi ven biển. Khi nhà Tùy hưng thạnh, vua Văn Đế phục hưng Phật pháp, ông bèn khai đường thuyết giảng Tạp Tâm Luận (雜心論) và soạn ra Tạp Tâm Luận Sớ (雜心論疏). Vào năm thứ 17 (597) niên hiệu Khai Hoàng (開皇), vua nhà Hán sáng lập Nội Thành Tự (內城寺), thỉnh ông đến trú trì. Đến năm thứ 2 (602) niên hiệu Nhân Thọ (仁壽), ông theo nhà vua vào cung nội, và đến năm đầu niên hiệu Đại Nghiệp (大業) thì trở về cố hương. Vào năm thứ 4 cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi.
chí phúc
(志福) Vị tăng đời Liêu, hiệu là Từ hạnh đại sư. Quê quán, năm sinh năm mất đều không rõ. Sư từng ở núi Vu lư. Vì Thiên hưu hoàng đế Da luật đại thạch (ở ngôi 1124-1143) ưa đọc luận Thích ma ha diễn, nên yêu cầu sư viết Thích ma ha diễn luận thông huyền sao (4 quyển) lại sai Thông pháp đại sư Pháp ngộ viết Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ (5 quyển). Cả hai sư đều dùng quan điểm tông Hoa nghiêm để chú thích Thích luận nhằm mục đích dung hợp đại nghĩa của hai tông Hoa nghiêm và Mật giáo.
chí phải
Quite right.
chí quyết định
Resolute will.
chí thành
Very sincere.
chí thân
Very close—Intimate.
chí thú
Firm intention to work and save money.
chí tiết trần hạ
(至節陳賀) Tiết, chỉ bốn tiết (kết, giải, đông, niên). Trong Thiền lâm, sắp vào bốn tiết thì viết bảng để thông báo, đó là nghi thức trình bày (trần hạ). [X. Thiền uyển thanh qui Q.2 Đông niên nhân sự].
chí triệt
(志徹) Vị tăng đời Đường. Người Giang tây, họ Trương. Năm sinh, năm mất không rõ. Lúc đầu đặt tên là Hành xương. Còn gọi là Giang tây Chí triệt, là pháp tự của Lục tổ Tuệ năng Thiền tông. Lúc nhỏ đã có chí hiệp sĩ, môn đồ của Bắc tông Thần tú ghen ghét tổ Tuệ năng, bèn sai sư đi hành thích, trái lại, sư được tổ Tuệ Năng cảm hóa và xuất gia làm học trò của tổ, triệt ngộ liễu nghĩa Niết bàn, tổ bèn đặt tên cho là Chí triệt. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5 - Gia thái phổ đăng lục Q.3 - Ngũ đăng hội nguyên Q.2].
chí tài
High talented.
chí tâm
Heartily.
; (至心) I. Chí tâm. Tức là tâm chí thành, tâm rất mực. Trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng có những câu như Chí tâm tin ưa, muốn sinh về nước của ta, Chí tâm phát nguyện, muốn sinh đến cõi của ta, Chí tâm hồi hướng, muốn sinh sang nước của ta v.v...… trong đó, Chí tâm tức là ý chuyên tâm, nhất tâm. Trong Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 439 hạ), ngài Thiện đạo nói : Nếu chuyên tâm nhất ý thì mười người vãng sinh cả mười, còn không chuyên tâm nhất ý, thì trong nghìn người không được một. Lại kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng, chia chí tâm làm 2: 1. Mới đầu học tập cầu nguyện chí tâm. 2. Nhiếp ý chuyên tinh, thành tựu dũng mãnh tương ứng chí tâm. Chí tâm thứ hai này lại chia làm ba thứ, là nhất tâm, dũng mãnh tâm, thâm tâm. II. Chí tâm. Một trong ba tín. Là giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Ba tâm: Chí tâm, Tín nhạo, Dục sinh mà đức Phật A di đà thề nguyền trong nguyện thứ mười tám của ngài, gọi là Ba tín, trong đó, tông Tịnh độ cho rằng Chí tâm là tự đáy lòng thành thật tin tưởng vào đức Phật A di đà, tức gọi là Chí tâm - còn Tịnh độ Chân tông thì lại bảo cái lòng tin tin tưởng vào Phật A di đà, trên thực tế vẫn là do Phật A di đà ban cho, tức là do chí tâm của Phật A di đà mà ra. (xt. Tam Tín).
chí tâm hướng
Xem Nam mô.
chí tâm hồi hướng
(至心回向) Đối lại với Tùy tâm hồi hướng Chỉ việc đem tất cả công đức mà mình tu được hồi hướng cho hết thảy chúng sinh với tấm lòng chí thành chân thực. Đức Phật với lòng chân thực, đem công đức thiện căn thí cho chúng sinh, chúng sinh về phần mình, lại đem công đức tu hành của mình hồi hướng quả Phật, Bồ tát, hoặc thí cho hết thảy chúng sinh khác. Đây cũng giống như đoạn thứ năm trong năm hối (qui mệnh, sám hối, tùy hỉ, khuyến thỉnh, hồi hướng) trong Mật giáo được tụng trong khi tu pháp Kim cương giới, và phương tiện thứ chín (hồi hướng phương tiện) trong chín phương tiện khi tu pháp Thai tạng giới. (xt. Cứu Phương Tiện, Ngũ Hối)
chí tâm niệm phật
Whole-hearted recitation.
chí tâm đảnh lễ
Xem Nam mô.
; Respectful Homage in Amitabha Sutra: 1) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Lượng Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Asociation, Measureless Brightness of Tathagata. 2) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Biên Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Limitless Brightness of Tathagata. 3) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Ngại Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the No Fear Brightness of Tathagata. 4) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Đối Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the No Objection Brightness of Tathagata. 5) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Diệm Vương Quang Như Lai: Namo The Paeadise Pureland of Amitabha Association, the Volcano King Brightness of Tathagata. 6) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Thanh Tịnh Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of AmitabhaAssociation, the Purifiction Brightness of Tathagata. 7) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Hoan Hỷ Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Joyful and Detached Brightness of Tathagata. 8) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Trí Huệ Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Brightness of Knowledge and Favour of Tathagata. 9) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Nan Tư Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Asociation, the Brightness of Difficult Privacy of Tathagata. 10) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Bất Đoạn Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Perpetual Brightness of Tathagata. 11) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Xưng Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Brightness of Non-Proclamation of Tathagata. 12) Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Siêu Nhựt Nguyệt Quang Như Lai: Namo The Paradise Pureland of Amitabha Association, the Brightness of Super Sun and Moon of Tathagata.
Chí tâm 至心
[ja] シシン shishin ||| (1) To pay close attention; to concentrate. (2) A sincere mind; sincerity; one's true intention. => 1. Chú tâm, tập trung tâm ý. 2. Tâm chân thành, chân thật; ý nguyện chân chính của mình.
chí tình
Very sincere.
chí tôn
Supreme.
chí tôn ca
Bhagavad-gītā (S)Tập thứ 6 trong trường ca trữ tình lớn của Ấn độ, Mahabrarata, soạn từ thế kỷ V BC đến thế kỷ II BC.
; Bhagavad Gita (S).
Chí Tướng tự 至相寺
[ja] シソウジ Shisō ji ||| The Zhixiang si; residence of Jingyü located on near the Sanjie reliquary of the Baita si 百塔寺. => (c: Zhixiang si); trú xứ của Tịnh độ tông (c: Jingyü), nằm trong Chung nam sơn (c: Zhongnan shan 終南山) gần thánh tích Sanjie của Bách tháp tự (c: Baita si 百塔寺).
Chí Tướng Đại sư 至相大師
[ja] シソウダイシ Shisōdaishi ||| Zhixiang dashi; the name of the Huayan master Zhiyan. See 智儼. => (j: Shisōdaishi; c: Zhixiang dashi); Tên gọi ngài Trí Nghiễm (c: Zhiyan 智儼) vị tổ của Hoa Nghiêm tông. Xem Trí Nghiễm 智儼.
chí tử
Until death.
chí yếu
Most important.
chí ác
Very wicked.
chí đại
Very big.
chí đạo trường môn quán
(至道場門觀) Là phép tu trong Mật giáo, tức khi hành giả vào đạo tràng, đứng ở trước cửa nhà mà vào Tam ma địa của Vô năng thắng minh vương. Đây là phép làm ngoài cửa. Phép làm này còn được gọi là Môn tiền tác pháp, môn hạ tác pháp. Khi đến cửa nhà trước hết trụ nơi Tam muội của Kim cương tát đỏa, đến trước cửa nhà, lại trụ nơi Tam muội của Vô năng thắng minh vương. Ấn và các chú của Đạo tràng quán này là: duỗi năm ngón tay trái, nhưng hơi co một chút úp lên ngực, nhưng không để sát ngực, duỗi năm ngón tay phải đậy lên mu bàn tay trái, lấy ngón cái của tay phải đè lên đầu ngón cái của tay trái, dùng ngón trỏ của tay phải đặt vào khoảng giữa ngón giữa và ngón trỏ của tay trái, búng ba lần, khoảng cách giữa mỗi lần búng, đọc chữ (huô, nghĩa là tồi phá) ba lần. Kế đó cả tay trái và tay phải đều kết ấn Kim cương quyền, duỗi hai ngón trỏ, đặt ấn tay trái vào cạnh sườn hoặc trước ngực, ấn tay phải hướng về trái, rồi lại hướng về phía trước quay ngược ba vòng, để trừ khử các chướng nạn, lại quay thuận ba vòng, để biểu thị kết giới. Sau lại dùng ấn ấy, từ góc đông bắc, theo chiều thuận, in vào bốn phương bốn góc, trên dưới và trên năm chỗ (đỉnh đầu, mặt, ngực, bụng, đầu gối) của chính thân hành giả, đều đọc chữhuô một lần.
chí đạo vô nan
Shidō Mu'nan (S)Tên một vị sư.
chí đức
High virtues
chí đức tỳ kheo
Xem Xà na quật đa tỳ kheo.
Chí Đức 志德
[ja] シトク shitoku ||| Translation of Jñānagupta, commonly known by the transcription of 闍那崛多. [Dictionary References]FKS2889 bski283 [Credit] cmuller(entry) => Hán dịch chữ Jñānagupta, thường được biết qua phiên âm Xà-na-quật-đa (闍那崛多).
Chí 至
[ja] シ shi ||| (1) To reach, to arrive at, to extend to. (2) Very, extreme. (3) The greatest, the best, the ultimate. Highest class or rank. (4) Reach, attain, result in, lead to. => 1. Đến, đến nơi, đến mức. 2. Rất, cực kỳ. 3. Lớn nhất, tốt nhất, tuyệt đỉnh. 4. Đạt được, đạt kết quả, dẫn đến.
Chí 致
[ja] チ chi ||| (1) To cause, to bring about; to result in. (2) To retire, to resign. (3) To extend to, to apply to. (4) To send, to convey, to transmit. (5) Ultimate, exhaustive, final. => 1. Gây nên, làm cho, đưa đến kết quả. 2. Về hưu, từ chức. 3. Đến mức, chuyên tâm. 4. Gởi đi, truyền đạt, chuyển đi. 5. Cùng tột, thấu đáo, tận lực.
chích
To sting.
chích gia hội
Một buổi lễ của Thiền Tông về mùa đông, trong lễ nầy người ta ăn rễ sen nướng—A Zen School winter festival at which roasted lily roots were eaten.
Chích thủ
隻手; J: sekishu, »Một bàn tay«;|Tên gọi ngắn của Công án »Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay« (如何是隻手之聲; »Như hà thị chích thủ chi thanh?«) xuất xứ từ Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc. Sư cho rằng, công án này rất hiệu nghiệm trong việc hướng dẫn thiền sinh đến kinh nghiệm Kiến tính lần đầu song song với công án »Vô« của sư Triệu Châu Tòng Thẩm.
chín bước an tâm
Nine steps for settling the mind semnegu (T).
chín bất thời bất tiết dẫn đến đời sống phạm hạnh
Akkhana-asamaya-brahmacariya-vasaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín thứ bất thời bất tiết dẫn đến đời sống phạm hạnh—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are nine unfortunate, inappropriate times for leading the holy life—Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết Bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, mà người ấy lại sanh vào những cõi sau đây—A Tathagata has been born in the world, Arahant, fully-enlightened Buddha, and the Dhamma is taught which leads to calm and perfect nirvana, which leads to enlightenment as taught by the Well-farer, and this person is born in the following realms: 1) Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất là người ấy sanh vào địa ngục—The first unfortunate, inappropriate time is that that person is born in a hell-state. 2) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ nhì là người ấy bị sanh vào cõi bàng sanh: The second unfortunate, inappropriate time is that that person is born among the animals. 3) Phạm hạnh trú thứ ba bất thời bất tiết là người ấy bị sanh vào cõi ngạ quỷ: The third unfortunate, inappropriate time is that that person is born among the petas. 4) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ tư là người ấy bị sanh vào cõi A-Tu-La: The fourth unfortunate, inappropriate time is that that person is born among the asuras. 5) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ năm là người ấy được sanh vào cõi trời trường thọ: The fifth unfortunate, inappropriate time is that that person is born in a long-lived group of devas. 6) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ sáu là người ấy bị sanh vào chỗ biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng: The sixth unfortunate, inappropriate time is that that person is born in the border regionsamong foolish barbarians where there is no access for monks and nuns, , or male or female followers. 7) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ bảy là người ấy sanh vào cõi trung tâm, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa Môn, Bà La Môn đã chứng đạt chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới nầy với thế giới sau và tuyên thuyết—The seventh unfortunate, inappropriate time is that that person is born in the middle country, but he has wrong views and distorted vision, thinking: “There is no giving, offering, or sacrificing, there is no fruit or result of good or bad deeds; there is not this world and the next world; there are no parents and there is no spontaneous rebirth; there are no ascetics and Brahmins in the world who, having attained to the highest and realised for themselves the highest knowledge about this world and the next.” 8) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ tám là người ấy được sanh vào nước trung tâm, nhưng ác huệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói: The eighth unfortunate, inappropriate time is that that person is born in the middle country but lacks wisdom and is stupid, or is deaf and dumb and cannot tell whether something has been well said or ill-said. 9) Phạm hạnh trú bất thời bất tiết thứ chín là người ấy được sanh vào nước trung tâm, có trí tuệ, không ngu si, không điếc, không ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói, nhưng lại không có Như Lai xuất hiện: The ninth unfortunate, inappropriate time is that that person is born in the middle country and is intelligent, not stupid, and not deaf and dumb and well able to tell whether something has been well said or ill said, but no Tathagata has arisen.
chín bộ kinh
là những kinh điển được thuyết giảng trước khi Phật tuyên thuyết các kinh Phương đẳng Đại thừa, vì thế có nhiều điểm Phật vì phương tiện dẫn dắt những chúng sanh chưa đủ lòng tin mà chưa nói ra trọn vẹn chân lý rốt ráo. Chín bộ kinh này gồm có: 1. Tu-đa-la (stra), dịch nghĩa là Khế kinh; 2. Kỳ-dạ (geya) dịch nghĩa là Ứng tụng, hay Trùng tụng; 3. Hòa-ca-la-na (vykaraṇa), cũng đọc là Hoa-già-la-na, dịch nghĩa là Thọ ký. 4. Già-đà (gth), dịch nghĩa là Phúng tụng, Cô khởi tụng. 5. Ưu-đà-na (udna), dịch nghĩa là Tự thuyết. 6. Y-đế-mục-đa-già (itivṛttaka) dịch nghĩa là Bổn sự. 7. Xà-đà-già (jtaka), dịch nghĩa là Bổn sanh. 8. Tỳ-phật-lược (vaipulya), dịch nghĩa là Phương quảng. 9. A-phù-đà-đạt-ma (addhutadharma), dịch nghĩa là Vị tằng hữu.
chín chắn
Mature.
chín chỗ an trú của loài hữu tình
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín chỗ an trú cho loài hữu tình—According to the Sangiti Sutta, there are nine abodes of beings: 1) Loài hữu tình có thân sai biệt,tưởng sai biệt như loài người và một số chư Thiên: Beings different in body and different in perception such as human beings, some devas and hells. 2) Loài hữu tình có thân sai biệt, tưởng đồng nhất như Phạm chúng Thiên khi mới tái sanh: Beings different in body and alike in perception such as new-rebirth Brahma. 3) Loài hữu tình có thân đồng nhất, tưởng sai biệt như Quang Âm Thiên: Beings are alike in body and different in perception such as Light-sound heavens (Abhasvara). 4) Loài hữu tình có thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như Tịnh Cư Thiên: Beings alike in body and alike in perception such as Heavens of pure dwelling. 5) Loài hữu tình không có tưởng, không có thọ như chư Vô Tưởng Thiên: The realm of unconscious beings such as heavens of no-thought. 6) Loài hữu tình đã chứng được (ở cõi) Không Vô Biên Xứ: Beings who have attained the Sphere of Infinite Space. 7) Loài hữu tình đã chứng được (ở cõi) Thúc Vô Biên Xứ: Beings who have attained to the Sphere of Infinite Consciousness. 8) Loài hữu tình đã chứng (ở cõi) Vô Sở Hữu Xứ: Beings who have attained to the Sphere of No-Thingness. 9) Loài hữu tình đã chứng (ở cõi) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Beings who have attained to the Sphere of Neither-Perception-Nor-Non-Perception.
chín công đức hạnh
Nine elements of virtue.
chín cõi giới
Nine Realms.
chín loại nghiệp
Nine kinds of karma.
chín loại tịnh nhục
chỉ các loại thịt rơi vào những trường hợp mà vào thời gian đầu lập giáo đức Phật có tạm cho phép các đệ tử sử dụng, bao gồm các loại thịt: 1. Thịt của con vật mà mắt không nhìn thấy nó bị giết. 2. Thịt của con vật mà tai không nghe biết khi nó bị giết. 3. Thịt của con vật mà mình hoàn toàn không biết là giết để cho mình ăn. 4. Thịt của con vật mà không phải người ta giết để đãi mình. 5. Thịt của con vật chết theo cách tự nhiên, không bị giết hại. 6. Thịt của con vật do các loài chim dữ hại chết để ăn còn thừa. 7. Thịt phơi khô. 8. Thịt bất ngờ gặp phải, không cố ý tìm ăn. 9. Thịt của con vật đã bị giết từ trước. Tuy nhiên, về sau khi đạo Phật đã được truyền rộng và giáo pháp từ bi được mọi người tu tập, đức Phật đã dạy rằng tất cả đệ tử Phật không nên ăn bất cứ loại thịt nào.
chín lỗ
(cửu khổng): cũng gọi là cửu khiếu, chỉ chín lỗ thông giữa cơ thể với môi trường bên ngoài, gồm 2 lỗ tai, 2 lỗ mũi, 2 lỗ mắt, 1 lỗ miệng và 2 lỗ đại, tiểu tiện. Chín lỗ này thường bài tiết ra những chất nhơ nhớp không sạch nên gọi là bất tịnh.
chín lỗi
Nine faults.
chín muồi
Abhyavagāhya (S), Abhyavagāḍha (S), Pariṇata (S), Ripened, Mature Trưởng thành, kết liễu.
chín người mưới ý
Among ten people, there are ten personalities.
chín sự điều phục xung đột
Aghata-pativinaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín sự điều phục xung đột bằng cách nghĩ rằng: “Có lợi ích gì mà nghĩ rằng một người đã làm hại, đang làm hại, và sẽ làm hại mình, hại người mình thương, hoặc hại người mình ghét.”—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are nine ways of overcoming malice by thinking “There is no use to think that a person has harmed, is harming, or will harm either you, someone you love, or someone you hate.”
chín thứ đệ diệt
Anupubha-nirodha (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín thứ đệ diệt—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are nine successive cessations: 1) Thành tựu Sơ Thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt: By the attainment of the first jhana, perceptions of sensuality cease. 2) Thành tựu Nhị Thiền, tầm tứ đoạn diệt: By the attainment of the second jhana, thinking and pondering cease. 3) Thành tựu Tam Thiền, hỷ đoạn diệt: By the attainment of the third jhana, delight (piti) ceases. 4) Thành tựu Tứ Thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt: By the attainment of the fourth jhana, in-and-out breathing ceases. 5) Thành tựu Hư Không Vô Biên Xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt: By the attainment of the Sphere of Infinite Space, the perception of materiality ceases. 6) Thành tựu Thức Vô Biên Xứ, tưởng hư không vô biên xứ đoạn diệt: By the attainment of the Sphere of Infinite Consciousness, the perception of the Sphere of Infinite Space ceases. 7) Thành tựu Vô Sở Hữu Xứ, thức vô biên xứ bị đoạn diệt: By the attainment of the Sphere of No-Thingness, the perception of the Sphere of Infinite Consciousness ceases. 8) Thành tựu Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt: By the attainment of the sphere of Neither-Perception-Nor-Non-Perception, the perception of the Sphere of No-Thingness ceases. 9) Thành tựu Diệt Thọ Tưởng Định, các tưởng và các thọ đều bị đoạn diệt: By the attainment of the Cessation-of-Perception-and-Feeling, perception and feeling cease.
chín thứ đệ trú
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín thứ đệ trú—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are nine successive abidings: 1) Nhất Thiền Thiên: The first jhana heaven. 2) Nhị Thiền Thiên: The second jhana heaven. 3) Tam Thiền Thiên: The third jhana heaven. 4) Tứ Thiền Thiên: The fourth jhana heaven. 5) Không Vô Biên Xứ: The Sphere of Infinite Space. 6) Thức Vô Biên Xứ: The Sphere of Infinite Consciousness. 7) Vô Sở Hữu Xứ: The Sphere of No-Thingness. 8) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: The Sphere of Neither-Perception-Nor-Non-Perception. 9) Diệt Thọ Tưởng Định Xứ: The Sphere of Cessation of Perception and Feeling.
chín xung đột sự
Aghata-vatthuni (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có chín sự xung đột khởi lên bởi tư tưởng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are nine causes of malice which are stirred up by the thought: 1) Người ấy đã làm hại tôi: He has done me an injury. 2) Người ấy đang làm hại tôi: He is doing me an injury. 3) Người ấy sẽ làm hại tôi: He will do me an injury. 4) Người ấy đã làm hại người tôi thương mến: He has done an injury to someone who is dear and pleasant to me. 5) Người ấy đang làm hại người tôi thương mến: He is doing an injury to someone and pleasant to me. 6) Người ấy sẽ làm hại người tôi thương mến: He will do an injury to someone who is dear and pleasant to me. 7) Người ấy đã làm hại người tôi không thương không thích: He has done an injury to someone who is hateful and unpleasant to me. 8) Người ấy đang làm hại người tôi không thương không thích: He is doing an injury to someone who is hateful and unpleasant to me. 9) Người ấy sẽ làm hại người tôi không thương mến: He will do an injury to someone who is hateful and unpleasant to me. ** For more information, please see Chín Sự Điều Phục Xung Đột.
Chính
正; C: zhèng; J: shō; S: samyak. |1. Đúng, phải, chính xác, ngay thẳng, chân thực, thẳng thắn (s: sat); 1. Sửa cho thẳng, hiệu chỉnh, điều chỉnh, chỉnh lí (方); 3. Ống bọt nước, mặt phẳng (s: śāta); 4. Theo đúng (s: nyāna); 5. Chân tính, niết-bàn (s: nir-vāṇa); 6. Căn bản của nhận thức đúng đắn (s: pramāṇa); 7. Thành thực, nghiêm chỉnh; 8. Chủ yếu, trọng yếu, ngược với thứ yếu.
chính
Right, correct; just, exact; chief, principal; true, genuine.
chính biến giác
Xem Chính biến tri.
Chính biến tri
正遍知 [ja] ショウヘンチ shōhenchi ||| Correct peerless enlightenment (samyak-saṃbuddha), or someone who has attained this--a buddha. This is one of the ten epithets 十號 of the Buddha. Same as 正等覺. => Giác ngộ viên mãn chân chính (samyak-saṃbuddha), Đức Phật, người đã đạt được sự giác ngộ nầy. Là một trong mười danh hiệu của chư Phật. Đồng nghĩa với Chính đẳng giác 正等覺.
chính biến tri
Samyaksambuddha (S). Omniscience, completely enlightened, the universal knowledge of a Buddha.
; (正遍知) Phạm: Samyak-saôbuddha, dịch âm: Tam miệu tam phật đà. Là một trong mười hiệu của đức Phật. Còn gọi Tam da tam phật đàn, Chính biến trí, Chính biến giác, Chính chân đạo, Chính đẳng giác, Chính đẳng chính giác, Chính giác đẳng, Chính đẳng giác giả. Tam miệu, là chính - Tam, là khắp - Phật đà, là hiểu, biết. Chính biến tri, tức là biết khắp hết thảy pháp một cách chân chính. Ngoài ra, tiếng Phạm: Samyak-saôboddhi, dịch âm là Tam miệu tam bồ đề, dịch cũ là Chính biến tri, Chính biến tri đạo, dịch mới là Chính đẳng giác, Chính đẳng chính giác. Bồ đề nói về pháp. Phật đà nói về người. Bởi thế, Tam miệu tam bồ đề là nói chính biến tri,chính đẳng giác, còn Tam miệu tam phật đà là chỉ bậc chính biến tri, bậc Chính đẳng giác. (xt. Thập Hiệu, Chính Giá, A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).
chính biến tri bộ
(正遍知部) Tức là Phật bộ. Chính biến tri, là một trong mười hiệu của đức Phật, bởi thế, Chính biến tri bộ trong Mật giáo là tên gọi khác của Phật bộ. Một trong ba bộ của Thai tạng giới, một trong năm bộ của Kim cương giới. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 thượng), nói: Hoặc chỉ vào cửa Tam muội chính biến tri bộ.
chính biến tri hải
(正遍知海) Biển chính biến tri. Chính biến tri, là một trong mười hiệu của Phật, ý nói đức Phật biết khắp hết thảy pháp một cách chân chính, cái biết ấy sâu rộng mông mênh như biển, không thể đo lường được, cho nên dùng biển để thí dụ. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 thượng), nói: Biển chính biến tri của chư Phật, theo tâm tưởng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Chính Biến Tri).
chính báo
The direct retribution of the individual's previous existence.
; Chánh báo—The direct retribution of the individual's previous existence, such as being born as a man.
Chính báo 正報
[ja] ショウホウ shōbō ||| Literally "correct reward" or "direct reward." The body and mind sentient beings are born with as a result of activities in prior lifetimes. As distinguished from the "circumstantial reward" 衣報. => “Phần thưởng đúng đắn” hay “quả báo trực tiếp”. Là thân tâm chúng sinh được sinh ra như là kết quả của những hành vi trong những kiếp trước. Khác với Y báo衣報.
chính chuyên
Virtuous.
chính cung kính kinh
(正恭敬經) Có một quyển. Còn gọi là Chính pháp cung kính kinh, Uy đức đà la ni trung thuyết kinh, Thiện kính kinh, Ưng cung kinh. Do ngài Phật đà phiến đa đời Bắc Ngụy dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung nói về phép tắc tỷ khưu kính pháp, kính thầy, cùng với kinh Thiện cung kính do ngài Xà na quật đa đời Tùy dịch là cùng bản mà khác dịch. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, Q.13 - Đại đường nội điển lục Q.4].
chính cơ
Right foundation, basis.
; (正機) Có nghĩa cơ loại chính đáng, tức là căn cơ thích hợp để nhận lãnh sự giáo hoá. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên (Đại 33, 748 thượng) nói: Thiện ác vị lai là chính cơ vậy. Tịnh độ chân tông Nhật bản lấy những kẻ phàm phu tội ác làm chính cơ của bản nguyện tha lực nên có thuyết chính cơ người ác, chính cơ người nữ. Lại cơ phát tâm liền đến là chính cơ trong các cơ. [X. An lạc tập Q.thượng]. (xt. Ác Nhân Chính Cơ, Cơ).
chính cần
Prahàna (S).
chính danh
True name.
chính giác
Sambodhi (S). The wisdom or omniscience of a Buddha.
; (正覺) I. Chính giác. Phạm: Samyaksaôbodhi Pàli: Sammà-sambodhi. Chỉ sự giác ngộ chân chính. Còn gọi Chính giải, Đẳng giác, Đẳng chính giác, Chính đẳng chính giác, Chính đẳng giác, Chính tận giác. Đẳng, là nói về lý được chứng - tận, là nói về hoặc bị đoạn. Tức là tiếng nói tắt của Vô thượng đẳng chính giác, Tam miệu tam bồ đề. Tiếng Phạm: Sambodhi, dịch ý là chính giác, dịch âm là Tam bồ đề. Có nghĩa là trí biết chân chính chứng ngộ hết thảy các pháp, là thực trí của Như lai, vì thế, thành Phật còn gọi là Thành Chính giác. Đức Phật A di đà đã thành tựu chính giác qua mười kiếp rồi - cái giây phút thành Phật đầu tiên gọi là một niệm chính giác. Lại hoa sen bên Tịnh độ cực lạc là y vào sự thành tựu chính giác của đức A di đà Như lai mà có, cho nên gọi là hoa chính giác. Trên đây là chính giác nói theo nghĩa rộng. Còn nói theo nghĩa hẹp, thì đặc biệt chỉ cho đức Thích tôn ngồi trên tòa kim cương ở gốc cây bồ đề mà giác ngộ pháp duyên khởi, chứng được giải thoát. Trường a hàm quyển 2 kinh Du hành (Đại 1,15 hạ), nói: Đức Phật thủa xưa, bên sông Uất bề la ni liên thuyền, dưới cây A du ba ni câu luật, mới thành chính giác. Lại trong năm giáo do tông Hoa nghiêm phân định, thì đức Thích tôn mới thành chính giác là chỉ sinh thân Thích ca thực thành trong Tiểu thừa giáo. Chỉ thân hóa tam tướng thị hiện trong Thủy giáo, chỉ báo thân đầy đủ mười địa trong Chung giáo, trong Đốn giáo thì gọi là pháp thân mới thành, trong Viên giáo thì là ý vị thành chính giác tràn khắp Nhân đà la võng vô biên thế giới niệm niệm mới mới. [X. kinh Tạp a hàm Q.12 - Trung a hàm Q.56 - kinh La ma - Vãng sinh luận chú Q.thượng - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2]. (xt. Chính Biến Tri, A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề). II. Chính giác(1091-1157) Vị tăng tông Tào động đời Tống. Người Thấp châu (Sơn tây) họ Lí. Mười một tuổi xuất gia, mười bốn tuổi thụ giới Cụ túc, mười tám tuổi xuất du tham học. Một ngày nọ sư nghe tăng tụng kinh Pháp hoa, đến câu Mắt do cha mẹ sinh, thấy hết ba nghìn cõi, chợt thấy tỉnh ngộ. Sư đã nghe danh ngài Tử thuần ở Đơn hà, bèn đến tham lễ và hỏi đạo, nghe xong, trong lòng thấy lâng lâng, không còn chút gì vướng vít, lúc đó sư mới hai mươi ba tuổi. Khi ngài Đơn hà trở về ở chùa Đại thừa tại Đường châu, sư cũng đi theo. Năm Tuyên hòa thứ hai (1120) sư dời đến ở chùa Đại hồng. Không bao lâu đáp lời thỉnh cầu của Chân yết chùa Trường lư, sư về mở trường giảng pháp. Có đến một nghìn bảy trăm người nghe, tất cả đều thán phục. Sư lưu lại đây sáu năm, rồi chuyển đến chùa Phổ chiếu tại Từ châu để hoằng pháp, đồng thời, thừa tự áo bát của ngài Đơn hà. Niên hiệu Kiến viêm năm đầu (1127) sư dời đến ở chùa Thái bình tại Thư châu, sau chuyển đến hai chùa Viên thông và Năng nhân ở Giang châu. Sư lại lên núi Vân cư tham yết ngài Viên ngộ Khắc cần, ngài Khắc cần và An định quận vương cùng thỉnh sư trụ trì chùa Trường lư. Năm Kiến viêm thứ 3 sư qua sông Triết đến Minh châu lễ bái nuí Phổ đà, khi đi qua núi Thiên đồng, Quận thú khẩn khoản mời sư trụ trì chùa Thiên đồng. Sư ở chùa Thiên đồng trước sau gần ba mươi năm, sửa sang già lam, chỉnh đốn thanh qui, đời gọi là Thiên đồng hòa thượng và được tôn làm tổ Trung hưng chùa Thiên đồng. Vào những năm cuối đời Bắc Tống, thời thế li loạn, tông phong sa sút, lưu tệ trăm mối, sư bèn nêu cao tông phong chính truyền của Thiền tông, đồng thời đề xướng Thiền phong Tọa thiền, Mặc chiếu, đời gọi là Mặc chiếu thiền, Hoành trí thiền. Tháng 9 năm Thiệu hưng 27, sư thị tịch, thọ sáu mươi bảy tuổi. Được ban hiệu Hoành Trí Thiền Sư. Sư soạn Thiên đồng bách tắc tụng cổ, sau ngài Vạn tùng Hành tú đời Nguyên đã căn cứ vào đó để viết Thung dung lục. Ngoài ra, còn có Hoành trí quảng lục 9 quyển - Hoành trí Giác thiền sư ngữ lục 4 quyển, Hoành trí hoà thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.17 - Ngũ đăng hội nguyên Q.14 - Phật tổ lịch đại thông tải Q.30 - Đại minh cao tăng truyện Q.5].
chính giác hoa
(正覺華) Chỉ cho hoa sen, tức dùng hoa sen để thí dụ chính giác của Phật. Sự chính giác của Phật đã thoát li các phiền não tạp nhiễm, quả trí sáng láng, cũng như hoa sen đã nhô lên khỏi bùn nhơ, trong sạch mầu nhiệm, vì thế được dùng làm thí dụ. Lại hoa sen ở cõi Tịnh độ cực lạc cũng gọi là hoa Chính giác.
chính giác nhất niệm
(正覺一念) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chính giác, tức là đã chứng được giải thoát. Chính giác nhất niệm, tức là một niệm lúc ban đầu khi đức Phật A di đà thành tựu quả Phật chính giác đã qua mười kiếp rồi. Còn gọi là Thập kiếp chính giác sát na. Đây là giáo thuyết của phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Lại cái niệm qui mệnh của chúng sinh ba đời và cái tâm xưng niệm của hữu tình mười phương, cũng gọi là chính giác nhất niệm. Một niệm Chính giác của Di đà Như lai trong mười kiếp, đã thành tựu cơ pháp (chúng sinh và Phật lực) nhất thể của thể tự giác, một niệm ấy có thể dọc cùng ba đời, ngang khắp mười phương, chúng sinh mười phương ba đời có khả năng vãng sinh trong một niệm ấy, cho nên, nhân quả vãng sinh của chúng sinh trong mười phương ba đời tuy có trước sau khác nhau, nhưng đều nhiếp trong một niệm chính giác mà đức Phật A di đà đã thành tựu. [X. An tâm quyết định sao]. (xt. Cơ Pháp Nhất Thể).
chính giác tự
(正覺寺) I. Chính giác tự. Vị trí chùa trên núi Tứ tổ (Sơn tây) huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc. Còn gọi là Tứ tổ tự, Từ giác tự. Do tổ thứ tư của Thiền tông là Đạo tín sáng lập vào khoảng năm Vũ đức (618-626) đời Đường, về sau tổ Đạo tín cũng nhập tịch tại đây. Núi Tứ tổ còn được gọi là núi Song phong, núi Phá đầu, núi Phá thạch. (xt. Tứ Tổ Tự). II. Chính giác tự. Chùa ở Bắc bình, được xây dựng vào năm Thành hóa thứ 9 (1473) đời Minh. Nền tháp rất lớn, hình thức khác lạ, cao độ 16m, phần trên tháp có năm tòa tháp Phật cao khoảng 10m. Tòa ở chính giữa cao 13 tầng, bốn tòa ở bốn góc mỗi tòa cao 11 tầng. Trong tháp có đường quanh co đi suốt lên đỉnh tháp, có khắc kinh Phật bằng tiếng Phạm - tháp được bao bọc bằng lớp lan can đá chạm trổ rất tinh vi. Chùa chỉ còn năm tòa tháp Kim cương bảo tọa với những cổ thụ tùng bách um tùm.
Chính giác 正覺
[ja] ショウガク shōgaku ||| (1) Awakening, enlightenment. The awakening of the Buddha. 'correct awakening.' Awakening to true reality. (Pali saṃbodhi; Skt. abhisaṃbodhi). 〔法華經 T 262.9.1b5〕(2) A person who has awakened to reality. A Buddha, tathāgata. => 1. Giác ngộ, chứng ngộ. Sự giác ngộ của Đức Phật. Giác ngộ chân chính. Giác ngộ thực tại chân như (p: saṃbodhi; s: abhisaṃbodhi). 2. Người giác ngộ được thực tại. Đức Phật, Như Lai.
chính giáo
The orthodox doctrine, right teaching.
chính giáo lượng
See Thánh Giáo Lượng.
chính huệ
Right wisdom.
chính hành
(正行) Phạm: Samyak-pratipatti, Pàli: Sammà-paỉipatti. Chỉ việc làm không quanh co xiên xẹo. Tức là hành vi chính đáng, lấy lời đức Phật dạy làm tiêu chuẩn, nền tảng, trái lại với tà hành - hoặc đối lại với hành vi tạp nhạp, phụ trợ mà nói là chính hành. Lại hành vi do nguyên nhân trực tiếp mà thành, gọi là chính hành - hành vi do nguyên nhân gián tiếp mà thành gọi là trợ hành .. Cứ theo kinh Bát chính đạo chép, thì thấy không đúng, nghĩ không đúng, nói không đúng, sửa không đúng, cầu không đúng, làm không đúng, ý không đúng và định không đúng, gọi là tám tà hành - trái lại, thấy đúng, nghĩ đúng cho đến ý đúng, định đúng thì gọi là tám chính hành. Cứ theo Trung a hàm quyển 38 kinh Anh vũ và luận Đại trí độ quyển 48 chép, thì tám chính đạo trái lại với tà hành của ngoại đạo phàm phu là thuộc chính hành. Các nhà có nêu ra mấy thuyết về chính hành. Như luận Du già sư địa quyển 64 nêu ba chính hành: đối với Phật bảo, phải tu cúng dường thừa sự, đối với Pháp bảo, phải tu phương tiện Du già, đối với Tăng bảo, phải tu cùng nhận của pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12 lấy sáu Ba la mật làm chính hành, tức là bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, thiền định và bát nhã. Luận Biện trung biên quyển hạ thì đứng về mặt tướng của mười hạnh Ba la mật mà chia làm sáu thứ chính hành, tức là tối thắng, tác ý, tùy pháp, lìa hai bên, sai biệt, vô sai biệt. Luận Trung biên phân biệt quyển hạ thì đứng về mặt chính hành tác ý kể trên mà chia ra mười thứ chính hành, đó là: Viết chép, cúng dường, cho người khác, nếu người khác đọc tụng thì lắng nghe, tự mình đọc, tự hiểu ý và nghĩa của câu văn đúng như lí, thuyết trình ý nghĩa của câu văn đúng như đạo lý, chính tâm mà nghe đọc tụng, suy nghĩ đúng như lý không, đã vào ý thì không quên mất cho nên tu tập. Pháp hoa kinh huyền tán quyển 8 gọi các việc thụ trì, đọc, tụng, giải nói, viết chép, cúng dường, nói trong kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Pháp sư, là sáu loại Pháp sư chính hành. Trong Quán kinh sớ tán thiện nghĩa, ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ, bảo tu tập năm thứ hành nghiệp cầu vãng sinh cõi Tịnh độ của Phật A di đà là năm chính hành. Đó là: 1. Đọc tụng, đọc tụng các Thánh điển của Tịnh độ. 2. Quán sát, quán tưởng các tướng tốt đẹp của Phật A di đà. 3. Lễ bái, lễ lạy Phật A di đà. 4. Xưng danh, xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà. 5. Tán thán cúng dàng, khen ngợi công đức của Phật A di đà. Trái lại, nếu lấy chư Phật và Bồ tát khác ngoài Phật A di đà làm đối tượng để lễ bái, quán tưởng, thì gọi là tạp hành. Trong năm chính hành, thì Xưng danh là đặc biệt phù hợp với bản nguyện của Phật A di đà, cho nên gọi là Chính định nghiệp, còn bốn mục kia thì gọi là Trợ nghiệp, Trợ hành. Nếu ngoài việc tu chuyên niệm Phật (xưng danh) ra, kiêm cả 4 hành kia nữa, thì gọi là Trợ chính kiêm hành. Lại đứng về phương tiện Chính nhân của sự vãng sinh Tịnh độ mà nói là chính hành. Ngoài ra, trong Mật giáo, những hành nghiệp tu sau Gia hành, thì gọi là chính hành. [X. kinh Chuyển pháp luân - kinh Ban nê hoàn Q.hạ - kinh Đại phương đẳng đại tập Q.30 - kinh Giải thâm mật Q.3 - luận Đại trí độ Q.56, Q.87 - Biện trung biên luận thuật kí Q.trung - Pháp uyển châu lâm Q.17]. (xt. Chính Nhân Chính Hành).
chính hóa
Conversion to the right way.
chính hạnh
Right deeds or action, opposite of tà hạnh.
Chính hạnh chân như 正行眞如
[ja] ショウギョウシンニョ shōgyō shinnyo ||| The suchness of correct practices, which is a reference to the noble truth of the Way. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Là một trong Thất chủng chân như 七種眞如.
Chính hạnh 正行
[ja] ショウギョウ shōgyō ||| (1) Correct practices; correct behavior (Pali sammā-paṭipatti, pasati). Following the correct way, which, in early Indian Buddhism, will lead to the attainment of arhatship. (2) Contemplation of reality. See 現觀. 〔二障義 HPC 1.812b〕(3) A translation of the Sanskrit ācārya. See 阿闍梨. => 1. Tu tập chân chính; hành vi chân chính (p: sammā-paṭipatti, pasati). Tuân theo phương pháp tu tập chân chính, đó là, theo Phật giáo nguyên thuỷ Ấn Độ, phương pháp dẫn đến quả vị A-la-hán. 2. Quán chiếu về thực tại. Xem Hiện quán 現觀. 3. Hán dịch chữ ācārya từ tiếng Sanskrit. Xem A-xà-lê 阿闍梨.
chính học luật nghi
(正學律儀) Là một trong Biệt giải thoát luật nghi. Tức sáu giới (nhiễm tâm va chạm, lấy tiền của người, giết hại súc sinh, nói dối, ăn phi thời, uống rượu) do Thức xoa ma na nhận giữ. Thức xoa ma na còn gọi là Chính học nữ, bởi thế gọi là Chính học luật nghi. Lại biệt giải thoát luật nghi là giới luật mà bảy chúng tỷ khưu, tỷ khưu ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, ưu bà tắc, ưu bà di phải giữ để lần lượt diệt trừ mọi tội ác do bảy chi thân khẩu gây ra. Trong đó, ưu bà di sau khi xuất gia muốn tiến lên mà thụ giới tỷ khưu ni, thì không được thụ ngay đại giới, mà trước phải tu trì sáu pháp giới trong hai năm để thử nghiệm có thể thụ được đại giới hay không, rồi sau mới cho thụ giới tỷ khưu ni. (xt. Lục Pháp Giới).
chính học nữ
(正學女) Là một trong năm chúng xuất gia. Còn gọi Học pháp nữ, Học giới nữ, Thức xoa ma na ni, Thức xoa ni, nghĩa là Ni chúng ở trong học pháp. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 4 Ni chúng biệt hành thiên chép, thì Sa di ni muốn thụ giới Cụ túc, trong thời gian hai năm trước khi thụ giới Cụ túc, phải học riêng ba loại pháp: 1. Thụ trì bốn giới cấm nặng là dâm dục, trộm cướp, giết hại, nói dối. 2. Không phạm sáu pháp nhiễm tâm va chạm, lấy tiền của người, giết hại súc sinh, nói dối, ăn phi thời, uống rượu. 3. Tu học tất cả các giới hạnh mà tỷ khưu ni phải đầy đủ. Trong thời gian ấy, kiểm tra xem có thai hay không và thử nghiệm xem có bền vững hay không. Sa di ni trong thời gian ấy gọi là Chính học nữ. (xt. Thức Xoa Ma Na).
chính khí
Innate will.
chính kiến
Samyak-drsti (S). Right view.
; Right views.
; (正見) Phạm: Samyag-dfwỉi, Pàli: Sammàdiỉỉhi. Trí tuệ hữu lậu, vô lậu biết rõ nhân quả thế gian và xuất thế gian, xét thấu tính tướng của các pháp một cách như thực, gọi là Chính kiến. Là một trong tám Chính đạo, một trong mười thiện. Đối lại với Tà kiến. Tức xa lìa tà kiến hoặc có hoặc không, mà giữ thái độ thấy biết trung chính, như xa lìa năm cái thấy biết không chân chính là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, thì đều thuộc chính kiến. Cho nên nói một cách phổ quát thì phàm đạo lý được Phật giáo thừa nhận, đều thuộc chính kiến. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 97 chép, thì Chính kiến có thể chia làm 2 loại là: 1. Hữu lậu chính kiến, còn gọi là Thế tục chính kiến. Tức thiện tuệ hữu lậu tương ứng với ý thức là Tuệ có chấp thủ hữu lậu, cho nên chuyển hướng cõi thiện mà chiêu cảm quả báo vui sướng như mình mong cầu. 2. Vô lậu chính kiến, còn gọi là xuất thế gian chính kiến. Tức tận vô sinh trí không bao nhiếp thiện tuệ tương ứng với ý thức, như tám thứ nhẫn vô lậu, tám trí hữu học, chính kiến vô học v.v...… [X. kinh Tạp a hàm Q.28 - luận Thuận chính lí Q.6 - luận Đại trí độ Q.22 - luận Câu xá Q.2 - luận Thành thực Q.16 phẩm Kiến trí - Đại thừa nghĩa chương Q.8 phần đầu].
Chính kiến 正見
[ja] ショウケン shōken ||| 'Right view,' 'correct view.' the view which complies with the Buddhist teaching of causality. The first of the items of practice in the Eightfold Holy Path 八正道. => Cái thấy chân chính, sống theo giáo lý nhân quả trong đạo Phật. Là đề mục đầu tiên khi tu tập Bát chính đạo.
chính lí
Naya (S). Right method, good way.
chính lí nhất trích luận
(正理一滴論) Phạm: Nyàyabindu. Còn gọi là Chính lí nhất trích, Chính lí trích luận, Chính lí phương ngung. Tác phẩm của ngài Pháp xứng (Phạm: Dharmakìrti) bên Ấn độ. Là một trong bảy luận Nhân minh do Phật giáo Tây tạng truyền. Nội dung phát huy học thuyết Nhân minh của ngài Trần na (Vực long) là tác phẩm tập đại thành Nhân minh của Phật giáo. Luận này chia làm ba chương, chương thứ nhất dùng hai mươi mốt tụng giải thích rõ tri giác trực tiếp, chương thứ hai bảo sự suy luận có hai thứ: sự 1í giải của chính mình và sự lí giải của người khác, rồi nói rõ về sự lý giải của chính mình - chương thứ ba thì luận cứu về sự lí giải của người khác. Thể hệ Nhân minh của ngài Pháp xứng, ngoài Phật giáo ra, đối với các học phái đời sau có ảnh hưởng rất lớn, chẳng hạn như Pháp thượng (Phạm: Dharmottara) ở cuối thế kỷ thứ tám đã viết Chính lí nhất trích chú, lưu truyền trong Kì na giáo. Tại Trung quốc và Nhật bản vì ít có người biết đến, trái lại, ở Tây tạng thì rất thịnh hành, bởi thế mới có bản dịch Tây tạng, mà không có bản Hán dịch. Về mặt chỉnh thể, toàn bộ sách vẫn y theo thể hệ Nhân minh của ngài Trần na, nhưng có mấy điểm bất đồng như sau: 1. Dựa vào ba loại tình huống bất khả đắc, tự tính và quả, đối với Nhân tam tướng thuyết minh tỉ mỉ hơn. 2. Chủ trương bỏ bớt chi Dụ, đem Đồng dụ thể, Dị dụ thể qui vào trong Nhân. 3. Trong các lỗi về Tông, bỏ bớt những lỗi Tự giáo tương vi, Năng biệt bất cực thành, Sở biệt bất cực thành và Câu bất cực thành. 4. Cho rằng sẽ không xảy ra lỗi Tương vi quyết định của Nhân, đồng thời, đem ba thứ lỗi của Nhân là Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi qui vào trong lỗi Pháp tự tướng tương vi. 5. Đồng dụ, Dị dụ đều thêm bốn lỗi, mười lỗi của Dụ bèn trở thành mười tám lỗi.
chính lí tạng luận
(正理藏論) Là tác phẩm Nhân minh của Tây tạng. Còn gọi Nhân minh thất luận minh đăng lí luận bảo tạng tiên chú. Do Tát ban cống cát kiên tán viết. Đối với lí thú của bảy luận Nhân minh, trong sách này trình bày rất rõ ràng, là tác phẩm Nhân minh tương đối có ảnh hưởng đối với các học giả Tây tạng.
chính lý
Nāya (S), Good way.
chính lượng bộ
Sammatìya (S). Buddhist sect. Also Sa ma đế.
; (正量部) Phạm: Sammatìya hoặc Sammitìya, Pàli: Sammitiya hoặc Sammiti. Là một trong hai mươi bộ Tiểu thừa, hoặc một trong mười tám bộ Tiểu thừa. Còn gọi là Tam mi để dữ, Tam ma đề, Thức ma, Di li để, Di li, Thánh chính lượng bộ, Chính lượng đệ tử bộ, Nhất thiết sở quí bộ, Tam di để bộ, Sa ma đế (Phạm: Sammatìya), Tam mật lật để (Phạm: Sammfti), A li da tam mật lật để ni ca da (Phạm:Àrya-sammfti-nikàya). Là học phái cùng với Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ và Mật lâm sơn bộ đồng thời chia rẽ ra từ Thượng tọa Độc tử bộ, vào khoảng ba trăm năm sau đức Phật nhập diệt. Cứ theo Dị bộ tôn luân luận thuật kí chép, thì vì bộ này phán định phải trái, cho nên gọi là Lượng, phán định lầm lẫn sai trái, cho nên gọi là Chính, và theo pháp nghĩa ấy mà đặt tên bộ là Chính lượng. Về nguyên do tên gọi của bộ này, Tam luận huyền nghĩa còn nói rằng, bộ này là đệ tử của La hán Đại chính lượng, cho nên gọi là Chính lượng đệ tử bộ. Cứ theo Giáo đoàn phân biệt tường thuyết (Sde-pa thadad-par-bzed-pa daí rnam-par-bzadpa= nói rõ về sự chia rẽ giáo đoàn) của ngài Thanh biện (Phạm: Bhavya) do Tây tạng truyền, bảo vị tổ của bộ này là Sammata, cho nên gọi là Sammatìya. Về nguồn gốc của bộ này, các thuyết lưu truyền phần nhiều cho rằng đã phát xuất từ Độc tử bộ, kinh Văn thù sư lợi thì bảo phát xuất từ Hiền bộ (Hiền trụ bộ). Xuất Tam tạmg kí tập quyển ba Tân tập luật phân vi thập bát bộ kí lục, bảo phát xuất từ Ca diếp duy bộ.Cứ theo Đại đường tây vực kí chép, thì vào cuối thế kỷ thứ VII, khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, sự truyền bá của Chính lượng bộ chỉ kém có Thuyết nhất thiết hữu bộ, thịnh hành tại các địa phương trung, nam và tây Ấn độ. Giáo nghĩa chủ yếu được chép trong luận Tam di để bộ 3 quyển, chủ trương thuyết Nhân, Ngã thực có, cũng giống như Độc tử bộ. Ngoài ra, trong các luận Câu xá quyển 3, quyển 5, quyển 13, luận Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 2 và luận Tùy tướng, cũng có chép giáo thuyết của bộ này. Giáo lí của Chính lượng bộ và của Độc tử bộ không khác nhau bao nhiêu, duy có thuyết Sinh diệt là đặc sắc của bộ này. Cho rằng phàm sự sinh diệt của sự vật đều có hai nguyên nhân: Chủ nhân và Khách nhân. Chủ nhân là sự sinh và diệt trong bốn tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt - còn Khách nhân tức là các loại nhân duyên. Khi sinh, phải cần hai nhân chủ, khách. Khi diệt, thì không giống nhau. Thí dụ như Tâm và Tâm sở thì chỉ có chủ nhân, còn bất tương ứng hành và sắc v.v... thì phải đủ hai nhân chủ và khách. Diệt thì phải cần khách nhân, là vì chư hành có tạm trụ trong thời gian ngắn, hoặc diệt trong sát na. [X. kinh Xá lợi phất vấn - Bộ chấp dị luận - Thập bát bộ luận - Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu - Câu xá luận quang kí Q.13 - Đa na la tha Ấn độ Phật giáo sử - Luận sự (Katthàvatthubản Pàli)].
chính lệnh
(正令) Chỉ Phật pháp. Trong Thiền môn thì đặc biệt chỉ ý chỉ truyền ngoài kinh giáo. Thung dung lục tắc 35 (Đại 48, 251 thượng) nói: Người không nói, người không nói, chính lệnh nắm toàn một câu gần gũi. Cho nên trong Tùng lâm, mỗi khi dùng câu Chính lệnh đương hành là nói con đường của Phật tổ thông hành ở đời. Lại như Bích nham lục tắc 63 (Đại 48, 194 hạ) dùng câu Chính lệnh đương hành, mười phương dứt bặt để chỉ ngoài cây gậy và tiếng hét ra không lập một pháp gì nữa, đó là tông chỉ truyền ngoài kinh giáo. [X. Thiền tông Vô môn quan Triệu châu cẩu tử].
chính minh
(正明) Trực tiếp giải bày rõ ràng minh bạch cái tôn chỉ chủ yếu, gọi là Chính minh - còn khi giải bày sự lí của một việc mà gián tiếp thuyết minh sự lí của một việc khácđể chứng minh thêm, thì gọi là Bàng minh . Chẳng hạn như Tịnh độ giáo từ xưa đến nay đều lấy ba kinh một luận là kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô luợng thọ, kinh A di đà và luận Vãng sinh, làm kinh điển chính minh, gọi là Chính y - còn lấy kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa, luận Đại thừa khởi tín, luận Bảo tính, luận Thập trụ tì bà sa v.v... làm kinh điển bàng minh, gọi là Bàng y. Song, trong Tịnh độ giáo Nhật bản, vấn đề luận Thập trụ tì bà sa nên được coi là luận điển chính minh hay bàng minh thì đã có sự tranh biện khá lâu, tổ Nguyên không (1133-1212) của tông Tịnh độ thì lấy luận Thập trụ tì bà sa làm luận điển bàng minh của giáo nghĩa Tịnh độ. Trong khi, tổ Thân loan (1173- 1262) của Tịnh độ Chân tông thì coi nó là luận điển chính minh. Vì thế đến đời sau quan điểm dị biệt ấy đã trở thành một vấn đề trọng yếu liên quan đến tông thừa của Chân tông. [X. Hán ngữ đăng lục Q.1 - Chính y kinh luận (Thân loan) - Tịnh độ văn loại tụ sao].
chính mạng
Chánh mạng—Samyagajiva (skt). 1) Tránh những nghề cấm đoán (trong kinh Phật)—Right livelihood—Right life, the fifth of the eightfold noble truth, abstaining from any of the forbidden modes of living. 2) Phương cách chính thống để sinh sống của một vị Tỳ Kheo là khất thực: Begging or seeking alms, was the orthodox way of obtaining a living. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo, Tà Mệnh and Tứ Chủng Tà Mệnh.
Chính mạng 正命
[ja] ショウミョウ shōmyō ||| Right livelihood (Skt. samyag-ājiva; Pali sammā-ājiva; Tib. yaṅ dag paḥi ḥtsho ba), which is one of the parts of the Eightfold Correct Path . One should not make their living by stealing, gambling, killing, pandering, and the like. => Cách sinh nhai chân chính (s: samyag-ājiva; p: sammā-ājiva; t: yaṅ dag paḥi ḥtsho ba). Là một phần trong Bát chính đạo. Người Phật tử không nên sinh sống bằng nghề trộm cắp, gá bạc, sát hại, mối lái dâm dục, v.v...
chính mệnh
Samyak-àjìva (S). Right livelihood, right life.
; (正命) Phạm: Samyag-àjìva. Pàli: Sammààjìva. Còn gọi là Đế thụ, Chính mệnh đạo chi. Một trong tám đạo chính. Đệ tử Phật y theo chính pháp khiến cho ba nghiệp thân khẩu ý trong sạch - xa lìa năm phương pháp mưu sinh xấu ác, như chú thuật, bói toán v.v... mà tìm cầu các vật nhu yếu cho cuộc sống như áo mặc, cơm ăn, thuốc thang và giường chiếu một cách đúng như chính pháp, thì gọi là Chính mệnh. Lại tỉ khưu đi ăn xin để bảo tồn pháp thân tuệ mệnh, gọi là Chính mệnh thực.
chính nghiệp
Samyak-karmànta (S). Right action.
; (正業) I. Chính nghiệp. Phạm: Samyakkarmànta, Pàli: Sammà-kammanta. Là một trong tám chính đạo. Cũng gọi là Chính hành, Đế hành. Tức ba nghiệp thân khẩu ý trong sạch, xa lìa tất cả tà ác như giết hại, trộm cướp, gian dâm. (xt. Bát Chính Đạo). II. Chính nghiệp. Còn gọi là Chính hành, Chính định nghiệp. Có nghĩa là hành nghiệp quyết định. Trong Quán kinh tán thiện nghĩa, đại sư Thiện đạo đời Đường, bảo một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật A di đà mà niệm niệm không bỏ, tu hành như thế là Chính định nghiệp. Dựa vào đó, Tịnh độ chân tông của Nhật bản, chủ trương tha lực niệm Phật là nghiệp quyết định vãng sinh, gọi là Chính nghiệp. [X. Giáo hành tín chứng Q.2 (Hành quyển)]. (xt. Chính Định Nghiệp).
Chính nghiệp 正業
[ja] ショウゴウ shōgō ||| Right action; right behavior. Acting in a way that is not harmful to oneself or others (Skt. samyak-karma-anta; Pali sammā-kammanta; Tib. yaṅ paḥi las kyi mthaḥ). This is a component of the eightfold path 八正道. => Hành vi chân chính. Hành động theo cách không gây tổn hại cho mình và mọi người (s: samyak-karma-anta; p: sammā-kammanta; t: yaṅ paḥi las kyi mthaḥ). Là một thành phần trong Bát chính đạo.
chính nghĩa
Just cause.
chính ngoa tập
(正訛集) Có một quyển. Do ngài Chu hoành ở núi Vân thê đời Minh soạn. San hành vào năm Vạn lịch thứ 2 (1574). Nội dung liệt kê sáu mươi sáu hạng mục, như Áo nghìn Phật, Ngũ tổ không nuôi mẹ, Tây phương mười vạn tám nghìn, sa di Cao chẳng thụ giới, Vu lan bồn, Lương vũ đế, Nam vô Phật, Ba áo, Cạo tóc không cạo râu v.v... đều là những vấn đề mà vì những người đạo, tục đương thời không biết, đến nỗi truyền sai lạc đi, cho nên ngài Chu hoành tường thuật ra sách để giải thích rõ ý nghĩa gốc xưa nay trong Phật giáo. [X. Vân thê pháp vậng Q.27].
chính nguyên lược tập
(正源略集) Gồm mười sáu quyển. Do sư Đạt trân đời Thanh biên. Thu vào Vạn tục tạng tập 145. Đạt trân nối tiếp công việc biên soạn của sư Bái lâm Tế nguyên đời thứ 39 từ Nam nhạc trở xuống và Chiêu nguyệt Liễu trinh đời thứ 40, và chép thêm lược truyện của Tế nguyên và Liễu trinh nữa mà thành sách, nhưng thiếu mất quyển một và tựa, bạt. Quyển 2 đến quyển 16 thu chép đời thứ 34 đến đời 40 từ Nam nhạc trở xuống, Tôngkính đời thứ 3 đến đời 133 từ Thanh nguyên trở xuống, và tám người cư sĩ, tất cả là bốn trăm linh năm người với quê quán, họ và những yếu ngữ cơ duyên. Sư Đạt trân còn viết Chính nguyên lược tập bổ di một quyển, chép tiếp thêm hai mươi tám người nữa, cũng thu vào Vạn tục tạng tập 145.
chính ngưng
(正凝) (1191 - 1274) Vị tăng đời Nam Tống. Hoặc gọi là Chỉ ngưng. Người Thái hồ, Thư châu, họ Lí. Mười bảy tuổi cha mất, y vào sư Song tuyền anh tại Hoàng châu xuống tóc, thụ giới Cụ túc ở chùa Khai nguyên. Sau tham yết Vô minh tính, trong khi hỏi đáp, Vô minh tính dơ nắm tay đập vào ngực một cái, sư chợt tỉnh và than rằng (Vạn tục 142 , 400 hạ): Đời mình trôi qua, nay gặp được một nắm tay của ông già này, ngói vỡ băng tan. Rồi lại đến Mân, lễ yết Cô phong tú, khổ công tham cứu, qua nửa năm mới ngộ được tôn chỉ, Cô phong bèn sai cầm hương, đem áo và phất trao cho. Phong tịch, đến y vào Sương lâm quả. Năm Bảo hựu thứ năm (1257), bắt đầu hoằng pháp tại Câu đài, Phúc châu, sau dời về ở Vạn tuế. Rất lâu sau, chuyển đến Cổ sơn. Khi sắp tịch, sư họp chúng bảo viết kệ, ngồi ngay ngắn mà hóa, thọ tám mươi tư tuổi. Pháp tự là Dị công ở Mông sơn thu tập những thi kệ của sư thành mấy quyển Ngữ lục truyền ở đời. [X. Tăng tập tục truyền đăng lục Q.3].
chính ngữ
Samyak-vàca (S). Right speech.
; (正語) I. Chính ngữ. Phạm: Samyag-vàc, Pàli: Sammà-vàcà. Còn nói là Chính ngôn, Đế ngữ. Là một trong tám Chính đạo, tức xa lìa tất cả lời nói hư dối không thực, như nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói thêu dệt v.v... Lại vì Chính ngữ cũng là lời nói tất nhiên hợp đạo lí, cho nên còn gọi là Thuận lí ngữ. (xt. Bát Chính Đạo). II. Chính ngữ. Phạm: Vàspa, Pàli: Vappa. Dịch âm là Bà sư ba, Bà sáp bà, Bà phạm, Bà phu. Dịch ý là khí dấy lên, ra nước mắt. Là một trong năm tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên sau khi thành đạo. Sau khi đức Thích tôn vượt thành xuất gia, vua Tịnh phạn sai Chính ngữ và A nhã Kiều trần như gồm năm người gần gũi hầu hạ đức Thích tôn. Về sau khi đức Thích tôn chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Lộc dã, tức là hóa độ cho năm người ấy. [X. Trung a hàm Q.8 kinh Thị giả - kinh Tăng nhất a hàm Q.3 phẩm Đệ tử - kinh Phật bản hạnh tập Q.34 phẩm Chuyển pháp luân]. (xt. Bà Sư Ba).
Chính ngữ 正語
[ja] ショウゴ shōgo ||| Correct speech. Not lying, not rumoring, not speaking in a way that causes problems between others. This is the third item in the eightfold path 八正道. => Nói lời chân chính. Không nói dối, không đồn đoán, không nói lời khiến người khác xung khắc nhau. Đây là mục thứ ba trong Bát chính đạo.
chính nham
(正岩) I. Chính nham (1597-1670) vị tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh. Người Kim lăng, họ Quách. Tự là Khê đường. Hiệu Tùng sơn, còn hiệu là Thúc am, Ngẫu dư, Ngẫu ngư, về cuối đời, hiệu là Nam bình ẩn tẩu. Ăn chay từ bảy tuổi, vào làm tiểu (điệu) ở chùa Linh ẩn lúc mười tuổi, mười lăm tuổi tham yết Thiền sư Vô tận Tổ đăng tại Thiên thai, lại tham khắp các bậc tôn túc như Đức thanh ở Hám sơn, Đạt quan Chân khả. Sau đến tham yết Tam phong Pháp tạng ở Tịnh từ, Pháp tạng thường quở trách (Vạn tục 141, 345 thượng) rằng: Đó đều là dựa vào sự hiểu biết đoán mò, chính là gốc của sống chết, dùng cái hiểu biết ấy mà cầu Thiền thì cũng như định đi đến bắc lại quay về nam vậy. (...) Ở đây ta không chạy theo ngày dài để tiến đến Thiền!. Sư nghe cả thẹn, tham cứu bảy ngày đêm, trong lòng tĩnh lặng, nghi ngại tiêu tan, ngài Pháp tạng bèn ấn khả cho sư. Về sau, sư thờ ngài Hoằng thành ở Hoành sơn làm thầy. Không bao lâu ra làm chủ Cao đình hiển ninh, sau dời đến ở Linh ẩn, trông coi Tịnh từ. Năm Khang hi thứ năm (1666), vì bị vu cáo mà bị bắt, chuyển đến Giang ninh, trong tù sư thuyết pháp, nhân viên nhà tù đều được cảm hóa. Mùa đông năm sau, sự thật rõ ràng, sư được phóng thích, về ở chùa Tịnh từ. Tháng 7 năm Khang hi thứ 9, sư biết trước giờ tịch, tập chúng dặn dò, tự soạn yểm khám kệ rồi hóa, thọ bảy mươi tư tuổi. Có ngữ lục truyền ở đời. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.82]. II. Chính nham. Vị tăng đời Thanh. Người Phiên ngu, Quảng đông, họ Lý. Lúc đầu tên là Kim nham, cũng ký tên là Tế nham, tự là Sơn phẩm. Mẹ góa sớm, thờ Phật rất thành tâm, vì đời loạn nên cho sư đến nương vào Hòa thượng Thiên nhiên. Sư thông minh từ nhỏ, không chịu sự kiềm chế, Hòa thượng quản thúc rất nghiêm nhưng không cấm được, đã bị đuổi mấy lần song không chịu đi. Lớn lên học tập sách vở ngoài đời - sau khi thụ giới Cụ túc, tu Thiền độ, nhập thất ba năm trên Tuyết phong. Về sau lại đi tham vấn, qua các cảnh Thiên thai, Linh ẩn. Sau tham yết Thiền sư Kế khởi Hoằng trừ ở Linh nham, vừa vào phương trượng, thấy vị tăng bên cạnh trình tụng cổ, tự nhiên mê chấp tiêu tan hết. Hoằng trừ nêu một công án để hỏi thử, thấy không nghi trệ, Hoằng trừ mừng nói: Đạo ta ở phương nam đây!, bèn nối pháp làm đời thứ 36 của Lâm tế. Trở về Việt trung sư trụ trì nhiều danh lam, hoằng hóa đại thịnh. Khoảng năm Khang hi, sư thị tịch, không rõ tuổi thọ.
chính nhân
The true or direct cause, as compared to duyên nhân a contributory cause. Main cause; leitmotiv.
; Nhân chính sinh ra pháp, so với duyên nhân là những nhân phụ chỉ trợ lực cho nhân chính—The true or direct cause, as compared with a contributory cause (Duyên nhân).
chính nhân chính hành
(正因正行) Là Chính nhân và Chính hành nói gộp lại. Trong tông Tịnh độ, Chính nhân là chỉ nguyên nhân trực tiếp của sự vãng sinh Tịnh độ - còn hành vi trực tiếp vãng sinh Tịnh độ thì gọi là Chính hành. Cứ theo đại sư Thiện đạo nói trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa, thì sự vãng sinh Tịnh độ lấy ba phúc làm chính nhân, lấy chín phẩm làm chính hành. Ba phúc là: 1. Thế phúc, là những việc làm đạo đức phúc thiện, như hiếu đễ, trung tín, từ bi không giết hại v.v... 2. Giới phúc, là những giới luật như ba qui y, năm giới, giới Cụ túc v.v... 3. Hành phúc, là sự tu hành Đại thừa, như tâm bồ đề tự tu hành và hóa độ người khác, phát nguyện vãng sinh v.v... Chín phẩm là: dựa theo trình độ của hành nghiệp vãng sinh thực tiễn, có thể chia làm chín giai đoạn Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ - Trung thượng, Trung trung, Trung hạ - Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ. ngài Thiện đạo còn lấy ba tâm là Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm làm Chính nhân, lấy năm Chính hành là đọc tụng, quán sát, lễ bái, xưng danh và tán thán cúng dường làm Chính hành. Phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ Nhật bản, bảo ba phúc là tên gọi các đức mục, chỉ chúng sinh vẫn chưa thực tiễn cho nên gọi là Chính hành - và đối với quả vãng sinh mà nói, thì là Chính nhân. Chín phẩm là đức mục của ba phúc, chỉ trạng thái chúng sinh đã thực tiễn, cho nên gọi là Chính hành. Chín phẩm được gọi là chính hành là đối với nguyên nhân tà nghiệp của cõi mê sống chết mà dùng chúng để hiển bày cái chính nghiệp có thể trở thành nguyên nhân cho cuộc vãng sinh. Lại năm chính hành được gọi là chính hành là đối lại với tạp hành lễ bái, quán tưởng chư Phật và Bồ tát khác mà hiển bày cái hành vi gần gũi Phật A di đà. Cứ theo Quán kinh tán thiện nghĩa truyền thông kí quyển 1 của vị tăng Nhật bản là Lương trung nói, thì ba phúc chính nhân kể trên, là đứng về phương diện khởi hành mà lập luận - còn thuyết lấy ba tâm làm chính nhân thì là đứng về phương diện an tâm mà lập luận. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương, bất luận chúng sinh tu trì thực tiễn như thế nào, cũng chẳng giúp được gì cho việc vãng sinh, duy chỉ có sự tiếp nhận cái tha lực tín tâm mà đức Phật A di đà ban cho mới là chính nhân của sự vãng sinh, bởi thế mới lập thuyết Tín tâm chính nhân. Do đó, tông này cho rằng, kinh Quán vô lượng thọ tuy có thuyết minh yếu môn tu hành các việc thiện có thể được vãng sinh, nhưng trong đó cũng ngầm ngụ ý hoằng nguyện tha lực tín tâm được vãng sinh, như thế thì lấy ba phúc, chín phẩm làm chính nhân, chính hành là ý bảo yếu môn của nhân hành. Cứ theo phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ Nhật bản chủ trương, thì ba phúc, chín phẩm cùng thuộc tán thiện (dùng tâm tán loạn bình thường mà tu thiện), nhưng ba phúc là hiển bày hành môn tự lực tu thiện, còn chín phẩm là hiển bày quán môn quán chiếu hoằng nguyện của Phật Di đà, đứng về phương diện bản ý thuyết pháp của đức Phật mà nói, thì có thể chia làm chính nhân và chính hành, và ba phúc nếu vào chín phẩm thì cũng trở thành quán môn.
Chính nhân Phật tính 正因佛性
[ja] ショウインブッショウ shōin busshō ||| The true cause of awakening; endlessly debated from the North-South periods onwards and defined variously as emptiness, tathatā 如, ālaya-vijnāna 阿頼耶識, mind, and the like. => Nguyên nhân chân chính của giác ngộ; không ngừng được tranh luận từ thời Nam-Bắc triều trở đi, định nghĩa những đề tài khác nhau theo từng trường hợp như: Không, Như, A-lại-da thức, tâm, v.v...
chính nhẫn
See Chánh Nhẫn.
chính nhật
(正日) Chỉ ngày tống táng trong Thiền lâm. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 Đế sư niết bàn (Đại 48, 1117 thượng), nói: Chính nhật đánh chuông họp chúng. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.3].
chính niệm
Samyak-smrti (S). Right mindfulness.
; (正念) I. Chính niệm. Phạm: Samyak-smfti, Pàli: Sammàsati. Chỉ ý nghĩ chân chính. Là một trong tám chính đạo. Còn gọi là Đế lí. Tức là nhớ nghĩ tính tướng của các pháp một cách như thực, không quên mất. Có thể chia làm hai: 1. Thế tục hữu lậu chính niệm, tức là ý nghĩ thiện tương ứng với sự chú ý hữu lậu. 2. Xuất thế gian vô lậu chính niệm, tức là ý nghĩ dựa vào chính kiến vô lậu, có thể tư duy về cảnh thực và tương ứng với sự chú ý vô lậu, mà ghi nhớ rõ ràng không quên. Về thể tính của chính niệm, cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 96 nói, thì Niệm căn, Niệm lực và Chính niệm đều nhiếp vào Niệm giác chi. Cứ theo luận Câu xá quyển 25 nói, thì Niệm căn, Niệm lực, Niệm giác chi và Chính niệm đều lấy niệm làm thể. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần trên thì bảo Niệm là nghĩa Nhẫn, và phối với bốn giáo của tông Thiên thai, tức chính niệm của Ba tạng giáo là Phục nhẫn, chính niệm của Thông giáo là Nhu thuận nhẫn, chính niệm của Biệt giáo là Vô sinh nhẫn và chính niệm của Viên giáo là Tịch diệt nhẫn. [X. kinh Tạp a hàm Q.28 - Trung a hàm Q.7, kinh Phân biệt thánh đế - kinh Bát chính đạo - kinh Chuyển pháp luân]. (xt. Bát Chính Đạo). II. Chính niệm (1215-1285). Vị tăng tông Lâm tế đời Tống. Người Vĩnh gia, Ôn châu (Chiết giang), hiệu Đại hưu. Lúc nhỏ tham học Đông cốc Diệu quang ở chùa Linh ẩn, sau lại bái yết Tâm nguyệt ở Thạch khê, bèn được ấn khả. Mùa hạ năm Hàm thuần thứ 5 (1269), sư đáp thương thuyền đến Nhật bản, rồi y vào Lan khê Đạo long ở chùa Kiến trường tại Liêm thương. Người trông coi công việc của Thời tông ở Bắc điều rất kính ngưỡng đạo hạnh của sư và lễ thỉnh sư về ở chùa Thiền hưng. Về sau, lần lượt ở các chùa Thọ phúc, Viên giác và Kiến trường. Về cuối đời, sư dựng một ngôi am nhỏ trong nội tự chùa Viên giác, đề biển là Tàng lục...... Lại dựng Thọ tháp để làm nơi qui tàng, đồng thời, tự viết bài minh Viên trạm vô sinh, ghi chép hành trạng đức nghiệp một đời. Tháng 11 năm Chính ứng của Nhật bản, sư thị tịch, để lại bài kệ: Cầm chiếc dùi tu di, Đánh vỡ trống hư không - dấu thân mất tung tích, mặt trời chính giữa trưa. Thọ bảy mươi lăm tuổi. Vua ban thụy hiệu Phật nguyên Thiền sư. Trứ tác có Đại hưu Hòa thượng ngữ lục 6 quyển. Là tổ của phái Thiền đại hưu (là một trong hai mươi bốn phái Thiền của Nhật bản). [X. Nguyên hanh thích thư Q.8 - Diên bảo truyền đăng lục Q.3 - Bản triều cao tăng truyện Q.21].
chính niệm vãng sinh
(正念往生) Vãng sinh, tức là sinh sang cõi Tịnh độ cực lạc. Chính niệm vãng sinh, tức là y theo kinh A di đà nói, tâm không điên đảo, một lòng niệm Phật, thì được sinh về nước Phật. Là một trong bốn loại vãng sinh. (xt. Tứ Chủng Vãng Sinh).
Chính niệm 正念
[ja] ショウネン shōnen ||| (1) 'Correct mindfulness', 'correct thought.' One of the Eightfold Path 八正道. Nien refers to continual mindfulness without lapse. To continually keep (something) in mind. To be removed from evil thought and be mindful of the Buddha-way (saṃprajāna, pratismrta, smṛti, saṃyak-smṛti). (2) To abide in veracious thought. To rectify the mind and hold to its true form. To be mindful of reality and not to be taken in by appearances. (3) To skillfully remember affairs without lapse in memory. In Pure Land teachings, the Mind of True Reliance on Amitābha Buddha. => 1. Là một chi phần trong Bát chính đạo. Niệm 念 là thường tập trung tâm ý liên tục không gián đoạn. Thường giữ (đề mục quán chiếu) trong tâm. Để giải trừ vọng niệm và chú tâm đến Phật đạo (s: saṃprajāna, pratismrta, smṛti, saṃyak-smṛti). 2. An trú trong những tâm niệm chân chính. Điều chỉnh tâm ý và hướng tâm vào niệm tưởng chân chính. 3. Khéo léo giữ tâm vào trong công việc chân chính không gián đoạn, tâm chân thực nương tựa vào Đức Phật A-di-đà.
chính pháp
Saddharma (S). The correct doctrine of the Buddha. Also diệu pháp.
; (正法) I. Chính pháp. Phạm: Sad-dharma, Pàli: Saddhamma. Chỉ pháp chân chính. Cũng tức là giáo pháp do đức Phật nói. Còn gọi là Bạch pháp (Phạm: Zukla-dharma), Tịnh pháp, hay còn gọi là Diệu pháp. Phàm các pháp khế hợp với chính lí Phật pháp, thì đều gọi là Chính pháp, như pháp môn không đắm trước, pháp Đại bồ tát. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 183 chép, thì chính pháp của Như lai có thế tục và thắng nghĩa khác nhau, chính pháp thế tục chỉ danh cú văn thân, tức là kinh, luật, luận - chính pháp thắng nghĩa thì chỉ Thánh đạo, tức là căn, lực, giác chi, đạo chi vô lậu. Lại luận Câu xá quyển 29, bảo thể của chính pháp Thế tôn có hai thứ là Giáo và Chứng - Giáo chính pháp là chỉ ba tạng kinh luật luận do đức Phật nói - còn ba mươi bảy phẩm Bồ đề phần pháp, thì là Chứng chính pháp. Nói cách khác, Giáo chính pháp tức là thể của chính pháp thắng nghĩa. [X. kinh Tạp a hàm Q.25 - kinh Tăng nhất a hàm Q.48 - kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật Q.5 phẩm Chứng khuyến - luận Tạp a tì đàm tâm Q.10 - luận Đại trí độ Q.34]. II. Chính pháp. Là một trong ba thời Chính pháp, Tượng pháp, Mạt pháp. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp ngài để lại nơi đời, y theo đó mà tu hành thì có thể chứng quả, gọi là Chính pháp. (xt. Chính Tượng Mạt).
chính pháp cự
The torch of the truth, i.e. Buddhism.
; (正法炬) Chính pháp tức là giáo pháp do đức Phật nói. Chính pháp cự, có nghĩa là Phật pháp cũng như ngọn đuốc, có thể soi sáng đường sống chết tối tăm, khiến chúng sinh si mê thoát li phiền não mà hướng tới chính đạo Niết bàn, cho nên dùng ngọn đuốc (Cự) để thí dụ. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 6 trung), nói: Khéo léo nói pháp, thắp đuốc chính pháp, diệt cờ tà kiến.
chính pháp hoa kinh
(正法華經) Gồm mười quyển. Do ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch, thu vào Đại chính tạng tập thứ 9. Là bản dịch xưa nhất trong ba bản dịch của kinh Pháp hoa hiện còn. Bản kinh này được dịch vào năm Thái khang thứ 7 (286), do Niếp thừa viễn dịch ra chữ Hán, Trương sĩ minh, Trương trọng chính viết chép, Trúc lực, Bạch nguyên tín cùng xem lại. Nguyên bản của kinh này là bản lá bối gồm sáu nghìn năm trăm kệ tụng được tàng trữ trong cung vua nước Vu điền, trong kinh có một lượng lớn các chuyện cổ thí dụ mà trong kinh Diệu pháp liên hoa do ngài Cưu ma la thập dịch không có. Hơn nữa, tên các phẩm có khác với kinh Diệu pháp liên hoa cũng không ít, vì thế bản dịch này là tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu đối chiếu với kinh Pháp hoa. Toàn bộ kinh có hai mươi bảy phẩm, nội dung đại khái tương đồng với bản dịch của Cưu ma la thập. Nhưng trong phẩm Dược thảo (La thập dịch là Dược thảo dụ phẩm) có thí dụ vấn đáp của Ca diếp và mặt trời mặt trăng sinh tối tăm, trong phẩm Thụ ngũ bách đệ tử quyết (La thập dịch là Ngũ bách đệ tử thụ kí phẩm), có thí dụ vào biển lấy của báu - trong phẩm Dược vương Như lai (La thập dịch là Pháp sư phẩm) có việc vua Bảo cái và một nghìn Thái tử Thiện cái cúng dường pháp - lại các bài chú đều dịch Phạm ra Hán - trong các phẩm Tổng trì (La thập dịch là Đà la ni phẩm) và Lạc phổ hiền (La thập dịch là Phổ hiềnbồ tát khuyến phát phẩm) có rất nhiều sự sai khác trong việc dịch Đà la ni ra chữ Hán - đem phẩm Đề bà đạt đa và phẩm Kiến bảo tháp hợp lại làm phẩm Thất bảo tháp - phẩm Quan thế âm phổ môn (La thập dịch là Quan thế âm bồ tát phổ môn phẩm), không có Trùng tụng - phẩm Chúc lụy được đặt ở sau cùng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.8 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.11 - Khai nguyên thích giáo lục Q.11, Q.14]. (xt. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh).
chính pháp kiều
(正法橋) Kiều, là cây cầu - cầu có thể giúp người qua sông - giáo pháp do đức Phật nói có khả năng khiến chúng sinh vượt qua bể khổ sống chết, cho nên dùng cầu để thí dụ chính pháp. Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 56 (Đại 13, 379 thượng), nói: Đuốc pháp sẽ diệt tắt, xe pháp không quay chuyển - cầu chính pháp gãy nát, chân pháp không đi nữa.
chính pháp luân thân
(正法輪身) Chỉ thân diễn nói chính pháp. Là một trong ba luân thân của Mật giáo. Đối lại với Tự tính luân thân và Giáo lệnh luân thân. Tức là Bồ tát từ nơi thân tự tính của Như lai mà sinh ra, đem chính pháp rộng độ chúng sinh, thoát li phiền não ác nghiệp. Luân, bánh xe, là một lợi khí đập tan kẻ địch xấu ác, cho nên dùng luân thân để thí dụ. Cứ theo Lí thú thích quyển hạ chép, thì đức Phật Tì lô giá na quay bốn thứ bánh xe pháp, tức là Kim cương luân, Bảo luân, Pháp luân và Yết ma luân. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh Đạo tràng niệm tụng nghi quĩ quyển hượng chép, thì năm Bồ tát y vào Pháp luân và Giáo lệnh luân mà hiện thân, thân pháp luân là thân chân thực, tu hành mong được báo đáp thân ấy. Bí tạng kí liệt kê thân Chính pháp luân của năm Phật, tức bồ tát Bát nhã là thân chính pháp luân của Đại nhật Như lai, Kim cương tát đóa là thân chính pháp luân của Phật A súc, Kim cương tạng vương là thân chính pháp luân của Phật Bảo sinh, bồ tát Văn thù là thân chính pháp luân của Phật A di đà, Kim cương nha là thân chính pháp luân của Phật Bất không thành tựu. (xt. Tam Luân Thân).
chính pháp luật
(正法律) Chỉ giới luật. Tức giới học dựa vào giáo pháp của đức Phật mà được thành lập, để phân biệt với giới cấm của ngoại đạo mà gọi là chính pháp luật. Từ ngữ này được thấy rải rac trong các kinh Tạp a hàm quyển 44, Trung a hàm quyển 28. Lại giới luật của tông Chân ngôn Nhật bản cũng gọi là chính pháp luật, do Từ vân ở chùa Cao qui đề xướng vào khoảng năm Diêu hưởng (1744- 1748) - tức là đem luật nghi của Mật giáo thêm vào với giới pháp của Đại thừa, Tiểu thừa, cho đến việc may cắt ca sa đều có qui định nghiêm khắc. Khoảng năm Minh trị (1868-1912) lại có Vân chiếu, Khánh Vân thừa kế pháp ấy. [X. Luật uyển tăng bảo truyện Q.15 - Từ vân tôn giả toàn tập Q.6 - Tôn giáo nghiên cứu tân đệ thập chi nhất Từ vân tôn giả chi chính pháp luật (Thường bàn đại định)].
chính pháp minh như lai
The Tathàgata who clearly understands the true law, i.e. Quán Âm who attained Buddhahood in the past.
; (正法明如來) Tức là danh hiệu của bồ tát Quán thế âm khi đã thành Phật ở quá khứ. Còn gọi là Chính pháp minh vương. Cứ theo kinh Thiên thủ thiên nhãn quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni chép, thì bồ tát Quán thế âm cũng gọi là Quán thế âm tự tại, Nhiên sách, Thiên quang nhãn, có đầy đủ sức uy thần chẳng thể nghĩ bàn, đã thành Phật trong vô lượng kiếp ở quá khứ, tên là Chính pháp minh Như lai. Nhưng vì nguyện lực đại bi, muốn khuyến khích hết thảy Bồ tát rộng độ chúng sinh, nên thị hiện làm hình Bồ tát.
Chính pháp nhãn tạng
正法眼藏; J: shōbōgenzō;|Có hai nghĩa:|1. Con mắt trí huệ thấu suốt chân lí bao hàm trong mọi hiện tượng;|2. Tên của một tác phẩm của Thiền sư Nhật Bản Ðạo Nguyên Hi Huyền. Tác phẩm này bao gồm những Ðề xướng (s: teishō) và những bài viết trong hai thập niên cuối đời của sư. Chính pháp nhãn tạng được xem là một trong những tác phẩm sâu sắc nhất trong tất cả những thiền ngữ và là tác phẩm văn học tôn giáo tiêu biểu nhất của Nhật Bản.
chính pháp nhãn tạng
(正法眼藏) I. Chính pháp nhãn tạng. Chỉ tâm ấn Thiền mà Phật Phật tổ tổ truyền ngoài kinh giáo. Còn gọi là Thanh tịnh pháp nhãn. tức dựa vào mắt trí tuệ (mắt chính pháp) thấy suốt chân lí, là pháp thấu triệt muôn đức bí tàng (tạng), cũng tức là cảnh giới ngộ của nội tâm đức Phật - Thiền tông coi đó là Bồ đề sâu xa kín nhiệm nhất, từ đức Thích tôn lần lượt truyền đến Đạt ma, lấy tâm truyền tâm, từ tâm của thầy đến tâm học trò. Liên đăng hội yếu quyển một chép, trên hội Linh sơn đức Thế tôn cầm hoa dạy chúng, chúng đều im lặng, chỉ có Ca diếp mỉm cười. Đức Thế tôn nói (Vạn tục 136, 221 thượng): Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, chẳng lập văn tự, truyền ngoài kinh giáo, naygiao phó cho Ma ha Ca diếp. Trong đây, câu Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, nói tắt là chính pháp diệu tâm, là ý nói đức Thế tôn đã chứng được chân lí rất sâu xa không thể nghĩ bàn, cảnh giới đại ngộ ấy tức là cái tâm Phật mầu nhiệm sâu kín, không thể dùng lời nói mà biểu hiện hoặc nắm bắt được. Lại chính pháp nhãn tạng tức là cái mà kinh Pháp hoa gọi là tri kiến của Phật, và Niết bàn diệu tâm là bản thể của tâm Phật, bản thể vắng lặng, cho nên gọi là Niết bàn - chẳng thể nghĩ bàn phân biệt, cho nên nói là diệu - đó là diệu pháp nói trong kinh Pháp hoa. Bởi thế, những câu Chính pháp nhãn tạng, Thanh tịnh pháp nhãn, đại khái là chỉ Chính pháp vô thượng mà một đời đức Phật đã nói ra. Thuyết Chính pháp nhãn tạng, ở thời đại Tùy, Đường chưa thấy được truyền chép, đến đời Tống mới thấy trong Ngữ lục của Thiền tông, có lẽ do các vị tăng thời Tống căn cứ vào câu nói trong kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 377 hạ): Ta nay có Chính pháp vô thượng, giao phó hết cho Ma ha Ca diếp rồi chuyển biến mà thành chăng? [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.1 mục Ma ha ca diếp phó pháp - Nhân thiên nhãn mục Q.5 mục Tông môn tạp lục chiêm hoa - Tục truyền đăng lục Q.2 - Ngũ đăng hội nguyên Q.1 - Chính pháp nhãn tạng (Đạo nguyên) - Biện đạo thoại]. II. Chính pháp nhãn tạng. Gồm sáu quyển, do Đại tuệ Tông cảo (1089-1163) đời Tống soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 118. Nội dung thu tập các lời nói pháp và cơ duyên của các bậc tôn túc xưa, tất cả hơn trăm thiên và có phụ thêm những lời bình luận ngắn của soạn giả. Năm Thiệu hưng 11 (1141) đời Nam Tống, Tông cảo vì tội mà phải dời đến ở Hành châu, trong thời gian này, các bậc đại đức từ các phương đi lại thù tạc đàm đạo, những lời đàm đạo ấy được thị giả là Xung mật Tuệ nhiên ghi chép lại, đến năm Thiệu hưng 17 thì biên xong và cho san hành ngay. Tục gọi là Đại tuệ chính pháp nhãn tạng. Năm Vạn lịch 44 (1616) đời Minh, sa môn Tuệ duyệt ở am Phổ thiện và cư sĩ Xuân môn Từ hoằng trạch, phụ thêm các bài tựa của Viên trừng và Lí nhật Hoa, phụ cả thư củaTông cảo trả lời quan Thị lang Trương tử thiều, rồi khắc lại. [X. Thiền tịch chí Q.thượng]. III. Chính pháp nhãn tạng. Gồm chín mươi lăm quyển. Do tổ của tông Tào động Nhật bản là Vĩnh bình Đạo nguyên soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 82. Là tập pháp ngữ bằng tiếng Nhật do Đạo nguyên biên soạn trong khoảng hai mươi ba năm, từ năm ba mươi hai tuổi đến năm năm mươi tư tuổi. Chính pháp nhãn tạng vốn chỉ chính pháp của đức Phật nói trong một đời. Còn Chính pháp nhãn tạng của Đạo nguyên là do sự biên chép các giáo nghĩa Phật giáo, kinh điển, công phu hàng ngày, chỉ bày các pháp môn, phân tích các công án v.v... mà thành, toàn bộ sách có tất cả chín mươi lăm thiên, được xem là sách triết học cao nhất mà đã từng do một người Nhật soạn. Đặc biệt là thiên Hữu thời, là do Đạo nguyên ngồi Thiền và tu quán mà thể chứng được thời gian và tồn tại, được coi là sự thể hiện tư tưởng Phật giáo Nhật bản một cách sâu xa nhất, kín nhiệm nhất. Ý chỉ chủ yếu của sự thể chứng ấy là, thời gian tức là tồn tại, hết thảy sự tồn tại (muôn pháp), không sự tồn tại nào không là thời gian - thời gian đã không trở ngại, thì giữa các vật cũng không ngại trở lẫn nhau - mỗi một Sát na tức là chỉnh thể của thời gian, mỗi một Sát na cũng bao hàm muôn vật muôn tượng. Sách này là điển tịch trọng yếu nhất của tông Tào động Nhật bản. [X. Chính pháp nhãn tạng tùy văn kí - Thiền học tạp chí số 20, 22, 23].
chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí
(正法眼藏隨聞記) Gồm sáu quyển. Do sư Hoài trang (1198- 1280) thuộc tông Tào động Nhật bản soạn. Nội dung biên tập các lời pháp của tông tổ là Thiền sư Vĩnh bình Đạo nguyên. Khi thầy là Đạo nguyên biên soạn Chính pháp nhãn tạng, Hoài trang đứng hầu bên cạnh, được nghe những lời pháp bèn ghi lại mà thành sách này. Câu Người học đạo cần phải an phận nghèo hèn là câu danh ngôn mà sách này đặc biệt nhấn mạnh.
chính pháp niệm xứ kinh
(正法念處經) Phạm: Saddharma-smfty-upasthàna-sùtra. Gồm bảy mươi quyển. Do ngài Bát nhã lưu chi đời Bắc Ngụy dịch. Dịch âm là Tát đát la ma tất ma la địa ô bà tát đát nô nô ma tô đát la. Cũng gọi là Chính pháp niệm kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Lý do phát khởi kinh này là vì ngoại đạo đem các vấn đề ba nghiệp thân khẩu ý chất vấn các tỉ khưu mới xuất gia, nên đức Thế tôn mới nói rộng Pháp môn chính pháp niệm xứ, thuyết minh mối quan hệ nhân quả của ba cõi sáu ngã. Cũng tức là dựa vào Thập thiện nghiệp đạo phẩm, Sinh tử phẩm, Địa ngục phẩm, Ngã quỉ phẩm, Súc sinh phẩm, Quán thiên phẩm, Thân niệm xứ phẩm v.v..., để xem xét nhân quả của sáu ngã sống chết mà nói rõ đạo chán lìa. Tư tưởng kinh này lấy sự tu đạo của tỉ khưu làm chủ, tuy thuộc phạm trù Tiểu thừa, nhưng cấu tứ kì đặc, bút pháp khoáng đạt và luôn luôn cho thấy manh nha của tư tưởng Đại thừa. Nhất là đối với sự quan hệ nhân quả của luân hồi sáu ngã, miêu thuật rất chính xác và tỉ mỉ. So sánh đối chiếu với kinh Chính pháp niệm xứ Trong tạng kinh Cao li, thì trong phẩm Quán thiên và phẩm Địa ngục có bỏ sót mất nhiều câu. Còn về người dịch kinh này, cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 6 nói, thì do ngài Cù đàm bát nhã lưu chi dịch - Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 cho biết kinh được dịch vào niên hiệu Hưng hóa năm đầu (539) đời Đông Ngụy - nhưng Pháp kinh lục bản Cao li quyển 3, chỉ nói dịch giả là Lưu chi đời Bắc Ngụy - ba bản Tống, Nguyên, Minh thì bảo là sa môn Bồ đề lưu chi đời Bắc NgụyNgoài ra, kinh Diệu pháp thánh niệm xứ 8 quyển do Pháp thiên đời Tống dịch, về nội dung, đại ý cũng tương đồng với kinh này. [X. Đại đường nội điển lục Q.4 - Tục cao tăng truyện Q.1 - Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.7 - Duyệt tạng tri tân Q.30].
Chính pháp niệm xứ kinh 正法念處經
[ja] ショウボウネンショキョウ Shoubō nensho kyō ||| The Zhengfa nianchu jing; 正法念處經 T 721.17.1a-417c. (c: Zhengfa nianchu jing; j: Shoubō nensho kyō ); .
chính pháp thọ
(正法壽) Chỉ thọ mệnh của chính pháp. Sau đức Phật nhập diệt, trong vòng từ năm trăm năm đến một nghìn năm là thời kì chính pháp của đức Phật ở đời, gọi là Chính pháp thọ. Ở thời kì này, lấy Giáo, Hành, Chứng làm thể của chính pháp. Luận Câu xá quyển 29 (Đại 29, 152 trung), nói: Đã biết thọ mệnh chính pháp của Như lai, dần dần chìm mất. (xt. Chính Tượng Mạt).
chính pháp y
He on whom the Truth depends, a term for a Buddha.
; (正法依) Tôn hiệu của đức Phật. Có nghĩa là đức Phật đem chính pháp trao cho chúng sinh, cho nên lấy Phật làm nơi nương tựa của chính pháp mà gọi là Chính pháp y. Kinh Thắng man chương Nhiếp thụ thứ 4 (Đại 12, 219 thượng), nói: Phật là mắt thực trí thực, là pháp căn bản, là pháp thông suốt, là nơi y chỉ của chính pháp. Lại tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di v.v..., khi chính pháp sắp diệt, không nịnh hót quanh co, không lừa gạt, không giả dối, mà ưa thích chính pháp, hộ trì chính pháp, thì chắc chắn sẽ được chư Phật thụ kí.
Chính pháp 正法
[ja] ショウボウ shōbō ||| (1) True principle, true reality, true dharma. (2) The teaching of reality; the true teaching; the Buddha's teaching. (3) The period of the true teaching, as opposed to the latter two periods of the semblance teaching 像法and the degenerate teaching 末法. See also 正像末. => 1. Nguyên tắc đạo đức chân chính, thực tại chân chính, giáo pháp chân chính. 2. Giáo lý về thực tại, giáo lý chân thật, Phật pháp. 3. Thời kỳ giáo lý chân chính lưu hành, khác với thời tượng pháp và mạt pháp. Xem Chính tượng mạt 正像末.
Chính phương tiện 正方便
[ja] ショウホウベン shō hōben ||| Correct expedient means. Also, correct effort--same as 正精進 (Pali sammā-vāyāma). 〔華嚴經、 T 278.9.661b19〕 => Phương tiện chân chính. Cũng là chân chính tinh tấn-- chính tinh tấn(正精進 p: sammā-vāyāma).
chính quán
Correct, right meditation.
; (正觀) Chỉ sự quán xét chân chính. Có nhiều giải thích. Trung a hàm quyển 28 kinh Ưu đà la bảo, đối lại với sự quán xét tà vạy của ngoại đạo, dùng trí tuệ chân chính biết rõ chân như, gọi là chính quán. Trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 3, khi giải thích Nhật tưởng quán trong kinh Quán vô lượng thọ, sa môn Thiện đạo lấy tâm và cảnh tương ứng với nhau làm chính quán, không tương ứng là tà quán. Trong Tam luận huyền nghĩa, sa môn Cát tạng lấy quán Bát bất trung đạo làm chính quán. Trung quán luận sớ quyển 2 phần đầu, lấy xa lìa tám tà đoạn, thường v.v... làm chính quán. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, bảo đối lại với trợ phương tiện, chính tu chỉ quán, gọi là chính quán. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu của sa môn Trí khải thì gọi Bất tịnh quán là đối trị quán, mà gọi chính quán thực tướng là chính quán. [X. kinh Tạp a hàm Q.3 - kinh Chính pháp niệm xứ Q.2 - kinh Quán di lặc bồ tát thướng sinh đâu suất thiên - kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng - luận Đại trí độ Q.37 - Thập nhị môn luận sớ Q.thượng phần đầu - Tứ minh thập nghĩa thư Q.thượng].
Chính quán 正觀
[ja] ショウカン shōkan ||| Correct analysis, correct observation, correct insight, correct meditation (yoni-vicaya).〔維摩經、 T 475.14.555b〕 => Phân tích chân chính, Quán sát chân chính, hiểu thấu bên trong sự vật một cách chân chính. Quán chiếu chân chính (s: yoni-vicaya).
chính quả
Holiness. Tu thành chính quả: to achieve holiness.
; (正果) I. Chính quả, có nghĩa là tu đạo mà được chứng ngộ. Còn gọi là Chứng quả. Quả, là nghĩa kết quả chắc thật. Chính quả, là nói cái quả nhờ sự học Phật, tu Phật mà chứng được, có khác với sự tu luyện mù quáng của ngoại đạo, cho nên nói là chính. (xt. Chứng Quả). II. Chính quả, đặc biệt chỉ thân của hữu tình. Là do nơi nghiệp nhân ở quá khứ mà cảm được cái quả báo chính thể. Cũng gọi là chính báo. (xt. Y Chính Nhị Báo).
Chính sinh 正生
[ja] ショウショウ shōshō ||| The reality of the present life, of the present existence. (2) The future life, future existence. The Abhidharmakośa-bhāsya says: "正滅位言顯居現在。正生言顯未來世故。道能斷障唯正滅時" 〔倶舎論、 T 1558.29.134a17〕 => 1.Thực tế của đời sống hiện tại, của hữu thể đang tồn tại. Đời sống tương lai, hiện hữu trong tương lai. A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận nói: “Chính diệt vị ngôn hiển cư hiện tại. Chính sinh ngôn hiển vị lai thế cố. Đạo năng đoạn chướng duy chính diệt thời.- 正滅位言顯居現在。正生言顯未來世故。道能斷障唯正滅時-
chính sách sống chung hòa bình
Peaceful coexistence policy.
chính sám hối
(正懺悔) Trước khi tu phép sám hối, phải tu phép gia hành (phép dự bị) bảy ngày trước, xong phép ấy rồi mới bắt đầu tu phép sám chính thức, tức gọi là Chính sám hối. Còn gọi là sám pháp, tức là y theo lời dạy trong các kinh, đối trước chư Phật và Bồ tát mà ăn năn những tội lỗi đã phạm.
chính sĩ
Correct scholar—Bodhisattva.
; (正士) Cách xưng hô khác đối với Bồ tát. Tức là bậc đại sĩ lìa bỏ mê chấp tà kiến, thấy biết pháp lí chân chính mà cầu chính đạo. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 thượng) nói: Sẽ thụ Bồ tát kí, Nhân giả nghe cho kĩ, Chính sĩ mười phương đến, ý họ ta biết hết. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết]. (xt. Bồ Tát).
Chính sư
正師; J: shōshi;|Sự chứng nhận của một Lão sư (j: rōshi) rằng, môn đệ của mình đã trở thành một Lão sư chân chính. Vị đệ tử này có thể đã được Ấn chứng trước đó và đã hướng dẫn một thiền đường.
chính sở bị
(正所被) Chỉ cho chúng sinh trông mong được chư Phật Bồ tát giáo hóa. Theo tông Tịnh độ thì những cơ loại phàm phu ngu si và những kẻ độc ác, đều có thể là chính sở bị của Phật A di đà.
Chính sử
正使; C: zhèngshǐ; J: shōshi;|1. Bản chất của phiền não, ngược với chức phương diện huân tập (薫) hay tập khí (習氣); 2. Phiền não hiện hành trong khoảnh khắc hiện tại.
chính sử
(正使) Đối lại với Tập khí .. Nói tắt là sử. Chỉ phiền não chính thể (chủ thể) hiện khởi. Sử, có nghĩa là các phiền não có khả năng sai khiến chúng sinh trôi lăn trong ba cõi. Cái thói quen của phiền não còn rớt lại thì gọi là Tập khí - A la hán là người đã dứt hết chính sử, nhưng tập khí thì vẫn còn. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần đầu chép, thì phiền não chướng có hai thứ, mỗi thứ đều có chính sử và tập khí. 1. Tử kết phiền não chướng, chính sử thì Nhị thừa và Bồ tát tập chủng tính dứt hết, còn tập khí thì Bồ tát chủng tính trở lên cho đến Sơ địa mới dứt hết. 2. Quả phọc sở tri chướng, chính sử thì Bồ tát từ Sơ địa trở lên cho đến Thất địa dứt hết, tập khí thì Bồ tát từ Bát địa trở lên cho đến Thập địa mới dứt hết. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8 - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3 - Quán kinh huyền nghĩa phận - Thiên thai tứ giáo nghi - Quán kinh huyền nghĩa phận truyền thông kí Q.1].
Chính sử 正使
[ja] ショウシ shōshi ||| (1) The substance of the defilements, as opposed to their functional aspects of perfumation 薫 or habit energy 習氣. 〔二障義、 HPC 1.790a〕(2) Defilements which are in manifest operation at the present moment. => 1. Bản chất của phiền não, ngược với khía cạnh tác dụng của huân tập 薫 hay tập khí習氣. 2. Phiền não hiện hành trong hiện tại. Chính truyền 正傳 [ja] ショウデン shōden ||| The correct transmission of the Buddha-dharma from teacher to student. => Sự truyền thừa Phật pháp chân xác từ thầy cho đệ tử
chính thương viện
(正倉院) Nói chung, chỉ các cơ cấu của chính phủ Nhật bản, hoặc các kho tàng trọng yếu đặt trong các chùa lớn. Ngày xưa gọi là Chính tạng viện. Nay, Chính thương viện là đặc biệt chỉ cho cái kho sắc phong nằm về góc tây bắc chùa Đông đại, ở Nại lương tại Nhật bản, có ba kho Bắc, Trung, Nam. Còn gọi là Đông đại tự sắc phong tạng, tên khác là Song thương hoặc Tam thương. Năm Minh trị Bức Tranh Phật Vẽ Trên Vải Gai Ở Viện Chính Hưng Kho Báu Viện Chính Thương (1868-1912) trở đi, là tài sản của Hoàng gia, do Cung nội sảnh Thư lăng bộ quản lí. Năm Thiên bình thắng bảo thứ tám (756), nhân ngày cúng Thất thất của Thiên hoàng Thánh vũ, Hoàng hậu Quang minh đem các di vật của Thiên hoàng dâng cúng đức Đại Phật, làm sắc phong vĩnh cửu, cho nên sự hoàn chỉnh và phong phú của các vật loại được thu vào trong viện khiến người ta choáng ngợp. Các phẩm vật được tàng trữ có nhiều loại, có thể chia làm loại phục sức, loại khí cụ dùng hàng ngày, dụng cụ văn phòng, dụng cụ du hí, nhạc khí, nhạc cụ, dược vật, thư tịch, vũ khí vũ trang, dụng cụ thợ mộc, dụng cụ khâu may, di vật làm việc, di vật Phật giáo, tạp vật v.v... tất cả không những chỉ là tư liệu trọng yếu để tìm hiểu sự sinh hoạt của quí tộc đương thời, mà còn có thể qua đó biết được cái tình hình đương thời tiếp xúc với văn hóa Trung quốc nữa. [X. Đông đại tự chư già lam lược lục - Đông đại tự yếu lục Q.5, Q.8].
chính thật
Yathàbhùta (S). Real, evident, in reality, in truth, conformed with the truth. Also như thật.
Chính thọ 正受
[ja] ショウジュ shōju ||| (1) Samādhi, mental unity. To gain a state of concentration (samāpatti). (2) A vow or oath (vrata). => 1. Chính định (s: Samādhi), sự hợp nhất tâm ý. Đạt được cảnh giới chính định (s: samāpatti). 2. Lời nguyện, lời thề (s: vrata).
chính thống
Orthodoxe.
; Orthodox.
chính thụ
Xem Đẳng chí.
; (正受) Phạm, Pàli: Samàpatti. Dịch âm là Tam ma bát để, Tam ma bạt đề, Tam ma nga. Dịch ý là Đẳng chí, Chính định hiện tiền. Là trạng thái xa lìa tà tưởng mà lãnh thụ cái cảnh (đối tượng) chính lúc đang duyên theo. Cũng tức là khi vào định, dùng sức định khiến cho thân, tâm lãnh thụ tướng an hòa bình đẳng. Lại định tâm mà lìa tà loạn gọi là chính, không nghĩ không tưởng mà nhận pháp ở nơi tâm gọi là thụ, cũng như tấm gương vô tâm mà ảnh hiện mọi vật. Quán kinh huyền nghĩa phận (Đại 37, 247 hạ), nói: Chính thụ có nghĩa là, tâm tưởng đều bặt, suy tư mất hết, tam muội tương ứng, gọi là chính thụ. Cũng có thuyết bảo Chính thụ là tên gọi khác của Tam muội - Tam ma địa (Phạm: Samàdhi) hoặc Thiền định. Chính thụ dịch mới là Đẳng chí. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 162 nói, thì Đẳng trì, Tam ma địa và Đẳng chí có khác nhau, vì Đẳng trì chỉ thông với định hữu tâm, còn Đẳng chí thì rộng thông cả định hữu tâm và vô tâm. Luận Câu xá lấy định Tứ thiền, Tứ vô sắc làm Đẳng chí. Đại thừa nghĩa chương quyển 13, lấy định diệt tận, định vô tưởng làm Đẳng chí. Lại Tuệ viễn trong Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển cuối và Trí khải trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển hạ, bàn về câu nói trong kinh Quán vô lượng Dạy con tư duy, dạy con chính thụ mà cho ba Phúc nghiệp tán thiện là tư duy, mười sáu phép quán định thiện là chính thụ. [X. kinh Tạp a hàm Q.17 - kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.11 phẩm Công đức hoa tụ bồ tát thập hành - kinh Bồ tát địa trì Q.9 - luận Giải thoát đạo Q.2 - luận Du già sư địa Q.67 - luận Tạp a tì đàm tâm Q.7]. (xt. Tam Muội, Tam Ma Bát Để, Định).
chính thức
Official.
chính thừa phương tiện thừa
(正乘方便乘) Là Chính thừa và Phương tiện thừa nói gộp lại. Dùng pháp môn chân chính mà hóa độ chúng sinh, gọi là Chính thừa - dùng pháp môn tạm thời đặt ra, thì gọi là Phương tiện thừa. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 15 (Đại 31, 1264 hạ), nói: Thừa: có người, pháp - người: có người Đại thừa, có người Tiểu thừa - pháp: có pháp phương tiện thừa, có pháp chính thừa. Chuyển phương tiện thừa tu trì chính thừa, gọi là cứu tế thừa. Tức là lấy pháp Tiểu thừa làm phương tiện thừa, pháp Đại thừa làm Chính thừa.
chính tinh tiến
Samyak-vyàyàma (S). Right effort.
Chính tinh tiến 正精進
[ja] ショウショウジン shōshōjin ||| Correct effort. One of the parts of the eightfold path 八正道 (samyag-vyāyāna). Also expressed as 正方便. => Nỗ lực chân chính. Là một thành phần trong Bát chính đạo. 八正道 (samyag-vyāyāna). Còn được gọi là Chính phương tiện 正方便.
Chính tri 正知
[ja] ショウチ shōchi ||| To know well; to understand correctly. => Hiểu biết đúng đắn; hiểu biết chân chính.
chính trung
1) Giữa Trưa: Midday. 2) Ngay Chính Giữa: Exactly middle.
Chính truyền
正傳; C: zhèngzhuàn; J: shōden;|Truyền đạt chân chính Phật pháp từ thầy sang trò.
chính truyền
From genuine tradition; handed down from authentic source.
chính trí
Samyak-jnàna (S). Correct knowledge.
; (正智) Phạm: Samyag-jĩàna, Pàli: Sammàĩàịa. I. Chính trí. Chỉ trí tuệ hợp với chính lí, đối lại với Tà trí...... Tức là trí tuệ lìa sự tà chấp phân biệt của phàm phu ngoại đạo và sự cố chấp thiên lệch của người Nhị thừa mà khế hợp vói diệu lí Trung đạo. Trong Nhân minh thì chỉ Chân hiện luợng và Chân tỉ lượng, vốn dịch ý của chữ Jĩàna trong tiếng Phạm. Cứ theo luận Nhân minh nhập chính lí chép, thì đó là trí lượng biết tự tính sai biệt của các pháp một cách như thực, là trí tuệ lìa các duyên nhơ nhuốm mà đạt đến Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.3 - Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ - Vãng sinh luận chú Q.hạ (Đàm loan)]. II. Chính trí. Chỉ trí vô lậu tận trí và vô sinh trí do ngôi vị Vô học đã thành tựu được. Là một trong mười chi Vô học. Luận Câu xá quyển 25 (Đại 29, 133 hạ), nói: Thể của chính thoát chính trí là gì? Tụng rằng: ‘Hữu học còn trói buộc, không có trí chính thoát, giải thoát là vô vi, thắng giải hoặc đã diệt, hữu vi vô học chi, tức hai giải thoát uẩn, chính trí nói như giác, là tận vô sinh trí’. Chính trí này lấy tận trí, vô sinh trí làm thể, duy có ngôi vị Vô học mới có thể thành tựu được. Đứng về phương diện rộng, hẹp của kiến và trí mà nói, thì luận Đại tì bà sa quyển 97 bảo, trong mười trí hữu lậu và vô lậu, thì tận trí và vô sinh trí thuộc trí vô lậu, còn tám trí là thế tục trí, pháp trí, loại trí v.v... đều nhiếp vào chính kiến vô lậu. Luận Thành thực quyển 16 phẩm Kiến trí, thì bảo chính kiến và chính trí là nhất thể, không sai khác. [X. Trung a hàm Q.47 kinh Ngũ chi vật chủ - luận Đại tì bà sa Q.94 - luận Thuận chính lí 73 - Câu xá luận quang kí Q.25]. III. Chính trí. Là trí vô lậu căn bản và trí hậu đắc do hàng Tam thừa tu tập. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 72 nói, thì Chính trí có hai thứ: 1. Duy nhất thế gian chính trí, tức là trí căn bản của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thông suốt chân như. 2. Thế gian xuất thế gian chính trí, Thanh văn, Duyên giác sau khi dùng chính trí đầu tiên để thông suốt chân như, do chính trí xuất thế gian của thế gian được sau này, mà có thể phân biệt hết thảy tướng sai biệt. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.5 - Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Đường) Q.5 - luận Tam vô tính Q.thượng - luận Biện trung biên Q.trung].
Chính trí 正智
[ja] ショウチ shōchi ||| Correct wisdom; sagely wisdom; the wisdom that perceives reality as it is (samyak-saṃbodhi, samyak-jñāna). 〔瑜伽論 T 1579.30.738a24〕 => Trí huệ chân chính; trí huệ của bậc thánh, trí huệ nhận thức thực tại như chúng đang là (s: samyak-saṃbodhi, samyak-jñāna).
chính trợ nhị nghiệp
(正助二業) Là chính nghiệp và trợ nghiệp nói gộp lại. Cũng gọi là Trợ chính nhị nghiệp. Chính nghiệp, còn gọi là Chính hành, là hành của Chân trực tiếp - Trợ nghiệp, còn gọi là Trợ hành, là hành của nhân gián tiếp. Trong năm thứ vãng sinh chính hành là đọc tụng, quán tưởng, lễ bái, xưng danh và tán thán cúng dường do ngài Thiện đạo tông Tịnh độ lập ra, thì lấy xưng danh làm chính nghiệp hoặc chính định nghiệp của sự vãng sinh Tịnh độ, còn bốn thứ kia là Trợ nghiệp, cả hai gộp lại gọi là Chính trợ nhị nghiệp. Danh từ này có xuất xứ từ Quán kinh sớ tán thiện nghĩa. Xưng danh theo ngài Thiện đạo nói, tức là một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật A di đà, bất luận là đi đứng ngồi nằm, không kể thời gian lâu mau, đều niệm niệm không bỏ - vì tu hành bản nguyện của đức Di đà mà thuận theo, thì nhờ nguyện của Ngài chắc chắn sẽ được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Chính định nghiệp. Đôi khi sợ biếng nhác lơ là trong việc Xưng danh nên phải dùng bốn phương pháp đọc tụng, quán tưởng, lễ bái, và tán thán cúng dường để giúp thúc đẩy tâm niệm Phật, cho niên gọi là Trợ nghiệp. Bốn trợ nghiệp này cũng gọi là Đồng loại trợ nghiệp , đối lại, nếu phát tâm Bồ đề, xuất gia v.v... mà tu các hạnh khác ngoài năm chính hành nói trên, thì gọi là Dị loại trợ nghiệp ...... [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Ngũ Chính Hành, Chính Hành).
chính trợ tạp tam hành
(正助雜三行) Tức là chính hành, trợ hành và tạp hành. Trong tông Tịnh độ, chính hành, tức chỉ năm chính hành do ngài Thiện đạo đề xướng, hoặc chuyên chỉ việc xưng danh hiệu của Phật A di đà trong năm chính hành. Trợ hành, chỉ bốn phương pháp trợ giúp thêm là đọc tụng, quán tưởng, lễ bái và tán thán cúng dường. Còn Tạp hành, là chỉ hết thảy các thiện hạnh khác ngoài chính hành và trợ hành. (xt. Chính Trợ Nhị Nghiệp, Chính Tạp Nhị Hành).
chính trừng
(正澄) (1274-1339) Vị tăng tông Lâm tế đời Nguyên. Người Liên giang, Phúc châu, họ Lưu, tự Thanh chuyết. Mười sáu tuổi thụ giới Cụ túc tại chùa Khai nguyên, từng theo hầu các sư Cốc nguyên nhạc, Vô phương phổ, Đại yết chân sáu năm. Hai mươi sáu tuổi, đến tham yết Ngu cực tuệ ở chùa Tịnh từ, Chiết giang, giữ chức trông nom lầu kinh. Mười lăm năm sau, từ chức rồi đi tham vấn các bậc trưởng lão, như Hổ nham ở chùa Linh ẩn, Đông nham ở núi Dục vương, Tưởng sơn Nguyệt đình v.v..., tới đâu sư cũng được coi là một khí tượng lớn. Về sau, bắt đầu hoằng pháp ở núi Kê túc, kiến thiết nhà tăng, tiếp hóa đại chúng từ các phương đến. Năm Thái định thứ 3 (1326) sư sang Nhật, tháng một năm sau đến Kinh đô, rất được các nhà cầm quyền tại Bắc điều thời đó coi trọng, từng ở các chùa Kiến trường, Tịnh trì, sau lui về ở Thiền cư am tại Phúc sơn. Năm Nguyên hoằng thứ 3 (1333), Thiên hoàng Đề hồ đến Kinh đô, thỉnh sư ở chùa Kiến trường, ba năm sau lại dời đến chùa Nam thiền, Thái thú Tín nùng qui y sư, xin làm đệ tử. Ngày 17 tháng giêng năm Lịch ứng (Nhật bản) thứ 2, sư để lại bài kệ Tì lam cuốn dựng nước biển không, trời ba mươi ba sao đẩu ướt, thần đất giận cầm roi trâu sắt, lửa đá xẹt ra đuổi không kịp rồi tịch, thọ sáu mươi sáu tuổi, năm mươi tuổi hạ, vua ban thụy hiệu Đại giám thiền sư. Lưu phái của sư được gọi là Thanh chuyết phái, hoặc là Đại giám môn đồ, là một trong hai mươi bốn dòng của Thiền tông Nhật bản. Tác phẩm có: Đại giám thanh qui (mấy quyển), Ngữ lục 7 quyển. [X. Phù tang Ngũ sơn kí Q.3 - Diên bảo truyền đăng lục Q.4 - Bản triều cao tăng truyện Q.25].
chính trực
Correct and straight.
; Right—Righteous—Rightful—Upright.
; (正直) Có nghĩa là vuông vức ngay thẳng, tức chỉ tâm không xiên xẹo quanh co. Cứ theo sự giải thích trong Vãng sinh luận chú quyển hạ do sư Đàm loan soạn, thì Bồ tát nương nơi lòng ngay thẳng mà thương xót hết thảy chúng sinh. Trong tông Thiên thai, mỗi khi nói đến giáo pháp do đức Phật nói là pháp thành Phật duy nhất, mà gọi là chính trực.
chính trực xả phương tiện
(正直舍方便) Có xuất xứ từ kinh Pháp hoa, tông Thiên thai dùng danh từ này để chỉ giáo pháp Nhất thừa của Viên giáo. Theo sự giải thích của các nhà Thiên thai, thì chính, đối với bên cạnh mà nói - trực, đối với cong queo mà nói. Trong bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, đã chẳng thiên về bên hai giáo Thông, Biệt, cũng chẳng quanh co trong năm thừa Nhân, Thiên, cho nên gọi là chính trực. Còn phương tiện, là chỉ cái phương pháp dắt dẫn chúng sinh đi vào chân thực. Do đó, lìa bỏ tất cả các pháp môn phương tiện, mà nói ngay vào giáo chân thực, gọi là Chính trực xả phương tiện, cũng tức là Viên giáo nói lên giáo pháp của một đời đức Phật, là pháp chân thực thành Phật duy nhất. Pháp hoa văn cú quyển 5 (Đại 34, 62 hạ), nói: Năm thừa là quanh co, chẳng phải ngay thẳng, Thông, Biệt thì lệch về bên cạnh mà chẳng phải chính, nay đều bỏ những cái thiên lệch quanh co ấy, mà chỉ nói một đạo chính trực vậy. Kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện (Đại 9, 10 thượng), nói: Đối với Bồ tát, chính trực xả hương tiện, chỉ nói đạo vô thượng.
chính tà
Genuine and false; orthodox and heratic.
; True and false.
chính tâm
Uprightness, straight forwardness; to regulate one's mind.
; Straightness—Straighforwardness.
Chính tâm trú 正心住
[ja] ショウシンジュウ shōshinjū ||| The "abiding of correct mind." The sixth of the Ten Abidings 十住. => Giai vị thứ sáu trong Thập trú.
chính tín
Right belief.
; (正信) Có nghĩa là niềm tin ngay thẳng. Đối lại với Tà tín...... Tức chỉ tâm kiền thành tin nơi chính pháp của đức Phật, lòng tin ấy không vì gặp các đạo khác mà sinh ý nghi ngờ. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 trung), nói: Khởi chính tín Đại thừa. [X. kinh Duy ma phẩm phương tiện].
chính tín niệm phật kệ
(正信念佛偈) Có một quyển. Do tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông Nhật bản là Thân loan soạn. Nói tắt là Chính tín kệ. Là kệ tụng chép phụ vào cuối quyển Hành trong sách Giáo hành tín chứng văn loại, gồm một trăm hai mươi câu thất ngôn. Nội dung tường thuật đại cương nghĩa trọng yếu của Chân tông, nói rõ hai pháp làm và tin là trọng yếu nhất của tông. Có dẫn dụng các câu văn trong kinh Lăng già, luận Thập trụ tì bà sa, luận Vãng sinh, Vãng sinh luận chú, An lạc tập, Quán kinh sớ, Vãng sinh yếu tập, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập v.v..., lần lượt tán thán đức Thế tôn, và các ngài Thiên thân, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Nguyên tín, Nguyên không v.v... Bảo rằng y theo các Thánh giáo có thể được niềm tín chân thực, mà tu hành chân thực thì là tha lực niệm Phật, cũng tức lấy lòng tín ấy làm chính nhân, lấy việc xưng danh niệm Phật để đền ơn trả đức làm chính hành, đặc biệt nhấn mạnh việc xưng danh niệm Phật chính là giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông. Kệ tụng này cùng với Hòa tán đều được niệm tụng trong khoá tụng sớm chiều tại Nhật bản, hiện nay cũng còn lưu hành rất rộng. [X. Chân tông đới bội kí Q.thượng - Tổ môn cựu sự kí Q.2].
chính tính li sinh
(正性離生) Là tên khác của Kiến đạo. Tiếng dùng của các nhà Pháp tính, Pháp tướng. Còn gọi là Thánh tính li sinh. Có nghĩa là chính tính vào ngôi Kiến đạo được Thánh đạo Niết bàn, đã dứt hết mọi phiền não không sót mà xa lìa sự sống phiền não. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển ba nói, thì Chính tính, tức là tính Niết bàn, Thánh đạo thuần chính, không tà khúc - Sinh, là tên gọi khác của phiền não, hoặc bảo là thiện căn chưa thành thục, có thể khiến hữu tình vòng quanh trong bể khổ sống chết. Nay cái lí Niết bàn đã chứng được, có khả năng thoát li sự sống phiền não, hoặc là trí Thánh đạo vô lậu có thể siêu việt thiện căn chưa thành thục, vì thế gọi là Chính tính li sinh. Lại tuy Chính tính li sinh thông cả Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo, nhưng vì Kiến đạo là đầu, ý nghĩa đặc biệt trọng yếu, cho nên là tên khác của Kiến đạo. [X. luận Câu xá Q.23 - Bộ chấp dị luận - Du già luận kí Q.13 phần trên - Thành duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối]. (xt. Thánh Tính Li Sinh).
Chính tính ly sinh 正性離生
[ja] ショウショウリショウ shōshō rishō ||| Literally, the correct nature free from the arising (of afflictions). A reference to the Path of Seeing 見道. "Correct nature" refers to the undefiled sagely path. "Free from arising" means that the afflictions arisen by discrimination have been eliminated (niyāmāvakrānti). 〔瑜伽論 T 1579.30.399c12〕 => Bản tính tự tại thoát khỏi sự sinh khởi (phiền não). Có liên quan đến Kiến đạo見道. 'Chính tính' là con đường thanh tịnh của bậc thánh. 'Ly sinh' là những phiền não sinh khởi do phân biệt đều được giải trừ (s: niyāmāvakrānti).
Chính tính định tụ 正性定聚
[ja] ショウショウジョウシュ shōshō jōshu ||| The group who are predestined to follow correct practices and attain the fruits of liberation (samyak-niyata-rāśi). One of the three groups 三聚. Also written 正定聚. => Những người có căn tánh quyết tâm tu tập chân chính để đạt được quả vị giải thoát (s: samyak-niyata-rāśi). Là một trong Tam tụ 三聚. Còn gọi là Chính định tụ 正定聚.
Chính tính 正性
[ja] ショウショウ shōshō ||| The correct(ed) nature. The nature that is completely devoid of affliction--nirvana (samyaktva). An abbreviation of 正性離生. 〔瑜伽論 T 1579.30.399c12〕(2) An abbreviation of 正性定聚. (3) The sagely nature 聖性. => Bản tính đúng đắn, bản tính hoàn toàn không vướng phiền não -- tính niết-bàn (s: samyaktva). Viết tắt của Chính tính ly sinh 正性離生. Viết tắt của Chính tính định tụ 正性定聚. Bản tính của bậc thánh (Thánh tính 聖性).
chính tông
Authentic, orthodox sect.
; (正宗) Chỉ tông chỉ chính truyền. Tức chỉ Phật pháp đời đời chính truyền từ đức Thích tôn đến nay. Cứ theo Truyền pháp chính tông kí quyển 1 Thích ca Như lai truyện chép, thì chính tông do Thánh nhân kín đáo đem truyền cho người lãnh nhận, không thể biết được nơi nào và bao giờ thì truyền. Trong Thiền lâm, tự xưng giáo nghĩa của Thiền tông là chính tông. Đời sau cũng nói chung phái chính do vị Sơ tổ truyền cho gọi là phái chính tông. Vân phong Duyệt thiền sư ngữ lục tự (Vạn tục 118 - 349 thượng), nói: Không nhận Nhiên đăng kí biệt, tự đề ra ba ấn chính tông. [X. Bích nham lục tắc 32].
chính tông phân
(正宗分) Bắt đầu từ ngài Đạo an đời Đông Tấn, kinh Phật được chia làm ba phần là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông. Trong đó, bộ phận nói về tông chỉ chính yếu của bộ kinh, gọi là Chính tông phần. cũng gọi là Chính thuyết phần. (xt. Tam Phân Khoa Kinh).
chính tông tâm ấn hậu tục liên phương
(正宗心印後續聯芳) Có một quyển. Do sư Thiện xán đời Minh biên soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 148. Lấy phủ Phúc châu tỉnh Phúc kiến làm trọng tâm, ghi chép quê quán, tên họ và những lời nói pháp cơ duyên của cả tăng và tục hơn bảy mươi người đương thời. Nhưng chưa in Tựa, Bạt mà chỉ có một bài kệ phụ ở cuối quyển. (Vạn tục 148, 192 hạ): Tổ ấn truyền cho nhau, có duyên nối tiếp mãi, Dặn ngươi nên tôn trọng, thắp ánh sáng tổ tông.
chính tư duy
Samyaksamkalpa (S). Right thought.
; (正思惟) Phạm: Samyak-saôkalpa, Pàli: Sammà-saíkappa. Còn gọi là Chính tư duy đạo chi, Chính chí. Là một trong tám Chính đạo. Tức suy xét đạo lí chân thực, cũng tức là xa lìa những ý niệm tà bậy, như tham lam, giận dữ và ác hại mà sinh khởi những ý niệm không tham, không giận, không hại v.v... (xt. Bát Chính Đạo, Tư Duy).
Chính tư duy lực 正思惟力
[ja] ショウシユイリキ shōshiyuiriki ||| A mind determined for enlightenment that is produced from correct deliberation. => Tâm quả quyết rằng giác ngộ sẽ có từ tư duy chân chính.
Chính tư duy 正思惟
[ja] ショウシユイ shōshiyui ||| Correct thinking; correct thought; correct contemplation (Skt. samyak-saṃkalpa; Pali sammā-saṃkappa). The second of the items of the eightfold path . => Suy nghĩ chân chính. (s: samyak-saṃkalpa; p: sammā-saṃkappa). Là chi phần thứ hai trong Bát chính đạo八正道.
Chính tư lượng
正思量 [ja] ショウシリョウ shōshiryō ||| Correct thinking. Nakamura also gives the definition as equivalent to 正思惟力, which means the mind of determination that is produced from proper deliberation. 〔瑜伽論 T 1579.30.651c3〕 => Tư duy chân chính. Nakamura cũng có định nghĩa tương đương với Chính tư duy lực, có nghĩa là tâm quả quyết rằng giác ngộ sẽ có từ tư duy chân chính.
Chính tư 正思
[ja] ショウシ shōshi ||| Correct thought; see 正思惟. => Suy nghĩ chân chính. Xem Chính tư duy 正思惟.
chính tượng mạt
Ba thời kỳ giáo pháp của Đức Phật—The three periods of the Buddha's doctrine: 1) Chánh Pháp: The Proper Dharma Age—See Chánh Pháp. 2) Tượng Pháp: The Dharma Semblance Age—See Tượng Pháp. 3) Mạt Pháp: The Dharma Ending Age—See Mạt Pháp.
; (正像末) Còn gọi là Chính tượng mạt tam thời, Tam thời. Tức là ba thời kì biến thiên Chính, Tượng, Mạt của giáo pháp ở đời. Cứ theo kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6 phần đầu nói, thì ba thời là: 1. Sau khi đức Như lai nhập diệt, giáo pháp ở đời, người y theo giáo pháp mà tu hành thì có thể chứng được quả ngay, gọi là Chính pháp (Phạm: Saddharma). 2. Tuy có giáo pháp và người tu hành, nhưng phần đông không được chứng quả, gọi là Tượng pháp (Phạm: Saddharmapratirùpaka). 3. Giáo pháp cuối đời, người tuy có theo giáo, nhưng không thể tu hành chứng quả, gọi là Mạt pháp (Phạm: Saddharmavipraloba). Song, Pháp hoa huyền luận quyển mười nói, sự phân biệt Chính, Tượng có nhiều thuyết: 1. Khi đức Phật còn tại thế là Chính pháp, sau khi Phật nhập diệt là Tượng pháp. 2. Thời đại chia thành các bộ phái khác nhau là Chính pháp, thời đại các bộ phái chia rẽ lộn xộn là Tượng pháp. 3. Thời đại có nhiều người đắc đạo là Chính pháp, thời đại ít người đắc đạo là Tượng pháp. 4. Thời đại chính pháp chưa phá là Chính pháp, thời đại chính pháp đã phá là Tượng pháp. 5. Chưa sinh ác pháp là Chính pháp, đã khởi các pháp ác là Tượng pháp. 6. Trong vòng hai nghìn năm đều thuộc Chính pháp, mười nghìn năm suy vi là Tượng pháp. 7. Các Bồ tát thấy pháp Như lai không có hưng diệt, thường thấy chư Phật, thì dù một vạn hai nghìn năm cho dến hết thảy thời đều là Chính pháp, còn các người Nhị thừa thấy Phật pháp có hưng suy, cho nên mới phân biệt có Chính, Tượng. Đến như thời hạn ba thời, các kinh luận cũng nói khác nhau: 1. Cứ theo các kinh Hiền kiếp quyển 3 và kinh Đại thừa tam tụ sám hối nói, thì Chính pháp có năm trăm năm, Tượng pháp cũng có năm trăm năm. 2. Cứ theo Trung quán luận sớ quyển một phần cuối và luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 3 nói, thì Chính pháp có một nghìn năm, Tượng pháp cũng có một nghìn năm. 3. Cứ theo các kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 56, kinh Ma ha ma da quyển hạ, và Nam nhạc Tư đại thiền sư lập thệ nguyện văn nói, thì Chính pháp có năm trăm năm, Tượng pháp có một nghìn năm. 4. Cứ theo các kinh Bi hoa quyển 7 và kinh Đại thừa bi phần đà lợi quyển 5 nói, thì Chính pháp có một nghìn năm, Tưọng pháp là năm trăm năm. Còn về thời hạn của Mạt pháp, thì các kinh luận nói đại để Mạt pháp là mười nghìn năm. Nhưng Câu xá luận bảo sớ quyển 29, y theo Thiện kiến luật tì bà sa bảo sau Chính pháp một nghìn năm, còn có mười nghìn năm, mà giải thích là năm nghìn năm trước trong mười nghìn năm là Tượng pháp, còn năm nghìn năm sau là Mạt pháp. Lại kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55, còn nêu lên thuyết Năm cái năm trăm năm, tức đem khoảng hai nghìn năm trăm năm sau Phật nhập diệt chia làm năm cái năm trăm năm, theo thứ tự năm thời kì là Giải thoát kiên cố, Thiền định kiên cố, Đa văn kiên cố, Tạo tự kiên cố và Đấu tránh kiên cố - từ sau năm thời kì này trở đi, tuy có người cạo tóc mặc ca sa, nhưng phá hủy giới cấm, chẳng tu hành đúng như pháp. Lại kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ, trong một nghìn năm Chính pháp, lấy một trăm năm làm một kì và theo thứ tự chia làm mười thời kì kiên cố là: Thánh pháp, Tịch tĩnh, Chính hành, Viễn li, Pháp nghĩa, Pháp giáo, Lợi dưỡng, Quai tranh, Sự nghiệp và Hí luận. Lại kinh Tì ni mẫu quyển 3, trong năm trăm năm Chính pháp, cũng lấy một trăm năm làm một kì và theo thứ tự chia làm năm thời kì kiên cố là: Giải thoát, Định, Trì giới, Đa văn và Bố thí. Thuyết trong hai kinh này cũng tương tự như thuyết trong kinh Đại tập nói ở trên, theo đó, thuyết Năm cái năm trăm năm của kinh Đại tập, có lẽ cũng chỉ cái tướng của Chính pháp ở đời. Song cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2 nêu, thì đem Năm cái năm trăm năm chia làm ba thời kì Chính, Tượng, Mạt, tức lấy hai cái năm trăm năm đầu làm thời kì Chính pháp, hai cái năm trăm năm thứ ba và thứ tư làm Tượng pháp, còn cái năm trăm năm cuối cùng là năm trăm năm bắt đầu của thời kì mười nghìn năm Mạt pháp. Lại luận Đại tì bà sa quyển 183 nói, vì độ cho người nữ xuất gia, Chính pháp giảm mất năm trăm năm, cho nên lấy năm trăm năm đầu Giải thoát kiên cố làm thời kì Chính pháp, năm trăm năm kế Thiền định kiên cố là thời Tượng pháp, còn ba cái năm trăm năm không tu hành không chứng quả là thời Mạt pháp. Ngoài ra, trong kinh Nhân vương do các ngài La thập, Bất không dịch, vì nghĩa thời hạn được nêu không rõ, cho nên các kinh luận và các thuyết của các sư Trí khải, Cát tạng, Chân đế mới rất khác nhau. Có người bảo thuyết Tam thời nói trong kinh Nhân vương là một loại thuyết khác - thuyết này lấy tám mươi năm (hoặc năm mươi năm) làm thời kì Chính pháp, tám trăm năm (hoặc năm trăm năm) làm thời kì Tượng pháp, tám nghìn năm (hoặc năm nghìn năm) làm thời kì Mạt pháp. Còn về những thuyết khác nhau của các sư Trung quốc, thì theo Thắng man kinh sớ tường huyền quyển 10 nói, các sư Tịnh ảnh, Đạo xước, Pháp thượng, bảo Chính pháp năm trăm năm - Nam sơn, Thanh lương, Linh chi thì nói Chính pháp một nghìn năm. Các nhà Tịnh độ nói rằng, các giáo của Thánh đạo môn, qua ba thời thì dần dần suy diệt, còn giáo Tịnh độ thì dần dần hưng thịnh, hết thời Mạt pháp mười nghìn năm, vẫn còn tồn tại một trăm năm nữa. Lại đứng về phương diện tu hành chứng quả mà nói, thì có thuyết bảo thời Chính pháp, giữ giới tức có thể thành tựu, gọi là Giới thành tựu - thời Tượng pháp, tu Thiền tức có thể thành tựu, gọi là Thiền thành tựu - thời Mạt pháp, duy chỉ nhờ vào pháp môn niệm Phật Tịnh độ mới có thể thành tựu, gọi là Tịnh thành tựu. [X. kinh Tạp a hàm Q.32 - Biên dịch Tạp a hàm Q.6 - luận Thập tụng Q.49 - Nhân vương kinh hợp sớ Q.hạ - An lạc tập Q.hạ - Pháp hoa huyền tán Q.5 - Pháp hoa nghĩa sớ Q.5 - Đại tạng pháp số Q.12 - Mạt pháp đăng minh kí]. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
Chính tượng mạt 正像末
[ja] ショウゾウマツ shōzōmatsu ||| The three periods 三時of the Buddha's dispensation (dharma 法) subsequent to his passing from the world, a doctrine that held strong influence in the teachings of the Pure Land school 淨土宗. They are the period of the true dharma 正法, the semblance dharma 像法, and the degenerate dharma 末法. During the period of the true dharma, Buddhist doctrines, practices, and enlightenment all exist. During the period of the semblance dharma, doctrine and practices still exist, but there is no longer any enlightenment. During the period of the degenerate (or final) dharma, the doctrine is still alive, but there is neither practice nor enlightenment. After these three periods, the doctrine itself vanishes. There are four views as to the duration of the first two periods: i. five hundred years in the period of true dharma, one thousand years in the period of semblance dharma; ii. one thousand years in the period of true dharma, 500 years in the period of semblance dharma; iii. 500 years in each period; and iv. 1000 years in each period. The period of the degenerate dharma is always regarded as lasting ten thousand years after the first two periods have ended. => Ba thời kỳ của Phật pháp sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, là học thuyết có ảnh hưởng rất mạnh trong giáo lý Tịnh độ tông. Đó là chính pháp, tượng pháp và mạt pháp. Vào thời kỳ chính pháp, Phật pháp, sự tu tập, và chứng ngộ đều có. Vào thời tượng pháp, Phật pháp và tu tập vẫn còn, nhưng không còn mấy người được chứng ngộ. Thời mạt pháp, Phật pháp vẫn còn nhưng không có người tu cũng chẳng có người chứng ngộ. Sau 3 thời kỳ nầy, Phật pháp tự biến mất. Có 4 quan điểm về thời gian của 2 thời kỳ đầu: Chính pháp 500 năm, tượng pháp 1000 năm. Chính pháp 1000 năm, tượng pháp 500 năm. Chính pháp 500 năm, tượng pháp 500 năm. Chính pháp 1000 năm, tượng pháp 1000 năm. Thời tượng pháp luôn luôn được cho là kéo dài 10.000 năm sau khi 2 thời kỳ trên chấm dứt.
chính tạp nhị hành
(正雜二行) Là chính hành và tạp hành nói gộp lại. Trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa, ngài Thiện đạo đời Đường, đem tất cả sự tu hành chia làm hai thứ là Chính và Tạp. Chính hành là: 1. Đọc tụng các kinh điển Tinh độ. 2. Quán tưởng y báo chính báo đẹp đẽ tại cõi Tịnh độ của Phật A di đà. 3. Lễ bái tượng Phật A di đà. 4. Xưng niệm danh hiệu Phật A di đà. 5. Tán thán cúng dường Phật A di đà. Nếu ngoài Phật A di đà ra, còn lấy chư Phật và Bồ tát khác làm đối tượng, thì gọi là Tạp hành. Cũng có thuyết cho ngoài năm chính hành kể trên, các thiện hành ba học, sáu độ là tạp hành. Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, tổ của tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyên không, đứng về phương diện được và thua của hai hành chính và tạp mà lập năm thứ tương đối, tức là: 1. Thân sơ đối. 2. Gần xa đối. 3. Có xen hở không xen hở đối. 4. Không hồi hướng hồi hướng đối. 5. Thuần tạp đối. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.2 (Lương trung)]. (xt. Ngũ Chính Hành).
chính tục tự
(正續寺) Vị trí chùa ở núi Sư tử, phía tây nam huyện Vũ định, tỉnh Vân nam. Sáng lập vào năm Chí đại thứ 4 (1311) đời Nguyên, các thời đại Minh, Thanh đã từng được làm lại nhiều lần, mở rộng thêm, qui mô to lớn, khí thế hùng vĩ, có Đại hùng bảo điện, Quan âm điện, lầu chứa kinh v.v..., cung điện lầu gác lớn nhỏ hơn trăm gian. Tương truyền, niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1403) đời Minh huệ đế Chu doãn Chính Trừng văn lánh nạn vào Vân nam, đã đến làm tăng ở chùa này. Dưới lầu để kinh có tượng của Huệ đế, mình mặc ca sa, tay chắp, hai bên tả hữu có một tượng Thái giám và một tượng lão thần, có đề đôi câu đối như sau: Tăng vi đế, đế diệc vi tăng, sổ thập tải y bát tương truyền, chính giác y nhiên giác hoàng cựu - Thúc phụ điệt, điệt bất phụ thúc, bát thiên lí mang hài đồ bộ, Sư sơn cánh tỉ Yến sơn cao. Dịch nguyên văn là: Tăng là vua, vua cũng là tăng, mấy chục năm áo bát truyền nhau, chính giác vẫn nguyên là vua giác cũ - Chú phụ cháu, cháu chẳng phụ chú, tám nghìn dậm giầy gai lặn lội, núi Sư (Tử) lại cao hơn núi Yến.
chính vị
(正位) Tức là vị đại ngộ, là cảnh giới không có phiền não, cũng tức là Niết bàn vô vi do Thanh văn chứng thấy được. I. Chính vị. Chỉ Niết bàn của Tiểu thừa. Kinh Duy ma phẩm Vấn tật (Đại 14, 545 hạ), nói: Tuy quán xét các pháp chẳng sinh, nhưng không vào chính vị. II. Chính vị. Chỉ pháp tính. Trong Thiền môn gọi chân như tồn tại tràn khắp là chính vị, là bản thể của các pháp - là từ ngữ đối lại với Bàng vị (vị bên cạnh tức là không chính) là các hiện tượng sai biệt. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 22 (Đại 51, 380 hạ) nói: Tăng hỏi: ‘Trong chính vị còn có người thành Phật không?’. Sư hỏi lại: ‘Chúng sinh là ai?’. Tăng nói: ‘Nếu như vậy thì tất cả thành Phật hết?’. Sư nói: ‘Chính vị ta còn lại’. Tăng hỏi: ‘Chính vị là thế nào?’. Sư nói: ‘Ngươi là chúng sinh’. [X. Bích nham lục tắc 73].
chính xác
Accurate—Exact.
chính y
(正依) Chỉ các kinh luận mà một tông lấy làm căn cứ, trực tiếp là nơi nương tựa cho tông ấy. Nói đủ là Chính sở y (chỗ nương chính). Đối lại với Bàng y . (chỗ nương phụ). Chẳng hạn như tông Pháp tướng, trong sáu bộ kinh và mười bộ luận căn cứ, thì lấy kinh Giải thâm mật làm Chính y, tông Tịnh độ lấy ba kinh một luận làm Chính y còn các kinh luận khác là Bàng y. Nhưng cũng có tông không phân biệt Chính y, Bàng y, như các tông Thiên thai, Hoa nghiêm chuyên lấy Pháp hoa hoặc Hoa nghiêm làm căn cứ, Tam giai giáo thì coi tất cả kinh do đức Phật nói cả một đời đều là chỗ nương chứ không phân biệt chính y hay bàng y. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1 - Quán tâm giác mộng sao Q.thượng]. (xt. Bàng Y).
chính y kinh
Kinh điển chính mà các tông phái dựa vào và coi là kinh điển căn bản—The sutras on which any sect relies.
chính yếu
Important.
chính án bàng đề
(正按傍提) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chính bàng, chỉ mặt chính mặt bên - án đề, hàm ý là tay vỗ gươm, nắm lấy dao. Như vậy, chính án, ý là mặt chính giơ gươm đối nhau - bàng đề có nghĩa là mặt bên cầm dao xông tới. Đây thí dụ cái cơ pháp của thầy tiếp hóa học trò biến hóa một cách tự do tự tại - có lúc đánh ở trước mặt, nêu thẳng Đệ nhất nghĩa đế, khi thì dùng phương thức đánh úp từ bên cạnh, khiến người học trong lúc tiến thoái tự nhiên mà tiến vào đạo. Bích nham lục tắc 65 (Đại 48, 196 trung) nói: Liệu cơ nhìn mặt là cái cơ mưu bẫy hổ (cọp) - nắm gươm cầm dao (chính án bàng đề) là cái sách lược bắt giặc.
chính đáng
Righteousness.
chính đường
(正堂) Chỉ nhà phương trượng trong Thiền lâm, tức là nơi ở của vị trụ trì chùa. Còn gọi là Tẩm đường (nhà ngủ). Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 Qui dương sơn Vô liễu thiền sư truyện (Đại 51, 260 hạ), nói: Đọc kệ xong, nghiễm nhiên ngồi tịch, chôn tại chính đường, gần hai mươi năm. [X. Thiền lâm tượng khí tiên điện đường môn]. (xt. Phương Trượng).
chính đại
Upright. Quang minh chính đại: pure-hearted and upright.
; Straightforward—Upright.
chính đại quang minh
Upright and clear.
chính đạo
The orthodox doctrine. the right way.
; The right way—The correct way—The true doctrine.
; (正道) Chỉ đạo trung chính, là đại đạo ngay thẳng hướng tới Niết bàn - là đạo chính chân vô lậu, đối lại với tà đạo. Cũng gọi chính chân đạo. Nói theo nghĩa rộng, đối lại với tà đạo, ác đạo mà gọi Phật đạo là chính đạo - đạo của Tam thừa tu hành cũng gọi là chính đạo. Nói theo nghĩa hẹp thì chỉ tám chính đạo gồm chính kiến, chính tư duy v.v...… Lại theo Nhiếp đại thừa luận thích bản dịch đời Lương quyển 15 chép, thì chính đạo tức là trí vô phân biệt. [X. kinh A hàm Q.14 - Đại thừa nghĩa chương Q.16 phần cuối - Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung đoạn dưới]. (xt. Bát Chính Đạo).
chính đẳng chính giác
Xem Chính biến tri.
Chính đẳng giác
正等覺; S: samyak-saṃbodhi, samyak-saṃbud-dha;|Có hai nghĩa: 1. Phật quả, cũng được dịch theo âm là Tam-miệu Tam-bồ-đề; 2. Ðức Phật, một Bậc chính đẳng giác, Bậc chính biến tri, cũng thường được gọi theo âm là Tam-miệu Tam-phật-đà (Mười danh hiệu).
chính đẳng giác
Samyak-sambuddhi or bodhi (S). The perfect universal wisdom of a Buddha. Highest wisdom.
Chính đẳng giác 正等覺
[ja] ショウトウカク shōtōkaku ||| Correct peerless enlightenment (saṃyak-saṃbuddha). One of the ten epithets of the Buddha, equivalent to 正遍知. => Giác ngộ chân chính viên mãn (s: saṃyak-saṃbuddha). Một trong mười danh hiệu của chư Phật; tương đương với Chính biến tri正遍知.
chính định
Samyaksamàdhi (S). Right concentration.
; Chánh định—Samyaksamadhi—Right abstraction or concentration, so that the mind becomes vacant and receptive, the eighth of the eightfold noble truth—Right concentration.
chính định nghiệp
Chánh định nghiệp—Concentration upon the eighteenth vow of Amitabha and the Western Paradise, in repeating the name of Amitabha.
; (正定業) Chỉ nghiệp quyết định chính xác hoặc nghiệp được tuyển định. Cũng gọi Chính nghiệp, Định nghiệp. Trong Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ đời Đường nói, một lòng chuyên niệm danh hiệu đức Phật A di đà, bất luận đi đứng ngồi nằm, thời tiết lâu mau đều niệm niệm không bỏ, gọi là Chính định nghiệp, cũng tức là hạnh xưng danh niệm Phật thuận với bản nguyện của Phật A di đà. Lại trong Vô lượng thọ Phật kinh thích, sư Nguyên không thuộc tông Tịnh độ Nhật bản nói, xưng danh niệm Phật là hạnh bản nguyện của Phật A di đà, không những chỉ là Chính nghiệp quyết định vãng sinh, mà cũng còn là hạnh được tuyển định trong biển thệ nguyện của chư Phật. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập - Tịnh độ tông yếu tập Q.2]. (xt. Chính Trợ Nhị Nghiệp).
chính định tụ
(正定聚) Phạm: Samyaktva-niyata-ràzi, Pàli: Sammatta-niyata-ràsi. Là một trong ba tụ. Còn gọi Chính tính định tụ, Chính định, Đẳng tụ, Thiện tụ. Hoặc gọi Trực kiến tế. Chỉ người chắc chắn được chứng ngộ trong số chúng sinh. Theo luận Câu xá quyển 10 chép, thì các bậc thánh từ ngôi Kiến đạo trở lên, đã dứt hết Kiến hoặc được quả Li hệ rốt ráo chẳng lui, định trong chính tính Niết bàn trạch diệt, cho nên gọi là Chính định. Lại những người ở giai vị Bồ tát từ ngôi Thập tín trở lên, cũng gọi là Chính định. (xt. Tam Tụ).
Chính định vương kinh
正定王經; S: samādhirāja-sūtra; còn có tên Nguyệt đăng tam-muội kinh (s: candrapradīpa-sūtra);|Kinh Ðại thừa với 40 chương, ngày nay chỉ còn 16 chương bằng tiếng Phạn (sanskrit), còn lại là chữ Hán và Tây Tạng. Giáo pháp kinh này tương tự như Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, chuyên chú về sự đồng nhất thể tính của các Pháp.
chính định vương kinh
Xem Nguyệt Đăng Tam muội kinh.
Chính định 正定
[ja] ショウジョウ shōjō ||| Right meditation; right concentration (Skt. samyak-samādhi; Pali sammā-samādhi; Tib. yaṅ dag paḥi tiṅ ṅe ḥdsin). One of the parts of the Eightfold Correct Path 八正道. The maintenance of unscattered mindfulness in formal meditation. => (s: samyak-samādhi; p: sammā-samādhi; t: yaṅ dag paḥi tiṅ ṅe ḥdsin). Là một chi phần trong Bát chính đạo. Pháp thiền chân chính giữ tâm khỏi tán loạn. Chính biến tri
; [ja] ショウジョウ shōjō ||| Right meditation; right concentration (Skt. samyak-samādhi; Pali sammā-samādhi; Tib. yaṅ dag paḥi tiṅ ṅe ḥdsin). One of the parts of the Eightfold Correct Path 八正道. The maintenance of unscattered mindfulness in formal meditation. => (s: samyak-samādhi; p: sammā-samādhi; t: yaṅ dag paḥi tiṅ ṅe ḥdsin). Là một chi phần trong Bát chính đạo. Pháp thiền chân chính duy trì tâm khỏi tán loạn. [ja] ショウヘンチ shōhenchi ||| See 正遍知.
Chính ức niệm 正憶念
[ja] ショウオクネン shō okunen ||| (1) To memorize correctly; to recall correctly. Same as 如理作意. (2) The three thought-loci 三念處 of sensation 受, body 身, and dharmas 法. 〔四分律〕 => 1. Nhớ nghĩ chân chính. Đồng nghĩa với Như lý tác ý 如理作意. 2. Tam niệm xứ: thọ, thân, pháp.
Chính 正
[ja] ショウ shō ||| (saṃyak). (1) Exact, right, correct, upright, true, straight. (sat). (2) To rectify, to correct, to adjust, to regulate [方]. (3) A level, even shape (śāta). (4) 'accordance' (nyāna). (5) True nature, nirvāna. (6) The basis of correct knowledge (pramāna). (7) Truly, correctly. (8) Principal, chief, as opposed to secondary. (s: saṃyak). => 1. Đúng, phải, chính xác, ngay thẳng, chân thực, thẳng thắn (s: sat). 2. Sửa cho thẳng, hiệu chỉnh, điều chỉnh, chỉnh lý [方]. 3. Mức, mặt phẳng (s: śāta). 4. Theo đúng (s: nyāna). 5. Chân tính, niết-bàn (s: nirvāna). 6. Nền tảng nhận thức đúng đắn (s: pramāna). 7. Thành thực, nghiêm chỉnh. 8. Chủ yếu, trọng yếu, ngược với thứ yếu.
chính, tượng, mạt
The three periods of correct law, semblance law, decadence.
chói sáng
Brilliant—Dazzling.
chói tai
Deafening.
chóng mặt
To feel dizzy.
chôn nhao cắt rún
Birth place.
chông gai
Spikes and thorns.
chõ miệng
To poke one's nose into someone's business.
Chùa
Là nơi thờ Phật, phổ biến ở các nước Ðông và Ðông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Chùa có nhiều chỗ giống với Tháp (s: stūpa) tại Ấn Ðộ, là nơi cất giữ Xá-lị (s: śarīra), thường có nhiều tháp bao xung quanh. Những tháp này là nơi chôn cất các vị đại sư. Chùa là nơi tiêu biểu cho Chân như, được nhân cách hoá bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa. Nhiều chùa được thiết kế như một Man-đa-la (s: maṇḍala), gồm một trục ở giữa với các vị Phật ở bốn phương. Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho Ba thế giới (tam giới), các bậc cấp tiêu biểu cho Thập địa của Bồ Tát. Có nhiều chùa được xây tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chính đạo.
chùa
Temple, Pagoda, Pansula, Tera (J), Gompa (T), (S)Pháp đồng xá, pháp thực đồng xá (đạo và đồ ăn chung một chỗ), pháp thực nhị đồng xá (đạo và đồ ăn là hai chỗ). Có 10 danh từ người ta dùng để chùa, gồm: -tự - tịnh trụ - pháp đồng xá - xuất thế xá - tinh xá - thanh tịnh viên - kim cang sát - tịch diệt đạo tràng - viễn ly xứ - thân cận xứ.
; Samgharàma (S). Pagoda. Temple.
; Có mười từ được dùng để gọi tên chùa—There are ten terms used to call a pagoda. 1) Tịnh Trụ: An abode of purity. 2) Tự: Pagoda. 3) Pháp Trụ Đồng Xá: Dharmasthitita (skt)—Dharma abode. 4) Xuất Thế Xá: Abode for those who leave home, an abode away from the secular world, or a hermitage. 5) Tịnh Xá: Monastery. 6) Thanh Tịnh Viên: A Pure Garden. 7) Kim Cương Sát: Vajrasetra (skt)—Diamond vihara or Buddhist monastery. 8) Tịnh Diệt Đạo Tràng: Pure and extinct place. 9) Viễn Ly Xứ: Far-off place. 10) Thanh Tịnh Xứ: Pure place.
chùa bà đá
See Linh Quang Tự.
chùa bộc
See Thiên Phúc Tự.
chùa dàn
Chùa Dàn còn gọi là Phương Quang Tự, tọa lạc tại thôn Chí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Bắc Việt Nam. Chùa Dàn được xây dựng gần và cùng thời với chùa Dâu tại trung tâm Luy Lâu, để thờ Bà Pháp Điện. Chùa đã được trùng tu rất nhiều lần—Another name for Phương Quang Temple located in Chí Quả village, Thuận Thành district, Hà Bắc province, North Vietnam. Dàn Temple was built near Dâu Temple in Luy Lâu ancient citadel. It was built in the same period as Dâu Temple when Lady Pháp Điện, also called Lady Dâu, was adored. It has been rebuilt so many times.
chùa dâu
See Dâu.
chùa gò
See Phụng Sơn.
chùa láng
Một ngôi chùa cổ ở Hà Nội—An ancient temple in Hanoi—See Chiêu Thiền Tự.
chùa một cột
One-pillar pagoda.
; One-Pillar Temple.
chùa thiếu lâm
Shaolinszu (C).
chùa đại đức
Daitokuji (J)Tên một ngôi chùa.
chùi nước mắt
To wipe away one's tears.
chùy kim cương
Vajra (S). Diamond mace. Also Kim cương chử, chùy trí tuệ.
Chú
(呪): ngôn ngữ bí mật có năng lực linh ứng đặc biệt, không thể lấy ngôn ngữ bình thường để giải thích được, là câu văn bí mật dùng xướng tụng trong khi cầu nguyện, còn gọi là thần chú (神呪), mật chú (密呪), chơn ngôn (眞言). Nguyên lai từ chú (呪) là chúc (祝), là mật ngữ dùng tụng niệm hướng về chư vị thần linh cầu đảo, tuyên cáo khiến cho kẻ oán địch bị tai họa, hay mong muốn tiêu trừ ách nạn, cầu mong được lợi ích. Trong kinh Phệ Đà (吠陀) xưa của Ấn Độ đã có chú thuật rồi. Theo quyển 14 Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經) cho biết rằng đức Thích Tôn đã từng bài bác vấn đề chú thuật; tuy nhiên, quyển 9 của kinh này có đề cập việc đức Phật thuyết Chú Hộ Thân (s: parītta, p: paritta, parittā, còn gọi là Hộ Chú [護呪], Hộ Kinh [護經], Chú Văn [呪文]) trị rắn độc, cho nên chúng ta biết rõ rằng chú thuật đã được phổ biến ở Ấn Độ từ xa xưa và sau này Phật Giáo cũng có dùng đến. Các kinh điển thuộc giáo phái Đại Thừa Hiển Giáo như Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Bảo Tích (寶積), Đại Tập (大集), Kim Quang Minh (金光明), Lăng Già (楞伽), v.v., đều có Phẩm Đà La Ni (陀羅尼品) nêu rõ những câu thần chú. Đặc biệt Mật Giáo rất chú trọng đến mật chú, cho rằng chú là biểu thị cho “pháp nhĩ thường nhiên (法爾常然, pháp vốn thường như vậy)”; cho nên nếu tụng đọc, quán tưởng mật chú, hành giả có thể được lợi ích thành Phật. Thần chú được thuyết trong các kinh điển thì nhiều vô cùng, tỷ dụ như Thủy Hỏa Chú (水火呪), An Trạch Phù Chú (安宅符呪), Sát Lợi Chú (刹利呪), v.v., trong A Ma Trú Kinh (阿摩晝經) thuộc quyển 13 hay Phạm Động Kinh (梵動經) trong quyển 14 của Trường A Hàm (長阿含). Trong Tứ Phần Luật (四分律) quyển 27, Thập Tụng Luật (十誦律) quyển 46, v.v., có các chú trị bệnh trùng trong ruột, chú hàng phục ngoại đạo, v.v. Hay một số chú khác như Bà La Môn Chú (婆羅門呪), Thủ Đà La Thần Chú (首陀羅神呪), Đại Phạm Thiên Vương Bà Tỳ La Chú (大梵天王婆毘羅呪), v.v., trong phẩm Chúng Tướng Vấn (眾相問) của Ma Đăng Già Kinh (摩登伽經) quyển thượng, v.v. Ngoài ra, trong quyển 4 của Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) có Quán Đảnh Thất Vạn Nhị Thiên Thần Vương Hộ Tỳ Kheo Chú Kinh (觀頂七萬二天神王護比丘呪經), Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Thần Chú (摩訶般若波羅蜜神呪), Thập Bát Long Vương Thần Chú Kinh (十八龍王神呪), Chú Củ Xỉ (呪齲齒), Thập Nhị Nhân Duyên Kết Lũ Thần Chú (十二因緣結縷神呪), Uy Đức Đà La Thần Chú (威德陀羅神呪), v.v., mỗi thứ 1 quyển. Thần chú có 2 loại lành và dữ. Loại thần chú lành thường được dùng để chữa bệnh hay hộ thân; thần chú dữ dùng để bùa yểm người khác, khiến cho họ bị tai họa. Trong Phẩm Phổ Môn thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh (法華經), quyển 57 của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經), quyển 4 của Thập Địa Kinh (十地經), v.v., có đề cập đến loại thần chú dữ này. Đức Thế Tôn cấm chỉ hàng đệ tử tu tập chú thuật, sử dụng nó để mưu sinh, mà chỉ cho phép dùng chú để trị bệnh hay hộ thân mà thôi. Thông thường từ mantra được dịch là chú (呪). Hiện tồn bản tiếng Sanskrit của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), Đà La Ni Nhập Lăng Già Kinh (陀羅尼入楞伽經) có xuất hiện từ mantra này. Thế nhưng, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 11 lại dịch từ Pāli vijjāmayā là chú. Trong Phẩm Đà La Ni thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh dịch từ Sanskrit dhārāṇī là chú. Từ đó, chúng ta thấy rằng từ Hán dịch chú có nhiều nguyên ngữ khác nhau. Bên cạnh đó, dhārāṇī còn có nghĩa là tổng trì (總持), vidya (p: vijjā) là minh (明), thuật (術), mantra là chơn ngôn. Nghĩa các từ tuy có khác nhau nhưng đã được dùng lẫn lộn nhau. Có khá nhiều vị tăng ngoại quốc truyền Phật Giáo đầu tiên đến Trung Quốc rất sở trường về chú thuật, như trường hợp Đàm Vô Sấm (曇無讖) được xem như là Đại Chú Sư. Đạo Giáo Trung Quốc từ đó cũng bắt đầu lưu hành chú thuật. Trong Đăng Thiệp Thiên (登涉篇) thuộc quyển 4 của Bảo Bốc Tử Nội Thiên (抱朴子) có phần Lục Giáp Bí Chú (六甲祕呪), có khả năng khiến cho người trong chiến trận không bị tử thương. Hay trong Thái Thượng Tử Vi Trung Thiên Thất Nguyên Chân Kinh (太上紫微中天七元眞經, Đạo Giáo quyển 1055) có Bắc Đẩu Thất Tinh Chú (北斗七星呪), Cơ Tinh Chân Nhân Chân Quân Bảo Mạng Chú (機星眞人眞君保命呪), v.v. Hơn nữa, trong Thái Thượng Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thuyết Bảo Nguyệt Quang Hoàng Hậu Thánh Mẫu Khổng Tước Minh Vương Kinh (太上元始天尊說寶月光皇后聖母孔雀明王經, Đạo Giáo quyển 1058) có Bí Mật Khu Tà Phân Quỷ Nhân Đạo Chú (祕密驅邪分鬼人道呪), v.v., tất cả đều có pha lẫn Phạn ngữ. Cũng giống như vậy, các kinh điển Phật Giáo như Quán Đảnh Kinh (灌頂經), Thích Ma Ha Diên Luận (釋摩訶衍論) quyển 9 có nêu rõ các loại thần chú, Uế Tích Kim Cang Cấm Bách Biến Pháp Kinh (穢跡金剛禁百變法經) thì đề cập đến những loại phù chú, ấn pháp. Tất cả đều có ảnh hưởng đến kinh điển Đạo Giáo. Ngoài ra, Mật Giáo của Nhật Bản cũng sử dụng rất nhiều mật chú.
; 注; C: zhù; J: chū;|1. Rót vào, đổ vào, chảy vào, rót đầy, thêm vào. Tâm hướng về một mục tiêu khác; 2. Chú giải; viết chú thích, dẫn giải về một bản kinh.
; 呪; C: zhòu; J: ju;|Tiếng Hán dịch từ chữ dhāraṇī hay mantra của tiếng Phạn; có nghĩa là thần chú. Đà-la-ni (陀羅尼). Chỉ sức thâu nhiếp, câu thần chú, sự trì niệm thần chú, mạn-đà-la, đà-la-ni. Mạn-đà-la và đà-la-ni thường thấy trong các kinh điển Đại thừa, đặc biệt được dùng nhiều trong các kinh văn Mật giáo (密教).
chú
Xem man trà la.
; Dharani, mantra (S). An incantation, spell, oath, curse; also a vow with penalties for failure. Mystical or magical formula employed in Tantric Buddhism. Chú Lăng Nghiêm: Surangama mantra. Đại Bi chú: the great compassion mantra. Thập chú: ten small mantras. Như ý bảo luân vương đà la ni: As you will jewell wheel king dharani. Tiêu tai kiết tường thần chú: disater eradicating auspicious spirit dharani. Công đức bảo sơn thần chú: meritorious virtue jewelled mountain spirit mantra. Chuẩn đề thần chú: Cundi spirit mantra. Thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương đà la ni: the resolute light king dharani of holy limitless life. Dược sư quán đỉnh chân ngôn: medicine master's true words for annointing the crown. Quán âm linh cảm chân ngôn: Kuan Yin efficacious response true words. Thất Phật diệt tội chân ngôn: true words of seven Buddhas for eradicating offences. Vãng sinh quyết định chân ngôn: spirit mantra for rebirth in the Pure Land. Thiện thiên nữ chú: Good goddess mantra.
; Dharani (skt). 1) Thần Chú—Mantra—Incantation—Spell. 2) Lời giải thích: Explain, or open up the meaning. 3) Lời thề: Oath—Curse. 4) Lời nguyền (sẽ bị phạt khi thất bại): A vow with penalties for failure. 5) Mật chú dùng trong Du-Già: Mystical, or magical formulae employed in Yoga. 6) Trong Lạt Ma Giáo, chú gồm những chữ Tây Tạng viết chung với Phạn ngữ: In Lamaism dharani consist of sets of Tibetan words connected with Sanskrit syllables.
; (咒) Chỉ những tiếng bí mật có sức linh nghiệm đặc biệt mà không thể dùng lời nói thông thường để thuyết minh. Là những chương câu thần chú bí mật đọc tụng khi cầu nguyện. Còn gọi là Thần chú, Cấm chú, Mật chú, Chân ngôn. Chú nguyên là Chúc.., là cầu đảo trước Thánh thần khiến cho kẻ thù bị tai họa, hoặc là những lời bí mật được tụng niệm khi muốn trừ khử ách nạn và cầu được lợi ích. Trong Phệ đà xưa của Ấn độ cũng đã có chú thuật. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 40 chép, thì đức Thích tôn đã từng bài bác chú thuật, nhưng kinh Tạp a hàm quyển 9 lại chép đức Thích tôn đã từng nói chú Độc xà hộ thân......, cho nên biết chú thuật đã phổ biến ở Ấn độ từ rất sớm và được Phật giáo thu dụng. Các kinh điển Hiển giáo thuộc Đại thừa như Bát nhã, Pháp hoa, Bảo tích, Đại tập, Kim quang minh, Lăng già v.v...... trong các phẩm Đà la ni đều có chép văn chú, Mật giáo thì lại càng coi trọng văn chú, bảo chú tức là sự biểu thị của Pháp nhĩ thường nhiên ......, nếu đọc tụng, quán tưởng thì có thể được lợi ích thành Phật. Các chú được chép trong các kinh điển thì rất nhiều, như Trường a hàm quyển 13 kinh A ma trú, quyển 14 kinh Phạm động có Thủy hỏa chú, An trạch phù chú, Sát lợi chú v.v... Trong luật Tứ phần quyển 27, luật Thập tụng quyển 46, có chú Phúc nội trùng bệnh (bệnh trùng trong bụng), chú Thế tục hàng phục ngoại đạo - kinh Ma đăng già quyển thượng phẩm Chúng tướng vấn, có chú Bà la môn, chú Thủ đà thần, chú Đại phạm thiên vương bà tì la - Sinh kinh quyển 2 kinh Hộ chư tỉ khưu, có chú Trùng đạo phù - kinh Trì tâm phạm thiên sở vấn quyển 4 phẩm Chư thiên hoan, có chú Tuyển trạch thần - kinh Đại thừa bi phần đà lợi quyển 1 phẩm Nhập đà la ni môn, có các chú Tứ niệm xứ giải hiện cú, Tứ vô úy giải hiện cú, Tứ chính đoạn giải hiện cú và Thất giác ý giải hiện cú - kinh Đại Phật đính quảng tụ đà la ni quyển 5 phẩm Nhiếp nhất thiết chư bộ thủ ấn, có chú Tẩy dục (tắm rửa), chú Bạch giới tử đạo cốc hoa (hoa hạt cải trắng, thóc lúa), chú Kết giới, chú Sở tác nhất thiết sự thời (khi làm tất cả các việc), chú Vân (chú mây) v.v... Lại Xuất tam tạng kí tập quyển 4 Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục, liệt kê: kinh Quán đính nhất vạn nhị thiên thần vương hộ tỉ khưu chú - Ma ha bát nhã ba la mật thần chú, kinh Thập bát long vương thần chú, Chú củ xỉ (chú sâu răng), Thập nhị nhân duyên kết lũ thần chú, Uy đức đà la thần chú, các kinh chú trên đây mỗi thứ đều có một quyển. Chú có thiện chú ác chú khác nhau. Thiện chú, là các chú dùng để chữa bệnh hoặc để hộ thân - Ác chú, là những chú nguyền rủa người khác, hoặc khiến họ bị tai họa. Kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Phổ môn, kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 57, kinh Thập địa quyển 4 đều có thuật các câu ác chú - kinh Dược sư bản nguyện, bảo phải xa lìa loại ác chú ấy. Những ác quỉ sử dụng ác chú thì có quỉ Tì đà la (quỉ vác xác chết). Đức Thế tôn cấm ngặt các đệ tử tu tập chú thuật, dùng chú thuật mưu sinh, chỉ cho phép dùng chú để chữa bệnh hoặc hộ thân. Thông thường, chữ Phạm: Mantra (Mạn đát la) được dịch là Chú. Trong kinh Bát nhã ba la mật tâm và kinh Nhập lăng già quyển 8 phẩm Đà la ni bằng tiếng Phạm hiện còn đều có sử dụng chữ Chú mantra Hán dịch tương đương. Tên Phạm của kinh Khổng tước chú vương trong tiếng Tây tạng là Mahàmayùrì-vidyà-ràjĩì. Thiện kiến luật Tì bà sa quyển 11, dịch chữ Pàli Vijjàmayàlà Chú. Kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Đà la ni, dịch chữ Phạm dhàràịì (Đà la ni) là Chú. Từ các chữ Phạm vàPàli kể trên mà được biết chữ Chú trong Hán dịch có nhiều loại nguyên ngữ. Ạidhàraịì hàm ý là tổng trì, chữ Phạm Vidyà (Pàli: Vijjà) hàm ý là Minh, Thuật, Antra cũng dịch là Chân ngôn. Ý của các chữ tuy khác nhau, nhưng từ lâu đã bị dùng lẫn lộn. Cũng có sách phân biệt rõ ràng các chữ, như trong Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) Mật chú bản tục và Ngoại đạo thư khế, khi thuật về tên của Mật chú, đem chữdhàràịìdịch là Tổng trì chú,vidyà dịch là Minh chú, mantra dịch là Mật chú. Các vị tăng lữ nước ngoài vào Trung quốc ở thời kì đầu, có rất nhiều vị giỏi chú thuật, như Đàm vô sấm đời Bắc Lương được coi là vị Đại chú sư của Tây vực, đó là một ví dụ. Tín đồ Đạo giáo Trung quốc cũng làm chú thuật. Bão phác tử nội thiên quyển 4 thiên Đăng thiệp có chép Lục giáp bí chúc , bảo chú này có khả năng khiến người ta thoát chết trong khi chiến đấu. Kinh Thái thượng tử vi trung thiên thất nguyên chân (Đạo tạng sách 1055) có liệt kê các chú Bắc đẩu thất tinh, chú Cơ tinh chân nhân chân quân bảo mệnh, kinh Thái thượng nguyên thủy thiên tôn thuyết bảo nguyệt quang hoàng hậu thánh mẫu khổng tước minh vương (Đạo tạng sách 1055), có liệt kê chú Bí mật khu tà phân quỉ nhân đạo, đều có lẫn lộn văn chú chữ Phạm. Cũng thế, kinh Quán đính của Phật giáo, luận Thích ma ha diễn quyển 9, có thuật nhiều loại thần chú, kinh Uế tích kim cương cấm bách biến pháp, có thuật nhiều loại phù chú, ấn pháp đều viện dẫn đến kinh điển Đạo giáo. Đây là chứng minh cho thấy giữa chú của Phật giáo và của Đạo giáo đã ảnh hưởng lẫn nhau. Ngoài ra, Mật giáo của Phật giáo Nhật bản, phái Tu nghiệm đạo cũng dùng nhiều chú. [X. kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú - Đà la ni tạp tập Q.2 - luận Đại trí độ Q.57 - Pháp hoa văn cú kí Q.10 phần dưới - Bát nhã ba la mật đa tâm kinh tán - Tuệ lâm âm nghĩa Q.43]. (xt. Đà La Ni, Chân Ngôn).
chú chuẩn đề
Cunde (Jwun Ti) Dharani—Mantra—One of the Great Compassion Mantras—Thousand-armed Avalokitesvara Mantra.
Chú châu
咒珠; C: zhòuzhū; J:;|Chuỗi tràng hạt (s: japa-māla). Sổ châu (數珠).
Chú châu 咒珠
[ja] ジュシュ juzu ||| A rosary (japa-māla). See 數珠. => Chuỗi tràng hạt (japa-māla). Xem Sổ châu 數珠.
chú cát tường thiên nữ
Good Goddess Mantra.
chú công đức bảo sơn
Meritorious Virtue Jewelled Mountain Spirit Mantra.
chú duy ma cật kinh
(注維摩詰經) Gồm mười quyển. Do sa môn Tăng triệu đời Hậu Tần soạn. Nói đủ là Duy ma cật sở thuyết kinh chú. Còn gọi là Chú duy ma, Chú duy ma kinh, Tịnh danh tập giải. Thu vào Đại chính tạng tập 38. Sau khi ngài Cưu ma la thập dịch kinh Duy ma, Tăng triệu bèn căn cứ vào thuyết của thầy và thuyết của Đạo sinh, Đạo dung mà giải thích sâu rộng ý chỉ của kinh Duy ma để hoàn thành bộ sách này, bộ sách có rất nhiều ảnh hưởng đối với giới tư tưởng Phật giáo. Ở đầu sách có bài tựa của Tăng triệu trình bày quan điểm về Bản (gốc), Tích (dấu tích), thẩm xét thấu suốt nghĩa gốc của kinh Duy ma - đồng thời, hội nhập với giáo lí kín nhiệm của kinh Pháp hoa. Nội dung sách này là y theo kinh văn mà giải thích, là sách chú thích kinh Duy ma đầu tiên tại Trung quốc. Về sau, Duy ma kinh huyền sớ 6 quyển, Văn sớ 28 quyển của sa môn Trí khải và Duy ma kinh nghĩa kí 8 quyển của sư Tuệ viễn đời Tùy, Duy ma kinh nghĩa sớ 8 quyển, Lược sớ 5 quyển của sa môn Cát tạng v.v... đều là những tác phẩm nghiên cứu được căn cứ theo kinh Duy ma mà làm ra, và cũng đều khởi hứng từ sách này mà thành. Lại Thuyết vô cấu xưng kinh sớ 12 quyển của sư Khuy cơ vốn căn cứ theo kinh Duy ma (kinh Thuyết vô cấu xưng 6 quyển) do sa môn Huyền trang dịch mà chú thích, nhưng nhiều ít gì cũng có tham khảo bản dịch kinh Duy ma của sư La thập và bộ sách này. Kinh Duy ma vốn được thành lập tại Ấn độ, từ xưa đến nay rất được coi trọng, truyền rằng sa môn Thế thân (Phạm: Vasubandhu) đã từng viết Duy ma kinh luận (nay đã thất lạc), quan niệm của La thập về kinh Duy ma là trực tiếp thu dụng sự giải thích tại ngay đất Ấn độ - còn Đạo sinh thì căn cứ trên quan điểm của người Trung quốc mà trứ thư lập luận, cho nên nội dung của tác phẩm với Chú duy ma, về mặt tư tưởmg sử, rất có ý nghĩa sâu xa. Tóm lại, trong Duy ma xưa, vì sư Tăng triệu đã vào cửa Phật, nên khi giải thích kinh Duy ma có nhìn qua cái học Lão Trang, nên đã mở ra một chân trời mới, điều đó có thể thấy rất rõ trong sách này.Lại nữa,trong sách này không những chỉ có giá trị quan trọng đối với triết học phương Đông, mà còn phát huy cả cái tinh tủy của Phật giáo Đại thừa nữa: đó là một đặc điểm mới của sách này. [X. Triệu luận tân sớ Q.thượng - Xuất tam tạng kí tập Q.15 truyện Đạo sinh - Lương cao tăng truyện Q.6 - Tân biên chư tôn giáo tạng tổng lục Q.2].
chú dược sư quán đảnh chơn ngôn
Medicine Master's True Words For Anointing The Crown.
chú giải
Commentary Chú giải trong Phật giáo là phần phụ thêm, mỡ rộng và giải thích chính văn. Chú giải là từ được cả hai phái tiểu thừa và đại thừa sử dụng. Trong khi đó từ Luận Kinh (Abhidharma) là phần chú giải đích thân Phật nói ra, từ Sastra chỉ phần chú giải do các nhà sư đại thừa sau này bổ túc và giải thích cho rõ nghĩa thêm.
chú long
sử dụng chú thuật để bắt, sai khiến rồng, rắn... Tạp A-tì-đàm tâm luận, quyển 3, giải thích như sau: 咒龍︰謂習諸邪法咒術,咒于龍蛇,以爲戲樂。(Chú long, vị tập chú chư tà pháp chú thuật, chú vu long xà, dĩ vi hí lạc.) Như vậy, chú long là học các chú thuật để thu phục rồng, rắn... lấy đó làm thú vui hoặc nghề nghiệp sinh sống.
chú nguyện
Vows, prayers, or formula uttered in behalf of donors, or of the dead; especially on the All Souls Day's offerings to the seven generations of ancestors.
; Xướng pháp ngữ cầu nguyện cho thí chủ, hoặc vong linh người quá cố, đặc biệt trong ngày cúng thất tổ trong ngày cúng các vong linh—Vows, prayers or formulas uttered in behalf of donors, or of the dead; especially at the All Souls Day's offering to the seven generations of ancestors. Every word and deed of a bodhisattva should be a dharani.
; (咒願) Khi chư tăng thụ trai, đọc tụng hoặc trì chú để cầu nguyện cho chúng sinh, gọi là Chú nguyện. Cũng gọi là Chúc nguyện. Cứ theo luật Thập tụng quyển 41 nói, thì người Bà la môn tại Ấn độ đời xưa, khi ăn cơm xong, chúc nguyện và tán thán thí chủ, sau đức Phật cũng theo pháp thức ấy mà chế định cho sa môn. Luật Ma ha tăng kì quyển 34 Minh uy nghi pháp, có chép các loại văn chú nguyện, như người qua đời, người sinh con, người đi buôn, người cưới hỏi v.v... bố thí chúng tăng để cầu phúc. Trong các luật, phần nhiều bảo chú nguyện sau khi ăn, nhưng cứ theo kinh Thành cụ quang minh định ý, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả nói, thì trước khi ăn cũng phải chú nguyện. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ Tam kế thỉnh thiết tắc thiên chép, thì sa môn Đạo an chú nguyện trước khi ăn. Đời sau thông thường chia chú nguyện làm hai loại là: chú nguyện khi ăn và chú nguyện trong pháp hội. 1. Chú nguyện khi ăn, làm trước khi ăn, hoặc sau khi ăn xong. Vì thí chủ cho đến hết thảy hữu tình chìm đắm trong pháp giới mà cầu nguyện. Như hiện nay, trước khi thụ trai, thường nguyện Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình phổ đồng cúng dường, và sau khi ăn xong thì chú nguyện Phạn thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sinh, sở tác giai biện, cụ chư Phật pháp. 2. Chú nguyện pháp hội, tức trong các hội cúng dường, hoặc việc hoàn thành chùa viện, hoặc khi thuyết pháp xong, thì chú nguyện để cầu cho chúng sinh tiêu tai được phúc. Phàm người tu hạnh Bồ tát, trong tất cả hành nghi đi đứng ngồi nằm, đều phải chú nguyện, chứ không phải hạn trong giờ ăn hay trong pháp hội như vừa nói ở trên. Như kinh Hoa nghiêm quyển 6 phẩm Tịnh hạnh nói, Bồ tát đối với ba nghiệp thân khẩu ý, nhất nhất đều chú nguyện, thì có thể được hết thảy công đức thắng diệu. Ngoài ra, kinh Tăng nhất a hàm quyển 29 nói, nhờ vào công đức chú nguyện có thể thành tựu được sáu đức, tức người đàn việt thí chủ có thể được ba pháp là tín căn thành tựu, giới đức thành tựu, văn thành tựu - và vật để bố thí cũng được ba pháp, là sắc thành tựu, vị thành tựu và hương thành tựu. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.6 - kinh Vu lan bồn - luật Ngũ phần Q.25 - Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.5 - Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1 - Thích thị yếu lãm Q.thượng].
chú nguyện sư
(咒願師) Là người giữ việc đọc các văn chú nguyện trong pháp hội cúng dường tại Nhật bản. Là một trong 7 vị tăng. Nói tắt là Chú sư, Nguyện sư. Khi công việc kiến thiết hoặc trùng tu các chùa viện đã hoàn thành, thường mở pháp hội cúng dường để khánh thành, thì chú nguyện sư đọc các văn nguyện do vị Đạo sư soạn. Vốn là chức Thượng lạp (vị Thượng tọa trong một chùa), về sau chuyển làm Đạo sư và dưới đó là chức chú nguyện sư. (xt. Thất Tăng).
Chú ngũ thủ
呪五首; C: zhòuwŭshŏu; J: jugoshu;|Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm Bồ Tát chú (千轉陀羅尼觀世音菩薩呪).
Chú ngũ thủ kinh
咒五首經; C: zhòuwŭshŏu; J: jugoshu kyō;|1 quyển, Huyền Trang dịch năm 664. Nội dung trình bày năm loại thần chú.
chú ngũ thủ kinh
(咒五首經) Có một quyển. Do sa môn Huyền trang (602-664) đời Đường dịch. Còn gọi là Chú ngũ thủ, Năng diệt chúng tội thiên chuyển đà la ni kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung chỉ liệt kê 5 bài chú, đó là: 1. Năng diệt chúng tội thiên chuyển đà la ni chú. 2. Lục tự chú (Lục tự chân ngôn của Văn thù). 3. Thất câu chi Phật chú. 4. Nhất thiết Như lai tùy tâm chú. 5. Quán tự tại bồ tát tùy tâm chú. Kinh này cùng với kinh Thiên chuyển đà la ni Quan thế âm bồ tát chú do sư Trí thông dịch, là cùng bản mà dịch khác. Kinh nói, tụng đà la ni này có thể diệt trừ bốn tội nặng và năm tội nghịch. [X. Đại đường nội điển lục Q.5 - Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
Chú Ngũ thủ kinh 咒五首經
[ja] ジュゴシュキョウ Jugoshu kyō ||| The Zhouwushou jing (Mantra of Five Heads Sutra). One fascicle, T 1034.20.17-. Translated in 664 by Xuanzang 玄奘. Teaches five kinds of mantras. => Chú Ngũ thủ kinh 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 664. Kinh dạy năm loại thần chú. Chú ngũ thủ năng diệt chúng tội thiên chuyển đà-la-ni kinh 呪五首能滅衆罪千轉陀羅尼經
Chú ngũ thủ năng diệt chúng tội thiên chuyển đà-la-ni kinh
呪五首能滅衆罪千轉陀羅尼經; C: zhòuwŭshŏu néngmiè zhòngzuì qiānzhuăn tuóluóní jīng; J: jugoshu nōmetsu shūzai senten darani kyō;|Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm Bồ Tát chú (千轉陀羅尼觀世音菩薩呪).
chú như ý bảo luân vương đà la ni
As-You-Will Jewel Wheel King Dharani Mantra.
Chú Phổ Am
(普庵咒): nguyên danh là Phổ Am Đại Đức Thiền Sư Thích Đàm Chương Thần Chú (普庵大德禪師釋談章神咒), còn gọi là Chú Phổ An (普安咒), hoặc Thích Đàm Chương (釋談章), lần đầu tiên thấy xuất hiện trong bản cầm phổ Tam Giáo Đồng Thanh (三敎同聲, 1592). Căn cứ vào văn ký tải của Dương Luân Bá Nha Tâm Pháp (楊掄伯牙心法) cho biết rằng: “Tư khúc tức Phổ Am Thiền Sư chi chú ngữ, hậu nhân dĩ luật điệu nghĩ chi (斯曲卽普庵禪師之咒語,後人以律調擬之也, khúc này là chú ngữ của Thiền Sư Phổ Am, người đời sau lấy luật điệu mô phỏng theo).” Chú này được xem như là Tổ Sư Chú (祖師咒), rất ít thấy ở Trung Quốc và không rõ nguyên nhân sáng tác thế nào. Trong lúc sinh tiền, Thiền Sư Phổ Am Ấn Túc (普庵印肅, 1115-1169) thường làm những điều linh nghiệm như bẻ cây trị bệnh, chặt cây ma quái, cầu mưa, v.v. Hơn nữa, ông lại rất tinh thông Phạn văn, từng lấy Phạn văn phiên âm thành chú, người đời gọi đó là Phổ Am Chú (普庵咒). Thần chú này có thần lực làm cho an định mười phương và tòng lâm, nên thường được tụng tại các tự viện vào mỗi dịp đầu và giữa tháng. Thậm chí thần chú này còn có công năng xua đuổi các loài muỗi, trùng, rắn rít, v.v. Trong khoảng niên hiệu Vạn Lịch (萬曆, 1573-1620) nhà Minh, Thiền Sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) mới đưa thần chú này vào bản Chư Kinh Nhật Tụng (諸經日誦). Trong bản Thiền Môn Nhật Tụng (禪門日誦) được khắc ấn đầu tiên vào khoảng niên hiệu Đạo Quang (道光, 1821-1850) của vua Tuyên Tông (宣宗, tại vị 1820-1850) nhà Thanh, cũng có thâu lục thần chú này. Chú Phổ Am có kết cấu rất nghiêm cẩn, dễ đọc tụng và ghi nhớ. Thần chú này có nhiều tổ hợp đơn âm, cấu thành một loại luật tắc tự nhiên, giống như sự giao hòa hỗ tương của ba yếu tố Thiên-Địa-Nhân, khiến cho người nghe tự nhiên thể nhập vào cảnh giới linh không, thanh tịnh, và có tinh thần cảm ứng đạo giao, có cầu có ứng qua hình tượng Thiền Sư Phổ Am. Tương truyền thần chú này có công năng có thể tiêu tai, giải trừ ách nạn, khiến cho các loài côn trùng, chuột, muỗi, kiến, rắn, rít, v.v., phải tránh xa, các hung thần ác sát đều xa lánh. Nội dung của thần chú như sau: “Nam Mô Phật Đà Da. Nam Mô Đạt Ma Da. Nam Mô Tăng Già Da. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Phổ Am Tổ Sư Bồ Tát. Nam Mô Bách Vạn Hỏa Thủ Kim Cang Vương Bồ Tát. Án, ca ca kê kê cu cu kê; cu kê cu; kiêm kiều kê; kiều kê kiêm. Ca ca kê kê cu cu kê kiều kiêm, kiêm, kiêm, kiêm kiêm kiêm; nghiệm nghiêu nghê, nghiêu nghê nghiệm; ca ca kê kê cu cu da; dụ dụ, dụ dụ, dụ dụ, dụ dụ dụ. Nghiên, giới. Già già chi chi châu châu chi; châu chi châu; chiêm chiêu chi, chiêu chi chiêm. Già già chi chi châu châu chi chiêu chiêm, chiêm, chiêm, chiêm chiêm chiêm; nghiệm nghiêu nghê; nghiêu nghê nghiệm. Già già chi chi châu châu da; dụ dụ, dụ dụ, dụ, dụ, dụ dụ dụ. Thần, nhạ. Tra tra tri tri đô đô tri; đô tri đô; đảm đa tri; đa tri đảm. Tra tra tri tri đô đô tri đa đảm, đảm, đảm, đảm đảm đảm; nam na ni; na ni nam. Tra tra tri tri đô đô da; nô nô, nô nô, nô, nô, nô nô nô. Đát, na. Đa đa đế đế đa đa đế; đa đế đa, đàm đa đế; đa đế đàm. Đa đa đế đế đa đa đế đa đàm, đàm, đàm, đàm đàm đàm; nam na ni; na ni nam. Đa đa đế đế đa đa da; nô nô, nô nô, nô, nô, nô nô nô. Đàn, na. Ba ba bi bi ba ba bi; ba bi ba; phạn ba bi; ba bi phạn. Ba ba bi bi ba ba bi ba phạn, phạn, phạn, phạn phạn phạn; phạn ma mê; ma mê phạn. Ba ba bi bi ba ba da; Mẫu mẫu, mẫu mẫu, mẫu, mẫu, mẫu mẫu mẫu. Phạn, ma. Án, ba đa tra; già ca da; dạ lan ha; a sắt tra; tát hải tra; lậu lô lậu lô tra; già ca dạ, ta ha. Vô số Thiên Long Bát Bộ, bách vạn Hỏa Thủ Kim Cang, tạc nhật phương ngung, kim nhật Phật địa, Phổ Am đáo thử, bách vô cấm kỵ (南無佛陀耶、南無達摩耶、南無僧伽耶、南無本師釋迦牟尼佛、南無大悲觀世音菩薩、南無普庵祖師菩薩。唵、迦迦雞雞倶倶雞、倶雞倶、兼喬雞、喬雞兼。迦迦雞雞倶倶雞喬兼、兼、兼、兼兼兼、驗堯倪、堯倪驗。迦迦雞雞倶倶耶、喻喻、喻喻、喻、喻、喻喻喻。研、界。遮遮支支朱朱支、朱支朱、占昭支、昭支占。遮遮支支朱朱支昭占、占、占、占占占、驗堯倪、堯倪驗。遮遮支支朱朱耶、喻喻、喻喻、喻、喻、喻喻喻。神、惹。吒吒知知都都知、都知都、擔多知、多知擔。吒吒知知都都知多擔、擔、擔、擔擔擔、喃那呢、那呢喃。吒吒知知都都耶、奴奴、奴奴、奴、奴、奴奴奴。怛、那。多多諦諦多多諦、多諦多、談多諦、多諦談。多多諦諦多多諦多談、談、談、談談談、喃那呢、那呢喃。多多諦諦多多耶、奴奴、奴奴、奴、奴、奴奴奴。檀、那。波波悲悲波波悲、波悲波、梵波悲、波悲梵。波波悲悲波波悲波梵、梵、梵、梵梵梵、梵摩迷、摩迷梵。波波悲悲波波耶、母母、母母、母、母、母母母。梵、摩。唵、波多吒、遮迦耶、夜闌訶、阿瑟吒、薩海吒、漏嚧漏嚧吒、遮迦夜、娑訶。無數天龍八部、百萬火首金剛、昨日方隅、今日佛地、普庵到此、百無禁忌).” Trong Thiền Môn của Việt Nam, thần chú này cũng được dùng để trì tụng đặc biệt trong các lễ nghi quan trọng như tang lễ, khánh thành tân gia, Trai Đàn Chẩn Tế, Giải Oan Bạt Độ, v.v.
chú quan âm linh cảm chơn ngôn
Kuan Yin's Efficacious Response True Words Mantra.
chú sư
(咒師) Tức là vị pháp sư kết ấn, tụng chú để cầu nguyện. Còn gọi là Pháp chú sư. Thông thường chỉ người tu pháp trì chú trong Mật giáo. Chú, chỉ đà la ni - Cấm, nghĩa là người chưa thụ phép Quán đính của Mật giáo thì cấm không được tu phép. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 7 (Đại 16, 435 trung), nói: Chú sư dạy phát thệ nguyện rộng lớn, vĩnh viễn dứt trừ các điều ác, thường tu các việc thiện, đối với chúng sinh khởi lòng đại bi. Đời Đường, đã từng đặt Chú cấm sư, gọi là Chú cấm bác sĩ, là người dạy các chú cấm, trừ khử bệnh dịch. Bởi thế, chú sư còn là một quan chức giúp việc trị liệu bệnh tật. Tại Nhật bản, vào thời Thiên hoàng Văn vũ (697-700), cũng thiết lập Chú cấm sư. Lại trong các pháp hội cúng dường, người giữ việc đọc các bài văn chú nguyện, gọi là Chú nguyện sư, nói tắt là Chú sư. [X. luật Thập tụng Q.2 - Phật tổ thống kỉ Q.39].
chú sấn
(襯) Chỉ cho việc quyên cúng tiền bạc hoặc phẩm vật giúp đỡ Phật sự. Sấn, hàm ý bố thí, cũng viết là .. Thông thường gọi tiền cúng dường chư tăng là Sấn tiền. Truyện Trương dung trong sách Nam tề nói: Những người giúp nhiều đến một vạn, ít không dưới năm nghìn, riêng một mình Dung này chú sấn (cúng dường) trăm đồng tiền. (xt. Đạt Sấn).
chú tam thủ kinh
(咒三首經) Có một quyển. Do sa môn Địa bà ha la đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung liệt kê ba bài chú, tức là: 1. Đại luân kim cương đà la ni, khi vào hết thảy đàn tràng, nếu tụng hai mươi mốt biến thì các pháp thực hành đều được thành tựu. 2. Nhật quang bồ tát chú, có hiệu năng diệt trừ tất cả chướng nạn, ác ma và thiên tai. 3. Ma lị chi thiên chú, có khả năng hộ thân (giữ mình).
chú thuật
The sorcery, the sorcerer's art.
; Sorcery—The sorcerer's arts.
; (咒術) Tức là thuật mầu nhiệm của thần chú. Mục đích tụng chú là để giáng tai họa cho kẻ địch hoặc để trừ nạn cho chính mình - có đủ thuật thần kì giết người hoặc được sống lâu ấy, thì gọi là Chú thuật. Kinh Quán vô lượng thọ chép, có kẻ ác có khả năng làm chú thuật mê hoặc để khiến vua ác kéo dài được mệnh sống, trong nhiều ngày không chết. (xt. Chú).
chú thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương đà la ni
The Resolute Light King Dharani Of Holy Limitless Life Mantra.
chú thích thư
(注釋書) Chỉ các sách chú thích kinh điển. Trong ba tạngPàlicủa Phật giáo Nam truyền, kinh Phân biệt (Pàli: Sutta-vibhaíga) của tạng Luật là chú thích về giới bản, Nghĩa thích (Pàli: Niddesa) là chú thích về kinh Tập (Pàli: Suttanipàta) phẩm 4 đến phẩm 5, Bản sinh (Pàli: Jàtaka) là chú thích về kệ Bản sinh. Nói một cách đại để, trong kinh điểnPàli, sự chú thích về ba tạng Kinh Luật Luận rất là hoàn bị. Trong Đại tạng kinh Hán dịch của Phật giáo Bắc truyền, thì phần đầu của luật Tứ phần tương đương với kinh Phân biệt trong tạng luật Pàli - luận Phân biệt công đức là chú thích về kinh Tăng nhất a hàm, luận Đại trí độ là chú thích về kinh Đại phẩm Bát nhã, luận Đại tì bà sa là chú thích về luận Phát trí, Trung luận là chú thích về Trung luận bản tụng v.v... Các loại chú thích này đều rất nhiều. Đại tạng kinh Tây tạng cũng thế, trong đó có một phần kinh điển, cho đến nay vẫn còn cả nguyên bản tiếng Phạm tương đương với nội dung của một phần kinh điển ấy. Tại Trung quốc, từ thời đại Tam quốc trở đi đã có lưu hành chú kinh. Đến sau thời Nam Bắc triều, thì đã sản sinh Tập chú, tập hợp sự chú thích của các nhà. Lại còn có phương thức chú kinh là căn cứ vào Chú mà làm Sớ để diễn thuật thêm ý kinh. Bắt đầu từ thời Đường, một mặt có cách Mạt chú...... (tức là chú thích thêm cho chú thích), mặt khác thì xuất hiện một loại sách, gọi là Huyền nghĩa, Huyền luận, trình bày một cách đại khái về tôn chỉ của một bộ kinh hoặc bộ luận nào đó, mà phương pháp giải thuyết dần dần cố định thành Tam môn phân thuyết, Ngũ trùng huyền nghĩa v.v... Đến thời Tống thì lưu hành bản chung là kinh văn và chú thích hai bên đối chiếu với nhau. Sách chú thích của Nhật bản cũng nhiều, ở thời kì đầu, đại đa số theo phương pháp Trung quốc, từ thời đại Giang hộ trở về sau, có lưu hành các bản in với chú ở trên đầu và chú ở bên cạnh. Lại trong các loại sách chú thích, sách chuyên môn chú giải Kinh (Phạm: Sutra, dịch âm là Tu da la), gọi là Chú kinh, là giữa khoảng chính văn trong kinh, chua thêm chú để giải thích nghĩa lí của câu văn chính trong các kinh điển. Các Chú kinh của kinh điển Hán dịch, thông thường có hai hình thức: 1. Sau chính văn của một tiết hoặc một câu, chua thêm chú để giải thích văn chữ, rất nhiều Chú kinh dùng phương thức này. Chẳng hạn như sa môn Đạo an, giải thích đoạn văn đầu trong kinh Nhân bản dục sinh, như sau (Đại 33, 1 thượng): Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở nước Câu loại nơi pháp trị (Kinh văn), A nan ghi tên nước trong đó được nghe Thánh giáo. Nơi pháp trị là thành vua (chú). Khi ấy, hiền giả A nan ngồi một mình ở chỗ vắng vẻ, suy nghĩ như thế, rồi sinh ý chưa từng có, ý ấy là vi diệu, gốc sinh tử cũng vi diệu, trong vi diệu nhưng đã hiển hiện rõ ràng (Kinh văn). Hiển hiện là thấy, ý ấy vi diệu, câu này không thuận (chú). Lại như Ấm trì nhập kinh chú hai quyển của Trần tuệ đời Ngô, Viên giác kinh lược sớ chú 4 quyển của Tôn mật và Tứ phần luật hàm chú giới bản ba quyển của Đạo tuyên đời Đường, Chú Tứ thập nhị chương kinh một quyển của Tống chân tông, Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh 20 quyển của Tử tuyền đời Tống, Chú giải kinh kim cương bát nhã của Tôn lặc và Như khởi đời Minh v.v... đều theo phương thức trên. Lại Pháp hoa kinh khoa chú 10 quyển của Thủ luân đời Tống thì kiêm cả khoa văn và chú. Như thế đủ biết, hình thức chú kinh đã có chuyển biến. 2. Ở giữa khoảng chính văn chua thêm hai dòng chữ nhỏ (như đồ biểu). Chú Duy ma cật kinh 10 quyển của Tăng triệu đời Hậu Tần, Chú Lăng nghiêm kinh (quyển đã rách nát) của Trí nghiêm đời Đường, Chú Kim cương bát nhã kinh 3 quyển của Tuệ tịnh, Chú Diệu pháp liên hoa kinh 10 quyển (không rõ tên người soạn) v.v... đều theo hình thức trên. Nhưng trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh, Chú Duy ma cật kinh của Tăng triệu, vẫn chưa dùng hình thức hai dòng chữ nhỏ bên cạnh kinh văn, mà là ở phía dưới câu chính văn để cách một khoảng rồi in kiểu chữ cùng một cỡ với chữ của chính văn, Đây có lẽ muốn tiện cho việc ấn loát mà thay đổi hình thức chăng? [X. Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)].
chú thư
Chú Khởi Tử—Chú Thi Quỷ—Phép Úy Đà La—Niệm chú khiến cho tử thi như có quỷ nhập đứng dậy, có thể sai đi báo thù hay khiến chết người khác—An incantation for raising the vetala or corpse-demons to cause the death of another person.
chú thất phật diệt tội chơn ngôn
The True Words Of Seven Buddhas For Eradicating Offenses Mantra.
chú thệ
(咒誓) Có nghĩa là đến trước Phật thánh mà thề, xin chứng minh cho lời nói của mình là đúng sự thật, không sai trái. Đức Phật cấm các Tỉ khưu không được chú thệ. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 19 chép, thì vào thời Phật, nếu có việc gì, sáu chúng thường hay viện đến Tam bảo Phật pháp tăng để thề bồi. Các cư sĩ tại gia thấy thế rất bất mãn và nói với Tỉ khưu là người xuất gia không nên mang tên của Phật của thầy ra mà làm như thế. Đức Phật nghe các Tỉ khưu kháo chuyện lại với nhau, Ngài bèn răn cấm đại chúng, bảo rằng các cư sĩ nói rất đúng, những người xuất gia nguyện nói những lời chân thực mà không cần phải thề bồi, nếu ai chú thệ sẽ phạm tội Việt pháp, là trái vượt phép bí mật của chư Phật ba đời. Nhưng cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ đoạn 4, khi dẫn các luật điển, có phép là nếu có thề, thì phải nói Na mô Phật.
chú thủ lăng nghiêm
Shurangama Mantra.
chú tiêu tai cát tường
Disaster Eradicating Auspicious Spirit Mantra.
chú tiểu
A Buddhist novice.
chú trở
(咒詛) Là hành vi dùng lời bí mật cầu xin thẩn minh giáng tai ách cho kẻ thù. Còn gọi là Trở chúc...... Tại Ấn độ xưa, có hai loại chú pháp thịnh hành, một loại chú pháp tốt lành thêm ích (Phạm: Atharva), và một loại chú pháp điều phục (Phạm: Aígiras). Loại sau lại có phép điều phục ác ma và oán địch (Phạm: Àbhicarikàni) hoặc khiến cho chú trở của kẻ khác không còn hiệu lực, mà là phép phản kích trở lại phá diệt người chú trở (Phạm: Kftya-pratiharaịàni). Trong A thát bà phệ đà (Phạm: Atharvaveda) có chép các loại phép chú và vật chú. Trong Phật giáo cũng có ghi chép về loại phép chú này, và trong các kinh có nói xa lìa chú trở. Cứ theo kinh Dược sư bản nguyện nói, thì có những chúng sinh tính tình ngang ngược, thích đánh nhau, kiện tụng, sinh tâm ác đối với nhau, thân khẩu và ý bèn làm các điều ác, luôn luôn nghĩ kế hãm hại đối phương. Như cầu xin thần rừng, thần cây, thần núi, thần mồ mả, giết hại súc sinh, lấy máu thịt tế cúng hết thảy dạ xoa, la sát để cầu xin giúp đỡ cho việc làm ác hại của mình - lại viết tên của người mà mình thù ghét, vẽ hình dáng, rồi làm các loại chú thuật độc hại, khởi thi quỉ chú v.v... để giết hoặc làm tổn hại thân thể kẻ thù. Nếu những người như thế mà được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu li quang Như lai, thì sẽ tránh được sự thương tổn của ác chú, sẽ khởi tâm từ bi, tâm lợi ích, tâm không hiềm hận, tất cả đều vui hòa, yêu mến giúp đỡ lẫn nhau. Cứ theo đoạn văn thuật trên đây, có thể biết, tại Ấn độ thời xưa, hành vi dùng chú trở hãm hại kẻ địch đã rất phổ biến. [X. kinh Đại bảo tích Q.91 - kinh Tứ thiên vương - luận Thuận chính lí Q.42 - Pháp hoa kinh huyền tán Q.10 phần cuối - Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].
chú tâm
The heart of a spell, or vow.
; Những điều cốt yếu của lời chú—The heart of a spell—To pay attention to—A vow.
; (咒心) Tâm, chỉ tinh yếu. Chú tâm có nghĩa là sự tinh yếu trong các chú. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7 chép, thì đức Phật đã từng lấy chú Thủ lăng nghiêm làm chú tâm và bảo Đại chúng rằng, mười phương Như lai nhờ chú tâm này mà thành tựu được Vô thượng chính đẳng chính giác. Lại nữa, mười phương Như lai trì chú tâm này, có thể ở mười phương xoa đầu thụ kí. Lại như chú trong Bát nhã tâm kinh, cũng là tinh yếu trong chú, cũng có thể gọi là chú tâm. [X. Thiền lâm tượng khí tiên đệ thập thất loại Phúng xướng môn].
chú tâm cảnh giác
Theo Kinh Hữu trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy về 'Chú tâm cảnh giác' như sau—According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed his noble disciples on devotion to wakefulness as follows: 1) Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp: During the day, while walking back and forth and sitting, a noble disciple purifies his mind of obstructive states. 2) Ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp: In the first watch of the night, while back and forth and sitting, he purifies his mind of obstructive states. 3) Ban đêm trong canh giữa, vị nầy nằm xuống phía hông phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại: In the middle watch of the night he lies down on the right side in the lion's pose with one foot overlapping the other, mindful and fully aware, after noting in his mind the time for rising. 4) Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp: After rising, in the third watch of the night, while walking back and forth and sitting, he purifies his mind of obstructive states.
chú tạng
Một trong bốn tạng kinh, toàn bộ từ điển của Đà La Ni—One of the four pitakas, the thesaurus of dharanis.
; (咒藏) Là một trong bốn tạng, một trong năm tạng. Còn gọi là Cấm chú tạng, Đà la ni tạng. Tức ngoài ba tạng Kinh, Luật, Luận ra, còn lập riêng Chú tạng là kinh điển chuyên môn thu thập những chân ngôn bí mật và các đà la ni do đức Phật nói. (xt. Ngũ Tạng, Tứ Tạng).
chú tặc kinh pháp
(咒賊經法) Là phép bí mật tu để trừ nạn giặc cướp, được tông Chân ngôn Nhật bản coi trọng. Cứ theo kinh Tịch trừ tặc hại chú chép, thì quỉ thần vương Mặc lị âm lị ở trên núi Kiện đà ma ha thuật phương bắc, có bốn chị em, đều có phép trừ giặc. Như An đàn ni có thể trừ giặc lòa mắt, Vô ha ni có thể khiến giặc đứng, Ế ma ni có thể khiến giặc ngồi, Vô kha ni có thể khiến giặc ngu si. Người tu chân ngôn nếu y vào kinh này mà tu thì có thể trừ được giặc cướp, vào ngày 29 hàng tháng, thắp 7 ngọn đèn trước bàn Phật, thắp hương rải hoa, chú nguyện Quỉ tử mẫu, cũng tụng kinh này 7 biến, thì có thể khỏi nạn giặc cướp. Người dịch và người soạn kinh này không rõ là ai. Có thuyết nói kinh này là do Tiểu dã Nhân hải, vị tăng Nhật bản, dựa vào kinh Khổng tước mà soạn thành, nhưng ba tạng Tống Nguyên Minh và tạng Cao li đều có thu kinh này, vì thế, không phải do người Nhật ngụy soạn. Lại Xuất tam tạng kí tập quyển 4 Tân tập lục soạn thất dịch tạp kinh lục, cũng có chép Chú tặc 1 quyển (hoặc gọi là Tịch trừ tặc hại chú), do đó mà biết, tại Trung quốc, kinh này đã được san hành ở đời từ thời đại Nam triều Lương trở về trước. Bởi thế, cũng có học giả cho rằng kinh này đã được dịch vào thời Đông Tấn.
chú vãng sanh
Rebirth Dharani Mantra.
chú vãng sanh tịnh độ
Spirit Mantra For Rebirth In The Pure Land.
chú ýù
Attention—To pay attention to.
chú đại bi
Great Compassion Mantra: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, Ma ha tát đỏa bà da, Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, Số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, Bà lô yết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, Hê rị ma ha bàn đa sa mế, Tát bà a tha đậu du bằng, A thệ dựng, Tát bà tát đa na ma bà dà, Ma phạt đạt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, Lô ca đế, Ca ra đế, Di hê rị, Ma ha bồ đề tát đỏa, Tát bà tát bà, Ma ra ma ra, Ma hê ma hê, rị đà dựng, Cu lô cu lô kiết mông, Độ lô độ lô phạt xà da đế, Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra, Địa rị ni. Thất Phật ra da, Dá ra dá ra, Mạ mạ phạt ma ra, Mục đế lệ, Y hê y hê, Thất na thất na, A ra sâm Phật ra xá lợi, Phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, Tất rị tất rị. Tố rô tố rô, Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ, Na ra cẩn trì , Địa rị sắc ni na, Ba dạ ma na, Ta bà ha. Tất đà dạ, Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ, Thất bàn ra dạ, Ta bà ha, Na ra cẩn trì , Ta bà ha, Ma ra na ra, Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, Ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, Ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, Nam mô a rị da Bà lô kiết đế, Thước bàn ra dạ, Ta bà ha. Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà dạ, Ta bà ha ( 3 lần). Namo ratnatrayaya Namo Arya Avalokiteshavaraya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahaka-runikaya Om! Savalavati Sudhanatasya Namaskrittva naman arya Avalokitashavara lantabha Namo Nilakantha Srimahapatashami Sarvadvatashubham Ashiyum Sarvasattva namo pasattva namo bhaga Ma bhate tu Tadyatha Om! Avaloka Lokate Kalati Ishiri Mahabodhisattva Sabho Sabho Mara Mara Mashi Mashi ridhayu Guru guru ghamain Dhuru dhuru Bhashiyati, Maha Bhashiyati. Dhara dhara Dhirini Shvaraya Jala jala Mahabhamara Mudhili E hy e hi Shina shina Alashinbalashari Basha bhasnin Bharashaya Hulu hulu pra Hulu hulu shri Sara sara Sitri sitri Suru suru Buddhaya buddhaya Bodhaya bodhaya Maitriye Nilaskanta Trisa rana Bhaya mane Svaha Sitaya Svaha Maha Sitaya Svaha Sitayaye Nilakansta Shvaraya Svaha Nilakanthi Svaha Pranila Svaha Shrisimhamukhaya Svaha Sarvamahasastaya Svaha Chakra astaya Svaha Padmakesshaya Svaha Nilakantepantalaya Svaha Mopholishankaraya Svaha Namo ratnatrayaya Namo arya Avalokite Shavaraya Svaha Om! Siddhyantu Mantra Pataya Svaha (3 times).
chú đồ bán thác ca
Udapanthaka (S)Tên một vị đệ tử của đức Phật. Một trong 16 vị đại A la hán đước đức Phật cử đi hoằng pháp nước ngoài.
; Cudapanthaka (skt)—Tên của vị La Hán thứ 16 trong 16 vị La Hán—Name of the sixteenth of the sixteen arhats.
; (注荼半托迦) Phạm: Cùđapanthaka, Pàli: Cùơapanthaka. Là một trong mười sáu vị La hán. Còn gọi là Chu lị bàn đặc ca, Chu lâm ban đặc. Nói tắt là Ban đặc, Ban đà, Ban thỏ. Dịch ý là đường nhỏ, sinh bên đường. Là con của người Bà la môn ở thành Xá vệ, sau cùng với anh là Ma ha bàn đặc ca (Phạm: Mahàpanthaka) cùng làm đệ tử của đức Phật.(xt. Chu Lị Bàn Đặc).
Chú 呪
[ja] ジュ ju ||| Charm, spell, incantation, mantra, dhārani. Mantras and dhāraṇīs are often found in Mahāyāna sutras, and are especially prevalent in the scriptures of the Esoteric school 密教. => Sức thâu nhiếp, câu thần chú, sự trì niệm thần chú, mạn-đà-la, đà-la-ni. Mạn-đà-la và đà-la-ni thường thấy trong các kinh điển Đại thừa, đặc biệt được dùng nhiều trong các kinh văn Mật giáo.
Chú 咒
[ja] ジュ ju ||| Chinese translation of the Sanskrit dhāraṇī or mantra; a mystical invocation. See 陀羅尼. => Tiếng Hán dịch từ chữ dhāraṇī hay mantra của tiếng Sanskrit; có nghĩa là thần chú. Xem đà-la-ni 陀羅尼.
Chú 注
[ja] チュウ chū ||| (1) Pour into, pour on, flow into, fill, add to. The mind flowing in a certain direction. (2) To exegete; to write a commentary on a text. => Rót vào, đổ vào, chảy vào, rót đầy, thêm vào. Tâm hướng về một mục tiêu khác. Chú giải; viết chú thích, dẫn giải về một bản kinh.
Chú-đồ Bán-thác-ca
注荼半託迦; S: cūḍapantbaka; C: zhùtú-bàntuōjiā; J: chūdabantaka;|Một trong 16 vị A-la-hán phát nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì chính pháp.
Chú-đồ-bán thác-ca 注荼半託迦
[ja] チュウダハンタクカ Chūdabantaka ||| Cūḍapantbaka, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => (s: Cūḍapantbaka). Một trong 16 vị A-la-hán phát nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì chính pháp.
chúa bản sơ
Adi-nātha (S), Primal creator.
chúa các bài hát
Gāthapati (S), Lord of songs.
chúa tạo vật
Xem Ba xà ba đề. Xem Chúng sanh chủ
chúc
1) Căn dặn: To tell (speak of the dead)—To order—To bid. 2) Cháo: Rice-noodle (soup)—Congee—Gruel. 3) Lời chúc tụng: To wish—To invoke, either to bless or curse.
; (粥) Phạm: Peyà hoặc Pejà. Còn gọi là Tiểu thực...... Tức bỏ một ít gạo và đổ nhiều nước nấu thành cháo loãng. Mỗi buổi sáng ăn cháo là phép thông thường trong Thiền lâm. Lại Thích môn chính thống quyển 3 chép, lúc tờ mờ sáng, đã trông rõ những chỉ tay trong bàn tay thì được phép ăn cháo. Có rất nhiều loại cháo, cứ theo luật Thập tụng quyển 29 liệt kê tám thứ là: cháo váng sữa, cháo dầu, cháo vừng (mè), cháo sữa, cháo đậu, cháo đậu nhỏ, cháo hạt gai, cháo suông (trắng). Lại Thiền lâm tượng khí tiên Ẩm đạm môn, thì liệt kê cháo ngũ vị, cháo anh lạc, cháo hồng điều. Trong đó, cháo ngũ vị là cháo ngày đức Phật thành đạo mồng 8 tháng 12, dùng các loại gạo đủ mùi vị để nấu, cho nên gọi là Lạp bát chúc (cháo ngày 8 tháng chạp), còn gọi là Hồng tao (bã rượu đỏ). Cháo anh lạc là cháo dùng rau dệu (tập tàng) nấu lẫn với gạo mà thành, vì rau dệu dắt díu nhau lằng nhằng, y như chuỗi ngọc anh lạc, cho nên gọi như thế. Cháo hồng điều tức là cháo đậu đỏ, là cháo ăn vào ngày 15 tháng 1. Trong tùng lâm, người trông nom việc ăn cháo buổi sáng, gọi là Chúc đầu - vị tăng chỉ ăn cháo không ăn bất cứ thứ gì khác, gọi là Chúc phạn tăng - sau bữa cháo sáng, gọi là Chúc bãi - cháo sáng và cháo chiều, gọi gộp lại là Lưỡng chúc (hai cháo). Ngoài ra, cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 29 chép, thì cháo có mười điều lợi ích là: tăng trưởng sắc, lực, sống lâu, vui vẻ, tiếng nói trong trẻo, nói năng lưu loát, tiêu hóa thức ăn hôm trước, trừ phong, trừ đói, trừ khát v.v... khiến người ta tu được lợi ích, cho nên gọi là Lương dược..... (thuốc hay). Còn theo luật Tứ phần quyển 13, thì cháo có năm điều lợi là trừ đói, trừ khát, trừ phong, tiêu thức ăn hôm trước và thông đại tiểu tiện. [X. luật Ma ha tăng kì Q.34 - luật Tứ phần Q.14 - luật Ngũ phần Q.29 - luật Thập tụng Q.14 - Pháp uyển châu lâm Q.42 - Thiền lâm tượng khí tiên, Tiết thời môn, Chức vị môn].
chúc dung
(祝融) Là ông vua đời xưa trong truyền thuyết dân gian Trung quốc. Vì vua này đem lửa cho mọi người, nên gọi là Xích đế. Có thuyết bảo là Hỏa quan đời Đế khốc, người đời sau tôn làm thần lửa. [X. Sử kí Sở thế gia].
chúc hương
(祝香) Trong tùng lâm, vào những dịp lễ chúc Thánh hoặc đản sinh, trước khi vị trụ trì lên nhà giảng thuyết pháp, trước hết, phải thắp hương cầu nguyện. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 mục Phật giáng đản (Đại 48, 1115 hạ), nói Đặt tượng Phật giáng sinh trong cái chậu nước thơm, để hai cái phễu nhỏ trước Phật, cúng dường xong, trụ trì lên chúc hương. Văn chúc đọc khi chúc hương, gọi là Chúc hương văn.
Chúc hỗ
(祝嘏): chúc phúc, chúc mừng lễ thọ, phần lớn dùng cho tầng lớp Hoàng thất, quý tộc, v.v. Như trong Thanh Sử Cảo (清史稿), phần Đức Tông Kỷ (德宗紀), có đoạn: “Dụ bổn niên Vạn Thọ vô dong cáo tế, đình thăng điện lễ, miễn các tỉnh văn võ đại viên lai kinh chúc hỗ (諭本年萬壽毋庸告祭、停升殿禮、免各省文武大員來京祝嘏, [vua ban] hiểu dụ rằng lễ Vạn Thọ năm nay chớ dùng cáo tế, đình chỉ việc lên điện lễ bái, miễn cho quan viên văn võ các tỉnh về kinh chúc thọ).” Hay trong tác phẩm Đối Sơn Dư Mặc (對山餘墨), chương Mỗ Công Tử (某公子), của Mao Tường Lân (毛祥麟, ?-?) nhà Thanh, cũng có câu: “Thám tri công tử đản thần, đặc lai chúc hỗ (探知公子誕辰、特來祝嘏, hỏi thăm biết sinh nhật công tử, tôi đặc biệt đến chúc mừng thọ).” Hoặc trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Lục An Nhân (陸安人), lại có đoạn: “Tứ tuần sinh nhật, hựu ư Sư Lâm Tự cúng phạn tăng, thân hữu chúc hỗ giả, dĩ sở phán Pháp Hoa, Hoa Nghiêm đẳng kinh thí tặng (四旬生日、又於師林寺供飯僧、親友祝嘏者、以所刊法華、華嚴等經施贈, vào ngày sinh nhật bốn mươi tuổi, ông lại cúng dường trai tăng tại Sư Lâm Tự, thân hữu đến chúc mừng thọ, lấy các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, v.v., được san hành ban tặng).”
chúc hữu thập lợi
(粥有十利) Luật Ma ha tăng kì quyển 29 nói, ăn cháo có mười thứ lợi ích như sau: 1. Tư sắc, giúp ích thân thể, da dẻ mịn màng. 2. Tăng lực, bù đắp sự suy yếu, tăng thêm khí lực. 3. Ích thọ, bồi dưỡng nguyên khí, tăng thêm tuổi thọ. 4. An lạc, trong sạch nhẹ nhàng, ăn vào yên vui. 5. Từ thanh, khí không ngưng trệ, giọng nói thanh thoát. 6. Biện thuyết, nhuần thấm giọng, lưỡi, nghị luận trôi chảy. 7. Tiêu túc thực, khiến cho tì vị nóng ấm, tiêu hóa thức ăn hôm trước. 8. Trừ phong, điều hòa thông lợi, phong khí tiêu trừ. 9. Trừ cơ, vừa miệng no bụng, trừ được sự đói. 10. Tiêu khát, họng, lưỡi nhuần thấm, trừ hết khô khát. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.43].
chúc lũy
To instruct; to give in charge; to entrust s.o. with sth. Final instructions.
chúc lụy
Dặn dò (về việc hoằng trì Chánh Pháp)—To entrust to—To lay responsibility upon.
; (囑累) Chúc, nghĩa là dặn dò, phó thác - Lụy, nghĩa là gánh vác sự vất vả phiền lụy. Có nghĩa là đem công việc mà giao phó và dặn dò người khác khiến họ gánh vác. Trong tông môn, mỗi khi đem đại pháp của Phật tổ trao truyền khiến người sau gìn giữ và phát huy, thì gọi là Chúc lụy. [X. Duy ma kinh sớ lược Q.10 phẩm Thích chúc lụy (Trí khải)].
chúc lụy phẩm
(囑累品) Tên phẩm trong bộ kinh giao phó sự truyền bá rộng rãi bộ kinh ấy. Thông thường được đặt ở cuối kinh, như phẩm thứ 17 trong kinh Văn thù sư lị vấn, phẩm thứ 14 trong kinh Duy ma cật sở thuyết, đều là những phẩm Chúc lụy. Nhưng trong hai mươi tám phẩm của kinh Pháp hoa, phẩm Chúc lụy là phẩm thứ 22, tông Pháp tướng cho là sắp đặt thứ tự có sự nhầm lẫn, song tông Thiên thai thì cho thế là đúng, vì mỗi tông chấp theo mỗi thuyết.
Chúc lụy 囑累
[ja] ゾクルイ ショクルイ zokurui shokurui ||| Final commission; transmission, entrustment (Skt. anuparīndanā). Synonymous with 付屬. 〔法華經 T 262.9.52a17〕 => Sự uỷ thác nhiệm vụ cuối cùng; sự truyền thừa, giao phó nhiệm vụ. (s: anuparīndanā). Đồng nghĩa với Phó chúc 付屬.
chúc mừng
To congratulate.
chúc ngôn
Will.
chúc phát
(祝發) Chúc, hàm ý là sự cắt đứt, bởi thế, chúc phát đồng nghĩa với thế phát, trĩ (thế) phát, tức có nghĩa là cạo tóc xuất gia. (xt. Thế Phát).
chúc phúc
To wish happiness.
chúc phúc sanh nhật
To invoke blessing on someone's birthday.
chúc phạn tăng
Một vị Tăng chỉ biết có cơm và cháo, ý nói vô dụng—A rice-gruel monk, or gruel and rice monk, i.e. useless.
Chúc Thánh
(祝聖, Shukushin): nghĩa là cầu chúc thọ mạng quốc vương được vô cùng. Từ đó, vào những dịp thánh tiết, nghi lễ này được tiến hành nhằm cầu nguyện cho thánh thọ vô cùng. Như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) cho thấy rằng xưa kia các Thiền lâm Trung Quốc đã từng phát hành tờ Thánh Tiết Do (聖節由) như là giấy chứng nhận có hành trì lễ Chúc Thánh này. Lễ này được tiến hành vào ngày mồng 1 và 15 mỗi tháng. Tại các nước Phật Giáo Đại Thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam vẫn còn duy trì nghi thức này cho đến ngày nay.
chúc thánh
Chúc phúc trong ngày sinh nhựt của hoàng đế—To invoke blessings on the emperor's birthday.
; (祝聖) Tức là nghi lễ trong Thiền lâm cầu chúc Hoàng đế sống lâu muôn tuổi. Niên hiệu Thần gia năm đầu (428) đời Bắc Ngụy, vào dịp Thánh tiết của Thái vũ đế, các chùa được lệnh dựng đạo tràng chúc thọ, cầu nguyện Hoàng đế bình an trường thọ. Khoảng năm Khai nguyên đời Đường cũng có ghi chép về việc này. Năm Khai bảo thứ hai (969) đời Bắc Tống, nhân dịp Thánh tiết Thái tổ, chư tăng được vời vào điện để thi hạch học nghiệp, nhận áo đỏ, từ đó về sau cứ dịp Thánh tiết lại lên tòa thuyết pháp để chúc thọ Hoàng đế. Cứ theo Sắc tu bách trượng thanh quy quyển 1 nói, thì vào ngày Cảnh mệnh (ngày vua lên ngôi), bốn ngày trai (mùng 1, 15, mùng 8, 23) và sóc vọng (mùng 1, 15 mỗi tháng) cử hành nghi lễ tại Tạng điện, đều là để chúc mừng Hoàng đế. Vị trụ trì lên tòa nói pháp vào dịp chúc thọ Hoàng đế, gọi là Chúc Thánh thướng đường, thắp hương chúc thọ, gọi là Chúc Thánh niêm hương. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 23 (Vạn tục 118, 227 hạ) nói: Ngày đầu tiên thầy lên tòa nói pháp, đại chúng tề tựu, thầy cầm hương dạy chúng rằng: Nén hương này chẳng phải từ phương khác mà có được, mà có ngay ở đất nước này của các vị, vậy hãy nguyện cầu cho Hoàng đế sống lâu muôn tuổi, các hiền thần nghìn năm, văn võ bách quan thường yên ngôi vị. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4 - Đại giác thiền sư ngữ lục Q.thượng - Q.trung - Thiền lâm tượng khí tiên Tùng quĩ môn].
chúc thánh tự
(祝聖寺) Chùa ở mạn tây bắc cách huyện Hành sơn tỉnh Hồ nam độ 17 cây số, tức ở chân núi phía nam của núi Nam nhạc. Ngài Tuệ tư là tổ khai sơn, các sư H o a i nhượng, Ảo hữu, Chính truyền và Mật vân Viên ngộ đều đã từng ở chùa này. Sư Thừa viễn đời Đường đã từng thiết lập đạo tràng Ban chu tại đây, chuyên tu niệm Phật, vì thế, chùa này còn được gọi là Di đà tự. Cuối năm Đại lịch (766-779) thời Đại tông, chùa được ban tên là Ban chu đạo tràng. Sau đổi là Thắng nghiệp tự. Năm Khang hi 16 (1677), chùa được đặt làm Hàn cung, do đó mới đổi tên là Chúc thánh Thiền tự. Gác kinh của chùa hiện còn tàng trữ Nam tạng đời Minh. [X. Đại thanh nhất thống chí Q.281].
chúc thọ
To wish a long life.
chúc tụng
To compliment—To praise—To congratulate.
chúc đài
(燭臺) Là cái đài để thắp đèn sáp, thông thường gọi là cây đèn. Một trong ba cụ túc, một trong năm cụ túc. Là đồ thờ đặt trước bàn Phật cùng với lư hương, lọ hoa. Vì tại Ấn độ có lệ cúng đèn sáng trước bàn Phật, cho nên làm đài để thắp đèn dầu - đến khi có đèn sáp, mới làm chúc đài để thay thế. Đài phần nhiều được làm bằng kim thuộc và có nhiều hình dáng khác nhau. (xt. Tam Cụ Túc).
chúng
Parisa (P), Group of followers Tăng chúng.
; Samgha (S). All, the many; a company at least three (or four).
; 1) Công chúng: The public. 2) Tất cả: All—Many—A company of at least three—Group. 3) Theo Phật giáo thì chúng Tăng là một tập hợp của tất cả Tăng chúng hay ít nhất là ba vị Tăng hay Tam Tăng: Samgha (skt)—According to the Buddhist rules, an assembly of monk is an assembly of all monks or a company of at least three monks.
chúng bạn
Friends.
chúng bảo quan âm
(衆寶觀音) Là một trong ba mươi ba hóa thân Quan âm. Ngồi trên dốc núi, chân phải duỗi thẳng, tay phải ấn xuống đất, đầu gối trái dựng đứng, tay trái đặt trên đầu gối trái, hiện tướng an ổn. [X. kinh Pháp hoa Q.7 phẩm Phổ môn].
chúng dường
Samghapàla (S). Name. Also Tăng già ba la.
chúng dưỡng
Shanghapala (S)Tên một vị sư.
chúng dị
Vaisvantara (S)Tên riêng của Thái tử Tất đạt Đa.
chúng hiền
Shanghabhadrā (S), Saṃghavarti (S), Tăng Già bạt TrừngTên một vị sư. Xem Tăng Già bạt Đà la.
chúng hiện
Samghavarti(S); Name. Also Tăng già bạt trừng.
chúng hiệp địa ngục
Shanghata (S), Shanga Đôi áp địa ngục.
chúng hà
Xem Tăng Già Nan Đề tổ sư.
; Samghanandi (S). Name. Also Tăng già nan đề.
chúng hương quốc
(衆香國) Tức là nước Phật tràn đầy mùi thơm vi diệu. Cứ theo kinh Duy ma quyển hạ phẩm Hương tích Phật, thì từ phương trên, cách hai mươi bốn hằng hà sa cõi Phật, có nước tên là Chúng hương, Phật hiệu Hương tích, lầu gác vườn tược trong nước ấy đều thơm, mùi thơm bay khắp mười phương vô lượng thế giới. Cõi Tịnh độ của Hương tích Như lai ấy, gọi là Chúng hương quốc độ. Ngoài ra, nước Kiện đà la (Phạm: Gandhàra) cũng dịch ý là Chúng hương quốc.
chúng hương quốc độ
Quốc độ của tất cả hương thơm hay cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—The country of all fragrance, i.e. the Pure Land.
chúng học
Śaikṣaka (S)Những lỗi thông thường có ghi trong Luận tạng.
; (衆學) Tức là những giới pháp nhỏ nhặt liên quan đến các việc ăn, mặc, đi, đứng của các tỉ khưu tu hành. Nói đủ là Chúng đa học pháp (Phạm: Saôbahulà# zaikwadharmà#). Còn gọi là Chúng học giới pháp, Chúng học pháp. Là một bộ phận của giới Cụ túc mà tỉ khưu, tỉ khưu ni phải thụ trì. Là đoạn thứ bảy trong tám đoạn của giới Tăng, nếu phạm thì thuộc tội nhẹ. Là các phép tắc qui định về việc ăn mặc, uy nghi đi đứng, con số có nhiều, phải học tập luôn, cho nên gọi là Chúng học. Lại giới này khó giữ, phải thường xuyên lưu tâm chú ý, cho nên đặc biệt gọi là học. Còn gọi là Thức xoa la na ni (Phạm: Zikwa-karaịìya), Thi sa ca la ni, Thi xoa kế lại ni, Thức xoa yết lan ni, Thi xoa cát lị. Dịch ý là phải nên học, phải học làm, răn giữ. Về số mục và nội dung của Chúng học, vì việc nhiều mà lại vụn vặt, cho nên các luật ghi chép có không ít chỗ sai khác nhau, trong đó, luật Tứ phần gọi tóm là Trăm giới, cho nên thông thường gọi là Bách chúng học pháp...... Lại nữa, Bách chúng học pháp của tỉ khưu và của tỉ khưu ni không giống nhau. Theo luật Tứ phần quyển 19 đến quyển 21 chép, Bách chúng học pháp của tỉ khưu được liệt kê như sau: 1. Phải mặc Niết bàn tăng (áo trong) một cách gọn gàng ngay ngắn. 2. Phải mặc ba áo một cách tề chỉnh. 3. Không được vắt áo lên hai vai mà đi vào nhà tại gia. 4. Không được vắt áo trên vai vào nhà tại gia mà ngồi. 5. Không được quấn áo vào cổ mà đi vào nhà tại gia. 6. Không được quấn áo lên cổ đi vào nhà tại gia mà ngồi. 7. Không được che đầu đi vào nhà tại gia. 8. Không được che đầu vào nhà tại gia mà ngồi. 9. Không được nhảy cẫng đi vào nhà tại gia. 10. Không được nhảy cẫng đi vào nhà tại gia mà ngồi. 11. Không được ngồi chồm hổm (ngồi xổm) trong nhà tại gia. 12. Không được tréo tay sau lưng đi vào nhà tại gia. 13. Không được tréo tay sau lưng vào nhà tại gia mà ngồi. 14. Không được lắc lư đi vào nhà tại gia.15. Không được lắc lư đi vào nhà tại gia mà ngồi. 16. Không được khoa tay đi vào nhà tại gia.17. Không được khoa tay đi vào nhà tại gia mà ngồi. 18. Phải che thân thể cho kín đáo mà đi vào nhà tại gia. 19. Phải che thân thể cho kín đáo đi vào nhà tại gia mà ngồi. 20. Không được nhìn đông ngó tây mà đi vào nhà tại gia. 21. Ngồi trong nhà tại gia không được nhìn đông ngó tây. 22. Yên lặng mà đi vào nhà tại gia. 23. Ngồi trong nhà tại gia phải giữ yên lặng. 24. Không được cười đùa mà đi vào nhà tại gia. 25. Ngồi ở nhà tại gia không được cười đùa. 26. Khi ăn phải chuyên tâm chú ý, không được làm vương vãi cơm canh. 27. Không được lấy cơm đầy bát khi ăn. 28. Canh phải múc vơi bát, không được múc đầy. 29. Cơm canh ăn cùng một lúc. 30. Ăn theo thứ tự, không được lấy trong bát chỗ này một miếng, chỗ kia một miếng. 31. Khi ăn không được khua bát thành tiếng. 32. Nếu tỉ khưu không đau ốm thì không được đòi cơm canh cho mình. 33. Không được lấy cơm đậy lên thức ăn để mong được thêm. 34. Không được nhìn vào bát của người ngồi bên cạnh mà so sánh phần lượng. 35. Khi ăn không được nhìn ngang nhìn ngửa mà phải chú ý nơi bát ăn. 36. Không được và miếng thật to vào mồm đến phồng cả miệng má. 37. Không được há hốc miệng để và cơm. 38. Không được vừa ngậm cơm vừa nói chuyện. 39. Không được nắm miếng cơm mà ném vào miệng. 40. Không được để cơm rơi vãi. 41. Không được lè cơm ra mép. 42. Không được nhai cơm thành tiếng nhóp nhép. 43. Không được húp thức ăn sùm sụp. 44. Không được thè lưỡi khi ăn. 45. Không được nhặt thức ăn dính nơi tay mà đút vào miệng. 46. Không được cầm thức ăn trong tay mà vứt tứ tung. 47. Không được để tay bẩn mà cầm bát ăn. 48. Không được đổ nước rửa bát trong nhà tại gia. 49. Không được đại tiểu tiện hoặc khạc nhổ đờm dãi lên cỏ và lá cây. 50. Không được đại tiểu tiện khạc nhổ xuống nước. 51. Không được đứng mà đại tiểu tiện. 52. Không được nói pháp với người vắt áo trên vai tỏ dấu không cung kính. 53. Không được nói pháp cho người quấn áo trên cổ để nghe. 54. Không được nói pháp cho người che đầu nghe. 55. Không được nói pháp cho người trùm kín đầu nghe. 56. Không được nói pháp cho người đứng vắt tay sau lưng. 57. Không được nói pháp cho người đang mang giày nơi chân. 58. Không được nói pháp cho người đang mang guốc nơi chân. 59. Không được nói pháp cho người đang cưỡi ngựa ngồi xe. Quy định từ số (49) đến (59) trên đây được miễn trừ cho những người đau ốm. 60. Không được ngủ trong tháp Phật, trừ khi phải canh giữ. 61. Không được cất giữ tiền của trong tháp Phật, trừ trường hợp đề phòng trộm cướp. 62. Không được mang giày đi vào tháp Phật. 63. Không được cầm giày nơi tay đi vào tháp Phật. 64. Không được mang giày đi quanh tháp Phật. 65. Không được mang giày phú la (giày cao cổ, ủng) đi vào tháp Phật. 66. Không được cầm phú la ở tay mà đi vào tháp Phật. 67. Không được ngồi ăn cơm dưới tháp Phật và vứt cỏ rác hoặc vật nhơ bẩn trên mặt đất. 68. Không được mang xác chết đi qua dưới tháp Phật. 69. Không được chôn xác chết bên cạnh tháp Phật. 70. Không được đốt xác chết bên cạnh tháp Phật. 71 Không được quay vào phía tháp Phật mà đốt xác chết. 72. Không được đốt xác chết ở bốn bên tháp Phật khiến mùi hôi hám bay vào. 73. Không được mang quần áo hoặc giường chiếu của người chết đi qua tháp Phật. 74. Không được đại tiểu tiện bên cạnh tháp Phật. 75. Không được quay vào tháp Phật mà đại tiểu tiện. 76. Không được đại tiểu tiện ở bốn bên xung quanh tháp Phật khiến mùi hôi thối bay vào. 77. Không được mang tượng Phật đến nơi đại tiểu tiện. 78. Không được đứng hoặc ngồi mà xỉa răng dưới tháp Phật. 79. Không được quay vào tháp Phật mà xỉa răng. 80. Không được xỉa răng chung quanh tháp Phật. 81. Không được khạc nhổ dưới tháp Phật. 82. Không được quay vào tháp Phật mà khạc nhổ. 83. Không được khạc nhổ ở bốn bên xung quanh tháp Phật. 84. Không được quay vào tháp Phật mà ngồi dạng chân ra. 85. Không được để tượng Phật ở phòng dưới còn mình thì ở phòng trên. 86. Người ta ngồi mà mình đứng thì không được nói pháp cho họ. 87. Người ta nằm mà mình ngồi thì không được nói pháp. 88. Người ngồi trên tòa mà mình không ngồi tòa thì không được nói pháp. 89. Người ngồi tòa cao mà mình ngồi tòa thấp thì không được nói pháp. 90. Người đi trước mình đi sau, không được nói pháp. 91. Người đi trên chỗ cao, mình đi dưới chỗ thấp, không được nói pháp. 92. Người đi giữa đường, mình đi cạnh đường, không được nói pháp. Qui định từ số (86) đến (92) nói trên đây được miễn trừ cho những người đau ốm. 93. Không được nắm tay nhau mà đi trên đường. 94. Không được ở trên cây cao quá đầu người. Lí do chế giới này là vì đã từng có một tỉ khưu hạ an cư trên một cây to cao, rồi từ trên cây đại tiểu tiện, khiến thần cây tức giận giết chết vị tỉ khưu đó. 95. Không được mắc túi đựng bát vào đầu gậy rồi vác trên vai mà đi. 96. Người cầm gậy tỏ dấu không cung kính, không được nói pháp. 97. Người cầm gươm, không được nói pháp. 98. Người cầm giáo, không được nói pháp. 99. Người cầm dao, không được nói pháp. 100 Người cầm ô (dù), không được nói pháp. Giới pháp từ số (96) đến (100) được miễn trừ cho những người đau ốm. [X.Thiện kiến luật tì bà sa Q.16 - Tứ phần luật tỉ khưu hàm chú giới bản Q.hạ - Tứ phần luật tỉ khưu hàm chú giới bản sớ Q.hạ phần dưới (Đạo tuyên) - Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung đoạn 1, Q.trung đoạn 3]. (xt. Bách Chúng Học).
chúng học giới
Sata-saiksa (P)100 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
chúng học pháp
Saiksa-dharma (S)
chúng hội
An assembly (of all the monks, nuns, laypersons).
; Chúng Tăng—An assembly of all the monks.
chúng hợp địa ngục
Samghata (skt)—Địa ngục thứ ba trong Bát nhiệt địa ngục, nơi mà hai dãy núi gặp nhau và nghiền nát tội phạm—The third of the eight hot hells, where two ranges of mountains meet to crush the sinners. ** For more information, please see Địa Ngục (A) (a) (3).
; (衆合地獄) Chúng hợp, Phạm: saôghàta, dịch âm là tăng càn. Còn gọi là Tụ hạp, Đôi áp, Hợp hội. Là một trong tám địa ngục nóng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19 phẩm Địa ngục chép, thì trong ngục này có một núi đá lớn, tách làm hai nửa đối nhau, tội nhân tiến vào giữa, hai nửa núi đá tự nhiên sáp lại, ép nát xương thịt, thân thể tội nhân, sau lại tách làm hai nửa và trở lại chỗ cũ. Lại có một con voi lớn bằng sắt, toàn thân bốc lửa, nhảy vào tội nhân, khiến thân thể tội nhân nhừ nát máu mủ lênh láng. Lại có ngục tốt bắt tội nhân đặt lên tảng đá mài, rồi dùng đá chà xát, hoặc lấy một tảng đá lớn đè lên, sự khổ thảm khó nhẫn, dù mong một chút ngưng nghỉ cũng không thể được. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 6 nói, những người tạo ba nghiệp bất thiện là sát sinh, trộm cướp, gian dâm phải rơi vào địa ngục này, và theo nghiệp họ đã tạo mà chia làm thượng trung hạ, thượng thì rơi vào Hợp đại địa ngục gốc, còn trung và hạ thì sinh vào mười sáu nơi khác, chịu khổ rất lớn. [X. kinh Đại lâu thán Q.2 phẩm Nê lê - kinh Khởi thế Q.3 - luận Lập thế a tì đàm Q.8 - luận Đại tì bà sa Q.172]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).
chúng hứa ma ha đế kinh
Mahā-saṁmata-rāja (S)Tên một bộ kinh.
; (衆許摩呵帝經) Phạm: Mahàsammata-ràja. Gồm mười ba quyển. Do sư Pháp hiền đời Tống dịch. Cũng gọi là Chúng hứa ma ha đế thích kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 3. Là tiểu sử của đức Phật, tường thuật về nguồn gốc của giòng họ Thích, một đời đức Thích tôn, cho đến sự tích của Ô ba lê qui Phật. Đề kinh Chúng hứa là dịch ý chữ Tam ma đạt đa Phạm: Sammata), ông vua thời kiếp sơ, Ma ha đế (Phạm: Mahàràja), ý là Đại vương. Kinh này cùng với Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 1 đến quyển 9, do sư Nghĩa tịnh đời Đường dịch, là cùng bản mà dịch khác. Đặc sắc của kinh này là, trong các bản Phật truyện Hán dịch, đây là bản duy nhất thuộc hệ Tây tạng, song các danh từ cố hữu về địa danh và nhân danh đều là dịch âm của chữ Phạm. Ngoài ra, kinh này bắt đầu từ gia hệ thế tục của Phật Thích ca, chứ không đề cập đến pháp hệ của bảy đức Phật cho đến nghìn Phật ở quá khứ: đó cũng là một đặc sắc nữa. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.7 - Duyệt tạng tri tân Q.29].
chúng hữu
(衆祐) Tiếng tôn xưng đức Phật, là một trong mười hiệu của Như lai. Chúng hựu là các nhà dịch cũ dịch ý từ tiếng Phạm Bhagavat và tiếng Pàli: Bhagavant (phiên âm là Bà già bà, Bà già phạm). Từ đời Tây Tấn trở về sau, các nhà dịch mới dịch là Thế tôn. Tức có nghĩa là một người do nhiều đức giúp thành, nhiều phúc giúp thành, đầy đủ mọi đức mà được khắp đời tôn trọng cung kính. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 14 phẩm Cao chàng (Đại 2,615 thượng), nói: Nếu có người sợ hãi đến dựng cả lông tóc, lúc ấy nên nhớ đến thân ta như vầy: bậc Như lai, Chí chân, Đẳng chính giác, Minh hành thành vi, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên nhân sư, Hiệu Phật, Chúng hựu đã xuất hiện nơi đời thì sự sợ hãi dựng lông tóc ấy sẽ tự tiêu diệt. [X. luận Đại trí độ Q.2 - Huyền ứng âm nghĩa Q.1, Q.21].
chúng hựu
Vị hộ pháp—Protector or benefactor of Buddhism.
chúng khải
Xem Tăng Già Bạt Ma.
; Samghavarman (S). Name. Also Tăng già bạt ma.
chúng khổ
Tất cả những khổ đau của chúng sanh—All the miseries of existence—The sufferings of all beings.
chúng kinh mục lục
(衆經目錄) Là các thứ mục phân loại các kinh luận Hán dịch. Nói tắt là Kinh lục. Kinh lục sớm nhất là bản Hán lục do Chu sĩ hành đời Tam quốc ghi. Từ sau bản Tông lí chúng kinh mục lục của sư Đạo an được hoàn thành, thì mới hơi có đủ hình thức, và cũng mới bắt đầu gọi là Chúng kinh mục lục. Sư Bảo xướng đời Lương, Lí khuếch đời Bắc Ngụy, Pháp tạng đời Bắc Tề đều có soạn Chúng kinh mục lục, nhưng đã thất tán cả, hiện còn đến nay thì chỉ có hai loại đời Tùy và một loại đời Đường. Lại mục lục các kinh luận được soạn tập vào thời Vũ tắc thiên nhà Đường, đặc biệt gọi là Đại chu san định chúng kinh mục lục. I. Chúng kinh mục lục. Gồm bốn quyển. Do Bảo xướng đời Lương soạn. Còn gọi là Lương thế chúng kinh mục lục, Bảo xướng lục. Hiện đã mất. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11 Tề lương cập Chu đế đại lục chi tổng tự chép, thì vào năm Thiên giám 17 (518), nhà vua sai sa môn Bảo xướng soạn Kinh lục 4 quyển, gồm mười bảy khoa, khá tường tận. Cũng sách trên quyển 15 nêu lên các yếu mục, đại để bốn quyển thu chép một nghìn bốn trăm ba mươi ba bộ, một nghìn bảy trăm bốn mươi mốt quyển. Tập lục các kinh điển do An thế cao đời Hậu Hán đến Tuệ linh đời Lương phiên dịch, như Thiền kinh, Giới kinh, các kinh khác, Số luận, Chú sớ v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.1 truyện Bảo xướng - Đại đường nội điển lục Q.4 - Khai nguyên thích giáo lục Q.10 - Hậu Hán Tống Tề chí (.....) dịch kinh tổng lục (Thường bàn đại định)]. II. Chúng kinh mục lục. Có một quyển. Do Pháp thượng đời Bắc Tề soạn. Còn gọi là Tề thế chúng kinh mục lục, Pháp thượng lục, Đạt ma uất đa la lục. Nay đã thất lạc. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 nêu các yếu mục, cộng thu tất cả Kinh Luật Luận, cả thật và giả, gồm bảy trăm tám mươi bảy bộ, hai nghìn ba trăm ba mươi tư quyển. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ nói, thì bộ Kinh lục này ít nhất đã thu chép các kinh luật luận, Tạp tạng, kinh sao lại và các kinh ngờ là ngụy tạo, do An pháp hiền đời Tam quốc Ngụy đến Pháp ni đời Nam Tề phiên dịch. [X. Đại đường nội điển lục quyển 5 - Khai nguyên thích giáo lục Q.10]. III. Chúng kinh mục lục. Có một quyển. Do Lí khuếch đời Bắc Ngụy soạn. Còn gọi là Ngụy thế chúng kinh mục lục, Lí khuếch lục. Nay không còn. Bản Kinh lục này thu tập các kinh luật luận, các kinh có dịch mà không còn bản, tử chú, các kinh ngờ là giả, do An thế cao đời Hậu Hán đến Bồ đề lưu chi đời Hậu Ngụy phiên dịch, và cả các kinh luận chưa được dịch. Về niên đại soạn thuật thì có hai thuyết, một cho là khoảng năm Vĩnh bình (508-511) nhà vua ra chiếu chỉ soạn, một cho là khoảng năm Vĩnh hi (532-534) nhà vua ra chiếu chỉ soạn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, Q.15 - Đại đường nội điển lục Q.4]. IV. Chúng kinh mục lục. Gồm bảy quyển. Do Pháp kinh đời Tùy soạn. Còn gọi là Tùy chúng kinh mục lục, Pháp kinh lục. Thu vào Đại chính tạng tập 55. Thu chép các kinh luận được phiên dịch từ đời Hậu Hán đến đời Tùy. Lập thành chín lục, phân loại chép các mục của kinh được phiên dịch. Sáu quyển đầu là Biệt lục, quyển thứ bảy là Tổng lục, ngay đầu quyển có bài biểu dâng vua, kế đó, tổng kê mục thứ của bản lục. Theo quyển 7 chép chung chín lục, là: 1. Đại thừa Tu đa la tạng, ghi bảy trăm tám mươi tư bộ, một nghìn bảy trăm mười tám quyển. 2. Tiểu thừa Tu đa la tạng, ghi tám trăm bốn mươi hai bộ, một nghìn ba trăm linh bốn quyển. 3. Đại thừa Tì ni tạng, ghi năm mươi bộ, tám mươi hai quyển. 4. Tiểu thừa Tì ni tạng, ghi sáu mươi ba bộ, ba trăm tám mươi mốt quyển. 5. Đại thừa A tì-đàm tạng, ghi sáu mươi tám bộ, hai trăm tám mươi mốt quyển. 6. Tiểu thừa A tì đàm tạng, ghi một trăm mười sáu bộ, bốn trăm tám mươi hai quyển. 7. Phật diệt hậu sao tập, ghi một trăm bốn mươi tư bộ, sáu trăm hai mươi bảy quyển. 8. Phật diệt hậu truyện kí, ghi sáu mươi tám bộ, một trăm tám mươi lăm quyển. 9. Phật diệt hậu trứ thuật, ghi một trăm mười chín bộ, một trăm ba mươi tư quyển. Tổng cộng cả chín lục trên đây là hai nghìn hai trăm năm mươi bảy bộ, năm nghìn ba trăm mười quyển. Trong chín lục, sáu lục trước, mỗi lục đều có sáu phần là phần dịch, phần dịch khác, phần mất tên người dịch, phần biệt sinh, phần nghi ngờ, phần ngụy tạo - ba lục sau, mỗi lục có hai phần là phần Tây vực thánh hiền, phần Thử phương chư đức (các bậc Thánh hiền bên Tây vực, các bậc Đại đức ở Trung quốc), tất cả bốn mươi hai phần. những ghi chép trong bản lục này khá chính xác, nhất là phần nghi ngờ và ngụy tạo, đặc biệt được các học giả hiện đại coi trọng. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.10, Lịch đại tam bảo kỉ Q.3 - Đại đường nội điển lục Q.10]. V. Chúng kinh mục lục. Gồm năm quyển. Do các sa môn dịch kinh và một số học sĩ đời Tùy soạn chung. Sách được hoàn thành vào năm Nhân thọ thứ 2 (602) đời Văn đế nhà Tùy, người chủ soạn là Ngạn tông ở chùa Đại hưng thiện. Còn gọi là Tùy chúng kinh mục lục, Tùy nhân thọ niên nội điển lục, Nhân thọ lục, Ngạn tông lục. Thu vào Đại chính tạng tập 55. Trong sách phân loại chép ra các kinh điển được phiên dịch từ đời Hậu Hán đến đời Tùy. Chia làm năm phần: Đơn bản, Trùng phiên, Hiền thánh tập truyện, Biệt sinh, Nghi ngụy. Đơn bản lại được chia làm sáu khoa là Đại thừa kinh đơn bản, Đại thừa luật đơn bản, Đại thừa luận đơn bản, Tiểu thừa kinh đơn bản, Tiểu thừa luật đơn bản và Tiểu thừa luận đơn bản. Trùng phiên được chia nhỏ làm bốn khoa là Đại thừa kinh trùng phiên, Đại thừa luật trùng phiên, Đại thừa luận trùng phiên và Tiểu thừa kinh trùng phiên - Biệt sinh được chia nhỏ làm năm khoa là Đại thừa biệt sinh, Đại thừa biệt sinh sao, Tiểu thừa xuất biệt sinh, Tiểu thừa biệt sinh sao và Biệt tập sao. Đơn bản có ba trăm bảy mươi bộ, một nghìn bảy trăm tám mươi sáu quyển - Trùng phiên gồm hai trăm bảy mươi bảy bộ, năm trăm tám mươi ba quyển - Hiền thánh tập truyện có bốn mươi mốt bộ, một trăm sáu mươi tư quyển - Biệt sinh tám trăm mười bộ, một nghìn hai trăm tám mươi tám quyển - Nghi ngụy hai trăm lẻ chín bộ, bốn trăm chín mươi quyển - Khuyết bản bốn trăm linh hai bộ, bảy trăm bốn mươi bảy quyển. Tổng cộng tất cả là hai nghìn một trăm linh chín bộ, năm nghìn không trăm năm mươi tám quyển. Sự nghi chép về số quyển và tên các dịch giả khá rõ ràng. Cách phân loại của sách bắt chước Pháp kinh lục, nhưng khác xa Pháp kinh lục ở chỗ phân loại các bản có, bản thiếu mà Pháp kinh lục chưa phân loại, hơn nữa, bỏ bớt các kinh đã mất bản dịch và các sớ kí chưa được đưa vào Trung quốc. Sách này nay chỉ còn trong ba bản Tống, Nguyên, Minh, tạng Cao li thì thiếu. [X. Đại đường nội điển lục Q.10 - Khai nguyênthích giáo lục Q.7]. VI. Chúng kinh mục lục. Gồm năm quyển. Do Tĩnh thái đời Đường soạn. Còn gọi là Đại đường đông kinh Đại kính ái tự nhất thiết kinh luận mục, Tĩnh thái lục. Thu trong Đại chính tạng tập 55. Sách này là sự tăng bổ cho Chúng kinh mục lục do Ngạn tông đời Tùy soạn mà thành. Phần lớn tuy giống với Ngạn tông lục, nhưng trong số các bản thiếu, đã tìm được hai mươi bộ mới, hai mươi mốt quyển, đồng thời, tăng thêm bảy mươi lăm bộ, một nghìn ba trăm ba mươi lăm quyển dịch mới của Huyền trang. Tổng cộng thành hai nghìn hai trăm mười chín bộ, sáu nghìn chín trăm chín mươi tư quyển, nhưng thực thì là hai nghìn bốn trăm bốn mươi tư bộ, sáu nghìn năm trăm tám mươi quyển. Sự sai khác về con số trên đây, e là đã chép lầm, hay là đã lẫn lộn với các bản lục khác mà như thế. Lại sách này duy chỉ còn trong tạng Cao li, ba bản Tống Nguyên Minh thì thiếu. Trong Đại tạng kinh in nhỏ lại, đem bản lục này hợp chung làm một với Ngạn tông lục. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.18 - Đại tạng mục lục Q.trung].
chúng liêu
Samgharama (skt)—Phòng của chư Tăng Ni trong tự viện—A monastery—A nunnery—Common Quarters—Monks' Dormitories.
; (衆寮) Tức là nhà liêu làm bên ngoài Tăng đường cho chúng tăng ở. Trong liêu có treo tấm bảng gỗ ở cả trong cả ngoài, bản ngoài gọi là bản đằng trước, bản lớn, để khi đại chúng đến thăm hỏi nhau, khi ngồi Thiền, khi uống trà thì đánh - bản trong cũng gọi là bản nhỏ, để khi chúng tăng đi đâu về hoặc khi uống trà thì đánh. Trong liêu có các chức vụ như Liêu nguyên, Liêu chủ, Phó liêu, Chúng liêu để làm các phận sự - lại chức vụ đi tuần tra nhà tăng, gọi là Tuần đường, tuần tra các liêu, gọi là Tuần án. Cứ theo Vĩnh bình thanh qui quyển hạ Chúng liêu thập nhị bản đồ dạng phàm lệ chép, thì Chúng đường là nơi để xem kinh sách sau các bữa ăn, hoặc là bữa dược thạch (ẩn ngữ chỉ buổi ăn chiều), (X. mục Dược thạch), hay uống trà bất thường. Kích thước chúng liêu phải tùy kích thước của nhà tăng mà qui định. Nếu nhà tăng mười hai bản thì chúng liêu cũng phải mười hai bản. Ở chính giữa phần nhiều đặt tượng Quan âm, bốn vách đều mở cửa sổ để lấy ánh sáng. Mỗi giường đều đặt bản đầu, giường dài sáu thước. Dưới cửa sổ để hòm kinh. Hòm cao một thước hai tấc. Trên mặt hòm dùng làm án để đọc kinh sách, bên trong hòm để kinh, chúng tăng đều tự khóa mở. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ mục Đại chúng chương đại quải đáp qui đường - Tùng lâm hiệu định thanh qui Q.thượng - Thiền lâm tượng khí tiên Điện đường môn].
chúng loại câu sinh vô sở tác ý sinh thân
Nikàya-sahajà-samskàra-krya-mano maya-kàya (S).
chúng mình
Chúng ta—Chúng tôi—We—Us.
chúng ngộ tu ngung
Cheng wu Hsiu yung (C)Tên một vị sư.
chúng nó
They—Them.
chúng pháp
(衆法) Là một trong ba pháp yết ma. Còn gọi là Tăng bỉnh, Chúng tăng pháp. Là pháp mà chúng tăng phải tuân giữ, tức là bốn tỉ khưu trở lên cùng hòa hợp làm yết ma, phát được giới thể, để thành tựu công đức diệt ác sinh thiện. Chúng tăng pháp lại chia làm ba loại là pháp Đơn bạch, pháp Bạch nhị và pháp Bạch tứ. Đơn bạch, tức là cáo bạch chúng tăng một lần - Bạch nhị, là một lần bạch rồi, hỏi lại lần nữa xem có được không - Bạch tứ, là một lần bạch, ba lần hỏi được không. Lại muôn tượng, muôn pháp trong vũ trụ, cũng gọi là Chúng pháp. [X. kinh Duy ma phẩm Văn thù sư lị vấn tật]. (xt. Yết Ma).
Chúng sanh
(s: sattva, p: satta, 眾生): là từ gọi chung cho các vật thể có sự sống, cho tất cả sinh vật hữu tình của thế gian và xuất thế gian. Tuy nhiên, phần lớn người ta thường phân biệt và xem hạng phàm phu là chúng sanh, còn các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, v.v., thì không phải là chúng sanh.
chúng sanh
Satta (S), Sattva (P), Sentient beings, Xem Tát đỏa.
; Sattva or Bahujanya (skt)—Living beings—Conscious beings—Living creatures—All the living—Sentient beings—All who are born. (I) Nghĩa của Chúng Sanh—The meanings of Sentient beings: 1) Mọi người cùng sinh ra: Sattva (skt)—All the living—Living beings. 2) Các pháp giả hợp mà sinh hay là sự phối hợp của các đại chứ không có thực thể trường tồn: Combinations of elements without permanent reality. 3) Sự sống chết trải qua nhiều lần: Many lives, or many transmigrations. (II) Phân loại Chúng Sanh—Categories of Sentient beings: (A) There are two kinds of sentient beings in general: 1) Hữu Tình Chúng Sanh: Sentient beings or those with emtions (the living)—Conscious beings—Many lives—Many transmigrations. 2) Vô Tình (phi tình) Chúng Sanh: Insentient things or those without emotions. (B) Chúng sanh trong ba nẻo sáu đường—Sentient beings in the three realms and six paths: a Ba Nẻo—Three realms: 1) Dục Giới: The realm of desire. 2) Sắc Giới: The realm of form. 3) Vô Sắc Giới: The realm of formlessness. b. Sáu Đường—Six paths: 1) Thiên: Heaven. 2) Nhân: Human. 3) A-Tu-La: Asura. 4) Súc Sanh: Animals. 5) Ngạ Quỷ: Hungry ghosts. 6) Địa Ngục: Hells.
chúng sanh bình đẳng
Sattvasamatā (S)Bình đẳng tính.
chúng sanh bệnh nên bồ tát bệnh
Because all sentient beings are subject to illness, Bodhisattva is ill as well—Theo kinh Duy Ma Cật, thời Phật còn tại thế, một hôm cư sĩ Duy Ma Cật lâm bệnh, nên Đức Phật kêu trong hàng đại đệ tử của ngài, hết người nầy đến người kia đi thăm bệnh Duy Ma Cật dùm ngài, nhưng ai cũng từ chối, rốt cuộc ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chịu nhận lãnh sứ mệnh đi thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật—According to the Vimalakirti Sutra, at the time of the Buddha, one day Upasaka Vimalakirti was sick, the Buddha asked his great disciples, one after another, to call on Vimalakirti to enquire after his health, but no one dared to accept. Eventually, Manjusri Bodhisattva accepted the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health: • Lúc bấy giờ Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: “Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật dùm ta.”—The Buddha then said to Manjusri: “You call on Vimalakirti to enquire after his health.” • Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Bực thượng nhơn kia khó bề đối đáp, vì ông ấy rất thâm đạt thực tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu phương pháp tu trì của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của chư Phật, hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều được rốt ráo. Tuy thế, con xin vâng thánh chỉ của Phật đến thăm bệnh ông.”—Manjusri said: “World Honoured One, he is a man of superior wisdom and it is not easy to match him (in eloquence). For he has reached reality, and is a skillful expounder of the essentials of the Dharma. His power of speech is unhindered and his wisdom is boundless. He is well versed in all matters pertaining to Bodhisattva development for he has entered the mysterious treasury of all Buddhas. He has overcome all demons, has achieved all transcendental powers and has realized wisdom by ingenious devices (upaya). Nevertheless, I will obey the holy command and will call on him to enquire after his health.” • Lúc ấy, trong đại chúng các hàng Bồ Tát và hàng đại đệ tử, Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ thiên vương đều nghĩ rằng: “Hôm nay hai vị đại sĩ Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật cùng nhau đàm luận tất nói pháp mầu.” Tức thời, tám ngàn Bồ Tát, năm trăm Thanh Văn và trăm ngàn Thiên nhơn đều muốn đi theo—The Bodhisattvas, the chief disciples of the Buddha and the rulers of the four heavens who were present, thought to themselves: “As the two Mahasattvas will be meeting, they will certainly discuss the profound Dharma.” So, eight thousand Bodhisattvas, five hundred sravakas and hundreds and thousands of devas wanted to follow Manjusri. • Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi cùng các Bồ Tát, đại đệ tử và các hàng Thiên nhơn cùng nhau cung kính đi vào thành Tỳ Xá Ly—So Manjusri, reverently surrounded by the Bodhisattvas, the Buddha's chief disciples and the devas, made for Vaisali town. • Lúc ấy trưởng giả Duy Ma Cật thầm nghĩ: “Nay đây ngài Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng đồng đến viếng thăm.” Ông liền dùng sức thần thông làm cho trong nhà trống rỗng, không có vật chi và cũng không có người thị giả nào, chỉ để một chiếc giường cho ông nằm bệnh—Vimalakirti, who knew in advance that Manjusri and his followers would come, used his transcendental powers to empty his house of all attendants and furniture except a sick bed. • Khi ngài Văn Thù Sư Lợi vào nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật chi, chỉ có một mình ông nằm trên giường mà thôi, khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng—When entering the house Manjusri saw only Vimalakirti lying on sick bed, and was greeted by the upasaka. • Quý hóa thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến! Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy—Who said: “Welcome, Manjusri, you come with no idea of coming and you see with no idea of seeing.” • Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Phải đấy, cư sĩ! Nếu đã đến tức là không đến, nếu đã đi tức là không đi. Vì sao? Đến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu, hễ có thấy tức là không thấy. Thôi việc ấy hãy để đó. Cư sĩ bệnh có chịu nỗi được không? Điều trị có bớt không? Bệnh không đến nỗi tăng ư? Thế Tôn ân cần hỏi thăm chi xiết. Bệnh cư sĩ nhơn đâu mà sanh, sanh đã bao lâu, phải thế nào mới mạnh được?—Manjusri replied: “It is so, Venerable Upasaka, coming should not be further tied to (the idea of) coming, and going should not be further linked with (the concept of) going. Why? Because there is neither whence to come nor whither to go, and that which is visible cannot further be (an object of) seeing. Now, let us put all this aside. Venerable Upasaka, is your illness bearable? Will it get worse by wrong treatment? The World Honoured One sends me to enquire after your health, and is anxious to have good news of you. Venerable Upasaka, where does your illness come from; how long has it arisen, and how will it come to an end?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Từ nơi si mà có ái, bệnh tôi sanh. Vì tất cả chúng sanh bệnh, nên tôi bệnh. Nếu tất cả chúng sanh không bệnh, thì bệnh tôi lành. Vì sao? Bồ Tát vì chúng sanh mà vào đường sanh tử, hễ có sanh thời có bệnh, nếu chúng sanh khỏi bệnh thì Bồ tát không có bệnh. Ví như ông trưởng giả chỉ có một người con, hễ người con bệnh, thì cha mẹ cũng bệnh; nếu bệnh của con lành, cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng thế! Đối với tất cả chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bệnh, Bồ Tát cũng bệnh; chúng sanh lành, Bồ Tát cũng lành—Vimalakirti replied: “Stupidity leads to love which is the origin of my illness. Because all living beings are subject to illness I am ill as well. When all living beings are no longer ill, my illness will come to an end. Why? A Bodhisattva, because of (his vow to save) lining beings, enters the realm of birth and death which is subject to illness; if they are all cured the Bodhisattva will no longer be ill. For instance, when the only son of an elder falls ill, so do his parents, and when he recovers his health, so do they. Likewise, a Bodhisattva loves all living beings as if they were his sons; so when they fall ill, the Bodhisattva is also ill, and when they recover, he is no longer ill.”
chúng sanh bổn tánh
Bổn tánh hay chân như pháp tánh của chúng sanh (Chân Như Pháp Tánh có 2 nghĩa bất biến và tùy duyên)—The original nature of all the living, i.e. the bhutatathata in its phenomenal aspect.
chúng sanh chủ
Pajāpati (P).
chúng sanh có trí tuệ
A wisdom-being
chúng sanh căn
Căn gốc của chúng sanh—The root or nature of all beings.
chúng sanh cấu
Những cấu uế bình thường của chúng sanh khởi sanh bởi tà kiến về sự hiện hữu thật của cái ngã—The common defilements of all beings by the false views that the ego has real existence.
chúng sanh giới
Sattaloka (P).
; Cảnh giới của tất cả chúng sanh, đối lại với cảnh giới của Phật—The realm of all the living, in contrast with the Buddha-realm (Phật giới). ** For more information, please see Lục Đạo Tứ Thánh in Vietnamese-English Section.
chúng sanh hữu tình
Conscious beings.
chúng sanh kiên cường
Recalcitrant (stronghearted—steadfast) sentient beings.
chúng sanh kiến
Vọng kiến cố chấp thực hữu của chúng sanh, hay khái niệm cho rằng chúng sanh có thật hữu, chứ không phải do ngũ uẩn tạo thành—The concept that all beings have reality and the five skandhas as not the constituents of the livings. ** For more information, please see Ngã Kiến in Vietnamese-English Section.
chúng sanh ma quỷ độc địa
The evil and cruel living creatures.
chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp
Sentient beings bear heavy karma and their minds are deluded.
chúng sanh nhẫn
Nhẫn nhục với tất cả mọi chúng sanh trong mọi tình huống—Patience towards all living beings under all circumstances.
chúng sanh thường lấy tam đồ ác đạo làm nhà
Sentient beings usually take the three evil paths as their homeland.
chúng sanh thế gian
Một trong ba thế gian mà Đức Phật đã đề cập đến trong Kinh Hoa Nghiêm, tức là thế giới của chúng sanh từ địa ngục lên đến Phật. Tất cả chúng sanh đều có thể được chuyển hóa bởi Phật—One of the three worlds which the Buddha mentioned in The Flower Adornment Sutra, the world of beings from Hades to Buddha-land—All beings subject to transformation by Buddha. ** For more information, please see Tam Thế Gian in Vietnamese-English Section.
chúng sanh trược
Sattva-kaṣāyaḥ (S).
; Sattvakasaya (skt)—Thời kỳ thứ tư trong năm thời kỳ hoại diệt, trong thời kỳ nầy chúng sanh dẫy đầy ngu si uế trược—The fourth of the five periods of decay, when all creatures are stupid and unclean. ** For more information, please see Ngũ Trược.
chúng sanh tướng
See Chúng Sanh Kiến, and Tứ Tướng.
chúng sanh tưởng
Tà kiến cho rằng chúng sanh là thực hữu—The false notion that all beings have reality.
chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp tạo chúng sanh, cứ thế mà chúng sanh lăn trôi trong luân hồi sanh tử
Sentient beings create karma, the effect of karma will reflect back on sentient beings, therefore, sentient beings continue to roll in the cycle of births and deaths.
chúng sanh tức phật, phiền não tức bồ đề
Ngoài chúng sanh không có Phật, ngoài phiền não không có Bồ đề—Sentient beings are Buddhas, afflictions are bodhi.
chúng sanh từ vô thỉ đã tạo vô lượng tội
From the immemorial time sentient beings have committed countless transgressions.
chúng sanh vô thủy vô chung
Thể của chúng sanh là pháp thân, mà pháp thân thì vô thỉ vô chung—All beings as part of the dharmakaya (pháp thân), they have no beginning nor end.
chúng sanh vất vả trong cuộc sống hằng ngày
Sentient beings must toil and suffer day in and day out to earn a living.
chúng sanh đường
Thủy Lục Đường—All Beings Hall.
chúng sanh độc
Sattvakasaya (skt)—Giai đoạn thứ tư trong năm giai đoạn hủy diệt nơi mà mọi sinh vật đều đần độn và bất tịnh—The fourth of the five periods of decay, when all creatures are stupid and unclean.
chúng sinh
Sattva (S). All the living, living beings, creature.
; (衆生) Phạm: Bahu-jana, Jantu, Jagat hoặc Sattva. Dịch ý là chúng sinh, dịch âm là Bộc hô, Thiện na, Thiền đầu, Xã già, Tát đóa. Còn dịch là hữu tình, hàm thức (tức loài có tâm thức), hàm sinh, hàm tình, hàm linh, quần sinh, quần manh, quần loại. Danh từ Chúng sinh thông thưòng chỉ loài hữu tình trong cõi mê muội. Kinh Tạp a hàm quyển 6 (Đại 2, 40 thượng), nói: Phật bảo La đà, đối với sắc đắm đuối triền miên, gọi rằng chúng sinh. Kinh Trường a hàm quyển 22 phẩm Thế bản duyên nói, không nam nữ tôn ti trên dưới, cũng không có tên khác, cũng chung sống với nhau ở đời, cho nên gọi là chúng sinh. Câu xá luận quang kí quyển 1 giải thích là chịu nhiều sống chết, cho nên gọi là Chúng sinh. Luận Đại trí độ quyển 31, kinh Đại thừa đồng tính quyển thượng bảo, chúng sinh là do các duyên năm uẩn giả hợp mà sinh, cho nên gọi là Chúng sinh. Lại kinh Bất tăng bất giảm thì nói, pháp thân bị nhiều phiền não trói buộc, đi lại trong đường sống chết, cho nên gọi là chúng sinh. Thông thường thì cho những người bị vô minh phiền não che lấp mà trôi lăn trong vòng sống chết là chúng sinh. Nếu nói theo nghĩa rộng thì Phật và Bồ tát cũng bao nhiếp trong chúng sinh. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 52 hạ), nói: Mang năm ấm, gọi chung là chúng sinh. Chúng sinh có khác nhau: mang ấm ba đường là chúng sinh tội khổ, mang ấm trời người là chúng sinh vui sướng, mang ấm vô lậu là chúng sinh thánh thiện, mang ấm từ bi là chúng sinh đại sĩ, mang ấm thường trụ là chúng sinh cực tôn qúi. [X. kinh Tạp a hàm Q.45, Pháp hoa văn cú Q.4 - Đại thừa nghĩa chương Q.6 - Vãng sinh luận chú Q.thượng].
chúng sinh bản tính
The original nature of all the living, i.e. the bhùtatathatà in its phenomenal aspect.
chúng sinh cấu
The common defilement of all beings by the false view that the ego has real existence.
chúng sinh giới
Sattva dhàtu (S). The realm of all the living in contrast with the Buddha realm.
; (衆生界) Đối lại với Phật giới. Trong mười giới, trừ Phật giới ra, còn gọi chung chín giới kia là Chúng sinh giới, tức địa ngục giới, ngã quỉ giới, a tu la giới, nhân giới, thiên giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới và Bồ tát giới. Còn chỉ cái thế giới sinh sống của chúng sinh.
chúng sinh kiến
The concept that all beings have reality.
; (衆生見) Tức cái vọng kiến chấp trước chúng sinh là thực có. Nghĩa cũng giống với ngã kiến. Ngã kiến, tức cái thấy sai lầm, cho cái thân do năm uẩn giả hòa hợp là thật có. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung), nói: Thế tôn nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến.
chúng sinh ngũ sự thị hỗ
(衆生五事恃怙) Thị hỗ, là nghĩa nhờ cậy, ỷ lại. Cứ theo kinh Xuất diệu quyển 1 nói, thì vì chúng sinh ngu si, chẳng biết thế gian là vô thường, cứ ỷ lại vào những cái mình có, mình làm ra, rồi mặc ý phóng túng, không biết tìm cầu đạo xuất thế cùng tột vô vi, cho nên đức Phật mới nói năm việc để cảnh giác. Đó là: 1. Thị hỗ niên thiếu, nghĩa là người ta cậy vào tuổi trẻ. Khí huyết khỏe mạnh, mặc sức phung phí mà không nghĩ đến cái thân lúc suy yếu lụi bại. 2. Thị hỗ đoan chính, nghĩa là người cậy có thân hình xinh đẹp, quyến rũ người khác, không biết tự thẹn, cũng chẳng đoái gì đến cái thân lúc già xấu. 3. Thị hỗ thế lực, nghĩa là người ta ỷ vào sức mạnh quyền thế, tác uy tác phúc, lấn lướt ức hiếp người khác, không kiêng không nể, mà chẳng nghĩ gì đến cái thân lúc suy vi thất thế. 4. Thị hỗ tài khí, nghĩa là người ta cậy có tài ba hơn người, tự cao tự đại, khinh miệt người khác, mà chẳng đoái đến cái thân lúc gặp tai họa. 5. Thị hỗ quí tộc, nghĩa là người ta cậy mình dòng dõi tôn quí, chức trọng ngôi cao, kiêu ngạo dông dỡ, lên mặt khinh người, mà chẳng nghĩ gì đến cái thân lúc suy bại.
chúng sinh nhẫn
Patience towards all living beings under all circumstances.
chúng sinh thế gian
(衆生世間) Phạm: Sattva-loka. Chúng sinh do năm uẩn hòa hợp mà thành, theo chính báo mà trình hiện các cõi khác nhau - tức chỉ mười cõi hữu tình từ cõi Phật đến cõi địa ngục. Là một trong ba thế gian. Vì hết thảy hữu tình (chúng sinh) là do cái tên năm uẩn giả hợp, không có thực thể, cho nên còn gọi là Giả danh thế gian, Hữu tình thế gian, Chúng sinh thế gian. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 53 hạ), nói Chúng sinh thế gian, đã là giả danh, không có thực thể, phân biệt dựa vào thực pháp mà giả đặt ra vậy. Thiện kiến luật tì bà sa quuyển 4, chia Chúng sinh thế gian làm thường thế gian, vô thường thế gian - luận Câu xá quyển 8, quyển 9, quyển 10 nêu rõ sự sinh, trụ, diệt của Hữu tình thế gian - luận Vãng sinh thì nói rõ Chúng sinh thế gian của Tịnh độ là thanh tịnh, có đủ tám thứ trang nghiêm Phật công đức thành tựu và bốn thứ trang nghiêm Bồ tát công đức thành tựu. (xt. Tam Thế Gian, Hữu Tình Thế Gian).
chúng sinh thế giới
The world of beings from Hell to Buddhaland.
chúng sinh trọc
Thr fourth of the five periods of decay, sattvakàsaya (S), when all creatures are stupid and unclean.
chúng sinh tâm
(衆生心) Tức là cái tâm của chúng sinh, cũng chỉ tâm Như lai tạng mà chúng sinh có đủ. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 hạ), nói: Ma ha diễn, nói chung, có hai thứ. Những gì là hai? Một là pháp, hai là nghĩa. Pháp có nghĩa là tâm chúng sinh, tâm ấy bao hàm hết thảy pháp thế gian và pháp xuất thế gian, y vào tâm ấy mà hiển bày nghĩa Ma ha diễn. Tại sao vậy? Vì tướng chân như của tâm ấy tức hiển bảy cái thể Ma ha diễn - tướng nhân duyên sinh diệt của tâm ấy có khả năng hiển bày tự thể tướng dụng Ma ha diễn. Có nghĩa là tâm chúng sinh hàm nhiếp hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, tâm chúng sinh ấy tức là tâm Như lai tạng. Thể của tâm ấy tức là tướng chân như, tướng dụng của tự thể nó tức là tướng nhân duyên sinh diệt. Đại thừa lấy một tâm ấy làm tự thể của các pháp, tức ý là lấy tâm ấy làm Ma ha diễn. Tiểu thừa thì cho các pháp mỗi mỗi đều có tự thể riêng, khác với thuyết một tâm của Đại thừa. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng - Khởi tín luận sớ Q.1 (Nguyên hiểu) - Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng đoạn trên (Tuệ viễn) - Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.1].
chúng sinh tướng
Xem chúng sinh kiến.
chúng sinh vô ngã
Xem Nhân vô ngã.
chúng sinh ái lạc thập do
(衆生愛樂十由) Tức là mười nguyên nhân khiến hết thảy chúng sinh nhờ Như lai phổ độ mà được các sự vui. Cứ theo kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 72 chép, thì đồng tử Thiện tài đi về phương nam tham yết năm mươi lăm vị Thiện tri thức, trong đó, vị thứ ba mươi tám là Khai phu nhất thiết thụ hoa dạ thần (vị thần đêm làm cho hết thảy hoa của các cây đều nở), trí tuệ của vị thần này biết rõ các phương tiện khéo léo mà đức Như lai dùng để nhiếp hóa chúng sinh, vì đồng tử Thiện tài mà nói rõ mười nguyên nhân khiến chúng sinh có thể nhận sự nhiếp hóa của Như lai. Đó là: 1. Nhờ sức uy đức của Như lai. 2. Do thuận theo lời dạy của Như lai. 3. Làm theo lời Như lai nói. 4. Học theo hạnh của Như lai. 5. Được sức hộ trì của Như lai. 6. Tu đạo mà Như lai ấn khả. 7. Gieo hạt giống làm việc thiện của Như lai. 8. Theo giáo pháp đức Như lai nói. 9. Nhờ ánh sáng trí tuệ của Như lai soi rọi.10. Được sức nghiệp tính tịnh của Như lai thu giữ che chở.
chúng sắc do tâm khởi
SarvarŪpavabhāsaṁ-hi-yadā-cittaṁpravartate (S), All froms arising from mind.
; Sarvarùpavabhàsam hi yadà cittampravartate (S). When Mind evolves, all forms are manifested.
chúng ta
See Chúng Mình.
chúng ta chẳng bao giờ toại nguyện
We are never completely satisfied.
chúng thiên
Shaṇghadeva (S)Tên một vị sư. Xem Tăng già Đề bà.
; Samghadeva (S). Name. Also Tăng già đề bà.
chúng thánh
1) Chư Thánh: All saints. 2) Tất cả các bậc đã chứng được chân lý nhà Phật: All who have realized the Buddha-truth.
chúng thánh điểm kí
(衆聖點記) Sau khi đức Phật nhập diệt, đệ tử Phật là Ưu ba li kết tập tạng Luật, ngày 15 tháng 7 năm ấy, chư tăng tự tứ xong, dâng hoa hương cúng dường tạng Luật rồi ghi xuống một chấm đặt trước tạng Luật. Từ đó về sau, các Thánh y theo pháp ấy, cứ mỗi năm lại chấm một chấm, để ghi nhớ số năm trôi qua. Đến năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam triều Tề, đã truyền được chín trăm bảy mươi lăm chấm, đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu niên đại đức Phật nhập diệt. Nếu cứ theo đó mà tính ngược trở lên, thì năm đức Phật nhập diệt là năm 486 trước Tây lịch. Duy có điều là Ưu ba li cúng dường tạng Luật có đúng vào năm đức Phật nhập diệt hay không, thì vẫn chưa rõ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11 - Khai nguyên thích giáo lục Q.6 - Phật tổ lịch đại thông tải Q.8]. (xt. Phật Diệt Niên Đại).
chúng tôi
See Chúng mình.
chúng tăng
Sangha (S). All the monks, an assemly at least of three monks.
; Samgha (skt)—Tất cả các vị Tăng trong tự viện, hay một tập hợp của ít nhất ba vị Tăng—All the monks, as an assembly of at least three monks, in a monastery.
chúng tại gia
The laity who observe the five commandments and eight commandments.
chúng tội như sương lộ
(衆罪如霜露) Có nghĩa là tội chướng do vọng tưởng mà sinh, nhờ vào công đức tư duy, sám hối, hết thảy tội chưóng đều tiêu diệt, như sương móc gặp ánh mặt trời buổi sáng thì tan mất, tội nghiệp bị ánh sáng trí tuệ chiếu rọi thì mất hết dấu vết. Kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp (Đại 9, 393 trung), nói: Hết thảy biển nghiệp chướng, đều từ vọng tưởng sinh - Nếu người muốn sám hối, ngồi thẳng nhớ thực tướng - Các tội như sương móc, mặt trời tuệ trừ hết. Phép sám hối nói ở đây là thuộc Lí sám trong hai sám và Vô sinh sám trong ba sám. Tức chỉ sám hối quán xét thực tướng, tương đối với Sự sám do thân, khẩu, ý hành sám hối. (xt. Sám Hối).
chúng viên
Xem Già lam. Xem tăng già lam.
; Samgharama (skt) 1) Chúng Liêu hay tự viện: —A monastery—A nunnery. 2) Nhà vườn có rào bao bọc: Originally only the surrounding park.
chúng xuất gia
The monks—The clergy—Who observe ten, 250 or 348 commandments.
chúng xưng
Xem Gia da đa xá.
; Samghayathata (S). Name. Also Tăng già da xá.
chúng đạo
Con đường cứu khổ hay Tam Thừa—The way of all—Vehicle of salvation, or the three yana.
chúng đồ
Cả tập thể đồ chúng, gồm cả Tăng Ni và tại gia—The whole body of followers, including the monks, the nuns and lay followers.
chúng đồng phần
(衆同分) Phạm: Nikàya-sabhàga. Nói tắt là Đồng phận (Phạm: Sabhàga). Một trong bảy mươi lăm pháp của Câu xá, một trong trăm pháp Duy thức. Tông Duy thức, tông Câu xá cho đây là một trong những tâm Bất tương ứng hành pháp. Chỉ cho tính chung hoặc nhân chung của chúng sinh. Tức là các chúng hữu tình đều có tính đồng loại hoặc là cái nhân khiến cho hữu tình chúng sinh được qủa báo đồng loại như nhau. Phận, tức là nhân .. Đồng phận có thể được chia làm hai thứ là Hữu tình đồng phận (Phạm: Sattvasabhàga) và Pháp đồng phận (Phạm: Dharma-sabhàga). 1. Hữu tình đồng phận, còn gọi là Chúng sinh đồng phận, có thể chia làm hai: a. Là đồng phận khiến cho hết thảy hữu tình chúng sinh đồng loại như nhau, gọi là đồng phận vô sai biệt (Phạm: Abhinna). b. Hữu tình chúng sinh tùy nơi ba cõi, chín địa, nam, nữ, súc sinh, có phân biệt, mà mỗi mỗi đều thành một loại, nhưng ngay trong tự loại cũng có đủ tính chất cộng đồng. Loại đồng phận các biệt này gọi là đồng phận hữu sai biệt (Phạm: Bhinna). 2. Pháp đồng phận, chỉ các pháp sở y của hữu tình là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, tự loại của mỗi pháp đều tương tự. Như đồng phận của sắc pháp tương tự nhau, mắt phải, mắt trái tương tự như nhau. Lại Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương đồng phận có đủ thực thể - Kinh bộ và Đại thừa thì cho đồng phận là pháp giả. [X. luận Đại tì bà sa Q.27 - luận Thuận chính lí Q.12 - luận Câu xá Q.4, Q.5]. (xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).
chúng đồng phận
Nikāya-sabhaga (S)Tuỳ theo chỗ thú hướng khiến cho được cùng một quả báo.
chăm nom
To take care of—To look after—To care for.
chăm sóc chu đáo
Tender care.
chăn trâu
To tend water buffalo.
chăng bẫy
To set a trap.
chơi ác
To play nasty trick.
Chơn Biện
(眞辯, Shinben, ?-1261): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, Kiểm Hiệu đời thứ 56 và 58 của Cao Dã Sơn, húy là Chơn Biện (眞辯), xuất thân vùng Danh Thủ (名手, Nate), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]). Ông xuất gia rồi lên Cao Dã Sơn, học mật giáo và trú tại Thập Luân Viện (十輪院). Vào năm 1259, ông được bổ nhiệm làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn.
Chơn cơ, chân cơ
(眞機): lý huyền diệu, bí yếu. Như trong bài thơ Tống Đạm Công Quy Tung Sơn Long Đàm Tự Táng Bổn Sư (送淡公歸嵩山龍潭寺葬本師) của Dương Cự Nguyên (楊巨源, 755-?) nhà Đường có câu: “Dã yên thu hỏa thương mang viễn, Thiền cảnh chơn cơ khử trú nhàn (野煙秋火蒼茫遠、禪境眞機去住閒, khói hoang thu lửa xanh xa tít, Thiền cảnh huyền cơ mặc sống nhàn).” Hay trong bài thơ Hòa Giả Vân Lão Xuân Vãn (和賈耘老春晚) của Trần Sư Đạo (陳師道, 1053-1101) nhà Tống cũng có câu: “Nhất ngọa hải thành xuân hựu vãn, bất phương nhàn xứ đắc chơn cơ (一臥海城春又晚、不妨閒處得眞機, nằm xuống biển thành xuân lại xế, ngại gì nhàn chốn được huyền cơ).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 20, phần Khai Thị Kệ (開示偈), lại có câu: “Quế hoa hương xứ lộ chơn cơ, chánh thị tâm không cập đệ thời (桂花香處露眞機、正是心空及第時, quế hoa hương ngát lộ cơ duyên, đúng lúc tâm không thị đỗ về).” Hoặc trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) cũng có đoạn rằng: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, thị dĩ cửu niên diện bích, độc khế chơn cơ, chích lý Tây quy (敎外別傳、不立文字、直指人心、見性成佛、是以九年面壁、獨契眞機、隻履西歸, ngoài giáo truyền riêng, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tán thành Phật, vì vậy chín năm nhìn vách, riêng khế huyền cơ, một dép về Tây).”
Chơn Hiết Thanh Liễu
(眞竭清了, Shinketsu Seiryō, 1088-1151): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Chơn Hiết (眞竭), xuất thân vùng Tả Tuyến An Xương (左線安昌, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Ung (雍). Năm lên 11 tuổi, ông xuất gia với Thanh Tuấn (清俊) ở Thánh Quả Tự (聖果寺) và học Kinh Pháp Hoa. Đến năm 18 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, đến sống ở Đại Từ Tự (大慈寺) vùng Thành Đô (成都, Tỉnh Tứ Xuyên), học Kinh Viên Giác và Kinh Kim Cang. Sau đó, ông lên Nga Mi Sơn (峨嵋山), tham bái đức Phổ Hiền (普賢), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Tử Thuần (子淳) ở Đơn Hà Sơn (丹霞山, Tỉnh Hà Nam). Kế đến, ông lên Ngũ Đài Sơn (五台山), tham bái đức Văn Thù (文殊), và làm thị giả cho Trường Lô Tổ Chiếu (長蘆祖照). Vào năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), Tổ Chiếu bị bệnh, nên thỉnh ông làm trú trì nơi đây. Vào tháng 6 năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), ông lui về ẩn cư, đến tháng 8 thì lên Bổ Đát Lạc Già Sơn (補怛洛迦山) lễ bái đức Quan Âm (觀音). Vào tháng 11 năm thứ 4 (1130) cùng niên hiệu trên, ông đến trú trì Tuyết Phong Tự (雪峰寺). Đến năm thứ 5 (1135) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông lại lui về ẩn cư, rồi vào tháng 7 năm sau, ông đến trú tại A Dục Vương Sơn Quảng Lợi Tự (阿育王山廣利寺) thuộc vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang) và bắt đầu khai đường bố giáo tại đây. Hai năm sau đó (1137), cũng có lời thỉnh cầu ông đến Tương Sơn (蔣山) thuộc Phủ Kiến Khang (建康府, Tỉnh Giang Tô), nhưng ông cáo bệnh từ chối. Vào năm thứ 8 (1138) cùng niên hiệu trên, ông đến trú trì hai ngôi Long Tường Tự (龍翔寺) và Hưng Khánh Tự (興慶寺). Vào tháng 5 năm thứ 15 cũng niên hiệu trên, ông chuyển đến Năng Nhân Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (能仁興聖萬壽禪寺). Rồi đến năm thứ 21 thì đến trú trì Sùng Tiên Hiển Hiếu Thiền Viện (崇先顯孝禪院) và khai mở đạo tràng thuyết pháp cho Từ Ninh Thái Hậu (慈寧太后). Vào tháng 10 cũng năm này (1151), ông thị tịch, hưởng thọ 64 tuổi đời và 45 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Ngộ Không Thiền Sư (悟空禪師). Môn nhân biên tập cuốn Trường Lô Liễu Hòa Thượng Kiếp Ngoại Lục (長蘆了和尚劫外錄) 1 quyển. Trước tác của ông có Tín Tâm Minh Niêm Cổ (信心銘拈古) 1 quyển.
Chơn Hưng
(眞興, Shingō, 935-1004): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tổ của Dòng Tử Đảo (子島流), húy là Chơn Hưng (眞興), thông xưng là Tử Đảo Tăng Chánh (子島僧正), Tử Đảo Tiên Đức (子島先德); xuất thân vùng Hà Nội (河內, Kawachi, thuộc Osaka). Vào năm 949, ông vào tu ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), theo hầu Trọng Toán (仲算), chuyên tu học về Duy Thức, Nhân Minh. Sau đó, ông theo học Mật Giáo với Nhân Hạ (仁賀) ở vùng Cát Dã (吉野, Yoshino), và đến năm 983 thì thọ phép Quán Đảnh. Ông đến trú tại Nam Pháp Hoa Tự (南法華寺, tức Hồ Phản Tự [壺阪寺]), sau lại chuyển về Tử Đảo Tự (子島寺, Koshima-dera) và bắt đầu khai mở pháp diên tại đây; cho nên dòng pháp của ông được gọi là Dòng Tử Đảo. Đến năm 1003, ông làm Giảng Sư cho Duy Ma Hội của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi năm sau cũng làm Giảng Sư cho Ngự Trai Hội (御齋會), và được bổ nhiệm làm Quyền Thiếu Tăng Đô. Trước tác của ông có Duy Thức Nghĩa Tư Ký (唯識義私記) 12 quyển, Nhân Minh Toản Lược Ký (因明纂略記) 1 quyển, Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Nhất Thừa Nghĩa Tư Ký (法華經玄讚一乘私記) 1 quyển, Liên Hoa Thai Tạng Giới Nghi Quỹ Giải Thích (蓮華胎藏界儀軌解釋) 3 quyển, v.v.
chơn hỷ
Kararuci (S), Tcam Hi (C)Cương lương lâu chíVị Sa môn Ấn độ dịch kinh tại Quảng đông năm 281 nhà Tây Tấn.
Chơn không, chân không
(眞空): cảnh giới Niết Bàn của Phật Giáo Nguyên Thủy. Không phải ngụy nghĩa là chân (眞), lìa tướng gọi là không (空). Lý tánh của chân như lìa hết thảy tướng mê tình thấy được, dứt bặt và vượt qua tương đối của cái gọi là “không”, “có”; nên gọi là chân không. Đó là Không Chân Như (空眞如) của Khởi Tín Luận (起信論), là Nhị Không Chơn Như (二空眞如) của Duy Thức (唯識), cũng là Chân Không Quán (眞空觀) trong Tam Quán của Hoa Nghiêm (華嚴). Bên cạnh đó, Phật Giáo Đại Thừa lấy cái có (有, hữu) của chẳng phải có (非有, phi hữu) gọi là diệu hữu (妙有), và gọi cái không (空) của chẳng phải không (非空, phi không) là chân không. Đây chính là cảnh giới chân không tối cực của Phật Giáo Đại Thừa. Như trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō Vol. 48, No. 2008) có câu: “Niệm niệm thuyết không, bất thức chơn không (念念說空、不識眞空, mỗi niệm bảo không, chẳng biết chơn không).” Hay trong bản văn Trường Can Tự Chúng Thực Bi (長干寺眾食碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều có đoạn: “An trú Đại Bát Niết Bàn, hành tại chơn không, thâm nhập vô vi Bát Nhã (安住於大般涅槃、行在眞空、深入於無爲般若, an trú Đại Bát Niết Bàn, hành ở chơn không, nhập sâu vô vi Bát Nhã).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 3 lại có bài kệ rằng: “Diệu hương khởi xứ vô sở khởi, bổn lai vô vật tức chân không, thái hư châu biến thành hương vân, bất ly chân không hiện diệu giả (妙香起處無所起、本來無物卽眞空、太虛周遍成香雲、不離眞空現妙假, hương mầu dấy khởi không chốn khởi, xưa nay không vật tức chân không, trời đất cùng khắp thành mây hương, chẳng lìa chân không hiện tướng giả).” Thiền sư Thanh Đàm (清潭, ?-1173) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Tây lai trực chỉ vị tâm tông, hà nãi cửu niên diện bích trung, tất dã đầu cơ cơ vị thục, thục thời nhiên hậu hiển chân không (西來直指謂心宗、何乃九年面壁中、悉也投機機未熟、熟時然後顯眞空, từ Tây thẳng đến chỉ tâm tông, sao lại chín năm mặt vách tường, ắt cũng căn cơ chưa được chín, chín rồi sau mới lộ chân không).”
chơn liên đà
Mucilinda (S)Mục Chi lân đà Long vương, Mục chơn lân đàRồng chúa. Lúc đức Thích Ca đắc đạo và ngồi nhập định, ngoài trời giông bãão, rồng chúa che chỡ bao phủ cho Ngài khỏi bị mưa và lạnh.
chơn ngôn
Xem đà la ni.
Chơn Ngôn Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp
(眞言法文策子三十帖): xem Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子, Sanjūjōsakushi) bên dưới.
chơn ngôn thừa
Mantrayāna (S)Mật tông, Chơn ngôn tông, Du già tôngTín đồ Chơn ngôn tông lúc nào cũng giữ mình cho tương ứng với hạnh nghiệp của Phật bằng: thân thì làm Phật sự, khẩu nói lời lành, ý luôn niệm Phật. Tông này dùng ấn để thế cho nghiệp thanh tịnh của thân, chú để thế cho nghiệp thanh tịnh của khẩu, ý để được nghiệp thanh tịnh về ý. Lúc ngồi đạo tràng hành đủ ba mật ấy thì đồng thể với Phật, thành Phật trong lúc ấy.
Chơn Ngôn Tông
(眞言宗, Shingon-shū): tông phái của Nhật Bản, do Không Hải Đại Sư (空海大師, Kūkai Daishi) sáng lập nên với tư cách là vị khai tổ. Đối tượng lễ bái của tông này là Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來), do vì pháp thân của đức Đại Nhật Như Lai biến mãn khắp hết thảy pháp giới, nên vớiý nghĩa đó thì đối tượng lễ bái của tông này trở thành hết thảy tồn tại. Chơn Ngôn Tông hay còn gọi là Chơn Ngôn Mật Giáo, là đối với Hiển Giáo, tức đối ứng với vị giáo chủ của Hiển Giáo là Ứng Hóa Thân (應化身), và thay vào đó giáo chủ của Mật Giáo là Pháp Thân (法身), vì thế giáo thuyết của tông này là tự nội chứng của Pháp Thân để đối xứng với giáo thuyết của Hiển Giáo là tùy cơ. Đối ứng với Hiển Giáo cho rằng thời gian thành Phật là rất lâu dài, Mật Giáo chủ trương rằng trong hiện đời này có thể thành Phật. Đây chính là Tức Thân Thành Phật. Phương pháp đó là quán niệm chư tôn Mạn Đà La, xướng tụng chơn ngôn của chư tôn bằng miệng, và tay thì kết ấn của chư tôn. Đây được gọi là Tam Mật Du Già Hành (三密瑜伽行). Đối với Mật Tông thì vị giáo chủ là Đại Nhật Như Lai, rồi kế đến là Long Mãnh (龍猛, tức Long Thọ), Long Trí (龍智), Kim Cang Trí (金剛智), Bất Không (不 空), Huệ Quả (惠果), và Không Hải (空海). Theo tổng kết của Bộ Văn Hóa (bản năm 1997), hiện tại trên toàn quốc Chơn Ngôn Tông có rất nhiều chùa và nhiều phân phái khác nhau như sau: (1) Cao Dã Sơn Chơn Ngôn Tông (高野山眞言宗) có 3615 ngôi, (2) Chơn Ngôn Tông Đề Hồ Phái (眞言宗醍醐派) có 1094 ngôi, (3) Chơn Ngôn Tông Đông Tự Phái (眞言宗東寺派) có 85 ngôi, (4) Chơn Ngôn Tông Tuyền Dũng Tự Phái (眞言宗泉涌寺派) có 63 ngôi, (5) Chơn Ngôn Tông Sơn Giai Phái (眞言宗山階派) có 134 ngôi, (6) Chơn Ngôn Tông Ngự Thất Phái (眞言宗御室派) có 798 ngôi, (7) Chơn Ngôn Tông Đại Giác Tự Phái (眞言宗大覺寺派) có 353 ngôi, (8) Chơn Ngôn Tông Thiện Thông Tự Phái (眞言宗善通寺派) có 262 ngôi, (9) Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (眞言宗智山派) có 2893 ngôi, (10) Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái (眞言宗豐山派) có 2656 ngôi, (11) Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông (新義眞言宗) có 208 ngôi, (12) Chơn Ngôn Tông Thất Sanh Tự Phái (眞言宗室生寺派) có 54 ngôi, (13) Tín Quý Sơn Chơn Ngôn Tông (信貴山眞言宗) có 191 ngôi. Một số ngôi chùa trung tâm nổi tiếng của tông phái này là Kim Cang Phong Tự (金剛峯寺, Kongōbu-ji, Wakayama-ken) Tổng Bản Sơn của Cao Dã Sơn Chơn Ngôn Tông (高野山眞言宗); Đông Tự (東寺, Tō-ji, tức Giáo Vương Hộ Quốc Tự [敎王護國寺], Kyōto-shi), Tổng Bản Sơn của Đông Tự Chơn Ngôn Tông (東寺眞言宗); Thiện Thông Tự (善通寺, Zentsū-ji, Kagawa-ken), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Thiện Thông Tự Phái (眞言宗善通寺派); Tùy Tâm Viện (隨心院, Zuishin-in, Kyōto-shi), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Thiện Thông Tự Phái; Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji, Kyōto-shi), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Đề Hồ Phái (眞言宗醍醐派); Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji, Kyōto-shi), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Ngự Thất Phái (真言宗御室派); Đại Giác Tự (大覺寺, Daikaku-ji, Kyōto-shi), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Đại Giác Tự Phái (眞言宗大覺寺派); Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Sennyū-ji, Kyōto-shi), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Tuyền Dũng Tự Phái (眞言宗泉涌寺派); Khuyến Tu Tự (勸修寺, Kanjū-ji, Kyōto-shi), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Sơn Giai Phái (眞言宗山階派); Triều Hộ Tôn Tử Tự (朝護孫子寺, Chōgosonshi-ji, Nara-ken), Tổng Bản Sơn của Tín Quý Sơn Chơn Ngôn Tông (信貴山眞言宗); Trung Sơn Tự (中山寺, Nakayama-dera, Hyōgo-ken), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Trung Sơn Tự Phái (眞言宗中山寺派); Thanh Trừng Tự (清澄寺, Seichō-ji, Hyōgo-ken), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tam Bảo Tông (眞言三寶宗); Tu Ma Tự (須磨寺, Suma-dera, Hyōgo-ken), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Tu Ma Tự Phái (眞言宗須磨寺派); Trí Tích Viện (智積院, Chishaku-in, Kyōto-shi), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (眞言宗智山派); Trường Cốc Tự (長谷寺, Hase-dera, Nara-ken), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái (眞言宗豐山派); Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji, Wakayama-ken), Tổng Bản Sơn của Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông (新義眞言宗); Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji, Nara-ken), Tổng Bản Sơn của Chơn Ngôn Luật Tông (眞言律宗); Bảo Sơn Tự (寶山寺, Hōzan-ji, Nara-ken), Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Luật Tông, v.v.
chơn ngôn tông
Tchenn-yen-tsoung (C),, Shingon (J)Cũng gọi là Mật tông hay Du chỉ tông. Ngài Kim Cang Trí (Vajrabodhi) thành lập ở Tàu năm 719, sau ngài Hoằng Pháp đại sư (Kobo-Daishi) truyền qua Nhật năm 804. Xem Chơn ngôn thừa
Chơn Nhiên
(眞然, Shinzen, 804/812?-898): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 6 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), húy là Chơn Nhiên (眞然), thường gọi là Trung Viện Tăng Chánh (中院僧正), Hậu Tăng Chánh (後僧正), xuất thân vùng Đa Độ (多度, Tado), Tán Kì (讚岐, Sanuki), họ Tá Bá (佐伯). Ban đầu ông theo hầu Không Hải (空海, Kūkai), rồi đến năm 831 thì thọ phép Quán Đảnh với Chơn Nhã (眞雅, Shinga), đến năm 834 thì được Không Hải phó chúc cho xây dựng già lâm ở Cao Dã Sơn. Năm 836, ông cùng với Chơn Tế (眞濟, Shinzei) có ý định sang nhà Đường cầu pháp, nhưng vì phong ba bão táp dữ dội nên sự việc bất thành, cuối cùng vào năm này ông đến trú tại Thái Long Tự (太龍寺) ở vùng A Ba (阿波, Awa) và soạn bản duyên khởi của chùa này. Năm 861, ông làm đơn xin mượn bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) để xem. Vào năm 883 thì được cử làm Quyền Thiếu Tăng Đô. Đến năm sau, ông làm Tự Trưởng đời thứ 6 của Đông Tự, rồi đến năm 889, do vì ông mang bộ sách này về Cao Dã Sơn, nên từ đó tạo sự phân tranh với Đông Tự. Suốt trong 56 năm tận lực chỉnh bị cho Cao Dã Sơn, ông đã dưỡng thành một số đệ tử nổi danh như Thọ Trường (壽長), Vô Không (無空), Duy Thủ (惟首), Thánh Bảo (正寶), v.v. Trước tác của ông để lại có Vô Chướng Kim Cang Thứ Đệ (無障金剛次第) 1 quyển, Nhiếp Nhất Thiết Phật Đảnh Luân Vương Niệm Tụng Pháp (攝一切佛頂輪王念誦法) 1 quyển, Chơn Nhiên Tăng Chánh Ký (眞然僧正記) 1 quyển, Hoan Hỷ Thiên Cúng Pháp (歡喜天供法) 1 quyển, v.v.
Chơn Nhã
(眞雅, Shinga, 801-879): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An (平安, Heian), người khai cơ Trinh Quán Tự (貞觀寺, Jōgan-ji), thụy hiệu là Pháp Quang Đại Sư (法光大師) và Trinh Quán Tự Tăng Chánh (貞觀寺僧正), em ruột của Không Hải. Ông theo hầu Không Hải, rồi đến năm 825 thì được thọ pháp Quán Đảnh và làm chức A Xà Lê. Năm 835, ông được Không Hải phó chúc cho quản lý Tàng Kinh Các của Đông Tự (東寺, Tō-ji), Chơn Ngôn Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và Hoằng Phước Tự (弘福寺, Gūfuku-ji). Năm 847, ông được cử làm chức Biệt Đương của Đông Đại Tự, đến năm 864 thì làm Tăng Chánh và trở thành Pháp Ấn Đại Hòa Thượng (法印大和尚). Bên cạnh đó, ông còn được Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō) tôn kính và tín nhiệm, mặt khác ông rất thâm giao với Tướng Quân Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara Yoshifusa), cho nên vào năm 862, ông kiến lập Trinh Quán Tự ở kinh đô Kyoto. Đệ tử của ông có Chơn Nhiên (眞然, Shinzen), Nguyên Nhân (源仁, Gennin).
Chơn Như
(眞如, Shinnyo, ?-?): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, một trong 10 đại đệ tử của Không Hải, húy là Chơn Như (眞如), Chơn Trung (眞忠), Biến Minh (遍明); thông xưng là Biến Minh Hòa Thượng (遍明和尚), Nhập Đường Tam Ngự Tử (入唐三御子), Hoàng Tử Thiền Sư (皇子禪師); tục danh là Cao Nhạc Thân Vương (高岳親王); xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara), là Hoàng Tử thứ 3 của Bình Thành Thiên Hoàng (平城天皇, Heizei Tennō, tại vị 806-809). Vào năm 809, khi Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) tức vị, ông làm Hoàng Thái Tử, nhưng năm sau thì bị phế bỏ. Đến năm 813, ông xuất gia và đến trú tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Ông theo học Tam Luận với Đạo Thuyên (道詮, Dōsen), sau đó theo hầu Không Hải. Vào năm 834, ông thọ phép Quán Đảnh với Pháp Toàn (法全) ở Thanh Long Tự (青龍寺). Tương truyền rằng trên đường sang Ấn Độ để chiêm bái Phật tích thì qua đời ở La Việt Quốc (羅越國). Trước tác của ông để lại có Du Kỳ Kinh Sớ (瑜祇經疏) 1 quyển, Thai Tạng Thứ Đệ (胎藏次第) 1 quyển, v.v.
; (s: bhūta-tathatā, tathatā, 眞如): chơn nghĩa là chơn thật, không hư vọng; như là như thường, bất biến. Chơn như là bản thể chân thật trùm khắp vũ trụ vạn vật, là chân lý vĩnh cửu bất biến, căn nguyên của hết thảy vạn hữu. Từ này còn được gọi là Như Như (如如), Như Thật (如實), Pháp Giới (法界), Pháp Tánh (法性), Thật Tế (實際), Thật Tướng (實相), Như Lai Tạng (如來藏), Pháp Thân (法身), Phật Tánh (佛性), Tự Tánh Thanh Tịnh Thân (自性清淨身), Nhất Tâm (一心), Bất Tư Nghì Giới (不思議界). Trong các Phật điển Hán dịch thời kỳ đầu, Chơn Như được dịch là Bản Vô (本無). Nếu nghiên cứu kỹ, các tông phái dùng từ này với nghĩa khác nhau. Theo A Hàm Kinh (阿含經), lý pháp của Duyên Khởi là chân lý vĩnh viễn bất biến, nên gọi đó là Chơn Như. Lại nữa, căn cứ vào thuyết Cửu Vô Vi (九無爲, 9 loại Vô Vi) do Hóa Địa Bộ (s: Mahīśāsaka, 化地部) trong Dị Bộ Tông Luân Luận (異部宗輪論), có Thiện Pháp Chơn Như (善法眞如), Bất Thiện Pháp Chơn Như (不善法眞如), Vô Ký Pháp Chơn Như (無記法眞如), Đạo Chi Chơn Như (道支眞如), Duyên Khởi Chơn Như (緣起眞如), v.v. Theo chủ trương của Phật Giáo Đại Thừa, bản tánh của tất cả tồn tại như người và pháp đều vô ngã, vượt qua các tướng sai biệt vốn có; nên gọi là Chơn Như. Tỷ dụ sự tự tại của Pháp Thân Như Lai là Chơn Như. Theo Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 7, Chơn Như là thật tánh của tất cả vạn tượng; tướng của nó tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng thể của nó cùng một vị, cùng với các pháp không một cũng không khác, vượt ra ngoài những phạm trù của ngôn ngữ, tư duy. Từ quan điểm xa lìa những sai khác, hư ngụy, Chơn Như, nó được gọi là Giả Danh Chơn Như (假名眞如). Hay nếu là nơi nương tựa của tất cả các điều thiện, nó có tên là Pháp Giới. Nếu là chỗ sở ngộ của trí vô phân biệt, nó có tên là Thắng Nghĩa (勝義). Về các tên gọi khác nhau của Chơn Như, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 360, có nêu 12 từ như Chơn Như, Pháp Tánh, Bất Hư Vọng Tánh (不虛妄性), Bình Đẳng Tánh (平等性), Ly Sanh Tánh (離生性), Pháp Định (法定), Pháp Trú (法住), Thật Tế, Hư Không Giới (虛空界) và Bất Tư Nghì Giới. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (阿毘達磨雜集論) quyển 2 có liệt ra 6 từ như Chơn Như, Không Tánh (空性), Vô Tướng (無相), Thật Tế, Thắng Nghĩa, Pháp Giới. Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) quyển 8 cũng nêu lên 14 từ khác nhau như Thật Tướng, Diệu Hữu (妙有), Chơn Thiện Diệu Sắc (眞善妙色), Thật Tế, Tất Cánh Không (畢竟空), Như Như, Niết Bàn (涅槃), Hư Không (虛空), Phật Tánh, Như Lai Tạng (如來藏), Trung Thật Lý Tâm (中實理心), Phi Hữu Phi Vô Trung Đạo (非有非無中道), Đệ Nhất Nghĩa Đế (第一義諦), Vi Diệu Tịch Diệt (微妙寂滅). Theo Thành Duy Thức Luận (成唯識論) quyển 10, Pháp Tướng Tông lập ra 10 loại Chơn Như khác nhau, tùy theo cấp độ giác ngộ sâu cạn của vị Bồ Tát, gồm: Biến Hành Chơn Như (變行眞如), Tối Thắng Chơn Như (最勝眞如), Thắng Lưu Chơn Như (勝流眞如), Vô Nhiếp Thọ Chơn Như (無攝受眞如), Loại Vô Biệt Chơn Như (類無別眞如), Vô Nhiễm Tịnh Chơn Như (無染淨眞如), Pháp Vô Biệt Chơn Như (法無別眞如), Bất Tăng Giảm Chơn Như (不增減眞如), Trí Tự Tại Sở Y Chơn Như (智自在所依眞如) và Nghiệp Tự Tại Đẳng Sở Y Chơn Như (業自在等所依眞如). Còn Địa Luân Tông thì chủ trương tự thể của A Lại Da Thức (s: ālaya-vijñāna, 阿賴耶識) thứ 8 là Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm (自性清淨心) và đó là Chơn Như. Thức này do bị Vô Minh huân tập, nên xuất hiện các hiện tượng ô nhiễm, thanh tịnh, v.v. Hoa Nghiêm Tông lại chủ trương “bản thể là hiện tượng”, có nghĩa rằng Chơn Như vốn là vạn pháp và vạn pháp cũng là Chơn Như. Cho nên, tông này nêu ra 2 loại Chơn Như: Nhất Thừa Chơn Như (一乘眞如, gồm Biệt Giáo Chơn Như [別敎眞如] và Đồng Giáo Chơn Như [同敎眞如]) và Tam Thừa Chơn Như (三乘眞如, gồm Đốn Giáo Chơn Như [頓敎眞如] và Tiệm Giáo Chơn Như [漸敎眞如]). Trong khi đó, Thiên Thai Tông thì dựa trên thuyết Tánh Cụ (性具, tánh có đầy đủ các pháp) mà cho rằng bản thân Chơn Như xưa nay vốn đầy đủ các pháp ô nhiễm, thanh tịnh, thiện ác, v.v. Từ đó, tự tánh thanh tịnh của chư Phật được gọi là Vô Cấu Chơn Như (無垢眞如), hay Xuất Triền Chơn Như (出纒眞如); còn thể tánh của chúng sanh bị phiền não làm cho cấu nhiễm, nên gọi là Hữu Cấu Chơn Như (有垢眞如), hoặc Tại Triền Chơn Như (在纒眞如); cả có tên là Lưỡng Cấu Chơn Như (兩垢眞如). Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sáng An Nam Phật Học Hội (安南佛學會) ở miền Trung và cũng là vị tổ khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế, có làm bài thơ rằng: “Phù sanh ký thác chơn như mộng, đáo xứ năng an tiện thị gia (浮生寄托眞如夢、到處能安便是家, phù sanh tạm gởi chơn như mộng, đến chốn khéo an ấy là nhà).”
chơn như thân
Body of true suchness.
chơn như thức
Xem Như lai tạng.
Chơn Phật
(眞佛, Shinbutsu, 1209-1258): vị Tăng của Chơn Tông sống vào khoảng giữa thời đại Liêm Thương, đệ tử thứ 2 trong số 24 nhân vật xuất chúng của Thân Loan, Tổ đời thứ 2 của Chuyên Tu Tự (專修寺, Senjū-ji) thuộc Phái Cao Điền (高田派), Tổ thứ 2 của Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji) thuộc Phái Phật Quang Tự (佛光寺派), Tổ thứ 2 của Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji) thuộc Phái Hưng Chánh (興正派); húy Chơn Phật (眞佛), tục danh là Chuy Vĩ Di Tam Lang Xuân Thời (椎尾彌三郎春時[?]); xuất thân vùng Chuy Vĩ (椎尾, Shiio), Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); con của Đại Nội Quốc Xuân (大內國春, Ōuchi Kuniharu), quan Quốc Ty (國司) của tiểu quốc Hạ Dã (下野, Shimotsuke). Ông theo làm đệ tử của Thân Loan trong khi Thân Loan đang giáo hóa ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), và ngôi Như Lai Đường ở vùng Hạ Dã Cao Điền (下野高田) tương truyền Chơn Phật kế thừa, chính là cứ điểm hoạt động truyền giáo của ông. Sau đó, ông cải đổi Như Lai Đường này thành Chuyên Tu Tự, và tạo nơi đây thành ngôi chùa trung tâm của giáo đoàn Chơn Tông thuộc Phái Cao Điền. Môn hạ của ông có Hiển Trí (顯智), Nguyên Hải (源海), v.v., toàn là những nhân vật kiệt xuất đương thời.
Chơn thuyên, chân thuyên
(眞詮): thuyên nghĩa là làm sáng tỏ, giải thích tường tận; làm sáng tỏ từng câu văn cú của chân lý được gọi là chân thuyên; còn viết là chân thuyên (眞筌), giống như chơn đế (眞諦). Như trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 26 có đoạn: “Thả kim thị ngoại thân chi phù tài, khởi tề chí giáo; mạng thị nhất kỳ chi nghiệp báo, hạt đẳng chơn thuyên (且金是身外之浮財、豈齊至教、命是一期之業報、曷等眞詮, vả lại vàng là tài sản tạm bợ ngoài thân, sao sánh với lời dạy rốt ráo; mạng là nghiệp báo của một kỳ, làm gì bằng sáng tỏ chân lý).” Trong Thiền Tông Vĩnh Gia Tập (禪宗永嘉集, Taishō Vol. 48, No. 2013) lại có câu: “Năng Nhân thị hiện, ứng hóa vô phương, khai diệu điển ư Tam Thừa, sướng chân thuyên ư Bát Bộ (能仁示現、應化無方、開妙典於三乘、暢眞詮於八部, đấng Năng Nhân thị hiện, ứng hóa khắp nơi, bày điển tịch nơi Ba Thừa, diễn chân lý nơi Tám Bộ).” Hay trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 10, phần Trương Cư Sĩ Huyết Thư Pháp Hoa (張居士血書法華), cũng có đoạn: “Thanh Hà Trương cư sĩ, trung niên cát khí trần lụy, đốc chí Phật thừa, lịch nương sanh thập chỉ chi tiên huyết, thư Pháp Hoa thất tụ chi chơn thuyên, thị chơn tinh tấn, thị danh chơn pháp cúng dường Như Lai (清河張居士、中年割棄塵累、篤志佛乘、瀝娘生十指之鮮血、書法華七軸之眞詮、是眞精進、是名眞法供養如來, cư sĩ họ Trương ở Thanh Hà, tuổi trung niên đã dứt bỏ mọi ràng buộc cuộc đời, dốc lòng tu Phật, lấy máu tươi mười ngón tay của bà, viết chân lý của bảy cuốn kinh Pháp Hoa, đó là tinh tấn thật sự, ấy mới gọi là đúng pháp cúng dường Như Lai).” Trong bài Đại Đường Tào Khê Đệ Lục Tổ Đại Giám Thiền Sư Đệ Nhị Bi Minh (大唐曹溪第六祖大鑒禪師第二碑銘) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Ngã lập chơn thuyên, yết khởi nam quốc, vô tu nhi tu, vô đắc nhi đắc (我立眞筌、揭起南國、無修而修、無得而得, ta lập chân lý, truyền bá nước nam, không tu mà tu, không đắc mà đắc).”
Chơn thường, chân thường
(眞常): chân thật thường trụ, dụng ngữ của Phật Giáo lẫn Đạo Giáo. Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 2 có đoạn: “Tánh chơn thường trung, cầu ư khứ lai, mê ngộ sanh tử, liễu vô sở đắc (性眞常中、求於去來、迷悟生死、了無所得, trong tánh chơn thường, tìm nơi đến đi, mê ngộ sống chết, biết không thể được).” Hay trong bài Xao Hào Ca (敲爻歌) của Lữ Nham (呂岩, 789-?) nhà Đường cũng có đoạn: “Đạt Thánh đạo, hiển chơn thường, hổ hủy đo binh cánh bất thương (達聖道、顯眞常、虎兕刀兵更不傷, đạt đến Thánh đạo, hiển bày chơn thường, cọp tê giác, đao binh cũng không làm tổn thương).” Hoặc trong bức Thượng Chấp Chính Thư (上執政書) của Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989-1052) nhà Tống lại có đoạn: “Phù Thích Đạo chi thư, dĩ chơn thường vi tánh, dĩ thanh tịnh vi tông (夫釋道之書、以眞常爲性、以清淨爲宗, phàm sách của Phật Giáo và Đạo Giáo, lấy chơn thường làm tánh, lấy sự thanh tịnh làm tông).” Bài tán Tâm Nhiên rất phổ biến trong Thiền môn cũng đề cập đến chơn thường như: “Tâm nhiên Ngũ Phận, phổ biến thập phương, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán thiệt nan lường, thụy ái tường quang, kham hiến pháp trung vương (心燃五分、普遍十方、香嚴童子悟眞常、鼻觀實難量、瑞靄祥光、堪獻法中王, tâm nhen Năm Món, biến khắp mười phương, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán thật khó lường, khí tốt hào quang, dâng cúng đấng pháp vương).”
Chơn Thạnh
(眞盛, Shinzei, Shinsei, 1443-1495): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Thất Đinh, tổ khai sáng Thiên Thai Chơn Thạnh Tông (天台眞盛宗), húy là Châu Năng (周能), Chơn Thạnh (眞盛), tên lúc nhỏ là Bảo Châu Hoàn (寳珠丸), thụy hiệu là Viên Giới Quốc Sư (圓戒國師), Từ Nhiếp Đại Sư (慈攝大師), xuất thân vùng Đại Ngưỡng (大仰), Y Thế (伊勢, Ise, thuộc Mie-ken [三重縣]), con của Tả Cận Úy Đằng Năng (左近尉藤能) ở Tiểu Tuyền (小泉). Năm 7 tuổi, ông đã vào tu ở Quang Minh Tự (光明寺) vùng Y Thế; đến năm 14 tuổi thì xuất gia với Thạnh Nguyên (盛源) ở chùa này và được đặt tên là Chơn Thạnh. Vào năm 1461, ông đến nhập môn tu học với Khánh Tú (慶秀) ở Tây Tháp của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi cấm túc trong núi suốt 20 năm để nghiên cứu về Chỉ Quán. Đến năm 1483, ông ẩn tu ở Thanh Long Tự (青龍寺) vùng Hắc Cốc (黑谷, Kurodani). Ông là người xác lập tông phong Giới Xưng Nhất Trí (戒稱一致) vốn xem trọng giới pháp và pháp môn Xưng Danh Niệm Phật trên cơ sở bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) của Nguyên Tín (源信, Genshin). Vào năm 1486, ông tái hưng Tây Giáo Tự (西敎寺)—cựu tích của Nguyên Tín—ở vùng Phản Bổn (坂本, Sakamoto), Cận Giang (近江, Ōmi). Sau đó, ông khai sáng đa số đạo tràng Niệm Phật Bất Đoạn ở các địa phương Cận Giang, Sơn Thành (山城, Yamashiro), Y Hạ (伊賀, Iga), Y Thế (伊勢, Ise), Việt Tiền (越前, Echizen), v.v. Năm 1492, ông truyền giới cho Hậu Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇), giảng thuyết về áo nghĩa niệm Phật và tận lực giáo hóa cho những nhà làm chính trị. Trước tác của ông để lại có Tấu Tấn Pháp Ngữ (奏進法語) 1 quyển, Niệm Phật Tam Muội Ngự Pháp Ngữ (念佛三昧御法語) 1 quyển, v.v.
chơn tu giả tu
Genuine and Sham cultivation—Làm thế nào biện biệt được chơn tu và giả tu?—How can we tell the genuine from the sham cultivator?
Chơn Tuệ
(眞惠, Shinne, 1434-1512): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, thuộc Phái Cao Diền (高田派), sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Chơn Tuệ (眞惠), xuất thân vùng Tochigi-ken (栃木縣), con (?) của Định Hiển (定顯), vị Tổ đời thứ 9 của Chuyên Tu Tự (專修寺). Ông đã từng học qua hai Tông Hiển Mật tại Nghênh Vân Tự (迎雲寺) thuộc Tịnh Độ Tông ở vùng Thường Lục (常陸, Hitachi), đến khoảng năm 1458 thì ông trở về vùng Cao Điền (高田), Hạ Dã (下野, Shimotsuke). Năm sau, ông đi bố giáo khắp vùng Gia Hạ (加賀, Kaga), Việt Tiền (越前, Echizen), Cận Giang (近江, Ōmi), rồi khi đến vùng Y Thế (伊勢, Ise) thì ông đã quy y cho rất nhiều hàng xuất gia cũng như tại gia. Năm 1464, ông kế thế Chuyên Tu Tự ở vùng Hạ Dã, đến năm sau, sau khi vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani) trên Tỷ Duệ Sơn bị phá tan, ông tuyệt giao với Liên Như (蓮如, Rennyo) ở Bổn Nguyện Tự, rồi kiến lập ở vùng Y Thế ngôi Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院, tức Chuyên Tu Tự ngày nay) để làm cứ điểm cho hoạt động giáo hóa của mình. Năm 1472, ông viết quyển Hiển Chánh Lưu Nghi Sao (顯正流儀抄), xác lập giáo nghĩa của giáo đoàn Pháp Cao Điền, rồi chế ra Vĩnh Chánh Quy Chế (永正規制), và tận lực làm cho giáo đoàn hưng thạnh. Trước tác của ông có Hiển Chánh Lưu Nghi Sao 2 quyển, Vĩnh Chánh Quy Chế Tắc (永正規制則) 1 quyển.
Chơn tánh, chân tánh
(眞性): có hai nghĩa. (1) Thiên tánh, bản tánh. Như trong Trang Tử (莊子), thiên Mã Đề (馬蹄), có đoạn: “Mã, đề khả dĩ tiễn sương tuyết, mao khả dĩ ngự phong hàn, hột thảo ẩm thủy, kiều túc nhi lục, thử mã chi chơn tánh dã (馬、蹄可以踐霜雪、毛可以禦風寒、齕草飲水、翹足而陸、此馬之眞性也, ngựa, móng của nó có thể đạp lên sương tuyết, lông có thể chống gió lạnh, ăn cỏ uống nước, chân cong mà đi trên bộ, đây là bản tánh của ngựa vậy).” Hay trong bài thơ Thái Tang (采桑) của Lý Sảng Viễn (李彥遠, ?-?) nhà Đường có câu: “Hà dĩ biến chơn tánh, u hoàng tuyết trung lục (何以變眞性、幽篁雪中綠, lấy gì đổi thiên tánh, bụi tre trong tuyết xanh).” (2) Bản tánh chân thật, không sai lầm, không thay đổi. Phật Giáo chủ trương con người chúng ta có đủ chơn tánh và chơn tánh của chư Phật, Bồ Tát vốn không khác nhau gì. Trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō Vol. 48, No. 2008), Phẩm Bát Nhã (般若品), có đoạn: “Nhất thiết Bát Nhã trí, giai tùng tự tánh nhi sanh, bất tùng ngoại nhập, mạc thố dụng ý, danh vi chơn tánh tự dụng (一切般若智、皆從自性而生、不從外入、莫錯用意、名爲眞性自用, hết thảy trí tuệ Bát Nhã, đều từ tự tánh mà sanh, không từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý, gọi là chơn tánh tự dụng).” Hay trong Bát Nhã Tâm Kinh Chú Giảng (般若心經註講, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 568) cũng có câu: “Chơn tánh bổn lai vô nhiễm, cố bất cấu bất tịnh (眞性本來無染、故不垢不淨, chơn tánh xưa nay không nhiễm, nên không nhớp không sạch).” Thiền sư Thuần Chân (純眞, ?-1101), đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, có bài kệ Thị Đệ Tử Bổn Tịch (示弟子本寂) rằng: “Chơn tánh thường vô tánh, hà tằng hữu sanh diệt, thân thị sanh diệt pháp, pháp tánh vị tằng diệt (眞性常無性、何曾有生滅、身是生滅法、法性未曾滅, chơn tánh thường không tánh, đâu từng có sanh diệt, thân là sanh diệt pháp, pháp tánh chưa từng diệt).”
chơn tâm
True mind—True nature—See Chân Tâm in Vietnamese-English Section.
Chơn Tông
(眞宗, Shinshū): nghĩa là giáo học thuyết về chân lý cứu cánh, chân thật, hay còn gọi là Tịnh Độ Chơn Tông (淨土眞宗, Jōdōshinshū). Phật Giáo là giáo lý nói về chân lý, là tôn giáo chân thật nên mới gọi là Chơn Tông. Pháp Chiếu (法照) cho rằng “niệm Phật thành Phật là Chơn Tông”, sau Thân Loan (親鸞, Shinran) mới chấp nhận điều này mà cho rằng “niệm Phật thành Phật là Chơn Tông, còn các hạnh khác cũng như các việc làm thiện khác là giả môn”. Và ông đã tán dương rằng chính Tịnh Độ Môn của Niệm Phật Thành Phật là lời dạy chân thật, là con đường cứu độ cho hết thảy. (xem thêm chi tiết Tịnh Độ Chơn Tông bên dưới)
chơn tông
ShinshŪ (J)Tịnh độ chơn tôngDo ngài Chơn Loan (1173 - 1263) sáng lập ở Nhật.
Chơn Tế
(眞濟, Shinzei, 800-860): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 3 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), một trong 10 vị đại đệ tử của Không Hải, húy là Chơn Tế (眞濟), thông xưng là Cao Hùng Tăng Chánh (高雄僧正), Kỷ Tăng Chánh (紀僧正), Thị Bổn Tăng Chánh (柿本僧正), xuất thân kinh đô Kyoto; con của Tuần Sát Đàn Chánh Đại Bậc Kỷ Ngự Viên (巡察彈正大弼紀御園). Lúc nhỏ, ông theo học Nho Giáo, sau đầu sư với Không Hải, rồi đến năm 824 thì thọ phép Quán Đảnh và trở thành Truyền Pháp A Xà Lê. Đến năm 832, khi Không Hải lên ẩn cư trên Cao Dã Sơn, ông được phó chúc quản lý Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺, tức Thần Hộ Tự [神護寺, Jingo-ji]). Vào năm 836, ông định sang nhà Đường với Chơn Nhiên (眞然), nhưng vì phong ba bão táp nên không thành, và đến năm 840 thì làm Biệt Đương của Thần Hộ Tự. Năm 843, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, rồi đến năm 855 thì được bổ nhiệm làm Tăng Chánh của Chơn Ngôn Tông, nhưng ông nhường chức lại cho Không Hải. Vào năm 858, ông làm lễ cầu nguyện cho bệnh tình của Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō, tại vị 850-858), nhưng sau đó thì Thiên Hoàng băng hà; từ đó, ông lui về ẩn cư ở Thần Hộ Tự. Và tận lực làm cho chùa này hưng thịnh. Ông rất giỏi về thi văn, từng biên tập bộ Hán Thi của Không Hải là Tánh Linh Tập (性靈集). Trước tác của ông để lại có Thai Tạng Giới Niệm Tụng Tư Ký (胎藏界念誦私記) 1 quyển, Phật Bộ Phật Cúng Dường Pháp (佛部佛供養法) 1 quyển, Cao Hùng Khẩu Quyết (高雄口決) 1 quyển, v.v.
Chơn Tể
(眞宰): đấng chủ tể của vạn vật. Trong Đạo Gia (học phái của Trang Tử, Lão Tử), vị này được ví cho Trời. Như trong Vô Thượng Cửu Tiêu Ngọc Thanh Đại Phạm Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (無上九霄玉清大梵紫微玄都雷霆玉經) của Đạo Giáo có xuất hiện các từ như Thiên Lôi Chơn Tể (天雷眞宰), Thần Lôi Chơn Tể (神雷眞宰), v.v. Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, CBETA No. 1248) có câu: “Cận viễn miếu mạo hà nhĩ linh kỳ, bổn am lập địa dực ứng, Sĩ Chu Tuyên Linh Chúa Hộ Già Lam thần, hợp đường chơn tể, trù ty Giám Trai Sứ Giả, chủ thang hỏa Tỉnh Táo thần kỳ (近遠廟貌遐邇靈祇、本菴立地翊應、俟周宣靈主護伽藍神、合堂眞宰、廚司監齋使者、主湯火井灶神祇, xa gần ngoài miếu, xa gần thần linh; bổn am lập địa ứng giúp, Sĩ Chu Tuyên Linh Chúa Hộ Già Lam thần, chư vị Chơn Tể cùng thờ, Giám Trai Sứ Giả nhà bếp, Thần Táo Quân, Thần Giếng chủ quản lửa nước).”
Chơn Tịnh Khắc Văn
(眞淨克文, Shinjō Kokubun, 1025-1102): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Văn Hương (閿郷), Thiểm Phủ (陜府, Tỉnh Hồ Nam), họ là Trịnh (鄭), hiệu là Vân Am (雲庵), và tùy theo chỗ ở của ông cũng như Thiền sư hiệu mà có các tên gọi khác nhau như Lặc Đàm Khắc Văn (泐潭克文), Bảo Phong Khắc Văn (寳峰克文) và Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文). Ngay từ nhỏ ông đã kiệt xuất, nên cha ông có ý cho ông đi du học. Nhân nghe lời thuyết pháp của Bắc Tháp Tư Quảng (北塔思廣) ở Phục Châu (復州, Tỉnh Hồ Bắc), ông phát tâm theo hầu hạ vị này, và được đặt cho tên là Khắc Văn. Năm lên 25 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới. Ban đầu ông học các kinh luận, nhưng khi biết có Thiền thì ông ngao du lên phương Nam, và vào năm thứ 2 (1065) niên hiệu Trị Bình (治平), ông nhập hạ an cư trên Đại Quy Sơn (大潙山). Tại đây nhân nghe một vị tăng tụng câu kệ của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), ông hoát nhiên đại ngộ, rồi đến tham vấn Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) ở Tích Thúy (積翠) và kế thừa dòng pháp của vị này. Trong số môn hạ của Hoàng Long, ông là người có cơ phong mẫn nhuệ nên thông xưng là Văn Quan Tây (文關西). Vào năm thứ 5 (1072) niên hiệu Hy Ninh (熙寧), ông đến Cao An (高安), thể theo lời thỉnh cầu của vị Thái Thú Tiền Công (錢公), ông đến trú trì hai ngôi chùa Động Sơn Tự (洞山寺) và Thánh Thọ Tự (聖壽寺) trong vòng 12 năm. Sau đó, ông lại lên Kim Lăng (金陵), được Thư Vương (舒王) quy y theo và khai sơn Báo Ninh Tự (報寧寺). Ông còn được ban cho hiệu là Chơn Tịnh Đại Sư (眞淨禪師). Không bao lâu sau, ông lại quay trở về Cao An, lập ra Đầu Lão Am (投老庵) và sống nhàn cư tại đây. Sau 6 năm, ông đến trú tại Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山). Tiếp theo, thể theo lời thỉnh cầu của Tể Tướng Trương Thương Anh (張商英), ông lại chuyển đến sống ở Lặc Đàm (泐潭). Cuối cùng ông trở về sơn am ẩn cư và vào ngày 16 tháng 10 năm đầu (1102) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 52 hạ lạp. Cùng với Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心) và Đông Lâm Thường Thông (東林常聰), ông đã tạo dựng nên cơ sở phát triển cho Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông. Đệ tử của ông có những nhân vật kiệt xuất như Đâu Suất Tùng Duyệt (兜率從悅), Thọ Ninh Thiện Tư (壽寧善資), Động Sơn Trí Càn (洞山致乾), Pháp Vân Cảo (法雲杲), Báo Từ Tấn Anh (報慈進英), Thạch Đầu Hoài Chí (石頭懷志), Lặc Đàm Văn Chuẩn (泐潭文準), Văn Thù Tuyên Năng (文殊宣能), Huệ Nhật Văn Nhã (慧日文雅), Động Sơn Phạn Ngôn (洞山梵言), Thượng Phong Huệ Hòa (上封慧和), Cửu Phong Hy Quảng (九峰希廣), v.v. Trước tác của ông để lại có Vân Am Chơn Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục (雲庵眞淨禪師語錄) 6 quyển, còn đệ tử Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) thì soạn ra cuốn Vân Am Chơn Tịnh Hòa Thượng Hành Trạng (雲庵眞淨和尚行狀).
Chơn Đế
(s: Paramārtha, j: Shindai, 眞諦, 499-569): vị tăng dịch kinh trứ danh sống vào khoảng thế kỷ thứ 6, âm dịch Tác Ba La Mạt Tha (作波羅末他), Ba La Mạt Đà (波羅末陀), còn gọi là Câu La Na Đà (s: Kulanātha, 拘羅那陀), xuất thân vùng Ưu Thiền Ni (s: Ujjainī, 優禪尼) ở Tây Bắc Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà La Môn, họ Phả La Đọa (s: Bhārata, 頗羅墮), tánh chất thông minh, ghi nhớ sâu sắc, biện tài vô ngại. Lúc nhỏ ngao du khắp các nơi, từng hầu qua nhiều bậc thầy, nghiên cứu hết các điển tịch, quán thông cả tam tạng, 6 bộ, hiểu rõ diệu lý Đại Thừa. Vào năm đầu (546) niên hiệu Đại Đồng (大同) dưới thời nhà Lương, ông mang kinh điển sang vùng Nam Hải (南海), Trung Quốc. Đến năm thứ 2 (548) niên hiệu Thái Thanh (太清), ông vào Kiến Nghiệp (建業, tức Nam Kinh [南京]) yết kiến Võ Đế; nhưng lúc bấy giờ lại gặp phải loạn Hầu Cảnh (候景) bèn phải lánh nạn về phương Nam, du lịch các địa phương như Tô Châu (蘇州), Triết Châu (浙州), Mân Châu (閩州), Cám Châu (贛州), Quảng Châu (廣州), v.v., nhưng vẫn không hề xao lãng chuyện dịch kinh của mình. Vào năm đầu (569) niên hiệu Thái Kiến (太建) nhà Trần, ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Từ cuối thời Lương Võ Đế cho đến khi qua đời, ông đã dịch được tất cả 64 bộ và 278 quyển kinh luận, hiện chỉ còn lại 30 bộ, phần lớn là những điển tịch quan trọng để nghiên cứu Phật Giáo. Ông cùng với Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664) và Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) được xem như là 4 nhà phiên dịch vĩ đại trong văn học Phật Giáo Trung Quốc. Phương pháp và học thức phiên dịch của ông là kim chỉ nam dẫn đường cho lịch sử truyền dịch của Phật Giáo Trung Quốc. Ngoài Chuyển Thức Luận (轉識論), Đại Thừa Duy Thức Luận (大乘唯識論) và các điển tịch về Duy Thức ra, còn có Kim Quang Minh Kinh (金光明經), Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論), Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (攝大乘論釋), Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận (律二十二明了論), Trung Biên Phân Biệt Luận (中邊分別論), Thập Thất Địa Luận (十七地論), Câu Xá Luận Thích (倶舍論釋), Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), v.v. Trong số đó, Nhiếp Đại Thừa Luận và Nhiếp Đại Thừa Luận Thích có ảnh hưởng lớn nhất, trở thành căn cứ lý luận chủ yếu cho học phái Nhiếp Luận dưới thời Nam Triều. Vì vậy, Chơn Đế được tôn sùng là vị tổ của Nhiếp Luận Tông.
chơn đế
Paramārtha (S), The ultimate benefit Paramattha (P)Thắng nghĩa1- Đệ nhất nghĩa, chân nghĩa. 2- Tên một cao tăng thế kỷ VI dịch bộ A ty dạt ma câu xá luận của ngài Thế Thân sang chữ Hán vào năm 563. Xem Diệu đế.
chư
The diverse kinds, many, the many, all, every; on, at, in regard to.
; Hết thảy—The diverse kinds—Many—All—Every.
chư ba la mật
(諸波羅蜜) Tức gọi chung sáu ba la mật và mười ba la mật. Sáu ba la mật là Bố thí ba la mật, Trì giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Định ba la mật và Trí tuệ ba la mật, là sáu pháp của Bồ tát tu hành được liệt kê trong Pháp giới thứ đệ quyển 10. Còn mười ba la mật là các pháp tu hành của Bồ tát Thập địa được ghi trong luận Thành duy thức quyển 9, ngoài sáu pháp kể trên ra, còn thêm bốn pháp nữa là Phương tiện ba la mật, Nguyện ba la mật, Lực ba la mật và Trí ba la mật. (xt. Thập Ba La Mật, Lục Ba La Mật).
chư ba la mật y quả
(諸波羅蜜依果) Y quả, các hành nương tựa trước, dấy lên sau, hoặc nương vào nhau mà được lớn thêm, cũng tức là quả nương tựa nhau. Là một trong mười thứ công đức mà Bồ tát thu đạt được khi tu hành theo Bồ tát thừa. Tức là công đức rốt ráo của Bồ tát khi tu các pháp Ba la mật Bố thí, Trì giới, Tinh tiến v.v... - vì các Ba la mật nương vào nhau mà khởi, hoặc thêm lớn cho nhau, cho nên có tên gọi như trên. (xt. Thập Chủng Y Quả).
chư bảo hàng thụ
(諸寶行樹) Các hàng cây báu. Kinh A di đà chép, khi ngọn gió hiu hiu thổi, thì các hàng cây báu ở cõi Tịnh độ cực lạc, hay phát ra những thứ âm thanh du dương mầu nhiệm, như trăm nghìn thứ âm nhạc cùng trỗi dậy, khiến những người nghe sinh khởi lòng kính tin đối với Phật pháp tăng tam bảo.
chư bồ tát hộ pháp
The Dharma protector Bodhisattvas.
chư chấp
(諸執) Chỉ chín chấp (chín diệu). Tức là mặt trời, mặt trăng, sao hỏa, sao thủy, sao mộc, sao kim, sao thổ, sao la hầu, sao kế đô, nói gộp lại là chín chấp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4].
chư căn
All roots, powers or organs, e.g. faith, energy, memory, meditation, wisdom; or, eyes, ears, nose, tongue and body.
; Ngũ Căn—All roots, powers, organs, e.g. 1) Tín, tấn, niệm, định, tuệ: Faith, energy, memory, meditation, wisdom. 2) Mắt, tai, mũi, luỡi, thân: Eyes, ears, nose, tongue and body.
; (諸根) Chỉ năm căn mắt tai mũi lưỡi thân. Hoặc là năm căn tin tưởng, siêng năng, nhớ nghĩ, định tâm, trí tuệ. Cũng chỉ chung hết thảy thiện căn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng - kinh Xuất diệu phẩm Hoạch yếu].
chư căn cụ túc nguyện
(諸根具足願) Là nguyện thứ bốn mươi mốt trong bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà. Cũng gọi là Cụ túc chư căn nguyện. Nguyện rằng bất cứ ai niệm danh hiệu của Phật A di đà, đều được nhờ công đức của Phật mà đầy đủ các thiện căn.
chư căn thắng liệt trí lực
(諸根勝劣智力) Phạm: Indriya-paràpara-jĩàna-bala. Là một trong mười lực của Như lai. Còn gọi là Căn thượng hạ trí lực. Như lai có đủ mười thứ trí lực, trong đó, Chư căn thắng liệt trí lực tức là cái sức trí tuệ của Như lai có khả năng biết rõ hết một cách như thực tất cả căn cơ trên dưới hơn kém của chúng sinh. (xt. Thập Lực).
chư duyên
All the accessory conditions, or environmental causes which influence life.
; Tất cả những điều kiện phụ thuộc bên ngoài làm ảnh hưởng đến cuộc sống—All the accessory conditions, or environmental causes which influence life.
; (諸緣) Duyên, chỉ nhân duyên. Chư duyên, gọi chung hết thảy nhân duyên của thế giới hiện tượng. Trăm nghìn vạn triệu hương, sắc của cõi đời, đều là những cái mà tâm thức chúng ta vin theo - như lưỡi nếm mùi vị mà biết đắng, cay, mặn, lạt. Nhưng theo nghĩa thực của Đại thừa, thì các duyên đều là do tâm thức biến hiện cả.
chư gia giáo tướng đồng di tập
(諸家教相同異集) Có một quyển. Do sư Viên trân thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Còn gọi là Cam lộ tập. Thu vào Đại chính tạng tập 74. Là sách so sánh giáo tướng dị đồng của các tông và thuyết minh tóm tắt về vấn đề này. Nếu theo sự khác nhau về giáo tướng, thì nguyên có hai mươi lăm nhà, nhưng trong sách này, soạn giả chỉ liệt cử có mười nhà là: Tam pháp luân nhị tạng giáo của Cát tạng đời Tùy, Tứ giáo của Nguyên hiểu nước Tân la đời Đường, Ngũ giáo của Pháp tạng, Tứ giáo của Huệ uyển, Tam thời giáo của Biến học, Ngũ thời giáo của Thất bảo, Thất giai ngũ thời thuyết của Lưu cầu, Ngũ thời bát giáo của Thiên thai Trí giả, Ngũ thời giáo của Thượng cung Thái tử Nhật bản, Nhị chủng giáo của Từ giác ở Duệ sơn v.v...
chư gia tông phái
(諸家宗派) Có một quyển. Do Thủ nhất Không thành đời Thanh biên soạn. Được in gộp làm một với Phật tổ tâm đăng (không rõ tác giả) và ấn hành vào năm Quang tự 16 (1890). Còn gọi là Tông giáo luật chư gia diễn phái. Thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này bao quát nguồn dòng của năm nhà Lâm tế, Qui ngưỡng, Động sơn, Vân môn, Pháp nhãn, cho đến các tông phái dưới Thiên hoàng, Thiên thai giáo quán, Hoa nghiêm Hiền thủ giáo, Nam sơn Luật phái, và có thêm các phái mà pháp hệ truyền thừa không được rõ. Toàn văn bao hàm các kệ tụng đơn giản trong sáng của các Thiền sư, thuật rõ nguồn dòng truyền thừa của các tông. Ở cuối quyển có chép phụ một thiên Tố tra Tây tạng Lạt ma lai nguyên (tìm xét nguồn gốc của Lạt ma Tây tạng trở về trước) trích từ Thánh vũ kí quyển 5.
chư giáo quyết định danh nghĩa luận
(諸教决定名義論) Có một quyển. Bồ tát Từ thị viết, sư Thí hộ đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này giải thích nghĩa chân thực của những chữ căn bản trong các giáo, như mở bày nghĩa sâu kín của các chữ Án, chữ Hồng v.v... Nếu hành giả biết rõ nghĩa như thực của các chữ, và do quán xét kĩ muôn pháp mà an trụ nơi chính niệm, thì có thể đạt đến cảnh giới đại Niết bàn yên vui.
chư hiền
Wise ones—Ladies and gentlemen (a term of respect used when addressing an assembly).
chư hành
hành là chỉ chung sự tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu và ý, do khi tiếp xúc với trần cảnh, khởi tâm ham muốn hoặc ghét giận. Các hành dời chuyển từ chỗ này đến chỗ kia (thiên lưu), do nhân duyên mà sanh ra, dời chuyển trong ba đời, từ quá khứ, đến hiện tại, sang vị lai. Kinh Phật dạy rằng: “Các hành là vô thường.”
; Tất cả mọi sự thay đổi của hiện tượng; mọi hành động (các pháp hữu vi do nhân duyên sanh ra và lưu chuyển trong ba đời)—All phenomenal changes; all conduct or action.
; (諸行) I. Chư hành. Chỉ hết thảy pháp hữu vi. Hành (Phạm: Saôskàra, Pàli: Saíkhàra), tức là những cái do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Trong Phật giáo căn bản, Chư hành đồng nghĩa với Nhất thiết, Chư pháp. Nhưng Phật giáo bộ phái thì cho Chư hành chỉ cho các pháp hữu vi thôi, còn Nhất thiết, Chư pháp, không những chỉ là pháp hữu vi, mà còn chỉ cho cả các pháp vô vi nữa. Các pháp hữu vi do nhân duyên hình thành chẳng phải là vĩnh viễn bất biến, mà luôn luôn biến hóa lưu động (tức vô thường), cho nên bảo là Chư hành vô thường. Kệ vô thường được ghi trong kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 14, Chư hành vô thường là câu đầu. Chư hành vô thường là một trong ba Pháp ấn, là tư tưởng căn bản của Phật giáo. [X. luận Câu xá Q.22 - Trung luận phẩm Quán hành - Pháp hoa huyền nghĩa Q.10]. II. Chư hành. Chỉ các hành vi tốt lành của thân, khẩu, ý tu tập để đạt đến Bồ đề. Cũng gọi là Vạn hạnh. Hành (Phạm: Caryà, Pàli: Cariyà), là nghĩa động tác, hành vi. Trong Tịnh độ giáo, ngoài thiện hành xưng danh niệm Phật ra, các thiện hành khác gọi là Chư hành, cũng gọi là Định tán chư hành, Dư hành. Và gọi những người tu Chư hành mà được vãng sinh Cực lạc là Chư hành vãng sinh. Trong các tông phái Tịnh độ Nhật Bản, cũng có thuyết chủ trương chân ý bản nguyện của Phật A di đà là ở nơi Chư hành vãng sinh, gọi là Chư hành bản nguyện nghĩa - còn thuyết chủ trương nếu chỉ nương vào Chư hành thì không có cách nào được vãng sinh, gọi là Chư hành bất sinh nghĩa. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4 - An lạc tập Q.hạ].
chư hành bản nguyện
(諸行本願) Có nghĩa là ngoài việc niệm Phật ra, lấy Chư hành vạn thiện làm bản nguyện. Danh từ này có xuất xứ từ cuốn sách Niệm Phật bản nguyện nghĩa của Trường tây, vị tăng thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Chư hành và Niệm Phật đều là thệ nguyện của Phật A di đà và coi đó là nhân hành vãng sinh của chúng sinh. Niệm Phật vãng sinh, lấy nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện của Phật làm cơ sở. Còn Chư hành vãng sinh thì nương nơi nguyện thứ mười chín tu các công đức và nguyện thứ hai mươi trồng các gốc đức mà thành.
chư hành hữu vi kinh
Anityata sŪtra (S).
; (諸行有爲經) Phạm: Anityatà-sùtra. Có một quyển. Do sư Pháp thiên đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung ghi chép lời nói pháp của đức Phật trong vườn Cấp cô độc về sự vô thường biến thiên của hết thảy các hành, cho đến bản thân đức Phật cũng phải vứt bỏ cái thân thịt giả dối này.
chư hành vãng sinh
(諸行往生) Do tông Tịnh độ lập ra. Có nghĩa là ngoài việc niệm Phật, tu muôn hạnh thiện khác cũng có thể được vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Các đại sư thuộc tông Tịnh độ Trung quốc ở đời Đường, đối với Chư thiện vạn hạnh có lập các danh mục khác nhau, như trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa, sư Thiện đạo gọi là Tạp hành, trong An lạc tập quyển hạ, sư Đạo xước gọi là Vạn hạnh, vì thế mà có tên gọi Vạn hạnh vãng sinh. Tổ Pháp nhiên của tông Tịnh độ Nhật bản, lấy Xưng niệm danh hiệu Phật A di đà trong năm chính hành làm phương pháp vãng sinh Tịnh độ, nhưng đệ tử của Pháp nhiên là Trường tây thì nói Chư hành và Niệm Phật nên phải được coi ngang nhau. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.5].
chư hành vô thường
Anityah-sarva-saṁskārah (S).
; Whatever is phenomenal is impermanent.
; Vạn vật thường biến chuyển (Theo Kinh Niết Bàn: “Chư hành vô thường là pháp sinh diệt.” Chư pháp hữu vi luôn luân chuyển trong ba đời gọi là chư hành, vì chư hành là sinh diệt vô thường, là khổ. Chừng nào diệt được cả sinh diệt, tức là vô sinh vô diệt, thì chừng đó là tịch diệt, là niết bàn.”)—Whatever is phenomenal is impermanent.
; (諸行無常) Phạm: Anityà# sarva saôskàrà#. Có nghĩa là hết thảy hiện tượng và muôn vật trong thế gian luôn luôn biến chuyển không ngừng. Đây là đại cương căn bản của Phật pháp. Cùng với Chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh cùng là một trong ba Pháp ấn, gọi là Chư hành vô thường ấn, hoặc Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Gọi là ba Pháp ấn, tức là nhờ vào ba thứ pháp môn mà phán đoán được Phật pháp có cùng tột hay không. Kệ vô thường trong kinh Niết bàn quyển hạ (Đại 1, 204 hạ), nói : Các hành vô thường, là pháp sinh diệt - sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Nhật bản có Y lữ ba ca , tức bài hát do ngâm vịnh bốn câu trên đây mà thành. (xt. Vô Thường, Y Lữ Ba Ca).
chư hành y quả
(諸行依果) Là một trong mười thứ công đức của Bồ tát y vào Bồ tát thừa tu hành mà được. Vì chủng loại các hành của Bồ tát tu tập thì rất nhiều, phạm vi rất rộng, hành này hành khác nương nhau mà khởi, hoặc thêm lớn cho nhau, cho nên có tên gọi như trên. [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) Q.38 phẩm Li thế gian]. (xt. Thập Chủng Y Quả).
chư hạnh
All phenomenal changes; all conduct or action.
chư học khái luận
(諸學概論) Tiếng Tây tạng: Dag-yig mkhas-pahi -hbyuí-gnas zes-bya-ba. Do La lại tất đa nhĩ cát (Tạng: Rol-pahi rdo-rje), do Rolpa#i rdo-rje tại địa phương Chương gia soạn vào thế kỉ thứ XV. Tác giả là vị Phật sống tại Đa luân đa thuộc Ngoại mông. Sách này là bộ sách khái luận về Phật giáo, nguyên văn bằng tiếng Tây tạng, sau được dịch ra tiếng Mông cổ, là sách nhập môn và từ điển rất tốt cho những người học Phật tại Tây tạng và Mông cổ, vì thế được san hành cực rộng và rất nhiều bản in. Nội dung sách như sau: 1. Tông nghĩa nhất thiết trí chi li tông nghĩa đắc chương (Bát nhã bộ), 2.Trung quán chương. 3. A tì đạt ma chương (Câu xá bộ), 4. Luật chương.5. Tông nghĩa chương. 6. Bí mật chân ngôn chương. 7. Nhân minh chương. 8. Thanh minh chương. 9. Công xảo minh chương. 10. Y phương minh chương. 11. Cổ kim ngữ học chương. Trên đây là tác giả căn cứ vào giáo nghĩa của Hoàng giáo (giáo phái của chính tác giả) làm cơ sở mà giới thiệu tông nghĩa của các phái.
chư hữu
chỉ chung tất cả các cảnh giới hiện hữu của chúng sanh, do nghiệp báo mà có. Về nghiệp báo của chúng sanh, do có nhân mà có quả, nên gọi là hiện hữu. Kể trọn trong Ba cõi có hai mươi lăm cảnh giới hiện hữu (nhị thập ngũ hữu): 14 cảnh thuộc về Dục giới, 7 cảnh thuộc về Sắc giới, 4 cảnh thuộc về Vô sắc giới.
; All that exists; all beings.
; Tất cả những gì hiện hữu (đều do quả báo có nhân có quả của chúng sanh)—All that exists; all beings. ** For more information, please see Tam Hữu, Tứ Hữu, Thất Chủng Hữu, Cửu Hữu, and Nhị Thập Ngũ Hữu.
; (諸有) Chỉ muôn tượng sai biệt trong thế giới mê vọng. Chúng sinh tạo nghiệp, do nhân sinh quả, nhân duyên quả báo có thực không hư - có thể chia làm nhiều loại, như ba hữu, bốn hữu, bảy hữu, chín hữu, hai mươi lăm hữu v.v......, gọi chung là Chư hữu. Ngoài ra, Chư hữu là biển sống chết mà chúng sinh phàm phu nổi chìm trong đó, cho nên gọi là Chư hữu hải. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tựa - kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da - Đại thừa nghĩa chương Q.8 - Giáo hành tín chứng Tín quyển].
chư kinh yếu tập
(諸經要集) Gồm hai mươi quyển. Còn gọi là Thiện ác nghiệp báo luận. Do ngài Đạo thế soạn vào năm Hiển khánh thứ 4 (659) đời Đường. Thu vào Đại chính tạng tập 54. Về soạn giả của sách này, từ xưa có hai thuyết: một bảo là Đạo thế, một là Đạo tuyên. Sách này căn cứ vào các kinh luật luận của Đại thừa, Tiểu thừa, chọn lấy các mục trọng yếu (nhiều nhất là các mục thiện ác, nghiệp báo), thu chép các nghĩa quan trọng, rồi phân loại soạn tập mà thành. Toàn sách có hai mươi quyển, chia làm ba mươi bộ, một trăm sáu mươi lăm mục. Sách này vì mục đích tiện lợi cho sự tìm tra tất cả các kinh mà soạn ra, có tính chất như một bộ từ điển bách khoa của Phật giáo. Pháp uyển châu lâm về sau là mở rộng thêm phạm vi của sách này mà thành. [X. Pháp uyển châu lâm Q.100 - Khai nguyên thích giáo lục Q.8 - Chư tông chương sớ lục Q.thượng - Đông vực truyền đăng lục Q.hạ].
chư kiến
chỉ chung các tà kiến của những kẻ còn phiền não, còn mê lầm. Tất cả có sáu mươi hai tà kiến, nhưng nên hiểu đây chỉ là một con số tượng trưng cho tất cả những kiến giải, quan điểm sai lầm.
; All the diverse views; all heterodox opinions, sixty two in number.
; Tất cả mọi tà kiến (gồm 62 tà kiến)—All the diverse views; all heterodox opinions (sixty-two in number).
; (諸見) Tức là các loại tà kiến, cộng có sáu mươi hai loại, là những vọng chấp của ngoại đạo tại Ấn độ đời xưa. Về sự phân loại của chúng, trong các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Chú Duy ma kinh quyển 2 (Đại 38, 345 thượng), chép: Triệu nói: Chư kiến, tức là sáu mươi hai vọng kiến vậy’. [X. kinh Duy ma cật phẩm Đệ tử]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
chư kiến cảnh
(諸見境) Một trong mười thứ quán cảnh do tông Thiên thai thành lập. Nói tắt là Kiến cảnh. Có nghĩa là người được Thiền do quán xét Thiền định mà sinh ra tà tuệ tà giải, rồi phát khởi kiến hoặc mạnh mẽ, gây trở ngại cho chỉ quán. Trong trường hợp ấy, hành giả phải y vào bốn giai đoạn được nói trong Ma ha chỉ quán quyển 10 mà tu, đó là: thấy rõ lầm lỗi, thấy rõ chỉ quán v.v......, lấy kiến hoặc làm quán cảnh, để đạt chính đạo mà không bị chướng ngại nữa. (xt. Thập Cảnh).
chư kiến pháp giới
(諸見法界) Một trong mười pháp giới do tông Thiên thai lập ra để tu tập chỉ quán. Như kinh Duy ma cật nói, đem tà tướng nhập vào chính tướng, tức là đối với các vọng kiến của ngoại đạo không lay động mà cứ quán xét ba mươi bảy đạo phẩm, coi các kiến là pháp giới chẳng thể nghĩ bàn, gọi là Chư kiến pháp giới. Chú Duy ma cật kinh quyển 2 (Đại 38, 345 thượng), nói: Đại sĩ quán xét chân tính của các kiến tức là đạo phẩm, cho nên chẳng cần bỏ các kiến mà tu đạo phẩm. [X. kinh Duy ma cật phẩm Đệ tử].
chư kết
các mối trói buộc. Vì phiền não trói buộc thân tâm cho nên gọi chung tất cả phiền não là các mối trói buộc.
chư long thần hộ pháp
The Dragon Deity, Dharma protector.
chư lậu
(諸漏) Lậu, là tên gọi khác của phiền não. Chư lậu, tức là các phiền não. Thâu tóm các phiền não trong ba cõi, gọi là Tam lậu. Kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm Tựa (Đại 9, 1 hạ), nói : Các lậu đã hết, không còn phiền não.
chư minh
Tất cả đều mờ mịt vô minh—All darkness, i.e. all ignorance.
; (諸冥) Minh, là tên gọi khác của vô tri. Các vô tri vô minh có khả năng ngăn che nghĩa thực, thấy thực, cho nên gọi là Chư minh. [X. luận Câu xá Q.1].
chư nghiệp bất hưu tức tướng
(諸業不休息相) Tướng các nghiệp không thôi nghỉ. Một trong năm thứ tướng của Báo thân. Báo thân, chỉ cho thân quả báo của Phật. Luật Bảo tính quyển 4 chép, sức thần tự tại của Báo thân tóm lại có năm thứ, trong đó, Chư nghiệp bất hưu tức tướng có nghĩa là nghiệp của Báo thân hóa độ chúng sinh, lợi ích muôn vật thì không bao giờ diệt. (xt. Báo Thân Ngũ Chủng Tướng).
chư nguyện y quả
(諸願依果) Y quả, các hạnh nương trước khởi sau, hoặc nương nhau mà được thêm lớn, cũng tức là quả nương nhau. Bồ tát nương vào Bồ tát thừa mà tu hành được mười thứ công đức, gọi là Thập chủng y quả. Trong đó, Chư nguyện y quả tức là khởi các đại nguyện, trưởng dưỡng Bồ đề.
Chư Nhạc Dịch Đường
(諸岳奕堂, Morotake Ekidō, 1805-1879): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy là Dịch Đường (奕堂), đạo hiệu Toàn Nhai (旋崖), hiệu là Vô Tợ Tử (無似子), Tam Giới Vô Lại (三界無頼), thụy hiệu Hoằng Tế Từ Đức Thiền Sư (弘濟慈德禪師), xuất thân vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương (尾張, Owari). Năm 1813, ông theo xuất gia với Tuyết Đường Hiểu Lâm (雪堂曉林) ở Thánh Ứng Tự (聖應寺) vùng Vĩ Trương, sau đó kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau ông có theo hầu Đạo Khế Chứng Ứng (道契証應) ở Đổng Long Tự (董龍寺), Lai Ứng (來應) ở Chánh Võ Tự (正武寺) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino), Động Môn (洞門) ở Toàn Cửu Viện (全久院) vùng Tín Nùng (信濃, Shinano), và được ấn khả của Bổn Cao (本高) ở Hương Tích Tự (香積寺) vùng Tam Hà (三河, Mikawa). Về sau, ông đã từng sống qua vài nơi như Long Hải Viện (龍海院), Thiên Đức Viện (天德院) ở Gia Hạ (加賀, Kaga), và nỗ lực điều đình hòa hoãn cuộc kháng tranh giữa hai chùa Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) và Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji). Trước tác của ông có Huyền Lâu Thiền Sư Lược Truyện (玄樓禪師略傳), Tổng Trì Dịch Đường Thiền Sư Di Cảo (總持奕堂禪 師遺稿), Toàn Nhai Dịch Đường Thiền Sư Ngữ Lục (旋崖奕堂禪師語錄).
chư nhàn bất nhàn
a) Chư Nhàn: Chúng sanh trong cõi trời người không gặp chướng ngại hay hoạn nạn—All in happy conditions of metempsychosis, i.e. human beings and devas. b) Bất Nhàn: Chúng sanh đọa vào chốn hoạn nạn như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, gọi là bất nhàn—All in unhappy conditions of metempsychosis, i.e. hells, animals, hungry ghosts, etc.
; (諸閑不閑) Nhàn, là cảnh giới tu hành Phật đạo thư thả thảnh thơi - Bất nhàn, là cảnh giới có tám nạn không được thư thả thảnh thơi. Trong cõi người, cõi trời không có các chướng nạn, gọi là Chư nhàn, trái lại, rơi vào chỗ tai nạn, gọi là Bất nhàn. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung), nói: Thấy hết vô lượng chư Phật hiện tại, trong khoảng một niệm, không đâu không khắp, cứu mọi khổ nạn, chư nhàn bất nhàn.
chư nhân túc tác tông
(諸因宿作宗) Một trong mười sáu tông ngoại đạo tại Ấn độ đời xưa. Còn gọi là Vô tâm ngoại đạo, Túc tác ngoại đạo, Túc tác nhân luận. Như sự vọng chấp của ngoại đạo Li hệ cho rằng, các thứ quả báo mà đời này phải chịu, đều do nhân ở kiếp trước, vì thế, chủ trương đời này khổ hạnh tinh tiến, thì có thể tiêu diệt được nghiệp cũ nhân xưa ở quá khứ, không còn phải chịu quả báo xấu ác ở vị lai nữa. [X. luận Du già sư địa Q.7 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].
chư pháp
Sarvadharma (S). All things, every dharma, law, thing, method , etc.
; Sarvadharma or Sarvabhava (skt)—Vạn pháp hay tất cả sự lý của sự vật—All things; every dharma, law, thing, method.
; (諸法) Phạm: Sarva-dharmà#. Còn gọi là Vạn pháp. Ngôn ngữ hiện đại gọi là sự tồn tại, hết thảy hiện tượng. Có hai nghĩa: 1 . Chỉ cho hết thảy muôn pháp hữu vi, vô vi, khác với Chư hành vì chư hành chỉ đặc biệt chỉ cho các pháp hữu vi, còn nghĩa chư pháp rộng hơn. 2 . Chỉ cho hết thảy các pháp trong hiện tượng giới, bao hàm tất cả muôn pháp tâm, sắc, nhưng lại không gồm pháp vô vi Niết bàn trong đó. [X. kinh Bát nhã ba la mật đa tâm - kinh Lí thú - luận Câu xá Q.6].
chư pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ
Vạn pháp đều như nhau, chứ không có pháp nào cao hay pháp nào thấp cả—All dharmas are even and balanced, without high and low.
chư pháp bất sinh
Anutpadam-sarvadharmanam (skt)—All thing has no-birth.
chư pháp do nhân duyên mà sanh
All phenomena (dharmas) are arised (born) of causes and conditions.
chư pháp giai không
All things being produced by causes and accessory conditions have no reality. Chư pháp thực tướng. All things in their real aspect.
; Hết thảy chư pháp đều không có thực tính, chúng do nhân duyên mà sanh ra. Giáo thuyết về “không” này nhiều trường phái Phật giáo giải thích khác nhau—All things and phenomena are totally empty. All things are produced by causes and accessory conditions have no reality, a doctrine differently interpreted in different schools of Buddhism.
; (諸法皆空) Có nghĩa là hết thảy các pháp đều chẳng thường trụ mà là xưa nay vốn vắng lặng. Cũng như nghĩa hết thảy đều không. Tức là hết thảy hiện tượng do những nguyên nhân, điều kiện tương quan, tương đối nương nhau mà tồn tại, chứ không một hiện tượng nào có thực thể độc lập riêng biệt. Nói cách khác, tất cả sự tồn tại đều không có thực thể. Đối với nghĩa Chư pháp giai không, Đại thừa, Tiểu thừa có thuyết khác nhau. Tiểu thừa cho các pháp sắc, tâm đều nhờ nhân duyên mà sinh khởi, rồi phân tích từng li từng tí cho đến rốt ráo là không và tuyên bố các pháp đều là không. Đại thừa thì đứng trên lập trường nhân duyên hòa hợp mà thuyết minh các pháp đều không tự tính, cũng tức là dùng nghĩa đương thể tức không để giải thích rõ lí các pháp đều không. Trong các tông phái Đại thừa, tông Tam luận chuyên bàn về lí các pháp đều không, cho nên trong mười tông phán thích của Hoa nghiêm, tông Tam luận được phán là Nhất thiết giai không tông. Còn nói về các tông phái khác, thì như tông Thiên thai lập ba đế Không, Giả, Trung, trong đó, Không đế y vào kinh Bát nhã nói các pháp đều do nhân duyên sinh, không có thực thể nào có thể được, cho nên bảo các pháp đều không. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.5 - luận Đại trí độ Q.18].
chư pháp giai thường tông
(諸法皆常宗) Một trong mười sáu tông ngoại đạo tại Ấn độ đời xưa. Còn gọi là Kế thường luận, Y sư ca ngoại đạo (Phạm: Ìwìkà). Chủ trương cái ta và hết thảy các pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều là thường trụ không biến đổi. Đây tức là ngoại đạo Số luận trong các phái triết học của Ấn độ. [X. luận Du già sư địa Q.6 - luận Hiển dương thánh giáo Q.9 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].
chư pháp không
Sarva-dharma-śŪnyatā (S), All objects empty Nhất thiết pháp khôngTư tướng các pháp đều bất định, lìa tướng chấp trước.
chư pháp ngũ vị
The five orders of things—See Ngũ Vị.
; (諸法五位) Tức đem hết thảy các pháp qui nạp làm năm loại: tông Câu xá lập bảy mươi lăm pháp, tông Thành thực lập tám mươi tư pháp, tông Duy thức lập trăm pháp, đều được thống nhiếp trong năm vị. 1. Tâm pháp, có khả năng thấy biết sự vật. Tông Duy thức lập tám thức tâm vương, như mắt, tai v.v... - tông Câu xá chỉ lập có một tâm vương. 2. Tâm sở pháp, tương ứng với Tâm vương mà sinh khởi. 3. Sắc pháp, có hình tướng vật chất và lấy vật chất làm nhân mà sinh khởi. Theo nghĩa Duy thức, thì Sắc pháp do Tâm pháp và Tâm sở pháp nói trên biểu hiện ra. 4. Bất tương ứng pháp, không tương ứng với Tâm pháp, Sắc pháp mà chỉ giả đặt ra thôi, tức là pháp có tên mà không có thực. 5. Vô vi pháp, thường trụ và không do nhân duyên sinh, tức là tính thực của bốn pháp kể trên. Trên đây là thứ tự năm vị của tông Duy thức. Tông Duy thức lấy Duy tâm làm tông, cho nên thứ tự trước hết là Tâm pháp, Tâm sở pháp rồi sau mới đến Sắc pháp. Câu xá chủ trương Tâm vật lưỡng thực (cả tâm và vật đều là thực) cho nên thứ tự là Sắc, Tâm, Tâm sở, Bất tương ứng, Vô vi. Còn tám mươi bốn pháp của tông Thành thực thì không thấy ghi chép. [X. luận Phẩm loại túc Q.1 - luận Du già sư địa Q.100 - luận Bách pháp minh môn]. (xt. Ngũ Vị Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp).
chư pháp nhân duyên sinh
(諸法因緣生) Có nghĩa là các pháp dựa vào nhân duyên mà sinh. Giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo bảo rằng, phàm cái đã do nhân duyên mà sinh thì đều không có tự tính, tự thể, là biến hoá vô thường - mà vô thường tức là khổ. Trong bốn đế khổ, tập, diệt, đạo, thì câu kệ Chư pháp nhân duyên sinh này đã nói rõ các nỗi khổ, không, vô thường, vô ngã của khổ đế, cũng tức là câu đầu của kệ pháp thân, kệ này cũng có thể được gọi là Duyên sinh kệ, hoặc Duyên khởi kệ. Đức Phật thường dùng kệ này để nói rõ cái tướng sinh diệt vô thường của các pháp. Đệ tử Phật, khi giáo hoá thay Phật, cũng thường dùng kệ này để mở tỏ chính kiến của người khác, như ngài Xá lợi phất, khi chưa qui y Phật, đã được tỉ khưu Mã thắng (A thuyết thị) nói cho nghe bài kệ (Đại 25, 135 hạ): Các pháp nhân duyên sinh, nhân duyên còn pháp còn, nhân duyên diệt pháp hết, Đại sư nói như thế. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48 - luận Đại trí độ Q.11, Q.18 - Đại nhật kinh sớ Q.6].
chư pháp thật tướng
Tattvasya-lakṣaṇa (S).
; (諸法實相) Chư pháp, hết thảy muôn pháp trong thế gian và xuất thế gian là các hiện tượng sai biệt, là các pháp tùy duyên - Thực tướng, thể tướng chân thực của các pháp là thực tại bình đẳng, là lí bất biến. Chư pháp thực tướng là một pháp ấn của Phật giáo Đại thừa, đối lại với ba pháp ấn của Tiểu thừa. Căn cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 phẩm Thâm áo và kinh Pháp hoa quyển 1, phẩm Phương tiện nói, thì thực tướng của các pháp duy chỉ có Phật tự chứng biết chứ không thể diễn bày được bằng lời nói. Luận Đại trí độ quyển 18 bảo thực tướng của các pháp tức là Bát nhã ba la mật. Nghĩa là thực tướng các pháp mà thế tục nói chỉ là yên nước giữ nhà, tuyệt chẳng phải chân thực - còn thực tướng của các pháp mà ngoại đạo nói đều rơi vào trong pháp tà kiến, tâm có đắm đuối, cho nên chẳng phải chân thực - trong pháp Thanh văn tuy lấy vô thường, khổ, không, vô ngã mà quán xét thực tướng của các pháp, nhưng họ chỉ tự cầu giải thoát khỏi những cái khổ già, bệnh, chết chứ chẳng vì hết thảy chúng sinh, không đầy đủ trí tuệ, cho nên chưa có thể cùng suốt thực tướng - duy chỉ có Bồ tát vào lúc mới phát tâm đã phát thệ nguyện rộng lớn, khởi đại từ bi cúng dường hết thảy chư Phật, dùng trí đại lợi, bỏ hết các pháp quán vọng kiến, như quán sạch, quán chẳng sạch, quán vui, quán khổ v.v... mà quán các pháp chẳng phải sạch, chẳng phải chẳng sạch, cho đến chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, rồi lại bỏ các pháp quán như trên, mà đạt đến mức dứt đường nói năng, diệt chỗ tâm hành, đó mới là cùng suốt thực tướng của các pháp. Trung luận quyển 3 phẩm Quán pháp, luận Đại trí độ quyển 15, Tư duy lược yếu pháp v.v... cũng cho tách lìa những hí luận, như chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, tâm hành xứ diệt, tức là thực tướng của các pháp. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận, trong Đại thừa huyền luận quyển 4, bảo thực tướng là cái mà thực trí Bát nhã soi rọi. Ngài Trí khải tông Thiên thai, trong Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên, bảo thực tướng là đối cảnh do Viên đốn chỉ quán quán xét. Trung luận và luận Đại trí độ đều nói Rốt ráo không là thực tướng các pháp, còn ngài Trí khải thì lại lấy Trung đạo làm thực tướng, đồng thời, trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 phần dưới, quyển 9 phần trên, có nêu lên mười hai tên gọi khác của thực tướng, như Diệu hữu, Như như, Hư không phật tính, Phi hữu phi vô trung đạo v.v... Cho nên, sự giải thích của các tông về thực tướng của các pháp không nhất trí. Lại như tông Tịnh độ lấy danh hiệu của Phật A di đà làm thực tướng của các pháp, tông Chân ngôn thì lấy chữ A vốn chẳng sinh làm thực tướng các pháp, tông Hoa nghiêm lại lấy Nhất chân pháp giới làm thực tướng các pháp, tông Pháp tướng thì lấy tính viên thành thực làm thực tướng pháp giới, tông Thành thực lấy giai không làm thực tướng các pháp, còn Hữu bộ tông thì lấy khổ, không, vô thường, vô ngã làm thực tướng các pháp. Trong tư tưởng Đại thừa, thuyết có khả năng biểu hiện thực tướng các pháp một cách độc lập nhất, thì trước hết phải kể đến giáo nghĩa thuộc hệ thống Long thụ, sau lại chia lập thành hai phái Trung luận và Đại trí độ luận. Nay lấy hai tông Tam luận và Thiên thai là các tông đã nối theo hai tư trào trên đây để thuyết minh: 1. Tông Tam luận, theo thuyết trong kinh Bát nhã, nhất là coi trọng văn tụng Bát bất trong Trung luận (Đại 30, 1 trung): Chẳng sinh cũng chẳng diệt, chẳng thường cũng chẳng đoạn - chẳng một cũng chẳng khác, chẳng đến cũng chẳng đi. Cho rằng cái không chẳng thể được là thực tướng của các pháp, đó là cái lí phủ định tuyệt đối bất khả tư nghị, siêu việt cả khẳng định và phủ định thông thường - cũng tức là cái chân lí chẳng thể được mà khi đã phá trừ hết tất cả mê vọng thì liền thấy. 2. Tông Thiên thai, về thực tướng các pháp, tông Thiên thai chia ra ba lớp để giải thích: a. Hết thảy hiện tượng (các pháp) nương vào nhân duyên mà sinh, chỉ là nhân duyên giả hiện chứ không có thực thể - vì bản chất của các pháp là lí không (thực tướng), cho nên gọi lí ấy là thực tướng của các pháp. b. Tất cả cái không và cái có gọi là các pháp, cái lí trung đạo (thực tướng) khẳng định tuyệt đối, siêu việt không và có, đó tức là thực tướng các pháp. c. Hết thảy sự sự vật vật trong thế giới hiện tượng khế hợp với lí thực tướng của ba đế Tức không, Tức giả, Tức trung, như vậy các pháp tức là thực tướng và đó chính là thực tướng của các pháp. Trên đây, hai lớp trước là thuộc Đại thừa thiên giáo (giáo chỉ thiên về một bên, chỉ cho Tiểu thừa và Quyền giáo trong Đại thừa) - lớp thứ ba thuộc Đại thừa viên giáo. Ngoài ra Thiền tông thì cho thực tướng của các pháp là cái Bản lai diện mục. (cái mặt mày thật) do chư Phật hoặc lịch đại Tổ sư đã ngộ đạo biểu hiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.78 phẩm Cụ thiện căn - kinh Chư pháp vô hành - kinh Phật tạng Q.thượng phẩm Chư pháp thực tướng - kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ - Đại nhật kinh sớ Q.1 - Đại thừa nghĩa chương Q.trung - Chú Duy ma kinh Q.2 - Pháp hoa nghĩa kí Q.2 - Tứ niệm xứ Q.3 - Tam luận huyền nghĩa - Tông kính lục Q.40].
chư pháp thật tướng di danh
(諸法實相异名) Trong các kinh luận, đối với thể tướng chân thực của hết thảy các pháp đều có các tên gọi bất đồng. Như kinh Niết bàn gọi đó là Phật tính, kinh Hoa nghiêm gọi là Pháp giới, kinh Thắng man thì gọi là Như lai tạng, Tự tính thanh tịnh tâm, kinh Đại phẩm bát nhã gọi là Bát nhã, Pháp tính, kinh Lăng già gọi là Bát thức, kinh Thủ lăng nghiêm gọi là Thủ lăng nghiêm tam muội, kinh Pháp hoa gọi là Nhất đạo, Nhất thừa, kinh Duy ma gọi là Vô trụ, Thực tế v.v... Lại còn có các tên gọi như Đại bồ đề, Đại niết bàn, Tất kính không,Trung đạo, Chân như, Chân đế, Đệ nhất nghĩa đế, Chân thiện diệu sắc, Trung thực lí tâm, Vi diệu tịch diệt v.v... Tuy có các tên gọi khác nhau như trên, nhưng thực tướng chỉ là một lí. [X. luận Đại trí độ Q.33 - Đại thừa huyền luận Q.3 - Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 phần dưới, Q.9 phần trên].
chư pháp thực tướng
1) Chân như pháp tính, thực tế: The reality of all things, or all things in their real aspect, i.e. tha reality beneath all things, the Bhutatathata, or Dharmakaya, or Ultimate. 2) Từ cũng được dùng để định nghĩa tánh không, niết bàn, A Di Đà: The term also connotes “sunya,” “nirvana,” “Amitabha,” the eight negations of the Madhyamika school, etc.
chư pháp tính
Dharmanam-dharmata (skt)—Thứ tạo nên lý do của các sự vật—That which constitute the reason of things.
chư pháp tướng tức tự tại môn
(諸法相即自在門) Một trong mười huyền môn của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm dùng mười huyền môn để diễn tả cái tướng của pháp giới Sự sự vô ngại trong bốn thứ pháp giới, môn Chư pháp tương tức tự tại này là nói về phương diện thể. Có thể chia làm Đồng thể tương tức và Dị thể tương tức. Đồng thể tương tức là một bao nhiếp hết thảy, hoặc là hết thảy nhiếp vào một, không chấp nhận thể riêng biệt - như vàng và màu vàng, toàn thể tương tức, không tách rời nhau. Dị thể tương tức là sự tồn tại song song với pháp thể, nhưng khi cái nhiều nhiếp vào cái một, thì nhiều ở trong một - khi cái một nhiếp vào cái nhiều, thì một ở trong nhiều - cho nên một, nhiều tương tức, trùng trùng vô tận, một thành thì hết thảy thành, viên dung vô tận. Như vầng trăng giữa hư không, in bóng trên vạn dòng sông, trăng là một mà bóng thì nhiều, một nhiều không ngại, tương tức tương dung. Lại như các căn của con sư tử mỗi mỗi đều nhiếp toàn thể, mắt không lìa tai mũi lưỡi, tai mũi lưỡi cũng không lìa mắt, mắt tức tai, tai tức mũi, mũi tức lưỡi, lưỡi tức thân, các căn tương tức, không ngại tự tại, cho nên lập Chư pháp tương tức tự tại môn, để phá trừ sự nghi ngờ của chúng sinh vọng chấp thời gian, không gian không thể cùng một lúc hiển bày pháp giới trùng trùng vô tận. [X. kinh Hoa nghiêm (60 quyển) phẩm Phật bất tư nghị pháp, phẩm Thập trụ, phẩm Tịnh nhãn - Hoa nghiêm kinh văn nghĩa cương mục - Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn]. (xt. Thập Huyền Môn).
chư pháp tịch diệt tướng
Thực tướng của chư pháp dứt tuyệt mọi ngôn ngữ và tâm hành—All things in their nirvana aspects, instructable.
; (諸法寂滅相) Nói đủ là Chư pháp tòng bản lai thường tự tịch diệt tướng. Có nghĩa là thể tính nguyên bản của các pháp, lời nói không thể diễn tả hết được, cũng chẳng phải suy tư phân biệt mà có thể biết được. Thể tính của các pháp vốn trong sạch vắng lặng thường trụ bất biến, tất cả tướng sinh tử phiền não sai biệt xưa nay vốn không tồn tại, đều là những sự tướng làm nhân, làm duyên cho nhau mà hiện khởi trong thế giới hiện tượng, cái này sinh thì cái kia diệt, chúng sinh thấy thế vọng chấp là thật - nhưng xét đến ngọn nguồn, thì chúng chẳng có tự (chủ) tính, cũng chẳng chân thực, vốn thanh tịnh vắng lặng, không suy tư nào có thể phân biệt, không lời nói nào có thể tả hết. [X. kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Phương tiện, Q.3 phẩm Dược thảo dụ].
chư pháp vô hành kinh
(諸法無行經) Phạm: Sarva-dharmàpravfttinirdeza. Gồm hai quyển. Do ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung nói rõ thực tướng của các pháp, nguyên không phân biệt thiện ác. Kinh Chư pháp bản vô 3 quyển do ngài Xà na quật đa đời Tùy dịch và kinh Đại thừa tùy chuyển tuyên thuyết chư pháp 3 quyển do ngài Thiện đức đời Tống dịch, đều là bản dịch khác của kinh này, và cũng thu vào Đại chính tạng tập 15.
chư pháp vô ngã
Dharma-nairatmya (S), Egolesseness of phenomena, Selflessness of phenomena
; Nothing has an ego, or independant of the law of causation.
; Mọi pháp đều không có thực ngã, tất cả đều phải lệ thuộc vào luật nhân quả—Nothing has an ego, or is independent of the law of causation. ** For more information, please see Tam Pháp Ấn.
; (諸法無我) Nghĩa là trong hết thảy các pháp hữu vi, vô vi, hoàn toàn không có thực thể của cái ta. Tức hết thảy pháp đều nương vào nhân duyên mà sinh, dựa vào nhau mà tồn tại, không có thể tính thực. Các pháp hữu vi tuy có tác dụng, nhưng chẳng thường trụ - các pháp vô vi tuy thường trụ, nhưng không có tác dụng, lại chư pháp vô ngã là một trong ba pháp ấn, gọi là Chư pháp vô ngã ấn, nói tắt là Vô ngã ấn. Ba pháp ấn là giáo nghĩa trọng yếu của Phật pháp, khi phán đoán về Phật pháp thì dùng ba pháp này để ấn chứng sự cùng tột của Phật pháp. [X. kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.3 - kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.2 - luận Đại trí độ Q.22].
chư pháp vô nhân tông
(諸法無因宗) Một trong mười sáu ngoại đạo tại Ấn độ đời xưa. Còn gọi là Vô nhân kiến luận, Vô nhân sinh luận. Tức ngoại đạo Vô nhân, chủ trương sự sinh tồn của con người và muôn vật trong thế gian chẳng có nguyên nhân gì cả. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].
chư pháp vô thường, vô ngã và không thực
All things are impermanent, non-self and unreal..
chư pháp vô tránh tam muội pháp môn
(諸法無諍三昧法門) Gồm hai quyển. Do ngài Tuệ tư đời Trần thuộc Nam triều soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung nói về Thiền quán của tông Thiên thai, cho rằng, muốn học hết thảy Phật pháp, trước hết phải giữ tịnh giới, siêng tu thiền định, sẽ được vô lượng công đức của Phật pháp.
chư pháp vô tướng
(諸法無相) Tướng, chỉ cho đặc chất. Nghĩa là hết thảy muôn pháp trong thế giới hiện tượng đều do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh, không có tướng cố định bất biến. Các pháp đã là giả hợp, thì chẳng có tự tính, cũng tức là chẳng có tính thường trụ, tính độc tồn, tính thực hữu, cho nên biết muôn vật trong vũ trụ chẳng có tướng cố định nào tồn tại, chỉ có trạng thái sát na sinh diệt liên tục bất đoạn mà thôi. Đó tức là chư pháp vô tướng
chư pháp đãn danh tông
(諸法但名宗) Tông thứ sáu trong mười tông phán giáo của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm chia giáo nghĩa Phật giáo làm mười loại, gọi là Thập tông. Trong đó, chủ trương cho hết thảy muôn pháp trong thế gian và xuất thế gian đều chỉ là cái tên giả, chứ hoàn toàn không có thực thể, tức gọi là Chư pháp đãn danh tông - như Nhất thuyết bộ Tiểu thừa là thuộc tông này. Lại ngài Khuy cơ và ngài Pháp tạng cũng từng đem hai mươi bộ phái Tiểu thừa, tùy theo chủ trương họ tôn thờ, mà tóm tắt chia làm sáu tông, Chư pháp đãn danh tông là một trong số đó. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Tiểu Thừa Phật Giáo, Ngũ Giáo Thập Tông).
chư phật bồ đề
(諸佛菩提) Tức là đại Bồ đề, thông cả sự và lí, là Bồ đề chỉ có Phật chứng được. Nghĩa là đã đoạn hết sở tri chướng của tất cả pháp hữu vi mà được nhất thiết chủng trí biết suốt hết các pháp. [X. luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Bồ Đề).
chư phật dĩ liên hoa vi toạ sàng
(諸佛以蓮華爲坐床) Chư Phật dùng hoa sen làm giường ngồi. Liên hoa, là hoa sen, biểu thị thế giới tạng hoa sen, thế giới ấy là cõi Tịnh độ của Báo thân phật, vì thế chư Phật thường dùng hoa sen làm giường ngồi. Luận Đại trí độ quyển 8 nói, chư Phật ứng theo chúng sinh thế tục, cho nên thị hiện thần lực, ngồi xếp bằng trên hoa sen thơm sạch mềm mại mà hoa không bị nát. Lại cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 15 chép, thì hoa sen tượng trưng nghĩa tốt lành trong sạch. Nhưng vì hoa sen ở thế gian có nhiều hình dáng và mầu sắc khác nhau, nên chiếu theo ngôi bậc của Phật và Bồ tát, tòa sen cũng có sen trắng, sen đỏ, số cánh và nở cúp lớn nhỏ bất đồng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (Chân đế dịch)].
chư phật gia
The home ơođ all Buddhas, i.e. the Pure Land.
; Nhà của chư Phật, như Tịnh Độ—The home of all Buddhas, i.e. the Pure Land.
; (諸佛家) Nhà của chư Phật. Chỉ nơi chỗ chư Phật ở, tức là các cõi Tịnh độ cực lạc. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 346 trung), nói: Bồ tát Quan thế âm, bồ tát Đại thế chí, là bạn thù thắng, sẽ ngồi đạo tràng, sinh nơi nhà chư Phật. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
chư phật huệ pháp thân kinh
(諸佛慧法身經) Có 1 quyển. Không rõ tên người dịch. Kinh này được dịch vào khoảng thời Lưu Tống (420 - 479). Còn gọi là Như lai trí ấn kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 15. Kinh này ghi chép việc đức Phật vì các vị đại Thanh văn như Xá lợi phất mà tuyên thuyết trí ấn tam muội khiến họ quán xét được thân Phật. Kế đó, thuyết minh Di lặc hộ trì kinh này và bảy pháp phát tâm Bồ đề, đồng thời, khuyên viết chép và đọc tụng. Lại bản dịch khác của kinh này là kinh Đại thừa trí ấn, do ngài Trí cát tường đời Tống dịch (gọi tắt là Trí ấn kinh). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4 - Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
chư phật hộ niệm ích
(諸佛護念益) Do tông Tịnh độ Nhật bản lập ra. Là một trong mười thứ ích lợi mà người có niềm tin vững chắc như kim cương đạt được ngay trong đời hiện tại. Tức là người xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà có thể được mười phương hằng sa chư Phật hộ niệm. [X. Quán niệm pháp môn]. (xt. Hiện Thế Lợi Ích).
chư phật kinh
(諸佛經) Có 1 quyển. Do ngài Thí hộ đời Tống dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung tường thuật về việc đức Phật ở thành Vương xá, nói trong vô số kiếp quá khứ có hàng trăm nghìn vạn ức Phật ra đời làm ích lợi chúng sinh, và liệt kê danh hiệu của các đức Phật ấy. Kinh này thuộc loại kinh điển chủ trương có nhiều Phật ra đời.
chư phật mười phương
The Buddhas of ten directions.
chư phật mười phương hiện lên tướng lưỡi rộng dài để khen ngợi phật thích ca
Buddhas in the ten directions displayed vast and long tongues to praise Sakyamuni Buddha.
chư phật mẫu bồ tát
Mẹ của chư Phật—The mother of all Buddhas.
chư phật như lai
Tathagata (skt)—Ones who have arrived in the state of reality.
chư phật thường trụ tâm
(諸佛常住心) Tức là tâm thường trụ bất biến mà chư Phật đã chứng được. Tâm ở đây chẳng phải là cái tâm, ý, thức, mà là cái tâm tam giới duy nhất tâm (ba cõi duy một tâm), cho nên núi sông đất liền, mặt trời mặt trăng tinh tú, tường vách gạch ngói, đều là cái tâm thường trụ này. Theo đó, vì khắp hết các pháp giới duy chỉ là một tâm, cho nên ngồi làm tiến lui cũng chỉ một tâm ấy.
chư phật thập lạc
(諸佛十樂) Tức là khi Bồ tát tu học đạo hồi hướng, đến xa lìa mọi nỗi lo buồn, các căn thanh tịnh, lại phát tâm hồi hướng, nguyện đem những căn lành đã vun trồng được chuyển thành mười niềm vui mừng thù thắng của chư Phật. Đây là do kinh Hoa nghiêm (80 quyển) quyển 24 nói. Mười niềm vui mừng là: 1. Niềm vui mừng chẳng thể nghĩ bàn mà chư Phật trụ nơi đó. 2. Tam muội vui mừng của chư Phật không có gì sánh kịp. 3. Niềm vui mừng đại từ bi không thể hạn lượng. 4. Niềm vui giải thoát của hết thảy chư Phật.5. Niềm vui đại thần thông không có biên tế. 6. Niềm vui đại tự tại rất mực tôn trọng. 7. Niềm vui sức rộng lớn cùng tột vô lượng. 8. Niềm vui lìa các tri giác tịch tĩnh. 9. Niềm vui hằng trụ nơi vô ngại, chính định. 10. Niềm vui chẳng làm hai hạnh, chẳng biến đổi.
chư phật trí huệ thậm thâm vô lượng
Trí huệ của chư Phật là thậm thâm vô lượng—The wisdom of the Buddhas is profound and unfathomable.
chư phật tâm kinh
Xem Chư Phật tâm Đà la ni Kinh.
chư phật tâm đà la ni kinh
Buddha-hṛdaya-dhāraṇī (S)Chư Phật Tâm KinhTên một bộ kinh.
; (諸佛心陀羅尼經) Phạm: Buddha-hfdaya-dhàraịì. Có 1 quyển. Còn gọi Chư phật tâm kinh, Chư phật tâm ấn kinh, Chư phật đà la ni kinh. Do ngài Huyền trang đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung tường thuật đức Phật vì các Bồ tát mà nói tâm Đà la ni của chư Phật, nếu dốc lòng trì tụng thì sẽ thoát được các nỗi khổ sống chết của trăm nghìn kiếp, cho đến tiêu trừ hết thảy nghiệp ác, khiến tất cả ma quân phải sợ hãi. Còn có kinh chư Phật tâm ấn đà la ni 1 quyển, do ngài Pháp thiên đời Tống dịch, là bản dịch khác của kinh này, nhưng đem những điều đức Phật nói chia làm hai thứ là Phật tâm ấn đà la ni và Nhất thiết chư phật tâm ấn đà la ni. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
chư phật tư ta nguyện
(諸佛咨嗟願) Còn gọi là Chư Phật xưng thán nguyện, Chư Phật đồng tán danh tự nguyện, Chư Phật xưng danh nguyện, Chư Phật xưng dương nguyện. Là nguyện thứ mười bảy trong bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà, tức là thệ nguyện chư Phật đề cao, khen ngợi danh hiệu của Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng có chép lời thệ nguyện ấy như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà chư Phật trong mười phương vô lượng thế giới đều không tán thán danh hiệu của tôi, thì tôi sẽ không giữ lấy ngôi chính giác.
chư phật tập hội đà la ni kinh
Sarva-buddhangavati-dhāraṇī (S)Tên một bộ kinh.
; (諸佛集會陀羅尼經) Phạm: Sarva-buddhàígavatì-dhàraịì. Có 1 quyển. Còn gọi là Chư phật tập hội kinh. Do ngài Đề vân bát nhã đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Ghi thuật việc đức Phật, vì thương xót chúng sinh sợ hãi sống chết, mới tập họp mười phương chư Phật trên bờ sông Hằng để cùng nói chú và đàn pháp trừ tai, diên thọ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
chư phật xưng tán ích
(諸佛稱贊益) Do Tịnh độ chân tông Nhật bản lập ra. Tức là một trong mười thứ lợi ích mà người có lòng tin bền chắc đạt được ngay trong hiện thế. Người dốc lòng qui y tin tưởng Phật A di đà, thì ngay trong đời hiện tại có thể được lợi ích chư Phật khen ngợi. [X. kinh Quán vô lượng yhọ]. (xt. Hiện Thế Lợi Ích).
chư phật yến tập kinh
Buddha-sangiti (S)Tên một bộ kinh.
chư phật yếu tập kinh
(諸佛要集經) Phạm: Buddha-saígìti. Gồm 2 quyển. Nói tắt là Yếu tập kinh. Do ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 17. Ghi thuật việc đức Phật nhập định ba tháng trong Đế thụ thạch thất gần thành Vương xá, dùng sức thần thông đến chỗ đức Phật Thiên vương ở thế giới Phổ quang, tuyên thuyết pháp tập yếu của chư Phật, và việc bồ tát Văn thù dùng hết sức thần thông của mình mà không thể khiến cho Li ý nữ (người con gái đứng hầu bên phải đức Thiên vương Như lai) ra khỏi định. Lại pháp tập yếu mà đức Phật nói có sáu: 1. Các pháp không, 2. Các pháp thường trụ, 3. Bồ tát mới phát tâm, 4. Sáu độ vô cực, 5. Nơi các Bồ tát Thập địa thâm nhập, 6. Phật chẳng thể được.
chư phật đỉnh
(諸佛頂) Phật đính, tức là vô kiến đính tướng của Như lai, là cái tướng thù thắng trên đỉnh đầu đức Phật mà người thường không có cách nào thấy được, tướng ấy đầy đủ công đức tối thượng tối thắng. Chư phật đính, thì chỉ cho chư Phật trong Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo, biểu thị công đức Phật đính, có nhiều loại khác nhau: Tam Phật đính, tức là ba vị tôn Quảng đại phật đính, Cực quảng đại phật đính và Vô biên âm thanh phật đính, biểu thị các đức của ba bộ. Ngũ phật đính, tức là năm vị tôn Bạch tản cái phật đính, Thắng phật đính, Tối thắng phật đính, Quang tụ phật đính, Trừ chướng phật đính, biểu thị năm trí của đức Thích ca Như lai. 3. Bát phật đính, tức gọi chung Tam phật đính và Ngũ phật đính. 4. Cửu phật đính, tức ngoài bát phật đính ra, thêm Nhiếp nhất thiết phật đính nữa. 5. Thập phật đính, tức ngoài Cửu phật đính ra, thêm Phổ thông phật đính. Còn về tên gọi của Bát, Cửu, Thập phật đính, các kinh và nghi quĩ liệt kê cũng khác nhau. (xt. Phật Đính).
chư sắc
All kinds of things.
; (諸色) Trong Thiền lâm, chư sắc là chỉ cho các chủng loại sự vật. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 7 mục Nguyệt phần tu tri (Đại 48, 1155 thượng), nói: Cuối năm, trình sổ sách kết toán chư sắc. Lại chư sắc nhàn nhân, là chỉ người vô dụng.
chư sắc tác đầu
(諸色作頭) Chỉ các loại thợ trong Thiền môn, như thợ mộc, thợ nề, thợ đá, thợ làm đồ đất v.v... Lệ thuộc cục tu tạo, kiến thiết, có trách nhiệm trông nom các vật liệu xây cất chùa viện. Người giám đốc lãnh đạo các thợ, gọi là Giám tác. Cũng có chỗ lầm Tác đầu mà cho là tên khác của Viên đầu (người trông vườn). [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.3 mục Tế thứ - Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].
chư số
Tất cả mọi vật hay mọi hiện tượng—All the variety of things, all phenomena.
; (諸數) Số, pháp số, tức là số pháp môn. Chư số là gọi chung các pháp hữu vi. Vì các pháp có các loại pháp số sai biệt, cho nên gọi là pháp số. [X. kinh Duy ma phẩm Đệ tử].
chư thiên
Devatā (S), DevaśŪra (S), Deva (S), lha (T), God Đề bà(Nữ gọi là Devi) 1- Những vị tu ngũ giới, thập thiện, cụ túc giới có công đức nên được sanh làm chư thiên.Chúng sanh trong 28 từng trời.
; Devakàya (S). Group of gods.
; Các loại Thiên (Nhựt Thiên, Nguyệt Thiên, Vi Đà Thiên, Lục Dục Thiên, Tứ Thiền Thiên, Tứ Không Xứ Thiên, vân vân)—All the devas or gods. ** For more information, please see Thiên, Tứ Thiên Vương, Tứ Thiền Thiên, and Tứ Thiền Vô Sắc in Vietnamese-English Section.
; (諸天) I. Chư thiên. Cứ theo các kinh nói, thì cõi Dục có sáu thiên (Lục dục thiên), bốn thiền cõi Sắc có mười tám thiên, bốn xứ cõi Vô sắc có bốn thiên, ngoài ra, còn có các thiên thần khác, như Nhật thiên, Nguyệt thiên, Vi đà thiên, gọi chung là Chư thiên (người các cõi trời). Cứ theo kinh Phổ diệu quyển 6 chép, thì khi đức Thíchtôn thành đạo dưới cây Bồ đề, chư Thiên đều đến chúc mừng. [X. Cổ kim trứ văn tập Q.2]. II. Chư thiên. Trong Mật giáo, chỉ hai mươi Thiên thuộc Ngoại kim cương bộ trong Kim cương giới mạn đồ la, và Thiên long quỉ thần trong Thai tạng giới mạn đồ la ngoại viện. Cũng gọi là Phổ thế thiên.
chư thiên thuyết
(諸天說) Có năm loại người diễn nói rõ ràng các kinh điển của Phật giáo, Chư thiên là một trong số đó. Như Đế thích thiên thường ở nơi nhà Thiện pháp, vì các trời cõi Đao lị mà diễn nói kinh Đại bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.2]. (xt. Ngũ Chủng Thuyết Nhân).
chư thiên truyện
(諸天傳) Gồm 2 quyển. Do Hành đình đời Nam Tống soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 150, đề là Trùng biên chư Thiên truyện. Sửa chữa và đổi lại từ Chư thiên liệt truyện của Thần hoán. Ghi thuật nguyên do đặt các thần trong già lam của tông Thiên thai, và dựa theo Kim quang minh sám pháp mà định vị thứ của các thần bày trong đạo tràng. Nêu tên các thiên là: Phạm thiên, Đế thích, Đa văn, Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục, Kim cương mật tích, Ma hi thủ la, Tán chi đại tướng, Đại biện tài thiên, Đại công đức thiên, Vi đà thiên thần, Kiên lao địa thần, Bồ đề thụ thần, Quỉ tử mẫu thần, Ma lị chi thiên, và chép thêm Nhật cung thiên tử, Nguyệt cung thiên tử, Sa yết la vương, Diệm ma la vương v.v... gồm hai mươi thiên. Theo các kinh luận mà nói rõ về sự duyên các thiên và thêm hai mươi sáu câu tán thể bảy chữ.
chư thiên đoạ xứ
Isipatana (P), Ṛṣipatana (S)Tiên uyểnMột vùng gần Benares, nay là Sarnath, có Vườn Lộc Uyển, nơi đức Phật giảng kinh Chuyển pháp luân..
chư thiên đọa xứ
Rsipatana (S), Isipatana (P). Site of the famous Deer Park. Also Tiên nhân lộc viên, tiên nhân viên.
chư thiền giải thoát tam muội trí lực
(諸禪解脫三昧智力) Phạm: Sarva-dhyàna-vimokwasamàdhi-samàpatti-saôkleza-vyavadànavyutthàna -jĩàna-bala. Là một trong mười lực của Như Lai. Cũng gọi là Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực, Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí phát khởi tạp nhiễm thanh tịnh trí lực, Thiền định giải thoát tam muội tịnh cấu phân biệt trí lực. Như lai có mười thứ trí lực, trong đó, Chư thiền giải thoát tam muội trí lực tức là cái sức trí tuệ của Như lai biết rõ hết thứ tự sâu cạn của tất cả thiền định giải thoát đúng như thực. (xt. Thập Lực).
chư thuyết
All the speak.
chư thuyết bất đồng kí
(諸說不同記) Gồm 10 quyển. Do Chân tịch thân vương thuộc Chân ngôn tông Nhật bản soạn. Nói đủ là Đại bi thai tạng phổ thông đại mạn đồ la trung chư tôn chủng tử tiêu xí hình tướng Thánh vị chư thuyết bất đồng kí. Còn gọi là Thai tạng chư thuyết bất đồng kí. Thu vào Đại chính tạng tập 86. Nội dung nói về các hiệu tiếng Phạm, hiệu mật và chủng tử ở Thai tạng giới mạn đồ la. Sách này so sánh mạn đồ la cũ với hiện đồ mạn đồ la, đối chiếu theo các bản ở chùa Đông, bản Cao hùng, tranh vẽ do Viên nhân và tranh vẽ Tông duệ thỉnh về. [X. Chư tông chương sớ lục Q.3].
chư thánh chúng
All the assembly of holy ones.
chư thích pháp vương
1) Pháp Vương của bộ tộc Thích Ca: The dharma-king of all the Sakyas. 2) Danh hiệu của Phật Thích Ca Mâu Ni: A title of Sakyamuni Buddha.
chư thích tử dĩ hoả tụ nghiệm la hầu la
(諸釋子以火聚驗羅侯羅) La hầu la, là con của đức Thích tôn khi chưa xuất gia, do Da du đà la sinh ra. Cứ theo kinh Tạp bảo tạng quyển 10 chép, thì Da du mang thai sáu năm, vào đêm đức Phật thành đạo mới sinh La hầu la. Những người thuộc dòng họ Thích ca rất hoài nghi, bèn vứt mẹ con Da du vào hố lửa, nhưng không tổn hại một sợi tóc, lúc đó những người dòng Thích ca mới tin.
chư thông
(諸通) Thông, là nghĩa tự tại vô ngại. Chư thông, chỉ các loại thần thông tự tại vô ngại mà Phật, Bồ tát, ngoại đạo, tiên nhân đã đạt được. Có năm thông, sáu thông, mười thông khác nhau. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.20 phần đầu].
chư thú
All paths or destinies of sentient existence, i.e. devas, men, asuras, beings in purgatory, pretas and animals.
; Chúng sanh trong các cõi trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—All paths or destinies of sentient existence, i.e. devas, men, beings in purgatory, pretas, and animals.
; (諸趣) Các đất nước mà chúng sinh sinh đến gọi là thú (đi về một hướng nào). Chư thú, tức gọi chung sáu đường trời, người, A tu la, súc sinh, ngã quỉ, địa ngục. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 511 thượng), nói: Rơi vào biển sống chết, chư thú rộng mông mênh, như bánh xe quay nước.
chư thượng thiện nhân vịnh
(諸上善人咏) Có 1 quyển. Do Đạo diễn đời Minh soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung nói về một trăm hai mươi lăm người nguyện cầu vãng sinh cõi Tịnh độ cực lạc, từ bồ tát Văn thù đến mười sáu người đàn bà họ Đào, theo thứ tự đều làm một bài thơ bốn câu bảy chữ để tán thán và có nói sơ lược về thân thế mỗi người. Cuối quyển có bài Bạt của Đại hựu đề năm Hồng vũ 14 (1381), bài Bạt của Tính thâm, và ghi thêm một thiên Niệm Phật nguyện văn của Dương thứ công đời Tống.
chư thừa pháp số
(諸乘法數) Gồm 11 quyển. Do Hạnh thâm đời Minh soạn. Nói đủ là Hiền thủ chư thừa pháp số. Cũng gọi là Hiền thủ pháp số. Lấy tông Hoa nghiêm làm chủ yếu, thu chép các danh mục pháp số trong các kinh Đại thừa, Tiểu thừa, chú giải và nói rõ xuất xứ. Bắt đầu từ Nhất chân, theo thứ tự đến Tám vạn bốn nghìn pháp môn cộng tất cả hơn hai nghìn một trăm danh mục, cuối quyển có bài minh Tán pháp số, Bát thức tâm vương chư môn liệu giản, của Sa môn Bản thắng, và bài Bạt của Đăng cốc đề năm Hoằng trị 13 (1500). Chư thừa pháp số nguyên là trước tác của ngài Hiền thủ (Pháp tạng), đến đời Minh thì bị mất, Hành thâm mới biên lại sách này, cho nên đề là Trùng biên chư thừa pháp số, được khắc bản vào năm Tuyên đức thứ 2 (1427). Sau truyền đến Triều tiên, tại Nhật bản thì sách này được ấn hành lưu thông vào khoảng năm Khoan vĩnh (1624 - 1643).
chư tiên
1) Tất cả những vị ẩn sĩ tu tiên: All the hermits, mystics, rsi. 2) Từ nầy cũng dùng để chỉ Bà La Môn: A term also applied to the Brahmans.
; (諸仙) I. Chư tiên. Chuyên gọi những người Bà la môn tu hành thanh tịnh. Kinh Pháp hoa phẩm Tựa (Đại 9, 5 trung), nói: Bậc trời cuối cùng trong các trời, hiệu là Nhiên đăng Phật, bậc đạo sư của chư tiên. II. Chư tiên. Vị tăng đời Tống. Người huyện Kì (Sơn Tây), họ Bùi. Pháp danh và năm sinh năm mất đều không rõ. Ở chùa Tiên u thuộc Thái nguyên, hơn trăm tuổi mà tóc vẫn đen, sau tuyệt thực trăm ngày mà hóa. Vua Huy tông ban hiệu là Chư tiên. [X. Sơn tây thông chí].
chư trước
Tất cả mọi chấp trước—All atachments. • Phàm phu chấp trước vào sinh tử: The ordinary man is attached to life. • A La Hán (nhị thừa) chấp trước vào niết bàn: The Arhat is attached to the nirvana. • Bồ Tát chấp trước vào sự chứng đắc của mình: The bodhisattva to his saving work.
; (諸著) Trước, giữ chặt lấy, dính mắc vào. Phàm phu dính mắc vào sống chết, Nhị thừa giữ chặt lấy Niết bàn, Bồ tát thì chấp nơi pháp mình chứng được, như thế đều là chấp trước, cho nên gọi là Chư trước. Kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm Phương tiện (Đại 9, 5 hạ), nói: Rộng diễn giáo pháp, vô số phương tiện, dắt dẫn chúng sinh, khiến lìa chư trước.
chư trần
Năm trần sắc, thanh, hương, vị và xúc (làm nhiễm ô chân tính)—All the atoms, or active principle of form, sound, smell, taste, touch.
chư tôn
All the honoured ones.
; All the honoured ones.
chư tôn biệt hành hộ ma bí pháp
(諸尊別行護摩秘法) Trong Mật giáo, phép tu Hộ ma có hai loại là Chư tôn biệt hành và Chư tôn hợp hành. Biệt hành, tức tu Hộ ma cúng riêng biệt mỗi vị tôn. Hợp hành, tức trong một đàn đồng thời khuyến thỉnh chư tôn, mà hợp tu Hộ ma cúng.
chư tôn chi diện vị
(諸尊之面位) Chư tôn, chỉ chư Phật, Bồ tát, Minh vương, Thiên v.v... trong Mật giáo. Chư tôn trong hai bộ Mạn đồ la kim cương giới và Thai tạng giới, đều ngồi quay mặt về phía Đại nhật Như lai. Như vị trí của Thánh chúng trong Kim cương giới Ngũ giải thoát luân mỗi mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều hướng về phía Đại nhật Như lai. Tuy nhiên, để làm phương tiện cho những người tu tập, chư tôn trên Hiện đồ mạn đồ la đều ngồi hướng về phía hành giả. Như trong Diễn áo sao quyển 13, do Cảo bảo soạn, chép rằng, bên phải Đại nhật Như lai là chư tôn thuộc Liên hoa bộ, chủ về Định - bên trái là chư tôn thuộc Kim Cương bộ, chủ về Tuệ, đều ngồi quay mặt về phía hành giả.
chư tông
(諸宗) Đức Phật nói pháp, căn cứ vào các căn cơ bất đồng mà nói những giáo pháp khác nhau. Đời sau truyền diễn thành các tông, để giáo hóa, lợi ích những người có duyên. Như hai mươi bộ Tiểu thừa, hai tông Đại thừa tại Ấn độ, mười ba tông tại Trung quốc, Nhật bản thì có tám tông, chín tông, mười tông, mười hai tông khác nhau...
chư tông đại cương vấn đáp
(諸宗大綱問答) Gồm 4 quyển. Do Động triệt trai, người Nhật bản, soạn. Ấn hành vào tháng 3 năm Chính đức thứ 6 (1716). Soạn giả dùng thể văn hỏi đáp để trình bày đại cương các tông. Ngoài các tông phái Phật giáo, như Hoa nghiêm, Thiên thai, Chân tông ra, còn đề cập cả Thần đạo, Lão Trang và Nho gia. CHƯ TRẦN Chỉ năm trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc có khả năng làm nhơ bẩn chân tính. Kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp (Đại 9, 391 hạ) nói: Căn mắt nhờ duyên, tham đắm các sắc, vì tham đắm sắc, say mê các trần.
chư tăng
All the monks.
chư tướng
All the differentiating characteristics of things.
; Cá sự vật hình tướng khác nhau—All the differentiating characteristics of things.
; (諸相) Tướng, chỉ hình tướng trạng thái của các pháp. Chư tướng là nói chung các hình tướng của hết thảy sự vật sai biệt. [X. kinh Duy ma cật phẩm Đệ tử].
chư tạng thuần tạp cụ đức môn
(諸藏純雜具德門) Một trong mười Cổ huyền môn của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm dùng mười cửa huyền để giải thích rõ ý nghĩa sâu xa của pháp giới duyên khởi, mười huyền do đại sư Trí nghiễm chùa Chí tướng lập là mười huyền cũ (cổ), do đại sư Hiền thủ Pháp tạng lập là mười huyền mới. Chư tạng thuần tạp cụ đức môn, có nghĩa là đem hết thảy pháp nhiếp vào một pháp, là thuần - trong một pháp có đầy đủ hết thảy pháp, là tạp - thuần, tạp không ngăn ngại nhau, là cụ đức. Chẳng hạn như Thí (một trong sáu độ), hết thảy muôn hạnh đều bao nhiếp trong môn Thí, đây là thuần - một môn Thí này có đầy đủ hết thảy muôn hạnh của các độ, là tạp - nhưng thuần, tạp không trở ngại nhau, môn thí và muôn hạnh đều dung thông cộng tồn, đó là cụ đức. Trong mười huyền mới, ngài Hiền thủ đổi lại môn này gọi là Quảng hiệp tự tại vô ngại môn. Về nguyên nhân thay đổi thì, cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 10 chép (Đại 36, 75 trung) là: Quảng hiệp tự tại môn, nghĩa rộng dung phổ biến, giống như trong phép quán pháp giới, mà tên gọi hơi khác thôi. Môn mới này do Hiền thủ lập để thay cho Chư tạng thuần tạp cụ đức môn trong mười huyền của Chí tướng, ý rằng một hạnh là thuần, muôn hạnh là tạp, tức là nghĩa Sự sự vô ngại - một lí tức là thuần, muôn hạnh là tạp, thì tức là Sự lí vô ngại, sợ rằng có thể lẫn với sự lí vô ngại, cho nên phải đổi. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4 - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Thập Huyền Môn).
chư tế
(諸蔽) Tế, nghĩa là che lấp đi. Chư tế chỉ cho sáu thứ: tham lam, phá giới, tức giận, lười biếng, tán loạn, ngu si v.v... có khả năng che lấp mất tâm thanh tịnh. (xt. Lục Tế).
Chư Tử Bách Gia
(諸子百家, Shoshihyakka): tên gọi chung của rất nhiều học giả, tư tưởng gia, học phái xuất hiện dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc (春秋戰國) của Trung Quốc; hay tên gọi của học thuyết, học phái của những người ấy. Chư Tử (諸子) nghĩa là các học giả, Bách Gia (百家) là nhiều học phái. Tư Mã Đàm (司馬談, ?-110 ttl.) đầu thời Tiền Hán (前漢, 206-8 ttl.), phân loại Chư Tử Bách Gia thành Lục Gia (六家, 6 học phái chính), gồm: (1) Âm Dương Gia (陰陽家); (2) Nho Gia (儒家, hay Nho Giáo); (3) Mặc Gia (墨家); (4) Pháp Gia (法家); (5) Danh Gia (名家) ; và (6) Đạo Gia (道家, tức tư tưởng Lão Trang). Trong Nghệ Văn Chí (芸文志) của Hán Thư (漢書), Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán lại thêm vào 3 học phái nữa là: (1) Tung Hoành Gia (縱橫家); (2) Tạp Gia (雜家) và (3) Nông Gia (農家); để trở thành 9 học phái.
chư tự tông mạch kí
(諸嗣宗脉記) Gồm 2 quyển. Không rõ người soạn. Ấn hành vào năm Hưởng bảo thứ 3 (1718) tại Nhật bản. Tức ghi chép thứ tự truyền thừa của các tông. Gồm có hai mươi bộ Tiểu thừa, Thập tụng tì đàm tát bà đa tông, Tứ phần luật tông, Tì đàm Câu xá tông, Thành thực tông, Nhiếp luận tông, Pháp tướng tông, Tam luận tông, Tịnh độ tông, Lăng già tông, Thiên thai tông, Niết bàn tông, Địa luận tông, Hoa nghiêm tông, Chân ngôn tông v.v... và có Thụ cụ sư tư hoành đồ của Luật tông, Truyền kinh pháp sư tổng đồ của Thiên thai, cuối quyển, trong lời phụ, còn tìm tòi nguồn gốc mạch pháp của các tông.
chư uẩn
Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)—All the skandhas.
; (諸蘊) Uẩn, là nghĩa chứa nhóm tích tụ - như sự tích tụ của các sắc năm căn, năm cảnh, gọi là Sắc uẩn. Chư uẩn, tức là năm uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức. (xt. Ngũ Uẩn).
chư ác mạc tác
(諸惡莫作) Có nghĩa là không làm tất cả việc ác. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 phẩm Tựa (Đại 2, 551 thượng), nói : Không làm các việc ác, làm tất cả việc thiện, giữ ý mình trong sạch, đó là lời Phật dạy. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.14 - luận Đại trí độ Q.18]. (xt. Thất Phật Thông Giới Kệ).
chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư phật giáo
(A) Trong Kinh A Hàm, Phật dạy: “Không làm những việc ác, chỉ làm những việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đó lời chư Phật dạy.” Biển pháp mênh mông cũng từ bốn câu kệ nầy mà ra—In the Agama Sutra, the Buddha taught: “Do not commit wrongs, devoutly practice all kinds of good, purify the mind, that's Buddhism” or “To do no evil, to do only good, to purify the will, is the doctrine of all Buddhas.” These four sentences are said to include all the Buddha-teaching. (B) Những lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings in the Dharmapada Sutra: 1) Người trí hãy nên rời bỏ hắc pháp (ác pháp) mà tu tập bạch pháp (thiện pháp), xa gia đình nhỏ hẹp, xuất gia sống độc thân theo pháp tắc Sa-môn—A wise man should abandon the way of woeful states and follows the bright way. He should go from his home to the homeless state and live in accordance with the rules for Sramanas (Dharmapada 87). 2) Người trí phải gột sạch những điều cấu uế trong tâm, hãy cầu cái vui Chánh pháp, xa lìa ngũ dục mà chứng Niết bàn—A wise man should purge himself from all the impurities of the mind, give up sensual pleasures, and seek great delight in Nirvana (Dharmapada 88). 3) Người nào thường chính tâm tu tập các phép giác chi, xa lìa tánh cố chấp, rời bỏ tâm nhiễm ái, diệt hết mọi phiền não để trở nên sáng suốt, thì sẽ giải thoát và chứng đắc Niết bàn ngay trong đời hiện tại—Those whose minds are well-trained and well-perfected in the seven factors of enlightenment, who give up of grasping, abandon defiled minds, and eradicate all afflictions. They are shinning ones and have completely liberated and attained Nirvana even in this world (Dharmapada 89).
chư ác vô tác
"To do no evil, to do only good, to purify the will, is the doctrine of all Buddhas" chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.
; See Chư Ác Mạc Tác.
chư đại bồ tát
The great Mahasattvas.
chư đại đệ tử
All great disciples.
chư đức phúc điền kinh
(諸德福田經) Có một quyển. Nói tắt là Phúc điền kinh, Chư phúc điền kinh. Do các sư Pháp lập, Pháp cự đời Tây Tấn dịch chung. Thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung ghi chép việc Đế thích hỏi về ruộng phúc, Phật bèn nói năm tịnh đức, bảy pháp, bảo rằng năm tịnh đức phát tâm lìa tục là ruộng phúc, lại nói bảy pháp kiến lập chùa Phật, phòng tăng là ruộng phúc.
chưa
Not yet.
chưa bao giờ
Never.
chưa dứt niệm đời
Have not yet severed worldly thoughts.
chưa lên bờ đã vội phá bè
Prematurely destroying the boat before stepping onto the shore.
chưa ngộ đạo
Have not yet attained (awakened) the way.
chưa tinh tường
Not well-versed in.
chưa tinh tường về thiền
Not well-versed in the Zen method.
chưa tinh tường về tịnh độ
Not well-versed in the Pure Land method.
chưng
Nấu hay hấp—To steam.
chưng hửng
To amaze—To atonish greatly.
chưng sa
Nấu cát—To cook sand—See Chưng Sa Tác Phạn.
chưng sa tác phạn
Nấu cát làm cơm, là chuyện không thể nào xãy ra được (trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nhắn nhủ ngài A Nan rằng: “Nếu như ông không cắt đứt sự dâm dục mà tu thiền định thì chẳng khác nào nấu cát mà muốn thành cơm, làm gì có chuyện nấy! Trải qua trăm nghìn kiếp, nó vẫn là cát nóng, bởi cái gốc của nó không phải là cơm, nên vẫn chỉ là cát đó mà thôi)—Cooking sand for food, which is impossible.
Chương
(璋): cây hốt bằng ngọc. Trong Thi Kinh phần Tiểu Nhã, Tư Can có câu: “nãi sinh nam tử, tải tẩm chi sàng, tải y chi thường, tải lộng chi chương (乃生男子、載寢之床、載衣之裳、載弄之璋, khi sanh con trai, cho nằm trên giường, cho mặc áo xiêm, cho chơi hốt ngọc)”. Cho nên chương ngõa trình tường (璋瓦呈祥) có nghĩa là “báo điềm lành sanh con trai và con gái”. Từ đó, xuất hiện cụm từ “lộng chương chi hỷ (弄璋之喜)”, có nghĩa là người xưa lấy cây ngọc hốt cho đứa con trai chơi, với hy vọng tương lai con mình sẽ có được phẩm đức quý giá như ngọc ngà vậy. Người ta thường dùng câu này để chúc mừng gia đinh sanh con trai. Đối với con trai, khi sanh con gái người ta dùng câu “lộng ngõa chi hỷ (弄瓦之喜)”. Như trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn của Tô Thức có câu: “chương ngõa vị phân, mẫu tử giai quy trường dạ (璋瓦未分、母子皆歸長夜, trai gái chưa hay, mẹ con đều về chín suối).”
chương
A chapter—A section—Essay—Document.
chương (sách)
Skandhaka (S). Chapter, section, division of a book. Also kiền độ, kiền độ bộ, kiền đà, sách, thiên.
chương an
(章安) (561 - 632) Vị tăng đời Tùy. Người Chương an, Lâm hải (Lâm hải, Chiết giang), họ Ngô. Tự Pháp vân, tên là Quán đính. Đời gọi là Chương an đại sư, Chương an tôn giả. Bảy tuổi theo ngài Tuệ chửng ở chùa Nhiếp tĩnh xuất gia, hai mươi tuổi thụ giới Cụ túc. Sau khi ngài Tuệ chửng nhập tịch, niên hiệu Chí đức năm đầu (583) đời Trần hậu chủ Nam triều sư đến chùa Tu thiền, núi Thiên thai, tham yết ngài Trí khải, học tập Thiên thai giáo quán. Từ đó về sau sư theo hầu ngài Trí khải. Năm Khai hoàng 17 (597) đời Tùy, ngài Trí khải thị tịch, sư dâng di vật cống hiến Tấn vương Quảng, Vương sai quan mang hoàn lại và có lời tạ từ. Về cuối đời, sư ở tại tinh xá Xứng tâm, giảng thuyết Pháp hoa. Năm Trinh quán thứ 6 thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi, truy thụy là Tổng trì tôn giả. Trí tuệ biện tài của sư thì tuyệt luân, có thể nhớ hết di giáo của ngài Trí khải, như Pháp hoa huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú, Ma ha chỉ quán v.v... ghi chép các bộ lớn nhỏ, hơn trăm quyển để truyền cho đời sau, cho đến ngày nay, những lời dạy của đại sư Trí khải không bị rơi rớt mất mát, đều là nhờ sức của sư, đời sau tôn sư là tổ thứ năm của tông Thiên thai Đông độ. Trứ tác của sư gồm có: Đại ban niết bàn kinh huyền nghĩa 2 quyển và Kinh sớ 33 quyển, Quán tâm luận sớ 5 quyển, Thiên thai bát giáo đại ý 1 quyển, Tùy thiên thai Trí khải đại sư biệt truyện 1 quyển, Quốc thanh bách lục 4 quyển, tất cả trên đây hiện nay đều còn. Ngoài ra, Nhân vương kinh tư kí 3 quyển, Nhân vương sớ 4 quyển thì đã mất. [X. Tục cao tăng truyện Q.19 - Phật tổ thống kỉ Q.7 - Tịnh độ thánh hiền lục Q.2].
Chương biểu
(章表): có mấy nghĩa. (1) Tấu chương, tấu biểu. Trong tác phẩm Văn Tâm Điêu Long (文心雕龍), phần Chương Biểu (章表), của Lưu Hiệp (劉勰, khoảng 465-?) nhà Lương thời Nam Triều có giải thích rằng: “Hán định lễ nghi, tắc hữu tứ phẩm, nhất viết Chương, nhị viết Tấu, tam viết Biểu, tứ viết Nghị; Chương dĩ tạ ân, Tấu dĩ án hặc, Biểu dĩ trần thỉnh, Nghị dĩ chấp dị (漢定禮儀、則有四品、一曰章、二曰奏、三曰表、四曰議、章以謝恩、奏以按劾、表以陳請、議以執異, nhà Hán định ra lễ nghi, tất có bốn loại; một là Chương, hai là Tấu, ba là Biểu, bốn là Nghị; Chương để tạ ơn, Tấu để chiếu theo hạch tội, Biểu để trình bày xin, Nghị để giải quyết sự bất đồng).” (2) Tiêu ký, tượng trưng.
chương bính lân
(章炳麟) (1868 - 1936) Người Dư hàng, Chiết giang. Vốn tên là Giáng, tự Thái viêm. Tinh chuyên quốc học, giàu tư tưởng dân tộc. Khoảng năm Quang tự, lần lượt viết các báo Thời vụ, Xương ngôn, lời lẽ kịch liệt, bị triều đình nhà Thanh cấm, bèn bỏ chạy sang Đài loan, đến Nhật bản, làm quen với tiên sinh Tôn trung sơn, gia nhập hàng ngũ cách mạng. Năm Quang tự 29 (1903) bị bắt, ở trong tù nghiên cứu Phật học, đọc các luận Nhân minh và Pháp tướng Duy thức. Sau khi được tha, lại du lịch Nhật bản một lần nữa. Khi về nước, gặp lúc Viên thế khải xưng đế, không được dùng, lại đến ẩn thân trong chùa Long tuyền tại Bắc kinh, nhờ Tôn ngưỡng thượng nhân mua một bộ Đại tạng Tần già, rồi đóng cửa xem kinh. Đối với chân nghĩa duyên khởi tính không, duy thức nhị vô ngã của Phật pháp đại thừa ông thể nhập cực sâu. Trước tác rất nhiều, về phần Phật học thì có: Kiến lập tôn giáo luận, Ngũ vô luận, Vô thần luận, Nhân vô ngã luận, Tứ hoặc luận, Quốc gia luận, Đại thừa Phật giáo duyên khởi luận, Đại thừa khởi tín luận biện v.v... Ngoài ra, còn có một cuốn Tề vật luận thích, là dùng Duy thức Phật giáo để giải thích Lão Trang, dung hợp thuyết của hai nhà Phật, Lão. [X. Đương đại Trung quốc triết học (Hạ lân) - Trung quốc Phật giáo cận đại sử (Đông sơ)].
Chương Bỉnh Lân
(章炳鱗, Shō Heirin, 1869-1936): tư tưởng gia, học giả từ cuối thời nhà Thanh cho đến đầu thời kỳ Dân Quốc, tự là Mai Thúc (枚叔), hiệu Thái Viêm (太炎). Ông theo hoạt động cách mạng với nhóm Tôn Văn (孫文), rất giỏi về cổ điển học, văn học, âm vận học. Trước tác của ông có Chương Thị Tùng Thư (章氏叢書), Quốc Học Khái Luận (國學概論), v.v.
chương gia hô đồ khắc đồ
(章嘉呼圖克圖) Vị Phật sống lớn nhất của phái Phật giáo Cách lỗ (Hoàng giáo) Tây tạng ở địa khu nội Mông cổ. Là một trong bốn Đại hô đồ khắc đồ. Nguyên là hệ thống Thanh hải hỗ trợ Phật sống chùa Hựu ninh. Chương gia, là dịch âm của tên Tây tạng Lcaí-skya, cũng gọi là Trương gia, Chương giai, nguyên là tên đất ở Tây tạng - Hô đồ khắc đồ là dịch âm của tiếng Mông cổ Xutuqtu, còn gọi là Hồ thổ hồ đồ, Hồ thổ khắc đồ, nghĩa là Thánh giả. Chương gia hô đồ khắc đồ, ý là bậc Thánh ở địa phương Chương gia. Thường gọi là Chương gia cách căn (Lcaí-skya gegen) hoặc Cách căn (Gegen, là tiếng Mông cổ, nghĩa là bậc sáng láng). Được coi là hóa thân của Văn thù, cùng với Triết bá tôn đan ba hô đồ khắc đồ gọi chung là hai Lạt ma lớn của Mông cổ. Đến A cát vượng la bá tang khước lạp đan (Tạng: Íag dbaí blo bzaí chos-ldan, 1642 - 1715) đầu đời Thanh mới xác lập địa vị Chương gia hô đồ khắc đồ là người cai quản Lạt ma hoàng giáo ở Nội mông cổ, cho nên, A cát vượng la thực tế là tị tổ của chức vị này. Tương truyền, trước thời A cát vượng la, đã có mười ba đời chuyển thế nối nhau, cho nên thông thường sư được gọi là Chương gia hô đồ khắc đồ đời thứ 14. Về mười ba đời trước thì xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Mông Tạng Phật giáo sử thiên thứ 5 của Diệu chu nói, thì sự chuyển thế truyền thừa của mười ba đời trước như sau (trong đó ba đời trước rất đậm sắc thái truyền thuyết): 1. Sâm thái cát căn (Tạng: Cunda gegen). 2. Nại tốn nại (Tạng: Nasuna), tái sinh ở Ấn độ, tinh thông các kinh, rất nhiều người qui y. 3. Đạt ba bảo A xà lê (Darban-àcàrya), cũng tái sinh ở Ấn độ, thường trì kinh chú, sống tới một nghìn hai trăm tuổi, là nhân vật trong truyền thuyết. 4. Cách ba na lạp sâm (Tạng: Ska ba dpal brtsegs), là Khất lật song đề tán vương (Tạng: Khri sron lde tsan) là nhà dịch kinh trứ danh của thời đại. 5. Tao pha khổ ba (Tạng: Sgro phug pa), là Lạt ma của phái Ninh mã thuộc Lạt ma giáo cũ. 6. Tư Hàn long ngõa. 7. Lãng túc thông ngõa. 8. Phát tư ba (Tạng: Hphags pa), là Quốc sư đầu đời Nguyên. 9. La bá tang (Tạng: Blo - bzaí), nổi tiếng về sự nghiêm giữ giới luật và diễn giảng hoằng pháp. 10. Giáp khanh khúc cát (Tạng: Byamschen chos rje), tức là Thích ca dã thất (Tạng:Sà kya ye ses) đệ tử của Tôn khách ba nhà đại cải cách của Phật giáo Tây tạng. 11. Cầu cơ ca lặc tát (Tạng: Chos kyi rgyal mtshan), về cuối đời chú tích tại Mông cổ. 12. Diêu đột ba lạp ca thác nhĩ châu (Tạng: Dpal #eyon lhun grub), tái sinh tại Đường khắc thác (Tang gut) về phía đông bắc Tây tạng, cuối đời dời đến ở Lạp tát, bái yết Đạt lại lạt ma đời thứ 5. 13. Thiền khắc ba lãng tắc lạp (Tạng: Grags pa #od zer), tái sinh ở gần chùa Cách luân trát ba lí (Tạng: Dgon luí byams pa glií) tại Đường khắc thác, sau ở luôn chùa ấy để nghiên cứu các mật điển từ Tạng châu truyền đến, đời gọi là Chương gia hô đồ khắc đồ La bá khanh (Tạng Slob chen, hàm ý là nhà đại học giả). Bắt đầu từ đời thứ 14 tức là đã tiến vào thời đại nhà Thanh. Nói một cách đại để thì nhà Thanh rất trọng đãi các vị Chương gia hô đồ khắc đồ thủ lãnh cai quản Hoàng giáo tại địa phương nội Mông, không những chỉ dành cho quyền quản trị các việc tôn giáo mà còn cho tham dự việc hành chính tại Nội Mông, tại Kinh sư thì được ở vào ngôi cao, được cấp lương hàng tháng, hai mùa hè thu được đến nghỉ mát trên núi Ngũ đài hoặc ở Đa luân nặc nhĩ (Tạng: Dolon-nor), chiếc bình vàng để rút thăm tuyển chọn Đại hoạt Phật được đặt ra ở thời Cao tông cũng được giao cho Chương gia hô đồ khắc đồ bảo quản, cho nên quyền thế dần dần thêm lớn, đến giữa thời nhà Thanh trở về sau, thế lực đã mở rộng đến các nơi Nhiệt hà, Liêu ninh, Thiểm tây, Cam túc và Thanh hải. A cát vượng la bá tang khước lạp đan đời thứ 14 tái sinh ở Tôn khách (Tạng: Btsoíkha) nơi sinh của Tôn khách ba, chín tuổi vào ở chùa Cách luân trát ba lí, sau đến Vệ châu nghiên tập Bát nhã. Hai mươi ba tuổi, theo Đạt lại lạt ma đời thứ 5 thụ giới Cụ túc và lưu lại Tạng châu, Vệ châu học rộng các sách, đến năm Khang hi 22 (1683) mới trở về Tôn khách. Năm Khang hi 32, phụng chỉ đến ở chùa Pháp nguyên tại Bắc kinh. Năm 36, Đạt lại lạt ma đời thứ 6 lên ngôi, sư vâng mệnh vua mang Sắc ấn vào Tây tạng, năm 45, được phong hiệu Quán đính phổ thiện quảng từ đại quốc sư. Năm 52, Thánh tổ đến Đa luân nặc nhĩ, trao cho chức hưởng quản Giáo quyền (Hoàng giáo) ở miền đông Tây tạng. Năm 54, thị tịch ở Đa luân nặc nhĩ, Thánh tổ đích thân tiễn đưa Khám tòa đến Tây ninh. Chương gia hô đồ khắc đồ đời thứ 15 là La lạt tất đa nhĩ cát (Tạng: Rol pa#i rdo rje, dịch ý là Du hí kim cương 1717 - 1786), còn gọi là Da hỉ thắc bì tước nap mạn bá lạp sâm ba (Tạng: Ye sés thob pa#i bsod nams dpal bzaií po, dịch ý là trí tuệ giáo đăng), tái sinh ở Lương châu, Cam túc. Bốn tuổi vào ở chùa Cách luân trát ba lí. Tám tuổi, nhà vua triệu đến Bắc kinh, lần lượt ở các chùa Chiên đàn, chùa Sùng chúc (tên cũ là chùa Pháp nguyên). Năm Ung chính thứ 9 (1731), vua Thế tông dựng chùa Thiện nhân ở mé tây chùa Vựng tôn tại Đa luân nặc nhĩ rồi triệu sư đến ở. Năm 12, được phong hiệu Quán đính phổ thiện quảng từ đại quốc sư. Cùng năm ấy, vào Tây tạng, theo Đạt lại lạt ma đời thứ 7 học tập kinh điển tiếng Phạm, lại theo Ban thiền đời thứ 5 thụ giới Cụ túc. Niên hiệu Càn long năm đầu (1736), vua Cao tông ban ấn Quản lí kinh sư tự miếu Lạt ma trát tát khắc đạt lạt ma. Năm 16, được phong hiệu Chấn hưng Hoàng giáo đại từ đại quốc sư. Năm Càn long 58, thị tịch. Sư tinh thông các thứ tiếng Tây tạng, Mãn châu, Mông cổ và Hán, trước tác rất nhiều. Đã cùng với Thạc trang thân vương cùng soạn Khâm định đồng văn vận thống 8 quyển, và lấy sách này làm bản thảo mà biên soạn Mãn Hán Mông cổ Tây phiên hợp bích đại tạng toàn chú, 88 quyển. Ngoài ra Ngài còn biên khảo kinh Thủ lăng nghiêm, hiệu chính Cam châu nhĩ, bản dịch Mông cổ, phiên dịch Đan châu nhĩ ra tiếng Mông cổ, sửa lại kinh Tạo tượng độ lượng, biên soạn Lạt ma thần tượng tập, chỉnh lí tạng kinh tiếng Mãn châu v.v.. phần lớn được coi là những viên ngọc của kinh điển Phật giáo Mông cổ, Tây tạng.Y hi đan tất trát lạp tham (TạngYe zes bstan pa#i rgyal mtshan, dịch ý là Trí tuệ giáo chàng, 1787 - 1846) đời thứ 16, tái sinh ở mạn bắc Tôn giang thuộc Thanh hải. Tám tuổi vào kinh yết kiến vua. Mười bốn tuổi, theo chỉ dụ của Nhân tông, vào Tây tạng cầu học, hai mươi tuổi, sau khi thụ giới Cụ túc, lại trở về Bắc kinh. Năm Gia khánh 24 (1819), nhậm chức Quản lí kinh đô Lạt ma ban đệ trát tát khắc đạt lạt ma thường ấn Lạt ma. Năm Đạo quang 14 (1834), được ban ấn vàng Đại quốc sư. Gần ngày sinh nhật lần thứ sáu mươi, chịu ân chỉ quản lí hai chùa Vựng tôn và Thiện nhân và các chùa được xây cất từ khoảng năm Khang hi 53 đến năm Ung chính thứ 9, nhưng cùng năm đó đã thị tịch. Đời thứ 17 là Trị hi đản bích ni mã (Tạng: Ye zes bstan pa#i íi ma, dịch ý là Trí tuệ giáo nhật, 1849 - 1875), cũng tái sinh ở mạn bắc Tôn giang, Thanh hải. Tám tuổi vào cung. Năm Hàm phong thứ 8 (1858) yết kiến Văn tông. Sau nhận lời mời của các Vương công quí tộc Nội ngoại Mông cổ đến Đa luân nặc nhĩ, rồi đi Cam túc. Khi Văn tôn băng, bèn trở về Bắc kinh. Niên hiệu Đồng trị năm đầu (1862), vào Tây tạng tu học, thấu suốt cùng cực giáo nghĩa Hiển Mật. Hai mươi tuổi thụ giới Cụ túc. Năm sau trở về Bắc kinh, được phong hiệu Đại quốc sư. Năm Đồng trị thứ 10, được ban ấn tín quản trị hai chùa Vựng tôn và Thiện nhân. Niên hiệu Quang tự năm đầu (1875), trên đường từ núi Ngũ đài trở về Bắc kinh thì tịch tại chùa Thiên ninh phía ngoài thành. Đời thứ 18 là La tạng đan sâm giảng sách (Tạng Blo bzaí bstan #dsin rgya mtsho, dịch ý là Thiện trí tuệ giáo hải, 1878 - 1888), tái sinh ở Tây ninh. Năm Quang tự 12, yết kiến Đức tông. Năm 14, đi từ núi Ngũ đài đến Đa luân nặc nhi và rồi thị tịch vào cùng năm ấy. Đời thứ 19 là Lịch nghinh diệp tích đạo nhĩ tế (Tạng:Ye ses rdo rje, 1891 - 1957), còn gọi là Tang kết trát bà (Tạng: Saís rgya skyabs), La tang ban điện đan tất dung mai (Tạng: Blo bzaí dpal ldan bstan Pa’i Sgron me, dịch ý là Thiện tuệ cát tường giáo đăng), tái sinh ở địa phương Đường khắc thác vào năm Quang tự 17 (có thuyết nói là tái sinh ở Lạp lộ đường huyện Đại thông tỉnh Thanh hải vào năm Quang tự 15). Năm Quang tự 22 làm lễ tọa sàng. Năm 25 vào kinh yết kiến Đức tôn, năm sau nhận hiệu Trát tát khắc đạt lạt ma, ở tại Bắc kinh. Năm 30, lãnh chiếu chỉ quản lí bốn chùa Tung chúc, Pháp uyên, Tri châu, Pháp hải ở Bắc kinh, hai chùa Trấn hải, Phổ lạc, trên núi Ngũ đài, và hai chùa ựng tôn và Thiện nhân tại Đa luân nặc nhĩ, hai chùa Khuếch long, Quảng tế ở Tây ninh, đồng thời được ban ấn Quán đính phổ thiện quảng từ đại quốc sư. Khi Dân quốc được thành lập, Chương gia vẫn được chính phủ tôn sùng như cũ, là một trong bốn đại Lạt ma, một trong bốn đại Hô đồ khắc đồ Hoàng giáo ở thời Dân quốc. Trước sau được phong các đức hiệu Hoành tế quang minh, Chiêu nhân xiển hóa, Hộ quốc tịnh giác phụ giáo đại sư v.v... Từng giữ các chức Ủy viên Ủy hội Mông Tạng, Mông kì tuyên hóa sư, Trị sự trưởng Hội Phật giáo Trung quốc, Tư chính phủ Tổng thống. Đại lục đổi mầu, theo chính phủ ra Đài loan. Năm Dân quốc 41 (1952), Ngài là đại biểu tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới liên hữu họp lần thứ hai tại Nhật bản, giao thiệp với chính phủ Nhật bản xin được đính cốt của đại sư Huyền trang mang về và xây tháp tại Nam đầu nhật nguyệt đàm để phụng thờ. Năm Dân quốc 46 (1957), Ngài thị tịch tại Đài bắc, thọ sáu mươi tám tuổi. [X. Đại thanh nhất thống chí Q.409 đoạn 2 - Mông tạng tân chí (Hoàng cựu sinh) - Mông cổ Lạt ma giáo sử - Thánh vũ kí Q.3 đoạn 5 - Thanh hải hữu ninh tự cập kì danh tăng (Hàn nho lâm, Ziện đại Phật giáo học thuật tùng san (59)) - Trung quốc Phật giáo cận đại sử (Đông sơ)]
chương hoa tự
(章華寺) Vị trí chùa nằm ở góc đông bắc Sa thị thuộc Hồ bắc. Nguyên là nền cũ của Chương hoa đài được dựng vào năm Sở linh vương thứ 6 (535 trước Tây lịch). Nguyên đài cao mười trượng, điện đường, cung thất cực kì lộng lẫy, khoảng năm Thái định đời Nguyên, chùa được kiến thiết trên nền cũ và cũng gọi là Chương hoa. Kiến trúc hiện còn đến nay là được trùng tu vào đời Thanh gồm có các kiến trúc Thiên vương điện, Vi đà điện, Đại hùng bảo điện, lầu để kinh, nhà phương trượng v.v... Trong chùa còn tàng trữ một bộ Đại tạng kinh do Hoàng đế Ung chính đời Thanh ban tặng, hai pho tượng Phật bằng ngọc và các văn vật trân quí khác. Cây lão mai trong chùa tương truyền là vật của thời Sở linh vương. Bốn chung quanh chùa tùng bách cổ kính um tùm u trầm thanh khiết.
chương kính bát không
(章敬撥空) Chương kính đánh hư không. Tên công án trong Thiền tông. Chương kính, chỉ Chương kính Hoài uẩn, pháp tự của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường. Tắc công án này là sự tích khi Thiền sư Chương kính tiếp hóa học trò, bị hỏi về Tổ sư tâm địa pháp môn. Có vị tăng hỏi Chương kính rằng (Vạn tục tạng 148, 108 hạ): Pháp môn tâm địa được truyền, là tâm chân như, tâm vọng tưởng, hay tâm chẳng chân chẳng vọng? Là tâm truyền ngoài kinh giáo ba thừa?. Sư đáp: Ông có thấy hư không ở trước mắt không? Đáp: Thường ở trước mắt mà người chẳng tự thấy. Sư nói: Ông đã nhận bóng dáng rồi! Tăng hỏi: Hòa thượng hiểu thế nào? Sư không đáp, chỉ đưa tay đánh vào hư không ba cái. Tăng lại hỏi: Hiểu thế nào mới là đúng? Sư đáp: Về sau ông sẽ hiểu. Trong tắc công án trên, lúc đầu Chương kính dùng Hư không trước mắt để trả lời câu hỏi Pháp môn tâm địa, đại khái bảo rằng, pháp môn Tâm địa của tổ sư quyết không đóng khung trong bàn luận suy tư, mà nó tràn khắp pháp giới, hệt như hư không, không đâu không có, chẳng chỗ nào mà chẳng bao trùm. Vị tăng nghe nói, tự cho là đã hiểu, bèn bảo thường ở trước mắt mà người chẳng tự thấy, không dự liệu được rằng Chương kính chẳng thừa nhận sự hiểu biết đó, mà nói vị tăng chẳng biết thực thể, chỉ chấp trước cái bóng dáng của thực thể mà thôi. Do đó, vị tăng bối rối, hỏi đi hỏi lại làm thế nào để hiểu, Chương kính bèn đánh vào hư không ba cái - cái đánh hư không ba lần ấy là chìa khóa của tắc công án này. Cái đánh ấy là biểu thị sự phủ định nói năng trực tiếp, hàm ý là nếu muốn cầu được pháp môn đốn ngộ, thì trước hết phải chấm dứt ngay cái tâm tìm cầu pháp môn đốn ngộ, nếu cứ bám chặt vào cái không tức là cảnh giác ngộ, Hư không tức là pháp môn tâm địa, cứ loay hoay suy lường tính toán như thế, thì chỉ là nhận bóng dáng làm thực thể, đều chẳng phải tướng chân thực của các pháp, chẳng phải là pháp môn Tâm địa do tổ sư truyền. Ba lần đánh hư không biểu thị vô số lần phủ định, là vì muốn chấm dứt mau chóng cái vọng tưởng vọng kiến của vị tăng kia. Mặc cho vị tăng mê muội, càng mê càng hỏi không thôi, Chương kính cũng không cưỡng dùng lời nói để giải thích nữa, mà chỉ trả lời ngày sau sẽ hiểu. [X. Thiền uyển mông cầu Q.thượng].
Chương Kính Hoài Huy
(章敬懷暉, Shōkei Eki, 754-815): người vùng Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Tạ (謝). Khoảng năm đầu (785) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến tham lễ Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), và đắc tâm yếu; về sau ông đến ẩn cư ở Trở Hạp Sơn (岨峽山), rồi chuyển đến tá túc tại Linh Nham Tự (靈巖寺), Tế Châu (濟州, Tỉnh Sơn Đông), kế đến Bách Nham Tự (百巖寺) ở Định Châu (定州, Tỉnh Hà Bắc), và khai mở Thiền pháp ở Trung Điều Sơn (中條山). Đến năm thứ 3 (808) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), thể theo sắc lệnh của nhà vua, ông đến trú tại Tỳ Lô Giá Na Viện của Chương Kính Tự (章敬寺) thuộc Phủ Kinh Triệu (京兆府, Trường An) và bắt đầu giáo hóa đồ chúng. Ông thị tịch vào ngày 21 tháng 12 năm thứ 10 (815) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), hưởng thọ 62 tuổi, được ban sắc thụy là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師) và truy tặng thêm hiệu Đại Tuyên Giáo Thiền Sư (大宣敎禪師).
; 章敬懷暉; C: zhāngjìng huáihuī; J: shōkei eki; 756-815;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Mã Tổ. Sư có hai đệ tử nối pháp xuất sắc là Thiền sư Hoằng Biện và Trí Chân.
chương kính hoài huy
Shōkei Eki (J)Tên một vị sư.
chương kính tự
(章敬寺) Vị trí chùa nằm phía ngoài cửa Thông hóa, mạn đông thành Trường an thuộc Thiểm tây. Do Ngư triều ân, người bầy tôi được yêu mến trong cung, đã vì Hoàng thái hậu Chương kính mà kiến tạo vào năm Đại lịch thứ 2 (767) đời Đại tông nhà Đường. Đại tông thỉnh Quốc nhất quốc sư Pháp khâm thuộc tông Tào động ở Kính sơn về trụ trì. Chương kính Hoài uẩn cũng đã từng ở chùa này.
chương phục
Mặc đúng theo quy luật—Regulation dress.
chương sớ
(章疏) Chia thành những Thiên, Chương để bàn giáo nghĩa, gọi là Chương, giải thích rõ ràng các câu văn trong kinh luận, gọi là Sớ. Như Đại thừa nghĩa chương, Quán kinh sớ. Các thư tịch Phật giáo soạn thuật tại Trung quốc, Nhật bản, thông thường đều gọi là Chương sớ. (xt. Sớ).
chương sở tri luận
(彰所知論) Gồm 2 quyển. Do Phát hợp tư ba (Tạng: Hphags - pa, 1239 - 1280) đời Nguyên trứ tác, Sa la ba dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 32. Nguyên bản là tiếng Tây tạng hoặc tiếng Mông cổ, nay đã không còn. Bản Hán dịch chia làm năm phẩm, phẩm Khí thế gian thứ nhất, trình bày thuyết núi Tu di, tức là thế giới quan truyền thống của Phật giáo và bốn đại châu. Phẩm Tình thế giới thứ hai, trình bày thuyết Lục đạo địa ngục, ngã quỉ v.v... nguồn gốc của Chuyển luân Thánh vương, sự hưng thịnh của Phật giáo tại Ấn độ, gia phổ của đức Thích tôn, tiếp đó là trình bày hệ phổ vương triều của Tây tạng, Mông cổ và trạng huống truyền bá Phật giáo. Phẩm Đạo pháp thứ ba, chia thứ tự tu hành làm năm giai đoạn là Tư ương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo. Phẩm Quả pháp thứ tư, trình bày các tướng khác nhau của quả Phật, thuyết minh bốn quả Sa môn cho đến các pháp Quả thượng mười lực, bốn vô úy v.v... Phẩm Vô vi pháp thứ năm, bàn về cảnh giới Vô vi, tức nói rõ ba pháp Vô vi Hư không v.v... cuối cùng lại dùng năm pháp Khí (thế giới), Tình (thế giới), Đạo (pháp), Quả (pháp) và Vô vi (pháp) tóm thâu tất cả các pháp sở tri (bị biết). Căn cứ vào lời ghi ở sau sách, thì sách này là sách Phật giáo cương yếu mà Đế sư Phát hợp tư ba đã vì Hoàng thái tử mà viết ra. Nội dung giáo lý được trình bày trong sách đại khái đã theo luận Câu xá mà thành, nhưng cũng có kiến giải độc đáo của tác giả - chẳng hạn như tác giả đem thuyết bốn kiếp của luận Câu xá và thuyết ba kiếp của luận Bà sa mà chiết trung thành thuyết sáu kiếp Trung, Thành, Trụ, Hoại, Không, Đại, có thể coi đây là quan điểm rất đặc thù của cuốn sách. Lại nữa, quan niệm về Vương thống Bản địa Thùy tích của sư, đã trở thành viên ngọc quí cho các sách lịch sử của Mông cổ đời sau. [X. Đại minh trùng san tam tạng thánh giáo mục lục - Duyệt tạng tri tâm Q.40].
Chương sở tri luận 彰所知論
[ja] ショウショチロン Jōjochi ron ||| The Zhang suozhi lun; (Clarification of What Should be Known). shes bya rab gsal; 2 fasc. (T 1645.32.226-239), composed by 'Phags pa 發合思巴 in 1272 CE and translated into Chinese by Zhwa lu pa 沙羅巴 in 1306 CE. An anthology of extracts from authoritative Buddhist texts. => (c: Zhang suozhi lun; e: Clarification of What Should be Known; t: shes bya rab gsal); 2 quyển. Phát-hợp Tư-ba (t: 'Phags pa 發合思巴) soạn năm 1272, được Sa-la-ba (t: Zhwa lu pa 沙羅巴) dịch sang tiếng Hán năm 1306. Là một hợp tuyển những bài giá trị trích từ kinh điển Phật giáo.
chương trình
Plan—Programme.
Chương 章
[ja] ショウ shō ||| (1) Sentence, article, composition, chapter. (2) Thesis, proposition (vākya). => 1. Câu, điều khoản, mục; bài viết; đề tài. 2. Luận văn, chính đề (s: vākya).
chước ca bà la
Xem Thiết vi.
chước ca la bà ca điểu
(斫迦羅婆迦鳥) Chước ca la bà ca, Phạm: Cakravàka, Pàli: Cakkavàka. Còn gọi là Chước ca la bà điểu, Thúc ca bà điểu. Tức chim uyên ương. Tên khoa học là Anas casarca. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 (Đại 45, 1090 trung), nói: Chước ca la bà, Hán dịch là uyên ương, chim ở từng đôi vậy. Đậu thì liền nhau, bay thì sánh đôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.2 - Phạm ngữ tạp danh - Chỉ quất dịch thổ tập Q.11].
chước ca la sơn vương
Cakravaḍa-girirāja (S)Luân Vi Sơn vương.
chước cú ca quốc
(斫句迦國) Còn gọi là Già câu ca quốc, Già câu bàn quốc, Tử hợp quốc, Chu câu ba quốc. Tên một Vương quốc xưa ở Tây vực. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 12 và Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12, thì biết nước Chước cú ca trong Tây vực kí và nước Già câu ca trong Tam bảo kỉ là cùng một địa phương, nhưng Tây vực kí nói từ nước ấy đi về hướng đông hơn tám trăm dặm nữa thì đến nước Cù tát đán na (tức Vu điền), còn Tam bảo kỉ lại nói cách nước Vu điền về phía đông nam hơn hai nghìn dặm có nước Già câu ca. Về phương hướng và cự li hiển nhiên là khác nhau rất lớn. Về vị trí của nước này, E. J. Eitel và St. Martin cho là ở vào địa phương Yarkiang của Tiểu bá ca lạp (Little Bukharia) hiện nay, còn S. Beal và T. Watters thì cho là địa phương Diệp nhĩ khương (Yarkand). Lại A. Stein bảo cứ theo Tây vực kí nói từ hướng Khư sa (Kashgar) vượt qua sông Tỉ đa (tức sông Diệp nhĩ khương) mà suy thì biết nay tức là địa phương Chước cú ca (Karghalik). Lại trong Tiểu chú của Tây vực kí có ghi Chước cú ca, xưa gọi là Thư cừ, Thư cừ ở đây có thể là họ Thư cừ đời Bắc Lương ở Trương dịch thuộc Hà tây (Hậu hồ tạng), sau khi mất nước dời đến ở đây chăng? Lại Cao tăng pháp hiển truyện chép, từ Vu điền đi hai mươi lăm ngày nữa thì đến nước Tử hợp, vua nước ấy rất tinh tiến, trong nước có hơn nghìn vị tăng, phần nhiều học Đại thừa. Nước Tử hợp nói ở đây tương đương với nước Tử hợp được chép trong Hậu Hán thư tây vực truyện thứ 78, với nước Chu câu ba nói trong Lạc dương già lam kí quyển 5, với Chu câu ba hoặc Chu cư trong Ngụy thư tây vực liệt truyện thứ 90, và Chu câu ba (hoặc Chu câu bàn) trong Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146 thượng mục Sớ lặc quốc, cũng tức là nước Chước cú ca nói ở trên. Tóm lại, nước này và nước Vu điền cùng là trong một số quốc gia theo Đại thừa tại khu vực Tân cương thời xưa. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55 - Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1 - Thông điển Q.193 - Tây vực chi Phật giáo - S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. II - T. Watters: On Yuan Chwang, vol. II - A. Stein: Ancient khotan, vol.I - E. Chavannes: Les pays d’occident d’après le Wei lio (T’oung pao, 1905) - luận Tây vực đại thừa quốc chi tử hợp (Ấn thuận)].
chướng
Impediment, HindranceXem Triền cáiXem Chướng ngạiXem Cái.
; Varana; àvarana (S). A sreen, barricade, partition, hindrance; a term for the passions or any delusion which hinders enlightenment.
; Kincanam or Palibhodho (p)—Varana or Avarana (skt). (I) Nghĩa của “chướng”—The meanings of Kincanam or Palibhodho (p) and Varana or Avarana (skt). 1) Cái màn: A screen. 2) Chướng ngại: Kincanam or Palibhodho (p—Hindrances—Obstacles—Drawback—Impediment. 3) Điều chướng ngại, gây trở ngại cho sự tu chứng: Varana or Avarana (skt)—Hindrance which hinders the realization of the truth. 4) Từ dùng để chỉ dục vọng và phiền não che mờ sự giác ngộ: Kincanam or Palibhodho (p)—Varana or Avarana (skt)—A term used for the passions or any delusion which hinders enlightenment. 5) Phướn: Ketu or Dhvaja (skt)—Tấm lụa bên trên có chữ—A pennant, streamer, flag, sign. (II) Phân loại chướng—Categories of varana: (A) Nhị Chướng: Hai loại chướng—Two hindrances—See Nhị Chướng. (B) Tam Chướng: Có ba loại—There are three kinds—See Tam Chướng: 1) Phiền não chướng: Hoặc Chướng—The passions and delusion which aid rebirth and hinder entrance to nirvana. 2) Báo chướng: Hindrances of recompense. 3) Nghiệp chướng: Hindrances of previous karma. (C) Ngũ Chướng: Năm loại chướng ngại—Five hindrances—See Ngũ Chướng. (D) Thập Trọng Chướng: Ten major obstacles—See Thập Ác.
; (障) Phạm, Pàli: Àvaraịa. Cũng gọi là Ngại. Nói đủ là Chướng ngại. Hàm ý che lấp. Chỉ cho phiền não làm hại Niết bàn, bồ đề, cản trở việc thoát li. Các kinh luận nói nhiều thứ chướng khác nhau, trình bày như sau: 1. Hai chướng. a. Phiền não chướng và Giải thoát chướng do tông Câu xá lập. Phiền não chướng làm hại trí tuệ, nên không được Tuệ giải thoát. Giải thoát chướng cũng gọi là Định chướng, ngăn ngại Thiền định, nên không được Câu giải thoát. b. Phiền não chướng và Sở tri chướng do tông Duy thức Đại thừa lập. Hai chướng này là duyên trợ giúp nghiệp trong vòng sống chết nối nhau. Phiền não chướng lấy ngã chấp làm gốc mà sinh ra các phiền não, làm chướng ngại khiến không hiện chứng được Niết bàn. Sở tri chướng lấy pháp chấp làm gốc mà sinh ra các hoặc, che khuất cảnh sở tri khiến không sinh được trí tuệ. Ngoài ra còn chia làm 10 chướng nặng mà hàng Thập địa phải đoạn trừ như Dị sinh tính chướng v.v...Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 9 phẩm Trụ, Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 4 thì Sở tri chướng lại chia làm ba thứ: Bì chướng, Phu chướng, Cốt chướng, là những chướng mà Hoan hỉ trụ, Vô khai phát vô tướng trụ và Như lai trụ trong 13 trụ phải lần lượt đoạn trừ. 2. Ba chướng. - Kinh Đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương quyển 5 chia loại chướng trở ngại Tam ma địa Du già bí mật làm ba thứ là: Ngã mạn trọng chướng, Tật đố trọng chướng, và Tham dục trọng chướng. - Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4 nêu ra ba chướng ngăn che việc tu tập Thiền định là: Hôn trầm ám tế chướng, Ác niệm tư duy chướng, Cảnh giới bức bách chướng. - Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2 phẩm Phân biệt tam thân liệt kê ba chướng: Hoặc chướng, Nghiệp chướng, Trí chướng. Nếu Hoặc chướng thanh tịnh thì có thể thị hiện Ứng thân, Nghiệp chướng thanh tịnh thì có thể thị hiện Hóa thân, Trí chướng thanh tịnh thì có thể thị hiện Pháp thân. - Kinh Giải thâm mật quyển 3 phẩm Phân biệt du già nêu ra ba chướng là: Xa ma tha chướng, Tì bát xá na chướng và Câu chướng. Trong Ngũ cái thì Điệu cử ác tác cái thuộc về Xa ma tha chướng - Hôn miên cái và Nghi cái thuộc Tì bát xá na chướng - Tham dục cái và Sân khuể cái thì thuộc về Câu chướng. - Luận Phát trí quyển 1 nêu ra ba chướng là: Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Dị thục chướng. Phiền não chướng thường hằng hiện khởi không gián đoạn - Nghiệp chướng là năm nghiệp vô gián - Dị thục chướng chỉ cho ba đường ác - châu Bắc câu lô và cõi trời Vô tưởng. 3. Bốn chướng. - Kinh Vô thượng y quyển thượng phẩm Bồ đề nói bốn chướng làm trở ngại việc chứng ngộ Vô thượng bồ đề là: Xiển đề chướng, Ngoại đạo chướng, Thanh văn chướng và Duyên giác chướng. - Thắng tư duy Phạm thiên sở vấn kinh luận quyển 1 liệt kê bốn chướng làm tán loạn tâm Đại thừa là: a. Thừa chướng: Rơi vào tâm Tiểu thừa. b. Giáo hóa chúng sinh chướng: Vướng mắc vào tâm Bích chi phật nhiễm cái vui tam muội. c. Tụ tập Phật pháp mãn túc công đức chướng: Cầu Phật pháp mà tâm cho là quá đủ. d. Tất kính tụ tập nhất thiết Phật pháp chướng: Không phổ biến rộng cho những người khác biết những điều mình đã được nghe và không chính niệm quán xét. 4. Năm chướng. - Trung a hàm quyển 28 kinh Cù đàm di, kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Đề bà đạt đa nói, thân đàn bà có năm chướng là: Không thể làm Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân thánh vương và Phật.- Đại nhật kinh sớ quyển 1 nêu ra năm chướng ngăn trở việc chứng đắc Trừ nhất thiết cái chướng tam muội là: Phiền não chướng, Nghiệp chướng, Sinh chướng, Pháp chướng và Sở tri chướng. Ngoài ra, những việc làm trở ngại sự sinh, trụ v.v... của các pháp gọi là Chướng ngại. Hai vật ngăn trở nhau, không thể đồng thời cùng chiếm hữu một khoảng không gian, gọi là Chướng ngại hữu đối. [X. luận Đại tì bà sa Q.115, Q.153 - luận Tạp a tì đàm tâm Q.3 - luận Biện trung biên Q.thượng - luận Du già sư địa Q.99 - kinh Bồ tát địa trì Q.1, Q.3 - luận Thuận chính lí Q.70 - luận Phật tính Q.2 - luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.10, Q.13 - Phật địa kinh luận Q.7 - luận Câu xá Q.18, Q.25 - luận Thành duy thức Q.8 - Đại thừa nghĩa chương Q.5 - Câu xá luận quang kí Q.17].
chướng duyên ma khảo
Demonic testing conditions—Bậc trí lực chẳng những không ngại chướng duyên ma khảo, mà còn mượn chướng duyên ma khảo để tiến tu—Practitioners who possess wisdom are not only unafraid of demonic testing conditions or obstacles, but they use these impediments to achieve progress in cultivation.
chướng mắt
Unpleasant to the eyes—Unpleasant to see.
chướng nghiệp
Upapilaka-kamma (P). Suppressive karma.
chướng ngại
Xem Duy để nan. Xem Cái Xem Kiền Dữ.
; Avarana (S).Screen and obstruction. Hindrance.
; Bất cứ thứ gì làm trở ngại (sự giác ngộ)—Obstacles—Screen and obstructions, i.e anything that hinders.
chướng ngại thần
Vinayaka (S)Tì na dạ ca thiên, Thường tùy maVị ác thần thường theo người gây ác nạn.
chướng ngại vật
Hindrance—Barrier—Barricade—Obstacle—Blockade.
chướng nạn
Obstacle and hardship.
chướng pháp
Antarāyikadharma (S), Antarā-yikadhamma (P).
; Antaràyikadharma (S). Obstructing condition of the passage to Nirvàna.
chướng tai
Unpleasant to the ears—Unpleasant to hear.
chướng tận giải thoát
Salvation through the complete removal of the obstruction of illusion.
; See Nhị Giải Thoát (B) (2).
chưởng
1) Lòng bàn tay: A palm. 2) Cầm: To grasp—To control.
chưởng bạ
Register.
chưởng bạc phán quan
(掌簿判官) Một trong các thần thổ địa thủ hộ Thiền lâm, già lam. Là tên thần trực thuộc thần Thổ địa, coi việc ghi chép sổ sách, phán định việc tốt xấu. Nguyên gốc của thần này có thể đã từ thuyết vua Diêm la ghi chép tên tuổi, quê quán hoặc là thuyết thần Câu sinh ghi chép thiện, ác mà ra. [X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.16 mục Nhữ châu diệp huyện quảng giáo viện qui tỉnh thiền sư điều - Thiền lâm tượng khí tiên Linh tượng môn].
chưởng lý
Attorney-general—Public prosecutor.
chưởng quả
Quả Yêm Ma La (quả xoài) trong tay, để ví với vật dễ nhìn thấy—As a mango in the hand, compared to something which is easy to see.
chưởng trung luận
Talāntaraka-śāstra (S) Do ngài Trần Na biên soạn.
; Tàlàntaraka-sàstra (S).
; (掌中論) Có 1 quyển. Ngài Trần na (Phạm: Dignàga) soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31.Nội dung chủ trương tất cả muôn pháp trong vũ trụ đều do tâm thức biến hiện, chứ không có ngoại cảnh chân thực. Luận gồm sáu bài kệ tụng theo thể bốn câu năm chữ, mỗi bài đều có văn xuôi giải thích, trong đó dùng rắn, dây, lọ, áo v.v... làm ví dụ.Luận này có hai bản dịch. Ngoài bản dịch của ngài Nghĩa tịnh, còn có Giải quyển luận 1 quyển do ngài Chân đế dịch vào thời Nam triều Trần. Nhưng nội dung chỉ có bốn bài tụng rưỡi theo thể bốn câu năm chữ, và giải thích sơ lược, đại khái cũng giống với nội dung của Chưởng trung luận. [X.Đại đường nội điển lục Q.5 - Khai nguyên thích giáo lục Q.19 - Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.6 - Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
Chưởng trung luận 掌中論
[ja] ショウチュウロン Shōchū ron ||| Abbreviated title of the Dasheng zhangzhen lun 大乘掌珍論 (T 1578.30.268-279). => Viết tắt của Đại thừa chưởng trân luận (c: Dasheng zhangzhen lun 大乘掌珍論).
chưởng trân luận
Mahàyànatànaratna-sàstra (S).
; (掌珍論) Gồm 2 quyển. Nói đủ là Đại thừa chưởng trân luận. Do ngài Thanh biện (Phạm: Bhàvaviveka) trứ tác, ngài Huyền trang đời Đường dịch. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung bàn về nghĩa không, dùng phương pháp lí luận Nhân minh, bài bác sự thấy biết sai lầm của Ngoại đạo, Tiểu thừa và Đại thừa Hữu tông để chứng thực nghĩa của Đại thừa Không tông - hết sức đề xướng dùng trí Không xa lìa sự phân biệt có không, mà hoàn thành tám chính đạo, sáu ba la mật. Trong sách lập lượng (phương pháp biện luận): Chân tính hữu vi không, vì duyên sinh như huyễn - Vô vi không có thực, chẳng khởi tựa không hoa (Đại 30, 268 trung), gọi là Chưởng trân tỉ lượng, Thanh biện tỉ lượng. Sách chú thích thì có: Chưởng trân luận liệu giản, 1 quyển (Nguyên hiểu), Chưởng trân luận sớ, 1 quyển (Thần thái). [X. Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4 - Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.6].
Chưởng trân luận 掌珍論
[ja] ショウチンロン Shōchin ron ||| See Dasheng zhangzhen lun 大乘掌珍論 (T 1578.30.268-279). => Xem Đại thừa chưởng trân luận (c: Dasheng zhangzhen lun 大乘掌珍論).
chưởng ấn
Keeper of the seals.
chạm mặt
Pre-engagement (ceremony).
chạnh lòng
Moved—Affected.
chạy ba chân bốn cẳng
To run at full speed—To run as fast as one's legs can carry.
chạy chết
To run for one's life.
chạy theo
To run after—Everyone from the smallest insect to the greatest king, ran after pleasures.
chạy theo danh lợi hư ảo
To chase after dream-like and empty fame and fortune.
chạy thoát
To have a narrow escape.
chạy trốn
To run away.
chạy ăn
To earn one's living.
chấm dứt
To put an end—To close—To conclude—To end—To finish—To bring to an end.
chấm dứt mọi trói buộc của kiết sử
To stop one's propensities and habits.
chấm dứt sinh tử
Bhavanirodha (S). Extinction of the process of existence.
chấn
Chen (C)Quẻ thứ tư trong bát quái.
; Chấn động—To shake—To thunder—To tremble—To rouse.
chấn chỉnh
To reorganize.
chấn hưng
To develop—To prosper.
chấn linh
Rung chuông—To shake or ring a bell.
; (振鈴) Nghi thức được đặt ra để cúng dường tôn vị chính (bản tôn) và Thánh chúng trong Mật giáo. Khi thực hành, trước hết chọn nơi kết giới đặt đạo tràng, thỉnh hải hội bản tôn xong, kết ấn Hỏa viện mật phùng để hộ trì đạo tràng. Kế đến, dâng nước át già tắm gội chư tôn, đặt tòa ngồi bằng hoa để ngồi, sau đó, rung chuông để thánh chúng hoan hỉ, rồi lần lượt dâng các thứ cúng dường. Nghi thức này tuy chuẩn theo nghi thức tiếp đãi tân khách của Ấn độ, nhưng nếu theo nghĩa sâu kín mà nói, thì hành giả quán tưởng tâm mình vốn sẵn đủ bản tôn, cùng với bản tôn được mời thỉnh chẳng phải là hai, nước át già có thể rửa sạch bụi bẩn, hiển bày tâm Bồ đề vốn đầy đủ sự trong sạch. Tòa hoa tám cánh tượng trưng tâm hoa sen nở rộ - ngồi trên tòa hoa ấy là biểu thị thành Phật và ngồi trên tòa Phật. Thành Phật rồi là phần tự lợi đã viên mãn, lại mở cửa hóa tha, nói pháp độ sinh, đó tức là nghĩa Chấn linh (rung chuông) . Lại nữa, Chấn linh có ba ý nghĩa, đánh thức, vui mừng và nói pháp. Đánh thức, hàm ý đánh thức bản tôn và thánh chúng, như Chấn linh đầu tiên trong mạn đồ la cúng và Quán đính tam muội da giới nghi, có thể gọi là chuông đánh thức. Về nghi thức chấn linh, các phái nói có khác nhau, có rất nhiều phép thuật tiêu biểu, sự thực vàtruyền miệng. Ngoài ra, chấn linh cúng dường sau cùng, đặc biệt gọi là hậu linh , ý là tấu nhạc vui vẻ để tiễn đưa chư tôn trở về chỗ cũ. [X. kinh Ngũ đại hư không tạng bồ tát tốc tật đại thần nghiệm bí mật thức - Kim cương đính Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ - Thanh long tự quĩ kí].
chấn lãng
Chan lang (C).
; Zen master Chen-Lang—Tên của một Thiền sư Trung Quốc, sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ tám, đầu thế kỷ thứ chín. Ông là một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên. Một hôm Chấn Lãng hỏi Thạch Đầu: “Ý Tổ Tây đến là gì?” Thạch Đầu nói: “Hỏi cây cột kia.” Chấn Lãng nói: “Thưa, Chấn Lãng nầy không hiểu.” Thạch Đầu nói: “Ta cũng chả hiểu.” Nhưng chính lời đáp nầy khiến Chấn Lãng tỏ ngộ—Chinese Zen master, lived in the end of the eighth and the beginning of the ninth century. He was one of the most famous disciples of Zen master Shih-T'o'-Hshis'ien. One day Chen-Lang asked Shih-T'ou: “What is the idea of the First Patriarch's coming from the West?” Shih-T'ou replied: “Asked the post over there.” Chen-Lang said: “I do not understand, sir.” Shih-T'ou replied: “I, too fail to understand.” However, this lighted up Lang's ignorance, which in turn became illuminated.
chấn việt
Civara (skt)—Áo ngủ hay túi ngủ—A garment, an article for sleeping on or in.
chấn đa mạt ni
Cintamani (skt)—Ngọc ước của nhà hiền giả—The philosopher's stone, granting all one's wishes. ** For more information, please see Ma Ni.
Chấn Đán
(震旦, Shintan): tên gọi khác của Trung Quốc, người Ấn Độ cổ đại thường gọi người Trung Quốc là Cīna-sthāna. Từ này đôi khi cũng được viết là Chấn Đán (振旦) hay Chân Đan (眞丹). Như trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, CBETA No. 1594) quyển 20 có câu: “A Dục Vương tàng Như Lai Xá Lợi ư thiên hạ, phàm bát vạn tứ thiên sở, kim Chấn Đán cảnh trung, thập hữu cửu xứ (阿育王藏如來舍利於天下、凡八萬四千所、今震旦境中、十有九處, A Dục Vương lưu giữ xá lợi của đức Như Lai khắp thiên hạ, có tám vạn bốn ngàn nơi; nay trong nước Trung Quốc, có mười chín chỗ).” Hay như trong Bài Tặng Nhật Quốc Huyền Quang Thiền Sư (贈日國玄光禪師) của Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Hoàn Sơn Lục (爲霖道霈禪師還山錄, CBETA No. 1440) quyển 3 có đoạn: “Hào tướng phóng quang lai Chấn Đán, độc am độc ngữ biến tùng lâm, hà đảm đại pháp thi toàn lực, tông thuyết viên minh quán cổ kim (毫相放光來震旦、獨菴獨語遍叢林、荷擔大法施全力、宗說圓明貫古今, tướng tốt phóng quang về Chấn Đán, một am thuyết khắp chốn tùng lâm, nặng mang pháp lớn dốc toàn lực, truyền bá tông phong thấu cổ kim).”
chấn đán
Cina (skt)—Còn gọi là Chân Đán, hay Thần Đán, tên gọi nước Trung Hoa vào thời cổ Ấn Độ (nơi mặt trời mọc)—Name of China in ancient India (the place where the sun rises).
; (震旦) Phạm: Cìna-sthàna, Pàli: Cìna, hoặc Cìna-raỉỉha. Còn gọi là Chân đán, Chân đan, Chấn đan, Chiên đan, Chỉ đan, Chi nan. Hoặc gọi là Ma ha chấn đán (Phạm: MahàCìna-sthàna), gọi tắt là Chi na (Phạm: Cìna), hoặc Chí na, Trí na, Chỉ na. Cũng gọi là Ma ha Chí na (Phạm: Mahà- Cìna), Ma ha Chí na, Ma hạ chấn ban, Đại chi na, Đại chấn na, hoặc Chi na nê xá (Phạm: Cìna-deza), Cìnadịch ý là tư duy - Sthàna, dịch ý là trụ xứ. Tức người Ấn độ chỉ nước Trung quốc và các nước lân cận Trung quốc. Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 894 hạ), nói: Nhà vua hỏi: ‘Nước Đại Đường ở phương nào? Cách đây xa hay gần?’ Đáp: ‘Cách đây hơn vài vạn dặm về hướng đông bắc, Ấn độ gọi là nước Ma ha chi na vậy’. Các nước phía tây Á tế á và Hi lạp, La mã đời xưa, đối với Trung quốc, có hai lối xưng hô: 1. Serice (đất Chi na), hoặc Seres (người Chi na). 2. Sin, Thin (đất Chi na), hoặc Sinai, Thinai (người Chi na). Trong đó, cách gọi thứ nhất là chuyển biến từ serikon hoặc sericum (có nghĩa là lụa tơ tằm) vì Trung quốc cổ đại thường xuất biên tơ lụa sang các nước phương tây. Chi na hàm ý nước văn vật, khen Trung quốc là nước giàu sang văn vật, do đó có thể biết Trung quốc từ xưa đã được gọi là nước có tơ lụa. Về cách gọi thứ hai thì có nhiều thuyết, nhưng điểm cộng thông là từ tên nước (đời) Tần Ch’ in của Trung Quốc xưa mà ra. Tiếng Cìna còn thấy trong các sách cổ, như Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), pháp điển Ma nô (Phạm: Manu), La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa), Khảo đề lạp thực lợi luận (Phạm: Kauỉiliya Arthazàstra), Phổ lỗ cáp đặc tát mã hi tháp (Phạm: Bfhatsaôhità) v.v...… nhưng không có chứng cứ xác thực để chứng minh tiếng đó tức là Trung quốc. Ngoài những điều được nói ở trên, tên Chấn đán, Chi na thấy rải rác rất nhiều trong các kinh điển Phật giáo, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3 (Đại 54, 1098 trung), nói: Đông phương thuộc Chấn, là phương mặt trời mọc, cho nên gọi là Chấn đán. Hoa nghiêm âm nghĩa phiên là Hán địa (đất Hán). Kinh Lâu thán nói: Phía đông sông Thông, gọi là Chấn đán. Vì mặt trời mới mọc, chiếu rọi góc đông cho nên gọi Chấn đán. Luận A tì đàm tì ba sa quyển 36, quyển 51, luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 70, quyển 101 và luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 v.v...… đều bảo đất cách xa, gọi là Chấn đán, Chân đán hoặc Chí na. Kinh Phổ diệu quyển 3 phẩm Hiện thư, kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 phẩm Thị thư và kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 phẩm Tập học kĩ nghệ, cũng gọi sách Tần trong sáu mươi bốn sách, là Chi na thư (Phạm:Cìna-lipi), hoặc Chi na quốc thư (sách nước Chi na). Kinh Đại bảo tích quyển 10 và luận A tì đàm tì bà sa quyển 40, luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 79 nói: Như lai tùy những người nghe pháp khác nhau, dùng tiếng đất Ngô, Thục, Tần hoặc Chân đan mà nói pháp. Kinh Thập nhị du chép, phương đông có Thiên tử Tấn, nhân dân nước ấy rất thịnh. Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 29 phẩm Bồ tát trụ xứ chép, đất nước Chấn đán có nơi Bồ tát ở, gọi là núi Na la diên, chư Phật quá khứ thường ở trong đó. Kinh Đức hộ trưởng giả quyển hạ chép, đời đương lai, khi mạt pháp, ở cõi Diêm phù đề trong nước Đại tùy, có vua Đại hành ra đời, vua tin Phật pháp, cúng dường bát Phật, bát Phật sẽ đến nươc Sa lặc. Luận Chương sở tri quyển thượng chép, mạn tây bắc châu Thiệm bộ có vua tên là Cát ni thi cát, ba thời kết tập, ở nước Chấn đán phát huy Phật pháp. Những trường hợp kể trên, trong các kinh đều nói đến Chấn đán. Danh từ Chấn đán, bắt đầu được truyền ở Trung quốc vào thời đại nào, tuy không được rõ, nhưng trong Thích ca phương chí quyển thượng, thiên Trung biên có dẫn lời của Thành quang tử là Thứ sử Tần châu đi Thiên trúc vào năm Kiến an thứ 10 (205) đời Hiến đế nhà Hậu Hán như sau: (Đại 51, 949 thượng) Thành quang tử nói: ‘Nước trung Thiên trúc phía đông đến nước Chấn đán (xa) năm vạn tám nghìn dặm’ Chú thích ở bên cạnh sách trên ghi: Chấn đán là tên gọi Thần châu, do người nước ấy (Thiên trúc) đặt. Cứ theo đó, thì Chấn đán đã được người Ấn độ biết đến từ thời Hậu Hán. Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ chép, Chấn đán phiên là tư duy, vì người trong nước phần nhiều hay lo nghĩ, phần nhiều hay làm, tức chỉ cho nước Hán. Và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 47, Tân hoa nghiêm kinh luận quyển 30, Hi lân âm nghĩa quyển 2 v.v...… cũng nói như thế. Nghĩa tư duy e là giải thích chữ Phạm cinta, vì hai âm cinta vàcìna có hơi giống nhau. Lại Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng Tuệ luân truyện chú thích rằng, Chi na tức Quảng châu, Mạc ha chi na tức chỉ Kinh sư. Ngoài ra, người Tây tạng gọi Trung quốc là Rgya hoặc Rgya-nags. Rgya là nghĩa rộng lớn, dân cư mặc áo đen [X. Thích ca phương chí Q.hạ Du lí thiên - Hoa nghiêm thám huyền kí Q.15 - Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4.2, Q.10.2 - Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng - Hi lân âm nghĩa Q.10 - Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146 thượng - Tất đàm yếu quyết Q.4 - H. Yule, H. Cordier - Cathay and the way thither - F. F. Von Richthofen: China].
chấn đán tam huyền
(震旦三玄) Chỉ ba học thuyết của Chu dịch, Lão tử, Trang tử. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 8, ghi thuyết của ngài Trừng quán bảo, Chu dịch là chân huyền, Lão tử là hư huyền, Trang tử là đàm huyền. Lại Tông kính lục quyển 46, nêu thuyết của Chu hoằng chính, bảo Chu dịch nói về sự huyền nhiệm của Hữu (có), Lão tử về Vô (không) Trang tử về Hữu vô (có, không). Trước nay giải thích về tam huyền có nhiều thuyết khác nhau, nhưng điểm tương đồng duy nhất đều cho đó là ngoại đạo Trung quốc. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 2 thượng) nói: Ngoài chỉ biện luận về một hình, trong thì soi suốt ba đời - ngoài thì năm tình chưa đạt, trong thì nói sáu thông nhỏ nhiệm cùng cực - ngoài chưa tức vạn hữu mà là thái hư, trong nói chẳng hoại giả danh mà nói thực tướng - ngoài chưa thể tức vô vi mà rong chơi nơi vạn hữu, trong nói chẳng động chân tế, kiến lập muôn pháp - ngoài còn cửa được mất, trong đưa hai cõi vào lý tuyệt cú - ngoài chưa dứt cảnh, trí, trong thì duyên, quán đều lặng. Đó là sáu nghĩa hơn, kém mà Tam luận huyền nghĩa nêu ra để phân biệt nội giáo (Phật pháp) và ngoại đạo (Tam huyền) - cho sự Viên thông của nội giáo và sự chẳng đạt của ngoại đạo, cũng như cánh chim bằng đọ với cánh chim sẻ, đại dương so với giếng khơi, chưa đủ để thuyết minh sự sai khác giữa hai phía. Bởi vì tam huyền chấp thuyết vô nhân, tà nhân, tuy không phải hoàn toàn tà vọng, nhưng điều có ích của thuyết này chỉ thuộc loại nhân thừa và thiên thừa - còn điều vô ích thì đều thuộc thuyết của ngoại đạo [X. Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.2 ]. (xt. Tà Nhân Tà Quả, Vô Nhân Ngoại Đạo).
chấn địa
Làm rung động mặt đất—To shake the earth.
chấn động
To shake—To move—To agitate.
Chấp
執; C: zhí; J: shū; S: abhiniveśa.|Sự dính mắc hư dối vào sự vật.
chấp
Grau, grabh; graha (S). To seize, grasp, hold on to, maintain; obstinate
; 1) Chấp trước: Laggati (p)—Lagati (skt)—Bám chặt vào, vướng mắc, cho rằng ngã và vạn hữu có thật—Tenet—To cling—To adhere—To stick or attach one's self to—Holding (grasping, clinging, attaching) on the belief of the reality of ego and things. 2) Nắm bắt: To seize—To hold—To maintain.
; (執) Phạm: Abhiniveza. Do tâm phân biệt hư vọng mà cố chấp (giữ chặt lấy ý kiến của mình) các sự vật hoặc sự lí, không buông bỏ. Cũng gọi mê chấp, chấp trước, kế trước, trước. Không biết năm uẩn giả hoà hợp mà sinh ra người và chúng sinh, rồi chấp nhân ngã là thực ngã tồn tại, gọi là nhân chấp, ngã chấp hoặc sinh chấp (ý là chấp chúng sinh). Chẳng biết pháp năm uẩn là không, hư dối chẳng thực, rồi vọng chấp pháp ngã là thực thể, gọi là pháp chấp. Hai cái chấp trên đây, gọi là Nhị chấp (hai chấp ngã pháp, hai chấp nhân pháp, hai chấp sinh pháp). Hữu bộ Tiểu thừa v.v...… thừa nhận sự tồn tại của pháp ngã, cho nên chẳng dứt lìa pháp chấp - Đại thừa thì cho hai chấp đều không, cho nên dứt lìa hai chấp. Ngoài ra, nếu cho tất cả là thực có mà cố chấp cái kiến giải thiên về có, rồi đem cái không trên thực tế tăng lên làm có thì gọi là tăng chấp . Ngược lại, nếu cố chấp cái thấy biết không vô, rồi đem cái có giả trên thực tế giảm tổn làm không thì gọi là tổn chấp . Hai cái chấp trên đây gộp lại cũng gọi là Nhị chấp. Về thức thể hay chấp, chủ trương của hai đại luận sư An tuệ và Hộ pháp có khác nhau. Ngài An tuệ cho rằng trong các thức của người ta, thì thức thứ năm, thức thứ tám đều có chấp pháp, thức thứ bảy có chấp nhân, thức thứ sáu chấp cả nhân và pháp. Nhưng ngài Hộ pháp thì cho rằng thức thứ năm, thức thứ tám không chấp, chỉ thức thứ sáu và thức thứ bảy là có chấp. Còn về sự phân biệt giữa chấp và chướng thì Thành duy thức luận diễn bí quyển 1 phần đầu bảo, hễ chấp thì đều là chướng, vì chấp thuộc hai phần năng thủ, sở thủ, còn chướng thì thông với nghiệp, quả chẳng phải tâm, tâm sở, cho nên chướng không hẳn nhất định là chấp. Lại chấp và chướng là nói tắt của Ngã chấp phiền não chướng và Pháp chấp sở tri chướng. Ngoài ra, tâm bám chặt lấy sự vật, không chịu buông bỏ, gọi là chấp tâm, chấp trước tâm - tâm cứ khư khư giữ chặt cái thấy biết của mình tức các thứ vọng kiến, mà không chịu buông bỏ thì gọi là chấp kiến - chấp trước vọng tình, gọi là chấp tình. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.4 phẩm Vô thường - kinh Đại bát nhã Q.485 - luận Thành duy thức Q.9 - luận Câu xá Q.19].
chấp chính
To assume power.
chấp chướng
The holding on to the reality of self and things and the consequent hindrance to entrance into nirvàna.
; Chấp vào tự kỷ và chư pháp, và hậu quả là chướng ngại trong tiến trình đi vào Niết bàn—The holding on to the reality of self and things and the consequent hindrance to entrance into nirvana.
chấp chặt
Abhiniveśa-saṃdhi (S), Solid attachment.
; Abhinivesasamdhi (S). Solid attachment. Also mật chấp.
; Abhinivesamdhi or lelya (skt)—Close attachment. • Cố chấp chặt—Clinging or adhering very closely. • Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy Mahamati: “Này Mahamati, có vô số lượng các hình thức chấp chặt vào thế giới bằng cách coi từng chữ trong kinh văn tương ứng đúng đắn với ý nghĩa.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, there are innumerable signs of close attachments to the world by taking letters as exactly corresponding to meaning.”
chấp chỉ vi nguyệt
(執指爲月) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là nhận lầm ngón tay là mặt trăng. Nguyệt, mặt trăng, thí dụ cái thể chân thực. Chỉ, ngón tay, thí dụ pháp chỉ bày đạo lí chân thực. Khi giáo hóa chúng sinh, phải tạm thời đặt ra các thứ giáo pháp nghĩa lí để hiển bày lí thể chân thực rốt ráo tột cùng, nhưng chúng sinh ám muội, luôn luôn chấp chặt những giáo thuyết tạm thời cho là chân lí, chứ không biết rằng giáo thuyết chỉ là phương tiện hiển bày lí thể chân thực. Cũng như dùng ngón tay chỉ mặt trăng, những nguời u mê, không theo ngón tay để thấy mặt trăng, nhưng ngược lại, chấp trước ngón tay là mặt trăng! Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 hạ) nói Ngón tay chỉ mặt trăng muốn sinh hiểu biết chân thực, nhưng lại chấp ngón tay là mặt trăng, thành uổng công thi thiết. (xt. Chỉ Nguyệt).
chấp có
Astika (skt)—Kẻ chấp là vũ trụ có thật. Phật phản bác cả hai phái chấp có và chấp không—Realist—Who maintains the universe to be real—The Buddha condemn both realists and non-realists—To cling to actuality (existence).
chấp có chấp không
Một vài trường phái cho rằng thà chấp có như núi Tu Di, còn hơn là chấp không như một vi trần.” Tuy nhiên, một khi đã thấu triệt giáo pháp nhà Phật, chúng ta sẽ không chấp vào bên nào cả—Clinging to existence or (clinging) to emptiness (non-existence). Some sects believe that “It is better to be attached to existence, though the attachment may be as big as Mount Sumeru, than to be atached to emptines, though the attachment may be as small as a grain of dust.” However, once we thoroughly understand the Buddha's teachings, we will not be attached to any extreme.
chấp có chấp không chỉ xãy ra khi chúng ta chưa thấu đáo chân lý nhà phật
Clinging to existence or emptiness arises only when we lack thorough understanding of the Buddha's teachings.
chấp cương
(執綱) Chỉ chức vụ cầm sợi giây ở hai bên chiếc lọng. Còn gọi là Cương thủ . Trong Mật giáo, khi làm lễ quán đính, Mạn đồ la cúng v.v...… vị Đại a xà lê được che lọng - để giữ cho chiếc lọng khỏi nghiêng ngả, có hai người đứng hai bên cầm hai sợi giây vốn đã được đính vào chiếc lọng. Những người này được gọi là Chấp cương (cầm giây). Còn người đứng cầm lọng che cho A xà lê, thì gọi là Chấp cái (cầm lọng). [X. Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.hạ Pháp sự đường thượng đình nghi].
chấp cục hành giả
(執局行者) Hành giả thuộc sáu cục. Người đảm nhiệm sáu cục Thủ tọa, Thư trạng, Tạng chủ, Tri khách, Tri dục (trông nom việc tắm gội), Tri điện (trông nom điện Phật), gọi là Chấp cục. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1126 hạ), nói: Chấp cục hành giả thắp hương lễ bái, sau đó, vị Tham đầu dẫn đầu các hành giả lễ bái xong.
chấp diệu
Graha (skt)—The planets, nine or seven—See Cửu Diệu, and Thất Diệu.
chấp hữu
To cling to the idea that things are real.
chấp không
Phá được ngã chấp, pháp chấp rồi, thấy vũ trụ vạn vật đều không, bèn chấp cái không này cho là tất cả đều không có, gọi là không chấp (chấp không).
; Non-realist—To cling to emptiness (non-existence)—To carry the term “Emptiness.”
chấp không có không không
Clinging to neither existence nor non-existence.
Chấp kim cang
xem Lực sĩ Kim cang.
chấp kim cang
Xem Kim Cang ThủXem Kim Cang Thủ Bồ tát.
chấp kim cang bồ tát
Xem Kim Cang Thủ Bồ tát.
Chấp kim cang thần
xem Lực sĩ Kim cang.
chấp kim cang thần
Xem Kim Cang ThủXem Kim Cang Trì. Xem Kim Cang Thủ Bồ tát.
; Vajrapani-vajradhara (skt). 1) Bất cứ vị trời nào tay cầm chày kim cương: Any deva holder of the vajra. 2) Còn gọi là Chấp Kim Cương Dạ Xoa hay Vua Dạ Xoa là vị trời Đế Thích trong tiền kiếp đã thề bảo vệ Phật pháp, nên khi tái sanh làm vua Dạ Xoa, ông luôn mang bên mình Kim Cang thủ—Indra who in a former incarnation took an oath to defend Buddhism, was reborn as a king of Yaksas, hence he and his yaksas carry vajras. 3) Văn Thù Sư Lợi như phản ảnh trong A Súc Bệ Phật—Manjusri as the spiritual reflex of the Dhyani Buddha Aksobya (A Súc Bệ Phật). 1) Một vị thần phổ cập, hung thần của những kẻ phá đạo—A popular deity, the terror of all enemies of Buddhist believers, especially worshipped in exorcism and sorcery by the Yoga school.
chấp kim cương thiện hành bồ tát
(執金剛善行菩薩) Giống với bồ tát Thiện hành kim cương chép trong Thai tạng đồ tượng của Mật giáo. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 nói, thì tay trái vị tôn này đặt lên bắp vế, tay phải để ngang ngực, trong bàn tay dựng chày kim cương một chẽ, ngồi bán già. Kinh Đại nhật phẩm Trụ tâm có chép Thiện hành bộ chấp kim cương, còn kinh Đại nhật phẩm Bí mật, nghi quĩ và Thai tạng hiện đồ mạn đồ la thì lại không thấy có chép vị tôn này.
chấp kim cương thần
Vajrapàni, vajradhàra (S) Any deva holder of the vajra. Protector of the Law.
chấp kiến
Views obstinately held.
; Lagna-samkhyam (skt)—Bám chặt vào kiến giải của mình hay giữ lấy kiến giải chấp nê từ tâm mình, không dám xa lìa nên sinh ra sự lầm lạc mù quáng về tất cả mọi vọng kiến—Adhering or clinging to one's interpretation—Views obstinately held, with consequent delusion, bigoted.
chấp lý bỏ sự
Grasping at theory and neglecting practice.
chấp mê
To have taken a thing into one's head; to hold on blindly.
chấp ngã
Attanutthim (P), Attnudiṭṭhim (S).
; Lagna-atman (skt)—Bám chặt vào cái Ta—Egoism—Ego-grasping (Clinging to the “I”)—Trong Tứ Diệu Đế, Phật dạy rằng chấp ngã là nguyên nhân căn bản của khổ đau; từ chấp trước sanh ra buồn khổ; từ buồn khổ sanh ra sợ sệt. Ai hoàn toàn thoát khỏi chấp trước, kẻ đó không còn buồn khổ và rất ít lo âu. Nếu bạn không còn chấp trước, dĩ nhiên là bạn đã giải thoát—In the Four Noble Truth, Sakyamuni Buddha taught that “attachment to self” is the root cause of suffering. From attachment springs grief; from grief springs fear. For him who is wholly free from attachment, there is no grief and much less fear. If you don't have attachments, naturally you are liberated.
chấp nhất
Obstinate; stubborn; self-opinionated.
chấp nhất ngữ ngôn bộ
Ekavyavahàrika (S). Buddhist sect. Also Nhất thuyết bộ, Tỳ bà ha la.
chấp nhận
Recognition—Acceptance.
chấp nhận cơ bản
Fundamental recognition.
chấp nhận sự chỉ trích
Accept the criticism of others.
chấp nhận trở ngại
Take the troubles.
chấp nhứt
To obstinate.
chấp phong thần
Xem át nễ la thần.
chấp pháp
Lagna-dharma (skt). 1) Bám chặt vào giới luật: To comply with the law. 2) Bám chặt vào giáo lý: To cling to the dharma.
chấp pháp làm lẽ sống khiến cho càng mê lầm
To cling to the dharma and consider it as a reason of life would make one more stupid.
chấp sư tử
Simhala (S). A former name of the Buddha.
chấp sư tử quốc
Simhala (skt)—Tiếng Phạn là Sim Ha La, phiên âm là Tăng Già La, dịch nghĩa là Chấp Sư Tử nay là nước Tích Lan—Ceylon.
chấp sự
To manage, control; a manager.
; 1) Kiểm soát: To manage—To control. 2) Người trông nom việc của chúng Tăng trong tự viện: A manager of all affairs in a monastery.
; (執事) Phạm: Vaiyàvftyakara, Pàli: Veyyàvac-cakara. Chỉ người quản lí công việc. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 1 chép, thì Tôn giả A nan thường theo hầu đức Phật Thích ca mâu ni, gọi là chấp sự đệ tử. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 thì gọi là thị giả. Còn luận Đại trí độ quyển 6 nói Tỉ khưu chấp sự là vị Duy na. Trong Thiền tông thì gọi riêng vị Tri sự thuộc Đông tự, là người trông nom các việc trong chùa [X. kinh Thi ca la việt lục phương lễ - kinh Hiền kiếp Q.7 - kinh Đại ban niết bàn Q.trung - luật Tứ phần Q.7]. (xt. Tri Sự).
chấp tay
To join palms.
chấp thanh kim cương chử bồ tát
(執青金剛杵菩薩) Tương đương với Bồ tát Thanh kim cương trong kinh Đại nhật phẩm Bí mật. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 chép, thì tay trái của vị tôn này ấn lên đầu chày kim cương một chẽ, khuỷu tay phải co lại, ngồi bán già. Tuy giống với tượng vẽ nói trong Thai tạng đồ tượng, nhưng trong Thai tạng hiện đồ mạn đồ la không thấy nói đến vị tôn này.
chấp theo truyền thống trì tụng cổ truyền
To attach to the traditional way of recitation and worship.
chấp thuận
To grant—To approve.
chấp thọ
Thu nhiếp và thọ trì những gì đã được truyền trao—Impressions, ideas grasped and held.
Chấp thọ 執受
[ja] シュウジュ shūju ||| (1) To cognize the existence of external objects, and on this basis, arouse sensation. To sense, to grasp (Skt. upādi; Tib. len pa). 〔瑜伽論 T 1579.30.279a27〕 (2) To maintain mindfulness of the name of Amitābha Buddha. => 1. Nhận thức sự hiện hữu của trần cảnh, trên cơ sở nầy, phát sinh cảm giác. Cảm nhận, nhận thấy (Skt. upādi; Tib. len pa). 2. Duy trì trong chính niệm danh hiệu A-di-đà Phật.
Chấp thụ
執受; C: zhíshòu; J: shūju; |1. Nhận thức sự hiện hữu của trần cảnh, trên cơ sở nầy, phát sinh cảm giác. Cảm nhận, nhận thấy (s: upādi; t: len pa); 2. Duy trì trong chính niệm danh hiệu A-di-đà Phật.
chấp thủ
trạng thái tâm thức cho rằng đối tượng đang nhận thức là của mình, thuộc về mình và do đó luôn muốn ôm giữ, bám víu vào đó.
; Impressions, ideas grasped and held.
; The clinging—See Thập Nhị Nhân Duyên (9).
chấp thủ bản ngã
Chấp có cái “Ta” hay chấp thủ bản ngã là cội rễ của mọi tâm tai hại—Self-grasping—Self-grasping is the root of all harmful minds.
chấp thủ tướng
Thô tướng thứ ba trong sáu thô tướng được đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, nhớ mãi những vui những buồn coi như chúng là thật chứ không phải là ảo vọng—The third of the six coarser stages in The Awakening of Faith, retention of memories of past joys and sorrows as if they were realities and not illusions—See Lục Thô Tướng (3).
chấp trung
To keep the mean between the extremes.
chấp trách
To take the responsibility.
Chấp trì
執持; C: zhíchí; J: shūji; |Có các nghĩa sau: 1. Chức năng của tâm để nhận ra mọi thứ như là đối tượng của nó; 2. Tín tâm bền vững, hoặc tâm an định không tán loạn; 3. Giữ vật gì trong tay; 4. Thức thứ 7 hoặc thức thứ 8. Chấp trì thức.
chấp trì
(1) Dharana (S)Định tâm lại một chổ. Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh. (2) Ādāna (S), Holding on Giữ, chứa.
; Adàna (S). To hold firmly. Receptacle, container.
; Lagna-graha (skt)—Giữ vào hay nắm vào không lay chuyển—To hold firmly or to insist firmly on anything.
chấp trì danh hiệu
(執持名號) Câu trong kinh A di đà, biểu thị sự tu hành gây nhân để được vãng sinh Tịnh độ. Chấp trì hàm ý giữ chắc không lay động. Tức là chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung), nói: Nếu có người thiện nam, thiện nữ, được nghe nói đến Phật A di đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày (…...) hoặc bảy ngày, một lòng chẳng loạn, người ấy lúc sắp chết, Phật A di đà và các thánh chúng hiện ở trước mặt, lúc ấy tâm không điên đảo, liền được sinh sang cõi nước cực lạc của Phật A di đà. Trong A di đà kinh sớ, ngài Trí viên giải thích về chấp trì danh hiệu (Đại 37, 355 hạ), bảo: Chấp nghĩa là chấp nhận, trì là nắm giữ do sức tin mà chấp nhận ở tâm, do sức niệm mà nắm giữ, chẳng quên. [X. Pháp sự tán Q.hạ (Thiện đạo) - A di đà kinh sớ (Khuy cơ) - A di đà kinh lược kí (Nguyên tín)].
Chấp trì thức
執持識; C: zhíchíshì; J: shūjishiki;|Thức duy trì. Xem A-đà-na thức (阿陀那識, s: ādāna-vijñāna).
chấp trì thức
Xem A lại da thức. Xem A đà na thức.
; Adàna-vijnàna (S). A name for the àlaya-vijnàna.
; Adana-vijnana (skt)—Tiếng Phạn là A Đà Na Thức, theo nghĩa lý Đại Thừa của Pháp Tướng tông, A Lại Da Thức còn có tên là A Đà Na Thức—According to the Mahayana Dharmalaksana School, Adana-vijnana is another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
Chấp trì thức 執持識
[ja] シュウジシキ shūjishiki ||| The maintaining consciousness. See ādāna-vijñāna 阿陀那識. 〔攝大乘論 T 1593.31.114a12〕 => Thức duy trì. Xem A-đà-na thức (阿陀那識s: ādāna-vijñāna).
Chấp trì 執持
[ja] シュウジ shūji ||| (1) The function of the mind to perceive anything as its object. (2) A firm, unscattered mind of faith or concentration. (3) To hold something in the hand. (4) The seventh or eighth consciousness. See => Có các nghĩa sau: 1. Chức năng của tâm để nhận ra mọi thứ như là đối tượng của nó. 2. Tín tâm bền vững, hoặc tâm an định không tán loạn. 3. Giữ chặt vật gì trong tay. 4. Thức thứ bảy hoặc thức thứ tám. Xem Chấp trì thức執持識.
Chấp trước
執著; C: zhízhuó; J: shūjaku; S: abhiniveśa, nibhandhana|Giữ chắc sự việc không thể buông xả. Ôm chặt. Nghĩ về điều gì và không thể quên được nó.
chấp trước
Abhiniveśa (S), Strong attachment Abhinivesa (P).
; Abhinivesa (S). Tendency for settling down in the mind,
; Abhinivesa or graha (skt)—To grasp, hold, or cling to anything—Dính mắc vào tư tưởng cho rằng vạn hữu là thực (dính chắc vào sự vật mà không rời lìa. Mỗi pháp đều có nhiều nghĩa tương đối, nếu chấp chặt vào một nghĩa, chẳng biết dung hòa, chẳng biết tùy nghi, chấp trước như vậy chỉ là tự hạn hẹp lấy mình mà thôi)—To cling to things as real.
Chấp trước 執著
[ja] シュウジャク shūjaku ||| (abhiniveśa, nibhandhana); 'attachment.' Holding to things and being unable to let go. Grasping. To think about something and be unable to forget about it. => (s: abhiniveśa, nibhandhana) Giữ chắc sự việc không thể buông xả. Ôm chặt. Nghĩ về điều gì và không thể quên được nó.
chấp trượng phạm chí
(執杖梵志) Phạm chí cầm gậy. Là ngoại đạo ở thời đại đức Phật. Cái gậy mà ngoại đạo này cầm, hình dáng giống như đầu người, vị đệ tử lớn của Phật là tôn giả Mục kiền liên đã bị Phạm chí cầm gậy ấy đánh chết. Trước khi đức Phật sắp nhập Niết bàn, Mục kiền liên vào thành Vương xá khất thực, vì trả lời không vừa ý Phạm chí cầm gậy, nên bị Phạm chí vây hãm rồi dùng gạch đá đánh chết, Mục kiền liên tuy là thần thông đệ nhất, nhưng vì nghiệp lực, cũng không thể trốn thoát được. Sau Mục kiền liên tuy ngăn cản vua A xà thế không cho trả thù, nhưng cuối cùng, Phạm chí cầm gậy cũng bị hai người học trò của Mục kiền liên là Mã túc và Mãn túc giết chết. [X. Tì nại da tạp sự Q.18 - Tì nại da Q.2].
chấp tâm
The mind which clings to (things as real)
; Tâm chấp vào vạn hữu là thật—The mind which clings to things as real.
chấp tình
The foolish passion of clinging to the unreal.
; Dục vọng ngu xuẫn chấp trước vào những cái không thật—The foolish passion of clinging to the unreal.
chấp tướng
Lagna-laksana (skt)—Bám chặt vào hình tướng của chư pháp—To attach to forms or to cling to the characteristics of dharmas.
Chấp 執
[ja] シュウ shū ||| 'Attachment.' Deluded attachment to things. (abhiniveśa). => Sự dính mắc hư dối vào sự vật.
chất
Substance—Matter.
chất chứa
To accumulate—To amass—To gather—To cumulate.
chất ngại
(質礙) Tính chất có đủ sắc pháp (vật chất), vì nó có chất lượng và cùng với các vật khác chướng ngại lẫn nhau, cho nên gọi là chất ngại. Bởi lẽ, bất cứ vật thể nào, trong cùng một thời gian, không thể chiếm cứ cùng một không gian với các vật khác, cho nên hễ một vật thể đã chiếm cứ một không gian đặc định rồi, thì không gian ấy không thể dung nạp bất cứ vật thể nào khác - cũng tức là một vật làm chướng ngại các vật khác. (xt. Sắc).
chất thơm
Gandhakuṭī (S), Perfume.
chất trực
Substantial and straight—Honestly—Firmly—Straight without disemblance.
; (質直) Chỉ cho tâm ngay thẳng. Đạo Phật nhằm thấu suốt thực tướng của các pháp, cho nên người tu hành phải có tâm chính trực. Cứ theo kinh Duy ma phẩm Phật quốc nói, thì tâm ngay thẳng là cõi Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, không nịnh hót chúng sinh sinh đến cõi nước của mình. Nghĩa là người có tâm ngay thẳng, chất trực, không nịnh hót, tâm này là gốc của muôn hạnh. Kinh Pháp hoa phẩm Thọ lượng (Đại 9, 43 trung) nói: Chúng sinh đã tin phục ý ngay thẳng, nhu hòa - một lòng mong thấy Phật, chẳng tự tiếc thân mình. (Lúc ấy) ta cùng với chúng tăng, đều rời núi Linh thứu (...…) Những người tu công đức, nhu hòa và chất trực, thì đều thấy thân ta, tại đó ta nói pháp. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].
chất tính
Substance.
chất đa
Citta (skt)—Còn gọi là Chất Đa Da, Chất Đế—Tâm hay cái tâm suy nghĩ hiểu biết—The heart considered as the seat of intellect—The thinking—The reflection mind.
; (質多) Phạm, Pàli: Citta. Dịch ý là tâm. Còn gọi là Chất da da, Chỉ da, Chất đế, Bỉ trà. Là một trong bốn tâm. Có nhiều nghĩa. Theo các kinh luận sớ có thể tóm tắt làm 3 nghĩa: 1. Câu xá quyển 4, Câu xá luận quang kí quyển 4 nói, chất đa là nghĩa tập khởi, chỉ sáu thức tâm vương mắt, tai, mũi, lưỡi v.v…...2. Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 phần cuối, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng phần 1 nói: Chất đa là nghĩa tích tụ, tập khởi, chỉ thức A lại da thứ tám. 3. Chú thích bên cạnh kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 1, Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên nói: Chất đa là tâm hay biết của hữu tình, tương đối với tâm của cỏ cây vô tình (Hãn lật dà) hoặc tâm tự tính đệ nhất nghĩa. [X. luận Đại tì bà sa Q.72 - Đại nhật kinh sớ Q.16 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6 - Bí tạng kí].
chất đa da
Citta (skt)—See Chất Đa.
chất đa la
Citra (skt). 1) Tạp Sắc: Màu pha chứ không phải màu nguyên thủy—Not to a primary colour—The variegated of mixed colour. 2) Tên của một vì sao: Name of a star.
chất đát la bà nia
Xem Hoả Biện.
chất đế
Citta (skt)—See Chất Đa.
chất để
Caitya (skt)—Chồng chất lên—To assemble—To pile up.
chầm chậm
Slowly.
chầu chực
To wait for too long.
chầu phật
To pass away—To go to the Pure Land to meet Amitabha Buddha.
chẩm
Thế nào—How?—What?
chẩm kinh
(枕經) Còn gọi là Già kinh . Sau khi người chết, chưa liệm, đứng tụng kinh ở bên gối (chẩm) người ấy gọi là Chẩm kinh. Tại Ấn độ, từ xưa, sau khi một vị sư tịch, phải tụng kinh ở bên gối suốt đêm. Kinh Vô thường (Đại 17, 746 hạ), nói: Nếu đưa người chết đến nơi để xác họ, thì đặt nằm nghiêng bên phải, ở phía cuối gió, mặt quay về hướng mặt trời, bày tòa cao trang nghiêm ở phía đầu gió, thỉnh một tỉ khưu ngồi lên tòa pháp vì người đã chết tụng kinh Vô thường. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.18].
chẩm sinh
Làm thế nào được sinh ra?—How born?—How did it arise?
chẩn bần
To help the needy—To relieve the poor.
chẩn cấp
To bestow—To give—To grant (alms).
chẩn mộng
To explain a dream.
chẩn tế
To bring relief to the needy.
chẩn tế bần phạp
Xem Cãp Cô Độc.
chẩn đoán
To diagnose.
chậm chạp
Slow.
chậm trễ
Tardy.
chận đường
To block (obstruct) the way.
chận đứng
To stop.
chập choạng
1) To know imperfectly. 2) At nightfall—At dusk.
chập chững
To totter—To stagger
chật vật
Difficult.
chắc chắn
Certain—Firm—Solid—Secure.
chắc lưỡi
To smack one's tongue.
chắp tay
Hapchang (K) Palms together.
; To join one's hands.
chắp tay vái chào
Ādara (S), Salute with folded hands and arms together.
chẳng may
Unfortunately.
chẳng nệ
Chẳng quản—To spare no pains.
chẳng sợ nghiệp sớm khởi, chỉ sợ chậm giác ngộ mà thôi
Not to fear an early development of karma, fear only a slow awakening.
Chế
制; C: zhì; J: sei;|1. Đè nén, chế ngự; 2. Cai quản, cai trị; 3. Chấm dứt, đình chỉ.
chế
1) Kềm chế: To restrain—To govern--Regulations. 2) Tang chế: Mourning.
chế chỉ tự
(制旨寺) Chùa tại Quảng châu, do vị sa môn người nước Kế tân kiến tạo vào khoảng năm Long hoà (362) đời Ai đế nhà Đông Tấn. Khoảng năm Nguyên gia (424-453) đời LưuTống, ngài Cầu na bạt đà la vượt biển từ Ấn độ đến Quảng châu, lập giới đàn tại đây, gọi là Chế chỉ đạo tràng. Tương truyền, năm Phổ thông thứ tám (527) đời Vũ đế nhà Lương, tổ sư Đạt ma cũng ở đây. Lại Tam tạng chân đế, vì lánh nạn loạn lạc ở cuối đời Lương, phải trở về Ấn độ, cũng lưu lại chùa này từ năm Thiên gia thứ ba đến thứ năm (562–564) đời Văn đế nhà Trần, để dịch luận Đại thừa duy thức và luận Nhiếp đại thừa. Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông đời Đường và Tam tạng Bát lạt mật đế người Tây vực, cũng đã từng ở đây. Về sau đổi tên là Càn minh pháp tính tự, Báo ân quảng hiếu tự, hiện nay gọi là Quang hiếu tự. (xt. Quang Hiếu Tự).
chế cảm
Pratyahara (S)Xa lìa cảm quan và đối tượng. Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh.
chế diễu
To make fun of—To jeer at.
chế dâm
To restrain venereal desire.
chế dục
To restrain one's desire
chế giáo
See Chế giới.
; (制教) Là Phán giáo do tông luật Nam sơn lập ra, đối lại với Hoá giáo . Tông luật Nam sơn đem giáo pháp của một đời đức Phật phán biệt làm Chế giáo và Hóa giáo, Chế giáo là chỉ pháp môn Giới học được hiển bày trong tạng Luật. Cũng gọi là hành giáo, ý nói tuân hành giáo pháp chế giới. Hóa giáo thì chỉ pháp môn Định và Tuệ được nói rõ trong tạng kinh. Cứ theo bài tựa trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao nói, thì bản ý của Chế giáo có bảy, đó là: 1. Không bàn về Tiệm, Đốn. 2. Nhắm vào khoa chính nghiệp. 3. Quả báo khác nhau. 4. Các cõi đi tới có hơn, có kém. 5. Khởi lên tình ý hư hay thực. 6. Cũng cho phép cũng cấm chế. 7. Theo hành trì hiển bày sự sai khác. Cứ theo Bát tông cương yếu quyển thượng chép, thì pháp môn Định, Tuệ của bốn A hàm là thuộc về Hóa giáo, còn pháp môn Giới học của luật Tứ phần thì thuộc Chế giáo. Y theo giới thể mà bàn về Chế giáo, có thể chia làm ba tông: 1. Thực pháp tông, nói tắt là Hữu tông, chỉ Thuyết nhất thiết hữu bộ trong Bộ phái Phật giáo, chủ trương hết thảy các pháp là thực có, lấy vô biểu của giới thể làm sắc pháp. 2. Giả danh tông, nói tắt là Không tông, chỉ tông Thành thực, chủ trương các pháp chỉ có cái tên giả chứ chẳng phải thực có, cho vô biểu của giới thể là chẳng phải sắc chẳng phải tâm. 3. Viên giáo tông, nói tắt là Viên tông, chỉ Duy thức Viên giáo, chủ trương hạt giống của tâm sở tư (được ươm giữ trong thức thứ tám) là giới thể vô tác. Luật Nam sơn dựa theo luật Tứ phần của bộ Đàm vô đức, luận Thành thực cũng phần nhiều dựa theo giáo nghĩa của bộ này, cho nên giới thể của luật Tứ phần là chẳng phải sắc chẳng phải tâm, nhưng, bản ý của ngài Đạo tuyên là y vào Viên giáo Duy thức mà định, tức trong Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ (hội bản) quyển 3, quyển 5, khi bàn về giới thể, đều đem Hữu tông, Không tông nhiếp vào trong Tính không giáo, còn diệu thể của Viên giáo thì là Duy thức giáo. Lại ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh đầu tiên lập thuyết Phán giáo, Hóa giáo và Hành giáo, ngài Đạo tuyên căn cứ vào thuyết ấy, cho Hành giáo bắt nguồn từ Hóa giáo, cũng lập giáo phán Hóa giáo, Chế giáo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.13 Tạng nghĩa phân biệt phần dưới - Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, Q.trung 3 - Tứ phần luật giới bản sớ tự - Giáo giới tân học tỷ khưu hành hộ luật nghi tự]. (xt. Hóa Giáo).
chế giới
Xem Dạ Ma.
; Chế giáo—Các điều giới luật do Phật quy định đối với các hàng đệ tử (Đạo Phật lấy giới luật trong Tỳ Ni Tạng làm giáo lý để hạn chế hay ngăn chặn tội lỗi sai trái)—The restraints or rules, i.e. of the Vinaya.
chế giới thập ích
(制戒十益) Nghĩa là, đức Phật đã vì các đệ tử mà chế định ra giới luật, đối với chúng tăng, giới luật ấy có mười điều lợi ích. 1. Nhiếp tăng (Phạm: Saíghasangrahàya), cai quản toàn thể khiến cho hòa hợp. 2. Cực nhiếp tăng (Phạm: Saíghasuwỉhutàyai) rất có khả năng ngăn điều lỗi chặn điều ác, khiến chúng tăng được chuyên tâm tu đạo, mỗi người đều giữ phận mình mà yên ổn vui vẻ. Luật Tứ phần và Hữu bộ tì nại da, gọi mục này là Linh tăng hoan hỉ (khiến chúng tăng được vui vẻ), Luật Thập tụng thì gọi là Cực hảo nhiếp (nhiếp thụ cực tốt). 3. Linh tăng an lạc (Phạm: Saíghasya– sparzavihàràya), nhờ thi hành hai điều trên mà trong chúng tăng được yên vui. 4. Chiết phục vô tu nhân (Phạm: Durmaíkunnàô pudgalànàô nigrahàya), có thể khiến cho những kẻ sai trái không biết hổ thẹn bị khuất phục, hoặc cuối cùng bị đuổi ra khỏi giáo đoàn. 5. Hữu tàm quí nhân đắc an ổn trụ (Phạm: Lajjinàô sparzàvihàràya), khiến những vị tăng đúng đắn, có tâm hổ thẹn tuân theo giới luật, được sống yên ổn. 6. Bất tín giả linh đắc tín (Phạm: Anabhiprasannànàô abhiprasàdàya), nhờ ánh sáng của giới luật, có thể khiến những kẻ không tin phát khởi lòng tin. 7. Dĩ tín giả tăng ích tín (Phạm: Abhiprasànnanàô bhùyobhavàya), những người đã tin, nếu y theo giới luật, sẽ khiến lòng tin thêm lớn. 8. Ư hiện pháp trung đắc lậu tận (Phạm: Dfwỉadhàrmikanàô àsravànàm saôvaràya), y theo giới luật thì ở trong pháp hiện tại được lậu tận, dứt các pháp hữu lậu ở hiện tại, ngăn ngừa các phiền não ở đời này. 9. Vị sinh chư lậu linh bất sinh (Phạm: Sàmparàyikaịàô setuwamudghàtàya), các phiền não chưa sinh khởi ở hiện tại khiến cho vĩnh viễn không sinh khởi. 10. Chính pháp đắc cửu trụ (Phạm: Brahmacaryaĩ ca me cirasthitikam bhavisyati), y theo giới luật thì chính pháp của Phật sẽ ở lâu nơi đời để mở mắt cho người và trời. [X. luật Ma ha tăng kì Q.1 - luật Tứ phần Q.1 - luật Thập tụng Q.1 - Thích thị yếu lãm Q.thượng].
chế môn
Đức Phật chế ra giới luật môn nhằm giúp mọi người tu hành giải thoát, đối lại với hóa môn—The way or method of discipline, contrasted with the door of teaching of enlightenment, both methods used by the Buddha. ** For more information, please see Hóa Chế Nhị Giáo.
; (制門) Là một trong những pháp môn đức Như lai dùng để nhiếp thụ và điều phục chúng sinh. Như lai dùng tri đức chế định ra giới luật, ngăn ngừa các điều xấu ác, tà bậy, giáo pháp rất nghiêm ngặt, không một mảy may buông thả, khiến chúng sinh hướng thiện tránh ác, đó là Chế môn, pháp môn Chế giáo được dùng để ước thúc tăng ni. Trái lại, Như lai dùng bi đức để độ những kẻ ngang ngược năm nghịch, mười ác, cởi mở để giáo hoá điều phục, thì đó là Khai môn, pháp môn Hóa giáo ứng dụng cho cả tăng lẫn tục.
chế ngự
To dominate—To subdue.
chế nhạo
To mock—To laugh at—To deride—To jeer at.
chế phục
• Kềm chế, câu thúc, hay kiểm soát: Samvunati (p)—To subdue—To restrain—To control. • Sự chế phục: Samvaro (skt)—Restraint.
chế phục các căn
Indiyasamvaro (p)—Restraint of the senses.
chế thính nhị giáo
(制聽二教) Tức là Chế giáo và Thính giáo. Trong sách Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ, luật sư Đạo tuyên đời Đường, lập một môn nhiếp giáo phân tề, nêu cả bốn loại phán giáo từ xưa, rồi hoặc thêm, hoặc bớt mà qui nạp thành thuyết Tam luân, thuyết Hoá giáo hành giáo, thuyết Chế giáo thính giáo và thuyết Hoá giáo, Chế giáo v.v...… Trong đó, phàm giáo do chế định mà có, tức là giáo pháp do Phật chế định, tất phải giữ gìn tuân thủ thì gọi là Chế giáo - trái lại những pháp vì phương tiện tạm thời mà đặt ra, cho phép tùy ý giữ hoặc không giữ, thì gọi là Thính giáo. Như ba áo của tỷ khưu, năm áo của tỷ khưu ni là Chế pháp (pháp bắt buộc), còn một trăm lẻ một thứ đồ dùng thì là Thính pháp (pháp tùy ý). Lại như tạng Luật là Chế giáo, hai tạng Kinh, Luận là Thính giáo. Nếu không chấp hành Chế pháp thì sẽ bị tội, còn không giữ Thính pháp thì không phải tội.
chế tra ca đồng tử
Cetaka (S)Phiến để ca đồng tử; sứ giả.
chế trung
(制中) Chỉ thời kỳ kết chế tu hành, tức trong các kỳ Hạ an cư và Đông an cư. Chế trung của Hạ an cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, đến ngày 15 tháng 7 thì chấm dứt - Chế trung của Đông an cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 10, đến ngày 15 tháng 1 năm sau thì kết thúc. Cũng có thuyết lấy ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8 làm Hạ an cư, ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 2 năm sau làm Đông an cư. Lại trong thời đại đức Phật, Chế trung có qui định cấm túc. Ngoài ra, đối lại với Chế trung, gọi là Giải gian , tức là những ngày giờ ngoài Hạ an cư và Đông an cư.
chế trá ca đồng tử
(制咤迦童子) I. Chế tra ca, Phạm: Ceỉaca. Còn dịch là Chế trích gia, Chế đa gia, Thế đa ca, Phiến để ca. Dịch ý là Tức tai (trừ tai hoạ), Phúc đức tụ thắng. Là người đứng hầu bên cạnh Bất động Minh vương trong Mật giáo, đứng hầu ở bên phải, gọi là Thiên bộ. Một trong năm sứ giả của Bất động Minh vương, một trong tám đại đồng tử. Chủ về đức nghiệp Ba la mật, hiển hiện thành tính ác. Cứ theo Thánh vô động tôn nhất tự xuất sinh bát đại đồng tử bí yếu pháp phẩm chép, hình tượng Chế tra ca là hình đồng tử, mầu như sen hồng, đầu kết năm lọn tóc, tức trên đỉnh đầu, hai bên tả hữu và trước sau, mỗi chỗ đều kết một lọn, biểu trưng năm phương năm trí - tay trái cầm chày kim cương, tay phải cầm gậy kim cương, không mặc ca sa, dùng áo trời quấn hai bả vai. Ấn khế là ngoại phọc ngũ cổ ấn, chân ngôn là Án yết rô ma chế tra ca hồng hồng phát tra nam. Lại cứ theo kinh Bất không quyên sách đà la ni phẩm Thành tựu chế trích ca chép, Chế tra ca đồng tử là do bồ tát Quán âm tự sinh ra, hiện hình tướng trẻ con, hớn hở vui vẻ, cùng với đồng tử Căng yết la cùng đứng hầu bên cạnh Bất động minh vương. [X. Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp - Để lí tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp - Phật tượng đồ vựng Q.2]. II. Chế tra ca, hàm ý là tôi tớ, ngoài sứ giả của Bất động minh vương ra, các sứ giả của chư tôn khác cũng có gọi là Chế tra ca. (xt. Sứ Giả).
chế tài
(制裁) Là áp lực được sử dụng để phòng ngừa những hành vi gây tai hại cho xã hội. Nhà xã hội học người Pháp là Đồ nhĩ cán (Emile Durkheim, 1858–1917) chia chế tài làm bốn thứ :1. Thần bí tính, như khai trừ, bùa chú, hối tội, mệnh lệnh của sách cấm. 2. Đạo đức tính, như trách hỏi, ruồng đuổi.3. Pháp luật tính, như xử phạt theo dân luật, hình pháp đã qui định. 4. Phúng thích tính, như chê cười, diễu cợt v.v…... Về phương thức trừng trị chế tài, có thể chia làm hai loại: 1. Sự chế tài đối với các thành viên trong một tập đoàn, gọi là chế tài dư luận. 2. Do người ở cấp trên có uy quyền thi hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, có đủ tính chất xử phạt. Chủ thể thi hành chế tài thường được coi như có chính nghĩa, hoặc thần thánh, là sự tượng trưng trừu tượng, là một thứ sức ép của đoàn thể, chứ không một cá nhân nào làm được. Trong giới luật, sự chế tài đối với những người phá giới có những qui định đặc biệt, nhưng đều lấy lương tâm tự chủ làm nền tảng, rất ít tính chất trừng phạt bên ngoài. Lại nữa, chủ thể chế tài là Tăng đoàn, không phải một tỷ khưu đặc định nào thi hành. Trong nguyên tắc chế tài do tăng đoàn qui định, nặng nhất là tội Ba la di, tức là các tội giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối, nếu tỷ khưu nào phạm vào các tội kể trên, thì bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn. Ngoài ra, còn có các tội Tăng tàn, tội Ba dật đề v.v...… Người phạm tội Tăng tàn thì phải ở riêng biệt trong một số ngày nhất định, tức phải tách rời Tăng đoàn mà ra ở một nơi khác để dễ bề phản tỉnh. Còn tội Ba dật đề, nếu phạm thì phải tách ra sám hối trước đại chúng trong Tăng đoàn. (xt. Giới).
chế tội
(制罪) Đối lại với Tính tội....... Tính tội tự nó đã là tội ác, như giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối bất luận trong Phật giáo hay ngoài Phật giáo, chúng đều là những hành vi tội ác, gây họa hại cho con người và chúng sinh khác. Trái lại, như đào đất, chặt cây, cắt cỏ làm tổn hại loài vô tình, thì Phật giáo gọi là Chế tội. [X. Thiền giới quyết]. (xt. Tính Tội).
chế đa
Caitya (S). Sepulchral monument, pagoda, shrine. Also linh miếu, chiền, điện thờ.
; See Caitya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
chế đa hồi xứ
(制多回處) Là nơi tu hành đạo Phật. Chế đa, tiếng Phạm: Caitya, cũng gọi là Chi đề, dịch ý là Linh miếu, Tháp. Cứ theo Pháp hoa huyền tán quyển10 chép, trong tháp có thờ xá lợi thì gọi là Tốt đổ ba (Phạm: Stùpa), không thờ xá lợi thì gọi là Chế đa. Quýnh có nghĩa là xa xôi - Quýnh xứ, đặc biệt chỉ nơi A lan nhã. Luận Câu xá dịch là nơi tu phạm hạnh. Vì Chế đa, Quýnh xứ đều là những nơi thanh vắng, tĩnh mịch, thích hợp cho sự tu đạo. Lại luận Câu xá quyển 16 nói, tại các nơi chùa, chế đa, quýnh xứ, không được hành dâm. (xt. Chi Đề).
chế đa sơn bộ
Cityavadin (S), Cetiyavāda (P), Caityavandāna (S), Jetīyaṣailāḥ, Jetīyaśailāḥ (S), Jetavanīyāḥ (S), Caityaśaila (S)Một trong 20 tông phái của Tiều thừa.
; Jetavanìya (S). Buddhist sect.
; Caityaka (skt)—Chi Đề Gia Bộ—Chỉ Để Khả Bộ. (A) Lịch sử thành hình Chế Đa Sơn bộ—The history of formation of the Caityaka: Bộ phái Chế Đa Sơn, một trong hai mươi bộ phái Tiểu Thừa, do Tỳ Kheo Đại Thiên sáng lập, gồm những nhà tu khổ hạnh cư ngụ trong các lăng mộ hay hang hóc. Cũng nên phân biệt Đại Thiên nầy với Đại Thiên đã đề ra năm điều dẫn đến sự phân phái đầu tiên. Ông nầy là một tu sĩ khổ hạnh thông thái, tinh chuyên và xuất gia theo Đại Chúng bộ, rồi sau đó lập ra Chế Đa Sơn bộ. Vì ông sống trên ngọn núi có bảo tháp xá lợi của Phật (catya) nên lấy tên Caityaka hay Chế Đa Sơn bộ đặt cho bộ phái của mình. Cũng nên nhớ rằng chính Chế Đa Sơn bộ đã sản sinh ra Đông Sơn Trụ bộ và Tây Sơn Trụ bộ. Nói chung thì Chế Đa Sơn bộ có chung các chủ thuyết căn bản với Đại Chúng Bộ, nhưng khác Đại Chúng bộ ở các chi tiết nhỏ. Theo bia ký ghi lại vào thế kỷ thứ hai và thứ ba sau Tây Lịch, cho thấy cùng thời với Chế Đa Sơn bộ còn có các bộ phái khác như Nhất Thiết Hữu bộ, Đại Chúng bộ, Chánh Lượng bộ, Hóa Địa bộ, Đa Văn bộ, và Ấm Quang bộ—Caitya-saila, described as one of the twenty sects of the Hinayana, founded by Bhikkhu Mahadeva, comprised of ascetic dwellers among tombs or in caves. This Mahadeva is to be distinguished from the Mahadeva who was responsible for the origin of the Mahasanghikas. He was a learned and diligent ascetic who received his ordination in the Mahasanghika Sangha. Since he dwelt on the mountain where there was a caitya, the name Caityaka was given to his adherents. It may be noted that Caityavada was the source of the Saila schools, both East and West. Inscription of the second and third centuries A.D. indicates that at the same time with the Caityaka, there were also the following sects: the Sarvastivadins, the Mahasanghikas, the Sammitiyas, the Purvasailiyas, the Aparasailiyas, the Bahusrutiyas, and the Kasyapiyas. (B) Quan điểm chính của Chế Đa Sơn bộ—Main views of the Caityaka: Nói chung Chế Đa Sơn bộ có chung chủ thuyết căn bản với Đại Chúng bộ, nhưng khác Đại Chúng bộ ở các chi tiết nhỏ. Các chủ thuyết được xem là của Đại Chúng bộ như sau—Generally speaking, the Caityakas shared the fundamental doctrines of the original Mahasanghikas, but differed from them in minor details. The doctrines specially attributed to the Caityaka school are as follows: 1) Người ta có thể tạo được công đức lớn bằng cách xây dựng, trang hoàng, và cúng dường các bảo tháp (caitya). Ngay cả việc đi rảo xung quanh bảo tháp cũng có công đức: One can acquire great merit by the creation, decoration and worship of caityas; even a circumambulation of caityas engenders merit. 2) Dâng cúng hương hoa cho bảo tháp cũng là một công đức: Offerings flowers, garlands and scents to caityas are likewise meritorious. 3) Công đức tạo được do sự cúng dường có thể được hồi hướng cho thân quyến, bạn bè để đem lại an lạc cho họ. Quan niệm nầy hoàn toàn xa lạ trong Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng rất phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa. Các kiểu tin tưởng nầy được phổ thông giữa những người Phật tử tại gia: By making gifts on can acquire religious merit, and one can also transfer such merit to one's friends and relatives for their happiness. A conceptionquite unknown in primitive Buddhism but common in Mahayanism. These articles of faith made Buddhism popular among the laity. 4) Chư Phật đã hòà toàn không có tham, sân, si (jita-raga-dosa-moha) và đạt đến những quyền năng siêu việt (dhatuvara-parigahita). Chư Phật cao hơn các A La Hán vì có được Thập Lực (bala): The Buddhas are free from attachment, ill-will and delusion (jita-raga-dosa-moha), and possessed of finer elements (dhatuvara-parigahita). They are superior to the Arhats by virtue of the acquisition of ten powers (balas). 5) Một người có chánh kiến (samyak-drsti) vẫn không thoát khỏi tính sân, và do đó vẫn có nguy cơ phạm tội giết người: A person having the right view (samyak-dristi) is not free from hatred (dvesa) and, as such, not free from the danger of committing the sin of murder. 6) Niết Bàn là một trạng thái tích cực và hoàn thiện (amatadhatu): Nirvana is positive, faultless state (amatadhatu).
; (制多山部) Phạm: Caitya-vàdin, hoặc Caitika, Pàli: Cetiya-vàdà. Là một trong hai mươi bộ phái Phật giáo tại Ấn độ, vì bộ chúng của bộ này ở núi Chế đa, cho nên gọi Chế đa sơn bộ. Còn gọi là Chi đề sơn bộ, Chế đa bộ, Chi đề da bộ, Chỉ để ha bộ, Chi đề la a bộ, Du ca bộ, Ma ha đề bà bộ. Cứ theo luận Dị bộ tông luân chép, thì khoảng hai trăm năm sau khi đức Phật hập diệt, ngoại đạo Đại thiên (Phạm: Mahàdeva), xuất gia theo Đại chúng bộ, cùng với chúng tăng của bộ này tranh luận về năm việc rồi lôi kéo chúng tăng ra khỏi Đại chúng bộ, hình thành ba bộ, theo chỗ ở khác nhau mà đặt tên là Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ. Hoặc có thuyết nói, sự phân chia ấy là do sau khi Đại thiên xuống miền nam giáo hóa mấy chục năm, các học giả Đại chúng bộ theo thuyết năm việc của Đại thiên, vì tư tưởng và ở cách xa nhau quá lâu, nên mới dần dần chia thành mấy phái. Còn theo luận Bộ chấp dị chép, thì thời ấy chia làm hai bộ Chi đề sơn và Bắc sơn - kinh Văn thù vấn quyển hạ phẩm Phân bộ thì chép chia làm hai bộ là Đông sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ, chứ chưa đề cập đến tên Chế đa sơn bộ.Về nguyên nhân đưa đến sự phân hóa của bộ này, cứ theo luận Dị bộ tông luân chép, là do sự tranh luận về năm việc của Đại thiên gây ra. Nhưng theo Tam luận huyền nghĩa chép, thì vì vấn đề được giới mà sinh ra tranh luận rồi đưa đến sự chia rẽ. Lại luận Dị bộ tông luân bảo, sự chia rẽ của hai bộ căn bản Thượng tọa và Đại chúng là do tranh cãi về vấn đề năm việc của Đại thiên, sau có một Đại thiên trùng tên (Tặc trụ đại thiên) lại nêu lên năm việc mà đưa đến sự chia rẽ thành ba bộ Chế đa sơn. Luận Bộ chấp dị thì chỉ nói đến Tặc trụ đại thiên, chứ khi hai bộ căn bản phân hoá thì chưa đề cập đến việc của Đại thiên kia. Thuyết hai Đại thiên, tranh luận lại năm việc, còn phải cần được thương xác. Về Tông nghĩa của bộ này, cứ theo luận Dị bộ tông luân nói, thì ba bộ Chế đa sơn, Tây sơn trụ, Bắc sơn trụ, nghĩa đồng như nhau, đều chủ trương các Bồ tát vẫn không thoát khỏi ngã ác - cho dù có cúng dường Tốt đổ ba (tháp có để xá lợi Phật), cũng không được quả lớn - A la hán tuy không còn bị dâm dục làm phiền não, mất bất tịnh, nhưng có khi gặp các ác ma đưa bất tịnh dính vào áo La hán. Còn về năm việc và các nghĩa môn khác thì luận điểm của ba bộ này phần nhiều giống với thuyết của Đại chúng bộ. [X. luận Thập bát bộ - Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.3 phần đầu - Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.16]. (xt. Đại Chúng Bộ).
chế đa văn bộ
Xem Chế đa sơn bộ.
chế đát la
Caitra (skt). 1) Tên một ngôi sao xuất hiện vào đêm trăng tròn tháng giêng (tháng giêng của Ấn Độ cũng được gọi là tháng Chế Đát La). Ở Trung Quốc và Việt Nam nhằm tứ 16 tháng giêng đến 15 tháng hai, khoảng tháng ba và tháng tư dương lịch: The spring month in which the full moon is in this constellation. In China and Vietnam, it is the first month of spring from the 16th of the first moon to the 15th of the second moon (March-April). 2) Tên người đã sanh ra vào tháng nầy: Name of a person who was born in this month.
; (制呾邏) Phạm: Caitra hoặcCitra, Pàli: Citta. Tên tháng thứ nhất của lịch Ấn độ, còn gọi là Chế đát ra, Tố đát la, Đát la. Dịch ý là trọng xuân (tháng thứ hai mùa xuân). Tức khoảng từ ngày 16 tháng 01 đến ngày 15 tháng 02 theo âm lịch Trung quốc, mặt trăng tháng này gặp sao Dốc (Phạm: Citrà, Chất đa la) mà tròn, cho nên gọi là Chế đát la. [X. kinh Tú diệu Q.thượng - kinh Bảo tinh đà la ni Q.4 - Câu xá luận quang kí Q.30 - Đại đường tây vực kí Q.2].
chế để
Caitya (skt)—Chế Thể. 1) Tháp Phật: Temple or stupa where the Buddha's relics are stored. 2) Cột cờ chánh: The main flagstaff on a pagoda.
chế để bạn thễ
Caitya-vandana (skt)—Chế Để Bạn Đạn Na—Tôn kính tháp thờ hay hình tượng Phật—To pay reverence to, or worship a stupa, image, etc.
Chế Độ Chùa Chính Chùa Con
(本末制度, Honmatsu-seido, Bản Mạt Chế Độ): chế độ mang tính giai cấp phong kiến phân biệt giữa chùa chính (chùa bản sơn trung tâm) với chùa con trong hệ thống tự viện Phật Giáo. Chế độ này được quy định dưới thời Cận Đại, với tư cách là chế độ có hệ thống hẳn hòi. Mối quan hệ Chùa Chính Chùa Con dưới thời Trung Đại là chế độ được sản sinh từ tính tất yếu trong nội bộ Tông phái, là chế độ Ngũ Sơn thuộc thể chế quan quyền do chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh tác thành. Về chế độ được sản sinh từ tính tất yếu trong nội bộ Tông phái, từ đầu thời đại Thất Đinh trở đi, vị Du Hành Thượng Nhân của Thanh Tịnh Quang Tự (清淨光寺, Shōjōkō-ji) khi đi hành cước các tiểu quốc, ông đã từng cải tông các tự viện của Tông phái khác, thăng cách những am đền lên thành chùa, vè biến chúng thành những ngôi chùa con của ông. Nhật Liên Tông thì cũng giống như trường hợp Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺, Hokkekyō-ji) ở Trung Sơn (中山, Nakayama), đã lấy thư thệ nguyện gọi là Trạng Quy Phục để xác lập mối quan hệ này. Trường hợp Tịnh Độ Tông thì lập ra những trường Đàn Lâm (檀林, danrin) ở miền quê vùng Quan Đông (關東, Kantō) làm đạo tràng học vấn, và xác lập mối quan hệ Chùa Chính Chùa Con thông qua việc tương thừa giữa thầy với trò. Đối với Tịnh Độ Chơn Tông, Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) hạ lệnh cho những ngôi chùa con phải thờ tượng thờ chính A Di Đà Như Lai bằng gỗ để phân biệt rõ mối quan hệ này. Vào năm 1386 (Chí Đức [至德] 3), chính quyền mạc phủ thất đinh đã ban hành Chế Độ Chùa Chính Chùa Con theo thể chế quan quyền đối với Ngũ Sơn, Thập Sát và chư sơn của Lâm Tế Tông. Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) ở Kyoto được đặt hàng đầu, tiếp theo dưới đó là Thập Sát ở kinh đô, Thập Sát ở Quan Đông; rồi đặt ra nhưũng ngôi chùa trung tâm ở các tiểu quốc để tạo mối quan hệ Chùa Chính Chùa Con trùng trùng như vậy. Đến thời Cận Đại, chế độ này cũng được cải biên theo mục đích tổ chức các tự viện trên cơ cấu chính trị. Cho đến tháng 7 năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) đã hạ chiếu chỉ giải thích về pháp luật tự viện đối với những ngôi chùa trung tâm của các Tông phái. Nội dung của pháp luật ấy quy định việc những ngôi chùa trung tâm bản sơn của các Tông phái có đặc quyền về kinh tế cũng như chính trị kể từ thời Trung Đại trở về sau, việc chùa trung tâm bản sơn có quyền bãi miễn chức Trú Trì của chùa con, việc chùa con phải phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của chùa trung tâm, việc chùa trung tâm quy định nơi tu hành cũng như học tập của Tông phái và sau khi học xong thì đương sự phải có nghĩa vụ phục vụ nơi ấy một thời gian nhất định nao đó, việc chùa trung tâm có quyền hạn thăng cách giai cấp Tăng lữ, v.v. Về mặt pháp lịnh, mối quan hệ Chùa Chính Chùa Con được xác lập theo pháp luật tự viện, nhưng thực tế chế độ hóa vẫn còn hơi chậm. Vào năm 1632 (Khoan Vĩnh [寛永] 9), chính quyền Mạc Phủ ra lệnh cho những ngôi chùa trung tâm bản sơn của các Tông phái phải dâng nộp lên danh sách Chùa Chính Chùa Con của Tông phái mình, và buộc phải thi hành chế độ này. Trong lúc đó, về phía các ngôi chùa trung tâm lại lợi dụng cơ hội này để xác lập vững chắc sự chi phối các chùa con. Theo nguyên tắc, đương thời kèm theo bản danh sách Chùa Chính Chùa Con có các điều kiện xin chùa công nhận và tất nhiên các ngôi tự viện cổ xưa cũng được ban cho đặc quyền khác. Tuy nhiên, mấy năm sau khi Chế Độ Xin Chùa Công Nhận (寺請制度, Terauke-seido) ra đời, chính chùa con cũng thỉnh thoảng xảy ra việc chùa con tranh đoạt tín đồ, rồi chùa chính tranh giành chùa con; vì thế các nhà Nho học đã phê phán kịch liệt Chế Độ Chùa Chính Chùa Con này. Chính vì lẽ đó, thể theo văn bản pháp luật Chư Tông Tự Viện Pháp Độ (諸宗寺院法度), vào tháng 7 năm 1665 (Khoan Văn [寛文] 5), chính quyền Mạc Phủ đã sửa đổi lại chế độ này, nhấn mạnh rằng chùa chính không được xem thường ý hướng của chùa con để cưỡng quyền. Thế nhưng, một khi đã có được quyền hạn tối cao trong tay, những ngôi chùa chính không dễ gì để nó mất đi được; và họ đã đưa ra Luật Chùa Con để tăng cường quyền hạn của mình thêm lên. Từ đó, việc quản lý về thân phận Tăng lữ ở chùa con, quyền bổ nhiệm người trú trì tương lai của chùa, rồi quyền quản lý tài sản của chùa con, v.v., bị nắm chặt hơn trong tay của chùa chính. Thời đại qua đi, những ngôi chùa chính lại tái biên tư cách của chùa con, và càng tăng cường mạnh việc quản lý chặt chẽ các chùa con hơn trước. Cùng với việc tiến hành cho chư tăng ở chùa con đến tham bái chùa chính trong những dịp lễ Húy Kỵ Tổ sư khai sáng Tông phái, lễ hội hằng năm, hay Đại Pháp Hội, các chùa chính đã ra quy định rằng chùa con phải cúng dường đúng lượng vào những dịp này. Từ đó, nảy sinh ra việc cạnh tranh nhau xây dựng, tu sửa già lam của chùa chính. Những ngôi già lam hùng vĩ hiện còn chính là sản phẩm của Chế Độ Chùa Chính Chùa Con này. Và mãi cho đến ngày nay, chế độ này vẫn còn tồn tại.
Chế Độ Nhà Đàn Việt
(檀家制度, Danka-seido, Đàn Gia Chế Độ): chế độ thắt chặt mối quan hệ giữa chùa chiền với tín đồ Phật tử theo điều kiện do các tự viện tiến hành một cách độc chiếm việc tang tế cúng dường của nhà Đàn Việt (Phật tử tại gia) kể từ thời Giang Hộ trở đi. Nguyên do thành lập nên chế độ này vốn phát xuất từ chính sách đàn áp Thiên Chúa Giáo của chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ; và tự viện là trợ lực trong việc thi hành chính sách này. Chế độ này sớm được thành lập vào năm 1634 (Khoan Vĩnh [寛永] 11), và 4 năm sau thì được tiến hành rộng rãi trên toàn quốc. Đối với người không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo thì bắt buộc phải có Bản Chứng Minh Chùa Công Nhận vốn do vị trú trì chùa ấy bảo chứng về thân phận người đó. Với khế cơ đó, các tự viện đã thành công trong việc cố định được những người sống gần chùa trở thành tín đồ của chùa. Việc này gọi là Chế Độ Xin Chùa Công Nhận (寺請制度, Terauke-seido). Sau đó, khi chính sách đàn áp Thiên Chúa Giáo của chính quyền Mạc Phủ càng được tăng cường ráo riết, thì quyền hạn của các tự viện cũng từ từ lớn mạnh thêm lên. Trong hai năm 1659 (Vạn Trị [萬治] 2) và 1662 (Khoan Văn [寛文] 2), theo như pháp chế của chính quyền Mạc Phủ thì Bồ Đề Tự (菩提寺, Bodai-ji) có trách nhiệm trong việc làm cho cải đổi tông môn của tín đồ Thiên Chúa Giáo; vì thế quyền hạn của của chùa lại càng vững mạnh hơn thêm. Đến năm 1687 (Trinh Hưởng [貞享] 4), pháp chế của chính quyền nêu rõ rằng nhà tín đồ phải có nghĩa vụ đến tham bái ngôi chùa mình quy y theo, tổ chức lễ kỵ giỗ cho song thân tại chùa, v.v. Nếu ai không chấp nhận quy chế như vậy thì sẽ bị loại trừ ra khỏi danh sách nhà Đàn Việt, bị dán cho nhãn hiệu là tín đồ Thiên Chúa Giáo và bị xử phạt. Hơn nữa, khoảng vào năm 1730 (Hưởng Bảo [享保] 15), phía các tự viện lại chế ra Luật Tông Môn Đàn Na Thỉnh Hợp, để nói rõ về những nghĩa vụ của người tín đồ đối với ngôi chùa của mình thế nào. Đó là những quy định như hằng ngày đến tham bái, tham dự các buổi lễ kỵ giỗ hằng năm, kỵ Tổ sư, ngày Phật Đản, ngày đức Thích Ca Nhập Niết Bàn, Vu Lan, v.v. Ngoài ra, người tín đồ buộc phải đảm đương về mặt kinh tế với nhiều danh mục như tiền xây dựng cũng như tân trang cùa chiền, tiền cống nạp cho ngôi chùa trung tâm bản sơn, v.v. Đương nhiên, việc tách ly khỏi chùa hay chuyển sang chùa khác thì bị nghiêm khắc cấm chỉ, còn người tín đồ thì không có quyền hạn lựa chọn ngôi chùa mình muốn theo. Nói tóm lại, Chế Độ Nhà Đàn Việt của chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ ban ra là chế độ do các tự viện quản lý một cách hoàn toàn các tín đồ tại gia, là tổ chức do tín đồ góp công nuôi sống các tự viện. Từ cuối thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911) trở đi, chế độ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay dưới hình thức môi giới nghi lễ tống táng. Tuy nhiên, do vì hàng tín đồ di chuyển chỗ ở của họ, rồi những công viên mộ tập thể ra đời, nên cũng có nhiều trường hợp thoát ly khỏi ngôi chùa họ quy y theo. Còn ở vùng nông thôn, trong số những ngôi chùa xưa nay nương nhờ vào sự bảo trợ của Chế Độ Nhà Đàn Việt này để tồn tại, thì cũng có không ít chùa đã trở thành hoang phế. Hơn nữa, ngày nay việc lo tống táng phần nhiều đều do các Công Ty Mai Táng đảm trách; nên nếu nói về mặt tín ngưỡng thì người tín đồ có quyền chọn lựa. Thêm vào đó, các nghi lễ tống táng theo kiểu Thần Đạo, Thiên Chúa Giáo, tân tôn giáo hay vô tôn giáo cũng rất thịnh hành; vì thế Chế Độ Nhà Đàn Việt do vị Trú Trì nắm quyền chủ đạo như dưới thời Giang Hộ, thì nay không còn nữa.
Chế Độ Thập Phương Trú Trì
(十方住持制, Juppōjūjisei): chế độ quy định khi cung đón vị Trú Trì mới về nhậm chức, các tự viện Thiền Tông không quan tâm đến quan hệ về pháp hệ cũng như môn phái của vị tăng ấy, mà tự do cung thỉnh chư vị danh tăng khắp các nơi trong thiên hạ về làm trú trì. Phần lớn những ngôi tự viện Lâm Tế Tông thuộc loại Ngũ Sơn Thập Sát như Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), v.v., đều thực hiện chế độ này.
Chế Độ Xin Chùa Công Nhận
(寺請制度, Terauke-seido, Tự Thỉnh Chế Độ): còn gọi là Tự Đàn Chế Độ (寺檀制度); là chế độ được chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ chế định ra vào năm 1664 (Khoan Văn [寛文] 4), để nhằm mục đích cấm chế Thiên Chúa Giáo cũng như Phái Không Nhận Không Cho, và ngăn chận việc cải tông của tín đồ. Cụ thể là xin phía tự viện chứng nhận rằng bản thân mình là tín đồ Phật Giáo, chứ không phải là giáo đồ của Thiên Chúa Giáo. Nhờ chế độ này được thi hành, người dân bắt đầu quyết định chùa nâo là Bồ Đề Tự (菩提寺, Bodai-ji) của mình, và gắn thêm nghĩa vụ cho biết rằng mình là tín đồ của chùa ấy. Tại các hộ dân thì bàn thờ Phật được thiết lập, rồi quy định tập quán cung thỉnh chư Tăng đến làm lễ và đó cũng là hình thức để bảo chứng số lượng tín đồ cũng như thâu nhập nhất định của chùa. Dưới thời Minh Trị Duy Tân, chế độ này quá căng thẳng và cuối cùng tạo nguyên nhân dẫn đến nạn Phế Phật Hủy Thích.
Chế 制
[ja] セイ sei ||| (1) Suppress, restrain. (2) Govern, rule. (3) To stop, to end. => Có các nghĩa sau: 1. Đàn áp, ngăn giữ. 2. Chi phối, thống trị. 3. Ngăn chặn, kết thúc.
chết
Gata (S), DeadXem Tử
; Theo Phật giáo, chết là giây phút mà A Lại Da thức rời bỏ thân nầy, chứ không phải là lúc tim ngừng đập hay óc ngừng làm việc—To die—To expire—To pass way—According to Buddhism, Death is the moment when the alaya consciousness leaves the body, not when the heart has stopped or brain waves can no longer be detected.
chết bịnh
To die of disease.
chết chìm
Drowned.
chết chỉ là sự hao mòn sinh lý của cơ thể
Death is only a physiological erosion of the human body.
chết chỉ là sự xa lìa giữa tâm và thân
Death is only a separation of mind and matter.
chết già
To die of old age.
chết hụt
To escape death very narrowly.
chết khát
To die of thirst.
chết khổ
Death is suffering.
chết mòn
To die gradually.
chết ngạt
To be suffocated.
chết oan
To die unjustly (innocently).
chết rét
To die of cold.
chết sống
Life and death.
chết sớm
To die early.
chết từ từ
Mandanusārin (S), Passing away slowly.
chết vì buồn rầu
To die out of grief.
chết vì lo sợ
To die of fright.
chết yểu
To live a short life.
chết đói
To die of starvation—To starve to death.
chết, sự chết
Marana (S) Death. Also tử.
chểnh mảng
Neglectful—Careless.
Chỉ
旨; C: zhĭ; J: shi;|1. Ngọt, ngon; 2. Mục tiêu, mục đích, ý chính; 3. Giáo lí, chỉ thị. Nội dung, đề tài; 4. Khéo tay, tài giỏi.
; 止; S: śamatha; P: samatha; T: zhi gnas;|1. Dừng lại, xong, chấm dứt; 2. Khiến dừng lại; làm cho dựng lại. Dừng, sự đình chỉ. Giới hạn. Ngừng nghỉ; 3. Duy chỉ; 4. Dừng lại các hành vi ác; 5. Thiền định, pháp thiền tập trung tâm ý, khác với pháp thiền phân tích (quán 觀), là sự tịnh chỉ, đồng nghĩa với Ðịnh (定; s, p: samādhi), Nhất tâm (一心; p: cittekagattā) và bất loạn (不亂; p: avikhe-pa). Ðó là một trong những yếu tố của thiện tâm.|Theo dòng Cách-lỗ (t: gelugpa) ở Tây Tạng, người ta còn phân biệt nhiều giai cấp của chỉ và nhập định là cấp cao nhất của chỉ. Muốn nhập định, hành giả phải chuyên tập chỉ và quán. Chỉ làm cho tâm bất loạn trong khi Quán (觀; quán sát với trí huệ) giúp hành giả quan sát phân tích những hiện tượng xung quanh, chứng được Chân như, tính Không.|Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, các chướng ngại của việc phát triển, tu tập chỉ được diệt trừ bằng: 9 cấp bậc của Tâm (九住心; Cửu trụ tâm; s: navākārā cittasthiti), 6 lực (六力; Lục lực; s: ṣaḍabala) và 4 hoạt động của tâm (四作意; Tứ tác ý).|I. Cửu trụ tâm là: 1. Nội trụ (內住; s: cittasthā-pana): sự tập trung cao độ vào đối tượng thiền quán; 2. Ðẳng trụ (等住; s: saṃsthāpana): Làm tâm vững chắc; 3. An trụ (安住; s: avasthānana): Trau dồi liên tục sự tập trung; 4. Cận trụ (近住; s: upasthānana): Chỉ chú tâm, chỉ đặt tâm vào phạm vi, giới hạn của đối tượng thiền quán; 5. Ðiều phục (調服; s: damana): Thuần hoá tâm; 6. Tịch tĩnh (寂靜; s: śamana): An tâm dạng thô; 7. Tối cực tịch tĩnh (最極寂靜; s: vyupaśamana): An tâm dạng tinh tế; 8. Chuyên trụ nhất thù chi lưỡng trụ (專住一殊之兩住; s: ekotīkaraṇa): Nhất tâm bất loạn; 9. Ðẳng trì (等持; s: samādhāna): Nhập định.|II. Lục lực bao gồm: 1. Thính văn lực (聽聞力): Lực để nghe Phật pháp (tương ưng I,1); 2. Tư duy lực (思惟力): Năng lực của tư duy về Phật pháp (tương ưng I, 2); 3. Niệm lực (念力): Năng lực của Niệm (tương ưng I, 3 và 4); 4. Chính tri lực (正知力): Năng lực của sự thông hiểu (I, 5 và 6); 5. Tinh tiến lực (精進力): Năng lực của sự tập trung (I, 7 và 8); 6. Xuyến tập lực (串習力; xuyến tập ở đây có nghĩa là đã thấm nhuần, quen thuộc lắm rồi): Năng lực của sự thuần hoá, quen thuộc tự nhiên (I, 9).|III. Tứ tác ý là: 1. Lực lệ vận chuyển (力勵運轉; Cố gắng vận động): Trong hai giai đoạn đầu thì tâm phải cố gắng nhiều mới an trụ nơi đối tượng (sở duyên), tạo mối liên hệ giữa tâm và đối tượng quán chiếu (tương ưng I, 1 và 2); 2. Hữu gián khuyết vận chuyển (有間缺運轉; một sự cố gắng còn gián đoạn, thiếu sót): Từ giai đoạn thứ ba đến thứ bảy thì sự tập trung vận chuyển vẫn còn khiếm khuyết. Tạo đi tạo lại sự tập trung vào đối tượng (tương ưng I, 3 đến 7); 3. Vô gián khuyết vận chuyển (無間缺運轉): Trong giai đoạn thứ tám thì tâm đã có khả năng an trụ vô gián nơi đối tượng (tương ưng I, 8); 4. Vô công dụng vận chuyển (無功用運轉); vận chuyển không cần dụng công): Trong giai đoạn thứ chín thì tâm thức an trụ nơi đối tượng một cách tự nhiên, vô công dụng (tương ưng I, 9).|Phương pháp trên được phát triển dựa theo nền tảng của Duy thức tông, được các tông phái tại Tây Tạng thống nhất sử dụng. Toàn bộ quá trình tu tập để đạt định thường được trình bày với những biểu tượng; hai khuynh hướng cản trở con đường tu tập là tâm đắm chìm, lừ đừ (hôn trầm) và hồi hộp không yên (trạo cử) được biểu tượng hoá bằng hai con thú: khỉ và voi. Trong quá trình tu tập chỉ thì hai con thú này dần dần được thuần hoá, chinh phục.
; [ja] シ shi ||| (1) To stop, to finish, to end. (2) To cause to stop; to bring to a halt. To cease, cessation. A limit. To rest in. (3) Only. (4) To stop harmful activities. (5) Stabilizing meditation, or concentration meditation as contrasted to analytical meditation 觀. => 1. Dừng lại, xong, chấm dứt. 2. Khiến dừng lại; làm cho dừng lại. Dừng, sự đình chỉ. Giới hạn. Ngừng nghỉ. 3. Duy chỉ. 4. Dừng lại các hành vi ác. Thiền định, pháp thiền tập trung tâm ý, khác với pháp thiền phân tích (quán觀) .
chỉ
Śamatha (S), Samatha (P), shinay (T), Tranquility Định quán, Tịch chiếu Minh Tịnh, Sa ma tha, Chỉ, Chỉ quán, Tịch tĩnhNgừng mọi vọng tưởng để tâm trở về trạng thái yên tĩnh. Một loại định, trong đó ngăn dứt các pháp bất thiện của các căn, lìa niệm tà vạy, diệt trừ phiền não tán loạn để tâm được vắng lặng.
; Samatha (S) .To stop, halt, cease. One of the seven definitions of the thiền định dhyàna described as samatha or samàdhi; it is defined as silencing, or putting to rest the active mind; also the mind centred, the mind steadily fixed on one place, or in one position. It differs from quán which observes, examines, sifts evidence. Chỉ has to do with dứt vọng getting rid of distraction for moral ends; it is abstraction, rather than contemplation. Chỉ quán. Samatha-vipasyanà (S). When the physical organism is at rest it is called chỉ; when the mind is seeing clearly it is called quán.
; 1) Chỉ: To point—To indicate. 2) Giấy: Paper. 3) Khi các cơ quan trong người nghỉ ngơi là chỉ, đối lại với “quán” là tâm trí nhìn thấu suốt rõ ràng: Physical organism is at rest, in contrast with contemplation is when the mind is seeing clearly. 4) Yên lặng hay yên tỉnh: Samatha (skt)—Quiet—Tranquility—Calm—Absence of passion—Cessation—Một trong bảy định nghĩa của Thiền Định, được diễn tả như là Xa-Ma-Tha hay Tam Ma Địa, có nghĩa là dẹp yên tâm loạn động, hay là để cho tâm yên định, dừng ở một chỗ. Tâm định chỉ ư nhứt xứ, khác với “quán” là xác nghiệm bằng chứng cứ. Chỉ là dẹp bỏ các vọng niệm, còn quán dùng để chứng nghiệm chân lý: One of the seven definitions of dhyana described as samatha or samadhi; it is defined as silencing, or putting to rest the active mind, or auto-hypnosis. The mind is centered or the mind steadily fixed on one place, or in one position. It differs from “contemplation” which observes, examines, sifts evidence. Samadhi or samatha has to do with getting rid of distraction for moral ends; it is abstraction, rather than contemplation. 5) Ngón tay: Finger. 6) Ngừng lại: To stop—To halt—To cease. 7) Ý chỉ: Will—Purport.
; (止) Phạm: Zamatha, Pàli: Samatha. Dịch âm: Xa ma tha, Xá ma tha. Còn gọi là Chỉ tịch, Đẳng quán. Là tên gọi khác của Thiền định. Tức là trạng thái ngưng bặt hết thảy tưởng nhớ, suy nghĩ mà để lòng chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng duy nhất. Tông Thiên thai đem Chỉ phối với ba quán Không, Giả, Trung, mà chia làm ba chỉ: 1. Thể chân chỉ, là Chỉ thấy rõ hết thảy đều không, là Chỉ đối ứng với Không quán. 2. Phương tiện tùy duyên chỉ, cũng gọi là Hệ duyên thủ cảnh chỉ. Tức là Chỉ trong đó Bồ tát dùng phương tiện thích ứng với mọi trường hợp hóa độ chúng sinh, an trụ nơi lí Giả đế mà không động, là Chỉ đối ứng với Giả quán. 3. Tức nhị biên phân biệt chỉ, gồm cả nghĩa thứ hai và thứ nhất, nhưng không nghiêng hẳn về hai bên không và có (hai cực đoan), là Chỉ trụ nơi trung đạo, Chỉ này đối ứng với Trung quán. Ma ha chỉ quán quyển 3 phần trên nói, Chỉ có ba nghĩa: 1. Là nghĩa thôi, nghỉ, tức là cái tướng khiến hết thảy các ác giác ác quán dứt bặt không khởi - đây là nói về quan điểm sở phá (những cái bị phá). 2. Là nghĩa dừng lại, tức là trạng thái khiến tâm duyên với đế lí, dừng lại trong đó, không động niệm - đây là nói về quan điểm năng chỉ (hay ngưng nghỉ). 3. Là nghĩa chẳng thôi nghỉ mà thôi nghỉ, tức do pháp tính chẳng sinh chẳng diệt, không sạch không nhơ, mà gọi là Chỉ - đây nói về quan điểm đế lí. Ngoài ra, thông thường Chỉ và Định (Tam ma địa) được coi là đồng nhất, tuy nhiên, cứ theo Du già lược toản quyển 5 nói, thì Chỉ và Định vẫn có điểm khác nhau, tức Tam ma địa thông cả định, tán, lại thông cả nhơ, sạch. Còn Xa ma tha (tức Chỉ) thì chỉ có ở trong định vị, chứ trong tán tâm thì không có - chỉ có trong vị hữu tâm chứ không có trong vị vô tâm. Lại thông thường Chỉ Quán được nói gộp lại là chỉ quán, tức là thu nhiếp tâm lực vào một chỗ, để phòng ngừa thần thức khỏi bay nhảy loạn động, đồng thời ngăn chặn vọng tưởng sinh khởi, đó gọi là Chỉ. Nếu có thể tiến lên bước nữa, mở bung chính trí mà quán chiếu các pháp, thì gọi là Quán. Vì thế nên biết tuy gộp chung cả hai làm một danh từ, nhưng cứ theo hình tướng thì ý nghĩa của Chỉ có tính cách tiêu cực, ngăn ngừa, còn Quán thì có ý nghĩa tích cực xây dựng. [X. kinh Tạp a hàm Q.21 - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.31 - kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22 - luận Đại thừa khởi tín - luận Du già sư địa Q.45 - Pháp giới thứ đệ Q.thượng]. (xt. Chỉ Quán).
chỉ bảo
To advise—To teach—To direct.
Chỉ bệnh
止病; C: zhǐbìng; J: shibyō; |»Bệnh» (mất quân bình) khi chú trọng thái quá đến thiền định (chỉ), và tin rằng nó có thể đưa đến giác ngộ. Vấn đề nầy được đề cập trong phẩm 10 của kinh Viên Giác.
Chỉ bệnh 止病
[ja] シビョウ shibyō ||| The "sickness" (imbalance) of overly emphasizing stabilizing meditation, and believing that it in itself can lead to enlightenment. This problem is discussed in Chapter 10 of the Yuanjue jing 圓覺經. => “Bệnh”(mất quân bình) khi chú trọng thái quá đến thiền định (chỉ), và tin rằng nó có thể đưa đến giác ngộ. Vấn đề nầy được đề cập trong phẩm thứ mười của kinh Viên Giác.
chỉ can châm chuỳ
(指竿針錘) Là những phương pháp thầy dùng để tiếp dẫn học trò trong Thiền lâm. Khi dạy đạo hoặc dùng ngón tay (chỉ, một ngón tay của Câu chi), hoặc dùng cây sào (can, Ca diếp dựng ngược cây sào trước chùa), hoặc dùng cây kim (châm, Đề bà bỏ cây kim vào bát nước), hoặc dùng cái kiểng (trùy, Văn thù đánh kiểng tập tăng) cho nên dùng bốn thứ trên (ngón tay, cây sào, cây kim, cái kiểng) để thí dụ. Phổ khuyến tọa thiền nghi (Đại 82, 1 trung), nói: Huống nữa, những chuyển cơ như ngón tay, cây sào, cây kim, cái kiểng, sự chứng hợp như dơ phất trần, nắm tay, cây gậy, tiếng hét v.v...… chưa dễ gì phân biệt mà có thể hiểu được vậy.
chỉ diệp
Palm-leaves.
chỉ doanh đắc nhãn tình dã lạc địa
(只贏得眼睛也落地) Chỉ được cái lời lãi là con mắt rơi xuống đất. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có nghĩa là không hiểu lí Phật, nói sai pháp Phật mà chịu báo ứng rụng lông mày, trụi râu ria, hơn nữa, ngay cả con mắt cũng rơi nốt. Bích nham lục tắc 8 (Đại 48, 148 trung) nói: Thúy nham cuối hạ bảo chúng: ‘Đầu hạ đến nay, đã vì anh em mà nói chuyện (mở miệng nào biết nói gì), hãy nhìn xem lông mày Thúy nham này còn không? Chỉ được lãi là con mắt rơi xuống đất và lỗ mũi cũng mất luôn’. Đoạn văn trên đây cho biết, trong thời kỳ hạ an cư, thiền sư Thúy nham đã nhiều lần lên tòa nói pháp cho đại chúng nghe. Nhưng đại ý thiền chỉ vốn là dứt đường nói năng, là tâm là Phật đó mới là cốt tủy, cho nên vào cuối kỳ an cư Thúy nham phải tự mình nói lỗi của mình trước, tự kiểm điểm trước, để sau khỏi bị người kể tội.
chỉ dẫn
To show—To explain.
chỉ hoa
(紙華) Hoa cúng làm bằng giấy đặt trước quan tài trong lễ tống táng. Còn gọi là Tứ hoa, Tố hoa, Tuyết liễu. Tục gọi là hoa giấy. Bên phải một lọ, bên trái một lọ, mỗi lọ bốn cành, hai bên họp lại là tám cành, dùng giấy trắng cắt thành hình răng lược, rồi quấn vào cây trúc để cắm. Hình hoa tượng trưng khi đức Phật Thích ca mâu ni nhập diệt bốn bên chỗ ngài nằm, đều có một đôi cây Sa la chung gốc. Các bên đều có một cây, vì thương xót sầu thảm mà biến thành mầu trắng, cành lá, hoa quả, vỏ cây đều khô héo rơi rụng dần dần. Bốn bên đều chỉ còn lại một cây, cho nên cây Song thụ cũng gọi là cây bốn khô bốn tươi. Thích thị yếu lãm quyển hạ Tống chung thiên, nói: dùng giấy trắng làm hoa sa la, dùng tám cây làm giường, biểu trưng tướng song lâm. Đây là nghi thức mà Trung quốc đã ứng dụng từ xưa. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 mục Trụ trì thiên hóa].
chỉ hoàn
See Chỉ Xuyến.
chỉ huy
To command.
chỉ hành nhị thiện
(止行二善) Là chỉ thiện và hành thiện nói gộp lại. Cũng nói là Chỉ trì tác trì, chỉ ác tu thiện, chỉ thiện tác thiện. Ngăn chặn nghiệp ác, xa lìa sự phạm tội, đó là chỉ thiện tiêu cực - tu hành nghiệp thiện, dũng mãnh tinh tiến, đó là hành thiện tích cực. Trong pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, Ngài Trí khải nói rõ rằng, trong mười nghiệp thiện đều có đủ hai nghĩa chỉ thiện và hành thiện. Như người không giết hại là ngăn cái ác giết hại và làm việc thiện phóng sinh. Vậy ngăn giết hại tức là chỉ thiện, phóng sinh tức là hành thiện. [X. Bách luận Q.thượng - Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.thượng - Luật tông cương yếu Q.thượng].
chỉ hứa lão hồ tri bất hứa lão hồ hội
(只許老胡知不許老胡會) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có nghĩa là đạo Phật chỉ có thể dùng chân trí mà thâm nhập, khế hợp chứ không thể dùng tri thức biện bác ngoài đời mà có thể hiểu hoặc lãnh hội được. Lão hồ (già Hồ), chỉ Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc, tức Ngài Bồ đề đạt ma. Ngài Đạt ma là người miền nam Thiên trúc, nhưng Trung quốc thấy ngài là người khác tộc đến từ phương tây, nên phần nhiều quen gọi ngài là Người Hồ. Thiền lâm cũng do đó gọi đùa ngài Đạt ma là Lão Hồ. Cái biết của lão Hồ, tức chỉ Trí của ngài Đạt ma, nhưng ở đây hàm ý thể hội chân lý, khế hợp với chân trí, cái hội của Lão Hồ thì chỉ tác dụng sau khi đã phân biệt phán đoán rồi sau mới hiểu và hợp với chân trí. Nhưng Phật đạo thiền chỉ đều phải dùng chân trí mà thể nhập khế ngộ, chứ không thể dùng công phu phân biệt phán đoán của thế trí biện thông, cho dù Tổ sư Đạt ma cũng không thể đem trí thức ngoài đời mà hiểu tỏ được. Bích nham lục tắc 51 (Đại 48, 186 hạ), nói: Các người có hiểu được câu rốt cùng không? Chỉ chấp nhận Lão Hồ biết, chứ không chấp nhận Lão Hồ hội. Từ xưa đến nay công án vạn biệt thiên sai, cũng giống như rừng gai gốc vậy.
chỉ không
(指空) (1289 – 1363) Phạm: Dhyàna-bhadra. Dịch âm: Đề nạp bạc đà, dịch ý là Thiền hiền. Là con vua nước Ma kiệt đề ở Ấn độ, tám tuổi xuất gia, y vào ngài Luật hiền ở chùa Na lan đà xuống tóc, truyền pháp của ngài Phổ minh ở núi Cát tường, nước Lăng già thuộc nam Ấn độ, là tổ thứ một trăm linh tám sau Tôn giả Ca diếp. Khoảng năm Thái định nhà Nguyên, sư đến Trung quốc, được nhà vua cúng dường, lại giáo hóa tại Vân nam, Quí châu. Năm Thái định thứ 4 (1327) sư đến Cao li, ở núi Kim cương mở đạo tràng hoằng pháp, sau lại được vua Nguyên triệu hồi, Hoàng hậu Thuận đế và Thái tử đón rước sư vào Diên hoa các để hỏi Phật pháp, đãi ngộ rất trọng hậu. Sau sư lại đi Cao ly, sáng lập chùa Hoa tạng trên núi Bảo phượng, mất mười hai năm mới hoàn thành. Sư đem các tượng tổ và kinh điển lá bối mà sư đã mang theo từ Ấn độ an trí trong chùa, đạo tục gần xa theo về tấp nập, nghiễm nhiên trở thành một đại tùng lâm, Thiền phong Cao ly nhân đó được phục hưng, và sư Chỉ không được coi như Lâm tế, Đức sơn trong các vị Phạm tăng. Sư có để lại Thiền yếu lục lưu hành ở đời - năm Chí chính 23 thị tịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. [X. Triều tiên kim thạch tổng lãm hạ Dương châu Cối nham tự Bạc đà tôn giả Chỉ không phù đồ bi].
chỉ không thiền sư
Dhyānabhadrā (S)Tên một vị sư (1289 - 1363).
Chỉ Không 指空
[ja] シクウ Shikū ||| Zhikong(?-1363) An Indian meditation master who traveled to East Asia, and had a strong influence on Korean Sŏn. He became a monk at an early age and studied Buddhism in various places during his travels. He eventually settled in Yangzhou at Yanjing 燕京, where he became involved with Korean monks such as Hyegŭn 慧勤. Because of these contacts he eventually traveled and taught in Korea. => c: Zhikong (?-1363) Một thiền sư Ấn Độ hành cước sang Đông Nam Á và có ảnh hưởng đến Thiền tông Cao Ly. Sư xuất gia làm tăng từ lúc còn nhỏ tuổi, và tham cứu Phật pháp rất nhiều nơi trên đường hành cước. Sau cùng sư trụ ở Giang Tô, Yên Kinh, nơi mà sư trở nên gắn bó với các tăng sĩ Cao Ly như Huệ Cần (k: Hyegŭn 慧勤). Nhờ những mối quan hệ nầy, cuối cùng sư sang giáo hoá ở Cao Ly.
chỉ kế
(指計) Chỉ sự suy lường, tính toán phân biệt. Như lập các têngiả phàm Thánh, sâu cạn, cao thấp, dài ngắn, tốt xấu v.v...… để suy tính phân biệt. Luận nhị thập tứ hành nói: Cuối cùng thấu suốt pháp tính, tu luyện chân như, mới biết dù trong gang tấc, không đâu không có, ngọc sáng soi khắp, tới chỗ sâu xa. Trên từ chư Phật, dưới đến côn trùng, tất cả đều là phân biệt vọng tưởng, tùy tâm tính toán.
chỉ lí tây quy
(只履西歸) Chỉ việc tổ Đạt ma tay cầm một chiếc giầy trở về Ấn độ. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chép, thì sau khi tổ Đạt ma ngồi mà hóa vào năm Thái hoà 19 (495) đời Hiếu văn đế nhà Ngụy, được an táng tại núi Hùng nhĩ, dựng tháp ở chùa Định lâm. Ba năm sau, sứ Ngụy là Tống vân phụng sứ đi Tây vực, trên đường về, gặp tổ ở dãy núi Thông lĩnh, tay cầm một chiếc giày, đang lững thững đi một mình, bèn hỏi tổ đi đâu, thì tổ đáp (Đại 51, 220 trung): Đi Tây thiên rồi Ngài bảo Tống vân: Chủ của ngươi đã chán đời. Tống vân nghe hoang mang, từ biệt tổ và đi vội về đông. Khi về đến triều thì quả nhiên Văn đế đã băng hà và Hiếu trang đế lên nối ngôi. Tống vân tâu bày việc gặp tổ Đạt ma, nhà vua sai mở tháp của tổ ra xem, thì thấy quan tài trống không chỉ còn lại một chiếc giày, cả triều đình đều kinh lạ, vua bèn sai mang chiếc giày về chùa Thiếu lâm để thờ. Năm khai nguyên 15 (727) đời Đường, chiếc giày ấy được dời lên chùa Hoa nghiêm trên núi Ngũ đài, sau bị mất trộm và cuối cùng không biết ra sao. [X. Tổ đình sự uyển Q.2]. (xt. Tống Vân).
chỉ man
Xem Ưng quật ma la.
; Angulimàla (S). The killer who was converted by the Buddha. Also Vô Não, Ương quật lị ma la.
; Angulimalya (skt)—See Ương Quật Ma La.
chỉ man kinh
Xem Ưng quật ma la Kinh.
; Angulimàla-sùtra (S). Sùtra of the story of Angulimàla.
chỉ môn
(止門) Vào chính định để thành tựu quán hành có sáu pháp môn (Lục diệu môn), Chỉ môn là thứ ba. Chỉ, có nghĩa là dứt bặt những tư lự lăng xăng, khiến tâm tĩnh lặng. Tức lấy chỉ làm cửa, không dõi theo hơi thở nữa mà để cho tâm ngưng lắng tịch lặng, tâm không lay động thì tự nhiên có thể khai phát được các Thiền định. Duy có điều là lúc này hành giả chưa phát được tuệ giải, vì còn chấp trước cảnh giới Thiền định. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng phần dưới]. (xt. Lục Diệu Môn).
Chỉ nam 指南
ja] シナン shinan ||| To teach, guide, instruct. Literally "point South" is derived from the indication of a compass. => Chủ trương, hướng dẫn, chỉ thị. Xuất phát từ kim của la bàn thường chỉ về hướng Nam.
chỉ nan
Nước Trung Quốc—China—See Chi Na.
chỉ nguyệt
Ngón tay chỉ trăng, hay tay chỉ thỏ trên trăng (ngón tay tiêu biểu cho kinh điển, và trăng tiêu biểu cho chân lý)—To point a finger at the moon, or to indicate the hare in the moon (the finger represents the sutras, the moon represents their truth (doctrines).
; (指月) Ngón tay và mặt trăng, dùng ngón tay thí dụ sự dạy bảo, dùng mặt trăng thí dụ pháp. Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 111 thượng) nói: Như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng để dạy người, người kia nhờ ngón tay sẽ thấy được mặt trăng. Nếu cứ nhìn ngón tay mà cho đó là thể của mặt trăng, thì người ấy không những không thấy được mặt trăng, mà còn quên cả ngón tay. Vì thế các kinh luận phần nhiều dùng tiếng Chỉ nguyệt để cảnh giác những người chấp nhặt vào danh tướng văn tự. Thiền tông dựa vào đó để phát huy giáo nghĩa Chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo.
Chỉ Nguyệt Lục
(指月錄, Shigetsuroku): 32 quyển, do Cù Nhữ Tắc (瞿汝稷) nhà Minh soạn, san hành vào năm thứ 30 (1602) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đây là bộ thâu lục các ngữ cú về cơ duyên, hành trạng khởi đầu với 7 vị Phật quá khứ, chư vị thánh hiền ứng hóa, 28 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ sư Đông Độ, 16 đời các bậc Thiền tượng; 2 quyển cuối cùng là ngữ yếu của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲).
chỉ nguyệt lục
(指月錄) Gồm ba mươi hai quyển. Còn gọi là Thủy nguyệt trai chỉ nguyệt lục. Do Cù nhữ tắc đời Minh soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 143. Sách này ghi chép và tường thuật sơ lược về tiểu sử và những câu nói cơ duyên của sáu trăm năm mươi vị tổ trong Thiền môn, kể từ bảy đức Phật quá khứ, các tổ sư Tây thiên, tổ sư Đông độ cho đến ngài Đại tuệ. Năm Vạn lịch 29 (1601) đời Minh, Nghiêm trừng (Đạo triệt) soạn Chỉ nguyệt lục phát nguyện kệ, năm sau, Cù nhữ tắc đề Thủy nguyệt trai chỉ nguyệt lục rồi cho khắc bản ấn hành. Quyển đầu có bài tựa gốc đề năm Mậu dần, mùa hè tháng 5 năm Vạn lịch 30, và bài tựa của Nghiêm trừng ở Ngô quận đề ngày 3 tháng 8 năm Vạn lịch 29. Lại nhà Nho Niếp tiên, hiệu Lạc độc, đời Thanh có soạn Tục chỉ nguyệt lục 20 quyển, thu chép từ năm Long hưng thứ 2 (1164) đời Nam Tống, bắt đầu từ đời thứ 17 sau Lục tổ và chấm dứt với đời thứ 38 vào năm Khang hy 18 (1697) đời Thanh.
chỉ phúc thân
Quan hệ bằng cách hứa hôn khi hai đức nhỏ trai và gái hãy còn trong thai mẹ—Related by the betrothal of son and daughter still in the womb.
chỉ phương lập tướng
Chỉ về hướng Tây, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà; trụ tâm vào cảnh giới của Đức Phật A Di Đà để cầu giải thoát—To point to the west, the location of the Pure Land, and set up in the mind the presence of Amitabha Buddha; to hold this idea, and to trust in Amitabha, and thus attain salvation. The mystics regard this as a mental experience, while the ordinary believer regards it as an objective reality.
; (指方立相) Một trong các pháp môn Tịnh độ. Tông Tịnh độ chỉ bày một phương là phương tây, tưởng nhớ quán xét các sự tướng y báo chính báo của cõi Tịnh độ cực lạc, để mong chúng sinh đời mạt pháp chuyên tâm, không tán loạn. Tông Tịnh độ chủ trương rằng, cõi Tịnh độ cực lạc trong đó đức Phật Di đà và các Bồ tát đều có hình tướng cụ thể, cho nên có thể làm đối tượng cho sự niệm Phật, quán tưởng Phật. Kinh Quán đính tùy nguyện vãng sinh quyển 11 (Đại 21, 529 hạ) nói: Người ở thế giới ta bà phần nhiều tham lam nhơ dục, người có lòng tin thì ít, tập theo tà ác thì nhiều. Không tin chính pháp, không thể chuyên nhất. Loạn tâm không có chí, thực không sai biệt. Vì muốn chúng sinh chuyên tâm có chỗ, nên mới tán thán cõi nước cực lạc. Lại A di đà kinh thông tán sớ quyển trung nói, vì phàm phu nặng nghiệp, chỗ nào cũng tham, nếu không chỉ hẳn một phương nhất định, thì không chuyên tâm chú ý. [X. luận Tịnh độ thập nghi - A di đà kinh sớ sao Q.2 phần 2 - Tịnh độ tư lương toàn tập Q.1].
Chỉ phạm
止犯; C: zhǐfàn; J: shibon;|Sai phạm hay tạo nghiệp ác qua sự »không làm« đúng vào lúc có những việc cần phải làm một cách tích cực.
chỉ phạm
Thụ động trong những việc thiện lành như không bố thí là “chỉ phạm”—Negative in not doing good. ** For more information, please see Tác Phạm and Chỉ Trì.
; (止犯) Là một trong hai phạm. Có nghĩa đình chỉ việc tu trì các pháp lành mà xúc phạm giới thể. Tức là tâm ngu dại biếng nhác kiêu căng, chán các nghiệp thiện không chịu tu học, phản bội những giới điều đã nhận lãnh, cho nên gọi là Chỉ phạm. (xt. Nhị Phạm).
Chỉ phạm 止犯
[ja] シボン shibon ||| To be wrong, or create bad karma by "not-doing" at the time when there is something positive to be done. => Sẽ là sai phạm hay tạo nghiệp ác, nếu 'không làm' đúng vào lúc có những việc cần phải làm một cách tích cực.
chỉ quan
Nón giấy, dùng để đốt cúng người chết—Paper hats, burnt as offerings to the dead.
chỉ quy
The purport, aim, or objective.
chỉ quy tịnh độ
The way back to the Pure Land.
Chỉ quy 指歸
[ja] シキ shiki ||| The import, gist, main point, or meaning of a text or teaching. => Vấn đề quan trọng, ý chính, điểm chính, ý nghĩa của một bộ kinh hay giáo lý.
Chỉ Quán
(止觀, shikan): Chỉ là ý dịch của từ Xa Ma Tha (s: śamatha, p: samatha, 奢摩他); Quán là ý dịch của từ Tỳ Bát Xá Na (s: vipaśyanā, p: vipassanā, 毘鉢舍那). Trong Thiền định, có 2 phương diện Chỉ và Quán. Chỉ là nhắm đến việc thống nhất tinh thần để đạt đến trạng thái tịch tĩnh vô niệm vô tưởng. Quán nghĩa là quán sát tư duy chư pháp thông qua trí tuệ. Và ta cũng có thể cho Chỉ là Định, Quán là Tuệ. Trong 4 cõi Thiền định của Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), Quán được xem là nhiều hơn. Trong 4 cõi Thiền định của Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界), Chỉ được xem như là nhiều hơn. Trong cõi định của Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界) thì chỉ có Quán mà không có Chỉ. Từ cõi Sơ Thiền của Sắc Giới trở lên, trong Quán có thêm yếu tố của Chỉ, rồi trong cõi định của Bốn Vô Sắc Giới thì Quán dần dần giảm đi và Chỉ mạnh lên. Trong cõi định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處) cũng như diệt tận định của Vô Sắc Giới thì tác dụng của Tuệ tưởng niệm quán sát hầu như mất hẳn, và trở thành trạng thái vô niệm vô tưởng. Còn trong các cõi Thiền định, cõi Tứ Thiền thì Chỉ và Quán ngang nhau, hay trạng thái Chỉ Quán đồng hành, tương truyền rằng sự thành đạo cũng như nhập diệt của đức Phật đều được thực hiện ngay nơi cõi Tứ Thiền này.
chỉ quán
Xem Chỉ. Xem định huệ
; Samatha and Vipasyana (skt)—Xa Ma Tha Bì Bát (Bà) Xá Na—Chỉ có nghĩa là đình chỉ, quán là quán đạt. Như vậy chỉ quán là đình chỉ vọng niệm để quán đạt chân lý—Ceasing and reflecting—Quieting and reflecting—Quiet, tranquility and absence of passion. 1) Khi cơ thể ngừng nghỉ là “Chỉ”: When the physical organism is at rest it is called “Stop” or “Halt.” 2) Khi tâm đang nhìn thấy một cách rõ ràng là “Quán”: When the mind is seeing clearly it is called “Contemplation.” ** For more information, please see Tam Chủng Chỉ Quán.
; (止觀) I. Chỉ quán. Là một pháp môn tu hành quan trọng của Phật giáo. Ý nghĩa tiêu biểu của pháp môn này đã được các kinh luận giải thích rõ như sau: 1. Là pháp môn thực tiễn của tông Thiên thai. Chỉ là dịch từ tiếng Phạm zamatha (xa ma tha), Quán là dịch từ tiếng Phạm vipazyanà(tì bà xá na). Ngưng bặt hết thảy ngoại cảnh và vọng niệm, chuyên chú vào một đối tượng duy nhất (Chỉ) - đồng thời, sinh khởi trí tuệ chân chính, để quán xét đối tượng duy nhất ấy (Quán) gọi là Chỉ quán, tức chỉ cho hai pháp Định và Tuệ. Còn gọi là Tịch chiếu, Minh tĩnh. Định, Tuệ và Giới đều là những đức mục trọng yếu của Phật giáo đồ, các kinh A hàm đối với các đức mục này có nhiều bàn giải. Chỉ và Quán giúp nhau, tác thành cho nhau, cả hai có mối quan hệ hỗ tương bất khả phân, hệt như hai cánh chim và hai bánh xe. Nhân vật tiêu biểu đem pháp thực tiễn của tông Thiên thai mà giáo nghĩa hóa, tổ chức hóa và thể hệ hóa, là đại sư Trí khải. Tác phẩm Ma ha chỉ quán của sư đã dùng ý nghĩa Chỉ quán để cấu thành thể hệ của nó, và dùng ba phép quán thực tiễn Không, Giả, Trung mà hoàn thành tổ chức của nó. Khi giải nói về danh nghĩa của Chỉ, Quán, trong Ma ha chỉ quán quyển thượng phần trên, Chỉ và Quán đều được lập thành ba nghĩa gọi là ba Chỉ, ba Quán. Ba nghĩa của Chỉ: a. Chỉ tức nghĩa. Nghĩa là phiền não vọng tưởng dứt hẳn, ngưng bặt. b. Đình chỉ nghĩa. Nghĩa là chuyên tâm vào đế lí, chú ý ở trước mắt, dừng lại, không động. c. Đối bất chỉ chỉ nghĩa. Nghĩa là đối với cái không dừng lại mà nói rõ nghĩa của cái dừng lại. Tức là vô minh và pháp tính chẳng phải là hai, nhưng đứng về phương diện tương đối mà bàn, nên gọi vô minh là Bất chỉ và gọi pháp tính là Chỉ để dùng cái Bất chỉ mà nói rõ cái Chỉ. Ba nghĩa của Quán: a. Quán xuyên nghĩa. Nghĩa là trí phán xét thông suốt, khế hợp với chân như. b. Quán đạt nghĩa. Nghĩa là trí quán xét thông suốt, kết hợp với chân như. c. Đối bất quán quán nghĩa. Tức đối với cái chẳng quán mà nói rõ nghĩa quán. Có nghĩa là Vô minh và pháp tính chẳng phải hai, nhưng đứng về phương diện tương đối mà bàn, nên gọi vô minh là Bất quán, gọi pháp tính là Quán để dùng Bất quán mà nói rõ Quán. Cũng sách đã dẫn còn nói Chỉ và Quán có đủ cả nghĩa tương đãi (tương đối) và tuyệt đãi (tuyệt đối). Tương đãi Chỉ Quán bao quát ba Chỉ ba Quán nói ở trên, tức là: a. Nghĩa chỉ tức là nghĩa quán xuyến, là nói về đoạn đức (đức dứt phiền não) của môn tu (môn thực tiễn). b. Nghĩa đình chỉ và nghĩa quán đạt là nói về trí đức (đức trí phát sinh sau khi đã dứt phiền não). c. Nghĩa đối bất chỉ chỉ và nghĩa đối bất quán quán là nói về tính đức (hai đức trí, đoạn xưa nay vốn là đức pháp tính chẳng hai). Tuyệt đãi chỉ quán còn gọi là Bất tư nghị chỉ quán, Vô sinh chỉ quán, Nhất đại sự chỉ quán. Nó chẳng phải là đạo của lời nói, chẳng phải cảnh của tâm thức, vì nó diệt tuyệt, tuyệt diệt, nên gọi là Tuyệt đãi chỉ - vì đã dứt trừ hết điên đảo vọng tưởng, nên gọi là Tuyệt đãi quán. Tức là cõi siêu việt tuyệt đãi, Chỉ và Quán đều không thể được, là cảnh giới hết nói năng, dứt nghĩ tưởng, nhưng nếu có nhân duyên bốn Tất đàn, thì có thể nói đủ các thứ pháp. Ngoài ra sư Trí khải còn có 3 loại Chỉ quán, do ngài Tuệ tư truyền. Đó là: a. Tiệm thứ chỉ quán, giữ giới tu định để dần dần ngộ nhập thực tướng. Đây là phép thực tiễn được nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn 10 quyển. b. Bất định chỉ quán, vì năng lực thích ứng với tính chất của chúng sinh, nên thứ tự thực tiễn của nó cũng bất định. Đây là phép thực tiễn được nói trong Lục diệu môn 1 quyển. c. Viên đốn chỉ quán, lúc đầu lấy thực tướng làm đối tượng, mà làm và hiểu cũng nhanh chóng trọn đủ. Đây là phép thực tiễn được nói trong Ma ha chỉ quán 10 quyển. Trong đó, lấy Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên, là chỉ quán viên đốn của lí luận thực tiễn, làm pháp môn hơn hết. [X. luận Thành thực Q.15 phẩm Chỉ quán - Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu - Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.1 - Thích thiền Ba la mật pháp môn Q.7 - Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán]. 2. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín nói về phương pháp tu hành môn chỉ quán là: ngăn dứt hết thảy tướng của cảnh giới tán loạn mà thuận theo Xa ma tha (Chỉ) - phân biệt các tướng nhân duyên sinh diệt mà thuận theo Tì bà xá na (Quán), lấy hai nghĩa ấy tu tập dần dần, không xa lìa nhau mà được thành tựu. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa ký Q.hạ phần cuối]. (xt. Ngũ Hành). 3. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan, dịch Xa ma tha là Chỉ - Chỉ là dừng tâm ở một chỗ không làm ác - dịch Tì bà xá na là Quán, Quán là duyên tâm theo sự quán xét. (xt. Ngũ Niệm Môn). 4. Luận thành thực quyển 15 phẩm Chỉ quán đã nói rộng về hành tướng của chỉ quán. Đó là: Chỉ là định - Quán là tuệ, hết thảy pháp lành từ nơi tu mà sinh, đều nhiếp trong Chỉ quán. Chỉ có khả năng ngăn chặn - Quán có khả năng đoạn diệt. Chúng sinh ở thế gian đều rơi vào hai bên, hoặc khổ hoặc vui - Chỉ có khả năng bỏ vui, Quán có khả năng lìa khổ. Lại giới tịnh, tâm tịnh trong bảy tịnh là Chỉ, năm tịnh còn lại là Quán - trong bốn chỗ ghi nhớ thì ba chỗ là Chỉ, chỗ thứ tư là Quán - sáu cái biết trong tám biết của bậc Đại nhân là Chỉ, hai cái biết còn lại là Quán - bốn như ý túc là Chỉ, bốn chính cần là Quán - bốn căn trong năm căn là Chỉ, Tuệ căn là Quán - bốn lực trong năm lực là Chỉ, Tuệ lực là Quán - trong bảy giác phần ba giác phần là Chỉ, ba giác phần là Quán, còn niệm giác phần thì cả Chỉ và Quán đều có - ba phần trong tám đạo phần là giới, hai phần là Chỉ - ba phần là Quán, trong đó giới cũng thuộc về Chỉ. Ngoài ra Chỉ có thể dứt bỏ tham, Quán thì có thể trừ diệt vô minh. 5. Kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 30 nêu ra hai lí do tu tập Chỉ và Quán: a. Vì muốn không buông thả,trang nghiêm đại trí, được tự tại mà tu tập Xa ma tha (Chỉ). b. Vì quán xét quả báo xấu ác của sự sống chết, tăng trưởng căn lành, phá các phiền não, mà tu tập Tì bà xá na (Quán). Vì Chỉ quán là pháp tu trọng yếu của người tu hành quán hạnh, nên trong các kinh luận, như luận Du già sư địa quyển 45, Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 15 và Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu v.v...… đã nói đến rất nhiều. [X. Trung a hàm Q.15 kinh Tam thập dụ - kinh Trường a hàm Q.9 - kinh Tăng nhất a hàm Q.11 - Lục diệu pháp môn - Chỉ quán đại ý - Thủ hộ quốc giới chương Q.thượng phần dưới]. (xt. Tam Thập Thất Đạo Phẩm). II. Chỉ quán. Tên sách, là tên gọi tắt của Ma ha chỉ quán, do Đại sư Trí khải giảng thuật, ngài Quán đính ghi chép. (xt. Ma ha Chỉ quán).
chỉ quán bất nhị
(止觀不二) Chỉ, có nghĩa pháp tính lặng yên - Quán, có nghĩa lặng yên mà thường chiếu rọi. Chỉ, như gương sáng nước lặng - Quán, như gương sáng nước lặng hiện bóng muôn tượng, vì thế, Chỉ và Quán thực là một thể, chứ chẳng phải hai. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 đoạn 2 (Đại 46, 151 hạ) nói: Trung đạo tức pháp giới, pháp giới tức Chỉ quán - chỉ quán chẳng hai, cảnh trí ngầm hợp.
chỉ quán huyền văn
See Ma Ha Chỉ Quán.
chỉ quán hòa thượng
Đạo hiệu của Sư Đạo Thúy đời Đường—A name for the T'ang monk Tao-Sui.
chỉ quán luận
See Ma Ha Chỉ Quán.
chỉ quán nghiệp
(止觀業) Chỉ cho học nghiệp Chỉ quán. Là một trong hai nghiệp (Chỉ quán nghiệp, Già na nghiệp) mà những học sinh của Thiên thai Pháp hoa viên tông tại Nhật bản phải tu học, do sư Tối trừng của Nhật bản dâng sớ xin soạn vào tháng 1 năm Diên lịch 25 (806). Chỉ quán nghiệp là học tập các kinh Pháp hoa, Kim quang minh, Nhân vương v.v...… và lấy giới viên đốn tu chỉ quán (tức định tuệ) để thành tựu ba học của Thiên thai viên tông. Già na nghiệp tức học tập kinh Đại tì lô giá na (kinh Đại nhật) để thông suốt chân ngôn Mật giáo. [X. Hiển giới luận duyên khởi - Thiên thai pháp hoa tông niên phần duyên khởi].
chỉ quán nghĩa lệ
(止觀義例) Gồm hai quyển. Do ngài Trạm nhiên đời Đường soạn, còn gọi là Ma ha chỉ quán nghĩa lệ, Viên đốn chỉ quán nghĩa lệ. Thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này dùng bảy khoa tóm tắt ý chỉ trọng yếu của bộ Ma ha chỉ quán, để nói rõ một cách đại khái về môn quán của Thiên thai. Bảy lệ là: 1. Sở truyền bộ biệt lệ. 2. Sở y chính giáo lệ. 3. Văn nghĩa tiêu thích lệ. 4. Đại chương tổng biệt lệ. 5. Giải hành tương tư (giúp lẫn nhau) lệ. 6. Tâm cảnh thích nghi (giải thích mối ngờ) lệ. 7. Dụ nghi hiển chính lệ. Các bản chú sớ về sách này thì có: Chỉ quán nghĩa lệ khoa 1 quyển của Tòng nghĩa, Chỉ quán nghĩa lệ toản yếu 6 quyển, Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích 6 quyển của Xử nguyên. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25].
Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết
止觀輔行傳弘決; C: zhǐguān fǔxíng chuán hóngjué; J: shikan fukōten kōketsu;|40 quyển.|Chỉ quản đả toạ|只管打坐; J: shikantaza; nghĩa là »Chỉ phải ngồi thiền«;|Một cách ngồi thiền theo Thiền tông không có sự hỗ trợ của các phương pháp khác như đếm hơi thở hoặc quán Công án. Theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Chỉ quản đả toạ – an trụ trong một tâm trạng vô tư nhưng tỉnh táo, không nương bám vào vật gì – là dạng siêu việt nhất của toạ thiền, là phương pháp toạ thiền của chư Phật, Tổ.
Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết 止觀輔行傳弘決
[ja] シカンブコウデンコウケチ Shikan fukōten kōketsu ||| The Zhiguan fuxing zhuan hongjue; 40 fasc. T 1912.46.141a-446c. => (c: Zhiguan fuxing zhuan hongjue; j: Shikan fukōten kōketsu ); 40 quyển.
chỉ quán phụ hành truyện hoằng quyết
(止觀輔行傳弘决) Do ngài Trạm nhiên (711-782) ở Kinh khê đời Đường soạn. Gồm bốn mươi quyển. Nói đủ là Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, gọi tắt: Ma ha chỉ quán hoằng quyết, Chỉ quán hoằng quyết, Phụ hành, Hoằng quyết. Thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này vốn chia làm 10 quyển, mở rộng ra làm bốn mươi quyển, là sách chú thích bộ Ma ha chỉ quán, cũng là tác phẩm có uy tín cao nhất trong việc nghiên cứu bộ Ma ha chỉ quán, dẫn dụng rất nhiều sách khác. Sau do vị tăng người Nhật là Tối trừng truyền về Nhật bản. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời Bắc Tống được thu vào tạng. Về sách chú sớ thì có: Ma ha chỉ quán phụ hành sưu yếu kí 10 quyển của ngài Trạm nhiên. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, Q.11, Q.25 ].
chỉ quán thập quán
See Chỉ Quán Thập Định.
chỉ quán thập định
Chỉ Quán Thập Quán hay mười quán của chỉ quán (mười cảnh sở đối của chỉ quán) của tông phái Thiên Thai—The T'ien-T'ai's ten fields of meditation or concentration: 1) Ấm Giới Nhập: Aggregates—Spheres—Entrances. a) Ngũ Ấm: The five Aggregates. b) Thập Bát Giới: Astadasa-dhatavah (skt)—Eighteen Spheres. c) Thập Nhị Nhập: Dvadasayatanani (skt)—The twelve entrances. 2) Dục Vọng và Phiền Não: Passion and delusion. 3) Bệnh Hoạn: Sickness. 4) Nghiệp Chướng: Karma Forms. 5) Ma Sự: Mara-deeds. 6) Thiền Định: Dhyana. 7) Tà Kiến: Wrong theories. 8) Tăng Thượng Mạn: Arrogance. 9) Nhị Thừa: The two vehicles. 10) Thập Bồ Tát: Bodhisattvahood.
chỉ quán tâm định nhứt xứ
Quán tưởng bằng cách ngừng suy tưởng hay loại bỏ những loạn động từ đó tâm có thể định tỉnh vào một nơi hay một vị trí. Có nhiều cách quán—Contemplation by stop thinking or getting rid of distraction so that the mind can be steadily fixed on one place or in one position. There are three methods of attaining such abstraction: 1) Định vào một điểm cố định như mũi hay rún: To fix the mind on the nose or navel. 2) Ngừng mọi suy tưởng khi chúng mới khởi dậy: To stop every thought as it just arises. 3) Định vào tánh không của vạn hữu: To dwell on the thought that nothing exists of itself, but from a preceeding cause.
chỉ quán tông
Một tên khác của Tông Thiên Thai vì tông nầy lấy chỉ quán hành làm gốc, mục đích chính là định tâm bằng những phương pháp đặc biệt để thấu triệt chân lý và loại trừ phiền não—Another name for the T'ien-T'ai Sect because its chief object being concentration of the mind by special methods for the purpose of clear insight into truth, and to be rid of illusion.
chỉ quán xả
1) Chỉ quán đều xả để chỉ trụ nơi pháp giới bình đẳng—Indifference to or abandonment to both “stop” and “contemplation”, such as to rise above both into the universal. 2) Chỉ-Quán-Xả là ba phép tu thiền định trong Phật giáo: Three methods of Buddhist cultivation or practice. • Chỉ: Samatha or samadhi (skt)—See Chỉ (2) (3) (4). • Quán: Vipasyana (skt)—See Quán. • Xả: Upeksa (skt)—See Xả.
; (止觀舍) Chỉ, có nghĩa là ngưng dứt vọng niệm, hoặc dừng lại ở nơi đế lí mà không động - Quán, có nghĩa là dùng trí tuệ chiếu rọi suốt các phiền não mà diệt trừ, hoặc trí quán xét thông suốt, khế hợp chân như. Xả, tiếng Phạm: Upekwaø,dịch âm: Ưu tất xoa, gồm các nghĩa bình đẳng, không tranh, không quán, không làm. Chỉ quán xả, có nghĩa là buông bỏ cả Chỉ và Quán mà trụ nơi bình đẳng. Tức là ở trạng thái Chỉ quán chẳng hai.Ma ha chỉ quán quyển 3 phần trên (Đại 46, 22 hạ), nói: Chỉ tức là dứt, dứt suốt giải thoát - Quán tức là trí, trí suốt bát nhã. Chỉ quán bình đẳng, gọi là bỏ tướng, bỏ tướng tức là suốt với Pháp thân. [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.30 - Đại thừa nghĩa chương Q.10].
chỉ quán đại ý
(止觀大意) Có một quyển. Do ngài Trạm nhiên đời Đường soạn. Còn gọi Ma ha chỉ quán đại ý, Viên đốn chỉ quán đại ý. Thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này thuật rõ các điểm then chốt của bộ Ma ha chỉ quán, nêu ra các mục đại cương như Năm lược mười rộng, Bốn thứ tam muội, Hai mươi lăm phương tiện, Mười thừa quán pháp v.v... trình bày một cách khái quát. Là sách chỉ nam vào cửa Chỉ quán cho những người mới học.
chỉ quán đả tọa
Shikantaza (J)Xem Trí Quan.
Chỉ quán 止觀
[ja] シカン shikan ||| (1) The two basic forms of Buddhist meditation (śamatha-vipaśyanā): śamatha 止 (奢摩他) and vipaśyanā 觀 (毘婆舍那). The former is usually rendered into English with such terms as 'stabilizing meditation' and 'calm abiding.' It refers to meditative practices aimed at the stilling of thought and development of concentration 定. The latter is translated with such terms as 'analysis' or 'clear observation' and refers to the application of one's concentration power to the embodiment of a Buddhist description of reality, such as dependent origination 縁起. (2) An abbreviation of the title of the Mohe zhiguan 摩訶止觀. => 1. Hai pháp thiền căn bản của Phật giáo: chỉ 止 (xa-ma-tha奢摩s: śamatha) và quán 觀 (tỳ-bát-xá-na毘婆舍那s: vipaśyanā). Chỉ thường được dịch sang tiếng Anh là 'stabilizing meditation' và 'calm abiding.' Là pháp tu thiền nhắm vào làm an tĩnh tâm ý và phát huy sức tập trung (định 定). Quán được dịch là 'analysis' hay 'clear observation', là áp dụng định lực quán sát sự biểu hiện một ý niệm dẫn đến thực tại trong Phật pháp, như duyên khởi 縁起. 2. Viết tắt tên luận giải Ma-ha Chỉ Quán (c: Mohe zhiguan 摩訶止觀).
chỉ quản đả toạ
(只管打坐) Một lòng chuyên chú ngồi Thiền, không màng đến các việc khác. Tức chẳng quản ngồi thiền có ý nghĩa và điều kiện gì, nhưng chỉ đứng trên lập trường chẳng cần được, chẳng cầu ngộ mà ngồi thiền một cách thực tiễn, thế thôi. Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản là ngài Đạo nguyên, noi theo truyền thống Mặc chiếu thiền của Trung quốc, lãnh thụ ý chỉ Tham thiền tức là ngồi thiền của ngài Thiên đồng Như tịnh mà nhấn mạnh pháp môn ngồi thiền Chỉ quản đả tọa (chỉ cần ngồi). Hòa thượng Tuyết đình dạy chúng (được thu trong Thiền quan sách tiến tiền tập chư tổ pháp ngữ tiết yếu) (Đại 48, 1103 thượng), nói: Chẳng màng được sức hay không được sức, mờ tối tán loạn hay chẳng mờ tối tán loạn, mà chỉ cần tỉnh thức! Chính pháp nhãn tạng quyển 32 (Đại 82, 243hạ), nói: Các bậc cổ đức nói rằng, người tham thiền phải quên thân tâm. Chỉ cần ngồi là được, chẳng cần thắp hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, đọc kinh. [X. Truy môn cảnh huấn Q.6 - Phổ khuyến tọa thiền nghi].
chỉ quất dịch độ tập
(枳橘易土集) Gồm hai mươi sáu quyển. Do sư Tuệ hoảng (1656-1737) người Nhật bản soạn. Thu tập các tiếng Phạm trong các kinh luật luận, sắp đặt theo thứ tự năm mươi âm của tiếng Nhật rồi dịch và giải thích từng mục một. Tên gọi của bộ sách là lấy thí dụ cây Quất (quít) ở Giang nam được mang đến trồng ở Giang bắc, thì biến giống mà thành cây Chỉ (Bưởi đắng) để biểu thị cái ý Phạm Hán đối dịch. Toàn tác phẩm chia làm mười lăm bộ. Vốn thu vào Phạm học tân lương. Năm Minh trị 38 (1905), đề là Phạm ngữ Tự điển, ấn hành phổ biến.
Chỉ sự 指事
[ja] シジ Shiji ||| The short title of the 華嚴五教章指事. => Tên gọi tắt của Hoa Nghiêm ngũ giáo chương chỉ sự華嚴五教章指事.
chỉ tay
Lines of the palm.
chỉ thiên
To point to heaven.
chỉ thẳng
Xem Trực chỉ nhân tâm.
chỉ thố
See Chỉ Nguyệt.
chỉ thủ chi thanh
(只手之聲) Còn gọi là chích thủ âm thanh. Là công án do Thiền sư Bạch ẩn Tuệ hạc thuộc tông Lâm tế của Nhật bản đặt ra. Hai tay vỗ vào nhau tự nhiên phát ra tiếng mà tai phàm phu nghe được, nhưng chỉ giơ một tay lên thì không tiếng không vang, nếu chẳng phải là tai tâm thì không thể nghe được. Thiền sư Bạch ẩn dùng nó để dẫn đạo người tham thiền, nhấn mạnh sự xa lìa mọi thấy nghe hay biết, chẳng cần nghĩ lường phân biệt, chỉ cần trong khoảng đi đứng ngồi nằm không lúc nào không tham cứu, cứ như thế tất sẽ đi đến chỗ lí cùng ngôn tận mà lật đổ bể nghiệp sống chết, phá tan hang ổ vô minh. [X. Bạch ẩn hoà thượng toàn tập Q.4].
chỉ tiết
Anguli-parvan (skt). 1) Đơn vị đo lường tương đương với 1/24 cánh tay: Hasta (skt)—A measure, the 24th part of a forearm. 2) Lóng tay: Finger-joint.
; (指節) Phạm: Aíguli-parvan. Còn gọi là Chỉ nhất tiết. Tên thước đo của Ấn độ đời xưa. Tức chiều dài bằng bảy hạt đại mạch (hạt thóc tẻ có tua). Thuyết xếp đốt ngón tay để thành khuỷu tay có khác nhau. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, luận Đại tì bà sa quyển 136, đều lấy hai mươi bốn đốt tay làm một khuỷu tay. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 12, lấy hai mươi tám đốt làm một khuỷu. Luận Câu xá và Đại đường tây vực kí thì lấy bảy mươi hai đốt làm một khuỷu. Lại nữa. Về tỷ lệ chiều dài của một khuỷu với thước đo của Trung quốc cũng có các thuyết khác nhau. Cứ theo Câu xá luận bảo sớ quyển12 và kinh Tạo tượng lượng độ giải, thì một khuỷu tay theo Ấn độ, tương đương với một tầm bốn phân thời xưa, tức là hai thước Trung quốc. Câu xá luận quang kí quyển 12 thì bảo một thước sáu tấc. Tuệ uyển âm nghĩa quyển 10 bảo một thước 5 tấc. Bởi thế về một khuỷu mà đã có các thuyết khác nhau như thế, thì về một đốt cũng khó có một chuẩn tắc nhất định. (xt. Nhất Trửu).
chỉ tiền
Tiền giấy, đốt để cúng người chết theo tập tục của một số dân tộc ở Á Châu—Paper money, burnt as offerings to the dead, as custom of some peoples in Aisa.
; (紙錢) Còn gọi là Âm tiền, Ngụ tiền, Nghĩ tiền. Tức là tiền giấy. Tại Trung Quốc từ đời Hán, Ngụy trở đi, nảy sinh ra tập tục bỏ tiền vào quan tài để chôn theo cho người chết tiêu dùng. Tiền ấy được gọi là ế tiền .(ý là tiền chôn, cất), về sau cấm chỉ chôn tiền thật mà làm tiền giấy giả để thay thế. Thiền tông khi lễ cầu siêu, hoặc trong hội Vu lan bồn, phần nhiều xâu tiền giấy lại, rồi cùng với con kinh mã......(con ngựa vẽ trên bức tranh) đem treo lên cột nhà, chờ khi pháp hội hoàn tất, đem bỏ vào trong chiếc bát đồng mà đốt. Ngoài ra còn một thuyết được lưu truyền rất thịnh trong dân gian là, nếu người chết muốn giảm nhẹ tội nghiệp, thì phải đem tiền ký thác vào kho bạc dưới âm phủ, cho nên tiền giấy cũng gọi là kí khố tiền (tiền gửi kho). [X. Thích thị yếu lãm Q.trung - Phật tổ thống kỉ Q.33 - Minh báo kí Q.trung]
Chỉ trì
止持; C: zhǐchí; J: shiji; |Làm các việc thiện bằng cách tu tập đình chỉ các việc ác. Giữ giới có nghĩa là kiềm chế không phạm các việc ác.
chỉ trì
Tự kiểm bằng cách giữ giới hay ngừng làm những việc tà vạy—Self-control in keeping the commandments or prohibitions relating to deeds and words—Ceasing to do wrong.
chỉ trì giới
Stopping offences by keeping commandments—See Chỉ Trì.
chỉ trì môn
See Chỉ Trì.
; (止持門) Còn gọi Chỉ trì giới, Chỉ ác môn. Ý nói giữ gìn giới thể đã nhận, chấm dứt mọi ác nghiệp, là phương diện giữ giới có tính tiêu cực. Đối lại là Tác trì môn . hàm ý không những chỉ giữ giới pháp đã nhận,mà còn tích cực tu các nghiệp thiện, gộp chung lại với Chỉ trì môn, gọi là Chỉ tác nhị trì. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung đoạn 4 Trì phạm phương quĩ thiên - Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ tự]. (xt. Nhị Trì).
chỉ trì tác phạm
Đối với các ác pháp (sát, đạo, dâm, vọng) thì đình chỉ. Tự thân tránh làm các việc ác và giúp tha nhân tránh làm các việc ác—Stopping offences, ceasing to do evil, preventing others from doing wrong.
; (止持作犯) Đứng về phương diện các điều ác, như giết hại, trộm cướp mà nói, thì Chỉ (thôi, dừng lại) là giữ giới, mà Tác (làm) là phạm giới. Trái lại, đối với các pháp lành, như từ bi, mà nói, thì Chỉ là phạm giới, mà Tác là giữ giới.
chỉ trì ác phạm
Ceasing to do evils.
Chỉ trì 止持
[ja] シジ shiji ||| Doing good by the practice of ceasing to do evil. Keeping the precepts that are concerned with restraint. => Làm các việc thiện bằng cách tu tập đình chỉ các việc ác. Giữ giới có nghĩa là kiềm chế không phạm các việc ác.
chỉ trích
To criticize.
Chỉ trích 指摘
[ja] シテキ shiteki ||| (1) To point out. (2) Disclose, expose. => 1. Vạch ra. 2. Phơi bày ra, vạch trần ra.
Chỉ trú
止住; C: zhǐzhù; J: shijū; |An trú; xa-ma-tha (śamatha, upasthita).
Chỉ trú 止住
[ja] シジュウ shijū ||| Calm abiding; śamatha, (upasthita). => An trú; xa-ma-tha (śamatha), (upasthita).
Chỉ tác nhị trì
止作二持; C: zhǐzuò èrchí; J: shisa niji;|»Sự tuân thủ vào sự thực hiện hay không thực hiện«. Hai phương cách tu tập thiện pháp. Một bằng cách dừng hẳn, không tạo việc ác, cách kia là làm việc thiện.
Chỉ tác nhị trì 止作二持
[ja] シサニジ shisa niji ||| "Two observances of doing and not-doing." Two ways of maintaining or cultivating goodness. One is by negating of stopping evil, the other is by creating or doing good actions. => “Sự tuân thủ vào sự thực hiện hay không thực hiện”. Hai phương cách tu tập thiện pháp. Một bằng cách dừng hẳn, không tạo việc ác, cách kia là làm tất cả việc thiện.
chỉ tên
To denominate.
chỉ tĩnh
(止靜) Ý là khiến đại chúng nghỉ ngơi, yên tĩnh. Cũng chỉ sự bắt đầu ngồi thiền. Lại khi ngồi thiền, sau khi vị trụ trì ngồi yên rồi, người Trực đường (chức vụ trông nom các việc hàng ngày trong nhà Thiền) buông mành cửa trước cửa sau xuống rồi dóng ba tiếng chuông (chuông nhỏ), gọi là chuông chỉ tĩnh. Sau chuông chỉ tĩnh, đại chúng phải chuyên tâm ngồi yên lặng, không ai được ra vào, cho đến khi đánh chuông khai tĩnh (tức là hết giờ ngồi thiền) mới thôi. (xt. Khai Tĩnh). CHỈ TRA SƠN Phạm: Kftàgiri, Pàli: Kiỉàgiri. Còn gọi là Kê sá sơn. Dịch ý là núi đen. Là tên làng tại nước Ca thi (Pàli: Kàsi) thuộc trung Ấn độ. Kinh Chỉ tra sơn ấp (Pàli: Kiỉàgirisuttanta) trongTrung bộ kinh 17 Nam truyền đã lấy sự tích phát sinh tại làng này làm nội dung, nói rằng, ở đây có hai tỉ khưu xấu ác là A tát cơ (Pàli : Assaji) và Phất na bà tu (Pàli: Punabbasuka) không chịu tuân theo giới ngày ăn một bữa mà đức Thế tôn đã chế định cho chúng tỉ khưu. Lại cứ theo Nam truyền luật tạng kinh phân biệt ký chép, thì những tỉ khưu ấy trồng hoa, rồi kết hoa làm vòng đeo tai, buộc lên đầu, đeo ở ngực để làm cho những người con gái nhà lành đẹp lòng mà cùng nhảy múa vui chơi, cuối cùng bị giáo đoàn trục xuất. Do đó đức Phật mới chế định Ô gia tăng tàn giới thứ 13. [X. Trung a hàm kinh Thấp cụ - luật Tứ phần Q.5 - luật Ngũ phần Q.3].
chỉ tịnh
Dvangulakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
Chỉ tức
止息; C: zhǐxí; Jshisoku:; |1. Tiến hành việc dừng hẳn khổ đau; 2. Hán dịch chữ śamatha (xa-ma-tha 奢摩他) trong tiếng Phạn; 2. Hán dịch chữ śramana (Sa-môn 沙門).
chỉ tức
Thở đều và mềm mại, nhưng luôn tập trung vào tâm hay là ngưng thở một chút bằng cách tự kiểm soát để mang tâm về tĩnh lặng—To stay breathing steadily and softly, but focus on the concentration of the mind (or stop breathing for a short while by self-control to bring the mind to rest).
Chỉ tức 止息
[ja] シソク shisoku ||| (1) To bring about the cessation of suffering. (2) A Chinese translation of the Sanskrit śamatha 奢摩他 (shemata). (3) A Chinese translation of śramana 沙門. => 1. Tiến hành việc dừng hẳn khổ đau. 2. Hán dịch chữ śamatha (xa-ma-tha 奢摩他 ) trong tiếng Sanskrit. 3. Hán dịch chữ śramana (sa-môn 沙門).
chỉ và quán
tức xa-ma-tha và tỳ-bà-xá-na, được phiên âm từ các Phạn ngữ śamatha và vipaśyan, theo truyền thống luôn được dịch là chỉ và quán. Chỉ nghĩa là “dừng lại”, có ý nghĩa tu tập sự định tâm, dứt mọi vọng niệm; quán nghĩa là “quán xét”, có ý nghĩa tu tập nhận thức đúng thật, sáng suốt về thực tại. Vì thế, xét về kết quả tu tập thì hai pháp tu chỉ và quán cũng được gọi là định và tuệ, vì chỉ giúp đạt được định và quán giúp đạt được tuệ. Kinh điển Đại thừa thường đề cập đến định và tuệ nhiều hơn.
chỉ vũ pháp
(止雨法) Là phép tu trong Mật giáo để cầu dứt giông bão, mưa lụt. Còn gọi là Chỉ phong vũ. Phép này có nhiều thứ, cứ theo Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp chép, thì lấy cây gai và hạt cải trắng đốt ra và trì chú căn bản một trăm linh tám biến, thì tan mưa gió. Bản tôn cũng nhiều, gồm có Hỏa thiên, Ma na tư long vương, Ca lâu la thiên, Bất động minh vương, Kim cương tát đóa và Bồ tát quán tự tại. Cứ theo Phó pháp truyện quyển thượng chép, thì Tam tạng Kim cương trí từng tu Bất không câu bồ tát pháp chỉ vũ, tức lấy bồ tát Bất không câu làm bản tôn. [X. kinh Kim cương quang diệm chỉ phong vũ đà la ni - kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ Q.1 - kinh Uế tích kim cương cấm bách biến pháp - Pháp uyển châu lâm Q.63].
chỉ xuyến
Nhẫn tay, đôi khi được làm bằng cỏ, Mật giáo hay dùng trong nghi lễ—Finger-ring; sometime made of grass used in ceremonies by the esoteric sect.
chỉ y
Quần áo bằng giấy, đốt cúng người chết—Paper clothes, burnt as offerings to the dead.
; (紙衣) Tức áo may bằng giấy, thuộc một loại áo thô. Còn gọi là Chỉ quyên (lụa giấy), Chỉ bào (áo dài giấy), Chỉ y (áo giấy). Lấy củ của cây cỏ mực, cỏ củ, rửa sạch, luộc chín để nguội đến một độ vừa phải, rồi bóc vỏ đi, giã ra làm hồ, dùng hồ dán giấy dày thành áo, sau khi phơi khô, lấy tay xoa cho mịn. Rồi đem phơi sương một đêm thì mùi hồ bay hết. Chất áo cứng đủ để che mưa phùn và gió rét. Nhẹ và tiện lợi, phí tổn cũng ít, đời xưa rất nhiều người mặc loại áo này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.44].
chỉ ác môn
See Chỉ Trì.
chỉ ác tu thiện
(止惡修善) Là chỉ ác và tu thiện nói gộp lại. Cũng gọi là Chỉ ác hành thiện, Phế ác tu thiện, Đoạn ác tu thiện. Chỉ ác, tức là thân không làm các việc giết hại, trộm cướp, tà dâm, miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói độc ác, nói thêu dệt, ý không tham lam, giận dữ, tà kiến, và các tội khác như đánh đập, trói buộc, giam cầm người khác một cách vô lí oan ức. Tức là đừng làm các điều ác thuộc giới môn (môn răn cấm). Tu thiện, tức thân làm các việc chắp tay cung kính đối với mọi người, miệng nói những lời chân thật, hòa hợp, nhu thuận, lợi ích, ý nghĩ những điều tốt lành, thương quí và hính tín. Tức là làm các việc thiện thuộc khuyến môn (môn khuyến hích). [X. Bách luận Q.thượng phẩm Xả tội phúc - Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng].
chỉ đa
See Chất Đa.
chỉ đa mật
Gītamitra (S)Sa HữuMột Sa môn Ấn độ dịch kinh tại Kiến Khương trước năm 420.
chỉ đát
Jetavaniyah or Jetiyasailah (skt)—Trường phái của những người trên núi Chỉ Đát, một tông phái của Thượng Tọa Bộ—School of the dwellers on Mount Jeta or school of Jetrvana, a subdivision of Sthavirah.
chỉ đông tác tây
(指東作西) Chỉ đông làm tây. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ việc trái ngược nhau. Còn gọi là chỉ đông hoạch tây. Cũng dùng để biểu thị sự không hiểu chân lí thiền xưa nay vốn không có đông tây khác nhau. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 157 hạ) nói: Túc tôn hoàng đế (chính là Đại tôn, ở đây ghi lầm) hỏi quốc sư Trung: Trăm năm sau, phải cần vật gì? Gãi trước chờ ngứa, quả nhiên khởi cách thức vẽ hình dạng, già già cả cả, nói thế rồi đi, chẳng thể chỉ đông làm tây.
chỉ đường
To point out the way.
chỉ đạo
To lead—To guide.
chỉ đạo luận
Netti (S), Netti-pakarana (S)Đạo luận.
; (指導論) Pàli: Netti-pakasaịa. Còn gọi Đạo luận. Là tác phẩm tiếng Pàli tại Tích lan, sách chỉ dẫn cách chú thích các kinh điển. Không rõ tên người soạn. Trong Chỉ đạo luận chú, ngài Đa ma đa la (Pàli: Dhammapàla) bảo, tác giả sách này là ngài Ma ha ca chiên diên (Pàli: Mahàkaccàna)- đệ tử của đức Phật. Nhưng, theo sự suy luận của các học giả cận đại, thì có thể đã do một học giả nam Ấn độ soạn sau này, rồi được người ta dán cho cái tên của đệ tử Phật. Lại trong Trung bộ chú (Pàli: Papaĩcasùdanì, ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa), đã từng dẫn dụng các câu văn trong sách này. Như vậy, cứ đó mà suy, thí ít nhất sách này đã tồn tại ở Tích lan vào khoảng thế kỉ thứ V Tây lịch. Sách này nhắm vào những nhà chú thích mà được làm ra, trong sách nêu lên các phương pháp mười sáu phạm trù (Pàli: hàra), năm phương pháp (Pàli: naya), mười tám câu căn bản (Pàli: mùlapada) v.v...… để chỉ bảo (chỉ đạo) các nhà chú thích phải hiểu rõ giá trị của các kinh điển, phát huy công năng và ý nghĩa của chúng, ngõ hầu chân nghĩa được xác thực, không lầm lỗi để lưu truyền đến đời sau. Mười sáu phạm trù: 1. Nói bày (Pàli: Desana). 2. Lựa chọn (Pàli: Vicaya). 3. Hợp lí (Pàli: Yutti). 4. Khởi điểm (Pàli: Padaỉỉhàna). 5. Đặc tướng (Pàli: Làkkhaịa). 6. Bốn nghiêm (Pàli: Catu-bùha). 7. Dẫn chuyển (Pàli: Àvatta). 8. Phân biệt (Pàli: Vibhatti). 9. Hồi chuyển (Pàli: Parivattana). 10. Dị ngữ (Pàli: Vevacana). 11. Thi thiết (Pàli: Paĩĩatti). 12. Thâm nhập (Pàli: otaraịa). 13. Thanh tịnh (Pàli: Sodhana). 14. Quan thuyết (Pàli: Adhiỉỉhàna). 15. Đủ duyên (Pàli: Parikkhàra). 16. Đề cử (Pàli: Samàropana) v.v...… Năm phương pháp : 1. Hoan hỉ dẫn chuyển (Pàli: Nandiyàvatta), dùng thiện pháp Chỉ, Quán đối trị các pháp bất thiện vô minh, khát ái để dẫn tới cảnh giải thoát vui mừng. 2. Tam tịnh (Pàli: Tipukkhala), kết hợp câu bất thiện căn bản với câu thiện căn bản để mong được thanh tịnh hóa mà giải thoát. 3. Sư tử du hí (Pàli: Sìha-vikkìơita), đem thiện pháp tín căn để đối trị phiền não, khiến được bốn quả thánh. 4. Tứ phương thiếu vọng (Pàli: Disàlocana) nhìn xa bốn phương, xem xét các pháp thiện và bất thiện được nói trong kinh điển. 5. Câu sách (Pàli: Aíkusa, móc tìm). Sau khi xem xét đem tất cả pháp thiện và bất thiện đã tìm được, thu tập thành loại vào mười tám câu căn bản. Mười tám câu căn bản là: a. Khát ái (Pàli: Taịhà). b. Vô minh (Pàli: Avijjà). c. Tham (Pàli: Lobha). d. Sân (Pàli: Dosa). e. Si (Pàli: Moha). f. Tịnh tưởng (Pàli: Subha-saĩĩà). g. Lạc tưởng (Pàli: Sukha-saĩĩà). h. Thường tưởng (Pàli: Nicca-saĩĩà). i. Ngã tưởng (Pàli: Atta- saĩĩà) Chín câu trên đây là những câu bất thiện (Pàli: Cakusada) căn bản. j. Chỉ (Pàli: Samatha). k. Quán (Pàli: Vipassanà). l. Vô tham (Pàli: Alobha). m. Vô sân (Pàli: Adosa). n. Vô si (Pàli: Amoha). o. Bất tịnh tưởng (Pàli: Asudha saĩĩà). p. Khổ tưởng (Pàli: Dukkha- saĩĩà). q.Vô thường tưởng (Pàli: Aniccasaĩĩà). r. Vô ngã tưởng (Pàli: Anatta-saĩĩà). Chín câu trên đây là những câu thiện (Pàli: Kusala) căn bản để đối trị những câu bất thiện căn bản. Toàn sách chia làm bốn chương : 1. Phân biệt phạm trù (Pàli: Hàravibhaíga) nói rõ đặc trưng của các phạm trù. 2. Sự ứng dụng của các phạm trù (Pàli: Hàrasampàta), phân giải mọi chi tiết của các kinh điển, nêu rõ chúng thuộc phạm trù nào. 3. Phương pháp duyên khởi (Pàli: Nayasamuỉỉhàna) thuyết minh năm phương pháp. 4. Khởi điểm của giáo thuyết (Pàli: Sàsanapaỉỉhàna), ứng dụng mười tám câu căn bản, nêu rõ sự phân loại các kinh điển để thuyết minh. Năm 1902, sách này được Cáp địch (E. Hardy) hiệu đính, do Hiệp hội xuất bản thánh điểnPàli (P.T.S) xuất bản. [X. Bản dịch tiếng Anh Introduction, 1962 của Nànamoli - Petakopadesa …… (Thủy dã hoằng nguyên, Ấn Phật nghiên 7-2)].
chỉ đầu hữu nhãn
(指頭有眼) Đầu ngón tay có mắt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hình dung sự bén nhọn của lời nói. Bích nham lục tắc 42 (Đại 48, 178 trung) nói: Tuyết đẹp như bông, không rơi ở nơi khác. (không có gió mà sóng dậy, đầu ngón tay có mắt).
chỉ đắc nhất quyết
(只得一橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có nghĩa là chỉ chứng được một nửa pháp. Quyết, nguyên chỉ cái cọc gỗ nhỏ, hoặc là khúc cây ngắn dựng ở phía trong cửa, dùng làm then cài cửa ngõ. Thông thường dùng hai chiếc cọc mới có tác dụng. Cho nên, trong Thiền lâm dùng từ Chỉ đắc nhất quyết (chỉ được một cọc) để thí dụ mới chỉ chứng được một nửa pháp, hoặc hiểu biết một nửa, đều không có tác dụng hoặc ý nghĩa gì đáng nói.Thung dung lục tắc 6 (Đại 48, 231 thượng), nói: Đường đường ngồi dứt đầu lưỡi (chết rồi chẳng sống lại), nên cười ông già ở thành Tì da (chỉ được một cọc).
chỉ đề tiền
(止啼錢) Tiền làm cho nín khóc. Là phương pháp làm cho đứa bé nín khóc. Thí dụ như đưa cho đứa bé một chiếc lá vàng và bảo đó là vàng, dùng thí dụ này làm phương tiện để dẫn đường kẻ yếu kém tiến lên. Có xuất xứ từ kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 20 phẩm Anh nhi hạnh. Trong Thiền tông, đối với những người học trò chỉ biết cố thủ những khuôn mẫu cứng nhắc,không thể thoát li sự trói buộc, thì phải đặt nhiều phương tiện để nói pháp. Tuy không thể giải quyết vấn đề một cách thực tế, nhưng nếu làm theo, thì có thể chuyển đổi được sự thấy lầm của người học. [X.Thung dung lục tắc 7].
chỉ để khả bộ
See Chi Đề Sơn Bộ.
chỉ định
To designate.
chỉ ấn
Ký tên bằng cách in dấu tay cái—To sign by a thumb-mark; a sign.
Chỉ 指
[ja] シ shi ||| (1) A finger (aṅguli), a thumb. (2) Same as 指節 "finger-joint"--an ancient Indian unit of length, like an inch. => 1. Ngón tay (s: aṅguli), ngón tay cái. 2. Đồng nghĩa với “chỉ tiết” (指節 e: finger-joint)—đơn vị đo chiều dài thời cổ của Ấn Độ, chừng một inch (2,54 cm).
Chỉ 旨
[ja] シ shi ||| (1) Sweet, tasty. (2) Object, aim, gist. (3) Teaching, instruction. Purport, theme. (4) Skillful. => 1. Ngọt, ngon. 2. Mục tiêu, mục đích, ý chính. 3. Giáo lý, chỉ thị. Nội dung, đề tài. 4. Khéo tay, tài giỏi.
Chỉ 止
[ja] シ shi ||| (1) To stop, to finish, to end. (2) To cause to stop; to bring to a halt. To cease, cessation. A limit. To rest in. (3) Only. (4) To stop harmful activities. (5) Stabilizing meditation, or concentration meditation as contrasted to analytical meditation 觀. => 1. Dừng lại, xong, chấm dứt. 2. Khiến dừng lại; làm cho dừng lại. Dừng, sự đình chỉ. Giới hạn. Ngừng nghỉ. 3. Duy chỉ. 4. Dừng lại các hành vi ác. 5. Thiền định, pháp thiền tập trung tâm ý, khác với pháp thiền phân tích (quán觀) .
Chỉ-Quán
止觀; C: zhǐguān; J: shikan; S: śamatha-vipaś-yanā; P: samatha-vipassanā; J: shikan;|1. Hai pháp thiền căn bản của Phật giáo: chỉ (止, còn gọi xa-ma-tha 奢摩他, s: śamatha) và quán (觀, tì-bà-xá-na 毘婆舍那, s: vipaśyanā). Chỉ thường được dịch sang tiếng Anh là »stabilizing meditation« và »calm abiding.« Là pháp tu thiền nhắm vào làm an tĩnh tâm ý và phát huy sức tập trung (định 定). Quán được dịch là »phân tích« hay »quán sát rõ ràng«, là áp dụng định lực quán sát sự biểu hiện một ý niệm dẫn đến thực tại trong Phật pháp, như duyên khởi (縁起); 2. Viết tắt tên bài luận giải Ma-ha chỉ quán (摩訶止觀). |Một phép tu đặc biệt của Thiên Thai tông ở Trung Quốc. »Chỉ« nói sự lặng yên, tịch tĩnh của tâm thức, đạt cảnh vô phân biệt, »Quán« là quán xét phù hợp với sự thật. Chỉ là trạng thái phải đạt được để có thể quán xét đúng đắn. Các vị luận sư ví Chỉ như một hồ nước tĩnh lặng và Quán là những con cá bơi lượn. Trong một số tác phẩm được lưu hành tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, phép Chỉ-Quán được truyền bá rộng rãi, nhất là Ma-ha chỉ quán của Trí Khải Ðại sư.|Cách tu tập Chỉ-Quán bao gồm hai phần: Phần chuẩn bị và phần chính. Phần chuẩn bị bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho việc tu tập (順境; thuận cảnh); giảm các nhu cầu hằng ngày (少慾; thiểu dục); điều hoà các hoạt động hằng ngày như ăn uống, ngủ, thân, hơi thở và tâm (離多所作; li đa sở tác); chuyên chú vào việc trì giới (清淨律儀; thanh tịnh luật nghi).|Trong phần chính, hành giả thực hiện nhiều cách Chỉ-Quán khác nhau. Người ta phân biệt ba cách tu chỉ: 1. Chú tâm vào chóp mũi; 2. Thuần phục tâm bằng cách nhận ra sự khởi động, phát sinh của ý nghĩ và lập tức gián đoạn nó ngay; 3. Nhận thức được nguyên lí Duyên khởi (s: pratītyasamutpāda) và tính Không (s: śūnyatā) của vạn vật.|Quán được thực hành theo nhiều cách khác nhau: 1. Quán bất tịnh; 2. Quán tâm Từ (s: maitrī) để đối trị tâm sân hận; 3. Quán những hạn chế, không trọn vẹn, không hoàn hảo trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo) để hàng phục ngã kiến; 4. Quán tính không của các Pháp (s: dharma). – Tất cả những cách tu luyện trên có thể được thực hành trong mọi hoạt động thân thể hằng ngày.|Kế theo đó là việc phòng hộ các giác quan (Nhiếp căn) và tu chỉ ở đây được hiểu là sự nhận thức được tính huyễn của tất cả những hiện hữu, phòng ngừa sự xuất hiện của hai tâm trạng đối đãi là yêu và ghét. Quán là sự hướng nội của tâm trong khi thụ nhận những tin tức từ những giác quan, với mục đích là nhận thức được tính vô sắc, vô tướng của tâm. – Cuối cùng hành giả phải quán tưởng đến tính chất »phi thật« của hiện hữu để trực ngộ được tính không của chúng và ý nghĩa tột cùng của Trung đạo.
Chỉnh dung 整容
[ja] セイヨウ seiyō ||| To tidy the appearance; shaving, fixing the hair, etc. => Chỉnh trang diện mạo; gọn gàng râu tóc.
chỉnh huấn
Reeducation course.
Chỉnh nghi 整儀
[ja] セイギ seigi ||| See 偏袒右肩 biantianyoujian. => Xem Thiên đản hữu kiên (偏袒右肩 biantianyoujian).
chỉnh tề
Well-groomed.
chỉnh đốn
To reorganize.
chịu khó
To take pain to do something—To take troubles to do something.
chịu oan
To suffer an injustice.
chịu thiệt hại
To bear a loss.
chịu thua
To yield—To give in.
chịu tội
To plead guilty.
chịu đựng
To endure—To undergo.
chọc tức
To make someone angry.
chọn
To adopt.
chối từ
To refuse—To decline.
chống
To oppose—To resist.
chống báng
To resist—To oppose.
chống lại
To reject—To oppose
chống tôn giáo
Anti-religions
chống đỡ
To protect—To support.
chồng chất
To accumulate—To pile up.
chỗ tối
Darkness.
chớ hẹn đến già rồi hẳn tu, mồ kia lắm kẻ tuổi còn xanh
Do not wait until old age to cultivate (recite the Buddha's name),we can find in the cemetery many young people's graves.
chớ để hụt chuyến nhập phẩm
Let us not miss our place among the nine Lotus Grades.
chớp nhoáng
With lightening speed.
chờ chết
To await death.
chờ hẹn
Procastination.
chờ xong việc nhà mới niệm phật
Waiting until they have fulfilled their family obligations before reciting the Buddha's name.
chợp mắt
To close (shut) one's eyes.
chợt nghe
To overhear.
chợt nhớ
To remember suddenly.
chợt tỉnh
To awake.
chợt tỉnh giấc mơ xuân
To awake from the worldly dream.
chủ
Nāṭa (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
; 1) Chủ: Chief. 2) Chúa: Master—Lord. 3) Làm chủ: To control. 4) Một loại hươu, mà bộ lông đuôi được người đời dùng làm roi, nhưng Tăng Ni bị cấm không được dùng: A greta deer, whose tail is used as a fly-whi, but the use of which is forbidden to monks and nuns.
chủ bính tại thủ
(主柄在手) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bính, là cái cán của đồ vật để cầm. Cầm cán trong tay tức có thể điều khiển đồ vật một cách tự do. Vì thế, chủ bính tại thủ có ý nghĩa là chủ quyền nắm giữ trong tay. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cái trọng tâm nắm bắt sự vật mà vận dụng một cách tự tại.
Chủ bạn
主伴; C: zhǔbàn; J: shuban;|1. Chủ và người giúp việc; chủ yếu và thứ yếu; chủ và khách; thể và dụng (體用); 2. Đức Phật và các vị Bồ Tát.
chủ bạn
Chief and attendant—Principal and secondary.
; (主伴) Chỉ chủ và bạn. Tức là chủ thể và theo thuộc nói gộp lại. Khi tông Hoa nghiêm nói về Pháp giới duyên khởi, nếu lấy cái này làm chủ thì lấy cái kia làm bạn - như thế thì chủ bạn đầy đủ mà nhiếp đức vô tận, gọi là Chủ bạn cụ túc. Lại vạn hữu đều là chủ, mà cũng đều là bạn, tương tức tương nhập, trùng trùng vô tận, gọi là Chủ bạn vô tận. Như tông Hoa nghiêm nói Chủ bạn viên minh cụ đức môn trong mười huyền môn, tức là chỉ nghĩa này. Lại tông Tào động trong Thiền tông, thường lấy chủ làm chính, bạn làm thiên mà thuyết minh pháp Chính thiên hồi hỗ. Thiền tông còn dùng câu Chủ bạn đồng hội, nghĩa là chủ (Phật) và bạn (Bồ tát) cùng chiếu cùng hội - biểu thị trạng thái bình đẳng không sai biệt. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Thập Huyền Môn, Chủ Bạn Viên Minh Cụ Đức Môn).
chủ bạn viên minh cụ đức môn
(主伴圓明具德門) Là một trong mười huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này đứng về phương diện quả mà nói, để phá mối nghi ngờ mê chấp không hiểu được rằng, một pháp tức là hết thảy pháp. Có nghĩa là, trong các pháp, hễ lấy một pháp làm chủ thì tất cả các pháp khác là bạn, bao bọc lẫn nhau, là xướng là tùy, chủ bạn nương nhau mà không chướng ngại, cũng như các vì tinh tú đều xoay chung quanh Bắc đẩu. Thí dụ đức Như lai nói pháp Viên giáo, lí không trơ trọi mà phải có quyến thuộc sinh theo. Do vậy, chư Phật Bồ tát trong mười phương đều là chủ bạn của nhau, lớp lớp giao hòa, cùng một lúc nói pháp môn Viên giáo, pháp môn ấy là xứng tính cực đàm, đầy đủ mọi đức. Nếu có thể biết rõ ràng như thế, thì phàm quán một pháp, tức đều đầy đủ vô tận đức tướng. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4 - Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
chủ công đức
(主功德) Là một trong hai mươi chín thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc. Chia làm hai loại: 1. Là một trong tám thứ công đức trang nghiêm của Phật. Tức chỉ công đức trang nghiêm của Phật A di đà, chủ của thế giới cực lạc, được chúng sinh cung kính. 2. Là một trong mười bảy thứ công đức trang nghiêm của cõi nước. Tức chỉ y báo trang nghiêm của Tịnh độ cực lạc, đều do sự khéo trụ trì của Phật A di đà mà có. Hai loại trên đây có xuất xứ từ luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân, kệ của loại trước là (Đại 26, 231 thượng): Chúng trượng phu trời, người, cung kính vây chung quanh. Kệ của loại sau là (Đại 26, 231 thượng): A di đà chính giác, Pháp vương khéo trụ trì. Theo sự giải thích trong Tịnh độ luận chú quyển thượng của sa môn Đàm loan, thì kệ trước lấy sự cung kính của trời, người làm chủ công đức, vì thế, là công đức chính báo của Phật - kệ sau lấy năng trụ trì để hiển bày công đức của sở trụ, cho nên thuộc công đức y báo của cõi nước. Tuy nhiên, hai kệ trên đều gọi là Trang nghiêm chủ công đức thành tựu. Ngoài ra, cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ, Thập nhị lễ của bồ tát Long thụ, Thập địa kinh luận v.v... thì chủ công đức trong công đức của Phật, là lấy sự cung kính của đại chúng để hiển bày đức tối thắng của Phật và biểu thị sự tuyệt luân của chủ đức. Sự cung kính cũng hàm nghĩa là cúng dường.
chủ củng
(chủ củng) Là một loại kết cấu bằng gỗ trong kiến trúc. Còn gọi là Đẩu củng . Cái kết cấu hình cung ở chỗ đầu cột và xà ngang giao tiếp nhau gọi là củng. Cái khối gỗ hình đấu kê ở giữa khoảng củng với củng, gọi là chủ. Kinh Dược sư như lai bản nguyện (Đại 14, 402 thượng), nói: Cõi nước của đức Phật kia rất là thanh tịnh. (... ) thành quách, cửa khuyết, tường, vách, cửa sổ, nhà, gác, cột, xà, đẩu củng, lưới giăng chung quanh, tất cả đều làm bằng bảy thứ báu, y như nước Cực lạc, không khác. Những kết cấu đẩu củng xưa nhất hiện còn tại Trung quốc, là những chủ củng trên đại điện chùa Phật quang núi Ngũ đài ở tỉnh Sơn tây, là kiến trúc đời Đường. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13, Q.37].
chủ dạ thần
Vasantavayanti (S)Xuân hòa thầnVị thiện tri thức thứ 32 trong số 55 thiện tri thức mà Thiện Tài đồng tử tham vấn.
chủ hòa
Advocate of peace.
chủ hôn
To conduct a wedding ceremony.
chủ khách
Host and guest.
chủ khảo
Head examiner.
chủ lý
Rationalism.
chủ lễ
Là người đứng giữa vào lúc hành lễ.
chủ lực
Main force.
chủ nghĩa
Doctrine.
chủ nghĩa bi quan
Pessimism.
chủ nghĩa bảo thủ
Conservatism
chủ nghĩa bất diệt
tak ta (T), Tak ta (T), Eternalism.
chủ nghĩa chân lý tuyệt đối bất tri
Anissaravada (P), Agnosticism
chủ nghĩa cá nhân
Abhimāna (S), Ātmamada (S), Egotism
; Individualism.
chủ nghĩa cấp tiến
Radicalism.
chủ nghĩa lạc quan
Optimism.
chủ nghĩa vật chất
Materialism.
chủ ngã
Egoism.
chủ nhân công
(主人公) Ông chủ, tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ Phật tính ai ai cũng có. Vô môn quan tắc 12 (Đại 48, 294 trung), nói: Hòa thượng Thụy nham Ngạn hàng ngày tự gọi Chủ nhân ông, rồi lại tự đáp, Dạ!.
chủ phương thần
Những vị thần kiểm soát tám hướng—The spirits controlling the eight directions.
chủ quan
(主觀) Trong quan hệ vật ngã, bản thân người nhận thức là chủ quan, cái mà chủ quan nhận thức là khách quan. Nếu người nhận thức không để cho cá tính hoặc một lập trường riêng tư của mình ảnh hưởng, mà nhận biết đối tượng một cách nguyên vẹn đúng như diện mục của nó, thì chân lí của sự nhận thức ấy gọi là chân lí khách quan, thừa nhận loại chân lí khách quan ấy, gọi là Chủ nghĩa khách quan - trái lại, thì gọi là Chủ nghĩa chủ quan. Trong Phật giáo, danh từ tương đương với chủ quan là Năng quan , Năng duyên - tương đương với khách quan là Sở quan ,Sở duyên .. Theo ý của luận Đại thừa khởi tín, thì chủ quan, từ trạng thái hiển hiện gọi là Năng kiến tướng (Kiến tướng, chuyển tướng), từ phương diện tác dụng nhận thức thì gọi là chuyển thức - Khách quan từ trạng thái hiển hiện gọi là Cảnh giới tướng (Cảnh tướng, Hiện tướng), từ phương diện tác dụng nhận thức thì gọi là hiện thức, vốn do mê hoặc sản sinh. Tức ngay từ gốc rễ của nó đã có vô minh, cho nên mới sinh ra tâm phân biệt và tác dụng phân biệt chủ quan, khách quan rồi tiến lên, đối với cảnh giới mê vọng này, sinh khởi tâm chấp trước (Thuyết tam tế lục thô). Do đó, sự tồn tại đích thực tách lìa chủ quan, khách quan mê vọng, tức hàm cái ý là sự tồn tại đích thực là tồn tại ở cái chỗ chưa chia ra chủ khách quan. Giới triết học hiện đại, dùng danh từ chủ thể thay cho từ chủ quan. Sự khu biệt giữa chủ thể và chủ quan là, chủ quan chỉ có ý vị là một tiếng dùng về mặt nhận thức luận mà thôi - còn chủ thể là tiếng dùng về mặt thực tiễn luận gồm cả hành vi và thực tiễn. (xt. Thực Tại Luận, Thực Chứng Chủ Nghĩa, Quan Niệm Luận).
chủ sơn
See Khách Sơn.
; (主山) Núi chủ. Tại Trung quốc, qua các đời khi xây dựng cung thất, đại khái cho phưong bắc là tướng tốt và cao, phương nam thì thấp, cho nên núi phương bắc là núi chủ, núi phương nam thì gọi là núi án. Do đó, các chùa viện gọi núi phía sau (tức núi phương bắc) là Chủ sơn. Lại có thuyết dùng chủ sơn, án sơn thay cho quan hệ chủ khách. Trong Thiền lâm, thì dùng câu Chủ sơn cỡi án sơn để biểu thị cảnh giới chủ khách nhất như. Lại dùng câu Chủ sơn cao, án sơn thấp để biểu thị thế giới chủ khách sai biệt (thế giới sai biệt của hiện tượng giới) đều hàm cái lí chân như bất biến. [X. Hư đường lục Q.1 - Hòa an quốc ngữ Q.1].
Chủ Sứ
(主使): cách xưng hô đối với sứ giả thời cổ đại. Như trong Sử Ký (史記), Chương Hàn Thế Gia (韓世家), có đoạn: “Trần Phệ kiến Nhương Hầu, Nhương Hầu viết: 'Sự cấp hồ, cố sử công lai ?' Trần Phệ viết: 'Vị cấp dã.' Nhương Hầu nỗ viết: 'Thị khả dĩ vi công chi chủ sứ hồ ?' (陳筮見穰侯、穰侯曰、事急乎、故使公來、陳筮曰、未急也、穰侯怒曰、是可以爲公之主使乎, Trần Phệ gặp Nhương Hầu, Nhương Hầu hỏi: 'Việc gắp lắm sao mà khiến ông đến vậy ?' Trần Phệ đáp: 'Việc chưa gấp.' Nhương Hầu nổi giận nói: 'Vậy có thể lấy làm sứ giả của ông sao ?').”
chủ sự
Viharasvamin (skt). 1) Vị giám đốc hay Kiểm soát: Cotroller—Director. 2) Bốn chức chủ sự trong tự viện (Giám Tự, Duy Na, Điển Tọa, Trực Tuế): The four heads of affairs in a monastery.
; (主事) Chỉ người chủ làm công việc. Tên gọi khác của chức sự trong Thiền viện. Lúc đầu, Thiền uyển thanh qui lấy bốn chức Giám tự, Duy na, Điển tọa và Trực tuế làm chủ sự, Thanh qui về sau thêm Đô tự, Phó tự gọi là Lục trị sự. Chân tông của Nhật bản thì chỉ người trông nom cai quản các công việc trong thời kì hạ an cư là Chủ sự. [X. Thiền uyển thanh qui Q.10 - Thích thị yếu lãm Q.hạ].
chủ thành tựu
(主成就) Là một trong sáu việc thành tựu. Ở ngay đầu các kinh đều có sáu thành tựu. Trong đó chữ Phật tức là chủ thành tựu. Đây là lấy Phật làm chủ nói pháp hóa độ thế gian và xuất thế gian, cho nên ở đầu kinh có chữ Phật, tức biểu thị kinh ấy là do vị chủ nói pháp tuyên thuyết để hóa đạo chúng sinh. Cùng với năm thành tựu khác cùng biểu thị niềm tin đối với kinh điển Phật giáo là có chứng cứ rõ ràng. (xt. Lục Thành Tựu).
chủ thần
(主神) Là thần chủ vị trong các thần mà Đa thần giáo tin thờ. Các thần mà Đa thần giáo tin thờ ở thời kì đầu vốn không có phân biệt chủ hay theo, nhưng về sau, qua quá trình các thị tộc, bộ lạc dung hợp với nhau, có nhiều thần linh (vốn do các bộ lạc lớn tin thờ), dần dần được tôn sùng hơn nhiều thần của các bộ lạc khác, với thời gian dài qua sự đào thải tự nhiên, sự tôn sùng cao nhất bèn được tập trung vào một hoặc số ít thần kì, do đó mà hình thành chủ thần.
chủ thủ
Giám Tự—The abbot of a monastery.
; (主首) Tức chủ sự, gọi chức Tri sự. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục 111, 468 hạ), nói: Chủ thủ, chia ti đặt cục, nắm giữ các công việc lớn nhỏ trong sơn môn. Ngoài ra, cũng có khi Chủ thủ là chỉ chức Giám tự trong sáu Tri sự. [X. thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn]. (xt. Chủ Sự).
chủ trung chủ
(主中主) I. Chủ trung chủ. Là một trong bốn Tân chủ do Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đặt ra. Tân, chỉ người học, đồ đệ - Chủ, chỉ thầy dạy. Chủ trung chủ, có nghĩa là khi thầy tiếp dắt người học, đứng trên lập trường bản phận của mình, triển khai các phương pháp độc lập, hoạt bát, không câu chấp qui cách thông thường, bởi thế, trong Thiền lâm có danh xưng Sư gia hữu tị khổng (nhà thầy có lỗ mũi). Trái lại, nếu thầy một lòng muốn tiếp dắt học trò nhưng lại không khéo phá trừ sự chấp trước của học trò để khiến họ quay về lập trường bản phận, thì gọi là Chủ trung tân, đối với tình hình như vậy thì có danh xưng Sư gia vô tị khổng. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng]. II. Chủ trung chủ. Là một trong bốn tân chủ do tông Tào động lập ra. Chủ chỉ chính, thể, lí - Tân chỉ thiên, dụng, sự. Chủ trung chủ, có nghĩa là bản thể của lí chẳng phải trực tiếp hiển hiện trên mặt sự hàng ngày. Động thượng cổ triệt quyển thượng (Vạn tục 125, 359 hạ), nói: Bản thể của lí chẳng đi lại với dụng, gọi là Chủ trung chủ, ví như ông vua ở trong cung sâu chín lớp. Trái lại từ trong lí thể tự nhiên có khả năng dẫn phát ra dụng và sự, gọi là Chủ trung tân. Động thượng cổ triệt quyển thượng (Vạn tục 125, 359 hạ), nói: Gần gũi từ thể phát ra dụng, gọi là chủ trung tân, ví như bề tôi vâng mệnh vua mà ra vậy.
chủ tán
(主贊) Trong hội tán thán Phật, Chủ tán là người tụng xướng danh hiệu Phật trong chúng tăng, là người xướng kệ lễ tán đầu tiên. Trong pháp hội, phần nhiều do Duy na đảm nhiệm chức này.
chủ táng
(主喪) Còn gọi là Tang chủ. Tức là chức vụ đảm nhiệm công việc tang lễ trong Thiền lâm, khi có vị tôn túc thị tịch.Cũng là người trông nom các nghi lễ trong pháp hội thông thường. Sắc tubách trượng thanh qui quyển 3 Thỉnh chủ tang điều (Đại 48, 1127 hạ), nói: Người chủ tang đến, đánh chuông lớn, tập chúng ra cửa đón rước, đến trước khám thắp hương, chủ tọa và đại chúng thưa hỏi.
Chủ tể
主宰; C: zhǔzăi; J: shusai;|1. Người giám sát, chủ toạ, người điều khiển, người kiểm soát. Sự giám sát, việc quản lí; 2. Từ để gọi Như Lai (如來); 2. Đề cập đến quan niệm ảo tưởng độc đoán về Ngã (ngã kiến 我見).
chủ tể
1) Chúa tể: Lord—Master—The lord of the universe—God. 2) Ngự trị: To dominate—To control. 3) Tâm hồn (bên trong): The lord within—The soul.
; (主宰) Chỉ cái ta, chính mình. Tức thể của cái ta là thường nhất mà có tác dụng thống trị sự vật. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 1 thượng), nói: Ta, có nghĩa là chủ tể.
chủ tọa
To preside.
chủ vĩ
(麈尾) Tức dùng lông thú hoặc sợi cây gai buộc lại thành một nắm, rồi tra cái cán dài bằng ngà voi hoặc bằng gỗ, làm vật dùng khi thuyết pháp hay giảng kinh. Chủ là một loài nai bề ngoài giống như con hươu, nhưng to lớn, người xưa dùng đuôi nó làm chổi phủi bụi, đuổi ruồi. Về sau thì cùng với chiếc phất trần cũng được dùng để chỉnh túc uy dung - hoặc khi đàm luận, diễn thuyết, nó được dùng để điều khiển thính chúng. Tại Trung quốc, vào thời đại Ngụy Tấn, những nhà thanh đàm, khi đàm luận, phần nhiều có thói quen hay cầm chủ vĩ - về sau trong giới tăng lữ, phong tục cầm chủ vĩ cũng lưu hành rộng rãi.
chủ vị
(主位) Chỉ vị trụ trì một sơn môn hay một chùa, hoặc là chỗ tòa ngồi của người chủ. Thông thường lấy bên phải làm chủ vị, bên trái làm khách vị. Nếu nhà phương trượng quay hướng nam, thì bên đông là chủ vị, bên tây là khách vị - nhà Tăng quay hướng đông thì bên bắc là chủ vị, bên nam là khách vị - nhà kho quay hướng tây thì bên nam là chủ vị, bên bắc là khách vị. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1].
chủ xướng
To put forward.
chủ ý
Main idea—Chief purpose.
chủ đích
Chief object.
chủ đế
Xem Thật.
chủ đề
Main subject (topic).
chủng
Mahābhāta (S), Element Yếu tố.
; Vija; bija (S). Seed, germ; sort, species; race, tribe; also to sow, plant.
; Vija or Bija (skt). 1) Gieo trồng: To plant—To sow. 2) Hạt—Seed—Germ—Species.
chủng chủng
Vicitratva or Vicitrata (skt)—Nhiều loại hay đa dạng—Multiplicity—Manifoldness—Multitudinousness.
chủng chủng giới trí lực
Nana-Dhātu-jāna-bāla (S).
; (種種界智力) Phạm: Nànà-dhàtu-jĩàna-bala. Cũng gọi là Thị tính lực, Tri tính trí lực. Là một trong mười lực của Như lai. Tức là sức trí tuệ của Như lai biết rõ hết các loại sai biệt về bản tính, tố chất và hành vi của chúng sinh một cách như thực. [X. kinh Tạp a hàm Q.26 - luận Đại tì bà sa Q.30]. (xt. Thập Lực).
chủng chủng sắc thế giới
Thế giới của mọi loài—A world of every kind of thing.
; (種種色世界) Nghĩa là thế giới có nhiều loại sắc tướng. Cứ theo kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 13 phẩm Quang minh giác chép, thì đức Thế tôn ngồi trên tòa sư tử ở Liên hoa tạng, các đại Bồ tát từ mười phương đều đến bái yết Phật, như các bzồ tát Văn thù, Giác thủ, Công đức thủ, Trí thủ và Hiền thủ v.v... Các ngài ấy đến từ các thế giới Kim sắc, Diệu sắc, Ưu bát la hoa sắc, Pha lê sắc và Bình đẳng sắc, các Sắc thế giới ấy tức gọi là Chủng chủng sắc thế giới.
chủng chủng sự công đức
(種種事功德) Là một trong mười bảy thứ công đức thuộc Quốc độ trang nghiêm trong hai mươi chín thứ trang nghiêm ở cõi Tịnh độ cực lạc. Nghĩa là các thứ trang nghiêm ở cõi Tịnh độ cực lạc đều đầy đủ tính trân quí và trang nghiêm vi diệu. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng, sư Đàm loan nêu rõ rằng, Phật sở dĩ khởi lên công đức này, là vì thấy chúng sinh trong cõi nước dùng đất, gỗ, đá làm nên nhà cửa đẹp đẽ, cho đến khắc vàng, nạm ngọc mà cũng không biết chán đủ, vẫn ra sức kiến tạo. Nhân thế, bèn khởi nguyện đại bi, kì vọng nếu thành quả Phật thì khiến tất cả thứ trân quí đều đầy đủ, trang sức hoa lệ, khiến chúng sinh đều được thỏa mãn, không đi tìm các thứ khác nữa, mà tự được Phật đạo. Cũng sách đã dẫn quyển hạ lại nói sự diệu dụng của công đức này là chẳng thể nghĩ bàn (Đại 40, 837 hạ), nói: Chẳng thể nghĩ bàn là thế nào? Nghĩa là các thứ kia, hoặc là một thứ báu, mười thứ báu, trăm báu, vô lượng báu, tùy tâm xứng ý, đầy đủ trang nghiêm. Sự trang nghiêm ấy, như tấm gương trong sáng, tất cả các tướng sạch nhơ, nghiệp duyên thiện ác của các cõi nước trong mười phương đều ánh hiện hết. [X. kinh Đại a di đà Q.hạ - kinh Vô lượng thọ Q.thượng - luận Tịnh độ].
chủng chủng thắng giải trí lực
(種種勝解智力) Phạm: Nànàdhimukti-jĩàna-bala. Còn gọi là Tri chủng chủng giải trí lực, Tri chúng sinh chủng chủng dục trí lực. Là một trong mười lực của Như lai. Tức là cái sức trí tuệ của Như lai biết rõ hết mọi thứ mong cầu vui sướng của chúng sinh một cách như thực. [X. kinh Tạp a hàm Q.26 - luận Đại tì bà sa Q.30]. (xt. Thập Lực).
chủng chủng tạp chú kinh
Chung-chung tsa-chou ching (C)Tên một bộ kinh.
Chủng chủng 種種
[ja] シュシュ shushu ||| (citra, citratā, nānā, vicitra). Various, diverse, varied. All sorts (shades, kinds, manner) of; every sort, manifold, multifarious, sundry. (s: citra, citratā, nānā, vicitra). => Nhiều loại khác nhau, linh tinh, đa dạng. Mọi thứ (vật vô hình, vật chất, tính cách), nhiều vẻ, phong phú, tạp nhạp.
chủng căn khí
See A Lại Da Thức Tam Chủng Cảnh.
chủng giác
The insight into all seeds, or causes, of all phenomena; Buddha-knowledge, omniscience.
; Phật chứng nhất thiết chủng trí mà đại giác viên mãn—The insight into all seeds or causes, Buddha-knowledge, omniscience.
chủng học pháp
Sekhiyā-dhamma (P), Śaikṣa-dharma (S), Sekhiyā-dhamma (P).
chủng loại câu sinh vô sơ tác ý sinh thân
Nikāya-sahajāśaṁskāra-kṛya-manomayakāya (S).
chủng quả
Xem Quả.
chủng tam tôn quán
(種三尊觀) Là một phép quán trong Mật giáo. Tức theo thứ tự mà quán chủng tử của bản tôn, hình tam muội da và hình bản tôn (vị tôn chính). Cũng gọi là Chủng tử tam muội da hình tôn hình quán, Chủng tam tôn duyên khởi quán, Chủng tam tôn chuyển thành quán. Các tác dụng đức hạnh của chư tôn trong chân ngôn Mật giáo đều có thể nhờ phép quán này mà biểu hiện. Khi hành giả tu quán trong đạo tràng, trước phải quán chủng tử của bản tôn, và từ chủng tử biến hóa thành là quán hình Tam muội da của bản tôn, lại quán sát hình Tam muội da của bản tôn biến hóa mà thành hình của bản tôn. Cứ theo kinh Đại nhật phẩm Bản tôn tam muội chép, thì chư tôn có ba thứ thân là Tự, Ấn và Hình tượng, tức theo thứ tự chỉ Chủng tử, Tam muội da hình, Tôn hình. Trong nghĩa Tức thân thành Phật, ba thứ thân này theo thuận tự là Pháp mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la và Đại mạn đồ la - ở trên ba mạn đồ la này, là Yết ma mạn đồ la có đầy đủ mọi uy nghi sự nghiệp, cho nên hợp cả bốn mạn đồ la nói trên lại mà sinh ra thuyết Tứ mạn tương tức. Thuyết này lấy tư tưởng chủng tử chuyển thành hình Tam muội da, cho đến chuyển thành tôn hình làm cơ sở. Ngoài ra, phép quán Ngũ tướng thành thân trong pháp Kim cương giới cũng lấy Chủng tam tôn quán làm nền tảng. [X. Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui - Kim cương đính nhất thiết như lai chân thật nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh Q.thượng - kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung - Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ - Kim cương vương Bồ tát bí mật niệm tụng nghi quĩ - Kim cương đính liên hoa bộ tâm nghi quĩ - luận Bồ đề tâm - Thai tạng Phạm tự thứ đệ].
chủng thảo
(種草) Thí dụ tính Phật. Có nghĩa là tính Phật trong người ta, cũng hệt như cái mầm giống trong cỏ cây, ai ai cũng có, cho nên gọi là Chủng thảo. Trong Thiền lâm, người có khả năng kế thừa pháp của Phật tổ được thí dụ như mầm non của cây cỏ. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 chương Huyền sa Sư bị (Vạn tục 138, 123 hạ), nói: Đứng hầu nơi Tuyết phong, có hai vị tăng đi qua dưới thềm, Phong nói: ‘Hai người ấy có thể là chủng thảo’.
chủng thục thoát
Theo thuyết của tông Thiên Thai—According to the T'ien-T'ai's doctrine. 1) Chủng: Chúng sanh ban đầu còn mê muội, nhờ sự thiện xảo của Phật, mà gieo được vào họ chủng tử Phật: The seed of Buddha-truth implanted. 2) Thục: Nhờ gặp gỡ và dùng phương tiện, mà hạt giống nầy được thành thục—Its ripening. 3) Thoát: Chủng tử đã thành thục tức là giải thoát—Its liberation or harvest.
; (種熟脫) Là nói tắt của Hạ chủng, Điều thục, Giải thoát. Là ba giai đoạn đức Phật giáo hóa chúng sinh. Hạ chủng ., có nghĩa là đem hạt giống thành Phật mà gieo vào tâm chúng sinh. Điều thục , có nghĩa là truyền bá giáo pháp. Giải thoát. , có nghĩa là từ trong khổ não mà thoát ly. Tông Thiên thai cho rằng, từ lúc ban đầu, đức Phật đem hạt giống thành Phật gieo vào tâm chúng sinh, đến lúc tỏ ngộ cuối cùng, có thể chia làm ba giai đoạn trên. Lại ba giai đoạn ấy đều là từ nơi Phật mà mong được lợi ích, cho nên cũng gọi là Tam ích...... Hạ chủng, tức là đầu tiên chúng sinh kết duyên với Phật pháp. Điều thục, tức là hạt giống có khả năng thành Phật dần dà lớn lên cho đến khi gần tỏ ngộ. Giải thoát, tức là hạt giống thành Phật đã hoàn toàn trưởng thành, cuối cùng, được quả giác ngộ tròn đầy. Đem Chủng thục thoát mà phối với nội dung của phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa, thì đại chúng Thanh văn, Bồ tát, xưa kia, dưới hội của đức Phật Đại thông trí thắng, đã được nghe kinh Pháp hoa và tín thụ lãnh giải, gọi là Hạ chủng. Từ thời đức Phật Đại thông trí thắng trở về sau, dần dần chí ưa pháp Tiểu thừa và nhiễm sâu năm dục, Như lai biết rõ tính ấy của chúng sinh, bèn đặt ra nhiều phương tiện để dẫn dắt, gọi là Điều thục. Mãi đến hội Linh sơn lại nghe kinh Pháp hoa mà được thụ kí sẽ thành Phật trong vị lai, gọi là Giải thoát. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 1 phần trên (Đại 33, 684 thượng), nói: Khéo vì chúng sinh mà gieo những hạt giống Đốn, Tiệm, Bất định, Hiển, Mật - trung gian, dùng năm vị đốn tiệm để điều phục nuôi lớn mà thành thục, rồi lại dùng năm vị đốn tiệm mà độ thoát, nào thoát, nào thục, nào chủng, trăn trở không ngừng, đại thế uy mãnh, ích vật ba đời. Lại luận Câu xá quyển 23 đem Tam sinh đắc quả của Thanh văn phối với Tam vị chủng thục thoát. Tức là: thứ nhất, sinh khởi Thuận giải thoát phận - thứ hai, sinh khởi Thuận quyết trạch phận - thứ ba, sinh Nhập Thánh vị cho đến được giải thoát - cũng như ba giai đoạn: gieo hạt, nảy mầm, kết quả khác nhau. [X. luận Đại tì bà sa Q.178 - Pháp hoa kinh văn cú Q.1 phần trên - Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1 phần trên].
chủng thức
Alayavijnana (skt)—See A Lại Da Thức.
Chủng thức 種識
[ja] シュシキ shushiki ||| The seed consciousness. See 種子識. => Hạt giống thức. Xem Chủng tử thức種子識.
chủng trí
Chủng tử trí huệ đã sẳn có trong tự tánh, nếu được hiện hành thì diệu dụng vô biên, cũng gọi là nhất thiết chủng trí.
; Omniscience, knowledge of the seed or cause of all phenomena.
; Chủng tử trí huệ sẵn có trong Tự tánh, nếu được hiện hành thì diệu dụng vô biên, cũng gọi là Nhất thiết chủng trí.
; Nhất thiết chủng trí của Phật, là loại chủng trí biết hết tất cả các loại pháp—Omniscience, knowledge of the seed or cause of all phenomena.
; (種智) Nói tắt của Nhất thiết chủng trí. Tức là trí tuệ của Phật biết rõ hết thảy mọi thứ, mọi loại pháp. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 27 chép, thì duy chỉ Phật có nhất thiết chủng trí, Thanh văn, Duyên giác chỉ có nhất thiết trí. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 nói, thì bậc giác ngộ đầy đủ mười hiệu Thế tôn, Thiên nhân sư, Điều ngự trượng phu, A la hán v.v... đạt đến Chủng trí viên minh. Lại Phật chứng được Nhất thiết chủng trí mà đại giác tròn đầy, gọi là Chủng giác. Đại banniết bàn kinh sớ quyển 33 (Đại 38, 228 hạ), nói: Như lai đã đến Chủng giác mà còn có chín não, huống chi là Bồ tát! [X. Pháp hoa văn cú Q.7 phần dưới - Thiền uyển thanh qui Q.9 Sa di thụ giới văn].
chủng trí hoàn niên
(種智還年) Khi giải thích thí dụ Cha trẻ con già trong phẩm Dũng xuất của kinh Pháp hoa, tổ thứ 9 tông Thiên thai là Trạm nhiên đã tạm thời giả đặt ra cái tên thuốc Chủng trí hoàn niên (giống trí trẻ lại) để hiển bày lí của Hai môn Bản, Tích. Bản, chỉ Phật gốc vốn đã thành từ lâu lắm rồi - Tích, chỉ Phật Thích ca mới gần đây chứng ngộ thành đạo tại thành Già da. Trong các kinh luận nghi chép khi đức Phật nói pháp, Ngài cho đại chúng biết là Ngài đã chứng đạo thành Phật từ xa xưa lâu lắm và đã giáo hóa vô lượng chúng Bồ tát, rồi từ đó đến nay, đã qua năm trăm kiếp chấm bụi, lại một lần nữa, ngồi dưới cây Bồ đề ở thành Già da mà chứng Chính đẳng giác. Về việc này, trong phẩm Dũng xuất kinh Pháp hoa ghi chép rất tường tận. Trong kinh còn nói, khi đức Thế tôn tuyên thuyết kinh Pháp hoa, thì có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ tát, cùng một lúc, từ dưới đất hiện lên, đức Thế tôn bèn nói với đại chúng rằng, các chúng Bồ tát ấy là những người đã được Ngài giáo hóa trong đời quá khứ cách nay đã lâu xa lắm. Đại chúng trong pháp hội, nghe đức Thế tôn nói thế, tâm đều sinh ngờ và bạch Phật rằng (Đại 9, 41 hạ): Bạch Thế tôn! Việc này đời khó tin lắm. Ví như có người sắc diện tươi tắn, mái tóc đen mượt, tuổi hai mươi lăm, lại chỉ người trăm tuổi và bảo đó là con của ta, người trăm tuổi cũng chỉ vào người thiếu niên mà bảo đây là cha tôi, đã sinh nuôi tôi. Việc ấy thật khó tin! Phật cũng vậy, được đạo thực chưa bao lâu, (...) làm sao làm được việc công đức lớn như thế ?. Sự tích trên đây được các tông phái bàn luận rất nhiều, dần dần triển khai thành giáo thuyết Bản môn, Tích môn, mà đặc biệt tông Thiên thai rất coi trọng. Bởi vì tông Thiên thai lấy kinh Pháp hoa làm Tông kinh, trong Năm thời tám giáo mà tông này phán lập, đem hai mươi tám phẩm trong kinh Pháp hoa phân biệt mười bốn phẩm trước là Tích môn ., mười bốn phẩm sau là Bản môn ., bảo toàn bộ giáo pháp mà Phật Thích ca nói trong khoảng hơn bốn mươi năm sau khi thành đạo là thuộc Tích môn và chia ra làm năm thời, bốn thời trước là Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và thời thứ năm là thời Pháp hoa. Còn Bản môn là do Phật Tích môn mới thành gần đây, đã thị hiện nơi đời, tất dễ khiến người đời chấp trước Phật gần, mà lầm cho rằng từ xưa tới nay chỉ có đức Phật này ra đời, chứ không biết đức Phật vốn đã chứng thành Chính giác từ lâu (Phật gốc), mà Phật bây giờ đây chỉ là Phật mới chứng thành (Phật thị hiện). Để đánh tan sự nghi ngờ và chấp gần ấy, đức Thế tôn đặc biệt tuyên bố cho đại chúng biết là Ngài đã thực chứng đạo thành Phật từ lâu xa rồi, đồng thời, khiến các chúng Bồ tát đã được giáo hóa ở thời quá khứ xa xưa ấy xuất hiện trước mọi người để họ khế nhập lí mầu nhiệm của Bản, Tích. Tuy nhiên, mọi người vẫn chấp trước nơi Tích gần mà mê muội về Bản xa, cho nên, Bồ tát Di lặc mới thay đại chúng dãi bày lại mối nghi hoặc ấy. Đức Thế tôn nhân đó mà nói về thọ lượng của Như lai chẳng thể nghĩ bàn. Để giải thích thí dụ Cha trẻ con già được ghi trong kinh văn, sư Trạm nhiên bèn đặt ra tên thuốc này, bảo rằng đức Thích ca ở thời quá khứ xa xưa đã dùng linh dược Chủng trí hoàn niên, cho nên có hiệu quả trẻ lại, cũng như một thiếu niên sắc diện tươi tắn, mái tóc đen mượt là cái tướng trẻ Thùy tích hiện ra ngày nay, đó là nguyên ủy của Cha già mà như trẻ. Còn vô lượng Bồ tát từ dưới đất hiện lên cũng là thường trụ bất tử, tuy là đệ tử đời trước của Phật gốc, tích chứa vô lượng công đức tinh tiến và tuổi thọ vô lượng kiếp, nhưng đối với Phật Thích ca mới thành ngày nay, vẫn chỉ là Chúng được giáo hóa, vẫn cung kính cúng dường, cũng như những người con tóc bạc da nhăn, đó là nguyên ủy của Con trẻ mà như già vậy. Pháp hoa văn cú kí quyển 9 (Đại 34, 323 trung), nói : Sự có bản tích, lí không sớm chiều, người lầm mê lí mà mờ bản tích. (...) Nhưng bản đệ tử thì biết rõ tích gần, mà tích đệ tử thì mê bản xa - để phá trừ chấp gần, nên phải triệu hồi xưa mà chỉ bày cho nay biết. [X. kinh Pháp hoa phẩm Thọ lượng - Chú Duy ma kinh tự (Tăng triệu) - Pháp hoa cửu triệt Q.7 phần đầu]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
Chủng trí 種智
[ja] シュチ shuchi ||| The perfect buddha-wisdom that fully knows every single thing in existence (一切種智). Omniscience. => Trí huệ hoàn hảo của Đức Phật biết rõ tất cả mọi hiện tượng đang hiện hữu (nhất thiết chủng trí 一切種智). Trí huệ viên mãn.
chủng tánh
Gotrastha (S), Gotra (S) Xem Định tánh.
chủng tánh địa
Xem Tánh Địa.
chủng tính
Seed nature, germ nature; derivative or inherited nature,
; (I) Nghĩa của chủng tính—The meaning of Germ nature: 1) Chủng là hạt giống, có nghĩa là phát sinh nảy nở. Tính là tính chất không thay đổi—Seed nature, germ nature; derivative or inherited nature. (II) Phân loại chủng tính—Categories of germ nature: (A) Nhị Chủng Tính: Two kinds of germ nature—See Nhị Chủng Tính. (B) Ngũ Chủng Tính: Five kinds of germ nature—See Ngũ Chủng Tính. (C) Lục Chủng Tính: Six kinds of germ nature—See Lục Chủng Tính.
; (種性) Phạm: Gotra. Tức Phật và những người ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều đủ bản tính có khả năng chứng được Bồ đề. Đây có hai loại là tiên thiên đã sẵn có và hậu thiên do tu hành mà được, loại trước gọi là Bản tính trụ chủng tính, nói tắt là Tính chủng tính, loại sau gọi là Tập sở thành chủng tính, nói tắt là Tập chủng tính. Thuyết nhất thiết hữu bộ không thừa nhận chúng sinh có tính thành Phật tiên thiên, cho nên chỉ bàn về thuyết sau thôi. Tông Duy thức Đại thừa thì thừa nhận năm tính có khác biệt về mặt tiên thiên, cho nên nói Tính chủng tính. Ngoài ra, cũng nói Tập chủng tính, đây là thuộc học phái Hộ pháp. Nói cách khác, chủng tính rốt cuộc là tiên thiên hay hậu thiên, thì giữa mười hai vị đại luận sư của Duy thức đã nảy sinh các thuyết khác nhau. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 chép, thì do kiến giải khác nhau về chủng tử, mà sư Hộ nguyệt chủ trương Bản hữu tính chủng tính (tiên thiên), sư Nan đà chủ trương Tân huân tập chủng tính (hậu thiên), còn sư Hộ pháp thì thừa nhận cả hai. Tông Duy thức đại để thu dụng thuyết của Hộ pháp, tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm thì chủ trương hết thảy chúng sinh vốn đủ tính Phật. Tông Duy thức lại thừa nhận ba thừa có chủng tính, có thể chia làm hai chủng tính, tức là có chủng tính (hữu tính) được quả ba thừa và không chủng tính (vô tính) hoàn toàn không có cách nào ra khỏi được cõi mê, rồi từ đó lại chia nhỏ ra thành năm tính khác nhau, mà thừa nhận sự tồn tại của hữu tình không có tính (vô tính hữu tình, tức không có tính Phật). Có khi cũng chuyển dụng ý nghĩa chủng tính để biểu thị giai vị tu hành của Bồ tát. Như kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng lập thuyết ba chủng tính, tức là Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, theo thứ tự có thể phối với mười tín tâm, mười trụ tâm và mười kiên tâm trong giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa. Lại kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng, lập sáu chủng tính là: Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, Thánh chủng tính, Đẳng giác chủng tính, và Diệu giác chủng tính, theo thứ tự, có thể phối với mười trụ, mười hành, mười hồi hướng, mười địa, Đẳng giác và Diệu giác. Trong đây, trừ tính Diệu giác, còn năm tính kia gọi chung là năm chủng tính. Ngoài ra, kinh Đại tập quyển 8 cũng nêu lên muời chủng tính là: 1. Tính phàm phu. 2. Tính tín hành, giai vị Tam hiền, nghe lời dạy của thiện tri thức và cứ thế tin chịu làm theo. 3. Tính pháp hành, giai vị bốn thiện căn, vâng theo lời giáo huấn của Phật và thiện tri thức mà tu hành. 4. Tính tám nhẫn, tức giai vị Kiến đạo có đủ tám nhẫn bảy trí. 5. Tính Tu đà hoàn. 6. Tính Tư đà hàm. 7. Tính A na hàm. 8. Tính A la hán. 9. Tính Bích chi phật. 10. Tính Phật chủng. [X. kinh Giải thâm mật Q.2 phẩm Vô tự tướng tính - kinh Nhập lăng già Q.2 - kinh Bồ tát địa trì Q.1 phẩm Chủng tính - luận Phật tính Q.1 - luận Du già sư địa Q.21, Q.35 - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5]. (xt. Ngũ Chủng Tính, Lục Chủng Tính).
chủng tính chế độ
(種姓制度) Chủng tính, tiếng Anh, tiếng Pháp là Caste, tiếng Đức là Kaste. Là cái chế độ dựa vào chủng tộc, chức nghiệp, địa phương mà chia xã hội thành những giai cấp tôn ti quí tiện khác nhau, là chế độ xã hội thế tập, đóng kín, bất bình đẳng. Ấn độ là trường hợp nổi bật nhất. Vào thế kỉ thứ XVI Tây lịch, người Bồ đào nha đến bờ biển Mã lạp ba (Goa) thuộc mạn tây Ấn độ, đã phát hiện một hình thái xã hội đặc thù của người Ấn độ mà họ gọi là Chủng tính chế độ. Chữ caste có lẽ đã diễn biến từ chữ La-tinh Castus (thuần huyết) và chữ Bồ đào nha Casta (huyết thống) mà ra. Ân độ, từ thời đại Phệ đà, đã căn cứ theo thân phận, chức nghiệp và giai cấp mà định chủng tính, do đó đã cấu thành một chế độ xã hội giai cấp đặc thù. Xã hội Ấn độ cổ đại đã chia làm bốn chủng tính là: Tăng lữ Phạm: Bràhmaịa, Bà la môn), Vương hầu vũ sĩ (Phạm: Kwatriya, sát đế lị), Nông công thương thứ dân (Phạm: Vaizya, Phệ xá), Tiện dân (Phạm: Zùdra, Thủ đà la). Về sau, từ đó lại dần dần sản sinh ra các chủng tính chi nhánh và các giai cấp tạp chủng mà hình thành một hình thái xã hội phức tạp về phương diện tôn giáo và lịch sử. Ngoài ra, lại do sự sai khác về tộc, tôn giáo và chức nghiệp mà hiện tại con số chủng tính đã đạt đến từ hai đến ba nghìn! Giữa các chủng tính khác nhau, sự thông hôn và ngồi ăn chung bị nghiêm cấm - vả lại, còn có các giới luật và phong tục cực kì phồn tạp. Chế độ chủng tính bắt nguồn từ những người xâm lăng Ấn độ, họ tự gọi họ là Àryavarịa, tức là người Nhã lị an giống trắng - Àryahàm ý là người đáng kính, người cao quí, Varịa là nhan sắc - rồi họ khinh miệt những người dân bản xứ đã bị họ chinh phục, vốn là người da đen mà họ gọi là Dàsa-varịa, dàsa là man rợ, nô lệ. Hoặc có thuyết bảo Dàsa là tên gọi của một tộc trong đám dân bản xứ. Về sau, sự phân biệt giai cấp then chốt từ Varịa biến thành Jàti (ý là sinh ra). Lại Ấn độ, về mặt địa lí, cách tuyệt với đời, dễ hình thành một loại chế độ xã hội đặc thù, và núi sông cách trở cũng dễ sản sinh các loại tập đoàn và giai cấp sai biệt. Căn cứ chủ yếu của chế độ chủng tính là pháp điển Ma nô, pháp điển này nguyên là chuẩn tắc của môn trong việc tế tự, sau dần dần được xã hội Ấn độ tiếp thu, trở thành là sách chỉ nam cho luân lí đạo đức về mặt thể hệ giai cấp, có quyền uy pháp chế tối cao. Nói một cách đơn giản, pháp điển này dùng để củng cố địa vị, quyền uy, thế lực của giai cấp Bà la môn, mục đích của nó là tăng cường thể hệ giai cấp cho chặt chẽ và lâu dài. Bản chất của chế độ chủng tính có hai mặt, tức thân phận địa vị thế tập và luật pháp tiếp thụ, cũng tức là nghĩa vụ truyền thống và chức nghiệp giai cấp nguyên bản của cá nhân, người được ưu đãi chủ yếu là nam tính của giai cấp Bà la môn. Ở thời đại vua A dục, Phật giáo vốn phản đối bốn tính sai biệt, nên thế lực của Bà la môn suy giảm, nhưng đến thời Vương triều Cấp đa, Bà la môn lại khôi phục quyền thế và địa vị lãnh đạo, giai cấp Sát đế lị, ở thời đức Thích tôn, đã từng lãnh đạo trí thức và chính trị, bây giờ đây cũng mất ưu thế. Trong pháp điển Ma nô răn bảo nhà vua không được đánh thuế Bà la môn, nếu Bà la môn bị chọc tức, có thể nhờ sức phù chú khiến cho sinh mệnh và vũ lực của nhà vua tiêu diệt tức khắc. Lại trong bất cứ nghi thức tế tự nào, điều quan trọng nhất là dâng tiền của cho người Bà la môn đảm nhiệm chức Tư tế, nhiều bao nhiêu thì càng chứng tỏ lòng kiền thành cao độ bấy nhiêu. Nói cách đại khái, thì thần dị và mê tín là nguồn chủ yếu cho chức Tư tế thu của hốt tiền, bất cứ việc gì, từ đau ốm, kiện tụng, thấy điềm xấu, đổi nghề mới, sang nhà mới, cho đến đi xa v.v... không một việc gì mà người Ấn độ không hỏi ý kiến người Tư tế và, tất nhiên, phải dâng tiền của một cách đại lượng. Quyền thế chính yếu của người Bà la môn là sự độc chiếm truyền thụ tri thức, từ lâu lắm rồi, người Bà la môn tự ở địa vị người cải tạo, người giám hộ, là giáo sư, là các tác giả của các tác phẩm văn học, hoặc là nhà biên soạn. Pháp điển Bà la môn chỉ ra rằng, nếu người giai cấp Thủ đà la muốn nghe đọc tụng kinh điển, thì trong tai như điếc đặc, mà dù có nghe thì cũng chẳng hiểu biết gì - nếu muốn tự mình đọc tụng kinh điển thì đầu lưỡi sẽ bị cắt đứt. Giáo nghĩa Bà la môn bài xích những người thuộc giai cấp thấp tham dự việc đọc tụng kinh sách như thế, lâu dần đã tạo thành tính độc đặc, tính thần bí của giai cấp Bà la môn. Pháp điển Ma nô còn dạy bảo nhân dân rằng, ý thần muốn người Bà la môn làm thủ lãnh của chúng sinh, do đó mà tạo thành cái tình hình người Bà la môn thống trị Ấn độ về cả hai mặt xã hội và tinh thần. Những tệ đoan xã hội mà chế độ chủng tính đã mang lại cho xã hội Ấn độ đại khái có mấy điều như sau: 1. Do sự sai khác về chủng tính mà các giai cấp trong xã hội không qua lại với nhau, rất cách biệt, đã gây ra nhiều bất tiện trong cuộc sống. 2. Giữa các giai cấp có các bức tường ngăn cách rõ ràng, đã làm trở ngại cho sự phát triển ý thức dân tộc một cách nghiêm trọng. 3. Phủ nhận sự bình đẳng căn bản của loài người, người ở giai tầng cao không nhận người giai tầng thấp là người đồng dạng với mình, rất xa cách với tư tưởng dân chủ ngày nay.4. Người giai cấp thấp chuyên làm các việc ti tiện, nên tư cách càng ti tiện. 5. Mỗi giai cấp đều hình thành một tổ chức bền chắc, rất khó mà phá vỡ được bức tường giai cấp, những phần tử trong các bức tường ấy rất khó mà đồng tình với những người bên ngoài, cho nên không dễ gì hình thành một ý thức đồng bào rộng rãi. 6. Chức nghiệp cha truyền con nối, không có cách nào phối hợp được với nhu cầu văn minh vật chất hiện đại. 7. Mỗi giai cấp đều có tiêu chuẩn luật pháp và hành vi riêng, ở giai cấp này là phải, ở giai cấp kia là không phải, trở ngại nghiêm trọng cho toàn cõi Ấn độ có được một quan niệm đạo đức và chuẩn tắc luật pháp phổ biến. Vì thế, chế độ chủng tính là chướng ngại lớn nhất cho việc hiện đại hóa dân tộc Ấn độ. Tôn giáo duy trì chế độ chủng tính là Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Phật giáo thì phản đối chế độ này và đề xướng chủ nghĩa bình đẳng, đức Phật phủ nhận tính tuyệt đối của chủng tính, tôn trọng lí tưởng thực tiễn của nhân loại. Nhưng lí tưởng ấy chỉ thực hiện được trong phạm vi giáo đoàn, chứ không có cách nào làm biến đổi được xã hội Ấn độ mà vốn thành khuôn cứng nhắc, cho nên cuối cùng Phật giáo đã bị đẩy ra khỏi bản địa Ấn độ. Kì na giáo thì thỏa hiệp với chế độ chủng tính, cho nên vẫn còn tồn tại được đến ngày nay. Khi Hồi giáo xâm lược, chỉ giải trừ được chế độ chủng tính ở một số địa phương. Cho mãi đến cận đại, La ma nan đà thuộc phái Tì thấp nô trong Ấn độ giáo, cũng phủ nhận chế độ chủng tính và đề cao nhân loại bình đẳng. Kế đó, các nhà Ấn độ giáo cải cách, như Khách tỉ nhĩ, Na na khắc v.v... đều phản đối chế độ chủng tính, nhưng vẫn chưa triệt để thay đổi được xã hội Ấn độ. Về sau, bị tư tưởng dân chủ phương tây xung kích, các tổ chức Phạm giáo hội (1828) lần lượt được thành lập, dốc sức vào việc vận động cải cách tôn giáo và xã hội. Sau khi Ấn độ được độc lập, năm 1950, chính phủ Ấn công bố Hiến pháp, qui định hủy bỏ chế độ chủng tính, tuyên cáo người ta sinh ra đều bình đẳng. Thêm vào đó, nhờ sự phát triển công nghiệp hóa, giáo dục phổ cập và sự thực thi những chính sách xã hội, trên bề mặt, sự phân biệt các giai cấp đã giảm nhiều. Nhưng trong các vấn đề thực tế, như chức nghiệp, hôn nhân, sự xuất thân của cá nhân, địa vị xã hội v.v...... thì chế độ chủng tính vẫn còn được coi trọng, vẫn y nhiên ảnh hưởng đến lòng người. Đến nay, giai cấp Bà la môn vẫn nắm chặt đặc quyền của họ - chủng tộc Lạp cơ phổ đặc (Rajputs) ở miền tây Ấn độ, giai cấp địa chủ cũng cố thủ giai cấp Sát đế lị vương hầu vũ sĩ của họ. Thông thường, những người thương nghiệp vẫn là đại biểu cho giai cấp Phệ xá - và ngoài chủng tính ra, giai cấp thấp vẫn còn bị coi là những tiện dân không thể tiếp xúc - tại các vùng nông thôn, những tiện dân vẫn thường bị bách hại, tạo nên vô số vấn đề xã hội. Thánh Cam địa quan tâm đến nỗi thống khổ của tiện dân, đã gọi họ là Cáp lí thần chi dân (Harijan), cực lực xóa bỏ sự phân biệt đối xử đối với tiện dân. Giai cấp Thủ đà la cũng tự đứng lên vận động giải phóng, nhưng gặp rất nhiều khó khăn. Vì họ không được vào các đền thờ của Ấn độ giáo, nên không có quyền được sự cứu độ của tôn giáo, vì thế, ông An bồi khắc, vốn xuất thân từ tiện dân, mới đứng lên hô hào cải tín sang Phật giáo. Ngày nay, chủ nghĩa bình đẳng vô sai biệt của Phật giáo trở thành tôn chỉ cho cuộc vận động phục hưng Phật giáo tại Ấn độ, đây cũng là lí tưởng cuối cùng của giai cấp tiện dân vận động giải phóng toàn diện để đánh đổ chế độ chủng tính. [X. kinh Tạp a hàm Q.20 - Trung a hàm Q.30 kinh Ưu ba li, Q.39 kinh Bà la bà đường - rường a hàm Q.6 kinh Tiểu duyên - kinh Tăng nhất a hàm Q.21 - kinh Bạch y kim chàng nhị Bà la môn duyên khởi Q.hạ - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.23 - Đại đường tây vực kí Q.2 - Thích thị yếu lãm Q.thượng - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1 - Ấn độ sử cương đệ nhị chương (Lí chí thuần) - P. Deussen: Allgemeine Geschichte der philosophie, Bd. I. Abteilung, I - É. Sénart: Les Castes dans L’Inde - Will Durant : Our Oriental Haritage (India and Her Neighbors)]. (xt. Tứ Tính).
Chủng tính 種姓
[ja] シュショウ shushō ||| Family, clan, blood lineage; especially a clan in the pre-modern sense of a large group of related people having the same surname. (Skt. gotra; Pali gotta) Etymologically, gotra is derived from go, which means "cattle" and √trai, which means "to protect." Thus the word originally referred to a fence which surrounded cattle. Applied to human beings, it refers to family boundaries of blood lineage, etc. Also translated into Chinese as 種性. In Yogācāra Buddhism 瑜伽行派 this term often refers to the spiritual predisposition one possesses based on the quality of the "seeds" in one's ālaya consciousness 阿頼耶識. In this sense, the term is even synonymous with "seeds" 種子. 〔瑜伽論T 1579.30.396a, 478c〕 => Chủng tộc, thị tộc, huyết thống; đặc biệt là một nhóm người cùng một huyết thống theo ý nghĩa thời nay là những người thân thích có chung một họ (Skt. gotra; Pali gotta). Theo từ nguyên, chữ gotra phát xuất từ chữ go, có nghĩa là 'thú nuôi, gia súc' và √trai, có nghĩa là 'bảo vệ, che chở'. Như vậy, chữ trên vốn có nghĩa là hàng rào vây quanh che chở gia súc. Ứng dụng vào loài người, nó chỉ cho đường ranh gồm những gia đình có cùng huyết thống v.v...Dịch sang tiếng Hán là Chủng tính 種性. Trong Du-già hành phái, thuật ngữ nầy thường đề cập đến phần yếu tố bẩm chất tinh thần mà con người thừa hưởng theo phẩm chất của 'hạt giống' trong A-lại-da thức của họ, thuật ngữ nầy cũng đồng nghĩa với Chủng tử 種子.
Chủng tính 種性
[ja] シュショウ shushō ||| 'Seed nature.' Also 種姓 (gotra). The predisposition of people; the temperament or nature of religious practitioners; the predisposition for buddhahood. => Còn gọi là Chủng tính 種姓 (s: gotra). Là bẩm chất tiên thiên của con người, là khí chất, tính tình hay bản tính của người tu tập; bẩm chất Phật tính.
chủng tộc
Race, caste.
chủng tộc sakya
Sakyans.
Chủng tử
種子; S: bīja; là mầm sống, hạt mầm, cũng có nghĩa là năng lực; |Năng lực thúc đẩy vạn vật hiện hữu, đặc biệt rất có uy lực trong những Chủng tử Man-tra (s: bījamantra). Những chữ trong một Man-tra – ví dụ như chữ OṂ – bao hàm một khía cạnh đặc biệt của sự thật tuyệt đối được trình bày bằng một âm thanh tiêu biểu. Những âm thanh này chứa đựng – nếu đệ tử tín tâm được tiếp nhận qua một vị Ðạo sư chân chính – những năng lực diệu kì. Những hành giả trong Mật tông đều nhận được một Chủng tử man-tra từ Ðạo sư của mình khi được Quán đỉnh (s: abhiṣeka).
chủng tử
Bīja (S)Nhân, chân ngôn của Phật. Chủng tử của Đại nhật Như Lai là A, Vam; của Nguyệt Thiên Như Lai là Ya,...
; Hrich (S). Seed, germ; the content of the àlaya-vijnàna as the seed of all phenomena.
; 1) A Lại Da Thức là nơi chứa đựng chủng tử của tất cả mọi hiện tượng: Seed—Germ—The content of alayavijnana as the seed of all phenomena. 2) Mật giáo cũng coi một vài mẫu tự Phạn, đặc biệt là chữ “a,” được coi như là chủng tử chứa đựng lực siêu nhiên: The esoterics also have certain Sanskrit letters, especially the first letter “a” as a seed or germ containing supernatural power.
; (種子) Phạm, Pàli: Bìja. I. Chủng tử. Cũng như các loài mễ cốc do nơi hạt giống mà sinh, tất cả các hiện tượng sắc pháp (vật chất) và tâm pháp (tinh thần) cũng có hạt nhân sản sinh, hạt nhân ấy gọi là Chủng tử. Hạt giống của các loài mễ cốc gọi là Ngoại chủng (giống ngoài) - đối lại với hạt giống ngoài, tông Duy thức đem chủng tử nhiếp vào trong thức A lại da mà gọi là Nội hủng (giống bên trong). Hạt giống bên trong chỉ cái công năng sinh quả (tác dụng sinh quả) của chúng là các pháp hiện hành (các hiện tượng hiển hiện trước mắt) được huân tập (xông ướp) trong thức A lại da mà hình thành một tập tính đặc thù, vì thế còn gọi là Tập khí hoặc Dư tập.Thuyết chủng tử, nguyên là một loại thí dụ, thấy trước hết trong kinh Tạp a hàm. Trong Phật giáo bộ phái, Hóa địa bộ cũng nói, ở trong thức Cùng sinh tử uẩn thường có chứa hạt giống của sắc pháp và tâm pháp - về điểm này, Kinh lượng bộ cho rằng sắc pháp và tâm pháp làm hạt giống lẫn nhau và có đủ tính chất cái nọ huân cái kia, cho nên chủ trương thuyết Sắc tâm hỗ huân (vật, tâm xông ướp lẫn nhau). Trong luận Du già sư địa, thức A lại da được lập làm Chủng tử thức, và bảo thức này có khả năng sinh ra hết thảy các pháp sắc, tâm, thiện, ác và có chứa hết thảy hạt giống. Danh từ Chủng tử sau trở thành một thuật ngữ trọng yếu của Duy thức học Đại thừa. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 nói, thì trong thức A lại da, có thể cùng một lúc sinh khởi các pháp hiện hành bảy chuyển, và có đủ công năng khiến cho các hạt giống trước sau nối tiếp không dứt. Tức những cái có công năng sinh ra tất cả các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi v.v... đều gọi là chủng tử. Cũng như hạt giống của thực vật, có đủ khả năng tính sản sinh hết thảy hiện tượng. Trong thức A lại da, chủng tử là nhân, là tác dụng, thức A lại da là quả, là bản thể. Nhưng chủng tử tự thân chẳng phải là một khách thể, mà là một tác dụng tinh thần thuần túy. Đứng về phương diện loại biệt mà nói, thì chủng tử có thể chia làm hai loại: 1. Loại có khả năng sản sinh các hiện tượng (mê giới của chúng sinh), gọi là Hữu lậu chủng tử. 2. Loại là nhân sinh ra Bồ đề, gọi là Vô lậu chủng tử. Hữu lậu chủng tử lại có thể chia làm hai loại: a. Loại có thể sinh ra các hiện tượng đồng loại với chủng tử, gọi là Danh ngôn chủng tử, Đẳng lưu chủng tử, Đẳng lưu tập khí. b. Loại giúp đỡ chủng tử Danh ngôn để do nghiệp thiện ác mà sản sinh tác dụng dị thục (tức có đủ công năng sản sinh quả hữu lậu trong tương lai), gọi là Nghiệp chủng tử, Dị thục chủng tử, Hữu chi tập khí, Dị thục tập khí. Trên đây, chủng tử Danh ngôn là chủng tử Thân nhân duyên của hết thảy các pháp, là hạt giống lấy danh ngôn làm duyên mà được huân thành, còn được chia làm hai loại là Biểu nghĩa danh ngôn và Hiển cảnh danh ngôn. Chủng tử Biểu nghĩa danh ngôn, là trong danh ngôn (danh, cú, văn), giải thích rõ ràng nghĩa của các pháp - thức thứ sáu tức duyên theo danh ngôn này, tùy nơi âm thanh nói năng mà biểu hiện ra tướng trạng của tất cả các pháp, do đó mà huân thành chủng tử. Chủng tử Hiển cảnh danh ngôn, duyên với Kiến phần của bảy thức trước (tác dụng nhận thức tướng trạng các pháp) làm cảnh, theo duyên mà huân thành chủng tử. Nếu dựa vào tình hình hiện hành thụ dụng mà nói, thì chủng tử Danh ngôn còn có hai thứ là Cộng tướng và Bất cộng tướng. Cộng tướng danh ngôn chủng tử, như mặt trời mặt trăng, tinh tú, sông núi, đất liền v.v...... đều có thể mình người cùng chung thụ dụng, là cộng tướng - những chủng tử có khả năng khởi sinh ra loại cảnh giới cộng tướng ấy, đều gọi là Cộng tướng danh ngôn chủng tử. Còn Tự tướng danh ngôn chủng tử thì chẳng hạn thân thể của mỗi người, chỉ có thể một mình người ấy thụ dụng - những chủng tử có khả năng biến hiện các tự tướng ấy, gọi là Tự tướng danh ngôn chủng tử. Lại đứng về phương diện tác dụng mà nói, thì Cộng tướng và Bất cộng tướng danh ngôn chủng tử đều nhờ Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp chủng tử trợ giúp mới có thể chiêu cảm tướng của chúng, tức Cộng nghiệp chủng tử trợ giúp Cộng tướng chủng tử, mới có thể chiêu cảm cộng tướng - Bất cộng nghiệp chủng tử trợ giúp Bất cộng tướng chủng tử, mới có thể chiêu cảm Bất cộng tướng. Theo đó có thể biết, tông nghĩa của Duy thức Đại thừa, bảo rằng bất luận là y báo hay chính báo, hết thảy muôn pháp đều do chủng tử biến hiện. Lại cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 (bản dịch đời Lương) nói, thì chủng tử có đủ sáu điều kiện, gọi là Chủng tử lục nghĩa: 1. Sát na diệt, vì là vô thường nên có sinh diệt biến hóa. 2. Quả câu hữu, quả là thức và căn. Thức và căn cùng dấy lên một lúc, không rời nhau. 3. Hằng tùy chuyển, khi thức dấy lên thì chủng tử cũng theo đó mà chuyển động, không có gián cách. 4. Tính quyết định, những tính thiện, ác mà thức duyên theo, tất có nhân quả, mà không xen tạp, thí dụ như thức mắt duyên theo cảnh xấu xa thì thành pháp xấu xa chứ không thể thành pháp tốt lành được. 5. Đãi chúng duyên, thức chẳng phải một nhân mà sinh, tất phải nhờ (chờ đợi đãi) các duyên bên ngoài mới có thể sinh hiện hành. 6. Dẫn tự quả, sắc (vật chất) và tâm đều tự dẫn sinh tự quả, sắc pháp do chủng tử của sắc pháp sinh ra, tâm pháp do chủng tử tâm pháp sinh ra, quyết không xen tạp lẫn lộn mà thành. Đến như tình hình sinh khởi của chủng tử, thì theo các loại chủ trương xưa nay, có thể qui nạp làm ba thuyết: 1. Bản hữu thuyết, chủ trương của sư Hộ nguyệt, gọi là Bản hữu gia. 2. Tân huân thuyết, chủ trương của sư Nan đà, sư Thắng quân, gọi là Tân huân gia. 3. Tân cựu hợp sinh thuyết, chủ trương của sư Hộ pháp, gọi là Tân cựu hợp sinh gia. Tông Duy thức lấy thuyết thứ ba làm thuyết chính, tức thừa nhận chủng tử có hai loại: 1. Bản hữu chủng tử, tức từ vô thủy đến nay, Chủng tử tiên thiên đã tồn tại trong thức A lại da, cũng gọi là Bản tính trụ chủng. 2. Tân huân chủng tử, tức là chủng tử hậu thiên do các pháp hiện hành mà huân tập thành, cũng gọi là Tập sở thành chủng. Sự phát sinh của các pháp, trừ trường hợp trí vô lậu ở sát na đầu tiên vào Kiến đạo là chỉ do bản hữu vô lậu chủng tử sinh khởi, còn ngoài ra tất cả các pháp khác, không một pháp nào không do cả hai loại chủng tử bản hữu và tân luân hòa hợp mà sinh. Bởi vì, theo tông Duy thức, trong quan hệ Chủng tử biến hiện thành các pháp, thuyết trọng yếu nhất là: do ba pháp cấu thành nhân quả hai lớp. Ba pháp là chỉ Chủng tử năng sinh (bản hữu chủng tử), hiện hành sở sinh, và Tân huân sở huân (tân huân chủng tử). Nhân quả hai lớp, là chỉ chủng tử sinh hiện hành,hiện hành huân nhân chủng tử. Ba pháp ấy cùng một lúc đắp đổi nhau thành hai lớp quả, tức một chủng tử trong cùng một khoảng sát na đã là cái nhân hiện hành, thì cũng là cái quả chủng tử của sát na sau, cho nên cũng có thế gọi là chủng tử sinh chủng tử. Đương khi các duyên sắc, tâm hòa hợp, thì chủng tử trong thức A lại da, ngay lúc đó, tất sản sinh một loại hiện tượng nào đó ở ngoại giới, đó tức là Sinh khởi hiện hành - trong cùng một sát na, pháp hiện hành tất lại tùy sự ứng hợp mà huân chủng tử, đó tức là Hiện hành huân chủng tử. Đứng về phương diện tám thức mà bàn, thì chủng tử do thức thứ tám nắm giữ là nhân, sinh ra bảy chuyển thức mắt, tai v.v... - cùng một sát na, pháp hiện hành của bảy chuyển thức cũng là nhân, sinh khởi chủng tử của thức thứ tám, do đó mà có thuyết Bảy chuyển, tám thức làm nhân quả cho nhau. Ngoài ra, tông Duy thức còn một tông nghĩa khác nữa, đó là thuyết Ngũ tính các biệt, tức chủ trương cho rằng, hết thảy hữu tình chúng sinh từ bản hữu đến nay tức đã có đủ năm loại hình bất đồng là: Thanh văn chủng tính, Độc giác chủng tính, Như lai chủng tính, Bất định chủng tính, và Vô tính hữu tình, mỗi mỗi khác nhau, mà không thể chuyển biến thay đổi. Chủ trương này rất mâu thuẫn với thuyết Chúng sinh tất hữu Phật tính của các nhà Nhất thừa. [X. kinh Giải thâm mật Q.2 - luận Câu xá Q.4, Q.5 - luận Du già sư địa Q.5, Q.51, Q.52 - luận Hiển thức - luận Hiển dương thánh giáo Q.17 - Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần cuối - Du già luận kí Q.13 phần trên, Q.13 phần dưới]. II. Chủng tử. Trong Mật giáo, là chữ Phạm biểu thị Phật, Bồ tát và chư tôn nói chân ngôn. Là chữ mà các hành giả chân ngôn quán chiếu khi tu phép quán Tự luân. Còn gọi là Chủng tự, Chủng tử tự. Sở dĩ gọi là Chủng tử là vì nó có ý từ một chữ có thể sinh ra nhiều chữ, và nhiều chữ lại có thể thu nhiếp vào một chữ. Cho nên biết, danh từ Chủng tử hàm có các nghĩa dẫn sinh, nhiếp trì. Chẳng hạn như hợp mười chữ làm một câu, nếu lấy chữ thứ nhất làm chủng tử, thì có thể dẫn sinh chín chữ dưới có đủ trí quán, đồng thời, ý nghĩa của chín chữ ấy cũng có thể nhiếp vào chữ thứ nhất. Mật giáo dùng lí này mà chủ trương nếu biết rõ một pháp, thì tức biết rõ hết thảy pháp - nếu biết rõ một pháp không, tức biết rõ hết thảy pháp không - nếu có thể ở nơi một chữ mà chuyên chú quán xét, tu các hành nguyện, thì có thể đều được viên mãn hết thảy hành nguyện. Nói cách phổ thông, thì chủng tử gồm có ba nghĩa: 1. Liễu nhân nghĩa, ví như nhờ khói mà biết được thể tính của lửa - nhờ quán xét chữ chủng tử mà có thể biết rõ được trí Phật. 2. Sinh nhân nghĩa, ví như do hạt giống của các loại thực vật có thể sinh ra gốc rễ cây cành hoa quả - do chủng tử có thể sinh ra hình Tam muội da. 3. Bản hữu nghĩa, ý nói môn chữ tức là nguồn gốc của các pháp, đầy đủ tính đức bản lai và có thể làm thành khuôn phép. Vì chủng tử có đủ ba nghĩa nói trên, nên phần nhiều chư tôn Mật giáo lấy đó làm biểu trưng. Đứng về phương diện nguyên lai mà nói, thì chủng tử của chư tôn có mấy loại sau đây:1. Tương đối thường thấy, phần nhiều lấy chữ thứ nhất của chân ngôn, chẳng hạn như chủng tử của Đại nhật Như lai tại Thai tạng giới là, chủng tử của Nguyệt thiên là, chủng tử của Thủy thiên là. 2. Lấy chữ giữa của chân ngôn làm chủng tư, như chủng tử của Địa tạng. 3. Cũng lấy chữ sau cùng của chân ngôn làm chủng tử, như chủng tử của Đại nhật Như lai ở Kim cương giới, chủng tử của Thích ca Như lai . 4. Lấy hiệu Phạm làm chủng tử, như chủng tử của Văn thù, chủng tử của Dược sư . 5. Lấy dụng ngữ tương ứng với bản thệ, như chủng tử của Thánh quan âm, là lấy từ chữ Samantamukha (Phổ môn). 6. Lấy cả chân ngôn và hiệu Phạm, như chủng tử của Phật A di đà. Ngoài những chủng tử của mỗi vị tôn khác nhau ra, còn có chủng tử chung cho các vị tôn, gọi là Thông chủng tử, chẳng hạn như năm bộ Kim cương, đều lấy chủng tử của vị chủ tôn (Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà, Bất không thành tựu) làm chủng tử chung cho các bộ. Lại nữa, chủng tử chẳng phải chỉ hạn ở chư tôn sử dụng, mà tất cả pháp môn đều được kiến lập chủng tử. Chẳng hạn như năm đại đều có chủng tử của chúng: chủng tử của đất là (chữ a), của nước là (chữ phọc), của lửa là (chữ la), của gió là (chữ ha), của không là (chữ khư). Ngoài ra, mạn đồ la có viết chủng tử, gọi là Chủng tử mạn đồ la - dùng chủng tử để quán xét, thì còn gọi là Chủng tử quán. Xưa nay đã có đem chủng tử của chư tôn trong các kinh quĩ Mật giáo thu chép thành Chư tôn chủng tử chân ngôn tập, Chủng tử tập v.v...... [X. Nhân vương kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.hạ - Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.6. Q10, Q.14].
chủng tử ca sa
(種子袈裟) Còn gọi là Chú tự ca sa, Chủng tử y. Tức cắt một mảnh vải lụa dài hơn một mét, rộng khoảng năm mươi phân, rồi viết lên đó ba chữ chủng tử (a), (tông), (hồng) tượng trưng ba áo, gấp đôi theo đường dọc và khâu lại làm ca sa đơn giản mà đeo ở cổ, đây gọi là Chủng tử ca sa. Các tăng lữ Nhật bản thuộc tông phái Thiên thai, Chân ngôn và Tu nghiệm đạo, khi đi ra ngoài, thường dùng ca sa này, hoặc dùng trong lúc làm các việc vặt ở trong nhà. Các tăng lữ thuộc các tông phái khác cũng thường đeo. Cứ theo kinh Nhất tự Phật đính luân vương quyển 1 chép, thì dùng hùng hoàng viết chú lên vỏ cây hoa, bố thí cho các tỉ khưu và tỉ khưu ni để đặt vào góc áo ca sa mà đeo một cách cung kính. Thông thường người ta bảo đây là căn cứ của Chủng tử ca sa ở đời sau. [X. kinh Bi hoa Q.8 phẩm Chư bồ tát bản thụ kí - luật Ma ha tăng kì Q.38].
chủng tử hoặc
(種子惑) Đối lại với Hiện hành hoặc. Là hạt giống sinh ra hết thảy phiền não, cũng tức là căn bản vô tri. Các nhà Duy thức bảo hạt giống phiền não này bám sát con người, mai phục tiềm tàng trong thức A lại da, chờ cơ hội (nhân duyên) hiển hiện. Còn Hiện hành hoặc là chỉ hai loại phiền não chướng và sở tri chướng đã hiển hiện rồi. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu].
chủng tử lục nghĩa
(種子六義) Tông Duy thức bảo chủng tử của các pháp đều có hai loại là Bản hữu và Thủy khởi, và chủng tử phải có đủ sáu điều kiện gọi là Chủng tử lục nghĩa. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 2 chép, thì sáu nghĩa là: 1. Sát na diệt nghĩa, tức là chủng tử của các thức mắt tai mũi lưỡi thân và ý, một niệm vừa mới sinh lại diệt ngay, lại sinh rồi diệt, cứ như thế niệm niệm không ngừng, đổi khác từng sát na. 2. Quả câu hữu nghĩa, quả tức là thức với căn, nghĩa là thức và căn cùng khởi một lúc, để thành lực dụng. Như khi nhãn căn tiếp xúc với cảnh sắc, thì nhãn thức duyên theo cảnh ấy ngay mà thấy rõ ràng các thực cảnh. Tai mũi lưỡi thân ý cũng thế. 3. Hằng tùy chuyển nghĩa, tức là khi các thức mắt, tai ... dấy lên thì chủng tử chuyển động theo. Như khi nhãn căn chạm với cảnh sắc thì chủng tử nhãn thức theo đó mà nối tiếp, không hề gián cách. 4. Tính quyết định nghĩa, tức là các thức đều duyên theo ba tính thiện, ác và vô kí, không xen lẫn. Như thức mắt duyên theo cảnh xấu ác thì thành pháp xấu ác, chứ không thể thành pháp tốt lành được - duyên theo cảnh tốt lành thì thành pháp tốt lành, chứ không thể thành pháp xấu ác được - nếu duyên theo vô kí thì không thể thành hai pháp tốt, xấu. 5. Đãi chúng duyên nghĩa, tức là chủng tử của các thức chẳng phải duyên theo một nhân mà sinh, phải chờ đủ duyên thì sau mới thành tựu. Như chủng tử của thức mắt phải được quang đãng (không bị bít lấp, ngăn che), có ánh sáng, căn, cảnh v.v... có đủ các duyên như thế mới hiển phát được. 6. Dẫn tự quả nghĩa, tức là các thức đều dẫn tự thể quả dụng riêng, chứ không lẫn lộn sắc, tâm mà thành. Như khi nhãn căn tiếp xúc với cảnh, thì nhãn thức duyên theo cảnh thực trước mắt, chứ không lẫn với thể riêng của âm thanh hay mùi thơm. Luận Du già sưđịa quyển 5 bảo nhân... có bảy tướng, tức pháp vô thường là nhân, với tính khác là nhân và với tự tính sau là nhân, sinh rồi chưa diệt là nhân, được duyên khác là nhân, thành biến dị là nhân, tương ứng với công năng là nhân, xứng nhau thuận nhau là nhân. Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng phần cuối, cho bảy tướng này tương đương với sáu nghĩa của chủng tử được trình bày ở trên. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng - Nhiếp đại thừa luận Vô tính thích Q.2 - Nhiếp đại thừa luận Thế thân thích Q.2 - Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu - Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3 - Thành duy thức luận diễn bí Q.3 phần đầu].
Chủng tử lục nghĩa 種子六義
[ja] シュシロクギ shushi rokugi ||| The six characteristics of seeds: (1) Momentariness 刹那滅. Seeds pass out of existence each instant, and produce corresponding new seeds which endure for one instant and then pass out of existence, producing corresponding new seeds, and so on. Seeds must be momentary because that which is eternal is incapable of producing. (2) 果倶有 Seeds must be simultaneous with their manifestations. (3) 恒隨轉 Seeds must function in tandem with their appropriate consciousness. (4) 性決定 Seeds must have the same moral nature as their manifestations. (5) 待衆縁 Seeds can produce their manifestations only after the necessary associated causes are present. (6) 引自果 Each seed must produce its own peculiar manifestation and no other. These are defined in the Commentary to the Summary of the Great Vehicle. 〔攝大乘論釋 T 1597.31.329b28-c10〕 => Sáu nghĩa của chủng tử: 1. Sát-na diệt刹那滅: các chủng tử hiện hành và biến mất trong từng phút chốc, rồi hiện hành những chủng tử mới tương ứng kéo dài trong thoáng chốc rồi lại biến mất, tạo ra những chủng tử mới... tiếp tục như vậy. Các chủng tử hiện hữu nhất thời vì sự tồn tại ấy không đủ khả năng để kéo dài. 2. Quả câu hữu 果倶有: chủng tử hiện hữu đồng thời với sự biểu hiện của chúng. 3. Hằng tuỳ chuyển恒隨轉 : chủng tử có tác dụng sinh khởi liền tiếp nối theo các thức tương ứng. 4. Tính quyết định性決定: chủng tử có cùng phẩm tính như sự hiện hành của chúng. 5. Đãi chúng duyên 待衆縁: chủng tử phát sinh sự hiện hành của mình phải tuỳ thuộc vào các duyên trong hiện tại. 6. Dẫn tự quả 引自果: Mỗi chủng tử đều có sự biểu hiện riêng biệt không như những chủng tử khác. Những điều nầy đều được nói rõ trong Nhiếp Đại thừa luận thích 攝大乘論釋
chủng tử nghiệp
Xem Nghiệp chủng.
chủng tử như lai
The seed of Tathagata—See Chủng Tử Phật.
chủng tử phật
1) Chủng tử Phật hay Bồ Tát, nếu đem gieo vào tâm thức con người, sẽ nẩy mầm Phật hay giác ngộ—The seed of Buddhahood—Bodhisattva seeds which sown in the heart of man, produce the Buddha fruit or enlightenment. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương tám, phẩm Phật Đạo, cư sĩ Duy Ma Cật có hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi về hạt giống Như Lai như sau—According to the Vimalakirti Sutra, chapter eighth, the Buddha Path, Upasaka Vimalakirti asked Manjusri Bodhisattva about the seed of Tathagata as follows: • Bấy giờ ông Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Thế nào là hạt giống Như Lai?”—Vimalakirti then asked Manjusri: “What are the seeds of the Tathagata?” • Ngài Văn Thù đáp—Manjusri replied: (a) Có thân là hạt giống: “Body is (a) seed of the Tathagata; (b) Vô minh có ái là hạt giống: Ignorance and craving are its (two) seeds; (c) Tham sân si là ba hạt giống: Desire, hate and stupidity its (three) seeds; (d) Tứ điên đảo là bốn hạt giống: The four inverted views its (four) seeds (see Tứ Điên Đảo); (e) Năm món ngăn che là năm hạt giống: The five covers (or screens) its (five) seeds (see Ngũ Triền Cái); (f) Lục nhập là sáu hạt giống: The six organs of sense its (six) seeds (see Lục Nhập); (g) Thất thức là bảy hạt giống: The seven abodes of consciousness its (seven) seeds; (h) Tám tà pháp là tám hạt giống: The eight heterodox views its (eight) seeds; (i) Chín món não là chín hạt giống: The nine causes of klesa (troubles and their causes) its (nine) seeds; (j) Thập ác là mười hạt giống: The ten evils its (ten) seeds. To sum up, all the sixty-two heterodox views and all sorts of klesa are the seeds of Buddhahood. 3) Ông Duy Ma Cật hỏi: “Tại sao thế?”—Vimalakirti asked Mnjusri: “Why is it so?” • Văn Thù đáp: “Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết Bàn) thời không thể còn phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nữa. Ví như chỗ gò cao không thể sinh hoa sen, mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen. Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền não mới có chúng sanh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hạt giống trên hư không thì không sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi được. Như thế, người đã vào vô vi chánh vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngã kiến như núi Tu Di còn có thể phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải biết tất cả phiền não là hạt giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền não thời làm sao mà có ngọc báu'nhứt thiết trí.'”—Manjusri replied: “Because he who perceives the inactive (wu wei) state and enters its right (nirvanic) position, is incapable of advancing further to achieve supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi). For instance, high ground does not produce the lotus which grows only in marshy land. Likewise, those perceiving nirvana and entering its right position, will not develop into Buddhahood, whereas living beings in the mire of klesa can eventually develop the Buddha Dharma. This is also like seeds scattered in the void which do not grow, but if they are planted in manured fields they will yield good harvests. Thus, those entering the right position (of nirvana) do not develop the Buddha Dharma, whereas those whose view of the ego is as great as (Mount) Sumeru may (because of the misery of life) eventually set their minds on the quest of supreme enlightenment, thereby developing the Buddha Dharma. “Therefore, we should know that all sorts of klesa are the seeds of the Tathagata. This is like one who does not plunge into the ocean and will never find the priceless pearl. Likewise, a man who does not enter the ocean of klesa will never win the gem of all-knowledge (sarvajna).”
chủng tử phật pháp
The seed of Buddha teaching—When the seed of Buddha teaching is sown in the heart , it will be ripen sooner or later.
chủng tử sinh hiện hành
(種子生現行) Nói tắt là Chủng sinh hiện. Nghĩa là do nơi chủng tử ở trong tâm thức người ta mà phát sinh sự hiện hành của các pháp. Tức là vô số chủng tử tồn tại trong thức thứ tám (thức A lại da), sinh khởi bao nhiêu là sự vật hiện ngay trước mắt - mà giữa khoảng chủng tử và hiện hành là cùng một sát na chứ không xen cách. [X. luận Thành duy thức Q.2]. (xt. Chủng Tử).
chủng tử thức
Xem A lại da thức.
; Alaya-vijnàna (S). The abode or seed-store of consciousness from which all phenomena spring, producing and reproducing momentarily
; Alaya-vijnana (skt)—Tên khác của A Lại Da Thức (vì giữ gìn được tất cả các hạt giống thế gian, hữu lậu và vô lậu, nên được gọi là Chủng Tử Thức)—Another name for Alaya-vijnana. The abode or seed-store of consciousness from which all phenomena spring, producing and reproducing momentarily.
Chủng tử thức 種子識
[ja] シュシシキ shushishiki ||| The seed consciousness (bīja-vijñāna). A synonym for the container consciousness 阿頼耶識, indicating it as the place where seeds are contained and matured. 〔攝大乘論 T 1593.31.116b12〕 => Đồng nghĩa với A-lại-da thức, chỉ cho nơi mà chủng tử được lưu giữ và thành thục.
Chủng tử 種子
[ja] シュシ、シュジ shushi/shuji ||| Seeds. The term originally refers to the seeds of plants, but is used in Buddhism in a metaphorical sense. (1) First, in a religion which relies so much on "cause and effect" theory, seeds are a metaphor for the causes 因 of things, but especially as causes of the afflictions. (bīja, bīja-dharma). 〔瑜伽論, T 1579.30.364a〕 (2) The potentiality for something to be produced. 〔T 1558.29.22c〕 (3) In Yogācāra Buddhism 瑜伽行派, the 'seeds' are one phase of the latent potentialities of all mental and physical elemental constructs which are stored in the ālaya consciousness 阿頼耶識. Coming into existence as the result of present activities and conditions, the seeds result in new potentialities, giving rise to continued existence which has a direct relationship to prior causes and conditions. 〔成唯識論T 1585.31.8, 瑜伽論T 1579.30.363c 〕(Tib. sa bon). Seeds are explained as having six characteristics. See 種子六義. => Hạt giống. Thuật ngữ nầy vốn chỉ cho hạt giống thực vật, nhưng được dùng trong Phật giáo với ý nghĩa ẩn dụ. 1. Với một tôn giáo dựa vào thuyết 'nhân quả', thì chủng tử là ẩn dụ cho nhân của mọi vấn đề, đặc biệt là nhân gây ra phiền não (s: bīja, bīja-dharma). 2. Tiềm năng của một cái gì đó sẽ phát sinh. 3. Trong Du-già hành phái Phật giáo, 'chủng tử' là phương diện tiềm năng ẩn tàng của mọi cấu trúc tinh thần và vật chất được chứa sẵn trong A-lại-da thức. Nó sẽ hiện hữu như là kết quả của những hành vi và điều kiện hiện hành, chủng tử là kết quả của những tiềm năng mới, sẽ tiếp tục hiện hành và có một mối liên hệ trực tiếp với nhân duyên trước đó.
chủng tự
Syllable.
chủng địa
Xem Tánh Địa.
Chủng 種
[ja] シュ shu ||| (1) Seed, grain; cause, origin. Used metaphorically in Buddhism, especially in the school of Consciousness-only to refer to latent karmic power. See 種子 (zhongzi). (2) To plant, to sow. (3) A species, class, type, a sort, a predisposition. (4) To spread, propagate. => 1. Hạt giống; căn nguyên; nguồn gốc. Được dùng ẩn dụ trong Phật học, đặc biệt là trong Duy thức tông để chỉ cho năng lực âm ỉ tiềm tàng của nghiệp. Xem Chủng tử 種子. 2. Gieo trồng. 3. Loại, hạng, kiểu, cách, bẩm chất, khuynh hướng. 4. Phổ biến, truyền bá.
chứa chan
Abundant.
chức
Phận sự—Official duty.
chức chúng
(職衆) Còn gọi là Sắc chúng. Chỉ chúng tăng trong Mật giáo giữ các chức cầm hoa, cầm phan, cầm kim cương v.v... khi cử hành lễ Quán đính hoặc đại Pháp hội. Vì họ mặc những ca sa có mầu sắc rực rỡ, cho nên cũng gọi là Sắc chúng - về sau vì đảm nhiệm các chức, bèn gọi là Chức chúng. Cứ theo Hiển Mật uy nghi tiện lãm quyển hạ mục Pháp sư chức chúng chép, thì chư tăng làm các pháp sự trong Mật giáo gọi là Chức chúng, lại theo mầu ca sa của họ mà chia làm hai phẩm: 1. Những người mặc nạp y, gọi là Nạp chúng, cũng gọi là Trì kim cương chúng. 2. Những người mặc giáp y, gọi là Giáp chúng, cũng gọi là Tám chúng.
chức nghiệp
Profession—Career.
chức năng
Vyapana (skt)—Function.
Chức Phương
(職方): tên gọi của một chức quan dưới thời nhà Chu chuyên quản lý bản đồ của thiên hạ và thâu thập những vật phẩm dâng cống từ khắp bốn phương. Cho nên Chức Phương Ký (職方記) là thư tịch ghi chép về bản đồ của các nước cũng như vật triều cống của vị quan Chức Phương.
chức phận
Trách nhiệm—Responsibility—Duty.
Chức Điền
(織田, Oda): tên gọi của một dòng họ, con của Bình Tư Thạnh là vị Tổ của họ này. Con cháu ông kế thừa nhau, sống ở vùng Chức Điền (織田), Quận Đơn Sanh (丹生郡), Việt Tiền (越前, Echizen). Đến đầu thời đại Thất Đinh thì họ này theo vị quan Thủ Hộ Tư Ba (斯波) đến vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), và đến thời Tín Trưởng (信長) thì rất hưng thạnh.
chức điền phật giáo đại từ điển
(織田佛教大辭典) Có 1 quyển. Do Chức điền đắc năng, người Nhật bản, biên soạn. San hành vào năm Đại chính thứ 6 (1917). Tác giả đã để cả cuộc đời vào việc biên soạn bộ từ điển này. Từ năm Minh trị 32 (1899) đến khi lâm bệnh mất (1911) trải hơn mười năm mà bản thảo vẫn chưa xong, sau Cao nam thuận thứ lang, Thượng điền vạn niên, Phương hạ thỉ nhất, Đại phật vệ v.v... biên thêm, sửa chữa và xuất bản. Sách này sưu tập các ngữ vựng tương quan, chia làm hai mươi tám loại là Danh giáo, Thuật ngữ, Địa danh, Nhân danh v.v... phân biệt giải thích, nói rõ xuất xứ, cuối sách có phụ bản chỉ dẫn cách tra năm mươi âm, tra nét chữ, tra tiếng Phạm, rất tiện lợi, có thể được coi là tiên khu của các từ điển Phật giáo hiện đại. Đặc sắc của bộ sách là sau này, Phật học đại từ điển của Đinh phúc bảo, Phật giáo đại từ vựng của Long cốc, đều có phỏng theo.
Chức Điền Tín Trưởng
(織田信長, Oda Nobunaga, 1534-1582): vị võ tướng sống dưới thời đại Chiến Quốc và An Thổ, con trai thứ của Chức Điền Tín Tú (織田信秀, Oda Nobuhide). Ông đã từng dẹp tan Kim Xuyên Nghĩa Nguyên (金川義元) ở Dũng Hiệp Gian (桶狹間, Okehazama) và đi chinh lược khắp nơi. Vào năm 1568 (niên hiệu Vĩnh Lộc [永祿] thứ 11), ông ủng hộ cho Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chiêu (足利義昭, Ashikaga Yoshiaki) và được tiến cử lên kinh đô; nhưng năm 1573 (niên hiệu Thiên Chánh [天正] nguyên niên) thì đuổi Nghĩa Chiêu và tiêu diệt chính quyền Mạc Phủ. Ông xây dưng Thành An Thổ (安土城) và sắp tiến đến thống nhất thiên hạ; nhưng bị Minh Trí Quang Tú (明智光秀) đột kích bất ngờ ở Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji) thuộc kinh đô Kyōto, nên ông đã tự vẫn tại đây.
chức điền đắc năng
(織田得能) (1860 - 1911) Một vị tăng học giả phái Đại cốc thuộc Chân tông Nhật bản. Người huyện Phúc tỉnh. Hiệu Vân khê. Mười ba tuổi xuất gia. Theo học Hán văn và kinh điển thuộc các tông Duy thức, Câu xá. Sau được gặp ngài Đảo địa mặc lôi ở chùa Tây bản nguyện, sư khởi thảo Tam quốc Phật giáo sử lược. Năm Minh trị 21 (1888), sư sang Thái lan xem xét Phật giáo Nam truyền, mang về hơn sáu mươi pho kinh điển lá bối, vài pho tượng Phật. Sau khi về nước, năm Minh trị 23, sư tham dự kế hoạch sáng lập Hội Phật giáo Đông nam á. Năm sau sư vào ở chùa Tông ân tại Đông kinh, đổi lại họ cũ Sinh điền làm Chức điền. Năm Minh trị 33 sư du học Trung quốc, Ấn độ. Từ năm Minh trị 32, sư đã bắt đầu dốc sức vào việc biên soạn bộ Phật học từ điển, trải hơn mười năm, bản thảo chưa xong, nhưng lâm bệnh mà mất, sau do các học giả Cao nam thuận thứ lang, Thượng điền vạn niên, Phương hạ thỉ nhất, Đại phật vệ v.v... biên soạn tiếp, sửa lại và xuất bản. Bộ sách này có thể được coi là tiên khu của các loại từ điển Phật giáo hiện đại. Ngoài ra, sư còn viết: Xiêm la Phật giáo sự tình, Pháp hoa kinh giảng nghĩa, Hán cao tăng truyện.
chứng
Adhigamā (S)ĐắcNgộ nhập chân lý, thể nghiệm đúng như thật.
; To prove, witness to, testify, substantiate, attain to; evidence; experience; realize; assurance, conviction.
; Chính trí vô lậu khế hợp với chân lý sở duyên gọi là chứng. Chứng bao hàm đối tượng ngoài tâm mà giác quan ta kinh nghiệm được hay nhận ra rõ ràng sự kiện đó như sờ sờ trước mắt. (A) Chứng—Sacchikaroti (p)—Sakshatkaroti (skt). • Chứng thật: To assure—To prove with evidence—To testify. • Đạt được: To attain. • Đem đến trước mắt: To bring before one's eyes. • Kinh nghiệm: To experience—Experience. • Làm cho thấy rõ ràng trước mắt: To make visibly present before the eyes. • Ngộ: To realize. • Nhìn thấy bằng mắt: To look at with the eyes. • Nhận ra rõ ràng: To realize. • Thấy tận mặt: To see face to face—To witness. (B) Sự chứng: Sacchkiriya or Sacchikaranam (p)—Sakshatkriya or Sakshatkarana (skt)—Phạn ngữ (Nam và Bắc Phạn) Sacchi và Sakshat có nghĩa là với mắt, chính với mắt hay trước mắt. Trong khi từ “karanam là làm; và hai từ Kiriya và Kriya là hành động—Pali and Sanskrit words of “Sacchi” or “Sakshat” means with the eyes, with one's eyes, or before the eyes. While the words of karanam means “making;” and two words “Kiriya,” and “kriya” mean action, deed, or performance. • Đạt được: Attaining. • Hành động hay việc làm đặt trước mắt: The act putting before the eyes. • Hiển nhiên hay sự nhận thức rõ ràng—Evident or realization. • Kinh nghiệm: Experience. • Sự trực nhận: Intuitive perception.
; (證) Phạm, Pàli: Adhigama. Tu tập chính pháp, thể nghiệm mà ngộ nhập chân lí như thực, gọi là Chứng - tức là trí tuệ đã khế hợp với chân lí. Cái kết quả do chỗ ngộ nhập mà chứng được trí tuệ, gọi là Chứng quả. Hoặc lần lượt tu hành qua các giai đoạn mà chứng, thì gọi là Phần chứng. Cùng với Giáo, Hành gọi chung là ba pháp - cùng với Giáo - Hành - Tín gọi chung là bốn pháp. Chứng, hàm ý là khế hợp chân lí mà ngộ nhập, vì thế có các từ ngữ khế chứng, chứng khế, chứng hội, chứng ngộ, chứng nhập v.v…... Lại cái cảnh giới chứng được hàm ý là duy chính mình thể nghiệm được, cho nên có các tên gọi như kỉ chứng, nội chứng, tự nội chứng. Về phần năng chứng, gọi là chứng trí, chứng tri. Đứng về phương diện tu nhân mà nói, thì gọi là chứng đắc, chứng quả. Về mặt giáo pháp hoặc giáo đạo, thì gọi là chứng pháp hoặc chứng đạo. Ngoài ra còn có các danh xưng như tu chứng, giáo hành chứng, giáo hành tín chứng v.v... [X. luận Câu xá Q.25 - luận Đại thừa khởi tín - Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối - Đại thừa nghĩa chương Q.9].
chứng bồ đề tối thượng
Bodhim-spṛsate (S).
chứng chân đế
To be perfectly aware of the essence of true reason.
Chứng Chơn
(証眞, Shōshin, ?-?): học tăng của Thiên Thai Tông thuộc Phái Chánh Thống, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Chứng Chơn (証眞), con của vị Trưởng Quan Kami vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga) là Đằng Nguyên Thuyết Định (藤原說定). Ông là người đầu tiên phê phán tư tưởng Bản Giác của Thiên Thai Tông Nhật Bản. Ban đầu ông theo Long Huệ (隆慧), Vĩnh Biện (永辨) học giáo lý Thiên Thai; rồi chuyên tâm đọc Đại Tạng Kinh ở Bảo Xứ Viện (寳處院), cho nên tương truyền ông chẳng hề hay biết gì về cuộc loạn tranh giữa hai dòng họ Nguyên (源, Minamoto) và Bình (平, Taira). Sau đó, ông thiết lập hội thuyết giảng ở Hoa Vương Viện (華王院) và cống hiến tất cả cho trước thuật ở Bảo Địa Phòng (寳地房). Đến năm 1186, ông đến nghe giảng về giáo nghĩa Tịnh Độ của Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên [法然, Hōnen]) ở Thắng Lâm Viện (勝林院) vùng Đại Nguyên (大原, Ōhara), Sơn Thành (山城, Yamashiro) và tương truyền ông có thọ Viên Đốn Giới tại đây. Cho nên, ông đã từng giao du với Pháp Nhiên, người có khuynh hướng phê phán tư tưởng Bản Giác từ lập trường của Tịnh Độ Niệm Phật. Năm 1204, ông khuyến thỉnh Từ Viên (慈圓, Jien), vị Thiên Thai Tọa Chủ lúc bấy giờ, phục hưng lại truyền thống An Cư. Trước tác của ông để lại rất nhiều như Pháp Hoa Tam Đại Bộ Tư Ký (法華三大部私記) 30 quyển, Niết Bàn Luận Sớ Nghĩa Sao (涅槃論私記) 4 quyển, Trí Độ Luận Tư Ký (智度論私記) 2 quyển, Kim Phê Luận Tư Ký (金錍論私記) 1 quyển, v.v.
chứng cớ
Proof—Evidence.
chứng dẫn
To quote—To cite.
chứng giác
To prove and perceive, to know by experience.
; Chứng ngộ được chân lý đạo Phật—To prove and perceive, to know by experience.
chứng giám
To witness; to bear witness to, of (sth). Xin Phật chứng giám: I call Buddha to witness.
Chứng Không
(証空, Shōkū, 1177-1247): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, Tổ của Dòng Tây Sơn (西山流), húy là Chứng Không (証空), thường được gọi là Tây Sơn Thượng Nhân (西山上人), Tây Sơn Quốc Sư (西山國師), hiệu là Giải Thoát Phòng (解脫房), Thiện Huệ Phòng (善慧房), thụy hiệu là Giám Trí Quốc Sư (鑑智國師); xuất thân vùng Kyoto, con trai trưởng của vị Quyền Trưởng Quan Kami vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) là Nguyên Thân Quý (源親季). Lúc nhỏ, ông được vị Nội Đại Thần Cửu Ngã Thông Thân (久我通親) nuôi dưỡng, rồi đến năm 1190 thì theo hầu Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) mà học Tịnh Độ Giáo. Năm 1204 ông ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy để đối phó với sự đàn áp của đồ chúng Thiên Thai Tông. Ông đã từng theo hầu hạ Nguyên Không trong suốt 23 năm trường, và kế thừa Viên Đốn Giới. Sau khi thầy qua đời, ông đến sống ở Vãng Sanh Viện (徃生院), tức Tam Cô Tự (三鈷寺), ngôi chùa do Từ Viên (慈圓) phó chúc lại, và giảng thuyết về giáo lý của Thiện Đạo (善導). Những người thuộc tầng lớp quý tộc quy y theo ông rất nhiều, nên trong vụ đàn áp mãnh liệt của Tỷ Duệ Sơn vào năm 1227, ông được miễn tội. Đến năm 1229, ông đến tham bái Đương Ma Tự (當麻寺) ở vùng Đại Hòa (大和, Yamato), từ đó về sau, ông chuyên tâm làm cho phổ cập hóa pháp tu Đương Ma Mạn Trà La (當麻曼荼羅). Dòng phái của ông được gọi là Dòng Tây Sơn. Trước tác của ông để lại có Quán Môn Yếu Nghĩa Sao (觀門要義鈔) 41 quyển, Quán Kinh Sớ Tha Bút Sao (觀經疏他筆鈔) 14 quyển, Quán Kinh Bí Quyết Tập (觀經秘決集) 20 quyển, Đương Ma Mạn Trà La Chú Ký (當麻曼荼羅註記) 10 quyển, v.v.
chứng không
(證空) (1177- 1247) Tổ sư của phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Thường gọi là Tây sơn thượng nhân. Sư họ Nguyên, hiệu Thiện tuệ phòng. Được ban thụy Giám trí quốc sư. Xuất thân từ tầng lớp công khanh, mười bốn tuổi xuất gia, vào cửa ngài Pháp nhiên học giáo nghĩa Tịnh độ. Lại tham vấn hững bậc thạc học của các tông, cùng suốt giáo nghĩa, được truyền giới Bồ tát viên đốn. Khi ngài Pháp nhiên soạn Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, sư Chứng không giữ việc xem xét lại. Sau ở chùa Thiện phong tại Tây sơn, thường tu niệm Phật không ngừng, sáu thời lễ tán, hỏi đáp luận bàn. Sau khi ngài Pháp nhiên thị tịch, sư dốc sức vào việc tuyên dương Tịnh độ giáo. Có viết: Tuyển trạch tập mật yếu quyết, Đương ma mạn đồ la chú. Sư thị tịch năm Bảo trị năm đầu, thọ bảy mươi mốt tuổi. [X. Tây sơn thượng nhân truyện - Tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương].
chứng kiến
To behold—To witness—To testify.
chứng kiến cảnh sanh, già, bịnh, chết
Witnessed the misfortunes of birth, old age, disease and death.
chứng minh
To prove; to show proof; to justify. Cứu cánh chứng minh cho phương tiện: The end justifies the means.
; To prove clearly—To have the clear witness within.
Chứng Minh Sư
(證明師): vị thầy chứng giám cho đàn tràng pháp sự. Trong Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Uy Nghi Kinh (優婆塞五戒威儀經, Taishō Vol. 24, No. 1503) có đoạn: “Thập phương chư Phật cập Đại Ca Diếp, thân ư Phật tiền thọ A Lan Nhã pháp, Phật tác Chứng Minh Sư, vi tác chứng tri (十方諸佛及大迦葉、親於佛前受阿蘭若法、佛爲作證明師、爲作證知, mười phương các đức Phật và Đại Ca Diếp, đến trước Phật thọ pháp A Lan Nhã, đức Phật làm Thầy Chứng Minh, để chứng tri cho).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) lại có đoạn rằng: “Đệ tử mỗ giáp đẳng, phổ cập pháp giới chúng sanh, phụng thỉnh Thích Ca Như Lai dĩ vi Hòa Thượng, phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vi A Xà Lê, phụng thỉnh Di Lặc Bồ Tát vi Giáo Thọ Sư, phụng thỉnh thập phương chư Phật vi Chứng Minh Sư, phụng thỉnh thập phương Bồ Tát dĩ vi kỷ bạn, ngã kim y Đại Thừa thậm thâm diệu nghĩa, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (弟子某甲等、普及法界眾生、奉請釋迦如來以爲和尚、奉請文殊師利菩薩爲阿闍梨、奉請彌勒菩薩爲敎授師、奉請十方諸佛爲證明師、奉請十方菩薩以爲己伴、我今依大乘甚深妙義、歸依佛、歸依法、歸依僧, đệ tử … vân vân, cùng khắp chúng sanh trong pháp giới, cung thỉnh đức Thích Ca Như Lai làm Hòa Thượng, cung thỉnh Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi làm A Xà Lê, cung thỉnh Bồ Tát Di Lặc làm Thầy Giáo Thọ, cung thỉnh mười phương các đức Phật làm Thầy Chứng Minh, con nay nương theo nghĩa mầu sâu xa của Đại Thừa, quay về nương tựa Phật, quay về nương tựa Pháp, quay về nương tựa Tăng).” Thông thường, vào cuối lòng văn Sớ có câu: “Bỉnh giáo phụng hành gia trì pháp sự, mỗ tự Trú Trì, húy thượng mỗ hạ mỗ Hòa Thượng chứng minh (秉敎奉行加持法事某寺住持諱上某下某和尚證明, Hòa Thượng chứng minh húy thượng … hạ …, Trú Trì Chùa … theo lời dạy vâng làm, gia trì pháp sự).”
chứng nghiệm
Anubhuti (skt)—To verify—Experimental evidence—Sự hiểu biết không do ký ức, như sự hiểu biết từ tri giác, cảm thọ, và cảm giác, vân vân—Knowledge derived from any sources but memory, i.e., knowledge from perception, from feelings, from sensing, etc.
chứng nghiệm vãng sanh
Proof of rebirth in the Pure Land—Phật tử chân chánh nên nhớ rằng chứng nghiệm vãng sanh không phải là đoán biết coi ngày nào giờ nào mình chết, hoặc giả thấy một vài cái gọi là điềm lành, vì tà giáo ngoại đạo cũng làm được điều nầy. Chứng nghiệm vãng sanh thật sự là ngay từ bây giờ trở đi, chúng ta phải từng phút từng giây tinh chuyên tu hành, sáng ngồi thiền, trưa làm công quả, chiều niệm Phật—Devoted cultivators should always remember that to have “proof of rebirth in the Pure Land” does not mean that you know the day and time you will die, or see some so-called auspicious signs for externalists can guess such thing. Real “proof of rebirth in the Pure Land” is that from now on we must be earnest in our cultivation, practicing Zen in the morning, performing good deeds at noon, and reciting Amitabha Buddha's name at night.
chứng nghĩa
(證義) Cũng gọi là chứng nghĩa giả (Người chứng nghĩa) I. Chứng nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là người đảm nhận việc phán quyết trên hội bàn nghĩa, tiêu chuẩn để phán quyết, chủ yếu là căn cứ vào các câu hỏi và các câu đáp của hai bên Lập (người lập luận), Địch (người vấn nạn) xem có đúng qui định thành lập không. II. Chứng nghĩa. Là người giữ chức chứng minh văn nghĩa tiếng Phạm trong hội trường phiên dịch. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43 chép, thì khi ngài Thiên tức tai (? - 1000) chủ trì dịch trường, ngoài Dịch chủ ra, còn đặt tám chức nữa, mỗi chức trông coi một việc, và Chứng nghĩa tức là một trong các chức đó. Người giữ chức này, ngồi ở bên trái Dịch chủ, trước khi Dịch chủ tuyên đọc tiếng Phạm, thì người Chứng nghĩa cùng với Dịch chủ cùng bàn bạc lượng định nghĩa của câu văn tiếng Phạm - lại sau khi dịch ra chữ Hán rồi, người Chứng nghĩa phải đối chiếu với nguyên nghĩa tiếng Phạm để xem văn dịch có được chính xác không.
chứng ngộ
Sandiṭṭhiko (S), Paṭivedha (S), Shōgo (J), Attainment.
; Prativedha (S). Mystic-insight, conviction by thinking, realization, to prove and ponder. Penetration, attainment. Also thấu triệt.
; Không cần qua bộ óc suy tư, chỉ giữ nghi tình mà bổng nhiên phát hiện Tự tánh cùng khắp không gian thời gian, gốc nghi chợt dứt, đạt đến tự do tự tại, cũng gọi là kiến tánh.
; Sakshatkara-sambhodhana (skt)—Attainment—The experience of enlightenment—Dùng chánh trí để chứng thực hiểu biết chân lý (sự chứng ngộ không do trao truyền mà hành giả phải tự chứng lấy)—Mystic insight, conviction by thinking, realization, to prove and ponder.
chứng ngộ niết bàn
Nibbana-sacchikiriya (p)—Realization of Nirvana.
chứng nhân
Witness.
Chứng Như
(証如, Shōnyo, 1516-1554): vị tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Chiến Quốc, vị Tổ đời thứ 10 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Quang Giáo (光敎), tên khi nhỏ là Quang Tiên Hoàn (光仙丸), Quang Dưỡng Hoàn (光養丸), hiệu Chứng Như (証如), thụy hiệu là Tín Thọ Viện (信受院), xuất thân vùng Kyoto (?), con của Viên Như (圓如). Sau khi Thật Như (實如, Jitsunyo) qua đời, ông kế thế làm trú trì Bổn Nguyện Tự đời thứ 10. Ông bổ tá cố ngoại mình là Liên Thuần (蓮淳) cùng với mẹ là Khánh Thọ Viện (慶壽院), chuyên lo xử lý các việc lớn nhỏ ở vùng Gia Hạ (加賀, Kaga). Năm 1532, nhân vụ loạn Thiên Văn Pháp Hoa, ngôi Bổn Nguyện Tự ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) bị cháy tan tành; sau đó ông dời đến vùng Thạch Sơn (石山), chỉnh đốn việc quản lý chùa và nỗ lực tăng cường thể chế giáo đoàn. Trước tác của ông có Thiên Văn Nhật Ký (天文日記) 20 quyển.
chứng nhận
To certify—To attest.
chứng nhập
Ayana (S). Experiential entry into Buddha truth. Going to reality, to goal. Also chứng hội.
; Lấy chánh trí như thực chứng được chân lý—Experiential entry into Buddha-truth. 1) Phần Chứng: Partial, as in Hinayana and early Mahayana. 2) Toàn Chứng: Viên mãn—Complete, as in the perfect school of Mahayana.
; (證入) I. Chứng nhập. Phạm: Praviwỉa. Còn gọi là Ngộ nhập, Đắc nhập, Chứng ngộ. Tức dùng chính trí chứng được chân lí như thực. Đây có hai thứ Phần, Mãn khác nhau, cực quả của Nhị thừa, và Sơ địa trở lên cho đến Thập địa, Đẳng giác v.v... đều là Phần (mới chứng được một phần), duy chỉ có Diệu giác mới là Mãn (chứng được trọn đủ).[X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Như lai thọ lượng - Chính pháp nhãn tạng Q.1 Biện đạo thoại]. II. Chứng nhập (1195?- 1244). Vị tăng tông Tịnh độ Nhật bản. Tổ sư của dòng Đông sơn thuộc phái Tây sơn. Họ Nhân điền. Tự Quan kính. Theo ngài Chứng không phái Tây sơn học tông nghĩa Tịnh độ, hiểu được ý chỉ sâu xa của thầy. Sau mở ra viện Adiđà ở Đông sơn tại kinh đô để truyền bá tôn chỉ của thầy. Dòng của sư gọi là Đông sơn lưu, Đông sơn nghĩa. Sư tịch vào năm Khoan nguyên thứ 2, không rõ tuổi thọ, có thuyết bảo năm mươi tuổi. [X. Tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương - Tịnh độ truyền đăng tổng hệ phổ Q.hạ]
chứng nào tật nấy
Incorrigible.
chứng pháp
Sakkhi-dhammam (P).
; (證法) I. Chứng pháp. Pàli: Sakkhi dhammaô. Chỉ cho lí pháp được chứng ngộ. Kinh nghĩa túc quyển hạ (Đại 4, 184 hạ), nói: Tuệ cùng cực chẳng quên pháp, chứng pháp vô số đã thấy. II. Chứng pháp. Một trong hai pháp giáo đạo chứng đạo nói trong luận Câu xá. Chỉ Thanh văn, Duyên giác (Độc giác) đều do các đạo pháp sai biệt bốn đế, mười hai nhân duyên mà chứng ngộ. Câu xá luận quang kí quyển 29 (Đại 41, 438 thượng), nói: Chứng pháp, nghĩa là Bồ đề phần pháp của ba thừa Thanh văn, Độc giác và Như lai.
chứng phát tâm
(證發心) Là phát tâm thứ ba trong ba thứ phát tâm được chép trong luận Đại thừa khởi tín. Chỉ sự phát tâm của Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Bồ tát ở các giai vị này, chứng được Pháp thân chân như, phát khởi chân tâm, phương tiện tâm, nghiệp thức tâm để lợi ích chúng sinh. [X. Thập địa kinh luận Q.2 - Đại thừa nghĩa chương Q.9 - Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần cuối]. (xt. Tam Tâm, Tam Chủng Phát Tâm).
chứng phần
The part of self realization.
chứng quả
The fruits or rewards of the various stages of attainment; to be enlightened.
; Quả chứng được trong từng giai đoạn khác nhau (Tiểu Thừa chứng tứ Thánh quả, Đại Thừa Bồ Tát chứng Thập Địa, Phật chứng Phật quả chánh trí vô lậu)—The fruits or rewards of the various stages of attainment.
; (證果) Chỉ sự chứng vào quả vị. Tức đem chính trí khế hợp chân lí mà tiến vào các quả vị Phật, Bồ tát, Thanh Văn và Duyên giác. Lại như Đại thừa từ Sơ địa cho đến Đẳng giác chứng được phần quả của Bồ tát và mãn quả của Phật, Tiểu thừa chứng được bốn quả A la hán, A na hàm v.v... đều gọi chứng quả. Đại đường tây vực kí quyển 7 mục Phệ xá li quốc, có ghi chép về việc Xá lị tử chứng được quả A la hán. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 giải thích câu Do hoặc đến hết hoặc, chứng nhất thiết trí của Phật trong Nhiếp luận (Nhiếp đại thừa luận thích quyển 17, bản dịch đời Lương), bảo rằng (Đại 45, 493 thượng): Hết hoặc, là hết Sở tri chướng, tức do lưu phiền não chướng phát khởi thắng hạnh mà đến được giai vị này, chứng quả Phật vậy. Đây là nói về sự đoạn hoặc chứng quả của Bồ tát. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.7 duyên thứ 87, Q.9 duyên thứ 114 - luận Bồ đề tâm].
chứng sơ địa bồ tát (hoan hỷ địa)
To attain the first Bodhisattva stage of extreme joy.
chứng sắc manh
Chứng loạn sắc—Achromatopsy.
chứng thành
(證誠) Có nghĩa là chứng minh điều đã nói là xác thực không sai lầm. Chứng, là chứng minh, chứng nghiệm - Thành, là ý đích thực, thành thực, hoặc thành lập. Như trong kinh A di đà nói chư Phật ở sáu phương Đông, Nam, Tây, Bắc, Hạ, Thượng đều cùng chứng minh việc niệm Phật vãng sinh là xác thực. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 448 thượng), nói: Nếu có chúng sinh, xưng niệm Phật A di đà, hoặc bảy ngày, hoặc một ngày, trở xuống mười tiếng, cho đến chỉ một tiếng một niệm, tất được vãng sinh, chứng thành việc ấy. (...) Nếu người niệm Phật vãng sinh, thì thường được hằng sa chư Phật trong sáu phương hộ niệm. Chỉ trừ những chúng sinh hoài nghi, không tin việc niệm Phật vãng sinh, còn tất cả chư Phật trong sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài để chứng minh lời nói của Phật Thích ca là thành thực, đây tức là chư Phật chứng thành. Lại Phật vì nói kinh Đại phẩm bát nhã, cho nên dang lưỡi để chứng thành. Luận Đại trí độ quyển 8 giải thích, dang (duỗi) lưỡi, nghĩa là thè lưỡi che cả mặt cho đến chân tóc phía trên trán, điều này ít ai tin - nay vì phát khởi việc lớn nói pháp Bát nhã ba la mật, cho nên đức Phật hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Ngoài ra, hai chữ Chứng thành được đặt ngược lại là thành chứng thì chỉ có nghĩa là chứng cứ. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 39 thượng), nói: Những Thánh giáo ấy, thành chứng chẳng một. [X. kinh Như lai sư tử hống - A di đà kinh sớ (Khuy cơ) - Quán kinh sớ Định thiện nghĩa - Quán niệm pháp môn - Đại đường tây vực kí Q.8].
Chứng Thành Tự
(証誠寺, Shōjō-ji): ngôi chùa Tổ trung tâm của Phái Sơn Nguyên (山元派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 13-43 Yokogoshi-chō (横越町), Sabae-shi (鯖江市), Fukui-ken (福井縣); hiệu là Sơn Nguyên Sơn Hộ Niệm Viện (山元山護念院), thường được gọi là Hoành Việt Bản Sơn (横越本山), là một trong 4 ngôi chùa Tổ trung tâm ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Phái Sơn Nguyên là một trong 10 phái lớn của Chơn Tông. Xưa kia, Thân Loan (親鸞, Shinran) kiến lập một ngôi chùa ở vùng Sơn Nguyên (山元), rồi sau đó Thiện Loan (善鸞, Zenran), Tịnh Như (淨如, Jōnyo) kế thế làm trú trì chùa, đến năm 1304 (Gia Nguyên [嘉元] 2) thì được sắc phong của Hậu Nhị Điều Thiên Hoàng (後二條天皇, Gonijō Tennō) với hiệu chùa như hiện tại. Vào năm 1475 (Văn Minh [文明] 7), dưới thời vị trú trì thứ 8 của chùa là Đạo Tánh (道性), chùa được dời về vị trí hiện tại. Dưới thời đại Giang Hộ, chùa phụ thuộc vào Thánh Hộ Viện (聖護院) của Thiên Thai Tông, nhưng đến thời Minh Trị (明治, Meiji) thì được hoàn trả cho Phái Bổn Nguyện Tự và sau đó thì hoàn toàn độc lập, tách riêng hẳn thành một tông phái. Tương truyền tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai do Tăng Đô Huệ Tâm (惠心) sáng tác.
chứng thư
Certificate—Diploma.
chứng thật
To prove—To certify.
chứng tri
Adhigamavabodha (skt)—Chứng tri—Realization.
chứng trí
Adhigamavabodha (skt)—Chứng trí vô lậu của Bồ Tát ở ngôi sơ địa ngộ lý trung đạo chân thực—Experiential knowledge—Realization or attainment of truth by the bodhisattva in the first stage.
; (證智) Chỉ chính trí vô lậu của Bồ tát Sơ địa chứng ngộ lí Trung đạo chân thực. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 824 trung), nói: Chứng trí tự tại, đoạn vô ngại chướng.
chứng trí sở hạnh xứ
Pratytma gatigocharam (S).
chứng trú manh
Chứng mù về ban ngày—Day-blindness.
chứng tích
Testimony.
chứng tín tự
(證信序) Còn gọi là Thông tự. Đối lại với Phát khởi tự. Ở đầu các kinh, thường dùng câu Tôi nghe như vầy, một thời Phật ở v.v... nói rõ sáu việc nghe, tin, thời, chủ, nơi chỗ và chúng (gọi là sáu thành tựu), để chứng minh rằng những điều được nói trong kinh là chân thực, đáng tin. Cũng tức là rõ ràng chỉ ra thời gian, địa điểm và những nhân vật dự hội nghe pháp, để khiến chúng sinh biết rằng, những pháp được nghe là chính xác không lầm, nhờ thế mà khởi lòng tin, cho nên gọi là Chứng tín tự. Lại vì đoạn văn trên đều có trong tất cả các phần tựa của các kinh, cho nên còn gọi là Thông tự, Phát khởi tự.
chứng tịnh
(證淨) Phạm: Avetya prasàda, Pàli: Avecca paràda. Có nghĩa là dùng trí vô lậu thông hiểu lí bốn Thánh đế một cách như thực mà sinh khởi lòng tin thanh tịnh đối với Phật Pháp Tăng Tam bảo và giới luật. Luận Câu xá quyển 25 (Đại 29, 133 trung), nói: Hiểu biết lí bốn Thánh đế như thực, cho nên gọi là Chứng - Tam bảo và diệu Thi la, đều là tịnh. Lìa cái nhơ bất tín, cái nhơ phá giới mà chứng được tịnh, gọi là Chứng tịnh. (xt. Tứ Chứng Tịnh).
chứng tỏ
To show—To Demonstrate—To prove.
chứng tỏ thiện chí
To show proof of good will.
chứng tự chứng phần
The part of realization of the self realization.
chứng được trí tuệ
To attain wisdom.
chứng đại bồ đề
To experience, to attain to, or to prove perfect enlightenment.
; (證大菩提) Có nghĩa là chứng được quả Phật. Chính giác của đức Phật, gọi là đại Bồ đề. Kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 2 (Đại 21, 667 thượng), nói: Như lai chính giác từ bi thương xót (...) thông suốt thấy rõ hết thảy các pháp, được hết thảy trí, chứng đại Bồ đề, chỉ vì muốn khiến chúng sinh được yên vui.
chứng đạo
The way of (mystic) experience; to witness to the truth.
; Magga-sacchikaranam (p). • Chứng nghiệm tôn giáo: Religious experience. • Sự lãnh hội rõ ràng hay nhận ra rõ ràng về đạo—Understanding clearly or realizing the Path—Realization of the way—Having attained the way (of mystic experience) or to witness to the truth.
; (證道) Có hai nghĩa: 1. Chỉ sự giác ngộ chính đạo, tức ý là thể nhập chân lí. 2. Một trong hai đạo - giáo đạo và chứng đạo. Chỉ cái thực lí mà chư Phật chứng được. [X. Thiên thai tứ giáo nghi chú Q.hạ]. (xt. Nhị Đạo).
Chứng đạo ca
證道歌; J: shōdōka; nghĩa là »bài ca về sự trực nhận chân lí«;|1. Chỉ những bài ca tán tụng Chân như của các vị Thánh nhân khi thành đạo;|2. Một kiệt tác của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, cũng được gọi là Tối thượng thừa Phật tính ca (最上乘佛性歌; j: saijōjō busshō-ka). Tác phẩm này chứa đựng những khái niệm căn bản của Pháp bảo đàn kinh, của các bộ kinh thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa.|Ngay trong bài kệ đầu, Sư đã nhấn mạnh đến quan niệm trung tâm của Thiền tông (bản dịch của Trúc Thiên):|無明實性即佛性。幻化空身即法身|»Tính thật vô minh tức Phật tính,|thân không ảo hoá tức Pháp thân.«|Câu »(Bản lai) Vô nhất vật«, từ trước đến bây giờ chẳng có một vật – vốn đã có trong Pháp bảo đàn kinh – được nhắc lại hai lần trong bài ca này. Theo Sư, sự chứng ngộ chân lí xẩy ra một cách bất thình lình (Ðốn ngộ). Cùng với Tín tâm minh của Tam tổ Tăng Xán, Chứng đạo ca là tác phẩm thiền nổi danh, được dịch sang rất nhiều thứ tiếng.
chứng đạo ca chú
(證道歌注) Sách chú thích Chứng đạo ca của ngài Vĩnh gia. I. Chứng đạo ca chú. Có 1 quyển. Do vị tăng đời Tống là Phạm thiên Ngạn kì soạn, môn nhân Tuệ quang biên chép, ấn hành vào năm Gia định 12 (1219) đời Ninh tông, thu vào Vạn tục tạng tập 111. Trong sách giải thích rõ ràng từng câu của Chứng đạo ca để giúp những người mới học biết đường tham thiền ngộ đạo. II. Chứng đạo ca chú. Có 1 quyển. Do vị tăng đời Tống là Diệu không Tri nột soạn, học trò là Đức tối biên chép, ấn hành vào khoảng năm Thiệu hưng 16 (1146) đời Cao tông. Thu vào Vạn tục tạng tập 114. Tri nột cho rằng Phật pháp tuy chẳng phải qua ngôn ngữ văn tự mà được, nhưng những người độn căn đời mạt pháp vẫn phải nhờ văn tự ngôn ngữ giải thích rõ ràng mới thâm nhập được yếu chỉ của Phật pháp, vì thế mới soạn tập sách này. III. Chứng đạo ca chú. Có 1 quyển. Còn gọi là Chứng đạo ca chú tụng. Do vị tăng đời Nguyên là Trúc nguyên Vĩnh thịnh soạn, Đức hoằng biên chép, ấn hành vào niêm hiệu Chí chính năm đầu (1341) đời Thuận đế, thu vào Vạn tục tạng tập 114. Dưới mỗi câu, ngài Vĩnh thịnh có lời bình ngắn, rồi hợp mấy câu lại để chú thích, ở sau có phụ thêm kệ tụng. IV. Chứng đạo ca chú. Có 1 quyển. Do vị tăng người Nhật là Liên sơn giao dịch soạn.
chứng đạo quả
Maggaphala-sacchikaranam (p)—Realizing the Paths and Fruitions.
chứng đạo đồng viên
(證道同圓) Trong tông Thiên thai, đứng về phương diện giáo đạo mà nói, thì các Bồ tát Biệt giáo, Viên giáo từ Thập tín trở lên đến Diệu giác, tuy mỗi mỗi đều đủ năm mươi hai giai vị, nhưng, đứng về phương diện chứng đạo mà nói, thì Sơ địa của Biệt giáo cũng đồng như Sơ trụ của Viên giáo, gọi là Chứng đạo đồng Viên. Tức có nghĩa là: Bồ tát Biệt giáo trước Thập địa vẫn phải theo thứ tự ba quán lần lượt đoạn trừ các hoặc Kiến, Tư, Trần sa, chứ không giống như Viên giáo cùng một lúc viên dung ba quán đoạn trừ ba hoặc. Nhưng Bồ tát Biệt giáo, khi lên Sơ địa, đoạn một phẩm vô minh mà chứng một phần Trung đạo, đoạn vô minh, chứng Trung đạo ở đây hoàn toàn giống với Viên giáo ngôi Sơ trụ. Vì lẽ ấy, Bồ tát Biệt giáo khi đến Sơ địa, chuyển một lần mà thành Bồ tát Viên giáo ngôi Sơ trụ. (xt. Giáo Chứng Nhị Đạo).
chứng đắc
Adhisambodha (S)Chứng ngộ chân lý, thể đạt quả vị, trí huệ, giải thoát và công đức.
; To realize, to attain truth by personal experience.
; Thực chứng nơi tự thân (lấy chánh trí chứng ngộ chân lý)—Attained—To realize—To attain truth by personal experience.
; (證得) Phạm, Pàli: Adhigaôa hoặc Abhisambodha. Còn gọi là Hiện chứng. Nghĩa là chứng ngộ thể đắc. Tức nhờ tu đạo mà chứng ngộ chân lí, đạt được quả vị, trí tuệ, giải thoát và công đức. Luận Du già sư địa quyển 64 nói có bốn thứ chứng đắc: 1. Các hữu tình chứng được nghiệp quả, 2. Thanh văn thừa chứng được, 3. Độc giác thừa chứng được, 4. Đại thừa chứng được. Trong đây, Thanh văn thừa chứng được lại chia làm năm thứ: chứng được ngôi, chứng được trí, chứng được tịnh, chứng được quả và chứng được công đức. Độc giác thừa chứng được chia làm ba thứ: chứng được phần thiện căn thuận quyết trạch mà trước đã được, chứng được sự chứng được mà trước đã được và chứng được sự chứng được mà trước chưa được. Đại thừa chứng được thì có: chứng được phát tâm, chứng được đại bi, chứng được Ba la mật đa, chứng được nhiếp sự, chứng được ngôi, chứng được năm Vô lượng, cho đến chân như, chứng được uy đức tin hiểu chẳng thể nghĩ bàn, chứng được bất cộng Phật pháp v.v... [X. luận Đại tì bà sa Q.42 - luận Du già sư địa Q.82 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối].
chứng đắc nhị đạo
Hai cách chứng đắc—Two ways of realization, 1) Chứng ngộ bằng cách tu tập giáo pháp: Realization by teaching. 2) Chứng ngộ bằng cách tu tập thiền định: Realization by experience.
chứng đắc pháp thân
(證得法身) Một trong hai loại pháp thân. Đối lại với Ngôn thuyết pháp thân. Chúng sinh bản lai vẫn đầy đủ Pháp thân, chỉ vì mê hoặc nên không hiển bày ra được, nhưng có thể nhờ sự tu hành mà chứng được, cho nên gọi là Chứng đắc pháp thân. [X. Kim cương bát nhã kinh luận (Đạt ma cấp đa dịch) Q.thượng]. (xt. Ngôn Thuyết Pháp Thân)
chứng đắc thắng nghĩa đế
(證得勝義諦) Còn gọi là Y môn hiển thực đế. Là Thắng nghĩa đế thứ ba trong bốn loại Thắng nghĩa đế. Tức chỉ lí chân như ngã, pháp đều không mà hàng Thanh văn chứng được. Theo ý trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2 phần cuối, thì chân như hai không này là lí y vào môn quán Thánh trí thuyên không mà hiển hiện, cho nên gọi là chứng đắc. Lại vì kẻ phàm ngu không thể suy lường mà biết được, nó trội hơn cả việc chứng được Thế tục đế thứ ba trong bốn loại Thế tục đế (chỉ khổ, tập, diệt, đạo), cho nên gọi là Thắng nghĩa đế. [X. luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tứ Chủng Thắng Nghĩa Đế)
chứng đức
Attainment of virtue, or spiritual power.
; Chứng đức hay chứng được thần lực bằng cách tu tập Tứ Diệu Đế, 12 Nhân Duyên và Lục Độ, cho cả Tiểu lẫn Đại Thừa—Attainment of virtue, or spiritual power, through the four dogmas, twelve nidanas and six paramitas, in both Hinayana and Mahayana.
chừa bỏ
To abstain from.
chừa lại
To set aside.
chừng
About—Approximately.
chừng mực
Moderation.
chừng nào
When ?
chừng nào mà
So long as.
chừng nầy
1) This time. 2) This amount—This quantity.
chừng đỗi
Có chừng có đỗi—In measure (làm việc có chừng có đỗi—To do things in measure).
chử
Nấu—To cook—To boil.
chử bách tư
(褚柏思) (1909 - ?) Người An huy. Hiệu Phật lâm cư sĩ, tự Mạnh trang. Tốt nghiệp khoa luật Đại học Thượng hải, Trung quốc. Từng giữ các chức Tổng biên tập Nhật báo Bắc phương tại Bắc bình, Tổng giám đốc Thông tấn xã quân sự Nam kinh, Ủy viên Hoa trung quân chính công thự chính vụ, Hiệu trưởng trường Trung học Trung chính tại Sài gòn Việt nam. Ông dốc sức vào việc giảng học, trứ thuật, năm mươi năm không nghỉ, đi khắp ba châu, viết sáu mươi tư bộ sách. Năm Dân quốc 70 (1981), ông đem mười tám loại sách Phật do ông trứ tác, như Trung quốc Phật học sử luận, Nhân sinh Phật học luận tập, Trung quốc Thiền tông sử thoại, Thiền tông học dữ thiền học v.v... giao cho công ti xuất bản Tân văn phong tại Đài bắc để in, gọi là Phật lâm tùng thư.
chử sa
Nấu cát làm cơm—Boiling sand for rice (food).
chử vân
(煮雲) (1919 - 1986) Người Như cảo, Giang tô, họ Hứa. Pháp danh Thực tuyền, tự Chử vân, hiệu Tỉnh thế. Mười chín tuổi, y vào Hòa thượng Tham minh ở chùa Huệ dân tại Tây tràng, Như cảo, xuống tóc. Hai mươi ba tuổi thụ giới cụ túc ở núi Thê hà, Nam kinh. Trước sau học tại các học viện Phật giáo, như Thê hà luật học viện tại Nam kinh, Tiêu sơn Phật học viện tại Trấn giang, Lăng nghiêm chuyên tông học viện tại Thượng hải. Sau khi ra Đài Loan, sư giữ việc giảng đạo trong Quân đội. Từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm ban giáo vụ viện Phật học Thọ sơn, Trị sự hội Phật giáo Trung quốc, Phó chủ nhiệm Ủy hội Hoằng pháp, Trị sự trưởng chi hội Phật giáo huyện Cao hùng, Trụ trì các chùa Linh thứu huyện Cao hùng và chùa Thọ sơn, Cao hùng, chùa Thanh giác, Đài đông, đạo sư của Phật giáo liên xã Đài đông, Ủy viên biên tập tạp chí Bồ đề thụ, chủ nhiệm tạp chí Kim nhật Phật giáo. Sư còn sáng lập Phật giáo liên xã Phượng sơn, chùa Hộ quốc thanh lương, núi Liên hoa, huyện Đài trung và Tịnh độ chuyên tông học viện ở chùa Thanh lương. Sư sinh bình hết sức đề xướng Tinh tiến Phật thất. Sư rất nhớ các dật sự trong Phật môn, văn thể sáng sủa hồn nhiên. Các trứ tác của sự gồm có: Nam hải Phổ đà sơn truyền kì dị văn lục, Phật giáo dữ Cơ đốc giáo chi tỉ giảo, Chử vân pháp sư giảng diễn tập, Hoằng pháp tán kí, Kim sơn hoạt Phật, Phật môn dị kí, Đông nam á Phật giáo kiến văn kí, Tinh tiến Phật thất nhật kí v.v... Sư thị tịch vào năm Dân quốc 75, thọ sáu mươi tám tuổi.
chửi lộn
To quarrel.
chửi rủa
To curse.
chửi thề
To swear.
chữ
Aksara (S). Letter, syllable. Also từ, văn tự.
chữ nghĩa
Letters and meanings—Literary knowledge.
chữ viết
handwriting.
chữa thẹn
To save one's face by saying something.
chững chạc
Proper—Correct.
chực sẳn
To be ready.
coi chừng
To watch out—To pay attention.
coi rẻ
To defy—In defiance of someone—To disregard.
coi sóc
To look after—To oversee—To supervise.
coi thường
Underestimate—To disregard.
con bò ước
Kāmadhenu (S)Cây như ý (Kalpaviksha) và con bò ước là những bảo vật của chư thiên. Trái cây và sữa bò khiến thành tựu tất cả các điều ước.
con bịnh
Sick person.
con chó gặm khúc xương khô
chỉ có cảm giác thích ý, khoái trá, mà thật ra là chẳng ăn được gì vào bụng cả. Ví dụ này được dùng để so sánh với sự thỏa mãn năm giác quan thật ra chẳng giúp ích gì cho chúng ta ngoài việc tạo ra cảm giác hài lòng, thích ý. Vì chẳng giúp ích gì nên chúng hoàn toàn không thể nuôi dưỡng thân tâm chúng ta.
con cà con kê
To relate endless story.
con cưng
Spoiled child.
con của sông hằng
Gaṅgāja (S), Son of the Ganges.
con dấu
Seal.
con la
loài ngựa và lừa giao hợp với nhau sanh ra giống vật lai gọi là con loa (騾), ta quen gọi là con la.
con loa
xem con la.
con muỗi trên trâu sắt
Là dụ cho chẳng có chỗ để mở miệng.
con người
human being.
con thảo
A dutiful (Filial) son.
con tạo
Creator.
con đường
Path.
con đường dễ
Easy path of practice (The Pure Land Dharma Door)—Recitation of Amitabha Buddha's name.
con đường hạnh phúc
The path to happiness.
con đường khó
Difficult path of practice—The path of practicing Paramita and meditation.
con đường trung đạo
The Middle Path.
con đường trở về tịnh độ
The way back to the Pure Land.
con đường tu tập
Bhāvanā-mārga (S)Tu đạoMột trong Tam đạo, ba giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát.
con đường đưa đến trí huệ
Xem Vô ngại giải đạo.
con đường đạo đức
Ethical path.
con đế thính
The sacred lion.
Con-ze, Ed-ward
1904-1979|Triết gia và một nhà nghiên cứu Phật pháp lỗi lạc người Anh (gốc Ðức). Ông đã phiên dịch và sắp xếp bộ Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh theo hệ thống và cũng từ đây, tư tưởng Ðại thừa đã lan truyền khắp châu Âu, Mĩ. Ðối với Phật tử châu Âu, những trứ tác của ông là tài liệu nghiên cứu tu tập Phật pháp quý báu không thể bỏ qua được.|Ông sinh ngày 18. 03. 1904 tại Forest Hill, Lewisham, London trong một gia đình gốc Ðức. Cha của ông trước la một nhân viên ngoại giao, sau lại quản lí một quan toà tại Düsseldorf, CHLB Ðức. Con-ze trưởng thành và được giáo dục tại Ðức (lúc này mang tên Eberhard thay vì Edward sau này) và nơi đây, ông sớm biểu hiện những cá tính đặc thù: sự cảm nhận nhạy bén cho những vấn đề xã hội, lòng căm phẫn trước những trào lưu »ái quốc cực đoan của Toàn đức quốc xã«, lòng yêu thiên nhiên và một cuộc sống tĩnh mịch ở thôn quê. |Năm lên 13, Con-ze đã có dịp nghe chút ít về Phật giáo. Ông học triết, tâm lí và Ấn Ðộ học tại những đại học Tübingen, Heidelberg, Kiel và Köln. Tại Heidelberg, Max Walleser – một trong những người đầu tiên dịch kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa sang tiếng Ðức – đã hướng dẫn ông vào Ðại thừa Phật pháp (1924/25) và qua Heinrich Rickert, ông cũng có dịp làm quen với Thiền tông (j: zen). Năm 1928, ông làm luận án tiến sĩ (Dr. phil.) tại Köln với tựa đề Danh từ Huyền học của Franciscus Suarez S. J. (g: Der Begriff der Metaphysik bei Franciscus Suarez S. J.). Cũng trong năm này, ông gia nhập Ðảng cộng sản và nhân dịp này, ông nói với một người bạn thân: »Như anh thấy, tôi mang nhiều gương mặt!«|Năm 1932, ông cho xuất bản tác phẩm Phương thức đối lập. Bình luận về lí thuyết Duy vật biện chứng (g: Der Satz von Widerspruch. Zur Theorie des Dialektischen Materialismus). Vì những hành vi chống Ðức quốc xã nên ông phải rời CHLB Ðức (1933), tị nạn sang Anh quốc và không lâu sau, ông nhập quốc tịch Anh. Chỉ vài năm sau, ông rời Ðảng cộng sản. |Từ 1933 trở đi, ông sinh sống bằng cách dạy tâm lí và triết học tại Oxford và London. Các tác phẩm của D. T. Su-zu-ki và một học giả Ấn Ðộ Har Dayal lại hướng dẫn ông trở về với Phật giáo. Từ 1943-49, ông nghiên cứu rất nhiều về Ấn Ðộ học, gia nhập giáo hội Phật giáo tại London (e: buddhist society) và cũng tổ chức nhiều buổi thuyết giảng. Trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã cho xuất bản khoảng 20 quyển sách và hơn 100 tiểu luận về những vấn đề của Phật giáo và chính những tác phẩm này đã làm cho tên ông lan truyền khắp mọi nước. Ông đã từng thuyết giảng tại Wisconsin, Madison (Wisconsin, 1963/64), Wa-shington, Seattle (Washington, 1965/68), Bonn (1969/79) và Berkeley, Santa Barbara (1972/ 73).|Năm 1973, Con-ze đình chỉ việc thuyết giảng, lui về quê nhà tại Sherborne, Somerset và từ đây chuyên chú vào việc nghiên cứu Phật học. Những điểm nghiên cứu trung tâm của ông chính là triết lí Bát-nhã ba-la-mật-đa và về vấn đề này, ông đã xuất bản hàng loạt tiểu luận. Ông cũng đã dịch sang Anh ngữ và xuất bản nhiều bài kinh thuộc hệ này.|Năm 1979, ông cho ra một quyển hồi kí với tựa The Memoirs of a Modern Gnostic. Ông luôn luôn tự cho mình là một người có cá tính mâu thuẫn. Con-ze có một cái nhìn, một cảm nhận sâu sắc cho những vấn đề, nhân sinh quan khác biệt của thế kỉ này. Quyển hồi kí của ông đã chứng tỏ khả năng, nghệ thuật »bao dung nhiều quan điểm« của ông. Ðối với Con-ze, lối sống có thể chấp nhận được là lối sống của người Anh, Ðạo lí có thể chấp nhận được là Phật pháp.|Ông mất ngày 24. 09. 1979 tại Yeovil, Somerset, London.|Trứ tác nổi tiếng nhất của E. Con-ze: 1. Buddhism. Its Essence and Development (bản dịch Việt ngữ: Tinh hoa và sự phát triển của Ðạo Phật), Oxford 1951; 2. Buddhist Meditation, London 1956; 3. Buddhist Thought in India, London 1962. Bài luận tiêu chuẩn về Ðại thừa Ấn Ðộ; 4. A Short History of Buddhism, xuất bản 1980. Ngoài ra ông còn dịch nhiều kinh điển từ Phạn ngữ (sanskrit) ra Anh ngữ như Kim cương kinh, Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh, Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh…
cu lạp ba
Xem Thắng biện Châu.
cung
Respect, reverence; to venerate, revere, respect.
; 1) Cây cung: Dhanus (skt)—A bow. 2) Cung điện: A palace—Mansion. 3) Cung kính: Respect—Reverence.
; (弓) Phạm: Dhanus, Pàli: Dhanu. Dịch âm: Đà nộ sa. Là đơn vị đo chiều dài ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2, luận Câu xá quyển 12 chép, thì bảy hạt lúa mạch (Phạm: Yava) dài bằng một đốt ngón tay (Phạm: Aíguliparva), hai mươi bốn đốt ngón tay dài bằng một khuỷu tay (Phạm: Hasta), bốn khuỷu tay bằng một Cung. Theo thuyết trong các kinh luận thì đại khái đều cho bốn khuỷu tay bằng một Cung. Nhưng so với trượng, thước của Trung quốc, thì có những thuyết khác nhau, như: một khuỷu bằng hai thước, bằng một thước tám tấc, một thước năm tấc v.v... Như trong Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 1, ngài Đạo tuyên nói rằng: một cung dài bốn khuỷu, tức là bảy thước hai tấc. Vì thế, một khuỷu là một thước tám tấc, một đốt ngón tay là bảy phân năm li. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 12 thì nói, bảy hạt đại mạch dài bằng một đốt ngón tay, bảy đốt ngón tay dài bằng nửa thước, hai nửa thước thành một thước, hai thước là một khuỷu, bốn khuỷu là một cung. Còn Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ thì nói, một khuỷu bằng một thước năm tấc, bốn khuỷu là một cung, ba trăm cung là một dặm. Các thuyết khác nhau trên đây là do Ấn độ đời xưa lấy đốt ngón tay làm tiêu chuẩn đo lường, vì ngón tay của mỗi người dài, ngắn không giống nhau, cho nên kích thước cũng bất đồng. Thêm vào đó, trượng, thước của Trung quốc trải qua các triều đại cũng lại khác nhau. Đời Hạ một thước có mười tấc, đời Thương một thước là chín tấc, đến đời Chu thì một thước chỉ có tám tấc. Luật Ma ha tăng kì quyển 8 bảo năm khỉu là một cung, có lẽ đã theo tiêu chuẩn đời Chu chăng? Nếu theo thước nhà Chu thì năm khuỷu của thước Chu và bốn khuỷu thước Hạ đều là tám thước. Cho nên, các kinh chép một cung tuy có bốn khuỷu, năm khuỷu khác nhau, nhưng đó có lẽ cũng do trượng và thước của các triều đại bất nhất. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4 - kinh Khởi thế Q.7 - Đại đường tây vực kí Q.2 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. (xt. Nhất Trửu).
cung môn
Door of the imperial palace.
Cung (cúng)
供; C: gōng; J: ku.|Có các nghĩa sau: 1. Dâng tặng, dâng cúng, hiến dâng; 2. Trình dâng, phục tùng, đáp ứng; 3. Đi theo, hộ tống; 4. Sự dâng cúng; 5. Thị giả, người theo hầu, đoàn tùy tùng.
cung bàn trà
Quỷ Cung Bàn Trà—Kumbhanda demons—See Kumbandha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cung bạn trà
See Kumbandha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cung bản chánh tôn
Miyamo Shoson (J)(1893 - 1963), phái Tịnh đõ Nhật bản.
cung bản chính tôn
(宮本正尊) (1893-1983) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Người huyện Tân tả. Lúc đầu ông học trường chuyên khoa y học Thiên diệp, sau chuyển sang Phật học, tất nghiệp tại Đại học Đại cốc thuộc Chân tông. Năm 1921 ông lại vào học môn Triết học Ấn độ thuộc khoa văn của Đại học Đế quốc ở Đông kinh. Sau khi tốt nghiệp ông làm giảng sư tại Đại học Đông kinh một thời gian rồi lại đi du học ở Đại học Oxford. Sau khi trở về Nhật, ông làm giáo sư tại các Đại học Đông kinh, Tảo đạo điền và Câu trạch, là hội viên của Hội học thuật Nhật bản, Hội trưởng hội Ấn độ học Phật giáo học Nhật bản. Những trứ tác chủ yếu của ông gồm có: Long thụ, Căn bản trung và không, Đại thừa và Tiểu thừa, Trung đạo tư tưởng cập kì phát đạt, Bách luận luận thư hội bản, Đại thừa Phật giáo thành lập sử đích nghiên cứu, Phật giáo căn bản chân lí...
cung bản hựu thắng
(宮阪宥勝) (1921- ) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1948, ông tốt nghiệp môn triết học Ấn độ thuộc khoa văn Đại học Đông bắc. Ông giữ chức giáo thụ ở Đại học núi Cao dã, nghiên cứu nguyên điển của Phật giáo Ấn độ và Tây tạng, đồng thời, biên soạn Từ điển dụng ngữ luận lí học Ấn độ. Ông có tác phẩm: Phật giáo khởi nguyên...
cung chúc
To wish respectfully.
cung chúc tân xuân
Happy New Year.
Cung cấp
供給; C: gōngjǐ; J: kukyū.|Cúng dường (供養; theo Pháp Hoa kinh 法華經)
cung cấp
To supply—To furnish.
Cung cấp 供給
[ja] クキュウ kukyū ||| To make offerings (供養). 〔法華經 T 262.9.18c25〕 => Cúng dường.
cung cầu
Supply and demand.
cung cẩn
Reverently.
cung cụ
(供具) Hay cúng cụ, còn gọi là cung vật. Chỉ các vật phẩm dâng cúng Phật, Bồ tát, Tam bảo, như hương hoa, thức ăn uống. Cũng có khi đặc biệt gọi cái đồ đựng các phẩm vật cúng dường là Cung cụ hoặc Cung khí. Cung và Cụ đều có nghĩa là dâng cúng. Dâng cúng Cung cụ, gọi là Cung dưỡng. Nếu dâng cúng quần áo, thức ăn uống, đồ nằm ngồi, và thuốc thang, gọi là Tứ sự cung dưỡng. Nếu cúng hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương thoa, hương đốt, cờ lọng, phan phướn, quần áo, kĩ nhạc... gọi là Thập chủng cung dưỡng (cúng dường mười thứ). Thông thường, các vật cúng phần nhiều được dâng cúng Phật, Bồ tát, chúng tăng và các vong linh. Cái bàn lớn để đặt các vật cúng, gọi là Cung đài. Cơm đặt cúng trước bàn Phật, gọi là Phật cúng, Phật phạn, Phật hướng, đó là sự cúng dường giản đơn nhất. Hoa nhân tạo đặt cúng trước bàn Phật, gọi là Thường hoa. Trong vật cúng Vu lan bồn, có năm loại quả là hạnh nhân, lê, thạch lựu, hồ đào, đậu lớn đậu nhỏ, thông thường gọi là Ngũ quả. Khi đức Phật còn tại thế, những người ngoại hộ Phật pháp, các tín đồ thường cúng dường Phật và các vị đệ tử những thứ nhu yếu hàng ngày, như quần áo, thức ăn uống, đồ nằm, và cả vườn cây, tinh xá v.v... Sau khi Phật nhập diệt, Tam bảo cùng được tôn trọng, cúng dường, tín đồ còn tạo lập tượng Phật, rồi cúng dường thức ăn uống, kĩ nhạc và các vật trang nghiêm, cũng như lúc đức Phật còn tại thế, về sau dần dần hình thành những nghi thức cúng dường nhất định. Cho nên, nếu nói theo nghĩa rộng, các đồ trang nghiêm được trưng bày trong điện Phật, các pháp hội được tổ chức, cho đến việc lễ bái, tán tụng v.v... đều có thể được coi là các vật cúng dường. Về phần Trung quốc, những ghi chép có liên quan đến cúng vật, thì như Lạc dương già lam kí quyển 5 chép, vào khoảng năm Thần qui (518-519) nhà Bắc Ngụy, Hồ Thái hậu sai Sa môn Huệ sinh (Tuệ sinh), Tống vân sang Tây trúc cầu pháp, thỉnh kinh, và cho Huệ sinh cùng đoàn tùy tùng mang theo phan, phướn ngũ sắc, năm trăm cái túi bằng gấm đựng hương để cúng dường đạo tràng các nơi trên đường đi. Còn cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43 chép, thì khoảng năm Thái bình hưng quốc (976- 983) đời Bắc Tống, sa môn Pháp ngộ khuyến hóa được lọng Long bảo, ca sa kim lan, sau khi đến trung Thiên trúc, ngài cúng dường ở tòa kim cương nơi đức Phật thành đạo.Nhưng từ xưa đến nay, hương hoa đèn nến vẫn là những vật cúng thông thường nhất. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 93 nói, dâng thức ăn uống cúng dường chư Phật, chúng tăng, ngoài cơm ra, còn có bánh, trái cây và thuốc v.v...Trong pháp hội, bánh, trái cũng được phân phát cho tín đồ, tín đồ ăn để gây duyên Phật pháp. Ngoài ra, những phẩm vật mà các tông phái đặt cúng Phật hằng ngày tuy không phải là giống nhau hết, nhưng phần nhiều lấy cơm làm chính, rồi nước trong hoặc trà, bởi vì cơm là thức ăn chính của các khu vực châu Á. Về vật cúng của Mật giáo thì có sáu thứ: át già (nước trong), hương bột, hoa, hương đốt, thức ăn và đèn. Thông thường tùy theo bản tôn của các bộ như Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ và mục đích của các phép tu, như Tức tai, Tăng ích, Hàng phục v.v... cho đến ba loại thành tựu thượng, trung, hạ khác nhau do các phép tu nhằm đạt đến, mà vật cúng cũng bất đồng. 1. Át già: ba bộ đều dùng nước trong, chỉ có mục này là cả ba bộ giống nhau. 2. Hương bột: cúng bản tôn của Phật bộ, dùng cỏ thơm, rễ cỏ thơm và hoa làm thành - bản tôn của Liên hoa bộ, dùng vỏ các loại cây thơm, hương bạch đàn và các vật có mùi thơm trộn lẫn với nhau - bản tôn của Kim cương bộ thì dùng rễ, hoa, quả lá của loại cỏ thơm hòa hợp với nhau. Trong đó mùi thơm của rễ và quả là quí, nên được dùng chung cho bản tôn của cả ba bộ. Tu phép Tức tai thì dùng hương bột mầu trắng, phép Tăng ích dùng hương bột mâu vàng, phép Hàng phục dùng hương bột màu đỏ. 3. Hoa: cúng dường Phật bộ, dùng hoa Xà để tô mạt na, Liên hoa bộ, cúng dường hoa sen hồng, Kim cương bộ, cúng dường hoa sen xanh. Phép Tức tai dùng hoa mầu trắng, vị ngọt, phép Tăng ích dùng hoa mầu vàng, vị lạt, phép Hàng phục dùng hoa mầu đỏ, vị cay. 4. Hương đốt: Phật bộ, dùng hương trầm thủy, Liên hoa bộ, dùng hương bạch đàn, Kim cương bộ thì dùng hương uất kim. Phép Tức tai dùng hương dã rồi vê tròn, phép Tăng ích dùng hương viên tròn, phép Hàng phục dùng hương bột. 5. Thức ăn uống: gồm các thứ bánh, trái và canh, những vật cúng dường Phật bộ thì dùng các thứ sinh trong núi, cúng Liên hoa bộ dùng các thứ sinh trong nước, còn các vị đắng, cay, lạt thì cúng dường Kim cương bộ. Phép Tức tai dùng quả vị ngọt, phép Tăng ích dùng quả vị chua dôn dốt (hơi chua), phép Hàng phục dùng quả vị hơi cay. Ngoài ra, cúng Phật bộ thức ăn bằng bột gạo thì có thể viên mãn phép Tức tai thành tựu bậc thượng - cúng Liên hoa bộ thức ăn bằng miến mạch, có thể viên mãn phép Tăng ích thành tựu bậc trung - cúng Kim cương bộ thức ăn bằng dầu mè (vừng), hạt đậu, có thể viên mãn phép Hàng phục thành tựu bậc dưới. 6. Đèn: dùng bơ bò đen làm dầu thắp đèn là tốt nhất, chung cho cả ba bộ. Phép Tức tai thì dùng dầu gỗ thơm hoặc bơ bò trắng, phép Tăng ích dùng bơ bò vàng hoặc dầu mè (vừng), dầu thuốc, phép Hàng phục dùng dầu hạt cải trắng, hoặc dầu có mùi hắc. [X. kinh Đà la ni tập Q.12 - kinh Tô tất địa yết la Q.thượng, Q.hạ - kinh Nhuy hi da Q.trung - Đại nhật kinh sớ Q.7, Q.8 - Ngũ tạp trở Q.15]. (xt. Cung Dưỡng).
cung dưỡng
(供養) Hay cúng dường, Phạm: Pàli: Pùjanà. Còn gọi là Cung, Cung thí, Cung cấp, Đả cung. Nghĩa là dâng các thức ăn uống, quần áo v.v... cúng dường Tam bảo, sư trưởng, cha mẹ và vong linh v.v... Lúc đầu, sự cúng dường lấy hành vi thân thể làm chính, sau cũng bao hàm sự cúng dường thuần túy tinh thần, cho nên mới chia làm Thân phần cúng dường và Tâm phần cúng dường. Cứ theo Di giáo kinh luận chép, thì thức ăn, quần áo, thuốc thang, thuộc thân phần cúng dường - tâm cúng dường hơn hết, tâm cúng dường không nhàm chán, tâm cúng dường bình đẳng, thuộc Tâm phần cúng dường. Ở thời kí đầu, giáo đoàn lấy việc cúng dường thức ăn, quần áo, đồ nằm, thuốc thang làm chính yếu, gọi là Tứ sự cúng dường. Các vật cúng dường Phật, chùa tháp, tượng Phật, giáo pháp, tỉ khưu, tỉ khưu ni, và phòng xá, đất đai của Tăng đoàn là nguồn kinh tế trọng yếu của tăng đoàn. Ngoài sự cúng dường tài vật ra, còn có sự cúng dường Pháp, như đem tinh thần sùng kính mà cúng dường cung kính, cúng dường tán thán, cúng dường lễ bái, cũng gọi là Cung dưỡng. Đến đời sau, đối với những người chết cũng làm Tháp cúng dường. Nói tổng quát về các vật cúng dường, phương pháp và đối tượng cúng dường, có thể chia ra các loại như sau: I. Nhị chủng cung dưỡng(hai loại cúng dường). * Cứ theo Thập trụ tì bà sa quyển 1: 1. Pháp cung dưỡng, khéo nghe chính pháp Đại thừa, hoặc nhiều hoặc ít. 2. Tài cung dưỡng, bốn thứ cúng dường như cơm ăn, ào mặc v.v... * Cứ theo Đại nhật kinh cúng dường pháp sớ nói: 1. Lí cúng dường, nghĩa là lấy sự chứng vào lí chân thực làm vật cúng dường. 2. Sự cúng dường, tức là cúng dường hương hoa. II. Tam chủng cúng dường (ba loại cúng dường). * Theo Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ: 1. Tài cúng dường, cúng dường của báu, hương hoa của thế gian. 2. Pháp cúng dường, phát tâm Bồ đề làm lợi mình, lợi người. 3. Quán hạnh cúng dường, tu các phép quán Chu biến hàm dung, Sự sự vô ngại của kinh Hoa nghiêm. * Theo Thập địa kinh luận quyển 3: 1. Lợi dưỡng cúng dường, chỉ cho quần áo, đồ nằm v.v... 2. Cung kính cúng dường, chỉ cho hương hoa, cờ lọng. 3. Hạnh cúng dường, cúng dường tín hạnh, giới hạnh. III. Tam nghiệp cúng dường. * Theo Pháp hoa văn cú quyển 3 đoạn 1, ba nghiệp cúng dường là thân, khẩu, ý. 1. Thân nghiệp cúng dường, thân rất mực thành kính lễ bái chư Phật và Bồ tát. 2. Khẩu nghiệp cúng dường, miệng nói lời khen ngợi công đức của chư Phật và Bồ tát. 3. Ý nghiệp cúng dường, tâm ý ngay thẳng, quán tưởng tướng tốt trang nghiêm của chư Phật và Bồ tát. IV. Tứ chủng cúng dường (bốn loại cúng dường). * Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 11 thì có bốn loại cúng dường là: hương hoa, chắp tay, từ bi và vận tâm. * Cứ theo Lí thú thích quyển hạ nói, có bốn loại cúng dường của Du già giáo là: tâm Bồ đề cúng dường, tư lương cúng dường, pháp cúng dường, và yết ma cúng dường. V. Tứ sự cúng dường (bốn loại cúng dường). * Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13 nói, có bốn loại cúng dường là: áo quần, ăn uống, giường mền và thuốc thang. * Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, thì có bốn thứ cúng dường là: treo phan cờ, thắp đèn nến, rải hoa và thắp hương. * Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 13 nói, thì bốn thứ cúng dường là: thức ăn, quần áo, thuốc thang và phòng xá. VI. Ngũ chủng cung dưỡng (năm loại cúng dường). * Cứ theo kinh Tô tất địa yết la quyển hạ nói, thì có năm loại cúng dường là: hương thoa (giữ giới), hoa cài tóc (bố thí), hương thắp (tinh tiến), ăn uống (thiền định), đèn nến (trí tuệ), thêm át già (nước trong: nhẫn nhục) nữa mà thành sáu loại cúng dường. VII. Thập chủng cúng dường (mười loại cúng dường). * Theo kinh Pháp hoa phẩm Pháp sư nói, thì có mười loại cúng dường là: hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương thoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, quần áo và âm nhạc. * Theo Đại tạng pháp số thì đem cờ phướn gộp chung vào phan lọng, rồi thêm chắp tay nữa thành là mười cúng dường. * Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 liệt kê mười thứ là: thân cúng dường, cúng dường chi đề, cúng dường hiện tiền, cúng dường không hiện tiền, mình cúng dường, người cúng dường, cúng dường tài vật, cúng dường thù thắng, cúng dường không nhiễm ô, cúng dường chí xứ đạo v.v... Ngoài ra, vật cúng trước bàn Phật, gọi là Phật cúng, vật cúng trước Thần gọi là Thần cúng. Cúng dường Phạm thiên, Đế thích thiên, Công đức hoan hỉ thiên v.v... thì gọi là Cúng thiên hoặc Thiên cúng. Cúng vong linh người chết, gọi là Truy thiện cúng dường. Chuyên cúng quỉ đói, gọi là Ngã quỉ cúng dường. Làm lễ khánh thành khai quang tượng Phật, gọi là Khai nhãn cúng dường. Cúng dường kinh, gọi là Khai đề cúng dường, cũng gọi là Kinh cúng dường, Nhất thiết kinh cúng dường, Thư tả cúng dường, như viết chép kinh Duy ma để cúng dường gọi là Duy ma kinh cúng dường. Đúc chuông xong, làm lễ khánh thành để đánh chuông gọi là Chung cúng dường. Còn nói về Tam bảo thì cúng dường Phật, gọi là Phật cúng dường - cúng dường pháp, gọi là Pháp cúng dường, Hạnh cúng dường - cúng dường tăng, gọi là Tăng cúng dường, Tăng cúng. Trong đó, thỉnh trăm vị tăng, thiết trai cúng dường, gọi là Bách tăng cúng dường - thỉnh nghìn vị tăng thiết trai cúng dường, gọi là Thiên tăng cúng dường, hoặc gọi là Thiên tăng trai, Thiên tăng cúng, Thiên tăng hội. Truyền thuyết nói, công đức của loại cúng dường này là vô lượng. Còn người thí chủ cúng dường, gọi là Cúng dường chủ. Cúng dường chúng tăng, cũng gọi là Cúng chúng, Cúng chiêm. Bài văn đọc tụng nói lên ý nghĩa cúng dường, gọi là Cúng dường văn. Tạo tượng Phật cúng dường để cầu phúc, gọi Cúng dường Phật. Thắp đèn sáng cúng dường tượng Phật và tháp, thì gọi là Cúng đăng. Tại Nhật bản, sau khi viết chép kinh điển, đem cúng dường, tuyên giảng, gọi là Cúng giảng. [X. kinh Phật tạng quyển hạ - kinh Vô lượng thọ Q.hạ - kinh Đại phương quảng như lai bất tư nghị cảnh giới - kinh Phật bản hạnh tập Q.1 phẩm Cúng dường - kinh Đại phương đẳng đại tập Q.45 - kinh Đại nhật Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la - Cúng dường nghi thức - luận Đại trí độ Q.93 - Kim cương bát nhã ba la mật kinh phá thủ trước bất hoại giả danh luận Q.thượng - Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần đầu - Phạm võng Bồ tát giới bản sớ Q.2 - Đại nhật kinh sớ Q.8 - Hoa nghiêm Hành nguyện phẩm sớ sao Q.3 - Thích thị yếu lãm Q.trung - Thiền uyển thanh qui Q.1 Phó chúc phạn pháp, Q.3 Tạng chủ - Đại minh tam tạng pháp số Q.7]. (xt. Tứ Chủng Cung Dưỡng). Cúng dường âm nhạc (Khắc ở Tháp Phật tại Sơn Kì, Ấn Độ)
Cung dưỡng (cúng dường)
供養; C: gòngyăng; J: kuyō.|Còn gọi là Cung thí (供施) và Cung cấp (供給): 1. Cung dưỡng (s: pūjā). Việc dâng cúng thực phẩm, y phục… cho Đức Phật, chư Tăng, Giáo thụ sư, ông bà…; 2. Một nghi lễ đặc biệt cử hành để đánh dấu những việc như xây chùa, dựng tượng, hay hoàn thành việc in kinh (ấn tống).
Cung dưỡng chủ
供養主; C: gōngyăngzhǔ; J: kuyōshu.|Có các nghĩa: 1. Người đảm nhiệm việc dâng cúng; 2. Theo Phật giáo Hàn Quốc thì biểu thị này chỉ vị chịu trách nhiệm nấu ăn trong tu viện, là vị đầu bếp.
Cung dưỡng chủ 供養主
[ja] クヨウシュ kuyōshu ||| (1) A person in charge of making offerings. (2) In Korean Buddhism, the chief cook of a monastery. => Có các nghĩa: 1. Người đảm nhiệm việc dâng cúng. 2.Theo Phật giáo Cao Ly, là vị chịu trách nhiệm nấu ăn trong tu viện.
cung dưỡng hội
(供養會) I. Cung dưỡng hội, hội cúng dường. Pháp hội bày biện lễ vật để cúng dường Tam bảo, cha mẹ, sư trưởng, và các vong linh v.v... gọi là Cung dưỡng hội. II. Cung dưỡng hội. Là hội thứ tư trong chín hội Mạn đồ la của Kim cương giới Mật giáo, đặt ở phía bên phải của trung ương, tương đương với Yết ma mạn đồ la trong bốn loại Mạn đồ la. Cũng gọi là Đại cung dưỡng hội, Nhất thiết Như lai quảng đại cung dưỡng yết ma mạn đồ la, Quảng đại cung dưỡng yết ma mạn đồ la, Kim cương sự nghiệp mạn đồ la. Hội này bao gồm bảy mươi ba vị tôn, tức là năm đức Phật, bốn Bồ tát Ba la mật, mười sáu đại Bồ tát, tám Bồ tát Cúng dường, bốn nhiếp Bồ tát, mười sáu vị tôn Hiền kiếp, hai mươi trời Kim cương bộ ngoài. Chư tôn dâng mũ báu, tràng hoa cúng dường Đại nhật Như lai, và biểu hiện tướng cúng dường lẫn nhau. Các tôn vị nắm tay trái, tay phải cầm hoa sen, trên hoa đặt hình tam muội da, biểu thị tướng trong ngoài đều cúng dường. Hình tượng của chư tôn trong Hiện đồ mạn đồ la, chỉ có bốn bồ tát Ba la mật hiện tướng đàn bà, còn các vị tôn khác đều là hình đàn ông. Trong tranh vẽ tượng của Ngũ bộ tâm quán, thì các vị tôn đều là hình đàn bà. Lại trong Mạn đồ la của hội này, có tất cả bốn thứ cúng dường: Bồ đề tâm, Quán đính, Pháp và Sự nghiệp. [X. kinh Giáo vương (bản dịch đời Tống) Q.8]. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La). III. Cung dưỡng hội. Là một tiết đoạn trong các hội Mạn đồ la khác nhau trong phép tu Kim cương giới thuộc Mật giáo. Còn gọi là Đại cung dưỡng hội. Khi tu pháp, trước hết, ở hội Tam muội da, kết tụng bản thệ nội chứng của ba mươi bảy vị tôn - kế đến, trong hội Cúng dường này, nêu cao tiêu xí (cờ) của bản thệ mà tu Pháp cúng dường Tự tha bình đẳng để nuôi lớn Thánh thai. Cúng dường Tự tha bình đẳng, tức là làm cả hai loại Tự cúng dường và Tha cúng dường cùng một lúc. Tự cúng dường là hành giả cúng dường đức Như lai của bản giác trong tự tâm, nhờ sức tân luân này mà mau chóng chiếu phá vô minh để hiển bày sự sáng láng sẵn có. Tha cúng dường là cúng dường chư Phật đã thành ở quá khứ và hết thảy chúng sinh. Là vì cúng dường chư Phật đã thành ở quá khứ, có thể nhờ sức gia trì hộ niệm của các Ngài mà tròn đủ hạnh hóa tha của hành giả. Ngoài ra, chư tôn của hội này được chia làm chư tôn Năng cúng dường và chư tôn Sở cúng dường theo ba thuyết: 1. Đại nhật Như lai, bốn Bồ tát Ba la mật là Sở cúng dường, mười sáu Đại Bồ tát v.v... là Năng cúng dường. 2. Tâm vương Đại nhật Như lai là Sở cúng dường, chư tôn từ Kim cương tát đóa trở xuống là Năng cúng dường. 3. Hành giả kết ấn và tụng chú là Năng cúng dường, ba mươi bảy vị tôn của Mạn đồ la là Sở cúng dường. [X. kinh Lược xuất niệm tụng Q.3 - Liên hoa bộ tâm nghi quĩ].
cung dưỡng pháp
(供養法) Pháp cúng dường. Sự tướng trọng yếu của Mật giáo, một bộ phận của nghi quĩ. Là nghi thức cúng dường Tam bảo, chư thiên, cha mẹ, sư trưởng, vong linh, để tu đạo, trừ tai và báo ân v.v... như các loại Mạn đồ la cúng, Thủy thiên cúng, Thánh thiên cúng v.v... đều thuộc nghi thức này. Phép làm gồm có: phép kết ấn, phép sái tịnh, phép dâng hoa, phép cúng nước. Các kinh Tô tất địa quyển 2 phẩm Cúng dường, kinh Cù hê quyển trung phẩm Phụng thỉnh cúng dường, kinh Bất không quyên sách quyển 15 phẩm Tối thượng thần biến giải thoát đàn v.v... đều có nói rõ về các phép cúng dường. (xt. Mật Cúng, Nghi Quĩ).
cung dưỡng phúng kinh
(供養諷經) Tụng kinh cúng dường. Còn gọi là Thí trai phúng kinh. Nghi thức tụng kinh truy tiến vong linh người chết. Tức theo lời thỉnh cầu của thí chủ, tụng kinh cầu siêu cho người quá cố và có cúng dường thức ăn uống. Thông thường, đối với các vị tôn túc đã qua đời, cũng tổ chức Phúng kinh cúng dường.
cung dưỡng thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm
(供養十二大威德天報恩品) Kinh, một quyển, do ngài Bất không đời Đường dịch, gọi tắt là Thập nhị thiên báo ân phẩm. Kinh này là kinh quĩ nói về Thập nhị thiên pháp trong Tạp mật kinh của Mật giáo. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Ở cuối kinh đề tên là Thập nhị thiên nghi quĩ. Thập nhị thiên là bao gồm tất cả chư tôn giữ gìn che chở thế gian như trời, rồng, quỉ, thần, tinh tú, quan cõi âm... Nội dung kinh này là dựa vào sự mừng, giận của mười hai trời mà trình bày hai điều lợi, hai điều hại, hành giả có thể tùy theo chỗ mong cầu mà thực hành các pháp cúng dường khác nhau. Ngoài ra, Đại chính tạng tập 18 còn có Cung dưỡng nghi thức 1 quyển, nội dung y theo yếu chỉ trong Đại nhật kinh pháp trích lục cúng dường nghi thức, mà lược thuật về hai mươi bốn pháp, có hình vẽ các thủ ấn và chân ngôn. Nhưng không rõ người dịch, có thuyết cho là cũng do ngài Bất không dịch.
cung dưỡng vân
(供養雲) Vật cúng dường nhiều như biển mây. Còn gọi là Cung dưỡng vân hải. Có ba nghĩa: 1. Tỉ dụ gia trì một vật cúng dường tức là gia trì vô lượng vật cúng dường. 2. Tỉ dụ số lượng vật cúng nhiều vô hạn. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 590 trung), nói: Hiện các loại thân ngữ ý, khởi các thứ mây cúng dường, dùng đại nguyện vô tận, tu hành hết các độ. 3. Có nghĩa là các Bồ tát dấy lên các thứ mây, như hết thảy mây hoa báu ma ni, hết thảy mây hương thơm hoa sen v.v... để cúng dường Như lai. [X. kinh Hoa nghiêm (80 quyển) Q.5 phẩm Thế chủ diệu nghiêm - Đại nhật kinh cúng dường pháp sớ Q.hạ].
cung dưỡng vân hải bồ tát
(供養雲海菩薩) Cung dưỡng vân hải, Phạm: Pùjà megha sàgara#. Dịch âm: Bố nhạ mê già sa yết la. Vị Bồ tát được bày ở đầu phía nam bên ngoài viện Thích ca trên Thai tạng giới hiện đồ mạn đồ la thuộc Mật giáo, mật hiệu là Phổ phú kim cương. Hình tượng là hình sứ giả, hai tay bưng lá sen, trên lá đặt hoa sen, ngồi quì trên tòa lá sen, mặt hơi nghiêng về bên phải - hoặc bưng mâm bằng vàng, trên mâm để đầy hoa. Hình tam muội da là hoa trên lá sen. Ấn khế là kiểu chắp tay phổ thông. Chân ngôn thì thấy trong kinh Đại nhật phẩm Cúng dường nghi thức. [X. Đại tì lô già na kinh quảng đại nghi quĩ Q.thượng].
cung giảng
(宮講) Vào cung giảng kinh cho Hoàng đế, Thái tử, Hậu phi... Thời xưa, Trung quốc và Nhật bản thường có phong tục này. Như Thái tử Chiêu minh là người kính tin Phật pháp rất thuần thành, ông lập riêng điện Tuệ nghĩa ở trong cung, thường lễ thỉnh các bậc cao tăng thạc đức đến giảng kinh và luận cứu Phật pháp.
cung hiến
To offer.
cung hoa
(供華) Tức dâng các loại hương hoa cúng dường Phật, Bồ tát. Hoặc chỉ cho hoa trưng bày trước bàn thờ Phật, trước tôn tượng, cho nên cũng gọi là Phật hoa. Cũng có khi chỉ cái đài cao đặt bày vật cúng. Các thứ hoa nhân tạo, có thể cúng dường được lâu gọi là thường hoa. Tại Ấn độ, hoa phần nhiều được rải ra trước bàn Phật và Bồ tát, hoặc làm thành vòng hoa trang sức để cúng dường. Về sự cúng dường hương hoa thì thấy khắp trong các kinh. Kinh Bách duyên quyển 6 chép, dùng hoa Ba la nại kết thành tràng, và hái hoa rải ở trước Phật. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 6 chép, hoa và cây cảnh dùng để cúng dường thì có: cành liễu, lá trắc, cành trúc, các loại cành hoa, quả v.v... Kinh Tô tất địa yết la quyển thượng phẩm Cúng dường hoa nêu ra hai thứ vật cúng là cây mật và cây thường bàn ....., trong đó, cây mật (một loại cây thơm) vì màu sắc rất giống hoa sen xanh, và cây thường bàn thì xanh tươi quanh năm, nên cả hai thường được dùng thay cho hoa cúng. Nhưng các loại hoa có mùi hôi, hoa của cây có gai, hoa có vị đắng, cay, hoặc hoa dại v.v... thì không được dùng làm hoa cúng. Trong Mật giáo, tùy theo Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ, hoặc do phép tu khác nhau mà thông thường hoa cúng cũng không giống nhau. Cứ theo truyền thuyết, nếu cúng dường hoa tươi trong một thời gian dài mà không héo, thì đó là dấu hiệu cho thấy tội chướng đã diệt trừ, nguyện cầu được thành tựu. Tại Nhật bản, hàng năm cứ vào tháng 3 âm lịch là cử hành pháp hội tu tập Pháp hoa bát giảng và ngâm vịnh thi ca, gọi là hội cúng hoa. Những trai hội cúng hoa loại này được cử hành thì có: hội Vạn hoa của chùa Đông đại, hội Cúng hoa kết duyên của chùa Lục ba la mật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21].
cung hành
To do something by oneself.
cung hạ
To congratulate.
cung kiến na bổ la
Konkanapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Cung Kiến Na Bổ La là một vương quốc cổ nằm về bờ biển phía tây của Ấn Độ, bao gồm các vùng Konka, Goa, và phía bắc Kanara—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Konkanapura, an ancient kingdom on the West Coast of India, including Konkan, Goa, and North Kanara.
cung kiến na bổ la quốc
(恭建那補羅國) Cung kiến na bổ la, Phạm: Koíkaịapura. Còn gọi là Đồ kiến na bổ la quốc, Kiến na bổ la quốc. Tên một nước xưa thuộc nam Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1 chép, thì nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, đô thành rộng hơn ba mươi dặm, đất đai phì nhiêu, lúa mạ xanh tốt, khí hậu nóng bức, phong tục thô tháo - dân cư da đen, tính tình hung bạo, nhưng lại hiếu học, ham chuộng nghệ thuật, kính tín Phật pháp, có hơn trăm ngôi già lam với tăng đồ hơn vạn người, học cả Đại thừa và Tiểu thừa, đền thờ trời vài trăm ngôi, ngoại đạo ở xen lẫn. Bên cạnh thành nhà vua có một đại già lam với hơn ba trăm vị tăng ở, trong chùa có để chiếc mũ báu của Thái tử Nhật thiết nghĩa thành. Về phía bắc đô thành có rừng cây đa la, lá dài, rộng, màu láng bóng, được cung cấp cho các nước dùng để viết sách. Mạn tây nam đô thành có tốt đổ ba do vua A dục kiến tạo. Truyền thuyết nói rằng có hai trăm ức La hán đã từng ở đây hiện đại thần thông, hóa độ chúng sinh. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4 - Thích ca phương chí Q.hạ].
cung kính
Satkara (S).
; Respectful—Reverent—Worship.
; (恭敬) Phạm: Satkàsa, Pàli: Sakkàra. Mình tự khiêm nhường mà tôn trọng lễ kính người khác. Cung kính thông cả ba nghiệp thân khẩu ý. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 2 (Đại 26, 19 thượng), nói: Cung kính, nghĩa là nhớ đến công đức và tôn trọng người ấy. Trên đây là nói về ý nghiệp. Cũng luận đã dẫn quyển 2 còn nói (Đại 26, 30 trung): Cung kính, nghĩa là tôn trọng lễ bái, đón đến đưa đi, chắp tay đứng hầu ở gần. Đây là nói về thân nghiệp. Cũng luận trên quyển 2 (Đại 26, 30 trung), nói: Đem pháp Tiểu thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cúng dường - đem pháp Bích chi phật giáo hóa chúng sinh, gọi là phụng cấp - đem pháp Đại thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cung kính. Đây gọi khẩu nghiệp nói pháp giáo hóa là cung kính. Còn cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì người Ấn độ xưa biểu hiện lòng tôn kính bằng chín cách: 1. Nói lời thăm hỏi. 2. Cúi đầu. 3. Dơ tay cao mà vái. 4. Chắp tay cúi mình. 5. Xuống gối. 6. Quì gối. 7. Đầu gối và tay đặt sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, hai khuỷu tay, hai đầu gối đều đặt sát đất. Tây phương yếu quyết quyển hạ chủ trương, người tu Tịnh độ, phải tu năm thứ cung kính: 1. Cung kính bậc thánh có duyên. 2. Cung kính tượng giáo có duyên. 3. Cung kính thiện tri thức có duyên. 4. Cung kính bạn đồng duyên. 5. Cung kính Tam bảo. [X. luận Phật tính Q.1 phần Duyên khởi - luận Đại trí độ Q.30].
cung kính cúi đầu
To bow respectfully.
cung kính thí
To offer with reverence.
; Cung kính cũng là một cách cúng dường—Worship as an offering.
; (恭敬施) Một trong ba thí của Bồ tát pháp thân. Cũng gọi là Cúng dường cung kính thí. Tức là đối với người khác, mình có lòng tin thanh tịnh, cung kính lễ bái. Luận đại trí độ quyển 12 (Đại 25, 147 thượng), nói: Cung kính thí, nghĩa là lòng tin thanh tịnh, cung kính lễ bái, đi đưa về đón, khen ngợi cúng dường, các việc như thế gọi là Cung kính thí.
cung kính thỉnh phật thuyết pháp
Reverently asked the Buddha to preach the dharma.
cung kính thỉnh sư thuyết pháp
Reverently asked the master to preach the dharma.
cung kính đi nhiễu
Respectfully circumambulating (circling on foot).
cung kính đầu
(恭敬頭) Một loại Phạm bái. Cũng gọi là Lược Phạm. Bài tán tụng đọc lúc bắt đầu pháp sự để tán thán công đức của Phật, biểu thị ý cung kính tín lễ. Trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 mục Trung diên trai có chép văn xướng tụng (Vạn tục 111, 454 hạ): Nhất thiết cung kính, tín (kính) lễ thường trụ Tam bảo. Thiền lâm phần nhiều xướng tụng Cung kính đầu vào giờ Trung diên trai.
Cung kính 恭敬
[ja] クギョウ kugyō ||| To respect, worship, revere (namaskāra, gaurava). 〔法華經 T 262.9.18c27〕 => Kính trọng, tôn kính, sùng kính (s: namaskāra, gaurava).
cung miếu
Royal temples.
cung mễ
(供米) Gạo dùng để cúng dường Tam bảo. Song gạo dâng cúng Phật thì phải nấu chín rồi đựng vào bát, gọi là Cung phạn (cơm cúng). Cái bao đựng gạo cúng, gọi là Cung mễ đại (bao gạo cúng). Còn ruộng trồng lúa lấy gạo cúng, thì gọi là Cung mễ điền, hoặc là Cung mễ sở.
cung nga
Maid-servant of the queen.
cung ngự đà
Konyodha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Cung Ngự Đà được ngài Huyền Trang nói đến là một vương quốc cổ của những người không tin Phật, nằm về phía đông nam Orissa, có lẽ bây giờ là thị trấn Ganjam—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Konyodha, an ancient kingdom mentioned by Hsuan-Tsang as a stronghold of unbelievers; it is said to be in south-east Orissa, possibly the present Ganjam town.
cung ngự đà quốc
(恭禦陀國) Cung ngự đà, Phạm: Koígoda. Một Vương quốc xưa ở miền đông Ấn độ, ở về phía nam nước Ô đồ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì nước này ở gần biển, đất ẩm thấp, khí hậu nóng, phong tục mạnh bạo. Dáng người to cao và đen, biết chút ít lễ nghĩa, sùng kính ngọai đạo, không tin Phật pháp. Vì ở gần biển nên nước có nhiều vật quí hiếm, có voi to lớn dùng để chuyên chở. Khi ngài Huyền trang đến Tây trúc, thì nước này bị vua Giới nhật chinh phục. Đô thành nước này là giải đất nay ở khoảng giữa hai thị trấn Ganjam và Cattack. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4 - Giải thuyết tây vực kí].
cung nữ
Imperail maids—See Cung Nga.
cung phi
Imperail concubine.
cung phật
(供佛) Bày các thứ hoa quả cúng dường trước bàn Phật. Cứ theo kinh Đại phương quảng như lai bất tư nghị cảnh giới chép, thì những người lòng thành vui mừng cúng dường Phật, chắc chắn được yên vui, phúc đức lớn và mau chóng thành tựu quả Vô thượng chính đẳng chính giác. [X. luận Đại trí độ Q.93].
cung phật trai thiên
(供佛齋天) Thiết trai cúng dường Phật và chư thiên. Nói tắt là Trai thiên. Tục dân gian gọi là Bái thiên công. Cúng chư thiên khoa nghi do ngài Hoằng tán đời Thanh soạn tập (Vạn tục 129, 121 thượng), nói: Phép cúng chư thiên vốn có xuất xứ từ kinh Kim quang minh, khi tu sám, đặt cúng Tam bảo, chư thiên. Tín đồ Phật giáo tuy không qui y chư thiên nhưng có lễ kính chư thiên, là vì chư thiên qui y Phật và làm theo chính pháp của Phật, tu các nghiệp lành, không làm các việc ác. Cứ theo kinh Kim quang minh chép, thì trên hội Kim quang minh, chư thiên đều phát tâm Bồ đề trước đức Phật và vâng giáo lệnh của Như lai, thường thụ trì, đọc tụng và viết chép kinh Kim quang minh. Vì chư thiên theo lời dặn bảo của đấng Pháp vương, đi khắp nhân gian, đem lòng từ bi giúp đỡ người có đức, thưởng thiện phạt ác, nên người đời đặt pháp hội Cúng Phật trai thiên, tụng kinh lễ sám, bày các thức ăn thanh tịnh cúng dường Tam bảo mười phương, chư thiên hộ thế và quyến thuộc của các ngài. Để tỏ lòng chí thành lễ kính, đàn tràng, nên bày tòa ngồi của Tam bảo, chư thiên và các vị tùy tùng. cách bày trí phải hết sức trang nghiêm, thanh tịnh - xướng tụng lễ tán đúng phép tắc - trà nước, hoa trái phải sạch sẽ, tươi tắn.Trong kinh Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi, ngài Tuân thức đời Tống, chia nghi thức làm mười khoa (Đại 46, 957 hạ): 1. Sửa sang nhà cửa sạch sẽ đẹp đẽ. 2. Ba nghiệp phải thanh tịnh. 3. Cúng dường hương hoa. 4. Triệu thỉnh trì chú. 5. Tán thán thuật ý. 6. Xưng danh dâng cúng. 7. Lễ kính Tam bảo. 8. Tu hành năm hối (sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng, phát nguyện). 9. Nhiễu quanh tự qui. 10. Đọc tụng kinh điển. Nghi thức trong các Pháp hội Trai thiên tại các chùa viện thời nay chưa hẳn đã hoàn toàn giống nhau, có nơi giản dị, có nơi phiền tạp. Người theo Kim quang minh kinh trai thiên khoa nghi, người theo Hoa sơn trai thiên khoa nghi. Tổ chức long trọng thì theo khoa nghi Hoa sơn trai thiên, do ba vị đại Hòa thượng chủ trì, một vị chánh, hai vị phó. Ngoài ra, còn thỉnh mười vị dẫn lễ, như: đánh mõ, khánh, thanh la, tiêu cảnh, chuông, trống v.v... theo nhau xướng họa. Một vị tiếp khách, phụ trách việc hướng dẫn trai chủ vào đàn lễ bái - sáu hoặc tám người tấu nhạc.[X. Kim quang minh tối thắng sám nghi - Hoa sơn trai thiên khoa nghi].
cung phụng
To offer.
cung phụng tăng
(供奉僧) Gọi tắt là Cung tăng. Có hai loại: 1. Tên gọi chức quan tăng của Nhật bản. Một trong Hữu chức Tam cương, là vị tăng trông coi việc Phật trong cung vua, như 10 vị thiền sư trong Ngự trai hội, Ngự tu pháp, Pháp hoa bát giảng v.v... gồm một vị Chủ tọa, ba vị Tam cương, và sáu vị Cung tăng. Danh từ Cung phụng tăng bắt đầu từ Trung quốc. Cứ theo Đại tống tăng sử lược chép, vào năm Càn nguyên thứ 2 (759), vua Túc tông nhà Đường ban sắc lệnh bổ nhiệm ngài Tử lân làm Cung phụng tăng. (xt. Nội Cung Phụng). 2. Chức của vị tăng coi việc cung phụng bản tôn, hoặc dâng hoa, đốt đèn, thắp hương trước bàn thờ Phật trong các chùa viện tại Nhật bản.
cung quảng
Palace in the moon.
cung thai
Thai cung nơi những người niệm Phật vãng sanh mà còn nghi ngờ nơi Đức Phật A Di Đà sẽ được về ở tại đây trong 500 năm cho đến khi đủ công đức sanh về Tịnh Độ—The palace womb, where those who call on Amitabha but are in doubt of him are confined for 500 years, devoid of the riches of Buddha-truth, till born into th Pure Land—See Nghi Thành Thai Cung.
Cung thí
供施; C: gōngshī; J: kuse.|Có các nghĩa sau: 1. Dâng cúng; 2. Vị tăng đảm nhiệm việc cúng dường (s: yaṣṭṛ).
Cung thí 供施
[ja] クセ kuse ||| (1) To make offerings. (2) The priest in charge of making offerings (Skt. yaṣṭṛ). => Có các nghĩa sau: 1. Dâng cúng 2. Vị tăng đảm nhiệm việc cúng dường (s: yaṣṭṛ).
cung thấn
Xem Đạt thấn.
cung trúc tự
(筇竹寺) Vị trí chùa ở núi Ngọc án, mạn bắc Điền trì, huyện Côn minh, tỉnh Vân nam. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Thiền tông Trung nguyên truyền vào Vân nam. Tương truyền, khoảng năm Trinh quán đời Đường, hai anh em là Cao quang và Cao trí, người nước Nam chiếu, đi săn, đuổi theo một con tê ngưu đến núi Ngọc án thì mất dấu, họ lại thấy trong đám mây có một vị tăng, đến gần, họ thấy vị tăng đang cầm cây gậy trúc cung trồng xuống rừng, họ bèn làm một ngôi chùa ở chỗ ấy và đặt tên chùa là Cung trúc. Khoảng năm Chí nguyên đời Nguyên, Hòa thượng Hùng biện trụ trì chùa này, hoằng dương Thiền tông, khiến cho chùa hưng thịnh một thời. Chính giữa Đại hùng bảo điện thờ tượng Phật tam thế được tạo vào đời Nguyên, ở góc điện có tấm bia Thánh chỉ lập vào năm Diên hựu thứ 3 (1316) đời Nguyên, mặt trước khắc chữ Hán, mặt sau khắc chữ Mông cổ, trên bia ghi lời sắc phong vị trụ trì chùa này là Đầu hòa thượng........, quan viên quân dân phải hộ trì, và có ban Đại tạng kinh v.v... Năm Quang tự thứ 9 (1883) đời Thanh, Lê quảng tu (Đức sinh) hô hào năm sáu trăm nhà điêu khắc đắp tượng dân gian có tiếng, đến chùa đắp năm trăm pho tượng La hán, hết bảy năm mới xong, là những kiệt tác nghệ thuật nổi tiếng trong và ngoài nước. Những pho tượng này không những Một số tượng La Hán ở chùa Cung Trúc chỉ chính xác về kích thước, phù hợp với nguyên lí giải phẫu, mà còn chú trọng điểm đặc trưng biểu hiện dáng vẻ, tính cách của nhân vật và sự biến hóa của tư tưởng, tình cảm. Năm trăm tượng La hán hoặc ngồi hoặc đứng, hoặc mừng hoặc giận, có những vị đang thì thầm nói chuyện riêng với nhau, có những vị quát tháo to tiếng, có vị ngồi im lặng trầm tư, có vị ngoảnh bên trái, ngó bên phải, diễn tả các tính cách cương nghị dũng cảm, phong thái lạc quan, trang nghiêm cẩn trọng và rất sống động. Tượng các vị La hán ở chùa Cung trúc được so sánh với tác phẩm của Dương huệ, nhà đại điêu khắc đời Đường, và cho là đẹp ngang nhau.
cung trướng
(供帳) Còn gọi là Tăng trướng, Tăng tịch. Tức là cuốn sổ ghi chép tên họ, quê quán, năm sinh, năm được độ xuất gia của tăng ni. Phật tổ thống kỉ quyển 40 mục Khai nguyên thập thất niên (Đại 49, 374 trung), nói: Nhà vua ra lệnh cho tăng ni trong thiên hạ cứ ba năm làm sổ một lần. Cung trướng bắt đầu từ đó. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ phẩm Chúc lụy - Thiền uyển thanh qui Q.3 mục Duy na - Đạitống tăng sử lược Q.trung]. (xt. Tăng Tịch).
cung trường
(弓長) Người huyện Cao dương, tỉnh Hà bắc đời Minh. Ông sáng lập ra giáo Viên đốn trong tôn giáo dân gian ở đời Minh. Từng thờ giáo chủ của Văn hương giáo là Vương sâm làm thầy. Ông lập giáo vào năm Thiên khải thứ 4 (1624) đời vua Hi tông. Đầu năm Sùng trinh, ông truyền giáo tại các địa khu Hà nam, Hồ bắc, Tứ xuyên và Giang tô. Trứ tác: Cổ Phật thiên chân khảo chứng long hoa bảo kinh, gọi tắt là Long hoa kinh. (xt. Viên Đốn Giáo).
cung trời đâu suất
Tuśita Heaven.
cung tự trân
(龔自珍) (1791-1841) Người huyện Nhân hòa đời Thanh. Tự Sắt nhân, hiệu Định am, còn gọi là Củng tộ. Ông đỗ tiến sĩ khoảng năm Đạo quang (1821-1850), làm quan đến chức Lễ bộ chủ sự. Từng theo ông ngoại là Đoàn ngọc tài học Thuyết văn giải tự, rồi theo Lưu phùng lộc học Công dương Xuân thu. Ông có kì tài, đọc khắp các sách, nuôi chí kinh bang tế thế, thông thạo địa lí Tây vực, Mông cổ, chư tử bách gia, sấm vĩ học, và thường dẫn dụng sách Phật để giải thích rõ học thuyết của các nhà, mà tự thành học thuyết riêng của mình. Đặc biệt ông thích dùng lí Thiền để làm thơ, viết văn, sâu xa thăm thẳm, mở ra một thế giới kì lạ. Tác phẩm của ông rất phong phú, nhưng tiếc rằng phần nhiều đã mất mát, hiện chỉ còn Định am toàn tập lưu hành ở đời.
cung tỳ la
Còn gọi là Kim Tỳ La, dịch là cá sấu—A crocodile.
cung điện thành quách trên núi kỳ xà quật
The City of Royal Palaces on Mount Grdhrakuta.
Cung đạo
弓道; J: kyūdō;|Nghệ thuật bắn cung xuất phát từ Nhật Bản mang đậm tính chất Thiền, được nhiều người hâm mộ.
cung đạo
KyŪdō (J).
cung đầu hành giả
(供頭行者) Cũng gọi Cung quá hành giả. Gọi tắt: Bồ Tát Cúng Dường Vân Hải Cung đầu, Cung tư. Một trong những chức Hành giả của Thiền lâm, có trách vụ trông coi việc phân phối cơm canh, trà quả, vo gạo, hoặc đèn nhang, hoa trái, đánh chuông trên điện Phật, trong nhà Tổ hoặc Tăng đường v.v... Gọi Cung Quá là bắt nguồn từ Quá đường mà ra. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4 Lưỡng tự tiến thoái điều, Q.5 Tọa thiền điều - Thiền uyển thanh qui Q.4 - Tăng đường thanh qui Q.5 - Thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn].
cung ứng
To equip—To supply—To furnish.
Cung 宮
[ja] キュウ kyū, ku ||| (1) A palace; a temple. A home or dwelling. (2) The first note in the ancient Chinese musical scale. => 1. Lâu đài, đền thờ. Chỗ ở, nơi cư trú. 2. Ký âm đầu tiên trong cung bậc âm nhạc cổ điển Trung Hoa.
Cung, Cúng 供
[ja] ク ku ||| (1) To offer, sacrifice, dedicate. (2) To present, submit, serve. (3) Accompany. (4) Offering. (5) An attendant, retinue. => Có các nghĩa sau 1. Dâng tặng, dâng cúng, hiến dâng. 2. Trình dâng, phục tùng, đáp ứng. 3.Đi theo, hộ tống. 4. Sự dâng cúng. 5. Thị giả, người theo hầu, đoàn tùy tùng.
cuối cùng
Eventually—Last but not least.
cuối kỳ kiếp
Kalpakshaya (S), End of a kalpa.
cuối mùa
The end of the season.
cuối năm
End of the year.
cuốn gói
To pack off.
cuống
Sathya (S), Unsincerity Dối gạt, không chân thật. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; Dối trá—Deception—Lying—Imposition.
; (誑) Phạm: Zàỉhya. Ý là dối trá, lừa gạt. Tên tâm sở. Là một trong bảy mươi lăm pháp của Câu xá, một trong trăm pháp của Duy thức. Tức là tác dụng tinh thần dùng nhiều thủ đoạn mánh khóe để lừa gạt người khác. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 6 nói, thì Cuống tức là vì muốn được lợi dưỡng mà hiện vẻ đạo đức giả, lấy dối trá làm tính, hay ngăn che sự thật thà, lấy tà mệnh làm nghiệp. Tông Câu xá cho nó là một trong các Tiểu phiền não địa pháp, là pháp có thực. Tông duy thức thì cho nó là một trong hai mươi Tùy phiền não, bảo rằng Cuống lấy một phần tham, si làm thể, là do một phần tham, si mà giả lập, ngoài tham, si ra Cuống không có tướng dụng riêng. [X. luận Câu xá Q.21 - Câu xá luận quang kí Q.21 - Thành duy thức luận thuật kí Q.6].
cuống cuồng
To lose one's head.
cuồn cuộn
To curl (upwards).
cuồng
Mad—Deranged—Wild.
cuồng bạo
Mad and cruel.
Cuồng Ca
(狂歌, Kyōka): loại Đoản Ca mang tính thế tục, vịnh về Haiku, loại ca hí tiếu của Vạn Diệp Tập (萬葉集, Manyoshū), rất thịnh hành qua các thời đại Bình An, Liêm Thương, Thất Đinh, và đặc biệt được lưu hành rộng rãi vào đầu và giữa thời Giang Hộ.
cuồng cẩu
A mad dog (deluded mind).
cuồng hoa
Muscae volitantes, dancing flowers before the eyes.
; Hoa dốm nhảy múa trước mắt—dancing flowers before the eyes.
cuồng huệ
Foolish wisdom; clever but without calm meditation.
; Kẻ trí tuệ bị tán loạn mà phát cuồng (định mà không tuệ gọi là si định, giống như người mù cưỡi ngựa tất phải té nhào; ngược lại tuệ mà không định gọi là cuồng tuệ, giống như đèn bảo trước gió lung linh không soi sáng được gì)—Foolish wisdom—Clever but without calm meditation.
; (狂慧) Tức là trí tuệ tán loạn. Cứ theo Quan âm huyền nghĩa quyển thượng chép, thì có định mà không có tuệ, gọi là si định, ví như người đui cỡi ngựa mù, chắc chắn sẽ sa vào hầm hố, có tuệ mà không định, gọi Vua và Hoàng Hậu lễ Phật (Khắc ở hang đá Huyện Củng) là cuồng tuệ, ví như treo đèn trước gió, lắc lư không định thì soi vật không rõ.
cuồng khuyển trục lôi thanh
(狂犬逐雷聲) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là chó điên sủa theo tiếng sấm, luống công mà vô ích. Trong Thiền lâm dùng cụm từ này để chỉ sự cố gắng phí công, hoặc bản chất đảo điên, chấp cái hư vô làm có thực. Tiếng dùng đồng loại là: Mê viên tróc thủy nguyệt (con vượn dại khờ mò trăng đáy nước).
cuồng loạn
Distracted.
cuồng loạn vãng sanh
Người gây tội tạo nghiệp ngay lúc lâm chung, tâm thần tán loạn sợ hãi, thấy ngọn lửa trong địa ngục, giơ tay lên nắm bắt giữa không trung. Đang lúc ấy mà có cơ duyên có người khuyên niệm được hồng danh chư Phật mười lần hay ngay cả một lần cũng được vãng sanh Tịnh Độ—Saved out of terror into the next life; however, distressed by thoughts of hell as the result of past evil life, ten repetition or even one, of the name of Amitabha ensures entry into his Paradise.
cuồng loạn vãng sinh
Saved out of terror into the next life; however distressed by thoughts of hell as result of past evil life, ten repetitions, or even one, of the name of Amitàbha ensures entry into his Paradise.
; (狂亂往生) Một trong bốn loại vãng sinh. Những người gây tội nghiệp sâu nặng, như thập ác, phá giới, ngũ nghịch, khi hấp hối, thấy lửa dữ trong địa ngục, tâm sinh hốt hoảng cuồng loạn, giơ tay bắt hư không. Nếu được thiện tri thức chỉ bảo cho, niệm Phật mười câu hoặc chỉ một câu, thì được vãng sanh. (xt. Tứ Chủng Vãng Sanh).
Cuồng ngu 狂愚
[ja] キョウグ kyōgu ||| A fool; an idiot (bāliśa). => Người khờ dại; kẻ ngốc (s: bāliśa).
cuồng ngôn
Foolish talk.
cuồng nhiệt
Excessive enthusiasm
cuồng thiền
Mad Zen—Thiền bậy bạ, không đúng theo Chánh Pháp Phật Giáo. Người tu theo loại thiền nầy thường bị âm ma ám nhập trở nên điên cuồng. Cuồng Thiền cũng bao gồm những kẻ không thực hành mà nói thực hành, không đắc mà nói đắc, ngày ngày họ hãy còn ăn thịt uống rượu mà vỗ ngực xưng tên là Thiền Sư nầy nọ—Mad Zen is a false method of practicing Zen. It is erronous and not according to the proper Dharma teachings of the Buddha. People who follow this type of Zen practice are often possessed by demonic spirits and eventually become mad. Mad Zen also includes those who never practice but saying practicing, never obtaining enlightenment but saying obtaining enlightenment, those who are still eating sentient beings' flesh and drinking wine everyday, but always pretending themselves as Zen Master.
cuồng tuệ
See Cuồng Huệ.
cuồng tâm tứt, bồ đề lộ
When your perverted mind is expelled, it is precisely Bodhi mind.
cuồng tín
Fanaticism.
cuồng túy
Dead drunk.
cuồng tượng
A mad elephant, such is the deluded man.
; Vọng tâm mê cuồng ví như voi điên—A mad elephant, such is the deluded mind.
cuồng vọng
Crazy ambition.
cuồng.
Deranged, mad, wild
Cuộc Cải Tân Đại Hóa
(大化改新, Taika-no-kaishin): tên gọi của cuộc cách tân lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, khởi đầu vào mùa hè năm 645 với trung tâm là Hoàng Tử Trung Đại Huynh (中大兄, sau trở thành Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 668-671]) cùng với nhóm hào tộc trong triều đình đã tiêu diệt dòng họ Đại Thần Tô Ngã và thực hiện cuộc cách tân về mặt chính trị. Mấy người này đã lập Hiếu Đức Thiên Hoàng (孝德天皇, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654) lên làm vua và dời đô về vùng Nan Ba (難波, Namba), rồi năm sau thì phế bỏ chế độ đất đai tư hữu, thực hiện quyền hành chính tập trung ở triều đình, tác thành hộ tịch, điều tra đất đai canh tác, thống nhất chế độ thu thuế, v.v., và công bố chiếu chỉ cách tân. Đây là điểm xuất phát để thành lập quốc gia trung ương tập quyền ở vùng Đông Á.
cuộc diện
Cục diện—Situation.
cuộc nói chuyện
A conversation.
cuộc sum họp dù đầm ấm và vui vẻ thế mấy rồi cũng tới hồi chia tay
An emotional reunion, no matter how much sweet and joy will ultimately end in separation.
cuộc sum họp nào rồi cũng tan
Any reunion will soon end in separation.
cuộc sống bất hạnh
A wretched life
cuộc sống cao quý
Noble life—Unblemished life.
cuộc sống giác ngộ
An enlightened life.
cuộc sống hèn mọn
Ignoble life.
cuộc sống hạnh phúc
A happy life.
cuộc sống khổ hạnh
Life of asceticism.
cuộc sống mong manh
Life is uncertain.
cuộc sống thuần khiết
An unblemished life.
cuộc sống thế tục
A lay life.
cuộc sống tự tại
A carefree life.
cuộc vui
Entertainment.
cuộc điều tra
Investigation—Inquiry.
cuộc đấu trí
Intellectual contest.
cuộc đời
Life—Existence.
cà khịa
To pick a quarrel with someone.
cà lăm
To stutter—To stammer.
cà lỳ ma la
Xem Tỳ la trưởng lão.
cà nhắc
Limping.
cà rà
To loiter.
cà ràng
Earthern stove.
cà rỡn
To joke—To jest.
cà sa
Kāṣāya (S), Kasa (K) 1- Vị lạt 2- áo cà sa.
; Kasaya (S). Kàsàva (P). Kesa (J): Tăng già lê, Samghati; Uất đà la tăng, Utàra-Samgha. An đà hội, Antarvàsaka.
; Kasaya (skt). (I) Nghĩa của “Cà Sa”—The meanings of “Kasaya”—Y áo của nhà sư. Áo xích sắc hay màu thẳm, được diễn dịch là hư nát, bẩn, nhiễm bẩn, được nhuộm bằng màu tạp, chứ không phải làm bằng một trong những màu chính, để phân biệt với bạch y hay áo trắng của hàng tại gia—The monk's robe or cassock. A red or yellow monk's robe, interpreted as decayed, impure in colour, dyed, not of primary colour, so as to distinguish from the normal white dress of lay people. (II) Phân loại “Cà Sa”—Categories of “Kasaya”—Có nhiều loại khác nhau—There are several different names for Kasaya: 1) Đại Y: See Tăng Già Chỉ. 2) Giải Thoát Y: Y áo của sự giải thoát—The clothing (garment) of liberation. 3) Giải Thoát Tàng Tướng Y: The garment of emancipation. 4) Phước Điền Y: Y áo mặc vào như đem phước điền cho người gieo—The robe of a field of happiness. 5) Vô Tướng Y: Y áo của nhà tu không có hình tướng, nó chỉ là một miếng vải vuông—The robe without form. The Kasaya is without form in the sense that is a simple square sheet of cloth. 6) Nhẫn Nhục Y: Y áo nhắc người mặc luôn nhẫn nhục—The robe of endurance, or patience—Enduring-humiliation robe. 7) Bá Nạp Y: Y áo làm bằng vải bá nạp (vải mà người ta đã vứt đi)—Broken patched robe. 8) Phấn Tảo Y: Y áo làm bằng những miếng vải cũ dùng để lau bụi—A robe of rags—A collection of rags out of dust-heap used as robes for monks and nuns. 9) Tăng Già Chỉ: Áo đắp bằng những mảnh vải, một trong ba loại y cho chư Tăng Ni, choàng từ vai xuống tới đầu gối và được cột lại nơi hông, thường được làm bằng chín hay hai mươi lăm mảnh—The path-robe, one of the three garments of a monk reaching from shoulders to the knees and fastened around the waiste, usually made up of nine to twenty-five pieces. 10) Tăng Già Lê: See Tăng Già Chỉ. 11) Trọng Y: See Tăng Già Chỉ. (III) Những lời Phật dạy về “Cà Sa” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Kasaya” in the Dharmapada Sutra: 1) Mặc áo cà sa mà không rời bỏ những điều uế trược, không thành thật khắc kỷ, thà chẳng mặc còn hơn—Wearing a yellow saffron robe with an impure mind. What will the robe do if truthfulness is lacking and discipline or self-control is denied? (Dharmapada 9). 2) Rời bỏ những điều uế trược, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, khắc kỷ và chân thành, người như thế đáng mặc áo cà sa—He who drops all stain, stands on virtue, learns discipline and speaks the truth. Then the yellow robe will fit him (Dharmapada 10). 3) Không ngăn trừ ác hạnh thì dù mặc áo cà sa, người ác cũng sẽ vi nghiệp ác, chết phải đọa địa ngục—A yellow saffron robe does not make him a monk. He who is of evil character and uncontrolled or unrestrained; such an evil-doer, by his evil deeds, is born in a woeful state (Dharmapada 307).
cà sa ngũ điều
Xem áo an đà hội.
cà tra bố đơn na
Kataputana (skt)—See Ca Tra Phú Đơn Na.
càn
Ch'ien (C)Quẻ đầu trong bát quái.
; Dry, dried up, clean; heaven, male, enduring, continual.
; 1) Càn khôn: Trời—Heaven. 2) Chịu đựng: Enduring. 3) Giống đực: Masculine. 4) Khô ráo—Dry—Dried up—Masculine. 5) Sạch sẽ: Clean. 6) Tiếp tục: Continual.
càn huệ địa
Sudha-vidarśana-bhŪmi (S)Quá Diệt Tịnh Địa, Tịnh Quán Địa, Kiến Tịnh Địa, Tịnh Nhiên Tạp Kiến Hiện Nhập ĐịaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã.
; The dry or unfertilized stage of wisdom.
; Giai đoạn đầu trong Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa, giai đoạn mà trí tuệ chưa được tư nhuận—The dry or unfertilized stage of wisdom, the first of the ten stages—See Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa.
Càn khai khôn hạp
(乾開坤闔): càn mở khôn đóng, tức trời mở ra và đất đóng lại. Trong Hệ Từ Truyện (繫辭傳) có giải thích rằng: “Hạp hộ vị chi khôn, tịch hộ vị chi càn, nhất hạp nhất tịch vị chi biến, vãng lai vô cùng vị chi thông (闔戶謂之坤、闢戶謂之乾、一闔一闢謂之變、徃來無窮謂之通, Đóng cửa gọi là khôn, mở cửa gọi là càn, một đóng một mở gọi là biến, qua lại không cùng gọi là thông).” Hay trong phần Huyền Quan Hiển Bí Luận (玄關顯秘論) của Tử Thanh Chỉ Huyền Tập (紫清指玄集) do Bạch Ngọc Thiềm (白玉蟾, 1194-?) nhà Tống soạn, cũng có đoạn rằng: “Khai hạp càn khôn tạo hóa quyền, đoán luyện nhất lô chơn nhật nguyệt (開闔乾坤造化權、煅煉一爐眞日月, Đóng mở trời đất tạo hóa quyền, nung luyện một lò đúng trời trăng).” Trong bài (望海亭賦) của Phạm Thành Đại (范成大) nhà Tống có câu: “Thiên phong kích xuy, ba đào hạp khai (天風激吹、波濤闔開, gió trời thổi mạnh, sóng cả đóng mở).”
Càn khôn
(乾坤): tên gọi 2 quẻ bốc của Dịch, trời và đất, âm và dương, nam và nữ, mặt trời và mặt trăng.
càn lật đà
See Càn Lật Đà Da.
càn lật đà da
Hrdaya (skt)—Kiên thực tâm hay trái tim bền chắc—Heart, soul, mind, core.
Càn nguyên
(乾元): có mấy nghĩa. (1) Hình dung đức lớn của Thiên tử. Như trong Dịch Kinh (易經), quẻ thứ nhất Càn Vi Thiên (乾爲天) có lời Thoán (彖) rằng: “Đại tai Càn Nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thống thiên (大哉乾元、萬物資始、乃統天, lớn thay Càn Nguyên, muôn vật nhờ nó mà bắt đầu nảy nở, nên cai quản cả trời).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Càn thị quái danh, Nguyên thị Càn đức chi thủ (乾是卦名、元是乾德之首, Càn là tên quẻ, Nguyên là đứng đầu trong các đức của Càn).” Chu Hy (朱熹, 1130-1200) nhà Nam Tống cho biết thêm rằng: “Càn Nguyên, thiên đức chi đại thỉ (乾元、天德之大始, Càn Nguyên là khởi đầu cho đức lớn của trời).” Từ đó trở về sau, Càn Nguyên được dùng để hình dung cho đức độ to lớn của Thiên tử. (2) Chỉ cho Trời. Như trong Trần Thư (陳書), chương Cao Tổ Kỷ Thượng (高祖紀上) có câu: “Đại tai Càn Nguyên, tư nhật nguyệt dĩ trinh quán; chí tai khôn nguyên, bằng sơn xuyên dĩ tải vật (大哉乾元、資日月以貞觀、至哉坤元、憑山川以載物, lớn thay Càn Nguyên, lấy trinh quán [đạo lý chánh đại] để giúp đỡ trời trăng; lấy việc nâng đỡ muôn vật để nương tựa núi sông).” Hay trong bài Thái Giai Lục Phù Phú (泰階六符賦) của thi nhân Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường cũng có câu: “Ký xuất một dĩ hậu quân đức, hựu huỳnh hoàng dĩ lệ Càn Nguyên (旣出沒以候君德、又熒煌以麗乾元, từng ẩn hiện để trông đợi đức của vua, lại tỏa sáng để làm đẹp Càn Nguyên [Trời]).” (3) Chỉ cho đế vương. Như trong Tấn Thư (晉書), phần Hiếu Võ Định Hoàng Hậu (孝武定皇后) của Hậu Kỷ Truyện Hạ (后妃傳下) có câu: “Đức phối Càn Nguyên, cung thừa tông miếu, huy âm lục cung, mẫu nghi thiên hạ (德配乾元、恭承宗廟、徽音六宮、母儀天下, đức hợp đế vương, nối dõi tông miếu, tiếng tốt sáu cung, mẫu nghi thiên hạ).” Hay trong bài thơ Môn Nhân Trần Thiên Thu Đẳng Sơ Lai Thảo Đường Vấn Học Thị Chư Tử (門人陳千秋等初來草堂問學示諸子) của Khang Hữu Vi (康有爲, 1858-1927) cũng có câu: “Quần long vô thủ thùy tri cát, tự hữu càn nguyên đại thống trường (群龍無首誰知吉、自有乾元大統長, nhóm rồng đầu chẳng ai biết tốt, tự có đế vương thống lãnh lâu).” (4) Chỉ cho nguyên khí, đại khí, hơi thở. Như trong bài thơ Cô Trúc Quân Chi Nhị Tử (孤竹君之二子) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Ngã phủ ngưỡng tại thiên địa chi gian hô hấp càn nguyên, tạo hóa đích tinh thần tại hung trung phún dũng (我俯仰在天地之間呼吸乾元,造化的精神在我胸中噴湧, ta cúi xuống ngẩng lên giữa trời đất hô hấp nguyên khí, tinh thần của tạo hóa ở trong lồng ngực tuôn trào ra).”
Càn Phong
(乾峰, Kembō, ?-?): nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Động Sơn Lương Giới (洞山良价), đã từng sống tại Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang).
càn thành
Còn gọi là Càn Thát Bà Thành, Kiện Thát Bà Thành, Kiện Thát Phược Thành, hay Ngục Thát Phược Thành (do vị nhạc thần biến hóa ra lầu gác cho mọi người nhìn thấy)—Gandharva city, i.e. a mirage city.
càn thát
Gandharva or Gandharva Kayikas (skt)—Tên gọi tắt của Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
càn thát bà
Gandharva (S), dri za (T), Gandhabba (P)Hương ấm1- Một loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Tỳ xá xà, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. Người tấu nhạc thần của Trời Đế thích, sống ở các núi thơm, không ăn uống rượu thịt, dùng hương thơm làm thức ăn. Một trong bát bộ. Gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già 2- Càn thát bà luận trong Vệ đà.
; Gandharva (S). Celestian musician. Also Hương âm thần.
; Gandharva (skt)—Kiện Đạt—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
càn thát bà thành
A Gandharva city, i.e. a mirage city.
; Gandharva city.
càn thát bà thành dụ
Ghandharva-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như thành luỹ của Càn thát bà.
càn thát bà vương
Vua của các vị nhạc Thần của vua trời Đế Thích—The king of Gandharvas, named Citraratha, but translated as Druma, a tree.
càn thỉ quyết
A stick used in India as "toilet paper".
; Cây dùng trong các nhà cầu Ấn Độ thay cho giấy vệ sinh. Bên Trung Quốc người ta dùng giấy, rơm hay trúc—A stick used in India as “toilet paper.” In China people use paper, straw, or bamboo.
càn tra bà ni
Kanthapānini (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
càn tuệ
Bare insight.
càn tuệ vị
Bare insight worker.
Càn tượng
(乾象): chỉ cho hiện tượng trên trời, xưa kia người ta thường lấy những hiện tương biến đổi của trời đất để tiên đoán tốt xấu liên quan đến con người; đây cũng là thuật ngữ chỉ cho trời. Như trong tác phẩm Song Phó Mộng (雙赴夢) tập 2 của Quan Hán Khanh (關漢卿, khoảng 1220-1300) nhà Nguyên có câu: “Tảo thần chiêm Dịch lý, dạ hậu quán càn tượng (早晨占易理、夜後觀乾象, sáng sớm bói quẻ Dịch, đêm về xem cảnh trời).” Hay trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), phần Quy Tâm (歸心), của Nhan Chi Suy (顏之推, 531-591) nhà Bắc Tề, cũng có câu: “Càn tượng chi đại, liệt tinh chi khõa (乾象之大、列星之夥, trời cao rộng lớn, các sao lại nhiều).”
càn đà
1) Áo cà sa của chư Tăng, màu nhuộm giữa vàng và đỏ thẳm: Kasaya (skt)—A coloured composed of red and yellow, the monk's robe. 2) Ngũ uẩn: the five skandhas. 3) Tên của một loài cây: Name of a tree. 4) Vòng núi đầu tiên bọc quanh núi Tu Di: Yugamdhara (skt)—The first of the concentric mountains around Mount Meru.
Càn Đà Ha Đề
(s: Gandha-hastin, 乾陀訶提): còn gọi là Càn Đà Ha Trú (乾陀呵晝), Kiện Đà Ha Ta (健陀訶娑); ý dịch là Hương Tượng (香象), hay Hương Huệ (香惠), Xích Sắc (赤色), Bất Khả Tức (不可息), Bất Hưu Tức (不休息), là một trong 16 vị Đại Bồ Tát trong thời hiền kiếp. Bồ Tát này được liệt vị ở phương đàn ngoại viện của Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅), là Bồ Tát đứng đầu trong bốn vị ở Nam Phương, mật hiệu là Đại Lực Kim Cang (大力金剛) hoặc Hộ Giới Kim Cang (護界金剛). Trong Chú Duy Ma Cật Kinh (注維摩詰經, Taisho No. 1775) quyển 1, Ngài La Thập (羅什) chú thích tên Bồ Tát Hương Tượng rằng: “Thanh hương tượng dã, thân xuất hương phong, Bồ Tát thân hương phong diệc như thử dã (青香象也、身出香風、菩薩身香風亦如此也, con voi Thanh Hương, thân nó tỏa ra gió hương thơm, thân Bồ Tát cũng tỏa gió hương thơm như vậy). Bồ Tát này trú tại núi Hương Tụ (香聚) ở phương Bắc mà thuyết pháp. Cho nên Hương có nghĩa là biến cùng khắp không có gì trở ngại. Tượng có nghĩa là bước chân có sức mạnh lớn. Hai từ này hợp lại với nhau có nghĩa là các hạnh quả mãn. Về hình tượng của vị Bồ Tát này, thân Ngài màu trắng, ngồi trên hoa sen, tay phải đặt trước ngực, trên tay cầm hoa sen, trên cành hoa sen có lò hương. Tay trái đặt trên đầu gối. Vị này thường thấy trong các kinh điển Đại Thừa như Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh (小品般若波羅蜜經) quyển 9, Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) quyển thượng, A Di Đà Kinh (阿彌陀經), v.v.
càn đà ha đề bồ tát
Xem Hương Tượng Bồ tát.
; Gandhahastin (skt)—Còn gọi là Càn Đa Ha Chú, tên một vị Bồ Tát, dịch là Hương Tượng—Name of Gandhahastin bodhisattva, also called fragrant elephant.
càn đà la
Gandhāra (S), (S, P)Kiện đà la. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili1-Một xứ trong vùng Hy mã lạp sơn. Thành phố Bắc Ấn (nay thuộc Pakistan), nơi Phật giáo được truyền sang Tây tạng và Trung hoa đầu kỷ nguyên. 2- Kiền đà la. Tên nước của vua Ca nhị Sắc (Kaniska) nơi ngài Hiếp tôn gia (Parsva) tổ chức kết tập kinh điển lần thứ 4. Có một thuyế khác cho kết tập lần thứ 4 do Tôn giả Ca Chiên Diên tử tổ chức, một thuyết khác cho là do La Hi Da Đại. Xem Nhục đoàn tâm.
; See Gandhara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
càn đà la sắc
(乾陀羅色) Tức màu vàng đục, vàng xám. Còn gọi là Càn đà hạt sắc, Càn đà sắc. Càn đà la còn gọi là Kiện đạt, Càn đà, Kiện đà cốc, Càn đà la da. Tức là màu sắc được qui định để nhuộm ba áo của tỉ khưu. Ba áo gọi là ca sa, do nơi màu nhuộm mà có tên ca sa, vì tiếng ca sa là dịch âm của màu nhuộm. Càn đà la là một loại thực vật thuộc hương liệu sản sinh tại Ấn độ, lấy nước đặc của cây hương này để nhuộm ba áo, thì gọi là hương nhiễm ...... Thông thường màu này với màu mộc lan hơi khác nhau, nó vàng xám, nhưng cũng có thuyết bảo giống màu mộc lan (tức đỏ đen). [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.14; Bồ tát giới bản sớ kỷ yếu Q.3 (Phượng đàm) ]. (xt. Mộc Lan Sắc, Ca Sa).
càn đà ma đà ma la
Gandhamadanamala (skt)—The hill of intoxicating perfumes.
càn đà thụ
(乾陀樹) Càn đà, Phạm, Pàli: Gandha, dịch ý là thơm. Còn gọi Càn đà la thụ, Kiện đà thụ, Kiện đỗ thụ, Càn đại thụ, Càn đỗ thụ. Tên khoa học là Hyperanthera moringa (cây vỏ già). Là loại cây cao sinh sản nhiều ở các vùng Nam hải, vỏ dày, lá như lá anh đào, vỏ có thể dùng để nhuộm vải, Tăng đoàn Phật giáo phần đông dùng để nhuộm áo, khi thành màu gọi là màu Càn đà, hoặc là màu càn đà la, tức màu vàng hơi đỏ lợt (hoặc nói là đỏ đen). [X. kinh Tì ni mẫu Q.8; Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già Q.6; Căn bản thuyết nhất hữu bộ bách nhất yết ma Q.9].
Càn-thát-bà
乾闥婆; C: gāntàpó; J: kendatsuba; S: gan-dharva; tên dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa là Hương thần (香神), Nhạc thần (樂神);|Càn-thát-bà (p: gandhabba) cùng với (thần) Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara) chuyên hoà tấu nhạc ở cõi trời, là một trong 8 bộ chúng thường hộ trì Phật pháp như trong kinh luận Đại thừa có đề cập đến. Có khi thuật ngữ tiếng Anh gọi là Centaur (trong thiên văn học, đó là chòm sao nhân mã có hình người ngựa). Theo truyền thuyết, thần nầy không uống rượu ăn thịt, chỉ sống bằng ngửi mùi hương. Thân họ có nhiều màu sắc, nổi tiếng về việc cướp trinh tiết của cô dâu trước đêm cưới. Có nhiều từ phiên âm thuật ngữ nầy như: Kiện-đạt-phọc (健達縛), Kiện-thát-bà (犍闥婆), Ngạn-đạt-bà (彥達婆), Càn-đạp-bà (乾沓婆), Càn-đạp-hoà (乾沓和), v. v… Còn được dịch là Thực hương (食香), Tầm hương hành (尋香行), Hương ấm (香陰), Hương thần (香神), Tầm hương (尋香) v. v…
càn-thát-bà
phiên âm từ Phạn ngữ là gandharva, một trong tám loài chúng sinh, thường được gọi chung là Tám bộ chúng, bao gồm: chư thiên, loài rồng, dạ-xoa, a-tu-la, càn-thát-bà, ca-lầu-la, khẩn-na-la và ma-hầu-la-già. Tên gọi này cũng được đọc là kiền-thát-bà, kiển-đà-la... dịch nghĩa là hương thần, là loài chuyên về âm nhạc trên cung trời Đế-thích. Loài càn-thát-bà không ăn thịt, không uống rượu, chỉ thích hương thơm, trong thân thường tỏa ra mùi thơm nên gọi là hương thần.
càn-thát-bà thành
cũng gọi là hóa thành, chỉ những thành quách do loài càn-thát-bà dùng phép biến hóa để tạo ra, từ xa nhìn thấy giống hệt như thật, nhưng khi đến gần mới biết là không có gì cả. Xem thêm càn-thát-bà.
Càn-đà-la
乾陀羅; S, P: gandhāra; tên dịch theo âm Hán Việt, cũng đọc là Kiền-đà-la;|Một vùng miền Tây bắc Ấn Ðộ, ngày nay thuộc về Afganistan và một phần của Pakis-tan. Ngày xưa Càn-đà-la là một trung tâm Phật giáo và văn hoá nghệ thuật đạo Phật. Trong thế kỉ thứ 1, 2, Phật giáo Ðại thừa cũng bắt đầu xuất hiện tại đây. Ngày nay, các đạo trường Phật giáo không còn bao nhiêu dấu tích vì bị phá huỷ trong thế kỉ thứ 5. Theo kí sự của Huyền Trang Pháp sư thì đạo Phật tại đây đã bị huỷ diệt trong khoảng thế kỉ thứ bảy.|Khác với giai đoạn đầu của nghệ thuật Phật giáo, đức Phật được diễn tả như một con người tại Càn-đà-la. Phần lớn các hình ảnh của Phật được tạc trên đá, nhắc lại các tiền thân và tiểu sử của Ngài. Người ta trình bày Phật như một vị tu sĩ với một thân tâm hoàn toàn tự tại, có khi người ta xem Ngài như một vị thầy, luôn luôn giữ phong cách vô vi và hướng nội. Một số tranh khác diễn tả Ngài sống khổ hạnh, thân thể hao mòn chỉ còn xương da. Nghệ thuật tại đây đã đạt tới tình trạng trừu tượng, các tranh tượng đều có vẽ các Ấn và các hảo tướng của Phật. Người ta cũng chú ý đến các trình bày y phục của Phật, một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc Càn-đà-la.
Càn-đạp-bà
乾沓婆; C: gāntàpó; J: kantōba;|Dịch từ chữ gandharva tiếng Phạn. Càn-thát-bà.
Càn-đạp-hoà
乾沓和; C: gāntàhé; J: kantōwa;|Dịch từ chữ gandharva tiếng Phạn. Càn-thát-bà.
càng từ bỏ chấp trước, đường tu càng thành công; càng tịnh tâm, càng tiến gần đến đạo
The more successful their cultivation is, the more detachment they achieve; the calmer their mind becomes and the closer they are to the Way.
càng đà la đề bồ tát
Gandhahastin Bodhisattva (S)Tên một vị Bồ tát.
cành hông
Very angry.
cành nanh
Jealous.
cá
Mỗi—Each—Every.
cá biệt
Visista (S)Điểm đặc biệt của mỗi pháp.
cá biệt tính
Xem Dị.
cá cá viên thường đạo
Mỗi mỗi là một đạo tròn đầy vĩnh cửu—Every single thing is the complete eternal Tao.
; (個個圓常道) Giáo nghĩa sâu xa mầu nhiệm của tông Hoa nghiêm, tông Thiên thai. Viên nghĩa là hoàn toàn tròn đầy.Thường, nghĩa là thường trụ bất diệt. Cá cá viên thường đạo nghĩa là mỗi mỗi sự vật như: núi sông, cây cỏ, cho đến bé nhỏ như một mảy bụi, một hạt cải, đều đầy đủ đạo viên mãn thường trụ, đều có toàn thể chân lí. Đây là đạo lí tột bậc của Phật pháp.
cá nhân
Individual—Personal.
cá nhân chủ nghĩa
Individualism.
cá nhân hóa
To individualize.
cá nhân thành tựu công đức lực
personal achievement of merit.
cá thể
Individuality.
các
1) Căn gác: Lầu các—A temple chamber (second storey). 2) Mỗi một: Every—Each. 3) Nội các: Cabinet.
Các biệt
各別; C: gèbié; J: kakubetsu; |Tách rời, khác biệt, mỗi thứ đều khác nhau.
Các biệt 各別
[ja] カクベツ kakubetsu ||| Separately distinguished; each one being different (pṛthak, bhinna, bheda). 〔二障義 HPC 1.790b〕 => Tách biệt, mỗi thứ đều khác nhau.
các chủ
(閣主) Các, chỉ các nhà điện trong chùa viện. Các chủ, chức vụ của người quản lí những kiến trúc quan trọng ngoài 7 nhà già lam của chùa lớn. Chức vụ này ở dưới quyền vị Duy na. Thiền uyển thanh qui quyển 3 Duy na điều (Vạn tục 111, 446 hạ), nói: Như Đường đầu thị giả, Thánh tăng thị giả, Diên thọ đường chủ, Lư đầu, Chúng liêu liêu chủ, Thủ tọa, Các chủ, Điện chủ, tất cả đều do Duy na thỉnh.
các chủng
See Các Loại.
Các các
各各; C: gègè; J: kakukaku; |Mỗi cái, từng cái, riêng từng cái, từng người một (s: prati-prati).
Các các 各各
[ja] カクカク kakukaku ||| Each, every, respectively, individually (prati-prati). => Mỗi cái, từng cái, riêng từng cái, từng người một (s: prati-prati).
các căn suy yếu
Declined (deminished or disintegrated) faculties.
các loại
Each kind—Every sort.
các loại sinh
Yoni (S).
các lưu bán toà
(各留半座) Đều lưu lại nửa tòa ngồi. Tức là những người được vãng sinh Tịnh độ trước để lại một nửa tòa sen của họ dành cho những người sẽ được sinh đến sau. Điều này biểu thị lòng tin giống nhau thì quả báo cảm được cũng giống nhau. Pháp sự tán quyển cuối (Đại 47, 483 hạ), nói: Mỗi người đều để lại nửa chỗ ngồi trên hoa sen để đợi người cùng hạnh tu ở cõi Diêm phù. Điều này bắt nguồn từ việc đức Phật Thích ca mâu ni từng chia nửa chỗ ngồi của Ngài cho tôn giả Ma ha Ca diếp. Ngoài ra, kinh Pháp hoa quyển 4 cũng nói đến việc đức Phật Thích ca và đức Như lai Đa bảo cùng ngồi chung một tòa. [X. kinh Hoa thủ Q.1].
các tướng ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả
(ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng và thọ giả tướng): Các tướng sai lầm mà chúng sanh chấp chặt lấy, cho là có thật. Trong kinh Kim cang giảng rất rõ về việc không có 4 tướng này. Nếu vị Bồ Tát còn thấy có các tướng ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả thì đó không thực sự là Bồ Tát. Tướng ngã là chấp thấy có một bản ngã của mình, tồn tại độc lập, cần phải vun bồi, bảo vệ. Tướng nhân là nhìn thấy có người khác tồn tại khác biệt với mình, do sự phân biệt đó mà có sự tranh chấp, mâu thuẫn. Tướng chúng sinh là nhìn thấy có tất cả các loài chúng sinh khác biệt với mình, mỗi loài thọ sinh trong những cảnh giới khác nhau, khác với bản thân mình. Tướng thọ giả là cho rằng mỗi chúng sanh đều có một thân mạng, thật có tồn tại và chấm dứt theo tuổi thọ. Các tướng này nói chung đều là chỗ thấy biết sai lệch, không đúng với thật tướng, thật tánh. Vì thế Phật dạy là không có bốn tướng này.
Cách
格; C: gé; J: kaku; |1. Biết rõ. Tìm hiểu chắc chắn; 2. Đạt đến, trở thành, đạt được; 3. Đạt được kết quả; nắm bắt được nguyên tắc; 4. Hiệu chỉnh; 5. Phép tắc, giới hạn. mô thức, nguyên tắc; 6. Khôn ngoan, thông minh, thông thái; 7. Kháng cự, công kích.
cách
1) Cắt ra: To cut off—To strip. 2) Da sống (chưa thuộc): Hides—Skin. 3) Đường thẳng: A line. 4) Ngăn ra: To divide off—To separate—To part.
cách biệt
Separate—Distant.
cách cư xử
Behavior.
cách cảm
Telepathic.
cách lịch
Separate—Distinct.
; (隔曆) Chia cách riêng rẽ không dung thông. Cũng gọi cách lịch bất dung; Lịch biệt. Đối lại với Viên dung Tức là sự và lí, sự với sự đều chia cách, ngăn ngại nhau. Tông Thiên thai gọi pháp môn chia cách riêng rẽ là Biệt giáo và ba đế Không, Giả, Trung của Biệt giáo được gọi là Cách lịch tam đế. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Cách Lịch Tam Đế).
cách lịch tam đế
Biện biệt hiểu biết về tam quán: không, giả, trung (không là đản không, để phá cái hoặc kiến tư; giả là đản giả, để phá cái hoặc trần sa; trung là đản trung, để phá cái hoặc vô minh)—To differentiate and apprehend the three distinctive principles noumenon, phenomenon, and the mean—See Không Giả Trung.
; (隔曆三諦) I. Cách lịch tam đế, ba đế chia cách riêng biệt. Cũng gọi thứ đệ tam đế, Lịch biệt tam đế. Đối với Viên dung tam đế . Chỉ cho ba đế của Biệt giáo trong bốn giáo thuộc tông Thiên thai. Nghĩa là ba đế Không, Giả, Trung chia cách riêng ra không dung thông nhau, có thứ tự trước sau rõ ràng. 1. Không đế: Không này duy chỉ là Không chứ chưa thể dung thông với Giả’’ và Trung’’. Nghĩa là tất cả các pháp đều có lí của ba đế riêng biệt, thứ bậc ngăn cách, không được dung thông tự tại, muôn pháp trước tiên phải là không, phô diễn vô lượng nghĩa không: đây là Chân đế’’ của Biệt giáo.2. Giả đế: Giả này duy chỉ là Giả’’ chứ chưa thể dung thông với Không’’, Trung’’. Nghĩa là các pháp duy chỉ có tên giả, nhưng lại đầy đủ vô lượng tướng: đây là Tục đế’’ của Biệt giáo. 3. Trung đế: Trung này duy chỉ là Trung’’ chứ chẳng tức Không’’ tức Giả’’. Nghĩa là xa lìa hai bên không và có mà vào lí trung đạo, chỉ chấp nhận bất biến, chẳng chấp nhận tùy duyên: đây là Trung đạo’’của Biệt giáo. Ba đế trên đây do Biệt giáo trong bốn giáo của tông Thiên thai chủ trương, vì thế cũng gọi là Biệt giáo tam đế. Lại nữa, Cách lịch tam đế được thành lập là để giải bày rõ lí Trung đạo của Phật giới, tức là phá trừ pháp sáu đường mà thành Không’’, phá trừ pháp Nhị thừa giới mà thành Giả’’, phá trừ pháp Bồ tát mà thành Trung đạo’’. Như vậy, Không Giả Trung cùng thành thứ lớp, đều tự hiển bày riêng biệt, cho nên gọi là Cách lịch tam đế. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên, Q.2 phần dưới, Q.3 phần trên]. (xt. Viên Dung Tam Đế). II. Cách lịch tam đế: chỉ cho ba đế không dung thông nhau được thành lập trong các kinh trước kinh Pháp hoa. Tông Thiên thai cho rằng trong các kinh đức Phật tuyên thuyết trước kinh Pháp hoa có đủ cả Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Trong đó, Tạng giáo và Thông giáo giải rõ nghĩa Không’’, Biệt giáo hiển bày nghĩa Giả’’, Viên giáo thuyết minh nghĩa Trung’’. Những kinh được nói trước kinh Pháp hoa chưa qua giai đoạn mở quyền hiển thực’’, bốn giáo cách biệt, ba quyền một thực (Tạng, Thông, Biệt là quyền, Viên là thực) hoàn toàn chưa tương tức, cho nên tương đương với ba đế cách biệt, thứ bậc không dung nhau. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1 phần trên]. CÁCH LỊCH TRƯỜNG VIỄN GIÁO Giáo cách biệt dài xa. Chỉ cho Biệt giáo trong bốn giáo hóa pháp của tông Thiên thai. Ba hoặc mà Biệt giáo đoạn trừ, thể chúng đều khác, mà các trí năng đoạn năng chứng cũng chưa viên dung tương tức với ba trí không giả trung. Vì quá trình đoạn hoặc chứng lí đều phải tuần tự qua thứ lớp, nên gọi là Cách lịch. Sự tu hành của Biệt giáo thường lâu dài, phải trải qua đời khác mới có thể thành tựu địa vị Thập trụ nhập không, qua vô lượng kiếp mới có thể thành tựu địa vị Thập hạnh xuất giả , cho nên gọi là trường viễn.
cách mạng
Revolution.
cách mạng xã hội
Social revolution.
Cách nghĩa
格義; C: géyì; J: kakugi; |»Làm cho hợp nghĩa«. Danh xưng được đề ra cho phương pháp dịch thuật kinh điển Phật học Ấn Độ sang tiếng Hán trong thời kì đầu. Những thuật ngữ Ấn Độ như śūnyatā (không) được dịch sang tiếng Hán với khái niệm tương đương là »vô« (無), kết quả từ sự hiểu lầm ý nghĩa căn gốc của Phật pháp.
cách nghĩa
(格義) Phương thức dùng nghĩa lí của Đạo gia hoặc ngoại giáo để giải thích đạo lí của Phật giáo. Lúc Phật giáo mới được truyền vào Trung quốc, các nhà trí thức thường cho rằng giáo lí Phật giáo giống với tư tưởng Lão Trang nên tiếp nhận ngay. Đến thời đại Ngụy Tấn (thế kỉ III, IV), tư tưởng Lão Trang lại được dùng để thuyết minh lí không của Bát nhã. Học phong của thời kì quá độ này được gọi là Cách nghĩa, và những nhân vật được xem là tiêu biểu vào thời ấy là 7 nhà hiền sĩ của Rừng tre. Phật giáo do đó đã bị ảnh hưởng bởi các thói quen nói suông về lí không của Lão Trang, nên mỗi khi giảng giải, chú thích kinh điển Phật giáo thường hay trích dẫn các dụng ngữ của Lão tử, Trang tử và kinh Dịch. Đời sau cũng có người đem tư tưởng nhà Nho so sánh và thêm thắt vào Phật giáo, đây cũng có thể được xem như một thứ cách nghĩa. Truyện Trúc pháp nhã trong Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 347 thượng), nói: Trúc pháp nhã và Trúc pháp lãng đem các việc trong so sánh với sách ngoài làm cho dễ hiểu, gọi là cách nghĩa. Các ngài Trúc pháp nhã, Khang pháp lãng, Đạo an v.v... ở Trung sơn (huyện Định, tỉnh Hà bắc) đều dùng cách nghĩa hoằng dương Phật giáo. Nhưng cách nghĩa khó mà diễn đạt được ý thực của Phật pháp, các vị cao tăng đương thời cũng biết rõ điều này. Chẳng hạn như lời tựa Tì ma la cật đề kinh sớ của ngài Tăng duệ trong Xuất tam tạng kí tập quyển 8 (Đại 55, 59 thượng), nói: Từ khi ngọn gió tuệ thổi sang Đông, lời pháp được lưu bá đến nay, tuy nói giảng theo cách nghĩa, nhưng trái xa với nghĩa gốc, sáu nhà lệch lạc, chẳng đúng với tông Tính không’’. Sáu nhà ở đây là chỉ cho: Bản vô tông, Tức sắc tông, Tâm vô tông,Thức hàm tông, Huyễn hóa tông, và Duyên hội tông. Sáu tông này chuyên môn giảng cứu Bát nhã học ở thời Đông Tấn. Ngài Đạo an (312-385) lúc đầu cũng dùng cách nghĩa giảng giải Phật giáo, chú thích kinh điển, nhưng rất cảnh giác, sợ cách nghĩa sẽ làm sai lệch giáo nghĩa Phật giáo, nên ngài chủ trương phải dùng nguyên nghĩa của Phật giáo Ấn độ để phiên dịch kinh Phật một cách chính xác và căn cứ vào kinh Phật để nghiên cứu lí Phật. Nhưng người đã thực sự gạt bỏ ảnh hưởng của cách nghĩa mà hoằng dương nghĩa chân chính của Phật giáo là ngài Cưu ma la thập (344– 412) và các học trò của ngài. [X. Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử chương 9 (Thang dụng đồng)]. CÁCH NGOA TRẢO DẠNG Cách giầy gãi ngứa. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Cách ngoa tao dạng. Cách ngoa bà dạng. Nghĩa là chân ngứa mà gãi ở ngoài chiếc giầy, ý nói không thể nắm bắt được cái ý nghĩa chính xác của một sự kiện nào đó. Tục truyền đăng lục quyển 12 Nam kinh Ninh lăng an phúc tử thắng điều (Đại 51, 539 trung), nói: Cầm phất trần gõ vào giường giống như gãi ngứa bên ngoài giầy’’. Thiền tông vô môn quan tự (48, 292 trung), nói: Vung gậy đánh trăng, cách giầy gãi ngứa, ăn nhằm gì chăng?’’. CÁCH NGOẠI Cách, hàm ý quy cách, phép tắc, qui định v.v... nói rộng là thước đo của thế gian. Trong đạo, mỗi khi dùng từ cách ngoại là để biểu thị sự vượt ra ngoài qui định thông thường. Có rất nhiều cách dụng ngữ cùng loại này, chẳng hạn như: Cách ngoại cú, chỉ cho câu nói vượt ngoài phép tắc thông thường. Cách ngoại huyền cơ, chỉ cho cơ dụng mầu nhiệm sâu kín của người đại ngộ vượt ngoài sự phân biệt của thường tình. Cách ngoại huyền chỉ, chỉ cho cái ý chỉ vi diệu tự tại vượt ngoài sự tư duy của người thường: Cách ngoại lực lượng, chỉ cho các bậc có căn cơ vĩ đại đã siêu việt tất cả sự đối lập. Bích nham lục quyển 4 tắc 38 (48, 176 ha), nói: Thả câu bốn biển, chỉ câu rồng dữ, Cơ mầu cách ngoại, tìm biết được rồi’’. CÁCH Ô Ý là chiếc hộp Phật hộ thân. Chỉ chiếc hộp nhỏ bằng kim loại mà những người Phật tử Tây tạng và Mông cổ dùng, bên trong có đặt pho tượng Phật nhỏ hoặc là bài chú của Phật để hộ thân. Thông thường hộp được đeo bên cạnh sườn hoặc để trong áo. Các quan quí tộc từ bốn phẩm trở lên, có thể đội trong búi tóc, làm tiêu biểu cho cấp bậc quan chức. CÁCH SINH TỨC VONG Thông thường, những người phàm phu ít phúc đức, hoặc các Bồ tát còn ở giai vị thấp kém lúc mới sinh ra liền quên hết những việc ở đời trước, gọi là cách sinh tức vong (cách đời quên liền). CÁCH TÂY Nói tắt từ tiếng Tây tạng Cách uy hỉ liên. Dịch ý là thiện tri thức.Tương đương với bác sĩ hoặc giáo thụ. Theo chế độ học vấn của phái Cách lỗ thuộc Phật giáo Tây tạng, các học tăng tuần tự học tập năm bộ luận trọng yếu (Hiện quán trang nghiên luận, Nhập trung luận, Giới luật, Câu xá, và trong học trình, cứ mỗi năm vào mùa đông, học luận Nhân minh một tháng), khi học đến luận Câu xá, thì do vị kham bố (trụ trì, người chủ trì) thuộc Trung bộ học viện khảo hạch học lực của học tăng và trao tặng học hàm Cách tây. Tùy theo thành tích tốt nghiệp hơn kém mà chia làm bốn bậc, bậc 1 là Lạp nhiên ba cách tây, bậc 2 là Tào nhiên ba cách tây, bậc 3 là Lâm sắt cách tây, bậc 4 là Nhật nhượng ba cách tây (Độ nhượng ba cách tây).
Cách nghĩa 格義
[ja] キャクギ kakugi ||| "Matching the meanings." The name given to a translation technique during the earliest period of the translation of Indian Buddhist texts into Chinese. Indian terms such as śūnyatā were rendered into Chinese with comparable concepts such as "wu" 無, resulting in misunderstandings of the original Buddhist meanings. => 'Làm cho hợp nghĩa'. Danh xưng được đề ra cho phương pháp dịch thuật kinh điển Phật học Ấn Độ sang tiếng Hán trong thời kỳ đầu. Những thuật ngữ Ấn Độ như śūnyatā (không) được dịch sang tiếng Hán với khái niệm tương đương là "vô " (wu無), kết quả từ sự hiểu nhầm ý nghĩa căn gốc của Phật pháp.
cách ngoại
Phong cách phi phàm—Extraordinary.
Cách ngôn
格言; C: géyán; J: kakugen; |Những lời nói mang tính trí tuệ.
cách ngôn
Maxim—Proverb.
Cách ngôn 格言
[ja] キャクゴン kakugen ||| Wise sayings. => Những lời nói mang tính trí tuệ.
cách nhau
Separated from each other.
Cách phàm thành Thánh
(革凡成聖): hay cách phàm đăng Thánh (革凡登聖), nghĩa là thay đổi, chuyển hóa phàm tâm để trở thành thánh nhân. Như trong bản Sắc Xá Đạo Sự Phật (敕舍道事佛) của vua Lương Võ Đế (梁武帝, tại vị 502-549) thời Nam Triều có đoạn: “Lão Tử, Chu Công, Khổng Tử đẳng tuy thị Như Lai đệ tử, nhi vi hóa ký tà, chỉ thị thế gian chi thiện, bất năng cách phàm thành Thánh (老子、周公、孔子等雖是如來弟子、而爲化旣邪、止是世間之善、不能革凡成聖, Lão Tử, Chu Công, Khổng Tử tuy vậy cũng là đệ tử của Như Lai, mà vì mọi người giáo hóa các sai lầm trước, làm dừng lại điều thiện của thế gian, không thể chuyển phàm thành Thánh được).” Hay trong A Di Đà Kinh Nghĩa Ký (阿彌陀經義記) của Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) có câu: “Hữu cảm tư ứng, cơ ngộ chi thần, tức ư hội cách phàm thành Thánh (有感斯應、機悟之辰、卽於會革凡成聖, có cảm với ứng ấy, gặp khi cơ ngộ, tức nơi ấy mà hiểu được chuyển phàm thành Thánh).” Hoặc trong bức Đáp Thích Trí Khải Di Chỉ Thư (答釋智顗遺旨書) của Tùy Dương Đế (隋煬帝, tại vị 604-618) cũng có câu: “Thế thế sanh sanh, sư tư bất khuyết, cách phàm đăng Thánh, cấp thị vô khuy (世世生生、師資不闕、革凡登聖、給侍無虧, đời đời kiếp kiếp, thầy trò chẳng dứt, chuyển phàm chứng Thánh, hầu hạ không sót).”
cách sinh
Khi tái sanh là mất hết tất cả sự hiểu biết của tiền kiếp—Divided by birth; on rebirth to be parted from all knowledge of a previous life.
cách sống
Way of living.
cách thân cú
(隔身句) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là cách thủ cú. Chỉ câu nói mà ngôn ngữ văn tự không thể diễn tả một cách đầy đủ được. Bích nham lục tắc 24 (Đại 48, 165 trung), nói: Nhìn hai người khác, hễ phóng thì cùng phóng, hễ thu thì cùng thu, Qui ngưỡng gọi đó là cảnh trí, gió bụi cỏ động, tất cả đều thấy suốt đầu mối, cũng gọi là cách thân cú, ý thông mà lời cách.
cách thông
(革葱) Phạm: lat-ārka. Cũng gọi là Các thông . Chỉ cây tỏi rừng, còn nói là cây kiệu. Lá giống lá kiệu mà dầy, là một trong năm thứ rau có vị cay (ngũ tân). Đệ tử Phật không được ăn. Nếu ăn sẽ phạm tội khinh cấu (nhẹ, bẩn). Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1005 trung), nói: Nếu là con Phật thì không được ăn năm thứ rau có vị cay: tỏi, kiệu, hành, hẹ và hưng cừ (Việt nam không có -ND), trong tất cả các món ăn có năm loại rau kể trên, đều không được ăn. Người nào cố ý ăn sẽ phạm tội khinh cấu. (xt. Ngũ Tân).
cách trí
Natural science.
cách túc
Cách một đêm, thí dụ như là nói đến ngày hôm qua—Separated by a night, i.e. the previous day.
cách tử môn
(隔子門) Cái cửa nhỏ trong nhà phương trượng của vị trụ trì chùa viện nhìn ra sân ngoài, gọi là cách tử môn, dùng để tách rời nhà phương trượng với sân ngoài. Minh giác lục quyển 4 (Đại 47, 695 hạ), nói: Huyền sa và Địa tạng đang đàm đạo trong phương trượng, đêm khuya, Sa nói: Thị giả đã cài cửa cách tử, ngài làm sao ra được? Địa tạng nói: Gọi cái gì là cửa?. CAI NHIẾP Tiếng thường dùng của tông Hoa nghiêm. Cai, là hoàn bị, trọn đủ; nhiếp, hút lấy, thu lấy. Có nghĩa là thu lấy, gói gém tất cả cái sai biệt vào cái tuyệt đối. Cai nhiếp là nói đối lại với Phân tướng . Tông Hoa nghiêm bảo các pháp ba thừa, một thừa sai biệt vốn chẳng ra ngoài Biệt giáo nhất thừa, tất cả đều là những làn sóng trong biển Hoa nghiêm, cho nên, đứng về phương diện thể mà nói thì tiêu trừ mọi tướng sai biệt mà hòa nhập tất cả trong tuyệt đối. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng]. CAI NHIẾP MÔN Tiếng dùng của tông Hoa nghiêm để giải thích Biệt giáo nhất thừa. Đối lại với Phân tướng môn. Đại sư Hiền thủ của tông Hoa nghiêm dùng hai môn Phân tướng và Cai nhiếp để giải thích rõ về Biệt giáo nhất thừa, trong đó, Phân tướng môn giải thích danh nghĩa của Biệt giáo nhất thừa, Cai nhiếp môn giải thích pháp thể của Biệt giáo nhất thừa. Do nơi giáo pháp bất đồng mà Phật giáo được chia thành ba thừa, một thừa. Nếu ngoài ba thừa mà lập riêng một thừa, thì gọi là Phân tướng môn. Còn nếu tóm thu ba thừa vào một thừa, thì gọi là Cai nhiếp môn. Phân tướng môn là biểu thị lập trường tương đối về ngữ nghĩa của Biệt giáo nhất thừa, còn Cai nhiếp môn thì biểu thị lập trường tuyệt đối về bản chất của Biệt giáo nhất thừa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng].
cách ăn nói
Way of speaking
cách ăn ở
Style of living.
cách đi
Gait—Walk—Step.
Cách 格
[ja] キャク kaku ||| (1) To ascertain, to investigate completely and thoroughly. (2) To arrive, to come to, to get to; (3) To hit the mark; to grasp the principle of. (4) To correct. (5) A rule, a limit, a pattern, a principle. (6) Wise, intelligent, sagely. (7) To resist, to attack. => 1. Biết rõ. Tìm hiểu chắc chắn. 2. Đạt đến, trở thành, đạt được. 3. Đạt được kết quả; nắm bắt được nguyên tắc. 4. Hiệu chỉnh. 5. Phép tắc, giới hạn. mô thức, nguyên tắc. 6. Khôn ngoan, thông minh, thông thái. 7. Kháng cự, công kích.
Cách-lỗ phái
格魯派; T: gelugpa [dGe-lugs-pa]; nguyên nghĩa »tông của những hiền nhân«, cũng được gọi là Hoàng mạo phái (黃帽派) vì các vị tăng phái này mang mũ màu vàng;|Một trong bốn tông tại Tây Tạng do Tông-khách-ba thành lập. Tông này đặc biệt nhấn mạnh đến Luật tạng (s, p: vinaya) và nghiên cứu kinh điển. Căn bản của cách tu tập trong tông này là những bộ luận Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim) và những tác phẩm nói về học thuyết của các trường phái. Kể từ thế kỉ thứ 17 tông này có trách nhiệm chính trị tại Tây Tạng, với sự có mặt của Ðạt-lại Lạt-ma, được xem là người lĩnh đạo chính trị và tinh thần của nước này.|Giáo pháp của phái Cách-lỗ dựa trên các bộ luận của Tông-khách-ba và hai vị đại đệ tử là Gyaltshab (1364-1432) và Kherub (1385-1483). Sau một cuộc gặp Văn-thù Sư-lị trong lúc nhập định, Sư biên soạn một bộ sách về giáo lí Trung quán (s: madhyamaka) có ảnh hưởng trực tiếp đến tông Cách-lỗ. Trong những tập sách giảng giải về các phương pháp thiền quán, Tông-khách-ba chỉ rất rõ phương tiện để hành giả có thể đạt được tri kiến Trung luận đó. Tập sách đó bắt đầu bằng nói về sự không toàn diện của Luân hồi và cách phát triển Bồ-đề tâm. Sau đó là phần khai thị để chứng được tính Không.|Phép tu thật sự nằm ở chỗ làm sao đạt được Ðịnh. Sư hướng dẫn rất rõ trong các tác phẩm của mình, hành giả phải phối hợp cân đối giữa Chỉ (s: śamatha) và Quán (s: vipaśyanā) thế nào để đạt được mục đích đó. Song song với cách tu luyện này, giáo pháp Tan-tra cũng được xem là phương pháp đặc biệt để đạt sự phối hợp cân đối đó.
cái
Xem Chướng ngại.
; 1) Che đậy: To cover—Anything that screens, hides, or hinders. 2) Dù che: An umbrella, or a hat, or any cover. 3) Dục vọng làm điên đảo mê mờ chân tâm, làm cho chân tâm không phát triển được: The passions which delude the real mind so that it does not develop. 4) Tên khác của phiền não: Another name for afflictions.
; (蓋) I. Cái, Phạm: Àvaraịa, có nghĩa là che lấp. Chỉ phiền não, vì phiền não che lấp tâm thiện, nên gọi là cái. Có năm thứ: tham dục cái, sân khuể cái, hôn trầm thụy miên cái, trạo (điệu) cử ác tác cái, và si cái, gọi chung là ngũ cái. (xt. Ngũ cái). II. Cái. Tiếng Phạm: Chattra, Pàli: Chatta. là cái ô (dù) che nắng mưa. Cũng gọi là Tản cái, Lạp cái, Bảo cái, Viên cái, Hoa cái. Cái cờ làm bằng vỏ cây, lá, tre, hoặc tơ lụa, gọi là Phan cái. Người Ấn độ, vì ở xứ nóng, mỗi khi ra khỏi nhà, phần nhiều đều dùng ô dù để che nắng. Cái, theo hình dáng, có thể chia làm hai loại, phần nhiều thì thấy có cán ở chính giữa phía trong; cũng có khi cán phụ ở mặt ngoài trên chóp (ô, dù treo), gọi là Thiên cái. Đời sau làm hình tròn, lợp bằng tơ lụa, treo cao trên tòa Phật ngồi, hoặc treo cao trên tòa, để làm đồ trang nghiêm điện Phật. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Thích thị yếu lãm Q.trung; Vô duyên từ bi tập Q.thượng].
cái chết không thiên vị người sang kẻ giàu
Death is blind to the noble and the rich.
cái chết là chắc chắn
Death is certain.
cái lâu cắng
(蓋樓亘) Cái, viết lầm từ chữ hạp . Hạp lâu cắng là phiên âm từ chữ Phạm: avalokitezvara, dịch ý là quan thế. Tức bồ tát Quan thế âm. [X. Khả hồng âm nghĩa Q.2 phần dưới].
cái ta thường còn
Permanent self.
cái thiên cái địa
(蓋天蓋地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là Phổ thiên phổ địa, Tận thập phương thế giới; 1. Có nghĩa là chân lí Phật pháp xưa nay là nhất như và bao quát hết thảy; Phật pháp cũng hiển hiện khắp nơi khắp chốn, phàm là cỏ cây sông núi, chim bay thú chạy, cho đến các động tác ngồi nằm của người ta, sống chết vui buồn, tất cả đều là ý chỉ sâu kín của Phật pháp hiện hành rõ rệt. 2. Hình dung cái trạng thái của người tu Thiền trong Thiền lâm, sau khi triệt ngộ, cảm thấy ý chí của mình tràn đầy, bàng bạc khắp trong vũ trụ. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.16].
cái thế anh hùng
A hero over the world.
Cái triền
蓋纏; Danh từ Hán Việt được dịch từ Phạn ngữ. Cái (s: āvarāṇa) nghĩa là sự che đậy, gò bó và Triền (s: paryavasthāna) nghĩa là vấn xung quanh, vây bọc xung quanh.|Có thể hiểu là những Phiền não, những gì trói buộc con người, gây chướng ngại trên con đường đạt Giải thoát.|Cái bao gồm: 1. Dục tham (欲貪; kāmachanda); 2. Thận khuể (慎恚; s: vyāpāda), nghĩa là sự tức giận; 3. Thuỵ miên (睡眠; s: middha); 4. Trạo hối (掉悔; s: uddhaccha), chỉ lòng hối tiếc không yên; 5. Nghi (疑; s: vicikitsā), tâm trạng nghi ngờ.|Triền gồm có: 1. Vô tàm (無慚; s: āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 2. Vô quý (無愧; s: anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 3. Tật (嫉; s: īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 4. Xan (慳; s: mātsarya), xan tham, ích kỉ; 5. Hối (悔; s: kaukṛtya), hối hận; 6. Miên (眠; s: middha), giấc ngủ; 7. Trạo cử (掉舉; s: auddhatya), hồi hộp không yên; 8. Hôn trầm (昏沉; s: styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, thiếu nhạy bén; 9. Phẫn (忿; s: krodha); 10. Phú (覆; s: mrakṣa), che dấu tội lỗi, đạo đức giả (xem thêm Tâm sở).
cái triền
Ngũ triền cái và thập triền—Covers and bonds, i.e. the passions which stunt growth and hold in bondage, such as five covers and ten entanglements or bonds.
; (蓋纏) Cái và Triền đều là tên gọi khác của phiền não. Cái, có nghĩa là che lấp; vì phiền não có khả năng che lấp tâm thiện, cho nên gọi là cái. Tham dục cái, sân khuể cái, Hôn trầm thụy miên cái, trạo (điệu) cử ác tác cái, si cái, năm thứ phiền não trên đây gọi là Ngũ cái. Triền, có nghĩa là trói buộc; vì phiền não có thể trói buộc tâm tu thiện, cho nên gọi là triền. Vô tàm, vô quí, tật, xan, hối, thụy miên, trạo cử, hôn trầm (không thẹn,không hổ, ghen ghét, keo bẩn, ân hận, buồn ngủ, thô động, mờ đắm) v.v..Tám loại Tùy phiền não nói trên, gọi là Bát triền, lại thêm phẫn uất, che dấu nữa là Thập triền. [X. kinh Duyma phẩm Phật quốc].
Cái 蓋
[ja] カイ kai ||| (1) To cover, hide, conceal; to obscure the function of wisdom. (2) a cover(ing). (3) Umbrella. (4) Maybe, probably, possibly. (5) Now, why, why not, what do you think about... (6) To build, erect. (7) To affix a stamp or seal. (8) "Now..." "However..." (夫). Often used interchangeably with 盖 and 盍. => 1. Bao phủ, che đậy, che giấu; chướng ngại cho tác dụng của trí huệ. 2. Vỏ bọc, phong bì. 3. Cái dù, tàn, lọng. 4. Có thể, có lẽ, có khả năng. 5. Bây giờ, tại sao, tại sao không? Nghĩ như thế nào? (Nghi vấn từ). 6. Xây dựng, dựng nên. 7. Đóng dấu tem hay niêm phong. 8. 'Bây giờ...', 'Tuy nhiên' = (phù 夫). Thường dùng lẫn với 盖 và 盍.
cái, triền
Nìvarana (S). Hindrances, obstacles.
cám
Màu tím thẳm, sự pha trộn giữa màu xanh da trời và màu đỏ—A violet or purplish colour, a blend of blue and red.
cám bồ
(紺蒲) I. Cám bồ. Phạm: Kamboja. Còn gọi là Kiếm bồ, Cám bồ giá. Tên một loại trái cây sinh sản ở Tây vực. Mầu đỏ hình tròn, trên có ba đường vằn chạy ngang, cổ của đức Phật có ba ngấn giống hình tướng này, cho nên gọi là Cám bồ thành tựu. [X. Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. II. Cám bồ. Phạm: Kamboja. Là một trong mười sáu nước lớn ở Ấn độ vào thời đại đức Phật. Cám bồ vốn là tên trái cây, vì người nước này phần đông mặt tròn giống như loại trái cây này, vì thế mà đặt tên nước là Cám bồ. Nay ở vào khoảng giải đất A phú hãn, đời xưa nhờ có nhiều đàn bà đẹp mà nổi danh. [X. Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Hoa nghiêm kinh sớ Q.46].
cám chỉ kim nê
(紺紙金泥) Chỉ việc dùng kim nhũ để viết chép kinh hoặc vẽ tượng Phật và Bồ tát trên giấy màu thiên thanh. Cũng có thể dùng nhũ bạc thay cho kim nhũ. Cám chỉ là giấy màu xanh hơi đỏ lợt. Ngoài cám chỉ ra còn có giấy mầu đỏ tươi, vàng đỏ và trắng. Nguồn gốc của việc dùng kim nhũ viết chép kinh hoặc vẽ tượng Phật thì không rõ, nhưng theo Phật tổ thông kỉ quyển 37 ghi chép, thì năm Trung đại thông thứ ba (531), thứ 5 và Trung đại đồng năm đầu (546) đời Lương đều đã có kinh chữ vàng, cho nên biết thời đại dùng kim nhũ để chép kinh đã rất sớm, và thời ấy dùng giấy gì tuy không rõ nhưng nếu đối chiếu theo chữ viết mà lựa chọn mầu giấy thích hợp thì đủ rõ. Cách viết này là để biểu hiện vẻ trang nghiêm đẹp đẽ nên không phải tất cả các kinh đều được viết chép cách này, mà phần nhiều chỉ dùng để viết chép các loại kinh cầu nguyện (nguyện kinh) mà thôi. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí của Viên nhân - vị tăng người Nhật bản - chép, thì khi sư đến Trung quốc, lên chùa Kim các trên núi Ngũ đài, trong gác kinh tạng của viện Bồ đề kiên cố, sư thấy Đại tạng kinh có hơn sáu nghìn quyển, trong đó có một số nguyện kinh được viết chép vào khoảng năm Đại lịch (766-779) bằng chữ vàng, chữ bạc trên giấy màu xanh biếc. Lại nữa, tương truyền ở viện Tịnh độ trên núi Tỉ duệ tại Nhật bản, có kinh Kim quang minh chữ vàng chữ bạc trên giấy xanh, được viết vào tháng 9 năm Hội xương thứ 2 (842) đời Đường. Năm Nguyên hựu thứ 2 (1087) đời Triết tông nhà Tống, vị tăng người Cao ly là Nghĩa thiên, mang theo bộ kinh Hoa nghiêm lớn, ba bản, gồm một trăm tám mươi quyển, viết chép bằng chữ vàng chữ bạc đến chùa Tuệ nhân tại Hàng châu. Người đời truyền rằng, màu kim nhũ của tạng kinh Cao li hơi khác với màu kim nhũ thông thường, mà gần như màu bạc. Ngoài ra,khi viết kinh bằng kim nhũ thì thường thường có phụ thêm viền nhũ bạc, và trái lại, khi viết bằng nhũ bạc, thì phụ thêm viền nhũ vàng.
cám dỗ
To seduce—To tempt—To allure.
cám thanh
(紺青) Tức là màu xanh phớt đỏ. Còn gọi là cám lưu li (lưu li màu xanh). Là màu tóc của đức Phật và sắc tướng của cõi nước Phật. Tóc trên đầu đức Phật màu xanh biếc, cho nên gọi là Cám đính, Cám phát. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 381 (Đại 6, 968 trung), nói: Tóc của đức Thế tôn dài, dày và xanh biếc. Lại lông mi của Phật màu xanh lưu li, cho nên gọi là Cám tiệp . Cũng kinh đã dẫn quyển 380 (Đại 6, 968 thượng), nói: Mi mắt của Thế tôn cũng như ngưu vương, xanh biếc tề chỉnh, không lộn xộn. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.13; Huyền ứng âm nghĩa Q.3].
cám viên
(紺園) Tên gọi khác của chùa. Còn gọi là Cám phường, Cám điện, Cám vũ. Vì tóc của Phật màu xanh biếc, cõi nước của Phật màu xanh lưu li, cho nên chùa chư tăng ở cũng gọi là Cám viên. Tổ đình sự uyển quyển 4 chép (Vạn tục 113, 61 thượng). Cám viên, tiếng Phạm là Tăng già lam ma, Hán dịch là Chúng viên. Bên Tây vực có các tên gọi Cấp cô độc viên, Kì viên, Kim viên, Kê viên. Viên (vườn) là nghĩa quần sinh gieo trồng phúc tuệ, đều là tên gọi chung chùa Phật. Cám viên, tức là Cám vũ. Giải thích là xanh ngậm, tức là màu xanh mà ngậm đỏ, nội giáo phần nhiều gọi mắt xanh, tóc xanh là lấy nghĩa này.
cán
To run over.
cán phong nhất lộ
(幹峰一路) Tên công án của Thiền tông. Do thiền sư Càn phong thuộc tông Tào động cuối đời Đường trả lời câu hỏi của một vị Tăng, bảo rằng: Con đường dẫn đến cửa Niết bàn chẳng cần phải tìm ở đâu xa, nó ở ngay trước mắt. Câu này đã trở thành một công án. Còn gọi Càn phong nhất hoạch (một cái vạch của Càn phong). Có một vị tăng đến chỗ sư Càn phong, đem câu Thập phương Bạc già phạm, nhất lộ Niết bàn môn trong kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 124 hạ) hỏi sư: Một con đường đến cửa Niết bàn của chư Phật trong mười phương, rốt cùng là ở chỗ nào? Càn phong cầm gậy vạch một đường rồi trả lời: Ở đây này. Câu đáp biểu thị nghĩa không cần tìm cầu đâu xa, cái đương thể của muôn sự, muôn vật đều là một con đường Niết bàn Phật làm, Phật đi. Vị tăng kia sau lại đến tổ Văn yển của tông Vân môn hỏi cùng một câu hỏi như trước. Tổ Vân môn bảo cái quạt ngài đang cầm, bay lên đến trời 33, dính ngay vào lỗ mũi Đế Thích, đánh cho con cá gáy ở biển đông một gậy, rồi trút xuống một trận mưa rào. Trong hai trường hợp sư Càn phong tỏ bày Bả định (định lại) tổ Vân môn tỏ bày Phóng hành (buông đi), tuy ứng dụng cơ pháp có khác, nhưng đều nêu rõ ý chỉ sâu xa mầu nhiệm. Ngài Vô môn quan bình rằng (Đại 48, 299 thượng): Bả định, phóng hành đều đưa ra một tay dựng thẳng tông thừa. Càn phong bề ngoài tuy tỏ bày bả định, nhưng cũng ngầm ý phóng hành; Vân môn tuy minh thị phóng hành, nhưng cũng bao hàm bả định. Hai người tuy không hẹn nhau, song cùng gặp nhau trên một con đường đông tây hai ngả mà cơ dụng giữa đường đều ăn khớp với nhau, đó là ý chỉ chủ yếu của công án trên. [X. Thung dung lục tắc 61; Vô môn quan tắc 48; Cảnh đức truyền đăng lục Q.17].
cán phong nhị quang tam bệnh
(幹峰二光三病) Lời nói pháp mở bày của Thiền sư Càn phong ở Việt Châu thuộc tông Tào động cuối đời Đường. Có nghĩa là đến được cảnh giới giác ngộ thì phải buông bỏ và thoát khỏi hai loại sáng và ba thứ bệnh. Hai sáng, tức sáng năng thủ và sáng sở thủ. Sáng năng thủ, chỉ mê hoặc nhỏ nhiệm do chủ quan sinh khởi; sáng sở thủ thì chỉ mê hoặc vi tế do mặt khách quan sinh khởi. Ba thứ bệnh là: 1. Chưa đến đã đi, là cái bệnh trước khi đạt đến cảnh giác ngộ đã khởi lên các thứ tâm phân biệt. 2. Đến rồi ở lì, là cái bệnh khi đạt đến cảnh giác ngộ rồi thì sinh tâm bám níu lấy. 3. Thấu thoát không nương, là cái bệnh đã đạt đến cảnh giác ngộ, tuy đã thoát li hết thảy sự chấp trước, nhưng vẫn chưa thực tiễn trong sáng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 13 (Vạn tục 138, 254 hạ), nói: Hoà thượng Càn phong ở Việt Châu nói pháp: Pháp thân có ba thứ bệnh, hai thứ sáng cần phải thấu suốt mới có thể về nhà ngồi yên, nhưng nên biết còn có một kẻ hướng thượng nữa! Về sau, lời mở bày được tổ Văn yển của tông Vân môn nêu ra và nổi tiếng trong Thiền lâm, vì thế còn gọi là Vân môn tam bệnh, Vân môn lưỡng bệnh. [X. Ngũ gia tôn chỉ soạn yếu Q.hạ]. CÀN THÁT BÀ Phạm: Gandharva, Pàli: Gandhabba, Tây tạng: Dri-za. Còn gọi là Kiện đạt phọc, Kiện thát bà, Ngạn đạt bà, Càn đạp bà, Càn đạp hòa, Hiến đạp phọc. Dịch ý là ăn mùi thơm, đi tìm mùi thơm, hương ấm, huơng thần, chủ tìm mùi thơm. … I. Càn thát bà. Chỉ vị thần hầu hạ trời Đế thích, cùng với Khẩn na la tấu âm nhạc. Cũng gọi là Tầm hương thần, Nhạc thần, Chấp nhạc thiên. Là một trong tám bộ chúng. Truyền thuyết rằng, thần này không ăn thịt uống rượu, chỉ ăn hơi thơm. Loại thần này có nhiều vua chúa và họ hàng, phẩm Tựa kinh Pháp hoa nói có bốn vua Càn thát bà, kinh Đại bảo tích quyển 13 hội Luật nghi thì bảo có mười ức vua Càn thát bà; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 1 phẩm Thế chủ diệu trang nghiêm cũng nêu tên hơn hai mươi vua Càn thát bà. Càn thát bà vốn là những thần được Bà la môn giáo sùng bái, trong Dạ nhu phệ đà nêu tên hai mươi bảy thần, A thát bà phệ đà cũng liệt kê sáu nghìn ba trăm ba mươi ba thần. Có rất nhiều thần thoại và về dáng mạo cũng có nhiều thuyết. Có thuyết bảo trên mình nhiều lông, nửa người nửa thú, có thuyết lại nói phong tư cực đẹp. Thần thoại cổ Ấn độ bảo, thời đại Phệ đà, Càn thát bà hầu yến tiệc trời Đế thích, chuyên việc hát xướng tấu nhạc. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 10 chép, Kiện thát bà vương đến chỗ Phật gảy đàn khen Phật, ba nghìn thế giới đều rúng động, cho đến Ma ha Ca diếp ngồi không yên. Trong các kinh phần nhiều cho Càn thát bà là quyến thuộc của Trì quốc thiên ở phương đông, thần coi sóc phương đông. Cũng là một trong ba mươi thân ứng hóa của bồ tát Quan âm. Bổ đà lạc hải hội quĩ chép, hình tượng màu đỏ, như đại ngưu vương, tay trái cầm ống sáo, tay phải cầm gươm báu, có oai lực lớn, trên đầu có vòng lửa. [X. Trường a hàm Q.18 kinh Thế kí phẩm Diêm phù đề; luận Đại trí độ Q.54; Duy ma kinh huyền sớ Q.5]. II. Càn thát bà. Chỉ thân Trung hữu ở cõi Dục. Phần nhiều dùng phiên âm Kiện đạt phọc. Nhục thể của chúng sinh ở cõi Dục sau khi chết, trong thời kỳ trung gian (Trung hữu) thần thức vẫn chưa tìm được một nhục thể mới, thì chỉ ăn hơi thơm, vì thế có tên là Kiện đạt phọc. Luận Đại tì bà sa quyển 69. Luận Câu xá quyển 9 nói, khi vào thai mẹ phải có ba sự kiện xảy ra cùng một lúc, đó là: 1. Thân thể người mẹ thoải mái. 2. Cha mẹ giao hoan hòa hợp. 3. Đúng lúc ấy Kiện đạt phọc phải hiện trước. Cho nên biết Kiện đạt phọc là một trong ba điều kiện vào thai. Trước khi vào thai, hẳn Kiện đạt phọc phải khởi tâm điên đảo, chạy theo dục cảnh. Tức trước hết, nhờ nghiệp lực mà khởi nhãn căn, tuy ở xa, nhưng có thể thấy nơi mình sắp thụ sinh cha mẹ đang giao hoan, nếu Kiện đạt phọc là trai thì duyên theo người mẹ mà khởi dục tính của phái nam, sinh tâm ái nhiễm, nếu là gái thì duyên theo người cha mà khởi dục tính của phái nữ; trái lại, nếu ngược với hai duyên ấy thì liền khởi tâm tức giận. Có người bảo thuyết này là do thuyết về thần hiếu sắc (hay dòm ngó phòng the của những cặp vợ chồng mới cưới) trong thần thoại Ấn độ chuyển biến mà thành. Lại trong Kiện đạt phọc, kẻ ít phúc thì ăn hương xấu, kẻ nhiều phúc thì ăn hương tốt. [X. Trung a hàm Q.54 kinh Trà đế; Câu xá luận quang kí Q.9; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng]. III. Càn thát bà. Tập tục của Tây vực gọi các nghệ sĩ là Càn thát bà. Họ không làm việc cho vua chúa, không theo nghề sinh nhai, chỉ đi tìm các nhà đang ăn uống, hơi thơm bay ra, rồi đến trước cửa đứng tấu nhạc để xin ăn, do đó mà có tên là Càn thát bà. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng]. IV. Càn thát bà. Nói đủ là Chiên đàn càn thát bà thần vương. Là thần trói bọn mười lăm quỉ con lại, đứng đầu là Di thù ca (vì bọn quỉ con này hay quấy nhiễu các thai nhi và những trẻ sơ sinh khiến phải đau ốm - N.D) để bảo hộ những thai nhi và trẻ sơ sinh. Cũng là pháp tu lấy thần vương này làm bản tôn, gọi là Đồng tử kinh pháp, Càn thát bà pháp. [X. kinh Hộ chư đồng tử đà la ni; Đồng tử kinh niệm tụng pháp]. (xt. Đồng Tử Kinh Pháp). CÀN THÁT BÀ THÀNH Phạm: Gandharva-nagara. Cũng gọi là Kiện thát bà thành, Kiện đạt phọc thành, Hiến đạt phọc thành. Nói tắt là Bà thành, Càn đạt thành, Càn thành. Dịch ý là Tầm hương thành. Chỉ lầu gác, núi sông, rừng rậm, không có thực mà hiện giữa hư không. Truyền thuyết cho rằng, thần Càn thát bà hóa hiện thành quách giữa hư không, vì thế mà gọi là Càn thát bà thành. Hoặc chỉ các ảo ảnh trên biển, sa mạc, giữa đồng không mông quạnh ở vùng nhiệt đới, do nhiệt độ không khí khác nhau, bị tia sáng bắn ra mà trông giống như những lâu đài thành quách, trong kinh thường dùng hiện tượng này để thí dụ các pháp không thực có. Lại các nhạc sĩ Tây vực được gọi là Càn thát bà, vì họ dùng ảo thuật hóa làm thành quách, cũng gọi là thành Càn thát bà. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 103 trung), nói: Mắt có thể thấy, mà không có thực, đó gọi là thành Kiện thát bà. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.42; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quất dịch thổ tập Q.9]. Càn Thát Bà (Một trong 8 bộ chúng)
cán thỉ quyết
(幹屎橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên chỉ cái Xia trong nhà xí (cầu tiêu) để dọn phân người. Để đả phá sự chấp mê của phàm phu khiến họ tỏ ngộ, tông Lâm tế thường đặt câu hỏi: Phật là vật gì? và đáp là Can thỉ quyết. Thỉ quyết vốn là vật bẩn thỉu, nhưng không phải bẩn thỉu là không dùng, tông Lâm tế đặc biệt đề cập cái vật gần gũi con người nhất để cảnh giác người ta chỉ lo đi tìm Phật ở đâu đâu, mà không biết trở về làm cho cái tâm nhơ nhớp của chính mình được trong sạch; đồng thời dùng nó để đả phá sự chấp trước của học trò. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.15; Vô môn quan tắc 21; Lâm tế lục thướng đường].
cán xà na
(幹闍那) Phạm: Kaĩcaỉa, Pàli: Kaĩcaka. Còn gọi là Kiến chiết na, Can xà la. Tên khoa học là Commelina salicifolia. Loại thực vật thuộc họ cỏ chân vịt, sinh sản rất nhiều tại khu vực Mạnh gia lạp (Bengal) thuộc Ấn độ. Hình lá như cánh bướm, hoa có hai thứ đỏ lợt và trắng, đều là năm cánh, song không có mùi thơm. Quả như quả đậu, hột nhỏ và dẹt. Cây này có hai loại, một loại cây rậm, nhỏ thấp sát đất, loại kia là cây cao từ sáu đến mười mét, nhưng hoa lá thì giống nhau. [X. luận Đại tì bà sa Q.48; luận Tì bà sa Q.3; luận A tì đàm tì bà sa Q.26].
cáng đáng
To undertake—To assume.
Cánh
更; C: gèng; J: kō; |1. Mặt khác, thay vì, hơm là. Lại nữa, lại lần nữa, mặt khác. Thêm nữa, hơn nữa; 2. Trong Phật pháp, Cánh đôi khi có nghĩa tương đương với »xúc« (觸, s: sparśa), là 1 chi phần trong 12 nhân duyên); 3. Thụ nhận cảm giác khổ.
cánh hoạt địa ngục
Địa ngục thứ nhất trong tám địa ngục nóng—The first of the eight hot hells—See Địa Ngục (A) (a) (1).
cánh sinh luận
(更生論) Có một quyển. Do La quân chương (La hàm) đời Đông Tấn soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 52 Hoằng minh tập quyển 5. Chủ yếu trình bày về quan điểm vạn vật tái sinh, cho rằng sở dĩ trời đất vần xoay không ngừng, đời đời bất diệt, là vì muôn vật cứ sinh đi sinh lại mãi. Có nghĩa là muôn vật đều có bản thể bất biến, thần (tinh thần) và chất (nhục thể) cũng đều có khác, sống chết chỉ do sự tụ tán của chất mà thôi, coi hai phương diện sống chết như nhất thể. Thuyết này tuy căn cứ trên quan niệm tự nhiên của Đạo gia, nhưng rất phù hợp với Thần bất diệt luận của Phật giáo. CÁNH Y Đổi áo. Còn gọi là Cải y. Có 3 nghĩa: 1. Thay đổi y phục. 2. Hàm ý là chuyển sang theo tông phái khác. 3. Ý là đổi áo pháp, từ đó đưa đến nghĩa thăng tiến lên ngôi vị Hoà thượng. [X. Lục tổ Năng thiền sư bi minh (Vương duy); Tục động thượng chư tổ truyện Q.3 Kim cương dụng kiêm chương].
cánh thành
To succeed in finishing.
Cánh 更
[ja] コウ kō ||| (1) On the contrary, instead, rather. Anew, afresh, again. Still more, further. (2) In Buddhism 更 geng is sometimes equivalent to the term 'contact' (觸) which is one of the twelve limbs of conditioned arising (sparśa). (3) To receive the sensation of suffering. => 1. Mặt khác, thay vì, hơn là. Lại nữa, lại lần nữa, mặt khác. Thêm nữa, hơn nữa. 2. Trong Phật pháp, Cánh đôi khi có nghĩa tương đương với xúc (觸s: sparśa), là một chi phần trong 12 nhân duyên). 3. Thụ nhận cảm giác khổ.
Cánh 竟
[ja] キョウ kyō ||| (1) Finish, end. (2) Finally, at last. (3) Actually, really, only. (4) A boundary, a territory, realm. => 1. Hoàn thành, kết thúc, làm xong. 2. Cuối cùng, sau cùng; sau rốt. 3. Thực sự, trên thực tế; thực ra; chỉ. 4. Ranh giới, lãnh vực, cõi giới.
Cáo
告; C: gào; J: koku, kō;|Có các nghĩa sau: 1. Nói với, kể chuyện, trò chuỵên, nói; dạy, thông báo, tường trình, thức tỉnh cho; công bố cho; 2. Kết tội; 3. Thường được dùng trong văn kinh khi đức Phật dạy cho đệ tử, có nghĩa rộng là nói bằng âm thanh lớn cho thính chúng đông đảo.
cáo
To inform—To accuse—To plead.
cáo biệt
To take leave—To bid someone adieu.
cáo chung
To announce the end.
cáo gian
To accuse falsely.
cáo hương
Thông báo bằng cách dâng hương—To inform by offering incense.
; (告香) Là nghi thức học trò thắp hương thỉnh thầy thuyết pháp hoặc khai thị. Cái bảng treo để yết thị cho đại chúng biết nghi thức cáo hương, thì gọi là Cáo hương bài........; nhưng trước khi treo bảng Cáo hương phải được vị trụ trì cho phép. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2 mục Cáo hương; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.2 mục Cáo hương; Thiền lâm tượng khí tiên Thùy thuyết môn].
cáo lỗi
To apologize—To excuse onself
cáo phó
Death notice.
cáo thị
To notify—Notice—Advertisement—Proclamation.
cáo tri
To notify—To announce—To inform.
cáo tội
To recognize one's fault.
cáo từ
See Cáo biệt.
Cáo văn
(告文): một loại văn tế để kính trình lên chư thần Phật, như Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655), Tổ thứ 9 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có bài Lễ Thiên Phật Cáo Văn (禮千佛告文); hay trong Đại Tạng Kinh của Triều Tiên có bản Đại Tạng Khắc Bản Quân Thần Kỳ Cáo Văn (大藏刻版君臣祈告文) do Hàn Lâm Học Sĩ Lý Khuê Báo (李奎報, 1108-1241) người Cao Lệ soạn, v.v.
Cáo đẩu
(告斗): hay cáo đấu (告鬥). Đấu (鬥) hay đẩu (斗) ở đây đều chỉ cho Bắc Đẩu Tinh Quân (北斗星君). Ngay từ thời thượng cổ, người Trung Quốc đã có tục lệ sùng bái sao Bắc Đẩu. Sao này là tôn thần của Đạo Giáo, chủ quản về vấn đề sanh tử của con người. Khoa nghi Cáo Đẩu (báo cáo lên tôn thần Bắc Đẩu) lấy nữ thần Đẩu Mỗ (斗姆, hay Đẩu Mụ [斗姥])—mẹ của sao Bắc Đẩu—làm chủ thần. Thông qua khoa nghi, dâng sớ tâu, cúng trà, đốt hương, các Đạo sĩ cung đón nữ thần Đẩu Mỗ quang lâm hạ giới; sau đó biến thần mời tướng, đốt đèn phá cõi tối tăm với mục đích giải trừ tai ách, thoát khổ nạn, thỉnh phước tiêu tai, tăng thêm tuổi thọ. Khoa nghi Cáo Đẩu này cũng thể hiện sự quan tâm của tín đồ Đạo Giáo đối với các vong linh ở chốn Địa Ngục, hy vọng thông qua nghi lễ như vậy, cầu thỉnh sao Bắc Đẩu thương tưởng đến các vong hồn ấy, giúp họ thoát khỏi Địa Ngục, sanh lên cõi tiên. Nghi thức này cũng có ảnh hưởng đối với Phật Giáo, nên trong các đàn tràng trai sự Cầu Siêu lớn, thường thấy có nghi thức Cáo Đẩu với Cáo Đẩu Văn.
; (告斗): hay cáo đấu (告鬥). Đấu (鬥) hay đẩu (斗) ở đây đều chỉ cho Bắc Đẩu Tinh Quân (北斗星君). Ngay từ thời thượng cổ, người Trung Quốc đã có tục lệ sùng bái sao Bắc Đẩu. Sao này là tôn thần của Đạo Giáo, chủ quản về vấn đề sanh tử của con người. Khoa nghi Cáo Đẩu (báo cáo lên tôn thần Bắc Đẩu) lấy nữ thần Đẩu Mỗ (斗姆, hay Đẩu Mụ [斗姥])—mẹ của sao Bắc Đẩu—làm chủ thần. Thông qua khoa nghi, dâng sớ tâu, cúng trà, đốt hương, các Đạo sĩ cung đón nữ thần Đẩu Mỗ quang lâm hạ giới; sau đó biến thần mời tướng, đốt đèn phá cõi tối tăm với mục đích giải trừ tai ách, thoát khổ nạn, thỉnh phước tiêu tai, tăng thêm tuổi thọ. Khoa nghi Cáo Đẩu này cũng thể hiện sự quan tâm của tín đồ Đạo Giáo đối với các vong linh ở chốn Địa Ngục, hy vọng thông qua nghi lễ như vậy, cầu thỉnh sao Bắc Đẩu thương tưởng đến các vong hồn ấy, giúp họ thoát khỏi Địa Ngục, sanh lên cõi tiên. Nghi thức này cũng có ảnh hưởng đối với Phật Giáo, nên trong các đàn tràng trai sự Cầu Siêu lớn, thường thấy có nghi thức Cáo Đẩu với Cáo Đẩu Văn.
Cáo 告
[ja] コク、コウ koku, kō ||| (1) To address, to tell, to talk, say, speak; teach, inform, report, enlighten; to announce to. (2) To make an accusation. (3) It is used in the scriptures where the Buddha is teaching his disciples, having the connotation of speaking in a big voice to a large audience. => Có các nghĩa sau: 1. Nói với, kể chuyện, trò chuỵên, nói; dạy, thông báo, tường trình, thức tỉnh cho; công bố cho. 2. Kết tội. 3. Thường được dùng trong văn kinh khi Đức Phật dạy cho đệ tử, có nghĩa rộng là nói bằng âm thanh lớn cho thính chúng đông đảo.
cáp
1) Chim bồ câu: Paravata or Kapotaka (skt)—A dove—A pigeon. 2) Sò hến: Clams.
cáp lị quan âm
(蛤蜊觀音) Một trong ba mươi ba ứng thân của bồ tát Quan âm. Vì ngài ngồi trên con Cáp lợi (con trai, con hến) cho nên gọi Cáp lợi Quan âm. Đây là tín ngưỡng bắt nguồn từ sau đời Đường, chứ trong các kinh quĩ không thấy ghi chép. Cứ theo Phật tổ thống kỷ quyển 42 mục Đường văn tông khai thành nguyên niên chép, vua Văn tông nhà Đường ăn cáp lợi, có một con bửa mấy cũng không mở miệng ra, bèn đốt hương cầu đảo thì Cáp lợi thình lình biến hiện thành hình Bồ tát. Nhà vua cho mời thiền sư Duy chính ở núi Chung nam vào để hỏi nguyên do, sau đó, hạ lệnh cho các chùa viện khắp trong nước đều phải lập tượng Quan âm. Đó là nguồn gốc của tín ngưỡng Cáp lợi Quan âm. Thông thường các dân chài lưới rất tin sùng. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2].
cáp lợi quán âm
Một trong 33 Quán Âm, ngồi trên vỏ sò—One of the thirty-three forms of Kuan-Yin, seated on a shell.
cáp man
(鴿鬘) Là tên một người con gái sinh ra từ chỗ ẩm ướt. Những sinh vật sinh ở dưới nước, hoặc do chỗ ẩm ướt mà sinh, gọi là thấp sinh. Câu xá quang kí quyển 8 (Đại 41, 155 hạ), nói: Cáp man, ngày xưa có một ông vua tên là Bạt la cáp ma đạt đa, Hán dịch là Tĩnh thụ. Dưới nách nhà vua tự nhiên mưng lên một cái nhọt đầy nước, rồi từ đó sinh ra một bé gái, nhà vua đặt tên là Cáp man. Từ dưới nách sinh ra, như chim bồ câu bay ra, nhà vua yêu quí như vòng hoa anh lạc, vì thế gọi là Cáp man (cáp: con bồ câu - man: vòng hoa anh lạc).
cáp nô man
Hanumāna (S)Đại lãnh Thần hầuNhân vật trong sử thi Ramayana của Ấn độ.
cáp nô mạn
(哈奴曼) Phạm: Hanumàna. Còn gọi là Ha nô mạn, Cáp nữu mạn. Dịch ý là Đại hàm thần hầu........... (thần khỉ cằm to). Thần khỉ trong sử thi La ma diễn na (Phạm: Ràmàyaịa) của Ấn độ, là đối tượng sùng bái của phái La ma trong Ấn độ giáo. Được coi là con của Thần gió, có khả năng biến hóa bay đi, cao bằng lầu tháp, sức mạnh không ai sánh kịp, mặt đỏ hồng, lông vàng óng, đuôi dài vô hạn, từng giúp La ma đến đảo Lăng già tìm vợ đem về Ấn độ, là tay giúp đỡ đắc lực của La ma. Ngoài ra đứng trên quan điểm nghiên cứu văn hóa Trung quốc có chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn độ mà nói, thì Cáp nô mạn là nguyên hình của Tôn ngộ không trong Tây du kí. [X. Tây du kí Huyền trang đệ tử cố sự chi diễn biến (Trần dần khác, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san)].
cáp viên
Kapotika-saṃgharama (S).
; Kapotakasamgharama (skt)—Ca Bố Đức Ca—Một tự viện nổi tiếng trong vùng Kashmir, phía nam xứ Ma Kiệt Đà, trung Ấn Độ (Đức Phật vào thời quá khứ, là một con chim bồ câu to dẫn người đi săn vào chánh đạo, khi bay tới đây đã lao vào lửa mà chết)—A famous monastery said to be in Kashmir, south of Magadha, central India.
; (鴿園) I. Cáp viên. Phạm: Kapotika-saôghàràma. Dịch âm: Ca bố đức ca già lam. Là ngôi Tinh xá nằm về mạn đông nước Ma yết đà thuộc trung Ấn độ. Ở đời quá khứ xa xưa, đức Phật đã từng là chim bồ câu lớn, vì muốn đưa người thợ săn vào chính đạo, nên đã gieo mình vào lửa mà chết tại chỗ này. Nhà khảo cổ học người Anh là Khang lâm hãn (Cunningham, 1814 – 1893) bảo rằng chỗ ấy tức là nơi cách hang Nhân đà la nói trong Đại đường tây vực kí về mạn đông bắc 16 cây số. [X. Đại đường tây vực kí Q.9 - Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3 - A. Cunningham: The Ancient Geography of India]. II. Cáp viên. Nằm tại nước Ca thấp di la. Là một trong năm trăm Tinh xá. Dị bộ tôn luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 216 hạ) nói: Bấy giờ, tại Kê viên chư tăng tranh cãi không dứt, sau theo chỗ thấy biết khác nhau mà chia làm hai bộ: Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ. Lúc đó các bậc hiền thánh biết chúng tăng sai trái, liền bỏ Kê viên mà đi nơi khác (…...) Nhà vua hay tin rất tức giận, bèn bảo bề tôi nên đưa hết các tăng đến bờ sông Hằng, dùng một chiếc thuyền mục nát, chở ra giữa sông và đánh đắm thuyền, để xem ai là phàm, ai là thánh? Bề tôi vâng lời và thử nghiệm việc đó. Khi ấy, các bậc hiền thánh đều bay lên không, như các chim nhạn, rồi lại dùng thần thông, biến hiện ra các hình để giúp những người trong thuyền muốn bỏ Kê viên mà chưa có thần lực, bay lên hư không, đều đi về hướng bắc. Nhà vua thấy thế sinh lòng hổ thẹn và ân hận, (…...) lập tức sai sứ theo dõi, biết các ngài đã ở Ca thấp di la, sau cố mời về, nhưng chư tăng đều từ chối. Nhà vua bèn làm các Tăng già lam tại Ca thấp di la để các vị hiền thánh ở và đổi tên Tăng già lam là Cáp viên theo hình biến hiện của chư tăng.
cáp đáp
(哈答) Là di tích Phật giáo tai A phú (Afghanistan), nằm ở giữa khoảng đường từ Khách bá nhĩ (Kabul) đến Bạch hạ ngõa (Peshawar) ở Ba tư cơ thản (Pakistan). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì vật liệu kiến trúc và điêu khắc của mỹ thuật Phật giáo có pha trộn ảnh hưởng Hi lạp ở Bạch hạ ngõa (Peshawar) lấy đá làm chủ yếu, còn ở Cáp đáp thì lấy gạch mộc và bùn trộn lẫn với tro làm tài liệu kiến trúc và nặn đắp, cách tạo hình trội hơn mỹ thuật khắc đá ở Kiện đà la. Trước khi bị người Mễ hi lạp khắc lạp (Mihirakula) phá hoại vào năm 535 Tây lịch, Cáp đáp hằng mấy thế kỉ đã từng là nơi đại biểu cho mĩ thuật Phật giáo.
cáp đạt
(哈達) Vật dùng trong nghi lễ của Phật giáo Tây tạng. Là cái đai áo dệt bằng tơ sợi hoặc lụa mỏng, hình vuông mà dài, có bốn bậc thô, nhỏ. Chia làm hai màu trắng, lam. Chia theo chất liệu, đai thông thường dệt bằng bông sợi, gọi là Tố hi - loại trung cấp dệt bằng tơ tằm gọi là A hi - loại cao cấp dệt bằng tơ hạng tốt dành cho các nhân vật cấp cao trong chính giới và giáo giới sử dụng, gọi là Thúy lãng. Trong những dịp khánh hỉ hoặc tang lễ, dân Tây tạng và một bộ phận dân Mông cổ, đều mang Cáp đạt đến để bày tỏ ý chúc mừng hoặc chia buồn. Tín đồ thường hay dâng Cáp đạt trước tượng Phật hoặc treo trên cây trong chùa. Lại vì thân phận bất đồng, nên Cáp đạt được dùng cũng có lớn nhỏ, dài ngắn rộng hẹp khác nhau, khi dùng đều có định chế, không được lẫn lộn.
cáp ẩn phật ảnh
(鴿隱佛影) Chim bồ câu núp bóng Phật. Thí dụ người giữ giới có uy lực không gì hơn. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 28 chép lời của đức Thế tôn (Đại 12, 529 thượng): Xưa kia có một thời ta với Xá lợi phất và năm trăm đệ tử cùng ở nước Ma già đà, đại thành Chiêm bà, khi ấy có người thợ săn đuổi một con chim bồ câu. Con chim sợ hãi, đến ẩn dưới bóng Xá lợi phất, nhưng vẫn run rẩy như tàu lá chuối bị gió lay động - nó bèn đến núp trong bóng của ta, thì thâm tâm yên ổn, không sợ hãi nữa, vì thế nên biết Như lai thế tôn giữ giới rốt ráo, cho đến cái bóng của thân hình cũng có được sức như thế. [X. luận Đại trí độ Q.11].
cát
Srì (S). Auspicious, lucky, fortunate.
; 1) Cắt: To cut. 2) Dây leo hay dây sắn—The rambling, or creeping bean.
Cát (kiết) tường
吉祥; C: jíxiáng; J: kichijō; |1. Tốt lành, có điềm tốt lành, nhiều triển vọng (s: dhanya); 2. Dịch từ chữ Śrī, một tước hiệu của Ấn Độ; 3. Tên của một vị Bồ Tát.
cát bàn trà, kiết bàn trà
Kumbhànda (S). Demons of montrous form.
cát ca dạ
Một vị Tăng nổi tiếng vào đời Tống—A noted monk of the Sung dynasty.
; (吉迦夜) Phạm: Kiíkara. Dịch ý là Hà sự. Vị tăng dịch kinh đời Bắc Ngụy, người Tây vực. Sư lấy việc du hóa truyền đạo làm chí hướng, đến Bình thành vào thời vua Văn thành nhà Bắc Ngụỵ, mọi người rất kính phục sự học rộng của sư, sau pháp nạn Thái vũ, kinh điển thất tán, năm Diên hưng 2 (472) sư cùng với ngài Đàm diệu cùng dịch Phó pháp tạng nhân duyên truyện 6 quyển, kinh Tạp bảo tạng 8 quyển, luận Phương tiện tâm 1 quyển, tất cả năm bộ mười chín quyển, do Lưu hiếu tiêu chép viết, nhờ thế mà Phật pháp tại đất Bắc lại được phục hưng. [X. Lịch đại tam bảo kỷ Q.9 - Pháp kinh lục Q.3, Q.6 - Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
cát căn
(吉根) Hàm ý là trưởng lão. Là người chủ trì Khang thôn trong các chùa viện thuộc phái Cách lỗ của Phật giáo Tây tạng. Do một vị tăng lớn tuổi nhất của Khang thôn được chọn để đảm nhiệm chức này. (xt. Khang Thôn).
cát già
(吉遮) Phạm: Kftya, Pàli: Kicca. Còn gọi là Cát giá, Cát lật giá, Ngật lật trước. Dịch ý là làm việc. Là tên ác quỷ, tức chỉ quỷ Khởi thi. [X. kinh Pháp hoa Q.7 phẩm Đà la ni - Pháp hoa nghĩa sớ Q.12 (Cát tạng) - Huyền ứng âm nghĩa Q.6].
cát hung
Good and bad.
cát hà
The auspicious river, the Ganges, because in it the heretics say they can wash away their sins.
; Tà đạo cho rằng nước sông Hằng có thể rửa sạch mọi tội lỗi---Auspicious river—The Ganges for the heretics say they can wash away their sins.
; (吉河) Chỉ sông Hằng ở Ấn độ. Các Thánh nhân Ấn độ đời thượng cổ, lúc sắp thành Thánh đều xuống tắm trong sông Hằng, vì thế người ta thường gọi sông Hằng là Cát hà (sông tốt lành) và cho rằng người xuống sông này tắm có thể diệt được tội. [X. Bách luận sớ quyển thượng].
cát hốt
(割笏) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Hốt, vốn là cái thẻ bài mà các bề tôi đời xưa tại Trung quốc, mỗi khi vào chầu Thiên tử, thì cầm nơi tay và ghi trên đó những việc mình định tâu vua, hoặc là ghi những điều vua chỉ thị. Hốt làm bằng ngà voi, bằng tre hay gỗ. Nhật bản cũng theo phong tục ấy. Sau lại xẻ dọc hốt thành hai nửa dùng làm cái phách để gõ nhịp khi ca hát, gọi là Hốt phách tử, Xích phách tử , Cát hốt. Viện Tri ân tại Nhật bản dùng hốt khi niệm Phật tu đạo. Ngoài ra, khi tụng kinh đánh phách gỗ, hoặc giới xích của tông Tịnh độ, có lẽ đã từ Cát hốt biến chuyển sai đi chăng?
cát hồng
Ko Hung (C), Go Hong (C)(284-364) Nhà luyện đan và lý thuyết của Đạo gia, tác giả quyển Bão Phúc Tử.
cát hộ
Śrīgupta (S)Đức Hộ, Thắng MậtTrưởng giả thành Vương Xá.
cát khánh
Auspicious, lucky, fortunate.
; Auspicious—Lucky—Fortunate.
cát khánh tán
(吉慶贊) Chỉ bài ca tán của Mật giáo, được xướng lên để khen ngợi đức của người bước lên ngôi vị giác ngộ, khi cử hành lễ truyền pháp Quán đính. Lời ca phỏng theo sự tích tán thán tám tướng thành đạo của đức Như lai, vì thế còn được gọi là Bát tướng thành đạo tán. Bài ca tán này có hai thứ Hán và Phạm. Kinh Kim cương đính lược xuất niệm tụng quyển 4 có chép bài ca tán bốn kệ mười sáu câu bằng chữ Hán như sau (Đại 18, 251 trung): Chư Phật khi đến giờ giáng sinh, Thích phạm long thần theo hộ vệ, bao việc tốt lành và mầu nhiệm, nay đây mong ngài đều được hết. Ca tì la vệ trong cung vua, Long vương rưới nước lành cam lộ, Chư thiên cúng dường việc hiếm có, mong ngài quán đính cũng như thế. Trên toà Kim cương vì quần sinh, rạng đông hàng ma thành chính giác, hiện các việc quí báu tốt lành, tòa này mong ngài đều thành tựu. Vườn Ba la nại nơi trang nghiêm, vì năm vị tiên mở diệu pháp, thành tựu vô lượng việc tốt lành, mong ngài giờ này đều chứng được. A xà lê đại mạn đồ la quán đính nghi quĩ còn thêm một tụng nữa (Đại 18, 191 hạ): Phương tiện đại bi của chư Phật, lợi khắp chúng sinh trong pháp giới, hết cõi vị lai không mỏi mệt, bốn trí vô ngại ngài sẽ được. Như vậy, tất cả là năm bài tụng. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 8 có chép bài ca tán bằng cả tiếng Phạm và tiếng Hán, mỗi bài đều có 11 kệ. Bài ca tán tiếng Hán, khi A xà lê trao năm bình Quán đính cho người nhận, được cả A xà lê và đại chúng cùng xướng tán. Còn bài ca tán bằng tiếng Phạm hiện nay chỉ dùng có 3 kệ, và sau khi kết thúc Quán đính, đi quanh đàn ba vòng thì được xướng lên. Lại nữa, theo Đại nhật kinh sớ quyển 8 chép, ca tán có ba thứ: Cát khánh tán, Cát tường tán và Cực cát tường tán. [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên - A sa phọc sao Q.15 - Nhũ vị sao Q.16].
cát lý ma
Karma (skt)—See Nghiệp in Vietnamese-English Section, and Karma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cát lý sắt nã
1) Màu đen hay xanh đậm: Krsna (skt)—Black, dark, or dark blue. 2) Tên một vị Thần anh hùng của Ấn Độ: Krishna (skt)—The hero-god of India. 3) Đối với Phật giáo, Cát Lý Sắt Nã là tên một loài chúa của “Hắc Quỷ,” kẻ thù địch với Đức Phật và Bạch quỷ: Krishna (skt)—With Buddhists he is chief of the black demons, who are enemies of Buddha and the white demons.
cát lũ tịnh
(割縷淨) Cát lũ, đem tấm vải cắt ra thành những mảnh nhỏ - Tịnh, ý là không có tội. Đức Phật qui định các Tỷ khưu không được mặc ca sa may bằng tơ lụa hoặc các thứ vải mịn màng đẹp đẽ, nhưng, trong trường hợp có các loại kể trên mà không có cách nào để nhuộm thành ba màu xanh, đen và mộc lan, thì được phép cắt các loại vải nói trên thành những miếng nhỏ rồi khâu chắp lại làm ca sa, như thế thì không vi phạm luật của tăng, gọi là Cát lũ tịnh. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 3].
cát lật sắt nã
(吉栗瑟拿) Phạm: Kfwịa. Là một trong các thần của Ấn độ giáo. Còn gọi Hắc thiên. Là hoá thân của Tì thấp nô. Tên của thần này đã thấy xuất hiện trong Lê câu phệ đà và Áo nghĩa thư cổ đại, sau đến thời Ma ha bà la đa thì thành là vị anh hùng nửa thần nửa người rất được hoan nghênh, và trong Bạc già phạm ca thì được gọi là tinh thần vũ trụ tối cao. Cha là Bà tẩu thiên (Phạm: Vasudeva), mẹ là Đề bà cát (Phạm:Devakì). Cứ theo sách Bạc già phạm vãng thế thiên Thần thoại thứ 10 chép, thì lúc còn nhỏ, Cát lật sắc noa là trẻ chăn trâu, đã từng giết vua ác (Phạm:Kaôsa), quỉ dữ, là người bảo hộ trẻ chăn trâu và gia súc. Vốn là thần chăn trâu của tín ngưỡng dân gian Ấn độ, sau dần dần được coi như cùng với Tì thấp nô là nhất thể, thậm chí được tôn làm thần ở nguyên lí tối cao. Nội dung bài hát chăn trâu của thần này, thường được những nhà văn nghệ cổ điển lấy làm đề tài. (xt. Hắc Thiên).
cát lật sắt nã hệ phả
(吉栗瑟拿系譜) Phạm: Harivaôza. Bản phụ lục của Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ. Nội dung tường thuật sự tích những anh hùng của chủng tộc Tì thấp ni (Phạm: Vfwni) từ Tạo vật chủ (Phạm: Prajàpati) thái cổ trở xuống và sự tích người dũng sĩ vĩ đại nhất của chủng tộc này là Cát lật sắt noa (Kfwịa, tức là Hari). Sự tích của Cát lật sắt noa tuy đã được ghi chép trong các sách sử Ma ha bà la da, Bạc già phạm ca, nhưng không nói rõ phần gia tộc phổ hệ, nên đặc biệt bổ túc cho sự thiếu sót ấy bằng phụ lục này. Có thuyết bảo sách này đã có ở khoảng thế kỉ thứ II vốn là các bài hát vè của riêng Cát lật sắt noa, về sau đời này qua đời hác cứ thêm thắt vào mãi, và nội dung dân ca du mục có tính thuần túy văn học chất phác, cũng dần dà được thêm vào sắc thái tôn giáo. Tuy nhiên, tính chất vẫn giống với La ma da na và rất khác với Phú lan na là tác phẩm rất giàu khí sắc tôn giáo. Bản san hành sớm nhất của sách này là vào đầu thế kỷ thứ 7, do một trăm mười tám chương, sáu nghìn không trăm bảy mươi ba kệ tổ thành. [X. P. L. Vaidya: The Harivaôza, for the first time critically edited, 2 vols, Poona 1969 – 1971 - M. Winternitz: A History of Indian Literature, vol.1].
Cát Lợi Chi Đan hay Thiết Chi Đan
(吉利支丹 hay 切支丹, Christão [tiếng Bồ Đào Nha]): ban đầu từ này được viết là Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹); nhưng sau khi Thiên Chúa Giáo bị cấm đoán thì được viết là Quỷ Lý Tử Đan (鬼理死丹) hay Thiết Tử Đan (切死丹), v.v. Hơn nữa, từ thời Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) trở đi, để tránh tên húy chữ “Cát (吉)” của ông, người ta viết thành Thiết Chi Đan (切支丹). Đây là tên gọi chỉ cho Thiên Chúa Giáo vốn do giáo sĩ Francisco de Zabiel truyền vào Nhật năm 1549 (Thiên Văn [天文] 18), hay tên gọi của tín đồ đạo ấy; còn được gọi là Tông Thiết Chi Đan (切支丹宗), Tông Nam Man (南蠻宗).
cát lợi đa vương
Vua Cát Lợi Đa, mà con cháu của ông sau nầy chống đối Phật giáo, bị Ca Nhị Sắc Già (Kaniska) lật đổ để hồi phục Phật giáo trong vương quốc, nhưng về sau nầy thì con cháu của dòng Cát Lợi Đa khôi phục ngai vàng và đuổi chư Tăng đi—King Krta of Kashmere, whose descendants were opposed to Buddhism; they were dethroned by Kaniska, who restored Buddhism; but later the royal regained the throne and drove out the Buddhist monks.
cát nhân
A good man.
cát nhĩ đan
(噶爾丹) Là ngôi chùa do Tôn khách ba, người sáng lập phái Cách lỗ của Phật giáo Tây tạng, kiến tạo. Chùa ở về mạn đông của Lạp tát (Lhasa) tại Tây tạng. Là nơi phát nguồn của Hoàng giáo. Trong năm Ung chính đời Thanh, nhà vua ban hiệu là chùa Vĩnh lạc, tục gọi là chùa Cam đan. (xt. Cam Đan Tự).
cát nhật lương thần
(吉日良辰) Ngày giờ tốt lành. Trung quốc, Ấn độ từ ngàn xưa đã có tục theo sự vận hành của các tinh tú để định ngày giờ lành dữ mà đoán các việc tốt xấu nên hư của người ta, bởi thế thông thường phần đông người ta hay chọn ngày lành giờ tốt để làm việc hòng được may mắn. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 617 hạ) nói: Phàm làm các việc pháp, đều phải khế hợp với nghĩa giờ. Phép chọn ngày chọn giờ làm việc phần nhiều do Mật giáo thực hành, chứ Hiển giáo thì không dùng, đức Phật đã cấm đoán rõ ràng, bảo rằng trong thực nghĩa chân đế, không nên có quan niệm lành dữ họa phúc, chỉ tùy phuơng tiện giáo hóa thế tục, nếu cần thì dùng, không cần thì bỏ. Kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 482 trung), nói: Trong giáo pháp của Như lai, không có chọn ngày lành, sao tốt. [X. kinh Tú diệu Q.thượng, Q.hạ - kinh Đại bảo tích Q.3 - luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Trạch Thời).
cát quả
The auspicious fruit.
; The auspicious fruit.
Cát Sức Bắc Trai
(葛飾北齋, Katsushika Hokusai, 1760-1849): nhà vẽ tranh Phù Thế, sống vào cuối thời Giang Hộ, sanh ra tại Giang Hộ (江戸, Edo), Tổ của Phái Cát Sức (葛飾). Ban đầu ông theo học với Thắng Xuyên Xuân Chương (勝川春章, Katsukawa Shunshō), lấy hiệu là Xuân Lãng (春朗); rồi thỉnh thoảng sau này ông đổi các hiệu khác như Tông Lý (宗理), Cuồng Họa Nhân (狂畫人), Đới Đẩu (戴斗), Vi Nhất (爲一), Vạn (卍), v.v., thông qua phong cách vẽ của ông. Ông còn học rất nhiều trường phái vẽ của phương Tây, và thành lập nên hình thức độc đáo có đặc sắc cấu thành táo bạo và sức miêu tả phi phàm. Ông còn để lại rất nhiều kiệt tác nổi tiếng về tranh phong cảnh, chim hoa, người đẹp, võ sĩ, v.v. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Phú Nhạc Tam Thập Lục Cảnh (富嶽三十六景).
cát thiên nữ
Mahàsri (S). The goddess of fortune and beauty.
cát thảo
The auspicious grass used at a religious ceremony.
cát triệu
Fortunate omen.
cát tín
Good news.
cát tường
Kośa (S), Kosajja (P)Câu xá, Tạng1- Cỏ cát tường (= Thượng mao, Hi sinh thảo); Cát Tường đồng tử; Cát tường thiên nữ 2- Câu xá: ban hàm, nhiếp trì, vật chứa, chỗ nương gá.
; Svastika (S). Good luck, prosperity. Also Vạn tự, chữ vạn.
; Auspicious—Great-fortune.
; (吉祥) Phạm: Zrì. Dịch âm: Thất lị, Sư lị, Thi lị, cũng gọi Cát dương. Dụng ngữ này thấy rải rác khắp các kinh điển, như Cát tường quả, Cát tường thảo v.v…... Cát tường quả là cái quả mà thần Quỉ tử mẫu dùng để xua đuổi ma tà. Cát tường thảo là dịch ý từ chữ Phạm: Kuza, là loại cỏ sinh ở nơi ẩm thấp, tương tự như cỏ bạch mao (cây hương bài). Cứ theo nói thì đức Thích tôn, khi thành đạo, đã ngồi trên cỏ cát tường, là do Đồng tử Cát tường cắt, rồi trải lên toà ngồi của đức Thích tôn. [X. Trung a hàm Q.54 kinh Trà đế - kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2, Q.3 - Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 - Đại nhật kinh sớ Q.7].(xt. Cát Tường Quả, Cát Tường Thảo).
cát tường bồ tát
Xem Đại Cát Tường Minh Bồ tát.
cát tường già đa
Xem Mạn thù thất lị Bồ tát.
cát tường hải vân
1) Điềm lành của mây và biển: The auspicious sea-cloud. 2) Dấu trên ngực của thần Visnu: Sri-vatsa (skt)—The breast mark of Visnu. 3) Phật Tâm Ấn: Svastika (skt)—Symbol on a Buddha's breast.
cát tường hối quá
(吉祥悔過) Còn gọi là Cát tường thiên hối quá pháp, Cát tường thiên nữ pháp, Cát tường hối quá pháp. Tức cứ hàng năm vào tháng giêng, lấy Cát tường thiên làm Bản tôn, tụng kinh Kim quang minh tối thắng vương để sám hối tội lỗi và cầu an giải hạn. Vào khoảng thế kỉ thứ VIII, Thiên hoàng của Nhật bản bắt đầu thi hành pháp hội này. chủ yếu là cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng kết quả.
cát tường hỷ kim cang tế sớ chân châu man
Śrīhevajra panjika muktikavali nāma (S).
cát tường kinh
(吉祥經) I. Cát tường kinh. Có một quyển. Do Chi khiêm đời Ngô dịch, còn gọi là Bát cát tường thần chú kinh, Bát cát tường kinh, Bát cát tường chú kinh, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung tường thuật việc đức Phật ở nước La duyệt kì núi Kì xà quật, cùng với chúng tỉ khưu và Bồ tát tập hội, trong hội đức Phật đã nói cho ngài Xá lợi phất và đại chúng nghe về công đức thụ trì danh hiệu của tám đức Phật ở phương Đông và tám Cát tường thần chú. Về sự phiên dịch kinh này, cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 12, có tất cả năm bản dịch, mà hiện chỉ còn bốn, đều thu trong Đại chính tạng tập 14, còn một thì thiếu. Trong đó, bản dịch thứ nhất, tức Bát cát tường thần chú kinh, nói ở trên, 1 quyển, là do Chi khiêm đời Tam quốc Ngô dịch - bản thứ hai là Bát dương thần chú kinh 1 quyển, do Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch - bản thứ ba Bát cát tường kinh 1 quyển, hiện thiếu, là do Cầu na bạt đà la đời Tống dịch - bản thứ tư Bát cát tường kinh do Tăng già bà la đời Nam triều Lương dịch - bản thứ năm Bát phật danh hiệu kinh 1 quyển, do Xà na quật đa đời Tùy dịch. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5 - Đại đường nội điển lục Q.2 - Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. II. Cát tường kinh, gồm mười hai bài tụng. Do Hoàng để lạp lị lị (tên dịch âm Pàli) dịch vào năm Dân quốc 24 (1935), đăng trên Nhật báo Phật giáo ngày 22 tháng 9. Kinh này là kinh Tiểu tụng (Khuddaka Pàỉha) trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka NikàyaI) thuộc tạng kinh Pàli. Nội dung kể việc đức Phật ở nước Xá vệ, trong vườn Kì thụ Cấp cô độc, đáp lời thỉnh cầu của một người trời mà nói về lí giữ giới tu điều lành có thể được đại cát tường. Trong bài Cát tường kinh đích thấu thị (nhìn suốt qua kinh Cát tường) của nhà học giả Pháp chu hiện đại, có nêu lên rằng, phẩm Cát tường thứ 39 trong kinh Pháp cú thu vào Đại chính tạng tập thứ 4, là dịch từ Tiểu bộ kinh, đồng thời như đã nói ở trên, kinh này là kinh Tiểu tụng thuộc Tiểu bộ kinh, cho nên suy luận là phẩm Cát tường đã lấy từ kinh Cát tường trong kinh Tiểu tụng. Ngoài ra trong bài văn của mình, Pháp chu còn in cả nguyên văn Pàli của kinh này, rồi đem so sánh đối chiếu bản dịch với nguyên bản mà chỉ ra những điểm khác nhau giữa hai bản.
cát tường mao quốc
Kusagrapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Tự Điển của Giáo Sư Soothill, đây là nơi trú ngụ của các vua tại xứ Ma Kiệt Đà, bao bọc bởi núi non, khoảng 14 dậm về phía nam của Behar. Nó bị bỏ phế từ khi vua Bình Sa Vương xây thành Vương Xá mới, khoảng 6 dậm xa hơn về phía tây—According to Eitel, this is an ancient residence of the kings of Magadha, surrounded by mountains, about 14 miles south of Behar. It was deserted under King Bimbisara, who built new Radjagriha, about 6 miles farther to the west.
cát tường phật đảnh cái thành tựu pháp
Śrī-buddhakalpala-sadhana (S).
cát tường quán tự tại bồ tát
Xem Đại Cát Tường Minh Bồ tát.
cát tường quả
Quả Cát Tường, quả lựu, cầm trên tay của Quỷ Tử Mẫu, như sự ban bố trẻ con—The auspicious fruit, a pomegranate, held by Hariti as a bestower of children.
; (吉祥果) Tức quả thạch lựu. Là quả vật mà thần Quỉ tử mẫu cầm trong bàn tay trái. Vì quả này có khả năng phá trừ ma chướng, cho nên gọi là quả cát tường. Cứ theo kinh Ha lị đế mẫu chân ngôn chép, thì thần Quỉ tử mẫu tay trái ôm một đứa bé nơi bụng, còn tay phải thì cầm quả cát tường. Truyện này hoặc do thuyết thần Quỉ tử mẫu đến thành Vương xá xin con của người khác, sau đó để lại quả cát tường thay thế cho đứa con mà ra, hoặc do thuyết một quả cát tường có năm trăm hột để tượng trưng việc thần Quỉ tử mẫu lấy Bán chi ca dược xoa, đẻ được năm trăm người con mà ra. Quả cát tường còn được gọi là cây quỉ sợ, là vật tương ứng với trừ tà - hoa thì ít, quả thì nhiều, biểu thị ý nhân hành nhỏ mà được quả lớn. Ngoài ra cũng có thuyết bảo quả cát tường là quả Câu duyên.
cát tường thiên
Mahāśrī (S), Śrī-mahādevī (S)Bảo Tạng thiên nữ, Đệ Nhứt Oai đức thành tựu Chúng sự Đại công thiênTên một vị thiên.
; (吉祥天) Phạm: Zrì-mahà-devì. Dịch âm: Thất lị ma ha đề tì. Là thần nữ ban phát phúc đức. còn gọi là Ma ha thất lị, Thất rị thiên nữ, Cát tường thiên nữ, Cát tường công đức thiên, Bảo tạng thiên nữ, Đệ nhất uy đức thành tựu chúng sự đại công đức thiên. Vốn là thần trong thần thoại Ấn độ , là vợ của trời Na la diên, là mẹ của thần Ái dục (Phạm: Kàma), sau cùng với các thần Đế thích, Ma hê thủ la, Tì thấp nô, gộp lại được Phật giáo thừa nhận, trở thành các thiện thần hộ pháp của Phật giáo. Cứ theo truyền thuyết thời kỳ đầu của Phật giáo Ấn độ, thì thần này là vợ của trời Tì sa môn, cha là Đức xoa ca, mẹ là thần Quỉ tử mẫu. Các tên gọi khác của thần này thì rất nhiều, kinh Cát tường thiên nữ thập nhị danh hiệu, liệt kê mười hai tên, kinh Đại cát tường thiên nữ thập nhị khế nhất bách bát danh vô cấu Đại thừa thì đưa ra một trăm linh tám thứ danh xưng. Ngoài ra, còn có các tên khác như Lạc khất sử minh (Phạm: Lakzmì), Đại hải sinh (Phạm: Jaladhi-jà) v.v…... Về hình tượng của thần này, trong các kinh điển nói không giống nhau, thông thường phần nhiều tay trái cầm ngọc như ý, tay phải kết ấn Thí vô úy. Tại Ấn độ thì có tượng bốn tay, tám tay. Chủng tử là … (zrì) , hình Tam ma da là Như ý bảo châu, bài chú nhỏ phần nhiều dùng Án, ma ha thất lị duệ sa ha, cũng có khi dùng A lạc thất sắt nhĩ nẵng xả dã. Pháp lấy thần này làm Bản tôn mà tu để sám hối tội lỗi, thì gọi là Cát tường thiên nữ pháp, Cát tường hối quá pháp - Mạn đồ la dùng để tu pháp này, gọi là Cát tường thiên mạn đồ la. Ngoài ra khi tu pháp này, niệm chân ngôn của Tùy cầu bồ tát, có thể tiêu trừ Hắc ám thiên nữ thường theo thần này để gây tai họa. Hắc ám thiên nữ là em gái của Cát tường thiên nữ, thường theo chị đến nơi nào cũng gây tai họa cho người ta, hai chị em cứ theo nhau ban phúc giáng họa, biểu thị nghĩa phúc họa theo nhau. Tín ngưỡng Cát tường thiên nữ đã có từ xưa, tại Nhật bản cũng rất được tôn thờ, sau vì sự tôn thờ Biện tài thiên nữ là nữ thần phúc đức, tăng ích, thịnh hành, nên tín ngưỡng Cát tường thiên nữ dần dần phai nhạt. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.57 - kinh Kim quang minh Q.2 phẩm Công đức thiên - kinh Đà la ni tập Q.10 Công đức thiên pháp - kinh Tô tất địa yết la Q.trung - kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.11 - kinh Đại tùy cầu đà la ni Q.thượng - kinh Tì sa môn thiên vương - Bảo tạng thiên nữ đà la ni pháp].
cát tường thiên nữ
Laksmi (skt)—Công Đức Thiên—Cát Tường Thiên Nữ, vị nữ thần của sự may mắn và sắc đẹp. Vị nầy trồi lên từ biển với hoa sen trên tay. Có sự hiểu lầm giữa Cát Tường Thiên Nữ và Quán Thế Âm, có lẽ từ ý tưởng Laksmi của Ấn Giáo—The goddess of fortune and beauty. She sprang from the ocean with a lotus in her hand. There is some confusion between this goddess and Kuan-Yin, possibly through the attribution of Hindu ideas of Laksmi to Kuan-Yin.
cát tường thảo
Kusa (skt)—Thượng Mao—Cỏ Cát Tường, tiếng Phạn gọi là Cô-Sa, tiếng Hán là Thượng Mao, được dùng trong các buổi lễ hay nghi thức tôn giáo—Auspicious grass used at religious ceremonials.
; (吉祥草) Phạm: Kuza. Dịch âm là Củ thi, Câu thư, Cô xa. Dịch ý là Thượng mao, Hương mao, Cát tường mao, Lữu thảo, Hi sinh thảo. Nói tắt là Tường thảo. Cỏ này sinh ở chỗ ẩm ướt, hoặc mọc dưới ruộng nước, hình dáng giống như cỏ tranh, dài độ hơn sáu mươi phân. Cứ theo các kinh điển chép, thì khi đức Thích tôn thành đạo dưới cây Bồ đề, ngài đã ngồi trên cỏ này, do đồng tử Cát tường cắt và trải trên toà ngồi của đức Thích tôn. Ấn độ từ xưa đến nay vẫn coi loại cỏ này là thần thánh là điềm lành, trong các buổi tế lễ, thường được dệt kết thành chiếu để đặt các vật cúng lễ lên trên. Ngoài ra những nhà tu hành cũng đem trải ở những nơi vắng vẻ yên tịnh, hoặc trong phòng sạch sẽ, để làm đồ ngồi, nằm. Về sự lợi ích của cỏ Cát tường thì, cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 19 nói, vì cỏ này đức Thích tôn ngồi trên khi thành đạo, cho nên khi những người tu hành trải cỏ này mà ngồi thì chướng ngại không phát sinh, các trùng độc không đến được, vả lại chất cỏ rất thơm sạch. Tuy nhiên, cỏ này sắc như dao, rất dễ gây thương tích cho thân thể, nếu người tu hành không thận trọng, không chú tâm thì sẽ bị cỏ làm thương tổn, cho nên nhờ thế mà biết tự chế, trừ khử tâm phóng túng. [X. kinh Tu hành bản khởi Q.hạ - kinh Phật bản hạnh tập Q.26 - kinh Vô lượng thọ Q.thượng - kinh Bất không quyên sách đà la ni - Thích thị yếu lãm Q.hạ].
cát tường thần chúng
(吉祥神衆) Đối lại với Quá hoạn thần chúng..... ...... Chỉ thần chúng có các tướng tốt lành - cũng tức là chỉ quyến thuộc thanh tịnh. Quá hoạn thần chúng thì chỉ các thần chúng có tội lỗi, tai họa - cũng tức là chỉ quyến thuộc xấu ác. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 2 chép, thì thần vương Cưu na da ở trên núi Kim cương, có khả năng sinh ra các thần chúng tốt lành, cũng như nhất tâm chân như hay sinh ra các pháp thanh tịnh không nhơ nhuốm - lại như thần Già tì khư la ở trong bể lớn, có khả năng sinh ra thần chúng cát tường, thần chúng quá hoạn, ví như nhất tâm sinh diệt, hay sinh ra hết thảy các pháp trong trắng, ô nhiễm. Hai thí dụ trên giải thích ý tâm chân như môn chỉ sinh ra các pháp chân như thanh tịnh, còn tâm sinh diệt môn thì sinh cả hai pháp nhiễm và tịnh. Các pháp do hai môn sinh ra tuy có khác nhau, nhưng về pháp thể thì là đồng nhất, chỉ do công năng bất đồng mà có tên khác nhau.
cát tường toạ
(吉祥坐) Một trong các phép ngồi. Có ba thứ: 1. Có xuất xứ từ kinh Bất không quyên sách quyển 2, tức trước hết, chân trái đặt lên bắp vế chân phải, sau chân phải đặt lên bắp vế chân trái, hai chân tréo nhau, hai tay để lên chỗ hai chân giao nhau, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái, cách ngồi này gọi là Toàn già tọa . 2. Cứ theo Bất tư nghị sớ quyển hạ chép, thì chân phải đặt lên đùi chân trái, cách này gọi là Bán già tọa . 3. Cứ theo kinh Chuẩn đề đà la ni chép, Cát Tường Thiên Bán già tọa Toàn già tọa thì ngồi soạc hai chân, là phép ngồi tương ứng với phép trừ tai. Hành giả mặt quay về phương bắc, lấy chân phải đạp lên chân trái, tướng ngồi giống như hình cái sàng. [X. kinh Đại nhật Q.7 phẩm Trì tụng pháp tắc - Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ - Cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ].
cát tường vân
Xem Công đức Vân tỳ kheo.
Cát tường 吉祥
[ja] キチジョウ kichijō ||| (1) Good, auspicious, promising (dhanya). (2) śrī -- an Indian title of respect. (3) The name of a bodhisattva. => 1. Tốt lành, có điềm tốt lành, nhiều triển vọng (dhanya). 2. śrī--một tước hiệu của Ấn Độ. 3. Tên của một vị Bồ-tát.
Cát Tạng
(吉藏, Kichizō, 549-623): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, người vùng Kim Lăng (金陵), họ An (安), tên Thế (貰), tổ tiên ông người An Tức (安息, dân tộc Hồ), sau dời đến Kim Lăng, cho nên ông được gọi là An Cát Tạng (安吉藏), Hồ Cát Tạng (胡吉藏). Năm lên 3, 4 tuổi, ông theo cha đến yết kiến Chơn Đế (眞諦), nhân đó Chơn Đế đặt cho ông tên là Cát Tạng. Sau cha ông xuất gia, có pháp danh Đạo Lượng (道諒). Ông thường theo cha đến Hưng Hoàng Tự (興皇寺) nghe Pháp Lãng (法朗) giảng thuyết về Tam Luận (三論), và năm lên 7 tuổi (có thuyết cho là 13 tuổi) ông theo vị này xuống tóc xuất gia. Pháp Lãng là người truyền thừa giáo học Tam Luận của hệ thống Cưu Ma La Thập (鳩摩羅什), cho nên ông thường học tập Trung Luận (中論), Bách Luận (百論) và Thập Nhị Môn Luận (十二門論). Năm 19 tuổi, lần đầu tiên ông đăng đàn thuyết pháp, rồi năm 21 tuổi thọ Cụ Túc giới, danh tiếng ngày càng cao. Vào năm đầu (581) niên hiệu Khai Hoàng (開皇) nhà Tùy, lúc ông 32 tuổi, Pháp Lãng qua đời, ông bèn vân du về phía Đông đến Gia Tường Tự (嘉祥寺) thuộc vùng Cối Kê (會稽), Triết Giang (浙江), lưu lại nơi đây chuyên tâm thuyết giảng và trước tác, người đến học đạo lên đến hơn ngàn người. Bên cạnh đó, ông còn viết chú sớ cho các thư tịch Tam Luận, phần nhiều đều được hoàn thành ở chùa này, cho nên hậu thế gọi ông là Gia Tường Đại Sư (嘉祥大師). Ngoài việc hình thành hệ thống Tam Luận Tông, ông còn tinh thông cả các kinh Đại Thừa như Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v. Vào tháng 8 năm thứ 17 niên hiệu Khai Hoàng (開皇), ông gởi thư mời Thiên Thai Trí Khải Đại Sư (天台智顗大師) đến tuyên giảng giáo nghĩa Pháp Hoa. Vào năm thứ 2 (606, có thuyết cho là năm thứ 2 [602] niên hiệu Nhân Thọ [仁壽], hay năm cuối [616] niên hiệu Đại Nghiệp [大業]) niên hiệu Đại Nghiệp (大業), vua Dương Đế (煬帝) hạ chiếu mở 4 đạo tràng, ông phụng sắc chỉ đến trú tại Huệ Nhật Đạo Tràng (慧日道塲) ở Dương Châu (揚州) vùng Giang Tô (江蘇). Chính bộ Tam Luận Huyền Nghĩa (三論玄義) tương truyền do ông trước tác được hoàn thành trong khoảng thời gian này. Sau đó, ông chuyển đến Nhật Nghiêm Tự (日嚴寺) ở Trường An (長安), hoằng đạo vùng Trung Nguyên. Ngoài ra, ông còn đi khắp các nơi diễn giảng kinh để hoằng dương Tam Luận Tông, cho nên ông được xem như là vị tổ tái hưng của tông phái này. Ông đã từng biện luận với Tăng Sán (僧粲), vị luận sư nổi tiếng đương thời, ứng đáp trôi chảy, cả hai bên trãi qua hơn 40 lần đối đáp như vậy, cuối cùng ông thắng cuộc. Từ năm đầu (605) niên hiệu Đại Nghiệp (大業) cho đến cuối đời nhà Tùy (617), ông sao chép 2.000 bộ Kinh Pháp Hoa, tạo 25 tôn tượng, chí thành lễ sám. Vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức (武德) nhà Đường, tại Trường An vua Cao Tổ tuyển chọn ra 10 vị cao tăng đức độ để thống lãnh tăng chúng, ông được chọn vào trong số đó. Thêm vào đó, đáp ứng lời thỉnh cầu của 2 chùa Ứng Thật (應實) và Định Thủy (定水), ông đến làm trú trì, nhưng sau dời về Diên Hưng Tự (延興寺). Đến tháng 5 năm thứ 6 niên hiệu Võ Đức (武德), trước khi mạng chung, ông tắm rửa sạch sẽ, đốt hương niệm Phật, viết cuốn Tử Bất Bố Luận (死不怖論, Luận Không Sợ Chết) xong mới an nhiên thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Bình sanh ông giảng thuyết Tam Luận (三論) hơn 100 lần, Pháp Hoa Kinh (法華經) hơn 300 lần, Đại Phẩm Kinh (大品經), Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Duy Ma Kinh (維摩經), Đại Trí Độ Luận (大智度論), v.v., mỗi loại khoảng 10 lần. Môn hạ của ông có những nhân vật kiệt xuất như Huệ Lãng (慧朗), Huệ Quán (慧灌), Trí Khải (智凱), v.v. Trước tác của ông cũng rất phong phú như Trung Quán Luận Sớ (中觀論疏), Thập Nhị Môn Luận Sớ (十二門論疏), Bách Luận Sớ (百論疏), Tam Luận Huyền Nghĩa (三論玄義), Đại Thừa Huyền Luận (大乘玄義), Pháp Hoa Huyền Luận (法華玄論), Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏), v.v. Ngoài ra, ông còn có một số sách chú thích cũng như lược luận của các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Niết Bàn, Thắng Man, Đại Phẩm, Kim Quang Minh, Duy Ma, Nhân Vương, Vô Lượng Thọ, v.v.
; 吉藏; C: jízàng; J: kichizō; cũng được gọi là Gia Tường Ðại sư Cát Tạng, 549-623;|Một trong những danh nhân của Tam luận tông (三論宗) và là đệ tử giỏi nhất của Pháp Lãng. Sư viết nhiều bài luận nổi tiếng về ba bài luận (tam luận) căn bản của tông này, đó là Trung quán luận (s: madhyamaka-śāstra), Thập nhị môn luận (s: dvādaśadvā-ra-śāstra) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Bách luận (s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (s: āryadeva). Sư cũng viết nhiều bài luận về những bộ kinh Ðại thừa, một luận nói về lí thuyết Tam luận tông (Tam luận huyền nghĩa 三論玄義). Sư được xem là người đã đưa giáo lí Tam luận tông đến tuyệt đỉnh. Lúc còn trú tại chùa Gia Tường (嘉祥寺), sư thường được gọi là Đại Sư Gia Tường.|Sư người gốc An Tức (parthie) và một thời gian ngắn sau khi Sư ra đời (549 ở Nam Kinh) thì cha của Sư xuất gia học đạo. Năm bảy tuổi Sư vào một chùa thuộc về Tam luận tông và bắt đần học hỏi những kinh luận của Trung quán tông. Vì tình thế chính trị lúc đó căng thẳng nên Sư phải lánh về phía Nam Trung Quốc và trong thời gian viễn li này Sư viết những bộ luận tuyệt hảo đã nêu trên. Lí luận của Sư về »hai chân lí« (Nhị đế; s: satyadvaya) rất quan trọng và được chia làm ba cấp:|Chân lí tương đối (Thế tục đế; s: saṃvṛti-satya): 1. Chấp Hữu, cho rằng tất cả đều có; 2. Chấp hữu hoặc chấp vô; 3. Chấp hoặc không chấp cả hữu lẫn vô.|Chân lí tuyệt đối (Chân đế; s: paramārtha-satya): 1. Chấp vô, cho rằng tất cả là không; 2. Không chấp cả hữu lẫn vô; 3. Không chấp và cũng không không chấp cả hữu lẫn vô.|Từ lí thuyết này Sư đạt được (qua nhiều phủ nhận) một giai cấp, nơi cả hữu lẫn vô đều có ý nghĩa. Ðây chính là mức độ cao nhất của Trung đạo (s: madhyamā-pratipadā).|Tiếng tăm lừng lẫy của Sư vang đến Vương triều và vì vậy Sư được Vua thỉnh về Trường An truyền pháp. Người theo học pháp với Sư có lúc lên đến hàng vạn. Vì sự đóng góp phát triển Phật giáo Trung Quốc quá lớn nên đời sau xếp Sư vào mười vị Ðại sư đời Hậu tuỳ (618-626).
cát tạng
Chi-tsang (C)Một học giả Tam luận tông.
; (吉藏) (549-623) Vị tăng đời Tùy, người Kim lăng, họ An, tên Thế. Tổ tiên là người nước An tức (tộc Hồ), sau dời đến Kim lăng, vì thế còn gọi là An cát tạng, Hồ cát tạng. Lúc ba, bốn tuổi, sư theo thân phụ đến yết kiến ngài Chân đế, Chân đế đặt tên cho sư là Cát tạng. Về sau, thân phụ xuất gia, pháp hiệu là Đạo lượng. Sư thường theo thân phụ đến chùa Hưng hoàng nghe ngài Pháp lãng giảng Tam luận, lúc bảy tuổi (có thuyết nói mười ba tuổi) theo ngài Pháp lãng xuống tóc xuất gia. Pháp lãng là người kế thừa hệ thống giáo học Tam luận của ngài Cưu ma la thập, cho nên sư chuyên học tập ba bộ Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận. Mười chín tuổi, sư bắt đầu giảng kinh, tiếng tăm truyền rộng, hai mươi mốt tuổi thụ giới Cụ túc, thanh danh nổi như cồn. Niên hiệu Khai hoàng (581) đời Tùy, sư được ba mươi hai tuổi, gặp lúc ngài Pháp lãng thị tịch, sư bèn đông du đến chùa Gia tường ở huyện Cối kê tỉnh Triết giang, chuyên tâm giảng diễn và viết sách, những người đến hỏi đạo tới hơn nghìn, giảng trường rất thịnh - lại các bộ sách chú sớ Tam luận, cũng phần nhiều được hoàn thành tại ngôi chùa này, bởi vậy, đời sau gọi sư là Gia tường đại sư. Ngoài việc tập đại thành tông Tam luận ra, sư còn tinh thông các kinh Đại thừa như Pháp hoa, Niết bàn v.v...… Tháng 8 năm Khai hoàng 17, sư viết thư thỉnh cầu Đại sư Trí khải tuyên giảng kinh Pháp hoa. Năm Đại nghiệp thứ 2 (606, có thuyết nói năm Nhân thọ thứ 2 hoặc Khai hoàng năm cuối), Dạng đế nhà Tùy xuống chiếu chỉ mở bốn đạo tràng, sư vâng mệnh vua ở đạo tràng Tuệ nhật tại Dương châu tỉnh Giang tô, cứ theo truyền thuyết thì sư đã hoàn thành tác phẩm Tam luận huyền nghĩa vào thời gian này - sau dời đến ở chùa Nhật nghiêm tại Trường an, chấn hưng đạo pháp miền Trung nguyên. Ngoài ra, sư đi các nơi giảng kinh nhằm mở rộng tông Tam luận, cho nên đời gọi sư là tổ tái hưng tông Tam luận. Sư đã từng biện luận với Tam quốc luận sư Tăng xán nổi tiếng đương thời, sư ứng đối thao thao như dòng nước, đôi bên cật vấn qua lại đến hơn bốn mươi lần, cuối cùng sư đã dành phần thắng, thanh danh lừng lẫy một thời. Từ đầu năm Đại nghiệp đến cuối đời Tùy, sư chép hơn hai nghìn bộ kinh Pháp hoa, và tạo hai mươi lăm pho tượng, chí thành lễ sám, ngồi đối diện tượng bồ tát Phổ hiền mà quán lý thực tướng. Niên hiệu Vũ đức năm đầu (618) đời Đường, Cao tổ chọn mười bậc đại đức ở Trường an để thống lĩnh chúng tăng, sư là một trong số đó. Ngoài ra, đáp lời thỉnh cầu của hai chùa Thực tế và Định thủy, sư kiêm cả việc trông nom hai chùa ấy. Sau dời về ở chùa Diên hưng. Tháng 5 năm Vũ đức thứ 6, lúc mệnh chung, sư tắm rửa sạch sẽ, thắp hương niệm Phật, viết Tử bất bố luận (luận chết chẳng sợ) rồi nhập tịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. Sắc ban an táng tại núi Nam sơn, phía bắc chùa Chí tướng. Bình sinh, sư giảng Tam luận hơn một trăm lượt, kinh Pháp hoa hơn ba trăm lượt, kinh Đại phẩm, kinh Hoa nghiêm, kinh Duy ma, luận Đại trí độ v.v...… mỗi bộ vài mươi lượt. Học trò tuấn tú rất nhiều, nổi tiếng hơn cả thì có Tuệ lãng, Tuệ quán và Trí khải. Trước tác của sư thì thật là phong phú: Trung quán luận sớ, Thập nhị môn luận sớ, Bách luận sớ, Tam luận huyền nghĩa, Đại thừa huyền nghĩa, Pháp hoa huyền luận, Pháp hoa nghĩa sớ v.v…... cùng các sách chú thích và lược luận, như Pháp hoa, Niết bàn, Thắng man, Đại phẩm, Kim quang minh, Duy ma, Nhân vương, Vô lượng thọ v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.11 - Phật tổ thống kỷ Q.10 - Thích thị kê cổ lược Q.2 - Tam đại bộ bổ chú Q.1 - Tịnh danh huyền luận lược thuật Q.1 - Trung luận sớ kí Q.1].
Cát Tạng 吉藏
[ja] キツゾウ Kichizō ||| Jizang (549-623) A Sanlun master, whose parents came from Parthia. He became a novice under Daolang 道朗 at the age of seven, and as he grew up, he became renowned for his extensive learning, especially concerning the Mādhyamika 中觀派 school. He lectured on Mādhyamika scriptures and wrote commentaries on them, thus consolidating the foundations of the Sanlun sect 三論宗. As he lived for some time at Jiaxiang Temple 嘉祥寺, he was popularly called the 'Great Master Jiaxiang.' His Sanlun xuanyi 三論玄義 ('Essentials of the Three Treatises'), one fascicle, is a useful compendium of the Sanlun doctrine. He also wrote three commentaries on the Lotus Sutra. => c: Jizang (549-623). Một luận sư của Tam luận tông, cha mẹ sư người nước An Tức (安息 Parthia). Lên bảy tuổi, Sư xuất gia hành điệu với ngài Đạo Lãng 道朗. Đến khi trưởng thành, sư nổi tiếng học rộng, đặc biệt về Trung quán tông. Sư giảng thuyết và viết luận giải về kinh điển Đại thừa, cũng như củng cố sự hợp nhất của Tam luận tông 三論宗. Khi sư trú ở chùa Gia Tường, sư thường được gọi là Đại Sư Gia Tường. Sư có trứ tác Tam luận huyền nghĩa 三論玄義 , một quyển, là một bản toát yếu về giáo lý Tam luận. Sư còn viết ba luận giải về Kinh Pháp Hoa.
cát đoạn
Cắt đứt đoạn—To cut off.
Cát đằng
葛藤; J: kattō; nghĩa là »dây leo« (chằng chòt), thường được dịch là dây »bìm bìm«, »sắn bìm«;|Một danh từ thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ việc lạm dụng ngôn ngữ văn tự để trình bày, giải thích Phật pháp. Danh từ »Cát đằng thiền« (kattō-zen) cũng thường được sử dụng để chỉ sự chấp trước, quá chú tâm vào văn tự được ghi trong kinh sách thay vì cố gắng tìm hiểu tu tập để trực nhận được chân lí được diễn bày trong nó.
cát đằng
Koteng (S)Tên một vị sư.
; Kattō (J).
; 1) Dây leo, sắn dây, ví với phiền não: Creepers, trailers, clinging vines, etc, i.e. the afflicting passions. 2) Những người hay gây sự: Troublesome people. 3) Những từ dùng trong nhà Thiền: Talk (words so use by the Intuitional School).
; (葛藤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ văn tự, ngữ ngôn cũng giống như dây bìm dây sắn (cát đằng) bò lan chằng chịt, vốn được dùng để giải thích, thuyết minh sự tướng, nhưng trái lại, lại bị chúng vấn vít trói buộc. Ngoài ra còn chỉ câu nói khó hiểu trong công án, phải gạn hỏi nhiều lần. Những câu nói đùa giỡn vô dụng gọi là Nhàn cát đằng........, Thiền bám chặt vào văn tự ngữ ngôn mà không nắm bắt được thực nghĩa, gọi là Văn tự Thiền, hoặc Cát đằng Thiền. Bích nham lục tắc 31 (Đại 48, 171 trung), nói: Người xưa bìm sắn (cát đằng), hãy nói thử xem!. Ngoài ra, trong kinh Xuất diệu quyển 3, phiền não còn được ví dụ như cát đằng. [X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.6 Lục châu hoà thượng ngữ lục - Chính pháp nhãn tạng Cát đằng chương].
Cát đằng 葛藤
[ja] カットウ kattō ||| Arrowroot vines and wisteria vines. A metaphor for entanglement and confusion. => Dây sắn và dây bìm. Dụ cho sự vướng mắc và rối loạn.
Cát-mã Ca-nhĩ-cư phái
葛嗎迦爾居派; T: karma-kagyu [kar-ma bKa'bgyud]; hoặc Cát-mã phái;|Một phái thuộc tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa [bKa'-brgyud-pa]), phái được đưa vào Tây Tạng trong thế kỉ thứ 12, do Cầu-tùng Khẳng-ba (dusum khyenpa, Cát-mã-ba thứ nhất) sáng lập. Giáo pháp của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư rất gần với dòng tái sinh Cát-mã-ba (t: karmapa).|Tên gọi của dòng này có ý nghĩa huyền bí: Ca-nhĩ (kagyu) là một vương miện kết bằng tóc của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và Cát-mã (t, s: karma) được xem là toàn bộ thiện nghiệp của chư Phật. Giáo lí của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư hiện được truyền bá nhiều tại Tây phương.|Cát-mã-ba thứ nhất (1110-1193) thành lập ba tu viện lớn cho tông phái này và sống tại Tsurphu. Với Cát-mã-ba thứ hai (1204-1283), ảnh hưởng của của phái Cát-mã-ba lớn mạnh đến Mông Cổ. Cát-mã-ba thứ ba (1284-1339) viết một số tác phẩm quan trọng cho tông phái mình và là người tổng hoà giáo lí của Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Ðại cứu kính (t: dzogchen). Cát-mã-ba thứ năm (1384-1415) là giáo thụ của đại đế Trung Quốc và là người nhận được vương miện đen của nhà vua. Cát-mã-ba thứ tám (1507-1554) là tác giả xuất sắc trên mọi lĩnh vực của triết lí Phật giáo. Cát-mã-ba thứ chín (1556-1603) là người viết nhiều tác phẩm hướng dẫn thực hành thiền định (xem tài liệu tham khảo cuối sách). Cát-mã-ba thứ 16 (1924-1982) là người đã giữ và bảo vệ được truyền thống giáo phái, đã sống và giáo hoá tại Sikkim/Ấn Ðộ.|Dòng Cát-mã-ba được sự hỗ trợ của ba dòng Chu-cô (t: tulku) là Ha-mã Chu-cô (t: shamar-tulku), Thư-đố Chu-cô (t: situ-tulku) và Gyalashab-Tulku. Một Ðại sư nổi tiếng của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư trong thế kỉ 19 là Jam-gon Kong-trul với những kiệt tác bao gồm mọi lĩnh vực Phật giáo.
Cát-mã-ba
葛嗎波; T: karmapa; cũng được dịch là Hạt-mã-la, Hạt-mã-ba, có thể hiểu là »Người hành động theo Phật«;|Tên của một dòng cao tăng lĩnh đạo Cát-mã Ca-nhĩ-cư phái và là dòng tái sinh (Chu-cơ; t: tulku) lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền sự hiện diện của dòng cao tăng này đã được Phật Thích-ca cũng như Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) tiên đoán trước. Tới nay đã có 16 lần tái sinh của dòng Cát-mã-ba, được xem là những vị »tái sinh vì lợi ích của chúng sinh.« Kể từ thế kỉ 15, mỗi vị được xác nhận là tái sinh kế thừa được mang một vương miện màu đen trong một buổi lễ đặc biệt. Vương miện đó được xem là hiện thân của đức Quán Thế Âm.|Lịch sử cho thấy các vị Cát-mã-ba tái sinh dưới nhiều dạng khác nhau, làm bậc trí thức, tu khổ hạnh, nhà nghệ thuật, người làm thơ. Mục đích quan trọng nhất của dòng tái sinh Cát-mã-ba là giữ Kim cương thừa (s: vajrayāna) được lưu hành. |Các vị Cát-mã-ba có tên như sau: 1. Cát-mã-ba Cầu-tùng Khẳng-ba (karmapa dusum khyenpa, 1110-1193); 2. Cát-mã-ba Cát-mã Ba-hi (karma pakshi, 1204-1283); 3. Cát-mã-ba Lãng-tuấn Ða-kiệt (rangjung dorje, 1284-1339); 4. Cát-mã-ba La-bồi Ða-kiệt (rolpe dorje, 1340-1383); 5. Cát-mã-ba Ðức-hân Hỉ-ba (deshin shegpa, 1384-1415); 6. Cát-mã-ba Thắng-ngỏa Ðông-đốn (tongwa donden, 1416-1453); 7. Cát-mã-ba Thu-trác Kiết-thố (chodrag gyatsho, 1454-1506); 8. Cát-mã-ba Mễ-khước Ða-kiệt (mikyo dorje, 1507-1554); 9. Cát-mã-ba Uông-thu Ða-kiệt (wangchuk dorje, 1556-1603); 10. Cát-mã-ba Xác-ánh Ða-kiệt (choying dorje, 1604-1674); 11. Cát-mã-ba Da-hi Ða-kiệt (yeshe dorje, 1676-1702); 12. Cát-mã-ba Cường-thu Ða-kiệt (changchub dorje, 1703-1732); 13. Cát-mã-ba Ðô-đoạt Ða-kiệt (dudul dorje, 1733-1797); 14. Cát-mã-ba Ðức-xác Ða-kiệt (thegchog dorje, 1798-1868); 15. Cát-mã-ba Tạp-nhã Ða-kiệt (khakh yab dorje, 1871-1922); 16. Cát-mã-ba Lãng-tuấn Lôi-tỉ Ða-kiệt (rangjung rigpe dorje, 1924-1982).|Hiện nay có một thiếu niên sinh năm 1985 được xem là Cát-mã-ba thứ 17 đang sống tại Tây Tạng.
cáu
Dirt.
cáu kỉnh
Angry.
cáu tiết
Furious.
câm
Dumb.
câm họng
To shut up—To hold one's tongue.
câm đi
Be quiet!
câm điếc
Dumb and deaf.
cân
1) Cái rìu—An adze. 2) Một cân Tàu (one and one-third pounds).
cân nhắc
To consider carefully—To deliberate.
cân nhắc lợi hại
To weigh the pros and cons.
Câu
倶; C: jù; J: ku;|Có các nghĩa sau: 1. Cùng với… (s: sardham, sahita); 2. Cả hai, hai cái cùng nhau (s: ubhaya); 3. Gắn bó cùng nhau (s: samyuta); 4. Tạo ra cùng với nhau, cùng nhau sinh ra; 5. Đồng thời.
câu
Seize, take, arrest.
; 1) Cái móc—A hook—A barb. 2) Bắt bớ: To seize—To arrest—To take. 3) Mọi: Every.
; (鈳) Phạm: Aíkuza. Còn gọi là Thiết câu (cái móc sắt) - Câu thi thiết câu. Với cái Tượng Đức Phật (tạc vào thời Vương Triều Cấp Đa) Chùy (cái dùi nhọn) đều là đồ bằng sắt để điều khiển voi. Chẳng hạn như Trường a hàm quyển 10 kinh Thích đề hoàn nhân vấn (Đại 1, 63 thượng), nói: Như con voi bị móc sắt mà vẫn không chịu phục. Trung a hàm quyển 35 kinh Toán thuật mục kiền liên (Đại 1, 652 thượng), nói: Người điều khiển con voi ấy, dần dần cũng điều phục được nó, là nhờ cái móc sắt. Ngoài ra, móc sắt còn là một pháp khí của Mật tông. Mật tông giải thích chữ Câu (móc) nghĩa là phổ tập, triệu tập, mà đặt nó vào hàng thứ nhất trong bốn Nhiếp. Trong bốn mươi tay của Quan âm nghìn tay, thì một tay trái cầm Câu, gọi là Thiết câu thủ (tay cầm móc sắt) hoặc là Câu thi thiết câu thủ. Lại trong các hình tam muội da của tượng Phật, Bồ tát, Thiên thần, có móc kim cương, móc năm chẽ, móc một chẽ, hai móc v.v... Ở trên đầu nhọn của móc sắt kim cương có thêm cái chày ba chẽ, móc năm chẽ, thêm năm chẽ, móc một chẽ, thêm một chẽ. Hai cái móc kim cương đặt song song với nhau, gọi là song câu, thông thường phần nhiều được đặt trên hoa sen. Cũng có người dùng móc làm vũ khí, có lẽ là vì trong móc có thêm cái chày kim cương mà hình dáng giống như cái kích sắt vậy. [X. kinh Duy ma Q.trung phẩm Phật đạo - Thiên thủ thiên nhãn quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni - luận Đại trí độ Q.66 - Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
câu bàn trà
Xem Cưu bàn trà.
câu bất cực thành
Tất cả đều không trọn vẹn—All incomplete; a fallacy in the comparison, or example, which leaves syllogism incomplete.
câu bất cực thành quá
(俱不極成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Câu bất cực thành, tiếng Phạm: Bhayàprasiddha. Trong ba mươi ba lỗi Nhân minh, Câu bất cực thành là lỗi thứ tám trong chín lỗi của Tông (mệnh đề). Là lỗi Năng biệt và Sở biệt đều bị phủ nhận. Tức là lỗi được tạo ra bởi người lập luận (Lập) sử dụng những danh từ trong phần Tiền trần (chủ từ), và Hậu trần (khách từ) của Tông mà phía người vấn nạn (Địch) không đồng ý. Như Thắng luận sư đối với đệ tử Phật mà lập Tông: Tôi là nhân duyên hòa hợp. Trong mệnh đề này, tiếng Tôi là Sở biệt, nhân duyên hòa hợp là Năng biệt. Nhưng đệ tử Phật vốn cho cái Tôi là giả có, cho nên không chấp nhận dùng tiếng Tôi để làm Tiền trần (chủ từ). Lại Phật tử tuy thừa nhận hòa hợp, cũng thừa nhận nhân duyên, nhưng không thừa nhận có cái gọi là nhân duyên hòa hợp. Như vậy, Sở biệt, Năng biệt đều bị phía địch không thừa nhận, cho nên gọi là Câu bất cực thành. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung - Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2 - Nhân minh nhập chính lý luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Minh).
câu bất khiển
Một ý nghĩ sai lầm trong lý luận gây ra bởi lời dẫn dụ giới thiệu không rõ ràng—A fallacy in a syllogism caused by introducing an irrelevant example, one of the thirty-three fallacies.
câu bất khiển quá
(俱不遣過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Câu bất khiển (đều không trái hẳn với Tông và Nhân), tiếng Phạm: UbhayàvyàvfttaTrong ba mươi lỗi Nhân minh, Câu bất khiển quá là lỗi thứ tám trong mười lỗi của Dụ (tỉ dụ), là lỗi thứ ba trong năm lỗi của Dị dụ. Tức là lỗi sử dụng Dị dụ có liên quan cả với Tông (mệnh đề) và Nhân (lí do). Trong dị pháp dụ, phải đủ cả Tông dị phẩm và Nhân dị phẩm, cũng tức phải trái hẳn với Sở lập pháp và Năng lập pháp. Nếu Dị dụ được dùng mà không trái hẳn với Tông được lập và Nhân hay lập, thì sẽ phạm vào lỗi này, gọi là Câu bất khiển. Chẳng hạn như Thanh luận sư đối với Tát bà đa (Thuyết nhất thiết hữu bộ) luận sư mà lập luận Âm thanh là thường còn (Tôn), vì không chất ngại (Nhân), thí dụ như cực vi (Đồng dụ), như hư không (Dị dụ). Người lập luận và người vấn nạn đều thừa nhận hư không có tính thường còn, cũng có tính không chất ngại, song hư không vừa là thường còn, vừa không chất ngại, thì Dị dụ này đối với Tôn thường được lập và Nhân không chất ngại hay lập, đều không trái nhau. Thí dụ như thế, nếu đem ứng dụng cho đồng pháp dụ thì được, chứ nếu ứng dụng cho dị pháp dụ thì tất phạm lỗi và được gọi là Câu bất khiển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.hạ - Tam thập tam quá bản tác pháp soạn giải Q.hạ]. (xt. Nhân Minh).
câu bất thành quá
(俱不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Câu bất thành (trái với Nhân và Tông), tiếng Phạm: Ubhayàsiddha. Trong ba mươi lỗi Nhân minh, Câu bất thành là lỗi thứ ba trong mười lỗi của Dụ (tỉ dụ), lỗi thứ ba trong năm lỗi của Đồng dụ. Là lỗi đối với Năng lập pháp và Sở lập pháp đều không thành, tức là lỗi thiếu cả Nhân đồng phẩm và Tôn đồng phẩm trong Đồng pháp dụ. Được chia làm hai thứ là Hữu câu bất thành và vô câu bất thành: 1. Hữu câu bất thành, tức Câu bất thành hữu thể. Đồng pháp dụ được dùng tuy hữu thể, nhưng không đủ hai pháp sở lập và năng lập, không thể giúp cho thành Tôn (mệnh đề) và Nhân (lí do). Chẳng hạn như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư lập luận Âm thanh là thường còn (Tôn), vì không chất ngại (Nhân), thí dụ như cái bình (đồng dụ). Trong lập luận này, thí dụ cái bình tuy được cả đôi bên Lập (người lập luận) và Địch (người vấn nạn) cùng thừa nhận, nhưng bình có tính chất ngại, thì chưa hẳn là cả đôi bên đã tiếp nhận, vì vậy, thiếu Nhân đồng phẩm - lại vì, tính thường còn của cái bình cũng chẳng phải được cả đôi bên cùng thừa nhận, vì thế thiếu Tôn đồng phẩm, đều không thể giúp cho thành Tôn và Nhân, cho nên gọi là Hữu câu bất thành. 2. Vô câu bất thành, tức Câu bất thành vô thể. Đồng pháp dụ được dùng là cả hai đều vô thể, hoặc có một vô thể, không đủ hai pháp sở lập, năng lập. Chẳng hạn như Thanh luận sư đối với các nhà Vô không luận Kinh bộ mà lập luận Âm thanh là thường còn (Tôn), vì không chất ngại (Nhân), thí dụ như hư không (đồng dụ). Phía Địch đã là các luận sư của Kinh bộ, thì cố nhiên chẳng thừa nhận thuyết hư không là có thực, như vậy tất chẳng thừa nhận loại thí dụ trên, vì thế gọi là Vô câu bất thành. Trong lập luận trên đây, thí dụ cái bình, âm thanh, đối với Nhân và Tôn đều không có tác dụng giúp thành, cho nên, đối với Năng lập pháp bất thành và Sở lập pháp bất thành, cả hai đều trái ngược, vì thế gọi là Câu bất thành quá. [X. luận Nhân minh nhập chính lí - Nhân minh nhập chính lí luận sớ minh đăng sao Q.2 phần đầu]. (xt. Nhân Minh).
câu bồ tát
The bodhisattva guardian with the trident, one of the four with barb, noose, chain, or bell.
câu ca lợi
(俱迦利) Phạm,Pàli: Kokàlika. Còn gọi là Cù già li, Câu ca lê. Dịch ý là người thời ác, chúa trâu. Đệ tử của Đề bà đạt đa, thường ngăn trở sự giáo hóa của đức Phật, và hủy báng Phật, chê bai các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên và Phạm thiên, tuy đức Phật đã thường mắng trách, nhưng vẫn không chừa. Sau thân thể bị lở loét và chết phải rơi vào địa ngục Bát hàn. [X. kinh Tạp a hàm Q.48 - kinh Đại bảo tích Q.2 - luận Đại trí độ Q.13].
Câu Chi
(倶胝, Gutei, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, không rõ tánh danh, vì ông thường tụng chú Quan Âm Chuẩn Đề Câu Chi nên người đời gọi ông là Câu Chi. Ông sống ở vùng Kim Hoa (金華), Vụ Châu (婺州), Tỉnh Triết Giang (淅江省). Do vì không trả lời được câu hỏi của vị Ni Thật Tế (實際), ông từ giã thảo am của mình mà đi du hóa khắp nơi. Ông có đến tham vấn Thiên Long (天龍), pháp từ của Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), rồi kể lại câu chuyện trước kia cho vị này nghe, Thiên Long bèn đưa một ngón tay lên. Câu Chi hốt nhiên đại ngộ, và từ đó về sau mỗi khi ai hỏi điều gì, ông chỉ đưa một ngón tay lên trả lời mà thôi. Khi sắp lâm chung, ông bảo rằng: “Ngô đắc Thiên Long nhất chỉ Thiền, sanh thọ dụng bất tận (吾得天龍一指禪、生受用不盡, ta đây đắc được Thiền một ngón tay của Thiên Long, suốt cả đời dùng cũng chẳng hết).”
; (s, p: koṭi, 倶胝): âm dịch là Câu Chi (拘胝), Câu Trí (倶致), Câu Lê (拘梨), ý dịch là ức, ngàn vạn, tên gọi số lượng của Ấn Độ. Theo Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 5 cho thấy rằng tùy theo dịch giả mà số lượng ấy khác nhau, không nhất định.
; 俱胝; C: jūzhī; J: gutei; cũng được gọi là Kim Hoa Câu Chi; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư nối pháp Thiền sư Hàng Châu Thiên Long. Sử sách không viết gì nhiều về Sư ngoài »Thiền một ngón tay« (Bích nham lục, Công án 19 và Vô môn quan, công án 3). Tương truyền rằng, hể ai hỏi gì về thiền, Sư chỉ đưa một ngón tay lên.|Sự tích Giác ngộ của Sư cũng thuộc vào hạng »độc nhất vô nhị« – như ngón tay thiền Sư đã dùng hướng dẫn thiền sinh. Một hôm có vị ni tên Thật Tế đến am, đi thẳng vào chẳng lột nón, cầm tích trượng đi nhiễu giường thiền ba vòng, nói: »Nói được thì cởi nón.« Hỏi như thế ba lần, Sư không đáp được. Vị ni liền đi. Sư bèn mời ở lại nghỉ vì đã chiều. Ni liền nói: »Nói được thì ở lại.« Sư cũng chẳng đáp được. Vị ni liền đi. Sư tự than rằng: »Ta tuy mang hình trượng phu mà không có khí trượng phu«, tự hổ thẹn, quyết rõ được việc này. Sư dự tính bỏ am đi các nơi tham thỉnh, làm người Hành cước tu luyện nhưng đêm ấy có Sơn thần đến mách rằng »Chẳng cần rời chỗ này, ngày mai có nhục thân Bồ Tát đến vì Hoà thượng giảng pháp.« Ðúng ngày hôm sau có Hoà thượng Thiên Long (nối pháp Ðại Mai Pháp Thường) đến am. Nghe Sư thưa rõ việc xong Hoà thượng chỉ đưa một ngón tay lên chỉ đó. Sư bỗng nhiên đại ngộ.|Sau này có ai hỏi, Sư liền đưa một ngón tay lên. Trong am của Sư có đứa bé, ra ngoài có người hỏi: »Bình thường Hoà thượng lấy pháp gì dạy người?« Ðứa bé cũng đưa một ngón tay lên. Trở về am nó thưa lại, Sư bèn lấy dao chặt ngón tay, đau quá nó chạy kêu khóc. Sư gọi một tiếng, nó quay đầu lại, Sư đưa một ngón tay lên, nó hoát nhiên tỉnh ngộ.|Khi sắp tịch, Sư dạy chúng: »Ta được Thiền một ngón tay của Thiên Long, bình sinh dùng chẳng hết, cần hiểu chăng?« Nói xong Sư viên tịch.
câu chi
Koṭī (S)Câu dê.
; Koti (S). A million. Also explained by ức 100,000; or 100 laksa, i.e.ten millions.
; See Quy Tư.
; (俱胝) I. Câu chi. Phạm, Pàli: Koỉi. Cũng gọi là Câu trí, Câu lê. Dịch ý là ức. Là tên gọi về số lượng của Ấn độ. Huyền ứng âm nghĩa quyển 5 chép, Câu trí, hoặc gọi là Câu chi, tức Trung quốc gọi là một nghìn vạn hoặc ức. Giải thâm mật kinh sớ quyển 6 của ngài Viên trắc (Vạn tục 34, 444 thượng), nói: Câu chi, truyền thích có ba: một là mười vạn, hai là trăm vạn, ba là nghìn vạn. Do đó có thể thấy cách dịch qua các đời có khác nhau. II. Câu chi. Vị tăng đời Đường. Năm sinh, họ và quê quán, đều không được rõ. Thuộc hệ thống ngài Hoài nhượng ở núi Nam nhạc. Thường tụng chú Câu chi (Chuẩn đề) Quan âm, nên người đời bèn gọi là Câu chi. Từng ở am Kim hoa thuộc Vụ châu tỉnh Triết giang, sau vì không trả lời được câu hỏi của Ni sư Thực tế mà khởi tâm dũng mãnh tinh tiến. Chưa bao lâu, pháp tự của ngài Pháp thường ở núi Đại mai là Thiền sư Thiên long đến am, sư làm lễ đón rước rồi kể lại câu chuyện, ngài Thiên long bèn dơ lên một ngón tay, ngay đó, sư đại ngộ. Về sau, hễ có vị tăng nào đến tham học hỏi đạo, sư đều dơ lên một ngón tay để trả lời, vì thế đời gọi là Câu chi nhất chỉ (Câu chi một ngón tay) Nhất chỉ Thiền (Thiền một ngón tay). Trước khi nhập tịch, sư từng nói: Tôi được một đầu ngón tay Thiền của ngài Thiên long mà suốt đời dùng mãi không hết. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.11 - Ngũ đăng hội nguyên Q.4 - Tổ đường tập Q.19 - Vô môn quan tắc thứ 3]. (xt. Câu Chi Nhất Chỉ).
câu chi nhất chỉ
(俱胝一指) Tên công án trong Thiền tông. Còn gọi là Câu chi thụ chỉ, Nhất chỉ đầu Thiền. Công án này thuật lại truyện Hòa thượng Câu chi đời Đường, đối với những người hỏi đạo, ngài chỉ dơ lên một ngón tay, chứ tuyệt không nói một lời nào khác. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 chép, thì lúc Câu chi ở am, có một sư ni tên là Thực tế, đội nón, cầm gậy tích, đi quanh sư ba vòng, rồi nói (Đại 51, 288 thượng): Hễ nói được thì hạ nón. Ba lần hỏi như thế mà Câu chi đều không đáp được. Ni sư liền đi. Câu chi nói Trời gần tối rồi, hãy ở lại một đêm. Ni đáp: Nói được thì ở. Sư vẫn không đối được. Sau khi vị Ni đi rồi, sư cảm thấy quá xấu hổ, bèn khởi tâm ngờ vực và dũng mãnh tinh tiến. Về sau, Hòa thượng Thiên long đến am, Câu chi làm lễ đón tiếp, kể lại chuyện hôm nào, ngài Thiên long dơ một ngón tay lên để chỉ bày, ngay đó, Câu chi đại ngộ. Từ đấy trở đi, khi có người đến hỏi đạo, sư chỉ dơ một ngón tay lên, chứ không nói lời nào. Có một chú bé ra ngoài cũng bắt chước sư dơ ngón tay lên, khi về cũng dơ ngón tay như sư, Câu chi đem dao định chặt ngón tay chú bé, chú bé sợ hãi bỏ chạy, sư gọi chú bé, chú ta quay đầu lại, sư dơ ngón tay lên, chú bé hoát nhiên đại ngộ. Sắp tịch, sư nói với mọi người (Đại 51, 288 thượng): Ta được một đầu ngón tay Thiền của ngài Thiên long, mà suốt đời dùng mãi không hết. Nói xong thì tịch. Muôn sự muôn vật la liệt trong vũ trụ, đều lấy Chân như làm thể, cho nên nói về thể tính của chúng thì tức là bình đẳng nhất như,thực thể của một hiện tượng tức là thực thể của muôn tượng, thực thể của muôn tượng không ngoài thực thể của một hiện tượng. Một ngón tay của Câu chi tức là toàn thể vũ trụ - toàn thể đại địa núi sông, muôn tượng la liệt, tất cả đều vào trong một ngón tay ấy. [X. Bích nham lục tắc 19 - Thung dung lục tắc 84 - Vô môn quan tắc 3 - Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
câu chuyện
Parable.
câu chú thuật
Mantapadam (P).
câu chỉ
Koti (skt)—See Câu Lợi.
câu câu la
Kukkuta (skt)—Cưu Cưu La. 1) Con gà trống: A cock. 2) Tiếng gà: The clucking of fowls.
câu câu la bộ
Xem Kê Dẫn bộ.
; Cưu Cưu La Bộ hay Kê Dận Bộ, một trong 18 bộ của phái Tiểu Thừa—Kukkutikah (skt) is described as one of the eighteen schools of Hinayana.
Câu cảng
溝港; C: gōugăng; J: kōkō;|Cựu dịch chữ srota-āpatti từ tiếng Phạn và chữ sota-āpanna từ tiếng Pā-li. Tân dịch là Dự lưu (預流).
Câu cảng 溝港
[ja] コウコウ kōkō ||| An early translation for the term "stream-enterer" (Skt. srota-āpatti; Pali sota-āpanna), later rendered as 預流. 〔大明度經, T 225.8.482c〕 => Cựu dịch chữ srota-āpatti từ tiếng Sanskrit và chữ sota-āpanna từ tiếng Pali. Tân dịch là Dự lưu 預流.
câu diêm di
Kausambi (skt)—See Câu Diêm Di Quốc.
câu diêm di quốc
Kausambi, or Vatsapattana (skt)—Câu Thiêm Di—Câu La Cù Quốc, một xứ hay một thành phố cổ ở Trung Ấn Độ (từng do vua Ưu Điền cai trị), bây giờ là làng Kosam tại Jumna, khoảng 30 dậm bên trên Allahabad—A country or an ancient city in Central India, identified with the village of Kosam on Jumna, 30 miles above Allahabad.
câu du hành tạng
(俱游行藏) Có nghĩa là, tông Thiên thai đối với Bán giáo, Mãn giáo, Hiển giáo, Mật giáo cứ tùy thời ứng cơ mà lấy hay bỏ. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 phần dưới (Đại 33, 809 trên), nói: Tuy lại câu du hành tàng mà được. Câu du là thí dụ năm vị và các kinh Bán giáo và Mãn giáo thành tựu cho nhau. Tức là giáo pháp của một đời đức Phật, các kinh Bán giáo, Mãn giáo từ Hoa nghiêm thứ nhất, cho đến Pháp hoa Niết bàn thứ năm, thường hay xem căn cơ của chúng sinh mà làm lợi ích - điều phục căn cơ của chúng sinh mà năm vị theo thứ tự có thể được thành tựu. Còn Hành tàng là theo câu nói trong sách Luận ngữ thiên Thuật nhi: Đức Khổng tử bảo Nhan uyên: Hễ dùng thì đem ra làm, mà bỏ thì đem cất đi (dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng). Theo ý ấy đem các giáo Bán, Mãn, Hiển, Mật, tùy thời ứng cơ mà lấy hay bỏ để luận về hành tàng.
câu duyên quả
Tên một loại quả, được diễn tả như là quả chanh, mà Đức Chuẩn Đề Quan Âm cầm trong tay—Bijapura or Bijapuraka (skt)—A fruit, described as a citron, held in one of the hands of Kunti Kuan-Yin.
; (俱緣果) Phạm, Pàli: Màtuluíga. Dịch âm: Ma đăng long già, Ma độc long già. Là một trong bốn vật do Khổng tước minh vương trong Mật giáo cầm nơi tay. Còn gọi là Cụ duyên quả, Cẩu duyên quả. Biểu thị ý hàng phục hoặc trừ tai họa. Thứ quả này rất giống với quả mộc qua (làm rượu được) hoặc quả quýt, thuộc loại nịnh mông......(một loại cây như cây chanh). [X. kinh Đại khổng tước vương chú Q.hạ (Nghĩa tịnh) - Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ - Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
câu dê
Xem Câu chi.
câu dạ la
Những vật đi kèm với bát như muỗng, đũa, vân vân—Things that go with the almsbowl, i.e. spoon, chopsticks, etc.
; (俱夜羅) Dịch ý là Tùy bát khí. Tức là cái đồ để đựng thìa, đũa, bát v.v... Luật Tứ phần quyển 41 (Đại 22, 859), nói: Khi chia Câu dạ la, phải chia cho hiện tiền tăng. [X. Sở lượng khinh trọng nghi Q.hạ].
Câu giải thoát
倶解脱; C: jùjiětuō; J: gugedatsu;|Đồng thời giải thoát. Phân biệt với Huệ giải thoát, là trường hợp hành giả chỉ dùng trí huệ để được hoàn toàn tự tại đối với Phiền não chướng (煩惱障), thay vì hành giả dung cả hai loại Huệ và Định để giải thoát mình khỏi phiền não chướng và giải thoát chướng (解脱障). Nhờ sự giải thoát nầy mà hành giả đạt được Diệt tận định (滅盡定). Một trong 27 bậc Kiên thánh (二十七堅聖), và là 1 trong 9 bậc Vô học (Cửu vô học 九無學, theo Du-già luận 瑜伽論).
câu giải thoát
Bậc A La Hán đã hoàn toàn giải thoát, bậc đã lìa bỏ cả tuệ và định giải thoát—Complete release, i.e. the freedom of the arhat from moral and meditative hindrances. ** For more inforamtion, please see Nhị Giải Thoát (C).
; (俱解脫) Phạm: Ubhayato-bhàga-vìmukta. Đối lại với Tuệ giải thoát . Một trong chín Vô học, một trong bảy Thánh. Tức là người đã dứt hai chướng phiền não và giải thoát, đối với định, tuệ được tự tại mà thành A la hán. A la hán nhờ sức tuệ lìa phiền não chướng mà được Tuệ giải thoát, lại được định Diệt tận mà lìa giải thoát chướng. Tức nhờ năng lực của định, tuệ mà lìa cả hai chướng phiền não và giải thoát, cho nên gọi là Câu giải thoát (đều giải thoát). Câu giải thoát có ba căn, tức trong bốn Thiền định, tu từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ ba là hạ căn, tu đủ cả bốn Thiền là trung căn, rồi tới Thiền vô lậu mà tu quán, luyện, huân, tập là thượng căn. (xt. Tuệ Giải Thoát).
Câu giải thoát 倶解脱
[ja] グゲダツ gugedatsu ||| Simultaneous liberation. As distinguished from wisdom liberation 慧解脱, where one uses wisdom alone to accomplish freedom from the hindrances of affliction 煩惱障, one instead uses both wisdom and concentration to liberate oneself both from the hindrances of affliction, and the hindrances of liberation 解脱障. Due to this liberation, one attains the samādhi of total annihīation 滅盡定. One of the 二十七堅聖 and one of the nine no-more-learnings 九無學. 〔瑜伽論 T 1579.30.832b18〕 => Đồng thời giải thoát. Phân biệt với Huệ giải thoát, là trường hợp hành giả chỉ dùng trí huệ để được hoàn toàn tự tại đối với phiền não chướng, thay vì hành giả dùng cả hai môn Huệ và Định để giải thoát mình khỏi phiền não chướng và giải thoát chướng. Nhờ sự giải thoát nầy mà hành giả đạt được Diệt tận định. Một trong 27 bậc Kiên thánh, và là một trong chín bậc Vô học.
câu hi la
(拘絺羅) Phạm: Kauwỉhila. Một trong mười đệ tử lớn của đức Phật. Cũng gọi Ma ha câu hi la (Phạm: Mahàkauwỉhila, Pàli: Mahàkoỉỉhita), Ma ha câu sắt chỉ la, Câu sắt để la. Dịch ý là Đại tất (đầu gối lớn), Đại đỗ trì (có bụng lớn), Đại thắng. Sau khi theo Phật xuất gia, ngài chứng được quả A la hán, được lí năm uẩn đều không, vì thế gọi là Ngộ không. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 12 chép, thì khi ngài Câu hi la ở trên núi Kì xà quật, ngài Xá lợi phất đến hỏi về nghĩa mười hai nhân duyên, Câu hi la lần lượt trả lời được hết. Xá lợi phất khen trí tuệ sáng suốt của ngài như viên ngọc báu vô giá. Lại kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 phẩm Đệ tử chép, ngài Câu hi la có đủ bốn biện tài. Kinh Tạp a hàm quyển 9, quyển 10, quyển 14, Trung a hàm quyển 7 kinh Đại câu hi la, quyển 58 kinh Đại câu hi la v.v... cũng có chép cuộc vấn đáp về pháp nghĩa giữa Câu hi la và Xá lợi phất, còn các sự tích khác của ngài thì không được rõ. Ngoài ra, kinh Soạn tập bách duyên quyển 10, luận Đại trí độ quyển 1, Hữu bộ tì nại da xuất gia sự quyển 1, quyển 2, đều nói Câu hi la tức là Phạm chí Trường trảo, cậu của ngài Xá lợi phất. [X. kinh Trung a hàm Q.20 - kinh Chi li di lê - kinh Tăng nhất a hàm Q.10 - kinh Phật bản hạnh tập Q.47 - luận Đại thừa thành nghiệp - luận Phân biệt công đức Q.4 - Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Trường Trảo Phạm Chí).
câu hy la
Kauṣṭhila (S)Một trong 1250 đại Tỳ kheo của Phật.
Câu hành
倶行; C: jùxíng; J: kugyō;|Xảy ra đồng thời. Tương tác với nhau (theo Du-già luận 瑜伽論).
Câu hành 倶行
[ja] クギョウ kugyō ||| Simultaneously occurring. Acting together. 〔瑜伽論T 1579.30.655b1〕 => Xảy ra đồng thời. Tương tác với nhau.
câu hội nhất xứ
(俱會一處) Đều hội họp ở một chỗ. Vãng sinh Cực lạc tịnh độ và được cùng với các bậc thượng thiện cùng tụ họp ở một chỗ. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung), nói: Này Xá lợi phất! Chúng sinh được nghe, phải nên phát nguyện sinh sang nước ấy. Tại sao vậy? Vì được cùng với các bậc thượng thiện cùng họp ở một chỗ. Đây là nói người sinh sang nước Cực lạc, thường cùng với Thánh chúng tụ hội ở một chỗ, được gần gũi học theo mà tăng tiến Phật đạo. [X. A di đà kinh thông tán sớ Q.trung (Khuy cơ) - A di đà kinh sớ sao Q.3 (Chu hoằng)].
Câu hữu
倶有; C: jùyǒu; J: kuu;|Có hai nghĩa: 1. Cùng tồn tại; 2. Vốn có, bẩm sinh (theo Du-già luận 瑜伽論).
câu hữu
Existing together.
; Đồng thời hiện hữu—Existing together—All beings—Existing—Having.
câu hữu căn
Câu Hữu Y—Chư pháp hay những điều kiện mà chúng ta tùy thuộc vào (tâm và tâm sở đồng thời tồn tại và đều dựa vào nhau)—Things or conditions on which one relies, or from which things spring, i.e. knowledge.
câu hữu nhân
SahabhŪhetu (S)Cộng hữu nhân.
; Sahabhùhetu (S). Simultaneous causes.
; Sahabhuheta (skt)—Một trong lục nhân, tứ đại cùng thay phiên nhau làm nhân duyên—Mutual causation, one of the six causes, the simultaneous causal interaction of a number of things, e.g. earth, water, fire, and air. ** For more information, please see Lục Nhân
; (俱有因) Phạm: Sahabhùhetu. Một trong sáu nhân. Còn gọi Cộng hữu nhân, Cộng sinh nhân. Các pháp đồng thời tồn tại, làm nhân lẫn nhau, gọi là Câu hữu nhân. Như bốn đại đất, nước, lửa, gió, tất phải nương nhau mà sinh, chúng là nhân của ta, ta là nhân của chúng, cũng như cái đỉnh có ba chân nương nhau mà đứng vững, cho nên gọi là Câu hữu nhân. Trong bốn đại, một đại là nhân, thì ba đại kia là quả - ba đại kia là nhân thì một đại là quả. Bởi vì nếu chúng là nhân lẫn nhau, thì cũng là quả lẫn nhau. Câu hữu nhân còn có thể chia làm Hỗ vi quả câu hữu nhân và Đồng nhất quả câu hữu nhân khác nhau. Như đem ba chiếc gậy dựa vào nhau, thì một chiếc là nhân của hai chiếc kia, đồng thời, hai chiếc kia cũng là nhân của một chiếc này - cái lí của ba chiếc gậy ấy là quả lẫn nhau cũng thế, nên gọi là Hỗ vi quả câu hữu nhân (nhân câu hữu là quả lẫn cho nhau). Cũng như ba cái gậy như chân vạc dựa nhau mà giữ cho một vật đứng vững - tức do hai vật trở lên giúp đỡ lẫn nhau để mang lại một kết quả đồng nhất, ví như do nhiều cây cột mà chống đỡ một ngôi nhà, gọi là Đồng nhất quả câu hữu nhân. [X. luận Câu xá Q.6 - luận Đại tì bà sa Q.16 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.15 - luận Nhập A tì đạt ma Q.hạ]. (xt. Lục Nhân).
câu hữu pháp
Chư pháp (tứ đại địa, thủy, hỏa, phong) cùng hiện hữu và cùng là tác nhân trong mọi điều kiện hay hoàn cảnh—Co-existent, co-operative things, conditions, or circumstances.
; (俱有法) Còn gọi là Cộng hữu pháp. Nói tắt là Câu hữu. Các pháp quan hệ với nhau, tồn tại cùng một lúc, không tách lìa nhau. Như tâm vương và tâm sở, bốn đại đất, nước, lửa, gió, bốn tướng sinh trụ dị diệt, sự được và vật được v.v... đều là các Câu hữu pháp. Các câu hữu nhân đều là Câu hữu pháp. Luận Câu xá quyển 6 (Đại 29, 30 hạ), nói: Các pháp do Câu hữu nhân, nên thành nhân - các pháp ấy tất là câu hữu - hoặc cũng có pháp câu hữu chẳng do Câu hữu nhân, mà thành nhân. [X. Câu xá luận quang kí Q.6 - Câu xá luận bảo sớ Q.6].
câu hữu y
(俱有依) Cũng gọi Câu hữu sở y, Tăng thượng duyên y, Câu hữu căn. Chỉ các pháp sở y có cùng một lúc với tâm và tâm sở. Luận Thành duy thức quyển 4 chép, Câu hữu sở y của năm thức có bốn thứ, tức năm căn sắc và ba thức thứ sáu, thứ bảy, thứ tám. Tiểu thừa bảo, ý căn là thức thứ sáu không gián đoạn, cho nên chẳng phải là Câu hữu y. Tông Pháp tướng trong luận Thành duy thức quyển 4, luận Thành duy thức thuật kí quyển 4 phần cuối, có nêu lên các thuyết khác nhau của các ngài Hộ pháp, Nan đà, An tuệ và Tịnh nguyệt để giải thích rộng về nghĩa sở y và lấy thuyết của ngài Hộ pháp làm nghĩa chính, biện giải sự khu biệt giữa Y và Sở y, nói rằng nghĩa của Y rộng thông đối với hết thảy pháp, còn Sở y thì chỉ hạn ở trong sáu chỗ mà thôi. Lí do của nó có bốn nghĩa: 1. Nghĩa quyết định. 2. Nghĩa có cảnh. 3. Nghĩa làm chủ. 4. Khiến tâm, tâm sở lấy cái tự sở duyên. Duy chỉ có năm căn và ba thức thứ sáu, bảy, tám là có đầy đủ bốn nghĩa trên đây, cho nên là Câu hữu y của tâm và tâm sở. Nếu đem tâm năng y mà phân biệt, thì Câu hữu y của năm căn thức trước có bốn thứ, thức thứ sáu có hai thứ, thức thứ bảy, thứ tám, mỗi thức có một thứ Câu hữu y. Bốn thứ Câu hữu y của năm thức trước là: 1. Đồng cảnh y, còn gọi là Thuận thủ y, tức là năm căn - căn và thức cùng nương vào cảnh hiện tại mà sinh, cho nên gọi là Đồng cảnh y. 2. Phân biệt y, tức là thức thứ sáu - khi năm thức trước sinh khởi thì ý thức tất cũng sinh khởi, năm thức trước không phân biệt, mà ý thức thì có phân biệt cho nên gọi là Phân biệt y. Bởi vì năm thức cùng duyên không phân biệt, thức thứ sáu nguyên là thức tầm.. và tứ tương ứng hay thủ cảnh, lại có khả năng khiến năm thức thấy rõ thủ cảnh, cho nên gọi là Minh liễu y. 3. Nhiễm tịnh y, tức là thức thứ bảy - các thức trước không có sạch nhơ khác nhau, phần vị sạch nhơ y vào thức thứ bảy mà thành, vì thế còn gọi là Phần vị y. 4. Căn bản y, tức là thức thứ tám - vì thức này là cái gốc nguồn cho các thức nương tựa mà sinh khởi, cho nên gọi là Căn bản y. Trong bốn y kể trên, duy bất cộng y của năm thức trước là Đồng cảnh y, tức là năm căn sắc, còn ba y kia là cộng y của các thức. [X. luận Thành duy thức thuật kí Q.7 phần cuối - luận Thành duy thức liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu - Bách pháp vấn đáp sao Q.1].
Câu hữu 倶有
[ja] クウ kuu ||| (1) Coexistent. (2) Inherent; innately existent.〔瑜伽論 T 1579.30.651c5〕 => Có hai nghĩa: 1. Cùng tồn tại. 2. Vốn có, bẩm sinh.
câu khách
To try to attract customers.
câu không
Both or all empty, or unreal, i.e. both ego and things have no reality.
; Một trong Tam Không. Ngã và pháp đều không thực—One of the three voids or immaterialities. Both or all empty, or unreal, i.e. both ego and things have no reality. ** For more information, please see Tam Không.
câu la
Kula (skt). 1) Ụ đất: A Mound. 2) Triền dốc: A slope. 3) Tháp đựng cốt của cư sĩ: A small stupa in which ashes of a layman are kept.
; (俱羅) Phạm: Kùla. Chỉ ngôi tháp nhỏ của phàm phu. Trên chóp tháp không có tán tròn. Cứ theo luật điển ghi chép, thì nếu tạo dựng tháp của Như lai, Độc giác, A la hán, Bất hoàn quả, Nhất lai quả v.v... thì phải cao hơn một tầng và làm tướng bánh xe (tán tròn) ở trên đỉnh tháp - còn nếu dựng tháp cho người phàm phu có phúc thiện, thì chỉ được làm nóc bằng, chứ không được dùng tướng bánh xe. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. (xt. Tháp).
câu la bát để
Kulapati (skt)—Gia chủ—The head of a family—A householder.
; (俱羅鉢底) Phạm: Kulapati. Dịch ý là chủ nhà. Cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng chép, nếu một người nào đó cậy thế mạnh, chiếm dụng tăng vật một mình, xử đoán mọi việc mà không bạch đại chúng, thì người ấy được gọi là Câu la bát để. Đây là một cục thịt độc hại trong Phật pháp, người và quỉ thần đều oán, dù có làm ích lợi cho chùa, cũng đắc tội rất sâu nặng.
câu la la trá tinh xá
(拘羅羅咤精舍) Phạm: Kuraraghara-papàta-par vata, Pàli: Kuraraghara-papàta-pab bata. Trong các kinh điển Hán dịch, dịch là tên Tinh xá, nhưng trong các kinh điển Pàli Nam truyền thì là tên núi. Cứ theo Luật tạng đại phẩm quyển 5 đoạn 13 chép, thì là núi Câu lưu hoan hỉ ở nước A bà đề (Phạm: Avanti), Ma ha ca chiên diên (Pàli: Mahàkaccàna) đã từng ở trên núi này. Lại con của Trưởng giả nước A bàn đề là Ức nhĩ (Pàli: Soịakoỉikaịịa) cũng xuất gia tại đây. [X. kinh Tạp a hàm Q.20].
câu lan đồ hoa
(拘蘭荼華) Phạm: Kuraịỉa. Còn gọi là Câu lan tra hoa. Dịch ý là hoa hồng. Thực vật thuộc họ rau giền. Tên khoa học: Gomphrena globosa.L..Thân cây cao một thước (Tàu) cho đến vài thước, cành lá mọc đối nhau, thường nở hoa mầu đỏ lợt, hoa nở từng chùm, lấy phơi khô, để lâu mà mầu không phai. Thường thường người ta gọi là hồng nghìn ngày, cỏ nghìn ngày. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 10 bảo là hoa đỏ thắm, mầu sắc tươi sáng, thể thì cứng chắc như gỗ đá - mùi thì hôi cũng như phẩn, không ai dám đứng gần. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.1].
câu luân xà điểu
(拘侖闍鳥) Câu luân xà, Phạm: Krauĩca, Pàli: Koĩca. Một giống chim mỏ dài. Còn gọi là Đế thích duật . Có thuyết bảo thuộc loài hạc. Chú thích trong kinh Đại uy đức đà la ni quyển 7, gọi là chim cốc lộc . Trong kinh A di đà bản tiếng Phạm bảo, Câu luân xà từng đối trước mọi người thuyết giáo. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.3 - Chỉ quất dịch thổ tập Q.8].
câu lâu bà vương
Koravya (S)Vua nước Kuru, Tây Bắc Ấn thời xưa.
Câu lô châu 倶盧洲
[ja]クルシュウ kurushū ||| See 北倶盧洲. => Xem Bắc câu lô châu 北倶盧洲. [ja] クシャロン Kusharon ||| Jushe lun; shortened popular title of the 阿毘達磨倶舍論。
câu lô xá
Xem Câu xá.
; Krosa (skt)—Câu Lâu Xá—Câu Lô Xa. 1) Khoảng xa nhất có thể nghe tiếng bò rống hay tiếng trống đánh: The distance a bull's bellow or the sound of a drum can be heard. 2) Một phần tám của Dụ Thiên Na hay 5 dậm: The eighth part of a yojana or 5 miles.
; (拘盧舍) Phạm: Kroza, Pàli: Kosa. Tên gọi kích thước của Ấn độ đời xưa. Cũng gọi Câu lâu xa. Dịch ý là tiếng, kêu gọi. Tức là khoảng cách mà người ta có thể nghe được tiếng kêu của con bò lớn hoặc là tiếng trống vang đến, cũng tức là chỗ cách xa làng mạc đến a luyện nhã. Tuy nhiên, vì mặt đất có cao, thấp, lượng của âm thanh có to nhỏ khác nhau, nên cái khoảng cách mà tiếng vang của âm thanh vọng tới phần nhiều cũng bất đồng, bởi thế mà kích thước của Câu lô xá chưa hẳn đã nhất định chính xác. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 136, luật Thập tụng quyển 11, Hữu bộ tì nại da quyển 21, luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2, luận Câu xá quyển 12, luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 32, Đại đường tây vực kí quyển 2 v.v... chép, thì chiều dài của một Câu lô xá bằng năm trăm Cung. Cứ theo Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 1 chép, thì một cung bằng bốn khuỷu tay, một khuỷu tay bằng một thước tám tấc (Tàu), vì thế, một Câu lô xá tức là ba nghìn sáu trăm thước. Cũng có thuyết nói, một Câu lô xá bằng khoảng cách giữa a luyện nhã và làng mạc.Lại cứ theo Tát bà đa tì ni tì ba sa quyển 5 chép, thì một Câu lô xá bằng bốn trăm cung, khoảng cách từ a luyện nhã đến làng mạc là năm trăm cung. Cứ theo chú thích của kinh Tạp bảo tạng quyển 8 nói, thì một Câu lô xá bằng năm dặm, Huyền ứng âm nghĩa quyển 19, Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 1, Tứ phần luật yết ma sớ Tế duyên kí quyển 1 đoạn 4, Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 1 đoạn 4 v.v... đều theo thuyết của kinh Tạp bảo tạng. Lại cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ chép, thì một khuỷu tay bằng một thước năm tấc. Cứ theo kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 chép, thì bốn khuỷu tay thành một cung, một nghìn cung là một Câu lô xá. Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 8, quyển 9 chép, thì năm khuỷu tay thành một cung, hai nghìn cung là một Câu lô xá. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 12 thì bảo, chiều dài của một khuỷu tay là hai thước, bốn khuỷu tay là một cung, năm cung là một trượng, mười trượng là một tức, tám mươi tức là một Câu lô xá. Trong đây, tám mươi tức là sáu tức nói lầm ra, đây là theo Tuệ uyển lâm nghĩa quyển hạ, do tính lại chiều dài của Câu lô xá mà biết được. [X. luận Câu xá quang kí Q.12 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.3, Q.4 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. (xt. Cung, Trửu Lượng).
câu lý ca
Kulika (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, nơi đây từng là một thành phố lớn, khoảng 9 dậm về phía tây nam của Nalanda trong xứ Ma Kiệt Đà—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill in 1937, Kulika, used to be a big city about 9 miles south-west of Nalanda in Magadha.
câu lư
Xem Bắc câu lư châu.
câu lư châu
Kurudvipa or Uttarakuru (skt)—Tên gọi của Bắc Đại Châu hay Bắc Cu Lô Châu—The northern of the four continents of a world. ** For more information, please see Tứ Châu.
câu lư xá
Krosa (skt)—See Câu Lô Xá.
câu lưu
To arrest—To confine.
câu lưu sa
Kuru (skt)—Xứ mà người nói chính tại đây Đức Phật đã thuyết giảng Kinh Trường A Hàm—The country where Buddha is said to have delivered the sutra the Long Discourses.
câu lưu tôn
Xem Ca la tôn đại Phật.
; Krakucchanda (skt)—See Câu Lưu Tôn Phật.
Câu Lưu Tôn Phật
(s: Krakucchanda-buddha, p: Kakusandha-buddha, 拘留孫佛): âm dịch là Câu Lưu Tôn (倶留孫), Ca La Cưu Tôn Đà (迦羅鳩孫陀), vị thứ 4 trong 7 vị Phật thời quá khứ, và còn là một trong ngàn vị Phật trong hiền kiếp. Trong Kinh Đại Bổn (大本經) của Trường A Hàm (Dīgha-nikāya, 長阿含) bản tiếng Pāli và Hán dịch, cũng như các bản dị dịch của Thất Phật Kinh (七佛經), Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự Kinh (七佛父母姓字經), v.v., có nêu rõ lúc ngài ra đời, tên dòng họ, cha mẹ, nơi xuất thân, vợ con, thành đạo dưới gốc cây gì, thi giả, đệ tử đầu tiên là ai, v.v. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, hình như ngài được xem như là vị Phật có thật trong thời quá khứ. Theo Pháp Hiển Truyện (法顯傳) trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), quyển 6 Huyền Trang (玄奘), có di tích của thành đô ở phía Nam Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), nơi ngài hạ sanh, cũng như một số các tháp khác. Trong đó, phía bên ngôi tháp an trí xá lợi của ngài có trụ đá cao 30 tấc hình đầu sư tử tương truyền do vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) kiến lập nên, tuy nhiên hiện tại di tích ấy vẫn chưa được phát hiện.
câu lưu tôn phật
Krakucchandha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Krakucchanda (S). The first of the Buddhas of the present Bhadrakalpa Hiền kiếp, the fourth of the seven ancien Buddhas.
; Krakucchanda or Kakuda-Katyayana (skt)—Cưu Lâu Tôn Phật—Câu Lưu Tần Phật—Ca La Cưu Xan Đà—Ca La Cưu Thôn Đà—Yết Lạc Ca Tôn Đà—Yết La Ca ôn Đà—Yết La Ca Thốn Địa—Yết Câu Thôn Na—Vị Phật đầu tiên trong (1000 vị Phật) Hiền Kiếp, cũng là vị Phật thứ tư trong bảy vị cổ Phật—The first of the Buddhas of the present age (Bhadrakalpa), the fourth of the seven ancient Buddhas.
; (拘留孫佛) Phạm: Krakucchanda-buddha, Pàli: Kakusandha-buddha. Là đức Phật thứ tư trong bảy đức Phật ở quá khứ, vị Phật thứ nhất trong một nghìn vị Phật ở kiếp Hiền hiện tại. Còn gọi là Ca la cưu tôn đà Phật, Yết lạc ca tôn đà Phật, Ca la ca thôn đà Phật, Câu lâu tần Phật, Ca cưu lưu Phật, Cưu lưu tần Phật. Dịch ý là lãnh giữ, diệt lụy, đã dứt những điều phải dứt, thành tựu mĩ mãn. Theo kinh Trường a hàm quyển 1 nói, trong kiếp Hiền, lúc con người thọ bốn vạn tuổi thì đức Phật này ra đời, là giòng Bà la môn, họ Ca diếp. Cha tên là Kí đắc..... (Pàli: Aggidatta), mẹ tên là Thiện chi..... (Pàli: Visàkkhà), con tên Thượng thắng . Thời ấy, vua là An hòa..... (Pàli: Khema), thành vua là An hòa thành (Pàli: Khemavatì). Thành đạo dưới gốc cây Thi lị sa (Pàli: Sirìsa), từng có một hội thuyết pháp, hóa độ bốn vạn đệ tử, những người trọng yếu thì có: Tát ni (Pàli: Saĩjìva), Tì lâu (Pàli: Vidhura), đệ tử thị giả tên là Thiện giác (Pàli: Buddhija). Theo kinh Thất Phật chép, thì đức Phật này ra đời vào kiếp thứ sáu trong kiếp Hiền, cha tên là Dã nghễ dã na đa, mẹ tên là Vĩ xá khư. Lúc ấy, vua là Sát mô sát ma, thành vua gọi là Sát ma. Đệ tử đại trí tuệ tên là Tán nhĩ phạ, thị giả tên là Một đề du. Theo kinh Phật danh quyển 8 chép, thì thân phụ của đức Phật này tên là Công đức bà la môn, thân mẫu tên là Quảng, con tên là Thượng. Vua tên là Vô úy, thành cũng gọi là Vô úy. Đức Phật này cùng với Phật Tì bà thi, Phật Câu na hàm và đức Thế tôn, gọi chung là bảy Phật ở quá khứ, lại thêm bồ tát Di lặc sẽ thành Phật trong vị lai cùng được tạo tượng cúng dường. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 phẩm Niệm thất Phật (Đại 15, 693 trung), nói: Phật Câu lưu tôn cũng phóng ánh sáng đến trước mặt hành giả, đức Phật thân cao hai mươi lăm do tuần, ánh sáng tròn ba mươi hai do tuần, khắp mình sáng năm mươi do tuần, tướng đẹp đầy đủ, như núi tử kim. Người nào được thấy đức Phật này thì thường sinh vào cõi nước trong sạch, không phải ở trong bào thai, lúc lâm chung, chư Phật Thế tôn sẽ đến đón rước. Về di tích của đức Phật này, cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện chép, thì ấp Na tì già (Nàbhika), cách thành Xá vệ về mạn đông nam mười hai do diên, là nơi sinh của Phật Câu lâu tần, là nơi cha con gặp nhau, đều cũng có dựng tháp Phật. Lại cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6 mục Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc chép, thì vua Vô ưu (vua A dục) có dựng cột đá trước Tốt đổ ba (tháp) xá lị của đức Phật Ca la ca thôn đà. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45 - kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự - Tứ phần luật tỉ khưu giới bản - luận Đại trí độ Q.9 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].
câu lưu tần phật
Xem Câu Lưu Tôn Phật.
câu lợi
Koti (skt)—Một triệu (có nơi giải thích là 100, 100.000 hay 10 triệu)—A million (Also explained by 100, or 100,000, or 10 million).
câu lợi ca la long vương
(俱利迦羅龍王) Câu lị ca la, Phạm: Kulikahê. Dịch ý là Tôn sắc. Còn gọi là Câu li ca long vương, Cổ lực ca long vương, Cù lê già la long vương. Là biến tướng của Bất động minh vương trong Mật giáo. Hình tượng là dáng nuốt thanh gươm, đứng trên bàn thạch, vì thế tục gọi là Câu lí ca la bất động, Câu lí kiếm. Cứ theo kinh Câu lị ca la đại long thắng ngoại đạo phục đà la ni chép, thì Bất động minh vương đã từng ở trên cung trời Sắc cứu kính tranh luận với các luận sư ngoại đạo, và cùng hiện các thần biến thành trí, lúc ấy Minh vương biến ra thanh gươm lửa trí, luận sư thượng thặng của ngoại đạo là Trí đạt cũng biến ra thanh gươm lửa trí - gươm trí lửa của Minh vương lại biến thành con rồng lớn Câu lị ca la, nuốt thanh gươm lửa trí của ngoại đạo, hơi của rồng phóng ra như hai vạn ức tiếng sấm cùng vang rền một lúc, ma vương ngoại đạo nghe đều sợ hãi mà bỏ hết các tà chấp ác kiến. Hình tượng Câu lị ca la như một con rắn lớn quấn trên thanh gươm, chung quanh thanh gươm là những ngọn lửa ngùn ngụt bốc lên, trên trán con rắn có một cái sừng (ngà), trên thanh gươm viết chữ (a). Nếu biến làm tướng người, thì mặt và mắt mừng và giận, mặc áo giáp như Quảng mục thiên vương, tay trái cầm vòng giây đặt ở cạnh sườn, khuỷu tay phải co lại cầm gươm, trên đầu đặt con rồng quấn khúc, đứng trên núi kim cương. Tượng hình người hiện nay không còn, phần nhiều chỉ còn lưu truyền tượng rồng quấn gươm. Phép tu lấy Câu lị ca la làm bản tôn, có thể trừ được bệnh hoạn và ma chướng. [X. Câu lị ca la long vương nghi quĩ - Thuyết củ lí ca long vương tượng pháp].
câu lợi già la
Câu Lợi Ca La—Câu Lý Ca—Gia La Ca—Gia Lê Ca—Cổ Lực Ca—Một loại rồng đen—A kind of black dragon.
câu lợi già la bất động minh vương
Dùng hình tượng thanh kiếm có rồng đen bao bọc làm bổn tôn. Đây là hình Tam Muội da của Đức Bất Động Minh Vương—A black dragon with its sword as a symbol of Arya-Acalanatha-Raja.
câu lợi thái tử
Kolita (skt)—Người con trưởng của Đấu Phạm Vương, một người chú của Phật Thích Ca; có người nói là Ma-Ha-Na-Ma, nhưng có người lại nói là Ma Ha Mục Kiến Liên—The eldest son of Dronodana, uncle of Sakyamuni; said to be Mahanama, but others say Mahamaudgalyayana.
; (拘利太子) Phạm: Koliputra. Là một trong năm vị tỉ khưu đã được đức Phật độ cho đầu tiên. Còn gọi là Ma ha nam, Ma nam câu lị, Ma ha nam câu lị. Cha là vua Hộc phạn dòng Câu lị, cho nên gọi là Câu lị Thái tử. [X. kinh Trung bản khởi Q.thượng - kinh Bản hạnh tập Q.11 - Pháp hoa nghĩa sớ Q.4]. (xt. Ma Ha Nam).
câu ma la
Xem Pháp vương tử.
; Kumara (skt). 1) Đồng Tử: A child. 2) Thiếu Niên: A youth. 3) Thái Tử: A prince.
câu ma la lá đa
Kumāralabdha (S)Ngài thành lập phái Tăng ca la đa bộ (sautrantika).
câu ma la quỹ
(俱摩羅軌) Chỉ nghi quĩ của đồng tử Kim cương, tức nói tắt của Phật thuyết Vô lượng thọ Phật hóa thân đại phấn tấn câu ma la kim cương niệm tụng du già nghi quĩ.
câu ma la thiên
Xem Pháp vương tử.
; Kumarakadeva (skt)—Cưu Ma La Thiên—Cưu Ma La Già Thiên—Vị Đế Thích hay Phạm Thiên ở sơ thiền, mặt trông như trẻ con, ngồi trên lưng công, một tay cầm kích, một tay cầm chuông và cờ—A youthful deva, an Indra of the first dhyana heaven whose face is like that of a youth, sitting on a peacock, holding a cock, a bell, and a flag.
; (俱摩羅天) Câu ma la, Phạm: Kumàra. Dịch ý là Đồng tử. Còn gọi là Cưu ma la thiên, Cưu ma la già thiên. Là một trong hai mươi trời Hộ thế, tức là Phạm vương ở cõi Sơ thiền, dáng mặt như trẻ con, cho nên có tên là đồng tử. Vị tôn này ngồi ở bên cạnh Biện tài thiên về phía tây trong viện Kim cương bộ ngoài, trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Hình tượng vị tôn mầu vàng, sáu mặt (hai lớp ba mặt), dáng trẻ con, tay phải cầm cây kích ba chẽ, tay trái nắm lấy cán kích. Lại trong hội Thành thân trên Kim cương giới mạn đồ la, thì hình tượng mầu xanh lá cây, tay trái nắm lại, tay phải cầm cái chuông nhỏ, ngồi trên lá sen. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10 - Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.3 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
câu ma la vương
Xem Pháp vương tử.Xem Pháp vương tử.
câu ma lợi thiên
Kumāri (S)Đồng nữTên một vị thiên.
; (俱摩利天) Câu ma lị, Phạm: Kumàrì. Còn gọi Cưu ma lị thiên, Câu ma la thiên, Kiêu ma lị thiên. Là họ hàng của Đại tự tại thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 có giải thích về Câu ma lị thước để (Đại 39, 744), nói: Vợ của con trời Đại tự tại, kết ấn Thước để (cái kích). Được đặt ở phía tây bên trái Phạm thiên nữ trong viện Kim cương bộ ngoài, trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Toàn thân mầu vàng, tay trái cầm chiếc mâu, khuỷu tay phải doãi ra, bàn tay dơ thẳng nhưng co các ngón lại, ngón trỏ co giống cái lưỡi câu. Hình tam muội da là cái kích dài. [X. kinh Đại nhật Q.4 - Thai tạng giới thất tập Q.trung].
câu mê đà
Kumidha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, đây từng là một vương quốc cổ nằm trên Beloortagh, về phía bắc của Badakhshan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, this used to be an ancient kingdom on the Beloortagh to the north of Badakhshan.
câu mật
(俱密) Viên lí của chân như thực tướng, gọi là Lí mật - ba mật của ấn khế cấm chú, gọi là Sự mật. Kinh Pháp hoa là giáo bí mật của Lí mật - các kinh Đại nhật, Kim cương đỉnh là giáo bí mật của Lí, Sự câu mật (cả lí lẫn sự đều bí mật). Đây là sự phán định của vị sư người Nhật bản, tên là Từ giác, và các sư của Thai mật lấy đó để đối xứng với Đông mật. [X. Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1 (Viên nhân) - Thiên thai Chân ngôn nhị tông đồng dị chương (Chứng chân)].
câu na hàm mâu ni
Kanakamouni (S). The second of the Buddhas of the present Bhadrakalpa.
; Kanakamuni (skt)—Câu Na Hàm—Câu Na Mâu Ni—Ca Nặc Ca Mâu Ni. 1) Kim Tịch: The golden recluse. 2) Kim Tiên: The golden rsi. 3) Một người Bà La Môn thuộc gia đình Ca Diếp, cư dân trong thành Sobhanavati: A Brahman of the Kasyapa family, native of Sobhanavati. 4) Vị Phật thứ nhì trong 5 vị Phật Hiền Kiếp, cũng là vị Phật thứ năm trong bảy vị cổ Phật: The second of the five Budhas of the present Bhadrakalpa, the fifth of the seven ancient Buddhas. 5) Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây có lẽ đây là một vị Thánh ở Ấn Độ trước thời Phật Thích Ca: According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is possibly a sage who preceded Sakyamuni in India.
Câu Na Hàm Mâu Ni Phật
(s: Kanakamuni-buddha, p: Konāgamana-buddha, 拘那含牟尼佛): âm dịch là Ca Na Ca Mâu Ni (迦那迦牟尼), Yết Nặc Ca Mâu Ni (羯諾迦牟尼), ý dịch là Kim Tiên Nhân (金仙人) Kim Sắc Tiên (金色仙), Kim Tịch (金寂), vị thứ 5 trong 7 vị Phật thời quá khứ, và vị thứ 2 trong ngàn vị Phật thời hiền kiếp. Trong Kinh Đại Bản (大本經) của Trường A Hàm (Dīgha-nikāya, 長阿含) bản tiếng Pāli và Hán dịch, cũng như các bản dị dịch của Thất Phật Kinh (七佛經), Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự Kinh (七佛父母姓字經), v.v., có nêu rõ lúc ngài ra đời, tên dòng họ, cha mẹ, nơi xuất thân, vợ con, thành đạo dưới gốc cây gì, thi giả, đệ tử đầu tiên là ai, v.v. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, hình như ngài được xem như là vị Phật có thật trong thời quá khứ, và hình như có ngôi tháp an trí kim thân xá lợi của ngài. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), quyển 6 của Huyền Trang (玄奘), ở vùng phụ cận của thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城) có di chỉ thành đô nơi xuất thân của vị Phật này. Ở phía Bắc các tháp có tôn thờ di thân xá lợi của ngài, trước tháp có trụ đá với đầu sư tử phía trên và tương truyền trụ đá này do vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) dựng nên. Trên thực tế trụ đá này được phát hiện vào năm 1895 tại địa phương Nigāri Sāgar thuộc phía Bắc vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼). Chung quanh trụ đá ấy có những dòng chữ của vua A Dục ghi rằng: “Vào năm thứ 14 sau khi tức vị, Thiên Ái Hỷ Kiến Vương (vua A Dục) đã kiến lập them ngôi tháp của Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, đến năm thứ 20 sau khi tức vị, nhà vua tự thân hành đến cúng dường và cho dựng trụ đá”. Như vậy trụ đá có đầu hình con sư tử như Huyền Trang ghi trong trước tác của ông là hoàn toàn nhất trí.
câu na hàm mâu ni phật
Kaanakamuni (S).
câu na hàm phật
Xem Kim Tịch Phật.
; (拘那含佛) Câu na hàm, Phạm: Kanakamuni, Pàli: Konàgamana. Là đức Phật thứ năm trong bảy Phật ở quá khứ, Phật thứ hai trong một nghìn đức Phật ở kiếp Hiền. Còn gọi là Cẩu na hàm Phật, Ca na già mâu ni, Câu na hàm mâu ni, Ca na hàm mâu ni, Ca nặc ca mâu ni. Dịch ý là Kim sắc tiên, Kim nho, Kim tịch. Cứ theo Trường a hàm quyển 1 kinh Đại bản chép, khi loài người sống lâu ba vạn tuổi, thì đức Phật này ra đời ở thành Thanh tịnh (Pàli: Sobhavatì), là giòng Bà la môn, họ là Ca diếp. Cha tên là Đại đức (Pàli: Yaĩĩnadatta), mẹ tên là Thiện thắng (Pàli: Uttarà) - Phật thành đạo dưới gốc cây Ô tạm bà la (Pàli: Udumbara), từng có một hội thuyết pháp, hóa độ ba vạn đệ tử, hai người trội hơn hết là Thư bàn na đa (Pàli: Bhiyyosa) và Uất đa la (Pàli: Uttara). Đệ tử thị giả tên là An hòa (Pàli: Sotthija). Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 phẩm Niệm thất Phật (Đại 15, 693 hạ), nói: Phật Câu na hàm mâu ni buông ánh sáng lớn đến trước mặt hành giả, thân Phật cao hai mươi do tuần, vòng tròn ánh sáng ba mươi do tuần, khắp thân ánh sáng chiếu dài bốn mươi do tuần. Tướng ánh sáng đầy đủ. Người thấy đức Phật này thì được ba ức môn Tam muội, vô số đà la ni. Lại cứ theo kinh Thất Phật chép, thì Phật Câu na hàm mâu ni ra đời ở kiếp thứ bảy trong kiếp Hiền. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 chép, đức Phật này họ Ca diếp và Bà la đọa. Phật Câu na hàm, Phật Câu lâu tần, Phật Ca diếp v.v... đều ra đời ở kiếp hiện tại, vì thế tại Ấn độ có truyền thuyết về di tích của các Ngài. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện chép, thì ấp Na tì già (Nàbhika), cách thành Xá vệ về phía đông nam mười hai do diên, là nơi sinh của Phật Câu lâu tần, từ đó đi về hướng bắc mười một do diên nữa, tức là nơi sinh của Phật Câu na hàm. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6 mục Thất la phạt tất để quốc chép, thì cách chỗ tháp của Phật Ca la ca thôn đà về phía đông bắc hơn ba mươi dặm, có mấy tòa Tốt đổ ba (tháp), tòa tháp phía bắc là tháp thờ xá lị của đức Phật Ca nặc ca mâu ni, và có cột đá do vua Vô ưu (A dục) dựng. Năm 1895 Tây lịch, tại bờ hồ Ni cách sa cách nhi, cách thôn Ni cách lí ngõa (Niglìva) về mạn nam khoảng một cây số, cách vườn Lâm tì ni mười tám cây số về phía tây nam, người ta đã phát hiện cây cột đá mà ngài Huyền trang miêu thuật, xem nội dung văn khắc trên cột, có thể xác định nơi ấy tức là di tích của Phật Câu na hàm, có điều chỗ ấy không phải vua A dục kiến thiết, cho nên biết, trước thời vua A dục đã có tháp của Phật Câu na hàm rồi. [X. kinh Tạp a hàm Q.15 - kinh Phật danh Q.8 - kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.thượng - luận Đại trí độ Q.9 - Phiên Phạm ngữ Q.1 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].
câu na la
Kunala (skt)—Cưu Na La. 1) Tên một loài chim mắt đẹp—Name of a bird which has beautiful eyes, or a bird with beautiful eyes. 2) Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là con vua A Dục tên Dharmavivardhana, mà con trai tên Sampadi đã trở thành người kế vị vua A Dục: According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this was the name of Dharmavivardhana, son of Asoka, whose son Sampadi became the successor of Asoka. 3) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, Kunala còn có nghĩa là một ác nhân hay ác nhãn: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kunala is also translated as an evil man, or an evil eye.
câu na la đà
Gunarata (skt)—Câu Na La Tha—Tam Tạng Pháp Sư Chân Đế, từ Ujjain Tây Ấn đến Trung Quốc vào khoảng năm 546 sau Tây Lịch. Ngài đã dịch nhiều kinh sách, đặc biệt là bộ luận của ngài Thế Thân Bồ Tát—Name of Paramartha, who was known as Kulanatha, came to Chine around 546 A.D. from Ujjain in Western India. He translated many books, especially the treatises of Vasubandhu.
câu nệ
Finical—To stick too much to formalities.
câu nữu
Còn gọi là Huyền Nữu, treo áo cà sa mà khép kín hai vạt lại gọi là câu, bỏ thỏng hai dải xuống gọi là nữu (thắt nút trên áo cà sa sau khi mặc áo vào)—To knot, to tie, to button, e.g. a girdle.
câu phát ý chuyển luân bồ tát
(俱發意轉輪菩薩) Vị Bồ tát này được bày trong viện Hư không tạng trên Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo, ngồi bên phải bồ tát Hư không tạng. Mật hiệu là Pháp luân kim cương. Bản thệ cũng giốngnhư bản thệ của bồ tát Tài phát tâm chuyển pháp luân. Thân mầu trắng, tay trái cầm hoa sen, trên đặt bánh xe pháp - bàn tay phải ngửa lên, dựng chày một chẽ trên bàn tay, ngồi trên hoa sen đỏ.
câu phì la thiên
(俱肥羅天) Câu phì la, Phạm: Kuvera, hoặc Kubera. Dịch ý là thân hình không đẹp. Còn gọi là Cưu tề la thiên, Câu ni la thiên, Câu vĩ la thiên. Là tên gốc của Tì sa môn thiên, một trong bốn Thiên vương hoặc là quyến thuộc. Tại Ấn độ, Câu phì la là người giữ gìn phương bắc, là quỉ thần phúc đức, được tôn sùng từ xưa. Hình tượng, tay phải cầm gươm, tay trái nắm lại và ngửa lên, đặt ở khoảng cạnh sườn. [X. kinh A dục vương Q.6 - Thai tạng tứ bộ nghi quĩ - Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Đa Văn Thiên).
câu phần
Both way.
câu phần cú nghĩa
Sadṛsya-padarthah (S)Mối quan hệ vừa đồng vừa khác của các pháp.
câu phẩm nhất phần chuyển bất định quá
(俱品一分轉不定過) Tiếng dùng trong Nhân Minh. Câu phẩm nhất phần chuyển, Phạm: Sapakwavipakw-alkadeza-vftti. Còn gọi là Đồng dị câu phần. Nói tắt là Câu phần bất định quá. Là một trong mười bốn lỗi của Nhân thuộc ba mươi lỗi trong Nhân minh, một trong sáu lỗi bất định. Đối với Nhân (lí do) và Tôn (mệnh đề) đồng phẩm, Tôn dị phẩm đều có một phần lỗi. Tương đương với câu thứ chín Đồng phẩm chẳng có dị phẩm có chẳng có trong chín câu Nhân, sở dĩ nó thành lỗi là vì đối với tướng thứ ba Dị phẩm biến vô tính của Nhân chưa được hoàn thành. Chẳng hạn Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập Âm thanh là thường còn (Tôn, mệnh đề) vì không chất ngại (Nhân), ví như hư không, như cực vi (Đồng dụ phẩm), như cái bình, như nhạc (Dị dụ phẩm). Trong đây, hư không và cực vi đều có tính thường còn, vì thế chúng là Tôn đồng phẩm. Lại hư không không có tính chất ngại, cực vi thì có tính chất ngại, vì thế hư không là Nhân đồng phẩm, cực vi là Nhân dị phẩm. Bình và nhạc đều là vô thường, cho nên chúng là Tôn dị phẩm. Nhạc thì không có tính chất ngại, mà bình thì có tính chất ngại, cho nên nhạc là Nhân đồng phẩm, còn bình là Nhân dị phẩm. Nhân không chất ngại có Tôn dị phẩm là nhạc làm đồng phẩm, lại cũng có Tôn đồng phẩm là hư không làm đồng phẩm của nó. Nếu lấy nhạc làm chuẩn, thì thanh có tính không chất ngại, phải là vô thường - nếu lấy hư không làm chuẩn, thì thanh âm cùng có tính không chất ngại, phải cùng có tính thường còn. Nhưng thanh (tiếng) vừa là thường vừa là vô thường, cho nên Nhân ấy thực không thể chứng minh được, vì thế, Nhân ấy là một Nhân bất định, tức phạm vào lỗi Câu nhất phần chuyển bất định. [X. luận Nhân minh nhập chính lí - Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối - Nhân minh nhập chính lí luận Ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Minh).
câu phệ la
Kuvera (S). King of Uttarakuru. Also Câu tì la.
; Kuvera or Kubera (skt)—Một vị Thiên Vương ở phương Bắc, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, có ba chân tám răng—The god of riches, Vaisravana, regent of the north; having three legs and eight teeth. ** For more information, please see Tỳ Sa Môn Thiên Vương.
câu phọc bà la môn
(俱縛婆羅門) Còn gọi là Câu bác bà la môn, Cứu bà câu bà la môn. Bà la môn này thân phạm trăm tội, sau khi chết rơi vào địa ngục, sau nhờ sức công đức của Tùy cầu đà la ni mà hóa địa ngục thành Tịnh độ, và cùng với các tội nhân khác đều được ba mươi hai tướng, đầy đủ tám mươi vẻ đẹp. Cứ theo Tùy cầu đà la ni nghi quĩ chép, thì xưa kia, ở nước Ma kiệt đà, có một người bà la môn tên là Câu bác bà la môn, làm nhiều điều ác, tội không lường được, sau khi chết, rơi ngay vào địa ngục A tị, ngục tốt đến bắt đi, ngay lúc ấy, địa ngục bỗng hóa thành ao hoa sen, tràn đầy nước tám công đức. Là vì cách chỗ người ta đưa thi hài của Câu bác đến để thiêu về phía tây một dặm, có một ngôi tháp, trong đó có để văn chú Tùy cầu đà la ni, vì tháp đã đổ nát, văn chú rơi xuống mặt đất, khi gió thổi, một chữ trong văn chú bay theo và dính vào thi hài Câu bác bà la môn - vì nhân duyên ấy mà Câu bác và các tội nhân khác đều được ba mươi hai tướng, đầy đủ tám mươi vẻ đẹp, các tội nhân đều ở trên Liên hoa đài tạng thế giới mà thành chư Phật, Bồ tát, Câu bác bà la môn thì thành Phật Vô cấu ở thế giới phương trên. Truyện này và tên của Câu bác bà la môn được thấy rải rác trong các điển tịch Mật giáo, phần nhiều dùng để nói rõ sức công đức không thể nghĩ bàn của thần chú Tùy cầu đà la ni.
câu sanh duyên
Co-nascence condition.
câu sanh khởi
Sahaja (S)Phiền não hiện hữu lúc vừa sanh.
câu sanh thành tựu pháp
Sahaja-siddhi (S)Do Dombi Heruka biên soạn vào hậu bán thế kỷ VIII.
câu sanh thần
Xem Ta ha đề bà.
Câu sinh
倶生; C: jùshēng; J: gushō;|Có hai nghĩa: 1. Cùng sinh (khởi, tạo ra) với nhau (s: sama-utpatti); 2. Vốn có (cố hữu), bẩm sinh; một phần của bản tính con người (s: sahaja, theo Du-già luận 瑜伽論).
câu sinh
Natural, spontaneous, inborn as opposed to acquired.
; Đồng thời sanh ra, đối lại với do huân tập mà có—Natural, spontaneous, inborn as opposed to acquire.
Câu sinh chướng
倶生障; C: jùshēng zhàng; J: kushōshō;|»Nghiệp chướng phát sinh đồng thời« hoặc »nghiệp chướng bẩm sinh«. Thuật ngữ thường dùng trong Du-già hành tông. Nghiệp chướng sinh khởi cùng với tâm thức. Khi chấp vào ngã, thì có sự chấp trước do phân biệt một bản ngã trong tâm. Nên ngay khi có ý định kềm chế niệm tưởng phân biệt nầy, thì có một niệm chấp trước sinh khởi đồng thời với Ngã (chấp). Cho dù người ta cố gắng không để cho niệm tưởng phân biệt ấy sinh khởi và cố gắng uốn dẹp Ngã kiến, nhưng vẫn có một niệm chấp vào ngã sinh khởi. Đây được gọi là »sinh khởi đồng thời với tâm thức«. Chấp trước nầy sinh khởi trong thức thứ 7 cũng như thức thứ 6. Chủng tử phát sinh từ chướng này khác với những chủng tử phát sinh bởi »phân biệt chướng« (分別障). Vì Phân biệt chướng được trừ diệt khi hành giả giác ngộ lí nhân duyên, nó được trừ sạch một lúc khi đạt đến giai vị Kiến đạo. Tuy vậy, Câu sinh chướng là tập khí nhiều đời, thế nên dù hành giả là người đã hiểu đạo, nghiệp chướng vẫn sinh khởi. Nên khi tập khí đã sinh khởi, hành giả phải thường xuyên quán sát lí duyên sinh để diệt trừ câu sinh chướng nầy. Xem thêm Câu sinh khởi (倶生起). Còn gọi là Câu sinh phiền não (倶生煩惱).
Câu sinh chướng 倶生障
[ja] クショウショウ kushōshō ||| 'Simultaneously produced hindrances,' or 'innate hindrances.' A term used by the Yogācāra school 瑜伽行派. Hindrances that arise simultaneously with the mind. In the attachment to self, there is attachment due to discriminating a self through thought. Yet even when purposely suppressing this kind of thought, there is a spontaneously arisen attachment to self. Even though one is trying not to give rise to such thought and trying to suppress the self-view, still an attachment to self arises. This is what is called "arising together with the mind." This arising occurs in the seventh consciousness as well as the sixth consciousness. The seeds produced by this hindrance are different from those produced by the 'discriminated arising' 分別障 hindrance. Since the discriminated arising hindrance is cut off when one awakens to the principle of dependent origination, they are cut off at one time during the Path of Seeing (jiandao 見道). However, the hindrance of simultaneous arising is habituated, so even if one understands the principle of the Way, the hindrance will still arise. Since the habituated nature has developed, one must repeatedly practice the contemplation of dependent origination in order to cut off this hindrance. See also 倶生起 above. Also written 倶生煩惱. => "Nghiệp chướng phát sinh đồng thời" hoặc "nghiệp chướng bẩm sinh". Thuật ngữ thường dùng trong Du-già hành tông. Nghiệp chướng sinh khởi cùng với tâm thức. Khi chấp vào ngã, thì có sự chấp trước do phân biệt một bản ngã trong tâm. Nên ngay khi có ý định kềm chế niệm tưởng phân biệt nầy, thì có một niệm chấp trước sinh khởi đồng thời với Ngã (chấp). Cho dù người ta cố gắng không để cho niệm tưởng phân biệt ấy sinh khởi và cố gắng uốn dẹp Ngã kiến, nhưng vẫn có một niệm chấp vào Ngã sinh khởi. Đây được gọi là " sinh khởi đồng thời với tâm thức". Chấp trước nầy sinh khởi trong thức thứ bảy cũng như thức thứ sáu. Chủng tử phát sinh từ chướng này khác với những chủng tử phát sinh bởi "phân biệt chướng". Vì phân biệt chướng được trừ diệt khi hành giả giác ngộ lý nhân duyên, nó được trừ sạch một lúc khi đến giai vị Kiến đạo. Tuy vậy, câu sinh chướng là tập khí nhiều đời, thế nên dù hành giả là người đã hiểu đạo, nghiệp chướng vẫn sinh khởi. Nên khi tập khí đã sinh khởi, hành giả phải thường xuyên quán sát lý duyên sinh để diệt trừ câu sinh chướng nầy. Xem mục Câu sinh khởi倶生起. Còn gọi là Câu sinh phiền não倶生煩惱.
câu sinh hoặc
Các mối nghi hoặc cùng sinh khởi (ngã chấp câu sinh, pháp chấp câu sinh, phiền não chướng câu sinh, sở tri chướng câu sinh), đối lại với những nghi hoặc huân tập hay được dạy dỗ—Natural doubt, inborn illusion, in contrast to doubt or illusion acquired, e.g. being taught.
; (俱生惑) Các hoặc khởi lên cùng lúc với người ta khi mới sinh ra. Như câu sinh ngã chấp, câu sinh pháp chấp, câu sinh phiền não chướng, câu sinh sở tri chướng v.v... Luận Đại thừa bách pháp minh môn liệt kê sáu thứ hoặc câu sinh, gọi là Lục chủng câu sinh hoặc, đó là: 1. Tham hoặc, có nghĩa là đối với năm trần cảnh thuận tình, thì mong muốn tìm cầu không biết chán, đến độ say mê mà không rõ. 2. Sân hoặc, nghĩa là đối với năm trần cảnh trái ý, thì sinh tức bực giận dữ, đến nỗi điên cuồng mà không biết. 3. Si hoặc, nghĩa là đối với sự, lí của hết thảy pháp không biết phân biệt, điên đảo chấp càn mà khởi các tà kiến, đến nỗi u mê mà không rõ. 4. Mạn hoặc, nghĩa là kẻ quá chấp ngã tự tôn, cậy mình có tài, có của, rồi sinh tâm kiêu căng, khinh khi và lấn lướt người khác, đến độ điên cuồng mà không biết. 5. Nghi hoặc, nghĩa là không có lòng tin chân thực, đối với chính pháp do dự không quyết, tối tăm không rõ. 6. Giác hoặc, nghĩa là không thấy biết chân chính, đối với năm trần cảnh thường khởi thấy biết xấu xa, say sưa đắm đuối đến độ mê mẩn không biết.
Câu sinh khởi
俱生起; C: jùshēngqǐ; J: kushōki; S: sahaja; nghĩa là »Ðược tạo cùng lúc«, »Xuất phát cùng lúc«, »song sinh«, cũng có thể hiểu là »Cái đã có sẵn«, »Cái tuyệt đối có sẵn«; |Có các nghĩa sau: 1. Vốn đã sinh khởi; bẩm sinh; 2. Đặc biệt đề cập đến Câu sinh phiền não (倶生煩惱) vốn hiện hữu trong tâm thức một người do nghiệp từ đời sống trước. Đồng nghĩa với Nhậm vận khởi (任運起); 3. Phiền não bẩm sinh vốn được giải trừ trong tiền trình Tu đạo.|Một trường phái tu tập Tan-tra của Ðại Bà-la-môn Sa-ra-ha được gọi là Câu sinh khởi thừa (s: sahajayāna)
câu sinh khởi
Những sai lầm tự khởi, đối lại với Phân Biệt Khởi. Câu sinh khởi liên hệ mật thiết với Chân Ngôn thừa. Câu sinh khởi là gì? Theo nghĩa đen là 'sanh ra cùng lúc,' nhưng cái gì được sanh ra cùng lúc? Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Đạt Bảo Cáp Giải (Dvags-po-lha-rje), một đại đệ tử của một học giả Thánh nhân Tây Tạng là Mật Lặc Nhật Ba (Milaraspa), cho rằng những cái được sanh ra cùng lúc với nhau là cái cơ bản nơi Tâm ý và cái cơ bản nơi sự trình hiện . Điều ông muốn nói ở đây là cái Thực Tại (Reality) và cái Trình Hiện (Appearance) không bị ngăn cách nhau bởi một hố sâu không thể bắc cầu, mà chúng là đồng nhất. Sự đồng nhất này có nghĩa thực tại là độc nhất bất khả phân, và chỉ bị phân chẻ ra một cách tùy tiện thành nhiều cái đối nghịch nhau bởi các phương pháp và kỹ thuật phân tích của trí năng. Do đó chỉ có thể cảm nhận và kinh nghiệm được sự đồng nhất của Thực Tại và Trình Hiện bằng những phương pháp trực giác. Thật hoàn toàn sai lầm nếu ta quan niệm sự đồng nhất ấy như một giả thuyết được đưa ra theo kiểu định đề. Để nhận thức điều đó, phải trải qua một quá trình thiền định, dựa trên kinh nghiệm trực tiếp và nhận ra một điều là không thể tách hoạt động tinh thần ra khỏi những vấn đề tình cảm xuất hiện cùng lúc. Hoạt động phân đôi của đầu óc hay vọng tưởng (vikalpa) được đi kèm và thậm chí còn được hỗ trợ bởi những tình cảm xung khắc hay phiền não (klesa) cho nên bị làm cho mờ tối hay vô minh (moha or andhakara). Tình trạng hỗn loạn này của đầu óc có thể chữa bằng phép hành thiền. Sự tịch tĩnh cần có trong trí, không phải được tạo nên bằng cách trấn áp mà là bằng sự am hiểu các quá trình tâm lý, là ý niệm sơ bộ về những gì tạo nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển tâm linh, hoặc bằng quan điểm mà từ đó người ta có thể an toàn tiến tới. Càng đi theo con đường này và càng kinh nghiệm sâu hơn thì cái nhìn càng trở nên rõ ràng hơn, bởi vì nói theo kiểu cách thông thái thì các khái niệm cản trở tầm nhìn vì gây ra những sự đối nghịch nhân tạo đã trở nên vô hiệu, còn về mặt tình cảm thì sự xung khắc đã được giải quyết. Chính là từ sự kinh nghiệm này, chứ không phải từ một nỗ lực giải thích duy lý vô bổ, mà chân lý đương nhiên của Đại Thừa về sự đồng nhất giữa luân hồi với niết bàn, và sự đồng nhất giữa tính đa cảm với sự giác ngộ mới mang một ý nghĩa—Errors that arise naturally among people (arising and born with one; spontaneous), in contrast with delusions arising from reasoning and teaching (Phân biệt khởi). “To be born together” or 'sahaja' is closely related to Mantrayana. What does 'sahaja' mean? The literal meaning is 'to be born together,' but what is it that is born together? According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the classical answer has been given by Dvags-po-liha-rje, the most gifted disciple of the Tibetan scholar and saint Milaraspa. He explains that it is the ultimate in Mind or the dharmakaya and the ultimate in Appearance or the light of the dharmakaya which are born together. What he wants to say is that Reality and Appearance are not separated from each other by an unbridgeable gulf, but are identical. This identity means that Reality is one and indivisible and is split up arbitrarily into a number of opposites only by the analytical methods and techniques of the intellect. Hence, the identity of Reality and Appearance can be realized and experienced only by intuitive processes, and it is absolutely wrong and misleading to conceive of this identity as a postulationally proposed hypothesis. In order to achieve this realization, a course of meditation has been developed which is based on direct experience and takes cognizance of the fact that intellectual operations are inseparable from their emotional concomitants. The dichotomizing activity of the mind (vikalpa) is accompanied and even supported by conflicting emotions (klesa), which has an obscuring influence (moha or andhakara). This turbulent state of mind can be remedied by meditative practices. This quietude, which, as has to be born in mind, is not achieved by repression but by an understanding of the psychological processes, is the first glimpse of what forms a solid basis for further spiritual development or the view point from which one can safely proceed onwards. This viewpoint is technically known as 'happiness, lustre, and non-dichotomizing thought.' The more this line is pursued and the deeper the experience becomes, the clearer the view becomes, since, intellectually speaking, the concepts which obstruct the view by creating artificial opposites have become ineffective, and, in respect of the emotions, the conflict has been resolved. It is from this experience, and not from a futile attempt at rationalizing, that the Mahayanic axiom of the identity of samsara and nirvana and of the identity of emotionality and enlightenment assumes significance. ** For more information, please see Nhị Khởi.
; (俱生起) Phạm: Sahaja. Nói tắt là Câu sinh. Đối lại với Phân biệt khởi. Khi phiền não (Tâm mê hoặc) sinh khởi thì có hai dạng hình thái, nên chia phiền não làm hai, tức là: 1. Câu sinh khởi, là phiền não tiên thiên, sinh ra đã có. 2. Phân biệt khởi, là phiền não có tính hậu thiên, do thế lực bên ngoài là tà giáo, tà sư, hoặc do chính mình không biết suy nghĩ và phân biệt chín chắn mà sinh khởi. Tính chất của phiền não hậu thiên tuy mạnh, nhưng tương đối dễ trừ diệt, còn tính chất của phiền não tiên thiên thì rất nhỏ nhiệm và cực kì khó dứt trừ. Đoạn có thứ tự, hoặc phân biệt khởi (tức hậu thiên), thì ở giai đoạn Kiến đạo thứ nhất, nhờ thực hành Phật đạo mà đoạn trừ được, cho nên gọi là Kiến hoặc. Hoặc câu sinh khởi (tức tiên thiên) thì nhờ giai đoạn Tu đạo thứ hai mà dứt trừ được, cho nên gọi là Tu hoặc. Lại ngã chấp cũng chia làm hai thứ là Câu sinh ngã chấp và Phân biệt ngã chấp. [X. luận Thành duy thức Q.1 - luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7 - luận Thành duy thức thuật kí Q.1 phần cuối, Q.2 phần cuối].
câu sinh khởi thừa
Sahajayana (skt). • Câu Sinh Khởi Thừa liên hệ mật thiết với Chân Ngôn Thừa. Hai thừa này đã có ảnh hưởng rất lớn trên Phật Giáo Tây Tạng. Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, thì chúng ta có đủ bằng chứng để chứng minh rằng đó cũng là nền tảng của Phật giáo Thiền tông. Ảnh hưởng này rất dễ thấy vì nó liên quan đến toàn bộ bản chất con người. Con người không phải chỉ là một thực thể trí huệ mà còn là một thực thể tình cảm nữa, và chúng ta biết rõ rằng trong bất cứ việc gì, ý nghĩa tình cảm luôn có một tầm quan trọng lớn hơn ý nghĩa trí tuệ thuần túy. Do đó, trong khi tất cả các hệ tư tưởng Phật giáo nổi bật, các tác phẩm được hệ thống hóa của Trung Quán tông, Duy Thức tông, Hậu Hữu Bộ tông (Vaibhasika), Kinh Lượng bộ, vân vân đều chỉ còn ít nhiều giá trị học thuật mà thôi thì Chân Ngôn Thừa và Câu Sinh Khởi Thừa vẫn còn được sức sống cho đến ngày nay. Phật giáo đang tồn tại ở Tây Tạng, các nước vùng Hy Mã Lạp Sơn, Trung Hoa và Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng sâu xa các phép hành trì của Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa, và ta không thể hình dung ra Phật giáo ở các nước trên mà không có được phép hành trì này. Chính vì những điều mà Câu Sinh Khởi Thừa dạy không phải là một hệ thống thuộc về trí tuệ, mà là một sự rèn luyện khắt khe chỉ có thực hành thì mới biết được, cho nên giáo lý này trở nên khó hiểu và khó định nghĩa (see Câu Sinh Khởi). Hơn thế nữa, Câu Sinh Khởi Thừa chú trọng vào việc tiếp cận thực tế bằng trực giác, mà ta cần biết là chức năng của trực giác không giống với chức năng của trí tuệ, và cách hoạt động của hai thứ nầy hoàn toàn khác nhau. Điều nầy giải thích cho sự kiện là Câu Sinh Khởi Thừa và Chân Ngôn Thừa đã thoát khỏi số phận phải trở thành những tông phái chết—Sahajayana is closely related to Mantrayana. These two yanas have had the greatest influence on Tibetan Buddhism. According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, there is sufficient evidence to show that it is also the basis of Zen Buddhism. Their influence has been all the more marked, because they refer to the whole of human nature. Man is not only an intellectual being, but also an emotional one, and it is well known that the emotive meaning of anything whatsoever is of greater importance for shaping the life of an individual than the mere intellectual connotation. Thus, while all the brilliant systems of Buddhist thought, the systematized works of the Madhyamikas, Vijnanavadins, Vaibhasikas, Sautrantikas, and so on, are more or less of academic interest only, Mantrayana and Sahajayana have remained a living force to this day. The living Buddhism of Tibet, the Himalayan countries, China, and Japan has been deeply influenced by the practices of Mantrayana and Sahajayana, and cannot be conceived without them. The very fact that what Sahajayana teaches is no intellectual system but a strict discipline that has to be practised in order to be known makes it difficult to comprehend and to define. Moreover, Sahajayana emphasizes the intuitive approach to Reality, and it is a fact that the function of intuition is not the same as that of the intellect and that their modes of operation are completely different. This accounts for the fact that Sahajayana and Mantrayana successfully evaded the fate of turning into dead systems. • Dù rằng Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa không phải là những trường phái bám víu vào những giáo lý được xác định một cách chặt chẽ như các giáo phái khác, như Vaibhasika, Duy Thức, nhưng các trường phái trên có tầm quan trọng đối với sức sống của Phật giáo. Chân Ngôn thừa với những nghi thức kích động tình cảm và lạ mắt, Câu Sinh Khởi thừa với phép hành thiền sâu lắng. Cả Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa đều quan tâm tới khía cạnh thực hành của Phật giáo mà bốn đỉnh cao là—Although Mantrayana and Sahajayana are not schools clinging to rigidly defined doctrines, as do, for instance, the Vaibhasikas and Vinanavadins, they are of the greatest importance for the living force of Buddhism. Mantrayana with its emotionally moving and aesthetically appealing ritual, and Sahajayana with its profound meditative practices. Both Mantrayana and Sahajayana are concerned with the practical aspect of Buddhism which culminates in the four peaks of view: a) Kiến: Cái nhìn dựa trên kinh nghiệm thực tế—View based on experience. b) Tu: Khai triển những gì mà cái nhìn đó cho thấy—Cultivation—Development of what this view offers. C) Hành: Sống và làm phù hợp theo đó—Practice—To live and act accordingly. d) Quả: Sự hợp nhất của cá thể (giác ngộ, Phật quả, hay sự thành thục về tâm linh)—The integration of the individual (enlightenment, Buddhahood, or spiritual maturity).
Câu sinh khởi 倶生起
[ja] クショウキ kushōki ||| (1) Inherently arisen; inborn, innate. (2) Especially refers to innate afflictions 倶生煩惱 that are present in one's mind due to the karma of prior existences. Synonymous with 任運起. (3) The innate afflictions are said to be eradicated in the course of the Path of Cultivation 修道. => Có các nghĩa sau: 1. Vốn đã sinh khởi; bẩm sinh. 2. Đặc biệt đề cập đến Câu sinh phiền não vốn hiện hữu trong tâm thức một người do nghiệp từ đời trước. Đồng nghĩa với Nhậm vận khởi任運起. 3. Phiền não bẩm sinh vốn được giải trừ trong tiến trình Tu đạo.
Câu sinh phiền não
倶生煩惱; C: jùshēngfánnăo; J: gushōbonnō; |(Bốn) loại phiền não bẩm sinh đi kèm với thức thứ 7 (Mạt-na thức 末那識), đồng nghĩa với Nhậm vận phiền não (任運煩惱). Xem Câu sinh chướng (倶生障) và Câu sinh khởi (倶生起). Những phiền não, nghiệp chướng… được mang theo từ kiếp trước, do vậy đeo bám rất sâu. Những phiền não nầy thường được giải trừ trong giai vị Tu đạo (修道). Ngược lại, những phiền não phát sinh do (trí) phân biệt trong đời nầy (phân biệt phiền não 分別煩惱), có thể được giải trừ sớm hơn trong giai vị Kiến đạo (見道).
Câu sinh phiền não 倶生煩惱
[ja] グショウボンノウ gushōbonnō ||| The (four) innately produced afflictions that are concomitant with the seventh (manas) consciousness 末那識; synonymous with 任運煩惱. Also see 倶生障 and 倶生起. Afflictions, karma, etc., that have been carried over from previous lifetimes, which are therefore more deeply embedded. These are usually considered to be removable during the Path of Cultivation 修道. These are contrasted to the afflictions produced by discrimination in the present lifetime 分別煩惱, which can be removed earlier, in the Path of Seeing 見道. => (Bốn) phiền não bẩm sinh đi kèm với thức thứ bảy (Mạt-na thức), đồng nghĩa với Nhậm vận phiền não任運煩惱. Xem Câu sinh chướng 倶生障và Câu sinh khởi倶生起. Những phiền não, nghiệp chướng ... được mang theo từ kiếp trước, do vậy đeo bám rất sâu. Những phiền não nầy thường được giải trừ trong giai vị Tu đạo. Ngược lại với những phiền não phát sinh do (trí) phân biệt trong đời nầy (phân biệt phiền não), có thể giải trừ sớm hơn trong giai vị Kiến đạo.
câu sinh pháp
Các pháp đồng thời sinh ra và không tách lìa nhau—Spontaneous ideas or things.
; (俱生法) Nói tắt là Câu sinh. Tức là pháp sinh khởi cùng một lúc và không rời nhau. Theo luận Câu xá quyển 4, thì trong các pháp, có pháp quyết định câu sinh. Tại cõi Dục, cực vi nhỏ nhất cũng cùng với tám yếu tố (bốn đại chủng năng tạo: đất, nước, lửa, gió và bốn trần sở tạo: sắc, hương, vị, xúc) cùng sinh một lúc. Ở cõi Vô sắc, đứng về mặt tâm mà nói, thì tâm và tâm sở cùng sinh, thiếu một thì các pháp khác không khởi. Sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ứng, tất cả các hành hữu vi, khi sinh tất phải cùng với bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt cùng sinh. [X. luận Đại tì bà sa Q.144 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.10 - luận Câu xá quang kí Q.4].
câu sinh thần
The spirit, born at the same time as the individual, which records his deeds and reports to Yama.
; 1) Vị Thần cùng sanh ra với tất cả mọi người và ghi chép tất cả những thiện ác của con người để báo cáo cùng Diêm Vương: The spirit born at the same time as the individual, which records his deeds(one's good and evil)and reports to Yama. 2) Có người nói Câu Sinh Thần chính là A Lại Da Thức: Another says it is the Alaya-vijnana.
; (俱生神) Phạm: Saha-deva. Thuộc bộ Thiên. Cứ theo kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) phẩm Nhập pháp giới, kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương chép, thì thần này thường cỡi trên hai vai của người ta, để rồi sau khi người ta chết thì báo trình với Diêm ma vương về việc ra đời và điều thiện ác của người ấy. Cũng có khi lẫn lộn với ngục tốt trong địa ngục. Theo thuyết của ngài Cát tạng trong Vô lượng thọ kinh sớ nói, thì mỗi người có hai thần câu sinh, một gọi là Đồng sinh, một gọi là Đồng danh. Đồng sinh là thần con gái, thường ngồi trên vai bên phải của người ta, ghi chép những việc ác của người ấy - Đồng danh là thần con trai, ngồi trên vai bên trái của người, ghi chép những việc thiện của người ấy.
Câu sinh 倶生
[ja] グショウ gushō ||| (1) To be born (produced, arise) together. (sama-utpatti) (2) Inherent, inborn; part of one's nature. (sahaja) 〔瑜伽論T 1579.30.283a〕 => Có hai nghĩa: 1. Cùng sinh (khởi, tạo ra) với nhau (s: sama-utpatti). 2. Vốn có (cố hữu), bẩm sinh; một phần của bản tính con người (s: sahaja).
câu sắc tha ca
Kosthaka (S).
câu sắt sỉ la
Kausthila (skt)—Câu Sắt Chỉ La—Tên của một vị A La Hán, một người cậu của ngài Xá Lợi Phất, người đã trở thành một đệ tử nổi tiếng của Đức Phật—An arhat, maternal uncle of Sariputra, who became an eminent disciple of Sakyamuni.
Câu Thi Na
(s: Kuśinagara, p: Kusinagara, Kusinārā, 拘尸那、倶尸那): còn gọi là Câu Thi Na Yết La (拘尸那掲羅), Câu Thi Na La (拘尸那羅), Câu Thi Na (倶尸那), Câu Thi (拘尸), v.v., là tên gọi của một đô thị lớn ở miền Trung Ấn Độ. Nơi đây nổi tiếng là vùng đất mà đức Phật đã nhập diệt. Đương thời thành phố này thuộc về nước Ma La (Malla, 摩羅) có con đường nối tiếp từ thành Tỳ Xá Ly tới thành Ca Tỳ La Vệ. Hiện tại nó nằm ở vùng phụ cận của bang Uttarpradesh. Tương truyền đức Phật đã nhập diệt trong rừng Sa La, một bên dòng sông Hy Liên (s: Hyrṇyavatī, 熙連).
câu thi na
Kusinagara (S). The place where Sàkyamuni died.
; Kusinagara (skt)—Kusinara (p)—Còn gọi là Câu Di Na Kiệt, Cứu Thi, Câu Thi Na Kiệt, Câu Thu Yết La, Giác Thành—Kinh đô của vương quốc Mạt La nằm về phía bắc Ấn Độ, một trong 16 vương quốc lớn tại Ấn Độ thời Đức Phật. Bây giờ là tỉnh Kasia, khoảng 35 dậm về phía Đông thành phố Gorakhupur thuộc bang Uttar Pradesh vùng Bắc Ấn. Nơi Đức Phật nhập Niết bàn trong vườn Ta La (Đức Phật nhập diệt trong an nhiên vào tuổi 80 tại rừng Ta La phía bắc thành câu Thi Na, vào khoảng 543 năm trước Thiên Chúa). Nhục thân của Phật được hỏa thiêu và một phần xá lợi của Ngài đã được tôn trí thờ trong một bảo tháp tại Câu Thi Na. Vì là nơi Đức Phật nhập diệt nên Câu Thi Na đã trở thành một trong bốn Thánh địa thiêng liêng nhất của Phật giáo. Gần đây các nhà khảo cổ Ấn Độ đã tìm ra phế tích Tháp Niết Bàn, nơi Đức Phật đã nhập diệt (Đức Phật thành đạo lúc Ngài 30 tuổi, thuyết pháp độ sinh trong 49 năm, Ngài đi chu du dọc theo bờ sông Hằng và các xứ lân cận trong nước Ấn Độ, chỗ nào có nhân duyên là Ngài đến hóa độ. Năm Ngài 78 tuổi, chuyến du hóa cuối cùng từ thành Vương Xá đến thành Câu Thi Na, Đức Phật cùng chúng đệ tử vượt qua sông Hằng vào thành Tỳ Xá Ly, ngụ tại khu rừng Trúc, an cư ba tháng. Năm sau Phật cùng tôn giả A Nan đến thành Ba Bà Lợi, giữa đường thì Đức Phật lâm trọng bệnh nhưng Ngài vẫn cố gắng đi đến thành Câu Thi Na. Dưới hàng cây Ta La, Đức Phật bảo ngài A Nan sửa soạn chỗ nghỉ, xong Ngài nằm nghiêng về bên phải, mặt hướng về phương tây, rồi an nhiên thị tịch, lúc ấy Ngài đã 80 tuổi). Theo Giáo Sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, giống như các thánh địa khác có liên quan đến cuộc đời đầy những sự kiện quan trọng của Đức Phật, Câu Thi Na từng là một điểm hành hương đông đúc, và trước đây nơi nầy đã mọc lên nhiều điện thờ cùng các tu viện. Tuy nhiên, không biết sao nơi nầy sớm trở thành hoang phế. Ngay cả các nhà hành hương Trung Quốc là Pháp Hiển và Huyền Trang đều đã ghi nhận sự đổ nát và cô tịch hoàn toàn của nơi một thời quan trọng nầy. Ngôi tháp Paranirvana mà người ta nói là do vua A Dục xây dựng vẫn chưa được tìm thấy. Trong số các đền đài thiêng liêng khác còn tồn tại có thể kể đến Matha-Kunwar ka Koti, nơi nầy có một tượng Phật nằm thật lớn trong trạng thái nhập niết bàn. Bức tượng nầy đã bị vụn nát khi được tìm thấy và đã được Ngài Carlleyle phục hồi một cách khéo léo. Ngọn tháp lớn được dựng lên tại địa điểm nhục thân của Đức Thế Tôn được hỏa thiêu và nơi xá lợi của Ngài được chia đều làm tám phần để thờ, có lẽ được thấy là một gò đất lớn mà dân địa phương gọi là Ramabhar. Gò đất nầy chỉ mới được nghiên cứu một phần và cần có sự khảo sát một cách có hệ thống để đưa ra ánh sáng những chi tiết quan trọng liên quan đến lịch sử của thánh địa nầy—The capital of the kingdom of Mallas, located in northern India, one of the sixteen major countries in India during the Buddha's lifetime. It is now Kasia, about 35 miles to the east of the city of Gorakhpur in Uttar Pradesh State of northern India. This is the place where the Buddha entered Nirvana in the Sala Grove (the Buddha passed away without any sorrow at 80 years of age in a grove of sala trees north of Kusinara, about 543 years before Christ). After his death, his mortal remains were cremated and a part of his relics were preserved in a stupa or pagoda in Kusingara. As the place of Buddha's death, Kusinagara became one of the most holy Buddhist places of pilgrimage. Recently, Indian archaeologists found the Nirvana Temple and its ruins at Kusinagara where the Buddha passed away. According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, like the other sacred places connected with the eventful life of the Buddha, Kusinara rose to be an important place of pilgrimage and in the course of time was covered with sacred shrines and monasteries. However, for unknown reasons, the place was deserted early in its history, and both Fa-Hsien and Hsuan-Tsang note the utter ruin and desolation of this once important site. The stupa of Parinirvana which Asoka is said to have built has not yet been brought to light. Among the other sacred edifices that still remain may be mentioned the Matha-Kunwar-ka-koti which enshrines a large recumbent figure of the Buddha in the state of nirvana. The image was found in fragments and has been skilfully restored by Mr. Carlleyle. The great stupa which stood on the spot where the body of the Buddha was cremated and where relics of the Master were divided into eight equal portions is probably represented by a large mound locally known as Ramabhar. This mound has only been partially examined and a more systematic exploration is expected to bring to light important material relating to the history of this venerable spot. ** For more information, please see Tứ Động Tâm in Vietnamese-English Section.
câu thi na thành
Kuśināgāra (S), Kusinārā (P)Cách thành Ba la Nại khoảng 200 cây số. Nơi tổ chức kết tập kinh điển lần thứ nhất. Nơi có rừng cây Sa la song thọ, chỗ Phật nhập diệt.
câu thi na yết la
(拘尸那揭羅) Phạm: Kuzinagara, Pàli: Kusinàra. Tên đô thành hoặc tên nước ở trung Ấn độ, là nơi đức Phật nhập diệt. Còn gọi là Câu thi na già la, Câu di na kiệt, Câu thi na, Cù sư la, Câu thi thành. Ý là đô thành của cỏ tốt lành. Đời xưa gọi là Câu xá bà đề. Dịch ý là Thượng mao thành, Hương mao thành, Mao cung thành, Thiểu mao thành, Nhuyễn thảo thành, Mao thành, Thảo thành, Dác thành. Thành này nằm ở nước Mạt la (Phạm: Malla), một trong mười sáu nước lớn ở thời đức Phật, là lãnh thổ của chủng tộc Mạt la. Cứ theo Cao tăng pháp hiển truyện chép, thì từ thành Ca tì la, nơi đức Phật sinh, đi về hướng đông năm do diên, vào nước Lam mạc, lại từ đây tiếp tục đi về đông bảy do diên nữa thì đến tháp Khôi thán..... (tháp tro than), lại cứ đi về đông mười hai do diên nữa thì đến thành Câu di na kiệt. Ở khoảng giữa hai cây bên sông Hi liên về phía bắc thành, tức là nơi đức Phật nhập diệt. Lại cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6 chép, thì chu vi thành này hơn mười dặm, thành quách đổ nát, làng ấp tiêu điều, dân cư thưa thớt. Mạn đông bắc thành, có tháp Phật do vua Vô ưu (A dục) dựng, phía tây ngạn, có tinh xá lớn bằng gạch, trong có tượng đức Như lai Niết bàn.Gần Câu thi na yết la, còn có các di chỉ như: nhà cũ của Chuẩn đà, nơi cứu hỏa khi Như Lai tu hạnh Bồ tát, nơi cứu hươu, nơi Hiền thiện đắc đạo, nơi lực sĩ Kim cương buông chày xuống đất, nơi chư Thiên dừng lại để cúng dường Kim quan bảy ngày, nơi Phật mẫu khóc đức Phật, nơi đồ tì (hỏa táng) đức Phật và nơi tám ông vua phân chia xá lợi của Phật v.v... Ngoài ra, cứ theo Vãng ngũ Thiên trúc quốc truyện của sư Tuệ siêu vị tăng người Tân la chép, thì thường có các sư bao quét tháp Phật - hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 tăng ni đạo tục tề tựu về đây rất đông và thiết đại lễ cúng Nơi Hỏa Táng Đức Phật dường, là một trong tám nơi đại linh tích của Ấn độ. Khi các ngài Pháp hiển và Huyền trang của Trung quốc tây du, đều đã đến đây chiêm bái Thánh tích. Về sau, do Hồi giáo xâm nhập và Ấn độ giáo phục hưng, Phật giáo bèn suy dần. Về vị trí hiện nay của Câu thi na yết la, thì có nhiều thuyết khác nhau: 1. Nhà khảo cổ học Khang lâm hãn (A. Cunningham) và nhà Ấn độ học Uy nhĩ sâm (Wilson), người Anh, cho cái nền cổ xưa của Tát hán khách đặc (Sahankat) là di chỉ của tháp Khôi thán - cách Tát hán khách đặc khoảng năm mươi cây số về phía đông bắc, là Ca tư a (Kasia), tức là đất cũ của Câu thi na yết la. 2. Nhà Ấn độ học người Anh là Sử mật tư (V. A. Smith) và học giả Mục khải cơ (Mukherji), sau khi Lam tì ni được phát hiện, tiến tới suy đoán nơi Phật Niết bàn và cho khu rừng rậm ở địa phương Tháp lai (Tarai) của Ni bạc nhĩ (Nepal) là nền cũ của Câu thi na yết la. Tuy nhiên, về mạn tây nam Ca tư a, một ngôi nhà được phát hiện, gọi là Nhà niết bàn, trong nhà có thờ pho tượng Phật niết bàn rất lớn, bài văn khắc ở trên là vào thế kỉ thứ V. Lại ở gần nhà Niết bàn, người ta tìm thấy những bàn in bằng đất, bằng đồng, bản in đất trên có khắc các chữ chùa đại Niết bàn. Bởi vậy, thông thường phần nhiều người ta cho Ca tư a là đất cũ Câu thi na yết la. [X. kinh Tạp a hàm Q.23 - Trường a hàm Q.2 kinh Du hành - Phật sở hành tán Q.5 - kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.29 - kinh Bát đại linh tháp danh hiệu - luận Đại trí độ Q.2 - Đảo sử chương thứ 5 - Nam hải kí qui nội Pháp truyện Q.1 - Thích ca phương chí Q.hạ - Huyền ứng âm nghĩa Q.21 - Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết - A. Cunningham: The Ancient Geography of India - V. A. Smith: Early History of India].
câu thi vệ đà
Xem Lê Câu Phệ đà kinh.
; Rgveda (S). Collection of the Song-texts of Veda.
câu thiểm di kiền độ
(俱睒彌犍度) Tên Phạm: Kauzàmbi skandha, Pàli: Kosambi-khandaka. Là một trong hai mươi Kiền độ của tạng Luật. Sau khi đức Phật thành đạo, mùa An cư lần thứ chín được cử hành tại nước Câu thiểm di (tức nước Kiêu thưởng di), nhân một tỉ khưu phạm việc tranh cãi, ở trong đại chúng mà chửi bới, phỉ báng, náo loạn mãi không thôi, đức Phật không vui lòng, bèn trở về nước Xá vệ. Về sau, Phật vì các tỉ khưu của nước Câu thiểm di mà nói mười tám việc chấm dứt tranh cãi. Sự việc này được chép trong luật Tứ phần quyển 43 Kiền độ thứ 9, Đại phẩm Luật tạng (Mahàvagga), văn Pàli, Kiền độ thứ 10.
câu thiểm di quốc
(拘睒彌國) Phạm: Kauzàmbi, Pàli: Kosambì. Tên một nước xưa ở trung Ấn độ. Còn gọi là Kiêu thưởng di quốc. Dịch ý là Không tĩnh lắm, có tàng trữ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, thì nước này chu vi hơn sáu nghìn dặm, đất đai phì nhiêu, khí hậu nóng bức. Trong đô thành có tinh xá lớn, cao hơn sáu mươi thước, trong có pho tượng Phật bằng gỗ chiên đàn, do vua Ô đà diễn (Ưu điền) tạc, các nước đều vẽ tượng này để cúng dường. Cách thành hơi xa về phía đông, có một ngôi nhà cũ bằng gạch, là nơi bồ tát Thế thân từng ở để viết luận Duy thức, trong rừng Am một la về phía đông, có một nền nhà cũ, nơi bồ tát Vô trước từng ở để viết luận Hiển dương thánh giáo. Cách đó về mạn đông bắc hơn bảy trăm dặm, bên sông Căng già (Hằng hà), có thành Ca xa phú la, nơi đây bồ tát Hộ pháp đã từng hàng phục ngoại đạo. Vị trí nước này hiện nay ở vào địa phương cách mươi cây số về phía tây bắc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24]. (xt. Kiêu Thưởng Di Quốc).
câu thát la
Kosala (S). Name of a place. Also Kiều tất la.
câu thúc
To constrain—To bind.
câu thường di
Xem Kiều Thiểm Tỳ.
câu triệu pháp
Ākarṣana (S), Ākarṣanī (P), Kuyo (J).Pháp tu mật để phát thiện tâm thoát ba đường ác sanh về cõi lành.
; Vasikarana (skt)—Một trong ngũ chủng đàn pháp, phép tu triệu tập chư tôn của Mật giáo—One of the five kinds of esoteric ceremonial, the method in esoteric practice of summoning and influencing the beneficent powers—See Ngũ Chủng Tu Pháp.
; (鈎召法) Câu-triệu, Phạm: Àkarwaịa, hoặc Àkarwaịì Dịch âm: A yết sa ni, Ế hê hi. Cũng gọi là Nhiếp triệu pháp, Thỉnh triệu pháp, Chiêu triệu pháp. Là một trong bốn loại pháp tu của Mật tông, cũng là một trong năm phép tu. Là các phép bí mật kêu gọi lòng người tu thiện. Được phối với bộ Yết ma trong năm bộ. Phép này vốn từ phép Kính ái trong bốn loại phép tu được diễn ra, vì nó có khả năng kêu gọi lòng người, lại cũng có thể kêu gọi các hữu tình trong ba ngã ác, khiến được sinh vào các nơi tốt lành, cũng như cái lưỡi câu móc kéo các vật, vì thế nên gọi là Câu triệu pháp. Nếu khi dùng song song với phép Kính ái, thì gọi chung là Câu triệu kính ái pháp. [X. kinh Đại nhật Q.6 phẩm Thế xuất thế hộ ma - kinh Du già du kì phẩm Nhiễm ái vương]. (xt. Câu).
câu trá xa ma lợi thụ
(拘咤賒摩利樹) Pham : Kùỉazàlmali, Kùỉazàlmalika. Dịch ý là hươu tụ họp. Còn gọi là Cư tra xa ma lị, Cứu la thiểm ma la. Thuộc loài cây cao có xơ bông. Tên khoa học là Andersonia rohitaka. Theo kinh Khởi thế quyển 5 chép, thì câu tra xa ma lị là một giống cây to, cao một trăm do tuần, cành lá che khắp năm mươi do tuần. Trong sách Ma ha bà la đa thì bảo vua Diêm ma dùng gai của cây này đâm tội nhân để tra khảo. [X. Trường a hàm Q.19 kinh Thế kí - Tuệ lâm âm nghĩa Q.53].
câu trân na
(俱珍那) Còn gọi là Câu trần na. Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ chép, thì Câu trần nghĩa là cái bát lớn - Na, là ý phép tắc. Xưa kia, có một người tiên đủ năm thần thông, tên là Câu trần, đặt một cái bát lớn trên mặt đất, chứa đầy nước bằng cái hồ, rồi cứ ngồi bên cạnh bát mà tu phép tiên, cũng thường nói kinh Hộ tịnh và phép dưỡng sinh cho người ta nghe. Từ đó về sau, học trò đều lấy tên và phép tu của thầy làm họ của mình. gười học mỗi ngày một đông và thêm rộng, rồi ngay ở chỗ ấy dựng lên thành quách, cho nên người trong cả nước đều có họ là Câu trần na, thành cũng gọi là thành Câu trần na.
câu trí
(俱致) I. Câu trí. Phạm: Pàli: Koỉi. Còn gọi là Câu chi, Câu lê. Là tên gọi số lượng được dùng tại Ấn độ xưa. Có thuyết nói tương đương với một nghìn vạn, hoặc một ức. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Câu Chi).II. Câu trí. Nói tắt của Tì câu trí. Ý là chau mày. Có thuyết nói là Tì câu trí Quan âm, Thất câu chi Phật mẫu tôn. Kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú quyển hạ (Đại 20, 428 thượng), nói: Tì câu chi, Hán dịch là mắt giận. Kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni (Đại 20, 178 hạ), nói: Vì thương nhớ các chúng sinh ác nghiệp bạc phúc ở đời vị lai, nên vào tam ma địa Chuẩn đề, nói ra Đà la ni do Phật Thất câu chi đã nói ở quá khứ.
câu tát la
Xem Kiều tát la.
câu tì la
(俱毗羅) I. Câu tì la. Phạm: Kumbìra. Còn gọi là Cưu tiên la, Kim tì la, Cung tì la. Dịch ý là thuồng luồng, tức con giao long, chỉ rồng có vảy cá. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.5 - Đại đường tây vực kí Q.7]. II. Câu tì la. Phạm: Kubera. Dịch ý là thân không đẹp. Là biệt danh của Tì sa môn Thiên vương. Nguyên là thần tài của Ấn độ giáo. Là người giữ gìn tất cả của cải trên đời, là thần bảo hộ phương bắc, cũng là vua của Dạ xoa và Khẩn na la. Ở trên núi Cát la sa (Phạm:Kailàsa), hình dáng xấu xí, có ba đùi, một mắt, còn mắt kia thì chỉ là cái dấu sẹo mầu vàng. Phật giáo lấy làm một trong bốn Thiên vương hộ pháp. [X. kinh A dục vương Q.6 - kinh Tì sa môn Thiên vương]. (xt. Đa Văn Thiên). III. Câu tì la. Phạm: Kumbhìra. Cũng gọi là Kim tì la. Là một trong mười hai thần tướng của Dược sư Như lai, một trong mười sáu thiện thần thủ hộ Bát nhã. Thủ lãnh Dạ xoa, đứng đầu các thần vương Dạ xoa phát nguyện giữ gìn Phật pháp. Mười hai Thần tướng và mười hai địa chi phối với nhau, đêm ngày mười hai thời thủ hộ Phật pháp. Theo sự miêu thuật trong A sa phọc sao dược sư quyển trung, thì hình tượng vị này mầu vàng, cỡi hổ (cọp), cầm gươm giết thú, tay trái nắm lại áp vào khoảng cạnh sườn, tỏ dáng bạo ác. Cũng có thuyết nói là đầu hổ thân người, tay phải cầm gậy. [X. kinh Đại bảo tích Q.36 - kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.9 - kinh Dược sư lưu li quang thất Phật bản nguyện công đức Q.hạ]. (xt. Kim Tì La).
câu tì đà la thụ
(拘鞞陀羅樹) Câu tì đà la, Phạm: kovidāra, hoặc kudāra, Pàli: koviḷāra, dịch ý là phá đất. Còn gọi là Câu tì đà la thụ, Câu tì la thụ. Tên khoa học là Bauhinia variegata. Là loại cây đàn đen sinh sản ở chân núi phía tây Hỉ mã lạp nhã, Trung quốc và Miến điện cũng có nhiều. Cành lá chen nhau, xanh luôn không rụng, có khả năng chịu đựng gió rét. Hoa hình dù (ô), nhị hoa trắng hồng, điểm chấm vàng. Quả dài, cứng và bóng, trong có từ mười đến mười lăm hột. [X. kinh Khởi thế Q.6 - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.1 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.25].
; (俱毗陀羅樹) Phạm: Kovidàra, Kudàra, Pàli: Koviơàra. Là cây hắc đàn. Còn gọi là Câu tì đà la thụ, Câu bề la thụ. Dịch ý là cây phá đất. Tên khoa học là: Bauhinia Variegata. Sản sinh ở chân núi phía tây núi Hỉ mã lạp nhã, Trung quốc và Miến điện cũng có nhiều. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 3 chép, thì cây câu tì đà la, thân cao lớn, hình dáng đẹp đẽ, cành lá sum suê, xanh mãi, không héo rụng, có khả năng tránh tất cả tai hại của mưa gió. Lại cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 chép, thì cây Ba lị chất đa tức là cây câu tì đà la. Song thực ra, hai cây này là hai loại thực vật khác nhau. [X. kinh Pháp hoa Q.6 phẩm Pháp sư công đức - kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.1 - Phiên Phạm ngữ Q.10 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.25].
câu tô la
KuśŪlaka (S)Một trong 5 y của ni chúng.
; (俱蘇羅) Phạm: Kusùlaka. Còn gọi là Quyết tu la, Kì tu la, Cù tu la, Quyết tô lạc ca. Dịch ý là cái quần, cái váy. Là một trong năm áo của Ni chúng, chỉ cái quần của Ni chúng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 2 (Đại 24, 461 trung), nói: Dài bốn khửu tay, rộng hai khửu tay, hai đầu khâu đấu lại với nhau, bên trên mặc quá rốn, phía dưới cao cách mắt cá chân hai ngón tay, dùng thắt lưng thắt lại. Đó là cách mặc quần của Ni chúng Ấn độ. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 63 (Đại 54, 730 thượng), nói: Váy, khâu chung quanh liền nhau, giống như cái nơm - tức như đàn bà ngày nay mặc quần vậy. [X. luật Ngũ phần Q.20 - Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].
câu tô lạc ca
Kusula (skt)—Kỳ Tu La—Cồ Tu La—Quyết Tu La—Quyết Tô Lạc Ca—Quần mặc của Tỳ Kheo Ni (quần thúng do hai ống khâu gộp lại, như hình chiếc thúng nhỏ, dài 4 cánh tay, rộng 2 cánh tay, trên che kín rốn, dưới cách mắt cá chân khoảng 4 ngón tay)—A skirt worn by nuns.
câu tô ma
Kusuma (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, đây là tên của một loài hoa trắng có xuất xứ từ bên Trung Quốc—According to Eitel in the Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the name of a white China aster.
; (拘蘇摩) Phạm, Pàli: Kusuma. Dịch âm của hoa, hoặc chuyên chỉ hoa câu tô ma. Hoa câu tô ma to bằng đồng tiền nhỏ, mầu trắng tươi, do nhiều lá rất nhỏ, tròn tụ lại mà thành hoa, dáng giống như hoa cúc trắng. Lại hoa câu tô ma có nghĩa là hoa đẹp ý, vì mầu hoa đẹp mà thơm, hình dáng đoan chính, ai thấy cũng đẹp lòng vừa ý. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.22 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].
câu tô ma bạt đê
Kusumavati (skt)—Tên của Phật giới—Name of a Buddha-realm.
câu tô ma bổ la
Kusumapura (skt)—Cù Tô Ma Bổ La—Thành Hoa Cung, có hai nơi—City of flower palaces; two names in two places: 1) Một ở thành Ba Tra Ly Tử thuộc nước Ma Kiệt Đà, nay là Patna: Pataliputra, ancient capital of Magadha, the modern Patna. 2) Một ở thành Khúc Nữ, nước Yết Nhã Cúc Xà, nay là thành phố nổi tiếng về phía bắc của Hindustan: One in Kanauj (classical Canogyza) in Kanyakubja, a noted city in northern Hindustan.
câu tô ma bổ la thành
(拘蘇摩補羅城) Phạm: Kusumapura. Dịch ý là Hoa cung, Hương hoa cung thành. Có hai nơi: 1. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 mục Yết nhã cúc xà quốc chép, thì Vương thành cũ của nước Yết nhã cúc xà thuộc trung Ấn độ, gọi là Câu tô ma bổ la. 2. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 mục Ma yết đà quốc chép, thì đô thành cũ của nước Ma yết đà thuộc trung Ấn độ, gọi là Câu tô ma bổ la, tức tên gọi cũ là Ba tra li tử thành. Còn Dị bộ tôn luân luận thuật kí thì nói - thành Câu tô ma bổ la nằm về phía tây gần thành Ba tra li tử. Bởi vì trung tâm thành Câu tô ma bổ la dần dần di chuyển về phía tây, nên đất cũ của nó phát triển làm thành Ba tra li tử. [X. Chỉ quật dịch thổ tập Q.8 - Giải thuyết tây vực kí - A. Cunningham: The Ancient Geography of India - V. A. Smith: Early History of India].
câu tô ma la
Kusumamala (skt)—Vòng hoa, chuỗi hoa hay xâu hoa—A wreath—A garland.
câu tôn hà
Kakuttha (S)Tên con sông mà đức Phật đã tắm gội lần cuối cùng trước khi nhập diệt.
câu tốn bà
Kusumbha (skt)—Loại bông màu tím—Safflower—Saffron.
câu tốn bà hoa
(俱遜婆花) Câu tốn bà, Phạm, Pàli: Kusumbha. Dịch ý là hoa hồng lam. Thực vật thuộc họ cúc. Tên khoa học là Carthamus inctorius. Hoa hình ống, mầu đỏ vàng, mật hoa có thể dùng làm thuốc, hạt có thể ép lấy dầu. [X. Tô tất địa yết la cúng dường pháp Q.hạ - Chỉ quật dịch thổ tập Q.9].
câu tỳ la
1) Giao Long: Kumbhira (skt)—Cá sấu—A crocodile. 2) Kuvera or Kubera: See Câu Phệ La and Tỳ Sa Môn Thiên Vương. 3) Giao Long Tỳ Kheo: A monk named Kumbhira.
câu tỳ lưu ba xoa
Virupaksa (skt)—Tỳ Lưu Bát Xoa, còn gọi là Quảng Mục hay Tam Mục Thiên Vương, tên của vị Thiên Vương phía tây trong Tứ Thiên Vương—The three-eyed Siva; the guardian ruler of the West. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.
câu tỳ đà la
Kovidara (skt)—Câu Bệ Đà La—Tên một loài cây nơi cõi Cực Lạc. Người ta nói đây là loại cây trong vườn chơi của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc ngài còn nhỏ—Name of a tree of Paradise. Said to be the tree of the great playground where the child Sakyamuni played.
câu vật đầu
Kumuda (S), Yellow lotus Hoàng liênMột loại hoa cõi trời, hoa sen vàng.
; Kumuda (S). A lotus; an opening lotus; but kumuda refers especially to the esculent white lotus.
; Kumuda (skt)—Cú Văn La—Câu Vật Đà—Câu Mẫu Đà—Câu Mâu Đầu—Câu Mậu Đầu—Sen nở, đặc biệt là sen trắng—An opening lotus, especially the white lotus.
câu vật đầu hoa
(拘物頭華) Câu vật đầu, Phạm, Pàli: Kumuda. Thuộc họ thụy liên. Còn gọi là Cứu mâu địa hoa, Củ mẫu na hoa, Cú văn la hoa. Cuống hoa có gai, mầu trắng hoặc mầu đỏ, lá hơi ngắn. Loại mầu trắng thì tên khoa học là Nymphaea esculenta, cuống nhỏ và trơn tru, có thể ăn được - loại mầu đỏ thì tên khoa học là Nymphaea rudra. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 3 nói, câu vật đầu hoa tức là hoa sen đỏ, sắc đỏ sẫm, rất thơm, nhân gian không có. Tục cao tăng truyện quyển 2, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8, đều dịch là Hoàng liên hoa. Đại nhật kinh sớ quyển 15 thì bảo, câu vật đầu là hoa sen mầu xanh. (xt. Liên Hoa).
câu xá
Kosajja (P).Xem Cát tường.
; Kosa (S). Cask, box, treasury.
; Kosa (skt)—Tạng—Treasury—Store.
; (俱舍) Phạm: Koza. Còn gọi là Cú xả. Dịch là kho chứa, cái kén, cái túi, cái bao. Tức là cất chứa, gói ghém. Bồ tát Thế thân viết luận Câu xá, người đời sau, dựa vào luận ấy mà lập thành tông Câu xá cũng là tiếng gọi tắt của Câu xá tông.
câu xá bà đề
(拘舍婆提) Phạm: Kuzàvatì, Pàli: Kusàvatì. Là đô thành của vua Đại thiện kiến chuyển luân trong truyền thuyết, cũng tức là tên xưa của Câu thi na yết la (Pàli: Kusinàra), nơi đức Thích tôn nhập diệt. Còn gọi là Câu xá bạt đề, Cưu thi bà đế, Câu xa phạt để, Củ xá phạ đế, Câu xá việt, Cưu di việt. Dịch ý là vắng vẻ, có nhà nhỏ, cỏ xơ xác. Trường a hàm quyển 3 kinh Du hành (Đại 1, 21 trung), nói: Bấy giờ, A nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, quì gối chắp tay mà bạch Phật rằng: ‘Xin Ngài đừng nhập diệt ở nơi thành bé nhỏ, hoang vắng, hèn kém này. Tại sao? Vì còn các nước lớn, như nước Chiêm ba, nước Tì xá li, thành Vương xá, nước Bà kì, nước Xá vệ, nước Ca duy la vệ, nước Ba la nại, tại các nơi ấy, nhân dân đông đúc, tin ưa Phật pháp, Phật diệt độ rồi, chắc sẽ cung kính cúng dường xà lợi.’ Đức Phật nói: ‘Thôi! Thôi! Chớ nghĩ như thế, chớ tưởng nơi này là hèn kém, tại sao? Vì xưa kia, nước này có vua tên là Đại thiện kiến, thành này khi ấy gọi là Câu xá bà đề, là đô thành của Đại vương, dài bốn trăm tám mươi dặm, rộng hai trăm tám mươi dặm’. Ngoài ra, Trường bộ kinh thứ 16 kinh Đại ban nê hoàn (Pàli: Mahàparinibbànasuttanta), Tương ứng bộ kinh 22-96, kinh Phật ban nê hoàn quyển hạ, kinh Trung a hàm quyển 11 kinh Ngưu phẩm dụ, kinh Chúng hứa ma ha đế v.v... đều có nói đến nơi này. (xt. Câu Thi Na Yết La).
câu xá bà đề thành
Kuśavati (S)Câu xá bạt đề thành.
câu xá bạt đề thành
Xem Câu xá bà đề thành.
câu xá luận
Kusha-ron (J), Koṣaśāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Abhidharma-kosa-sàstra (S).
; A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận được ngài Thế Thân biên soạn, ngài Paramartha và Huyền Trang đời nhà Đường dịch sang Hoa ngữ—Abhidharma-kosa-sastra, composed by Vasubandhu, translated into Chinese by Paramartha and Hsuan-Tsang during the T'ang dynasty.
câu xá luận kí
(俱舍論記) Gồm ba mươi quyển. Do ngài Phổ quang (thế kỉ VII) đời Đường soạn, vì thế sách này còn được mệnh danh là Câu xá luận quang kí, Quang kí. Thu vào Đại chính tạng tập 41. Thần thái, Phổ quang và Pháp bảo đều là học trò của ngài Huyền trang, dịch giả Câu xá luận, được gọi chung là ba nhà Câu xá lớn. Thần thái viết Thái sớ hai mươi quyển (có chỗ nói ba mươi quyển), thu vào Vạn tục tạng tập 83, nhưng hiện không còn đủ. Pháp bảo viết Bảo sớ ba mươi quyển, thu vào Đại chính tạng tập 41. Trong ba bản sớ, Thái sớ là xưa nhất, thứ đến là Quang kí và sau hết là Bảo sớ. Đặc sắc của Thái sớ là ở chỗ theo văn mà giải thích, nghĩa lí rõ ràng, là bản chú sớ khó có được - nếu đem so sánh đối chiếu với Quang kí, thì lại càng thấy rõ sự thích nghĩa tương truyền của ngài Huyền trang. Đặc sắc của Bảo sớ là ở chỗ Pháp bảo vốn nghiên tập Niết bàn, cho nên chia sự nghiên cứu luận Câu xá làm năm môn mà bàn về những chỗ huyền diệu, thường đứng trên quan điểm Đại thừa mà nhìn luận Câu xá, do đó, đối với thuyết của hai vị Thần thái và Phổ quang, có nhiều chỗ không sánh kịp. Thái độ của ba nhà lớn này tuy có điểm khác biệt như thế, nhưng, đứng về phương diện nghiên cứu luận Câu xá, họ đều là những người không thể bỏ qua được. [X. Câu xá luận tụng sớ tự kí - Tống cao tăng truyện Q.4 - Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].
câu xá luận sớ
(俱舍論疏) I. Câu xá luận sớ. Do sư Thần thái đời Đường soạn. Thu vào Vạn tục tạng tập 83. Nói tắt là Thái sớ. Nguyên bản đã không còn, mà số uyển của nguyên bản cũng có thuyết cho là ba mươi quyển, có thuyết bảo là hai mươi quyển, mà nay chỉ còn sót lại có bảy quyển, tức là các quyển 1, 2, 4, 5, 6, 7, và 17. Tiểu sử của sư Thần thái không được rõ, chỉ biết sư là một cao đệ của ngài Huyền trang, là sư huynh của sư Phổ quang. Lời văn của sư đơn giản sáng sủa, nghĩa lí thấu đáo, Câu xá luận quang kí (nói tắt là Quang kí) của sư Phổ quang noi theo thuyết của sư Thần thái rất nhiều, như Câu xá luận nhất bộ đại khoa hoàn toàn thừa kế thuyết của Thần thái. Đời gọi Thần thái sớ và hai bộ kí của Quang, Bảo (Phổ quang và Pháp bảo) là ba bộ sách chú thích lớn của luận Câu xá. [X. A tì đạt ma câu xá luận pháp nghĩa Q.1 - Đông vực truyền đăng mục lục]. II. Câu xá luận sớ. Gồm ba mươi quyển. Do sư Pháp bảo đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 41. Nói tắt là Bảo sớ. Sách này cùng với Quang kí đều là những tư liệu cần thiết cho người học luận Câu xá. Được chia làm năm môn: thứ nhất, lúc bắt đầu chuyển pháp luân - thứ hai, thứ tự của sự học hành, thứ ba - nhân duyên khởi giáo, thứ tư, bộ chấp trước sau - thứ năm, y theo văn mà giải thích. Một học tăng người Nhật bản ở thế kỉ XVIII là Đạo khoái, khi bàn về bản sớ này, đã nói: Pháp bảo phần nhiều dùng một hiểu biết mà quyết đoán, đồng thời, thường chê Thái sớ và Quang kí. Sở dĩ như thế là vì Pháp bảo tôn sùng Niết bàn, tin một tính đều thành Phật, không ưa nghĩa năm tính các biệt của Pháp tướng. Pháp bảo vì cảm thấy sự giải thích trong Quang kí quá phiền tỏa, nên bài xích, rồi tự làm ra giải thích của riêng mình, đời sau cũng có người tôn sùng Bảo sớ, cho nên việc hiện nay mới có sự tranh luận về hai học phái Quang, Bảo vậy. [X. Tống cao tăng truyện Q.4 - Trí chứng đại sư thỉnh lai mục lục - Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].
câu xá luận tụng thích sớ
(俱舍論頌釋疏) Gồm hai mươi chín quyển hoặc ba mươi quyển. Nói đủ là A tì đạt ma câu xá luận tụng sớ luận bản. Cũng gọi là Câu xá luận tụng sớ luận bản, Câu xá tụng sớ, Câu xá luận tụng sớ, Câu xá luận tụng thích. Nói tắt là Tụng sớ. Là sách giải thích sáu trăm hàng kệ tụng trong luận Câu xá. Do sư Viên huy đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 41. Soạn giả Viên huy, theo lời thỉnh cầu của quan Thứ sử Tấn châu là Giả tăng, đem kệ tụng của luận Câu xá, bỏ bớt chỗ phiền tạp, châm chước những điểm trọng yếu rồi chú thích thêm, lối hành văn giản dị nhưng rất đầy đủ, là sách trọng yếu cho việc nghiên cứu luận Câu xá. Trong bài tựa (Đại 41, 813 trung), Viên huy nói: Cắt bớt cành lá, chỉ lấy tinh hoa, văn trong quảng bản, chỗ nào phồn tạp, thì chỉ giải thích chỗ thiết yếu thôi - nghĩa trong kinh luật, chỗ nào quan trọng thì phải suốt hết ngọn nguồn. Qua đó, người ta đã thấy rõ cái chí của Viên huy. Sách này ra sau hai bộ sớ của Phổ quang và Pháp bảo, có thể nói là đứng đầu trong các sách của những nhà giải thích luận Câu xá đời sau. Thời ấy, sách này đã được thịnh hành tại các nơi như Lưỡng hà, Lưỡng kinh, Giang biểu, Yên, Tề, Sở, Thục v.v... Sách này vốn y cứ theo hình thái của Câu xá luận bản tụng, không bao gồm phẩm Phá ngã. Đời sau, người ta chú thích thêm phẩm Phá ngã được dẫn trong các tụng rồi truy bổ mà thành quyển thứ 30. [X. Chư tông chương sớ lục Q.1 - Tống cao tăng truyện Q.5].
câu xá luận yếu giải
(俱舍論要解) Gồm mười quyển. Do vị tăng tông Tịnh độ người Nhật bản là Phổ tịch soạn. Chia làm bảy môn: 1. Nói về lí do làm luận. 2. Nói về ý nghĩa phát khởi giáo nghĩa. 3. Biện luận về tông chỉ. 4. Nói về tạng được thu nhiếp. 5. Nói về các bản dịch khác nhau. 6. Giải thích đề mục của luận. 7. Theo văn giải thích. Bản yếu giải này có phê bình các bản giải thích luận Bà sa, Câu xá luận quang kí, Bảo sớ v.v... nhưng không dẫn nguyên văn để đối chiếu, nói về mặt sử dụng, có nhiều bất tiện.
câu xá mạn đồ la
(俱舍曼荼羅) Là tác phẩm ở cuối thời kì Bình an tại Nhật bản, được tàng trữ ở chùa Đông đại tại Nhật. Bức tranh tượng này lấy ba đức Thích ca, Văn thù, Phổ hiền làm trung tâm, bốn chung quanh là các vị tổ của tông Câu xá cùng với các tôn giả Ca diếp, A nan. Cũng có cả Phạm thiên, Đế thích. Bốn Thiên vương thì được phối trí ở bốn góc. Là kiểu tranh mặt bằng có đủ phong khí xưa. [X. Đại nhật bản cổ văn thư Q.12 - Đông đại tự đại kính Q.4].
câu xá sư
(俱舍師) Các sư lấy luận Câu xá làm tôn chỉ. Nói chung các sư lấy luận Câu xá làm tôn chỉ, chứ không phải chuyên chỉ bồ tát Thế thân.
câu xá tam gia
(俱舍三家) Chỉ ba vị học trò của ngài Huyền trang: Phổ quang, Pháp bảo và Thần thái. Ngài Huyền trang dịch lại luận Câu xá, học trò của ngài phần nhiều nghiên cứu bản dịch mới này. Tuy ngài Huyền trang ngấm ngầm trao bản dịch cho riêng Phổ quang, nhưng Pháp bảo và Thần thái cũng đều tinh thông và đem trước thuật hoằng dương. Do đó mà Phổ quang có Câu xá luận kí ba mươi quyển, Pháp bảo có Câu xá luận sớ ba mươi quyển, Thần thái có Câu xá luận sớ hai mươi quyển (có thuyết nói ba mươi quyển). Xưa nay gọi ba người này là ba nhà Câu xá lớn.
Câu Xá Tông
(倶舍宗, Gusha-shū): tên gọi của một tông phái lớn trong 8 tông phái ở Trung Quốc và trong 6 tông lớn của Phật Giáo vùng Nam Đô, Nhật Bản. Tại Ấn Độ, người ta chia thành 18 bộ phái của Phật Giáo Thượng Tọa Bộ (xưa gọi là Tiểu Thừa). Lần đầu tiên sau khi đức Phật diệt độ được 400 năm, thể theo lời thỉnh cầu của vua Ca Nị Sắc Ca (s: Kaniṣka, p: Kanisika, 迦膩色迦王) của vương quốc Kiện Đà La (s, p: Gandhāra, 健駄羅), 500 vị A La Hán đã tiến hành kết tập bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận (s: Abhidharma-mahāvibhāṣa-śāstra, 大毘婆沙論), 200 quyển; cho nên trong số 18 bộ phái ấy, tông nghĩa của Tát Bà Đa Bộ (薩婆多部, tức Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ [s: Sarvāstivādin, p: Sabbatthivādin, 說一切有部]) được thành lập. Bộ luận này theo nghĩa của Lục Túc Luận (s: Śaḍpadaśāstra, 六足論) để giải thích về Phát Trí Luận (s: Abhidharma-jñāna-prasthāna, 發智論), vì vậy giáo nghĩa của Tát Bà Đa Bộ đều tập trung vào bộ luận này. Trải qua 500 năm sau, Bồ Tát Thế Thân (s, p: Vasubandhu, 世親) xuất hiện, đầu tiên xuất gia tu tập theo Tát Bà Đa Bộ (薩婆多部), học tông nghĩa của bộ phái này, rồi sau đó học giáo lý của Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), nhưng có điều không hài lòng về tông này, nên ông đã y cứ vào bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận mà trước tác ra bộ Câu Xá Luận (s: Abhidharmakośa-bhāṣya, 倶舍論). Trong mỗi phần ông đều lấy ý của Kinh Lượng Bộ để đả phá giáo thuyết của Tát Bà Đa Bộ. Vì vậy, từ đó ông đã tách riêng ra khỏi 18 bộ phái trên. Tại Ấn Độ, bộ luận này được gọi là Thông Minh Luận (聰明論), tất cả mọi người trong và ngoài tông phái đều học cả. Kể từ khi Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) nhà Tùy bên Trung Quốc dịch bộ này sang Hán ngữ vào năm thứ 4 (563) niên hiệu Thiên Gia (天嘉), người ta bắt đầu nghiên cứu về nó. Kế đến, Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường lại dịch Câu Xá Luận lần thứ hai vào năm thứ 5 (654) niên hiệu Vĩnh Huy, rồi các môn nhân của ông như Thần Thái (神泰), Phổ Quang (普光), Pháp Bảo (法寳) đã chú sớ cho bộ này. Từ đó Câu Xá Tông bắt đầu hưng thạnh ở Trung Quốc. Tại Nhật Bản, tông này được Đạo Chiêu (道昭, Dōshō, 629-700) truyền vào cùng với Pháp Tướng Tông. Vị này sang nhà Đường cầu pháp vào năm thứ 4 (653) niên hiệu Bạch Trỉ (白雉), theo hầu Huyền Trang và trở về nước vào năm thứ 7 (661) đời Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō, tại vị 655-661). Ông được xem như là người đầu tiên truyền bá Câu Xá Tông vào Nhật. Tiếp theo, có Trí Thông (智通, Chitsū, ?-?), Trí Đạt (智達, Chitatsu, ?-?), hai người sang nhà Đường vào năm thứ 4 (658) đời Tề Minh Thiên Hoàng, cũng như Huyền Phưởng (玄昉, Gembō, ?-746), vị tăng sang cầu pháp vào năm đầu (717) niên hiệu Dưỡng Lão (養老), đều có truyền tông này vào Nhật. Trong bản Tả Kinh Sở Khải (冩經所啓) ghi ngày mồng 8 tháng 7 năm thứ 12 (740) niên hiệu Thiên Bình (天平) còn lưu lại trong Chánh Thương Viện Văn Khố (正倉院文庫), ta thấy có ghi “Câu Xá Tông 30 quyển”; như vậy sách mà Huyền Trang (玄奘, 602-664) dịch ra đã được bắt đầu nghiên cứu từ khoảng thời gian này. Tên gọi Câu Xá Tông cũng được tìm thấy lần đầu tiên trong bản Tăng Trí Cảnh Chương Sớ Phụng Thỉnh Khải (僧智憬章疏奉請啓). Vì Câu Xá Tông được xem giống như Tát Bà Đa Tông vốn được tìm thấy trong bản Lục Tông Trù Tử Trương (六宗厨子張) ghi ngày 18 tháng 3 nhuận năm thứ 3 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寳), có thể sự thành lập của học phái này là trong khoảng thời gian năm thứ 3 hay 4 của niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo. Kế đến, trong phần quy định về số người được xuất gia và tu học mỗi năm của các tông phái như trong bức công văn của quan Thái Chính ghi ngày 26 tháng giêng năm thứ 25 (806) niên hiệu Diên Lịch (延曆), ta thấy có quy định Pháp Tướng Tông là 3 người, 2 người đọc Duy Thức Luận (s: Vijñānamātrasiddhi-śāstra, 唯識論) và 1 người đọc về Câu Xá Luận (s: Abhidharmakośa-bhāṣya, 倶舍論); như vậy ta biết được rằng lúc bấy giờ Câu Xá Tông vẫn là tông phái phụ thuộc vào Pháp Tướng Tông. Giáo nghĩa của tông này phân tích các pháp thành 5 vị và 75 pháp, công nhận tính thực tại của các pháp ấy, chủ trương rằng thế giới được thành lập dựa trên các pháp đó và con người tồn tại trong vòng luân hồi đau khổ, vì vậy cần phải đoạn diệt phiền não căn bản và chứng đạt Vô Dư Y Niết Bàn. Cũng giống như Pháp Tướng Tông, tông này cũng chia thành 2 phái là Bắc Tự Truyền (北寺傳) và Nam Tự Truyền (南寺傳). Phái Nam Tự Truyền thì chủ trương thuyết Dụng Diệt (用滅), nghĩa là các pháp hoại diệt nhưng thật thể của chúng vẫn tồn tại và cái tiêu diệt chính là tác dụng. Phái Bắc Tự Truyền đứng trên lập trường của thuyết Thể Diệt (体滅), tức là các pháp sanh khởi nhờ duyên và thật thể của chúng tiêu diệt theo từng Sát Na.
câu xá tông
Kiu-chee-Tsoung (C), Kou-cha-shu (J)Tông phái tiểu thừa, công nhận tình Không: người và vật vốn không chẳng qua chỉ là kết hợp của nhiều thể. Câu xá tông lấy quyển A tỳ đạt ma Câu xá luận làm kinh chính. Ông Chơn Đế (Paramartha) dịch quyển ấy và truyển qua Tàu năm 563. Tông này truyền qua Nhật vào cuối thề kỷ VII. Hiện Tông này không còn ở Tàu lẫn ở Nhật.
; Tông Câu Xá của Ngài Thế Thân—Abhidharma-kosa or Pitaka school of Vasubandhu—Tên gọi của tông phái là một danh từ giản lược của Phạn ngữ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá, là nhan đề của một tác phẩm của Thế Thân viết về chủ thuyết duy thực và có thể dịch là “Câu chuyện của Pháp Tối Thượng.” Đại triết gia Thế Thân sanh tại Bạch Sa Ngõa, thuộc xứ Kiện Đà La, xuất gia theo Hữu Bộ. Ông âm thầm đến Ca Thấp Di La để học triết học A Tỳ Đàm. Khi trở về cố hương, ông viết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma-kosa-sastra) hiện vẫn còn 60 quyển Hán dịch. Bản văn Phạn ngữ đã thất lạc, nhưng may mắn chúng ta vẫn còn một bản chú giải do Yasomitra viết với nhan đề là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thích Luận. Nhờ bản chú giải này mà cố Giáo Sư Louis De La Vallée-Poussin ở Bỉ đã dễ dàng trong việc tái lập bản văn thất lạc và được kiện toàn bởi Rahula Sankrityayana người Tích Lan. Mỗi yếu tố trong vũ trụ được Thế Thân giải nghĩa chi li trong Luận Câu Xá của ông. Danh từ quan trọng của tông này là 'học thuyết về tất cả đều hiện hữu,' khẳng định mọi hiện hữu, cả tâm và vật, cũng như không phải tâm và không phải vật. Tuy nhiên, điều nầy không phải để thừa nhận hiện hữu của ngã (atman), một bản ngã cá biệt hay một linh hồn hay nguyên lý phổ quát hay nguyên nhân đầu tiên. Chúng ta không biết Thế Thân có tiên đoán mọi nguy hiểm do sự thừa nhận có 'Ngã,' sẽ xãy ra hay không mà ông đã bỏ ra toàn chương chín để bác bỏ thuyết Hữu Ngã. Câu Xá tông dù chủ trương rằng tất cả các pháp đều thực hữu, hoàn toàn khác với duy thực luận ngây thơ thường tình, bởi vì theo lý thuyết của tông nầy, vạn hữu là những pháp bao gồm cả tâm và vật, tất cả cùng ở trên cước địa như nhau. Tông này thừa nhận thực tại tính của mọi pháp nhưng lại chấp nhận thuyết không có tồn thể, không có thường hằng, không có phúc lạc ngoại trừ Niết Bàn. Hầu hết những trường phái A Tỳ Đàm có lẽ đã phát khởi sau cuộc kết tập của Vua A Dục (khoảng năm 240 trước Tây Lịch), bởi vì văn học A Tỳ Đàm gồm tất cả 7 bộ luận, lần đầu tiên được chấp nhận là một trong Tam tạng Kinh Điển (Tripitaka) trong cuộc kết tập này. Trong cuộc kết tập lần đầu và lần thứ hai chỉ có hai tạng (Kinh và Luật)—Name of the school is an abbreviation of Abhidharma-kosa, which is the title of Vasubandhu's work on realism and may be translated “The Story of the Higher Dharma.” The great philosopher Vasubandhu was born in Purusapura (Peshawar) in Gandhara and received his ordination in the Sarvastivada School. He went to Kashmir incognito to learn the Abhidharma philosophy. On his return home he wrote the Abhidharma-kosa-sastra which is preserved in sixty volumes of Chinese translation. The Sanskrit text is lost, but fortunately we have a commentary written by Yasomitra called the Abhidharma-kosa-vyakhya which has facilitated the restoration of the lost text undertaken by the late Professor Louis De La Vallée Poussin of belgium and completed by Rahula Sankrityayana of Ceylon. All elements of the universe were minutely explained by Vasubandhu in his Abhidharma-kosa. The significant name of the School 'all-things-exist-doctrine' (sarva-asti-vada) affirms all existences, both material and mental, as well as that which is neither matter nor mind. This, however, does not mean to admit the existence of Self (atman), an individual ego or soul or the universal principle or First Cause. Whether or not he anticipated the danger of being involved in the admission of Self, Vasubandhu devoted the whole ninth chapter of his Abhidharma-kosa sastra to the refutation of the atman theory (see Bảy Mươi Lăm Pháp Câu Xá Tông). The Kosa School, though it states that all things exist, is quite different from general nạve materialism, because, according to its theory, all things are elements (dharmas) which include mind as well as matter, all on an equal footing. It asserts the reality of all dharmas and yet it admits the theory of no substance, no duration and no bliss except Nirvana. Most of the Abhidharma schools probably arose after the Council of Asoka (240 B.C.), because the Abhidharma literature, seven texts in all, was for the first time recognized as one of the Tripitaka (three baskets or collections) in this council. At the time of the first and the second councils there were only two Pitakas (Sutras and Vinaya) **For more information, please see Tông Phái.
; (俱舍宗) Là một tông phái Tiểu thừa dựa theo luận Câu xá mà được thành lập. Một trong mười ba tông phái tại Trung quốc. Đối lại với tông Thành thật được gọi là Tiểu thừa không tông, tông Câu xá thì gọi là Tiểu thừa hữu tông. Các học giả của tông này được gọi là Câu xá sư. Nguyên do: Ngài Thế thân đến nước Ca thấp di la học giáo nghĩa Tì bà sa, về sau, căn cứ theo luận Đại tì bà sa và tham chước giáo nghĩa của Kinh lượng bộ, rồi viết A tì đạt ma câu xá luận để phê phán học thuyết truyền thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Thời ấy, có luận sư Chúng hiền, soạn luận Câu xá bạc , đả phá thuyết mới của Thế thân, viết thêm luận A tì đạt ma tạng hiển tôn để hiển bày tông nghĩa của Tì bà sa. Về sau, các sư Đức tuệ, Thế hữu, An tuệ, Trần na, Xứng hữu, Tăng mãn và Tịch thiên v.v... nối tiếp nhau làm sớ để giải thích luận Câu xá mà tạo nên một kỉ nguyên mới cho giáo thuyết của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Năm Thiên gia thứ 5 (564) đời Trần, ngài Chân đế dịch A tì đạt ma câu xá thích luận (Phạm: Abhidharmakozabhawya) rồi lại làm sớ riêng mười sáu quyển để giải nghĩa, các sư Tuệ khải, Tuệ tịnh và Đạo nhạc cũng tiếp theo nhau làm sớ để phu diễn rộng ra. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654) đời Đường, ngài Huyền trang đem dịch lại, gọi là A tì đạt ma câu xá luận, đời gọi là Câu xá mới, tức tông Câu xá căn cứ theo bản này mà lập tông. Học trò của ngài Huyền trang là các sư Thần thái, Phổ quang và Pháp bảo, mỗi vị đều có soạn sớ để giải nghĩa rộng ra, gọi chung là ba bộ đại sớ của Câu xá. Còn có các sư Hoài tố, Viên huy làm Sớ kí, giảng tập rất thịnh một thời. Tiếc rằng từ sau đời Đường trở đi, tông này không còn truyền thừa, đến thời vua Thế tổ nhà Nguyên, Quốc sư Bát tư ba viết Chương sở tri luận hai quyển, là tác phẩm nghiên cứu Câu xá cuối cùng. Tông này được truyền đến Nhật bản vào năm Tề minh Thiên hoàng thứ 4 (658), do các sư Trí thông, Trí đạt đến Trung quốc (đời Đường) lưu học, sau khi về nước, truyền luận Câu xá, sau sư Huyền phưởng thỉnh Trí thông, Trí đạt đến chùa Hưng phúc giảng luận này rất thịnh. Đại để tại Nhật bản, những người nghiên cứu tông Câu xá phần nhiều là phụ thuộc tông Pháp tướng mà kiêm thôi, nay chỉ còn sót lại cái học phong, chứ tên tông thì không truyền nữa. Tông này, ngoài việc lấy luận Câu xá làm luận điển chủ yếu ra, còn y cứ các kinh bốn a hàm, bảy bộ luận và các luận Đại tì bà sa, A tì đàm tâm, Tạp a tì đàm tâm. Ngài Thế thân viết văn xuôi, vì luận lí rõ ràng khúc chiết, thứ tự chỉnh tề, không câu chấp giáo nghĩa của một tông phái đặc định nào, bởi thế mà bộ luận được người ta gọi bằng cái mĩ danh là Luận thông minh. Giáo nghĩa tông này nhằm thuyết minh chính lí nhân duyên của các pháp, đả phá tà kiến chấp ngã của ngoại đạo và phàm phu, để dứt hoặc chứng Thánh, vĩnh viễn xa lìa sự trói buộc trong ba cõi. Luận đem chia các pháp trong ba cõi làm hai loại Hữu vi, Vô vi để thuyết minh, lại khu biệt thành năm vị, phân tích nhỏ ra làm bảy mươi lăm pháp. Tức là pháp Hữu vi bao gồm mười một Sắc pháp, một Tâm pháp, bốn mươi sáu Tâm sở hữu pháp, mười bốn Bất tương ứng hành pháp - Vô vi pháp thì có ba loại, tổng cộng thành bảy mươi lăm pháp. Hữu vi pháp là chỉ các pháp do nhân duyên tụ họp tạo thành, là các pháp sinh diệt biến thiên - Vô vi pháp là chỉ các pháp không do các nhân duyên tạo thành, là những pháp không sinh diệt đổi dời, mà có tính vắng lặng thường trụ. Ngoài ra, còn lập các môn pháp năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới v.v... Tông này phê phán chủ trương Tam thế thực hữu, Pháp thể hằng hữu (các pháp đều có thực thể và thực thể ấy tồn tại suốt trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai) của Thuyết nhất thiết hữu bộ, và y theo nghĩa của Kinh lượng bộ mà đề xướng thuyết Quá khứ, vị lai vô thể luận (quá khứ, vị lai không có thực thể). Thừa nhận rằng, sự sinh diệt chỉ là sát na tương tục - diệt là sự di chuyển tất nhiên của hiện tại, không cần bất cứ nhân duyên nào khác giúp thành, mà sinh thì tất phải có sinh nhân và dùng các pháp môn sáu nhân, bốn duyên, năm quả để thuyết minh. Lại khái quát nhân quả mê ngộ là bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, đồng thời, dùng pháp môn mười hai nhân duyên để nói rõ về lí sống chết nối tiếp nhau không cùng - lập ra bảy phương tiện, bốn hướng, bốn quả để thuyết minh thứ tự nhân quả chuyển mê khai ngộ. Thêm nữa, đặc biệt luận chứng trong trạng thái tĩnh lặng của Thiền định mà lĩnh hội lí bốn đế, có thể đạt đến giải thoát. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện - Câu xá luận quang kí Q.1 - Câu xá luận bảo sớ Q.1 - Đại đường tây vực kí Q.4 - Nguyên hanh Thích thư Q.27].
câu xá tông nhật bản
Japanese Kosa School—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, ở Nhật tông phái nầy được gọi là Kusha, thường được coi như là do Trí Thông và Trí Đạt truyền vào Nhật Bản vào năm 658; đó là hai nhà sư Nhật theo học với Huyền Trang một thời gian. Về sau nầy tông phái nầy lại được truyền vào Nhật lần nữa với Huyền Phương (735 sau Tây Lịch), đồ đệ của Trí Châu; Trí Châu lại là đồ đệ của đời thứ ba của Khuy Cơ và Khuy Cơ vốn là đồ đệ trực tiếp của Huyền Trang. Trong một tài liệu chánh thức năm 793, phái Câu Xá Duy Thực được ghi chép như là một tông phái phụ thuộc tông Pháp Tướng Duy Thức, không có vị trí riêng nào dành cho nó, bởi vì không có những đồ đệ chuyên nhứt với nó. Câu Xá Tông Nhật Bản có ba trường phái—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, The Kosa School, or the Kusha School as it is called in Japan, is generally understood to have been brought into Japan in 658 A.D. by Chitsu and Chitatsu, two Japanese monks who studied some time under the famous Hsuan-Tsang. It was brought in once again by Gembo (in 735 A.D.) who was a pupil of Chih-Chou, the third generation pupil of Kuy-Ji, a direct disciple of Hsuan-Tsang. In an official document of 793 A.D. the realistic Kusha School was registered as a sect appended to the idealistic Dharmalaksana (Hosso) School, no separate position being given to it, because it had no adherents belonging exclusively to it. Japanese Kosa School has three branches: 1) Học phái Duy Thực hay Nhất Thiết Hữu Bộ—The Realistic School or Sarvastivadins: Học phái nầy lấy hai tác phẩm Bát Kiền Độ Luận hay Phát Trí Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử và Lục Túc Luận làm văn bản chính yếu—This school considered Katyayaniputra's The Source of Knowledge (Jnana-prasthana) and the Six Padas as its main texts. a) Tỳ Đàm tông Kiện Đà La: Gandhara-Abhidharmikas. b) Tỳ Đàm Tông Kashmir: Kashmir-Abhidharmikas. 2) Học phái Cổ Tỳ Bà Sa: Vaibhasikas—Học phái nầy lấy tác phẩm Đại Tỳ Bà Sa làm văn bản chính yếu—This school considered Puarsva's Mahavibhasa as its main text. 3) Học phái Tân Phân Biệt Thuyết—Neo-Vaibhasikas: a) Thế Thân (420-500 sau Tây Lịch). Học phái nầy lấy hai tác phẩm Luận Tụng và Luận Thích làm căn bản: Vasubandhu (420-500 A.D.). This school considered these two texts as its basic texts: Verses (Abhidharma-kosa-karika) and Commentary (Abhidharma-kosa-sastra). b) Chúng Hiền: Samghabhadra—Học phái nầy lấy hai tác phẩm Chính Lý Luận và Hiển Tông Luận làm văn bản chính yếu—This school considered Nyayanusara and Samaya-pradipika as its main texts.
câu xí la
Kokila (S)Một loại chim.
câu đàm di
Kauśāmbī (S), Kosambi (P)Kiều thưởng diTên một thành phố có tinh xá được cúng dường cho Phật thời Phật hoằng pháp.
câu đương
An employee in a monastery—Một nhân viên làm việc trong tự viện.
; (勾當) Còn gọi là Cú đương. Tên gọi một chức quan Tăng bắt nguồn ở Trung quốc, sau truyền đến tông Chân ngôn, tông Thiên thai của Nhật bản. Lệ thuộc vào Biệt đương, là một chức vụ chuyên trông coi các việc lặt vặt trong chùa.
Câu 倶
[ja] ク ku ||| (1) Together with... (sardham, sahita). (2) Both, two things together (ubhaya). (3) Bound together . (4) Produced, or born together. (5) Simultaneous(ly) (samam). => Có các nghĩa sau: 1. Cùng với...(s: sardham, sahita). 2. Cả hai, hai cái cùng nhau (s: ubhaya). 3. Gắn bó cùng nhau (s: samyuta). 4. Tạo ra cùng với nhau, cùng nhau sinh ra, 5. Đồng thời (s: samam).
Câu-già-lợi
xem Cù-già-ly.
Câu-hy-la
xem Ma-ha Câu-hy-la.
Câu-hy-la 拘絺羅
[ja] クチラ Kuchira ||| Kauṣṭhila, or Mahā-Kauṣṭhila, one of the prominent direct disciples of Śākyamuni. He was praised by Śāriputra for his deep understanding of conditioned origination. 〔法華經 T 262.9.1c26〕 => (s: Kauṣṭhila, or Mahā-Kauṣṭhila) Một trong những đệ tử kiệt xuất của Đức Phật. Ngài được Xá-lợi-phất tán thán về hiểu biết sâu sắc lý nhân duyên.
Câu-lô châu
倶盧洲; C: jùlúzhōu; J: kurushū;|Bắc-câu-lô châu (北倶盧洲).
Câu-na
xem Câu-thi-na.
Câu-thi
xem Câu-thi-na.
Câu-thi-la 拘尸羅
[ja] クシラ Kushira ||| See next 拘尸那掲羅 jū shī nà jiē luó. => (s: Kushira) ||| Xem mục kế tiếp Câu-thi-na-yết-la 拘尸那掲羅.
Câu-thi-na
phiên âm từ Phạn ngữ là Kuśinagara, gọi tắt là Câu-thi, Câu-na, Câu-thi-na-già, Câu-thi-na-kiệt, dịch nghĩa là Giác thành (角城), vì thành ấy có ba góc. Phật nhập Niết-bàn tại thành này, nhằm ngày rằm tháng hai.
; 拘尸那; S: kuṣinagara; P: kusināra; còn gọi ngắn là Câu-thi.|Ngày nay là thành phố Kasia của tiểu bang Uttar Pradesh Ấn Ðộ. Câu-thi-na là nơi Phật Thích-ca nhập Niết-bàn (s: nirvāṇa). Sau khi Phật nhập diệt, lễ hoả táng được cử hành gần Câu-thi-na và một phần Xá-lị được thờ trong một Tháp tại đây. Câu-thi-na trở thành một thánh địa Phật giáo, nhưng thành phố này đã tàn lụi từ thế kỉ thứ 7 – theo kí sự của Huyền Trang.
Câu-thi-na-già
xem Câu-thi-na.
Câu-thi-na-kiệt
xem Câu-thi-na.
Câu-thi-na-yết-la 拘尸那掲羅拘瑟底羅
[ja] クシナガラ Kushinagara ||| Kuśinagara. A capital city in the ancient state of Magadha of central India. In the north part of the city was Śāla forest, where Śākyamuni passed into nirvāna. => (s: Kuśinagara) Thủ đô của vương quốc cổ xưa Ma-kiệt-đà thuộc Trung Ấn. Phía Bắc thành phố là rừng cây Śāla, nơi Đức Phật nhập niết-bàn.
Câu-thiểm-di
phiên âm từ Phạn ngữ là Kaumbỵ, tên một vương quốc, cũng phiên âm là Kiều-thưởng-di (憍賞彌), là một trong 16 nước lớn vào thời đức Phật, nằm ở vùng Trung Ấn.
Câu-tát-di-la
xem Kiều-tát-la.
Câu-tát-la
xem Kiều-tát-la.
câu-vật-đầu
xem bốn loại hoa sen.
Câu-xá
倶舍; C: jùshè; J: kusha;|Có các nghĩa sau: 1. Bao gồm, giữ, chứa, duy trì. Dịch sang tiếng Hán là Tạng; 2. Chỉ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (阿毘達磨倶舍論) hay A-tì-đàm tông của Phật giáo.
Câu-xá luận
倶舍論; C: jùshèlùn; J: kusharon;|Tên gọi tắt thông dụng của A-tì-đạt-ma câu-xá luận (阿毘達磨倶舍論).
Câu-xá luận 倶舎論
[ja] クシャロン Kusharon ||| Jushe lun; shortened popular title of the 阿毘達磨倶舍論 T 1558.29.1-160. => (j: Kusharon); (c: Jushe lun) Tên gọi tắt thông dụng của A-tì-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨倶舍論.
Câu-xá tông
俱舍宗; J: kusha-shū;|Một phái Phật giáo Trung Quốc, lấy A-tì-đạt-ma câu-xá luận làm cơ sở. Câu-xá luận do Thế Thân (s: vasubandhu) soạn, được Chân Ðế (s: paramārtha) và Huyền Trang dịch ra chữ Hán. Câu-xá tông được xem là Tiểu thừa, chấp nhận mọi Pháp (s: dharma) trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều có hiện hữu.|Câu-xá tông chỉ tồn tại trong đời Ðường. Kể từ năm 793, tông này được xem như một bộ phái của Pháp tướng tông, được truyền sang Nhật trong thế kỉ thứ 7, thứ 8.|Câu-xá tông cho rằng chư Pháp chính là yếu tố của tất cả hiện hữu và chia chúng ra thành hai loại: Hữu vi pháp (s: saṃskṛtadharma) và Vô vi pháp (s: asaṃskṛtadharma). Các pháp lúc nào cũng tồn tại (Nhất thiết hữu bộ) nhưng các tướng mà chúng tạo ra đều Vô thường, biến chuyển.|Các pháp hữu vi (72 pháp) được Câu-xá tông chia làm bốn nhóm: 1. Sắc, 11 pháp; 2. Thức, 1 pháp; 3. Tâm sở (s: cetasika), 46 pháp; 4. Tâm bất tương ưng hành pháp, nghĩa là chẳng thuộc tâm mà cũng chẳng thuộc vật, 14 pháp, trong đó có sinh, trụ, diệt… Ðược xếp vào vô vi pháp có ba loại: 1. Trạch diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha); 2. Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha) và 3. Hư không (s: ākāśa). 75 pháp trên có liên hệ với nhau về nhân quả và sự quan hệ này lại được chia ra 6 nhân (nguyên nhân), 4 duyên và 5 quả.
Câu-xá 倶舎
[ja] クシャ kusha ||| (1) To include, keep, store, maintain (). Translated into Chinese as 藏. (2) A reference to the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論 or the Abhidharma school 倶舎宗 of Buddhism. => Có các nghĩa sau: 1. Bao gồm, giữ, chứa, duy trì. Dịch sang tiếng Hán là Tạng. 2. Liên quan A-tì-đạt-ma Câu xá luận hay A-tì-đàm tông của Phật giáo.
cây bối
Tala-tree, Tāla (S)Đa la.
cây bồ đề
Nigrodha tree Cây bồ đề nơi Phật Ca Diếp thành Phật. Xem giác thọ.
; Bodhi tree—Tree of enlightenment.
cây hồng táo
A rose-apple tree.
cây khô sanh quả
nguyện lực có thể làm cho cây khô sanh ra hoa trái, ý nói sức gia hộ không thể nghĩ bàn của Tam bảo.
cây long hoa
Naga tree.
cây lớn mọc sát ven sông
chỉ sự không bền chắc, vì có thể ngã đổ bất cứ lúc nào. Trong Quy Sơn cảnh sách văn có ví dụ “ngạn thọ, tỉnh đằng” (岸樹,井藤 – cây ven bờ vực, dây leo vách giếng) có lẽ cũng xuất phát từ đây.
cây mạn đà la
Mandārava (S), Mandāra (S)Cây Thích ý hoaHoa sen trắng ở cảnh tiên Một trong 4 loại hoa các vị trời rải xuống để cúng dường Phật: man đà la hoa, maha man đà la hoa, man thù sa hoa, ma ha man thù sa hoa.
cây như ý
xem cây thiên ý.
; Kalpaviksha (S)Cây như ý (Kalpaviksha) và con bò ước là những bảo vật của chư thiên. Trái cây và sữa bò khiến thành tựu tất cả các điều ước.
cây phất trần
Là công cụ của Thiền sư dùng để tiếp dẫn hậu học khiến thiền giả phát khởi nghi tình cho đến khai ng.
cây sa la
Sala tree.
cây ta la
Dưới hàng Ta La, bên ngoài thành Câu Thi Na, Phật đã nhập diệt—Sala tree—Buddha Sakyamuni passed away in a grove of sala trees on the outskirts of Kushinagar.
cây thiên ý
hay cây như ý, một loại cây hóa hiện theo chư thiên, do công đức mà ứng hiện. Mỗi khi chư thiên đi đến đâu thì đều tùy ý hiện theo, lại muốn cầu điều gì cũng được toại ý, nên gọi là cây thiên ý. (Huệ Lâm âm nghĩa, quyển 25) Người quy y Tam bảo xem Tam bảo cũng như cây thiên ý của mình, dù đi đến đâu cũng đều được cây ấy che chở. Hơn nữa, nương theo Tam bảo thì được sự lợi lạc, an vui, nên có thể gọi là cầu điều gì cũng được toại nguyện.
cây trầm
Tāgara (S), Tagara (P).
cây vã
Xem ni câu đà.
cây vô ưu
Vṛksa (S)Tất lợi xoa, A du già thụTên một loại cây trong vườn Lâm tỳ ni nơi Phật đản sanh.
cây đa
Nyagrodha (S). Banyan-tree.
; Banyan tree
cây ước nguyện
Kalpadruma (S)Đây là 5 loại cây cõi trời, chư thiên ước muốn gì thì cây trổ quả như thế.
cãi
To argue—To dispute—To quarrel.
cãi bướng
To argue obstinately.
cãi lẽ
To argue.
cãi lộn
To quarrel—To dispute
cãi nhau
See Cãi lộn.
cãp cô độc
Sudatta Anāthapiṇḍika (S), Anāthapiṇḍika (S), Anāthapiṇḍada (P)Tô đạt đa, Thiện chí, Chẩn tế bần phạp, Cấp chư cô lãoSanh ở Savatthi, vương quốc Kosala, cùng thời đức Phật. Đã bố thí thực phẩm, quần áo cho người mồ côi, già yếu và cô quả, nên được mệnh danh là Cấp cô độc. Ông là người cúng dường chủ yếu của đức Phật. Ông cúng dường Kỳ viên tịnh xá, chính nơi này đức Phật đã ở đến 19 mùa mưa. Vợ con ông đếu quy y Phật. Lúc sắp qua đời, ngài A nan đến viếng và cho biết ông sẽ tái sanh về cỏi trời Đâu xuất (Tusita). 1- Tên một vị đại trưởng giả tại thành Xá vệ. Một tên của ông Cấp Cô Độc. 2- Thiện Thí = Khéo bố thí.
còng chân
Fetter.
còng lưng
To bend the back.
còng tay
Handcuffs.
có
Bhava (S). Existence; process of becoming. Also hữu, hiện hữu, hiện sinh.
; To have. 1) Có Cách: To have a way. 2) Có Chí: To have patience—To be patient. 3) Có Chừng: Điều độ—Temperate. 4) Có Công: See Có Chí. 5) Có Của: Rich—Wealthy. 6) Có Danh Tiếng: Celebrated—Famous—Renowned. 7) Có Hại: To be detrimental. 8) Có Hại Cho Sự Tái Sanh: To be detrimental to rebirth. 9) Có Hại Hơn Là Có Lợi: Resulting more harm than benefit. 10) Có Hạn: Limited. 11) Có Hiếu: To be filial (grateful) to one's parents. 12) Có Hiệu Quả: To be effective. 13) Có Ích: Useful—Advantageous. 14) Có Khi: Sometimes. 15) Có Lẽ: Perhaps—Maybe—Possible—Likely. 16) Có Lòng: Kind—Generous—Kind-hearted. 17) Có Lỗi: To be wrong. 18) Có Lợi: To be beneficial. 19) Có Lý: Reasonable—To be right. 20) Có Mã Đẹp: To have a fine appearance. 21) Có Một Không Hai: Peerless. 22) Có Nghĩa: To signify—To mean. 23) Có Nhiều: Abundant. 24) Có Phước: Happy. 25) Có Quyền: To have the right—Powerful. 26) Có Tài: To have a talent. 27) Có Tật: Crippled. 28) Có Tiếng: To be famous (celebrated). 29) Có Tình: Loving—Affectionate. 30) Có Tội: Guilty—Culpable. 31) Có Tuổi: Aged. 32) Có Vẻ: To seem—To look—To appear. 33) Có Vẻ Hữu Lý: It sounds reasonable. 34) Có Ý: To intend.
có chủ ý
Adhyāśayati (S), with intent upon.
có mùi
Gandhadhārin (S), Possessing perfumes.
có niệm là vô niệm đối với bồ tát, nhưng không phải vậy đối với tâm mê mờ của chúng sanh
Thought is the same as no-thought for a bodhisattva, but it is not the case for sentient beings' deluded minds.
có thân là có bịnh
To possess a body is to open to disease.
có tướng mà lìa tướng đối với bồ tát, nhưng với tâm mê mờ của chúng sanh thì không phải vậy
With Bodhisattvas, marks exist but they have been left behind; however, it it is not the case for the sentient beings' deluded minds.
có, không, có và không, chẳng có chẳng không
Existence, non-existence, both existence and non-existence, neither existence nor non-existence.
cô
1) Em của cha: Paternal aunt—Husband's sister. 2) Ni cô: A nun. 3) Cô độc: Solitary. 4) Cô nhi: Orphan. 5) Mua bán rượu: To deal in alcoholic liquor.
Cô hồn
(孤魂): chỉ những linh hồn cô đơn, không nơi nương tựa. Như trong tác phẩm Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄), phần Trung Nguyên Tiết (中元節), của Mạnh Nguyên Lão (孟元老, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Thiết đại hội, phần tiền sơn, tế quân trận vong một, thiết cô hồn chi đạo tràng (設大會、焚錢山、祭軍陣亡歿、設孤魂之道塲, thiết lập đại hội, đốt núi tiền, tế các vong linh chết trong quân trận, lập đạo tràng cô hồn).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 có câu: “Cô hồn diểu diểu dĩ vô y, trường dạ man man nhi vị đán (孤魂渺渺以無依、長夜漫漫而未旦, cô hồn mù mịt biết nương đâu, đêm tối mênh mang chưa tỏ sáng).” Hay trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 6, phần Ngục Không Sám Biểu (獄空懺表), cũng có đoạn: “Vô luận thử quốc độ, tha quốc độ, thử thế giới, tha thế giới, vô lượng quốc độ, vô tận thế giới, phàm trầm nịch Tam Đồ chi thảm thảm cô hồn, tất trượng Phật ân tận độ (無論此國土、他國土、此世界、他世界、無量國土、無盡世界、凡沉溺三塗之慘慘孤魂、悉仗佛恩盡度, không kể quốc độ này, quốc độ kia, thế giới này, thế giới kia, vô lượng các quốc độ, vô tận các thế giới, phàm chúng cô hồn thê thảm bị chìm đắm trong Ba Đường, đều nhờ ơn Phật được độ hết cả).” Trong Thiền môn có bài Tán Cô Hồn rằng: “Cô hồn phất tử, vô chủ vô y, giai nhân lụy thế bất tu trì, chánh pháp vĩnh văn tri, kim ngộ minh sư, thoát khổ sanh Đao Lị (孤魂甶子、無主無依、皆因累世不修持、正法永聞知、今遇明師、脫苦生忉利, cô hồn đầu quỷ, không chủ nương gì, đều do đời trước chẳng tu trì, chánh pháp mãi biết nghe, nay gặp minh sư, thoát khổ sanh Đao Lị).”
; (孤魂): những vong hồn cô quạnh, sống lây lất đây đó, không nơi nương tựa, không ai thờ tự. Trong Đạo Giáo cũng như Phật Giáo thường tiến hành nghi thức cúng cho các âm linh cô hồn để cho họ có thức ăn uống và nhờ nghe câu kinh, tiếng kệ mà được siêu độ, thoát khỏi cảnh khổ sống không nơi nương tựa như vậy. Theo Linh Bảo Lãnh Giáo Tế Độ Kim Thư (靈寶領敎濟度金書) của Đạo Giáo, nghi thức này được gọi là Ngọc Sơn Tịnh Cúng (玉山淨供), Cam Lồ Tịnh Cúng (甘露淨供), Tế Luyện (祭煉), hay tên gọi phổ biến nhất là Phóng Diệm Khẩu (放焰口). Trong Lịch Thế Chơn Tiên Thể Đạo Thông Giám (歷世眞仙體道通鑒) quyển 23 có dạy rằng: “Mỗi ư Tam Nguyên Bát Tiết, cát nhật lương tiêu, phổ triệu thập phương chư đại Địa Ngục, cùng hồn trệ phách, lai nghệ đàn tiền, câu thọ Tế Luyện, kỳ thừa phù lục, các toại siêu sanh (毎於三元八節、吉日良宵、普召十方諸大地獄、窮魂滞魄、來詣壇前、倶受祭煉、祇承符籙、各逐超生, Vào mỗi dịp Tam Nguyên, tám tiết, ngày tốt đêm lành, mời khắp mười phương các địa ngục lớn, hồn cùng đường, phách lang thang, đến tập trung trước đàn, đều thọ lễ Tế Luyện, mong thừa phù phép, thảy được siêu sanh).” Trong Phật Giáo, lễ nghi này cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống tâm linh của người Phật tử. Tùy theo nghi lễ tiến hành đơn giản hay long trọng, tên gọi có khác nhau như Cúng Cháo, Cúng Cô Hồn, Cúng Thí Thực, Chẩn Tế Cô Hồn, Phóng Diệm Khẩu, Thí Ngạ Quỷ, v.v. Trong bài Chúng Sanh Thập Loại Tế Văn (眾生十類祭文, Văn Tế Mười Loại Chúng Sanh) của Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có đoạn rằng: “Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh, thương thay thập loại chúng sinh, hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người, hương lửa đã không nơi nương tựa, hồn mồ côi lần lữa đêm đen, còn chi ai khá ai hèn, còn chi mà nói kẻ hiền người ngu…”
cô hồn
Disconsolate spirit who has no relatives to worship him/her. Solitary, forsaken spirit.
; Forsake spirits.
cô khỉ
Xem phúng tụng.
cô khởi
Xem Phúng tụng.
cô khởi kệ
Gàtha (S). Stanza.
; (孤起偈) Phạm, Pàli: Gàthà. Một trong chín phần giáo, một trong mười hai bộ kinh. Cũng gọi là Cô khởi tụng, Già đà, Kệ đà. Nói tắt là Kệ. Trước kệ không có văn xuôi (Trường hàng), mà trực tiếp dùng văn vần để ghi chép giáo pháp, gọi là Cô khởi kệ. Hoặc trước kệ đã có văn xuôi rồi, nhưng nội dung nói trong văn xuôi hàm ý khác với văn vần, thì loại kệ tụng ấy cũng gọi là Cô khởi kệ. (xt. Kì Dạ, Kệ).
Cô khởi tụng
xem Già-đà.
cô khởi tụng
Xem phúng tụng.
Cô khởi tụng 孤起頌
[ja] コキショウ kokishō ||| Chinese translation of the Sanskrit gāthā , usually transcribed as 伽陀. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Hán dịch từ chữ gāthā của tiếng Sanskrit, thường Phiên âm là già-đà. Là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo.
cô lập
To isolate.
Cô Phong Giác Minh
(孤峰覺明, Kohō Kakumyō, 1271-1361): vị tăng của Phái Pháp Đăng thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Cô Phong (孤峰), xuất thân Hội Tân (會津, Aizu, thuộc Fukushima-ken [福島縣]), họ Bình (平), sinh năm thứ 8 niên hiệu Văn Vĩnh (文永). Năm lên 7 tuổi, ông đã để tang mẹ, đến năm 17 tuổi ông theo xuất gia với giảng sư Lương Phạm (良範), thọ giới trên Duệ Sơn (叡山), học giáo lý Thiên Thai được 8 năm, sau đó theo hầu Pháp Đăng Quốc Sư Vô Bổn Giác Tâm (法燈國師無本覺心) ở Hưng Quốc Tự (興國寺) được 3 năm. Tiếp theo, ông đến tham học với Liễu Nhiên Pháp Minh (了然法明) ở Xuất Vũ (出羽, Dewa) và thỉnh giáo nơi Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), v.v. Đến năm đầu (1311) niên hiệu Ứng Trường (應長), ông sang nhà Nguyên, đến tham yết Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山). Ngoài ra ông còn tham học với các danh tăng khác như Nguyên Ông Tín (元應信), Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Đoạn Nhai Liễu Nghĩa (斷崖了義), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫), Vô Kiến Tiên Đỗ (無見先覩), v.v. Sau khi trở về nước, ông lại đến tham vấn Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) ở Vĩnh Quang Tự (永光寺) vùng Năng Đăng (能登, Noto), thọ bồ tát giới và khai sáng Vân Thọ Tự (雲樹寺) tại vùng Xuất Vân (出雲, Izumo). Vào đầu niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘), Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇) mời ông đến truyền giới và ban cho hiệu là Quốc Tế Quốc Sư (國濟國師). Đến năm thứ 2 (1346) niên hiệu Trinh Hòa (貞和), ông tiến hành tái kiến Hưng Quốc Tự, rồi đến sống ở Diệu Quang Tự (妙光寺), được Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng (後村上天皇) ban tặng cho hiệu là Tam Quang Quốc Sư (三光國師) và thể theo sắc chỉ của nhà vua ông làm tổ khai sơn Cao Thạch Đại Hùng Tự (高石大雄寺) ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi). Chính trong khoảng thời gian này, ông đã dâng sớ thỉnh cầu triều đình ban cho thầy ông là Oánh Sơn Thiệu Cẩn tước hiệu Thiền Sư. Vào ngày 24 tháng 5 năm thứ 16 (1361) niên hiệu Chánh Bình (正平, tức năm đầu niên hiệu Khang An [康安]), ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi đời và 75 hạ lạp.
; 孤峰覺明; J: kohō kakumyō; 1271-1361;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, nối pháp Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin) và là thầy của Thiền sư Bạt Ðội Ðắc Thắng (j: bassui tokushō).|Dưới sự hướng dẫn của Giác Tâm, Sư thâm nhập giáo lí của Chân ngôn cũng như Thiền tông. Sư cũng tham học với Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) và Thụ giới Bồ Tát nơi vị này. Sư cũng kết bạn thân với Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin), một vị Thiền sư nổi danh của tông Tào Ðộng Nhật Bản. Trong một cuộc du hành sang Trung Quốc, Sư cũng đến Thiền sư Trung Phong Minh Bản (c: zhōngfēng míngběn) và tham học nơi đây.
cô phong giác minh
(孤峰覺明) (1271 - 1361) Vị tăng tông Lâm tế Nhật bản. Người Hội tân (huyện Phúc đảo), họ Bình. Lúc đầu sư học Thiên thai, sau theo các sư Kỉ y, Xuất vũ tập Thiền. Niên hiệu Ứng trường năm đầu (1311) vượt biển đến Trung quốc (đời Nguyên), nối Pháp hệ ngài Trung phong Minh bản. Sau khi về nước sư thụ giới Bồ tát ở Oánh sơn, rồi dời đến ở Xuất vân (huyện Đảo căn), sau Thiên hoàng Đề hồ cũng đã từng đến đây, và Thiên hoàng Thôn thượng thì theo sư qui y thụ giới. Năm Chính bình 16 sư tịch, thọ chín mươi mốt tuổi, bảy mươi lăm tuổi hạ. Để lại tác phẩm: Triệt tâm lục. Vua ban hiệu Quốc tế quốc sư, thụy hiệu Tam quang quốc sư. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.29 - Diên bảo truyền đăng lục Q.15].
cô quạnh
See Cô độc.
cô quả
Orphan and widow.
cô sơn
1) Ngọn núi nằm cheo leo một mình: An isolated hill. 2) Cô Sơn Tự và tên của một trong những vị Tăng trụ trì tại đây (Sư Thích Trì Viên 975-1021, đệ tử của Phụng Tiên Nguyên Thanh, tự là Vô Ngại Trung Dung Tử. Còn gọi là Thế Phu hay Bệnh Phu. Sư theo học yếu chỉ của tông Thiên Thai Tam Quán với ngài Phụng Tiên Nguyên Thanh, tu hành tại núi Cô Sơn ở Tây Hồ, soạn viết nhiều trước tác. Sư thị tịch năm 1021. Sư đã từng soạn bộ sớ chú Kinh Lăng Nghiêm)—A monastery in Kiang-Su and name of one of its monks.
; (孤山) Một hòn đảo nhỏ nằm ở góc Tây bắc hồ Tây tại Hàng châu, Chiết giang. Còn gọi là Cô tự, Doanh tự, Mai hoa tự. Tương truyền, vào đời Đường, một ngôi chùa đã được dựng lên ở đây, gọi là chùa Cô sơn,đến đầu đời Tống, đổi tên là chùa Quảng hòa. Năm Đại trung tường phù thứ 9 (1016) đời Tống, Cô sơn Trí viên thuộc phái Sơn ngoại tông Thiên thai đã đến đây ở tại viện Mã não, giao du với nhóm xử sĩ Lâm hòa tĩnh, lấy thơ văn làm vui, viết ra thiên Nhàn cư 51 quyển. Năm Bình trị thứ 2 (1065), viện Mã não được đổi là viện Bảo thắng, về sau lại đổi là Diên thắng quán, lệ thuộc Đạo giáo. Năm Thiệu hưng thứ 2 đời Nam Tống (1132), Diên thắng quán lại được đổi làm chùa Mã não và, cùng với tháp của Trí viên, đều được dời đến mạn bắc hồ. Cô sơn hiện nay có mộ của Lâm xử sĩ, và Phóng hạc đình (đình thả hạc) do Trần tử an đời Nguyên kiến tạo, là danh thắng của hồ Tây. [X. Nhàn cư thiên Q.39, Q.40 - Cô sơn chí (Vương phúc lễ đời Thanh soạn) - Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 950, 951]. (xt. Trí Viên).
Cô Sơn Trí Viên
(孤山智圓, Kosan Chien, 976-1022): vị tăng sống dưới thời nhà Tống, thuộc Phái Sơn Ngoại (山外派) của Thiên Thai Tông Trung Quốc, xuất thân Tiền Đường (錢塘, Hàng Châu), họ Từ (徐), tự Vô Ngoại (無外), hiệu Tiềm Thiên (潛天), Trung Dung Tử (中庸子). Năm lên 8 tuổi, ông xuất gia ở Long Hưng Tự (龍興寺), Tiền Đường. Ban đầu ông học về Nho Giáo, có khiếu về thi văn, sau nương theo Nguyên Thanh (源清) ở Phụng Tiên Tự (奉先寺) học về giáo quán Thiên Thai. Sau khi Nguyên Thanh qua đời, ông sống một mình chuyên tâm nghiên cứu kinh luận, cùng với các bạn đồng môn như Khánh Chiêu (慶昭), Ngộ Ân (晤恩) nỗ lực xiển dương giáo học của Phái Sơn Ngoại. Chính ông đã từng luận tranh với nhân vật đại biểu của Phái Sơn Gia (山家派) là Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮). Về sau, ông lui về ẩn cư nơi Tây Hồ Cô Sơn (西湖孤山); số người theo học rất đông. Từ đó về sau, ông chuyên tâm trước tác, soạn ra bộ Nhàn Cư Biên (閒居編) 60 quyển (hiện tồn 51 quyển), Kim Quang Minh Kinh Huyền Nghĩa Biểu Chưng Ký (金光明經玄義表徴記) 1 quyển, v.v. Ông còn tinh thông các sách của Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Dương Hùng, Vương Thông, v.v., thường cho rằng lấy Nho để tu thân, lấy Thích để trị tâm và có ý muốn hòa hợp Tam Giáo. Vào tháng 2 năm đầu (1022) niên hiệu Càn Hưng (乾興), ông làm thơ tế văn rồi an nhiên mà thoát hóa, hưởng thọ 47 tuổi. Ông có viết khoảng 10 loại chú sớ như Văn Thù Bát Nhã Kinh Sớ (文殊般若經疏), Di Giáo Kinh Sớ (遺敎經疏), Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (般若心經疏), Thoại Ứng Kinh Sớ (瑞應經疏), Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (四十二章經注), Bất Tư Nghì Pháp Môn Kinh Sớ (不思議法門經疏), Vô Lượng Nghĩa Kinh Sớ (無量義經疏), Quán Phổ Hiền Hành Pháp Kinh Sớ (觀普賢行法經疏), A Di Đà Kinh Sớ (阿彌陀經疏), Thủ Lăng Nghiêm Kinh Sớ (首楞嚴經疏), v.v. Vì ông ẩn cư nơi Cô Sơn nên người đời thường gọi ông là Cô Sơn Trí Viên. Vào năm thứ 3 (1104) niên hiệu Sùng Đức (崇德) đời vua Huy Tông, ông được ban cho thụy là Pháp Huệ Đại Sư (法慧大師). Trừ các tác phẩm nêu trên, ông còn soạn các tập khác như Niết Bàn Kinh Sớ Tam Đức Chỉ Quy (涅槃經疏三德指歸) 20 quyển, Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經畧疏垂裕記) 10 quyển, Thủ Lăng Nghiêm Kinh Sớ Cốc Hưởng Sao (首楞嚴經疏谷響鈔) 5 quyển, Kim Quang Minh Kinh Văn Cú Sách Ẩn Ký (金光明經文句索隱記) 1 quyển, Niết Bàn Huyền Nghĩa Phát Nguyên Cơ Yếu (涅槃玄義發源機要) 1 quyển, Thập Bất Nhị Môn Chánh Nghĩa (十不二門正義) 1 quyển, v.v., tất cả hơn 170 quyển.
cô tang
(姑臧) Nằm ở huyện Vũ uy tỉnh Cam túc. Tên Cô tang hoặc từ núi Cô tang, hay từ thành Cái tang do Hung nô xây dựng mà lầm ra. Trong mười sáu nước Ngũ hồ, Tiền, Hậu, Nam, Bắc Lương đều lấy nơi này làm kinh đô. Thời Nam Bắc triều, nhà Hậu Ngụy đặt quận Vũ uy, nhà Đường, sau khi bình định được Lí quĩ, đặt đất này làm Lương châu, về sau lục tục bị Thổ phồn, Tống, Tây hạ chiếm cứ. Nơi này là điểm giao thông trọng yếu giữa Đông và Tây, các vị Tam tạng dịch kinh thường lưu trú tại đây. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 14 truyện Phật đà da xá chép, thì ngài Da xá theo lời chỉ dạy của ngài Cưu ma la thập mà đến Cô tang. Cũng sách đã dẫn truyện Đàm vô sấm chép, thời An đế (397 - 418) nhà Đông Tấn, Đàm vô sấm đã dịch kinh Đại ban niết bàn tại đây. Ngoài ra, cứ theo Pháp kinh lục quyển 1, quyển 5 chép, thì Đàm vô sấm đã dịch các kinh Bi hoa, Đại phương đẳng đại tập, Bồ tát giới tại đây. [X. Lương cao tăng truyện Q.2, Khai nguyên thích giáo lục Q.4 - Thông điển Q.174 mục Cô tang].
cô thi thảo
Kusa (skt)—Cự Xá—Một loại cỏ kiết tường—Grass of good omen for divination.
cô tạng
Tên một quận phủ, nay thuộc Lương Châu, tỉnh Cam Túc, là trung tâm lưu thông quan trọng sang Tây Tạng—Ku-Tsang—Formerly a city in Liang-Chou, Kan-Su, and an important center for communication with Tibet.
Cô Tẩy
(姑洗): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 3 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Hạ Vô (下無, shimomu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chấn Trạch Trường Ngữ (震澤長語), chương Âm Luật (音律) giải thích rằng: “Nam Lữ vi Vũ, Cô Tẩy vi Giốc (南呂爲羽、姑洗爲角, Nam Lữ là cung Vũ, Cô Tẩy là cung Giốc).” (2) Chỉ tháng Ba Âm Lịch. Như trong tác phẩm Bạch Hổ Thông (白虎通), chương Ngũ Hành (五行) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có ghi rõ rằng: “Tam nguyệt vị chi Cô Tẩy hà ? Cô giả cố dã; Tẩy giả tiên dã; ngôn vạn vật giai khử cố tự kỳ tân, mạc bất tiên minh dã (三月謂之姑洗何、姑者故也、洗者鮮也、言萬物皆去故就其新、莫不鮮明也, tháng Ba gọi là Cô Tẩy, vì sao ? Cô nghĩa là cũ, Tẩy nghĩa là mới; tức là vạn vật đều bỏ cái cũ mà đón cái mới, chẳng có gì mà không mới mẻ cả).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết rằng: “Thìn vi Cô Tẩy, tam nguyệt chi thần danh Thìn, Thìn giả chấn động chi nghĩa, thử nguyệt vật giai chấn động nhi trưởng, cố vị chi Thìn (辰爲姑洗、三月之辰名辰、辰者震動之義、此月物皆震動而長、故謂之辰, Thìn là Cô Tẩy, chi của tháng Ba là Thìn; Thìn có nghĩa là chấn động; tháng này muôn vật chuyển động mà lớn lên, nên gọi nó là Thìn).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng có giải thích thêm rằng: “Tam nguyệt kiến Thìn, hựu viết Cô Tẩy, hựu viết Mạc Xuân, viết Vãn Xuân, viết Diểu Xuân, hựu xưng Túc Nguyệt (三月建辰、又曰姑洗、又曰莫春、曰晚春、曰杪春、又稱宿月, tháng Ba kiến Thìn, lại gọi là Cô Tẩy, là Mạc Xuân, còn gọi là Vãn Xuân, là Diểu Xuân, còn có tên là Túc Nguyệt).” Hay trong Thích Thị Kê Cổ Lược (釋氏稽古略, Taishō Vol. 49, No. 2037) quyển 1 có câu: “Đại Minh Gia Tĩnh Quý Sửu tuế Cô Tẩy nguyệt Giáp Thân nhật Cú Khúc Thiên Vương Tự hậu học Sa Môn Xương Phục trùng san (大明嘉靖癸丑歲姑洗月甲申日句曲天王寺後學沙門昌腹重刊, hậu học Sa Môn Xương Phục khắc bản lại tại Thiên Vương Tự ở Cú Khúc, ngày Giáp Thân tháng Ba năm Quý Sửu [1553] niên hiệu Gia Tĩnh nhà Đại Minh).”
cô tửu giới
Giới cấm bán rượu—The commandment which is against the selling of alcoholic liquor.
; (酤酒戒) Cô tửu, mua rượu hoặc bán rượu. Là giới điều cấm chỉ việc mua bán rượu. Là giới thứ năm trong mười giới trọng cấm của Hiển giáo. Rượu là vô minh độc hại, nó khiến lòng người mờ tối đảo điên, cho nên phải cấm. Giới này chung cho cả bảy chúng tăng tục. Đại thừa, Tiểu thừa đều cấm. Lại Bồ tát vốn làm lợi người, nếu tự mua bán rượu, hoặc bảo người khác mua bán rượu thì phạm tội nặng - Thanh văn phạm giới này thì là tội nhẹ. [X. kinh Phạm võng Q.hạ - kinh Ưu bà tắc giới Q.3 - kinh Bồ tát anh lạc Q.thượng - Tuệ lâm âm nghĩa Q.25]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
Cô Vân Hoài Trang
(孤雲懷弉, Koun Ejō, 1198-1280): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), húy là Hoài Trang (懷弉, 懷奘), thông xưng là Nhị Tổ Quốc Sư (二祖國師), thụy hiệu là Đạo Quang Phổ Chiếu Quốc Sư (道光普照國師); xuất thân kinh đô Kyoto, họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Ông theo xuất gia với Viên Năng (圓能) ở Hoành Xuyên (横川, Yokogawa) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Đến năm 1218, ông thọ Bồ Tát Giới, chuyên tâm tu học giáo nghĩa của vùng Nam Đô và Tịnh Độ; rồi đến tham Thiền với Giác Yến (覺晏) ở Đa Võ Phong (多武峰) vùng Đại Hòa (大和, Yamato) và học pháp Đạt Ma Tông. Sau đó, nhân nghe Đạo Nguyên (道元, Dōgen) từ bên Trung Quốc trở về nước, ông đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) để tham vấn vị này; và đến năm 1234 thì trở thành đệ tử vè kế thừa dòng pháp của Đạo Nguyên. Ông đã từng trợ lực cho thầy mình tại Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (興聖寶林寺), Vĩnh Bình Tự, và trở thành vỉ Tổ đời thứ 2 của Vĩnh Bình Tự. Ông có công lớn trong việc biên tập bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) và ghi lại toàn bộ lời dạy của Đạo Nguyên, để sau này hình thành bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký (正法眼藏隨聞記). Khi Đạo Nguyên qua đời trên kinh đô Kyoto, ông mang hài cốt thầy về an táng tại Vĩnh Bình Tự. Vào năm 1267, ông lui về ẩn cư ở ngôi nhà phía đông của chùa, và giao lại trách nhiệm cho Nghĩa Giới (義介). Vào ngày 24 tháng 8 năm thứ 3 (1280) niên hiệu Hoằng An (弘安), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi đời và 63 hạ lạp. Thể theo di huấn, ông được an táng kế bên ngôi tháp của Đạo Nguyên. Trước tác của ông có Quang Minh Tạng Tam Muội (光明藏三昧).
; 孤雲懷奘; J: koun ejō; 1198-1280|Thiền sư Nhật Bản, Tổ thứ hai của tông Tào Ðộng tại đây sau Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Kế thừa Sư và cũng là người trụ trì thứ ba của Vĩnh Bình tự (j: eihei-ji) là Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (j: tettsū gikai).|Các tài liệu không ghi rõ thời niên thiếu, chỉ biết là Sư sinh trưởng tại Kinh Ðô (j: kyōto) và sớm được dạy dỗ theo nhà Phật trên núi Tỉ Duệ (j: hiei). Năm lên 17 (1215), Sư Thụ giới cụ túc và năm 20 tuổi thụ giới Bồ Tát tại chùa Diên Lịch (j: enryaku-ji) trên núi Tỉ Duệ. Nơi đây, Sư tham học Phật pháp với một vị Pháp sư tên là Viên Năng (圓能; j: ennō) và tương truyền rằng, Sư đã tiếp xúc với tất cả các tông phái đạo Phật đương thời như Thiên Thai (j: tendai), Chân ngôn (j: shingon) và cả Tịnh độ (j: jōdō). Nhưng tất cả những dạng tu tập này đều không thoả mãn được lòng quyết tâm đạt đạo của Sư. Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (keizan jō-kin) – môn đệ chính của Sư – ghi lại lời khuyên của bà mẹ khi Sư về thăm bà: »Mẹ không cho con xuất gia tu hành để đạt danh vọng và liên hệ với dòng dõi quý tộc. Con không nên tu tập vì tham vọng. Mẹ rất mong rằng, con tu học khổ hạnh, choàng ca-sa đen với nón tre trên lưng và tự đi đứng một mình, thay vì ngồi trên kiệu để người vác.«|Ngay sau khi nghe những lời dạy này, Sư không bước chân đến núi Tỉ Duệ nữa, ban đầu tu tập theo Tịnh độ tông, sau gia nhập học thiền (khoảng 1222/23) với Giác Yển (覺晏; j: kakuan) thuộc Nhật Bản Ðạt-ma tông (j: nihon darumashū), một môn đệ của Ðại Nhật Năng Nhẫn (j: dainichi nōnin). Nhân lúc đọc kinh Thủ-lăng-nghiêm (s: śūraṅgama-sūtra; j: shuryōgongyō), Sư có tỉnh và cho rằng, kinh nghiệm Giác ngộ này chính là diệu giác (j: myōkaku) của đức Phật Thích-ca. Thời gian tu tập của Sư nơi Nhật Bản Ðạt-ma tông kéo dài khoảng sáu năm và sau đó, Sư yết kiến Thiền sư Ðạo Nguyên (1928) tại Kiến Nhân tự (kenninji) ở Kinh Ðô. Trong một cuộc Pháp chiến (j: hōssen) sôi nổi, Ðạo Nguyên thừa nhận kinh nghiệm giác ngộ của Sư nhưng chính Sư cũng thấy rõ kinh nghiệm thâm sâu của Ðạo Nguyên vượt xa mình. Vì vậy, Sư quì lạy, lễ bái Ðạo Nguyên làm thầy. Ðạo Nguyên khuyên Sư đợi một thời gian nữa hãy đến.|Năm 1230, Ðạo Nguyên rời Kiến Nhân tự và sau đó thành lập một Thiền viện với tên Hưng Thánh Pháp Lâm tự (j: kōshōhōrin-ji). Năm 1234, một năm sau khi Hưng Thánh tự được thành lập, Sư đến Ðạo Nguyên một lần nữa và được thu nhận làm đệ tử. Hai năm sau, nhân khi tham quán câu hỏi của một vị tăng đến Thiền sư Thạch Sương Sở Viên »Thế nào khi một sợi tóc đào nhiều lỗ?« Sư bỗng nhiên Ðại ngộ (11. 1236). Sư bèn thắp hương lễ Phật và chạy đến Ðạo Nguyên trình sự việc. Ðạo Nguyên nghe xong bảo: »Sợi tóc đã đào đến nơi đến chốn« và Ấn khả. Từ đây, Sư giữ chức thủ toạ (đứng đầu chúng trong việc giáo hoá thay thầy) và làm thị giả cho đến lúc Ðạo Nguyên viên tịch.|Sau, tại Vĩnh Bình tự, Ðạo Nguyên giao lại cho Sư trách nhiệm thực hành các nghi lễ vào nói rằng: »Ta không còn sống lâu nữa. Ngươi thọ mệnh cao hơn ta và chắc chắn sẽ truyền giáo pháp của ta. Vì chính pháp mà ta phó chúc công việc cho ngươi.« Sau khi Ðạo Nguyên tịch, Sư kế thừa trụ trì chùa Vĩnh Bình và mất năm 1280, thọ 82 tuổi.|Tác phẩm duy nhất của Sư là Quang minh tạng tam-muội (j: kōmyōzōzanmai), nhưng Sư biên tập nhiều tác phẩm khác của Ðạo Nguyên như Chính pháp nhãn tạng (j: shōbōgenzō), Chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí (shōbōgenzō zuimonki)… Những tác phẩm của Ðạo Nguyên được truyền đến hậu hế phần lớn là nhờ công lao của Sư.
cô vân hoài trang
Koun Ejo (J)Tên một vị sư.
; (孤雲懷奘) (1199 - 1280) Vị tăng tông Tào động Nhật bản. Người Kinh đô, họ Đằng nguyên. Hiệu Cô vân. Xuất gia sớm, ở Hoành xuyên, Tỉ duệ sơn, tu học chỉ quán, Câu xá, Tam luận và Tịnh độ. Về sau theo học ngài Đạo nguyên, bèn qui y Thiền tông - nhờ theo học lâu dài, nên sư đã cùng suốt nghĩa sâu xa. Sau sư hợp sức cùng ngài Đạo nguyên sáng lập chùa Vĩnh bình và kế nhiệm trụ trì đời thứ hai của chùa này, năm Hoằng an thứ 3, sư tịch, thọ tám mươi ba tuổi, sáu mươi ba tuổi hạ. Có các trứ tác: Chính pháp nhãn tạng tùy văn kí, Hoài tráng lục. [X. Tam tổ hành nghiệp kí - Động thượng liên đăng lục Q.1].
cô đa ni (châu)
Xem Tây ngưu hóa châu.
cô điều giải thoát
(孤調解脫) Gọi chung sự giải thoát của những người học tập Tiểu thừa. Tức là chỉ chăm chú điều độ thân tâm của chính mình để thoát ra khỏi cảnh mê - cũng như từ ngữ Tự liễu hán (người tự giải thoát lấy mình). [X. Ma ha chỉ quán Q.3 phần trên - Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3 đoạn 1].
cô đơn
Loneliness—Solitary (a).
cô địa ngục
Xem Cô độc địa ngục.
cô độc
Solitary—Lonely.
cô độc viên
Jetavana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, đây là tịnh xá bảy từng cùng với công viên mà ngài Cấp Cô Độc đã mua từ Thái Tử Kỳ Đà để hiến cho Phật. Đây là nơi an cư mà Đức Phật rất thích, cũng là nơi mà nhiều bộ kinh đã được Phật thuyết giảng—According to Eitel from The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the seven-storey abode and park presented to Sakyamuni by Anathapindaka, who bought it from the prince Jeta. It was a favourite resort of the Buddha, and most of the sutras date from this spot.
Cô độc viên 孤獨園
[ja] コドクオン Kodokuon ||| See 祇樹給孤獨園。 => Xem Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên 祇樹給孤獨園。
cô độc địa ngục
Pratyeka-nāraka (S), Hell of Solitude Pacceka-niraya (P)Cô địa ngục, Độc địa ngục, Biên địa ngụcKhông nằm trong bát đại địa ngục nóng lạnh vì ở hư không, tuỳ tâm tội người mà chiêu cảm ra.
; Pratyeka-nàraka (S). Separated hell.
; Solitary hells—See Địa Ngục (C).
; (孤獨地獄) Phạm: Pratyeka naraka, Pàli: Pacceka- nisaya. Chỉ các địa ngục tùy theo tội nghiệp của người ta chiêu cảm, ở rải rác giữa hư không hoặc chỗ đồng không hoang vắng, chứ không có nơi nhất định như Bát hàn, Bát nhiệt địa ngục. Còn gọi là Cô địa ngục, Độc địa ngục, Biên địa ngục. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 chép, thì Cô địa ngục có nhiều thứ khác nhau, nơi chỗ không nhất định, hoặc ở gần sông ngòi, ở bìa rừng, hay giữa đồng không mông quạnh. Vì xưa nay phần nhiều lấy những nơi có suối nước nóng tuôn ra, hoặc núi phun lửa làm Cô địa ngục, như địa ngục nước nóng ở Vương xá thành bên Ấn độ, địa ngục vạc nước sôi ở Thổ phồn v.v... [X. luận Du già sư địa Q.4 - luận Thuận chính lý Q.31 - luận Tam pháp độ Q.1].
côi cút
Orphaned.
côn
Côn trùng—Insects—Creeping things.
côn luân
Dvīpatala (S)Tên một quốc gia, nay thuộc các đảo lớn ở Nam dương.
côn lôn
Đảo Côn Lôn trong biển Nam Hải—Condre island in the South China Sea.
côn lôn quốc
Được diễn tả như là tên nước của một nhóm người da đen trên đảo Gia Va và Su Ma Tra (bây giờ thuộc Nam Dương)—A native of those islands of black colour, and is described as Java, Sumatra, etc.
; (崑崙國) Tên gọi chung các nước ở vùng biển phía nam Trung quốc. Phạm: Dvìpatala. Cũng gọi Quật luân quốc, Cốt luân quốc. Vốn chỉ các đảo quốc ở phía đông nam bán đảoTrung nam. Đến thời Tùy, Đường thì côn lôn quốc là chỉ chung cho châu Bà la, đảo Java, đảo Sumatra và các đảo phụ cận, rồi bao gồm luôn cả Miến điện và bán đảo Mã lai, cứ tùy theo sự di cư của người côn lôn mà phạm vi nước côn lôn được nới rộng ra. Vùng này là đường hàng hải quan trọng giữa Quảng châu của Trung quốc với các nước Ấn độ và Ba tư. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 trung), nói: Vùng biển Nam có hơn 10 nước, (...). Các nước này chu vi khoảng 100 dặm, hoặc vài trăm dặm, hoặc chỉ 100 trạm nối nhau, tuy biển cả bao la khó tính được chiều dài, nhưng nhờ thuyền buôn qua lại mà đoán biết được. Vì người Quật luân đến Giao châu, Quảng châu trước tiên, nên người ta gọi chung vùng này là côn lôn quốc. Người côn lôn da đen, đầu quấn khăn. Còn các nước khác, giống với Thần châu. Về chủng tộc thì giống người côn lôn tương đương với giống người Mã lai ngày nay. Theo truyền thuyết, quan đại thần của nước này gọi là côn lôn. Nước Phù nam cũng có ông Vua tên là côn lôn. [X. Tống cao tăng truyện Q.1 - Tục cao tăng truyện Q.2. Tùy ngạn tông truyện - Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng Vận kì truyện].
côn lôn sơn
Núi Côn Luân hay Hương Sơn, nằm về phía bắc núi Tuyết Sơn của Tây Tạng—The K'un-Lun mountain range north of Tibet, the Gandhamadana.
; (崑崙山) Còn gọi là Côn sơn. Là ngọn núi có tính thần bí. Tương truyền, là nguồn của sông Hoàng, hoặc trên núi có hồ A nậu đạt, hoặc là chỗ ở của Tây vương mẫu, Mục vương nhà Tây Chu đã từng đến thăm Tây vương mẫu và được đãi yến ở Dao trì. Bài Tựa kinh Hưng khởi hành, kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi, Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên 80 Côn lôn sơn bộ tạp lục v.v... đều cho núi này là trung tâm của trời đất, sản sinh nhiều thứ trân quí, vàng ròng - có năm trăm vị La hán ở trong hang núi - hoặc nói có Long vương A nậu đạt từng ở núi này, kinh Khởi thế quyển 1 thì bảo núi Côn lôn tức là Tuyết sơn - hoặc được coi là ở Tây vực, là Linh sơn trong truyền thuyết. Nhưng thật thì núi này ở mạn nam Tân cương, phía bắc Tây tạng, đứng vượt lên giữa khoảng dẫy Thiên sơn và Khách lạt, gọi chung là dẫy Côn lôn, bắt đầu từ cao nguyên Parmir phía đông chia ra nhiều dẫy nhỏ - tên gọi của dẫy núi này chưa thấy ghi trong Địa đồ của triều đình đời Thanh, mà chỉ mới xuất hiện gần đây do các nhà thám hiểm người Âu đặt ra. Cái mà đời xưa gọi là núi Côn lôn, có thể là bắt đầu từ Sơn mạch ngày nay, rồi gọi chung một dải Hi mã lạp sơn và cao nguyên Parmir, và rất có thể bao quát cả địa khu Tây tạng. Ngoài ra, Thiền tông dùng núi này để biểu thị ý căn bản của Phật pháp. Hư đường Hòa thượng ngữ lục quyển 3 (Vạn tục 121, 352 hạ), nói: Chỉ niệm một tiếng Na mô Phật, đều đã thành Phật đạo, nếu nói đến kim luân thủy tế đỉnh núi Côn lôn, thì công đức qui về đâu? [X. Kinh luật dị tướng Q.3 - Sử kí đại uyển liệt truyện 63 - Tống sử hà cừ chí - Nguyên sử chí 15 Địa lí hà nguyên phụ lục].
côn lôn tước sinh thiết
(崑崙嚼生鐵) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên nói Hốt luân tước sinh thiết, nghĩa là nhai nguyên cả thỏi sắt, nhai đã chẳng được, vả lại vô vị. Trong Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ sự hoàn toàn không phân biệt suy xét. Hư đường Hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Vạn tục 121, 330 hạ), chép: Tăng hỏi: ‘(.....) chỉ như ở Linh sơn bí mật phó chúc thì người học còn được thưa hỏi gì nữa không?’ Sư đáp: ‘Côn lôn tước sinh thiết’..
côn lôn tử
(崑崙子) I. Côn lôn tử. Còn gọi là Côn lôn nô. Tức là người da đen ở nước Côn lôn (các nước vùng Nam hải). Hoặc gọi một cách khinh thị người từ Ấn độ, Tây vực đến. (xt. Côn Lôn Quốc). II. Côn lôn tử. Còn gọi là Tất đạo nhân ......... Chỉ pháp sư Đạo an đời Đông Tấn, vì da sư đen cho nên có hiệu là Côn lôn tử. [X. Lương cao tăng truyện Q.5 truyện Đạo an]. (xt. Đạo An).
côn lặc môn
(蜫勒門) Côn lặc, Phạm: Piỉaka hoặc Peỉaka, cũng gọi Tì lặc. Dịch ý là Khiếp tàng (cái hòm chứa). Tên một bộ luận do ngài Đại ca chiên diên sáng tác. Luận Đại trí độ quyển 18 (Đại 25, 192 trung), nói : Côn lặc có ba trăm hai mươi vạn lời (3.200.000), do Đại ca chiên diên viết khi đức Phật còn tại thế. Sau Phật nhập diệt, tuổi thọ người ta giảm dần, trí nhớ cũng kém, không thể tụng hết, vì vậy các bậc đắc đạo mới soạn lại còn ba mươi tám vạn bốn nghìn lời (348.000). Nếu người vào môn Côn lặc mà bàn luận thì vô cùng. Trong đó có các loại như Tùy tướng môn, Đối trị môn v.v.... Do đó mà biết nội dung của môn Côn lặc còn chia làm Tùy tướng môn, Đối trị môn. Trong đây, Tùy tướng môn có nghĩa là trong sự hiển bày một pháp một môn, tức cũng đã hiển bày các pháp môn cùng tướng cùng duyên khác. Chẳng hạn, khi nói bốn niệm xứ, vì nó không tách rời bốn chính cần, bốn như ý túc, cho nên Phật tuy không nói các môn khác, chỉ nói bốn niệm xứ mà đã biết nghĩa của các môn khác rồi, ví như một người phạm tội, cả nhà cũng bị ảnh hưởng, đó tức là Tùy tướng môn. Đối trị môn có nghĩa là, như Phật nói bốn điên đảo, tuy không nói bốn niệm xứ mà đã biết nghĩa của bốn niệm xứ rồi, ví như nói đến thuốc thì đã biết bệnh, kể bệnh thì đã biết thuốc, đó tức là Đối trị môn. Lại luận Đại trí độ quyển 18 cho rằng A tì đàm nhằm giải thích có, Không môn thì nói về không, nhưng môn Côn lặc thì nói có, không. Các nhà Thiên thai và ngài Gia tường phán định luận này là môn vừa có vừa không trong bốn môn Tiểu thừa. Côn lặc được nói trong luận Đại trí độ cùng với luận thư trong tạng Luận Pàli hiện còn là cùng hệ thống, nhưng vì nguyên bản đã bị mất, nên hai luận này có phải cùng một bản hay không, thì điều đó khó đoán định. Về ngữ nghĩa của Côn (. ) lặc thì e là đã viết lầm từ chữ Tì ( ) lặc mà ra. Tuy nhiên, theo sự nghiên cứu của pháp sư Ấn thuận thì có nhiều lí do để cho rằng Côn lặc không phải đã từ Tì lặc mà viết lầm ra. Lại trong Phật điểnPàli, ngoài các điển tịch Tam tạng ra, có sách đề là: Peỉak’opadese, truyền là do ngài Đại ca chiên diên viết, nay nói Côn lặc tức là chỉ sách này. [X. luận Đại trí độ Q.2 - Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 phần dưới, Q.10 phần trên - Khả hồng âm nghĩa Q.10 - Thuyết nhất thiết hữu bộ vi chủ đích luận thư dữ luận sư chi nghiên cứu (Ấn thuận)].
côn sơn
1) Tên khác của chùa Thiên Tư Phúc, chùa tọa lạc tại thôn Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng, Bắc Việt Nam. Khu vực Côn Sơn nổi tiếng với núi non, chùa tháp, rừng thông, khe suối, cũng như những di tích gắn liền với nhiều danh nhân trong lịch sử. Côn Sơn còn được coi như là một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất của nước ta. Chùa đã được xây dựng trước đời nhà Trần. Vua Trần Thái Tông (1225-1298) đã từng đến viếng chùa. Người ta nói chùa được trùng tu vào đời nhà Lê với 83 phòng nguy nga lộng lẫy. Tuy nhiên, bây giờ chỉ còn là ngôi chùa nhỏ mà thôi, thường gọi là chùa Hun. Chùa có tượng Phật A Di Đà, và các tượng Trúc Lâm Tam Tổ—Another name Thiên Tư Phúc Temple, located in Chí Ngại village, Chí Linh district, Hải Hưng province, North Vietnam. Côn Sơn area is well-known for the mountains and hills, temples and stupas, pine forests, and springs and streams, as well as vestiges related to many famous people in history. Côn Sơn is also considered one of the greatest Buddhist centers of Vietnam. Côn Sơn Temple was built before the Trần dynasty. King Trần Thái Tông used to visit the temple. It was said that, after being rebuilt in the Lê dynasty, the temple consideed of eighty-three magnificient halls. However, it is now only a small temple named Hun. In the temple stand Amitabha Buddha statue, and the statues of Three Trúc Lâm patriarchs. 2) See Côn Lôn Sơn.
côn trùng tác phật
Theo Đại Trí Độ Luận, ngay cả côn trùng cũng có thể làm Phật được—Accoding to the Maha-Prajna-Paramita Sastra, even insects may attain Buddhahood.
; (蜫蟲作佛) Theo ý chỉ Nhất thừa viên đốn, thì loài côn trùng cũng có tính Phật, cũng có khả năng thành Phật. Trong Phật giáo Đại thừa, như Hoa nghiêm, Thiên thai, Thiền tông, Chân ngôn mật giáo... đều chủ trương các pháp bình đẳng, (chúng) sinh, (chư) Phật chẳng lai, cho đến hết thảy hữu tình, vô tình (núi sông, đất liền, cây cỏ...) đều có tính Phật, đều có thể thành Phật. Cho nên nói, mặc dầu côn trùng khác xa với loài người, thân thể tuy đơn giản nhỏ bé, tác dụng hình thức tuy nông cạn ám muội, song đều đủ tính Phật, đều có khả năng thành Phật. Luận Đại trí độ quyển 93 (Đại 25, 713 trung), nói : Trong tâm Phật, hết thảy chúng sinh, hết thảy pháp đều tất định, (...) Côn trùng bé nhỏ tuy chưa có tâm thiện, nhưng qua các kiếp phát tâm, sau sẽ làm Phật, nhất định biết hết thảy pháp đều như thế. [X. Đại thừa huyền luận Q.3, Q.8 - Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 đoạn 2 - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16 - Hoa nghiêm nhất thừa thành Phật diệu nghĩa].
Công
功; C: gōng; J: ku, kō;|Có các nghĩa sau: 1. Công lao. công đức; sự thành đạt, công trạng, vinh dự; 2. Tài năng, năng lực, hiệu lực, hiệu quả; 3. Tác dụng.
công
Merit, meritorious; achievement.
; 1) Công Cộng: General—Public. 2) Công Đức: Merit—Meritorious—Achievement. 3) Chính Thức: Official. 4) Công Tước: Duke. 5) Ông (ngoại hay nội): Grandfather. 6) Ông (cách gọi tôn quý): Gentlemen. 7) Công Việc: Work—A period of work—A job.
; (功) I. Công. Chỉ sự tu hành. Thiền lâm có từ ngữ công đầu cuối, chỉ quá trình tu hành. II. Công. Chỉ nội dung của sự tu hành, hoặc thể nghiệm việc tu hành. III. Công. Chỉ hiệu quả của sự tu hành, tương đương với từ công phu. Trong Thiền tông, gọi sự tinh tiến tu hành ngồi Thiền là Công phu tọa thiền, Công phu tham cứu, Công phu biện đạo, hay Biện đạo công phu. IV. Công. Là vị thứ ba trong năm giai đoạn Công huân do tổ Động sơn Lương giới của tông Tào động lập ra. Chỉ công quả, công huân của sự tu hành. V. Công. Nói tắt của từ Công đức. Ý là lợi ích, hoặc là công năng phúc đức. (xt. Công Đức).
; (公) Chỉ bậc cao tăng. Cứ theo Kim thạch yếu lệ chép, thì khi gọi vị tăng là Công, phải gọi chữ thứ hai của pháp danh, như pháp sư Tuệ viễn gọi là Viễn công, pháp sư Đạo sinh gọi là Sinh công.
công báo
Official notice.
công bằng
Justice.
công bố
To make public.
công bố tra bố
(工布查布) Người bộ lạc Ô chu mục tần đời Thanh. Từ nhỏ, nhờ ơn Thánh tổ nhà Thanh nuôi dưỡng, sau giữ chức Nghi tân, lại thông thạo các thứ tiếng Tây vực, cho nên vua Thế tông đặc biệt giữ lại ở Đế đô, nhận chức Tổng lí Tây phiên học, trông coi việc phiên dịch. Vào năm Càn long đời Cao tông, ông dịch được ba bộ: Phật tượng lượng độ kinh, Di lặc bồ tát phát nguyện vương kệ và Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương kinh, trong đó, kinh Phật tượng lượng độ từ sau năm Càn long trở đi, đã ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật tạo tượng. Năm sinh năm mất và các sự tích khác về ông đều không rõ.
công chuyện
Work—Business—Occupation.
công chính
Just—Fair—Equitable
công chúa
Princess.
công chúng
The public.
công chức
Public servant.
công cộng
Public.
Công cứ
(公據): chứng cứ, bằng chứng của quan phủ, vật làm tin để dựa vào mà nói chuyện. Như trong bản Khất Tăng Tu Cung Tiễn Xã Điều Ước Trạng (乞增修弓箭社條約狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Dục khất lập định niên hạn, mỗi cú đương cập tam niên, vô thấu lậu cập tư tội tình trọng giả, ủy bổn Huyện Lịnh Tá cập bổ đạo quan, bảo minh thân an phủ tư cấp dữ công cứ (欲乞立定年限、每句當及三年、無透漏及私罪情重者、委本縣令佐及捕盜官、保明申安撫司給與公據, muốn xin lập định mức tuổi giới hạn, mỗi câu hợp với ba năm, không có người tiết lộ và tội tình riêng, ủy thác cho phụ tá Huyện Lịnh và quan bắt cướp, bảo đảm làm sáng tỏ vỗ về cho yên cấp sở và chứng cứ).” Trong Phật Giáo thường xuất hiện các thuật ngữ “Tây phương công cứ (西方公據, chứng cứ được sanh về Tây phương)”, “vãng sanh công cứ (徃生公據, bằng chứng vãng sanh)”, v.v. Như trong Tịnh Độ Chỉ Quy Tập (淨土指歸集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1154) quyển Hạ, phần Tây Phương Công Cứ (西方公據), có đoạn: “Tô Văn Trung Công nam thiên nhật, bội họa nhất trục, nhân vấn chi. Công viết: 'Thử ngô Tây phương công cứ dã' (蘇文忠公南遷日、佩畫一軸、人問之、公曰、此吾西方公據也, ngày Tô Văn Trung Công [tức Tô Thức] dời về phương Nam, mang theo một bức tranh, có người hỏi. Ông đáp: 'Đây là chứng cứ về Tây phương của ta').” Trong A Di Đà Kinh Trực Giải Chánh Hạnh (阿彌陀經直解正行, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 434) cũng có đoạn: “Tô Đông Pha thường đới Tây phương công cứ A Di Đà tượng, giai thị quy thê Cực Lạc chi tâm, kim nhân dục mích phiết khổ chi pháp, tu bằng niệm Phật năng tiêu vạn kiếp chi khổ (蘇東坡常帶西方公據彌陀佛像、皆是歸栖極樂之心、今人欲覓撇苦之法、須憑念佛能消萬劫之苦, Tô Đông Pha thường mang tượng A Di Đà làm bằng chứng về Tây phương, đều là tâm quay về an trú Cực Lạc; người thời nay muốn tìm phương pháp hết khổ, nên nương vào niệm Phật thì có thể tiêu được cái khổ của muôn kiếp).” Sau này, Tri Quy Học Nhân Bành Tế Thanh (知歸學人彭際清, 1740-1796) có sáng tác bộ Trùng Đính Tây Phương Công Cứ (重訂西方公據, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1180), 2 quyển.
công danh
Position and fame
Công Dương Học
(公羊學, Kuyōgaku): học vấn dựa trên cơ sở của Công Dương Truyện (公羊傳)—sách chú thích của bộ Xuân Thu (春秋) do Công Dương Cao (公羊高) trước tác, đứng trên lập trường sử quan gọi là xã hội phát triển và từ thời loạn đi vào cuộc đời thái bình.
Công Dận
(公胤, Kōin, 1145-1216): vị tăng sống vào khoảng giữa hai thời đại Bình An và Liêm Thương, hiệu là Minh Vương Viện (明王院), cháu của Nguyên Nhã Tuấn (源雅俊), con của vị tăng Hành Hiển (行顯); có thuyết cho là con của Hiến Tuấn (憲俊). Ông theo làm đệ tử của Hiền Giác (賢覺) ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), học Hiển Mật và được công nhận là pháp khí của Phật pháp, rồi được truyền thọ phép Quán Đảnh và trở thành A Xà Lê. Ông được triều đình và lớp quý tộc tin sùng, đặc biệt là được sự tôn kính của hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇); thường được cung thỉnh về Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) để truyền đạo. Hơn nữa, ông còn được sự tín nhiệm của Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽法皇), rồi cùng làm Phật sự với Pháp Hoàng, và trở thành Tăng Chánh. Sau đó, vào năm 1205, rồi 1209, ông được cử làm chức Trưởng Lại (長吏) của Viên Thành Tự, và năm 1208 thì làm Biệt Đương (別當) của Pháp Thắng Tự (法勝寺). Tương truyền ông rất thâm giao với vị Trưởng Lại ngày trước là Thật Khánh (實慶), và có mối quan hệ thâm tình với Nội Đại Thần Nguyên Thông Thân (源通親, Minamoto-no-Michichika). Trước tình hình Tịnh Độ Tông của Nguyên Không (源空, Genkū) chiếm ưu thế mạnh, nhân đọc qua bộ Tuyển Trạch Niệm Phật Tập (選擇念佛集) do Nguyên Không trước tác, Công Dận có ý định muốn đả phá nội dung của bộ này, bèn viết bản Tịnh Độ Quyết Nghi Sao (淨土決疑抄). Tuy nhiên, ông lại tình cờ hội hội ngộ với Nguyên Không, rồi lắng nghe vị này thuyết giảng, và cuối cùng quy y theo giáo thuyết ấy; vì thế ông đã hủy bỏ đi trước tác của ông để trở thành một nhà niệm Phật rất nhiệt tâm. Khi Nguyên Không qua đời, chính ông đã quản lý việc Phật sự này. Lại nữa, chính Đạo Nguyên (道元, Dōgen), người khai sáng ra Tào Động Tông Nhật Bản, lần đầu tiên có đến vấn pháp với Công Dận; nhưng chính Công Dận lại khuyên Đạo Nguyên nên đến học pháp với Vinh Tây (榮西, Eisai) ở Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Công Dận có sở trường về Hòa Ca, những bài vịnh của ông cũng được đăng tuyển trong Sắc Soạn Tập (勅撰集). Ông qua đời vào ngày 24 (có thuyết cho là ngày 20) tháng 6 năm 1216, thọ 72 tuổi.
Công dụng
功用; C: gōngyòng; J: kuyō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự nỗ lực; 2. Công năng của hành động, lời nói và việc làm (thân, khẩu, ý; s: vyāpāra); 3. Công năng, hoạt dụng, năng lực (s: sāmarthya); 4. Hiệu quả của sự tu tập.
công dụng
Use, effect; usefulness, utility; service, avail.
; Functioning in practice and achievement—Action.
công dụng địa
(功用地) Chỉ giai vị Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa. Trong các giai đoạn tu hành, Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, tuy đã chứng được chân như, nhưng vẫn còn phải dụng công tu hành thêm, cho nên gọi là Công dụng địa - còn Bồ tát từ Bát địa trở lên, không cần phải dụng công tu hành thêm, mà công đức tự nhiên tăng tiến, thì gọi là Vô công dụng địa. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 53 trung), nói: Bát địa trở lên, thuần đạo vô lậu, mặc ý khởi động, phiền não ba cõi, vĩnh viễn chẳng hiện.
Công dụng 功用
[ja] クヨウ kuyō ||| (1) Effort. (2) The function of bodily action, speech and thought (vyāpāra). (3) Function, activity, ability (sāmarthya). (4) The efficacy of practice. => Có các nghĩa sau: 1. Sự nỗ lực. 2. Công năng của hành động, lời nói và việc làm (thân, khẩu, ý) (s: vyāpāra). 3. Công năng, hoạt dụng, năng lực (s: sāmarthya). 4. Hiệu quả của sự tu tập.
công gia cát lạt tư
Tên chữ Hán là Phổ Hỷ Danh Văn, còn gọi là Đảm Ba (Vi Diệu), một Tăng sĩ Tây Tạng nổi tiếng vào thế kỷ 13, là người có nhiều ảnh hưởng với triều đình Mông Cổ dưới triều Kublai-Khan—Kundgahgrags, also named Danupa, a famous Tibetan monk of the thirteenth century, who had influence at the Mongol court under Kublai Khan.
công giới
Nơi chốn công cộng—A public place—In public.
; (公界) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Công giới vốn chỉ cho thửa ruộng công ở chính giữa khu tỉnh điền. Nhà Thiền dùng từ này để chỉ vật công cộng trong chùa, gọi là của thường trụ, của tăng bốn phương. Điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 hạ), nói: Người mới đến phải lễ vị trụ trì hai lần ba lạy, đối với các vị pháp quyến trên mình cũng phải lễ hai lần ba lạy. Lễ vị trụ trì là để trả ơn người đã giữ gìn công giới.
công hiệu
Effective, efficacious, efficient.
; Efficient.
công huân
Great merit.
; (功勛) Chỉ công quả, giai đoạn của sự tu hành. Cũng là tiếng chê người chưa đạt đến kiến giải viên dung. Phủ châu tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục (Đại 47, 532 thượng), chép: Nói bàn không được, thì sợ người sau rơi vào công huân, cho là việc hướng thượng. Tổ Lương giới ở Đông sơn thuộc tông Tào động, chia giai đoạn tu hành thành năm giai vị là Hướng, Phụng, Công, Cộng công và Công công, gọi là Công huân ngũ vị. Ngoài ra, Thiền lâm có câu Công huân trung kiêm đới, tức là trong các giai đoạn tu hành, giai đoạn này tuy đã rõ suốt lí bình đẳng, cũng không còn chấp trước các thứ giai đoạn và nghĩa lí khác nhau, nhưng nói một cách chỉnh thể thì vẫn còn thiên trọng về mặt lí, cho nên, đứng trên lập trường sự lí viên dung mà nói, thì giai đoạn này vẫn chưa được rốt ráo thấu suốt. (xt. Động Sơn Ngũ Vị).
công huệ lực
(功慧力) Lực dụng của công đức và trí tuệ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung), nói: Nguyện con có sức công tuệ, ngang với bậc tôn tối thắng. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh giải thích: Công là nhân của phúc - tuệ là nhân của trí. Tức là nguyện rằng, nhờ sức phúc trí này, mà được ngang hàng với các đức Phật Như lai tối thắng tôn.
công hàm
Diplomatic note.
công hạnh
Arthakṛtya (S)Làm lợi lạc người khác nhằm hướng dẫn họ nhận thực chân lý.
công hạnh tu
The amount of practice or duration of cultivation.
công hầu
Duke and marquis.
công hữu
Public property.
công khai
Publicly.
công khóa
Task, work, service.
công kích
To attack.
công kỷ nhi
Nata (skt). 1) Kỷ nữ giỏi: A skilful or wily dancer. 2) Tâm: The heart or mind.
công lao
xem sa-môn.
; Toilful achievement—Merit—Credit.
công luận
Public opinion.
công lý
Ajjava (P), Justice.
; Justice.
công lệ
Common rules.
công lợi
See Công Ích.
Công lực
功力; C: gōnglì; J: kuriki;|1. Sự có hiệu lực, hiệu quả, công lao (s: yatna); 2. Công đức, năng lực, nghị lực có được do kết quả tu đạo. Như Công đức lực (功徳力); 3. Sức lực, sức mạnh.
công lực
Achieving strength—earnest effort after the good.
Công lực 功力
[ja] クリキ kuriki ||| (1) Effectiveness, efficacy, merit (yatna). (2) Merit, power, or energy attained as a result of religious practice; same as 功徳力. (3) Power, strength. => 1. Sự có hiệu lực, hiệu quả, công lao (s: yatna) 2. Công đức, năng lực, nghị lực có được do kết quả tu đạo. Như Công đức lực. 3. Sức lực, sức mạnh.
công minh luận
Silpasthana-Vidya-sastra—Luận về nghệ thuật và khoa học, một trong năm tác phẩm về kiến thức (nghệ thuật, cơ khí, nhị nguyên lý luận, và tính toán tháng năm)—The sastra of arts and sciences—One of the five works on knowledge (Arts, Mechanics, Dual philosophy, Calendaric calculation).
công môn
See Công Đường.
công nghiệm
(公驗) Chỉ sự chứng nghiệm chính thức, cũng chỉ cái chứng minh thư do nhà nước cấp phát cho tăng lữ khi thụ giới. Chẳng hạn như Độ duyên, Giới điệp v.v... [X. Hiển giới luận duyên khởi Q.thượng - Thiền lâm tượng khí tiên Bạ khoán môn].
công nghiệp
Exploits, achievements, great merits.
công nghĩa
Social duty.
công nhiên
Publicly—Openly.
công nho
Public funds.
công nhận
To acknowledge—To recognize.
công nhựt
Daily pay.
công nông
Worker and cultivator.
Công năng
功能; C: gōngnéng; J: kunō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự có hiệu lực, tính có hiệu quả, sự tiện dụng (theo Ngũ giáo chương 五教章); 2. Năng lực tiềm ẩn, lực tiềm tàng (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註); 3. Năng lực vốn có (s: samartha, theo Câu-xá luận 倶舎論); 4. Kết quả (theo Câu-xá luận 倶舎論).
công năng
Samartha (S)Năng lực dụng công.
; Achieving power; ability, power.
; Achieving power—Ability—Power.
; (功能) Phạm: Samartha. Chỉ công dụng năng lực. Tức là cái thế lực công dụng sản sinh ra quả của pháp hữu vi. Đồng nghĩa với công dụng. Có điều hơi khác là công dụng chỉ hạn ở hiện tại và vị lai, còn công năng thì thông cả ba đời quá khứ hiện tại và vị lai. Có khi cho công dụng hoặc tác dụng là lực lượng trực tiếp, mà coi công năng là lực lượng gián tiếp. Theo luận A tì đạt ma thuận chính lí nói, thì cái lực dụng làm nhân có thể dẫn đến tự quả gọi là Tác dụng - còn cái thế lực làm duyên mà có thể giúp cho loại khác, gọi là Công năng. Đối với Kinh bộ và Duy thức, cái lực dụng hạt giống sinh quả, gọi là Công năng. Về vấn đề này, chủ trương của Hữu bộ tuy đại khái tương đồng, nhưng luận Đại tì bà sa, vì không có thuyết chủng tử, cho nên đã không bàn đến công năng và công dụng của nó. Lại vì hạt giống có công năng sinh quả, cho nên công năng cũng là tên gọi khác của hạt giống. Duy thức diễn bí quyển 2 (Đại 43, 836 thượng), nói: Pháp có thể sinh quả, gọi là công năng. (...) Công năng tức là tên gọi khác của hạt giống.
Công năng 功能
[ja] クノウ kunō ||| (1) Effectiveness, efficacy, functionality. 〔五教章〕(2) Potential energy, latent power. 〔四教儀註〕(3) Possessing ability. (samartha)〔倶舎論 fasc. 14〕 (4) A result. 〔倶舎論 fasc. 5〕 => Có các nghĩa sau: 1. Sự có hiệu lực, tính có hiệu quả, sự tiện dụng. Theo Ngũ giáo chương. 2. Năng lực tiềm ẩn, lực tiềm tàng. Theo Tứ giáo nghi chú. 3. Năng lực vốn có (s: samartha). Theo Câu xá luận. 4. Kết quả. Theo Câu xá luận.
công nương
Princess.
công phu
Theo mộtt đường lối để tu tập một pháp môn, khi dụng công tu tập gọi là công phu. Như tham thiền có nghi tình tức là có công phu.
; Pains, trouble, labour.
; Theo một đường lối để tu tập một pháp môn, khi dụng công tu tập gọi là công phu. Như tham thiền có nghi tình tức là có công phu.
; Time (period of time) for meditation.
; (工夫) Trong Thiền lâm, từ ngữ Công phu thường được dùng để chỉ việc tư duy hành đạo. Có hai nghĩa: 1. Chỉ cho trình độ hoặc cảnh giới của sự tu hành. Đại tuệ thư quyển thượng (Đại 47, 916), nói: Tâm này dẫu chưa từng sinh một niệm trở lui, nhưng tự biết công phu (trình độ) tu hành rốt cục chưa thuần nhất. 2. Chỉ về thời gian. Triệu châu lục quyển trung (Vạn tục 118, 160 thượng) chép: Hỏi: Thế nào là tướng đại nhân? (...) Sư đáp: Lão tăng không có công phu (không rảnh rỗi) như người nhàn hạ.
công phu chiều
Evening service.
công phu khuya
Morning prayer session.
công phu sáng
Morning service.
công phu thành phiến
Tham thiền dụng công đề câu thoại đầu phát khởi nghi tình, ngày đêm 24 giờ chẳng có giây phút gián đoạn tức là công phu thành phiến, cũng gọi là đi đến thoại đầu.
công phu tối
Evening prayer session.
công pháp
Public law.
công phẫn
Public indignation.
công quá
Merit and demerit.
công quá cách
(功過格) Cuốn sổ hàng ngày ghi chép những việc làm tốt hay xấu để kiểm tra công lao hay tội lỗi của mình, gọi là Công quá cách. Sau căn cứ vào đó để phân loại những hành vi thiện, ác và làm tiêu chuẩn để quỉ thần ban phúc hay giáng họa: đó là loại sách khuyên người làm thiện. Tư tưởng dựa theo thiện, ác nhiều hay ít mà quyết định quỉ thần ban phúc giáng họa, đã thấy sớm nhất vào thời Đông Tấn khi Cát hồng làm sách Bão phác tử, là tư tưởng căn bản của Đạo giáo. Thời gần đây rất nhiều người thừa kế tư tưởng này. Tức đem những hành vi thiện, ác đã thực hiện một cách cụ thể mà tính toán tường tận về số điểm để nói rõ nhân tốt quả đẹp, nhân xấu quả xấu, đó là đặc sắc của Công quá cách. Cách thức chế định các điều mục và nội dung cụ thể của Công quá cách xưa nhất là vào năm Đại định 11 (1171) đời Kim, Đạo sĩ Tịnh minh đạo làm sách Thái vi tiên quân công quá cách, lập ba mươi sáu điều công cách, ba mươi chín điều quá luật, qui định chữa bệnh cho người, cứu tính mệnh người, trao truyền kinh giáo, cầu đảo cho người, khuyên người làm thiện v.v... đều có ghi công - trái lại, làm những việc bất nhân, bất thiện, bất nghĩa, phi pháp v.v... thì đều ghi quá (tội lỗi), ngày ngày ghi chép, hết tháng, hết năm, hễ người nhiều thiện được phúc, người nhiều ác bị tội. Cứ theo Truyền gia bảo của Thạch thành kim đời Thanh chép, thì Phạm trọng yêm, Tô tuân đời Tống cũng đều có làm công quá cách, nổi tiếng một thời. Nhưng phải đến năm Vạn lịch 32 (1604) đời Minh, sau khi ngài Chu hoành ở núi Vân thê viết Tự tri lục, Thiền sư Vân cốc trao công quá cách, thì công quá cách mới phổ cập đến dân chúng nói chung.
công quả
Meritorious deeds.
; Fruit of the good deeds.
; Effect—Fruits—Results.
công quỹ
See Công Nho.
công sảnh
Public buildings.
công sở
See Công Đường.
công thành
Accomplished work.
công thức
Formulation.
công thự
See Công Sảnh.
công trung
Upright and loyal.
công trình
Work.
công trạng
Merit—Credit.
Công Tào
(公曹): chức quan sai nhỏ trong nha môn dưới thời phong kiến. Như trong bản tạp kịch Đông Đường Lão (東堂老) của Tần Giản Phu (秦簡夫, ?-?) nhà Nguyên có đoạn: “Na lí diện hựu một quan liêu, hựu một vương điều, hựu một Công Tào, hựu một tù lao (那裏面又沒官僚、又沒王條、又沒公曹、又沒囚牢, sao mặt bên trong lại chẳng có quan liêu nào, lại chẳng có hình pháp nào, lại chẳng có Công Tào nào, lại chẳng có tù lao nào ?).”
công tào
(功曹) Nguyên là tên gọi một chức quan ở thời Hán, trông coi việc sách sử, trực thuộc quận lại. Từ đời Bắc Tề, thiết lập chức Công tào tham quân, coi việc phòng chống các hành động sai trái trong xã hội, tương đương chức Giám đốc Cảnh sát ngày nay. Trong Phật giáo, từ Công tào được dùng để chỉ cái tâm vô minh căn bản khởi lên các phiền não. Kinh Tứ thập nhị chương (Đại 17, 723 trung), nói: Phật dạy rằng, dứt âm chẳng bằng dứt tâm, tâm là Công tào, nếu Công tào nghỉ thì những kẻ tùy tòng đều nghỉ. Tâm tà chẳng ngăn, dứt âm ích gì?
công tâm
Sense of justice.
công tôn long
Kung Sun-lung (C), Gong Sunlong (C)Triết gia Trung quốc thời Chiến Quốc.
Công Tồn
(功存, Kōzon, 1720-1796): vị Tăng của Chơn Tông, sống trong khoảng thời đại Giang Hộ, từng đảm nhiệm chức Năng Hóa (能化, Nōke) trong vòng 28 năm (1769-1796) ở Học Lâm của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji). Ông xuất gia ở Bình Thừa Tự (平乘寺, Heijō-ji) vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), nơi ông xuất thân. Vào năm 1762 (Bảo Lịch [寶曆] 12), ông viết cuốn Nguyện Sanh Quy Mạng Biện (願生歸命辨) và sau này Trí Động (智洞), người nhậm chức Năng Hóa đời thứ 8, cũng tiếp tục kế thừa tư tưởng này và phát huy mạnh hơn nữa.
công việc chưa được sắp đặt
Unsettled projects or work.
công văn
Official correspondence.
công vị tiễu tuyệt
(功位剿絕) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Công vị, chỉ giai vị tâm trước và tâm sau khác nhau trong giai đoạn tu hành. Tiễu tuyệt là diệt hết.Có nghĩa là công phu tu hành đã tiến vào cảnhgiới cùng tột, tức không còn phân biệt giai vị tâm trước, tâm sau sai khác nữa.
công xảo luận
See Công Xảo Minh and Ngũ Minh.
công xảo minh
Śīla-pakamasṭhānavidyā (S)Đề cao các loại kỹ xảo như toán, kỹ thuật,... Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh.
; Silpasthana-vidya (skt)—Một trong Ngũ Minh, còn gọi là Công Nghiệp Minh, liên quan đến nghệ thuật và toán pháp. Theo Giáo Sư Triệu Chân Giác trong Ngũ Minh, thời trước chữ “Công Xảo Minh” được dùng để chỉ các môn nghệ thuật và toán học, nhưng ngày nay nó bao gồm tất cả các ngành kỹ thuật học và các khoa học cơ khí. Kiến thức về nông nghiệp và thủy lợi để trồng mễ cốc làm thực phẩm, trồng bông gòn để dệt vải, thiết lập các thành phố và nhà cửa để cư ngụ, chế tạo xe cộ để chuyên chở; tất cả những thứ nầy đều cần thiết trong đời sống của chúng ta, và chúng đều được xếp vào công xảo minh. Chữ nầy cũng còn bao gồm cả những kiến thức về thiên văn và địa lý để con người có thể tiên đoán những thay đổi của thời tiết, là thứ có thể ảnh hưởng tới sự sản xuất thực phẩm. Nó cũng bao gồm môn toán học để tính toán số lượng của những vật liệu dùng vào việc thiết lập các thành phố và nhà cửa. Những công việc xây cất và những cấu trúc nầy là những nhu cầu căn bản quan trọng đối với đời sống của nhân loại—One of the five departments of knowledge dealing with the arts anf mathematics. According to Prof. T.C. Tsao in The Five Kinds of Learning, formerly, the term “Learning of Technology” referred to “arts and mathematics;” however, nowadays it includes all technologies and engineering sciences. Knowledge of agriculture and irrigation to grow crops of rice and vegetables for food, and cotton for clothing, cities and housing for habitation, automobiles and tires for transportation, all of which are necessities of our life, come under the heading of “Learning of Technology.” The term even includes some knowledge of astronomy and geography so that man can predict weather changes which might affect food production. It also includes the learning of mathematics for calculating quantities of material to be used for constructing city walls and buildings. These constructions and structures are important as basic necessities to the livelihood of the masses. **For more information, please see Ngũ Minh.
; (工巧明) Phạm:zilpasthàna-vidya. Cũng gọi Thế công nghiệp minh, Xảo nghiệp minh. Chỉ cái học về kĩ thuật, công nghệ, âm nhạc, mĩ thuật, thư pháp, chiêm tướng, chú thuật v.v... Là một trong năm minh. Có thể chia làm hai: 1. Thân công xảo: may thêu, viết chữ, vẽ tranh, nhảy múa, chạm trổ v.v... đều thuộc Thân công xảo. 2. Ngữ công xảo: lời văn, thơ phú, ngâm vịnh, hát xướng v.v... đều thuộc Ngữ công xảo.Các kĩ năng tinh khéo của thế gian đều là pháp vô phú vô kí, cho nên cũng gọi là Công xảo vô kí. Luận Du già sư địa quyển 2 chia Công xảo minh ra làm sáu thứ là: làm ruộng, buôn bán, chăn nuôi, làm thợ, toán số và in ấn. Cũng luận trên quyển 15 nêu ra 12 thứ là: làm ruộng, buôn bán, công chức, văn chương, kế toán, in ấn, xem tướng, bùa chú, thợ thuyền, cho vay lấy lãi, thầy cúng, âm nhạc v.v... Đại minh tam tạng pháp số quyển 24 thì nói: văn chương ngâm vịnh, xây dựng thành ấp, làm ruộng, buôn bán, âm nhạc, bói toán, thiên văn, địa lí v.v... đều thuộc Công xảo minh. [X. kinh Trường a hàm Q.6 - Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.4]. (xt. Ngũ Minh).
công xảo minh luận
See Công Xảo Minh.
Công xảo vô ký 工巧無記
[ja] クコウムキ kukō muki ||| The arts and crafts (technology) as being non-impedimentary and of morally neutral character as concerning the attainment of liberation. One of the four kinds of non-impedimentary moral neutrality 四無記, originally taught by the Sarvāstivādins 有部. => Một trong bốn loại vô ký (Tứ vô ký 四無記), vốn được đề xuất bởi Hữu bộ (s: Sarvāstivādins 有部).
Công Án
(公案, Kōan): như được nêu lên trong Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寳訓音義, quyển thượng 2) rằng công án là "văn thư của công phủ" (公府之案牘), nó được gọi là bức văn thư có pháp tắc chung mang tính công cọng, có ý nghĩa mang tính tuyệt đối phải tuân thủ không dung thứ cho bất cứ tình cảm riêng tư nào. Theo nguyên nghĩa Công Án là văn thư đặt trên án (案牘) ở công phủ để xét duyệt phê chuẩn; từ đó nó có nghĩa là bức công văn, bản thư trạng trình tấu của quan phủ, hay bức thư tố tụng. Đã là văn thư của chính phủ hay công phủ thì không thể nào tự tiện thay đổi văn tự hay xê dịch điều gì được cả. Từ đó, trong Thiền môn nó có nghĩa là đạo lý của Phật pháp mà chư Phật tổ đã khai thị, và được xem như là vấn đề mà hành giả phải gạt qua các phân biệt phàm tình để tham cứu và liễu ngộ. Việc đề xướng ra công án được khởi đầu dưới thời nhà Đường bên Trung Quốc, đến thời nhà Tống thì trở nên thịnh hành. Có hai loại công án là Cổ Tắc Công Án (古則公案) và Hiện Thành Công Án (現成公案). Theo đó thì Cổ Tắc Công Án do Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) dùng có nghĩa là công án hay phương tiện công phu của cổ nhân đã từng dụng công rất nhiều để dẫn dắt hành giả đạt đến sự giác ngộ hay chân lý không thể thay đổi ấy. Tỷ dụ như vị Thiền sư nỗi tiếng của Trung Quốc là Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗), người có công án bất hủ là Cẩu Tử Phật Tánh (狗子佛性). Cẩu tử (狗子) nghĩa là con chó. Câu nầy có nghĩa là con chó có Phật tánh hay không ? Đó là câu hỏi để trắc nghiệm hành giả. Trong Kinh Niết Bàn có dạy rằng: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. Như vậy ta có thể suy luận được rằng con chó kia cũng có khả năng thành Phật. Nhưng cũng có trường hợp cho rằng: “Không được, chỉ có con người mới có thể thành Phật”. Thế thì đúng sai thế nào chính là vấn đề đưa ra để trắc nghiệm hành giả. Như thế, mục tiêu thật sự Triệu Châu nhắm đến không phải là con chó, mà nương vào cái gọi là con chó ấy để trắc nghiệm xem thử việc tu hành của vị tăng đã đạt đến mức độ nào, đã thành Phật hay chưa mà thôi. Thêm vào đó, cổ nhân đã để lại khá nhiều quy tắc, phương pháp thông qua công án để giúp hành giả đạt đến cảnh giới giác ngộ. Một số Cổ Tắc Công Án nỗi tiếng như Bích Nham Lục (碧巖錄), Tùng Dung Lục (從容錄), Vô Môn Quan (無門關). Bích Nham Lục là tập thâu lục 100 tắc công án của Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) thuộc Lâm Tế Tông, thầy của Đại Huệ. Tùng Dung Lục cũng là tập thâu lục 100 tắc công án của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) thuộc Tào Động Tông. Vô Môn Quan là tập thâu lục 48 tắc công án của Vô Môn Huệ Khai (無門慧開) của Lâm Tế Tông. Trường hợp Đại Huệ thì cũng học theo các bậc thầy của mình, thâu tập 661 công án để hình thành nên bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng của ông. Mặt khác, trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng của Đạo Nguyên, công án ông dùng không phải là Cổ Tắc Công Án mà là Hiện Thành Công Án. Hiện thành có nghĩa là cái hiển hiện ngay trước mắt chúng ta mà hình thành nên. Cho nên Hiện Thành Công Án có nghĩa là tất các sự vật, hiện tượng hay các pháp mà hiển hiện và hình thành nên ngay trước mắt chúng ta đều là sự giác ngộ hay chân lý bất di bất dịch. Từ đó ta có thể thấy được sự khác nhau giữa hai bản Chánh Pháp Nhãn Tạng của Đại Huệ và Đạo Nguyên. Đại Huệ thì thông qua Cổ Tắc Công Án do cổ nhân để lại để làm cho hành giả giác ngộ chân lý; còn Đạo Nguyên thì thông qua hết thảy hiện tượng sự vật hiển hiện và thành lập ngay trước mắt mình để dẫn dắt hành giả đạt đến giác ngộ chân lý. Thế thì số lượng công án của Đại Huệ vẫn có hạn, cho dầu với con số 661 đi chăng nữa; còn với ý nghĩa Hiện Thành Công Án của Đạo Nguyên ta thấy số lượng công án có vô số kể, không có giới hạn. Núi, sông, hoa, chim, mây, gió, tuyết, mưa, v.v., cũng đều trở thành công án cả. Cho nên, theo Đạo Nguyên thì hết thảy sự vật hiện hữu trên đời nầy đều là công án. Việc Đạo Nguyên đưa ý nghĩa công án thành Hiện Thành Công Án không phải là giải thích độc đáo của ông mà là ông muốn trả về nguyên lai ý nghĩa của công án vậy. Vì thế, dưới thời nhà Tống, công án đã bị giới hạn trong khuôn khổ của ý nghĩa Cổ Tắc Công Án, chứ không thể thoát ra được. Và chính việc làm của Đạo Nguyên là trả về lại vị trí nguyên sơ của công án. Người sử dụng đầu tiên từ Công Án cho đến nay chúng ta vẫn không rõ, nhưng từ này ngày xưa có nhân vật Mục Châu (睦州) đã từng dùng đến nó. Ông là vị tăng sống vào thời nhà Đường. Theo truyền ký về Mục Châu cho biết rằng nhân khi thấy có vị tăng đi đến, ông bảo rằng: “Hiện thành công án, phóng nhữ tam thập bổng” (現成公案、放汝三十棒). Có nghĩa rằng đối với kẻ mà cứ thơ thẩn đây đó như nhà ngươi thì đáng lý ra phải cho ăn đòn ba mươi cây gậy, nhưng vì hết thảy vạn vật xưa nay đều giác ngộ, nên hôm nay ta tha đòn cho nhà ngươi. Qua đó ta cũng thấy được rằng, từ xưa kia người ta đã có dùng đến từ Hiện Thành Công Án rồi.
Công án
公案; C: gōng-àn; J: kōan; nguyên nghĩa của danh từ này là một án công khai, quyết định phải trái trong quan phủ;|Một thuật ngữ quan trọng của Thiền tông, chỉ một phương pháp tu tập thiền định đặc biệt.|Công án có thể là một đoạn Kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một vị sư, một cuộc đàm thoại, Vấn đáp hay một cuộc Pháp chiến. Nhưng chúng có chung một điều là nói đến thể tính của vạn vật. Ðặc trưng của công án là thường thường nghịch lí, »nằm ngoài phạm vi của lí luận«. Công án không phải là »câu đố« thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lí luận, muốn hiểu nó phải nhảy qua một cấp độ khác của nhận thức.|Khoảng giữa thế kỉ thứ 10, Thiền tông bắt đầu dùng công án như phương tiện để giáo hoá và các thiền sinh sử dụng chúng làm đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Vì lời giải của công án thường nằm ngoài lí luận, nên thiền sinh thấy rõ giới hạn của tư duy và bị buộc phải chuyển hoá tâm thức bằng một bước nhảy của trực giác, nhảy qua khỏi sự mâu thuẫn của lí luận nhị nguyên. Với tâm thức này, thiền sinh có một kinh nghiệm trực tiếp về thể tính. Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng Thiền Lâm Tế, Tào Ðộng ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta cho rằng có tất cả khoảng 1700 công án – một con số mang giá trị trừu tượng – và trong số đó 500-600 ngày nay còn được lưu hành tại Nhật. Phần lớn các công án được ghi lại trong các tập như Vô môn quan, Bích nham lục, Thong dong lục, Lâm Tế lục.|Người ta thường nhắc đến việc sử dụng công án làm phương tiện tu tập trong tông Lâm Tế nhưng chính tông Tào Ðộng cũng thường hay sử dụng. Các vị Thiền sư sau này khuyến khích môn đệ của mình tham quán công án nhằm cản trở tâm thức của thiền sinh trở lại tâm trạng của Phàm phu – sau khi đã nếm được mùi vị giác ngộ lần đầu, có thể gọi là »lần đầu thấy đạo.« Ngoài ra, việc quán công án cũng giúp thiền sinh phát triển và mở rộng kinh nghiệm giác ngộ cho đến lúc Ðại ngộ triệt để, được thầy Ấn khả.|Khi trắc nghiệm sự chứng ngộ của môn đệ đang trong lúc tu tập công án cấp cao, các vị Thiền sư thường đặt ra những câu hỏi đặc biệt, hỏi ngang dọc, hỏi về sự liên hệ của công án (thiền sinh đang quán) với giáo lí Ðại thừa, đặt những câu hỏi mới, khác biệt (雜則; tạp tắc; j: zassoku) song song với công án chính (本則; bản tắc; j: honsoku) và vì vậy, công án chính được sáng rọi cùng tận bằng nhiều cách khác nhau. Ðiều dĩ nhiên là thiền sinh không thể tham quán tất cả 1700 công án nhưng một số tương đối lớn được tham quán và thiền sinh được trắc nghiệm tường tận.|Trong tông Lâm Tế tại Nhật, các vị Thiền sư thường phân biệt năm loại công án:|1. Pháp thân công án (法身公案; j: hosshin-kō-an): chỉ các loại công án có thể giúp đỡ thiền sinh chỉ một bước một vượt thế giới nhị nguyên, lần đầu chứng ngộ trực tiếp Pháp thân (s: dharmakāya; j: hosshin), Phật tính (s: buddhatā; j: busshō), theo Tâm kinh thì gọi là »Sắc tức là Không.« Rất nhiều công án trong các tập danh tiếng được xếp vào loại này mà nổi danh nhất có lẽ là công án thứ nhất của tập Vô môn quan với tên »Con chó của Triệu Châu.«|2. Cơ quan công án (機關公案; j: kikan-kōan; ›cơ quan‹ ở đây có thể hiểu là bộ phận, dụng cụ): mục đích của các Pháp thân công án là thế giới bất phân biệt, nhưng thiền sinh chưa được dừng chân nơi đây. Cơ quan công án hướng dẫn thiền sinh đến một bước nữa, phân biệt trong thế giới không phân biệt, ngộ được lí »Không tức là Sắc.« Ðược xếp vào loại này là công án 17 và 37 của Vô môn quan.|3. Ngôn thuyên công án (言詮公案; j: gonsen-kōan): chỉ những công án mà thiền sinh phải tham quán ý nghĩa tột cùng của ngôn ngữ mà chư vị tiền bối sử dụng hoằng hoá (ngôn thuyên nghĩa là ngôn ngữ giải thích kĩ càng, trọn vẹn). Các vị Thiền sư sử dụng ngôn ngữ rất tài tình, đầy thi vị nhưng điểm đặc sắc nhất là các ngôn ngữ này không hề dừng bước chỉ trong khuôn khổ thẩm mĩ mà vượt qua cả nó, bao hàm ý nghĩa cùng tột, trực chỉ chân lí. Ðại diện cho loại công án này chính là Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ. Một số công án trong Vô môn quan cũng được xếp vào loại này (21, 24, 27, 30, 33, 34).|4. Nan thấu công án (難透公案; j: nantō-kōan): chỉ những công án khó (nan) lĩnh hội (thấu) vì những sự đối nghịch ngay trong trường hợp được trình bày. Các công án thuộc loại này giúp thiền sinh khinh an thấu rõ được sự vô ngại của sự vật, có thể nói theo giáo lí của Hoa nghiêm tông là Sự sự vô ngại (事事無礙). Chính sự chinh phục, thấu hiểu lí này là yếu tố của tâm tư khinh an, tự do tự tại mà các bậc giác ngộ thụ hưởng. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc thường nhắc đến tám công án thuộc loại này mà trong đó ba công án nằm trong tập Vô môn quan, đó là tắc 13, 35, 38. Công án 38 như sau: »Ngũ Tổ Pháp Diễn hỏi chúng: Ví như con trâu đi qua khung cửa, đầu, sừng, bốn chân đều lọt, sao đuôi lại chẳng lọt được?«|5. Ngũ vị công án (五位公案; j: goi-kōan): chỉ các công án cuối cùng mà thiền sinh phải vượt qua. Các công án này có liên hệ trực tiếp với Ngũ vị quân thần (Ðộng Sơn ngũ vị) của vị Khai tổ tông Tào Ðộng là Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. Kinh nghiệm giác ngộ của thiền sinh – đạt được qua bốn loại công án trước – được thử thách lần cuối.|Là một phương tiện tối trọng để đạt giác ngộ, phép quán công án đòi hỏi ba yếu tố mà thiền sinh phải đạt được, đó là Ðại phấn chí, Ðại nghi đoàn và Ðại tín căn. Ðại tín ở đây được hiểu như là niềm tin tuyệt đối vào khả năng giác ngộ của chính mình, Ðại phấn chí là sự tinh tiến, kiên trì dũng mãnh. Ðại nghi đoàn ở đây không có nghĩa nghi ngờ bình thường mà chỉ trạng thái tập trung tư tưởng tuyệt đỉnh. Các điểm mâu thuẫn trong công án có nhiệm vụ gia tăng Ðại nghi đoàn này và Thiền sư Bạch Ẩn bảo rằng: »Ðại nghi – đại ngộ« (大疑大悟).|Trong lời bình của công án đầu tiên của Vô môn quan, Thiền sư Vô Môn Huệ Khai viết như sau: »… Hãy tận dụng ba trăm sáu mươi xương cốt, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông, vận dụng cả thân tâm trở thành một khối nghi, tham ngay chữ không, ngày đêm nghiền ngẫm… Bỏ hết những cái biết tệ hại trước kia, lâu ngày trở thành thuần thục, tự nhiên trong ngoài thành một khối, như kẻ câm nằm mộng chỉ một mình mình hay. Bỗng nhiên bộc phát, trời kinh đất chuyển, như đoạt được thanh đại đao của Quan Vũ, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, dửng dưng với bờ sinh tử, đạt đại tự tại, chu du trong Lục đạo, Tứ sinh…«.
công án
Koan (J), (J, K), Kung-an (C)Một vụ án (chuyện tích) chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, gọi là công án. Tương truyền có khoảng 1.700 công án mà ngày nay các thiền sư Nhật bản sử dụng khoảng 500 - 600. Những sưu tập công án được nhiều người biết đến là: Vô môn quan, Bích nham lục, Đồng chủng lục, Lâm tế lục và Denko-roku.
; A dossier, or case-record; a cause; public laws, regulations; case-law. Problems set by Zen Masters, upon which thought is concentrated as a means to attain inner unity and illumination.
; Một vụ án (chuyện tích) chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, gọi là công án.
; (I) Một đề tài cho các đệ tử suy nghĩ và quán chiếu trong thiền quán trong các thiền đường phái Lâm Tế. Lúc đầu, công án là một “yết thị công khai,” có nghĩa là “có trước về mặt công lý.” Về sau nầy công án được nhà Thiền xử dụng một cách có hệ thống như những phương tiện đào tạo từ khoảng giữa thế kỷ thứ mười bằng cách tránh tất cả những lời giải thích duy lý. Công án cho phép đệ tử thấy rõ những giới hạn của trí tuệ và buộc phải vượt lên những giới hạn ấy bằng trực giác chứ không bằng duy lý, là thứ đưa anh ta vào một vũ trụ nằm bên ngoài mọi mâu thuẫn và mọi tư tưởng nhị nguyên. Sự phát khởi nầy cho phép người đệ tử trình bày với thầy một cách tự phát và không cần tới sự giúp đở từ bên ngoài—Something to be pondered on during meditation by novices in Zen monasteries of the Lin-Chi school—Problems set by Zen masters, upon which thought is concentrated as a means to attain inner unity and illumination. Originally, koan means “public notice,” means a legal case constituting a precedent. Later, koans have been used in Zen as a systematic means of training since around the middle of the tenth century. Since the koan eludes solutions by means of discursive understanding, it makes clear to the student the limitations of thought and eventually forces him to transcend it in an intuitive leap (not by speaking or discussion), which takes him into a world beyond logical contradictions and dualistic modes of thought. On the basis of this experience, the student can demonstrate his own solution of the koan to the master in a spontaneous and without recourse to preconceived notions. (II) Công án được hình thành từ các cuộc vấn đáp giữa thầy trò ngày xưa, từ những đoạn văn trong các bài thuyết pháp hay các bài giảng của các vị thầy, hoặc từ những câu kinh và các lời dạy khác—Koans are constructed from the questions of disciples together with responses from their masters, from portions of the masters' sermons or discourses, from lines of the sutras, and from other teachings. What are they? 1) Một trường hợp thiết lập một tiền lệ hợp pháp: A case which established a legal precedent. 2) Sự thể hiện của Pháp, đó là hiện thực của vũ trụ: The concrete manifestation of Dharma, that is reality or the Universe itself. 3) Một câu chuyện thể hiện những nguyên tắc căn bản của Phật Pháp: A story which manifests the universal principles of the Buddha-Dharma. 4) Trong nhà Thiền công án là một định thức, bằng ngôn ngữ đánh lừa, chỉ thẳng chân lý tối hậu. Công án không thể được giải đáp bằng cách sử dụng lý luận hợp lý, mà chỉ bằng cách làm tâm giác ngộ đến một mức sâu hơn, cũng như vượt qua lý trí biện biệt—In Zen a koan is a formulation, in baffling language, pointing to the ultimate truth. Koans cannot be solved by recourse to logical reasoning, but only by awakening a deeper level of the mind beyond the discursive intellect. (III) Số lượng công án—Numbers of koans: Người ta nói toàn bộ có khoảng chừng 1.700 công án. Trong số nầy có 500 công án chính yếu, vì có nhiều công án trùng lập nhau, cũng như có những công án có giá trị thấp cho việc thực hành. Các vị sư đều có những sở thích riêng về công án, nhưng thường thường họ dùng Vô Môn Quan và Bích Nham Lục là hai biên tập công án chính—It is said that altogether there are about 1,700 koans. Of these, about 500 are usually used, since many are repetitive and others are less valuable for practice. Masters have their own for references, but they prefer to use the Wu-Mên-Kuan and Pi-Yen-Lu.
; (公案) Nghĩa gốc là cái án lệ do các quan phán quyết phải trái. Thiền tông ghi chép những lời nói và việc làm của các bậc cao tăng qua các đời để làm kim chỉ nam cho người tu Thiền, lâu ngày đã trở thành một loại đối tượng để suy xét, hoặc là bài minh treo bên phải của chỗ Thiền giả ngồi. Loại ngôn hành lục này cũng hệt như một bản thông cáo chính thức của Chính phủ, nó phải đuợc tôn trọng, không ai được xâm phạm, nó có thể mở mang tư tưởng, giúp người nghiên cứu, đồng thời, là phép tắc để đời sau nương tựa, cho nên gọi là Công án. Cái phong khí này được khởi xướng từ đời Đường, đến đời Tống thì rất thịnh hành. Thông thuờng, tổng số Công án là một nghìn bảy trăm tắc, nhưng thực tế thì chưa hẳn đã đúng con số một nghìn bảy trăm, mà được dùng một cách phổ biến thì chỉ độ năm trăm tắc mà thôi, ngoài ra, hoặc là trùng lắp, hoặc chỉ có ít giá trị tham cứu. Lúc đầu, Thiền tông chỉ có Ngữ lục, về sau, sách Ngữ lục mỗi ngày một nhiều, nên các ngữ lục mới được lựa chọn và biên tập thành sách Công án, trong đó, Bích nham lục, Thung dung lục, Vô môn quan, Chính pháp nhãn tạng, Cảnh đức truyền đăng lục, và Nhân thiên nhãn mục, Chỉ nguyệt lục, Tục chỉ nguyệt lục v.v... là nổi bật hơn cả. Ngoài ra, trong các Công án phần nhiều chỉ có một chữ hoặc một câu nói mà người học dùng để tham cứu, gọi là Thoại đầu. Như hỏi: Con chó có tính Phật hay không? Đáp: Không! Một câu đối thoại như vậy tức là một tắc công án, mà tiếng không tức là thoại đầu. Khi tham Thiền, dồn công phu vào tiếng thoại đầu trong Công án gọi là Tham thoại đầu - thầy dùng lời nói để dạy Công án cho học trò, gọi là thoại đầu Công án. Thông thường thì Công án không thể đem suy lí luận lí hoặc là thường thức để mà giải thích được, là vì tinh thần Thiền vốn siêu việt nói năng, suy tư, cho nên thầy phải nhờ đến Công án Phi luận lí tính để khêu dậy cái trực giác nằm sâu dưới lớp ý thức phân biệt của học trò để giúp học trò thể chứng chân tính. Công án có năm nghĩa trọng yếu: 1. Làm công cụ cho sự ngộ Thiền, 2. Làm phương pháp khảo nghiệm, 3. Làm khuôn phép cho đời sau nương tựa, 4. Làm vật tin cho sự ấn chứng, 5. Làm tiêu điểm cùng tột. [X. Thiên mục trung phong hòa thượng quảng lục Q.11 phần trên - Bích nham lục tam giáo lão nhân tự, tắc 1, tắc 4].
công án niệm phật
Koan of Buddha recitation—Công án niệm Phật được dùng khi chúng ta coi niệm Phật A Di Đà như là một công án. Ngay trong phút giây hồng danh Phật được niệm ra, nó là điểm tập trung then chốt mà mọi nghi hoặc ảo tưởng phải được để qua một bên. Đồng thời tự hỏi coi ai là người đang niệm Phật? Khi dựa vào công án, mọi mê mờ vọng tưởng đều bị bức vỡ giống như những gút chỉ bị cắt đứt. Khi mà không còn gì nữa để cho những thứ nầy tái xuất hiện, cũng là lúc ánh nhật quang phổ chiếu khắp trời. Khi ảo tưởng không khởi và mê mờ biến mất, lúc đó tâm ta tĩnh lặng và trong suốt—The koan of Buddha Recitation uses the invocation of Amitabha Buddha as a koan. At the very moment the name is uttered, it must be the focal point in respect to which all doubts and delusions are laid aside. At the same time you ask “Who is this person reciting the Amitabha's name?” When you rely steadily on the koan, all illusions and confused thoughts will be broken down the way knotted threads are cut. When there is no longer any place for them to reappear, it is like the shinning sun in the sky. When illusion does not arise and delusions disappear, the mind is all calm and transparent.
công án thoại đầu
Từ ngữ trong đó công án tự hóa giải, thí dụ như khi đệ tử hỏi Ngài Triệu Châu, “Con chó có Phật tánh không?” Triệu Châu đáp: “Không!” Nguyên câu hỏi là một công án và chữ “Không” chính là thoại đầu—The word or phrase into which the koan resolves itself, i.e. when a disciple asked: “Has a dog the Buddha-nature?” Together with Chao-Chou's answer, “No!” constitutes the koan and the phrase.
Công án 公案
[ja] コウアン kōan ||| Literally, a "public notice," or "public case," issued by, or dealt with by a Chinese government office. The term was borrowed into Chinese Chan 禪宗, where it was used to refer to a new Buddhist meditation device, distinguished from the traditional Indian Buddhist śamatha/vipaśyanā 止觀 pair. Gongan meditation (more commonly known by the name of its Japanese variant, kōan) consists of the presentation of a problem drawn from classical texts, or from teaching records and hagiographies of Tang period Chan masters. After the case is presented, a question is asked regarding a key phrase (huatou 話頭) in the story. The relationship between the question and answer is understood to be paradoxical, and thus the answer delivered by the practitioner is not to be developed from rational inquiry, but through a non-dualistic experience undergone in the process of intense meditation on the gongan. After being developed in China, this practice spread to Korea as kong'an, where it has remained the primary form of meditation in Korean Sŏn schools (mainly Chogye 曹溪宗) down to the present. In Japan, kōan meditation has been practiced mainly by the Rinzai schools 臨濟宗, although certain Sōtō 曹洞宗 teachers like Dōgen 道元 to make acknowledgment of the practice. Gongans are contained in edited collections, the most popular of which are the Wumenguan 無門關 and the Biyan lu 碧巖録. => Nguyên nghĩa của từ nầy là một "yết thị", hoặc một '' án lệ" được đề ra, hoặc phải giải quyết nơi một cơ quan hành chính của Trung Hoa thời xưa. Được vay mượn thành thuật ngữ của Thiền tông Trung Hoa. được dùng để nói đến một phương tiện mới của Thiền Phật giáo, khác hẳn với cặp Thiền Chỉ/Quán (s: śamatha/vipaśyanā) trong truyền thống Ấn Độ. Thiền Công án (c: Gongan; được biết rộng rãi với nhiều cách phát âm khác nhau (trong tiếng Nhật là kōan) gồm một vấn đề được rút ra trong kinh điển hay trong ghi chép tiểu sử của các Tổ sư vào đời Đường. Sau khi đề tài được trình bày, một câu hỏi được đưa ra như một thoại đầu (c: huatou 話頭) trong câu chuyện. Sự liên hệ giữa câu hỏi và trả lời được hiểu qua cách nghịch lý, thế nên câu trả lời của hành giả không cần phải phát huy từ sự thẩm định duy lý, mà phải trải qua thực chứng bất nhị trong tiến trình thiền quán tham cứu công án. Sau khi công án được phát triển ở Trung Hoa, pháp tu nầy truyền sang Cao Ly gọi là kong'an, ở đó đã duy trì được hình thái ban đầu của Thiền tông Cao Ly (chủ yếu là Tào Khê tông– k: Chogye 曹溪宗) cho đến ngày nay. Ở Nhật Bản, Thiền công án được hành trì chủ yếu trong tông Lâm Tế (j: Rinzai), mặc dù những Thiền sư của tông Tào Động (j: Sōtō ) như Đạo Nguyên (j: Dōgen) cũng công nhận pháp tu nầy. Công án đã được thu thập và chọn lọc, nổi tiếng nhất là các tác phẩm Vô Môn Quan (c: Wumenguan ) Và Bích Nham Lục (c: Biyan lu ).
công ích
Public interests.
Công Ðức Hiền
功德賢; C: gōngdéxián; J: kudokuken; S: guṇa-bhadra; 394-468, dịch theo âm Hán Việt là Cầu-na Bạt-đà-la.|Dịch nghĩa tên của Đại sư Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra).
công đường
Public office.
công đạo
Fairness—Justice.
Công đức
(s: guṇa, 功德): âm dịch là Cụ Nẵng (懼曩), Ngu Nẵng (麌曩), Cầu Na (求那); ý dịch là công đức, phước đức; cũng chỉ cho quả báo có được nhờ làm việc thiện. Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 3 có ghi lại đoạn vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) nhà Lương hỏi Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) rằng: “Trẫm tức vị dĩ lai, tạo tự tả kinh độ tăng bất khả thắng kỷ, hữu hà công đức ? Sư viết: 'Tinh vô công đức.' Đế viết: 'Hà dĩ vô công đức ?' Sư viết: 'Thử đản nhân thiên tiểu quả hữu lậu chi nhân, như ảnh tùy hình tuy hữu phi thật.' Đế viết: 'Như hà thị chơn công đức ?' Đáp viết: 'Tịnh trí diệu viên thể tự không tịch, như thị công đức bất dĩ thế cầu' (朕卽位已來、造寺寫經度僧不可勝紀、有何功德、師曰、幷無功德、帝曰、何以無功德、師曰、此但人天小果有漏之因、如影隨形雖有非實、帝曰、如何是眞功德、答曰、淨智妙圓體自空寂、如是功德不以世求, Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, lập chùa, chép kinh, độ tăng chúng, không thể tính hết, vậy có công đức gì không ? Tổ sư đáp rằng: 'Đều không có công đức gì cả.' Vua hỏi: 'Vì sao không có công đức ?' Tổ sư đáp: 'Đây chỉ là quả báo nhỏ của trời người, có nhân hữu lậu, như bóng theo hình tuy có mà không thật.' Vua hỏi: 'Thế nào là công đức chân thật ?' Trả lời rằng: 'Trí trong sạch tròn đầy, thể tự vắng lặng, công đức như vậy không lấy thế gian mà cầu được).” Trong Thắng Man Bảo Quật (勝鬘寶窟, Taishō Vol. 37, No. 1744) quyển Thượng giải thích về nghĩa công đức rằng: “Ác tận viết công, thiện mãn viết đức; hựu đức giả đắc dã, tu công sở đắc, cố danh công đức dã (惡盡曰功、善滿稱德、又德者得也、修功所得、故名功德也, điều ác hết gọi là công, việc thiện tròn đầy gọi là đức; lại nữa đức có nghĩa là đắc [có được], nhờ công năng tu tập mà có được, nên gọi là công đức vậy).” Sự sâu xa, rộng lớn của công đức được ví như biển, nên được gọi là công đức hải (s: guṇa-sāgara, 功德海, biển công đức); rất quý trọng như báu vật nên có tên là công đức bảo (s: guṇa-ratna, 功德寶); và một số từ khác đi với công đức như công đức lâm (功德林, rừng công đức), công đức tụ (功德聚, sự tích lũy công đức), (功德莊嚴, trang nghiêm công đức), công đức tạng (功德藏, kho tàng công đức), v.v.
; 功德; C: gōngdé; J: kudoku; S: guṇa;|Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh ưu tú, công lao, đức hạnh, phẩm chất cao quý (s: guṇa), tích lũy được do làm các việc thiện; 2. Phúc lành, đức hạnh, điều tốt lành, việc thiện (s: punya); 3. Cái nhân của quả báo đầu thai vào các cõi giới lành (thiện thú); thiện căn; 4. Việc thiện, sự tu tập; 5. Năng lực to lớn; 6. Yếu tố cần thiết để chứng được quả vị Phật.
công đức
Puṣṣa (S), Punnupaga (P), Guṇa (S), Merit,Đức hạnh, Đức cú nghĩa1- Công năng phước đức do các hạnh lành. 2- Một trong lục cú nghĩa, tức y đế, chỉ công năng và thuộc tánh của Thật cú nghĩa.Khác với phước đức, công đức là kết quả của những hành động và người tạo tác để tự cải hoá mình và ngươi khác do đó mà phước đức vượt ngoài phạm vi sanh tử. Sự nghiệp của mình có ích cho người, tự mình ra sức làm điều lành gọi là công. Nết na chứa trong minh, lòng dạ mình mộ điều lành gọi là đức
; Punya (S). Merit, meritorious, achievement; virtue achieved; virtuous deed; pain and merit.
; Theo ý Lục Tổ giải: Công đức sẵn đầy đủ trong pháp thân, dùng công phu để phát hiện tự tánh, thì công đức trọn vẹn hiện ra. Bố thí, cúng dường là tu phước, chỉ có thể gọi là phước đức, chẳng phải công đức.
; (I) Nghĩa của “Công Đức”—The meanings of “Merit and Virtue: Sức mạnh làm những việc công đức, giúp vượt qua bờ sanh tử và đạt đến quả vị Phật. Phước đức được thành lập bằng cách giúp đở người khác, trong khi công đức nhờ vào tu tập để tự cải thiện mình và làm giảm thiểu những ham muốn, giận hờn, si mê. Cả phước đức và công đức phải được tu tập song hành. Hai từ nầy thỉnh thoảng được dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, sự khác biệt chính yếu là phước đức mang lại hạnh phúc, giàu sang, thông thái, vân vân của bậc trời người, vì thế chúng có tính cách tạm thời và vẫn còn bị luân hồi sanh tử. Công đức, ngược lại giúp vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử và dẫn đến quả vị Phật. Cùng một hành động bố thí với tâm niệm đạt được quả báo trần tục thì mình sẽ được phước đức; tuy nhiên, nếu mình bố thí với quyết tâm giảm thiểu tham lam bỏn xẻn, mình sẽ được công đức—Virtue achieved—Power to do meritorious works—Meritorious virtue—Virtue (which will help transcend birth and death and lead to Buddhahood)—Merit and virtue—Merit is what one established by benefitting others, while virtue is what one practices to improve oneself such as decreasing greed, anger, and ignorance. Both merit and virtue should be cultivated side by side—These two terms are sometimes used interchangeably. However, there is a crucial difference. Merits are the blessings (wealth, intelligence, etc) of the human and celestial realms; therefore, they are temporary and subject to birth and death. Virtue, on the other hand, transcend birth and death and lead to Buddhahood. The same action of giving charity with the mind to obtain mundane rewards, you will get merit; however, if you give charity with the mind to decrease greed and stingy, you will obtain virtue. (II) Công Đức theo quan niệm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—“Merit and Virtue” according to Bodhidharma Patriarch's point of view: Vua Lương Võ Đế, Võ Đế hỏi Bồ Đề Đạt Ma rằng: “Trẩm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì?” Tổ Đạt Ma bảo: “Thật không có công đức.” Đệ tử chưa thấu được lẽ nầy, cúi mong Hòa Thượng từ bi giảng giải—King Liang-Wu-Ti asked Bodhidharma: “All my life I have built temples, given sanction to the Sangha, practiced giving, and arranged vegetarian feasts. What merit and virtue have I gained?” Bodhidharma said, “There was actually no merit and virtue.” (III) Công Đức theo sự giải thích của Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn—The Sixth Patriarch Hui-Neng interpreted about “Merit and Virtue” in the Dharma Jewel Platform Sutra: Tổ nhấn mạnh những việc làm của vua Lương Võ Đế thật không có công đức chi cả. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai, đó gọi là cầu phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức được. Công đức là ở trong pháp thân, không phải do tu phước mà được.” Tổ lại nói: “Thấy tánh ấy là công, bình đẳng ấy là đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, chân thật diệu dụng, gọi là công đức. Trong tâm khiêm hạ ấy là công, bên ngoài hành lễ phép ấy là đức. Tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm ấy là đức. Không lìa tự tánh ấy là công, ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo, ấy là chơn công đức. Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, mà thường hành khắp kỉnh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự không có đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả. Này thiện tri thức, mỗi niệm không có gián đoạn ấy là công, tâm hành ngay thẳng ấy là đức; tự tu tánh, ấy là công, tự tu thân ấy là đức. Này thiện tri thức, công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ Sư ta có lỗi—The Patriarch emphasized that all acts from king Liang-Wu-Ti actually had no merit and virtue. Emperor Wu of Liang's mind was wrong; he did not know the right Dharma. Building temples and giving sanction to the Sangha, practicing giving and arranging vegetarian feasts is called 'seeking blessings.' Do not mistake blessings for merit and virtue. Merit and virtue are in the Dharma body, not in the cultivation of blessings.” The Master further said, “Seeing your own nature is merit, and equanimity is virtue. To be unobstructed in every thought, constantly seeing the true, real, wonderful function of your original nature is called merit and virtue. Inner humility is merit and the outer practice of reverence is virtue. Your self-nature establishing the ten thousand dharmas is merit and the mind-substance separate from thought is virtue. Not being separate from the self-nature is merit, and the correct use of the undefiled self-nature is virtue. If you seek the merit and virtue of the Dharma body, simply act according to these principles, for this is true merit and virtue. Those who cultivate merit in their thoughts, do not slight others but always respect them. Those who slight others and do not cut off the 'me and mine' are without merit. The vain and unreal self-nature is without virtue, because of the 'me and mine,' because of the greatness of the 'self,' and because of the constant slighting of others. Good Knowing Advisors, continuity of thought is merit; the mind practicing equality and directness is virtue. Self-cultivation of one's nature is merit and self-cultivation of the body is virtue. Good Knowing Advisors, merit and virtue should be seen within one's own nature, not sought through giving and making offerings. That is the difference between blessings and merit and virtue. Emperor Wu did not know the true principle. Our Patriarch was not in error.”
; (功德) Phạm: Guịa. Dịch âm là Cụ nẵng, Ngu nẵng, Cầu na. Hàm ý công năng phúc đức. Cũng nói về quả báo do làm việc thiện mà được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 có chép việc vua Vũ đế nhà Lương hỏi tổ Bồ đề đạt ma như sau (Đại 51, 219 thượng): Từ ngày trẫm lên ngôi đến nay, trẫm đã làm chùa, viết kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như thế có công đức gì không? Tổ đáp: Chẳng có công đức gì cả. Bởi vì những việc thiện mà nhà vua làm đó chỉ là cái nhân hữu lậu sẽ được quả nhỏ ở cõi người, cõi trời, tuy có mà chẳng thực. Còn cái công đức chân thực thì là tịnh trí tròn sáng, thể tự vắng lặng, không cầu gì ở đời. Vãng sinh luận chú quyển thượng cũng nói rõ hai thứ công đức hư dối và chân thực. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 (Đại 44, 649 hạ), nói: Công đức - công, có nghĩa là công năng, có cái công giúp cho điều phúc lợi, cho nên gọi là Công - công ấy khiến làm được những việc tốt lành có đức, gọi là công đức. Thắng man bảo quật quyển thượng phần đầu (Đại 37, 11 trung), nói: Ác diệt sạch gọi là công, thiện tròn đầy gọi là đức. Lại đức là được - do công tu mà được, cho nên gọi là công đức. Lại nữa, sự sâu rộng của đức thí dụ như biển, gọi là biển công đức (Phạm: Guịa-sàgara) - nó quí trọng như của báu nên gọi là công đức bảo (Phạm: Guịa-ratna). Ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác như: công đức tạng, công đức tụ, công đức trang nghiêm, công đức lâu v.v... [X. Duy ma nghĩa kí Q.1 (Tuệ viễn), Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng phần 1 (Cát tạng)]. (xt. Lợi Ích).
công đức bát nhã ba la mật
Virtue of the prajna paramita—Những vị “Nhập lưu,” “Nhất lai,” “Bất lai,” “Ứng cúng,” vân vân, thường đạt được Công đức Bát nhã Ba la mật bằng tu tập Thập thiện, Tứ thiền, Tứ vô sắc định, và ngũ thần thông—Those who are “Stream-winner,” “Once-return,” “Never-return,” and “Arhat,” and so on, always attain realization of the virtue of the prajna paramita by practicing the ten cirtuous paths of actions, the four states of meditation, the four immaterial states, and the five mystical powers.
công đức bảo
Guṇaratna (S)Tên một vị tỳ kheo.
công đức chủ
Xem Thí chủ.
; (功德主) Chỉ thí chủ. Tức là người đàn việt cúng dường Phật, Pháp, Tăng Tam bảo. [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.1]. (xt. Thí Chủ).
công đức du
Meritorious exercise, i.e. walking around intoning after duty.
; Công đức mà người tu đạt được trong lúc vừa đi vừa niệm, sau khi làm xong nhiệm vụ—Meritorious exercise, i.e. walking about intoning after duty.
; (功德游) Chỉ niềm vui làm việc pháp. Tức là niềm vui sau khi làm việc pháp, xướng tụng Phạm bái, ngâm vịnh thi ca. Bởi vì việc pháp vốn đã sẵn đủ công đức thù thắng rồi, mà sau khi làm việc pháp lại ngâm vịnh thi ca, tán tụng Phạm bái, thì lại cho người ta cái cảm niệm vui sướng hơn nữa, cũng như đang dạo chơi trong rừng vườn diệu lạc, cho nên gọi là Công đức du.
công đức hiền
Xem Cầu Na Bạt Đà La.
; Gunabhadra (S). Name.
Công Đức Hiền 功德賢
[ja] クドクケン Kudokuken ||| A translation according to the meaning, of the name of Guṇabhadra 求那跋陀羅. => Dịch nghĩa tên của ngài Cầu-na Bạt-đà-la (s: Guṇabhadra).
công đức hành
Puabhisaṇkhāra (P).
công đức hải
Guṇaśāgāra (S)Tên một vị tỳ kheo.
; Ocean of merit and virtue.
công đức hữu lậu
Tainted merits.
công đức khải
Guṇavarman (S)Cầu na bạt maTên một nhà sư sang Trung quốc dịch kinh.
; Gunavarman (S). Name.
công đức kinh
Pua sutta (P), Sutra To Punna Tên một bộ kinh.
Công đức lực
功德力).; C: gōngdélì; J: kudokuriki;|Năng lực của công đức tích lũy qua tu đạo. Một trong Tam lực (三力).
Công đức lực 功德力
[ja] クドクリキ kudokuriki ||| The power of the merit gained through religious practice. One of the three powers 三力. => Năng lực của công đức tích lũy qua tu đạo. Một trong ba năng lực. Tam lực三力.
công đức nghiệp lâm
The grove of merit and virtue, i.e. a Buddhist hall or monastery.
công đức pháp thân
Xem Ngũ chủng pháp thân.
công đức phần tự
(功德墳寺) Chùa viện được kiến tạo để hồi hướng công đức cho các vương hầu quí tộc đã qua đời, gọi là Công đức viện - chùa viện được xây cất để giữ gìn các phần mộ, thì gọi là Phần tự. Tại Nhật bản cũng có các chùa của dòng họ giống như loại trên đây. Sự hưng khởi viện công đức bắt đầu từ đời Đường, đến thời Tống thì rất thịnh hành, như viện công đức của Nhạc phi gọi là Bao trung diễn phúc thiền tự, Phần tự của Sử di viễn gọi là Giáo trung báo quốc tự. Địa vị của Công đức phần tự chỉ kém có Lăng tự. Ở thời Tống, loại chùa riêng của các Vương hầu quí tộc này, khi được nhà vua ban cho hiệu chùa, thì chùa này không những chỉ được miễn thuế, mà Tăng ni ở các chùa này cũng được sắc chỉ bổ nhiệm và được ban áo, ban hiệu. Về sau, loại chùa viện này trở thành là tài sản riêng của các Vương hầu quí tộc được bảo lãnh che chở, do đó đã sinh ra rất nhiều mối tệ. Năm Đại quan thứ 3 (1109) đời Huy tông nhà Tống, triều đình muốn đổi các chùa riêng của quí tộc thành chùa quan, nhưng vì giai cấp quí tộc cấu kết với nhau để bảo vệ nên phải thôi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.47 - Tục tư trị thông giám trường biên Q.97, Q.189 - Tống sử Q.199 truyện Trương động].
công đức phẩm
(功德品) những thiên, chương trong kinh tường thuật về công đức. Chẳng hạn như kinh Pháp hoa có các phẩm Phân biệt công đức, Tùy hỉ công đức và Pháp sư công đức, kinh Hoa nghiêm (60 quyển) có các phẩm Sơ phát tâm bồ tát công đức và Phật tiểu tướng quang minh công đức, kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết có các phẩm Như lai vô quá công đức và Tín công đức v.v..
công đức sứ
(功德使) Tên gọi một chức quan có nhiệm vụ quản lí tăng ni, đạo sĩ, nữ quan (nữ đạo sĩ) ở Trung quốc. Tình hình từ đời Đường đến đời Nguyên như sau: 1. Công đức sứ ở đời Đường: Cứ theo Tân đường thư quyển 48 mục Bách quan chí Tông chính tự sùng huyền thự chép, thì tăng ni, đạo sĩ, nữ quan đều trực thuộc Hồng lô tự. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), bỏ Sùng huyền quán, Đại học sĩ, sau lại đặt Tả hữu nhai đại công đức sứ, Tu công đức sứ để quản lí tăng ni. Năm Nguyên hòa thứ 2 (807), cho đạo sĩ, nữ quan trực thuộc Tả hữu nhai công đức sứ. Năm Hội xương thứ 2 (842), cho tăng ni trực thuộc cung Chủ khách thái thanh, đặt ra Huyền nguyên quán và cũng có Học sĩ. Đến năm Hội xương thứ 6 thì dẹp bỏ, lại cho tăng ni trực thuộc Tả hữu nhai công đức sứ. Cứ theo đó đủ biết cơ cấu quản lí tăng ni có thay đổi, và Công đức sứ cũng có nhiều loại khác nhau. 2. Công đức sứ ở đời Ngũ đại: Thời Hậu Lương, tăng ni, đạo sĩ, nữ quan do Từ bộ quản lí. Chế độ nhà Hậu Đường không được rõ. Thời Hậu Tấn có Dương quang viễn giữ chức Công đức sứ. Năm Quảng thuận thứ 3 (953), vua Thế tông nhà Hậu Chu, khi chưa lên ngôi, được phong làm Tấn vương, giữ chức Khai phong doãn kiêm Công đức sứ. 3. Công đức sứ ở đời Tống: Theo Đại tống tăng sử lược quyển trung chép, thì Phật giáo và Đạo giáo do Công đức sứ và Từ bộ quản lí. Công đức sứ đời Tống không có chức quan, mà do Khai phong doãn lãnh Công đức sứ, ra lệnh cho ti Tả hữu nhai lục chia nhau làm việc. Khoảng năm Nguyên phong thay đổi chế độ, tăng ni và đạo sĩ vốn do phủ Khai phong quản lí, nay được chuyển giao cho Hồng lô tự quản lí và dẹp bỏ Công đức sứ. 4. Công đức sứ đời Nguyên: Năm Chí nguyên 17 (1280) đời Thế tổ, đặt ti Công đức sứ, quản lí công việc tu hành công đức trong nước. Về sau, có lúc gián đoạn, nhưng đến thời Văn tông thì tiếp tục trở lại. [X. Tư trị thông giám Q.237, Q.240 - Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.4 - Ngũ đại sử Q.114 Thế tông kỉ, Nguyên sử Q.11, Q.26 - Đường trung kì dĩ lai chi Trường an đích Công đức sứ (Trủng bản Thiện long, Đông phương học báo Kinh đô 4) - Tống đại Phật giáo chư chế độ (Cao hùng Nghĩa kiên, Trung quốc Phật giáo sử luận)].
công đức sứ giả
1) Đặc sứ giám sát công đức: Envoy to the virtuous or officer supervising virtue. 2) Vị Giám Tăng được triều đình nhà Đường bổ nhiệm để kiểm soát Tăng Ni: Controller of monks and nuns appointed by the T'ang Court.
công đức thang
(功德湯) Chỉ cho nước nóng dùng để tắm Phật. Phật tổ thống kỉ quyển 33, có chép bài kệ tắm Phật (Đại 49, 318 trung): Con nay tắm gội đức Như lai, Tịnh trí trang nghiêm đầy công đức, Chúng sinh năm trược hết cáu bẩn, Nguyện chứng Pháp thân của Như lai. [X.Thích thị yếu lãm Q.thượng].
công đức thi bồ tát
Ganuda (S), Ganuda Bodhisattva (S)Tên một vị Bồ tát.
công đức thiên
See Đại Cát Tường Thiên.
công đức thiên nữ
Cát Tường thiên nữ—Laksmi—Goddess of fortune.
công đức thiên nữ, cát tường thiên nữ
Laksmi (S). The goddess of fortune.
công đức thủy
Công đức trì hay tám hồ công đức nơi cõi Cực Lạc—The water or eight lakes of meritorious deeds, or virtue in Paradise.
Công đức trang nghiêm
功德莊嚴; C: gōngdé zhuāngyán; J: kudoku shōgon;|Sự trang nghiêm bằng công đức.
công đức trang nghiêm
Meritoriously adorned.
công đức trang nghiêm kinh
Tên tắt của kinh Nhất Thiết Pháp Công Đức Trang Nghiêm Vương—Meritorious Adornment Sutra.
Công đức trang nghiêm 功德莊嚴
[ja] クドクショウゴン kudoku shōgon ||| The adornments of merit. 〔法華經 T 262.9.28a05〕 => Sự trang nghiêm bằng công đức.
công đức trì
(功德池) Ao công đức. Chỉ cho cái ao chứa đầy nước tám công đức trong thế giới Cực lạc. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng chép, ở cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà có cái ao trong đó chứa đầy nước tám công đức. Nước tám công đức tức là nước có đầy đủ tám thứ công đức thù thắng: lắng sạch, trong mát, ngọt ngào, mềm nhẹ, thấm nhuần, an hòa, trừ đói khát và nuôi lớn các căn... Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng), nói: Phía trong phía ngoài và ở hai bên, có các ao tắm, hoặc 10 do tuần, hoặc 20, 30, cho đến 100000 do tuần, dọc ngang sâu nông, đều giống như nhau, nước tám công đức lắng trong tràn đầy. (xt. Bát Công Đức Thủy).
công đức trị
Guṇabharma (S)Tên một vị tỳ kheo dịch kinh ở thế kỷ 5.
công đức trực
(功德直) Guịabharman. Dịch âm: Cầu na bạt ma. Nhà dịch kinh, người Tây vực, đến Trung quốc vào thời Lưu Tống. Năm Đại minh thứ 6 (462) đời vua Hiếu vũ đế nhà Lưu Tống, ngài đến Kinh châu ngụ ở chùa Thiền phòng. Bấy giờ, nhân lời thỉnh cầu của sa môn Huyền sướng, ngài dịch được các kinh: Bồ tát niệm Phật tam muội 6 quyển, Vô lượng môn phá ma đà la ni 1 quyển, văn từ lưu loát, nghĩa lí trong sáng. Sau, ngài đến Thành đô nghỉ ở chùa Đại thạch (tức là tháp vua A dục) tự tay làm ra 16 tượng thần Kim cương mật tích. Rồi ngài trở lại Kinh châu ở lại vài năm, về sau như thế nào không được rõ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2 - Khai nguyên thích giáo lục Q.5 - Trinh nguyên thích giáo lục Q.8 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].
công đức tu hành
Virtues achieved as a result of cultivation.
công đức tùng lâm
Thiền viện hay tự viện hay thiền pháp—The grove of merit and virtue—Buddhist hall or monastery, or the scriptures.
; (功德叢林) Chỉ phép Thiền. Vì phép Thiền có khả năng sinh ra các công đức trí tuệ, thần thông, và bốn vô lượng, cho nên gọi là Công đức tùng lâm.Tống cao tăng truyện quyển 12, Khánh chư truyện (Đại 50, 780 hạ), nói: Phương nam gọi tùng lâm là công đức tùng lâm, do phiên dịch từ chữ Thiền na.
công đức tạng
The treasure of merit and virtue.
; (功德藏) Kho báu tích chứa các công đức thiện. Tức là danh từ tôn xưng đức Phật và có ý tán thán. Những công đức mà Phật thành tựu được ví dụ như kho của báu. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ phẩm Phụng trì (Đại 8, 842 hạ), nói: Đầy kho công đức, ở ngôi Như lai. Lại kinh vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 hạ), nói: Kho công đức đầy đủ, diệu trí không ai bằng. Tịnh độ chân tông Nhật bản dùng công đức tạng để chỉ cho Phật A di đà hoặc là danh hiệu của Phật A di đà [X. luận Đại thừa khởi tín - Giáo hành tín chứng Q.Hóa thân độ (Thân loan)]
công đức tụ
The assembly of all merit and virtue, i.e.the Buddha; also sa stùpa as symbol of him.
; 1) Hội tụ công đức của Phật: The assembly of all merit and virtue, i.e. the Buddha. 2) Tháp Phật cũng là một biểu hiệu Công Đức Tụ của Ngài: A stupa is also considered as a symbol of the Buddha's assembly of all merit and virtue.
; (功德聚) Hàm ý là tích tụ công đức. I. Công đức tụ. Tiếng tôn xưng đức Phật. Chư Phật tu hành trải qua nhiều kiếp, đã chứa nhóm vô lượng công đức mà chứng được quả Phật, vì thế tôn xưng là Công đức tụ. Kinh Niết bàn quyển 32 (Đại 12, 559 hạ), nói: Công đức vô lượng của Như lai, con nay không thể nói cho hết. Công đức tụ cũng được dùng để chỉ Phật A di đà. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 hạ): Đây là rừng báu chứa công đức, con một lòng chắp tay kính lễ. Tức ý nói Phật A di đà đã do tích chứa công đức của bốn mươi tám bản nguyện mà chứng được quả Phật . II. Công đức tụ.Tên của tháp. Có nghĩa là hết thảy công đức của chư Phật đều được tích chứa trong tháp của các ngài. Tính linh tập quyển 9 chép, tháp cũng gọi là Công đức tụ, cờ được gọi là Dữ nguyện ấn. Nói Công đức tụ tức là do muôn đức của Phật Tì lô giá na tập hợp thành - còn Dữ nguyện ấn là thân Tam muội của Ngài Bảo sinh Địa tạng. III. Công đức tụ. Cờ (chàng). Cờ là hình tam muội da của Bồ tát Địa tạng, vì cờ có công đức của ngọc báu như ý, cho nên cũng gọi là Công đức tụ. IV. Công đức tụ. Là câu thứ sáu trong chín câu nói trong kinh Đại nhật. (xt. Cửu Cú Đối Vấn).
công đức viên mãn
(功德圓滿) Nhà Phật làm việc Phật cũng gọi là làm công đức - khi hoàn tất một việc Phật, tức gọi là công đức viên mãn. Nay từ ngữ Công đức viên mãn cũng được người đời thường dùng, là do bắt chước từ ngữ nhà Phật, để chỉ công nghiệp và đức hạnh của một cá nhân chu toàn không khiếm khuyết, hoặc chỉ một việc làm kết thúc viên mãn.
công đức viện lưu
(功德院流) Cũng gọi là Công đức lưu. Là một trong mười ba dòng của tông Thai mật Nhật bản. Tổ khai sáng là ngài Khoái nhã. Ngài Khoái nhã vốn là pháp tôn đời thứ tư của tổ Lương hựu dòng Tam Muội, sau ngài tự sáng lập ra dòng Công đức viện. Công đức viện của Đông tháp tây cốc ở núi Tỉ tuệ hiện nay là nền cũ của dòng này. Nhưng nội dung giáo pháp của dòng này truyền bá như thế nào thì nay không được rõ. [X. Mật môn tạp sao].
công đức vân tỳ kheo
Meghaśrī (S)Mê già Thất lợi, Cát tường Vân.
công đức vô lượng
(功德無量) Công đức, hàm ý công năng phúc đức, cũng chỉ quả báo do làm việc thiện mà được. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 (Đại 49, 649 hạ), nói: Công nghĩa là công năng, có công giúp vun bồi phúc đức, cho nên gọi là Công. Công ấy khéo làm việc đức, gọi là công đức.Người đời nói Công đức vô lượng, là mượn hai chữ công đức trong Phật giáo, dùng để chỉ sự lập công làm thiện, thi ân bố đức của một cá nhân nào đó mang lại lợi ích cho nhiều người.
công đức vô lậu
Taintless merits.
công đức xuất thế
Virtue of liberation—Chỉ những người đã đạt tới Thánh quả A-la-hán hay cao hơn mới có được công đức nầy—Công đức xuất thế gian vừa giúp tự thân vừa giúp tha nhân cùng tiến tu—Possessed only by those already attained Arhats or higher—Such virtue enables cultivators to help themselves and help others.
công đức y
Kathina (S). The garment of merits, given to monks after their summer refreat of ninety days.
; Kathina (skt)—Ca Hi Na—Công đức y hay áo cà sa của chư Tăng sau 90 ngày an cư kiết hạ; biểu tượng cho công đức mà chư Tăng đã đạt được trong mùa an cư—The garment of merits, given to monks after their summer retreat of ninety days; it symbolized five merits to which they had attained.
công đức điền
The field of merit and virtue.
; Ruộng phước công đức, như Tam Bảo, một trong ba ruộng phước—The field of merit and virtue, i.e. the Triratna, to be cultivated by the faithful; it is one of the three fields for cultivating welfare. ** For more information, please see Tam Phước.
; (功德田) Tức là ba ngôi báu Phật Pháp Tăng. Ba ngôi báu có đủ công đức vô thượng, có thể thành tựu chúng sinh, khiến chúng sinh được hết thảy công đức. Nếu chúng sinh cúng dường thì được vô lượng phúc báo, cho nên gọi là Công đức điền (ruộng công đức). Kinh vô lượng nghĩa (Đại 9, 384 trung), nói: Gieo hạt giống thiện, khắp ruộng công đức, khiến cho hết thảy nảy mầm Bồ đề. Luận Câu xá quyển 15 (Đại 29, 82 trung), nói: Ruộng công đức có nghĩa là Phật Pháp Tăng. Tam tạng pháp số quyển 11, giải thích về ruộng phúc công đức, bảo rằng nếu cung kính cúng dường ba ngôi báu Phật Pháp Tăng, thì không những chỉ thành tựu vô lượng công đức, mà còn có thể được phúc báo, cho nên gọi là ruộng phúc công đức. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.3 - Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.4].
công đức đoạn
(功德斷) Mật giáo cho phiền não vốn không mà ngay đó quán xét suốt đến công đức của tâm Bồ đề thanh tịnh, gọi là Công đức đoạn. Đối lại với Quá hoạn đoạn của Hiển giáo. Hiển giáo nói đoạn phiền não quá hoạn mà chứng quả Phật, thuộc về cái đoạn ngăn tình chấp. Mật giáo thì cho Phiền não tức Bồ đề, bảo đương thể của phiền não là cái tướng công đức của quả Phật, nếu buông bỏ thì không còn phiền não. Đó là sự đoạn hoặc theo lí không, cho nên luận Thích ma ha diễn quyển 3 nói (Đại 32, 615 trung): Bản giác thanh tịnh, từ xưa đến nay, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng thành lập có, chẳng chê bai không, hoặc chẳng phải lầm lỗi, chẳng phải công đức. Dứt bặt nói năng, tâm hành diệt hết. [X. Thích ma ha diễn luận sớ Q.thượng phần cuối - Thích ma ha diễn luận khai giải sao Q.11, Q21].
Công đức 功德
[ja] クドク kudoku ||| (1) Excellent virtue, merit; meritorious virtue(s), valuable quality (guṇa); which is accumulated according to one's good actions. (2) Blessedness, virtue, fortune, goodness (punya). (3) The causes of good destiny; virtuous roots. (4) Good actions, practices. (5) Great power. (6) The necessary materials for attaining the Buddha's enlightenment. => Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh ưu tú, công lao, đức hạnh, phẩm chất cao quý (s: guṇa), tích lũy được do làm các việc thiện. 2. Phước lành, đức hạnh, điều tốt lành, việc thiện (s: punya). 3. Cái nhân của quả báo đầu thai vào các cõi giới lành (thiện thú); thiện căn. 4. Việc thiện, sự tu tập. 5. Năng lực to lớn. 6. Yếu tố cần thiết để chứng được quả vị Phật.
công ơn
Merit.
Công 功
[ja] ク ku, kō ||| (1) Merits, meritorious deeds; success, credit, honor. (2) Skill, ability, effectiveness, efficacy. (3) Effect. Có các nghĩa sau: => 1. Công lao. công đức; sự thành đạt, công trạng, vinh dự. 2. Tài năng, năng lực, hiệu lực, hiệu quả. 3. Tác dụng.
; [ja] ク ku, kō ||| (1) Merits, meritorious deeds; success, credit, honor. (2) Skill, ability, effectiveness, efficacy. (3) Effect. Có các nghĩa sau: => 1. Công lao. công đức; sự thành đạt, công trạng, vinh dự. 2. Tài năng, năng lực, hiệu lực, hiệu quả. 3. Tác dụng.
Cối Nguyên Cảnh Thời
(梶原景時, Kajiwara Kagetoki, ?-1200): vị Võ Tướng sống đầu thời Liêm Thương, gia nhân của Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), thường gọi là Bình Tam (平三, Heiza); giới danh là Long Tuyền Viện Cối Nguyên Công (龍泉院梶勝源公); cha là Cối Nguyên Cảnh Thanh (梶原景清). ông là người có công trong cuộc thảo phạt dòng họ Bình (平, Taira). Ông đối lập và dèm pha Nguyên Nghĩa Kinh (源義經, Minamoto-no-Yoritsune), rồi sau đó lại dèm pha Kết Thành Triều Quang (結城朝光, Yūki Tomomitsu). Từ đó, Triều Quang kết hợp với các tướng lãnh, tố cáo Cảnh Thời, vì vậy ông bị đuổi ra khỏi vùng Liêm Thương, và cuối cùng ông cùng toàn gia tộc bị giết chết ở vùng Hồ Khi (狐崎, Kitsunezaki), Tuấn Hà (駿河, Suruga).
cõi
Space Dhatu (S), ying (T).
; Loka (S). World, open space, universe. Also giới, thế gian.
; Abode.
cõi a tu la
AśŪraloka (P), Aśurā-gati (S), Asura path, Realm of aśŪras,Tên một cõi giới.
cõi a-tu-la
A-tu-la là những sinh vật ngỗ nghịch ưa thích chiến đấu. Tên của chúng có nghĩa là “Xấu tệ.” A-tu-la còn có nghĩa là “không Thánh Thiện” vì mặc dù có vài loại A-tu-la cũng hưởng phước trời, nhưng không có quyền lực nhà trời. Kỳ thật, A-tu-la là những người hâm mộ Phật pháp và ưa cúng dường, nhưng tánh khí nóng nãy, hay ngạo báng nên sanh ra trong đường nầy. Trong Tam Giới có bốn loại A-tu-la—Asuras Realm—Titanic Demons—Asuras are unruly beings that love to fight. Their name means “ugly.” It also means “ungodly” because, although some Asuras enjoy heavenly blessings, nonetheless, they lack authority in the heavens. In fact, Asuras are those who like to Dharmas and prefer performing offerings; however, they are hot-tempered, perfer to ridicule other people; thus born in this realm. There are four categories of Asuras in the Three realms of Existence: 1) A-Tu-La Quỷ Đạo: Loại quỷ A-tu-la, sanh bằng trứng trong loài quỷ, dùng sức mạnh của mình để hộ trì Chánh Pháp và nhờ thần lực chúng có thể du hành vô ngại trong không gian—Asuras in the path of ghosts, born from eggs and belong to the destiny of ghosts, who use their strength to protect Dharma and can with spiritual penetrations travel through space. 2) A-Tu-La Súc Sanh Đạo: Loại quỷ A-tu-la sanh trong đường súc sanh—Asuras in the realm of Animals. They are Asuras who belong to the destiny of animal. 3) A-Tu-La Nhơn Đạo: Loại quỷ A-tu-la sanh trong nhơn đạo—Asuras in the realm of humans. They are Asuras born from wombs and belong to the destiny of humans. 4) Thần A-Tu-La Vương: Loại nầy do hóa sanh mà thành trong đường Thiên đạo, chúng hổ trợ Phật pháp bằng sức thần thông và vô úy. Chúng đấu tranh để đạt đến địa vị Phạm Chủ—Asuras in the realm of gods. They are Asura Kings who come into being by transformation and belong to the destiny of gods. They support Dharma with a penetrating power and fearlessness. They struggle for position with the Brahma Lord.
cõi cực lạc bảy báu trang nghiêm
The Western Pure Land is adorned with seven treasures.
cõi diệu hỷ
Xem Lạc thổ.
cõi dục giới
The realm of desire—The Human realm.
cõi giới
Xem Giới.
cõi giới thanh tịnh
dag zhing (T), Pure realm.
cõi hoa tạng thế giới
Hoa Tạng thế giới là toàn thể vũ trụ, được diễn tả trong Kinh Hoa Nghiêm. Đây là cõi ngự trị của Phật Tỳ Lô Giá Na, một hình ảnh siêu việt của Phật Thích Ca và chư Phật. Thế giới Ta Bà, Tây phương Tịnh độ và tất cả các cõi nước khác đều ở trong cõi Hoa Tạng nầy—The Flower-store world, the entire cosmos as described in the Avatamsaka Sutra. It is the land of Vairocana Buddha, the transcendental aspect of Buddha Sakyamuni and of all Buddhas. The saha world, the Western Pure Land, and all other lands are realms within the Flower-store world.
cõi người
Mānuṣāloka (P), Xem Cõi người.
; The human realm—See Dục Giới.
cõi ngạ quỷ
Trong cõi nầy chúng sanh thân thể hôi hám, xấu xa, bụng to như cái trống, cổ nhỏ như cây kim, miệng luôn phực ra lửa, không ăn uống gì được nên phải chịu đói khát trong muôn ngàn kiếp—In the realm of hungry ghosts, beings have ugly and smelly bodies with bellies as big as drums, while their throats are as small as needles and flames always shoot out of their mouth, therefore, they cannot eat or drink and are subject to hunger and thirst for incalculable eons.
cõi ngạ quỹ
Pettivisaya (P), Petaloka (P).
cõi nước An Lạc phương tây
tức là thế giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.
cõi nước vô ưu
The Land of No-Concerns.
cõi nầy
See Cõi Trần.
cõi phàm thánh đồng cư
The land of common residence of ordinary beings and saints.
cõi phương tiện hữu dư
The land of expediency.
cõi phật
Buddhakṣetra (S)Tịnh độ của Phật.
; Buddha-land—See Phật Độ.
cõi súc sinh
Tirracchanayoni (P).
cõi sơ thiền
Brahma Purohita (S).
cõi ta bà
Saha Land, Human world.
cõi thường tịch quang
The land of eternally tranquil light.
cõi thường tịch quang tịnh độ
The realm of the “Ever-Silent Illuminating Pure Land.”
cõi thật báo vô chướng ngại
The land of true reward.
cõi tiên
Xem Tiên.
; Fairyland.
cõi trần
This world.
cõi trời
Devaloka (P), Realms of the Devas.
; Devaloka (S). Heaven, world of gods. Also thiên.
; Heavenly world—Celestial realms—Realms of heaven.
cõi trời Ba mươi ba
(Tam thập tam thiên, 三十三天): cũng gọi là cõi trời Đao-lợi (Đao-lợi thiên忉利天- Tryastriṃśa), thuộc Dục giới, gồm cả thảy 33 cảnh trời, mỗi cảnh trời có một vị Thiên Đế cai quản, ở trung tâm có thành gọi là Hỷ Kiến, có đức Đế Thích (Thích-đề-hoàn-nhân) ngự tại Thiện Pháp Đường là vị chủ quản cao nhất. Khi sanh lên 33 cảnh trời này, chúng sanh được hưởng mọi sự khoái lạc.
cõi trời còn ngũ tướng suy nghĩ và những điều bất như ý
The heavenly realms are still marked by the five types of decay and the things that go agaisnt our wishes.
cõi trời dục giới
, d kham (T), Desire Realm
cõi trời quảng quả
Abundant Fruit Heaven.
cõi trời Sắc cứu cánh
Xem A-ca-ni-trá.
cõi trời sắc giới
Tất cả chư thiên trong cõi trời sắc giới không có khứu giác và vị giác; họ không ăn uống, ngủ nghỉ hay dục vọng. Tuy nhiên, những ham muốn vẫn còn âm ỉ sâu kín bên trong, nên khi thọ mệnh nơi cõi trời vừa dứt là họ phải trở về cảnh giới thấp tùy theo nghiệp lực (chư thiên trong cảnh trời vô sắc cũng còn những dục vọng sâu kín nầy)—The realms of form. All the gods in the form realm heavens are without the senses of smell and taste; they do not eat food, sleep or have sexual desire. However, the desires for these things are still latent, and once their heavenly life comes to an end, they can return to any lower realms of existence, in accordance with their karma (these desires are also latent in the gods in the formless heavens).
cõi trời tha hóa
Cõi trời lục dục—The sixth heaven in the realm of desire.
cõi trời thứ sáu
(Đệ lục thiên); tức cõi trời Tha hóa tự tại, là cõi trời cao nhất thuộc Dục giới.
cõi trời vô sắc
Tất cả chư thiên trong cõi trời nầy không có thân thể, chỉ còn “Thức” mà thôi—The realm of formlessness. All the gods in this realm have no bodies, they only have consciousness.
cõi trời đao lợi
Traystrimsah (S).
cõi trời đâu suất
Tushita Heaven.
cõi trời Đâu-suất
(Đâu-suất thiên): phiên âm từ Phạn ngữ Tuṣita, cũng đọc là Đâu-suất-đà, dịch nghĩa là Hỷ Túc hay Diệu Túc, là cõi trời nằm giữa Dạ Ma thiên và Lạc Biến hóa thiên. Phần Nội viện của cõi trời này là nơi Bồ Tát Di-lặc thuyết pháp, nên cũng được xem như một cõi Tịnh độ. Phần Ngoại viện là nơi chư thiên hưởng thụ mọi niềm vui, mọi sự khoái lạc, nên gọi là Hỷ Túc.
cõi tịnh
Pure Abode—Pure Land.
cõi tịnh lưu ly của đức phật dược sư
The Pure Lapis Lazuli.
cõi tịnh độ của phật
Xem Phật độXem Phạm sát.
cõi ác
Evil world
cõi ác trược
Evil or defiled world.
cõi địa ngục
Mayo (P) Xem Địa ngục thú
; Hells—Hell dwellers.
cõi đồng cư tịnh độ
The common residence Pure Land.
cõi đồng cư uế độ
The common residence impure land.
cõng
To carry on the back.
cù ba
(瞿波) Phạm: Gopa. I. Cù ba. Tên vị A la hán ra đời tại Ấn độ khoảng một trăm năm sau đức Phật nhập diệt, gọi là Cù ba A la hán (Phạm: Gopàrhat). Là tác giả của Thánh giáo yếu thực luận, đề xướng thuyết Hữu ngã nhân, cùng với Thức thân túc luận của A la hán Đề bà thiết ma (chủ trương Vô ngã nhân) đã dấy lên cuộc tranh luận lớn. Nhưng Thánh giáo yếu thực luận nay đã thất truyền. [X. Đại đường tây vực kí Q.5 mục Tất sách ca quốc]. II. Cù ba. Tên vị luận sư ra đời tại Ấn độ khoảng chín trăm năm sau Phật nhập diệt. Là em của ngài Thế thân, sư có viết Duy thức nhị thập luận thích, nhưng nay không còn. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối - Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. III. Cù ba. Còn gọi là Cù bà. Cứ theo kinh Thập nhị du chép, thì Cù ba là con gái của trưởng giả Thủy quang thuộc họ Xá di tại Ấn độ đời xưa, là đệ nhất phu nhân của Thái tử Tất đạt đa. (xt. Cù Di).
cù ba la long vương
Gopala (S).
; (瞿波羅龍王) Cù bà la, Phạm, Pàli: Gopàla. Dịch ý là chăn bò, che chở đất nước. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì vua rồng Cù ba la ở trong hang rồng tại nước Na yết la hạt thuộc bắc Ấn độ. Tiền thân của rồng này chuyên việc chăn bò để lấy sữa cho nhà vua, vì dâng vua không đúng phép bị vua khiển trách nên ôm lòng oán giận và thề nguyền kiếp sau sẽ làm rồng dữ để phá nước hại vua, rồi tự đập đầu vào vách đá mà chết. Sau, Cù ba la sinh làm Đại long vương, ở trong hang núi. Đức Như lai vì thương nước ấy sắp bị rồng làm hại, bèn dùng sức thần thông từ miền trung Ấn độ đến cảm hóa con rồng này. Rồng thấy đức Như lai liền bỏ tâm độc ác và thụ giới không sát sinh, nguyện mãi mãi hộ trì chính pháp. Trước khi Như lai nhập diệt, để lại hình ảnh trên vách đá trong hang, dặn rồng khi nào tâm độc ác dấy lên thì nhìn vào hình bóng ấy, ác tâm sẽ diệt, và sai năm vị La hán thường nhận sự cúng dường của Long vương. Nơi Long vương ở gọi là hang rồng Cù ba la và những hang đá nhỏ gần đấy đều là nơi các đệ tử Phật nhập định. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.6 - kinh Phật bản hạnh Q.1 - Cao tăng pháp hiển truyện - Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].
cù chiết la quốc
(瞿折羅國) Cù chiết la, Phạm: Gurjara. Một Vương quốc xưa tại miền tây Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì đô thành nước này là Tì la ma la, thổ nghi, phong tục giống với nước Tô thích tha, dân cư đông đúc, gia sản phong phú, phần đông thờ ngoại đạo, ít người tin Phật pháp. Có một ngôi già lam, với hơn trăm vị tăng, đều học tập giáo pháp Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa, có vài chục đền thờ trời, dị đạo ở lẫn lộn. Nhà vua thuộc dòng Sát đế lợi, trí dũng cao xa, thâm tín Phật pháp. Vị trí nước này ở vào khoảng phía bắc Kutch thiên, Phong thiên, Địa thiên, La sát thiên và Y xá na thiên v.v. . . của Kim cương bộ thuộc viện Ngoài trong mạn đồ la Thai tạng giới là tòa Cù du, hình tròn, mặt bằng phẳng, trong vẽ hoa văn, hoặc viền chung quanh có tua rủ xuống. Về mặt điêu khắc, thì thông thường là tòa ngồi hình phú bát (bát úp), chung quanh cũng trang sức bằng các tua rủ xuống với những màu sắc sặc sỡ.
cù cưa
To drag out.
cù di
(瞿夷) Phạm, Pàli: Gopì, Gopikà, hoặc Gopà, dịch âm là Cù ti, Cầu di, Cù ba, Cù tì da, Kiều tỉ ca. Dịch ý là Ngưu hộ, Mật hạnh, Minh nữ, Thủ hộ địa, Phú chướng. Là vợ của Thái tử Tất đạt. Về sự xuất thân của bà, các kinh nói khác nhau. Theo kinh Tu hành bản khởi quyển thượng chép, thì Cầu di là con gái vua Thiện giác - dung nhan xinh đẹp, rực rỡ, thiên hạ ít ai sánh kịp. Còn cứ theo kinh Thập nhị du, thì Cù di là con gái của trưởng giả Thủy quang thuộc họ Xá di, sinh vào lúc mặt trời sắp lặn, ánh sáng còn rớt lại rọi vào trong nhà sáng rực, cha mẹ mới đặt tên là Minh nữ. Về vợ của thái tử Tất đạt thì từ xưa cũng có nhiều thuyết. Luận Đại trí độ quyển 17, dẫn kinh La hầu la mẫu bản sinh, nói rằng, vợ của Thái tử là Cù tì da, Da du đà la, và bảo Da du đà la là mẹ ruột của La hầu la. Hữu bộ tì nại da Phá tăng sự quyển 3 nêu tên ba phu nhân là: Lộc vương, Kiều tỉ ca, Da du đà la và cho Da du đà la là vị phu nhân đầu tiên, nhưng trong kinh Thập nhị du thì lại đặt Cù di vào hàng đệ nhất phu nhân của Thái tử. [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng - kinh Phật bản hạnh tập Q.13 - kinh Chúng hứa ma ha đế Q.4 - kinh Lục độ tập Q.5 - Hữu bộ tì nại da Q.18 - luận Đại trí độ Q.33, Q.35].
cù du toà
(氍毹座) Tòa ngồi trải đệm lông. Cũng gọi là Chiên cù tọa. Là tòa ngồi đặc biệt của chư tôn thuộc bộ Thiên. Trong các tranh vẽ, thì tòa ngồi của chư tôn Hỏa thiên, Thủy trên tiền tệ có khắc hình con bò, là một vấn đề sử thực có thể khảo cứu - hoặc là các nước Ấn độ đã thần hóa các nước phương Tây mà sản sinh ra thuyết này? [X. kinh Đại lâu thán Q.1 - luận Du già sư địa Q.2 - Đại đường tây vực kí Q.1 - Tuệ uyển âm nghĩa Q.1]. (xt. Tứ Châu).
cù la kinh
Culla Màlinkyaputta-sutta (S). Sutta of small exemples. Also Tiểu dụ kinh.
Cù lao
(劬勞): sự lao khổ, cực nhọc, vất vả nuôi con của cha mẹ. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) hồi thứ 36 có đoạn: “Như thư đáo nhật, khả niệm cù lao chi ân, tinh dạ tiền lai, dĩ toàn hiếu đạo (如書到日、可念劬勞之恩、星夜前來、以全孝道, như thư đến ngày, có thể nhớ đến công ơn lao khổ của cha mẹ, sao đêm trước khi đến, phải vẹn toàn đạo hiếu).” Hay trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Lục Nga (蓼莪) có câu: “Lục lục giả nga, phỉ nga y hao, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao (蓼蓼者莪、匪莪伊蒿、 哀哀父母,生我劬劳。哀哀父母、生我劬勞, cao lớn cỏ nga, nào phải cỏ ngãi, thương thay cha mẹ, sanh ta lao khổ).” Thi hào Nguyễn Du lại có câu rằng: “Nhớ ơn chín chữ cù lao, một ngày một ngả bóng dâu tà tà”; hay trong ca dao Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Nhớ ơn chín chữ cù lao, ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.”
cù lao
xem sa-môn.
cù lao cúc dục
Parents' painful task of rearing children.
cù ma di
(瞿摩夷) Phạm, Pàli: Gomaya. Còn gọi là Cự ma. Chỉ phân bò. Từ ngàn xưa, người Ấn độ coi con bò là vật tượng trưng cho Thần thánh, và cho phân bò là sạch sẽ nhất, nên thường trát phân bò lên đàn tế cho sạch đàn. Phong tục này sau được Mật giáo thu dụng, khi đắp đàn tu pháp, hứng lấy Cù ma di và Cù mô đát la (Phạm: Gomùtra, nước đái bò) chưa rơi xuống đất, trộn lẫn với nhau rồi trát lên đàn. Hoặc bỏ Cù ma di vào lò hương để làm vật cúng Hộ ma. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 chép, nói theo ý nghĩa nông cạn, thì lấy phân và nước giải của bò là thuận theo phong tục của phương ấy cho là sạch sẽ - còn theo ý nghĩa sâu xa bí mật, thì Cù chỉ cho hành, vì vào cửa chữ A, là các pháp vô hành - Ma chỉ cho ngã - Di chỉ cho thừa. Tức là các pháp vô hành, là vì hết thảy pháp ngã đều không thể được, nếu đã không có ngã thì chẳng có thừa và người thừa, đó tức là Đại thừa. Nếu người tu hành có thể giữ được tâm thanh tịnh như thế, thì có thể rốt ráo thanh tịnh, xa lìa các chướng ngại. Lại theo kinh Đà la ni tập quyển 9, thì lấy phân bò sạch đốt lên có thể trừ khử mùi hôi hám. Kinh Thiên thủ thiên nhãn quan thế âm bồ tát trị bệnh hợp dược cũng ghi, Cù ma di có thể chữa các bệnh ngoài da và bệnh bí tiện. [X. kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni - Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ - Tuệ lâm âm nghĩa Q.36].
cù mô đát la
(瞿摸怛羅) Phạm: Gomùtra. Dịch là nước tiểu bò. Mật giáo khi làm đàn tu pháp, lấy nước tiểu bò trộn lẫn với Cù ma di (Phạm: Gomaya, phân bò) rồi bôi lên đàn cho sạch đàn. Theo Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao quyển 1 chép, lấy Cù ma di và Cù mô đát la hòa với nhau để làm sạch đàn giới, đó là nghĩa nông cạn, nhưng nói theo ý nghĩa sâu xa bí mật, thì Cù ma di là chỉ các pháp không làm, vì hết thảy pháp ngã đều không thể được, nếu không có ngã, thì không có cái để thừa và người thừa. Đát la là chỉ nghĩa như như xa lìa bụi nhỏ, cũng tức là thực tướng của tâm. Do đó, nếu người tu hành có thể kiến tạo đại bi mạn đồ la trong tâm như thế, dùng phẩn và giải như như lìa bụi nhỏ mà làm sạch tâm địa, thì có thể rốt ráo trong sạch, xa lìa mọi chướng ngại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4 - Phạm ngữ tạp danh].
cù nhữ tắc
(瞿汝稷) Người Thường thục, Giang tô đời Minh. Tự Nguyên lập. Hiệu Na la quật học nhân, còn gọi là Bàn đàm. Nối nghiệp cha làm quan đến chức chủ sự bộ Hình, ra Tri phủ Thần châu, lãnh chức Trường lô diêm vận sứ, sau thăng đến chức Thái bộc thiếu khanh. Ông thông minh từ thủa nhỏ, đọc rộng nhớ dai, thông suốt nội ngoại điển. Ông giao du với các ngài Tử bá, Mật tạng, Tán mộc. Và nghe phép Thiền với ngài Quản đông minh ở chùa Trúc đường. Về sau, Thiền sư Tử bá Chân khả khắc Đại tạng ở Kính sơn, Nhữ tắc khuyến hóa các thiện tín cùng chung góp sức vào việc này, ông lại thề nguyền trước Phật xin gánh vác Pháp tạng. Năm Vạn lịch 30 (1602), ông thu tập pháp ngữ của các Thiền sư nhiều đời thành Chỉ nguyệt lục 30 quyển, lưu hành ở đời. Năm Khang hi 18 (1679), Niếp tiên biên soạn Tục chỉ nguyệt lục 20 quyển để tiếp theo sách của họ Cù. Ông có các tác phẩm: Thạch kinh đại học chất nghi, Binh lược toản yếu, Quynh khanh tập v.v... Năm sinh năm mất của ông đều không rõ. [X. Minh sử Q.216 - Minh nhân tiểu truyện Q.4 - Minh sử kỉ sự Q.28].
cù sa
Śrīghoṣaka (S)Tác giả bộ kinh A tỳ đàm cam lộ (sinh) vị luận.
cù sí la điểu
(瞿翅羅鳥) Cù sí la, Phạm, Pàli: Kokila. Tên khoa học là Cucula indicus. Chim đỗ quyên sắc đen sinh sản ở Ấn độ. Cũng gọi là Câu sí la điểu, Cư chỉ la điểu, Cù chỉ la điểu, Câu kì la điểu, Cưu di la điểu, Cụ sử la điểu. Dịch ý là chim âu, chim mắt đẹp, chim tiếng tốt, chim giọng hay. Loài chim này hót rất hay, nhưng hình ngoài thì xấu xí, tên chim được đặt theo giọng hót và phần nhiều sống ở nơi rừng rậm. [X. kinh Đại bảo tích Q.32 - Huyền ứng âm nghĩa Q.12 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, Q.67].
cù sư la
(瞿師羅) Phạm: Hhowila, Pàli: Ghosita. Còn gọi là Cù tư la, Cù sử la, Cụ sử la. Dịch ý là tiếng hay, giọng dịu dàng. Là trưởng giả ở nước Kiều thưởng di thuộc trung Ấn độ đời xưa, một trong ba vị đại thần của vua Ưu điền. Vì thân ông cao ba thước, nên đức Thích tôn cũng hiện thân cao ba thước để hóa độ, khiến ông quay về với chính pháp. Cù sư la từng dâng khu vườn cúng đức Thích tôn làm tinh xá, do đó mà ông được nổi tiếng. Kinh Trung bản khởi quyển hạ (Đại 4, 157 trung), nói: Mĩ âm (Cù sư la) ý muốn thỉnh đức Thế tôn, Phật biết tâm niệm của ông nên bảo: Ở đó không có tinh xá, nguyện của ông không thành. Mĩ âm hiểu ý và vui mừng bạch Phật: Con có ngôi nhà riêng, xin cúng làm tinh xá.Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 5 chép, Thì đời quá khứ, Cù sư la là thân chó, có lần dùng tiếng sủa dẫn vị Phật Bích chi đến nhà cúng dường, cho nên đời đời được quả báo tiếng tốt, tiếng hay. [X. kinh Tạp a hàm Q.40 - kinh Pháp cú thí dụ Q.2 phẩm Đao trượng - Đại đường tây vực kí Q.5 - Huyền ứng âm nghĩa Q.25].
cù sư la trưởng giả
Goshila (S)Mỹ âm trưởng giả.
cù sư la viên
(瞿師羅園) Phạm: Ghowilàràma, Pà-li: Ghositàràma.Cũng gọi là Cù sư la viên tinh xá, Mĩ âm tinh xá. Khu vườn ở nước Kiều thưởng di thuộc trung Ấn độ thời xưa. Tức là khu vườn trong đó trưởng giả Cù sư la dựng tinh xá cúng dường đức Thích tôn. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, thì ở nơi cách đô thành nước Kiều thưỏng di về phía đông nam không bao xa, có ngôi già lam cũ, tức là khu vườn cũ của trưởng giả Cù sư la, trong vườn có một Tốt đổ ba (tháp), do vua A dục kiến tạo, cao hơn hai trăm thước, đức Như lai đã từng nói pháp taị đây mấy năm - ở bên cạnh tháp có di tích chỗ ngồi và nơi kinh hành của bốn vị Phật ở quá khứ. Cũng có Tốt đổ ba thờ tóc và móng tay của Như lai. Về phía đông nam già lam, có một căn nhà bằng gạch, là nơi thủa xưa Bồ tát Thế thân viết luận Duy thức để bác các ngoại đạo và Tiểu thừa. [X. Hữu bộ tì nại da Q.30 - Thiện kiến luật tì bà sa Q.13 - luận Đại trí độ Q.3 - Cao tăng pháp hiển truyện].
cù tì sương na quốc
(瞿毗霜那國) Cù tì sương na, Phạm: Govisana. Tên một vương quốc xưa tại trung Ấn độ, ở mạn đông nam nước Mạt để bổ la. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 4 chép, thì nước này chu vi hơn hai nghìn dặm, đô thành rộng bốn đến năm dặm - núi cao hiểm trở, vườn hoa ao hồ xen lẫn. Dân cư đông đúc, chăm học hỏi ham làm phúc, phong tục thuần phác, đa số tin theo ngoại đạo, chỉ cầu vui sướng ở hiện thế. Có hai ngôi già lam, chúng tăng hơn trăm vị, đều học tập giáo pháp Tiểu thừa, có hơn ba mươi đền thờ trời, các đạo khác nhau ở lẫn lộn.
cù đà ni châu
(瞿陀尼洲) Cù đà ni, Phạm: Godànìya. Cũng gọi là Cù da ni châu, Cù đà ni da châu, Cù dạ ni châu, Cù già ni châu. Dịch ý là Ngưu hóa châu, Ngưu thí châu. Là một trong bốn châu ở quanh núi Tu di. Vì châu này nằm về phía tây núi Tu di và dùng bò làm tiền tệ để giao dịch cho nên còn gọi là Tây ngưu hóa châu (Phạm: Apara-godànìya, dịch âm là A bát lị cù đà ni), hoặc gọi là Tây Cù da ni, Tây châu. Nguyên do của cái tên Ngưu hóa, cứ theo kinh Khởi thế quyển 1 chép, thì vì ở dưới cây Trấn đầu ca tại châu này có một con bò bằng đá - Huyền ứng âm nghĩa quyển 12 nói, phần đông người châu này dùng bò để trao đổi, đồng thời, cũng chấp nhận cả thuyết bò bằng đá, lại cứ theo Trường a hàm quyển 18 kinh Thế kí chép, thì châu này hình bán nguyệt, rộng tám nghìn do tuần, khuôn mặt của dân cư cũng như hình bán nguyệt, thân cao độ 3,5 khuỷu tay, thọ hai trăm tuổi, thường dùng bò, dê, ngọc ma ni làm vật trao đổi. Luận Câu xá quyển 11 thì nói, châu này hình thể giống như trăng tròn, mặt người cũng vậy, thân cao mười sáu khuỷu tay, sống năm trăm năm. Tóm lại, châu Cù đà ni đại khái là một loại cõi nước do thế giới quan của người Ấn độ xưa căn cứ theo thuyết Núi Tu di mà đặt ra, nội dung của nó tuy do người Ấn độ giả tưởng, nhưng vấn đề các dân tộc châu Á ngày xưa dùng bò làm vật giao dịch, hoặc và mạn tây nam tiểu bang Rajputana hiện nay. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4 - A. Cunningham: The Ancient Geography of India].
cù đàm
Gautama (skt)—See Siddhartha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (瞿曇) Cù đàm, Phạm: Gautama hoặc Gotama, Pàli: Gotama. Là một họ trong các dòng Sát đế lợi tại Ấn độ, con cháu người tiên Cù đàm, tức là họ gốc của đức Thích tôn. Cũng gọi là Cầu đàm, Kiều đáp ma, Cù đáp ma, Câu đàm, Cụ đàm. Dịch ý là đất tốt nhất, đất bùn, giống đất, bò ám, giống phẩn bò, diệt ác, giống mặt trời, giống mía, A nghĩ la sa (Phạm: Aígirasa). Về nguồn gốc của dòng họ Cù đàm, cứ theo kinh Thập nhị du chép, thì ở một kiếp lâu xa trong quá khứ, có một vị Bồ tát làm vua, cha mẹ mất sớm, bèn nhường ngôi cho em rồi theo học đạo với một người Bà la môn, ở trong vườn mía, người đời gọi thầy của Bồ tát là Đại Cù đàm, gọi Bồ tát là Tiểu Cù đàm. Thời ấy có năm trăm tên cướp lấy của nhà quan, trên đường tẩu thoát, chạy qua vườn mía, đánh rơi những đồ lấy được trong vườn, người đuổi bắt theo dấu tìm đến nơi, thấy thế bèn cho Bồ tát là tên cướp, rồi dùng tên bắn Bồ tát, máu chảy lênh láng mặt đất. Đại Cù đàm dùng thiên nhãn thấy suốt, thương xót khóc lóc, vạt lấy máu còn đọng trên mặt đất, trộn với bùn đựng vào hai chiếc bát nhỏ, đặt ở hai bên trong vườn mà chú nguyện rằng: nếu Cù đàm có lòng thành thì thiên thần sẽ biến máu thành người. Mười tháng sau, chiếc bát bên trái hóa thành con trai, chiếc bên phải hóa thành con gái và từ đó lấy họ là Cù đàm. Lại Đại nhật kinh sớ quyển thứ 16 chép, người tiên Cù đàm làm dâm giữa hư không, có giọt nước nhơ bẩn rơi xuống mặt đất, mọc thành hai cây mía, sau đó nhờ ánh quang hợp của mặt trời mà sinh ra hai người con, một người trong đó làm vua họ Thích. Cho nên, tương truyền người tiên Cù đàm là thủy tổ của họ Thích ca, và dòng họ Thích cũng nhân thế mà được gọi là giống Cam giá (cây mía). Ngoài ra, Câu xá luận kí quyển 27, Trung quán luận sớ quyển 10 phần cuối và kinh Chúng hứa ma la đế quyển 2 đều có ghi chép sự tích này. Về nghĩa của tiếng Cù đàm, thì Pháp hoa văn cú quyển 1 phần dưới (Đại 34, 15 trung), nói: Cù đàm, Hán dịch là thuần túy, hiền lành, cũng gọi là xá di - Xá di nghĩa là giống họ cao sang. Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng nói,Cù nghĩa là đất, Đáp ma nghĩa là hơn hết - nghĩa là trong loài người trên mặt đất, giòng họ này là hơn hết. Còn theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 25 nói, thì giòng vua này vì dân mà trừ họa, cho nên cũng gọi là diệt ác. Vì Gotama vốn là họ của người tiên Cù đàm tại Ấn độ thời thái cổ, cho nên con cháu của ông được gọi là Gautama. Trong đây, go (cù) nghĩa là bò, hoặc ku (cù) nghĩa là đất đai, tama nghĩa là trên hết , cho nên dịch là đất hơn hết, hoặc dịch là đất bùn, giống đất. Lại Tamas nghĩa là tối đen, cho nên có các từ dịch là bò tối phẩn bò. Vì Gotama trong tiếng Phạm, bao hàm các nghĩa như trên, cho nên tại Ấn độ ngày xưa đã diễn sinh ra nhiều loại thần thoại. Ngoài ra, cũng có thuyết bảo gotama là chỉ cho con bò to lớn nhất, nên được dùng làm tiếng tôn xưng người. Tóm lại, đây cũng là sự giải thích bắt nguồn từ phong tục Ấn độ từ ngàn xưa đã quí trọng con bò coi là vật thiêng liêng. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.5 - Thích ca phổ Q.1 - Hi lân âm nghĩa Q.6 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].
cù đàm di
Xem Ma ha Ba xà bà đề.
; (瞿曇彌) Phạm: Gautamì, Pàli: Gotamì. Cũng gọi là Kiều đàm di, Cù đáp di, Kiều đáp di, hoặc nói là Cù di, Cầu di. Là một họ thuộc giòng Sát đế lợi tại Ấn độ, tức tiếng để gọi người đàn bà Cù đàm (Phạm: Gautama), là tiếng gọi chung những người đàn bà thuộc giòng Thích ca. Trong các kinh, bà dì của Phật là Ma ha ba xà ba đề (Phạm: Mahàprajàpatì) được đặc biệt tôn xưng là Cù đàm di. [X. kinh Thập nhị du - Pháp hoa kinh huyền tán Q.9 phần đầu - Tuệ lâm âm nghĩa Q.25]. (xt. Cù Đàm).
cù đàm pháp trí
(瞿曇法智) Phạm: Gautama Dharmajĩàna. Cũng gọi là Đạt ma xà na, Đạt ma bát nhã, Pháp trí. Là vị cư sĩ dịch kinh vào đời Tùy, người ở thành Ba la nại thuộc trung Ấn độ, tinh thông tiếng Phạm. Cha tên là Bát nhã lưu chi, cả hai cha con đều theo việc truyền dịch kinh. Cuối đời Bắc Tề, ông nhận chức Chiêu huyền đô thống. Nhà Tề mất, Phật pháp cũng bị hủy diệt, ông được chuyển sang giữ chức Quận thú Dương xuyên. Sau lại được vua triệu hồi để dịch kinh. Năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Văn đế nhà Tùy, ông dịch kinh Nghiệp báo sai biệt 1 quyển tại chùa Đại hưng thiện. Về các sự tích khác và năm sinh năm mất đều không rõ. [X. Tục cao tăng truyện Q.2 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.12 - Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
cù đàm tiên
(瞿曇仙) Cù đàm, Phạm: Gautama hoặc Gotama, Pàli: Gotama. Người tiên ở thời đại thái cổ tại Ấn độ. Còn gọi là Cù đàm đại tiên, Kiều đáp ma tiên. Một trong bảy đại tiên, một trong mười Bát la xà bát để. Người tiên này giỏi chú thuật, từng viết luận Nhật minh. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16 chép, thì tiên Cù đàm hành dâm giữa hư không, hai giọt nước bẩn rơi xuống mặt đất, từ đó mọc lên cây mía, nhờ ánh quang hợp của mặt trời sinh ra hai con, một người trong đó làm vua họ Thích ca, và dòng giống Thích ca nhân đó cũng được gọi là giống mía. Về sự tích của vị tiên này, kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 39, kinh Bồ tát bản duyên quyển trung chép, tiên Cù đàm hiện đại thần thông biến làm thân Đế thích trong mười hai năm, rồi biến thân Đế thích thành hình con dê với một nghìn nữ căn trên mình. Truyện tích này rất giống với truyền thuyết trong thần thoại Bà la môn nói rằng, vợ Cù đàm tư thông với trời Đế thích, Cù đàm nổi giận, đuổi vợ vào rừng, đồng thời thêm một nghìn nữ căn trên thân Đế thích. Trong Mật giáo, tiên Cù đàm là một trong năm vị tiên họ hàng của Hỏa thiên, được đặt ở phương nam trong viện Kim cương bộ ngoài của Thai tạng giới, ở sau tiên A chi la (Phạm: Aígiras). Chủng tử là (yaư), hình tượng màu đỏ, tay trái cầm cái bình, tay phải dơ thẳng, ngón tay cái đặt vào đốt giữa của ngón vô danh - đặt ở trước ngực. [X. kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ - Thích ca phổ Q.1 - Thai tạng giới thất tập Q.hạ].
Cù-già-ly
tên một vị tỳ-kheo, được phiên âm từ Phạn ngữ là Koklika, cũng đọc là Câu-già-lợi, là đệ tử đi theo Đề-bà-đạt-đa.
Cù-sử-la
xem Cồ-sư-la.
Cù-tư-la
xem Cồ-sư-la.
cùn nhụt
Blunt—Dull.
cùng
1) Nghèo—Impoverished—Exhausted—Poor. 2) Xem xét tường tận: To investigate throroughly.
cùng chung
In common.
cùng dân
The poor.
cùng khổ
Poor and miserable
cùng kiệt
To be at the end of one's resources.
cùng kế
To be at one's wit end.
cùng lúc
At the same time.
cùng ngày
On the same day.
cùng nhân
Poor man.
cùng quẫn
Destitute—Destitution.
cùng sinh tử uẩn
Chấm dứt cái uẩn căn bản dẫn đến luân hồi sanh tử—To exhaust the concomitants of reincarnation—To be free from transmigration.
; (窮生死蘊) Một trong ba uẩn do Hóa địa bộ Tiểu thừa thành lập. Là uẩn căn bản lưu chuyển tương tục không hề gián đoạn cho mãi đến khi dứt sinh tử được Kim cương dụ định. Uẩn này là ý thức nhỏ nhiệm ngoài sáu thức và được coi là chủ thể của sự sinh tử luân hồi trong thế giới mê vọng - nó cùng với uẩn một niệm trong một sát na sinh diệt và uẩn sống trong một kì của một đời liên tục, gọi chung là ba uẩn. Vì các bộ phái Tiểu thừa đều chỉ nói sáu thức, nhưng sáu thức có lúc dứt hẳn không sinh khởi, không thể lấy đó làm bản chất của sự sống chết tương tục, cho nên mới lập riêng một loại thức hằng chuyển biến không dứt, đó tức là Căn bản thức của Đại chúng bộ, Hữu phần thức của Thuyết giả bộ và Cùng sinh tử uẩn của Hóa địa bộ vậy. Tông Duy thức Đại thừa thì cho uẩn này chính là thức A lại da, nhưng do mật ý của các bộ phái mà có những tên khác nhau. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng - Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính) - luận Thành duy thức Q.3 - Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu].
Cùng sinh tử ấm 窮生死陰
[ja] キュウショウシオン kyūshōshion ||| The "aggregate that purdures throughout transmigration," the Mahīśāsaka 化地部 equivalent of the Yogācāra container consciousness 阿頼耶識. 〔攝大乘論 T 1593.31.114c07〕 => Ấm (uẩn) theo đuổi suốt quá trình sinh tử. Hoá địa bộ (Mahīśāsaka 化地部) xem thuật ngữ nầy có ý nghĩa như A-lại-da thức của Du-già hành phái.
cùng tận
At the end—At last.
cùng tử
Daridra-purusa (S)Chúng sanh sanh tử trong tam giới.
; Chàng Cùng Tử trong Kinh Pháp Hoa—The poor son, or prodigal son, of the Lotus sutra.
; (窮子) Người con khốn cùng. Phạm: Daridrapuruwa. Một trong bảy thí dụ của kinh Pháp hoa. Chúng sinh sống chết trong ba cõi, ví như người Cùng tử không có công đức pháp tài (như các vị Thanh văn Tu bồ đề), đức Phật được ví như người Trưởng giả giàu có. Đem trường hợp người Cùng tử do sự chỉ bảo của vị Trưởng giả giàu có mà được kho báu, thí dụ đức Như lai từ bi dùng mọi phương tiện khéo léo để dẫn dắt hàng Nhị thừa cùng về một Phật thừa. Cứ theo kinh Pháp hoa phẩm tín giải nói, có đứa Cùng tử từ nhỏ đã bỏ cha trốn đi, lâu ngày lưu lạc nơi nước người. Đến năm mươi tuổi thì đã già, lại thêm nghèo cùng khốn khổ, phải rong ruổi bốn phương để kiếm sống, lần hồi về đến chỗ cha ở, lúc ấy cha đã là một trưởng giả đại phú trong thành. Bấy giờ người cùng tử đi làm thuê làm mướn, một hôm được thuê về làm việc trong nhà cha mình, đứng tựa nơi cửa, xa thấy cha ngồi trên giường sư tử, các Bà la môn, Sát đế lợi, cư sĩ cung kính vây chung quanh, trân châu anh lạc trang sức khắp mình, người cùng tử thấy cha có thế lực lớn, lòng sinh sợ hãi, liền bỏ chạy. Khi ấy, ông trưởng giả đã nhận ra con mình, liền sai người đuổi theo - người con sợ quá đến nỗi ngất xỉu. Người cha từ đằng xa thấy thế, biết rằng ý chí con mình hèn kém, nên thả cho đi. Người con lại tiếp tục cuộc sống nghèo cùng khốn khổ. Bấy giờ ông trưởng giả mới bày phương tiện để dụ dẫn con. Trước hết, ông ngầm sai hai người hình dáng tiều tụy, áo quần dơ dáy, giả làm người hốt phân để gần gũi Cùng tử - sau đến đích thân trưởng giả cũng ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, tay cầm đồ hốt phân, hệt như Cùng tử, nhờ thế được gần con mình, thấy con chịu khó lại trả thêm tiền, rồi khuyên Cùng tử ở lại làm việc. Ngày tháng trôi qua, lâu dần Cùng tử cảm thấy không còn sợ sệt - trưởng giả khen Cùng tử trẻ khỏe, chịu khó, không gian dối, không sầu hận, và nhận Cùng tử làm con. Cùng tử tuy rất mừng đã gặp cảnh may mắn, nhưng vẫn tự cho mình là người hèn hạ và cứ như thế làm việc dọn phân suốt hai mươi năm.Khi trưởng giả lâm bệnh, tự biết chẳng sống được bao lâu nữa, mới đem kho tàng vàng bạc trân bảo giao hết cho Cùng tử, Cùng tử tuy nhận sự ủythác, nhưng không mong cầu giữ lấy các kho tàng trân bảo. Sau đó, trưởng giả biết ý Cùng tử dần dần thông suốt, thành tựu được chí lớn, nên lúc sắp chết mới tuyên bố Cùng tử chính là con mình, và kể lại việc Cùng tử bỏ cha bỏ nhà mà đi đã hơn năm mươi năm. Cùng tử lúc đó mới tỉnh ngộ, tâm rất vui mừng và nói rằng mình vốn không có lòng mong cầu mà nay kho báu tự nhiên đến. Tông Thiên thai chia thí dụ này làm năm khoa: Người đuổi theo, Hai lần dụ dỗ, Gây lòng tin, Nhận ra, Giao phó cơ nghiệp, và phối với năm thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa, đối lại với năm vị nói trong kinh Niết bàn, để hiển bày rõ ý của Phật thuyết pháp giáo hóa trong một đời. [X. kinh Đại bi Q.4 - Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.5 - Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 phần trên - Pháp hoa huyền luận Q.7 - Pháp hoa kinh huyền tán Q.6].
cùng đinh
Xem chiên đàn la.
; The needy—The outcast—See Kinh Cùng Đinh in Appendix E.
cùng đường
To be helpless.
Cú
句; C: jù; J: ku; |Có hai nghĩa: 1. Một câu, bài kệ, một dòng; 2. Chỗ uốn cong, đường vòng, vòng quay.
cú
Pada (S), Verse.
; Một câu, một từ ngữ hay mệnh đề—A sentence—Phrase—Clause.
; (句) I. Cú: câu. Phạm: Pada. Dịch âm: Bát đà, Bạt đà, bát đàm. Là một trong bảy mươi lăm pháp của tông Câu xá, một trong trăm pháp của tông Duy thức, được dùng để giải thích nghĩa lí của sự vật. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 29 thượng), nói: Cú là chương, giải thích nghĩa lí một cách rốt ráo, như nói: Các hành vô thường.... Từ Phật giáo Ấn độ, Cú (câu) đã là yếu tố cấu thành hình thức câu thơ để biểu đạt nghĩa lí của pháp môn, như kinh Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada) chẳng hạn, là đại biểu của những câu thơ pháp nghĩa về loại này. Tại Trung quốc và Nhật bản, Thiền tông dùng cú pháp hình thành các kệ thơ, văn xuôi và những câu cảnh sách cũng đều rất phổ biến.Câu có dài, ngắn khác nhau, cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 14 chép, thì một bài tụng nếu lấy tám chữ làm một câu, ba mươi hai chữ là một tụng (một bài kệ), là bài tụng trung bình, không dài không ngắn. Các bài tụng trong kinh điển phần nhiều được viết theo qui tắc này. Lại từ sáu chữ cho đến hai mươi sáu chữ đều có thể được gọi là câu, sáu chữ gọi là câu đầu, hai mươi sáu chữ gọi là câu sau - dưới sáu chữ gọi là câu ngắn, trên sáu chữ gọi là câu dài. Lại nữa, hai câu nối lại với nhau gọi là câu thân, từ ba câu, bốn câu trở lên nối liền với nhau gọi là nhiều câu thân. Kinh bộ và tông Duy thức cho rằng, câu chỉ là âm vận trầm bổng về âm thanh, chứ không có tự thể riêng biệt. Tát bà đa bộ chủ trương, nếu câu chỉ là âm thanh suông mà không giải thích một nghĩa lí gì cả thì câu khác với âm thanh vì có thực thể riêng, thuộc về bất tương ứng hành uẩn. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.3 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.14, Q.76 - luận Đại trí độ Q.44 - luận Thành duy thức Q.2 - Câu xá luận quang kí Q.5 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu]. (xt. Cú Thân). II. Cú. Trong Thiền tông, tất cả lời nói, động tác,, cảnh giới v.v... cũng đều có thể gọi là Câu, vì thế mới có các từ ngữ: câu sống, câu chết để chỉ các lời nói, động tác, cảnh giới có ý nghĩa hoặc tuyệt không có một ý nghĩa nào cả. Tương tự cách dùng này, còn có từ câu đến ý chẳng đến để chỉ câu nói vô nghĩa, vọng chấp các duyên, tính toán phân biệt, chưa thể khế hợp chân lí. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11 chương Diệp huyện qui tỉnh].
cú cú
Từ câu nầy qua câu kia—Sentence by sentence.
cú kệ
(句偈) Chỉ câu văn kệ tụng trong Phật giáo. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 46, 98 thượng), nói: Mỗi câu mỗi kệ, tu đúng như nghe, nhập tâm thành quán. Nếu nghe một câu văn một bài kệ hàm chứa pháp nghĩa sâu xa mà tâm sinh vui mừng,, thì gọi là Cú kệ tùy hỉ.
cú luân
(句輪) Trong phép tu của Mật giáo, hành giả đem chân ngôn của bản tôn quán tưởng từng chữ, xếp thành cái vòng chữ tròn sáng, gọi là Cú luân. Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 11 chép, thì hành giả tụng trì chân ngôn, nên theo chữ mà quán tưởng thành cú luân, tức là quán tưởng tâm của bản tôn, trên tâm bày xếp chân ngôn thành cái vòng chữ tròn sáng, quay chuyển liên tiếp, hiện rõ trước mắt. Lại nữa, khi trì tụng chân ngôn, quán tưởng chữ chủng tử của bản tôn như sữa trắng, từ từ rót vào miệng hành giả, hoặc trên đỉnh đầu, liên tục không dứt dần dần lan khắp thân thể. Trong vòng chữ tròn sáng, ánh sáng nối nhau, như dòng nước chảy, không lúc nào hết. Cứ như thế mà trì tụng mãi thì tâm sẽ trụ nơi tĩnh lặng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.14 phẩm Tự luân].
Cú nghĩa
句義; C: jùyì; J: kōgi; |Có hai nghĩa: 1. Theo hệ thống triết học của Thắng tông (勝宗 s: vaiśeṣika) thì có nghĩa là yếu tố căn bản, hay là thành phần của hiện thật (s: pada-artha); 2. Tên gọi, thuật ngữ, danh từ.
cú nghĩa
(句義) Phạm: Padàrtha. Giải thích nghĩa lí trong câu, hoặc chỉ cho ý nghĩa được giải rõ trong câu nói, hoặc là quan niệm (câu) với sự vật (nghĩa) được nội dung quan niệm hiển bày, gần như khái niệm phạm trù, tức là cái hình thức căn bản để thành lập hết thảy sự vật một cách như thực cụ thể. Học phái Thắng luận trong sáu phái triết học Ấn độ, đem thực thể, thuộc tính hoặc nguyên lí của hết thảy vạn hữu chia làm mười loại, gọi là mười Cú nghĩa. Ngoài ra, Mật giáo khi giải thích chân ngôn, thì thường dùng giải thích nghĩa chữ trước, rồi sau đó mới giải thích nghĩa câu. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 621hạ), nói: Trong chân ngôn có nghĩa chữ, có nghĩa câu. (xt. Thập Cú Nghĩa).
cú nghĩa pháp cương yếu
Padarthadhar-masaṃgraha (S).
cú nghĩa quán đỉnh
(句義灌頂) Còn gọi Chân ngôn quán đính. Là một trong năm quán đính do ngài Bất không lập ra. Cứ theo Kim cương đính nghĩa quyết nói, thì khi tu phép này, hành giả quán tưởng chân ngôn của bản tôn và nghĩa lí của chân ngôn được bày xếp khắp trong toàn bộ thân tâm. Còn bản tôn được tôn thờ thì theo các bộ mà khác biệt. Pháp tu này được dùng cho các hành giả chân ngôn đã học pháp Quán đính, nhưng chưa được truyền thụ pháp quán đính.
Cú nghĩa 句義
[ja] コウギ kōgi ||| (1) In the Vaiśeṣika 勝宗 system of philosophy, a basic element, or component of reality (pada-artha). (2) A name, term, noun. => Có hai nghĩa: 1. Theo hệ thống triết học của Thắng tông (勝宗 s:Vaiśeṣika), có nghĩa là yếu tố căn bản, hay là thành phần của thực tại (s: pada-artha). 2. Tên gọi, thuật ngữ, danh từ.
cú ngữ tam muội
(句語三昧) Trong lời nói, câu văn phát ra diệu ngộ, thông suốt vô ngại. Tam muội, là dịch âm từ tiếng Phạmsamàdhi, hàm ý là một lòng chuyên chú ở một chỗ mà không tán loạn. Một chỗ ở đây là chỉ cho nghĩa đích thực trong lời nói, câu văn, nhờ chuyên tâm vào nghĩa đích thực ấy mà được diệu ngộ. Ngôn ngữ văn tự tuy chỉ là công cụ để biểu đạt tình cảm và tư tưởng, nhưng cũng không thể xem nhẹ chúng được, là bởi vì tự thân ngôn ngữ văn tự cũng hàm chứa tính chất biểu hiện chân nghĩa, cho nên, nếu chuyên tâm nhất ý thì cũng có thể đạt được diệu ngộ mà dung thông vô ngại.
cú pháp
Syntax.
cú song chỉ
(句雙紙) Sách, gồm hai quyển. Do vị tăng thuộc tông Lâm tế Nhật bản là Đông dương Anh triêu soạn. Còn gọi là Thiền lâm cú tập. Sách này chia làm hai quyển Càn, Khôn, ở đầu có Phật kinh, Tổ lục, gồm cả Đạo, Nho, soạn tập những lời nói và câu đối mà Thiền tông hay dùng. Quyển Càn dùng những câu đối một chữ đến năm chữ, quyển Khôn dùng câu đối sáu chữ đến tám chữ, cả hai quyển gồm có hơn năm nghìn câu. Khoảng năm Trinh hưởng Nhật bản (1684 - 1688), lúc sắp in, soạn giả lại chua thêm điển cứ của các câu, và tiếp thêm năm trăm câu nữa. Đáng tiếc là nội dung sách này có nhiều khuyết điểm về văn trích dẫn, điển cứ cũng lầm lẫn, duy có điều là dễ đọc, cho nên trước nay nó đã được lưu hành rộng rãi ở đời.
cú thuyên sai biệt
(句詮差別) Nghĩa là dùng câu để giải thích ý nghĩa sai biệt về mặt tự tính. Câu và tên (danh) đối nhau, tên (Phạm:nàma) trực tiếp giải rõ tự thể của các pháp, tức mỗi cái tên có đủ tính chất tự giải thích nó là ý nghĩa gì - còn câu (Phạm:pada) thì nối tiếp nhiều tên để giải rõ nghĩa lí sai biệt về mặt tự tính, cho nên luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 trung) nói: Tên giải tự tính, câu giải sai biệt. (xt. Danh Thuyên Tự Tính).
Cú thân
句身; C: jùshēn; J: kushin; S: pada-kāya. |Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp theo giáo lí Duy thức tông. Sự hợp thành của 2 hay nhiều câu.
cú thân
Pada-kāya (S).
; Padakaya (skt)—Pratipadika (skt)—Chữ biến chuyển trong câu—An inflected word in a sentence.
; (句身) Phạm: Padakàya. Là một trong hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, một trong mười bốn pháp Bất tương ứng hành của tông Câu xá. Cú (câu), dùng để giải rõ nghĩa lí của sự vật - Thân, là nghĩa tập hợp. Nếu tập hợp các câu mà cấu thành một tư tưởng hoàn chỉnh thì gọi là Cú thân. Như những câu: Các hành vô thường, các pháp không ngã, Niết bàn tĩnh lặng v.v... là những câu biểu đạt một ý tưởng hoàn chỉnh, cho nên gọi là Cú thân. Còn một thuyết nữa cho rằng, chỉ tập hợp hai câu trở lên cũng gọi là Cú thân. Như chỉ nói: Các hành, Các pháp, gọi là câu, nhưng nếu nói Các hành vô thường, các pháp không ngã, thì là tập hợp hai câu, vì thế gọi là Cú thân. Lại một câu cũng gọi là Cú thân. Kinh Lăng già quyển 2 (Đại 16, 494 trung), nói: Cú thân, nghĩa là câu có nghĩa thân, tự tính quyết định rốt ráo, ấy gọi là Cú thân. [X. luận Đại tì bà sa Q.14 - luận Câu xá Q.5 - Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Cú).
Cú thân 句身
[ja] クシン kushin ||| (pada-kāya). One of the twenty-four elemental constructs not concomitant with mind in Yogācāra theory. The gathering of two or more phrases. => (s: pada-kāya). Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp theo giáo lý Duy thức tông. Sự hợp thành của 2 hay nhiều câu.
Cú 句
[ja] ク ku ||| (1) A phrase, a verse, a written line. (2) Bend, curve, turn. Có hai nghĩa: => 1. Một câu, bài kệ, một dòng. 2. Chỗ uốn cong, đường vòng, vòng quay.
cúc
1) Bông cúc—Chrysanthemum. 2) Cúc dục: Nuôi dưỡng—To nourish.
Cúc cung
(鞠躬): thể hiện dáng cúi khom mình cung kính, cẩn thận. Như trong (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 7, phần Đệ Tam Thỉnh Sư (第三請師), có câu: “Hợp chưởng cúc cung, trường quỳ, niêm hương tam biện (合掌鞠躬、長跪、拈香三瓣, chấp tay cúi khom mình, quỳ xuống, dâng hương ba nén).” Hay trong bài thơ Qua Bộ Trở Phong (瓜步阻風) của Khổng Võ Trọng (孔武仲, ?-?) nhà Tống lại có câu: “Tạc nhật phần hương yết thánh mẫu, thanh sơn cúc cung như phụ nỗ (昨日焚香謁聖母、青山鞠躬如負弩, hôm qua đốt hương yết thánh mẫu, núi xanh cúi mình như vác nỏ).” Hoặc trong Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (重治毗尼事義集要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 719) quyển 15, phần Độc Tụng Pháp (讀誦法), cũng có đoạn rằng: “Đệ tử chi pháp, nhược lão nhược thiếu, đáo bỉ sư sở, hợp chưởng cúc cung (弟子之法、若老若少、到彼師所、合掌鞠躬, phép của người đệ tử, dù già dù trẻ, khi đến chỗ thầy, chấp tay cúi mình).”
cúc dục
To bring up.
cúc lợi nhai na
Kuryana or Kuvayana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Cúc Lợi Nhai Na là một vương quốc cổ nằm về phía tây nam Ferghana, phía bắc thượng nguồn sông Bác Xoa (Oxus), bây giờ là Kurrategeen—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kuvayana is an ancient kingdom south-west of Ferghana, north of the upper Oxus, the present Kurrategeen.
Cúc Nguyệt
(菊月): tên gọi khác của tháng Chín Âm Lịch. Tại Trung Quốc, vào tháng này đúng lúc hoa Cúc nở rộ, nên có tên gọi như vậy. Như trong Pháp Hoa Kinh Đại Thành Khoa (法華經大成科, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 618) có câu: “Thời Khang Hy tuế tại Bính Tuất Cúc Nguyệt cửu nhật, Lí đệ Duy Huyễn bái soạn (時康熙歲在丙戌菊月九日、里弟惟鉉拜撰, lúc bấy giờ đời vua Khang Hy, ngày mồng 9 tháng 9 năm Bính Tuất [1706], Lí đệ Duy Huyễn lạy soạn).” Hay trong phần Tuy Lý Minh Tâm Phật Âm Ni (檇李明心佛音尼) của Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 5 cũng có câu: “Giáp Dần Cúc Nguyệt kí vọng, mộc dục đoan tọa, thuyết kệ nhi hóa (甲寅菊月旣望、沐浴端坐、說偈而化, vào ngày 16 tháng 9 năm Giáp Dần, cô tắm rửa, ngồi ngay ngắn, nói kệ rồi ra đi).”
cúc đa
Gupta (S)Cấp đa, Quật đaMột triều đại tồn tại vào thế kỷ 3 và 4 ở Ấn độ.
; Upagupta (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ in Vietnamese-English Section.
cúc đăng
Một loại đèn cúng trong chùa, thuờng trước bàn Phật—A chrysanthemum-shaped lamp used in temples, usually in front of the Buddha.
cúi
To bend—To bow.
cúi chào
To bow to someone.
cúi đầu cầu nguyện
To bow one's head in prayers.
cúng
Pùjà (S). To offer (in worship), to make offerings to; to offer sacrifice to, to celebrate the anniversary ofa defunct; to make a present, a donation.
; Puja (skt)—To offer or honour in worship—To supply—To offer to Buddha.
; (供) (Xem chữ Cung)
cúng cụ
Xem cúng vật.
; Cúng Vật—Các lễ vật dâng cúng lên chư Phật và chư Bồ Tát như hoa, hương (đồ bôi), nước, nhang, thức ăn, đèn—Offerings, i.e. flowers, unguents, water, incense, food, light. ** For more information, please see Lục Cúng Cụ.
cúng dường
Pajana (S), Argpya (S), Offering Bố thí mà chân thành cung kính gọi là cúng dường. Cúng dường có 10 món: hoa, hương, chuỗi hột, hương tán, hương đồ, hương đốt, tàn lộng cờ phướn, quần áo, âm nhạc, chắp tay. Xem Bố thí
; To make offerings of whatever nourishes, e.g. food, goods, incense lamps, scriptures, the doctrine etc., any offering for body or mind.
; Bố thí mà chân thành cung kính, gọi là cúng dường.
; (I) Nghĩa của Cúng Dường—The meanings of offerings—Cung cấp nuôi dưỡng hay cúng dường những thứ lễ vật như thức ăn, hương, hoa, nhang, đèn, kinh sách, giáo thuyết, vân vân—To support—To offer—To make offerings to—To make offerings of whatever nourishes, e.g. food, goods, incense, lamps, scriptures, the doctrine, etc, any offerings for body or mind. (II) Phân loại Cúng Dường—Categories of offerings: (A) Nhị Cúng Dường—There are two kinds: 1) Tài cúng dường: Offerings of goods. 2) Pháp cúng dường: Offerings of the Buddah truth. ** For more information, please see Nhị Cúng Dường. (B) Tam Cúng Dường: Three kinds of offerings—See Tam Cúng Dường. (C) Tứ Cúng Dường: Four kinds of offerings—See Tứ Cúng Dường, and Tứ Sự. (D) Ngũ Cúng Dường: Five kinds of offerings—See Ngũ Cúng Dường. (E) Lục Cúng Dường: Six kinds of offerings—See Lục Cúng Dường. (F) Thập Cúng Dường: Ten kinds of offerings—See Thập Cúng Dường. (III) Những lời Phật dạy về “Cúng Dường” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Offerings” in the Dharmapada Sutra: 1) Mỗi tháng bỏ ra hàng ngàn vàng để sắm vật hy sinh, tế tự cả đến trăm năm, chẳng bằng trong giây lát cúng dường bậc chân tu; cúng dường bậc chân tu trong giây lát thắng hơn tế tự quỷ thần cả trăm năm—Month after month, even though one makes an offerings of a thousand for a hundred years, yet it is no better than one moment that he pays homage to a saint who has perfected himself (Dharmapada 106). 2) Cả trăm năm ở tại rừng sâu thờ lửa, chẳng bằng trong giây lát cúng dường bậc chân tu; cúng dường bậc chân tu trong giây lát thắng hơn thờ lửa cả trăm năm—Should a man, for a hundred years, tend the sacrificial fire in the forest, yet it is no better than just one moment he honours the saint who has perfected himself; that honour is indeed better than a century of fire-sacrifice or fire-worship (Dharmapada 107). 3) Suốt một năm bố thí cúng dường để cầu phước, công đức chẳng bằng một phần tư sự kính lễ bậc chính trực (chánh giác)—Whatever alms or offering a man has done for a year to seek merit, is no better than a single quarter of the reverence towards the righteous man (Dharmapada 108). 4) Thường hoan hỷ, tôn trọng, kính lễ các bậc trưởng lão thì được tăng trưởng bốn điều: sống lâu, đẹp đẽ, tươi trẻ, khỏe mạnh—For a man who has the habit of constant honour and respect for the elder, four blessings will increase: longevity, beauty, happiness, and good health (Dharmapada 109). 5) Kẻ nào cúng dường những vị đáng cúng dường, hoặc chư Phật hay đệ tử, những vị thoát ly hư vọng, vượt khỏi hối hận lo âu—Whoever pays homage and offering, whether to the Buddhas or their disciples, those who have overcome illusions and got rid of grief and lamentation (Dharmapada 195). 6) Công đức của người ấy đã cúng dường các bậc tịch tịnh vô úy ấy, không thể kể lường—The merit of him who reverences such peaceful and fearless Ones cannot be measured by anyone (Dharmapada 196). 7) Hàng Tỳ kheo dù được chút ít cũng không sinh tâm khinh hiềm, cứ sinh hoạt thanh tịnh và siêng năng, nên đáng được chư thiên khen ngợi—Though receiving little, if a Bhikhshu does not disdain his own gains, even the gods praise such a monk who just keeps his life pure and industrious (Dharmapada 366).
cúng dường hương hoa
Phật tử cúng dường hương hoa là bên ngoài tỏ lòng kính trọng Phật. Khi cúng dường hoa, chúng ta nên nghĩ rằng hoa nầy rồi sẽ tàn phai héo úa và hoại diệt đi, chúng ta cũng sẽ hoại diệt như vậy, không có một thứ gì trên đời nầy đáng cho ta bám víu—To offer flowers and incense—Buddhists offer flowers and incense to the Buddha as an outward form of respect to the Buddha. When we offer flowers, we think that as those flowers fade we also fade and die; therefore, there is nothing in this world for us to cling on.
cúng dường mạn đà la
Maṇḍala offering.
cúng dường phật
An offering to Buddha.
cúng dường tràng phan bảo cái
Offering pennants and banners to the Buddhist temple.
cúng dường vân hải bồ tát
Pujamegha-śāgārah (S)Tên một vị Bồ tát.
cúng dường vô lượng chư phật trong quá khứ
To serve countless Buddhas in the past.
Cúng dường 供養
[ja] クヨウ kuyō ||| Also written 供施 and 供給. (1) 'Offering and sustaining;' (pūjā). An offering of food, drink, clothing etc., to a buddha, monk, teacher, ancestor etc. (2) A special commemorative service held to mark such things as the construction of a temple or statue or the completion of the copying of a sutra. => Còn gọi là Cung thí và Cung cấp. 1. Cung dưỡng (s: pūjā). Việc dâng cúng thực phẩm, y phục… cho Đức Phật, chư Tăng, Giáo thọ sư, ông bà... 2. Một nghi lễ đặc biệt cử hành để đánh dấu những việc như xây chùa, dựng tượng, hay hoàn thành việc in kinh.
cúng giỗ
To commemorate; to celebrate the anniversary of (a deceased).
cúng phật
To offer to Buddha.
; To offer to Buddha.
cúng phụng
1) Cúng dường: To offer. 2) Vị sư chủ lễ trong Đại Hùng Bảo Điện: The monk who serves at the great altar.
cúng rằm
Full Moon Ceremony.
cúng sự phần tỳ bà sa
Abhidharma-prakaraṇapāda-vibhāśāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
cúng thiên
Thiên Cúng—Cúng dường các vị Trời, Phạm Thiên, Đế Thích Thiên, Công Đức Thiên, Hoan Hỷ Thiên—To make offerings to the devas, Brahma, Indra, etc.
cúng trướng
Đời nhà Đường chư Tăng Ni phải đăng ký ba năm một lần—The T'ang dynasty register, or census of monks and nuns, supplied to the government every three years.
cúng trướng vân
Mây của các vị Bồ Tát phụng sự Như Lai—The cloud of Bodhisattvas who serve the Tathagata.
cúng tổ
To worship ancestors.
cúng vật
Offerings, i.e. flowers, unguents; water, incense, food, light.
căm căm
Very cold—Biting cold.
căm hờn
Enmity—To be furious.
căm thù
Hatred and indignation.
Căn
根; S: indriya, jñānendriya, buddhīndriya; P: in-driya; C: gēn; J: kon; nghĩa là giác quan;|Cách vận hành, cơ cấu, tính năng, năng lực. 1. Căn gốc của thảo mộc và cây cối, hàm ý khả năng sinh trưởng từ trong dạng tĩnh để trở thành thân và nhánh; trong nghĩa nầy được gọi là rễ cây; 2. Thuật ngữ con có nghĩa là »cơ quan« – nơi phát sinh sự nhận biết. Do đó, nó được dùng như tên gọi 5 giác quan (ngũ căn 五根). 5 giác quan nầy không thể được nhìn thấy và chúng được tạo nên do sự chuyển hoá của tứ đại, và có năng lực thấy, nghe v.v… Dù chúng vô hình và thanh tịnh; về mặt lí thuyết, chúng có trong khắp mọi nơi, do vậy nên chúng được hệ thống giáo lí Pháp tướng tông xếp vào »sắc« pháp; 3. Khả năng, năng lực, bản tính, tính năng của người hoặc vật, thông thường là bén nhạy, bình thường, và chậm lụt. Năng lực cá biệt mà một cá nhân nào đó có để nhận thức về một tầng bậc giáo lí nhất định và chứng ngộ. Xem Cơ (機); 4. Những điều khuyến khích sự giác ngộ trong con người, gọi là Ngũ căn: tín, tiến, niệm, định, huệ. |Người ta phân biệt 22 căn, tức là tất cả khả năng tâm lí và thể chất, gồm có: sáu căn cơ bản (Lục căn; s: ṣaḍāyatana), nam căn, nữ căn (bộ phận sinh dục); các khả năng thuộc thân như biết đau đớn, biết vui thích, biết buồn rầu, và vô kí (trung hoà); năm cơ sở tâm lí có thể biến thành Năm lực, đó là Tín (s: śraddhā), Tinh tiến (s: vīrya), chính niệm, Ðịnh (s: samādhi) và Bát-nhã (s: prajñā); ba khả năng xuất thế: lòng tin chắc chắn mình sẽ khám phá nhiều điều chưa khám phá được trong giai đoạn đầu của Thánh đạo (s: ārya-mārga), trí huệ cao nhất lúc đạt quả Dự lưu (s: śrotāpanna; p: sotā-panna) và cuối cùng là khả năng của hành giả đã đạt tới thánh quả A-la-hán (s: arhat).
căn
Vatthu (P), MŪla (S), Root gốc.
; Mùla (S). A root, basis, origin. Indriyam (S). An organ of sense, a power, faculty of sense. Căn đối với cảnh Inward spheres.
; (I) Nghĩa của “căn”—The meanings of “Mula” or “Indriya”. 1) Căn bản: Mula (skt)—Basis—Origin. 2) Giác quan: Indriya (p & skt)—Senses—Faculty of sense—Organs of sense. • Năng lực của giác quan: Faculty of sense—Sense—Organ of sense. • Năng lực của thân và tâm: Bodily and mental power. • Năng lực của tâm linh: Spiritual faculties or power of the spirituality. • Rễ cây: Có sức sanh trưởng, mọc ra các thứ cành, như nhãn căn của mắt có sức mạnh có thể sinh ra nhãn thức, tín căn có thể sinh ra những việc thiện, nhân tính có tác dụng sanh ra thiện ác nghiệp—Root, or source which is capable of producing or growing, as the eye is able to produce knowledge, as faith is able to bring forth good works, as human nature is able to produce good or evil karma. (II) Phân loại căn—Categories of “mula” or “Andriyam” (A) Ngũ Căn: Five senses—See Ngũ Căn. (B) Lục Căn: Six senses—See Lục Căn.
; (根) Phạm: Indriya. Thông thường chỉ cho khí quan, cơ năng, năng lực. Trong dụng ngữ Phật giáo, danh từ căn cũng hàm ý là năng lực khí quan. Gốc rễ của cỏ cây không những chỉ có sức tăng trưởng, mà còn có năng lực phát sinh ra thân cây, cành lá và hoa quả. Cũng như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, không những chỉ giúp cho sự giác ngộ của người tu hành, mà còn có sức đẩy mạnh Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ, vì thế mà dùng năm căn làm tên gọi. Về căn, trong các kinh giáo có rất nhiều nghĩa, nhưng đại khái có thể chia làm hai loại sau: 1. Chỉ tác dụng có sức mạnh mẽ (cũng gọi là tăng thượng). Có 22 căn: Căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân, căn ý, căn nữ, căn nam, căn sống, căn vui, căn khổ, căn mừng, căn lo, căn bỏ, căn tin, căn siêng, căn niệm, căn định, căn tuệ, căn chưa biết đang biết, căn đã biết và căn biết đầy đủ v.v... Sáu căn đầu: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gọi là Lục căn, trong đó, ngoài căn ý (tâm) ra, năm căn trước thuộc về khí quan (ngũ quan) cảm giác, hoặc là cơ năng cảm giác, do vật chất (sắc) tạo thành, vì thế gọi là năm sắc căn, gọi tắt là năm căn. Phái Số luận cho rằng năm căn này có đủ tác dụng nhận biết, bởi vậy gọi là Tri căn, năm Tri căn. Ngoài năm Tri căn ra, phái Số luận còn thêm năm căn Tác nghiệp (tay, chân, miệng, chỗ tiểu tiện, chỗ đại tiện) và căn ý mà lập thành thuyết 11 căn. Năm căn chia thành Thắng nghĩa căn điều khiển các tác dụng cảm giác (tương đương với hệ thần kinh) và Phù trần căn giúp đỡ các tác dụng (nhãn cầu, cổ mạc v.v... là những khí quan bên ngoài do máu thịt tạo thành); Nhất thiết hữu bộ cho Thắng nghĩa căn mới là năm căn. Trong 22 căn thì năm căn vui, buồn, mừng, lo và trung dung (không vui không buồn = xả), có khả năng cảm nhận những ấn tượng cảm giác ngoại giới, có khác với năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nên gọi là Ngũ thụ căn (năm căn cảm nhận). Ngoài ra, tín, cần (siêng năng), niệm, định, tuệ cũng gọi là năm căn, vì chúng có khả năng diệt trừ phiền não, đạt đến Thánh đạo, có tác dụng thù thắng, cho nên cũng dùng chữ căn làm tên. Nhưng để phân biệt với năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm căn tín, cần, niệm, định, tuệ được gọi là Ngũ vô lậu căn (năm căn vô lậu). Còn về ba căn: Chưa biết đang biết, Đã biết và Biết đầy đủ thì căn Chưa biết đang biết do kiến đạo dẫn khởi, còn căn Đã biết thì phát sinh ở Tu đạo và căn Biết đầy đủ thì đến Vô học đạo mới nảy sinh. Ba căn trên đây cũng gọi là Tam vô lậu căn (ba căn vô lậu). Lại nữa, trong 22 căn thì nữ căn, nam căn và mệnh căn là chỉ cho mệnh sống và tuổi thọ. Nữ căn, nam căn tạo cho nam, nữ có đủ sức trưng tính, đặc biệt chỉ tính khí. Cái tính dời đổi từ nam chuyển biến thành nữ, hoặc do nữ chuyển biến thành nam, thì gọi là chuyển căn. Thông thường nói hai căn, có người bảo đó là Thắng nghĩa căn và Phù trần căn, nhưng cũng có người cho hai căn là nam căn và nữ căn. 2. Căn, có nghĩa căn cơ, căn tính, biểu thị tính chất, tư chất, là người lãnh nhận giáo pháp. Vì căn có hơn và kém khác nhau, nên mới phân biệt hai căn lợi (sắc bén) và độn (chậm lụt), hoặc ba căn thượng, trung, hạ, hoặc ba căn lợi, trung, độn v.v... Nếu dùng sức tu đạo mà tu luyện, từ độn căn, hạ căn, dần dần tu đến lợi căn, thượng căn, thì gọi là Luyện căn, hoặc là Chuyển căn. Trong các loại chuyển căn, đặc biệt chỉ cho hạng người từ Thanh văn (hạ căn) chuyển đến Duyên giác (trung căn), rồi lại tiến lên nữa mà đến Bồ tát (thượng căn).[X. luận Câu xá Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.4]. (xt. Tam Vô Lậu Căn, Ngũ Căn).
căn biên uẩn
MŪlatikaskandha (S)Nhất vị uẩný thức vi tế từ vô thủy nối tiếp nhau không dứt lấy bốn uẩn làm thể dẫn khởi ra ngũ uẩn.
; (根邊蘊) Phạm: Mùlàntika-skandha. Đối lại với Nhất vị uẩn. Là chủ trương của Kinh lượng bộ Tiểu thừa. Căn biên uẩn là ý thức nhỏ nhiệm nối nhau không dứt từ vô thủy đến nay, là chỗ dựa cho sự sinh tử tương tục của loài hữu tình. Nó lấy bốn uẩn: Thụ, Tưởng, Hành, Thức làm thể, theo nghĩa chưa từng đoạn tuyệt mà gọi là Nhất vị uẩn. Nếu lấy Nhất vị uẩn này làm căn bản mà dẫn khởi năm uẩn có gián đoạn (tức là năm uẩn thông thường) thì gọi là Căn biên uẩn. [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí mục luận Q.5].
căn bại
Sự hư hoại của ngũ căn (là không thể tránh được vì chúng chỉ là sự kết hợp của tứ đại)—The decay of the powers, or senses.
; (根敗) I. Căn bại. Nghĩa là năm căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đã hư hoại, không còn dùng được nữa. [X. kinh Duy ma phẩm Phật đạo; Duy ma kinh sớ (Tuệ viễn)]. II. Căn bại. Gọi tắt của Căn bại nhị thừa. Chỉ cho hàng Thanh văn, Duyên giác chuyên lo lợi mình độ mình, không có tâm cầu thành Phật, đến nỗi làm bại hoại cái mầm mống của Phật đạo. (xt. Căn Bại Hoại Chủng).
căn bại hoại chủng
(根敗壞種) Cũng gọi Căn bại nhị thừa, Bại chủng nhị thừa, Bại căn, Bại chủng. Hoặc gọi là Tiêu nha bại chủng. Là danh xưng có tính chê trách mà Đại thừa dành cho hàng Thanh văn, Duyên giác, ví Thanh văn, Duyên giác không có tâm mong cầu thành Phật, là hạt giống tiêu mất sự chứng ngộ quả Phật, nên gọi là Căn bại hoại chủng (căn hư, hạt giống nát). Hàng Nhị thừa rơi vào lí không, chỉ lo độ lấy mình, không thiết tha với việc cứu giúp người khác, cuối cùng đi đến tịch diệt, làm cho hạt giống quả Phật hư nát. Từ ngữ Căn bại hoại chủng được thấy trong phẩm Bất tư nghị và phẩm Phật đạo của kinh Duy ma, là lời ngụ ý chê trách hàng Tiểu thừa. [X. Kinh Thập trụ đoạn kết Q.2; luận Thập trụ tì bà sa Q.5 phẩm Dị hành].
Căn bản
根本; C: gēnběn; J: konpon; |1. Gốc, căn nguyên, căn bản (s: mūla); 2. Nguồn gốc sinh khởi mọi hiện tượng (s: vastu; t: gshi).
căn bản
Fundamental, basal, radical, original elemental.
; 1) Cơ bản: Basic—Fundamental—Radical—Basal—Elemental—Original. 2) Nguyên Thủy: Khi nói đến bài kinh, hay mulagrantha, thì căn bản có ý nói đến kinh chứa đựng những lời nói nguyên thủy của Đức Phật—When referring to a fundamental text, or mulagrantha, it indicates a sutra supposed to contain the original words of the Buddha.
căn bản a tỳ đạt ma luận
MŪlābhidharma śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
căn bản chánh hạnh luận
MŪlacara (S).
căn bản chính hành luận
(根本正行論) Phạm: Mùlàcàra, gồm 12 chương. Thánh điển xưa nhất của phái Không y thuộc Kì na giáo ở Ấn độ. Sách được hoàn thành khoảng sau thế kỉ I đến trước thế kỉ V tây lịch. Nhà chú thích Vasunandin (khoảng thế kỉ XII đến XIII) cho rằng tác giả sách này là Vaỉỉakera, và ông đặt các chương là: - Hai mươi tám thứ đạo đức căn bản (Phạm: Mùla-guịa), - Nói sơ qua về sự buông bỏ (Phạm: Saíksepa-pratyàkhyàna), - Chính hạnh xuất gia (Phạm: Samàcàra), - Năm thứ chính hạnh (Phạm: Paĩcàcàra), - Vật cho (thí vật) trong sạch (Phạm: Piịđa- zudhi), - Mười hai thứ suy nghĩ tìm hiểu (Phạm: Dvàdazànuprekwa), - Cốt tủy của giáo pháp (Phạm: Samayasàra), - Giới đức (Phạm: Zìla-guịa) v.v... Nhưng có học giả cho rằng: 1. Nội dung sách này nhiều chỗ lập đi lập lại, hơn nữa, có thu tập luận điểm của các tông phái khác, cho nên Vaỉỉakera chỉ là người biên soạn chứ không phải người sáng tác. 2. Còn có sách khác mang cùng tên và nội dung cũng tương tự được ấn hành dưới tên Kundakunda, cho nên Căn bản chính hành luận có lẽ đã do người đời sau sửa đổi lại Kundakunda mà thành.
căn bản chú
(根本咒) I. Căn bản chú. Cũng gọi Đà la ni. Chỉ chung các chân ngôn đà la ni rõ ràng và trọng yếu nhất trong công đức bản thệ nội chứng của chư Tôn trong Mật giáo. Chú này là chú cội gốc trong các chân ngôn, cho nên gọi là Căn bản chú. Loại đà la ni này rất nhiều, như Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni, Thánh như ý luân Quán tự tại bồ tát căn bản đà la ni, Di lặc bồ tát căn bản chú v.v... đều thuộc loại chú căn bản. II. Căn bản chú. Chỉ cho chú Đại bi của bồ tát Quan âm. Là bài chú gồm 84 câu nói trong kinh Đại bi tâm đà la ni, tụng trì đà la ni này có thể diệt trừ trọng tội và tà ác. Công năng bài chú này rất linh nghiệm cho nên được trì tụng khá rộng rãi. (xt. Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh, Đại Bi Chú).
căn bản công đức chánh hạnh
Xem Nhị thập bát chủng căn bản đạo đức.
căn bản giới
Xem Phẩm Ba la di.
căn bản hoặc
Xem Phiền não hoặc.
; Còn gọi là Căn Bản Phiền Não—Fundamental illusions—See Bổn Hoặc, Căn Bản Phiền Não, Nhị Hoặc and Tam Hoặc.
; (根本惑) Đồng nghĩa với Căn bản phiền não. Tức là chúng sinh có đủ sáu thứ phiền não căn bản là: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v... Trong đó, Ác kiến lại được chia làm năm thứ: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử (năm thứ phiền não sắc bén). Còn tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử (năm thứ phiền não cùn lụt). Sử là tên khác của phiền não, vì phiền não thường xui khiến chúng sinh trôi lăn trong biển sống chết nên gọi là Sử (sai khiến). [X. luận Đại tì bà sa Q.46, Q50; luận Tạp a tì đam tâm Q.4]. (xt. Căn Bản Phiền Não).
căn bản hội
See Thành Thân Hội and Yết Ma Hội.
; (根本會) Cũng gọi Thành thân hội, Yết ma hội. Chỉ cho hội Trung ương trong chín hội Mạn đồ la của Kim cương giới Mật giáo. Hội này là tổng thể căn bản của chín hội Đại mạn đồ la. [X. Bí tạng kí]. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).
căn bản hữu bộ
Xem Nhứt thiết hữu căn bổn bộ.
căn bản nghiệp đạo
(根本業道) Bất luận là nghiệp thiện hay nghiệp ác, mỗi nghiệp đều có thể chia làm ba phần: Gia hành, Căn bản, Hậu khởi. Mỗi khi làm một việc gì, cái phương tiện trước khi làm gọi là gia hành; cái khoảnh khắc việc ấy được hoàn thành thì biểu nghiệp và vô biểu nghiệp của nó được gọi là Căn bản đạo nghiệp; sau đó lại làm nữa thì gọi là Hậu khởi. Ví dụ việc sát sinh, trong giây phút đang giết, thì vô biểu nghiệp của hành động giết hại và lí do của việc giết hại phát ra ở trong mình, gọi là Căn bản nghiệp đạo. (xt. Nghiệp Đạo).
căn bản nhất thiết hữu bộ tỳ nại đa
MŪlastivadin-vinaya (S)Tên một bộ kinh. Gồm 50 quyển.
căn bản nhất thiết hữu bộ tỳ nại đa tạp sự
MŪlastivadin-vinaya-ksudrakavastu (S)Tên một bộ kinh. Có 40 quyển.
Căn bản phiền não
根本煩惱; C: gēnběn fánnăo; J: konpon bonnō; |Sáu thứ phiền não chính, từ đó mà các tuỳ phiền não (隨煩惱) phát sinh: tham (貪, còn gọi là ái 愛), sân (瞋), si (癡, hoặc vô minh 無明), mạn (慢), nghi (疑), và (tà) kiến (見). Còn gọi là Lục phiền não (六煩惱).|Mười thứ phiền não chính được giải trừ khi tu tập đạt đến giai vị Kiến đạo. Năm thứ phiền não đầu, là đặc điểm mà hành giả có công phu tu tập đạt đến năng lực nhận thức cao thường gặp, đó là: thân kiến (身見), biên kiến (邊見), tà kiến (邪見), kiến thủ kiến (見取見), và giới cấm thủ kiến (戒禁取見). Năm thứ phiền não kế là đặc điểm của những hành giả chưa phát huy được công phu tinh nhạy, đó là: dục, sân, si, mạn, nghi. Đồng nghĩa với Thập sử (十使), Thập hoặc (十惑).
căn bản phiền não
Xem Căn bản vô minhXem Phiền não hoặc.
; The fundamental illusions, passions, or afflictions -desire, hate, delusion, pride, doubt, bad views (or false opinions).
; Còn gọi là Bổn Hoặc, hay Bổn Phiền Não—Fundamental illusions, passions, or afflictions, including: (A) Ngũ Độn Sử: The five envoys of stupidity caused by illusion of the body or self—See Ngũ Độn Sử. (B) Ngũ Lợi Sử: The five higher wholesome deeds—See Ngũ Lợi Sử (B). ** See Bổn Hoặc, Nhị Hoặc and Tam Hoặc.
; (根本煩惱) Phạm: Mùla-kleza. Cũng gọi Bản hoặc, Căn bản hoặc. Gọi tắt là Phiền não. Đối lại với Tùy phiền não. Có sáu thứ phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, kiến và nghi. Trong đó, kiến lại được chia làm năm thứ gọi là Ngũ lợi sử; năm thứ còn lại gọi là Ngũ độn sử. Hợp chung lại là 10 Tùy miên. Ngoài ra, cũng có khi chia làm 88 sử hoặc 98 sử. Trái lại, chi mạt phiền não (phiền não ngành ngọn) phụ thuộc Căn bản phiền não, có đủ tác dụng của tâm ô nhiễm (Tâm sở ô nhiễm), cũng gọi là Tùy phiền não, Tùy hoặc. Tông Câu xá cho rằng Chi mạt phiền não có 19 thứ là: Phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử (trừ nghi ra) trong Đại phiền não địa pháp; vô tàm, vô quí trong Đại bất thiện địa pháp; phẫn, phú, xan, tật; não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu trong Tiểu phiền não địa pháp và thụy miên, ác tác trong Bất định địa pháp. Tông Duy thức thì loại bỏ thụy miên, ác tác trong Bất định địa pháp rồi thêm thất niệm, tán loạn, bất chính tri trong Đại phiền não địa pháp mà thành 20 thứ gọi là Nhị thập tùy phiền não. Lại nữa, Đại phiền não địa pháp cũng gọi là Đại tùy phiền não (Đại tùy hoặc), Tiểu phiền não địa pháp gọi là Tiểu tùy phiền não (Tiểu tùy hoặc). [X. luận Câu xá Q.19, Q.20; luận Thành duy thức Q.6; luận Du già sư địa Q.66]. (xt. Kiến Hoặc, Phiền Não).
Căn bản phiền não 根本煩惱
[ja] コンポンボンノウ konpon bonnō ||| (1) The six primary afflictions, from which all of the secondary afflictions 隨煩惱 are derived: desire (greed, craving) 貪 (also written 愛), enmity 瞋, ignorance 癡 (or 無明), pride 慢, doubt 疑and false views 見. Also known as the six afflictions 六煩惱. (2) The ten basic afflictions, which are removed in the Path of Seeing. The first five, which are characteristic of those of well-developed religious awareness are: view of self 身見, extreme view 邊見, evil view 邪見, view of attachment to views 見取見, and view of attachment to the precepts 戒禁取見. The second five, which are characteristic of those of undeveloped religious sensitivity are: desire 欲, hatred 瞋, ignorance 癡, pride 慢, and doubt 疑. Same as 十使 and 十惑 => Sáu thứ phiền não chính, từ đó mà các tuỳ phiền não phát sinh: tham (còn gọi là ái), sân, si (vô minh), mạn, nghi, và tà kiến. Còn gọi là Lục phiền não六煩惱. Mười thứ phiền não chính, được giải trừ khi tu tập đạt đến giai vị Kiến đạo. Năm thứ phiền não đầu, là đặc điểm mà hành giả có công phu tu tập đạt đến năng lực nhận thức cao thường gặp, đó là: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến. Năm thứ phiền não kế là đặc điểm của những hành giả chưa phát huy được công phu tinh nhạy, đó là: dục, sân, si, mạn, nghi. Đồng nghĩa với Thập sử十使, thập hoặc 十惑.
căn bản pháp luân
(根本法輪) Một trong ba Pháp luân do ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận lập ra. Chỉ cho giáo pháp của kinh Hoa nghiêm. Nghĩa là khi đức Phật mới thành đạo, Ngài nói kinh Hoa nghiêm, lúc đó, đức Phật chỉ nói pháp môn một nhân một quả cho hàng Bồ tát nghe, đây là giáo pháp căn bản. Nhưng, những người độn căn ít phúc không thể hiểu được pháp môn căn bản này,nên đức Phật phải tùy theo căn cơ mà hoá độ, Ngài mới diễn nói giáo pháp năm thời khiến mọi người đều có thể lãnh hội, ngộ nhập. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng].
căn bản phật giáo
(根本佛教) Nói theo nghĩa rộng thì Căn bản Phật giáo đồng nghĩa với Nguyên thủy Phật giáo; còn nói theo nghĩa hẹp thì Căn bản Phật giáo là chỉ cho nền Phật giáo lúc đức Phật còn tại thế, và cũng chỉ cho nội dung của sự giác ngộ và giáo pháp do đức Phật nói. Từ xưa, trong Phật giáo đã có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau, mục đích tu hành của Tiểu thừa chỉ giới hạn trong hàng Thanh văn, Duyên giác là giáo pháp phương tiện quyền biến, là cửa đầu tiên đưa vào Phật giáo. Thời gần đây, theo sự nghiên cứu về giáo pháp và lịch sử giáo lí mà danh xưng đã được thay đổi: không dùng danh từ Phật giáo Tiểu thừa, mà gọi Phật giáo ở thời kì đầulà Phật giáo căn bản, hoặc là Phật giáo nguyên thủy. Giáo nghĩa ở thời kì này là do đức Thích tôn trực tiếp nói ra, rồi về sau, Đại thừa đem phu diễn giáo nghĩa ấy rộng ra mà thành là Phật giáo Đại thừa. Hiện nay, các nước Sri Lanka (xưa gọi là Tích lan), Miến điện, Thái lan v.v... thuộc Phật giáo nguyên thủy; còn Nepal, Tây tạng, Mông cổ, Trung quốc, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản... thuộc Đại thừa, hoặc tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. (xt. Nguyên Thủy Phật Giáo).
căn bản thiền
The stages of dhyana in the formless or immaterial realm.
; See Căn Bản Định.
căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ
Mùla sarvàstivàda (S)
; (根本說一切有部) Phạm: Mùla-stivàdin. Cũng gọi Thuyết nhất thiết hữu bộ. Một trong 20 bộ của Tiểu thừa. Bộ này vốn từ Thượng tọa bộ chia ra vào khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt. Về sau, từ bộ này lại chia ra nhiều bộ nữa như Độc tử bộ v.v.., vì thế bộ này được gọi là Căn bản (bộ gốc). (xt. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ).
căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni giới kinh
(根本說一切有部苾芻尼戒經) Có 1 quyển. Gọi tắt: Tỉ khưu ni giới bản, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 24. Kinh này là Tỉ khưu ni giới bản thuộc Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ, thể tài của kinh này cũng giống như thể tài Tỉ khưu giới bản, gồm có 358 giới điều. Giới điều tỉ khưu ni trong Luật Tây tạng rất giống với Luật của bộ này, nhưng tổng số giới điều của Tì khưu ni giới trong Luật Tây tạng gồm 371 điều, nhiều hơn giới tỉ khưu ni của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ 13 điều (371 - 358 = 13), là vì pháp Chúng học của giới tỉ khưu ni trong Luật Tây tạng có 112 điều. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13]
căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ ni đà na mục đác ca
Nidāna-mātṛkā (S)Nhân duyên bản sự; Ni đà na mục đắc ca; Hữu bộ Ni đá na.
căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da
Mùlasarvàstivadavinaya (S).
; (根本說一切有部毗奈耶) Phạm: Mùla-sarvàstivàda-vinaya, gồm 50 quyển, thuộc Luật bộ của Tiểu thừa, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Trường an thứ 3 (703) thời Vũ hậu nhà Đường, thu vào Đại chính tạng tập 23. Đây là sách qui định về giới luật do (căn bản) Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc hệ thống Thượng tọa bộ của Phật giáo Tiểu thừa chỉnh lí và biên soạn vào thời kì đầu năm 300 sau đức Phật nhập diệt. Nội dung chia làm 8 khoa: 1. Ba la di pháp 4 giới. 2. Tăng già phạt thi sa pháp 13 giới. 3. Bất định pháp 2 giới. 4. Nê tát kì ba dật để ca pháp 30 giới. 5. Ba dật để ca pháp 90 giới. 6. Ba la để đề xá ni pháp 4 giới. 7. Chúng đa học pháp. 8. Diệt tránh pháp 7 giới. Hầu hết đều chép đủ các nguyên nhân chế định các giới điều. Trong các bộ Luật Hán dịch, luật này và luật Thập tụng gần như giống nhau. Giới bản của các luật này là Giới kinh của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ, 1 quyển (thu vào Đại chính tạng tập 24). Ngoài ra, rất nhiều bộ luật văn khác có liên quan đến luật bản của Thuyết nhất thiết hữu bộ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.13; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23; Q.30].
căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự
(根本說一切有部毗奈耶雜事) Phạm: Mùla-sarvàstivàda-vinayakwudraka-vastu. Gồm 40 quyển. Kinh điển thuộc Luật bộ Tiểu thừa, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung ghi chép những nguyên nhân chế định giới luật và sự tích của đức Phật và các đệ tử do Thuyết nhất thiết hữu bộ biên tập. Ngoài ra, ngài Nghĩa tịnh còn dịch Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ lược tì nại da tạp sự nhiếp tụng 1 quyển, là bản tóm lược phần Nhiếp tụng của sách này.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.13; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23].
căn bản thuyết nhứt thiết hữu bộ
See Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ in Vietnamese-English Section.
căn bản thành tựu luận
(根本成就論) Phạm: Mùlàràdhanà, do Tây ngõa á (Phạm: Zivàrya) thuộc phái Không y (không mặc quần áo) của Kì na giáo Ấn độ soạn, gồm 2170 bài kệ. Từ ngữàràdhanà là dụng ngữ chuyên môn của Kì na giáo, bảo rằng đến lúc chết người ta mới có thể thực hành được giáo lí của Kì na giáo một cách trọn vẹn. Sách này được hoàn thành vào thời mà thuyết chủ trương Nhịn ăn cho đến chết để đạt đến thành tựu đang thịnh hành, cho nên cường điệu sự nhịn ăn đến chết là con đường đi chung (àràdhanà). Nội dung bàn về 17 cách chết, có thể chia làm năm hạng mục: 1. Cái chết của kẻ chí ngu: Phản đạo mà chết. 2. Cái chết của kẻ ngu: Tuy có chính tín nhưng chưa xa lìa 5 điều ác; 3. Cái chết của người ngu mà hiền: Đã có chính tín và lại xa lìa được một nửa của 5 điều ác. 4. Cái chết của người hiền. 5. Cái chết của người rất hiền: Người có trí tuệ hoàn toàn đã dứt trừ hết các phiền não.
Căn bản thức
根本識; C: gēnběnshì; J: konponshiki; S: mūla-vijñāna; T: rtsa baḥi rnam.|Được Đại chúng bộ (大衆部, s: mahā-sāṃghika) thừa nhận, được hiểu đó là thức nối kết với sinh tử luân hồi. Khái niệm nầy là một tiên phong cho ý tưởng về một thức gom chứa được Du-già hành tông đề xướng. Đồng nghĩa với A-lại-da thức trong Du-già hành tông.
căn bản thức
MŪlavijāna (S)Bản thứcNguồn gốc các thức.
; The root consciousness.
; Căn Bản Thức là tên khác của A Lại Da Thức (gốc của tất cả các pháp)—Basic or Fundamental consciousness or vijnana, another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
; (根本識) Phạm: Mùla-vijĩàna. Gọi tắt: Bản thức, Căn thức. Cứ theo thuyết của Đại chúng bộ thì thức căn bản là cái gốc chung của tất cả các thức như: thức mắt, thức tai, thức mũi v.v... Căn cứ vào đó, tông Duy thức cho rằng Đại chúng bộ đã ám thị sự tồn tại của thức A lại da, bởi thế nói Căn bản thức là tên khác của thức A lại da. Vì vậy, tông Duy thức đã khẳng định thức A lai da là thức căn bản, còn bảy thức trước là do thức căn bản này biến hiện ra, cho nên đều gọi là Chuyển thức. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng; luận Du già sư địa Q.51].
Căn bản thức 根本識
[ja] コンポンシキ konponshiki ||| The source consciousness, or root consciousness (Skt. mūla-vijñāna; Tib. rtsa baḥi rnam), posited by the Mahāsāṃghika school 大衆部, understood as the consciousness that links rebirths. This concept is a forerunner of the idea of container consciousness 阿頼耶識 that developed in the Yogācāra school. It is also used in Yogācāra synonymously with ālayavijñāna. => (s: mūla-vijñāna; t: rtsa baḥi rnam). Do Đại chúng bộ thừa nhận, được hiểu đó là thức dẫn đến sự luân hồi sinh tử. Khái niệm nầy là một tiên phong cho ý tưởng về thức chứa nhóm (tàng thức) do Du-già hành tông đề xướng. Đồng nghĩa với với A-lại-da thức trong Du-già hành tông.
căn bản trung quán luận thích vô úy chú
MŪlamādhyamikavṭtti-akutobhayā (S)Vô úy chú.
căn bản trung quán luận tụng
MŪlamādhya-maka-kārikā (S)Trung quán luận tụng, Trung quán luậnTên một bộ luận kinh.
Căn bản trí
根本智; C: gēnběnzhì; J: konponchi;|Trí huệ bản hữu mà người ta dùng để thể nhập chân tính thực tại – chân đế, chân lí tối thượng (s: jñāna-sattva). Sau đó, chư Bồ Tát phát khởi Hậu đắc trí (後得智) để cứu độ chúng sinh.
căn bản trí
MŪlajāna (S)Chân trí, Căn bản vô phân biệt trí, Thật trí.
; Fundamental, original, or primal wisdom, source of all truth and virtue; knowledge of fundamental principles; intuitive knowledge or wisdom, in contrast with acquired wisdom.
; Còn gọi là Chân Trí, Chánh Trí, Như Lý Trí, Vô Phân Biệt Trí, nghĩa là hiểu biết rõ chân lý mà không có sự phân biệt năng duyên hay sở duyên, đây là trí sanh ra nhất thiết chân lý và công đức, đối lại với “hậu đắc trí”—Fundamental, origina, or primal wisdom, source of all truth and virtue; knowledge of fundamental principles; intuitive knowledge or wisdom, in contrast with acquired wisdom—See Hậu Đắc Trí.
; (根本智) Phạm: Mulajĩàna. Cũng gọi Căn bản vô phân biệt trí, Như lí trí, Thực trí, Chân trí. Đây là gốc của các trí, vì trí này có thể khế hợp lí chân như mầu nhiệm, bình đẳng như thực, không có sai khác, cho nên cũng gọi là Vô phân biệt trí. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 8 gọi trí này là Tuệ chính chứng, vì nó xa lìa mọi hoạt động tìm hiểu, khảo xét, cũng không có tác dụng phân biệt, cứ tự nhiên chiếu rọi pháp thể, khế hợp chân lí, cho nên gọi là Trí tuệ chính chứng. Lại vì trí này là chính thể của trí, chứ không phải hóa dụng, cho nên cũng gọi là Chính thể trí, là Bát nhã ba la mật trong 10 ba la mật. [X. luận Du già sư địa Q.55; luận Thành duy thức Q.9].
Căn bản trí 根本智
[ja] コンポンチ konponchi ||| The innately possessed wisdom that one uses to penetrate to the true nature of reality--to the ultimate truth (jñāna-sattva). After this, bodhisattvas give rise to subsequent wisdom 後得智, which they use to save other sentient beings. => Trí huệ bản hữu mà người ta dùng để thể nhập chân tính thực tại—chân đế, chân lý tối thượng (s: jñāna-sattva). Sau đó, chư Bồ-tát phát khởi Hậu đắc trí để cứu độ chúng sinh.
căn bản tâm
Tâm căn bản—Root or fundamental mind.
; (根本心) Một trong ba tâm nói trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2. Là tâm phiền não của phàm phu còn nguyên vẹn, người có tâm này thì không chứng được pháp thân. Tông kính lục quyển 89 phối hợp tâm căn bản với thức thứ tám. Thức thứ tám là nguồn gốc sinh khởi muôn pháp, vì thế gọi là tâm căn bản. (xt. Tam Tâm).
Căn bản vô minh
根本無明; C: gēnběn wúmíng; J: konpon mumyō; |Cội gốc vô minh, hay vô minh vốn có. Vô thuỷ vô minh (無始無明).
căn bản vô minh
MŪlavidyā (S), Basic ignorance Căn bản phiền não, Vô thủy vô minh, Nguyên phẩm vô minh.
; Primal ignorance, the condition before discernment and differentiation.
; Còn gọi là Vô Thủy Vô Minh, hay cái vô minh từ trước khi nảy ra ý nghĩ biện biệt, đối lại với Mạt chi Vô minh (căn bản vô minh dựa vào tại triền chân như mà tạo ra duyên khởi, rồi từ đó mạt chi vô minh lại tựa vào căn bản vô minh mà các pháp tiếp tục nổi dậy)—The radical, primal, or fundamental ignorance, the condition before discernment and differentiation, in contrast with ignorance in detail (chi mạt vô minh)—Original darkness or ignorance.
; (根本無明) Phạm: Mùlavidyà. Cũng gọi Căn bản bất giác, Vô thủy vô minh, Nguyên phẩm vô minh. Đối lại với Chi mạt vô minh (vô minh ngành ngọn). Tức là cái tâm mê vọng bất giác, nguồn gốc của mọi phiền não. Một niệm đầu tiên khởi động trong biển chân như chính là phiền não căn bản này. Kinh Thắng man chương Nhất thừa (Đại 12, 220 thượng) nói: Bạch Thế tôn! Vô thủy vô minh trụ địa lớn nhất, mạnh nhất. Bạch Thế tôn! Dù sức của bốn trụ địa có mạnh bao nhiêu đi nữa, cũng không thể sánh được với sức mạnh của Vô minh trụ địa. Bạch Thế tôn! Sức của Vô minh trụ địa lớn hơn, mạnh hơn so với sức của bốn trụ địa, cũng ví như ác ma Ba tuần có sắc lực, thọ mệnh, quyến thuộc và sức tự tại còn thù thắng hơn cả của trời Tha hóa tự tại! Như vậy, sức của Vô minh trụ địa là mạnh nhất, là tối thắng, là chỗ nương của hằng hà sa số phiền não. Trí của A la hán, của Bích chi phật không thể dứt trừ được, chỉ có trí giác ngộ của Như Lai mới đoạn diệt được. [X. Kinh Anh lạc bản nghiệp Q.hạ phẩm Đại chúng thụ học; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần cuối]. (xt. Vô Minh).
Căn bản vô minh 根本無明
[ja] コンポンムミョウ konpon mumyō ||| Original ignorance, or innate ignorance. See "beginningless ignorance" 無始無明. 〔二障義 HPC 1.790a7〕 => Cội gốc vô minh, hay vô minh vốn có. Xem Vô thuỷ vô minh無始無明.
căn bản vô phân biệt trí
Xem Căn bản trí.
căn bản đà la ni
(根本陀羅尼) I. Căn bản đà la ni. Cũng gọi Căn bản chú, Căn bản chân ngôn. (xt. Căn Bản Chú). II. Căn bản đà la ni. Gọi đủ: Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni. Cũng gọi A di đà đại la ni, Thập cam lộ chân ngôn. Là bài chú gồm 10 câu nói trong Vô lượng thọ kinh giáo hành nghi quĩ. Người trì tụng chân ngôn này có thể tiêu trừ bốn tội nặng, năm tội vô gián và tất cả nghiệp chướng, đến lúc lâm chung được đức Phật A di đà và các thánh chúng tới đón về cõi Tịnh độ cực lạc. Vì đà la ni này có khả năng diệt trừ các nghiệp chướng căn bản và được vãng sinh, cho nên gọi là Căn bản đà la ni.
căn bản đại tháp
(根本大塔) Một trong những kiến trúc quan trọng trên núi Cao dã bên Nhật bản. Kiểu kiến trúc được phỏng theo tòa tháp sắt ở nam Ấn độ. Tháp có hai tầng: tầng dưới phía ngoài hình vuông, phía trong hình tám góc, tầng trên hình tròn, trên dưới liên tiếp như hình những chiếc bánh bao chồng xếp lên nhau, trên nóc là hình vuông.
căn bản đẳng trí
See Căn Bản Định.
căn bản định
Dhyāna-mŪla (S)Căn bản thiềnĐịnh của cõi sắc và vô sắc.
; Còn gọi là Căn Bản Đẳng Trí hay Căn Bản Thiền, nghĩa là giới định đoạn lìa phiền não trong cõi thiền vô sắc—The stages of dhyana in the formless or immaterial realm.
; (根本定) Phạm: Dhyàna-maula. Cũng gọi Căn bản thiền, Căn bản đẳng chí, Bát định căn bản, Bát căn bản định. Gọi tắt: Căn bản. Bốn Tĩnh lự (bốn thiền) và bốn định cõi Vô sắc mỗi định đều có Căn bản định và Cận phần định. Khi thân vẫn còn ở cõi Dục, chưa sinh lên cõi Sắc hay cõi Vô sắc, nhưng nhờ tu hành đã hoàn toàn đoạn trừ các Tu hoặc ở cõi dưới mà được định ở cõi trên, thì gọi là Căn bản định. Tuy nhiên, muốn dứt hết các Tu hoặc để được định này không phải là dễ, nên trước hết phải chuẩn bị hành vi (gia hành), nghĩa là tuy chưa dứt hết được Tu hoặc nhưng nhờ áp phục chúng mà được định, tức là giai đoạn tẩy trừ sạch Tu hoặc để đạt đến định Căn bản. Giai đoạn này gọi là Cận phần định (định gần đến định căn bản). Nó là cửa tiến vào định Căn bản. Đây cũng có tám thứ, trong đó, cận phần của Sơ thiền đặc biệt được gọi là Vị chí định (Định chưa đến định Căn bản).[X. luận Đại tì bà sa Q.80; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; Câu xá luận quang kí Q.28]. (xt.Cửu Địa).
căn bản ấn
(根本印) Các vị tôn Mật giáo đều có Ấn và Minh (chân ngôn, thần chú) căn bản của các ngài và lấy đó làm tiêu biểu cho bản thệ nội chứng của các Ngài. Ấn là ấn khế; Minh là đà la ni (chú). Ấn, Minh của chư tôn thông thường có ba loại: Căn bản ấn, Tâm bí mật ấn và Tùy tâm ấn. Và đà la ni tương đương với ba ấn trên là: Căn bản đà la ni (Đại tâm chú), Tâm chân ngôn và Tâm trung tâm chân ngôn (Tùy tâm chú). Chẳng hạn, Như ý luân căn bản ấn chân ngôn trong nghi quĩ Như ý luân, Thập nhất diện quán tự tại căn bản ấn chân ngôn trong nghi quĩ Thập nhất diện v.v... đều thuộc loại này. [X. Bí tạng kí tư sao Q.6].
Căn bản 根本
[ja] コンホン konpon ||| (1) Root, origin, basis. (mūla) (2) The source of the arising of something. (Skt. vastu; Tib. gshi) => Gốc, căn nguyên, căn bản (mūla). Nguồn gốc sinh khởi mọi hiện tượng (s: vastu; t: gshi).
căn bịnh chung của người tu
Common disease of practitioners.
Căn cơ
根機; C: gēnjī; J: konki; |Năng lực tu tập căn bản của mình. Năng lực tâm linh (s: indriya). Đồng nghĩa với Cơ căn (機根).
căn cơ
Motive power, fundamental ability, opportunity.
; Motive power, fundamenal ability, opportunity.
; (根機) Căn là rễ cây ví dụ cho tính người, chỗ phát động của căn gọi là cơ (then máy). Sự tu hành tiến hay lui, giáo pháp thịnh hay suy đều tùy thuộc vào căn cơ mà được quyết định. (xt. Cơ).
căn cơ thấp
Low (dull) capacity.
căn cơ tiền
(根基錢) Cũng gọi Chủng phúc tiền, Hương hỏa tiền, Đại lễ tiền, Tiểu lễ tiền. Một bộ phận tông giáo ở thời Minh, Thanh bên Trung Quốc gọi tiền tín đồ dâng cúng là tiền gieo trồng phúc đức. Trồng phúc đức để chờ thời đại Phật Di lặc ra đời, lúc ấy sẽ được bồi thường gấp 10.
căn cơ trung hạ
Form moderate to low capacities.
Căn cơ 根機
[ja] コンキ konki ||| One's basic religious capacity; one's spiritual ability (indriya). Same as 機根 => Năng lực tu tập căn bản của mình. Năng lực tâm linh (s: indriya). Đồng nghĩa với Cơ căn 機根.
căn cảnh
The field of any organ, its field of operation.
; Còn gọi là Căn Trần, tứ là phạm vi hoạt động của căn, hay cảnh mà sắc tướng dựa vào để thu lấy (một khi căn trần đối nhau thì tâm lập tức khởi lên)—The field of any organ, its field of operation.
căn cảnh thức
(根境識) Cũng gọi là Căn trần thức. Căn là cái có tác dụng phát sinh ra thức để nhận biết cảnh; Cảnh là cái được duyên theo; Thức là cái hay duyên theo. Năm căn, năm cảnh, năm thức, gọi là 15 giới trước; còn sáu căn, sáu cảnh, sáu thức thì gọi là 18 giới. Ví dụ như thức mắt lấy căn mắt làm chỗ nương; lấy cảnh sắc làm chỗ duyên theo. Cũng như thức ý lấy căn ý làm chỗ nương, lấy cảnh pháp làm chỗ duyên theo. [X. Luận Câu xá Q.1, Q.10; luận Thành duy thức Q.3].
căn cứ vào
To base on.
căn duyên
Faculty condition.
; Nature and environment; natural powers and conditioning environment.
; Căn tính của con người và nhân duyên của hoàn cảnh nương tựa vào nhau, hay sự nương tựa giữa lục căn và lục trần, mà sự tác động lớn là ở lục căn—Cause, nature and environment; natural powers and conditioning environment—See Trần Duyên.
căn hương
Putchuk (skt)—See Mộc Hương.
căn khuyết
Defective in any organ of sense, e.g. blind or deaf.
; Một trong ngũ căn bị khiếm khuyết, như mù hay điếc—Defective in any organ of sense, e.g. blind or deaf.
; (根缺) Thiếu căn. Nghĩa là năm căn không đầy đủ, hoặc thiếu một, thiếu hai hay thiếu ba. Như loại điếc, mù, câm, ngọng.
căn khí
Natural capacity, capacity of any organ, or being.
; Khả năng tự nhiên của căn, hay của chúng sanh (thiên tư của chúng sanh có thể đảm nhận Phật pháp)—Natural capacity, capacity of any organ, or being.
; (根器) Căn là rễ cây, rễ cây có khả năng sinh ra thân cây, cành lá và hoa quả; khí là đồ dùng, đồ dùng có thể chứa vật. Nhưng chỗ sinh chỗ chứa có lớn nhỏ, nhiều ít khác nhau. Năng lực của người tu đạo cũng có cao có thấp, cho nên dùng căn khí để ví dụ.Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 671 trung) nói: Xem chúng sinh, phải lượng định căn khí của họ rồi sau mới độ cho.
căn kiến gia
(根見家) Cũng gọi Nhãn kiến gia, đối lại với Thức kiến gia. Tức là người chủ trương thuyết căn mắt có thể thấy cảnh sắc. Tương đương với Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa. Người xưa nói: Khi năm thức nương năm căn, mỗi thức duyên theo cảnh của nó thì thức mắt có thể thấy sắc, cho đến thức thân có thể chạm biết, hoặc căn mắt có thể thấy sắc, cho đến căn thân có thể chạm biết. Tất cả có bốn chủ trương: Căn thấy, Thức thấy, Tuệ thấy (căn thức tương ứng) và Căn thức hòa hợp thấy. [X. luận Đại tì bà sa Q.142; luận Câu xá Q.2; luận Du già sư địa Q.57].
căn lợi
Of penetrative powers, intelligent.
; Căn tính thông minh lanh lợi, đối lại với căn độn—Of penetrative powers, intelligent, in contrast with dull powers.
căn lợi hữu già vô già
(根利有遮無遮) Căn sắc bén có ngăn che không ngăn che. Căn tính bén nhạy mà không bị phiền não khuất lấp, cho nên có thể thành tựu đạo nghiệp, như ngài Xá lợi phất. Trái lại, căn tính sắc sảo, nhưng bị phiền não ràng buộc thì không thể thoát li, như vua A xà thế. [X. Ma ha chỉ quán Q.2 phần dưới].
căn lực
1) Căn và lực: Organs and their powers. 2) Ngũ Căn và Ngũ Lực: The five organs of sense and their five powers—See Ngũ Căn, and Ngũ Lực.
; (根力) Căn, chỉ cho năm căn: Căn tín, căn tinh tiến, căn niệm, căn định và căn tuệ. Lực, chỉ cho năm lực: Tín lực, tinh tiến lực, niệm lực, định lực và tuệ lực. [X.kinh Pháp hoa phẩm Thí dụ]. (xt. Ngũ Lực, Ngũ Căn).
căn lực giác phần
(根力覺分) Cũng gọi Căn lực giác đạo. Căn, chỉ cho năm căn (tín, tinh tiến, niệm, định, tuệ); Lực, chỉ cho năm lực (tín, tinh tiến, niệm, định, tuệ). Giác, chỉ bảy giác chi (trạch pháp, tinh tiến, hỉ, khinh an, niệm, định, xả). Phần, chỉ cho tám chính đạo (chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định). (xt. Thất Giác Chi, Bát Chính Đạo, Ngũ Lực, Ngũ Căn).
Căn môn
根門; C: gēnmén; J: konmon; |Cửa của các giác quan, qua đó mà thoát ra tham dục và chấp trước.
căn môn
Sense-door.
; Lục căn chính là những cửa ngõ cho phiền não xâm nhập—The senses as doors through which illusion enters.
; (根門) Cửa căn. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gọi là sáu căn. Sáu căn là sáu cái cửa phóng ra các thứ phiền não và hút vào các thứ vọng trần, cho nên gọi là Căn môn. Kinh Tạp a hàm quyển 11 (Đại 2, 73 hạ), nói: Khéo đóng các căn môn, nhiếp tâm nơi chính niệm.
Căn môn 根門
[ja] コンモン konmon ||| The gates of the faculties; the doors to the senses, through which flows desire and attachment. 〔二障義 HPC 1.802c〕 => Cửa của các giác quan, qua đó thoát ra tham dục và chấp trước.
căn tan rã
Faculties are disintegrated.
căn thân cảnh
(根身境) Tức là thức A lại da thường lấy chủng tử, năm căn, khí thế giới làm cảnh để duyên theo. Căn thân cảnh là chỉ cho năm căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đây là Tướng phần của thức A lại da. (xt. A Lại Da Thức).
căn thượng hạ trí lực
Một trong Thập Đại Lực của Phật, biết được hết thảy tánh và nghiệp của chúng sanh—One of a Buddha's great ten powers, to know the capacities of all beings, their nature and karma—See Thập Lực (2).
; (根上下智力) Phạm: Indriya-paràpara-jĩàna-bala. Một trong 10 lực của đức Như lai. Cũng gọi Chư căn thắng liệt trí lực (sức trí biết rõ các căn hơn kém), Tri chúng sinh thượng hạ căn trí lực (sức trí biết rõ căn tính cao thấp của chúng sinh). Nghĩa là đức Như Lai có đủ trí lực của Phật, hiểu rõ căn cơ tính tình cao thấp khác nhau của tất cả chúng sinh, và chúng sinh được quả lớn nhỏ bất đồng v.v.. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.43; kinh Phật thập lực]. (xt. Thập Lực).
căn thức
(根識) Một trong 18 tên của thức A lại da. Vì thức A lại da là gốc của các thức nên gọi là Căn thức (thức gốc rễ). [X. Thành duy thức luận liễu ghĩa đăng Q.4 phần đầu]. (xt. A Lại Da Thức).
Căn trần
根塵; C: gēn chén; J: konjin; |Sáu cơ quan nhận thức và đối tượng của nó. Sáu đối tượng được xem là nguyên nhân khách quan của phiền não, vì thế nên được đề cập với tính chất tiêu cực là »bụi« hoặc »dơ«.
căn trần
The object or sensation of any organ of sense.
; The object or sensation of any organ of sense—See Căn Cảnh.
; (根塵) Còn gọi là Căn cảnh. Gọi gộp chung năm căn và năm trần hoặc sáu căn và sáu trần. Căn là chỗ sắc nương tựa, có khả năng thu lấy cảnh (đối tượng), tức là khí quan nhận thức đối tượng; cái mà căn thu nhận gọi là Trần (cũng gọi là Cảnh), tức là đối tượng được nhận thức. Năm căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, thêm ý vào nữa thì gọi là sáu căn. Năm trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, thêm pháp vào nữa thì gọi là sáu trần. Hai chữ căn, trần nói gộp lại, cũng như cùng một lúc nói chủ quan, khách quan, hàm ý nương nhau mà lại đối nhau. Luận Câu xá quyển 10 (Đại 29, 52 trung), nói: Không có căn cảnh thì không phát sinh thức, mà nếu không có thức, thì căn cảnh không có chỗ nương tựa. Ngoài ra, sáu căn, sáu cảnh hợp lại, gọi là mười hai xứ, mười hai nhập. (xt. Căn).
Căn trần 根塵
[ja] コンジン konjin ||| The (six) cognitive faculties and their objects. The six objects are considered to be the external cause of affliction, and are therefore referred to negatively as 'dust,' or 'dirt.' => Sáu cơ quan nhận thức và đối tượng của nó. Sáu đối tượng được xem là nguyên nhân khách quan của phiền não, do vậy nên được đề cập với tính chất tiêu cực là 'bụi' hoặc 'dơ'.
căn tánh
Xem Căn.
căn tánh, tính
Nature and character; the nature of the powers of any sense.
căn tính
Bản tính của năng lực của các giác quan—Natural disposition—Nature and character—The nature of the power of any sense.
; (根性) Căn nghĩa là hay sinh; tính người có khả năng sinh ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, cho nên gọi là Căn tính. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 4 (Đại 46, 203 hạ), nói: Hay sinh là căn, tập lâu thành tính. Cứ theo Pháp hoa kinh khoa chú, thì trong căn tính Tam thừa, lấy căn tính có khả năng dứt hết phiền não ra khỏi ba cõi làm căn tính bén nhạy.
căn tịnh
The purity of the six organs of sense.
; Sự thanh tịnh của lục căn—The purity of the six organs of sense.
căn yết la đồng tử
Kinkara (S)Kim Ca La đồng tử, Khẩn Yết La đồng tửTên một vị Bồ tát.
căn độn
Dull powers.
; Dull powers—See Căn Lợi.
Căn 根
[ja] コン kon ||| (indriya) 'Workings', 'mechanism', 'faculty', 'ability.' (1) The 根 of plants and trees implies their ability to grow and develop and in still life into their trunks and branches; it is in this sense regarded as "root." (2) The term also has the meaning of 'organ'--that which gives rise to perception. Therefore it is used as a name for the five sense organs (五根). These five organs are invisible and are created by transformation of the four elements (四大), and have the ability to see, hear, and so forth. Though they are invisible and pure, they do theoretically occupy space, and are therefore able to be classified as 'form' elements in the classification system of the Faxiang school. (3) Ability, capacity, nature, faculty, of which there are generally sharp, average and dull. The particular capabilities that a certain individual has for understanding a certain level of teaching and attaining enlightenment. See ji 機. (4) That which stimulates awakening in human beings, namely, the 'five roots' of faith, effort, mindfulness, concentration and wisdom. => (s: indriya) 1. Cách vận hành, cơ cấu, tính năng, năng lực. Căn gốc của thảo mộc và cây cối, hàm ý khả năng sinh trưởng từ trong dạng tĩnh để trở thành thân và nhánh; trong nghĩa nầy được gọi là 'rễ cây'. 2. Thuật ngữ con có nghĩa là 'cơ quan'–nơi phát sinh sự nhận biết. Do đó, nó được dùng như tên gọi năm giác quan (ngũ căn 五根). Năm giác quan nầy không thể nhìn thấy được và nó được tạo nên do sự chuyển hoá của tứ đại, và nó có năng lực thấy, nghe,.v.v... Dù chúng vô hình và thanh tịnh; về mặt lý thuyết, chúng có trong khắp mọi nơi, do vậy nên chúng được hệ thống giáo lý Pháp tướng tông xếp vào 'sắc'pháp. Khả năng, năng lực, bản tính, tính năng của người hoặc vật, thông thường là bén nhạy, bình thường, và chậm lụt. Năng lực đặc biệt mà một cá nhân có được để nhận thức về một tầng bực giáo lý nhất định và được chứng ngộ. Xem cơ 機. Những điều khuyến khích sự giác ngộ trong con người, gọi là Ngũ căn: tín, tấn, niệm, định, huệ.
Căn-đôn Châu-ba, 1. Ðạt-lại Lạt-ma
根敦珠巴; T: gendun drub [dGe-’dun grug]; S: saṅghasiddhi; 1391-15. 01. 1475; Giáo chủ của tông Cách-lỗ từ 1438-1475; thuỵ hiệu là Ðạt-lại Lạt-ma thứ I;|Ðại sư Tây Tạng, thuộc tông Cách-lỗ, một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang – »Người chiến thắng« – và sắc thuỵ là 1. Ðạt-lại Lạt-ma. Sư sáng lập rất nhiều ngôi chùa, trong số đó, chùa Ta-shi-lhun-pô (t: tashilhunpo) nổi danh hơn hết. Sư được xem là người đầu tiên trong dòng Cách-lỗ đề xướng việc duy trì chính pháp bằng một dòng tái sinh. Sau khi Sư qua đời, môn đệ bắt đầu tìm một hiện thân mới của Sư, đó cũng chính là sự bắt nguồn của dòng Ðạt-lại Lạt-ma, được truyền cho đến ngày nay. Hiện thân kế thừa Sư là Căn-đôn Gia-mục-thố (t: gendun gyatso), 2. Ðạt-lại Lạt-ma.|Sư sinh năm 1391, trong một gia đình du mục trong tỉnh Tsang. Cha mất khi Sư lên bảy và ngay sau đó, Sư được mẹ gửi đến một vị thầy danh tiếng bấy giờ là Drub-pa She-rab, vị Tổ thứ 14 của dòng Nar-thang. Nơi đây, Sư thụ giới Sa-di.|Năm lên 20, Sư thụ giới cụ túc và trong khoảng thời gian sau đó, Sư tham học dưới sự hướng dẫn của nhiều vị thầy, chuyên cần nghiên cứu kinh, luận của các vị Ðại luận sư Ấn Ðộ như Long Thụ, Vô Trước và A-đề-sa. Ngoài ra, Sư cũng tinh thông các ngành như thi pháp, từ điển học (e: lexicography), văn phạm… Học lực vĩ đại của Sư có thể giảng nghĩa phần nào việc nắm giữ chính quyền của các vị Ðạt-lại Lạt-ma sau này song song với việc duy trì Phật pháp. So với khả năng, tài sức của các vương triều trước đây thì quả nhiên là khả năng của các vị Ðạt-lại Lạt-ma vượt trội hơn nhiều.|Tông-khách-ba trực tiếp hướng dẫn Sư vào thuyết Trung quán qua Căn bản trung quán luận tụng (s: mūlamadhyamaka-śāstra-kārikā) của Long Thụ, Nhập trung luận (s: madhyamakāvatāta) của Nguyệt Xứng (s: candrakīrti). Ngoài ra, Sư cũng thông hiểu Nhân minh học (s: hetuvidyā), tự tay dịch và chú Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) của Pháp Xứng (s: dharmakīrti).|Sư sống rất đơn giản, rất khiêm tốn và thường tự nhắc nhở: »Chư Phật chẳng để tâm đến những việc như vinh nhục, khen chê (Bát phong)…; và vì thế, ta cũng chẳng nên lưu ý đến chúng.« Sư thường răn chúng đệ tử như sau: »Chớ nên tranh cãi với người khác và cũng đừng hài lòng với những lời nói suông, rỗng tuếch. Hãy thực nghiệm ý nghĩa của giáo pháp mà các ngươi đã học được vì chỉ như thế, các ngươi mới bước đi trên Phật đạo. Các vị Tổ thường dạy: giữ lòng từ bi đối với tất cả những loài Hữu tình, tôn trọng những người thực hành Phật pháp. Hãy chinh phục cái Ngã.«|Trước khi tịch, Sư căn dặn các vị đệ tử là không nên xây một bảo tháp xa hoa, chỉ đốt xác và lấy tro nắn thành 1000 tượng Phật Bất Ðộng. |Ngày 15. 01. 1475 (dương lịch), Sư viên tịch, thọ 83 tuổi. Tương truyền rằng, một sự yên lặng lạ lùng kéo dài 13 ngày sau khi Sư tịch, không một con chim nào hót, đất, nước tự nhiên nóng lên, cây cối rủ cành.
căng
Kiêu căng—To boast.
căng già
Sông Hằng Hà—The river Ganges—See Hằng Hà.
căng thẳng
Tension.
căng yết la
Kimkara (skt)—Kim Già La. 1) Người nô lệ: A slave. 2) Thị giả: A server—An attendant. 3) Sứ giả thứ bảy trong bát sứ giả của Bất Động Tôn Minh Vương: The seventh od the eight messengers of the Arya-Acalanatha.
căng yết la đồng tử
(矜羯羅童子) I. Căng yết la đồng tử. Căng yết la, Phạm: Kiịkara. Còn gọi là Căng yết lạc đồng tử, Kim ca la đồng tử. Hàm ý là thuận theo, thấp hèn, tôi tớ, cung kính. Cùng với Chế tra ca đồng tử cùng là người hầu hạ của Bất động minh vương, đứng hầu bên trái. Cũng là một trong năm sứ giả của Bất động minh vương, một trong tám đồng tử lớn. Vốn là họ hàng của thần Thấp bà trong thần thoại Ấn độ. Hình tượng là: tóc chấm vai, đội mũ hoa sen, da mầu trắng, chắp tay, trong tay cầm chiếc chày một chẽ, mặc cà sa đẹp đẽ. Ấn khế là ấn Liên hoa hợp chưởng (chắp tay như hoa sen búp). Chân ngôn là: Án (oô) đạt rô ma (dharma, pháp) căng yết la (Kiíkara) để sắt tra (tiwỉa, phát khởi) nhật la (jra). [X. Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; Để lí tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp]. II. Căng yết la đồng tử. Căng yết la, nghĩa là người phục vụ hầu hạ, nhưng không phải chỉ là sứ giả của Bất động tôn, mà chỉ chung sứ giả của các vị tôn khác. Hình tượng khác với hình tượng của đồng tử Căng yết la nói ở trên, mà là hình đồng tử Dạ xoa, mặt hằm hằm, mắt giận dữ, tóc đỏ vàng, dựng tủa lên như ngọn lửa, mặc áo xanh, cầm vòng giây. [X. kinh Bất không quyên sách đà la ni].
cũ kỹ
Out of date—Old.
cũ mèm
Very old.
cũng
Also—Too.
cũng thế
Likewise.
cơ
The spring, or motive principle, machine, contrivance, artifice, occasion, opportunity; basis, root or germ; natural bent, fundamental quality.
; Cơ Hội: Opportunity—Occasion; Đói: Hungry—Famine; Căn Cơ: Level; Cơ Bản: Principle—Basis—Root or germ—Fundamental; Cơ Giới: Máy móc—Machine. 1) Cơ Bản: Base—Foundation—Radical—Fundamental—Groundwork. 2) Cơ Bần: Poverty. 3) Cơ Bình: Phê bình hay kiểm duyệt—Censure—Criticize. 4) Cơ Cấu: Structure. 5) Cơ Cùng: Starvation and misery. 6) Cơ Cực: Ravenous. 7) Cơ Hàn: Hungry and cold. 8) Cơ Hồ: Very nearly—Almost. 9) Cơ Hội: Opportunity. 10) Cơ Hữu: Organic. 11) Cơ Khát: Hungry and thirsty. 12) Cơ Khổ: Hungry and unhappy. 13) Cơ Man: Innumerable—Numberless. 14) Cơ Mật: Important and secret. 15) Cơ Nghiệp: Fortune. 16) Cơ Quan Từ Thiện: Charitable establishment (organization).
; (機) Hàm ý là Căn cơ, Cơ duyên. Tức là cái khả năng tính khi gặp duyên thì phát động, cũng chính là năng lực vốn có để đảm nhận giáo pháp của đức Phật, hoặc là đối tượng mà đức Phật nói pháp cho nghe. Cơ với pháp hoặc với giáo gọi chung là Cơ pháp hoặc Cơ giáo. Đức Phật tùy theo cơ loại mà nói pháp, gọi là Đối cơ thuyết pháp - giáo pháp vừa hợp với căn cơ, gọi là Đậu cơ. Cơ trở thành cái duyên để nói pháp, gọi là Cơ duyên. Cơ cảm ứng giáo pháp, gọi là Cơ cảm - đức Phật ứng cơ, gọi là Phật ứng. Cơ cảm và Phật ứng hợp lại gọi là Cảm ứng, cơ và ứng hợp lại gọi là Cơ ứng. Đức Phật tùy thời ứng cơ, thích nghi giáo pháp mà làm lợi ích cho chúng sinh, gọi là Đương cơ ích vật, đây là ý trong năm thời giáo của Thiên thai - bốn thời trước Pháp hoa là thích nghi khiến cho căn cơ chúng sinh thành thục để nhận lãnh Viên giáo. Ngoài ra, dùng nước để thí dụ căn cơ của chúng sinh,gọi là Cơ thủy. Thiền tông cho Cơ là tác dụng của tâm người thầy, vì Cơ vốn dứt tuyệt đường nói năng suy nghĩ. Tác dụng tâm của thầy có ảnh hưởng đến người học, cho nên người học phải tương ứng với tâm của thầy mà tiếp nhận sự chỉ dạy, đó gọi là Đầu cơ. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên, chia Cơ làm ba thứ: - Vi (chút ít), nhờ sự giáo hóa của đức Phật mà trong lòng phát động được chút ít thiện. - Quan (liên quan), đức Phật tùy ứng với năng lực vốn có của chúng sinh mà đặt ra giáo pháp, tức là sự tùy ứng của Phật và cơ của chúng sinh có liên quan với nhau. - Nghi (thích đáng), Cơ của chúng sinh kết hợp với sự giáo hóa của Phật. Cơ phải đủ loại căn tính nào đó (tính chất căn bản, tư chất), cho nên gọi là Cơ căn hoặc Căn cơ.Cơ có thể theo nhiều lập trường khác nhau mà chia loại, như: 1. Người muốn tu pháp thiện, gọi là Thiện cơ - người thích làm pháp ác gọi là Ác cơ. 2. Căn cứ vào sự cao thấp, bén lụt của năng lực vốn có mà chia làm ba cơ: thượng, trung, hạ - mỗi cơ lại có thể chia làm ba: thượng, trung, hạ nữa, gọi là Chín phẩm cơ. 3. Người tin theo Phật giáo Đại thừa, gọi là Đại cơ - người tin theo Phật giáo Tiểu thừa, gọi là Tiểu cơ. 4. Người có khả năng khai ngộ tức khắc, gọi là Đốn cơ - người phải qua một giai đoạn nhất định rồi mới có thể dần dần khai ngộ, gọi là Tiệm cơ. 5. Người trực tiếp tiếp nhận giáo pháp chân thực, gọi là Trực nhập cơ (cơ vào thẳng), Trực tiến cơ (cơ tiến thẳng). Trái lại, người trước phải tiếp nhận giáo pháp phương tiện, rồi sau mới tiếp nhận giáo pháp chân thực, thì gọi là Vu quýnh cơ (cơ xa xôi, quanh co). 6. Người không nương vào việc thiện ở hiện tại, mà nương vào sức lực của gốc lành đã tu ở đời quá khứ, gọi là Minh cơ (cơ sâu kín). Trái lại, người nương vào sự làm thiện của thân, miệng ở đời hiện tại thì gọi là Hiện cơ. 7. Người chính thức khế hợp với giáo pháp, gọi lá Chính cơ, trái lại, thì gọi là Bàng cơ (cơ một bên). 8. Khi đức Phật nói pháp nếu không có đối tượng nhận lãnh giáo pháp, thì các bậc Thánh hiền tạm thời biến hóa thành là đối tượng nhận lãnh, gọi là Quyền cơ (cơ tạm). Nếu thực tại có thính chúng thích hợp với giáo pháp ấy, thì gọi là Thực cơ. Ngoài ra, các tông các phái tùy theo giáo lí của mình còn chia cơ làm nhiều loại. Chẳng hạn như tông Thiên thai, trong cơ Tiểu thừa, người mới đầu tham gia giáo thuyết A hàm ở vườn Lộc dã, rồi sau dần dần mới tiếp nhận giáo thuyết cao sâu, gọi là Thụ nhập cơ (cơ vào dọc). Trái lại, người không theo hình thức trên mà trực tiếp nghe giáo thuyết cao sâu ngay, thì gọi là Hoành lai cơ (cơ đến ngang). Tam giai giáo của ngài Tín hành đời Tùy, đã đứng trên quan điểm thời gian, nơi chỗ và người mà chia cơ làm ba bậc. Cơ của bậc thứ ba là chỉ những người, sau đức Phật nhập diệt một nghìn năm, sinh vào cõi nước nhơ nhớp, là chúng sinh thiện ác tà chính đều mê lầm không được giải thoát, trong đó lại chia làm hai hạng là lợi căn và độn căn. Hai hạng này gọi là Sinh manh chúng sinh (sinh ra đã mờ tốt), là đối tượng tiếp nhận pháp phổ thông. Mật giáo chia cơ làm hai loại là: Hiển và Mật. Trong Mật giáo, những người tiếp nhận quán đính kết duyên mà chưa thể tu hành đúng như pháp, gọi là Kết duyên bàng cơ - còn những người chính thức nhận giáo có thể tu hành đúng như pháp, thì gọi là Chính sở bị cơ. Chính sở bị cơ lại được chia làm hai hạng là: Tiểu cơ (trí tuệ kém còn có tướng) và Đại cơ (trí tuệ hơn không có tướng). Tiểu cơ chỉ những cơ quanh co từ Hiển giáo vào Mật giáo, và những cơ đi thẳng vào Mật giáo. Còn Đại cơ thì từ giai đoạn phát tâm tu hành cho đến chứng đắc, tùy theo quá trình đã trải qua nhiều hay ít mà chia làm ba hạng là: Cơ tu hành phần chứng, Cơ địa tiền địa thượng cộng phần chứng, và Cơ tức đáo (đến tức khắc). Cơ của Mật giáo chia nhỏ ra có sáu loại như trên, thêm ba loại tổng quát nữa (Chính sở bị, Tiểu cơ, Đại cơ) gọi chung là chín cơ của Mật giáo. Tông Tịnh độ căn cứ theo kinh Quán vô lương thọ mà chia cơ làm hai loại là: Định cơ (Định thiện cơ) và Tán cơ (Tán thiện cơ). Trong Tán cơ lại lập ba loại: Phế lập, Trợ chính, Bàng chính. Cơ phế lập bỏ hết các hạnh khác mà chỉ chuyên tu một hạnh niệm Phật, gọi là Chính cơ. Tịnh độ chân tông Nhật bản phối hợp ba nguyện mười tám, mười chín, hai mươi trong bốn mươi tám nguyện của Phật A di đà mà lập ba cơ: Chính định tụ, Tà định tụ và Bất định tụ, và lập thuyết Ác nhân chính cơ (Chân tông cho rằng những người ác mới là đối tượng cần được hóa độ). Tông Nhật liên của Nhật bản thì chia cơ ra làm hai loại là: Trực cơ và Tạp cơ. Những người thuần túy hoặc pháp Nhất thừa Pháp hoa, gọi là Trực cơ. Trực cơ lại chia làm hai duyên: Thuận và Nghịch - trong đó, những người nghịch duyên báng pháp là đối cơ của Bản môn thành Phật. Tạp cơ cũng chia làm hai loại là: Tám cơ khi đức Phật còn tại thế (cơ bốn giáo hóa nghi và cơ bốn giáo hóa pháp) và ba cơ khi Phật đã nhập diệt (cơ ba thời Chính, Tượng, Mạt). [X. Pháp hoa văn cú Q.5 phần trên, Q.10 phần dưới - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 - Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng - Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.12 - luận Thích tịnh độ quần nghi Q.3 - Hoa nghiêm huyền đàm Q.7].
Cơ (ki)
機; C: jī; J: ki;|1. Chìa khoá, điểm chính, then chốt của mọi việc, điều cơ bản nhất. Việc then chốt; 2. Cơ chế, công việc, phương sách. Phương tiện, dụng cụ, động cơ, tác nhân (s: yantra); 3. Sự vận hành, chức năng, động cơ thúc đẩy. Thời cơ, duyên cớ của tâm ý. Thay đổi quan niệm. đặc biệt trong thiền ngữ.; 4. Dấu hiệu hay biểu thị của vật thể trước khi nó xuất hiện. Khả năng của một vật phát ra nhờ vào sự liên kết với một vật khác. Dấu hiệu, biểu thị, điềm, triệu chứng; 5. Nguồn suối, xung lực, cơ hội, dịp, thời cơ; 6. Năng lực tâm linh (căn 根), là kết quả của sự hành trì Phật pháp, đột nhiên biểu hiện qua sự trực nhận được tinh tuý của giáo lí. Tài năng, năng lực. Phong thái của người tu đạo. Khuynh hướng tâm linh của chúng sinh; 7. Người đang được điều phục (s: vineya); 8. Loài người, chúng sinh (s: āśaya); 9. Nhanh nhẹn, linh lợi, lẹ làng; 10. Sự thay đổi, sự vận động, năng lực vận động của…
cơ biến, tùy cơ ứng biến
To act according to circumstances; to improvise.
cơ căn
Natural or fundamental quality, original endowment and nature, suitability, capacity.
; 1) Bản tính hay căn tính của chúng sanh—Natural or fundamental quality—Original endowment and nature. 2) Khả Năng Thích Ứng: Suitability—Capacity.
; (機根) Chỉ cơ có thể tiếp nhận giáo pháp, cũng chỉ căn tính tư chất của người ta. Còn gọi là Căn cơ. Hoặc gọi Căn, Cơ. Hàm ý có năng lực tu hành. Luận Nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 thượng), nói: Văn theo sự chấp kiến mà ẩn, nghĩa theo cơ căn mà hiện. [X. Thích ma ha diễn luận Q.1]. (xt. Cơ).
cơ cơ
(機機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cơ của thầy và cơ của học trò. Lại tâm của thầy và tâm của trò ám hợp nhau, gọi là Cơ cơ tương ứng, Cơ cơ tương phó, Cơ cơ đầu hợp. Bích nham lục tắc 50 (Đại 48,185 trung), nói: Vượt qua thứ bậc, dứt hẳn phương tiện, cơ cơ ứng nhau, lời lời khế hợp.
Cơ cảm
機感; C: jī găn; J: kikan; |Cơ (機) đề cập đến Cơ loại (機類), là vô số căn cơ chúng sinh khác nhau, cảm (感) là cảm ứng (感應), sự nhận biết của đức Phật về những ước nguyện của chúng sinh và đáp ứng cho họ. Mối liên hệ giữa ân phúc của chư Phật với công đức của riêng từng chúng sinh.
cơ cảm
Potentiality and response, the potentiality of all to respond to the Buddha; the response of the Buddha to the good in all the living.
; Chúng sanh có cơ căn thiện mà cảm ứng với Phật hay vì chúng sanh có những hành động thiện lành nên được Phật cảm ứng—Potentiality and response—The potentiality of all to respond to the Buddha—The response of the Buddha to the good in all the living.
; (機感) Cơ là cơ loại - Cảm là cảm ứng. Có nghĩa là chúng sinh đều có sẵn cơ thiện căn, có thể theo cơ mà cảm ứng sự hóa đạo của Phật, còn Phật cũng có thể theo cơ mà đáp ứng. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 108 trung), nói: Cơ và cảm ứng nhau, thì có hình tướng và lời nói xuất hiện. [X. Pháp hoa văn cú quyển 1 phần trên - Thung dung lục tắc 71].
Cơ cảm 機感
[ja] キカン kikan ||| 機 refers to 機類, the various individual capacities of sentient beings, and 感 (jian) refers to 感應, the awareness of the Buddha of the needs of sentient beings and his response to them. The relationship of the Buddha's grace according to the merits of each individual person. => Cơ đề cập đến Cơ loại 機類, là vô số căn cơ chúng sinh khác nhau, cảm(感 jian) là cảm ứng, sự nhận biết của Đức Phật về những ước nguyện của chúng sinh và đáp ứng cho họ. Mối liên hệ giữa ân phước của chư Phật với công đức của riêng từng chúng sinh.
cơ cẩn tai
Nạn đói (theo thuyết nhà Phật đây là một trong ba tai nạn nhỏ hay tiểu tam tai, xãy ra dưới thời trung kiếp, hai nạn kia là nạn binh đao và nạn bệnh dịch)—The calamity of famine.
cơ cận tai
(饑饉災) Là nạn đói. Phạm: Durbhi-kwàntara kalpa. Còn gọi là Cơ cận kiếp, Cơ cận trung gian kiếp. Là một trong ba tai họa phát sinh vào thời kì kiếp trung. Ba tai họa là chiến tranh, bệnh dịch, nạn đói. Đến cuối thời kì kiếp Trung, khi tuổi thọ của người ta giảm xuống còn mười tuổi, lúc đó tâm người đầy dẫy tham, sân, si độc ác, hễ thấy nhau là sinh tâm hại nhau, những tà giáo tà thuyềt đua nhau ngự trị, khiến tâm con người càng u mê tăm tối, coi nhau là kẻ thù, cướp giật lẫn nhau, cho nên trời rồng quở trách, nhiều năm kkông mưa, do đó thế gian mất mùa, phần lớn chết đói. [X. luận Câu xá Q.12]. (xt. Tam Tai).
Cơ cừu
(箕裘): nối nghiệp cha ông. Cơ (箕, âm khác là ky) là cái sàng, cái nia; cừu (裘) là áo lông cừu. Có nghĩa là để luyện tập uốn cung, người con làm cung phải biết uốn cong cành cây liễu mềm mại và học cách đan cái sàng, cái nia; bên cạnh đó, để luyện tập cách may vá, sửa chữa, người con làm nghề rèn phải kết hợp các loại da thú để làm thành quần áo bằng da. Vì vậy trong Lễ Ký (禮記), phần Học Ký (學記) có câu: “Lương dã chi tử, tất học vi cừu, lương cung chi tử, tất học vi cơ (良冶之子、必學為裘、良弓之子、必學為箕, người con làm nghề đúc giỏi, phải học làm áo da; người con làm cung giỏi, phải học đan cái nia).” Từ đó, xuất hiện cụm từ “khắc thiệu cơ cừu (克紹箕裘, con cháu tận lực kế thừa sự nghiệp, chí nguyện của tiền nhân).” Trong Hạ Phạm Nội Hàn Khải (賀范內翰啟) của Trương Khoáng (張擴) nhà Tống có đoạn: “Trắc văn vũ lộ chi ban, hàm hỷ cơ cừu chi thiệu (側聞雨露之頒、咸喜箕裘之紹, lắng nghe mưa móc buông rơi, chợt vui kế thừa tổ nghiệp).”
Cơ duyên
機縁; C: jīyuán; J: kien;|1. Động cơ, cơ hội; 2. Cơ hội liên quan đến trạng thái tinh thần của người ta đang có liên hệ; 3. Chúng sinh; 4. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, là phẩm tính thiện ác có trong tâm trạng con người; 5. Thuật ngữ đề cập đến trạng thái chúng sinh được giáo hoá trực tiếp bởi Đức Phật hay Tổ sư (đặc biệt trong thiền tông); 6. Theo Thiền tông thì đây chỉ việc ứng dụng cơ hội và tuỳ thuận nhân duyên; 7. Công án (公案); được ghi lại qua cuộc »pháp chiến« của hai Thiền sư, được truyền lại cho hậu học.
cơ duyên
Potentiality and conditions; favourable circumstances; opportunity.
; 1) Căn Cơ và Nhân Duyên: Potentiality and conditions. 2) Do hành động thiện lành hay cơ vi thiện mà có nhân duyên thụ nhận được Phật pháp: Favourable circumstances or opportunities.
; (機緣) Cơ, căn cơ - Duyên, nhân duyên. Căn cơ của chúng sinh có đủ nhân duyên để tiếp nhận sự giáo hóa của Phật và Bồ tát, gọi là Cơ duyên. Việc nói pháp giáo hóa đều lấy cơ căn chín mùi làm duyên mà phát khởi. Ngoài ra, các Thiền sư khi dạy đệ tử, rất nhấn mạnh ở điểm thuận ứng các cơ duyên mà ban bố giáo pháp. Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47,500 trung), nói: Ông xem lông mày có bao nhiêu sợi là có bấy nhiêu cơ duyên, nếu người học không hiểu, thì đó là kẻ cuồng tâm. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1 - kinh Lục tổ đàn phẩm Cơ duyên - Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 phần trên].
Cơ duyên 機縁
[ja] キエン kien ||| (1) Motive, opportunity. (2) The opportunity related to the mental condition of the person one is interacting with. (3) Sentient beings. (4) In Hua-yen, the good and evil qualities in the constitution of people. (5) A term referring to condition of being guided directly by a Buddha or a great master (especially in Ch'an). (6) In Chan Buddhism, making use of opportunities and according with conditions. (7) 公安; words that are recorded during a "dharma-battle" between two Chan masters, and passed on to others for later study. => 1. Động cơ, cơ hội. 2. Cơ hội liên quan đến yếu tố tinh thần của con người trong sự tương tác lẫn nhau. 3. Chúng sinh. 4. Theo giáo lý Hoa Nghiêm, là phẩm tính thiện ác có trong sự tạo thành con người. 5, Thuật ngữ đề cập đến nhân duyên của chúng sinh được giáo hoá trực tiếp bởi Đức Phật hay Tổ sư (đặc biệt trong Thiền tông). 6. Theo Thiền tông, tạo ra cơ hội và tuỳ thuận nhân duyên. 7. Công án 公安; được ghi lại qua cuộc 'tranh luận về pháp' của hai Thiền sư, được truyền lại cho hậu học.
cơ dụng
(機用) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý là dùng cơ mầu nhiệm. Các bậc Thiền sư đã triệt ngộ, dùng những phương pháp siêu việt hẳn lời nói, như hua gậy, dang tay, hoặc đánh, hoặc hét để giáo hóa, đưa người học tiến vào cảnh giới sâu thẳm của Thiền, gọi là Cơ dụng. Từ Lục tổ Tuệ năng trở về sau, phong cách này được lưu hành rộng rãi, trong đó, các ngài Mã tổ Đạo nhất, Bách trượng Hoài hải, Hoàng bá Hi vận, Lâm tế Nghĩa huyền v.v... đều trứ danh về cơ phong nghiêm khắc. Lâm gian lục quyển thượng (Vạn tục 148, 294 hạ), nói: Chỉ có ngài Giang tây, Thạch đầu trở xuống, các bậc đại tông sư mới dùng cơ dụng để ứng vật. Nghe câu hỏi đáp của các ngài rì rầm, khiến người ngồi ngủ. [X. Mã tổ Đạo nhất thiền sư ngữ lục - Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ lục - Cảnh đức truyền đăng lục Q.9 - Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.3 - Bích nham lục tắc 4 - Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
Cơ giáo
機教; C: jījiāo; J: kikyō; |Sự chín muồi căn cơ chúng sinh tướng ứng với giáo lí của Đức Phật.
cơ giáo
1) Căn cơ của chúng sanh và giáo lý của Đức Phật: Potentiality and the Buddha's teaching. 2) Tùy căn cơ của chúng sanh mà dạy bảo khác nhau: Opportune teaching suited to the occasion.
; (機教) Chỉ cho căn cơ của chúng sinh và giáo pháp của Phật. Nghĩa là căn cơ chúng sinh sai biệt, đức Phật theo đó mà nói các giáo pháp sâu, cạn khác nhau. Lăng già a bạt đa la bảo kinh chú giải quyển 4 phần trên (Đại 39, 406 hạ), nói: Nếu có duyên mà không nói thì chẳng lập được giáo pháp - nếu chẳng lập giáo, thì cơ Đại thừa, Tiểu thừa không có phần tu chứng. Như vậy thì ai là người độ, ai là người được độ mà kiến lập cơ giáo? [X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên - Hoa nghiêm huyền đàm Q.4 - An lạc tập Q.thượng].
cơ giáo tương ưng
(機教相應) Chỉ giáo pháp của đức Phật và căn cơ của chúng sinh ứng hợp nhau. Cũng gọi là Cơ pháp tương ứng, Thời giáo tương ứng. Tại Trung quốc và Nhật bản, với sự phổ biến của tư tưởng mạt pháp, thuyết Cơ giáo tương ứng lại càng thêm hưng thịnh.
Cơ giáo 機教
[ja] キキョウ kikyō ||| The ripeness of the faculties of sentient beings matched with the teachings of the Buddha. => Sự chín muồi căn cơ chúng sinh tướng ứng với giáo lý của Đức Phật.
cơ hội nguyên nhân
Occasional cause.
cơ hội quý báu
Precious opportunity—Chúng sanh con người có cơ hội quý báu thực hành Phật pháp, hầu chấm dứt những ý tưởng tiêu cực từ đó khởi lên quả khổ—Human beings have the precious opportunity to practice Dharma to stop negative thoughts from arising and to prevent resultant suffering.
cơ kiến
Vision according to the natural capacity, seeing the Buddha according to natural endowment.
; 1) Cái thấy theo căn cơ của từng chúng sanh: Vision according to natural capacity. 2) Tùy theo căn tánh mà thấy Phật: Seeing the Buddha according to natural endowment.
; (機見) Nghĩa là theo cơ mà cảm thấy. Vì căn cơ của chúng sinh khác nhau, nên cõi nước và thân Phật mà chúng sinh thấy cũng bất đồng, đó đều do cơ mà cảm thấy. Tông kính lục quyển 21 (Đại 48, 532 thượng), nói: Cõi Tha thụ dụng và cõi Biến hóa chứng ngay trước mắt, tên cũng tương tự như nhau, nhưng theo căn cơ mà thấy khác.
Cơ loại
機類; C: jīlèi; J: kirui; |1. Sự đa dạng trong căn cơ và khả năng của chúng sinh; 2. Chúng sinh.
Cơ loại 機類
[ja] キルイ kirui ||| (1) The variation in the faculties and abilities of sentient beings. (2) Sentient beings. => 1. Sự đa dạng trong căn cơ và khả năng của chúng sinh. 2. Chúng sinh.
Cơ nghi
(機宜): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Sự lý, thời nghi. Như trong Dữ Cự Nguyên Tuyệt Giao Thư (與山巨源絕交書) của Kê Khang (嵇康, 223-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Ngô bất như từ tông chi hiền, nhi hữu mạn thỉ chi khuyết, hựu bất thức nhân tình, ám ư cơ nghi (吾不如嗣宗之賢、而有慢弛之闕、又不識人情、闇於機宜, ta không bằng những người hiền nối dõi tông đường, mà có khuyết điểm khinh thường ngạo mạn, lại không biết nhân tình, chẳng rõ sự lý).” (2) Cơ mật, cơ yếu. Như Khiếu Đình Tục Lục (嘯亭續錄), phần Phê Bổn Xứ (批本處) của Chiêu Liên (昭槤, 1776-1833) nhà Thanh có câu: “Cố cơ nghi thận mật, tùng vô cảm trì trệ san cải giả (故機宜愼密、從無敢遲滯刪改者, cho nên phải cơ mật thận trọng, từ đó không dám trì trệ, lọc bỏ thay đổi).” 3. Cơ hội. Như trong Minh Sử (明史), Truyện Hồ Mỹ (胡美傳) có đoạn: “Kim tổng đại quân công vi thành ấp, tất trạch tiện nghi khả phủ vi tiến thối, vô thất cơ nghi (今總大軍攻圍城邑、必擇便宜可否爲進退、無失機宜, nay toàn bộ đại quân tấn công bao vây các thành ấp, tất phải tìm tiện nghi có thể được hay không để tiến thối, đừng làm cơ hội).” Câu “tịch mịch phi hình, nhất thiết cơ nghi tất bị (寂寞非形、一切機宜悉被)” có nghĩa là lặng lẽ không có hình bóng, nhưng tất cả cơ hội đều có đầy đủ.
cơ nghi
Opportune and suitable—Natural qualification for receiving the truth.
; (機宜) Nghĩa là chúng sinh đều có thiện căn, cho nên muốn hóa độ thì tùy trình độ mà đặt ra giáo pháp thích nghi. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 phần dưới (Đại 33, 691 thượng), nói: Giáo vốn ứng cơ, vì cơ nghi bất đồng, cho nên mỗi bộ đều nói khác nhau.
Cơ nghi 機誼
[ja] キギ kigi ||| (1) The function of the mind to be in accord with goodness. (2) Sentient beings. (3) According to the capacities of sentient beings. => 1. Sự vận hành của tâm để khế hợp với sự toàn thiện. 2. Chúng sinh. 3. Khế hợp với căn cơ của chúng sinh.
Cơ nghị
機誼; C: jīyí; J: kigi; |1. Sự vận hành của tâm để khế hợp với việc thiện; 2. Chúng sinh; 3. Khế hợp với căn tính của chúng sinh.
cơ ngạ địa ngục
Địa ngục đói, một trong 16 địa ngục—The hell of hunger, one of the sixteen hells—See Địa Ngục.
cơ ngữ
Tùy theo cơ duyên mà thuyết pháp—Opportune words—Fundamental words.
; (機語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ câu nói khế hợp với cơ pháp thần diệu. Vì nói pháp phải có hai điều kiện: hợp lí, hợp cơ - văn và nghĩa đều sáng tỏ, gọi là lí, quên lời nói mà chỉ khế hợp, gọi là cơ. Sơn am tạp lục quyển thượng (Vạn tục 148, 168 hạ), nói: Đến Kính sơn ra mắt ngài Vô chuẩn, cơ ngữ hợp nhau, cho vào nhà, muốn trao cho chức Tạng chủ.
cơ như
(機如) (1632 - ?) Vị tăng tông Lâm tế cuối đời Minh. Người Thượng hải, họ Phan, hiệu Cổ lâm. Có chí xuất gia từ nhỏ. Mười sáu tuổi cha mất, bèn theo Duy nhất xuống tóc. Chưa bao lâu sư tham yết các ngài Nhị ẩn Hành mật, Tính không Hành trăn. Sau sư tham lễ ngài Trúc am Chân diễn ở Ngẫu am và được nối pháp. Năm Khang hi thứ 9 (1670), sư trụ trì Liên hoa thiền viện tại trấn Kim thự, Tô châu. Có Liên hoa Cổ lâm thiền sư ngữ lục 4 quyển truyền ở đời. Năm tịch và tuổi thọ đều không rõ, chỉ biết năm Khang hi 19, sư được bốn mươi chín tuổi. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.102].
cơ năng
(機能) (1618 - ?) Vị tăng tông Lâm tế cuối đời Minh. Người Hoàng cương, Hồ bắc, họ Khang, tự Thiên tắc, hiệu Tịnh thiện. Sư xuống tóc tại chùa An quốc lúc còn nhỏ, sau khi thụ giới ở Phủ nham, sư đi tham vấn khắp miền Nam chiết. Yết kiến ngài Vạn như Thông vi chùa Long trì, và dưới tòa ngài Sơn ông Đạo mân tại chùa Vạn thọ núi Đạo tràng mà lãnh hội giáo chỉ sâu kín. Sau sư về Nghĩa thủy, dựng am trên núi Ngữ kì ở hơn ba mươi năm. Lại nghe tin ngài Sơn đạc Chân tại giảng pháp ở chùa Năng nhân trên núi Hoa quế (Hồ bắc), sư đến yết kiến và nối pháp ngài Sơn đạc. Sư tịch năm nào không rõ, chỉ biết năm Khang hi 16 (1677), sư được sáu mươi tuổi. Có Thiên tắc Năng thiền sư ngữ lục một quyển lưu hành ở đời.
cơ phong
(機鋒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi là Thiền cơ. Cơ, chỉ tác dụng tâm do sự tiếp nhận giáo pháp khơi dậy mà hoạt động, hoặc là cái cơ nghi khế hợp với chân lí. Phong, chỉ trạng thái bén nhạy lanh lẹ của then máy hiền. Ý nói khi thầy tiếp dẫn học trò, hoặc Thiền tăng đối cơ với người khác, ý thường ẩn kín, không một dấu ấn nào có thể được tìm thấy, ngay cả những lời nói có tính luận lí cũng không thể biểu hiện cái cảnh giới của chính họ hoặc để khảo nghiệm đối phương. Lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 317 hạ), nói: Vân am rất khen ngợi nói rằng cơ phong của người ấy không kém gì Anh thiệu vũ. Lại khi hình dung cơ phong sắc bén lanh lẹ, khiến người phải kính sợ mà xa lánh, thì gọi là Cơ phong tiễu tuấn (cơ phong cao chót vót và lởm chởm). Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 123, 22 hạ), nói: Nếu quê mùa mà kiến giải sâu xa, cơ phong tiễu tuấn, thì đó chính là thuốc dở mà thầy giỏi.
cơ pháp
(機法) Căn cơ của chúng sinh và giáo pháp của Phật nói chung lại. Pháp là năng bị, năng hóa, sở tín, nghĩa là pháp khế hợp với cơ, hóa độ cơ và được cơ tin nhận. Cơ là sở bị, sở hóa, năng tín, nghĩa là cơ được khế hợp với pháp, được pháp hóa độ và hay tin nhận pháp. Cả hai đối nhau mà không lìa nhau.
cơ pháp nhất thể
(機法一體) Tiếng dùng của Chân tông và phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Đây là căn cứ theo Lục tự thích trong Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo. Cơ là chúng sinh hoặc lòng tin của chúng sinh đối với Phật - Pháp là Phật A di đà, hoặc sức cứu độ chúng sinh của Phật A di đà. Ý nói cơ của chúng sinh và giáo pháp của Phật Di đà là một thể không hai.Phái Tây sơn cho rằng, lòng từ bi cứu giúp chúng sinh của Phật A di đà là nhân để chúng sinh được vãng sinh thế giới Cực lạc. Lòng từ bi của Phật A di đà thường tác động mà không lìa chúng sinh, cho nên, khi tâm của chúng sinh xưng niệm Na mô A di đà Phật và lòng từ bi của đức Phật A di đà trở thành một thể, thì mới thành tựu được thể hành của sáu chữ danh hiệu Na mô A di đà Phật, sự quan hệ này gọi là cơ pháp nhất thể. Chân tông chủ trương, lòng từ bi của Phật muốn cứu độ chúng sinh, được thể hiện qua danh hiệu Na mô A di đà Phật, chúng sinh đối với danh hiệu của Ngài đã thành tựu lòng tin - nhờ đó, lòng tin và sức Phật trong danh hiệu trở thành một thể, cho nên gọi là Cơ pháp nhất thể. Lại đương khi danh hiệu của Phật chuyển thành lòng tin của chúng sinh, thì cái tâm phàm phu của chúng sinh và tâm Phật thành là một thể, tình huống đặc biệt này được gọi là Phật phàm nhất thể. [X. An tâm quyết định sao Q.đầu - Nguyện nguyện sao - Hán quang loại tụ Q.1 - Quán kinh định thiện nghĩa bí sao Q.4].
cơ quan
Sức khuyến tấn—Motive force—Cause—Opportunity.
; (機關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Là cơ pháp mà thầy thuận theo căn cơ của trò đặt ra để giúp học trò khai ngộ. Cũng tức là công án, thoại đầu, hoặc là bổng hát (đánh, hét). Cũng tức là thầy thường dùng tắc công án xưa, một tiếng hét, một cái đánh để tiếp hóa học trò, gọi là Cơ quan. Bích nham lục tắc 42 (Đại 48, 179 hạ), nói: Đập hòn tuyết, đập hòn tuyết, cơ quan Bàng lão chẳng nắm được, cõi trời cõi người không tự biết, trong mắt trong tai đều không dính, Bồ đề đạt ma khó biện biệt. [X. Thung dung lục tắc 49].
cơ quan mộc nhân
(機關木人) Thí dụ sự hư giả của năm uẩn. Mộc nhân, nghĩa là người gỗ. Thân tâm của người ta do sự hòa hợp giả tạm của năm uẩn mà hình thành, không có tự tính, giống như người gỗ, vì thế dùng Cơ quan mộc nhân để thí du. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25,103 thượng), nói: Đều không có tác giả, việc ấy là ảo mà! Là cơ quan người gỗ, là việc trong chiêm bao. [X. Vĩnh gia chứng đạo ca].
cơ thán tà nghĩa
(機嘆邪義) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Là một trong hai mươi tà nghĩa mà Tịnh độ chân tông Nhật bản gọi là Cựu nhị thập tà nghĩa. Tịnh độ chân tông gọi pháp nghĩa phản bội sự truyền thừa của tổ sư là tà nghĩa, hoặc là dị an tâm. Khoảng năm Vĩnh thái (Nhật bản) thứ 7 (1778), các học giả phái chùa Bản nguyện thuộc Chân tông, nêu lên hai mươi thứ tà nghĩa dị đoan trong nội bộ tông phái mình, tức là hai mươi tà nghĩa cũ. Sau ngài Nam khê lại góp nhặt hai mươi tà nghĩa mới nữa mà thành bốn mươi. Đại khái những tà nghĩa ấy bảo rằng, lũ chúng ta là phàm phu bỉ lậu, tội ác sâu nặng, lí đáng phải tự xét - nhưng đây thực là chính cơ của bản nguyện, nhờ đó mà chắc chắn sẽ được vãng sinh. Tuy nhờ vào thệ nguyện rộng lớn của Phật Di đà, nhưng cũng như hình vẽ trên mặt nước, chẳng thể còn mãi, nên chẳng cần ỷ lại vào Phật Di đà, mà chỉ cần tự than thương cho cái căn cơ bỉ lậu của mình là được. Chủ trương này với Duy tín cơ (cơ chỉ cần niềm tin) trong hai mươi tà nghĩa mới, về phương diện tâm tướng, rất là giống nhau.
Cơ tiên
機先; C: jīxiān; J: kisen; |Trạng thái của vật thể trước khi chúng tự biểu hiện qua hành động.
cơ tiên
(機先) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là Cơ tiền. Nguyên chỉ điềm báo trước về cơ sự. Trong Thiền lâm, Cơ tiên được dùng để hình dung cái trạng thái trước khi một ý niệm chưa động, một lời nói chưa phát. Ý nói trước khi tình thức phân biệt của người ta vẫn chưa khởi động. Dụng ngữ đồng loại là Trước khi trời đất chưa mở. Như tịnh hòa thượng ngữ lục quyển hạ (Đại 48, 131 thượng), nói: Nắm chặt một cục phấn trời đất, người lớn bị kẻ nhỏ lừa - nếu Cơ tiên có đủ mắt cơ tiên, ra tay trước thì đâu đến nỗi!.
Cơ tiên 機先
[ja] キセン kisen ||| The state of things before they demonstrate themselves in their activity. => Trạng thái của vật thể trước khi tự biểu hiện qua hành động.
cơ toạ
(箕坐) Là một cách ngồi. Khoanh chân trái lại, đầu gối bên phải dựng lên và hơi ngả ra, gót chân phải đạp lên trên lòng bàn chân trái. Do đó, hoảng giữa hai chân trông dống như cái thúng, cho nên gọi là Cơ tọa (cơ: cái thúng). Trong Mật giáo, khi hành giả tu các phép Trừ tai, Kính ái thì dùng cách ngồi này. Đây là cách ngồi của bồ tát Kim cương tỏa và bồ tát Như ý luân Quan thế âm trên Thai tạng giới mạn đồ la. [X. Bí tạp kí - Bí tạng kí tư bản sao Q.2]
cơ tính
See Cơ Căn.
; (機性) Chỉ tính chất căn cơ của chúng sinh. Khi đức Phật nói pháp, thường tùy căn tính bất đồng của chúng sinh mà nói giáo pháp. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 1 (Đại39,138 hạ), nói: Khi Phật nói pháp, do tâm bình đẳng quan sát, xem cơ tính của chúng sinh, nói những điều chúng muốn nghe, khiến ai cũng thấy Phật chỉ nói cho một mình mình. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].
Cơ yếu
機要; C: jīyào; J: kiyō; |Điểm then chốt quan trọng. Nghĩa sâu mầu nhất (xu yếu 樞要, chân quyết 眞訣). Khoảnh khắc hay tình huống nguy kịch nhất.
cơ yếu
1) Quan Trọng: Important—Important point. 2) Cơ Hội Quan trọng: Strategical possibility or opportunity.
; (機要) Cơ là then máy - Yếu là mấu chốt. Cũng gọi là Yếu cơ. Tục cao tăng truyện quyển 4 (Đại 50, 457 thượng), nói: Đạt đến chỗ tinh vi của không, có là thấu suốt được cái then chốt của sinh, diệt. Hoành trí thiền sư quảng lục quyển 8 (Đại 48, 98 thượng), nói: Chỗ then chốt của Phật tổ, là không cần tiếp xúc với sự vật mà vẫn biết, vẫn soi sáng.
Cơ yếu 機要
[ja] キヨウ kiyō ||| An important or pivotal point. The most profound meaning (樞要, 眞訣). A critical moment or situation. => Điểm then chốt quan trọng. Nghĩa sâu mầu nhất (樞要, 眞訣). Khoảnh khắc hay tình huống nguy kịch nhất.
cơ đốc
Christianity.
cơ đốc giáo
(基督教) Nói theo nghĩa rộng thì Cơ đốc giáo là chỉ chung các giáo phái thờ Jésus Christ làm Chúa cứu thế, bao gồm Thiên chúa giáo, Đông chính giáo, Tân giáo. Còn cái mà Trung quốc gọi là Cơ đốc giáo thì thông thường chỉ cho Tân giáo, là sản phẩm sau cuộc cải cách tôn giáo vào thế kỉ XVI, đó là nói theo nghĩa hẹp. Cơ đốc giáo là tôn giáo có tính thế giới, cùng với Phật giáo, Hồi giáo nói chung là ba tôn giáo lớn của thế giới. Tín đồ Cơ đốc giáo rải rắc khắp hoàn cầu, ảnh hưởng toàn thế giới, đặc biệt đối với lịch sử, chính trị, tư tưởng và nghệ thuật phương Tây, đã có ảnh hưởng rất lớn. Vào thế kỉ thứ I Tây lịch, Jésus người Do thái ở Palestine tuyên bố thế giới là do Thượng đế (chúa trời) sáng tạo. Cơ đốc giáo chủ trương từ khi thủy tổ của loài người đã phạm tội và phải chịu khổ trong tội lỗi, thì chỉ còn cách là tin vào Thượng đế và con của ngài là Jésus Christ thì mới có thể được cứu rỗi. Cơ đốc giáo lấy Cựu ước toàn thư (thừa kế kinh điển của Do thái giáo) và Tân ước toàn thư làm Thánh kinh. Nay chia một cách vắn tắt lịch sử phát triển của Cơ đốc giáo làm ba thời kì: Cổ đại, Trung cổ và Cận đại để khảo sát. 1. Cổ đại: tín đồ Cơ đốc vì không chịu tôn sùng hoàng đế La mã mà bị bách hại trong một thời gian dài. Đến năm 313 Tây lịch, Đại đế Quân sĩ thản đinh mới giải tỏa lệnh hạn chế đối với Cơ đốc giáo. Đến năm 337 thì Cơ đốc giáo trở thành quốc giáo của La mã. 2.Trung cổ: thế kỉ thứ V, đế quốc Tây La mã mất vào tay các bộ tộc mọi rợ, văn hóa châu Âu thời thượng cổ rơi vào thời đại đen tối. Thời kì này, Cơ đốc giáo lãnh trọng trách giáo hóa xã hội, bảo tồn văn hóa, và gián tiếp xúc tiến việc phục hưng nền kinh tế, đối với văn minh châu Âu đã có những cống hiến rất lớn. Sau vì đế quốc La mã chia thành Đông, Tây, giáo hội phương Tây cũng theo đó mà phân li: năm 1054 chia làm giáo hội Hi lạp phương Đông (Đông chính giáo) và giáo hội La mã phương Tây (Công giáo tức Thiên chúa giáo). 3. Cận đại: từ thế kỉ XIV trở về sau, Thiên chúa giáo La mã dần dần hủ hóa. Cho nên, năm 1517, Mã đinh lộ đức (Martin Luther) phát động phong trào cải cách tôn giáo, do đó mà đẻ ra Tân giáo. Về sau, Tân giáo là gọi chung các giáo phái li khai với giáo hội Thiên chúa giáo La mã phương Tây, như Lộ đức phái, Cải cách phái, Anh quốc quốc giáo phái, Trưởng lão hội, Công lí hội, Quí cách hội, Tẩm tín hội v.v... Qua những chấn động ấy, Thiên chúa giáo cũng ra sức sửa đổi, nên đã manh nha cuộc vận động cải cách khác đối lại với cuộc cải cách trước, trong đó có Da tô hội là nổi bật hơn cả. Đến thế kỉ XIX, XX có sự vận động thống nhất các giáo phái, cố gắng liên kết các giáo hội Cơ đốc trên thế giới, xúc tiến công cuộc hợp tác. Cơ đốc giáo tuy chia thành Thiên chúa giáo, Đông chính giáo, Tân giáo, nhưng cơ sở tín ngưỡng vẫn chỉ là một vị thần duy nhất, tức là chúa Jésus Christ. Nay trình bày giáo nghĩa, lễ nghi sai khác của ba giáo như sau: I. Thiên chúa giáo La mã. Còn gọi là Thiên chúa giáo, Công giáo, La mã công giáo, Gia đặc lực giáo, cũng gọi Cựu giáo, để phân biệt với Tân giáo (Cơ đốc giáo sau cuộc cải cách tôn giáo). Giáo nghĩa cơ bản: 1. Mười điều răn của chúa trời: sùng kính Chúa trời, không được nhân danh chúa trời mà phát lời thề dối trá, không bỏ ngày xem lễ, hiếu kính cha mẹ, không giết người, không gian dâm, không ăn trộm, không làm chứng láo, không chiếm vợ người khác, không tham của của người khác. 2. Bốn qui luật Thánh giáo: dự lễ ngày Chúa nhật và ngày đại lễ Misa, tuân thủ kì chay do giáo hội qui định, mỗi năm ít nhất xưng tội một lần và nhận Thánh lễ, hết sức ủng hộ các kinh phí của giáo hội. 3. Bảy việc Thánh: rửa tội, thêm sức, ăn bánh Thánh, giải tội, truyền chức Thánh, hôn nhân, xức dầu. 4. Đạo lí cơ bản mà giáo đồ phải tin: a. Thuyết sáng thế ba ngôi một thể, nghĩa là chỉ có một thể Thần, nhưng trong gồm có ba ngôi Thánh, tức Thánh cha (Thượng đế), Thánh con (Jésus Christ) và Thánh linh. Thần sáng tạo ra vũ trụ vạn vật. b. Nguyên tội và cứu chuộc, nghĩa là người đầu tiên của thế gian là Adam đã không tuân theo lời chỉ dạy của thần mà phạm vào nguyên tội, vì thế tội của Adam truyền cho mọi người sinh ra trên thế giới. Thần sai người con độc nhất của Thần là Jésus Christ xuống cứu chuộc hết thảy tội ác cho con người (bao gồm nguyên tội và các tội sau này vì xúc phạm luật pháp của Thần mà có). Khi ở đời, Jésus dạy loài người tin tưởng nơi Thần và thành thật ăn năn để được cứu vớt. c. Bản chất của giáo hội: nghĩa là giáo hội tiếp nối Jésus Christ Cơ đốc để hoàn thành sứ mạng cứu rỗi người đời. d. Đời sau, nghĩa là sau khi thân này chết, linh hồn sẽ sinh lên Thiên đường, vào hỏa ngục hay xuống địa ngục. II. Đông chính giáo. Năm 1054, Đông chính giáo thoát li khỏi Thiên chúa giáo La mã mà độc lập, chủ yếu truyền bá ở Hi lạp, Nga, Đông âu, Tây á. Thánh kinh và Thánh truyền thống là nguồn gốc của giáo nghĩa Đông chính giáo. Phái này cho rằng Thánh linh là do Thánh cha mà ra, khác với chủ trương của Thiên chúa giáo và các giáo hội hương tây khác cho rằng, Thánh linh là do Thánh cha và Thánh con mà ra. Trừ điểm này, còn các giáo nghĩa khác thì không sai khác mấy. Đông chính giáo cũng làm bảy việc Thánh, duy cách giải thích thì có hơi khác với Thiên chúa giáo. III.Tân giáo. Tức là Cơ đốc giáo theo nghĩa hẹp, bắt nguồn từ cuộc cải cách tôn giáo năm 1517. Bao gồm nhiều phái khác nhau. Cách thức lễ bái của các phái không phải là giống nhau hết, còn giáo nghĩa thì đại lược cũng giống với Thiên chúa giáo và Đông chính giáo, nhưng về mối quan hệ giữa thần và người thì Tân giáo có kiến giải đặc biệt khác. 1. Cho rằng con người muốn được cứu thì chỉ cần nhờ vào ân huệ của thần, chứ không như Thiên chúa giáo chủ trương tín đồ cũng có thể nhờ vào niềm tin và làm những việc thiện mà được cứu. 2. Cho rằng duy chỉ có Thánh kinh có đủ quyền uy chỉ đạo tín ngưỡng, còn Thiên chúa giáo và Đông chính giáo thì nhấn mạnh Thánh kinh và giáo hội truyền thống đều là cơ sở của tín ngưỡng. Cơ đốc giáo truyền vào Trung quốc, bắt đầu vào năm Trinh quán thứ 9 (635) đời Đường với phái Niếp tư thác lí, thời ấy gọi là Cảnh giáo (cảnh hàm ý là sáng sủa). Năm Hội xương thứ 5 (845), triều đình cấm tuyệt Phật giáo, Cảnh giáo cũng bị lây và tuyệt tích ở vùng trung nguyên. Đến đời Nguyên, Thiên chúa giáo và phái Niếp tư thác lí lại truyền vào, cả hai thông thường gọi là Dã lí khả ôn giáo, hoặc Thập tự giáo, nhưng không lưu truyền rộng, khi nhà Nguyên mất thì cũng đều dứt theo. Đến đời Minh, Da tô hội lại một lần nữa truyền vào. Đến đời Thanh, vào khoảng cuộc chiến tranh nha phiến, các tông phái Tân giáo cũng lục tục truyền vào. Giáo sĩ truyền giáo của các tông phái đi sâu vào nội địa Trung quốc để mở rộng phạm vi truyền đạo, thành lập giáo hội, đồng thời, họ mở trường học các cấp, trường dạy người mù, câm, mở các viện dưỡng lão, viện cô nhi, cũng tổ chức việc dịch kinh sách, nghiên cứu Hán học, rồi dịch Tứ thư Ngũ kinh ra tiếng Anh - khoa học phương Tây cũng theo chân các giáo sĩ truyền giáo mà du nhập Trung quốc, tóm lại, đối với cuộc giao lưu văn hóa và nghệ thuật, Cơ đốc giáo đã có nhiều ảnh hưởng sâu xa.
cơ ứng
Potentiality and response, Xem cơ cảm.
; Potentiality and response—See Cơ Cảm.
; (機應) Cơ là căn cơ của chúng sinh - Ứng là ứng cơ hóa đạo của Như Lai. Vì chúng sinh đều có căn lành, cho nên Phật tùy cơ mà ứng hóa. Pháp hoa văn cú quyển 1 phần trên (Đại 34, 3 hạ), nói: Tin thì bàn về cơ, mà thấy thì là ứng. [X.Tông kinh lục Q.3].
Cơ 機
[ja] キ ki ||| (1) The key, main point, pivotal point to something. Most basic thing. Pivotal affair. (2) Mechanism, works, device. Means, instrument, motive (power), agent (yantra). (3) Working(s), function, action, motive. An opportunity, occasion or condition of the mind. Shifting mental attitude, especially in Zen language. (4) A sign or indication of a manifest object before it appears. The ability for something to be produced upon contact with something else. Sign, indication, omen, symptom. (5) A spring, an impulse, chance, opportunity, occasion. (6) The mental/spiritual ability (根), which as a result of devout Buddhist practice, suddenly manifests upon a shift or a change in the Buddhist teachings. Talent, ability. The capacity or temperament of the practitioner. The religious predisposition of sentient beings. (7) The person being taught. (vineya). (8) Human beings, sentient beings (āśaya). (9) Quick, nimble, agile. (10) Changes, motions; the moving power of. => 1. Chìa khoá, điểm chính, then chốt của mọi việc, Điều cơ bản nhất. Việc then chốt. 2. Cơ chế, công việc, phương sách. Phương tiện, dụng cụ, động cơ, tác nhân (s: yantra). 3. Sự vận hành, chức năng, động cơ thúc đẩy. Thời cơ, duyên cớ của tâm ý. Thay đổi quan niệm. đặc biệt trong thiền ngữ. 4. Dấu hiệu hay biểu thị của vật thể trược khi nó xuất hiện. Khả năng của một vật phát ra nhờ vào sự liên kết với một vật khác. Dấu hiệu, biểu thị, điềm, triệu chứng. 5. Căn nguyên, xung lực, cơ hội, dịp, thơì cơ. 6. Năng lực tinh thần (căn 根), là kết quả của sự hành trì Phật pháp, đột nhiên biểu hiện qua sự trực nhận được tinh tuý của giáo lý. Tài năng, năng lực. Phong thái của người tu đạo. Khuynh hướng tâm linh của chúng sinh. 7. Người đang được điều phục (s: vineya). 8. Loài người , chúng sinh (āśaya). 9. Nhanh nhẹn, linh lợi, lẹ làng. 10. Sự thay đổi, sự vận động, năng lực vận động.
cơm chay
Vegetarian meals.
cơm hẩm
Inferior quality rice.
cơn giận
An outburst of anger (temper).
cơn hoạn nạn
A period of misfortunes.
cơn vô thường mau chóng, sự sống chết lớn lao
The wave of impermanence is swift, the issue of life and death is a great matter.
cơn điên
A fit of madness.
cư
Dwell, reside; be.
; See Cư Ngụ.
cư gia
Xem ưu bà tắc.
cư giác sinh
(居覺生) (1876 - 1951) Người Quảng tế, Hồ bắc. Tên là Chính, hiệu Giác minh, lúc đầu, tên là Tuấn, biệt hiệu Nhạc tung, lại hiệu Mai xuyên cư sĩ. Ông lưu học Nhật bản, chuyên về pháp luật, và gia nhập Đồng minh hội. Sau khi Dân quốc được thành lập, ông giữ chức Viện trưởng viện Tư pháp trong mười sáu năm. Ông chịu ảnh hưởng của Thái phu nhân, tin Phật rất thuần thành, và hết sức hộ trì Phật giáo, nên ông được coi như bức tường thành hộ trì Phật pháp trong thời Dân quốc. Tác phẩm chủ yếu về Phật học của ông có: Mai xuyên phổ kệ.
cư giản
(居簡) (1164 - 1246) Vị tăng tông Lâm tế đời Tống. Người phủ Đồng xuyên (Tam thai, Tứ xuyên), họ Vương (có thuyết nói là họ Long), tự Kính tẩu. Sư theo ngài Viên trừng ở viện Quảng phúc cùng làng xuất gia. Sau sư tham yết ngài Biệt phong Bảo ấn. Một hôm sư đọc ngữ lục của ngài Vạn am Đạo nhan có chỗ tỉnh ngộ. Kế đến sư tham yết ngài Đức quang ở chùa Dục vương, tu học mười lăm năm, và được pháp ấn của ngài. Về sau sư tham vấn các ngài La hồ Hiểu oánh ở Giang tây và Đại tuệ Tông cảo ở am Dương tự. Đầu tiên sư hoằng pháp ở chùa Báo ân quang hiếu tại Đài châu, chẳng bao lâu, dời đến chùa Tịnh từ ở Hàng châu, mở đạo tràng truyền pháp. Bên một khe suối ở phía bắc chùa sư dựng một căn nhà gọi là Giới thất (nhà hẹp) để ở và làm bài phú để tỏ chí của mình. Năm Thuần hựu thứ 6, sư tịch, thọ tám mươi ba tuổi, người đời gọi là Bắc giản Cư giản. Trước tác có: Bắc giản tập 19 quyển, Bắc giản tục tập 1 quyển, Bắc giản hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.35 - Tăng tục truyền đăng lục Q.1 - Thích thị kê cổ lược Q.4 - Ngũ đăng nghiêm thống Q.20].
cư luân
Ajnata-Kaudinya (skt)—A Nhã Kiều Trần Như.
; (居倫) Phạm: Àjĩàta-kauịđinya, Pàli: AĩĩaKoịđanna. Còn gọi A nhã kiều trần như, A nhã đa kiều trần như, A nhạ kiều trần như, A nhạ kiều lân, A nhã câu lân. Hoặc là Kiều trần như, Kiều trần na, Câu lân nhã, Câu lân, Cư lân v.v... là một trong năm vị tỉ khưu được Phật độ cho đầu tiên. Àjĩàta (A nhã), nghĩa là hiểu rõ, hoặc dịch là mới biết, đã biết, rõ lời dạy, rõ bản tế, biết bản tế.Kauịđinya (Kiều trần như), là họ, nghĩa là giòng họ Kundin. Sự tích sau khi ngài Cư luân trở thành tỉ khưu thì không được rõ, chỉ biết ngài là vị trưởng lão trong giáo đoàn, thường ở bậc Thượng tọa. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11 - kinh Phật bản hạnh tập Q.34 - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.40 - luận Đại tì bà sa Q.93 - Phật tổ thống kỉ Q.2]. (xt. Kiều Trần Như).
cư na la
Kunala (S)Tên khác của thái tử Đạt ma bà đà na (Dharmavardhana), con vua A dục.
cư ngụ
To dwell—To reside.
cư nhân hạnh
Hạnh của người tại gia—The virtue of the lay disciple.
Cư sĩ
居士; S: gṛhapati, P: gahapati, dịch âm Hán Việt là Ca-la-việt;|Danh từ này có hai nghĩa: 1. Người dòng họ giàu sang; 2. Người tại gia mộ đạo. Phần lớn, danh từ Cư sĩ được hiểu dưới nghĩa thứ hai và đồng nghĩa với Cận sự nam (近事男; s, p: upāsaka), Cận sự nữ (近事女; s, p: u-pāsikā). Cư sĩ là một danh từ chỉ người theo đạo Phật nhưng vẫn giữ đời sống thế gian, đã quy y Tam bảo và giữ Năm giới. |Theo Tiểu thừa thì cư sĩ đạo Phật thông thường còn rất lâu mới đạt Niết-bàn vì họ không chịu từ bỏ dục lạc thế gian. Tuy nhiên nếu họ giữ hạnh Bố thí (dāna) thì Phúc đức (s: puṇya) có thể giúp họ tái sinh làm tăng sĩ và nhờ đó tu học đến cấp bậc A-la-hán và đạt Niết-bàn. Tiểu thừa xem cư sĩ là người phụng sự đạo pháp bằng cách cúng dường thực phẩm, quần áo, là người lo lắng cho đời sống của tăng, ni. Ðại thừa xem cư sĩ có vai trò quan trọng hơn, quan niệm rằng cư sĩ cũng có khả năng thành Phật như tất cả những ai. Nhiều Bồ Tát trong Ðại thừa ẩn dưới đời sống của một cư sĩ tại gia thông thường.|Tại Trung Quốc có giáo hội của cư sĩ và thường thường, các vị này lấy việc giữ năm giới làm nền tảng chung. Nếu vì lí do gì mà một hay nhiều giới bị vi phạm thì cư sĩ có quyền chỉ nguyện giữ những giới kia. Có người cho đốt ba hay nhiều chấm vào cánh tay để xác nhận mình là cư sĩ. Có nhiều cư sĩ nguyện giữ cả giới Bồ Tát.
cư sĩ
Gahapati (P), Gṛhapati (S), Kulapati (S),, Zaike (J), Layman.Người học Phật tại giaCa la việt, Già la việtNgười có của ở nhà không ra làm việc đời, ẩn dật tại gia có chí hướng tu hành.
; Kulapati (S). A householder who practises Buddhism at home without becoming a monk. A femele counterpart is Nữ cư sĩ.
; Grhapati or Kulampuriso (p)—Kulapati or Kulapurusha (skt)—Câu La Bát Để—Ca La Việt—A chief (head) of a family—A landlord—Householder—The master of a household—Lay devotee. • Người của gia đình tốt hay người đáng tôn kính: A person of good family or a respectable person. • Người chủ gia đình tu tại gia hay Phật tử tại gia—A householder who practises Buddhism at home without becoming a monk—See Ưu Bà Tắc in Vietnamese-English Section, and Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (居士) Phạm: Gfha-pati, Pàli: Gaha pati. Dịch âm: Ca la việt, Già la việt. Dịch ý: Trưởng giả, gia chủ, gia trưởng. Chỉ người giàu có thuộc giai cấp Phệ xá (Phạm: Vaizya) trong bốn giai cấp tại Ấn độ, hoặc chỉ người tại gia có đạo tâm. Trong các kinh, luật, người giàu có thuộc giai cấp Phệ xá thường được gọi là Cư sĩ, như: Trung a hàm quyển 1 kinh Thủy dụ, rường a hàm quyển 22 phẩm Thế bản duyên, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, kinh Phóng quang Bát nhã quyển 1 v.v... đã chép. Còn luận Đại trí độ quyển 98 thì gọi người ở nhà có tâm đạo là Cư sĩ. Từ Cư sĩ trong Phật giáo xưa nay thường được gọi lẫn lộn với từ Trưởng giả, như Duy ma nghĩa kí của ngài Tuệ viễn, quyển 1 phần cuối (Đại 38, 441 trung), nói: Cư sĩ có hai: Một là người giàu có, nhiều của cải, gọi là cư sĩ, hai là người tu đạo ở nhà, gọi là Cư sĩ. Loại sau tức là cư sĩ trong Phật giáo. Như Duy ma, Hiền hộ của Ấn độ là các Bồ tát tại gia thường tu Phật đạo, và Phó đại sĩ đời Lương, Lưu khiêm đời Bắc Ngụy, Lí thông huyền đời Đường của Trung quốc là những người tại gia rất thông hiểu đạo Phật. Nay thì gọi chung những người đàn ông tại gia tu đạo là Cư sĩ, cũng có nơi gọi những người đàn bà tại gia tu đạo là Cư sĩ. Tại Trung quốc, danh từ Cư sĩ nguyên có xuất xứ từ thiên Ngọc tảo trong sách Lễ kí, trong sách Hàn phi tử cũng có nói đến các Cư sĩ Nhâm duật, Hoa sĩ, đều chỉ các xử sĩ có đạo nghệ tức có tài mà không cầu làm quan. Về sau, Trung quốc và Nhật bản chẳng theo ý chính của kinh, luật, mà gọi bừa những xử sĩ có đạo là cư sĩ, như Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa sớ chú quyển 1, Pháp hoa kinh diễn nghĩa quyển 7 đoạn 1, Tổ đình sự uyển quyển 3 v.v... đã chép [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6 - luật Thập tụng Q.6 - Duy ma kinh văn sớ Q.9].
cư sĩ nam
xem ưu-bà-tắc.
; Upasaka (p & skt)—Cận sự nam—Layman—See Upasaka.
cư sĩ nữ
xem ưu-bà-di.
; Upasika (p & skt)—Cận sự nữ—Laywoman—See Upasika.
Cư Sĩ Phần Đăng Lục
(居士分燈錄, Kojibuntōroku): 2 quyển, trước tác của Chu Thời Ân (朱時恩) nhà Minh, san hành vào năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎). Cũng là tác giả của bộ Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 41 quyển), Chu Thời Ân cho rằng các ngữ yếu truyền ký của chư Phật tổ đã được những Đăng Sử làm sáng tỏ, nhưng truyền ký của chư vị cư sĩ ứng hóa trợ lực để rạng rỡ ngọn đèn truyền thừa vẫn còn quá sơ lược; vì vậy ông biên lục những ngữ yếu truyền ký của 72 người (phụ thêm 38 người) như Duy Ma Cư Sĩ (維摩居士), Phó Đại Sĩ (傅大士), Bàng Cư Sĩ (龐居士), v.v., và thêm vào các lời tán ngữ. Ngoài ra, trong quyển thượng có lời tựa của Phụ Giáo Biên (輔敎編) do Tống Liêm (宋濂) soạn, đề tựa của Hộ Pháp Luận (護法論), sách chỉ dạy cho Chơn Như Đạo Nhân (眞如道人) của Đại Huệ (大慧) và 9 thiên pháp ngữ của Vân Thê (雲棲).
cư sĩ phần đăng lục
(居士分燈錄) Gồm hai quyển, do Chu thời ân đời Minh sưu tập, hoàn thành vào năm Sùng trinh thứ 5 (1632), được đưa vào Vạn tục tạng tập 147. Sách này bắt chước Truyền đăng lục của Thiện môn, thu chép các sự duyên của tín chúng tại gia tham Thiền luận đạo, bao gồm 110 người như: Cư sĩ Duy ma bên Ấn độ, Phó đại sĩ, Bàng cư sĩ, Hàn vũ ở đời Đường, Tô đông pha, Chu hi đời Tống và Tống liêm, Lữ nham châu đời Minh v.v...
cư sĩ phật giáo
(居士佛教) Chỉ các tín đồ tại gia của Phật giáo, những người sống cuộc đời thế tục, nhưng vẫn có những sinh hoạt tín ngưỡng. Ở Ấn độ, từ thời đức Phật còn tại thế cho đến nay, trong tín đồ Phật giáo, trừ các tỉ khưu, tỉ khưu ni xuất gia ra, còn có các tín đồ tại gia Ưu bà tắc (nam) và Ưu bà di (nữ). Cứ theo kinh Như thị ngữ văn Ba li 107 nói, chúng xuất gia nhờ chúng tại gia cung cấp những đồ dùng cần thiết, như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, còn chúng tại gia thì nương vào chúng xuất gia mà tiếp nhận giáo pháp và Phạm hạnh, cả hai giúp đỡ lẫn nhau, cùng tu hành chính pháp. Do hình thái sinh hoạt khác nhau giữa xuất gia và tại gia, nên giới hạn của hành vi cũng theo đó mà có khác, tức chúng xuất gia có hai trăm năm mươi giới, hoặc năm trăm giới, chúng tại gia có năm giới, tám giới Quan trai. Thời kì đầu, cư sĩ tại gia lấy các địa điểm ở gần giáo đoàn xuất gia làm trung tâm để theo các sinh hoạt tôn giáo, nhưng rất tiếc là ngày nay không được rõ cái trạng luống tổ chức ở thời bấy giờ như thế nào, tuy nhiên có thể theo sự diễn biến mà biết được là giáo quyền do đoàn thể xuất gia nắm giữ. Một trong những nguyên nhân nảy sinh ra phong trào Phật giáo Đại thừa là: Cư sĩ muốn đóng một vai trò trọng yếu trong giáo đoàn, nên bài bác chúng xuất gia, rồi viết sách, lập thuyết mà mở ra một cục thế mới. Trong các kinh điển, cư sĩ tại gia được coi là những nhân vật chủ não, như cư sĩ Duy ma trong kinh Duy ma cật, phu nhân Thắng man trong kinh Thắng man, đều lấy cư sĩ làm chủ mà tuyên thuyết Phật pháp. Ngoài ra, như Thiện tài đồng tử tại gia trong kinh Hoa nghiêm, lấy Bà la môn, Thuyền sư, Hương thương v.v... làm thiện tri thức và nhận sự chỉ dạy của họ, rồi các bậc đại đệ tử như ngài Ca diếp, Xá lị phất nghe kinh này (tức kinh Hoa nghiêm) thì như câm như điếc - trong các kinh Đại thừa khác cũng nhấn mạnh vai trò của Bồ tát tại gia. Khi tạo tượng, các tỉ khưu đều là hình tượng xuất gia, còn Bồ tát thì phần nhiều là hình tượng tại gia, điều này cho thấy ý thức tín ngưỡng của chúng tại gia được hiển bày một cách tích cực. Nhưng tại Tích lan, Miến điện, Thái lan, giáo quyền vẫn ở trong tay giáo đoàn xuất gia, và như giáo Lạt ma ở Tây tạng, cho đến nay vẫn do nhân vật đại biểu của Tăng đoàn nắm giữ chính quyền, chứ tín chúng tại gia không được tham dự. Tình huống tại Trung quốc khác với các nơi khác. Những nhân vật trọng yếu của thời kì dịch kinh ban đầu, như An huyền ở đời Hậu Hán, Chi khiêm ở đời Tam quốc Ngô, Niếp thừa viễn đời Tây Tấn đều là cư sĩ. Cưu ma la thập đời Hậu Tần, bị quận vương ép buộc, đã phải sống đời tại gia. Về sau, Tạ linh vận đời Lưu Tống, Tiêu tử lương đời Tiêu Tề, Vũ đế nhà Lương, Vương duy và Bạch cư dị đời Đường, Trung ý vương Ngô việt v.v... là những nhân vật đại biểu cho Vương hầu, quí tộc, văn nhân, đối với các công việc làm chùa, nghiên cứu giáo học, văn học đều đã có những cống hiến rất lớn. Về phương diện giáo đoàn cư sĩ thì phải kể đến Bạch liên xã do ngài Tuệ viễn ở Lư sơn sáng lập là trọng yếu nhất, một đoàn thể tăng tục cùng tu - trong đó có Lưu di dân, Chu tục chi, Tông bính, gồm một trăm hai mươi ba người ăn chay lập thệ, phát nguyện vãng sinh Tây phương. Loại kết đoàn niệm Phật như thế, đến đời Đường vẫn còn rất phổ biến, như Cửu phẩm vãng sinh xã ở Cối kê. Đến đời Tống thì thịnh hành nhất, tên các đoàn thể còn lưu truyền đến nay có tới hơn hai mươi đoàn. Trong đó, Tịnh nghiệp xã ở Linh chiếu cả tăng tục có hai vạn người, kết xã ở Nhược quan thì có mười vạn người, gần nửa số những người lãnh đạo là cư sĩ. Lại các nhà Nho đời Tống như Chu hi, Lục cửu uyên cũng tinh thông Phật học, còn như Giáo tổ của Toàn chân giáo thuộc Đạo giáo là Vương triết thì rất tôn sùng Thiền học, tăng lữ Phật giáo cũng đáp lại, cho nên dần dần đã sản sinh tư tưởng và phong tập hợp nhất ba giáo Nho Thích Đạo. Đến triều Minh, sự nghiên cứu của cư sĩ đối với giáo học Phật giáo rất tiến triển, như chú thích kinh Phật, biên tập Thiền tông ngữ lục. Lại bắt đầu từ Phật pháp kim thang biên của Tâm thái, các loại truyện kí của tín đồ tại gia, như Cư sĩ phần đăng lục, Cư sĩ truyện v.v... được lục tục hoàn thành. Từ cuối đời Thanh trở đi, Phật giáo lâm vào tình trạng suy đồi. Sau có các cư sĩ Bành thiệu thăng, Dương văn hội, ấn hành kinh Phật, mở các viện Phật học, thành lập Cư sĩ lâm v.v... thì mệnh mạch của Cư sĩ Phật giáo mới được liên tục. Phật giáo Nhật bản, lấy Thái tử Thánh đức làm đầu mối phát triển, về sau, Hoàng gia, quí tộc hết sức cổ vũ kiến trúc, mỹ thuật, văn học Phật giáo, đặc biệt đáng chú ý là cuộc sống nửa tăng nửa tục rất linh hoạt - như vị tổ khai sáng Tu nghiệm đạo, tiên phong của Sơn nhạc giáo đời xưa cũng là Ưu bà tắc. Từ giữa thời kì Bình an trở về sau, trong các truyện vãng sinh và Pháp hoa nghiệm kí, ghi chép tiểu sử của các Giáo tín sa di (những người tin thờ Phật và không có tư cách giáo đoàn, bèn tự gọi là Sa di và sống cuộc đời tại gia), hoặc một đoàn người tu hành cũng tương tự như thế và gọi là Thánh, Người trì kinh. Trong nền Phật giáo mới ở thời đại Liêm thương, Chân tông, Thời tông, Nhật liên tông đã mang sắc thái nửa tăng nửa tục rất đậm, là do chịu ảnh hưởng của Tín giáo Sa di nói trên. Đến như Thiền tông, lúc đầu giữ được nếp sống xuất gia nghiêm túc, về sau, dần dần cũng chìm đắm vào văn học, đến nỗi tổ khai sơn của chùa Sơn thành thiên long là Mộng song Sơ thạch (1275 - 1351) thuộc tông Lâm tế, đã phải nói họ là những người thế tục trọc đầu. Thời cận đại, trong các hoạt động tín ngưỡng Phật giáo, thông thường người ta tổ chức các buổi giảng xã giao, như Pháp hoa bát giảng, rất phát đạt. Sau thời Minh trị duy tân, các cuộc vận động, cư sĩ Phật giáo lấy việc tân hưng giáo học làm mục đích càng ngày càng thịnh.
cư sĩ thuần thành
Devout layman—Sincere layman.
Cư Sĩ Truyện
(居士傳, Kojiden): 56 quyển, do Bành Tế Tĩnh (膨際靖) soạn, san hành vào năm thứ 40 (1775) niên hiệu Càn Long (乾隆). Những mẫu chuyện về các vị cư sĩ như Cư Sĩ Phần Đăng Truyện (居士分燈傳), v.v., thảy đều dựa trên cơ sở của Ngũ Đăng (五燈) và chỉ dừng lại ở phần giới thiệu tông môn mà thôi. Với sự tham khảo các sử truyện, văn tập, tạp thuyết của bách gia, v.v., bộ này tường thuật nhân duyên vào đạo cũng như quá trình đắc đạo của chư vị cư sĩ Trung Quốc trong vòng 40 năm kể từ năm thứ 35 (1770) niên hiệu Càn Long nhà Thanh; cho nên 227 vị cư sĩ được thâu lục vào đây. Bành Tế Tĩnh được gọi là Tri Quy Tử (知歸子), học Phật pháp, tâm quay về với Tịnh Độ, phát nguyện quyết định vãng sanh; vì vậy ông viết nên bộ này.
cư sĩ truyện
Truyện biên soạn tiểu sử hành trạng của những Phật tử tại gia hết lòng vì đạo (do Bành Tế Thanh đời nhà Thanh biên soạn)—A compilation giving biography of many devout Buddhists.
; (居士傳) Gồm năm mươi sáu quyển, do Bành thiệu thăng (Pháp danh Tế thanh) đời Thanh kể, thu vào Vạn tục tạng tập 149. Nội dung sưu tập và chép những lời nói và việc làm của hơn hai trăm vị cư sĩ ngoại hộ Phật pháp từ đời Hậu Hán đến khoảng năm Càn long đời Thanh trong các sách Sử truyện, Chư gia văn tập, Bách gia tạp thuyết, Hoằng minh tập, Quảng hoằng minh tập, Phật pháp kim thang biên, Truyền đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên, Phật tổ thống kỉ và Phật tổ thông tải v.v... Khởi đầu từ các ngài Mậu dung, An huyền, Trúc thúc lan - cuối cùng là ngài Chu an sĩ, Tri qui tử (tức soạn giả Bành thế thanh) và phụ lục lời bình của ông Uông đại thân.
Cư sĩ 居士
[ja] コジ koji ||| (1) A householder, a man of wealth. (2) In classical China, an unemployed scholar. A retired scholar; an official out of office. (3) In the Indian caste system, the vaiśya, or merchant/artisan class. (4) A lay religious practitioner. => 1. Chủ hộ, người giàu có. 2. Trong xã hội cổ đại Trung Hoa, là người có học nhưng không được bố trí công việc. Là một học giả sống ẩn cư; một viên chức đã nghỉ việc. 3. Trong hệ thống giai cấp Ấn Độ, là tầng lớp phệ-xá (s: vaiśya), hoặc là thương nhân, nghệ sĩ. 4. Người tu tập theo đạo Phật tại gia.
cư tương
(居箱) Tức là cái rương đựng đồ vật để bên cạnh chỗ ngồi. Rương đóng bằng gỗ hình chữ nhật, phần nhiều được thếp vàng hoặc vẽ tranh để trang sức. Còn gọi là Cư cử (cái sọt), Cứ hàm (cái hòm), Tiếp tăng hạp (cái hộp). Rương để cất ba tấm áo, gọi là Tam y cử - rương đựng các đề mục để viết luận nghĩa, thì gọi là Thuyết tướng sương. Phần nhiều được dùng trong Pháp hội của Mật giáo Nhật bản, để cất ba áo, các pháp cụ v.v... thời gần đây, các tông phái khác cũng sử dụng. Trong Pháp hội, vị A xà lê sai đệ tử mang Cư sương, Hương lư sương và Như ý v.v... đi theo, khi ngồi thì để rương bên trái, hoặc để trên cái bàn ngay trước mặt.
Cư vũ
(琚瑀): đồ trang sức đeo bên mình, làm bằng châu ngọc hay ngọc thạch. Như trong tác phẩm Đại Đới Lễ Ký (大戴禮記), thiên Bảo Phó (保傅), có đoạn: “Thượng xa dĩ hòa loan vi tiết, hạ xa dĩ bội ngọc vi độ, thượng hữu song hành, hạ hữu song hoàng, dĩ nạp kỳ gian, cư vũ dĩ tạp chi (上車以和鸞爲節、下車以佩玉爲度、上有雙衡、下有雙璜、以納其間、琚瑀以雜之, xe phía trên lấy chuông treo làm nhịp điệu, xe bên dưới lấy ngọc bội để đánh giá, trên có hai đòn ngang, dưới có hai miếng ngọc nữa, để bỏ vào ở giữa, ngọc cư vũ để lẫn lộn nhau).” Lô Biện (盧辯, ?-?) nhà Ngụy chú thích rằng: “Tổng viết tỷ châu, nhi xích giả viết cư, bạch giả viết vũ (總曰玭珠、而赤者曰琚、白者曰瑀, tất cả gọi chung là ngọc trai; nhưng loại màu đỏ gọi là cư, màu trắng là vũ).”
cư xử
To behave—To conduct oneself.
cư đỉnh
(居頂) (? - 1404) Vị tăng tông Lâm tế đầu đời Minh. Người Thư châu (Lâm hải Chiết giang), họ Trần. Hiệu Viên cực, biệt hiệu là Viên am. Năm mười lăm tuổi, sư thụ Sa di tại chùa Tịnh an trong làng, học kinh Lăng nghiêm, kinh Viên giác. Khi ngài Thứ trung Vô uẩn trụ trì chùa Thụy nham, sư đến tham học và làm Thị giả. Sau sư lại theo ngài Thứ trung dời đến ở chùa Vĩnh lạc tại Trì khê. Năm Hồng vũ 16 (1383) sư bắt đầu hoằng pháp ở núi Thúy sơn thuộc huyện Ngân. Sư ở chùa Song lâm tại Kim hoa hai mươi tám năm, mấy lần Thục vương mời sư vào cung nhưng sư đều cố từ. Về sau, vâng sắc chỉ giữ chức Tăng lục ti tả giảng kinh. Không bao lâu, sư dời đến ở chùa Linh cốc tại phủ Ứng thiên (huyện Thượng khâu, tỉnh Hà nam). Năm Vĩnh lạc thứ 2 sư tịch. Không rõ tuổi thọ. Sư có các tác phẩm: Linh cốc viên cực Cư đính thiền sư Viên am tập 10 quyển, Tục truyền đăng lục 36 quyển. Ngoài ra, Đại tạng kinh (bản đời Minh) lúc bắt đầu được in tại Nam kinh, sư từng giúp đỡ công việc ấn loát. [X. Cư đính viên am tập, Tăng tục truyền đăng lục Q.6].
Cư 居
[ja] キョ、ゴ kyo, go ||| (1) To be. To dwell, to remain, to be in. To be situated in a certain place [存] (uśati). (2) To abide, to live at. Ones abode; residence. (3) A place, a scene. To place; to put into place. while being in a certain place... (4) To sit. (5) To occupy; one's occupation. (6) Bent on; to put into practice. => 1. Ở, cư ngụ, ở lại, sống tại. Ở tại môth nơi nào đó [ tồn 存 (s: uśati)] . 2. Tồn tại, sống ở. Nơi cư ngụ, trú xứ của một người. 3. Nơi, chỗ, quang cảnh. Để, đặt ở một vị trí 4. Ngồi. 5. Chiếm đóng; nơi cư ngụ của một người. 6. Xu hướng; đưa vào thực hành.
cưu
1) Cuộc thăm dò: A tally. 2) Phiếu bầu (làm bằng gỗ hay giấy): Ballot (made of wood or paper).
; (鬮) Còn gọi là Tiêm, Trất. Tức là rút xăm. Khi gặp một việc gì khó khăn, không quyết đoán được, người ta dùng những cái thẻ tre (tiêm), thanh gỗ (trất) hoặc một miếng giấy, viết chữ hoặc làm dấu tên đó - nếu là giấy thì vo tròn lại, bỏ vào ống hoặc cái bát mà lắc, xóc, rồi lấy một thẻ, dựa vào đó mà quyết định lành, dữ nên hay không nên. Phong tục này vốn là của Trung quốc, nhưng sau trong Phật giáo cũng sử dụng. Về chủng loại thì có xăm Quan âm, xăm Luân tướng v.v... [X. kinh Quán đính Q.10 Phạm thiên thần sách kinh - Phật tổ thống kỉ Q.26 truyện Vĩnh minh Trí giác Pháp sư].
cưu bàn trà
Kumvbhanda (S)Tên một loài quỉ. Xem Kiết bàn trà.
; Kumbhànda (S). A demon, shaped like a gourd, or pot, it devours the vitality of men.
; Kumbhanda (skt)—See Kumbhanda in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cưu bàn đồ
(鳩槃荼) Phạm: Kumbhàịđa, Pàli: Kumbhaịđa. Còn gọi là Câu bàn đồ, Cứu bàn đồ, Cung bàn đồ, Cưu mãn nô, Bàn tra. Dịch ý: loài quỉ hình cái hũ, quỉ hình quả bí, quỉ đáng ghét, là một trong hai bộ quỉ loại lệ thuộc trời Tăng trưởng, nhưng kinh Viên giác thì gọi quỉ này là Đại lực quỉ vương. Loài quỉ này ăn tinh khí người, đi nhanh như gió, biến hóa nhiều cách, ở nơi rừng hoang, cai quản các quỉ. Cứ theo kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 52 chép, thì đức Phật từng sai Tì lâu lặc thiên vương (trời Tăng trưởng) hộ trì châu Diêm phù đề ở phương nam. Dưới quyền Thiên vương này có đại thần Cưu bàn đồ, cầm đầu nhiều bộ chúng, có thế lực lớn. Dưới quyền vị Đại thần có anh em Cưu bàn đồ và các quyến thuộc: Đàn đề, Ưu ba đàn đề, Đại đỗ (bụng to), Cát ca xa, Ma ha bát thấp bà, Thập thủ (mười tay), Sơn hành (đi trong núi) v.v... [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2, Viên giác kinh lược sớ Q.4].
cưu cưu tra
Kukkuta (skt)—Loài kê điểu—A fowl.
cưu cưu tra bộ
Tên tiếng Phạn của Kê Dẫn Bộ, một trong số 18 bộ của Tiểu Thừa—Sanskrit name for Kukkuta Sect, one of the eighteen Hinayana sects.
cưu di la
Kokila (skt)—Tên một loài chim cu—A kind of cuckoo.
cưu la tần
Xem Ca la tôn đại Phật.
cưu lan đơn trà bán chỉ la
Xem Bán Chỉ La.
cưu ma la
Kumara (skt). 1) Đồng tử: A youth—A child. 2) See Câu Thi Na. 3) Thái tử: A prince.
cưu ma la ca diếp
Kumāra Kaśyapa (P).
; Kumàra-Kasyapa (S). Name of person. Also Đồng tử Ca diếp.
cưu ma la diên
Kumārayāna (S)Cha của sư Cưu ma la thập (Kumarajiva).
cưu ma la già
Kumaraka (skt)—See Cưu Ma La.
cưu ma la già viêm
Kumarayana (skt)—Cha của Ngài Cưu Ma La Thập—Father of Kumarajiva—See Kumarajiva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cưu ma la già địa
Còn gọi là Cưu Ma La Phù Địa, Cưu Ma La Phù Đa Địa, hay Đồng Tử Địa, Đồng Chân Địa, Đồng Tướng Địa, vân vân. Tên gọi chung cho Bồ Tát Địa, sắp sửa bước lên Phật Địa cũng như một vị Thái tử sắp lên ngôi vua—Kumaraka-stage, or Kumara-bhuta, youthful stage, i.e. a bodhisattva state or condition, e.g. the position of a prince to the throne.
cưu ma la phật đề
(鳩摩羅佛提) Phạm: Kumàrabuddhi. Dịch ý là Đồng giác. Nhà dịch kinh đời Tiền Tần, người Tây vực, đến Trung quốc vào thời Vũ đế nhà Tấn, ở chùa Nghiệp, dịch Tứ a hàm mộ sao giải 2 quyển, Phật đề đọc chữ Phạm, Trúc phật niệm, Phật hộ dịch ra chữ Hán, Tăng đạo, Tăng duệ viết chép. Cuối đời sư không biết ra sao. Khai nguyên thích giáo lục quyển 3 ghi: thời gian sư dịch kinh là tháng 8 năm Nhâm ngọ, năm Kiến nguyên 18 (382) đời Phù kiên. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.8].
Cưu Ma La Thập
(s: Kumārajīva, j: Kumarajū, 鳩摩羅什, 344-413, có thuyết cho là 350-409): âm dịch tiếng Phạn là Cứu Ma La Thập (究摩羅什), Cưu Ma La Thập Bà (鳩摩羅什婆), Cưu Ma La Đổ Bà (鳩摩羅耆婆), Cưu Ma La Thời Bà (鳩摩羅時婆), Câu Ma La Đổ Bà (拘摩羅耆婆), gọi tắt là La Thập (羅什), ý dịch là Đồng Thọ (童壽), còn gọi là La Thập Tam Tạng (羅什三藏). Ông người gốc nước Quy Tư (龜兹, thuộc vùng Sớ Lặc [疏勒], Tân Cương [新疆]), một trong 4 nhà dịch kinh vĩ đại của Trung Quốc. Cả cha mẹ ông đều tin thờ Phật. Cha là Cưu Ma La Viêm (鳩摩羅炎), gốc người Ấn Độ, từ bỏ ngôi vị Tể Tướng và xuất gia. Sau đó, ông đi du hóa khắp nơi, đến nước Quy Tư thuộc trung ương Châu Á, được quốc vương nước này kính mộ, rồi kết hôn với em gái nhà vua là Đổ Bà (耆婆) và sanh ra được một người con. Tên của Cưu Ma La Thập được hợp thành bởi tên cha (Cưu Ma La Viêm) và mẹ (Đổ Bà). Lúc nhỏ La Thập đã thông mẫn, năm lên 7 tuổi theo cha nhập đạo tu tập, rồi đi du học khắp xứ Thiên Trúc (天竺), tham cứu khắp các bậc tôn túc nổi tiếng đương thời, nghe rộng và ghi nhớ kỹ, nên tiếng tăm vang khắp. Sau đó ông trở về cố quốc, nhà vua trong nước tôn kính ông làm thầy. Vua Phù Kiên (符堅) nhà Tiền Tần (前秦) nghe đức độ của ông, bèn sai tướng Lữ Quang (呂光) đem binh đến rước ông. Lữ Quang chinh phạt miền Tây giành thắng lợi, rồi đến nghênh đón La Thập về kinh, nhưng giữa đường nghe Phù Kiên qua đời, bèn tự xưng vương ở Hà Tây (河西), do đó La Thập phải lưu lại Lương Châu (涼州) 16, 17 năm. Mãi cho đến khi Diêu Hưng (姚興) nhà Hậu Tần tấn công dẹp tan nhà họ Lữ, La Thập mới có thể đến Trường An (長安) được, tức là sau khi Đạo An (道安) qua đời 16 năm. Lúc bấy giờ là năm thứ 5 (401) niên hiệu Long An (隆安) nhà Đông Tấn. Diêu Hưng bái ông làm Quốc Sư, thỉnh ông đến trú tại Tiêu Dao Viên (逍遙園), cùng với Tăng Triệu (僧肇), Tăng Nghiêm (僧嚴) tiến hành công tác dịch kinh. Từ đó về sau, vào tháng 4 năm thứ 5 (403) niên hiệu Hoằng Thỉ (弘始) nhà Hậu Tần (後秦), La Thập bắt đầu dịch Trung Luận (中論), Bách Luận (百論), Thập Nhị Môn Luận (十二門論), Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Đại Trí Độ Luận (大智度論), A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Duy Ma Kinh (維摩經), Thập Tụng Luật (十頌律), v.v. Có nhiều thuyết khác nhau về số lượng kinh luận do ông phiên dịch. Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) cho là 35 bộ, 294 quyển. Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄) là 74 bộ, 384 quyển. Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Hoa, số lượng kinh điển Hán dịch ngày càng tăng nhiều, tuy nhiên lối dịch phần nhiều không thông suốt, văn chương khó hiểu, chẳng nhất trí với nguyên bản. Riêng La Thập thì vốn thông hiểu nhiều ngôn ngữ ngoại quốc, cho nên nội dung phiên dịch của ông hoàn toàn khác xa với các dịch bản trước đây, văn thể tuy giản dị nhưng súc tích, rõ ràng. Suốt đời La Thập đã đem tất cả năng lực của mình để phiên dịch các kinh điển Đại Thừa thuộc hệ Bát Nhã, cùng với những luận thư của học phái Trung Quán thuộc hệ Long Thọ (龍樹), Đề Bà (提婆). Những kinh điển Hán dịch của ông có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với sự phát triển Phật Giáo ở Trung Hoa. Sau này Đạo Sanh (道生) truyền Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận về phương Nam, kinh qua Tăng Lãng (僧朗), Tăng Thuyên (僧詮), Pháp Lãng (法朗), cho đến Cát Tạng (吉藏) nhà Tùy thì hình thành hệ thống Tam Luận Tông, và thêm vào Đại Trí Độ Luận (大智度論) để thành lập học phái Tứ Luận. Ngoài ra, Kinh Pháp Hoa (法華經) do ông phiên dịch đã tạo nhân duyên cho Thiên Thai Tông ra đời; Thành Thật Luận (成實論) là điển tịch trọng yếu của Thành Thật Tông; A Di Đà Kinh (阿彌陀經) cũng như Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) là kinh luận sở y của Tịnh Độ Tông. Bên cạnh đó, Di Lặc Thành Phật Kinh (彌勒成佛經) giúp cho tín ngưỡng Di Lặc phát triển cao độ; Phạm Võng Kinh (梵綱經) ra đời làm cho toàn Trung Quốc được truyền Đại Thừa giới; Thập Tụng Luật (十頌律) trở thành tư liệu nghiên cứu quan trọng về Luật học. Môn hạ của La Thập có hơn 3.000 người, trong số đó những nhân vật kiệt xuất có Đạo Dung (道融), Tăng Duệ (僧叡), Tăng Triệu (僧肇), Đạo Sanh (道生), Đàm Ảnh (曇影), Huệ Quán (慧觀), Đạo Hằng (道恒), Đàm Tế (曇濟), Tăng Đạo (僧導), v.v. Ông được kính ngưỡng như là vị tổ của Tam Luận Tông. Vào năm thứ 9 (413, có thuyết cho là năm thứ 5 [409]) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi.
cưu ma la thập
Kumàrajiva (S). Famous translator of Buddhist sùtras from sanscrit into chinese.
; See Kumarajiva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (鳩摩羅什) (344 - 413, có thuyết nói 350 - 409) Phạm: Kumàrajìva. Còn gọi là Cứu ma la thập, Cưu ma la bà, Câu ma la kì bà. Nói tắt là La thập, Thập. Dịch ý là Đồng thọ, người nước Cưu tư (Sớ lặc Tân cương) đời Đông Tấn. Là một trong bốn nhà dịch kinh lớn của Trung quốc. Cha mẹ sư đều xuất gia theo Phật, rất có đức hạnh. La thập từ nhỏ đã thông minh, bảy tuổi xin mẹ vào đạo, sau sư du học Thiên trúc, tham vấn khắp các bậc tôn túc danh tiếng, nghe nhiều nhớ dai, nổi tiếng khắp năm xứ Thiên trúc. Sau khi sư trở về nước, được vua tôn làm thầy. Phù kiên nhà Tiền Tần nghe danh đức của sư, sai tướng Lữ quang đem quân đi rước. Lữ quang đánh nước Cưu tư thắng trận đón được La thập, nhưng về đến nửa đường, nghe tin vua Phù kiên đã mất, Lữ quang đóng quân lại ở Hà tây và tự lập làm vua, La thập bị giữ lại tại Lương châu mười sáu, mười bảy năm. Mãi đến khi Diêu hưng nhà Hậu Tần đánh bại họ Lữ, La thập mới được đón về Trường an, năm ấy là năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn. Vua Diêu hưng tôn La thập làm Quốc sư, ở trong vườn Tiêu dao chuyên việc dịch kinh, có các vị Tăng triệu, Tăng nghiêm giúp đỡ. Từ tháng 4 năm Hoằng thủy thứ 5 (403) đời Hậu Tần, La thập lần lượt dịch được các kinh luận, như: Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận (ba luận trên được gọi chung là Tam luận), kinh Bát nhã, kinh Pháp hoa, luận Đại trí độ, kinh A di đà, kinh Duy ma, luật Thập tụng v.v... giới thiệu một cách có hệ thống học thuyết phái Trung quán của ngài Long thụ. Về tổng số kinh luận do sư dịch có nhiều thuyết khác nhau: Xuất tam tạng kí tập ghi ba mươi lăm bộ, hai trăm chín mươi tư quyển - Khai nguyên thích giáo lục thì nói bảy mươi tư bộ, ba trăm tám mươi quyển. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, kinh Phật được dịch ra chữ Hán mỗi ngày một nhiều, nhưng phần nhiều văn từ trúc trắc, ý nghĩa khó hiểu - đến La thập thì vì sư thông hiểu nhiều thứ tiếng nước ngoài, nên nội dung các kinh điển do sư dịch vượt trội hẳn lên, lời văn ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, cho mãi đến đời sau vẫn được coi trọng. Thời ấy, các bậc hiền tài từ bốn phương về theo sư, La thập hết lòng tiếp dắt, đều được tỏ ngộ lí sâu xa. Suốt đời, La thập dốc sức vào việc mở rộng pháp môn, phiên dịch các kinh điển Đại thừa thuộc hệ Bát nhã, và các luận của Trung quán bộ thuộc hệ Long thụ, Đề bà. Những kinh luận do sư dịch đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của Phật giáo Trung quốc: Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận do Đạo sinh truyền bá ở phương nam, qua các vị Tăng lãng, Tăng thuyên, Pháp lãng đến Cát tạng đời Tùy mà tập đại thành tông Tam luận, cộng thêm luận Đại trí độ nữa mà thành là học phái Tứ luận. Ngoài ra, kinh Pháp hoa do sư dịch là đầu mối mở ra tông Thiên thai, luận Thành thật là luận điển căn bản của học phái Thành thật - kinh A di đà và luận Thập trụ tì bà sa là những kinh luận y cứ của tông Tịnh độ - kinh Di lặc thành Phật đẩy mạnh sự phát triển của tín ngưỡng Di lặc. Khi kinh Tọa thiền tam muội được sư dịch ra đã nhanh chóng đưa đến sự lưu hành Bồ tát thiền. Nhờ kinh Phạm võng mà Trung quốc được truyền giới Đại thừa - rồi luật Thập tụng là tư liệu trọng yếu giúp cho việc nghiên cứu Luật học.Học trò của La thập gồm các vị nổi tiếng như: Tăng triệu, Đạo sinh, Đạo dung, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tăng đạo v.v... gây dựng thành hai học phái Tam luận và Thành thật, vì thế, La thập cũng được tôn làm tổ của tông Tam luận. Sư hoạt động được mười hai năm thì nhập tịch, lúc ấy vào năm Nghĩa hi thứ 9 đời Tấn, thọ bảy mươi tuổi. Cũng có thuyết nói, sư tịch vào năm Nghĩa hi thứ 5. Lại cứ theo Lương cao tăng truyện chép, thì vì vua Diêu hưng cho La thập là bậc thông minh siêu phàm, không thể không có người nối dõi, nên nhà vua dâng 10 người con gái ép sư phải nhận. Vua Hiếu văn đế nhà Nguyên Ngụy từng đến Lạc dương, sai sứ đi tìm con cháu của La thập để mời ra làm quan. Mãi đến đời Tùy, họ Cưu ma ở Quan trung còn có người hiển đạt, có thuyết cho đó là hậu duệ của La thập. [X. bài tựa kinh Đại phẩm Bát nhã - bài tựa Bách luận - bài tựa luận Đại trí độ - Lương cao tăng truyện Q.2 - Quảng hoằng minh tập Q.23].
cưu ma la viêm
(鳩摩羅炎) Phạm:Kumàràyaịa, người Thiên trúc, cha của Cưu ma la thập. Ngài sinh trong nhà Tướng quân, nhưng không thừa kế chức tướng mà lại xuất gia. Ngài vượt qua dãy núi Thông lãnh đi về phía đông, đến nước Cưu tư. Quốc vương Cưu tư kính mến và tôn ngài làm Quốc sư. Nhà vua có người em gái tên là Kì bà (Phạm: Jivaka) mới hai mươi tuổi, rất thông minh, vua ép La viêm phải lấy làm vợ, sau sinh được một con, tức là Cưu ma la thập. Ngày xưa, khi đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho mẫu hậu, vua Ưu điền nhớ Phật quá, bèn sai người dùng gỗ chiên đàn khắc tượng Phật, để ở nước Câu diệm di. Về sau, Ngài Cưu ma la viêm mang tượng ấy sang phía đông, vượt qua Thông lĩnh đến nước Cưu tư. Đến khi vua nước Cưu tư ép bức ngài Cưu ma la viêm lấyem gái mình làm vợ, thì ngài Cưu ma la viêm sai sứ đưa tượng đến Diêu Tần. Về sau, nhà Lưu Tống Nam triều phá Diêu Tần, rước tượng về Giang tả, để thờ ở chùa Long quang, đời gọi là tượng điềm lành ở Long quang. [X. Lương cao tăng truyện Q.2 truyện Cưu ma la thập - Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3 đoạn 2].
cưu ma la đa
Kumāralāta (S)Tên vị Tổ thứ 19 giòng Ấn.
; Kumàralàta (S). Name of person. Also Đồng thụ.
; Kumaralabdha (skt)—Còn gọi là Câu Ma La La Đa, Củ Ma La Đa, Cưu Ma La Đà, Cưu Ma La Đạt, Hán dịch là Đồng Hào, Đồng Thủ, Đồng Thụ, Đồng Tử—Tên của hai vị sư nổi tiếng, một là Cưu Ma La Đa sống thời vua A Dục (theo Duy Thức Thuật Ký, sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, ở nước Đát Xoa Kiều La, phía bắc Thiên Trúc, có ngài Cưu Ma La Đa, dịch là Đồng Thủ đã làm ra “Cửu Bách Luận.” Rồi 400 năm sau mới ra đời một vị khác cũng tên Cưu Ma La Đa làm tổ đời thứ 19 ở Ấn Độ), hai cũng là Cưu Ma La Đa là vị tổ thứ 19 ở Ấn Độ—Names of two noted monks, one during the period of Asoka, of the Sautrantika sect; the other Kumaralabdha, or Kumarata, the nineteenth patriarch.
; (鳩摩邏多) Phạm: Kumàralabdha, Kumàralàta. Tổ thứ 19 của Thiền tông. Cũng gọi là Cưu ma la đà, Cự ma la đa, Câu ma la đa, Cứu ma la đà. Dịch ý là Đồng thụ, Đồng thủ, Hào đồng, Đồng tử. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 6 chép, thì sư sinh ở nước Đát xoa thủy la, thông minh từ nhỏ nên được gọi là Đồng tử. Sau sư xuất gia học đạo, theo ngài Tăng già da xá thụ pháp, tài học hơn đời. Lúc đầu, sư soạn các luận tại nước Đát xoa thủy la, sau sư đến nước Khiết bàn đà chuyên việc giáo hóa. Bình sinh sư thâm nhập kinh điển Phật giáo, thấu suốt ý chỉ sâu kín, lập chính pháp, phá tà kiến, hưng long Phật pháp. Về sau, sư truyền pháp cho đệ tử là Xà dạ đa. Đại đường tây vực kí cũng ghi chép tương tự như thế, nhưng lại nói sư là Tổ sư của Kinh lượng bộ (tức Kinh bộ), và được người thời bấy giờ tôn xưng là Nhật xuất luận sư (luận sư mặt trời mọc), lại cùng với các ngài Mã minh, Long thụ, Đề bà được gọi chung là Bốn mặt trời soi sáng đời. Đại đường tây vực kí quyển 3 Đát xoa thủy la quốc (Đại 51, 885 thượng), nói: Xưa kia, luận sư Câu ma la da đa (Hán dịch là Đồng thụ) của Kinh bộ đã trứ tác các bộ luận ở nước này. Đại đường tây vực kí quyển 12 Khiết bàn đà quốc (Đại 51, 942 thượng), nói: Vua Vô ưu sai người kiến tạo tháp (tốt đổ ba) trong cung vua, sau nhà vua dời đến ở góc đông bắc của cung, nhường cung cũ để xây cất già lam cho tôn giả Đồng thụ luận sư. Lầu gác cao rộng, tượng Phật uy nghiêm. Tôn giả là người nước Đát xoa thủy la, thông minh dĩnh ngộ từ thuở nhỏ, sớm xa trần tục. (...) Các luận do sư viết, gồm vài chục bộ, lưu hành rất thịnh, ai cũng học tập. Tôn giả là Tổ sư của Kinh bộ vậy. Xuất tam tạng kí tập quyển 11 truyện Ha lê bạt ma, và Tam luận huyền nghĩa trích dẫn bài tựa của Tăng duệ trong luận Thành thật, bảo sư là học giả Tiểu thừa của nước Kế tân, thuộc Tát bà đa bộ, là thầy của Ha lê bạt ma, tác giả luận Thành thật. Năm sinh năm mất không rõ, nhưng theo niên đại của Ha lê bạt ma, và truyền thuyết bốn luận sư mặt trời xuất hiện và thuyết của Phó pháp tạng nhân duyên truyện, thì niên đại tồn tại của sư nên được đặt ở khoảng giữa các ngài Long thụ và Thế thân, tức vào khoảng cuối thế kỉ thứ III Tây lịch. Nhưng Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 thì cho rằng sư ra đời khoảng hơn một trăm năm sau đức Phật nhập diệt - còn luận Dị bộ tông luân nói: sau Phật nhập diệt bốn trăm năm Kinh bộ mới bắt đầu chia phái. Như vậy nếu sư là Tổ sư của Kinh bộ thì cũng phải trong bốn trăm năm ấy. Các thuyết lộn xộn, đúng sai thế nào còn phải chờ nghiên cứu mới rõ. Cũng theo các ghi chép trên thì sư đã viết rất nhiều sách, hoặc nói đến vài chục bộ, hoặc năm trăm luận. Trung quán luận sớ quyển 1 phần đầu nói, sư từng viết luận Nhật xuất - Thành duy thức luận thuật kí quyển 4 phần đầu nói, sư đã viết luận Kết phát - Câu xá luận quang kí quyển 2 bảo, sư có trứ tác các luận Dụ man, Si man và Hiển liễu. Lại cứ theo bài tựa của Tăng duệ trong Quan trung xuất Thiền kinh nói, thì bốn mươi ba bài kệ đầu trong kinh Tọa thiền tam muội là do sư làm. Ngoài ra, các học giả cận đại, khi nghiên cứu những chỗ đứt đoạn bằng tiếng Phạm của Đại trang nghiêm kinh luận còn sót lại được phát hiện tại Tân cương, có người chủ trương luận này đã do tay sư viết ra - là vì trước nay Đại trang nghiêm kinh luận được coi là tác phẩm của ngài Mã minh, cho nên ý kiến trên rất được học giới chú ý. [X. luận Câu xá Q.2 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.38 - Cảnh đức truyền đăng lục Q.2 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2 - Tiểu thừa Phật giáo khái luận - H. Lüders: Bruchstüeke des Kalpanà maịđitikà des Kumàralàta].
cưu mang
To bear—To keep up.
cưu na la
Kunala (skt)—See Cưu Di La.
; (鳩那羅) I. Cưu na la. Phạm: Kunàla. Cũng gọi là Câu na la, Cưu di la, Câu lãng nô. Là tên của loài chim có mắt đẹp. Dịch ý là chim mắt đẹp. II. Cưu na la. Là tên riêng của Thái tử Đạt ma bà đà na (Phạm: Dharmavardhana), con vua A dục, vì đôi mắt Thái tử đẹp, giống như mắt chim Cưu na la cho nên có biệt danh như thế. Cũng gọi là Câu na la. Thái tử sinh vào ngày mà vua A dục khởi công kiến tạo tám vạn bốn nghìn tháp, dung mạo tuấn tú, hai mắt trong xanh. Khi Thái tử lớn lên, đệ nhất phu nhân của vua A dục là bà Trưng sa lạc khởi đa (Phạm: Tiwyarakwità), say đắm dung mạo của Thái tử, ngấm ngầm muốn tư thông, Thái tử khóc lóc tạ tội. Phu nhân mang hận, nịnh hót nhà vua để sai Thái tử đi dẹp loạn tại nước Đức xoa thi la, sau lại giả mạo lịnh vua móc hai mắt Thái tử rồi bỏ ở nơi hoang dã. Thái tử đã mù, lưu lạc về đến đô thành của vua cha, đêm đêm gảy đàn hát than thảm thiết. Vua nghe tiếng hát, ngờ là Thái tử, sai người ra dẫn vào để hỏi. Thái tử khóc lóc thương thảm, kể hết sự thật, vua mới biết là do hành vi của phu nhân, bèn gia hình nặng nề, Thái tử đọc bài kệ can vua (Đại 50, 147 thượng): Hết thảy người phàm phu, đều do nghiệp tạo ra - nghiệp duyên thiện và ác, đã đến thì phải chịu. Hết thảy mọi chúng sinh, mình làm mình chịu báo, con biết vì lẽ ấy, không nói người hại mình. Khổ này con tự làm, không ai khác gây cả, nhân duyên mắt mù này, không do người gây nên. Vua không nghe lời can của Thái tử và định hình phạt phu nhân. Về sau, vua đưa Thái tử đến già lam ở cây Bồ đề, nơi A la hán Cù sa ở để xin ngài dùng thuốc pháp lực chữa mắt cho Thái tử. Nhưng chưa bao lâu, Thái tử nghe tin phu nhân đã bị hành hình, bệnh lại tái phát và rồi qua đời. Cuộc đời của Thái tử Cưu na la đã trở thành một nhân vật đầy kịch tính rất nổi tiếng tại Ấn độ. Trong các kinh cũng có nhiều chỗ ghi sự tích này. [X. kinh Tạp a hàm Q.23 - kinh A dục vương Q.4 - kinh A dục vương tức hoại mục nhân duyên - Kinh luật dị tướng Q.33].
cưu-cưu-trá
xem cứu-cứu-la.
Cưu-lặc-na
鳩勒那; S: haklenayaśa;|Tổ thứ 23 của Thiền tông Ấn Ðộ
Cưu-ma-la-thập
鳩摩羅什; S: kumārajīva; dịch nghĩa là Ðồng Thọ ; 344-413;|Một dịch giả Phật học nổi tiếng, chuyên dịch kinh sách từ văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán. Cưu-ma-la-thập xuất phát từ một gia đình quý tộc tại Dao Tần (kucha), thuộc xứ Tân Cương ngày nay. Sư bắt đầu tu học Tiểu thừa (s: hīnayāna) nhưng về sau lại trở thành pháp khí Ðại thừa (s: mahāyāna). Năm 401 Sư đến Trường An và bắt đầu công trình dịch thuật với sự góp sức của hàng ngàn nhà sư. Năm 402, Sư được phong danh hiệu »Quốc sư«.|Những kinh sách quan trọng được Cưu-ma-la-thập dịch là: A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra, năm 402), Diệu pháp liên hoa kinh (s: saddharmapuṇḍarīka-sūtra, 406), Duy-ma-cật sở thuyết kinh (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra, 406), Bách luận (s: śataśāstra, 404) của Thánh Thiên (s: āryadeva) cũng như Trung quán luận tụng (s: madhyamaka-kārikā, 409), Ðại trí độ luận (s: mahāprajñā-pāramitā-śāstra, 412), Thập nhị môn luận (s: dvādaśadvāra-śāstra, 409) của Long Thụ (s: nāgārjuna), người thành lập tông Trung quán (s: mādhyamika). Nhờ ba công trình cuối kể trên Sư đã truyền bá giáo pháp của Trung quán tông rộng rãi tại Trung Quốc.|Mới lên bảy, Cưu-ma-la-thập đã cùng mẹ là một công chúa gia nhập Tăng-già. Hai mẹ con đến Kashmir và học giáo lí Tiểu thừa với các vị sư nổi tiếng nhất. Sau đó hai người lưu lại tại Kashgar một năm và Sư học thêm ngành thiên văn, toán và khoa học huyền bí. Cũng nơi đó, Sư bắt đầu tiếp xúc với Ðại thừa và sau đó chuyên tâm tìm hiểu giáo pháp này. Dần dần danh tiếng của Sư là luận sư xuất sắc lan xa, đến tới triều đình Trung Quốc. Năm 384 Sư bị bắt trong một cuộc chiến tranh tại Dao Tần (ku-cha) và bị một viên tướng Trung Quốc giam giữ 17 năm. Năm 402 Sư được thả về Trường An và được triều đình Trung Quốc ủng hộ trong công tác dịch kinh.|Công lớn của Sư trước hết là thay đổi phương pháp phiên dịch. Bản thân Sư nói được tiếng Trung Quốc và cộng sự viên cũng đều là người giỏi Phật giáo và Phạn ngữ (sanskrit). Cách dịch kinh của Sư như sau: giảng kinh hai lần bằng tiếng Trung Quốc, sau đó các tăng sĩ Trung Quốc thảo luận và viết lại bằng tiếng Hán. Sau đó Sư lại kiểm soát và so sánh nguyên bản cũng như bản dịch để ra bản chung quyết. Khác với các nhà dịch thuật khác tìm cách dịch từng chữ, Sư là người đưa được nội dung sâu xa của kinh sách vào chữ Hán và – nếu thấy cần thiết – cũng mạnh dạn cắt bỏ một vài đoạn kinh không hợp và biến đổi văn từ cho hợp với người Trung Quốc.
Cưu-ma-la-đa
鳩摩邏多; S: kumāralāta;|Tổ thứ 19 của Thiền tông Ấn Ðộ.
cưï
Lớn—Nhiều—Great.
Cưú cánh nhất thừa bảo tính luận 究竟一乘寶性論
[ja] キュウキョウイチジョウホウショウロン Kyūkyouichijou houshouron ||| The Chiu-ching i-sheng pao-hsing lun; (Ratnagotravibhāga-mahāyānanottaratantra-śāstra); four fascicles; translated into Chinese by Ratnamati 勒那摩提. T 1611.31.831a-848a. => (c: Chiu-ching i-sheng pao-hsing lun; s: Ratnagotravibhāga-mahāyānanottaratantra-śāstra). Bốn quyển, Lặc-na-ma-đề (s: Ratnamati 勒那摩提) dịch sang tiếng Hán.
Cưú cánh vị 究竟位
[ja] クキョウイ kukyōi ||| The 'final stage' among the five stages of practice enumerated by Vasubandhu in his Thirty Verses on Consciousness-only. The fruit of Buddhahood. Reversing the basis of one's existence, experiencing great enlightenment and great nirvāna. The person who has achieved this rank will engage in the practice of saving all sentient beings in a future lifetime. => Giai vị cuối cùng trong 5 giai vị tu đạo mà ngài Thế Thân liệt kê trong Duy thức tâm thập tụng. Là quả vị Phật. Ngược với nền tảng hiện hữu của chúng sinh, là trải qua sự chứng ngộ rốt ráo và đại niết-bàn. Người đã đạt được giai vị nầy sẽ phát tâm tu tập để cứu độ chúng sinh trong những đời sau.
Cương
剛; C: gāng; J: gō;|1. Cứng, rắn, mạnh, cứng đầu, bền; 2. Phổ biến, phát triển mạnh; 3. Thật như vậy, đúng như, chính xác như; 4. Ngay bây giờ, mau chóng.
cương
1) Cứng nhắc: Stiff—Rigid. 2) Mạnh mẽ rắn chắc—Firm—Determined—Hard—Decided—Strong—Forceful—To force—To strengthen. 3) Sợi dây: A net rope—Bond.
cương cách
(綱格) Những qui luật của nhà Phật. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 46, 97 hạ), nói: Cương cách của giáo môn là cột trụ vững chắc để chống đỡ ngôi nhà Phật pháp. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7 đoạn 4].
cương duy
Vị kiểm soát công việc trong chùa—The controller of a monastery.
; (綱維) Là chức tăng phụ trách lãnh đạo, trông coi các việc trong chùa viện. Cứ theo Nghĩa sở lục thiếp quyển 6 Sư đồ giáo giới bộ chép, thì Cương duy tức chỉ Trụ trì, Thượng tọa, Duy na, còn các chức khác chỉ gọi là Tri sự. Theo đó, ởthời Ngũ đại, Tam cương của chùa gọi là Cương duy. [X. Tục cao tăng truyện Q.10 truyện Trí lâm, Đại từ ân tựtam tạng pháp sư truyện Q.7 - Bất không tam tạng biểu chế tập Q.3]. (xt. Tam Cương).
cương già
Sông Hằng—The Ganges River.
Cương luân giả tam
(綱綸者三): theo quan niệm của xã hội phong kiến ngày xưa, đây là mối quan hệ ràng buộc về đạo đức mà con người cần phải thực hiện, có 3 điều (tức Tam Cương [三綱]): đạo của vua tôi, cha con và vợ chồng. Có nghĩa là bầy tôi phải tuyệt đối phục tùng đức vua, con phải vâng lời cha và vợ phải thờ chồng. Như trong Tam Tự Kinh (三字經) có giải thích rằng: “Tam Cương giả, quân thần nghĩa, phụ tử thân, phu phụ thuận (三綱者、君臣義、父子親、夫婦順, Tam Cương là vua tôi sống có nghĩa, cha con thân thiết, chồng vợ thuận thảo).” Tam Cương thường đi đối với Ngũ Thường (五常, năm nguyên tắc quan hệ luân lý của con người, gồm Nhân [仁], Nghĩa [義], Lễ [禮], Trí [智] và Tín [信]) và không thể tách ly; được gọi là Cương Thường (綱常). Dưới thời Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 trước CN), xuất phát từ mối quan hệ giữa trời và con người và căn cứ vào tư tưởng “thiên tôn địa ty (天尊地卑, trời cao đất thấp)”, Đổng Trọng Thư (董仲舒, 179-104 trước CN) thiết lập ra Tam Cương Ngũ Thường (三綱五常) này. Trong Phong Thần (封神), hồi thứ 7, Phí Trọng Kế Phế Khương Hoàng Hậu (費仲計廢姜皇后) có câu: “Dưỡng thành sàm ngược Tam Cương tuyệt, nhưỡng tựu húng tường vạn tánh sầu (養成讒虐三綱絕、釀就酗戕萬姓愁, lớn lên lỗ mãng Tam Cương hết, gây rối say sưa trăm họ buồn).”
cương lĩnh
Fundamental.
cương lương da xá
Kālayaśa (S)Sa môn Ấn độ đời Lưu Tống sang Tàu dịch bộ Quán Vô lượng thọ Phật Kinh, là bộ kinh căn bản của phái Tịnh độ (383 - 442).
; (畺良耶舍) (383 - 442) Phạm: Kàlayazas. Dịch ý là Thời xưng. Nhà dịch kinh ở thời đại Lưu Tống, người Tây vực. Sư thông suốt A tì đàm, Luật bộ, đặc biệt giỏi về Thiền quán. Sư đến Kiến nghiệp vào niên hiệu Nguyên gia năm đầu (424) đời Lưu Tống, ở tinh xá Đạo lâm tại Chung sơn, dịch được các kinh Quán vô lượng thọ Phật, kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát. Năm Nguyên gia 19, sư về đất Thục, đến đâu cũng hoằng đạo nói pháp, Thiền đồ theo đông. Sau, sư trở lại Giang lăng, chưa bao lâu thì nhập tịch, thọ sáu mươi tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.3 - Khai nguyên Thích giáo lục Q.5 - thích thị lục thiếp Q.9].
cương lương lâu chi
Xem Chi cương lương lâu.
cương lương lâu chí
Kālaruci (S)Tỳ kheo Ấn độ đến Việt nam khoảng 255 - 256 dịch kinh Phạn ra Hán ngữ.Xem Chơn Hỷ.
cương mục
Outline.
; (綱目) Tông Thiên thai lấy bốn giáo Hóa nghi: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định làm đại cương (toàn thể tấm lưới) phán giáo của tông này, và lấy bốn giáo Hóa pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên làm cương mục (những mắt lưới trong toàn tấm lưới) giải thích nghĩa. Pháp hoa văn cú kí quyển 1 (Đại 34, 160 thượng), nói: Đốn, Tiệm v.v... là đại cương phán giáo của tông này, Tạng, Thông v.v... là cương mục thích nghĩa. Cũng có người dùng Võng mục, vì lấy nghĩa là những mắt nhỏ của tấm lưới. Từ này có xuất xứ từ Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 10 phần trên. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
cương ngạnh
Stubborn.
cương nhu
Hard and soft.
cương quyết
Determined—Decided—Determination.
cương sa lạc
Samsara (skt)—Dòng luân hồi sanh tử—The course of transmigration.
cương thường
Cang thường—Constant obligations of morality—The restraints of society—Social nexus.
cương thổ
Territory.
cương trực
Upright.
cương yếu
Fundamental—Essential.
cương yếu niệm phật
Vì sự sanh tử, mà phát tâm Bồ đề với tín nguyện sâu niệm trì Hồng danh Phật A Di Đà cho đến lúc vãng sanh Tịnh Độ—The core (kernel) of the Pure Land Method: “Because of the birth and death, develop the Bodhi mind with deep faith and vow to recite Amitabha Buddha's name until the time of rebirth in the Pure Land.”
Cương 剛
[ja] ゴウ gō ||| (1) Hard, severe, strong, unyielding, enduring. (2) Popular, flourishing. (3) Really, truly, exactly. (4) Right now, soon. => Có các nghĩa sau: 1.Cứng, khắc khe, kiên cố, kiên định, nhẫn nại. 2. Nổi tiếng, khoa trương. 3. Thực ra, đích thực, chính xác. 4. Ngay bây giờ, ngay.
Cương-lương-da-xá 畺良耶舎
[ja] コウリョウヤシャ Kōryōyasha ||| Kālayaśas. A Central Asian scholar-monk, said to be a meditation master as well. He came to Jianye in 424 and translated the Guan wuliangshou jing 觀無量壽經, and the Guan yaowang yaoshang erpusa jing 觀藥王藥上二菩薩經. He died at age 60, => (s: Kālayaśas). Tăng sĩ học giả Phật giáo vùng Trung Á, còn là một vị Thiền sư. Ngài đến Kiến Nghiệp năm 424 rồi dịch Quán Vô lượng thọ kinh (c: Guan wuliangshou jing 觀無量壽經), và Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ-tát kinh (c: Guan yaowang yaoshang erpusa jing 觀藥王藥上二菩薩經). Ngài viên tịch năm vào 60 tuổi.
Cửu Ngã Hoàn Khê
(久我環溪, Kuga Kankei, 1817-1884): tức Cửu Ngã Mật Vân (久我密雲, Kuga Mitsuun), vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, trú trì đời thứ 61 của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), Quản Trưởng của Tào Động Tông, húy Mật Vân (密雲), đạo hiệu Hoàn Khê (環溪), hiệu Tuyết Chủ (雪主), nhụ Tuyệt Học Thiên Chơn Thiền Sư (絕學天眞禪師), xuất thân vùng Tây Cảnh Thành (西頸城), Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata-ken [新潟縣]). Năm lên 12 tuổi, ông xuất gia, theo hầu Kiên Quang (堅光) ở Thanh Lương Tự (清涼寺) vùng Cận Giang (近江, Ōmi), và kế thừa dòng pháp của Huệ Cảo (慧杲) ở Hưng Thánh Tự (興聖寺) vùng Vũ Trị (宇治, Uji) thuộc Sơn Thành (山城, Yamashiro). Từ Hưng Thánh Tự ông chuyển qua sống ở Hào Đức Tự (豪德寺). Đến năm 1871, ông được cử làm trú trì Vĩnh Bình Tự, và năm sau làm Quản Trưởng của Tào Động Tông. Ông là người đã tận lực trong việc chống đối phong trào Phế Phật Hủy Thích và ủng hộ Phật pháp. Trước tác của ông có Hoàn Khê Mật Thiền Sư Ngữ Lục (環溪密禪師語錄).
Cửu Ngã Thông Thân
(久我通親, Kuga-no-Michichika): tức Nguyên Thông Thân (源通親, Minamoto-no-Michichika, 1149-1202), nhà quý tộc, công gia, chính trị gia sống vào đầu thời Liêm Thương, con của Nguyên Nhã Thông (源雅通, Minamoto-no-Masamichi), thuộc hàng cháu của Thôn Thượng Nguyên Thị (村上源氏, Murakami Genji); biệt danh là Thổ Ngự Môn Nội Đại Thần (土御門內大臣), Phi Tướng Quân (飛將軍), Nguyên Bác Lục (源博陸). Có thuyết cho rằng ông là thân phụ của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen). Trong Tào Động Tông vẫn thường gọi ông là Cửu Ngã Thông Thân. Ông từng bài xích vị Quan Bạch Cửu Điều Kiêm Thật (九條兼實, Kujō Kanezane), người kết thân với Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo); giúp cho cháu ngoại Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇, Gotsuchimikado Tennō, tại vị 1464-1500) lên ngôi và nắm quyền thế. Ông có sở trường về Hòa Ca, có trước tác Cao Thương Viện Nghiêm Đảo Ngự Hạnh Ký (高倉院嚴島御幸記), v.v.
cước
Chân—Fot—Leg.
cước bình
(脚絣) Mảnh vải bó chân, dùng khi đi xa. Cũng gọi là Hành triền (quấn chung quanh chân để đi), Hĩnh y (áo của cẳng chân), Hĩnh cân (khăn buộc cẳng chân), Hộ chuyên y (áo bảo vệ gót chân). Tục gọi là Cước bán (buộc chân). Vào mùa rét, Thiền lâm dùng cước băng để chống rét, khi đi đường thì dùng để bảo vệ bắp chân. Trong luật điển thì gọi là Hộ thuyên y (áo bảo vệ bắp chân). [X.luật Ngũ phần Q.20 - Tổ đình sự uyển Q.8 - Sắc tubách trượng thanh qui Q.hạ Đại chúng chương vong tăng điều - Thiền lâm tượng khí tiên phục chương môn].
cước bố
Tấm vải lau chân—Foot-towel.
; (脚布) Khăn trắng, buộc nơi bụng, sau thắt quần tắm. Cũng gọi là Cước cân (khăn chân). Hoặc chỉ cái đệm lót ở ngoài cửa nhà tắm để phòng khỏi trượt chân. Về sau, chỉ mảnh vải quấn trước mình từ bụng trở xuống khi đun nấu và quét dọn. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Đại chúng chương Nhật dụng quĩ phạm mục Nhập dục, Xuất dục - Thiền lâm tượng khí tiên Phục chương môn].
cước cân
(脚跟) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là gót chân. Trong Thiền lâm, Cước cân thường được dùng để chỉ tự ngã bản lai. Vì gót chân dẫm lên đất, thì đứng trên mặt đất một cách vững chắc không hề lay động, cho nên dùng để thí dụ tự ngã bản lai. Gót chân chưa chấm đất, hay còn nói là đặt chân chưa vững là tiếng dùng để chỉ sự tu hành chưa thuần thục. Gót chân chấm đất, chỉ tiền tế hậu tế đã chấm dứt, thấy suốt bản lai diện mục, tất cả công phu đều bỏ. Gót chân đã lún sâu vài trượng, có nghĩa là đã rơi uống hố sâu phiền não, tức là mê vọng rất sâu, cũng nói là gót chân đã lún quá sâu dưới bùn. [X. Bích nham lục tắc 1 - Thiền uyển thanh qui Q.2 Tiểu tham].
cước hạ yên sinh
(脚下烟生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là khói đen từ dưới chân sinh ra đến nỗi không còn thấy được vật gì. Trong Thiền lâm dùng từ ngữ này để biểu thị đi tìm Phật pháp ở bên ngoài, giống như dưới chân sinh ra khói, khiến cho tự ngã xưa nay càng thêm mờ mịt. Thung dung lục tắc 58 (Đại 48, 263 hạ), nói: Diễn nhã đa soi gương hoảng chạy (dưới chân sinh khói đen), Phá táo đọa gậy phang bể lò (vỡ làm trăm mảnh)
cước sắc
(脚色) Tức là tờ khai lí lịch phải nộp cho quan lại khi dự thi. Còn gọi Cước sắc trạng, Cước căn. Đời Tống, những người thi Đình phải nộp bản lí lịch ghi rõ họ tên, tuổi, quê quán, gia cảnh v.v... Trong Thiền lâm, cước sắc chỉ cho giấy lí lịch của vị tăng xuất trình cho vị Duy na khi mới đến tùng lâm.
cước đầu bạc
(脚頭簿) Cuốn sổ của người đi khuyến hóa ghi chép tên những người cúng tiền của. Thiền uyển thanh qui quyển 5. Hóa chủ (Vạn tục 111, 451 thượng), nói: Hóa chủ về viện, trình bày mọi việc, tính toán tài vật quyên được, ghi từng khoản vào cước đầu bạ và nạp một bản sao ghi các tài vật ấy.
Cước-câu-đà Ca-na-diễn-na
xem Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên.
cướp bóc
To rob.
cướp lời
To interrupt.
cười
To laugh.
cười chê
To make fun of.
cười gằn
To laugh sarcastically.
cười khanh khách
To laugh heartily.
cười khinh bỉ
To laugh scornfully—To laugh contemptuously.
cười một mình
To laught quietly to oneself.
cười nhạo
To laugh at someone.
cười om sòm
To laugh loudly.
cười ầm lên
To burst out laughing.
cường
Strong—Forceful—Violent.
cường bạo
Fierce—Violent.
cường dũng
Strong and brave.
cường hào
Man of influence in the village.
cường kiện
Strong.
cường lương lâu chí
(强梁婁至) Phạm:Kàlaruci. Dịch ý là Chân hỉ. Nhà dịch kinh đời Tây Tấn, người Tây vực, tính tình phóng khoáng, có chí hoằng pháp. Sư đến Quảng châu năm Thái khang thứ 2 (281, có thuyết nói năm Thái thủy thứ 2) đời Vũ đế, dịch kinh Thập nhị du 1 quyển, nay không còn. Năm sinh năm mất đều không rõ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.6 - Đại đường nội điển lục Q.2 - Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.4].
cường lực
Strength.
cường ngạnh
Stubborn.
cường nhược
Strong and weak.
cường phú
Rich and mighty.
cường thịnh
Properous.
cường tráng
Virgorous—Forceful.
cường đại
Strong and big.
cường đạo
Đạo tặc—Bandit—Robber—Pirate .
cưỡng
Compulsory.
cưỡng bách
To force.
cưỡng bức
To make someone to do something by force.
cưỡng lại
To resist—To stand up against.
Cưỡng phiên chi 強翻之
[ja] キョウホンシ kyōhonshi ||| "If I am forced to translate it..." => “Gượng ép phải dịch là. . .”
cưỡng độc
(强毒) Kết duyên độc cổ (trống của cõi trời trên mặt có bôi thuốc độc) mạnh mẽ để tiêu diệt cái ác. Cũng gọi là Cương độc...... Tức là đối với những người không tin Phật pháp, nói giáo lí một cách mạnh mẽ để khiến họ nghe - hoặc khi nghe người ta phỉ báng Phật pháp, thì nhân ngay dịp ấy mà kết duyên Phật. Cứ theo kinh Pháp hoa phẩm Thường bất khinh nói, thì bồ tát Thường bất khinh tuy gặp người ta chửi mắng, thậm chí bị người ta dùng gậy đánh mình, lấy đá ném mình, nhưng vẫn từ bi kính trọng mà nói: Các ông đều sẽ thành Phật. Về điểm này, trong Pháp hoa văn cú quyển 10 phần trên, đại sư Trí khải tông Thiên thai giải thích rằng: đối với người không có căn lành, thì đem cường độc Đại thừa mà cho họ. Đây là biểu thị ý thuận hóa nhiếp thụ. (xt. Bản Vị Hữu Thiện, Độc Thiên Nhị Cổ).
cược xoa hà
(噱叉河) Cược xoa, Phạm: Vakwa. Cũng gọi là Bà du hà, Bà xoa hà, Bác xoa hà. Là một trong bốn con sông lớn của châu Diêm phù đề, Đại đường tây vực kí quyển 1 phiên là Phọc sô hà, tức nay là sông Oxus, bắt nguồn từ phía đông nam cao nguyên Pamir, chảy về phía tây bắc rồi đổ vào biển Ả rập. Sử nhà Hán gọi là sông Qui thủy hoặc Ô hử thủy chính là con sông này. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34, Q.45 - luận Câu xá Q.11 - luận Du già sư địa Q.2 - Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Tứ Hà).
cạm bẫy
Trap—Snare—Lure.
cạn
Shallow.
cạn lời
To have no more to say.
cạnh
Cạnh tranh hay kình chống nhau—To wrangle—To emulate.
cạnh già
Ganga (skt)—Hằng Hà—The Ganges.
cạnh già hà môn
Gangadvara (skt)—Cửa sông Hằng. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì đây là một nơi hành hương nổi tiếng, bây giờ là Hurdwar hay Haridwar—The gate of the Ganges. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a famous devalaya, the object of pilgrimages, the present Hurdwar, or Haridwar.
cạnh tranh
To compete—To contend.
cạnh tồn
Struggle for existence.
cạo tóc
To shave one's hair.
cả cười
Burst out laughing.
cả gan
To dare.
cả mừng
Joyful.
cả thẹn
Hrīch (S), Hrīcchati (P), Shamed
cả đời
The whole life.
cả đời niệm phật
See Recite Buddha In All Three Time-Spans.
cải
Thay đổi hay sữa đổi—To change—To correct.
cải biến vận mệnh
To change our destiny.
cải chuyển thành phật
(改轉成佛) Ý là chuyển đổi các điều xấu ác để trở thành Phật. Tiếng dùng của tông Nhật liên tại Nhật bản. Chỉ cho thuyết thành Phật của các kinh khác không nói đến ý chỉ Tản Cái huyền diệu của một niệm ba nghìn, tính thiện tính ác và thực tướng các pháp, cho nên bảo người ác phải chuyển đổi cái ác của mình, người nữ phải chuyển đổi thân nữ mới có thể thành Phật, loại thành Phật này chỉ có danh chứ không có thực. Đây muốn nói tỏ cái ý ngoài kinh Pháp hoa ra không thể có được sự chứng quả chân thực. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.7 phần trên; Pháp hoa sớ tư kí Q.8 phần cuối].
cải chính
To corect.
cải cách
To reform.
cải danh
To change one's name.
cải dung
To change one's countenance.
cải dạng
To disguise oneself.
cải hóa
To convert.
cải hối
To repent—To repent and reform.
; (改悔) Ý là đổi điều lầm lỗi mà trở về lẽ thiện. Tức trước đức Phật giải bày nỗi lòng của mình, rất mực ăn năn mà sinh tâm hộ pháp. Đây là đạo đức rất được coi trọng trong Phật giáo, lúc đức Phật còn tại thế đã có nghi thức này rồi; cho nên trong luật chế định, nếu người có tội lỗi thì phải sám hối, từ nay về sau không tái phạm nữa. Kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 16 (Đại 12, 459 thượng), nói: Là nhất xiển đề, nếu khi chịu khổ; hoặc sinh tâm một niệm ăn năn, ta sẽ vì họ mà nói các pháp. [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Nam) Q.10; Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
cải thiện
To improve—To reform.
cải tiến
To change for better prospects.
cải tà quy chánh
To give up wrong deeds and return to the right ones.
cải tà sao
(改邪鈔) Có một quyển. Do sư Giác như của Tịnh độ chân tông Nhật bản viết. Nhận thấy thời ấy (giữa thế kỷ 14) tông phong bại hoại, cho nên, theo lời thỉnh cầu của Thừa chuyên, sư Giác như bèn thuật miệng hai mươi điều giới qui rồi được biên thành sách này, nhằm chủ đích bên trong thì răn dạy tông môn, bên ngoài thì chấn hưng ý chỉ của tông.
cải tính
To change (alter) one's character.
cải tông
Bỏ tông phái nầy theo tông phái kia, bỏ tư tưởng của trường phái nầy theo tư tưởng của trường phái khác, bỏ tôn giáo nầy theo tôn giáo khác—To change one's cult, school of thought, or religion.
cải tạo nhân quả
Amelioration of cause and effect.
cải ác tùng thiện
To leave the evil and follow the good—To correct oneself
cải đạo
See Cải Tông.
cảm
To influence, move; to be affected, touched, moved.
; 1) Cảm động: To be moved. 2) Dám: To dare—To venture.
cảm giác
feeling—Senses—Sensation—To feel—To experience.
; (感覺) Là tác dụng ý thức do sự kích thích các giác quan sản sinh. Tương ứng với các khí quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân … mà có những tác dụng cảm giác như thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm xúc v.v...… cảm giác là cơ sở của tri giác. Cảm giác có tính cách cục bộ, yếu tố, nhục thể, còn tri giác thì là toàn thể, có khả năng phán đoán, ghi nhớ, suy xét. Phật giáo gọi cảm giác là thức (Phạm: Vijĩàna) nên có cái gọi là Sáu thức. Bởi vì sáu cảm quan (sáu căn) mắt tai mũi lưỡi thân ý, duyên với sáu đối tượng (sáu cảnh) sắc thanh hương vị xúc pháp mà sản sinh sáu cảm giác (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý). Ý thức sau cùng còn gọi là thức thứ sáu, hoặc thức phân biệt sự vật, là cảm giác có tính toàn thể, gần với tri giác, phán đoán. Nhưng tiến sâu thêm một tầng nữa mà nói, hoặc là căn bản, hoặc là tinh thần, lại lập thức thứ bảy (thức Mạt na hay thức A đà na), thức thứ tám (thức A lại da), thức thứ chín (thức A ma la) cùng với tác dụng cảm giác của sáu thức có khác nhau. (xt. Thụ, Thức).
cảm giác hỷ lạc
Somanassa (P).
cảm giác siêu thoát
Feeling of exaltation—Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, cảm giác siêu thoát kèm theo sự chứng ngộ, là vì nó bẻ gãy giới hạn phân biệt cá thể; và đây không phải chỉ là một biến cố tiêu cực mà hoàn toàn tích cực, chứa đầy ý nghĩa, bởi vì nó chính là một sự triển khai cá thể đến vô cùng. Mặc dù chúng ta không luôn luôn để ý, nhưng cảm giác thông thường nói lên tất cả những nhiệm vụ ý thức của chúng ta là cảm giác hữu hạn và lệ thuộc, bởi vì chính ý thức là hậu quả của hai thế lực tương duyên hay giới hạn lẫn nhau. Trái lại, chứng ngộ chính là xóa bỏ sự đối lập của hai đầu mối, trong bất cứ chiều hướng nào, và sự đối lập nầy là nguyên lý của ý thức, trong khi đó, chứng ngộ là thể hiện cái vô thức vượt ngoài đối đãi. Vì vậy, để giải phóng khỏi tình trạng đối lập ấy, người ta phải tạo ra một cảm giác vượt lên trên tất cả. Một tay lang bạt, sống ngoài vòng pháp luật, đến đâu cũng bị bạc đãi, không phải chỉ bởi những kẻ khác mà còn bởi chính mình, nó thấy rằng mình là sở hữu chủ của tất cả tài sản, và uy quyền mà một sinh vật có thể đạt được trong cõi đời nầy, sao lại có thể thế, nếu không cảm giác được kỳ cùng vẻ tự tôn tự đại của mình? Một Thiền sư nói: “Lúc chứng ngộ là lúc thấy ra một lâu đài tráng lệ xây bằng pha lê trên một tơ hào độc nhất; nhưng khi không chứng ngộ, lâu đài tráng lệ ấy khuất lấp sau một tơ hào mà thôi.” Một Thiền sư khác đã dẫn dụ Kinh Hoa Nghiêm: “Nầy các thầy hãy xem kìa! Ánh sáng rực rỡ đang tỏa khắp cả đại thiên thế giới, cùng lúc hiển hiện tất cả những núi Tu Di, những mặt trời, những mặt trăng, những bầu trời và cõi đất, nhiều đến hằng trăm nghìn ức số. Này các Thầy, các Thầy có thấy ánh sáng ấy chăng?” Thế nhưng, cảm giác siêu thoát của Thiền đúng ra là một cảm giác trầm lặng của cõi lòng tri túc; nó chẳng có chút gì lồ lộ, khi giây phút sáng lạn đầu tiên đã đi qua. Cái vô thức ấy không bộc lộ ồn ào ở Thiền—The feeling of exaltation inevitably accompanies enlightenment is due to the fact that it is the breaking-upof the restriction imposed on one as an individual being, and this breaking-up is not a mere negative incident but quite a positive one fraught with signification because it means an infinite expansion of the individual. The general feeling, though we are not always conscious of it, which charaterizes all our functions of consciousness, is that of restriction and dependence, because consciousness itself is the outcome of two forces conditioning or restricting each other. Enlightenment, on the contrary, essentially consists in doing away with the opposition of two terms in whatsoever sense, and this opposition is the principle of consciousness, while enlightenment is to realize the Unconscious which goes beyond the opposition. To be released of this, must make one feel above all things intensely exalted. A wandering outcast maltreated everywhere not only by others but by himself finds that he is the possessor of all the wealth and power that is ever attainable in this world by a mortal being, if it does not give him a high feeling of self-glorification, what could? Says a Zen Master, “When you have enlightenment you are able to reveal a palatial mansion made of precious stones on a single blade of grass; but when you have no enlightenment, a palatial mansion itself is concealed behind a simple blade of grass."”Another Zen master alluding to the Avatamsaka, declares: “O monks, look and behold! A most auspicious light is shining with the utmost brilliancy all over the great chiliocosm, simultaneously revealing all the countries, all the oceans, all the Sumerus, all the suns and moons, all the heavens, all the lands, each of which number as many as hundreds of thousands of kotis. O monks, do you not see the light? But the Zen feeling of exaltation is rather a quiet feeling of self-contentment; it is not at all demonstrative, when the first glow of it passes away. The Unconscious does not proclaim itself so boisterously in the Zen consciousness.
cảm hoài
Moving remembrance.
cảm hóa
To convert, to bring over.
cảm hóa ai
To convert someone.
cảm hứng
To inspire.
cảm hứng ngữ
Xem Vô vấn tự thuyết.
cảm mộng cầu pháp thuyết
(感夢求法說) Câu chuyện nổi tiếng nhất về việc Phật giáo được truyền vào Trung quốc lần đầu tiên. Chuyện nằm chiêm bao cầu pháp thấy được ghi chép trong các tư liệu sau đây: Hậu Hán kỉ quyển 10 Hiếu minh Hoàng đế kỉ của Viên hoàn đời Tấn, Hậu Hán thư quyển 118 Tây vực truyện của hạm diệp đời Lưu Tống Nam triều, Lí hoặc luận của Mâu tử, bài tựa kinh Bốn mươi hai chương, kinh Lão tử hóa hồ, Minh Phật luận, Minh tường kí v.v...… Cứ theo Hậu Hán kỉ chép về việc Phật giáo mới đầu truyền vào Trung quốc, bảo rằng, Hán minh đế ban đêm từng nằm mộng thấy người vàng, thân hình cao lớn, trên đầu có ánh sáng. Minh đế nghi hoặc không hiểu; sáng hôm sau đưa việc nằm mộng ra hỏi quần thần, thần hạ đáp: Phương tây có thần, gọi là Phật. Vua bèn sai sứ sang Tây trúc cầu pháp. (xt. Bạch Mã Tự).
cảm ngộ
To awake from an illusion; to awake to reason.
cảm phục
To be struck with admiration.
cảm quan
Giác quan—Organs of sense.
cảm quả
Quả tìm thấy hay quả do nghiệp nhân tạo tác mà có—The result that is sought.
Cảm Sơn Vân Ngọa Kỷ Đàm
(感山雲臥紀談, Kanzanungakidan): 2 quyển, do Trọng Ôn Hiểu Oánh (仲溫曉瑩) nhà Tống biên tập, còn gọi là Vân Ngọa Kỷ Đàm (雲臥紀談, Ungakidan). Tại Nhật Bản có Bản Ngũ Sơn san hành vào năm thứ 2 (1346) Trinh Hòa (貞和). Trước tác này thâu lục những dật thoại do Hiểu Oánh, pháp từ của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), thấy nghe trong thời gian ông sống nhàn cư ở Vân Ngọa Am (雲臥庵) thuộc Cảm Sơn (感山), Phong Thành Khúc Giang (豐城曲江) và những lời cảnh sách răn dạy cảnh tỉnh trong khi tu hành. Quyển thượng gồm 52 chương, quyển hạ 44 chương. Cuối quyển có ghi lại những đối cơ vấn đáp để tưởng nhớ đến bậc thầy Đại Huệ.
Cảm Thành
感誠; ?-860|Thiền sư Việt Nam. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngôn Thông.|Sư quê ở Tiên Du. Mới đầu Sư ở tại quận nhà lo việc tụng niệm, lấy hiệu là Lập Ðức. Sau có một hương hào họ Nguyễn ở làng Phù Ðổng mến mộ Sư, tình nguyện đem gia sản cúng cho Sư làm chùa. Sư từ chối (theo Thiền uyển tập anh), nhưng đêm nằm mộng thấy thần nhân đến khuyên nên nhận đất làm chùa, Sư mới nhận, và đó là chùa Kiến Sơ của làng Phù Ðổng sau này. Quả nhiên trụ trì chưa bao lâu thì Thiền sư Vô Ngôn Thông, Tổ dòng thiền Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, đến chùa. Sư hết lòng thờ kính Tổ, được Tổ đổi hiệu là Cảm Thành. Ngày nọ, Tổ gọi Sư lại và trình bày rõ nguồn gốc của Thiền tông, từ đức Thích-ca đến Tổ Bồ-đề Ðạt-ma, Tổ Bách Trượng Hoài Hải và nguyên do đến phương Nam giáo hoá. Sau khi Tổ đọc bài kệ, Sư liền lĩnh hội yếu chỉ.|Có vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Khắp tất cả các nơi.« Lại hỏi: »Thế nào là tâm Phật?« Sư đáp: »Chưa từng che dấu.« Tăng hỏi: »Riêng con chẳng hội?« Sư bảo: »Ðã lầm qua rồi.«|Năm 860, Sư không bệnh, an nhiên mà tịch.
cảm thành
Thiền Sư Cảm Thành (?-860)—Zen Master Cảm Thành (?-860)—Sư quê ở huyện Tiên Du, trước tu ở chùa Phật Tích. Thiền Sư Cảm Thành, đời thứ nhất của dòng Vô Ngôn Thông. Khi mới xuất gia, sư lấy hiệu là Lập Đức, chuyên trì tụng kinh điển. Lúc ấy có người họ Nguyễn ở hương Phù Đổng hiến đất lập chùa. Thoạt tiên, ông e ngại không nhận vì ông không muốn vướng mắc vào bất cứ thứ gì; tuy nhiên, sau đó ông nằm mộng có người mách bảo nên nhận vì lợi ích của nhiều người khác. Quả thật, sau khi xây chùa Kiến Sơ chẳng bao lâu, vào năm 820, dưới thời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông, nguyên trụ trì chùa Hòa An từ bên Tàu qua, ghé lại chùa và thiền diện bích tại đây trong nhiều năm. Sư Cảm Thành rất kính mộ và tôn Thiền Sư làm Thầy. Sau khi Thiền Sư Vô Ngôn Thông thị tịch thì Sư Cảm Thành trở thành nhị tổ của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Vào năm 860, Sư an nhiên thị tịch—Zen Master Cảm Thành, a Vietnamese monk from Tiên Du, North Vietnam. He previously practiced Buddhism at Phật Tích Temple. He was the first lineage of the Wu-Yun-T'ung Sect. When he left home to become a monk, he focused in reciting sutras. There was a patron of Buddhism, whose last name was Nguyễn, a rich landlord from Phù Đổng hamlet, donated his land for him to build a temple. First, he was reluctant to accept it because he did not want to be attached to anything; however, later in his dream, he met someone who recommended him to accept the land to build a temple for the benefits of other people. In fact, not long after the Kiến Sơ Temple was built, in 820, under the T'ang dynasty in China, Zen Master Vô Ngôn Thông, used to be Head of Hòa An Temple in China, arrived in Vietnam and stayed at Kiến Sơ to practice “face-to-a-wall” meditation for several years. Later he founded the Wu-Yun-T'ung (Vô Ngôn Thông) Zen Sect right at the Kiến Sơ Temple and became the First Patriarch, and Cảm Thành became his disciple. When he passed away, Zen Master Cảm Thành became the second Patriarch. In 860, Zen master Cảm Thành passed away quietly—See Kiến Sơ.
cảm thông
To be in sympathy with; to sympathize with (s.o., s.o's feelings)
; Communication.
cảm thông tự
(感通寺) Vị trí chùa nằm ở chính giữa ngọn núi thứ tư của dẫy Thương sơn về phía nam phủ Đại lí tỉnh Vân nam. Cứ theo Vân nam thống chí chép, thì chùa Cảm thông ở phủ Đại lí, cách Thái hòa huyện thành về mạn nam mười hai dặm, do các ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan khi từ Thiên trúc đến Trung quốc vào đời Hán xây dựng. Vua Thái tổ nhà Minh có ngự chế mười tám bài thơ tặng sư Vô cực, hiện nay vẫn còn.
cảm thương
Touched to pity—Đức Phật cảm thương nổi khổ của chúng sanh—The Buddha was touched by the suffering of the human condition.
cảm thương nỗi khổ của kiếp người
To be touched by the suffering of the human life.
cảm thấy
Awareness—Feeling
cảm thấy an nhiên thanh tịnh
To feel calm (at peace) and pure.
cảm thấy giận
To feel angry.
cảm thấy khó chịu
To feel disturbed.
cảm thấy nguồn vui bất tận
To feel a boundless joy.
cảm thấy sự bất toàn
Awareness of incompleteness
cảm thấy sự không đầy đủ
Awareness of insufficiency.
cảm thấy thương xót
To feel pity for
cảm thấy xao động không yên
To feel agitated and uneasy.
cảm thấy êm dịu mát mẻ
To feel calm and refreshed.
cảm thọ
Feeling.
; Emotional tone
cảm thọ kinh
Vedanā sutta (P), Sutra on Feeling Tên một bộ kinh.
cảm tiến
To move to zeal, or inspire to progress.
Cảm Tây
(感西, Kansai, ?-1200): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Cảm Tây (感西), thường được gọi là Tiến Sĩ Nhập Đạo (進士入道), hiệu là Chơn Quán Phòng (眞觀房). Năm 19 tuổi, ông xuất gia làm môn hạ của Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên). Vì ông rất giỏi về văn chương và chữ viết rất đẹp, nên vào năm 1198 ông có chấp bút cho bộ Tuyển Trạch Niệm Phật Tập (選擇念佛集) của Nguyên Không. Ông được Nguyên Không trao cho lại cơ sở vật chất của vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimizu).
cảm tình
Sympathy—Affection.
; (感情) Hoạt động tinh thần của người ta có thể được chia làm ba trạng thái tri, tình và ý, trong đó, có thể chia thành những yếu tố vui sướng và không vui sướng, tức gọi là cảm tình. Tác dụng này bao quát các cảm giác của cảm quan, cũng bao quát luôn cả tác dụng tinh thần. Danh từ trong Phật giáo tương đương với cảm tình là thụ (Phạm: Vedanà). Thụ do sự kết hợp và tiếp xúc.. (xúc) của ba thành phần căn. (cảm quan), cảnh (đối tượng) và thức (tri giác) mà sản sinh. Thụ có thể được chia làm ba thứ khổ, vui, không khổ không vui. Có cảm giác khổ vui do năm thức trước – từ thức mắt đến thức thân cảm thụ, đây thuộc về tác dụng nhục thể và cảm giác, cho nên gọi là thân thụ. Còn cái mà ý thức thứ sáu cảm thụ thì do nơi tinh thần nội bộ mà phát lên sự vui mừng hoặc lo buồn, cho nên gọi là tâm thụ.
cảm tưởng
Impression
cảm tạ
(感謝) Tức là từ bi. Đối với tất cả mọi người đều quí mến, gọi là từ; tự nén nỗi đau khổ của chính mình mà thương tưởng đến mọi người, thì gọi là bi, đây tức là tinh thần mình người như một rất được coi trọng trong Phật giáo. Cũng có nghĩa là trong cái thế giới nhân duyên hỗ tương, con người đều mang ơn lẫn nhau. Cho nên người ta phải có lòng cảm tạ và luôn luôn ghi nhớ để trả ơn.
cảm tấn
To move to zeal, or inspire to progress.
cảm tử
Fearless before death.
cảm xúc
Feeling—Strongly affected—Very much impressed—Very much moved by one's compassion.
cảm ân
To be grateful.
cảm động
Touched—Moved—Affected
cảm ơn
To thank.
cảm ứng
Response to appeal or need; Buddha moved to respond.
; Chúng sanh có cơ duyên thiện căn làm cảm động đến chư Phật, chư Phật cũng dùng sự cảm ứng kỳ diệu của mình để đáp lại thì gọi là cảm ứng (thí dụ như nước không dâng cao, trăng không xuống thấp, nhưng trăng vẫn luôn bàng bạc khắp nơi trên mặt nước)—Respond to appeal or need; Buddha moved to respond.
; (感應) Cũng gọi ứng cảm. Chúng sinh có cơ duyên thiện căn cảm động, Phật ứng với cơ duyên ấy mà đến, thì gọi là cảm ứng. Cảm, thuộc về chúng sinh, ứng thuộc về Phật. Đại minh tam tạng pháp số quyển 37 nói: Cảm tức chúng sinh, ứng tức Phật, có nghĩa là chúng sinh đem cơ duyên tròn đủ cảm Phật, Phật liền dùng hiệu ứng đáp lại, như nước chẳng đi lên, mặt trăng chẳng đi xuống, thế mà một vừng trăng ánh hiện khắp mọi dòng sông. Kinh Chính pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 67 thượng), nói : Vô số cõi Phật, rộng nói kinh pháp, việc Thế tôn làm, cảm ứng như thế Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 585 hạ), nói: Diệu cảm diệu ứng, đều không ngoài môn chữ A.
cảm ứng đạo giao
(感應道交) Chỉ ý chúng sinh được cảm và Phật hay ứng giao hòa nhau. Mối quan hệ giữa Phật và chúng sinh cũng giống như tình mẹ con, mối quan hệ ấy chẳng phải tự lực của chúng sinh, cũng chẳng do giáo hóa mà có, mà là do cơ duyên của chúng sinh đã thuần thục, thì tự nhiên Phật lực có thể tương ứng với, cũng tức là sự giao hòa hỗ tương giữa cảm của chúng sinh và ứng của Phật. Lại nữa, căn tính chúng sinh có vô số, cho nên sự diệu ứng của chư Phật cũng vô lượng, do đó mà có các loại cơ cảm khác nhau, mà theo kinh Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên đã tổng hợp, tóm thâu trong bốn câu sau đây: 1. Minh cơ minh ứng (cơ ngầm ứng ngầm), có nghĩa chúng sinh ở đời quá khứ khéo tu ba nghiệp, ở đời hiện tại chưa vận dụng nghiệp thân nghiệp khẩu, nhưng nhờ thiện căn ở kiếp trước, đó là minh cơ; tuy không hiện thấy linh ứng, nhưng kín đáo làm lợi ích pháp thân, chẳng thấy chẳng nghe, nhưng có hay biết, đó là minh ứng. 2. Minh cơ hiển ứng (cơ ngầm ứng hiện), có nghĩa là chúng sinh đã trồng căn lành ở quá khứ, minh cơ đã thành, được gặp Phật nghe pháp, được lợi ích ở hiện tại. 3. Hiển cơ hiển ứng (cơ rõ ứng rõ), có nghĩa là chúng sinh ở đời hiện tại, thân khẩu ý tinh cần không biếng nhác, cũng có thể cảm được lợi ích. 4. Hiển cơ minh ứng (cơ rõ ứng ngầm), có nghĩa là chúng sinh trong một đời chịu khó, chứa góp nhiều thiện căn ở hiện tại, tuy không cảm rõ, nhưng có lợi ngầm. Sau bốn câu trên đây, Pháp hoa huyền nghĩa lại lập thêm ba mươi sáu câu khác để phân biệt. Cuối cùng, lại đứng về phương diện mười pháp giới mà trình bày rõ ràng về sự sai khác giữa bốn câu. Tổng kết lại, thì cảm của chúng sinh và ứng của chư Phật, có tất cả sáu vạn bốn nghìn tám trăm cơ ứng. [X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Tam hập Lục Cú).
Cảm ứng 感應
[ja] カンオウ kan'ō ||| (1) Moved to response through feelings. To feel and respond. The communion of the minds of the Buddha and practitioners. The mind of faith and/or good roots of sentient beings penetrate the buddhas and bodhisattvas and cause them to respond. Thus, it is the reception of our mind of faith by the Buddha, and his response to it. In Pure Land Buddhism 淨土宗, it refers to the awareness of Amitābha 阿彌陀 Buddha of the recitation of his name by sentient beings, and his response of saving them. => 1. Cảm động đáp lại qua cảm xúc. Cảm xúc và sự đáp ứng. Sự tương giao giữa tâm Phật và tâm chúng sinh. Tâm chí thành/hay thiện tâm của chúng sinh thể nhập vào tâm Phật và tâm Bồ-tát, khiến chư vị đáp ứng lại. Thế nên đó là sự cảm nhận từ tâm thành tín của chúng ta với Đức Phật, và Ngài đấp ứng lại tâm ấy. Theo Tịnh độ tông Phật giáo, điều nầy nói đến việc niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, sự cảm ứng và cứu độ chúng sinh của Ngài.
Cảm 感
[ja] カン kan ||| (1) Feeling, sensation, influence, sentiment, impression. (2) To receive an effect (bhāgya). (3) To feel, experience, be conscious of, respond to. => 1. Sự cảm thấy, cảm giác, ảnh hưởng, cảm tính, ấn tượng. 2. Nhận chịu một tác động (s: bhāgya). . 3. Cảm nhận, trải qua, nhận rõ, đáp lại.
Cảm 敢
[ja] カン kan ||| To dare, to presume, to venture. => Dám, mạo muội, cả gan.
cản trở
To prevent—To impede—To hinder.
cản đường
To bar someone's way.
Cảnh
境; C: jìng; J: kyō;|Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng, khách thể. Hiện tượng, trình hiện. Hoàn cảnh, tình hình, vấn đề; Những gì được cảm nhận và nhận biết qua tâm và các giác quan. Thuật ngữ thường đề cập đến các đối tượng làm sinh khởi sự nhận thức của các giác quan; như Lục cảnh (六境). Vì những cảnh nầy làm ô nhiễm tâm thức con người, nên thuật ngữ Trần (塵) còn được dùng chung với Cảnh (境, s: visaya, gocara, artha); 2. Đối tượng của nhận thức. Đối tượng của mọi phán lượng; đồng nghĩa với Sở thủ (所取); 3. Đối tượng của 5 giác quan, nên dẫn đến có 5 trần cảnh. Thêm đối tượng của tâm ý vào thì có Lục trần như đã được nêu ở trên; 4. Sự nhận thức về Phật pháp, đối tượng của trí huệ siêu việt; 5. Trạng thái tâm thức hay điều kiện; lĩnh vực, quan điểm; 6. Theo giáo lí tông Duy thức, có ba loại cảnh được phân biệt theo đặc tính của chúng: »tính cảnh« (性境), »độc ảnh cảnh« (獨影境) và »đới chất cảnh« (帶質境); 7. Thế giới, cõi giới. Thế giới khách quan; 8. Ranh giới, giới hạn, biên giới, môi trường, hoàn cảnh (s: ālam-bana).
cảnh
Visaya, artha, gocara (S). A region, territory, environment, surroundings, area, field, sphere, e.g. the sphere of mind, the sphere of form for the eye, of sound for the ear etc.; any objective mental regarded as reality. Also cảnh giới, cõi.
; 1) Nơi tâm vin vào đó mà chạy theo gọi là cảnh, như pháp là nơi ý thức vin vào gọi là pháp cảnh, sắc là nhãn thức vin vào đó gọi là sắc cảnh, thanh là nơi nhĩ thức vin vào gọi là thanh cảnh, vân vân: Visaya, artha, or gocara (skt)—A prospect, region, territory, surroundings, views, circumstances, environment, area, field, sphere, environments and conditions, i.e. the sphere of mind, the sphere of form for the eye, of sound for the ear, etc. 2) Cảnh giác: Uttras or Santras (skt)—Alarm—To warn.
; (境) Phạm: Viwaya, hàm ý lãnh vực của tác dụng cảm giác; hoặc Artha, ý là đối tượng; hoặc Gocara, ý là phạm vi hoạt động của tâm; cũng dịch là Cảnh giới, Trần. I. Cảnh là đối tượng của căn và thức. Cũng tức là đối tượng để tâm và cảm quan cảm biết hoặc tư duy. Đối tượng dẫn khởi các tác dụng cảm biết tư duy của sáu căn tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý, đó là sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, vì chúng hay làm cho lòng người nhơ nhuốm, cho nên gọi là sáu trần (bụi bặm). Từ bản chất có và không, Duy thức Đại thừa chia Cảnh thành ba loại: Tính cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh,để bàn về chủng tử sai khác của hai phần Kiến và Tướng. Ngoài ra, Cảnh còn có cảnh trong, cảnh ngoài, cảnh thật, cảnh giả, cảnh thuận, cảnh nghịch khác nhau. Lại nữa, cảnh còn chỉ cái đối tượng của trí tuệ thắng diệu, tức là Phật lí (chân như, thực tướng). Như trong giáo nghĩa Thiên thai, có Quán bất tư nghị cảnh là một loại pháp quán về lí của thực tướng. (xt. Lục Căn, Lục Cảnh, Trần, Thức). II. Cảnh nghĩa giới hạn. Như Phật và chúng sinh, phàm và thánh, vì trình độ hiểu biết bất đồng mà có chia giới hạn khác nhau. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng bảo, nghĩa ấy sâu rộng, chẳng phải cảnh giới của tôi. [X. kinh Thắng man].
cảnh a-tu-la
The host of Asuras—See A-Tu-La in Vietnamese-English Section and Asura in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cảnh báo
Alert—Alarm.
cảnh bản định thân
(境本定身) Là từ ngữ do tông Thiên thai đặt ra, chỉ thân liệt ứng một trượng sáu thước của đức Thích ca. Cảnh, là cảnh sở quán; bản, là căn bản; định, là tất định; thân, chỉ ứng thân ba mươi hai tướng cao một trượng sáu thước. Có nghĩa là, những người tu hành thuộc bốn giáo: Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo, tùy trí năng quán của mỗi người có khác nhau, nên Phật thân sở quán cũng có bốn loại bất đồng là: Liệt ứng thân, Thắng ứng thân, Báo thân và Pháp thân. Tuy nhiên, những người bốn giáo đối với thân Phật đều phải là Ứng thân một trượng sáu thước của đức Thích ca, ứng thân là cảnh sở quán của họ. Trên căn bản, cảnh sở quán phải là Liệt ứng thân một trượng sáu thước của Phật Thích ca, vì thế nên gọi là Cảnh bản định thân. Đây là thuyết do ngài Tri lễ ở núi Tứ minh đời Tống đề xướng và rất thịnh hành. [X. Tứ giáo nghi bán tự đàm Q.1; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].
cảnh chiêm bao
Dreaming scenes.
cảnh cáo
Warning
cảnh duyên
Environments and conditions.
cảnh duyên giả tạm hợp rồi tan như ánh chớp, như ảo tưởng, như ma
All things come together and disintegrate like a lightning, an illusion or a phantom.
cảnh duyên thắng diệu
Supremely wonderful environments and conditions.
cảnh dã triết
(境野哲) (1871-1933) Vị tăng học giả của phái Đại cốc thuộc Chân tông Nhật bản. Chính tên là Triết hải, sau đổi là Triết, hiệu Hoàng dương. Người thị trấn Tiên Đài huyện Cung thành. Lúc nhỏ đọc Phật giáo hoạt luận của Tỉnh thượng Viên liễu mà nảy ra chí học Phật. Năm Minh trị 27 (1894) ông cùng với Thôn thượng Chuyên tinh ấn hành Phật giáo sử lâm. Năm 33, cùng với những Phật tử có chí hướng, tổ chức hội Đồng chí, chuyên biên tập các ấn phẩm về Phật giáo mới, đồng thời, tham gia chỉ đạo cuộc vận động Phật giáo mới, là một trong những người lãnh đạo hội Đồng chí. Năm 34, ông viết Nhật bản Phật giáo sử yếu, năm 40, viết Trung quốc Phật giáo sử cương, rất được hoan nghinh. Lần lượt nhận dạy tại các Đại học Đông dương, Đại học Phong sơn, Đại học Nhật liên tông, Đại học Tào động tông, kiêm ký giả của báo Đông kinh triêu nhật tân văn. Từng qua nước Mỹ quan sát các đại học và đến diễn giảng đạo pháp tại các nơi do phái Đại cốc truyền giáo. Năm Chiêu hòa thứ 5 (1930), nộp luận án tại Đại học Câu trạch với đề tài Tùy, Đường dĩ tiền chi Trung quốc Phật giáo (Phật giáo Trung quốc trước thời Tùy, Đường), và đậu văn bằng tiến sĩ văn học. Năm Minh trị thứ 8, ông qua đời, thọ sáu mươi ba tuổi. Ngoài các trước tác ghi ở trên, Cảnh dã triết còn có nhiều loại tác phẩm sau: Ấn độ Phật giáo sử cương, Ấn độ, Trung quốc Phật giáo sử yếu, Bát tông cương yếu giảng thoại; Phật giáo sử luận, Thiên thai tứ giáo nghi giảng thoại, Thánh đức Thái tử chi nghiên cứu, Trung quốc Phật giáo sử giảng thoại, Giới luật chi nghiên cứu, Trung quốc Phật giáo sử chi nghiên cứu, Nhật bản Phật giáo sử giảng thoại, Phật giáo nghiên cứu pháp, Nhật bản Phật giáo phát đạt khái thuyết, và Trung quốc Phật giáo tinh sử v.v…. CẢNH DOÃN PHÁI Một tông phái Phật giáo tiểu thừa tại Trung quốc, nói tắt là Doãn. Tín đồ phần đông là dân tộc Thái ở rải rác tại các địa phương Đức hoành, Trấn khang, Cảnh mã thuộc tỉnh Vân nam. Còn chia làm hai chi phái là Doãn ba, Doãn tổn, nghi thức tôn giáo tấn thăng Tăng sĩ của hai chi phái có khác nhau. Phái doãn ba thì đưa Tăng sĩ từ nơi hoang dã về, rồi sau mới cử hành nghi thức; phái Doãn tổn thì tiếp tăng sĩ ngay ở trong vườn về rồi sau cử hành nghi thức. Cấp bậc giáo phẩm của Tăng sĩ phái Cảnh doãn cũng giống như trong Phật giáo Tiểu thừa của tộc Thái ở tỉnh Vân nam, phần nhiều chia hai phái nhỏ ra, chủ yếu có các cấp bậc như Môn triệu, Đình triệu, Tản di triệu, Hồ mã triệu, Tùng liệt triệu, A kiết mộc lí triệu v.v...… Về phương diện giáo nghĩa và kinh điển, thì phái Cảnh doãn cũng cùng một hệ thống của Phật giáo Tiểu thừa mà chủng tộc Thái tin thờ. CẢNH DUY THỨC Là một trong năm loại Duy thức. Tông Pháp tướng đem các văn nghĩa Duy thức tản mạn trong các kinh luận, tóm thâu làm 5 loại, trong đó, Cảnh duy thức tức là đứng về phương diện cảnh giới sở quán để thuyết minh nghĩa Duy thức. Như kinh A tì đạt ma nói Một chỗ bốn thấy, nghĩa là, đối với cùng một cảnh giới, nhưng do nơi tâm thức của những người thấy khác nhau, mà làm cho cảnh sở quán có ý thú rất bất đồng. Chẳng hạn, quỉ, bàng sinh (súc sinh đạo), người, trời cùng thấy nước, nhưng quỷ thì thấy là máu mủ, cá thì thấy là chỗ ở, người thì thấy là nước ao, trời thì thấy là ao báu trang nghiêm lộng lẫy. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (Vô tính); luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Ngũ Chủng Duy Thức).
cảnh giác
Uttras or Santras (skt)—Alertness—Introspect—Warned—Alarm.
cảnh giáo
Như trường phái Nestor của Cơ Đốc Giáo—The Luminous Religion, i.e. Nestorian Christianity.
; (景教) Tông giáo sáng sủa. Là Cơ đốc giáo truyền đến Trung quốc vào đời Đường. Tức là phái dị đoan, Niếp tư thác lí (Nestorius) của Đông la mã. Ý là Tôn giáo sáng sủa . Do Niếp tư thác lí, người Tư lợi a (Syria) sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 5. Còn gọi là Đại tần cảnh giáo. Vào năm Trinh quán thứ 9 (635) đời Thái tông nhà Đường, giáo sĩ người Ba tư là A la bản đến Trung quốc truyền giáo dịch kinh. Thái tông ưu đãi, ra lệnh dựng đền Ba tư ở Trường an, đến thời Huyền tông đổi là đền Đại tần. Lúc bấy giờ có hai mươi mốt giáo sĩ. Không bao lâu phát triển tại các nơi trên toàn quốc. Đến thời Cao tông, làm đền Cảnh giáo tại các châu và tôn A la bản làm Trấn quốc đại pháp chủ. Đến thời Vũ hậu Tắc thiên thì bảo hộ Phật giáo và Ma ni giáo mà trấn áp Cảnh giáo. Từ Huyền tông trở về sau đến Đức tông đều làm đền Cảnh giáo tại các châu hoặc bảo hộ Cảnh giáo. Năm Kiến trung thứ 2 (781) đời Đức tông dựng bia Đại tần cảnh giáo lưu hành Trung quốc, trong văn bia có câu Pháp lưu mười đạo, đền thờ khắp trăm thành, có thể biết cái trạng huống của thời kỳ toàn thịnh. Năm Hội xướng thứ 5 (845), Vũ tông hạ lệnh cấm chỉ lưu truyền Phật giáo, phá hủy hết chùa viện trong nước, bắt tăng ni hoàn tục, Cảnh giáo cũng bị lây, hơn hai nghìn giáo sĩ bị đuổi, một thời tuyệt tích tại Trung nguyên, nhưng vẫn lưu hành tại Khiết đan và Mông cổ. Đời Nguyên, người Mông cổ vào làm chủ Trung nguyên, Cảnh giáo cũng lại theo vào, cùng với Thiên chúa giáo được truyền vào thời ấy gọi chung là Dã lí khả ôn giáo. Cứ theo mục lục của Đại tần bản kinh chép, thì kinh điển của Cảnh giáo (kể cả chú sớ) có tất cả năm trăm ba mươi bộ; dịch ra Hán văn thì có Tự thính mê thi sở kinh, Cảnh giáo tam uy mông độ tán, Chí huyền an lạc kinh, Thường minh hoàng lạc kinh, Tuyên nguyên chí bản kinh v.v...… Khoảng năm Thiên khải đời Minh, có đào được bia Cảnh giáo lưu hành Trung quốc ở gần Tây an, dịch thành tiếng La tinh và nhiều thứ tiếng khác. Năm Quang tự 33 (1907) bia này đã được dời từ đền Kim thắng vào rừng bia trong nội thành.
cảnh giáo lí hành quả
(境教理行果) Chỉ cho Cảnh duy thức, Giáo duy thức, Lí duy thức, Hành duy thức và Quả duy thức. Ngoài bốn pháp bảo (Giáo pháp, Lí pháp, Hành pháp, Quả pháp) ra, đây là Cảnh sở quán được thêm vào mà thành, tông Pháp tướng đặc biệt gọi là năm loại Duy thức. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Duy Thức).
Cảnh giới
境界; C: jìngjiè; J: kyōkai; |Có các nghĩa sau: 1. Phạm vi, tình trạng, quan điểm (s: visaya, gocara); 2. Đối tượng nhận thức được bởi các giác quan và ý thức. Lĩnh vực của nhận thức (s: visaya, jñeya); 3. Lĩnh vực, trạng thái, tình hình; 4. Cảm giác, cảm nhận, tâm trạng. Trạng thái của tâm thức, điều kiện, tình trạng, hoàn cảnh; 5. Trạng thái kết quả mà mỗi chúng sinh nhận chịu tương ứng với hành động của họ: »quả«, »quả báo«; 6. Lĩnh vực chuyên môn, phạm vi của một người
cảnh giới
Visisya (S), Loka (S), Laukka (S), World Thế, Thế gian; Mode of existenceThế giới, cảnh giới. Mỗi thế giới nhỏ có: - Tu di sơn - Mặt trời - Mặt trăng - Tứ thiên hạ chung quanh núi Tu di - Tứ thiên vương - Đao lợi thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hóa lạc thiên - Tha hóa thiên - Sơ thiền thiên. - Mỗi thế giới đều qua bốn kỳ: thành, trụ, hoại, không, Bốn kỳ ấy là bốn Trung kiếp, hiệp thành một Đại kỳ kiếp. - 1.000 thế giới nhỏ và 1 đệ nhị thiền thiên hiệp thành Tiểu thiên thế giới. - 1.000 tiểu thiên thế giới và 1 đệ tam thiền thiên hiệp thành Trung thiên thế giới. - 1.000 trung thiên thế giới và 1 đệ tứ thiền thiên hiệp thành Đại thiên thế giới.
; Dhàtu (S). Elements, secondary elements; sphere, region, realm.
; Hiện tượng sở thấy và cảm giác trong quá trình tu hành khi chưa ngộ, khi tiểu ngộ, khi đại ngộ.
; Realm—Sphere—Region—Có năm cảnh giới—There are five realms: 1) Dục Giới: Kamadhatu (skt)—The sensual realm or the realm of desire: Thế giới của các loài sinh động—The world of living beings—See Dục Giới. 2) Sắc Giới: Rupadhatu (skt)—Heaven with form. • Sơ thiền thiên: First Dhyana Heaven. • Nhị thiền thiên: Second Dhyana Heaven. • Tam thiền thiên: Third Dhyana Heaven. • Tứ thiền thiên: Fourth Dhyana Heaven. *** See Tứ Thiền Thiên. 3) Vô Sắc Giới: Arupadhatu (skt)—Heaven without form. • Không vô biên xứ: Akasanantyayatanam (skt)—The endlessness of space. • Thức vô biên xứ: Vijnanantyayatanam (skt)—The endlessness of mind. • Vô sở hữu xứ: Akincanyayatanam (skt)—The heaven of nothingness. • Phi tưởng phi phi tưởng xứ: Naivasamjnanasamjnayatanam (skt)—Neither conscious nor unconscious state of heaven. *** See Tứ Không Xứ. 4) Tịch Diệt Địa: Nirodha-samapatti (skt)—Extinction—Bồ Tát hay A La Hán—Bodhisattva or Arhat. 5) Phật địa hay Pháp giới địa: Dharmadhatu-samapatti (skt)—Thiền quán về nguyên lý phổ biến, tứ thế giới—Abstract-meditation on the universal principle, i.e., world. *** For more information, please see Gocara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cảnh giới bát nhã
External world prajnà, or wisdom of all things; prajnà is subjective, all things are its objective.
; Tất cả chư pháp đều là cảnh giới của Bát Nhã; Bát Nhã là trí năng duyên, chư pháp là cảnh sở duyên—External world prajna, or wisdom of all things; prajna is subjective all things are its objective.
; (境界般若) Bát nhã, Phạm: Prajĩa, có nghĩa là tuệ. Một trong năm loại Bát nhã. Năm loại Bát nhã chỉ cho năm loại Thánh trí thấy rõ pháp giới, thấu suốt chân lí. Trong đó, cảnh giới bát nhã là chỉ hết thảy các pháp sở duyên của bát nhã. Vì Bát nhã là trí năng duyên, các pháp là cảnh sở duyên, mà cảnh thì không có tự tướng riêng, đều là do trí phát hiển, cho nên dùng hai trí căn bản và hậu đắc soi rọi và thấu suốt hết thảy pháp cảnh giới đều rỗng lặng, gọi là Cảnh giới bát nhã. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.1 phần trên; Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).
cảnh giới bức bách chướng
(境界逼迫障) Là một trong ba chướng ngại của sự tu định. Tu định có 3 thứ chướng ngại, Cảnh giới bức bách chướng, có nghĩa là người muốn tu Thiền định, nhưng nơi thân lại có sự bức bách, như thân thể đau ốm; hoặc nơi cảnh có sự bức bách, như gặp nạn lửa cháy, nước dâng, những ác tướng bức não người tu hành, khiến sinh sợ hãi mà thành chướng ngại cho sự tu định. (xt. Tam Chướng).
cảnh giới của huyễn ảo
Māyāviśaya (S), Māyāvisaya (P).
; Màyàvisaya (S). World of delusion.
cảnh giới của những chúng sanh giác ngộ
The realm of enlightened beings.
cảnh giới cực lạc
Chúng sanh sanh vào cảnh giới Tịnh Độ là những bậc Bồ Tát thượng thiện, đã dứt trừ tất cả chướng ngại ác duyên. Hơn nữa, không có ngoại đạo tà ma nên tâm họ thường an tịnh—The extreme joys in the Pure Land. Those who are reborn in the Pure Land have the highest level Bodhisattvas as their companions, and are free from all obstacles, calamities and evil conditions. Moreover, there are no externalists or evil demons, so their minds are always calm and still.
cảnh giới cực thành
(境界極成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong bốn loại cực thành trong Nhân minh. Cực thành hàm ý là rất mực thành tựu. Tức là cái tình huống tranh luận trong đó cả đôi bên Lập (người lập luận) và Địch (người vấn nạn) đều thừa nhận, không còn ý kiến gì khác nữa. Cảnh giới, tức là sự thực do ngôn ngữ trình bày. Trong khi tiến hành tranh luận, nếu sự thực được cả đôi bên Lập và Địch vận dụng ngôn ngữ để trình bày mà đều nhất trí cùng được đôi bên thừa nhận, thì gọi là Cảnh giới cực thành. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc (Trần đại tề)]. (xt. Cực Thành).
cảnh giới giác ngộ
The realm of enlightenment.
cảnh giới hoan lạc
Sugati (S), Blissful realm.
; Sugati (S). Happy fate, bliss.
cảnh giới hành động vô ngại
To be unhindered in one's sphere of action.
cảnh giới khốn khổ
Durgati (S). Realm of miserable existence.
cảnh giới lạc
The joys in the Pure Land.
cảnh giới như lai
The realm of Tathagata.
cảnh giới niết bàn
Nirvāṇadhātu (S).
cảnh giới súc sinh
Tiraścīnayoni (S), Animal realm Tiracchānayoni (P)Để lật xa, bàng sanh; Súc sanhChĩ chung tất cả loài thú.
; Tirascinayoni (S). Animal womb.
cảnh giới trống rỗng
Empty space—Trong Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni, Đức Phật đã dạy rằng những ai đem chú nầy đi vào những cảnh giới địa ngục và ngạ quỷ mà tuyên lưu thì lập tức những nơi ấy sẽ biến thành những cảnh giới không còn tội nhơn, không còn người để thọ khổ—In The Unisha-Vijaja- Dharani-Sutra, the Buddha reminded that those who recite this dharani, when entering the realms of hell and hungry ghost, read or chant it, the result is all the dwellers of such places will be liberated, and the place will immediately become completely empty.
cảnh giới trụ y chỉ trụ
(境界住依止住) Còn gọi là Cảnh giới xứ y chỉ xứ. I. Cảnh giới trụ y chỉ trụ. Nơi đức Phật đến giáo hoá thì gọi là Cảnh giới trụ, chẳng hạn những nơi như thành vua, làng, ấp trong mười sáu nước lớn; còn những nơi mà đức Phật cư trú thì gọi là Y chỉ trụ, chẳng hạn những chỗ như vườn Cấp cô độc, Ngài cùng ở chung với chúng tăng. Thuyết này được sư Chân đế đời Lương đặt ra trước nhất, rồi sau các nhà giải thích kinh điển Tịnh độ giáo thu dụng. [X. A di đà kinh sớ (Khuy cơ); Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ (Tông mật); Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.2 (Thiện đạo)]. II. Cảnh giới trụ y chỉ trụ. Cảnh giới do tâm chứng ngộ gọi là Cảnh giới trụ. Có thể chia thành sáu thứ: Phạm xứ trụ, Thiên xứ trụ, Thánh xứ trụ, Thọ mệnh trụ, Uy nghi trụ và Đại xứ trụ. Còn nơi mà thân thực của mình đang ở thì gọi là Y chỉ trụ. [X. Quán kinh sớ Tự phần nghĩa khải định kí Q.1] CẢNH GIỚI TƯỚNG Một trong Tam tế. Thuyết của luận Đại thừa khởi tín. Cũng gọi Hiện tướng, Cảnh tướng, Hiện thức. Theo thuyết của luận Khởi tín, khi vô minh căn bản khởi động vô minh mà hiện ra các vọng pháp lưu huyển sinh diệt thì các tướng dáng của các vọng pháp ấy có hai loại là: Tam tế và Lục thô, trong đó, tướng dáng thứ ba của Tam tế tức là Cảnh giới tướng. Tướng này duyên theo tướng thứ hai trong Tam tế là Năng kiến tướng mà hiện ra tất cả cảnh giới. Giống như tấm gương sáng ánh hiện các sắc tượng, thì gương là Năng kiến tướng, còn các sắc tượng là Cảnh giới tướng. Hoặc như tâm thức nương vào giấc ngủ mà có cảnh chiêm bao, thì tâm thức là Năng kiến tướng, còn chiêm bao là Cảnh giới tướng. Bởi thế nên biết, khi Năng kiến tướng khởi động, thì cùng lúc các cảnh giới hư vọng cũng hiển hiện. Cho nên, nếu lìa tướng năng kiến thì cũng không có cảnh giới sở kiến. Tóm lại, Năng kiến tướng là tác dụng năng duyên, còn Cảnh giới tướng thì là cảnh giới sở duyên. Tướng này đồng nghĩa với Tướng phần do Tự thể phần trong ba phần của thức A lại da mà tông Pháp tướng chủ trương. Nó cũng tương đương với Hiện sắc bất tương ứng nhiễm trong sáu nhiễm. (xt. Tam Tế Lục Thô). CẢNH HÀNH QUẢ Tức là Cảnh, Hành, Quả nói chung lại. Cảnh là đối tượng của sự quán chiếu, của lòng tin hoặc của sự hiểu biết. Hành là nhờ các quán chiếu cảnh, khởi lòng tin hiểu mà tu hành. Quả là do tu hành mà được chứng quả. Trong đó, Cảnh là đối với hết thảy pháp, xét kĩ ba tính thiện, ác, vô kí của chúng, quán xét xem chúng là hữu thể, vô thể, hữu vi hay vô vi v.v... Hành nghĩa là biết cảnh giới rồi thì tu tập văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ, chuyên tu pháp Ngũ trùng duy thức quán. Quả nghĩa là tu hữu lậu có thể cảm được tất cả diệu quả thế gian; còn tu vô lậu thì có thể vĩnh viễn diệt trừ các phiền não chướng ngại mà chứng được đại bồ đề. [X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối]. CẢNH HỰU TÂN TU PHÁP BẢO LỤC Gồm hai mươi mốt quyển. Do nhóm Lữ di giản đời Bắc Tống vâng mệnh vua soạn. Nói tắt là Cảnh hựu pháp bảo lục, Cảnh hựu bảo lục. Sách này tiếp theo Đại trung tường phù pháp bảo lục, được biên soạn vào năm Đại trung tường phù thứ 5 (1012), ghi chép tất cả kinh Phật được dịch từ đó đến năm Cảnh hựu thứ 4 (1037) gồm khoảng hai mươi lăm năm, đồng thời, thu chép cả các Tấu chương, Nguyện ban, Tự dẫn v.v...… trong thời gian đó. Sách này vốn đã thất lạc, chỉ còn nghe tên, bản sót lại được tìm thấy trong tạng Kim cất giữ tại chùa Quảng thắng, huyện Triệu thành tỉnh Sơn tây vào năm Dân quốc 22 (1933), sau được thu chép vào Tống tạng di trân tập hạ, hòm xuất bản thứ 12. Trong số hai mươi mốt quyển, thì bản Tống tạng di trân thiếu mất bảy quyển là các quyển 3, 5, 7, 11, 15, 19, 20 và hai quyển 8, 10 thì đã rách nát. Về sau, viện Nam kinh Chi na nội học sao chép các văn trọng yếu ra từ các bản Tống tạng di trân, Tổng lục của sách này, Đại trung tường phù pháp bảo lục, Thiên thánh thích giáo tổng lục, Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục v.v…… mà bù thêm vào các bộ phận đã thiếu, đề là: Cảnh hựu pháp bảo lục lược xuất và được ấn hành vào năm Dân quốc 23. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.1; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10; Tống sử Q.205 Nghệ văn chí; Phật giáo sử liệu (..…) Kim khắc đại tạng kinh (Trủng bản Thiện long, Đông phương học báo kinh đô sách thứ 6)]. CẢNH MÊNH NHẬT Là ngày Thiên tử lên ngôi. Cảnh mệnh, hàm ý là mệnh lớn, có nghĩa là Hoàng đế vâng mệnh lớn của trời. Từ đời Nguyên trở về sau, trong Thiền lâm, cứ mỗi tháng vào ngày ấy, lại cử hành nghi lễ tụng kinh chúc mừng, gọi là Cảnh mệnh nhật chúc tán. Cứ theo Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 1 mục Cảnh mệnh tứ trai nhật chúc tán chép, thì trước ngày Cảnh mệnh, vị Tri sự báo cho đại chúng biết, rồi treo thẻ tụng kinh. Ngày hôm sau, thỉnh chuông sáng xong, tập tăng tại Tăng đường, sau đó lên chính điện, tụng chú Thủ lăng nghiêm, niệm danh hiệu Phật Dược sư. Xong rồi, vị Duy na hồi hướng (Đại 48, 1114 trung): Ngày mỗ giờ mỗ, tại châu mỗ, chùa mỗ, trụ trì truyền pháp tên mỗ, cung thỉnh chư tăng tề tựu nơi bảo điện, phúng tụng Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ lăng nghiêm thần chú, tán dương Thánh hiệu, mong nhờ hồng ân, cầu chúc Hoàng thượng hiện tiền được vạn an trường thọ, Kim cương Vô lượng thọ Phật Nhân vương bồ tát. [X. Thiền lâm tưọng khí tiên Báo đảo môn].
cảnh giới tướng
The external, or phenomenal world.
; Còn gọi là Hiện Tướng hay Hiện Thức, một trong tam tế đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, nghĩa là thế giới hiện tượng bên ngoài—The external, or phenomenal world, the third aspect referred to in the Awakening of Faith. ** For more information, please see Tam Tế.
cảnh giới vô dư niết bàn
Anupadisesa nibbanadhātu (P).
Cảnh giới ái
境界愛; C: jìngjiè ài; J: kyōgai ai; |Dính mắc vào các hiện tượng chung quanh mình, chẳng hạn như gia đình, nhà cửa, tài sản sở hữu đặc biệt lúc họ đang tiếp cận cái chết. Một trong Tam ái (三愛).
Cảnh giới ái 境界愛
[ja] キョウガイアイ kyōgai ai ||| The attachment to the things around oneself, such as one's family, household and possessions that one experiences especially as one approaches the moment of death. One of three kinds of attachment 三愛. 〔二障義HPC 1.796c15〕 => Dính mắc vào các hiện tượng chung quanh mình, chẳng hạn như gia đình, nhà cửa, tài sản sở hữu đặc biệt lúc họ đang tiếp cận cái chết. Một trong Tam ái (三愛).
cảnh giới đời sống
Realm of life.
Cảnh giới 境界
[ja] キョウカイ kyōkai ||| (1) Sphere, state, viewpoint (visaya, gocara). (2) Object(s) perceived by the sensory and perceptive organs. The sphere of cognition. (visaya, jñeya). (3) Sphere, realm, place. (4) Feeling, sensation, mood. Mental state; condition, state, situation. (5) The resultant condition each being ends up in according to their actions: 'fruit,' 'reward,' '-hood.' (6) One's area of specialization; one's own limits. => Có các nghĩa sau: 1. Phạm vi, tình trạng, quan điểm (s: visaya, gocara). 2. Đối tượng nhận thức được bởi các giác quan và ý thức. Lĩm vực của nhận thức (s: visaya, jñeya). 3. Lĩnh vực, trạng thái, tình hình. 4. Cảm giác, cảm nhận, tâm trạng. Trạng thái của tâm thức, điều kiện, tình trạng, hoàn cảnh. 5. Trạng thái kết quả mà mỗi chúng sinh nhận chịu tương ứng với hành động của họ: “qủa”, “quả báo”, 6. Lĩnh vực chuyên môn, phạm vi của một người
Cảnh Huyền
警玄|Thái Dương Cảnh Huyền
cảnh huống
Circumstance—Situation—Condition.
Cảnh không thức hữu
境空識有; C: jìngkōng shìyŏu; J: kyōkūshikiu; |Cảnh giới khách quan không có, thức thì có.
Cảnh không thức hữu 境空識有
[ja] キョウクウシキウ kyōkūshikiu ||| The "objective realm is empty, consciousness exists." => Cảnh giới khách quan là không, thức thì có.
cảnh lúc ngủ
Scenes dreamed during sleeping—Dreaming scenes.
cảnh lúc thức
Waking scenes.
cảnh minh tự
(景明寺) Chùa tại Lạc dương do Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy sáng lập vào khoảng năm Cảnh minh (500 - 503). Chính sách sùng kính Phật giáo của nhà Bắc Ngụy đã đưa đến việc mở rộng Vân cương và xây dựng chùa Vĩnh minh, đến Văn đế còn tiến xa hơn nữa, đẩy mạnh việc Hán tộc hóa các tôn thất một cách đại qui mô, rồi dời đô đến Lạc dương. Tuyên vũ đế noi theo di phong của các vua đời trước, mở hang động Long môn và làm chùa Cảnh minh. Hàng năm cứ đến ngày Phật đản vào tháng tư, tượng Phật từ các chùa viện ở Lạc dương được tập trung về chùa Cảnh minh đến hơn nghìn pho, để tấu phạm nhạc cúng dường, xong, rước tượng quanh thành phố. Cảnh tượng tưng bừng, khiến các vị tăng Tây vực ca ngợi và có cảm tưởng như đang đi trong nước Phật vậy.Lúc bấy giờ tại Lạc dương, có tất cả một nghìn ba trăm sáu mươi bảy ngôi chùa viện, nhưng đến khi nhà Ngụy suy vong, thì phần nhiều chùa viện đã bị hủy bỏ. CẢNH QUÁN BẤT NHỊ Có nghĩa là cảnh được quán (sở quán) và tâm hay quán (năng quán) dung hòa làm một. Tông Thiên thai cho rằng, giữa cảnh được quán và tâm hay quán của người tu hành Viên giáo, đại khái tuy tương đối sai biệt, nhưng về thể tính thì cả hai đều là pháp viên dung vô ngại, tương nhập tương tức, cho nên gọi là bất nhị (không hai). Bởi vì đương thể của muôn pháp đều là thực tướng của ba đế viên dung, không một pháp nào mà không đầy đủ ba nghìn, đây là yếu chỉ do Viên giáo Thiên thai thuyết minh. Theo thuyết của tông Thiên thai, tâm quán của hành giả Viên giáo tuy là quán xét cảnh, còn có năng, sở khác nhau, nhưng cả hai đều là thực tướng của ba đế viên dung, ba nghìn tròn đủ, dứt bặt sự sai biệt năng, sở, vì thế cảnh và quán dung hòa làm một, đó gọi là Thường cảnh vô tướng, Thường trí vô duyên. Tức cảnh và quán vốn là một pháp. Mà đã là một pháp, thì chẳng còn cảnh tướng nào có thể vin theo nữa, cho nên là vô tướng. Mà đã chẳng có cảnh để vin theo, thì cũng chẳng có cái hay vin theo, cho nên nói là vô duyên. Lại thể của cảnh và quán tuy chẳng hai, nhưng nếu đứng về phương diện sự tướng tu quán mà nói, thì trong cái trạng thái năng, sở chẳng hai ấy, ba đế vẫn mặc nhiên tồn tại, gọi là không tướng mà tướng. Cái không tướng mà tướng này là chỉ cái cảnh tướng sở quán; do cảnh tướng ấy mà phát ra trí tuệ, tức là ba quán, như vậy, nói không duyên mà duyên. Tóm lại, tuy bảo rằng cảnh và quán dung hợp chẳng hai, nhưng vẫn phải siêng chăm tinh tiến thực hành nhất tâm năng tu năng quán.
cảnh mệnh nhật
Gần đến ngày nhậm chức hay đăng quang của một vị vua, nghi lễ cầu nguyện được tổ chức hằng tháng để cầu phúc lợi cho tân vương—The day of the king's accession, when services were conducted monthly on that day for his welfare.
cảnh người
The Human Realm—See Nhơn Đạo.
cảnh ngộ
See Cảnh Huống.
Cảnh Nhàn
景閑; C: jĭngxián; J: kyōkan; K: kyŏnghan, 1299-1375|Thiền sư danh tiếng Hàn Quốc, còn được biết với pháp danh là Bạch Vân (白雲, k: paegun). Sư được truyền thụ Phật pháp do ngài Thạch Ốc (石屋), là người cùng thời và là pháp hữu của Thiền sư nổi tiếng Thái Cổ Phổ Ngu (太古普愚, k: t'aego pou).
Cảnh Nhàn 景閑
[ja] キョウカン Kyōkan ||| Kyŏnghan (1299-1375) A prominent Koryŏ Sŏn monk; also known by the dharma-name of Paegun 白雲. He was initiated into Buddhism by 石屋 and was contemporary and colleague of the renowned T'aego Pou 太古普愚. k: Kyŏnghan (1299-1375) => Thiền sư danh tiếng Cao Ly, còn được biết với pháp danh là Bạch Vân (k: Paegun 白雲). Sư được truyền thụ Phật pháp do ngài Thạch Ốc 石屋, là người cùng thời và là pháp hữu của Thiền sư nổi tiếng Thái Cổ Phổ Ngu (k: T'aego Pou 太古普愚).
cảnh núi non vắng vẻ
Mountaineous wilderness.
cảnh phúc nhật dư
Ching phu Jih yu (C)Tên một vị sư.
cảnh quán tướng tư
(境觀相資) Tiếng dùng của tông Thiên thai. Có nghĩa là thực tướng diệu cảnh của một tâm ba quán năng quán và ba đế viên dung sở quán là do chủ khách giúp đỡ lẫn nhau mà được hiển hiện thành lập. Bởi vì, một tâm ba quán viên dung, nếu không nhờ diệu cảnh thì không hiển hiện được, nếu diệu cảnh ba đế viên dung không nhờ diệu quán thì cũng không thành tựu được, vì thế nên gọi là cảnh quán tương tư (cảnh và quán giúp đỡ lẫn nhau).
cảnh sách
Roi dùng ngăn chận cơn buồn ngủ của chư Tăng Ni trong lúc ngồi thiền trong thiền đường (roi dài 4 thước 2 tấc, có đầu mềm, kẻ bị đánh phải cúi đầu tạ tội)—A switch or cane to awaken sleepers during an assembly for meditation.
; (警策) I. Cảnh sách. Ý là cảnh giác nhắc nhở nhau tinh tiến tu hành. Hoàng bá thanh qui phúng tụng chương (Đại 82, 771 hạ), nói: Duy na đọc cảnh sách rằng: Hôm nay qua đi rồi, mệnh sống cũng giảm theo, như cá trong nước cạn, nào vui thú gì đâu? Đại chúng! Phải siêng năng tinh tiến, như chữa lửa cháy đầu, nên nghĩ đến vô thường, chớ để lòng buông thả. II. Cảnh sách. Nói tắt của Cảnh sách bổng (gậy cảnh tỉnh). Trong Thiền lâm thường dùng gậy này để đánh chư tăng trong lúc ngồi thiền mà lơ đễnh, ngủ gục hoặc tư thế không ngay ngắn. Là một thanh gỗ dẹt, lớn nhỏ, hình dáng, nặng nhẹ không giống nhau, thông thường dài bốn thước hai tấc (Tàu), đầu trên hơi rộng, độ hai tấc, phần cán thì thon thon tròn. Gậy dùng trong muà đông phần nhiều làm bằng gỗ cứng, mùa hạ thì gỗ mềm, đó là tùy theo áo mặc vào mùa đông, mùa hạ có dày, mỏng khác nhau. Phép cảnh sách là, trước hết ông thầy đánh nhẹ vào vai bên phải của người ngủ gục để cảnh cáo trước, sau đó lại đánh mạnh để cảnh tỉnh. Người bị đánh chắp tay tạ ơn, người đánh thì cầm ngang cây gậy hỏi han. Lại khi tụng kinh vào sáng sớm cũng dùng gậy cảnh sách. Cũng có khi ông thầy dùng roi tre để thay gậy gỗ. Ngoài ra, trong luật Thập tụng có danh từ Thiền trượng , cũng là dụng cụ đánh thức người ngồi thiền mà ngủ gục. Thiền trượng làm bằng tre trúc, một đầu có buộc dây lụa. [X. Hành trì quĩ phạm Q.1 Nhật phần hành trì].
cảnh sầm
Ching-t'sen (C).
cảnh sở duyên
Rasarammāna (S).
cảnh tam muội
Xem Định.
cảnh thiền thứ ba
(Đệ tam thiền): cảnh giới thiền định thứ ba, nằm trong Tứ thiền của Sắc giới, đã vượt qua Sơ thiền và Nhị thiền, lìa bỏ niềm vui của Sơ thiền và Nhị thiền mà được niềm vui thắng diệu nên gọi là “ly hỷ diệu lạc”. Người tu thiền đạt đến cảnh giới này thì tâm thức đi vào một trong ba cõi trời là Thiểu tịnh thiên (Parỵtta-śubha), Vô lượng tịnh thiên (Apramṇa-śubha) và Biến tịnh thiên (Śubha-kṛtsna).
cảnh thiền thứ hai
(đệ nhị thiền): cảnh giới thiền định thứ hai, nằm trong Tứ thiền của Sắc giới, đã vượt qua Sơ thiền. Người tu thiền khi đạt đến cảnh thiền thứ hai thì tâm thức đi vào một trong ba cảnh giới là Thiểu quang thiên (Parỵttbha), Vô lượng quang thiên (Apramṇbha), Quang âm thiên (bhassara).
cảnh thú
The Animal Realm—See Thú Đạo.
Cảnh thượng
境上; C: jìng shàng; J: kyōjō; |Trong phạm vi thế giới.
Cảnh thượng 境上
[ja] キョウジョウ kyōjō ||| Within the world. => Trong phạm vi thế giới.
Cảnh thức câu mẫn
境識倶泯; C: jìngshì jùǐn; J: kyōshiki gumin; |Cảnh giới và thức đều quên (từ khước).
Cảnh thức câu mẫn 境識倶泯
[ja] キョウシキグビン kyōshiki gumin ||| "Object and consciousness are both denied." => Cảnh giới và thức đều tiêu sạch.
cảnh trong chiêm bao
See Cảnh Lúc Ngủ.
cảnh trung tượng dụ
Pratibimba-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như bóng trong gương.
Cảnh trí
境智; C: jìngzhì; J: kyōchi; S: jñeya-jñāna|Chức năng nhận thức về thế giới khách quan.
cảnh trí
The objective world and the subjective mind, or knowledge of the objective sphere.
; Landscape—Sight—View—Cảnh hay còn gọi là lý sở quán; trí hay còn gọi là tâm năng quán—The objective world and the subjective mind, or knowledge of the objective sphere.
; (境智) Cảnh và trí nói gộp lại. Cảnh tức là cảnh giới sở quán, Trí tức là trí tuệ năng quán. Cảnh và Trí hợp lại làm một thì gọi là Cảnh trí ngầm hợp. Tứ niệm xứ quyển 4 (Đại 46, 578 thượng), nói: Cảnh trí như thế, không hai không khác. Cảnh như như tức là trí như như; trí tức là cảnh. Nói trí và nơi chỗ của trí, đều gọi là bát nhã. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 phần trên; Ma ha chỉ quán Q.3 phần trên; Thiên thai tứ giáo nghi]. CẢNH TRÍ CÂU DUNG Có nghĩa là trí tuệ (trí) năng quán và đối tượng (cảnh) sở quán hoàn toàn dứt tuyệt ý thức phân biệt chủ quan khách quan mà dung hợp làm một thể. Đồng nghĩa với Lí trí minh hợp (Lí và trí ngầm hợp).
Cảnh trí 境智
[ja] キョウチ kyōchi ||| "Objective wisdom." The function of the cognition of the objective world (s: jñeya-jñāna) => (s: jñeya-jñāna) Chức năng nhận thức về thế giới khách quan.
cảnh trạng
See Cảnh huống.
cảnh tượng
Sight—Occurrence.
cảnh tượng kỳ lạ
Wondrous sights.
cảnh tỉnh
To dissilussion.
cảnh tịnh
(景淨) (Adam) Người Ba tư. Giáo sĩ thuộc Cảnh giáo ở đền Đại tần. Nhậm các chức Giáo phụ Trung quốc, Hương chủ giáo, Trưởng lão. Là tác giả văn bia đánh dấu sự du nhập của Cảnh giáo vào Trung quốc được dựng vào năm Kiến trung thứ 2 (781) đời Đường. Cứ theo Cảnh giáo tam uy mông độ tán hậu ký được đào thấy trong động Nghìn Phật tại Đôn hoàng chép, thì kinh điển Cảnh giáo mà A la bản (Olpon) truyền vào Trung quốc đầu tiên, có một trăm ba mươi bộ; trong đó, các kinh Thường minh hoàng lạc, kinh Tuyên nguyên chí bản, kinh Chí huyền an lạc v.v…... gồm ba mươi lăm quyển, tức là các kinh do Cảnh tịnh dịch. Lại cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 17 chép, thì Tam tạng Bát nhã và Cảnh tịnh đã từng cộng tác cùng dịch kinh Lục ba la mật bảy quyển, nhưng vì Tam tạng Bát nhã không am hiểu tiếng Tây vực cũng không biết chữ Hán, mà Cảnh tịnh thì không biết tiếng Phạm, cũng không hiểu đạo Phật, cho nên kinh điển được dịch ra, phần lí thì tối tăm, phần lời thì lủng củng, thô kịch, vì thế sau phải dịch cả lại. Về các sự tích khác và năm sinh năm mất của Cảnh tịnh đều không rõ.
cảnh vật bên ngoài
Bàhyubhàva (S). Outside objects.
cảnh xuyên hoà thượng ngữ lục
(景川和尚語錄) Gồm hai quyển. Nói đủ là Bản như thực tính Thiền sư Cảnh xuyên hòa thượng ngữ lục. Cũng gọi là Cảnh xuyên lục, Đại qui lục. Do Cảnh xuyên Tôn long (1425–1500) vị tăng tông Lâm tế người Nhật bản soạn, văn cổ được sửa lại và san hành vào năm Bảo lịch thứ 8 (1758) của Nhật bản. Thu vào Đại chính tạng tập 81. Thu tập những lời nói pháp của Cảnh xuyên Tôn long trong mười ba hội khai đường (bài nói pháp nhân dịp lễ nhập tự trụ trì), thướng đường (các buổi nói pháp thông thường), tiểu tham (hỏi đạo ngoài giờ học chính thức), thị chúng (dạy chúng tăng), niêm hương v.v... tại các chùa Hưng vân, Đại đức, Diệu tâm, Thụy tuyền, Long an, và các bài kệ tụng, đạo hiệu, chân tán, Phật sự, tống vong, hành trạng, phụ lục v.v..…. CAO DÃ SƠN Là núi Cao dã tại Nhật bản, ở huyện Hòa ca sơn. Gọi tắt là Dã sơn, Nam sơn. Trên núi có chùa Kim cương phong thuộc tông Chân ngôn, do sư Không hải sáng lập vào năm 816 Tây lịch. Sau khi Không hải nhập tịch vào năm 853, học trò là Chân nhiên kế thừa di chí của thầy, tiếp tục mở mang chùa viện. Cuối thời kỳ Bình an, Đại tạng kinh bản Cao dã bắt đầu được ấn hành. Đến thời đại Liêm thương, có các học giả như Pháp tính, Đạo phạm, thời đại Thất đinh có Hựu khoái, Trường giác v.v…... lũ lượt ra đời, khiến cho tông học đại thịnh. Phòng tăng trên núi Cao dã lúc đầu có bảy nghìn bảy trăm phòng, nay chỉ còn hơn một trăm hai mươi phòng. Kiến trúc chủ yếu chia làm mười hai khu là Tây viện cốc, Đàm tràng, Nhất tâm viện cốc, Nam cốc, Ngũ thất cốc, Thiên thủ viện cốc, Bản trung viện cốc, Cốc thượng, Tiểu điền nguyên cốc, Liên hoa cốc, Đông cốc và Áo viện v.v...… Những văn vật trọng yếu còn được tàng trữ tại chùa Kim cương phong là ba bức tranh A di đà Như lai nhị thập ngũ Bồ tát lai nghinh, là kiệt tác mỹ thuật của Tịnh độ, bức tranh Phật Niết bàn cỡ lớn là họa phẩm đại biểu cho thời Đằng nguyên. Lại có kinh tạng do Thạch điền tam thanh kiến tạo, trong tạng có Nhất thiết kinh, bản Cao li. Ngoài ra, còn có các tranh Quan âm, kinh viết chữ cổ, các Phật cụ, tượng Phật, tranh vẽ hành trạng của Đại sư Cao dã, tượng 5 Đại lực hống v.v…... Những kiến trúc danh tiếng thì có Liên hoa định viện, Thành liên viện, Đại viên viện, Chính trí viện, Long quang viện, Thân vương viện, Minh vương viện, Phổ môn viện, và Địa tạng viện v.v…... CAO ĐÀI GIÁO Tôn giáo mới nổi lên ở Việt nam. Do một viên quan cấp thấp là Ngô văn chiêu, làm việc tại đốc phủ sứ thời Pháp thuộc, sáng lập vào khoảng năm Khải định thứ 2 đến thứ 5 (1917–1920) đời vua Khải định. Ngô văn chiêu bảo các tín hữu lễ bái một con mắt rất to, mắt này tượng trưng cho vị thần tối cao vô thượng (điện thần cao nhất không gì hơn) Cao Chùa Kim Cương Phong đài và nói vị thần này đã hóa hiện lần thứ 3 để cứu độ người đời. Niên hiệu Bảo đại năm đầu (1926) thời vua Bảo đại, giáo chủ đời thứ nhất là Lê văn trung tổ chức tín đồ thành giáo đoàn, đặt bản doanh tại Tây ninh, dung hòa Đạo giáo, Phật giáo, Cơ đốc giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian truyền thống làm giáo nghĩa. Bảo đại năm thứ 10, Phạm công tắc (Ngọc thạch) lên làm Giáo chủ đời thứ hai, số tín đồ tăng lên rất nhanh, đến khoảng hơn bốn mươi vạn, và bắt chước tổ chức giáo đoàn theo chế độ giáo phẩm của Thiên chúa giáo La mã. Cao đài giáo rất đậm màu sắc chính trị, đối với chính quyền thường giữ thái độ phê phán, có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị, như Bảo đại năm thứ 15, đã tổ chức một cuộc chống Pháp đại qui mô tại Sài gòn (lúc đó người Pháp còn cai trị Việt nam) mà trong sử gọi là cuộc nổi loạn của tín đồ đạo Cao đài. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, chính phủ Việt nam được thành lập, nhưng Cao đài giáo vẫn ủng hộ Hoàng đế Bảo đại vốn đã thất thế. Khi Ngô đình diệm nắm chính quyền, mưu toan giải tán đạo Cao đài, Nguyễn văn thịnh bèn thống lĩnh đạo quân gồm hơn mười lăm nghìn tín đồ Cao đài đánh nhau với quân chính quyền, cuối cùng bị tan rã vào năm 1956. Có người bảo đạo Cao đài chẳng phải là một chi phái của Phật giáo, nhưng cứ xét về giáo nghĩa căn bản của họ, thì thấy hình thức tín ngưỡng của họ đúng là Tịnh độ giáo dung hoà với Đạo giáo. [X. Gobron: Histoire du Caodaisme, 1948] CAO HIỂN XỨ Dịch ý từ chữ Phạm: Stùpa. Dịch âm là Tốt đổ ba. Còn gọi là tháp, mộ cao, qui tôn. Là kiến trúc bằng gạch hoặc đá để thờ xá lợi của Phật. Vì nó cao, dễ trông rõ, nên gọi là Cao hiển xứ. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3 đoạn 2].
Cảnh Ðức truyền đăng lục
景德傳燈錄; C: jǐngdé chuándēng-lù; J: kei-toku-dentōroku;|Tác phẩm lịch sử cổ nhất của Thiền tông Trung Quốc, được một vị Thiền sư thuộc tông Pháp Nhãn là Ðạo Nguyên – môn đệ của Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều – biên soạn vào năm Cảnh Ðức, đời Tống Nhân Tông (1004). Bộ sách này nói về cơ duyên của các chư tổ cho đến Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958).|Cảnh Ðức truyền đăng lục bao gồm 30 quyển, ghi chép những lời nói và hành trạng của hơn 600 vị Thiền sư. Bộ sách này là nguồn tham khảo quan trọng nhất trong Thiền tông và rất nhiều Công án được nhắc đến lần đầu ở đây.
Cảnh địa
境地; C: jìngdì; J: kyōchi; |Điều kiện, tình huống, trạng thái, trường hợp; giai đoạn, mức độ.
Cảnh địa 境地
[ja] キョウチ kyōchi ||| Condition, state, situation, circumstance; stage, level. 〔二障義HPC 1.795b24〕 => Điều kiện, tình huống, trạng thái, trường hợp; giai đoạn, mức độ.
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
(景德傳燈錄, Keitokudentōroku): bộ Đăng Sử tiêu biểu nhất do Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原) nhà Tống, tương đương đời thứ 3 của môn hạ Pháp Nhãn, biên tập thành thông qua kết hợp các bản Bảo Lâm Truyện (寳林傳), Tục Bảo Lâm Truyện (續寳林傳), Huyền Môn Thánh Trụ Tập (玄門聖冑集), Tổ Đường Tập (祖堂集), v.v., toàn bộ gồm 30 quyển. Có thuyết cho là do Củng Thần (拱辰) ở Thiết Quan Âm Viện (鐵觀音院), Hồ Châu (湖州) soạn. Nó được hoàn thành vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), sau khi được nhóm Dương Ức (楊億) hiệu đính thì được thâu lục vào Đại Tạng và san hành vào năm thứ 3 (1080) niên hiệu Nguyên Phong (元豐). Phần mạo đầu có lời tựa của Dương Ức và bản Tây Lai Niên Biểu (西來年表), từ quyển 1 cho đến 29 thâu lục các truyền ký cũng như cơ duyên của 52 đời, từ 7 vị Phật trong quá khứ, trải qua 28 vị tổ của Tây Thiên, 6 vị tổ của Đông Độ cho đến hàng đệ tử của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), gồm tất cả 1701 người (người đời thường căn cứ vào đây mà gọi là 1700 Công Án, nhưng trong đó thật ra có rất nhiều người chỉ có tên thôi, còn truyền ký và cơ duyên thì không có). Riêng quyển thứ 30 thì thâu lục các kệ tụng liên quan đến Thiền Tông, và phần cuối có kèm theo lời bạt. Ảnh hưởng của bộ này rất to lớn, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác lập giáo điều độc đáo của Thiền Tông. Bản được thâu lục vào trong Đại Chánh Đại Tạng Kinh (大正大藏經, Taishō) 51 là bản trùng san của niên hiệu Nguyên Hựu (元祐, 1314-1320) nhà Nguyên; trong đó có thêm lời tựa của Dương Ức, văn trạng trùng san, bảng Niên Biểu Tây Lai, lá thư của Dương Ức, lời bạt của Trịnh Ngang (鄭昂), lời tựa sau sách của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) và Lưu Phỉ (劉棐). Tại Nhật bản, nó cũng được xem như là thư tịch căn bản nhất thể hiện lập trường của Thiền Tông. Từ cuối thời Thất Đinh (室町, Muromachi) trở đi, thỉnh thoảng nó được khai bản ấn hành, và dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo) có xuất hiện bộ Diên Bảo Truyền Đăng Lục (延寳傳燈錄) của Vạn Nguyên Sư Man (卍元師蠻) cũng do ảnh hưởng hình thái ấy. Tống bản hiện tồn có bản của Phúc Châu Đông Thiền Tự (福州東禪寺) được thâu lục vào Đại Tạng Kinh (hiện tàng trữ tại Đề Hồ Tự [醍醐寺, Daigo-ji], Đông Tự [東寺, Tō-ji] của Nhật), bản sở tàng của Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko, có khuyết bản), v.v. Thêm vào đó, một số bản san hành đang được lưu hành tại Nhật là bản năm thứ 4 (1348) niên hiệu Trinh Hòa (貞和), Bản Ngũ Sơn năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn (延文), bản năm thứ 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.
Cảnh Đức Truyền Đăng lục
(景德傳燈錄) Gồm ba mươi quyển. Do ngài Đạo nguyên đời Tống soạn. Nói tắt là Truyền Đăng Lục. Là một bộ lịch sử Thiền tông Trung quốc. Nguyên đề tên là Phật tổ đồng tham tập. Thu vào Đại chính tạng tập 51. Sách này thu chép pháp hệ truyền đăng từ bảy đức Phật ở quá khứ và các tổ Thiền tông các đời của năm nhà năm muơi hai đời, cộng tất cả một nghìn bảy trăm linh một vị, nội dung bao gồm hành trạng và cơ duyên. Trong số đó, các tổ có để lại Ngữ lục là chín trăm năm mươi mốt vị. Sách được dâng lên vua Chân tông nhà Tống vào niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004) và vâng mệnh vua đưa vào Đại tạng, vì thế nên đặt tên là Cảnh Đức Lại vì đèn có thể phá tan bóng tối, pháp hệ nối tiếp nhau, cũng như lửa từ đèn này truyền sang đèn khác: thí dụ Chính pháp được thầy trò truyền cho nhau mãi mãi không dứt, cho nên gọi là Truyền Đăng. Sách này là tư liệu căn bản cho việc nghiên cứu lịch sử Thiền tông Trung quốc. Ở đầu sách có bài tựa do Dương ức soạn. Quyển 1, quyển 2 tường thuật về tình hình truyền pháp giữa bảy đức Phật quá khứ và tổ Ma ha Ca diếp thứ nhất đến tổ Bát nhã đa la thứ hai mươi bảy. Quyển 3, thuật lại việc truyền pháp của năm vị tổ Đông độ là Đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín, Hoằng nhẫn. Quyển 4 thuật các hệ bên của Tứ tổ Đạo tín, Ngũ tổ Hoằng nhẫn, là các pháp hệ Thiền Ngưu đầu, Thiền Bắc tông, tông Tịnh chúng và truyện kí của các ngài Pháp dung (Ngưu đầu), Thần tú (Bắc tông) và Phổ tịch. Quyển 5 tường thuật về ngài Tuệ năng và pháp hệ của ngài. Quyển 6 thu chép sư Mã tổ Đạo nhất và Bách trượng Hoài hải. Quyển 7 thu chép các sư Nga hồ Đại nghĩa và Ma cốc Bảo triệt. Quyển 8, lần lượt kể truyện về các sư Nam tuyền Phổ nguyện gồm 54 người. Quyển 9 kể về 30 người nối pháp Bách trượng Hoài hải. Quyển 10 ghi chép các pháp tự của Nam tuyền Phổ nguyện như tiểu sử của sư Tùng thẩm ở Triệu châu. Quyển 11 tường thuật những người nối pháp tổ Linh hựu núi Qui sơn thuộc tông Qui ngưỡng. Quyển 12 là truyện của tổ Nghĩa huyền ở Lâm tế thuộc tông Lâm tế. Quyển 13 thuật về pháp hệ của tông Hà trạch, đồng thời, thu chép truyện của Trừng quán và Tôn mật thuộc tông Hoa nghiêm. Quyển 14 thu chép truyện của Hi thiên ở Thạch đầu và pháp hệ Hi thiên. Quyển 15 chép truyện của Lương giới ở Động sơn. Quyển 16 ghi truyện những người nối pháp của Tuyên giám ở Đức sơn. Quyển 17 chép hệ thống của tông Tào động. Quyển 18, 19 là pháp hệ của Nghĩa tồn ở Tuyết phong. Quyển 20 thuật về hệ thống của Bản tịch ở Tào sơn. Quyển 21 là pháp hệ của sư Bị ở Huyền sa. Quyển 22, 23 là pháp hệ của tông Vân môn. Quyển 24, 25, 26 là pháp hệ của Văn ích ở Thanh lương thuộc tông Pháp nhãn. Quyển 27 tường thuật về các thiền sư ưu tú mà không thuộc bất cứ tông phái nào trong Thiền môn. Quyển 28 thu chép các ngữ lục đặc thù ưu việt của Thiền tông, bao gồm 12 người từ Tuệ trung ở Nam dương đến Thần hội ở Hà trạch. Quyển 29 đề là Tán tụng kệ thi, thu chép những bài kệ tụng của mười bảy người, trong đó có Bạch cư dị. Quyển 30 đề là Minh ký châm ca....... thu chép tất cả hai mươi ba loại Toạ thiền châm, Chứng đạo ca. Sách này có hai loại bản in lại, một do Tư giám in lại vào năm Thiệu hưng thứ 4 (1134) đời Tống; một do Hi vị in lại vào năm Diên hựu thứ 3 (1316) đời Nguyên. [X. Phật tổ thống kỉ Q.44; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26].
cảnh đức truyền đăng lục
Ching-te-ch'uan-teng-lu (C), Keitoku Dento-roku (C), Jingde chuadengdu (C)Tác phẩm Thiền học xưa nhất do Đạo Nguyên biên soạn vào năm 1004.Tên một bộ sưu tập.
; Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu—Cảnh Đức Truyền Đăng Lục có nghĩa là Biên Niên Sử được truyền dưới ánh đèn, soạn dưới thời Cảnh Đức. Tác phẩm xưa nhất trong lịch sử văn học thiền, do nhà sư Trung Quốc tên Đạo Nguyên soạn năm 1004. Tác phẩm gồm những tiểu sử ngắn và những giai thoại về cuộc đời của các thiền sư từ trước thời sơ tổ phái Pháp Nhãn là Thiền Sư Pháp Nhãn Văn Ích. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục gồm ba tập, ghi lại ý kiến của hơn 600 thiền sư và nói đến hàng ngàn thiền sư khác. Nhiều công án được tìm thấy trong tác phẩm nầy—Record Concerning the Passing On the Lamp, composed in the Ching-Te period. This is the earliest historical work of Ch'an literature, compiled by the Chinese monk named T'ao-Hsuan in the year 1004. It consists of short biographies and numerous anecdotes from the lives of the early masters of Ch'an up to Fa-Yen-Wen-I, the founder of the Fa-Yen school. This thirty-volume work, in which the deeds and sayings of over 600 masters are recorded and more than 1000 masters are mentioned, is one of the most important source works of Ch'an literature; many of the koans that are found in later Zen literature were fixed in writing here for the first time.
Cảnh đức truyền đăng lục 景徳傳燈録
[ja] キョウトクデントウロク kyōtoku dentou roku ||| The Jingde chuandeng lu; (The Record of the Transmission of the Lamp Published in the Ching-te Era), 30 chüan. By Tao-yüan (d.u.); completed in 1004. T 2076.51.196-467. => (c: Jingde chuandeng lu; e: The Record of the Transmission of the Lamp Published in the Ching-te Era), 30 quyển. Do Thiền sư Đạo Nguyên (Tao-yüan ) soạn tập năm 1004.
Cảnh 境
[ja] キョウ kyō ||| (1) Object, objective (the external realm's) existence. Phenomena, appearance. Thing(s), affairs. That which is apprehended and discerned by the mind and sense-organs. The term generally refers to the objects that give rise to the cognitive activity of the six organs; thus the six objective realms (六境 (liu jing). Since these are what defile the human mind, the term (塵) or "dust" is also used interchangeably with 境 (visaya, gocara, artha). (2) Object(s) of cognition. The objects of value judgments; synonymous. with suoqu 所取. (3) The objects of the five faculties, thus a reference to the five objective realms. When the mind-objects are added, there are six realms, as mentioned above. (4) The discernment of the Buddha's dharma, the object of excellent wisdom. (5) Mental state or condition; sphere, viewpoint. (6) In Consciousness-only theory the three kinds of objects that are discriminated by their qualities. These are: 'real objects' (xingjing 性境); 'image-only objects' (duyingjing 獨影境); and 'archetypal objects' (daizhi 帶質). (7) World, realm. Objective realm. (8) Boundary, limit, frontier, environment, circumstances (ālambana). => Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng, khách thể. Hiện tượng, trình hiện. Hoàn cảnh, tình hình, vấn đề. Những gì được cảm nhận và nhận biết qua tâm và các giác quan. Thuật ngữ thường đề cập đến các đối tượng làm sinh khởi sự nhận thức của các giác quan; như Lục cảnh (六境e: six objective realms; c: liu jing). Vì những cảnh nầy làm ô nhiễm tâm thức con người, nên thuật ngữ Trần ( 塵) còn được dùng chung với Cảnh ( 境 s: visaya, gocara, artha). 2. Đối tượng của nhận thức. Đối tượng của mọi giá trị phán đoán; đồng nghĩa với Sở thủ 所取. 3. Đối tượng của năm giác quan, nên dẫn đến có năm trần cảnh. Khi đối tượng của tâm ý được thêm vào, thì có Lục trần như đã được nêu ở trên. 4. Sự nhận thức về Phật pháp, đối tượng của trí tuệ siêu việt. 5. Tâm cảnh hay điều kiện; lĩnh vực, quan điểm. 6. Theo giáo lý tông Duy thức, có ba loại cảnh phân biệt theo đặc tính của chúng: tánh cảnh. độc ảnh cảnh và đới chất cảnh 7. Thế giới, cõi giới. Thế giới khách quan. 8. Ranh giới, giới hạn, biên giới, môi trường, hoàn cảnh (s: ālambana).
Cảnh/kính 鏡
[ja] キョウ kyō ||| (1) A mirror--often used in Buddhism as a metaphor for the pure mind of enlightenment. (2) The moon. (3) To illuminate, clarify. => 1. Tấm gương, trong Phật học thường dùng để ví dụ cho tâm thanh tịnh giác ngộ. 2. Mặt trăng. 3. Chiếu sáng, làm cho sáng sủa dễ hiểu.
cấm
Prohibitions, to forbid, prohibit.
; Cấm cản hay ngăn cản—To forbid—To prohibit—To interdict—To ban—To bar--Prohibitions.
cấm chú tạng
Tạng chú bí mật của Mật giáo, mới được thêm vào Tam Tạng Kinh Điển của Phật—The Vidyadharapitaka, or Dharanipitaka, the canon of dharanis, a later addition to the Tripitaka.
cấm chế
Nisedha (S)Sự cấm chế trong cúng tế.
cấm chỉ
See Cấm.
cấm cung
Forbidden palace—To shut someone up in a room or place.
cấm dục
(禁欲) Hành vi đè nén những ham muốn của nhục thể và thế gian, để mong đạt đến cảnh giới tinh thần lí tưởng. Nhưng loại cấm dục thì rất nhiều, hoặc tích cực tưởng lệ sự tu khổ hạnh, hoặc phủ định nhục thể, phủ định hiện thế, để thực hiện lí tưởng mong cầu giải thoát ở đời sau: đó là mục đích của tôn giáo. Tại châu Âu, vào thời Trung cổ, các tu viện Cơ đốc giáo chủ trương cuộc sống triệt để ẩn cư cấm dục. Kì na giáo tại Ấn độ cũng cho rằng nhịn ăn là con đường tắt tốt nhất để đi đến giải thoát, ngoài ra còn thừa nhận sự chết đói là một hình thái chết lí tưởng. Khi đức Thích tôn còn tại thế, phép thực tiễn của tôn giáo có hai loại là khổ hạnh (Phạm: Tapas) và tu định (Phạm: Samàdhi). Căng Yết La Đồng Tử Khổ hạnh là hành hạ thể xác cho đến cực độ để cho tinh thần được nhẹ nhàng thanh tịnh. Còn tu định là phương pháp an định tinh thần, khiến nó thống nhất mà tách lìa khỏi nhục thể. Đức Thích tôn lúc đầu cũng tu định, nhưng chưa giác ngộ, sau lại hành khổ hạnh suốt sáu năm, gầy còm chỉ còn da bọc xương, nhưng cũng chẳng được giải thoát, ngài bèn bỏ khổ hạnh và ăn uống trở lại. Sau khi thân thể hồi phục, Ngài lại ngồi tu định dưới gốc cây và cuối cùng đã khai ngộ. Hai phương pháp tu định và khổ hạnh nói trước, đều đứng trên lập trường tâm, vật nhị nguyên luận, muốn từ thể xác mà cầu được giải thoát trong nội tâm. Nhưng sau, đức Thích tôn tu định thì là phép tu bỏ sự ép xác mà chính quán chân lí tâm vật nhất như. Bởi thế, Ngài đã từng nói với các đệ tử là Ngài đã bỏ cả hai cực đoan: chủ nghĩa khổ hạnh và chủ nghĩa khoái lạc mà theo một phương pháp trung đạo. Sau khi đức Phật nhập diệt, phái bảo thủ trong giáo đoàn đã chế định rất nhiều giới luật, đặc biệt đề cao sự xuất gia diệt dục, nhưng đối với sự khổ hạnh cực đoan thì coi là tà đạo và chối bỏ. Ngoài ra, do chúng tại gia phát khởi cuộc vận động Bồ tát đại thừa, chủ trương tâm vật nhất như, hiện thực và lí tưởng tuyệt đối thống nhất, và thực hiện tinh thần từ bi, lợi tha một cách tích cực trong đời sống hàng ngày, tức từ ngay trong cuộc sống thường nhật mà đạt được lí tưởng: đó là giác ngộ chân chính. Chẳng hạn như sự xả thân cúng dường của Phật giáo Đại thừa, tức là một loại phương pháp Bồ tát tu hành thực tiễn chối bỏ chính mình. Nhưng cũng có khi từ quan điểm Phiền não tức bồ đề, sinh tử tức Niết bàn mà khẳng định tất cả mọi hành vi trong sinh hoạt thường nhật; tuy vậy, lập trường này cũng khó tránh khỏi cái nguy cơ sa đọa, vì thế lại sản sinh tư tưởng khôi phục giới luật nghiêm túc. Tịnh độ giáo thì cho người phàm phu khó có thể tu hành ép xác và giữ giới, cho nên đặc biệt nhấn mạnh ở lòng tin. [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.16; luận Đại trí độ Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.27; Pháp uyển châu lâm Q.83].
cấm giới
Xem Nhiếp luật nghi giới.
; Prohibitions, commandments, especially the Vinaya as containing the laws and regulations of Buddhism.
; Sila or Pratimoksa (skt)—Phiên âm theo tiếng Phạn là Thi La Hay Ba La Đề Mộc Xoa, nghĩa là giới luật do Phật chế định để ngăn chặn sự sai trái nơi thân khẩu ý của các đệ tử—Abstention, or prohibitions, commandments, especially the Vinaya as containing in the laws and regulations of Buddhism.
; (禁戒) Phạm, Pàli: Saôvara. Là giới luật đức Phật chế định để ngăn ngừa những tội lỗi do thân, khẩu, ý của các đệ tử gây ra. Dịch âm là Tam bà ra, Tam bà la. Còn gọi Luật nghi. Tạng luật trong ba tạng chuyên nêu rõ các giới cấm, có năm giới, tám giới, giới Sa di, giới Cụ túc v.v... khác nhau. Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 31 phẩm Hộ pháp, bảo người giữ gìn giới cấm tức là đệ tử của Phật, người hủy hoại giới cấm tức là đệ tử của ma. Lại tiếng Phạmvrata (dịch âm là một lật đa), cũng dịch là cấm giới, tức không phải là giới giữ trường kì, mà chỉ là giới cấm được chế định để đáp ứng sự phát nguyện tu pháp trong một thời gian ngắn mà thôi. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 751 hạ), nói: Một lật đa, là giới nguyện có thời. Có nghĩa là người hành giả phát nguyện tụng trì trong một tháng hoặc một năm, thời gian ấy hết, thì sự cấm đoán cũng được bãi bỏ. (xt. Giới).
Cấm giới 禁戒
[ja] ゴンカイ gonkai ||| Precept(s), commandment(s), instructions, regulations. Abstaining from wrongdoing, avoiding evil. The rules given by the Buddha. The regulations that practitioners should adhere to. Also pronounced in Japanese as kinkai (śikṣā-pada). => Lời răn dạy, lời dạy bảo về đạo lý, những điều răn, những quy tắc, những quy định. Sự phòng ngừa những hành vi sai trái, tránh những việc ác. Giới luật do Phật chế, những giới luật mà người xuất gia tu hành phải tuân theo. Được người Nhật Bản quan niệm như là kinkai (śikṣā-pada).
cấm mẫu duyên
(禁母緣) Một trong sáu duyên trong Quán kinh. Trong Quán kinh sớ tự phận nghĩa, ngài Thiện đạo đem chia các lí do (nhân duyên) phát khởi kinh Quán vô lượng thọ làm sáu, Cấm mẫu duyên là thứ hai, trong đó thuật lại giai đoạn A xà thế giam mẹ là phu nhân Vi đề hi trong ngục tối.
cấm ngũ lộ ấn
(禁五路印) Ấn khế trong Mật giáo được kết khi tu pháp Chiêu hồn. Kết ấn này để giữ hồn phách trong thân người bệnh sắp chết để mong kéo dài mệnh sống. Cứ theo Uế tích kim cương thuyết thần thông đại mãn đà la ni pháp thuật linh yếu môn chép, thì phép kết ấn này là: co ngón áp út của tay trái vào trong bàn tay và dựng thẳng ngón út lên. Nhũ vị sao quyển 22 bảo, cấm, là nghĩa đóng bít; ngũ lộ, tức là năm đường trong sáu đường. Con người khi chết tất phải đi đến cõi khác, nay đã ở cõi người rồi, thì dùng sức gia trì bất khả tư nghị để đóng kín cửa của năm cõi khác, khiến người chết sống lại mà trở về thân trước. Có thuyết nói Ngũ lộ là chỉ: 1. Chỗ phía dưới rốn. 2. Ngực. 3. Bụng. 4. Đầu. 5. Đỉnh đầu. Hồn phách người chết qua năm chỗ ấy mà đi ra cho nên kết ấn này để ngăn cấm. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.5; Chư đại sự thập kết Q.4].
cấm ngữ
(禁語) Tức tự mình cấm chỉ nói chuyện. Hết thảy chúng sinh, luân hồi sống chết là đều do ba nghiệp thân, khẩu, ý mà ra, nếu tiêu trừ được ba nghiệp ấy thì có thể chóng được giải thoát. Mục đích của sự cấm nói năng là để giảm thiểu khẩu nghiệp. Khi vị tăng tu hạnh cấm nói, làm một tấm biển gỗ nhỏ, trên đó viết hai chữ Cấm Nói, để phòng khi gặp người muốn nói chuyện với mình thì dơ tấm biển ấy ra.
cấm phòng
Gynaeceum; room of forbidden acces; to live in seclusion in a room.
cấm sát sanh
Not to steal.
cấm sát sanh để cúng dường hay đãi khách
No animals should be slaughtered for offerings or entertain guests.
cấm túc
(禁足) Chỉ thời gian chín tuần ở yên, trong thời kỳ này nghiêm cấm chúng tăng ở yên không được ra khỏi đạo tràng, luật này do đức Thích tôn chế định. Bởi vì, thời kì ở yên là mùa mưa, vào mùa này cây cỏ và sâu bọ sinh nở rất nhiều, sợ đi ra sẽ dẫm đạp lên chúng, bị người đời chê cười. Đồng thời, thời kì ở yên là thời gian tiến đạo tu hành, cho nên cấm chỉ đi ra ngoài.
Cấm túc 禁足
[ja] ゴンショク kinsoku ||| "No walking." During the three month meditation retreat, the practitioner does not take a single step out of the monastery. => “Không đi đâu”. Trong suốt ba tháng an cư, hành giả không rời khỏi tu viện, dù chỉ một bước.
cấm đứt
To forbid absolutely.
Cấm 禁
[ja] ゴン gon kin ||| (1) Prohibition, ban (戒). (2) To prohibit, forbid, repress, restrain, abstain from. => 1. Sự ngăn cấm, sự cấm, lệnh cấm; sự cấm đoán ( giới 戒). 2. Cấm, ngăn cấm, ngăn chặn; kiềm chế, nén lại; cầm giữ, kiêng giữ.
cấn
Ken (C)Quẻ thứ ba trong bát quaí.
cấp
1) Ban cho: To give. 2) Cặp đựng sách: Book-box. 3) Cấp bách: Urgent—Haste—Promptly. 4) Kéo nước từ giếng lên: To draw water (out of a well).
; (笈) Là cái trắp (hòm) mà những vị sư hành cước hoặc các lữ khách dùng để đựng y phục, sách vở và đeo trên vai cho tiện việc đi đường. Trắp có thêm chân để có thể để đứng trên mặt đất, phần nhiều đan bằng tre.
cấp bách
Urgent—Pressing.
cấp báo
To warn urgently.
cấp bằng
Diploma—Degree.
cấp chiết
(笈折) Nguyên là mảnh vải mà người Nhật bản, khi tu nghiệm, đắp trên vai. Sau thành là áo của những người đi hành hương mặc. Là một loại áo không có tay, may giống như cánh chim (người Nhật bản khoác bên ngoài áo thường), mỏng và mầu trắng, cũng có người nhuộm mầu đỏ.
cấp cho
To bestow—To endow—To furnish—To allow.
cấp chư cô lão
Xem Cãp Cô Độc.
Cấp Cô Ðộc
給孤獨; S, P: anāthapiṇḍika; cũng được gọi là Tu-đạt-đa (s, p: sudatta);|Trưởng giả ở Xá-vệ (s: śrāvāsti), sống trong thời Phật Thích-ca tại thế và là một trong những người cư sĩ nhiệt thành nhất thời đó. Ông bỏ tiền mua Kì viên (s, p: jetavana) cúng dường Phật và Tăng-già. Ðức Phật lưu lại đây phần lớn trong mùa mưa. Trong kinh sách, trưởng giả Cấp Cô Ðộc được nhắc tới như là người cúng dường nhiều nhất. Có nhiều bài giảng của đức Phật cho ông được ghi lại trong Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅgutta-ra-nikāya).
Cấp Cô Độc
(s: Anāthapiṇḍada, p: Anāthapiṇḍika, 給孤獨): tức Tu Đạt (s, p: Sudatta, 須達), còn gọi là Tu Đạt Đa (須達多), Tô Đạt Đa (蘇達多); ý dịch là Thiện Thọ (善授), Thiện Dữ (善與), Thiện Thí (善施), Thiện Cấp (善給), Thiện Ôn (善溫); là vị trưởng giả giàu có của Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), là đại thần của vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿). Ông có tánh tình nhân từ, thương xót người cô độc, thích làm việc bố thí; cho nên người đời thường gọi ông là Cấp Cô Độc. Sau khi quy y với đức Phật, ông phát tâm kiến tạo Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana, 祇園精舍) cúng dường Ngài.
cấp cô độc
Anathapindika (skt)—Người chăm sóc cho cô nhi quả phụ. Người đã cúng dường cho Phật vườn Kỳ thọ. Ông cũng là một Phật tử hết lòng ủng hộ Đức Phật. Người ta nói vào thời Đức Phật còn tại thế, có một vị thương gia trưởng giả tên là Tu Đạt, sống trong thành Xá Vệ. Vì ông rất quan tâm cứu giúp người nghèo cũng như cô nhi quả phụ nên ông được người ta mệnh danh là Cấp Cô Độc. Người ta nói có một lần Đức Phật được thỉnh đến thành Xá Vệ, Cấp Cô Độc cố tìm một nơi thích hợp cho Ngài và 1.250 Tỳ Kheo trong Tăng đoàn. Cuối cùng ông ưng ý với ngôi vườn của Thái Tử Kỳ Đà, con vua Ba Tư Nặc, với cỏ cây xanh mướt, thật là một nơi lý tưởng để thiết lập tịnh xá dâng Phật. Ông tìm đến Thái Tử Kỳ Đà để hỏi mua miếng vườn. Thái tử lấy làm ngạc nhiên hỏi ông rằng: “Tôi sẳn sàng bán tất cả những đất đai mà ông có thể phủ đầy vàng.” Trưởng giả Cấp Cô Độc trầm ngâm suy nghĩ một lúc, trong khi thái tử Kỳ Đà cười thích thú mà rằng, “Có lẽ như vậy thật là quá sức đối với ông, có phải vậy không ông Cấp Cô Độc?” “Tại sao ông không trả lời ta?” Trưởng giả Cấp Cô Độc bèn trả lời: “Tại sao không được chứ?” Tôi chỉ đang suy nghĩ coi nên dùng kho vàng nào thôi.” Ngày hôm sauThái tử Kỳ Đà ngạc nhiên khi nhìn thấy những xe bò chở đầy vàng ròng đang tiến vào khu vườn của ông. Sau đó thợ bắt đầu lót vàng trên đất. Một lúc sau, chỉ trừ những gốc cây là chưa phủ vàng, còn thì vàng đã được lót tứ hướng. Lúc đó Thái tử Kỳ Đà nghĩ rằng chắc là Đức Phật Thích Ca phải là một siêu nhân, ông bèn quyết định hiến những mảnh đất nầy. Hai vị thí chủ, người hiến đất, kẻ xây tịnh xá, nên từ đó mới có tên “Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.” Trong văn chương Phật giáo, chữ Cấp Cô Độc đồng nghĩa với “vị tha,” hay quảng đại trong việc xây chùa, dựng tháp, in kinh, ấn tống, vân vân—One who take care of widows and orphans—One who presented Sakyamuni Buddha with the Jetavana-vihara (Jeta Grove). He was also a chief supporter of the Buddha. At the time of the Buddha, there was a wealthy merchant named Sudatta living in the kingdom of Sravasti. Because of his concern and generosity towards the poor and less fortunate, he was given the epithet 'Anathapindika' or 'provider for widows and orphans.' One day the Buddha was invited to preach in Sravasti, Anathaphindika tried to find a suitable place for the Buddha and His Sangha of 1,250 monks. Determining that the estate of Prince Jeta, son of King Prasenajit, with its grassy fields and leafy trees, would be ideal, he approached the prince and offered to buy it. The prince startled, said proudly, 'I am prepared to sell you as much land as you can cover with gold.' Anathaphindika remained silent for a moment, at which point the Prince laughed, “that seems to be too much for you, does it?” Anathapindika replied, “Why, no,” I was simply thinking which of my storehouses to take the gold from. Later in the day, as the Prince watched in amazement, bullock cart after bullock cart arrived at his estate, and the workers began to lay a carpet of gold upon the land, stretching in all directions. The only patches of ground which could not be covered were those where the trees stood. Prince Jeta, realizing that the Buddha must be an exceptional man, then decided to donate these patches of land. In honour of the two benefactors, the estate was henceforth known as the Garden of Jeta and Anathapindika. In Buddhist literature, the name of Anathapindika has become synonymous with selfless, or extreme generosity in the cause of Dharma, i.e. building temples, printing sutras and commentaries.
cấp cô độc trưởng giả
Anàthapindika (S). To give to orphans and widows. The elder who offered the Jetavana to Buddha.
cấp cô độc viên
Jetavana (S). Jetevana monastery. Also Kì thụ Cấp cô độc viên, Kì đà tịnh xá, Kì đà viên, Thắng lâm.
; Garden of the Benefactor of Orphans and the Solitary—See Cấp Cô Độc.
; (給孤獨園) Phạm: Jetavanànàthapiịđa-syàràma, Pàli: Jetavanànàthapiịđi-kàràma. Khu vườn ở mạn nam thành Xá vệ, nước Kiều tát la thuộc trung Ấn độ, tương đương với Sahet-mahet ở biên giới phía nam của nước Nepal hiện nay, gần nam ngạn sông Rapti. Đây là di tích nổi tiếng nhất trong các di tích thuyết pháp của đức Phật. Nói đủ là Kì thụ cấp cô độc viên. Còn gọi là Kì hoàn a nan bân để a lam, Kì viên a nan bân đê a lam, Thệ đa lâm cấp cô độc viên, Kì thị chi thụ cấp cô độc tụ. Gọi tắt là Kì hoàn tinh xá, Kì viên tinh xá (Phạm: Jetavana), Kì đà bà na, Thệ đa phạn na, Kì đà tinh xá, Kì đà viên, Kì đà lâm, Kì hoàn tự, Kì thụ, Kì viên. Còn dịch là Tùng lâm, Thắng lâm. Kì thụ, tức là nói tắt của rừng cây Phạm: Jetavana) của Thái tử Kì đà (Phạm: Jeta) - Cấp cô độc viên, ý nói là vườn Tăng do Trưởng giả Cấp cô độc (Phạm: Anàthapiịđada, tức Tu đạt) hiến cúng. Về nguyên do sáng lập vườn Cấp cô độc thì, cứ theo kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) quyển 29 và luật Ngũ phần quyển 25 chép, trong thành Xá vệ có trưởng giả Tu đạt (Phạm: Sudatta) hay thương xót những người côi cút độc thân, thường bố thí giúp đỡ họ, do đó mà người ta tặng cho ông danh hiệu Trưởng giả Cấp cô độc. Sau khi qui y đức Phật, ông muốn tìm một nơi để dựng tinh xá cúng dường Phật, thấy vườn hoa của Thái tử Kì đà là nơi thanh tịnh, rộng rãi và tĩnh mịch, ông hỏi mua, nhưng Thái tử từ chối khéo léo bằng cách đặt điều kiện là, nếu Tu đạt đem vàng trải khắp vườn hoa thì Thái tử sẽ bán - trưởng giả Tu đạt bèn dùng voi chở vàng đến rải trên mặt đất. Thái tử cảm động vì tấm lòng chí thành của ông, bảo ông thôi đừng rải vàng nữa và giao kết là vườn của ông, rừng cây của Thái tử, hai người cùng dâng cúng đức Phật, vì thế mà mang tên cả hai người là Kì thụ Cấp cô độc viên (cây của Kì đà, vườn của Cấp cô độc). Lại Thái tử là con vua Ba tư nặc nước Kiều tát la, vào ngày sinh của Thái tử, trong một trận đánh nhà vua đã đại thắng quân địch, cho nên đặt tên Thái tử là Thắng để kỉ niệm, vì rừng cây của Thái tử Thắng cho nên Kì viên còn được gọi là Thắng lâm, Thắng tử lâm, Thắng tử thụ. Sau khi tịnh xá được hoàn thành, đức Phật đã từng ở đây qua nhiều mùa mưa, đại đa số kinh điển cũng nói về việc này. Cùng với tinh xá Trúc lâm ở thành Vương xá, gọi chung là hai tinh xá lớn nhất của Phật giáo. Lối kiến trúc tinh xá, chính giữa là điện Phật, chung quanh dựng tám mươi căn nhà nhỏ, có ba mươi sáu phòng ngồi Thiền, nhà bếp, nhà tiêu, nhà tắm, phòng bệnh, nơi rửa chân v.v... đều đầy đủ, vả lại rất đẹp, tiếc rằng lối kiến trúc nguyên sơ của tinh xá đã mất từ lâu. Những di tích tinh xá hiện còn được thấy đến nay, là những tinh xá được kiến thiết sau này, qui mô không sánh kịp với tinh xá mà trưởng giả Cấp cô độc đã kiến trúc. [X. kinh Tạp a hàm Q.23 - kinh Trung a hàm Q.43 - kinh Tăng nhất a hàm Q.49 - kinh Pháp cú thí dụ Q.1 - kinh Trung bản khởi Q.hạ - kinh Hiền ngu Q.10 - luật Tứ phần Q.50 - luật Thập tụng Q.34 - luận Đại trí độ Q.3 - Thích thị yếu lãm Q.hạ - Đại đường tây vực kí Q.6 mục Thất la phạt tất để quốc - Huyền ứng âm nghĩa Q.9]. (xt. Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên).
cấp cứu
To give emergency aid (first-aid).
cấp phòng bát để
Gavampati (skt)—See Kiêu Phạm Ba Đề.
cấp sử
A senior bonze's attendant.
cấp thiết
Urgent—Pressing
cấp thiết cầu sanh
Urgently seeking rebirth.
cấp thí
Bố thí khẩn cấp—Urgent almsgiving—Alms made under stress of urgency.
cấp thí như luật lệnh
Câu thần chú được các thầy phù thủy niệm—“Swiftly as Lu-Ling runs,” used by sorcerer in their incantation.
cấp thị đệ tử
A senior bonze's attendant.
cấp thời
Immediately—At once.
cấp tiến
To be radical
cấp trí
Quick witted.
cấp tính
Urgency.
cấp tỉnh luân
Vòng sanh tử luân hồi vô cùng vô cực như guồng xe múc nước giếng lên xuống không ngừng—The round of reincarnation (cycle) is like the waterwheel at the well ever revolving up and down.
; (汲井輪) Phạm: Ghaỉìyantra. Còn gọi là Cấp thủy luân. Cái bánh xe quay để lấy nước từ dưới giếng lên quay liên tục, cũng ví như vòng sinh tử luân hồi tiếp nối không cùng. Kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 4 (Đại 16, 511 thượng), nói: Theo duyên chịu các khổ, quanh quẩn trong ba cõi, như bánh xe quay nước. Đây đều do tập khí hư vọng từ vô thủy, rơi vào vòng sống chết, xoay vần trong ba cõi, cho nên dùng bánh xe quay nước để thí dụ. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1 - luận Hoa nghiêm nguyên nhân - Lăng già a bạt đa la bảo kinh chú giải Q.1 phần dưới].
cấp tốc
Immediately—Speedy.
cấp đa vương triều
(笈多王朝) Cấp đa, Phạm: Gupta. Còn gọi Quật đa vương triều. Vương triều thống nhất Ấn độ hưng thịnh vào năm 320 đến 470 Tây lịch. Chiên đà la cấp đa (Phạm: Chandragupta) đệ nhất, là người sáng lập Vương triều Cấp đa, lên ngôi vào năm 320, thay thế cho Vương triều Quí sương và Vương triều Án đạt la ở nam Ấn độ mà đã suy tàn vào giữa thế kỉ thứ III. Sa mẫu đà la cấp đa (Phạm: Samudragupta, 335-385 tại vị) đời thứ 2, là ông vua văn vũ song toàn, thống nhất nam bắc Ấn độ, gây dựng một nước lớn kể từ Vương triều Khổng tước đến đây. Về phương diện tôn giáo, ông vừa bảo hộ Phật giáo, vừa ra sức phục hưng Bà la môn giáo. Con ông là Chiên đà la cấp đa đời thứ 2, trên mặt lịch sử văn hóa Ấn độ, là ông vua của thời đại huy hoàng rực rỡ nhất, là người xúc tiến học vấn và văn nghệ, khiến cho nền văn hóa cổ điển Ấn độ vốn đã đẹp đẽ, lại được khai phóng và khởi sắc thêm. Ngoài ra, còn có Khố mã lạp cấp đa (Phạm: Kumàragupta, ở ngôi 414-455) và Tư khảm đạt cấp đa (Phạm: Skandagupta, ở ngôi 455-470 ) đều là những ông vua vĩ đại. Về sau, thế lực Vương triều mỗi ngày một suy giảm, lại bị Hung nô (Phạm: Hùịa) xâm lược, do đó mà chia năm xẻ bảy. Trong các sử liệu và văn bia, người ta còn thấy tên của nhiều vua thuộc Vương triều Cấp đa, nhưng tình hình thực tế thì không được rõ. Hai ông vua Khố mã lạp cấp đa và Tư khảm đạt cấp đa nói ở trên, đều là người bảo hộ giáo đoàn Phật giáo, nhưng chủ yếu là chấn hưng Bà la môn giáo làm quốc giáo, do đó, thế lực của Phật giáo trong xã hội dần dần suy vi (khoảng trước năm 402-411, cao tăng Pháp hiển đến Ấn độ, có viết Phật quốc kí, trong đó sư ghi chép tình hình xã hội Ấn độ thời bấy giờ rất chi tiết). Sau này, thế lực vương hầu mỗi ngày mỗi lớn mạnh, bèn hình thành một quốc gia cực quyền, thậm chí xác lập tư tưởng Quốc vương được thần thánh hóa một cách tuyệt đối. Thái độ của Phật giáo đương thời đối với việc ấy cũng có khuynh hướng bao dung. [X. F. J. Fleet: Description of the Early Gupta Kings - E. J. Rapson: The Cambridge History of India, vol.I (Ancient India) - V. A. Smith: The Early History of India].
Cấp đa 笈多
[ja] ギュウタ Gyūta ||| Gupta. See 達摩笈多 Damajiduo => Gyūta (j); Gupta (s); Xem Đạt-ma- cấp-đa 達摩笈多.
cất gánh
To put down a burden.
cất gánh lo âu
To put down a burden of anxiety.
cất tiếng
To raise one's voice.
Cấu
垢; C: gòu; J: ku; S: mala; danh từ Hán Việt, nghĩa là cấu uế, dơ bẩn, xấu xa trong ý nghĩa vật chất cũng như đạo lí.|Có các nghĩa sau: 1. Bẩn thỉu, điều ô trọc (s: mala); 2. Tên gọi phiền não. Đặc tính của phiền não bất tịnh, nó huân tập vào tâm và làm ô nhiễm; 3. Viết tắt của phiền não cấu (煩惱垢), là »lục cấu« phát sinh từ căn bản phiền não. Đó là não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu.|Trong Phật pháp, cấu được hiểu là kiến giải sai lầm, là Vô minh, cho rằng giữa người nhận thức và vật – cái được nhận thức – có một sự khác biệt, có chủ thể, có khách thể. Nếu những cặp đối đãi nêu trên còn tồn tại thì hành giả không thể nào Kiến tính, ngộ đạo.
cấu
Xem tràng hạt.
; Mala (S). Dust, impurity, dregs; moral impurity; mental impurity.Whatever misleads or deludes the mind; illusion; defilement. The seven forms are: 1-Dục cấu desire; 2-Kiến cấu false views; 3-Nghi cấu doubt; 4-Mạn cấu presumption; 5-Kiêu cấu arrogance; 6-Thụy miên cấu inertia; 7-Khan cấu meanness.
; Mala (skt). (I) Nghĩa của “Cấu”—The meanings of “Impurity.” 1) Bụi bặm: Dust. 2) Bất tịnh (tinh thần và đạo đức). Vọng hoặc hay bất cứ thứ gì làm cho tâm bị ô uế như phiền não uế trược—Impurity (moral and mental). Whatever misleads or deludes the minds; illusions, defilement. (II) Phân Loại “Cấu”—Categories of “Impurity. (A) Lục Cấu—Six forms of impurity: 1) Não Cấu: Vexation. 2) Hại Cấu: Malevolence. 3) Hận Cấu: Hatred. 4) Xiểm Cấu: Flattery. 5) Cuống Cấu: Wild talk. 6) Kiêu Mạn Cấu: Pride. (B) Thất Cấu—Seven forms of impurity: 1) Dục Cấu: Lòng ham muốn hay khao khát muốn người khác biết được công đức của mình—Desire. 2) Kiến Cấu: Từ nơi công đức mà sanh lòng chấp trước phân biệt, từ đó sanh ra tà kiến—False views. 3) Nghi Cấu: Đối với công đức đức của mình lại sanh lòng nghi hoặc—Doubt. 4) Mạn Cấu: Lấy công đức của mình so sánh với công đức của người—Presumption. 5) Kiêu Cấu: Đối với công đức của mình sanh lòng kênh kiệu—Arrogance. 6) Tùy Miên Cấu: Tu Hành chậm chạp, ham thích ngủ nghỉ—Inertia in cultivation, yielding to sleep. 7) San Cấu: Đối với công đức của mình mà sanh lòng nhỏ nhen ganh ghét—Meanness.
; (垢) Phạm: Mala. Tên gọi khác của phiền não. Chỉ cái làm cho tâm nhơ nhớp. Lại như tham, sân, si được gọi là Tam cấu (ba cái nhơ nhớp), vì thế có các tiếng như phiền não cấu, trần cấu, cấu uế, hoặc cấu, nhiễm cấu v.v... Ngoài ra, phiền não cấu là từ phiền não căn bản mà ra, tướng nó bẩn mà thô, cho nên gọi ví dụ là Tâm ma tặc (giặc ma của tâm), nghĩa là nó có thể phá hại hết thảy pháp lành trong thế gian và xuất thế gian. Cứ theo luận Câu xá quyển 21 nói, thì Cấu là một trong các Tiểu phiền não địa pháp và lấy não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu gọi chung là sáu phiền não cấu, nói tắt là sáu cấu. Luận Xá lị phất a tì đàm quyển 14 nói, dục tham, sân khuể, hôn miên, điệu hối và nghi là năm phiền não cáu ghét nhơ bẩn, gọi là Tâm cấu. Cùng luận trên quyển 20 còn liệt kê: nghi ngờ, không suy xét, sợ hãi, thương, ghét, hay ngủ, buông lung, nhu nhược, lười biếng, nghĩ bậy, đắm sắc, gọi là mười một tâm cấu - mong muốn, tức giận, ngủ nhiều, thô tháo, nghi ngờ, não hại, hay hiềm khích, mang hận, nóng nảy, ghen ghét, sẻn tiếc, lừa đảo, dối trá, không thẹn, chẳng hổ, kiêu căng, kiện tụng, tự cao, dông dỡ, khinh mạn, đại khinh mạn, gọi là hai mươi mốt tâm cấu. [X. luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.1 - Đại thừa nghĩa chương Q.5].
cấu chướng
Unclean hindrance.
cấu kết
The bond of the defiling, i.e.the material, and of reincarnation.
; Hoặc độc hay sự cấu kết của vật chất uế trược và sự tái sanh (làm nhơ bẩn tịnh tâm)—The bond of the defiling of the material and of reincarnation.
cấu li
(垢離) Còn gọi là Thủy cấu li, Diêm cấu li. Nghĩa là trước khi lễ bái cầu nguyện Phật, thần phải dùng nước lạnh hoặc nước biển tắm gội, khiến những cáu ghét dơ bẩn của thân và tâm đều được sạch sẽ thanh tịnh. Trong các đạo tràng lớn và danh lam thắng tích tại Nhật bản đều có thiết bị Cấu li, Cấu li tao, Thiên (nhật) cấu li.
cấu nhiễm
Kleśa (S), Afflictions
; Taint of earthly things, or illusion.
; Đem cái nhơ bẩn nhiễm vào mình để ví với lòng phiền não—Taint of earthly things or illusion.
; (垢染) Dùng ghét gúa bám vào mình để thí dụ phiền não của tâm. Kinh Phật thuyết vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Cũng như nước sạch gột rửa các bụi bặm cấu nhiễm.
cấu thức
Tâm thức của người bình thường hay tri thức trần thế, bị cáo hoặc làm nhơ bẩn, không phân biệt thật giả—Defiling knowledge—The common worldly knowledge that does not discriminate the seeming from the real.
cấu tạo
Samkrta (S). Formed, conditioned.
cấu tập
Habituation to defilement.
; Sự huân tập của uế nhiễm—Habituation to defilement.; the influence of its practice.
; (垢習) Có nghĩa là tập khí phiền não. Cấu tức là phiền não nhơ bẩn, tập là thói quen, tính quen. Kinh Phật thuyết vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 272 thượng), nói: Trần lao cấu tập, tự nhiên chẳng khởi.
cấu uế
Stains—See Tam Uế.
cấu ô
Defilement (of the physical as type of mental illusion).
; Ô uế—Defilement (of the physical as type of mental illusion).
Cấu 垢
[ja] ク ku ||| (1) Dirt, filth (mala). (2) A term for defilement. The quality of defilements being impurity, they permeate the mind and taint it. (3) An abbreviation of fannaogou [煩惱垢], the 'six filths' which are produced from original defilement. They are vexation [惱], harming [害], resentment [恨], flattery [諂], deception [誑], and haughtiness [憍]. => Có các nghĩa sau: 1. Bẩn thỉu, điều ô trọc (s: mala). 2. Tên gọi phiền não. Đặc tính của phiền não bất tịnh, nó huân tập vào tâm và làm ô nhiễm. 3. Viết tắt của phiền não cấu 煩惱垢, là sáu thứ nhiễm ô phát sinh từ căn bản phiền não. Đó là não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu.
cầm cương
To hold the reins.
cầm lòng
To hold back one's emotion.
cầm lửa đi ngược gió
ví dụ dùng để chỉ mối nguy hiểm đang chực chờ, vì bất cứ lúc nào cũng có thể bị lửa táp vào thân.
cầm nước mắt
To control one's tears.
cầm sắc
Guitar and lute (Conjugal love).
Cầm sắt
(琴瑟): tên hai loại nhạc khí là cây đàn cầm, đàn dài 3 thước, 6 tấc, căng 7 dây; và cây đàn sắt, loại đàn có 25 dây. Khi hai loại này cùng đàn tấu lên, âm sắc của chúng mười phần hòa điệu với nhau. Như trong Thượng Thư (尚書), phần Ích Tắc (益稷) có câu: “Ca kích minh cầu, bác phụ cầm sắt chi vịnh, tổ khảo lai cách (嘎擊鳴球、搏拊琴瑟以詠、祖考來格, đánh cầu kêu lắc cắc, gãy đàn cầm sắt vịnh theo, ông nội đến thán phục).” Từ đó, cầm sắt được dùng để tỷ dụ cho sự hòa hợp tốt đẹp của vợ chồng với nhau, hay tình cảm dung hòa giữa bằng hữu, anh em; như trong Thi Kinh (詩經), phần Quan Thư (關雎) có câu: “Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi (窈窕淑女,琴瑟友之, yểu điệu thục nữ, cầm sắt bạn đôi).” Hay như trong Nghĩ Liên Châu (擬連珠) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Trung tín vi cầm sắt, nhân nghĩa vi bào trù (忠信為琴瑟,仁義為庖廚, trung tín là cầm sắt, nhân nghĩa là bồi bếp).” Trong dân gian vẫn thường dùng một số câu đối từ để chúc mừng tân hôn, vợ chồng song toàn, v.v., như “cầm sắt hữu chi (琴瑟友之, cầm sắt bạn đôi)”, “cầm sắt canh hòa (琴瑟賡和, cầm sắt hòa theo)”, “bách niên cầm sắt (百年琴瑟, trăm năm cầm sắt)”, “như cổ cầm sắt (如鼓琴瑟, như trống hòa âm)”, “cầm sắt hòa minh (琴瑟和鳴, cầm sắt hòa vang)”, “cầm sắt trùng điệu (琴瑟重調, cầm sắt trùng điệu)”, “cầm sắt bách niên (琴瑟百年, cầm sắt trăm năm)”, v.v.
cầm thú
Birds and beasts.
cầm tù
To detain—To imprison—To keep someone in prison.
Cầm tùng 擒從
[ja] キンショウ kinshō ||| To capture and release, grasp and let go. => Bắt và thả, cầm giữ và phóng thích.
Cần
勤; C: qín; J: gon; |Có hai nghĩa: 1. Sự nỗ lực, sự phấn đấu, tiến hành (s: virya); 2. Siêng năng, cần cù, ý chí tích cực.
cần
Xem Tinh tấn.
; Virya (skt)—Tên của tâm sở, nghĩa là chuyên cần, hay tinh tấn—Energy—Zeal—Fortitude—Virility.
; (勤) Phạm: Vìrya. Dịch âm: Tì lê da. Cũng gọi Tinh tiến. Tức tâm mạnh mẽ, dốc hết sức vào việc tu thiện, dứt ác. Tương phản với từ giải đãi (trây lười, biếng nhác). Là tên của tâm sở (tác dụng của tâm). Một trong bảy mươi lăm pháp của Câu xá, một trong trăm pháp của Duy thức. Tông Câu xá cho Cần là một tâm sở (Đại thiện địa pháp) phát khởi theo khi hết thảy tâm thiện sinh khởi, tông Duy thức cũng cho nó là tâm sở thiện. [X. luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Thuận chính lí Q.11].
cần ba tử
(勤巴子) Chỉ vị cao tăng Viên ngộ Khắc cần (1063-1135) thuộc tông Lâm tế đời Tống. Còn gọi là Ba đầu tử, Xuyên cần. Vì trên đầu ngài Viên ngộ có một vết sẹo trông giống như chữ Ba, cho nên trong Thiền lâm gọi là Cần tử ba. Cũng có người cho rằng, vì ngài Viên ngộ là người ở Bành thành, Tung ninh (nằm về mạn tây nam Thành đô thuộc tỉnh Tứ xuyên), mà Thành đô còn có tên là Ba tây, cho nên gọi là Cần ba tử, Xuyên cần v.v... có ý là sư đã xuất thân từ Thành đô. [X. Liên đăng hội yếu Q.16; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.hạ].
Cần bộc
(芹曝): từ khiêm tốn, chỉ cho lễ vật dâng hiến nhỏ nhặt, ít ỏi, đạm bạc, không đầy đủ nhưng với cả tấm lòng chí thành. Từ này thường được dùng đồng nghĩa với cần hiến (芹獻), hiến bộc (獻曝). Trong bài Cư Hậu Đệ Hòa Thất Thập Tứ Ngâm Tái Phú (居厚弟和七十四吟再賦) của Lưu Khắc Trang (劉克莊, 1187-1269) nhà Tống có câu: “Phê đồ tằng cử từ thần chức, cần bộc chung hoài dã lão tâm (批塗曾舉詞臣職、芹曝終懷野老心, phê chuẩn từng cử chức quan lớn, lễ bạc còn lo lão quê lòng).” Hay như trong bài thơ Chân Châu Tiêu Nương Chế Cao Bính Tối Hữu Danh (真州蕭娘制糕餅最有名) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh cũng có câu: “Quỹ tiết liêu đồng hiến bộc tình, cạnh yêu chuyên bút tứ bao vinh (饋節聊同獻曝情、競邀椽筆賜褒榮, quà biếu cũng như lễ mọn tình, tranh mời bút lực tặng hiển vinh).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 tục tạng kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 2, phần Anh Bệnh Dũ Hoàn Nguyện (嬰病愈還愿), lại có câu: “Tư tuần báo ân chi điển, nãi cần hiến bộc chi nghi (茲循報恩之典、乃勤獻曝之儀, nay nương báo ân kinh điển, mà bày lễ bạc khoa nghi).” Lại trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần Phúng Kinh Hộ Quốc Sớ (諷經護國疏), cũng có đoạn: “Chuy y ký nhược, đồ hoài hiến bộc chi thành; Phật đức khả bằng, cung tuyên hộ quốc chi điển (緇衣旣弱、徒懷獻曝之誠、佛德可憑、恭宣護國之典, tăng thân đã yếu, chỉ lo lễ bạc lòng thành; đức Phật thể nương, kính tuyên hộ quốc kinh điển).”
cần cù
Laborious—Industrious—Hard-working.
cần căn
xem năm căn lành.
cần cấp
Urgent—Pressing.
cần cầu
Tìm cầu những việc tốt—To seek diligently after the good.
cần cựu
(勤舊) Chỉ các chức Tri sự, Thị giả, Tri tạng trong Thiền viện đã từ chức. Vì những người này thường chăm chỉ làm việc, nên gọi là Cần; lại đã rút lui, không làm việc nữa, nên gọi là Cựu. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4 mục Lưỡng tự tiến thoái; Thiền lâm tượng khí tiên Xưng hô môn].
cần dùng
To want—To need.
cần hành
1) Tinh cần làm việc thiện: Diligently going forward to pursue the good. 2) Cần hành còn có nghĩa là siêng năng tu tập: Zealous conduct, devoted to service, worship, etc.
; (勤行) Chỉ sự gắng sức tu hành. Đồng nghĩa với Cần hành tinh tiến. Cũng chỉ việc lễ bái tụng kinh trước bàn Phật. Tại Nhật bản, thông thường chỉ các khóa hành trì sớm tối; nghi thức hành trì ấy gọi là Cần thức, Cần thức do mỗi tông phái khác nhau mà có dị biệt. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4 mục Lễ tán].
cần khẩn
xem sa-môn.
Cần khổ
勤苦; C: qínkŭ; J: gonku; |Có hai nghĩa: 1. Tự gắng sức, tinh tấn, phấn đấu; 2. Sự đau khổ trong thế gian. Sự gian khó trong nỗ lực. Sự hành xác để hối lỗi; sự khổ hạnh.
cần khổ
Cần cù và khổ sở—Devoted and suffering, zealously suffering.
Cần khổ 勤苦
[ja] ゴンク gonku ||| (1) To exert oneself, endeavor, strive. (2) The suffering and pain of the world. Difficult exertion; penance; austerities. => Có hai nghĩa: 1. Tự gắng sức, tinh tấn, phấn đấu. 2. Sự đau khổ trong thế gian. Sự gian khó trong nỗ lực. Sự hành xác để hối lỗi; sự khổ hạnh.
cần kiệm
Economical—Thrifty.
cần kíp
Urgent—Pressing.
cần lao
xem sa-môn.
; Laborous—Giai cấp cần lao: The laboring class.
; (勤勞) Giáo đoàn của Phật giáo nguyên thủy là một đoàn thể tỉ khưu đã xa rời gia đình, xả bỏ cơ nghiệp để xuất gia cầu đạo. Đoàn thể ấy lấy việc đi xin ăn làm nguyên tắc, lại cấm chỉ sự cất giữ vàng bạc và thực vật, mà lấy việc quán xét, minh tưởng về ý nghĩa đời người làm đề tài quan trọng nhất. Thời ấy, vấn đề cần lao hầu như chưa được đặt ra. Cần lao được đặt thành vấn đề là từ khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, lấy tín đồ tại gia làm trung tâm. Phật giáo Đại thừa đặc biệt nhấn mạnh hành động thực tiễn của Bồ tát, nhất là kinh Pháp hoa. Cái gọi là hạnh Bồ tát tức chủ trương siêng năng vất vả để mưu cầu hạnh phúc cho chúng sinh, chủ trương này đặc biệt được Thiền tông Trung quốc coi trọng. Thiền sư Bách trượng đã nói: Một ngày không làm, một ngày chẳng ăn ... , các đệ tử thấy sư phụ tuổi già sức yếu mà lo, bèn đem giấu hết các dụng cụ cày, bừa, liềm, cuốc v.v... không để cho sư làm nữa, Bách trượng bèn nhịn ăn để giữ vững lập trường. Đem thân mình làm phép tắc là phương thức biểu hiện cuộc sống của Thiền giả. Trong sách Điển tọa giáo huấn của mình, vị thủy tổ tông Tào động Nhật bản là sư Đạo nguyên, cũng đã nói, điển tọa (việc phục vụ trong nhà bếp) cũng tức là tu hành đạo Thiền. Đây là chủ trương nhấn mạnh sự làm việc cũng tức là tu hành.
cần mẫn
Diligent—Industrious.
Cần như ý túc
xem Bốn như ý túc.
cần phải
To care to.
cần sách
Xem Sa di.
; Sràmanera (S) Novice (male). Also sa di, cầu tịch, sư chú.
; (勤策) Phạm: Zràmaịeraka Dịch cũ là Sa-di. Một trong năm chúng, một trong bảy chúng. Chúng này trụ trì mười giới, mang hoài bão được thành tỉ khưu, tự mình siêng năng gắng sức, cho nên gọi là Cần sách. Cần sách nữ là dịch ý từ chữ Phạm Zràmaịerikà (Sa di ni).
cần sách luật nghi
Śrāmaṇerasamvara (S).
; Sràmanerakasamvera (S). Code of conduct of a novice.
; (勤策律儀) Phạm: Zràmaịeraka-saôvara. Dịch âm: Thất la ma nô lạc ca tam bạt la. Hán dịch: Cần sách ủng hộ. Zràmaịerakanghĩa là siêng năng gắng sức, dịch cũ dịch là Sa di; saôvara nghĩa là ủng hộ, hàm ý là luật nghi. Chỉ cho 10 giới Sa di, là luật nghi của vị sa di xuất gia nhận giữ. Nếu người nữ nhận giữ thì gọi là Cần sách nữ luật nghi (thực thể chỉ là một, chứ không phải ngoài Cần sách luật nghi, còn có riêng Cần sách nữ luật nghi). Là một trong những Biệt giải thoát luật nghi. Vì muốn trở thành vị tỉ khưu mà siêng năng gắng sức, cho nên gọi là Cần sách; hay phòng ngừa tội lỗi của thân và miệng nên gọi là luật nghi. Cần sách luật nghi gồm có 10 điều giới: 1. Không được giết hại. 2. Không được trộm cướp. 3. Không được dâm dục. 4. Không được nói láo. 5. Không được uống rượu. 6. Không được đeo vòng hoa và xoa dầu thơm. 7. Không được hát, múa hoặc đi xem nghe hát múa. 8. Không được ngồi, nằm trên giường cao rộng sang trọng. 9. Không được ăn ngoài giờ qui định. 10. Không được cất giữ vàng bạc, của báu. [X. luận Đại tì bà sa Q.123, Q.124; luận Du già sư địa Q.53; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối].
cần thiết
Indispensable—Essential—Necessary.
Cần Tháo
(勤操, Gonzō, 754-827): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống dưới hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy là Cần Tháo (勤操), thường gọi là Thạch Uyên Tăng Chánh (石淵僧正), xuất thân vùng Cao Thị (高市), Đại Hòa (大和, Yamato), họ Tần (秦). Năm 12 tuổi, ông theo học Tam Luận với Tín Linh (信靈, Shinrei) và Thiện Nghị (善議, Zengi) của Đại An Tự (大安寺, Daian-ji); đến năm 770, ông được chọn trong số ngàn vị tăng đắc độ. Đến năm 794, ông làm chức Đường Đạt (堂達, Dōtatsu, tên vị tăng dâng bức Chú Nguyện Văn hay Nguyện Văn lên cho vị Chủ Sám hoặc Chú Nguyện Sư khi hành pháp sự). Năm 796, ông cầu nguyện siêu độ cho bạn đồng học là Vinh Hảo (榮好) và bắt đầu tiến hành tổ chức Pháp Hoa Bát Giảng (法華八講, còn gọi là Thạch Uyên Bát Giảng [石淵八講]) tại Thạch Uyên Tự (石淵寺) ngay dưới chân núi Cao Viên (高圓). Vào năm 813, ông luận phá vị tăng Pháp Tướng Tông tại Đại Cực Điện (大極殿) trong cung nội và từ đó mở rộng uy thế của Tam Luận. Năm 820, ông nhậm chức Biệt Đương (別當, Bettō, tên vị tăng quan chuyên trách quản lý sự vụ của những ngôi đại tự) của Hoằng Phước Tự (弘福寺, Gūfuku-ji) và kiêm luôn chức Biệt Đương của Tây Tự (西寺) trong Bình An Kinh khi đang xây dựng. Năm 826, ông được thăng chức Đại Tăng Đô, từng thân giao với Tối Trừng (最澄, Saichō) cũng như Không Hải (空海, Kūkai) và chứng tỏ ông có nhận thức về Phật Giáo mới của Thiên Thai, Chơn Ngôn. Sau ông qua đời tại Đông Bắc Viện của Tây Tự và được truy tặng chức Tăng Chánh.
cần thần túc
Virya-samādhi (S, P), Viriya-samādhi (P).
; Xem tứ như ý túc.
Cần tu
勤修; C: qínxiū; J: gonshū;|Sự nỗ lực, tinh tấn tu tập (s: prayujyate, vīrya, prayoga).
Cần tu 勤修
[ja] ゴンシュ gonshū ||| To endeavor; to practice with vigor (prayujyate, vīrya, prayoga). => Sự nỗ lực, tinh tấn tu tập (s: prayujyate, vīrya, prayoga).
cần tức
xem sa-môn.
; Xem Sa môn.
; Sramana (S). Monk. Also sa môn, sư bác. Sramani (S). Nun. Also ni cô, sư cô.
; Sramana (skt)—Hán dịch là Sa Môn, nghĩa là người chăm làm các việc thiện, và ngăn ngừa các việc ác—One who diligently pursues the good, and ceases from evil.
; (勤息) Phạm: Zràmaịa. Dịch âm: Sa môn. Có nghĩa là người xuất gia cạo bỏ râu tóc, chăm làm các điều thiện (cần) ngăn dứt các điều ác (tức), điều phục thân tâm, siêng tu pháp lành để mong đạt đến cảnh giới Niết bàn. (xt. Sa Môn).
cần yếu
Essential—Important.
cần ích
Useful—Serviceable.
Cần 勤
[ja] ゴン gon ||| (1) To endeavor, strive, work. (virya) (2) Diligent, industrious, willing to toil. => Có hai nghĩa: 1. Sự nỗ lực, sự phấn đấu, tiến hành (virya). 2. Siêng năng, cần cù, ý chí tích cực.
Cần 懃
[ja] ゴン gon ||| To strive, endeavor, make effort toward (goodness, enlightenment). Same as 勤. => Cố gắng, nỗ lực, tinh tấn (làm việc thiện, giác ngộ). Đồng nghĩa với Cần 勤.
Cầu
求; C: qiú; J: gu;|1. Theo đuổi, tìm kiếm, mong ước, cầu xin, thỉnh cầu (s: mṛgyate, anveṣaṇa); 2. Theo đuổi công việc hết sức và trọn vẹn; kết thúc hoàn chỉnh, hoàn thành (Cứu thông 究通, chung 終); 3. Bình đẳng, đều đặn (等); 4. Đồng nghĩa với Thụ (受, s: vedanā). Chi phần thứ 7 trong 12 nhân duyên.
cầu
To search for, to look for so, sth. Cầu an: to pray for peace, for divine blessing. Cầu Phật phù hộ anh: may Buddha bless you. Cầu danh: to seek for a reputation. Cầu kinh: to say one's prayers. Cầu mưa, đảo vũ: to pray for rain. Cầu nguyện Phật: to pray the Buddha. Cầu nguyện cho ai: to pray for someone. Cầu nguyện điều gì: to pray for something. Cầu phúc: to pray for happiness. Cầu tài: to seek wealth, to aim after gain. Cầu tụ: to pray for a child. Cầu thành công: to pray for success. Cầu siêu: to pray for rebirth in the Pure Land.
; To seek—To beseech—To pray.
; (求) Chỉ ý mong cầu, trông đợi. Muốn được vui thú mà tìm cầu, thì gọi là Đắc cầu - muốn cầu được sống lâu không chết, thì gọi là Mệnh cầu - muốn được chính quả thành Thánh, thì gọi là Thánh cầu. Vì người đời có vô số sự tham cầu, nên dễ gây ra cạnh tranh và phiền não. Cho nên, đối với việc đời, Phật giáo khuyên người ta bớt tâm tham cầu, tự thỏa mãn với những cái mà mình hiện có, tức luôn luôn biết đủ, có như thế mới giữ được niềm yên vui thanh thản.
cầu an
To wish for peace.
Cầu bất đắc khổ
求不得苦; C: qiúbùdékŭ; J: gufutokuku; |Khổ do mong muốn mà không đạt được, khổ ta trải qua khi không đạt được điều ta ưa thích. Đây là một trong »Tứ khổ bát khổ« (四苦八苦) do Đức Phật dạy trong Tứ diệu đế.
cầu bất đắc khổ
Not to get what one desires is suffering.
; Những mong cầu không toại nguyện gây nên đau khổ, đây là một trong bát khổ—Suffering of frustrated desire—Unfulfilled wishes cause suffering (suffering due to unfulfilled wishes)—Cannot get what one wants causes suffering—The pain which results from not receiving what one seeks, from disappointed hope or unrewarded effort, one of the eight sorrows. ** For more information, please see Bát Khổ.
; (求不得苦) Phạm: Yad apìcchayà paryewamàịo na labhate tad api du#khaô. Cũng gọi là Sở cầu bất đắc khổ, Dục bất đắc khổ. Là một trong tám nỗi khổ. Chỉ nỗi đau khổ của chúng sinh khi mong cầu điều gì mà không được thỏa mãn. Cũng tức là mong cầu thoát khỏi các điều xấu ác mà không được, mong cầu các việc tốt lành cũng không được. Tóm lại, tất cả sự mong cầu mà không được, đều dẫn đến buồn rầu và đau khổ, cho nên gọi là Cầu bất đắc khổ. [X. Trung a hàm Q.7 kinh Phân biệt thánh đế - kinh Ngũ vương - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.12, Q.14 - Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt. Bát Khổ).
Cầu bất đắc khổ 求不得苦
[ja] グフトクク gufutokuku ||| The suffering of not-getting; the suffering we experience when we can not obtain those things which we desire. This is one of the "four and eight types of suffering" (四苦八苦) taught by Śākyamuni in his exposition of the Four Noble Truths 四諦. 〔瑜伽論T 1579.30.289b〕 => Khổ do mong muốn mà không đạt được, khổ ta trải qua khi không đạt được điều ta ưa thích. Đây là một trong Tứ khổ bát khổ 四苦八苦 do Đức Phật dạy trong Tứ diệu đế.
cầu chi
Chukhih (C)Gutei (J)Tên một vị sư.
cầu châu
(求珠) Chỉ sự tìm kiếm viên ngọc ở trong áo. Mượn câu này để thí dụ sự tìm tự tính của mình ở bên trong. Đây là thuyết trong kinh Pháp hoa phẩm Ngũ bách thụ kí, tức dùng viên ngọc trong áo để thí dụ tính Phật ở ngay trong thân mình, bảo chúng sinh không nên tìm Phật ở bên ngoài, mà phải tìm tự tính bên trong mình, tức là tìm tính Phật của mình có sẵn ngay ở trong thân mình. [X. Quảng hoằng minh tập Q.20].
cầu chúc
To wish.
cầu chơn lý
To seek to get the truth.
cầu chứng đắc
To seek enlightenment.
cầu cứu
To ask for help.
cầu danh
To seek after honours (reputation)—For the sake of renown.
Cầu danh Bồ Tát
求名菩薩; C: qiúmíng púsà; J: gumyō bosatsu; |Tên của Bồ Tát Di-lặc (彌勒) trong một kiếp trước.
cầu danh bồ tát
Yasaskāma (S)Tiền thân của Phật Di Lặc, vào thuở Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sư, Cầu Danh Bồ tát rất hào danh thích người ta gọi mình thông thái, sư ấy chính là Di Lặc Bồ tát. Cầu Danh Bồ Tát là một trong 800 đệ tử của Diệu Quang Bồ tát.
; Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đây là vị Bồ Tát tiền thân của Phật Di Lặc, đệ tử của Ngài Diệu Quang Bồ Tát, nổi tiếng về tham vọng và ham muốn về trí nhớ—According to the Lotus Sutra, Ch'iu-Ming is the name of Maitreya in a previous life, a bodhisattva, a disciple of Varaprabha, noted for his boundless ambition and utter want of memory.
Cầu danh Bồ-tát 求名菩薩
[ja] グミョウボサツ Gumyō bosatsu ||| Fame Seeker Bodhisattva. The name of Maitreya 彌勒 in a former lifetime. 〔法華經 T 262.9.4b16〕 => Tên của Bồ-tát Di-lặc (c: Maitreya 彌勒 ) trong một kiếp trước.
cầu hòa
To seek for peace—To sue for peace.
cầu hôn
To propose marriage to a lady.
cầu hồn
To call up a spirit.
cầu khẩn
To beseech.
cầu kinh
To say one's prayers.
cầu kinh tống gió
Hồi xưa người Việt Nam tin rằng cầu kinh tống gió có thể tránh được những tai họa (có lẽ đây cũng là một truyền thống của người Trung Hoa)—To pray to avert calamities, an old belief of the Vietnamese people (this may also be a tradition of Chinese).
cầu kỳ
Dandified—Formal.
cầu lợi
To seek profits—To aim at interests.
cầu mưa
To pray for rain.
cầu na
Guna (skt)—Thực thể của đất nước lửa gió là đức của sắc thanh hương vị xúc—A quality, characteristic, or virtue, e.g. sound, taste, etc.
cầu na bạt ma
Xem Công đức khải.
; Gunavarman (skt)—Công Đức Khải, tên một vị Tỳ Kheo nổi tiếng người Thiên Trúc, thái tử xứ Cashmere, từ bỏ ngai vàng, làm du Tăng Khất Sĩ, đến Trung Quốc và dịch mười bộ kinh, hai trong số đó đã bị thất truyền năm 730 sau Tây Lịch. Ông sanh năm 367, thị tịch tại Nam Kinh năm 431 sau Tây Lịch. Ông giảng pháp bên trong, chứ không phải bên ngoài; pháp từ chính mình chứ không phải từ nơi người khác. Trung tâm hoằng hóa của ông đặt tại Dương Châu. Người ta nói chính ông là người đầu tiên sáng lập ra giáo đoàn Ni tại Trung Quốc—Gunavarman, a prince of Kubha (Cashmere), who refused the throne, wandered alone, reached China, translated ten works, two of which were lost by 730 A.D. He was born in 367 and died in 431 A.D. He taught that truth is within, not without; and that the truth or dharma is of oneself, not of another. The centre of his work is placed in Yang-Chou. It is said that he started the order of nuns in China.
; (求那跋摩) (367-431) Phạm: Guịavarman. Dịch ý là Công đức khải. Vị tăng dịch kinh đời Lưu Tống. Người nước Kế tân (Ca thấp di la hoặc địa phương Kiện đà la) thuộc bắc Ấn độ. Xuất thân từ dòng Sát đế lợi (dòng Vũ sĩ). Hai mươi tuổi xuất gia và thụ giới Cụ túc, tinh thông ba tạng Kinh, Luật, Luận, cho nên người đương thời gọi ngài là Tam tạng pháp sư. Năm sư ba mươi tuổi, vua nước Kế tân băng hà, chúng thỉnh sư hoàn tục để nối ngôi, sư từ chối, rồi sang nước Sư tử (Tích lan ngày nay) để hoằng dương Phật pháp, sau lại đến nước Xà bà (Java) truyền đạo. Niên hiệu Nguyên gia năm đầu 424) đời Văn đế nhà Lưu Tống, sư đến Quảng châu bằng đường biển, nhận thấy hình thế núi Hổ thị khá giống với núi Kì xà quật, cho nên sư đổi tên gọi là núi Linh thứu, đồng thời, lập Thiền thất để tập Thiền trong núi này. Trong núi vốn có nhiều hổ (cọp), nhưng từ khi sư đến ở thì không có nạn hổ nữa. Năm Nguyên gia thứ 8, sư đến Kiến khang, vua Văn đế tiếp đón và mời ở chùa Kì hoàn, sau đó không lâu, sư bắt đầu giảng kinh Pháp hoa và kinh Thập địa, giảng trường rất thịnh. Ngoài ra, sư cũng theo việc dịch kinh, dịch Bồ tát thiện giới kinh, Tứ phần tỉ khưu ni yết ma pháp, Ưu bà tắc ngũ giới tướng kinh, Sa di uy nghi, tất cả mười bộ mười tám quyển. Ngoài ra, sư còn kế tiếp Y diệp ba la mà dịch luận Tạp a tì đàm tâm để bổ túc cho phần mà Y diệp ba la chưa dịch xong. Ngày hai tám tháng chín năm Nguyên gia thứ 8, sư thị tịch, hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.3 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.10 - Thần tăng truyện Q.3 - Xuất tam tạng kí tập Q.14 - Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
Cầu Na Bạt Đà La
(s: Guṇabhadra, j: Gunabadara, 求那跋陀羅, 394-468): ý dịch là Công Đức Hiền (功德賢), vị tăng dịch kinh dưới thời Đông Tấn (東晉), xuất thân miền Trung Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà La Môn. Lúc nhỏ ông đã học Ngũ Minh và các bộ luận thư, nghiên cứu rộng về thiên văn, toán số, y học, chú thuật, v.v. Sau đó, nhân đọc bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論) mà khởi tâm sùng tín Phật pháp, bèn xuống tóc xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Ông là người nhân từ, nhu thuận, chuyên cần học tập; ban đầu học giáo pháp Tiểu Thừa, thông cả Tam Tạng, sau đó học giáo lý Đại Thừa, nghiên cứu sâu về Đại Phẩm Bát Nhã Kinh (大品般若經), Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), v.v. Ông còn dùng Phật pháp để khuyến hóa song thân mình và cuối cùng họ cũng quy y về với Phật Giáo. Vào năm thứ 12 (435) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Lưu Tống, ông đến Quảng Châu (廣州) bằng đường biển, vua Văn Đế sai sứ nghênh đón vào Kỳ Hoàn Tự (祇洹寺) ở Kiến Khang (建康) để tham gia công tác dịch kinh. Tại đây ông đã cùng với Huệ Nghiêm (慧嚴), Huệ Quán (慧觀), v.v., chiêu tập tăng tài dịch bộ Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經) 50 quyển; sau đó tại Đông An Tự (東安寺) dịch Đại Pháp Cổ Kinh (大法鼓經) 2 quyển, và tại Quận Đơn Dương (丹陽郡) dịch Thắng Man Kinh (勝鬘經) 1 quyển. Về sau, ông chuyển đến trú tại một ngôi chùa mới ở Kinh Châu (荆州), thường giảng thuyết Hoa Nghiêm Kinh, v.v. Ngoài ra, ông còn cư trú ở một số nơi khác như Đạo Tràng Tự (道塲寺), Trung Hưng Tự (中興寺), Bạch Tháp Tự (白塔寺), v.v. Đến năm thứ 7 (463) niên hiệu Đại Minh (大明) nhà Lưu Tống, ông vâng chiếu lập đàn cầu mưa và được ứng nghiệm cho nên nhà vua ban tặng rất hậu hỷ. Đời ông đã trãi qua 3 đời vua Văn Đế, Hiếu Võ Đế và Minh Đế, cả 3 đều quy ngưỡng và sùng kính ông. Ngoài các kinh điển nêu trên, ông còn dịch một số khác như Lăng Già Kinh (楞伽經) 4 quyển, Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh (小無量壽經) 1 quyển, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經) 4 quyển, Tội Phước Báo Ứng Kinh (罪福報應經) 1 quyển, v.v., tổng cọng lên đến 52 bộ và 134 quyển. Vào năm thứ 4 niên hiệu Thái Thỉ (泰始) đời vua Minh Đế, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi.
cầu na bạt đà la
Guṇabhadrā (S)Công đức HiềnTên một nhà sư sang Trung quốc dịch kinh.
; Gunabhadra (S). Indian monk, translator of Buddhist sùtras into Chinese. Also Công đức hiền.
; Gunabhadra (skt)—Đức Hiền. 1) Tên một vị Tỳ Kheo nổi tiếng người Trung Ấn, đến Trung Quốc khoảng những năm 435-443, dịch 78 bộ kinh: Name of a famous monk from Central India, came to China around 435-443 A.D. 2) Name of a follower of the Mahisasaka in Kapisa: Tên của một đồ đệ của phái Tiểu Thừa tại Kapisa—See Mahisasaka.
; (求那跋陀羅) (394-468) Phạm: Guịabhadra. Dịch ý là Công đức hiền. Vị tăng dịch kinh đời Lưu Tống. Người trung Ấn độ. Nguyên là giòng dõi Bà la môn. Lúc nhỏ học tập các luận Ngũ minh, nghiên cứu cả các môn thiên văn, thư số, y phương, chú thuật v.v... Sau đọc luận Tạp a tì đàm tâm mà sùng tín Phật pháp, bèn cạo tóc xuất gia và thụ giới Cụ túc. Sư là người hiền hòa kính thuận, chuyên cần học tập, trước học giáo pháp Tiểu thừa, thông suốt ba tạng, sau chuyển sang học giáo pháp Đại thừa, nghiên cứu kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Hoa nghiêm, rồi đọc tụng tuyên giảng, đồng thời, đem Phật pháp khuyến hóa cha mẹ, người cha sau cũng qui y Phật giáo. Năm Nguyên gia 12 (435) đời Lưu tống, sư đến Quảng châu bằng đường biển, Văn đế sai sứ ra rước về chùa Kì hoàn ở Kiến khang để theo việc dịch kinh. Sư cùng với các sư Tuệ nghiêm, Tuệ quán ở chùa Kì hoàn, chiêu tập học tăng, dịch kinh Tạp a hàm năm mươi quyển, sau ở chùa Đông an dịch kinh Đại pháp cổ hai quyển. Về sau, đáp lời mời của Tiếu vương , đến ở chùa mới tại Kinh châu, tuyên giảng kinh Hoa nghiêm. Ngoài ra, sư cũng đã từng ở các nơi khác, như chùa Đạo tràng, chùa Trung hưng, chùa Bạch tháp v.v... Năm Đại minh thứ 7 (463) đời Lưu Tống, sư phụng mệnh cầu mưa và thành công, nhà vua sắc ban rất trọng hậu. Một đời sư trải qua ba triều Văn đế, Hiếu vũ đế, Minh đế và triều vua nào cũng qui hướng tôn sùng sư, đối nội, đối ngoại, sư có nhiều cống hiến. Sư giảng diễn rộng giáo pháp Đại thừa, dịch kinh hoằng hóa, cho nên đời gọi là Ma ha diễn. Ngoài các kinh điển do sư dịch kể ở trên, sư còn dịch các kinh Lăng già bốn quyển, Tiểu vô lượng thọ một quyển, Quá khứ hiện tại nhân quả bốn quyển, Tội phúc báo ứng một quyển, tất cả năm mươi hai bộ một trăm ba mươi tư quyển. Trong số đó, kinh Tiểu vô lượng thọ một quyển, là bản dịch thứ hai trong ba bản dịch. Năm Thái thủy thứ 4 đời Minh đế, sư thị bệnh, ngày lâm chung sư thấy Thiên hoa Thánh tượng và nhập tịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.3 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.10 - Thần tăng truyện Q.3 - Xuất tam tạng kí tập Q.14 - Khai nguyên thích giáo lục Q.5 ].
cầu na bạt đà ma
Cunavarman (S). Indian monk, translator. Also Công đức khải.
cầu na ma đế
Gunamati (S) Also Đức tuệ.
cầu na tì địa
(求那毗地) (? - 502) Phạm: Guịavfdhi. Dịch ý là Đức tiến, An tiến. Vị tăng dịch kinh đời Nam Tề. Người trung Ấn độ. Xuất gia từ thủa nhỏ, theo học pháp sư Đại thừa Tăng già tư na, thường ngày phúng tụng và thuộc hiểu hơn hai mươi vạn lời kinh Đại thừa, Tiểu thừa. Thông suốt kinh điển nội ngoại, còn giỏi cả các thuật âm dương, bói toán, xem giờ nghiệm việc. Đầu năm Kiến nguyên (479- 482) đời Cao đế nhà Tề, sư đến ở chùa Tì da li hoằng hóa Phật pháp, sư rất uy nghi đoan túc, các bậc vương công quí nhân thay nhau thỉnh mời. Tại Ấn độ, Tăng già tư na rút ra Một trăm việc thí dụ từ trong tạng kinh, rồi biên thành một bộ để dạy người mới học, mà sư cũng tinh thông nghĩa lí của các việc ấy. Mùa thu năm Vĩnh minh thứ 10 (492) sư đem dịch ra thành bốn quyển, tức là kinh Bách dụ bốn quyển. Sư còn dịch kinh Thập nhị nhân duyên một quyển, và kinh Tu đạt trưởng giả một quyển. Kể từ năm Đại minh (457-464) đời Lưu Tống trở đi, việc dịch kinh suy vi dứt tuyệt, đến đây mới lại có các bản dịch mới xuất hiện, nên người đương thời thấy thế đều vui mừng tán thán. Sư là người đôn hậu, có những người từ muôn dặm đến qui y, những thương gia từ Nam hải cũng đều tôn thờ và giúp đỡ sư rất nhiều trong các Phật sự. Sau, sư làm chùa Chính quán ở Kiến khang (nay là Nam kinh), điện đường tráng lệ, lầu gác khang trang, tiếp thu đồ chúng đông đủ, đạo nghiệp rất thịnh. Mùa đông năm Trung hưng thứ 2, sư thị tịch, tuổi thọ không rõ. [X. Lương cao tăng truyện Q.3 - Lịch đại tam bảo kỉ Q.11 - Xuất tam tạng kí tập Q.14 - Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
cầu na tỳ địa
Guṇavrdhi (S)Công đức TiếnTên một vị sư.
; Gunavrddhi (skt)—Tỳ Kheo Đức Tiến (An Tiến), người Thiên Trúc, đến Trung Quốc vào khoảng những năm 492-495, dịch ba bộ kinh năm 502—An Indian monk who came to China around 492-495 A.D., translated three works in 502.
cầu nguyện
To pray.
cầu nguyện tha thiết
A fervent prayer.
cầu pháp
To seek to learn and practice Dharma—Theo Kinh Duy Ma Cật, lúc ngài Xá Lợi Phất tháp tùng ngài Văn Thù Sư Lợi đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật—According to the Vimalakirti Sutra, when Sariputra accompanied Manjusri Bodhisattva to call on Vimalakiriti to enquire after his health: • Lúc bấy giờ ngài Xá Lợi Phất thấy trong nhà ông Duy Ma Cật không có giường ngồi chi hết, mới nghĩ rằng: “Các Bồ Tát và hàng đệ tử đây sẽ ngồi nơi đâu?”—Sariputra saw no seats in the room and thought: “Where do the Bodhisattvas and chief disciples sit?” • Trưởng giả Duy Ma Cật biết được ý đó, liền nói với ngài Xá Lợi Phất rằng: “Thế nào, nhân giả vì pháp mà đến hay vì giường ngồi mà đến?”—Vimalakirti knew of Sariputra's thought and asked him: “Virtuous One, do you come here for a seat or for the Dharma?” Xá Lợi Phất đáp: “Tôi vì Pháp mà đến, chớ không phải vì giường ngồi.”—Sariputra replied: “I come here for the Dharma and not for a seat.” • Ông Duy Ma Cật nói: “Ngài Xá Lợi Phất! Vả chăng người cầu Pháp, thân mạng còn không tham tiếc, huống chi là giường ngồi. Vả người cầu Pháp không phải có sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà cầu; không phải có giới (18 giới), nhập (12 nhập) mà cầu; không phải có dục giới, sắc giới, vô sắc giới (tam giới) mà cầu. Ngài Xá Lợi Phất! Vả chăng người cầu Pháp không đắm trước nơi Phật mà cầu, không đắm trước nơi Pháp mà cầu, không đắm trước nơi chúng Tăng mà cầu. Vả người cầu Pháp không thấy khổ mà cầu, không đoạn tập mà cầu, không đến chứng diệt, tu đạo mà cầu. Vì sao? Vì pháp không hý luận. Nếu nói 'ta phải thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, đó là hý luận chứ không phải cầu pháp.' Ngài Xá Lợi Phất! Pháp là tịch diệt, nếu thực hành pháp sanh diệt là cầu pháp sanh diệt, chứ không phải cầu pháp. Pháp là không nhiễm, nếu nhiễm nơi pháp cho đến Niết Bàn, đó là đắm nhiễm, chứ không phải cầu pháp. Pháp không chỗ làm, nếu làm nơi pháp, đó là chỗ làm chứ không phải cầu pháp. Pháp không thủ xả, nếu thủ xả pháp, đó là thủ xả, chứ không phải cầu pháp. Pháp không xứ sở, nếu chấp trước xứ sở , đó là chấp trước nơi xứ sở chứ không phải cầu pháp. Pháp không có tướng, nếu nhân tướng mà biết, đó là cầu tướng chứ không phải cầu pháp. Pháp không thể trụ, nếu trụ nơi pháp, đó là trụ nơi pháp chứ không phải cầu pháp. Pháp không thể thấy, nghe, hay, biết, nếu làm theo thấy, nghe, hay, biết, đó là thấy nghe hay biết chứ không phải cầu pháp. Pháp là vô vi, nếu làm hữu vi là cầu hữu vi chứ không phải cầu pháp. Vì thế, ngài Xá Lợi Phất! Nếu người cầu pháp, đối với tất cả pháp, không có cầu đến—Vimalakirti said: “Hey Sariputra, he who searches for the Dharma does not even cling to his body and life, still less to a seat, for the quest of Dharma is not related to (the five aggregates): form (rupa), sensation (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana); to the eighteen fields of sense (dhatu: the sic organs, their objects and their perceptions); to the twelve entrances (ayatana: the six organs and six sense data that enter for or lead to discrimination); and to the worlds of desire, form and beyond form. Sariputra, a seeker of the Dharma does not cling to the Buddha, the Dharma and the Sangha. A seeker of the Dharma does not hold the view of suffering, of cutting off all the accumulated causes thereof to put an end to it by treading the path to nirvana (i.e. the four noble truths). Why is it so? Because the Dharma is beyond all sophistry. For if one says: 'Because I see suffering, I cut off its accumulated causes to wipe it out by treading the path thereto', this is mere sophistry and is not the quest of the Dharma. “Sariputra, the Dharma is called nirvana (the condition of complete serenity and ultimate extinction of reincarnation); if you give rise to (the concept of) birth and death, this is a search for birth and death and is not the quest of Dharma. The Dharma is (absolute and) immaculate, but if you are defiled by the (thought of) Dharma and even that of nirvana, this is pollution which runs counter to the quest of Dharma. Dharma cannot be practiced and if it is put into practice, this implies something (i.e. an object) to be practiced and is not the quest of Dharma. Dharma is beyond grasping and rejecting, and if you grasp or reject it, this is grasping or rejecting (something else) but not the quest of Dharma. Dharma is beyond position but if you give it a place, this is clinging to space but not the quest of Dharma. Dharma is formless but if you rely on form to conceive the Dharma, this is search for form but not the quest of Dharma. Dharma is not an abode but if you want to stay in it this is dwelling in (an objective) Dharma, but not the quest of (absolute) Dharma. Dharma can be neither seen, nor heard nor felt nor known but if you want to see, hear, feel and know it, this is the functioning of your (discriminatory) seeing, hearing, feeling and knowing but not the quest of Dharma. Dharma is (transcendentally) inactive (wu wei) but if you are set on worldly activities, this is a search for the worldly way of life but not the quest of Dharma. Therefore, Sariputra, the quest of Dharma does not imply seeking anything whatsoever.”
; (求法) Cũng nói là Cầu đạo. Chỉ việc đi đến các nơi xa xôi hoặc đến nước khác, mong tìm được Phật pháp, hoặc thỉnh các tượng Phật, kinh Phật để mang về. Cao tăng pháp hiển truyện, Bắc ngụy tăng huệ sinh sứ tây vực kí, Đại đường tây vực kí, Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện v.v... đều là những kí sự cầu pháp trứ danh. (xt. Thủ Kinh).
cầu sinh
(求生) Là tên gọi khác của Trung hữu....... Trung hữu ở khoảng giữa đời trước và đời sau, là ở vào cái vị trí có thể cầu sinh ra ở đời sau, cho nên gọi là Cầu sinh. Cứ theo luận Câu xá quyển 10 chép, thì Trung hữu thường mong cầu, tìm xét cái nơi sẽ sinh ra ở đời sau, vì thế gọi là Cầu sinh. Tuy nhiên, thông thường khi nói Cầu sinh, thì phần nhiều là chỉ cái ý cầu mong được sống còn - chẳng hạn như trong khi đau ốm thập tử nhất sinh, hoặc trong lúc nguy nan mà sự sống chỉ là chân tơ kẽ tóc, thì khi ấy người ta chỉ mong sao được thoát chết ở hiện tại chứ chẳng phải cầu chỗ được sinh đến trong đời sau. Như bản năng cầu sống, ý chí muốn sống đều là những tiếng dùng để hình dung sự mong cầu được sống còn. (xt. Trung Hữu).
cầu sinh tịnh độ ấn
(求生淨土印) Là thủ ấn mà người tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ kết nơi tay. Ấn tướng là hai tay kết ấn Liên hoa hợp chưởng và đặt ở trước ngực. Cứ theo kinh Quán tự tại bồ tát đát phạ đa rị tùy tâm đà la ni chép, thì khi kết ấn này, hai tay chắp lại, đặt ở trước ngực, lấy hai ngón tay cái ấn sát vào tâm, miệng tụng chú căn bản. Trong kinh còn nói, hết thảy chúng sinh, lúc sắp chết nếu hay kết ấn này và một lòng tụng niệm chân ngôn, thì có thể tùy nguyện mà sinh vào bất cứ cõi Phật nào cũng được như nguyện.
Cầu sách (tác)
求索; C: qiúsuŏ; J: gusaku;|1. Cầu mong, tìm cầu; 2. Người tìm cầu.
Cầu sách 求索
[ja] グサク gusaku ||| (1) To seek out; to search for. (2) A seeker. 〔法華經 T 262.9.17c28〕 => 1. Cầu mong, tìm cầu. 2. Người tìm cầu.
cầu thỉnh
To invite respectfully.
cầu thọ
To seek long life.
cầu thực
To earn one's living.
cầu toàn
To wish for perfection.
cầu tài
To wish for wealth.
cầu tái sanh làm người
To pray to obtain a human rebirth.
cầu tịch
Xem Cần sách.
; Sa Di—Thất La Mạt Ni La—Người mong cầu đạt được cảnh giới niết bàn (người xuất gia thọ thập giới Sa Di)—To seek nirvana (any disciple who accepts the ten commandments).
cầu tử nhậm thai pháp
(求子妊胎法) Còn gọi là Cầu tử nhâm thai bí pháp. Là phép tu cầu con. Khi tu phép này, trước hết, bày đàn theo như đồ biểu dưới đây, rồi quay về hướng đông mà tu. Nếu khi y theo nghi thức đại pháp mà tu, thì lấy Phật nhãn, Kim luân, hoặc lấy Dược sư, Thích ca làm bản tôn - nếu khi theo nghi thức bình thường mà tu, thì lấy Quan âm, Văn thù làm bản tôn. Nhưng trong các vị tôn, Ha lị đế mẫu là trọng yếu nhất. Đồ biểu : Phật nhãn - Dược sư - Quan âm Ha lị đế mẫu Kim luân - Thích ca - Văn thù hành giả
cầu tự
Garbhadāna (S)Thọ thai lễ.
; To pray for a son.
cầu vãng sanh
To seek rebirth in the Pure Land.
Cầu văn trì pháp
求聞持法; C: qiúwén chífă; J: gubun jihō;|1. Tên gọi một nghi lễ trong Mật giáo, được xem là làm tăng trưởng trí nhớ. Bản tôn là Hư Không Tạng Bồ Tát (虚空藏菩薩, s: ākāśagarbha). Nghi thức gồm dâng cúng các phẩm vật và tụng đà-la-ni của ngài.|2. Viết tắt của Hư Không Tạng Bồ Tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà-la-ni cầu văn trì pháp (虚空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法), được dạy trong nghi thức ghi ở phần 1.
cầu văn trì pháp
(求聞持法) Nói đủ là Hư không tạng cầu văn trì pháp. Còn gọi là Văn trì pháp. Tức là phép tu lấy bồ tát Hư không tạng làm bản tôn để cầu được nhớ dai không quên những việc } đã thấy nghe hay biết. Phép này dựa theo nghi quĩ Hư không tạng cầu văn trì pháp mà tu. Phép ấy như sau: trước hết, vẽ một vòng tròn trên tấm bảng gỗ sạch, trong vòng tròn vẽ tượng bồ tát Hư không tạng, đặt trong tịnh thất hoặc ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, tượng xoay mặt về hướng tây hay hướng bắc, lấy vật sạch phủ kín, lại làm mạn đồ la bằng gỗ, hình vuông, có bốn chân, đặt ở trước mặt tượng - dùng nước sạch rửa tay, kết ấn thư nước, tụng đà la ni rồi uống. Kế đó, đến trước tượng chí tâm lễ bái, bỏ vật phủ tượng ra, rồi kết ấn, tụng đà la ni, vận hết tâm thành cúng dường, dùng tay kết ấn lần tràng hạt để ghi rõ số đà la ni đã tụng. Sư Không hải người Nhật bản, trước khi đến Trung quốc, để cầu cho đầu óc sáng suốt, trí nhớ được tăng cường, đã gắng tu phép này và rất linh nghiệm. Trong Tam giáo chỉ qui, sư Không hải đã nói, nếu y theo phép này mà tu, tụng chân ngôn một trăm vạn lần, thì có thể ghi nhớ văn nghĩa của hết thảy giáo pháp. [X. Hư không tạng bồ tát niệm tụng pháp]. (xt. Hư Không Tạng Cầu Văn Trí Pháp).
Cầu văn trì pháp 求聞持法
[ja] グブンジホウ Gubun jihō ||| (1) The name of an esoteric ritual which is supposed to strengthen the memory. The object of worship is the bodhisattva Ākāśagarbha (虚空藏菩薩). Various offering are made to him, and his dhāraṇī is recited. (2) The Qiuwen chifa, an abbreviated title for the Xukongzang pusa nengman zhuyuan zuishengxin tuoluoni qiuwen chifa 虚空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法, which teaches the ritual described in (1). =>1. Tên gọi một nghi lễ trong Mật giáo, được xem là làm tăng trưởng trí nhớ. Bản tôn là Hư không tạng Bồ-tát (虚空藏菩薩s: Ākāśagarbha). Nghi thức gồm dâng cúng các phẩm vật và tụng đà-la-ni của ngài. 2. (c: Qiuwen chifa), viết tắt của Hư không tạng Bồ-tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà-la-ni cầu văn trì pháp ( 虚空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法), được dạy trong nghi thức ghi ở phần 1.
cầu xa
(求車) Xin xe. Là truyện thí dụ nhà lửa nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo kinh Pháp hoa phẩm Thí dụ chép, thì những người con khi ra khỏi ngôi nhà đang cháy, hỏi trưởng giả xin xe - ý là mượn truyện này để thí dụ chúng sinh chán ngán nỗi sống chết mà nguyện cầu Phật đạo. [X. Pháp hoa kinh luận Q.hạ - Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.4 - Pháp hoa kinh văn cú Q.5 phần trên, Q.5 phần dưới]. (xt. Hỏa Trạch).
cầu xin
To beseech.
cầu xin ai để làm việc gì
To beseech someone to do something.
cầu đại
(cầu đại) Còn gọi là Cầu đới, Cung thể. Là một loại áo pháp của các sư Nhật bản. Phần nhiều may bằng lụa trắng, trên cổ áo có viền tăng cương, quần có nếp gấp, và có đai thắt ngang lưng. Kiểu áo này bắt đầu từ thời Trung cổ tại các Cung môn tích của Pháp hoàng, là lễ phục của hàng tăng lữ mặc khi vào cung vua. [X. Trinh trượng tạp kí Q.5 - Tăng cương thức Q.hạ].
Cầu đạo
求道; C: qiúdào; J: gudō; |Mong cầu (tu tập, tinh tiến) để được giác ngộ.
Cầu đạo giả
求道者; C: qiúdàozhĕ; J: gudōsha;|Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: mokṣin).
Cầu đạo giả 求道者
[ja] グドウシャ gudōsha ||| A religious practitioner; a seeker of enlightenment (mokṣin). 〔法華經 T 262.9.05b21〕 => Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: mokṣin).
Cầu đạo nhân
求道人; C: qiúdàorén; J: gudōnin;|Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: yoga-avacara).
Cầu đạo nhân 求道人
[ja] グドウニン gudōnin ||| A religious practitioner; meditation practitioner; seeker of enlightenment (yoga-avacara). 〔那先比丘經 1670.32.709b21〕 => Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: yoga-avacara).
Cầu đạo tâm
求道心; C: qiúdàoxīn; J: gudōshin; |Tâm dốc lòng tìm cầu giác ngộ. Đồng nghĩa với Cầu pháp tâm (求法心).
Cầu đạo tâm 求道心
[ja] グドウシン gudōshin ||| The mind intent on seeking enlightenment. Same as 求法心. 〔二障義 HPC 1.799c13〕 => Tâm dốc lòng tìm cầu giác ngộ. Đồng nghĩa với Cầu pháp tâm 求法心.
Cầu đạo 求道
[ja] グドウ gudō ||| To seek (practice for, strive for) enlightenment. 〔二障義 HPC 1.799c〕 => Mong cầu (tu tập, tinh tiến) để được giác ngộ.
cầu đảo
To pray for rain.
Cầu 求
[ja] グ gu ||| (1) To seek, to search for, to look for, wish for, pray for, ask for (mṛgyate, anveṣaṇa). (2) To pursue fully and deeply; to completely finish, accomplish. [究通, 終]. (3) Equal, even. [等] . (4) A synonym for 受 (shou) (vedanā) "feeling," the seventh of the twelve conditions of dependent co-origination. => 1. Theo đuổi, tìm kiếm, mong ước, cầu xin, thỉnh cầu (s: mṛgyate, anveṣaṇa). 2. Theo đuổi công việc hết sức và trọn vẹn; kết thúc hoàn chỉnh, hoàn thành (Cứu thông究通, chung 終). 3. Bằng nhau, đều đặn. 4. Đồng nghĩa với Thọ (受s: vedanā). Chi phần thứ bảy trong 12 nhân duyên.
Cầu-na
phiên âm từ Phạn ngữ là Guṇa, dịch nghĩa là Y chỉ hay Đức cú nghĩa, là một trong sáu cú nghĩa của Thắng luận.
; 求那; C: qiúnà; J: guna;|Phiên âm từ chữ guṇa trong tiếng Phạn. 1. Trong Phật học, thuật ngữ nầy chỉ chung cho ý niệm về tướng (相), đức (德), hay phẩm chất (質); 2. Trong triết học phái Số luận (s: saṃkhyā) Ấn Độ, nó chỉ cho 3 loại phẩm chất căn bản của hợp thể cấu thành sự hiện hữu: tịnh, ưu, và ám.
Cầu-na Bạt-đà-la
求那跋陀羅; C: qiúnàbátuóluó; J: gunabaddara; S: guṇabhadra; dịch nghĩa là Công Ðức Hiền; 394-468;|Hán dịch theo nghĩa là Công Đức Hiền (功徳賢). Là tăng sĩ dịch kinh vào thời Lưu Tống (劉宋). Sư sinh ở vùng Trung Ấn, sau đó qua Tích Lan, rồi qua Quảng Châu bằng đường biển. Sư tiến hành dịch nhiều kinh luận Đại, Tiểu thừa nhất khi sư ở chùa Kì Hoàn tại Kiến Khang (建康) và Tân tự (辛寺) ở Hình Châu (c荊州). Trong số hơn 30 bản dịch của sư, tác phẩm quan trọng nhất là Tạp A-hàm kinh (雜阿含經), kinh Thắng Man, và kinh Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra) sang Hán ngữ – bản dịch thứ hai sau bản của Ðàm-vô-sấm (曇無讖; s: dharmarakṣa). Các trứ tác của sư gây ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng Phật giáo Đông Á. Sư được vương triều ở Hồ Nam kính trọng.|Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng, Sư chính là người đề xướng phương pháp tu theo thuyết »Trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật« – và nếu như vậy, Sư cũng là người sáng lập Thiền tông. Sư mất tại Trung Quốc năm 468, thọ 75 tuổi.
Cầu-na 求那
[ja] グナ guna ||| Transcription of the Sanskrit guṇa. (1) In Buddhism, the term refers in a general sense to attributes 相, virtues 德, or qualities 質. 〔成實論 T 1646.32.266c28〕(2) In Indian Saṃkhyā philosophy, it refers to the three kinds of basic qualities of the compositional components of existence: purity, disturbance, and darkness. => Phiên âm từ chữ guṇa trong tiếng Sanskrit. Trong Phật học, thuật ngữ nầy chỉ chung cho ý niệm về tướng相, đức德, hay phẩm chất 質. Trong triết học phái Số luận (s: Saṃkhyā) Ấn Độ, nó chỉ cho ba loại phẩm chất căn bản của hợp thể cấu thành sự hiện hữu: Hỷ (e: purity), ưu (e: disturbance), và ám (e: darkness). Cầu-na-bạt-đà-la求那跋陀羅 [ja] グナバッダラ Gunabaddara ||| Guṇabhadra (394-468), whose name is translated into Chinese according to its meaning as 功徳賢. A major scriptural translator of the Liu Song 劉宋 period. Born in central India, he later traveled through Ceylon, after which he came to Guangzhou by sea route. He carried out most of his translation of Mahāyāna and Hīnayāna texts while residing at 祇洹寺 in Jiankang 建康 and Xinsi 辛寺 in Jingzhou 荊州. Among his thirty-plus translations are such important works as the Za Aan jing 雜阿含經, the Śrīmālā Sutra 勝鬘經,the Lankāvatāra-sūtra 楞伽經 (four fascicle version). His work had a major impact on the development of East Asian Buddhist doctrine, and he was revered by the royalty of Honan as a great sage. Guṇabhadra (394-468), => Hán dịch theo nghĩa là Công Đức Hiền 功徳賢. Là tăng sĩ dịch kinh vào hời Lưu Tống (c: Liu Song 劉宋). Sinh ở vùng Trung Ấn, sau đó qua Tích Lan, rồi qua Quảng Châu bằng đường biển. Sư tiến hành dịch nhiều kinh luận Đại, Tiểu thừa nhất khi sư ở chùa Kỳ Hoàn tại Kiến Khang (c: Jiankang 建康) và Tân Tự (c: Xinsi 辛寺) ở Hình Châu (c: Jingzhou 荊州). Trong số hơn 30 bản dịch của sư, tác phẩm quan trọng nhất là Tạp A-hàm kinh (c: Za Aan jing 雜阿含經), kinh Thắng Man, và kinh Lăng-già (4 quyển).
cẩm bao đặc thạch
(錦包特石) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là trong cái bao gấm có viên đá lớn, thí dụ ngoài mềm trong cứng; tức chỉ cơ pháp của thầy dẫn đạo người học, bề ngoài tuy hòa dịu, nhưng bên trong thì cứng rắn. Thung dung lục tắc 14 (Đại 48, 235 hạ) nói: Có khi sắt trong lọn bông, có khi đá trong bao gấm; dùng cứng quyết mềm thì nên như thế, nhưng nếu gặp mạnh thì việc yếu sẽ như thế nào?.
Cẩm Chức Tự
(錦織寺, Kinshoku-ji): ngôi chùa bản sơn của Phái Mộc Biên (木邊派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 826 Mokubu (木部), Noshū-gun (野洲市), Shiga-ken (滋賀縣), hiệu là Biến Chiếu Sơn Thiên Thần Hộ Pháp Viện (遍照山天神護法院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Nguyên lai, tại vùng đất này có Thiên An Đường (天安堂), nơi Viên Nhân (圓仁, Ennin) an trí tôn tượng Tỳ Sa Môn Thiên Vương vào năm 858 (Thiên An [天安] 2). Đến năm 1235 (Kiến Trường [建長] 5), Thân Loan (親鸞, Shinran) trên đường trở về kinh đô, có trú lại trước ngôi nhà này, rồi nằm thấy linh mộng, nên mới thờ tượng A Di Đà Phật tại đây và lập đạo tràng truyền bá niệm Phật. Đây chính là nguồn gốc của ngôi Cẩm Chức Tự này. Cái tên gọi của chùa này vốn có nguyên do của nó. Vào năm 1238 (Lịch Nhân [曆仁] nguyên niên), tương truyền có điềm kỳ lạ Thiên Nữ giáng lâm, thêu (織, chức) loại gấm lụa (錦, cẩm) mùa hồng tía, nên nhân đó Tứ Điều Thiên Hoàng (四條天皇, Shijō Tennō) mới sắc phong cho chùa tên là Thiên Thần Hộ Pháp Cẩm Chức Chi Tự (天神護法錦織之寺). Đến thời đại của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), trong khoảng thời gian từ năm 1661 đến 1672, nhất thời chùa thuộc vào hệ thống chùa con của Tăng Thượng Tự (增上寺), nhưng đến thời vị Tổ thứ 13 của chùa là Từ Cương (慈綱), chùa được trả về lại cho Chơn Tông, từ đó Thiền môn hưng long, xán lạn. Đến năm 1872 (Minh Trị [明治] 5), chùa thuộc dưới sự quản lý của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), nhưng 5 năm sau thì chùa hoàn toàn biệt lập tách riêng hẳn, trở thành ngôi chùa trung tâm của phái Mộc Biên. Chùa có Đại Sư Đường, A Di Đà Đường, v.v., được gọi là ngôi già lam có 7 ngôi đường vũ. Tương truyền chính tại chùa này, Thân Loan đã hoàn thành 2 quyển Chơn Hóa Nhị Độ (眞化二土) của bộ Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証), và nơi đây cũng có nhiều di tích về tôn giáo cũng như lịch sử.
cẩm giang thiền đăng
(錦江禪燈) Gồm hai mươi quyển, có riêng một quyển mục lục. Do vị tăng tông Lâm tế đời Thanh là Trượng tuyết Thông túy (1610-1693) soạn, được in lại vào năm Khang hi 32 (1693). Thu vào Vạn tục tạng tập 145. Sư Thông túy sưu tầm rộng rãi tiểu sử, ngữ lục của các nhà qua các đời, rồi dựa theo thể lệ của Chỉ nguyệt lục, đem các tông của các đời gom chung vào một nguồn, chứ không phân chia riêng thành các hệ phái chi mạt của năm nhà bảy tông như thường thấy. Chủ yếu thu chép các sư xuất thân từ đất Thục, nhưng hoằng dương tông thừa tại các địa phương khác, hoặc chép các bài Thướng đường, Tiểu tham, Hành thực, Tụng cổ của các sư quê quán bốn phương, nhưng lại dựng cờ Pháp tại đất Thục, và các pháp ngữ cơ duyên của các bậc cao tăng, thần tăng ẩn dật chốn núi rừng, cộng tất cả hơn một nghìn người, trong đó, các Thiền sư từ Sơ tổ Đạt ma đến Đại giám trở xuống bốn mươi đời, có khoảng hơn tám trăm vị.
cẩm tú
Very beautiful.
cẩm xạ tranh
(錦麝㡧) Chỉ bức tranh tượng Phật và Bồ tát được thêu thành. Cũng gọi Tú tượng (tượng thêu), Tú Phật, Tú trướng. Loại tranh tượng này hoặc dùng chỉ nhiều mầu, hoặc chỉ vàng thêu thành, hoặc có đính thêm châu ngọc mà thành nhiều loại khác nhau, như: 1. Chức thành tượng, tức dùng chỉ nhiều mầu mà thêu thành. 2. Cẩm tượng, cũng thuộc loại Chức thành tượng, tức chỉ vàng thêu thành. 3. Kết châu tượng, Chức châu tượng, tức dùng châu ngọc đính thêm vào, hoặc thêu châu ngọc vào. Ấn độ và các nước Tây vực từ xưa đã có tượng Phật thêu, được truyền vào Trung quốc khoảng thời đại Phù Tần, từ đời Nam Tề về sau, sự thêu tượng thịnh hành, và truyền đến Nhật bản. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 5 Đạo an truyện chép, thì Phù kiên sai sứ ra nước ngoài, thỉnh được tượng thếp vàng, tượng Di lặc kết bằng ngọc, tượng thêu chỉ vàng, tượng thêu chỉ nhiều mầu v.v... Cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 16 Tú tượng đề tán tinh tự chép, thì vào năm Vĩnh minh thứ 4 (486) đời Nam Tề, trụ trì chùa Lạc lâm là tỉ khưu ni Thích bảo nguyện, có thêu một bức Vô lượng thọ tôn tượng. Cứ theo Diên lịch tự tọa chủ Viên trân truyện chép, thì Hoàng hậu Tắc thiên đã từng thêu bốn trăm bức Cực lạc Tịnh độ biến. Về tượng thêu tại Nhật bản được ghi chép, thì sớm nhất là vào thời Suy cổ Thiên hoàng năm 13 (605). Thời cận đại, A. Stein, người Anh, đã tìm được tượng thêu của Trung quốc trước thế kỉ thứ XIII trong động Nghìn Phật ở Đôn hoàng. [X. kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.2; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ phẩm Đại tam muội da tượng tất địa; luật Ngũ phần Q.7; Thích ca phương chí Q.2; Lạc dương già lam kí Q.1 Vĩnh minh tự điều; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9; Nhật bản thư kỉ Q.22; Dậu dương tạp trở tục tập Q.6].
cẩn bạch
To inform respectfully.
cẩn chính
Cautious and decent.
cẩn kính
Respectful.
cẩn mật
Watchful.
cẩn thận
Careful—Cautious.
cẩn trọng
Prudent—Cautious—Careful.
cẩu
Chó—A dog.
cẩu giới
Dog-rule, dog-morals, i.e. heretics who sought salvation by living like dogs, eating garbage etc.
; Ngoại Đạo mong cầu cứu độ theo kiểu chó, sống như chó, ăn đồ thừa thải như chó—Dog-rule or dog-morals, i.e. heretics who sought salvation by living like dogs, eating garbage, etc.
; (狗戒) Là một trong giới cấm thủ kiến. Trong số các ngoại đạo tại Ấn độ cổ đại, có ngoại đạo thấy con chó sau khi chết, được sinh lên cõi trời, bèn cho rằng giữ giớ chó (cẩu giới) là nhân sinh lên cõi trời, rồi bắt chước chó nằm ngoài cửa, ăn phân người, gọi là Cẩu giới ngoại đạo. Luận Câu xá nói, ở Ấn độ, ngoài Cẩu giới ngoại đạo ra, còn có các ngoại đạo chủ truơng giữ giới trâu, giới bò, giới hươu thì được thanh tịnh, được giải thoát, xa lìa khổ vui mà đến chỗ siêu khổ vui. [X. luận Câu xá Q.19]. (xt. Giới Cấm Thủ Kiến).
cẩu kỷ
Cỏ gai—A spinous shrub.
cẩu lâm tỉnh phệ
Chó sủa bóng của chính mình dưới đáy giếng—Like the dog barking at its own reflection in the well.
cẩu lư xá
Krosa (skt)—Khoảng cách mà tiếng rống của một con bò có thể nghe được, khoảng một phần tám do tuần—The distance the lowing of an ox can be heard, the eighth part of a yojana—See Do Tuần in Vietnamese-English Section, and Yojana in sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
cẩu ngôn
Careless speech.
cẩu pháp
Dog's law, fighting and hating, characteristics of the monks in the last days of the world.
; Phép của loài chó, bản tánh của ác Tăng trong những ngày chót của cuộc đời—Dog-law, fighting and hating, characteristics of the evil monks in the last days of the world.
; (狗法) Tỉ khưu đời mạt pháp chê bai, ghen ghét, nghi kị lẫn nhau, đắm chìm trong vật dục mà không tự cứu được mình, cho nên dùng chó để thí dụ - và tỉ khưu làm các hạnh ấy, gọi là làm Cẩu pháp (phép chó). Kinh Đại bảo tích quyển 88 (Đại 11, 504 thượng) nói: Phật bảo ngài Di lặc: Năm trăm năm sau đời mạt pháp cũng như thế. Tỉ khưu tự xưng là Bồ tát mà làm theo phép chó, đến nhà thí chủ tưởng là nhà mình, vì nghĩ như thế, nên sinh tâm tham đắm. Mình đến nhà trước, thấy tỉ khưu đến sau, thì nhìn bằng ánh mắt ghen tức, sinh ra cãi cọ, chê bai lẫn nhau.
cẩu thả
Careless—Neglectful.
cẩu trước sư tử bì
Chó dưới lốp da sư tử. Những con chó khác thấy nó đều sợ cho đến khi nó cất tiếng sủa vang mới hết sợ (vì biết nó cũng là chó như mình)—The dog in the lion's skin. All the dogs fear him till he barks.
cẩu tâm
A dog's heart, satisfied with trifles, unreceptive of Buddha's teaching.
; Tâm chó, không bao giờ chấp nhận Phật pháp—A dog's heart, satisfied with trifles, unreceptive of Buddha's truth.
cẩu tô ma
Kusuma (skt)—Loại hoa bạch cúc của Trung Quốc—A flower, especially the white China-aster.
cẩu tô ma bổ la
Kusamapura (skt)—Thành phố đầy hoa, như khu Patna của thành Pataliputra—The city of flowers, Pataliputra, i.e. Patna.
cẩu tử phật tính
(狗子佛性) Tên công án trong Thiền tông. Còn gọi là Triệu châu cẩu tử, Triệu châu Phật tính, Triệu châu hữu vô, Triệu châu vô tự. Con chó có tính Phật hay không ? là công án phá trừ sự chấp trước có, không. Công án này bắt đầu từ Thiền sư Tùng thẩm ở Triệu châu, một vấn đề xưa nay các Thiền giả khó tham cứu, giải đáp, các bậc cổ đức đã tốn nhiều công phu trầy trật về công án này. Thung dung lục tắc 18 (Đại 48, 138 trung), nói: Tăng hỏi thiệu châu: Con chó có tính Phật hay không ? Châu đáp: Có. Tăng nói: Đã có, mà tại sao lại chui vào cái túi da ấy ? Châu đáp: Vì nó biết mà cố phạm. Một vị tăng khác hỏi: Con chó có tính Phật hay không ? Châu đáp: Không. Tăng hỏi: Hết thảy chúng sinh đều có tính Phật, tại sao con chó lại không có? Châu trả lời: Vì nó còn có nghiệp thức. Trong công án này, Thiền sư Triệu châu mượn tính Phật của con chó để đả phá sự chấp có, chấp không của người học. Và cái có, cái không Triệu châu nói ở đây, chẳng phải cái có, cái không của sự vật mà là biểu thị cái thực thái của Phật tính tồn tại siêu việt.
cận
Near, near to, approach, intimate, close.
; 1) Gần: Near—Close. 2) Thân mật: Intimate.
cận ba la mật đa
(近波羅蜜多) Một trong 3 Ba la mật đa của tông Pháp tướng. Cũng gọi Cận ba la mật. Cận là tiếp gần với Vô công dụng địa (tức là địa thứ 8 trở lên). Bồ tát Sơ địa đến Thất địa, trong khoảng hai vô số kiếp, siêng tu 10 ba la mật như Bố thí, Trì giới v.v..., sức tu tăng dần, không bị phiền não chiết phục mà, trái lại, có thể chiết phục phiền não. Nhưng vì Bồ tát cố ý làm cho phiền não hiện khởi để tu hành, chứ không phải tu hành một cách tự nhiên vô công dụng, cho nên gọi là Cận ba la mật đa. (xt. Tam Ba La Mật Đa).
Cận Giang
(近江, Ōmi): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Shiga-ken (滋賀縣).
cận kề tử thần
On the verge of death.
cận lai
Recently.
cận nhân
Immediate cause.
; Immediate cause.
cận phần định
Samantaka-samādhi (S)Phương tiện định, Gia hạnh định.
; (近分定) Phạm: sāmantaka-samādhi. Nói tắt là Cận phần. Đối lại với Căn bản định. Chỉ sự lìa bỏ nhiễm ô ở cõi dưới, ra sức tu hành mà được Thiền định ở cõi trên. Cận phần tức chỉ lãnh vực gần với định căn bản. Bởi vì, trong ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc, thì cõi Sắc có bốn Thiền định, cõi Vô sắc cũng có bốn Thiền định, nói gộp lại là bốn Thiền tám Định, tức thực tế có tám thứ Thiền định, tự thể của mỗi thứ Thiền định đều được coi là Căn bản định. Đối lại, Thiền định phương tiện chuẩn bị trước khi tiến vào định căn bản (giai đoạn chuẩn bị trước khi vào cửa), gọi là Cận phần định. Định căn bản cộng có tám thứ, cho nên từ Thiền đầu tiên ở cõi Sắc đến Thiền thứ tư ở cõi Vô sắc cũng gồm có tám thứ định Cận phần, trong đó, định Cận phần ở Thiền đầu tiên của cõi Sắc còn được gọi là Vị chí định (định chưa đến). Lại nữa, tất cả định Cận phần đều do công dụng mà chuyển, vẫn chưa lìa bỏ sự ô nhiễm ở cõi dưới, mà tâm còn sợ hãi, cho nên tương ứng với Xả thụ, chứ không tương ứng với Hỉ, Lạc. Lại trong ba Đẳng chí Vị, Tịnh, Vô lậu, thì tám định Cận phần đều nhiếp trong Tịnh đẳng chí (Tịnh định), tức là Thiền định không đắm trước, không tham luyến, duy có định Cận phần ở Thiền đầu tiên thì không những nhiếp trong Tịnh đẳng chí, mà còn thông cả Vô lậu đẳng chí (Vô lậu định) nữa. Cứ theo thuyết của luận Thuận chính lí quyển 78 nói, thì bảy thứ định Cận phần kia, do lúc còn ở lãnh vực của chính mình, hoàn toàn không có tâm chán lìa, cho nên không thông cả Vô lậu đẳng chí - duy chỉ có Vị chí định vẫn còn gần với cõi có nhiều tai ách, hoạn nạn, cho nên lúc còn ở lãnh vực của mình hay khởi tâm chán lìa, do đó mà thông cả Vô lậu đẳng chí. Lại vì tám thứ định Cận phần đều đã xa lìa ô nhiễm, cho nên đều không có Vị đẳng chí (Vị định, định đắm mùi vị). Tuy nhiên, có thuyết nói Vị chí định cũng tương ứng với Vị đẳng chí, là bởi vì Vị chí định chưa từng khởi định Căn bản, cho nên vẫn còn tham đắm Vị định. Lại nữa, vì các loại dục tham là do các tâm sở Tầm, Tứ dẫn khởi, cho nên định Cận phần của Thiền đầu tiên tương ứng với Tầm, Từ, còn bảy định Cận phần kia đều không có Tầm, Từ. [X. luận Đại tì bà sa Q.129, Q.140, Q.164 - luận Du già sư địa Q.69, Q.100 - luận Hiển dương thánh giáo Q.2 - luận Câu xá Q.28].
cận quả
(近果) Đối lại với Viễn quả...... Chỉ quả báo tiếp gần với nhân. Còn gọi là Chính quả. Về mặt nội giới mà nói, thì như chủng tử nghiệp sinh ra cái thân hình trong một thời kì, và cái xác chết của nó, vậy thân hình là quả gần, xác chết là quả xa. Đứng về mặt ngoại giới mà nói thì cái mầm đối với hạt giống là quả gần, cỏ khô là quả xa. Lại nữa, Sinh nhân là nhân của quả gần. Còn một thuyết thì cho chính quả và cận quả có khác nhau, tức quả gần đối với quả xa, chính quả đối với tàn quả (quả đã tàn lụi). Vì thế, đối với thuyết này, quả gần nói ở trên, lẽ ra phải thuộc chính quả, quả gần của thuyết này là như hạt giống của Thức sinh ra chi Thức, rồi sau mới sinh ra Danh, Sắc, chi Thức thuộc quả gần, Danh sắc thuộc quả xa. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu].
cận sử
Modern history.
cận sự
Those who attend on and serve the Triratna.
; Those who attend on and serve the Triratna. **For more information, please see Cận Sự Nam, and Cận sự nữ.
cận sự luật nghi
(近事律儀) Phạm: Upàsaka-saôvara. Dịch âm: Ô ba sách tam bạt la. Là một trong Biệt giải thoát luật nghi. Cũng gọi là Cận sự ủng hộ. Chỉ năm giới của ngưòi Cận sự thụ trì. Gần gũi các pháp lành, các người lành, gần gũi Phật pháp mà làm theo, có thể ngăn ngừa tội lỗi của thân, miệng cho nên gọi là Cận sự. Cứ theo luận Câu xá quyển 14 chép, thì năm giới là: không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối trá, không uống rượu. Lại Thuyết nhất thiết hữu bộ bảo, nếu lìa Cận sự luật nghi, thì không được gọi là Cận sự; nhưng kinh Lượng bộ thì nói chỉ thụ ba qui y tức đã thành Cận sự. Còn kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 thì cho rằng, chỉ cần thụ một giới cho đến bốn giới cũng có thể được gọi là Ưu bà tắc. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.6; luận Thành thực Q.8; luận Đại tì bà sa Q.123, Q.124; luận Du già sư địa Q.53; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối].
Cận sự nam
近事男; S, P: upāsaka; dịch theo âm Hán Việt là Ưu-bà-tắc;|Cư sĩ
cận sự nam
xem ưu-bà-tắc.
; Xem Ưu bà tắc.
; Upàsaka (S). Male servant or disciple; lay adherent.
; Upasaka (skt)—Ô Ba Sắc Ca—Ưu Bà Tắc—Người nam tại gia thọ trì ngũ giới, lấy nghĩa gần gũi Tam Bảo để phụng sự Như Lai—Male servant or disciple (Layman—Servant—Follower) i,e, laymen or woman who undertake to oney the five commandments.
; (近事男) Phạm: Upàsaka. Dịch âm là Ưu bà tắc, Ô ba sách ca. Còn gọi là Thanh tín sĩ. Chỉ người đàn ông ở tại gia giữ năm giới, có nghĩa là gần gũi Tam bảo, phụng thờ Như Lai. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 32 chép, thì hai người lái buôn Đế lê phú sa và Bạt lê ca là những Cận sự nam đầu tiên. [X. luận Câu xá Q.14; luận Đại trí độ Q.13; Duy ma kinh lược sớ Q.2]. (xt. Ưu Bà Tắc).
Cận sự nữ
近事女; S, P: upāsikā; dịch theo âm Hán Việt là Ưu-bà-di; |Cư sĩ
cận sự nữ
xem ưu-bà-di.
; Xem Ưu bà di.
; Upàsikà (S). Female servant or disciple, i.e laywomen who undertake to obey the five commandments; lay follower.
; Upasika (skt)—Female servant or disciple—Laywoman—Servant—Follower.
; (近事女) Phạm: Upàsikà. Dịch âm: Ưu bà di, Ưu ba tư ca. Chỉ người đàn bà ở tại gia giữ năm giới, có nghĩa là gần gũi Tam bảo, phụng thờ Như lai, thụ ba qui y và giữ năm giới cũng như người cận sự nam thụ trì, không khác. [X. luận Câu xá Q.14; Đại đường tây vực kí Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.2, Q.13]. (xt. Ưu Bà Di).
cận thân
Close (near) relation.
cận trụ
Laymen or women who remain at home and observe the eight commandments.
; Cận sự nam hay nữ giữ tám giới tu tại gia—Laymen or women who remain home and observe the eight commandments.
; (近住) Phạm, Pàli: Upavàsa. Dịch âm: Ô ba bà sa, Ưu ba bà sa. Còn gọi là Thiện túc. Chỉ những người nam nữ tại gia thụ trì tám giới trong một ngày một đêm. Vì trong một ngày một đêm ở gần gũi với Tam bảo, cho nên gọi là Cận trụ, Thiện túc. Người đàn ông nhận giữ tám giới, gọi là Cận trụ nam; người đàn bà nhận giữ tám giới, gọi là Cận trụ nữ. [X. luận Đại tì bà sa Q.124; luận Thành thực Q.8 phẩm Bát giới trai; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
cận trụ luật nghi
Tám giới mà nam nữ tại gia thọ trì—The eight commandments which received by laymen and women.
; (近住律儀) Phạm, Pàli: Upavàsa-saôvara. Dịch âm: Ô ba bà sa tam bạt la. Là một Biệt giải thoát luật nghi. Cũng gọi là Cận trụ ủng hộ. Chỉ tám giới trai do những người nam nữ tại gia thụ trì. Ở gần các vị A la hán, có thể ngăn ngừa tội lỗi của thân, miệng, cho nên gọi là Cận trụ; hoặc nói ở gần tận thọ giới (giữ giới suốt đời), cho nên gọi là Cận trụ. Cứ theo luận Câu xá quyển 14 chép, thì tám giới là: 1. Không giết hại. 2. Không trộm cắp. 3. Không dâm dục. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. 6. Không bôi nước hoa, xem nghe múa hát.7. Không ngủ trên giường cao rộng sang trọng. 8. Không ăn phi thời. Trên đây là tám giới trai. Nếu đầy đủ bảy duyên (điều kiện) nói sau đây, thì được thụ trì luật nghi này: 1. Bắt đầu từ sáng sớm. 2. Quì trước thầy, cung kính xin được thụ giới. 3. Nhận giới từ nơi thầy, không được tự thụ.4. Theo lời thầy dạy mà làm. 5. Phải đủ tám giới mới thành cận trụ. 6. Xa lìa sự trang sức, không sinh kiêu ngạo. 7. Hết một ngày một đêm. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; kinh Ưu bà tắc giới Q.5; luận Thành thực Q.8; luận Đại tì bà sa Q.123, Q.124; luận Du già sư địa Q.53; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối].
cận trụ nam
Xem Thiện túc.
cận trụ nữ
Xem Thiện túc.
cận trụ viên
Tên khác của Niết Bàn—Another name for Nirvana.
Cận Tùng Môn Tả Vệ Môn
(近松門左衛門, Chikamatsu Monzaemon, 1653-1724): nhà viết kịch bản Ca Vũ Kỷ (歌舞伎, Kabuki), Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃, Jōruri, loại hình chuyện phát xuất từ nguyên lưu của Bình Khúc, Dao Khúc), sống giữa thời đại Giang Hộ; tên thật là Sam Sum Tín Thạnh (杉森信盛), hiệu Bình An Đường (平安堂), Sào Lâm Tử (巢林子), v.v., xuất thân vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Về Ca Vũ Kỷ thì ông theo học với Phản Điền Đằng Thập Lang (坂田藤十郎), còn loại hình Tịnh Lưu Ly thì thọ giáo với Trúc Bổn Nghĩa Thái Thu (竹本義太夫). Ông đã biên soạn khá nhiều bản Cuồng Ca, trước tác cả hơn 100 khúc Tịnh Lưu Ly, để miêu tả nét đẹp của lòng người qua đề tài nghĩa lý nhân tình. Trước tác của ông có Xuất Thế Cảnh Tình (出世景情), Quốc Tánh Gia Hợp Chiến (國性爺合戰), Tâm Trung Thiên Đảo Cương (心中天綱島), Nữ Sát Du Địa Ngục (女殺油地獄), v.v.
Cận tử nghiệp
近死業|Là Nghiệp, là hành động hoặc tư tưởng ngay trước khi chết; là tất cả những hoạt động cơ thể, tâm lí của người sắp lâm chung. Cận tử nghiệp rất quan trọng vì nó trực tiếp quyết định điều kiện, môi trường sinh sống trong cuộc đời kế tiếp của người chết (Tử).|Ðặc biệt tại Tây Tạng, các Phật tử rất chú tâm đến cận tử nghiệp và Kim cương thừa – nhất là theo hệ thống Vô thượng du-già (s: anuttarayogatantra) – có rất nhiều phương pháp để chuyển hoá cận tử nghiệp thành một Phương tiện để đạt Giác ngộ. Người ta cho rằng, ý nghĩ (niệm) cuối cùng trước khi chết là nguyên nhân chính tạo các hoàn cảnh của cuộc đời sau.|Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 thường thuyết giảng về khoảng thời gian cận tử và nêu rất rõ những hiện tượng mà các Du-già sư uyên thâm đều tự chứng được. Chính Sư cũng bảo rằng, trong khi thiền định (khoảng 3-4 tiếng), Sư bước qua lại ngưỡng cửa sinh tử 6-7 lần với mục đích trau dồi kinh nghiệm để chinh phục được cửa ải quan trọng này. Sư thuyết trình như sau:|»…Con người chết với một trong ba tâm trạng: thiện, ác và trung tính. Trong trường hợp đầu thì người chết chú tâm đến một đối tượng thiện tính như Tam bảo hoặc vị Chân sư và vì thế tự tạo cho mình một tâm trạng đầy niềm tin sâu thẳm, hoặc người ấy phát lòng từ, bi, hỉ, xả vô lượng (Bốn Phạm trú), hoặc tư duy về tính Không (s: śūnyatā) Người này chỉ có thể thực hiện những đức hạnh nêu trên khi họ đã từng trau dồi chúng trong lúc còn sống. Nếu trước khi chết mà người ta có thể phát khởi những tâm trạng thiện trên thì một sự tái sinh hạnh phúc hơn được xem như là chắc chắn. Chết như thế thì tốt.|Nhưng cũng có lúc thân quyến làm xao động tâm trạng của người sắp chết và làm cho người ấy – tuy là vô tình – khởi tâm sân hận. Có khi thân quyến hội họp xung quanh, khóc lóc than thở làm cho người ấy quyến luyến, tham ái. Nếu người ấy chết với một trong hai tâm trạng trên – và hơn nữa, một tâm trạng mà người ấy rất thường phát triển trong cuộc sống trước đây – thì đó là một mối nguy lớn. Cũng có người chết với một tâm trạng trung tính không thiện không ác… Trong mọi trường hợp thì tâm trạng trước khi chết rất quan trọng. Ngay cả một người đã có chút ít tiến triển trên con đường tu tập cũng có thể không tự chủ, để tâm tán loạn trước khi chết, trực tiếp tạo điều kiện cho sân và ái hiện hành. Nguyên nhân là những Nghiệp (s: karma), những Chủng tử (s: bīja) đã được tích luỹ (熏習; huân tập; s: vāsanā) từ lâu; chúng chỉ chờ đợi những điều kiện thuận lợi – ở đây là những duyên bất thiện – để mặc sức hiện hành. Chính những chủng tử này tạo điều kiện để người chết tái sinh trong ba ác đạo: súc sinh, Ngạ quỷ và Ðịa ngục… Cũng như thế, người nào bình thường chỉ biết làm những việc ác nhưng chết với một tâm trạng thiện lành cũng có thể tái sinh trong một môi trường hạnh phúc hơn…|Trong một cuộc sống sinh hoạt bình thường thì các tâm trạng như tham ái, sân, ganh ghét v.v… xuất hiện ngay với những yếu tố nhỏ nhặt (duyên) – những tâm trạng đã khắc sâu đến tận cốt tuỷ của con người. Một tâm trạng mà người ta không quen phát triển – nếu muốn được hiển bày thì phải cần một sự kích thích, ví dụ như sự tư duy, tập trung cao độ. Vì thế mà trước khi chết, những tư tưởng đã đi sâu vào cốt tuỷ của con người là tâm trạng chính, là yếu tố chính quyết định sự tái sinh…« (trích lời dẫn nhập của Ðạt-lại Lạt-ma trong Death, Intermediate State and Rebirth in Tibetan Bud-dhism, Lati Rinpoche/Jeffrey Hopkins).
cận tử nghiệp
Āsanna kamma (P), Near-death kamma.
; Maranàsanna-kamma (P). Death proximate karma.
; Near-death karma—See Nghiệp Cận Tử.
cận viên
Upasampanna (S). Nearing perfection; obtained, received. Also ô ba tam bát na.
; Near perfection.
; (近圓) Phạm, Pàli: Upa-saôpanna. Dịch âm: Ô bà tam bát na. Tên gọi khác của giới Cụ túc. Cũng gọi là Cận viên giới. Viên, chí Niết bàn, giới Cụ túc là pháp mau tới gần Niết bàn, cho nên gọi là Cận viên. Tiếng Tây tạng nói là đã thụ giới Cụ túc. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 219 hạ), nói: Đã thụ giới rồi, gọi là Ô ba tam bát na. Ô ba, là gần; tam bát na, là tròn (viên), nghĩa là Niết bàn. Nay thụ đại giới tức là gần gũi Niết bàn. [X. Di sa tắc bộ yết ma bản].
cận viên giới
Xem Cụ túc giới.
; See Viên Cụ, and Cụ Túc Giới.
Cận Vệ Chính Gia
(近衛政家, Konoe Masaie, 1444-1505): nhà công khanh, Quan Bạch và Thái Chính Đại Thần từ giữa thời đại Thất Đinh cho đến đầu thời đại Chiến Quốc; tên là Hà (霞); hiệu Hậu Pháp Hưng Viện (後法興院); là con trai thứ của Cận Vệ Phòng Tự (近衛房嗣, Konoe Fusatsugu). Anh là Cận Vệ Giáo Cơ (近衛敎基, Konoe Norimoto); các em trai đều là Tăng sĩ như Đạo Hưng (道興), Tăng Vận (增運), Chính Thâm (政深), Chính Biện (政辨). Vào năm 1462 (Khoan Chánh [寛正] 3), nhân khi người anh Giáo Cơ qua đời, ông kế thừa dòng họ Cận Vệ. Từ đó về sau, ông được bổ nhiệm làm các chức quan như Tùng Tam Vị (從三位), Hữu Cận Vệ Trung Tướng (右近衛中將). Đến năm 1467 (Ứng Nhân [應仁] nguyên niên), ông làm chức Quyền Đại Nạp Ngôn (權大納言); năm 1472 (Văn Minh [文明] 4) thì làm Chánh Nhị Vị Nội Đại Thần (正一位內大臣). Vào năm 1479 (Văn Minh 11), sau khi vụ Loạn Ứng Nhân chấm dứt, ông được bổ nhiệm làm Quan Bạch Tả Đại Thần (關白左大臣). Bốn năm sau, ông từ chức Quan Bạch và được thăng chức Thái Chính Đại Thần (太政大臣). Sau đó, ông lại từ quan và qua đời ở độ tuổi 62. Ông có để lại bộ nhật ký Hậu Pháp Hưng Viện Ký (後法興院記), rất có giá trị về mặt sử liệu để biết được những thông tin về triều đình vào giữa thời Thất Đinh như thế nào.
Cận Vệ Phòng Tự
(近衛房嗣, Konoe Fusatsugu, 1402-1488): vị quan Quan Bạch (關白, Kampaku) sống dưới thời đại Thất Đinh; thân phụ là Cận Vệ Trung Từ (近衛忠嗣, Konoe Tadatsugu), thân mẫu là Gia Nữ Phòng (家女房); hiệu là Hậu Tri Túc Viện Quan Bạch (後知足院關白). Năm 1413 (Ứng Vĩnh [應永] 20), ông làm chức Hữu Cận Vệ Trung Tướng (右近衛中將); đến năm 1416 (Ứng Vĩnh 22), được thăng lên chức Tùng Tam Vị Phi Tham Nghị (從三位非參議). Năm sau, ông lại được bổ nhiệm làm chức Quyền Trung Nạp Ngôn (權中納言), và cứ như vậy đến tháng 12 năm 1438 (Vĩnh Hưởng [永享] 10), ông được thăng lên đến chức Tùng Nhất Vị (從一位). Vào năm 1445 (Văn An [文安] 2), ông làm chức Quan Bạch và trở thành Đằng Thị Trưởng Giả (藤氏長者, Tōshi-no-chōja, người đại diện cho dòng họ Đằng Nguyên [藤原, Fujiwara], có liên quan đến vấn đề chính trị, tài vụ cũng như tôn giáo của dòng họ). Tuy nhiên, vì quan Thái Chính Đại Thần Nhất Điều Kiêm Lương (一條兼良, Ichijō Kanera) lại ủy thác cho Nhật Dã Trùng Tử (日野重子, Hino Shigeko), người vợ hầu của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori), rằng ông đang kỳ vọng chức Quan Bạch này; vì vậy, vào năm 1447 (Văn An 4), thể theo sắc chỉ của triều đình, Cận Vệ Phòng Tự từ chức quan này. Sau đó, vào năm 1461 (Khoan Chánh [寛正] 2), ông được bổ nhiệm làm Thái Chính Đại Thần; nhưng năm sau ông lại từ chức. Đến năm 1474 (Văn Minh [文明] 6), ông xuất gia, pháp danh là Đại Thông (大通). Ông qua đời ở độ tuổi 87, để lại bộ nhật ký Hậu Tri Túc Viện Phòng Tự Ký (後知足院房嗣記).
Cận Vệ Thượng Thông
(近衛尚通, Konoe Hisamichi, 1472-1544): nhà công khanh, Quan Bạch và Thái Chính Đại Thần, sống vào thời đại Chiến Quốc; thân phụ là Cận Vệ Chính Gia (近衛政家, Konoe Masaie), thân mẫu là Bắc Tiểu Lộ Tuấn Tử (北小路俊子, Kitakōji Toshiko). Năm 1490 (Diên Đức [延德] 2), ông được bổ nhiệm làm chức Hữu Đại Thần (右大臣) và sau đó trãi qua hai lần được phong chức Quan Bạch. Đến năm 1514 (Vĩnh Chánh [永正] 11), ông làm chức Thái Chính Đại Thần (太政大臣) và 4 năm sau thì được phong chức Chuẩn Tam Cung (准三宮). Vào năm 1533 (Thiên Văn [天文] 2), ông xuất gia, lấy hiệu là Đại Chánh (大正). Bộ nhật ký ông để lại là Hậu Pháp Thành Tự Quan Bạch Ký (後法成寺關白記).
cận đại
Modern times.
cận đại phật giáo vận động
(近代佛教運動) Công cuộc vận động Phật giáo thời cận đại. Có thể chia làm bốn khu vực để thuyết minh: Ấn độ và Tích lan, châu Âu, Hoa kì, Nhật bản. 1. Ấn độ và Tích lan. Người phát khởi cuộc vận động chấn hưng Phật giáo cận đại là ngài Đạt ma ba la (Anàgarika Dharmapàla). Ngài là người Tích lan. Năm 1891, ngài sáng lập hội Đại bồ đề (Mahàbodhi Society) ở Ấn độ, ra sức sửa sang các nơi Phật tích. Nhờ sự nỗ lực của hội này mà những Phật tích dần dần được phục hưng và sự truyền bá Phật giáo cũng dần dần được thịnh hành. Đến năm 1953, nhân ngày Phật đản, một Ủy viên hội gồm tín độ Phật giáo và tín đồ Ấn giáo được thành lập để cùng quản lí nơi Thánh địa Bồ đề đạo tràng mà từ trước đó chỉ do tín đồ Ấn độ giáo độc quyền quản lí. Từ đó, ngày Phật đản trở thành ngày quốc lễ kỉ niệm ngày đức Phật ra đời và toàn dân được nghỉ.Sau ngày thành lập hội Đại bồ đề, sứ đoàn hoằng pháp Tích lan Đức quốc (German Dhammaduta Society of Ceylon, Pàli: Lanka Dhammadùta Sabha) cũng đã được thành lập tại Colombo và phái các vị tỉ khưu trong sứ đoàn này đến nước Đức tiến hành các hoạt động hoằng pháp. Ngoài ra còn có Hội Linh trí học Phật giáo (Buddhist Theosophical Society) do Đại tá Olcott và phu nhân Blavasky sáng lập, Hội nghị Phật giáo đồ Tích lan do Bác sĩ G. P. Malalasekera lãnh đạo cũng đều tích cực mở rộng cuộc vận động truyền giáo. Vào năm 1950, lần đầu tiên Hội nghị Liên hữu Phật tử thế giới (World Fellowship of Buddhist) được khai diễn tại Colombo,sau trở thành cơ cấu thường trực của Phật giáo thế giới. Kế tiếp, các Hội nghị Phật giáo cũng được mở ra tại các nước, do đó đã hình thành động lực rất lớn thúc đẩy công cuộc vận động Phật giáo quốc tế. 2. Châu Âu. Sự nghiên cứu Phật giáo tại châu Âu lúc đầu là để khoa trương tính ưu việt của Cơ đốc giáo, thứ đến là vì cái hứng thú nghiên cứu ngôn ngữ học. Nhưng về sau, sự nghiên cứu học thuật chuyển biến thành sự biểu hiện sinh hoạt thực tế. Sự biểu hiện cụ thể ấy có thể được thấy trong thi phẩm Ánh sáng châu Á (The Light of Asia) của Arnold và các hoạt động được thực hiện bởi hội Linh trí học nói ở trên. Năm 1908, Hiệp hội Phật giáo Anh quốc (The Buddhist Society of Great Britain and England) được thành lập tại Luân đôn, do ông Rhys Davids làm Hội trưởng, hoạt động rất mạnh, về sau, Christmas Humphreys phát triển thành Hiệp hội Phật giáo Luân đôn, phát hành tạp chí Trung Đạo (The Middle Way), thành là một trung tâm truyền bá giáo pháp. Về phần nước Pháp thì có đại sư Thái hư sáng lập Hội Phật giáo hữu nghị (Les Amis du Bouddisme), về sau, hội này hoạt động nghiêng về sự nghiên tập minh tưởng theo hình thức của Phật giáo phương nam. Ngoài ra, hội còn xuất bản tạp chí Tư tưởng Phật giáo (La Pensée Buddhique), cứ ba tháng ra một kì, do Madame Fuente duy trì. Còn tại nước Đức thì, sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Thiền học rất được coi trọng. 3. Nước Mĩ. Năm 1948, hội nghị triết học Đông Tây được mở tại Hạ uy di, Nhật bản có hai bác sĩ Linh mộc đại chuyết và Hoa sơn tín thắng tham dự, rồi Linh mộc đi giảng diễn và chỉ đạo Thiền học tại các nơi trên đất Mĩ, dẫn đến việc người Mĩ phát động phong trào tham Thiền học Thiền. 4. Nhật bản. Minh trị năm đầu, các ông Nam điều văn hùng, Độ biên hải húc, Cao nam thuận thứ lang v.v... mở ra phong khí nghiên cứu Phật giáo nguyên điển văn Phạm, và Tây tạng, thoát ra ngoài lãnh vực nghiên cứu theo tông phái học từ xưa mà khai sáng một khí tượng nghiên cứu mới mẻ. Sau thế chiến thứ hai, các học giả đứng trên lập trường tôn giáo tỉ giảo học để đánh giá lại Phật giáo, và rất coi trọng giá trị của Phật giáo.
cận đồng
Xem cận sự nam.
; Upasaka (skt)—Vị tục Sa Di học Phật Pháp hay tên khác của Ưu Bà Tắc—A devotee, or disciple, or another name for Upasaka.
cập thời
On time—Timely.
cật lực
To labor.
cật ruột
Near relation.
cật vấn
To raise questions—To question in detail to try to find some weaknesses.
cậu ấm
Ayyaputta (P).
cậy
To rely on—To lean on.
cậy của
To rely on one's wealth.
cậy quyền
To rely on one's power.
cậy thế
To rely on one's position or standing.
cậy tài
To rely on one's talent.
cắn rứt
To sting.
cắn xé
To tear with one's teeth—To devour.
cắng đắng
To quarrel like dog and cat.
cắt
chod (J), Cut.
cắt nghĩa
To explain.
cắt đứt luyến ái nhị biên
To sever dualistic attachments (attachments to either pleasure, not pleasure or indifference).
cắt đứt nghi lầm
To cut off all doubts.
cằn nhằn
To grumble.
cặn bã
Scum—Dregs.
cặn bã xã hội
The scum of society.
cặn kẽ
Detailed.
cọc cằn
Rude—Rough.
cọng báo
Collective retribution; reward or punishment of the community, or in common for the cọng nghiệp.
cọng mệnh điểu
Jivajiva (S). A bird said to have two heads on one body.
cọng nghiệp
Deeds of the community; collective karma.
cỏ cát tường
Kusa (P), Dabbha (P).
cố
1) Cố sự: Fairy tales. 2) Cố xưa—Old. 3) Cố ý: Purposely.
cố chí
Determined—Decided to do something—Resolved mind.
cố chấp
Thambha (P), Obduracy Chấp.
; Thambha (P). Obduracy, hypocrisy. Also ngoan cố, bướng bỉnh.
; Persistent—Obstinate—Stubborn.
cố chỉ
Giấy cũ—Old or waste paper.
cố chỉ trung hợp dược
(故紙中合藥) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cố chỉ, là giấy cũ - Hợp dược, là thí dụ vật vô dụng, vô ích. Để phủ định sự chấp trước vào lời nói, văn chữ của chư Phật chư tổ mà thí dụ sự vô dụng của kinh điển, Tổ lục, cũng như món hợp dược trong mớ giấy cũ. Thung dung lục tắc 45 (Đại 48, 256 thượng), nói: Một Đại tạng giáo, là mớ giầy cũ không sạch - với người đã thấy rõ thì đó chỉ là món hợp dược trong mớ giấy cũ nghìn năm, sợ thấu da trâu - với người chưa thấy thì không ngại bị che mắt.
cố công
To endeavour—To strive.
cố cốt
Xương cốt trong tiền kiếp, hay của nhiều thế hệ—Old bones, bones of former incarnation or generation.
cố cốt như sơn
Chỉ sự sống chết trôi dạt, nên xương cốt của nhiều đời nhiều kiếp chất chồng lên cao như núi—Old bones, or bones of former incarnation or generation piled up as high as a mountain.
cố gắng
To try—To strive—To endeavor—Effort—Exertion.
cố hoan
(顧歡) (420 - 483) Nhà Đạo sĩ đời Nam Tề. Người Diêm quan Ngô hưng (Hải ninh, Chiết giang). Tự Cảnh di, Huyền bình. Lúc đầu ông theo Thiệu huyền chi học Ngũ kinh, đến năm hơn hai mươi tuổi lại thờ Lôi thứ tôn làm thầy. Ông thích thuật Hoàng lão, thông hiểu sách âm dương, sau mở quán trên núi Thiên thai, nhận môn đồ, dạy đạo Hoàng lão, chữa bệnh trừ tà cho người trong làng. Khi làm Phụ chính cho Cao đế nhà Tề, ông giữ chức Chủ bạ Dương châu, tự xưng là Sơn cốc thần, dâng vua một quyển Chính cương. Niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483), Vũ đế nhà Tề mời ông về làm Thái học bác sĩ, nhưng hết sức từ chối, và ông mất vào cùng năm ấy tại Diệm sơn, hưởng thọ sáu mươi tư tuổi. Hiện có Văn tập 30 quyển truyền ở đời.Xét lúc đương thời hai giáo Phật, Đạo hay dèm chê nhau, ông bèn soạn Di Hạ luận , bề ngoài thì nói Phật giáo, Đạo giáo lí nghĩa hợp nhau, nhưng thực tế lại đặt Phật giáo cạnh Đạo giáo và phân chia bờ cõi Di.. (mọi rợ, ám chỉ Ấn độ), Hạ.. (văn minh, chỉ Trung quốc) khác nhau để bôi bác Phật giáo, do đó đã dấy lên cuộc tranh luận giữa Phật, Đạo thời bấy giờ, khiến các vị sa môn Tuệ thông, Tăng mẫn và danh sĩ Viên xán, Minh tăng thiệu, Tạ trấn chi, Chu chiêu chi, Chu quảng chi v.v... đều viết luận để bài bác. (xt. Di Hạ Luận).
cố khổ
1) Nổi khổ sở xưa kia—Old suffering. 2) Nỗi khổ do hậu quả của hoạt động kéo dài, như nằm nhiều, đứng nhiều, đi nhiều, thoạt tiên thấy thích thú, nhưng sau đó trở nên mệt mỏi rả rời: The suffering resulting from prolongation, e.g. too much lying, standing, walking, at first a joy, become wearying.
cố làm ra vẻ bề ngoài
For appearance sake.
cố nhị
Purva-dvitiya (skt)—Người vợ của một vị Tăng hồi chưa xuất gia—The former mate or wife of a monk.
cố pháp nghiêm
(顧法嚴) (1917 - ? ) Người Thiệu hưng, Chiết giang. Tên Thế Cam, tự Pháp nghiêm. Tốt nghiệp Đại học trung ương. Từng phục vụ trong Nông phục hội và Viện dịch kinh Phật giáo tại Đài loan. Hiện đang ở Cựu kim sơn bên Hoa kì. Tinh thông tiếng Anh, tiếng Phạm, tiếngPàli, là nhà phiên dịch trứ danh trong giới Phật giáo gần ba mươi năm trở lại đây. Đã có các dịch phẩm: Thiền môn tam trụ, Nguyên thủy Phật điển tuyển dịch, Phật đà đích khải thị v.v...
cố sự thống hối
Kathasantśāgāra (S)Một trường thi ở thế kỷ 11 có đến 21.500 bài tụng.
cố sự tổng hối
(故事總匯) Phạm: Kathà-sarit-sàgara. Gồm mười tám quyển. Là tập văn học truyện cổ do nhà thơ nước Ca thấp di la thuộc Ấn độ là Somadeva sáng tác vào thế kỉ thứ XI. Đây là một tác phẩm lớn bằng văn vần tiếng Phạm, gồm 124 chương, hai vạn một nghìn năm trăm kệ tụng (có thuyết nói hai vạn một nghìn ba trăm tám mươi tám kệ tụng). Nội dung lấy các sự tích về hành vi, đức tính của vua Ưu điền và thái tử nước Kiều thưởng di làm trung tâm. Nguyên ý của tên sách là Các sông ngòi sự tích đều dồn về biển lớn, ý tức là sách này bao hàm hết tất cả các loại, các hệ thống sự tích đời xưa. Cố sự tổng hối được cải tác từ Đại cố sự tập Phạm: Bfhatkathà), trải hai mươi năm (1036 - 1056) mới hoàn thành, nội dung cùng với Ngũ đát đặc la (Phạm: Paĩcatantra, cũng gọi là Ngũ quyển thư), kinh Bản sinh có rất nhiều chỗ giống nhau. Bối cảnh tư tưởng của tác giả tuy là tín ngưỡng thần Thấp bà của Ấn độ giáo, nhưng toàn bộ sách bao hàm không ít tư tưởng Đát đặc la trong đó có tư tưởng Phật giáo. Nếu đứng về phương diện quan hệ giữa sách này và các sự tích xưa của Phật giáo mà nói, thì sự tích về vua Ưu điền là lấy từ chú thích kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapadaỉỉha-kathà). Ngoài ra, các sự tích người ngu từ chương 61 trở đi rất tương đồng với các sự tích trong kinh Bách dụ, kinh Tạp thí dụ. Còn về đề tài của các sự tích thì có không ít điểm cộng thông giữa các nước Đông, Tây: Đứng về phương diện văn học tỉ giảo, đây là một đề mục nghiên cứu rất thú vị. Sách này bao gồm các sự tích thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn và dân gian, là tư liệu rất quí để hiểu biết trạng thái xã hội Ấn độ thời xưa. Có rất nhiều bản nguyên văn, các bản được dùng hiện nay là: Paịđit Dungàprasad and Kàsinàth Pàndurang ed. The Kathàsarisàgara of Somadevebhaỉỉa. Nifnaya Sàgana Press 1889, 3rd. Ed. 1915 - bản dịch tiếng Anh thì có: Kathàsaritsàgara or Ocean of Streams of Story 10 vols, ed. C. H. Tawney, revised by N. N. Penzer, London, 1924, Indian Edition, Motilal Banassidass, Delhi, 1968 - bản dịch tiếng Nhật thì có:... Cổ điển thuyết thoại tập..., Cổ điển văn học đại hệ ... của Nham bản dụ.
cố tri
Old acquaintance.
cố tránh
To try to evade.
cố tác nghiệp
See Cố Tư Nghiệp.
cố tình
See Cố ý.
cố tư nghiệp
Còn gọi là Cố Tác Nghiệp, Cố Tư Tạo Nghiệp, hay Cố Tác Nghiệp, là cái nghiệp thân và miệng do cố ý tạo ra (nếu không cố ý tạo ra thì gọi là Bất Cố Tư Nghiệp. Quả báo cảm thọ khổ lạc chỉ giới hạn ở Cố Tư Nghiệp mà thôi)—The karma produced by former intention.
; (故思業) Phạm: Saôcitanika-karman. Chỉ các nghiệp thân, khẩu được tạo tác một cách cố ý, đối lại với Bất cố tư nghiệp. Còn gọi là Cố tác nghiệp, Cố tư tạo nghiệp. Nói đủ là Cố tư sở tạo nghiệp. Nói tắt là Tác nghiệp. Đối với một việc có nên làm hay không thì trước phải suy xét, cân nhắc, nếu quyết định nên làm, thì lúc đó mới phát ra lời nói và hành động mà làm, một việc làm như thế, gọi là Cố tư nghiệp - trái lại, một việc vô tình mà làm, thì gọi là Bất cố tư nghiệp. Luận Du già sư địa quyển 90 (Đại 30, 807 hạ), nói: Cố tư sở tạo nghiệp, có nghĩa là trước đã suy nghĩ tính toán cẩn thận rồi mới làm. Lại có tình huống thác loạn, không thác loạn. Thác loạn có nghĩa là ở chỗ nào đó, nghĩ muốn giết hại, muốn cướp đoạt, muốn nói lời chia lìa, muốn nói dối và lừa gạt v.v... Nghĩ như thế rồi liền đem thực hiện ý nghĩ ấy ở chỗ khác. Nên biết rằng, ở đây do ý muốn, tư tưởng mà gọi là nặng, chứ không phải do việc làm mà gọi là nặng. Còn không thác loạn thì trái ngược với điều nói trên. Nếu khác với việc làm này, thì gọi là Phi cố tư tạo (không cố ý làm). Cố tư nghiệp sẽ chiêu cảm quả dị thục thiện ác, còn Bất cố tư nghiệp thì không. Cứ theo luận A tì đạt ma tạp tập quyển 7 chép, thì Cố tư nghiệp có năm thứ: 1. Tha sớ giáo sắc, nghĩa là mình không muốn làm, nhưng do người khác ra lệnh bắt phải làm. 2. Tha sở khuyến thỉnh, nghĩa là mình không muốn làm, nhưng do người khác khuyên lơn, dỗ dành, rồi cho là có lợi ích mà làm. 3. Vô sở liễu tri, nghĩa là không rõ được, mất, không chấp trước gì, theo ý muốn làm mà làm. 4. Căn bản chấp trước, nghĩa là bị tham, sân, si, che lấp tâm tính, chấp trước mạnh mẽ mà làm một cách hăng hái, say sưa. 5. Điên đảo phân biệt, nghĩa là vì ưa thích tà pháp, muốn được quả dị thục khả ái trong vị lai mà làm. Trong năm thứ kể trên, ba thứ trước là nghiệp cố tư nhẹ, là nghiệp bất định, cũng gọi là Bất tăng trưởng nghiệp. Còn hai thứ sau thì nghiệp nặng, nghiệp quyết định, cũng gọi là Tăng trưởng nghiệp. [X. kinh A hàm Q.44 - luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4 - Du già luận kí Q.5 - Tạp tập luận thuật kí Q.8, Bách pháp vấn đáp sao Q.3].
cố tật
Chronic disease.
Cố Viêm Võ
(顧炎武, Ko Embu, 1613-1682): học giả sống đầu thời nhà Thanh, xuất thân Côn Sơn (崑山), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), tự là Ninh Nhân (寧人), hiệu Đình Lâm (亭林). Vốn là người bác học, đa tài, nghiên tầm sâu xa các kinh thư và được xem như là vị tổ của Khảo Chứng Học (考証學). Sau khi nhà Minh diệt vong, ông được nhà Thanh trọng dụng; nhưng ông từ chối không chịu phục vụ cho cả hai triều đại. Trước tác của ông có Nhật Tri Lục (日知錄), Thiên Hạ Quận Quốc Lợi Bệnh Thư (天下郡國利病書), v.v.
cố vấn
Advisor.
cố vị
To cling to one's position.
cố ý
Intentionally—Purposeful intention—Purposely.
cố ý phương hành
(故意方行) Hàm ý là Bồ tát cố tình làm cho phiền não sinh khởi để tế độ chúng sanh. Trong hàng Bồ tát Thập địa, thì Bồ tát từ Cực hỉ địa thứ nhất đến Viễn hành địa thứ bảy, trong thời kì tu hành ở kiếp A tăng kì thứ hai, cố ý khởi phiền não để rơi vào ngã ác mà cứu độ chúng sinh đang ở trong ngã ác. [X. luận Thành duy thức Q.9 - Duy thức luận đồng học sao Q.64].
cố ý phương hành lập
Từ địa thứ ba đến địa thứ bảy trong Thập Địa Bồ Tát—The third to the seventh of the ten Bodhisattva stages of development—See Thập Địa Phật Thừa.
Cố Đại Tín Hạnh Thiền sư minh tháp bi 故大信行禪師銘塔碑
[ja] コダイシンギョウゼンシメイトウヒ Kodai shingyō zenshi meitōhi ||| The Guda xinxing chanshi mingtabei a memorial stele erected for the Sanjie jiao 三階教 founder Xinxing 信行. => (c: Guda xinxing chanshi mingtabei) Bia kỷ niệm ngài Tín Hành信行, vị khai sáng Tam giai giáo三階教.
Cố 故
[ja] コ ko ||| (1) Reason, cause, circumstances. (2) Therefore, consequently. (3) Especially, intentionally. (4) Old, ancient, formerly, prior. [古]. => 1. Lý do, nguyên nhân, trường hợp. 2. Cho nên, do đó. 3. Đặc biệt là, cố tình. 4. Cổ, xưa, trước đây, thời trước.
cốc hưởng tập
(穀響集) I. Cốc hưởng tập. Gồm hai quyển. Do ngài Mộng song Sơ thạch (1275-1351), vị tăng tông Lâm tế Nhật bản, thuật. Mộng song Sơ thạch từng viết cuốn Mộng trung vấn đáp, cho Tịnh độ tông là bất liễu nghĩa, ngài Trừng viên ở chùa Đại kinh thuộc Tuyền châu soạn Tùng phong tập để bác bỏ, Sơ thạch bèn viết sách này để đáp lại. II. Cốc hưởng tập. Gồm mười quyển. Do vị tăng tông Chân ngôn Nhật bản là Bạc như Vận xưởng (1614-1693) thuật. Nói đủ là Tịch chiếu đường cốc hưởng tập. Nguyên tên là Đối khách đàm tùng. Nội dung gồm hơn 680 tiết mục do ngài Vận xưởng trả lời các câu hỏi của khách khi ngài ở ẩn tại Tịch chiếu đường về các vấn đề trong kinh điển Phật và các thư tịch nói chung. Còn có Cốc hưởng tục tập mười quyển, đều thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 149.
Cốc Thời Trung
(谷時中, Tani Jichū, 1598-1649): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Tố Hữu (素有); tên tu sĩ là Từ Xung (慈沖); xuất thân vùng Thổ Tá (土佐, Tosa). Ông vốn xuất gia từ thưở nhỏ tại Chơn Thường Tự (眞常寺) vùng Cao Tri (高知, Kōchi); nhưng vì mến mộ Nam Thôn Mai Hiên (南村梅軒, Minamimura Baiken), Nho gia và là Tổ của Chu Tử Học thuộc Nam Học Phái, nên ông hoàn tục; chuyên tâm nghiên cứu Chu Tử Học; và đã dưỡng thành một số nhân vật kiệt xuất như Dã Trung Kiêm Sơn (野中兼山), Tiểu Thương Tam Tỉnh (小倉三省), Sơn Khi Ám Trai (山崎闇齋), v.v. Tác phẩm chủ yếu của ông là Tố Hữu Văn Tập (素有文集), Tố Hữu Ngữ Lục (素有語錄).
cốc tuyền
(穀泉) Vị tăng tông Lâm tế đời Tống. Người Tuyền châu (Phúc kiến). Hiệu Đại đạo. Họ, năm sinh, năm mất đều không rõ. Sau khi xuất gia, sư tham yết Thiền sư Thiện chiêu tông Lâm tế ở Phần dương và nối pháp của ngài. Sau về Nam đi khắp dải Hồ tương, ra mắt ngài Sở viên ở núi Thạch sương, rồi lên chùa Linh phong trên đỉnh núi Hành nhạc (Hồ nam) ở trong hang Lại toản. Sau sư lại dời đến ở am Ba tiêu, am Bảo châu, người đời gọi sư là Ba tiêu am chủ, Tuyền đại đạo. Cuối đời, sư bị lưu đày tại Bân châu (Hồ nam). Khoảng năm Gia hựu (1056- 1063) sư thị tịch, thọ chín mươi hai tuổi. Có để lại Lục ba tị ca. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.15 - Thần tăng truyện Q.9 - Chỉ nguyệt lục Q.24 - Ngũ đăng hội nguyên Q.12 - Thiền uyển mông cầu Q.thượng].
cốc tuyền ba tị
(谷泉巴鼻) Là bài ca Lục ba tị do thiền sư Cốc tuyền tông Lâm tế đời Tống làm, dùng để tiếp hóa học trò, sách Thiền uyển mông cầu lấy Cốc tuyền ba tị làm đầu đề mà chép lời ca của sư để làm một tắc trong hơn năm trăm tắc của sách ấy. Lại nhân tụng thứ nhất trong tụng Lục ba tị lấy Đại đạo làm chủ đề, Thiền lâm bèn lấy Đại đạo Cốc tuyền, Tuyền đại đạo để gọi thay cho Cốc tuyền. Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 132 hạ), nói: Đại đạo ba tị, ngủ gà ngủ gật, lưng đeo quả bầu, vừa đi vừa hát. Tán thánh ba tị, gặp đâu đùa đấy, hiện đông ẩn tây, châu nam làng bắc. Thiền sư ba tị, có lợi không lợi, núi biếc cao ngất, rồng đi hổ nhìn. Nạp tăng ba tị, đồ ngồi thước hai, chẳng hỏi ngắn dài, gió cao mây nổi. Tọa chủ ba tị, sông treo không trệ, đất phun sen vàng, tay cầm như ý. Sơn đồng ba tị, đem vàng thử lửa, hỏi khách ở núi, xa đến không dễ.
cốc đầu
(穀頭) Trong Thiền lâm, người giữ chức vụ trông coi thóc gạo trong chùa, gọi là Cốc đầu. Chức này đặt dưới quyền vị Điển tọa. Còn gọi là Mễ đầu, Khán lương. Cứ theo Qui sơn Linh hựu Thiền sư ngữ lục chép, thì Thiền sư Khánh chư ở núi Thạch sương, đã có lần giữ chức Mễ đầu ở núi Qui sơn. [X. Thiền lâm tượng khí tiên đệ thất loại Chức vị môn].
cống
Tribute.
cống cao
Elevated proud.
cống hiến
To offer.
cống lễ
To pay tribute.
cống phẩm
Tribute.
cống vật
See Cống Phẩm.
cốt
Bone—Bones—Relics.
cốt bút
(骨筆) Chẻ xương làm bút để viết chép kinh Phật. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1009 thượng), nói: Lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm bút để viết chép giới luật của Phật. Còn gọi là Thu cốt (thu lấy xương), khôi kí (gửi tro). Tức là sau khi hỏa táng (thiêu, đốt) xác chết, thu nhặt lấy xương, tro còn sót lại. Người ta sau khi chết bao nhiêu năm, xương hóa thành trắng, thì gọi thí dụ là cốt Phật. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.3].
cốt cách
Character—Manner.
cốt hồ
(骨壺) Còn gọi là Xá lợi bình, Xá lợi hồ. Tức là cái lọ đựng xương còn lại sau khi đã thiêu. Thời xưa lọ làm bằng kim thuộc, đất nung hoặc bằng đá, đời sau phần nhiều tiện bằng gỗ. Sau khi đức Phật Niết bàn, xá lợi của Ngài được đựng vào chiếc âu bằng vàng, để ở chính điện nước Cưu di. Không lâu, tám nước lân cận đều mang quân đến đòi, Hương tính Bà la môn mới chia xá lợi làm tám phần cho tám nước, mỗi nước nhận bình xá lợi rồi đem về. Chiếc bình xá lợi mà nước Ca tì la vệ trong tám nước nhận được thời bấy giờ, đến tháng 1 năm 1898, người ta đã đào thấy tại Pipràwàthuộc Nepal. Ngoài ra trong ngôi tháp hoang phế tại địa phương Kucha (nước Cưu tư xưa) thuộc Tân cương, người ta cũng đã phát hiện một chiếc Cốt hồ bằng gỗ, đường kính độ hai mươi phân, cao độ mười sáu phân, bên ngoài có thếp vàng, bên trong đựng bạch cốt và ngọc báu. Thông thường Cốt hồ được chôn dưới mộ, hoặc đặtở một góc trong nhà điện. [X. Trường a hàm Q.4 kinh Du hành - kinh Phật ban nê hoàn Q.hạ - Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6].
cốt lâu thảo
(骨婁草) Còn gọi là Khuất lũ thảo, Khuất lâu thảo, Cốt lộ thảo. Là loại cỏ mà Mật giáo, khi tu phép Phổ hiền diên mệnh (cầu tuổi thọ hoặc trí tuệ), vào giờ tu Hộ ma thì đốt lên cúng Phật. Là loại thực vật bò lan, mọc trong núi sâu, quả mầu vàng, hơi giống quả dưa gang, mùi vị ngon ngọt. Tục gọi thứ cỏ này là cỏ trường thọ. [X. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ - Hi lân âm nghĩa Q.7].
cốt lõi
Core.
cốt lõi của phật pháp
Giáo pháp cốt tủy của Đạo Phật—The core (essence) of the Teaching of Buddhas: 1) Chư ác mạc tác: Không làm các việc ác—Not to do any evil. 2) Chúng thiện phụng hành: Siêng làm các hạnh lành—To cultivate good. 3) Tự tịnh kỳ ý: Giữ cho tâm ý thanh sạch—To purify one's mind. 4) Thị chư Phật Giáo: Ấy lời chư Phật dạy—This is the Teaching of the Buddhas.
cốt lõi kinh kim cang
Bất ưng trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm—Do not attach to forms, sounds, scents, tastes, textures, and mental objects or dharma to develop your thoughts; It is said that the emptiness is the wonderful place that mind will be arisen.
cốt mục
Xương và mắt, ý nói những điều cốt yếu quan trọng nhứt—The bones and eyes (the essentials).
cốt nhân
Bộ xương (tọa thiền quán sát về bộ xương khô để trừ bỏ tham dục)—A skeleton—To contemplate a skeleton to eliminate passions.
; (骨人) I. Cốt nhân. Người còn trơ bộ xương. Da thịt của thân thể đều đã nát rữa, chỉ còn lại bộ xương - người tu Bất tịnh quán, Cửu tưởng, Bát bội xả, phải quán tưởng tướng này. Cho nên hành giả thường vẽ tướng xương khô làm đối tượng để thành tựu quán tưởng của mình. Hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 2 đoạn 3 bảo, cốt nhân là bức tranh vẽ bộ xương khô, để hành giả nương vào đó mà tu phép Thiền [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ]. II. Cốt nhân. Chỉ người bần tướng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 9 Qui sơn linh hựu chương (Đại 51,264 hạ), nói: Hòa thượng là cốt nhân, kia là núi thịt, nếu Hòa thượng ở thì đồ chúng chẳng đầy nghìn.
cốt nhục
Bone and flesh (sibling)—Of the same parents.
cốt nhục tương tàn
Inter-familial quarrel—Quarrel between brothers.
cốt phật
1) Phật bằng xương: A bone-Buddha. 2) Có Phật tính: To have the Buddha-nature.
cốt sơn
(骨山) I. Cốt sơn. Có nghĩa là xương chất đống thành núi. [X. Tì nại da tạp sự Q.37] Cốt Hồ (đào được ở Nepal). II. Cốt sơn. Chỉ núi trọc, trơ đất đá, cây cỏ không mọc được. Đứng về phương diện bói toán, cốt sơn là núi ít phúc đức. Tại Nhật bản, cốt sơn chỉ cho những chùa viện có tín đồ lèo tèo mấy người, nghèo nàn thiếu thốn. (xt. Nhục Sơn).
cốt tháp
Tháp chứa cốt—A pagoda for the ashes of the dead.
cốt thân
Xá lợi hay những gì còn lại sau khi hỏa thiêu—The bones of the body, the sarira or remain after cremation.
; (骨身) Là dịch ý từ chữ Phạm Zarìra (xá lợi). Tức là người y theo giới định tuệ mà huân tu, sau khi viên tịch thân thể khô đi và toàn vẹn như lúc sống, vĩnh viễn được cõi người cõi trời cúng dường. (xt. Xá Lợi).
cốt toả quán
(骨鎖觀) Cũng gọi là Cốt tưởng quán. Phép tu quán tưởng thân thể người ta là bộ xương trắng dính vào nhau để đoạn trừ tâm tham dục. Phép quán này chia làm ba giai đoạn. 1. Sơ tập nghiệp vị, tức đầu tiên tập trung sức chú ý vào một điểm nào đó trên thân thể để quán tưởng về xương, dần dần quán khắp toàn thân, rồi chuyển sang thân người khác, quán toàn thế giới đầy dẫy xương trắng, sau lại thu hồi về một thân mình. 2. Dĩ thục tư vị, quán tưởng xương trong một thân mình, thì trước hết trừ bỏ xương chân, dần dần trừ bỏ xương các bộ phận khác, chỉ còn lại nửa xương đầu. 3. Siêu tác ý vị, đem nửa xương đầu còn lại trừ khử hết, rồi chú tâm ở khoảng chân mày, yên lặng quán xương trắng. [X. Trung a hàm Q.24 kinh Niệm xứ - luận Du già sư địa Q.32 - luận Câu xá Q.22].
cốt toả thiên
(骨鎖天) Cốt tỏa, Phạm: Zaôkara, dịch âm là Thương yết la. Là hóa thân của trời Đại tự tại. Nhưng trong Mật giáo thì nói Đại tự tại thiên là chủ của đại thiên thế giới, còn Yết la thiên là chủ một thế giới. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 92 hạ), nói: Thương yết la, Hán dịch là Cốt tỏa (...) Ngoại đạo nói rằng, ở đầu kiếp thành, trời Đại tự tại thị hiện hai mươi bốn tướng, giáo hóa và làm lợi ích cho nhân gian, xong việc ngài trở về trời. Người đời luyến tiếc, mới lập tượng thờ. Hình tượng Ngài khắc khổ, gầy gò, chỉ còn trơ những đốt xương nối liền nhau, giống chuỗi móc xích, cho nên gọi là trời Cốt tỏa. [X. kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên - Tất đàm tạng Q.1]. (xt. Đại Tự Tại Thiên).
cốt tỏa chủ bồ tát
Xem Thương yết la chủ Bồ tát.
cốt tỏa thiên
Saṃkara (S)Thượng Yết naHóa thân của trời Đại Tự Tại.
; Sankara (skt)—Thương Yết La—Cốt Tỏa Thiên là hóa thân của Tự Tại Thiên—The bone-chain deva.
cồ da ni châu
Xem Ngưu hoá châu.
cồ di
Gopika (S)Cồ tỳ gia, Cồ Di, Minh NữTên bà phi thứ hai của thái tử Tất đạt đa. Thái tử có 3 bà phi: Da Du Đà La, Cồ Di và Lộc Dã.
cồ lâu đạt ma
Gurùdharma (S), Eight rules of the respect. Also Lữ lô đạt ma, tám phép tôn kính, kính pháp tôn pháp.
cồ na mạt đề
Gaunamati (S)Đức HuệTên một vị La hán đệ tử Phật.
cồ nã bát thích bà
Gunaprabha (S). Name. Also Đức quang.
cồ tỳ gia
Xem Cồ Di.
cồ đàm
Gotamo (P)Gautama (S).
; Gotama (P), Gautama (S), Gotamo (P)Họ của đức Phật. Thích Ca (Sakya) là tộc.
; Gautama (P), Gotama (P)1- Xem Gotamo. 2- Tây Ngưu Hoá Châu.
; Gautama (S), Gotama (P) Surname. Also Kiều đáp ma.
; Gotama.
cồ đàm bát nhã lưu chi
Gautamaprajnàruchi (S). Name of person. Also Trí hi.
cồ đàm di
Gotami (S).
cồ đàm tôn giả
Một cách gọi đức Phật bằng họ. Xem Cồ đàm.
; Bho-Gautama (S). An epithet of Buddha.
cồ đàm tất đạt đa
Gotama Siddhattha (P).
; Gautama Siddhārtha (S), Gotama Siddhattha (P).
Cồ-sư-la
(瞿師羅) phiên âm từ Phạn ngữ là Ghoşira (Pli: Ghosita) cũng đọc là Cụ-sử-la (具史羅),Cù-tư-la (瞿私羅) hay Cù-sử-la (劬史羅), dịch nghĩa là Mỹ âm (美音) hay Diệu âm thanh (妙音聲). Đây là tên một vị trưởng giả trong kinh Trung bản khởi (中本起經). Kinh Cồ-sư-la nhắc đến ở đây có lẽ là tên khác của kinh này (Đại chánh tạng, quyển 4, trang 147, kinh số 196).
Cồ-đàm
phiên âm từ Phạn ngữ là Gautama, là họ của đức Phật. Vì thế, ngoại đạo đương thời thường gọi Phật là Sa-môn Cồ-đàm.
Cổ
(鼓): trống; tên loại nhạc khí, được chế tạo bằng vàng, ngọc, gỗ, đá, v.v. Đối với Phật Giáo, trống cũng là một trong những pháp khí quan trọng trong các tự viện. Vào thời cổ đại của Trung Quốc, trống được dùng như là vật môi giới thông với chư vị thần linh, là vật tượng trưng giao lưu với thế giới tự nhiên, có sắc thái thần bí, được lịch sử rất xem trọng. Trong các thư tịch cổ có liệt kê hơn 300 loại trống, tùy theo hình chế mà có phân chia thành 7 loại khác nhau như: Đại Cổ (大鼓), Kiến Cổ (建鼓), Cổ (鼓), Huyền Cổ (懸鼓, trống treo), Thủ Cổ (手鼓, trống cầm tay), Trượng Cổ (杖鼓, trống có dây thắt ở hai đầu), Đồng Thạch Cổ (銅石鼓, trống bằng đồng, đá). (1) Đại Cổ (Trống Lớn) là trống có ngoại hình lớn nhất, loại đại biểu nhất cho trống cổ đại Trung Quốc, được đặt trên giá, dùng đùi lớn để đánh. Trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), Thiên Xỉ Lạc (侈樂篇) có đoạn rằng: “Hạ Kiệt, Ân Trụ tác vi Xỉ Nhạc, Đại Cổ, Chung, Khánh, Quản, Tiêu lục âm, dĩ cự vi mỹ, dĩ chúng vi quan (夏傑、殷紂作爲侈樂,大鼓、鐘、磬、管、簫六音,以鉅爲美,以眾爲觀, vua Hạ Kiệt, vua Ân Trụ làm thành sáu loại âm thanh là Xỉ Nhạc, Trống Lớn, Chuông, Khánh, Sáo, Tiêu; lấy móc sắt treo lên cho đẹp, để mọi người chiêm ngưỡng).” Như vậy, trống đã có mặt hơn 17 thế kỷ trước công nguyên, thường được sử dụng trong các nhạc đội của cung đình. Loại Trống Lớn thời Cổ Đại có công năng rất rộng lớn, được dung để tế tự, cúng tế, nghi tiết trọng đại, quân sự, báo thì giờ; hoặc dùng cho việc khánh chúc hôn lễ, thông báo tang lễ, v.v. Khi trống được dùng trong các buổi yến tiệc của cung đình thì có khí thế hùng tráng. Như trong của Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Âm Nhạc (音樂), cho biết rằng: “Huyền Tông tại vị đa niên, thiện âm nhạc; nhược yến thiết phủ hội, tức ngự Cần Chính Lâu, … thái thường đại cổ, nhạc công tề kích, thanh chấn thành khuyết (玄宗在位多年、善音樂、若宴設甫會、卽御勤政樓、…太常大鼓、樂工齊擊、聲震城關, Huyền Tông tại vị nhiều năm, có tài về âm nhạc; nếu có thiết bày yến tiệc, liền đến ngự tại Lầu Cần Chính, trống lớn khác thường, nhạc công cùng đánh, âm thanh vang chấn động khắp thành quách).” Dưới thời nhà Chu (1046-256 ttl.), trống lớn được dùng làm hiệu lệnh chỉ huy chiến tranh. (2) Kiến Cổ, về ngoại hình thì tượng tợ với Trống Lớn, cũng dùng 2 đùi trống để đánh; chỉ có khác là giá treo bọc quanh trống. Sau này trống cũng được lưu nhập vào trong Phật Giáo, sử dụng để tụng kinh, lễ bái, hành đại lễ, v.v. Như vào những dịp lễ chính trong năm như Tết, Rằm Tháng Giêng, Lễ Phật Đản, Vu Lan, v.v.; hay vào những dịp ngày Rằm, 30 hàng tháng, các ngày vía của chư Phật, Bồ Tát; hoặc nhân dịp lễ húy kỵ chư vị cao tăng, hay đón rước các cao tăng, v.v. Từ “trống” được tìm thấy khá nhiều trong các kinh điển Phật Giáo, như Khổ Ấm Kinh (苦陰經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 25, Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối Phẩm (夢見金鼓懺悔品) của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 2, Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển Thượng, v.v. Như trong Phẩm Tựa của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Kim Phật Thế Tôn dục thuyết đại pháp, vũ đại pháp vũ, xuy đại pháp loa, kích đại pháp cổ diễn đại pháp nghĩa (今佛世尊欲說大法、雨大法雨、吹大法螺、擊大法鼓、演大法義, nay đức Phật Thế Tôn muốn thuyết pháp lớn, mưa trận mưa pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, đánh trống pháp lớn, diễn nghĩa pháp lớn).” Trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Thượng cũng có câu: “Khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng, chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí (扣法鼓、吹法螺、執法劍、建法幢、震法雷、曜法電、澍法雨、演法施, gõ trống pháp, thổi ốc pháp, cầm kiếm pháp, chấn động sấm pháp, tỏa sáng điện pháp, mưa trận mưa pháp, diễn bày bố thí pháp).” Hay như Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh (大方等大集經, Taishō Vol. 13, No. 397) quyển 56 có dạy rằng: “Pháp tràng đương tồi chiết, pháp cổ thanh diệc tuyệt (法幢當摧折、法鼓聲亦絕, cờ pháp bị gãy đứt, trống pháp tiếng cũng dứt).” Trong Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối Phẩm của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 2, có kể câu chuyện Diệu Tràng Bồ Tát (妙幢菩薩), sau khi nghe pháp xong, tâm sanh hoan hỷ, trở về chỗ của mình, đến đêm mộng thấy cái trống vàng lớn, ánh sáng rực rỡ, như vòng mặt trời. Trong ánh sáng ấy, Bồ Tát thấy có mười phương vô lượng các đức Phật, ngồi trên tòa Lưu Ly dưới cây báu; thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn chúng đang vây quanh chư Phật. Bồ Tát lại thấy có một vị Bà La Môn lấy dùi trống đánh chiếc trống bằng vàng, phát ra âm thanh lớn; trong âm thanh ấy diễn thuyết các câu kệ của pháp sám hối vi diệu. Nghe xong, Diệu Tràng Bồ Tát nhớ kỹ, đến sáng mai mang các vật phẩm cúng dường, đến Linh Thứu Sơn, nơi đức Phật đang an trú, thuật lại câu chuyện trên, được đức Phật tán thán, khen ngợi là người có nhân duyên lớn mới nghe được tiếng trống đó. Pháp Cổ là Trống Pháp, thí dụ khi đánh trống để khuyên răn, cảnh tỉnh binh lính, sách tấn mọi người; cho nên, tiếng trống cũng ví dụ cho sự thuyết pháp của chư Phật giúp cảnh tỉnh, khuyên răn mọi người trở về với con đường thiện. Xưa kia, trống được chế tạo bằng kim thuộc, ngọc, gỗ, đá, v.v. Cho đến hiện tại, phần lớn trống được làm bằng gỗ hay các loại da trâu, ngựa, heo, v.v.; cho nên có các tên gọi khác nhau tùy theo chất liệu như trống kim loại, trống đá, trống da. Về cách dùng trống, trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) có đoạn: “Ngũ Phần Luật vân: 'Chư Tỳ Kheo Bố Tát, chúng bất thời tập, Phật ngôn, hoặc đả kiền chùy, hoặc đả cổ xuy bối' (五分律云、諸比丘布薩、眾不時集、佛言、或打犍椎、或打鼓吹貝, Ngũ Phần Luật dạy rằng: 'Khi các Tỳ Kheo Bố Tát, hay chúng tăng tập trung bất thường, đức Phật dạy hoặc đánh kiền chùy [chuông], hoặc đánh trống, thổi ốc').” Khi ăn cũng đánh trống báo hiệu tập trung, như Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) có dạy rằng: “Thực biện kích cổ, chúng tập chàng chung (食辦擊鼓、眾集撞鐘, khi ăn cơm thì đánh trống, khi tập trung đại chúng thì đánh chuông).” Hay khi thuyết pháp cũng phải đánh trống thông báo, như trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 1 có đoạn rằng: “Chư thiên hữu tam thời cổ, chư thiên A Tu La cọng chiến thời đả đệ nhất cổ, Câu Tỳ La viên chúng hoa khai phu thời đả đệ nhị cổ, tập Thiện Pháp Giảng Đường thính thiện pháp thời đả đệ tam cổ (諸天有三時鼓、諸天阿修羅共戰時打第一鼓、俱毘羅園眾花開敷時打第二鼓、集善法講堂聽善法時打第三鼓, chư thiên có ba loại trống, khi chư thiên và A Tu La cùng nhau giao chiến thì đánh trống thứ nhất, khi các hoa trong vườn Câu Tỳ La bắt đầu nở thì đánh cái thứ hai, khi tập trung tại Thiện Pháp Giảng Đường để nghe thiện pháp thì đánh cái thứ ba).” Như vậy, khi đức Phật còn tại thế, trống được dùng để báo hiệu tập trung đại chúng hành lễ Bố Tát (tụng giới), ăn cơm, nghe pháp, v.v. Về sau, trống được dùng trong Thiền môn với ý nghĩa làm hiệu lịnh báo thức đại chúng thức khuya, dậy sớm; đặc biệt được dùng trong các nghi lễ, phối hợp xướng niệm, phổ thành khúc điệu để cúng dường và trang nghiêm đạo tràng, giúp cho đại chúng phát khởi tâm kính thành hơn. Tùy theo mục đích sử dụng, hiện tại trong các tự viện Phật Giáo có một số tên gọi khác nhau về trống như: (1) Pháp Cổ (法鼓), Trống Pháp, thí dụ khi đánh trống để khuyên răn, cảnh tỉnh binh lính, sách tấn mọi người; cho nên, tiếng trống cũng ví dụ cho sự thuyết pháp của chư Phật giúp cảnh tỉnh, khuyên răn mọi người trở về với con đường thiện. (2) Đăng Tòa Cổ (登座鼓), dùng để cung thỉnh pháp sư thăng tòa thuyết pháp. (3) Trà Cổ (茶鼓), loại trống được thiết trí ở phía Tây Bắc Pháp Đường của các Thiền viện, được dùng để tập trung tăng chúng dùng trà nóng. Như trong bài thơ Tây Hồ Xuân Nhật (西湖春日) của Lâm Bô (林逋, 967-1028) nhà Tống có câu: “Xuân yên tự viện cảo Trà Cổ, tịch chiếu lâu đài trác tửu kỳ (春煙寺院敲茶皷、夕照樓台卓酒旗, khói xuân tự viện gióng Trà Cổ, đêm chiếu lâu đài nhắp rượu say).” (4) Trai Cổ (齋鼓), dùng tập trung tăng chúng thọ trai. (5) Vấn Tấn Cổ (問訊鼓), trống đánh để thăm hỏi, học đạo, tham Thiền, v.v. (6) Phóng Tham Cổ (放參鼓), loại đánh báo hiệu đại chúng dùng cháo buổi chiều. Nguyên lai từ “Phóng Tham (放參)” nghĩa là ăn cháo hay bánh bao buổi chiều. Đức Phật chế chư tăng xuất gia chỉ được ăn mỗi ngày một bữa cơm, quá giờ ngọ (sau 1 giờ chiều) thì không được ăn. Trước thời nhà Đường, chư tăng Trung Quốc tuân thủ nghiêm minh nguyên tắc này; về sau trải qua diễn biến của thời gian, tăng chúng phần lớn sinh hoạt theo hình thức tự canh tác tự nuôi sống, lao động thể lực rất lớn, dần dần nguyên tắc này được thay đổi để tồn tại và phù hợp với môi trường sống. Các tự viện bắt đầu quy định cho ăn chiều (vãn xan [晚餐]), được gọi là Dược Thực (藥食, món ăn như là thuốc để cứu chữa căn bệnh khô gầy), hay Dược Thạch (藥石), có nghĩa là ăn cháo nhẹ; và có tên gọi khác là Vãn Chúc (晚粥, cháo chiều). (7) Hôn Cổ (昏鼓): trống đánh vào buổi chiều. (8) Hiểu Cổ (曉鼓): dùng vào buổi sáng sớm. (9) Canh Cổ (更鼓): trống đánh vào các canh buổi khuya. (10) Dục Cổ (浴鼓): dùng báo hiệu giờ tắm của tăng chúng. (11) Phổ Thỉnh Cổ (普請鼓): dùng để cung thỉnh toàn thể đại chúng cùng tham gia lao tác việc chùa.(12) Hỏa Cổ (火鼓): dùng báo hiệu khi có hỏa hoạn. Vào các buổi lễ lớn, các tự viện thường thỉnh Chuông Trống Bát Nhã theo bài kệ: “Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, thỉnh Phật thượng đường, đại chúng đồng văn, Bát Nhã âm, phổ nguyện pháp giới, đẳng hữu tình, nhập pháp giới, Ba La Mật môn (般若會、般若會、般若會、請佛上堂、大衆同聞、般若音、普願法界、等有情、入法界、波羅蜜門, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, thỉnh Phật thượng đường, đại chúng cùng nghe, Bát Nhã âm, nguyện khắp pháp giới, chúng hữu tình, nhập pháp giới, cửa Ba La Mật).” Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc (征婦吟曲), nguyên tác của Ðặng Trần Côn (鄧陳琨, 1715?-1745), do Ðoàn Thị Ðiểm (段氏點, 1705-1748) dịch, có câu: “Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt, khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.” Tại Long Tế Tự (龍濟寺) ở Cát Thủy (吉水), Giang Tây (江西), Trung Quốc, còn lưu lại hai câu thơ tương truyền của Thi sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) nhà Tống: “Thiên thượng lâu đài sơn thượng tự, vân biên chung cổ nguyệt biên tăng (天上樓臺山上寺、雲邊鐘鼓月邊僧, trên trời lâu đài chùa trên núi, bên mây chuông trống tăng bên trăng).”
cổ
1) Cái trống: A drum. 2) Cổ xưa: Ancient—Antique.
; (鼓) Thứ nhạc khí để đánh, tức là cái trống. Làm bằng vàng, ngọc, gỗ, đá, với hình dáng lớn nhỏ nhiều loại - thường được dùng trong các chùa viện. Có trống cá, trống mây, trống vàng, trống đá, trống treo v.v... Cách dùng thì chia làm: trống trai (trống mây báo giờ thụ trai), trống tắm (báo giờ tắm), Tụng kinh, Phạm bái (tiếng nhạc Phật giáo) v.v... Tại Ấn độ, trống phần nhiều dùng để báo giờ giấc, báo giờ canh phòng. Tại Trung quốc, lúc đầu dùng vào các nghi thức, vũ nhạc, quân trận, từ đời Đường trở về sau cũng dùng trong qui luật nhà Tăng, báo giờ giấc làm việc. Sau khi truyền đến Nhật bản, phần nhiều cũng được dùng vào việc tụng kinh, xướng kệ, nhưng chủng loại biến hóa phức tạp, chẳng hạn như Thái cổ (trống to), Nhất mai bì (trống bưng một mặt), Đoàn phiến thái cổ (trống hình quạt tròn) v.v... mà chỉ Nhật bản mới có. Cái lầu để trống, gọi là Lầu trống. Thông thường trong các chùa viện, trống và chuông được treo ở hai bên tả hữu trước đại điện, cho nên từ xưa đã có từ Chuông tả trống hữu. Theo truyền thuyết, quả trống ở nhà Thiện pháp trên cung trời Đao lợi chẳng đánh mà nó tự kêu, những người nghe tiếng trống liền khởi tâm sợ ác, sinh thiện, vì thế gọi là Thiên cổ (trống nhà trời). Cũng có khi bôi thuốc độc lên mặt trống, sau khi đánh, người nghe trống liền chết, trống ấy gọi là Độc cổ ..... (trống độc). Thiên cổ thí dụ hay sinh thiện, Độc cổ thí dụ phá ác. Cũng có thuyết thí dụ người tin Phật pháp là Thiên cổ, thí dụ người phỉ báng Phật pháp là Độc cổ. Tuy nhiên, kẻ phỉ báng Phật pháp, cuối cùng cũng có thể thành Phật, cho nên còn có thuyết Độc cổ kết duyên. Nguyên ngữ của trống có nhiều loại, trong đó, Bệ lí (Phạm: Bherì, Pàli: Bheri) là chỉ Quán cổ (Pàli: Dindima), Kiền chùy (Phạm - Pàli: Ghaịỉa) chỉ cái bảng bằng kim thuộc dùng để báo giờ giấc. Lại tiếng Phạm: Dundubhilà Đại quán cổ, tiếng Phạm, Mfdanga (Pàli: Mutiíga) là chỉ trống nhỏ (Tabor). Vì thế nên trống được chép trong kinh điển, chẳng phải là một loại đồng nhất. Tại Trung quốc từ xưa cũng đã có nhiều loại trống khác nhau, có loại bắt nguồn tại chính Trung quốc, cũng có loại từ Tây vực truyền sang. Hình dáng lớn nhỏ bất nhất, nhỏ gọi là Ứng cổ...... lớn gọi là Tẩu cổ ....... Loại có chân gọi là Túc cổ....., có cái đòn xuyên qua tang để khiêng, gọi là Doanh cổ......, treo trên cao để đánh, gọi là Huyền cổ...... Trống do giống rợ Yết làm, hình giống cái thùng gỗ sơn, cả hai đầu đều có thể đánh, gọi là Yết cổ...... [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Pháp khí chương - Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn].
Cổ bồn
(鼓盆): đánh vào cái bồn rửa mặt, tỷ dụ niềm đau mất vợ. Từ này phát xuất từ trong Trang Tử (莊子), phần Chí Lạc (至樂): “Trang Tử thê tử, Huệ Tử điếu chi; Trang Tử tắc phương ky cứ cổ bồn nhi ca; Huệ Tử viết: 'Dữ nhân cư, trưởng tử, lão, thân tử, bất khốc diệc túc hỉ, hựu cổ bồn nhi ca, bất diệc thậm hồ ?' (莊子妻死、惠子吊之、莊子則方箕踞鼓盆而歌、惠子曰:與人居、長子、老、身死、不哭亦足矣、又鼓盆而歌、不亦甚乎, vợ của Trang Tử mất, Huệ tử đến đi điếu; Trang Tử bèn ngồi xoạc chân ra đánh vào chậu mà hát; Huệ Tử nói: 'Ông cùng bà chung sống, nuôi con khôn lớn, rồi già và chết đi, không khóc là đủ rồi; nhưng lại đánh vào chậu mà hát, không quá đáng lắm sao ?').” Do đó, từ “cổ bồn”, “cổ bồn nhi ca (鼓盆而歌)”, “cổ bồn ca (鼓盆歌)”, “cổ bồn chi thích (鼓盆之戚)”, “cổ bồn chi thán (鼓盆之嘆)”, v.v., đều được dùng để ví cho người vợ qua đời, để tang vợ cũng như nỗi đau mất vợ.
cổ chuyết vi tiếu
(古拙微笑) Tiếng Anh: Archaic smile. Chỉ nụ cười mỉm của cái phong cách đặc thù được thể hiện trên vành môi của các pho tượng chạm trổ thời xưa, như tại Ai cập, Hi lạp ở thời kì đầu. Những pho tượng Phật khắc ở hang đá Vân cương vào thời Lục triều của Trung quốc, thời Phi Tháp ở Sơn Kì Đầu Cột Đá do Vua A Dục xây dựng Tượng Bồ Tát khắc nổi ở hang đá thứ 7 ở Vân Cương điểu, Bạch phượng của Nhật bản (được khắc vào thời kì Thiên bình), hai khóe miệng hơi hơi nhếch, biểu hiện vẻ mặt mỉm cười, đó là phương thức chung của thời xưa biểu đạt tình cảm dân tộc.
cổ côn
(古昆) (? - 1892) Vị tăng cuối đời Thanh. Người Thượng nhiêu, Giang tây. Tự Ngọc phong, hiệu Luyến tây. Xuất gia ở chùa Phổ minh lúc hơn mười tuổi, đọc các kinh Đại thừa, thụ giới Cụ túc ở chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai. Một ngày kia sư nghe tiếng chuông mà tỉnh ngộ. Năm Hàm phong thứ 5 (1855), ở chùa Sùng phúc tại Hàng châu, sư đọc A di đà kinh lược giải viên trung sao của vị tăng đời Minh là U khê Truyền đăng mà cảm ngộ, rồi tự xưng là hậu duệ của U khê, nghiêm trì giới luật, một lòng thệ nguyện niệm Phật vãng sinh, tự định mỗi ngày niệm sáu vạn biến danh hiệu Phật, hai thời hồi hướng. Ngoài ra, còn khắc in những kinh luật Đại thừa và các kinh điển có liên hệ với tín ngưỡng Di đà, tăng tục đến qui y rất đông. Năm Quang tự 15 (1889), đáp lời thỉnh cầu của Tịnh quả, sư đến ở chùa Tây phương tại Minh châu. Tháng 7 năm Quang tự 18 sư bệnh mà tịch. Có viết Tịnh độ tùy học 2 quyển, Tịnh độ tất cầu, Liên tôn tất độc, Niệm Phật yếu ngữ, Niệm Phật tứ đại yếu quyết, Tịnh độ tự cảnh lục, Tịnh độ thần châu, Tây qui hành nghi, Vĩnh minh Thiền sư niệm Phật quyết, Niệm Phật khai tâm tụng, Thượng phẩm tư lương v.v... mỗi thứ đều 1 quyển. [X. Chủng liên tập (Tịnh độ Thánh hiền lục tục biên Q.cuối) - Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều)].
cổ hủ
Old-fashioned.
cổ kim
Ancient and modern—Past and present.
cổ kim dịch kinh đồ kỉ
(古今譯經圖紀) Gồm 4 quyển. Do ngài Tĩnh mại đời Đường soạn. Cũng gọi là Dịch kinh đồ kỉ. Thu vào Đại chính tạng tập 55. Tuy dựa theo Lịch đại tam bảo kỉ của Phí trường phòng đời Tùy, nhưng đổi lại thứ tự của thời đại dịch kinh và các dịch giả, đồng thời, bỏ đi những sự thực về việc dịch kinh mà không được rõ. Liệt kê từ ngài Ca diếp ma đằng đời Minh đế nhà Hán đến Tam tạng Huyền trang đời Đường, cộng các kinh luận của 117 người dịch, phía dưới có phụ tiểu sử của các dịch giả. Sách này nguyên là văn đề tựa Cổ kim dịch kinh đồ biến (Vẽ trên vách nhà dịch kinh trong chùa Đại từ ân) của ngài Tĩnh mại. Về sau, năm Khai nguyên 18 (730), ngài Trí thăng soạn Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ 1 quyển, ghi thêm từ ngài Trí thông đến ngài Kim cương trí và cộng các kinh luận của hai mươi mốt người truyền dịch. [X. Tống cao tăng truyện Q.4, Q.5 - Khai nguyên thích giáo lục Q.11, Q.13].
cổ kim khải định thích
(古今楷定釋) Gồm bốn quyển. Cũng gọi là Quán vô lượng thọ kinh sớ, Khải định sớ. Do ngài Thiện đạo (613 - 681) đời Đường soạn. Thu vào Đại chính tạng tập 37. Sách này là sách chú sớ kinh Quán vô lượng thọ. Bài tựa sau sách nói (Đại 37, 278 thượng): Nếu muốn rõ nghĩa trọng yếu của kinh Quán vô lượng thọ, thì phải quyết định xưa và nay. Tiếng Xưa ở đây là chỉ Quán kinh sớ của các ngài Tịnh ảnh (Tuệ viễn), Gia tường (Cát tạng) và Thiên thai (Trí khải) - tiếng Nay thì chỉ Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo và của các nhà Tịnh độ đồng thời với Thiện đạo giải thích. Còn Khải định có nghĩa là quyết định phải trái để làm khuôn phép cho đời sau. Sách này rất được các dòng Tịnh độ coi trọng. Là vì các ngài Tịnh ảnh, Gia tường v.v... chủ trương tự lực tu hành, ngộ đạo thành Thánh, còn ngài Thiện đạo thì chủ trương nhờ sức bản nguyện và xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà để vãng sinh Tịnh độ. Nhưng lí Thánh đạo sâu xa khó ngộ, cho nên xưa nay các nhà Tịnh độ coi trọng thuyết của ngài Thiện đạo hơn. Trọn bộ sách chia làm bốn thiên là: Huyền nghĩa phần, Tự phần nghĩa, Định thiện nghĩa và Tán thiện nghĩa, mỗi thiên là một quyển. Huyền nghĩa phần nói tóm tắt ý nghĩa trọng yếu của kinh Quán vô lượng thọ, đồng thời, phá sự hiểu lầm của các nhà xưa cũng như nay và giải thích thông suốt những chỗ ngờ vực khó tin trong kinh, ba thiên còn lại lần lượt giải thích kinh văn. [X. Vãng sinh yếu tập nghĩa kí Q.5 - Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].
cổ kim phật đạo luận hành
(古今佛道論衡) Gồm bốn quyển. Do ngài Đạo tuyên đời Đường soạn. Còn gọi là Tập cổ kim Phật đạo luận hành. Thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung trình bày sự tranh luận giữa các nhà Phật giáo và Đạo giáo bắt đầu từ việc đấu khẩu vào thời Minh đế nhà Hậu Hán, rồi chung kết với việc phê bình vấn nạn về nghĩa Trang, Dịch ở nhà Tư thành tuyên Phạm nghĩa quân vào thời Cao tông nhà Đường, có tất cả ba mươi ba mục. Bài tựa của soạn giả ở đầu sách đề niên hiệu Long sóc năm đầu. Ngài Trí thăng đời Đường thì soạn Tục tập cổ kim Phật đạo luận hành 1 quyển. [X. Đại đường nội điển lục Q.10 - Khai nguyên thích giáo lục Q.8 - Tân đường thư nghệ văn chí 49].
cổ kim độc lộ ẩn hiển vô phương
(古今獨露隱顯無方) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hình dung con đường Phật pháp siêu việt thời gian, không gian, thường đứng một mình và hiển bày rõ ràng. Cổ kim, biểu thị thời gian - Vô phương, dứt hết phương sở, vị trí, biểu thị không gian. Đứng một mình giữa khoảng xưa và nay, hoặc ẩn hoặc hiển, không có chỗ nhất định, tức là siêu việt hết thảy thời gian không gian. Trong Thiền lâm, loại khái niệm này thường được dùng để biểu thị chân lí của Phật pháp, không bị hạn cuộc bởi thời không gian. Viên thông đại ứng quốc sư ngữ lục quyển thượng (Đại 80, 95 hạ) ghi: Cổ đức nói: Nếu nêu ra toàn thể tông thừa, thì các ông hướng vào đâu mà lãnh hội? Vì thế xưa nay đứng một mình, ẩn hiện không có phương.
cổ kiếm diệu khoái
(古劍妙快) Vị tăng tông Lâm tế Nhật bản. Cổ kiếm là tên tự, không rõ họ gì. Xuất gia lúc còn ít tuổi, theo Mộng song Sơ thạch, sau vượt biển đến Trung quốc, đi khắp các núi, lần lượt tham yết Thứ trung uẩn, Sở thạch kì, Mục am khang v.v... Sau khi sư trở về Nhật bản, ở tại kinh đô, rất được Mạc phủ lúc bấy giờ là Túc lợi Nghĩa mãn tin cậy, mời ở chùa Kiến nhân. Sư giỏi văn chương, cùng với Tuyệt hải Trung tâm, Nghĩa đường Chu tín cũng nổi danh. Có Ngữ lục và Liễu huyễn tập lưu hành ở đời. Năm sinh năm mất và tuổi thọ đều không rõ. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.36]
cổ kính
Là gương xưa, dụ cho chơn như Phật tánh. Sự chiếu soi khắp không gian thời gian nhưng không có ý niệm chiếu soi.
; Ancient.
cổ lai
From ancient times.
cổ lai thực hữu tông
See Khứ Lai Thực Hữu Tông.
cổ linh khai bội
(古靈揩背) Cổ linh kì (cọ) lưng. Tên công án trong Thiền tông. Là công án của Thiền sư Cổ linh Thần tán đời Đường, sau khi khai ngộ, hiển bày cơ phong của mình. Cổ linh bắt đầu xuất gia ở chùa Đại trung thuộc Phúc lâm, sau từ biệt thầy mình rồi đi tham học khắp bốn phương, khi gặp ngài Hoài hải ở núi Bách trượng mới khai ngộ đắc pháp. Sau khi được pháp lại trở về nơi thầy của mình. Một hôm, thầy tắm, sư Cổ linh kì lưng cho thầy, trong lúc kì cọ, đối ứng tự nhiên, phóng ra bắt lại, mặc sức tự do, không gì trở ngại, để lộ rõ cái cơ phong sau khi đã ngộ phép Thiền. Ngũ đăng hội nguyên quyển 4 chương Cổ linh Thần tán (Vạn tục 138, 63 hạ), nói: Một hôm, thầy tắm, sai Cổ linh kì lưng, Cổ linh bèn vỗ lưng thầy và nói: Nhà Phật đẹp quá! Mà Phật chẳng thiêng!. Thầy ngoái lại nhìn, Cổ linh nói tiếp: Phật tuy chẳng thiêng, nhưng có thể phóng ra ánh sáng. Trong tắc công án này, lúc đầu Cổ linh nói Nhà Phật đẹp quá là lấy nhà Phật làm thí dụ để ám chỉ lưng của thầy mình, tiếp theo nói Nhà Phật chẳng thiêng là có ý than thở tiếc rằng thầy chưa ngộ. Thầy không nói gì được mới quay lại nhìn Cổ linh. Đến đây, Cổ linh nắm lấy cơ duyên, nói ngay Phật tuy chẳng thiêng, nhưng có thể phóng ra ánh sáng. Như thế chứng tỏ cái cơ phong Thiền pháp của Cổ linh, buông ra bắt lại, không hề trở ngại, khi nói khi lặng, khi động khi tĩnh, rõ ràng là hiển bày cái cảnh giới đã siêu việt hẳn thầy mình.
Cổ Lâm Thanh Mậu
(古林清茂, Kurin Seimu, 1262-1329): vị Thiền tăng dưới thời nhà Nguyên, xuất thân Lạc Thanh (樂清), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ Lâm (林), tự là Cổ Lâm (古林), hiệu Kim Cang Tràng (金剛幢), Lâm Cư Tẩu (林居叟), thông xưng là Mậu Cổ Lâm (茂古林). Ông nổi tiếng ở nước ngoài nhờ bút pháp của mình. Năm 12 tuổi, ông xuất gia với Cô Nham Khải (孤巖啓) ở Quốc Thanh Tự (國清寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山). Sau đó, gặp phải nạn giặc giả đầu thời nhà Nguyên, ông đi ngao du khắp thiên hạ, tham vấn Giản Ông Cư Kính (簡翁居敬) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山) vùng Minh Châu (明州), Thạch Lâm Hành Củng (石林行鞏) ở Nam Bình (南屏), và Giác Am Mộng Chơn (覺庵夢眞) ở Thừa Thiên (承天). Bên cạnh đó, ông còn đến làm môn hạ của Hoành Xuyên Như Củng (横川如珙) ở Nhạn Hoằng Năng Nhân Tự (鴈宏能仁寺), tinh tấn tu hành và đến năm 19 tuổi thì kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông trở về lại Quốc Thanh Tự. Vào năm thứ 2 (1298) niên hiệu Đại Đức (大德) nhà Thanh, ông lui về ẩn cư tại Bạch Vân Tự (白雲寺) trên Thiên Bình Sơn (天平山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府); 9 năm sau ông chuyển về Khai Nguyên Tự (開元寺) và không bao lâu sau lại về ẩn cư trên Hổ Kheo Sơn (虎丘山), chuyên tâm thêm niêm bình cho Bách Tắc Tụng Cổ (百則頌古) của Tuyết Đậu (雪竇). Đến năm đầu (1312) niên hiệu Hoàng Khánh (皇慶), ông trở lại Khai Nguyên Tự và nhờ có sự đề bạt của Dương Quốc Công (楊國公), ông được ban cho hiệu là Phù Tông Phổ Giác Phật Tánh Thiền Sư (扶宗普覺佛性禪師). Vào năm thứ 2 (1315) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông chuyển đến sống tại Vĩnh Phước Tự (永福寺) vùng Nhiêu Châu (饒州, Huyện Bà Dương, Tỉnh Giang Tây), rồi Bảo Ninh Tự (保寧寺) ở Phụng Đài Sơn (鳳臺山) vùng Kiến Khang (建康) trong vòng 6 năm. Đến cuối đời, ông phụng mệnh triều đình tham dự Đại Hội Kim Sơn, được tôn xưng là Vương Thần Đại Phu (王神大夫), cho nên hàng sĩ thứ, thứ dân đến cầu pháp trên cả ngàn người. Vào năm thứ 2 (1329) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi. Đệ tử kế thừa dòng pháp của ông có Liễu Am Thanh Dục (了庵清欲), Trọng Mưu Lương Du (仲謀良猷), Trúc Tiên Phạn Tiên (竹仙梵僊). Sau Phạn Tiên sang Nhật Bản, khai sáng ra Phái Trúc Tiên trong số 24 dòng phái của Thiền Tông. Ngữ Lục của ông có Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Ngữ Lục (古林清茂禪師語錄) 5 quyển, Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師語錄拾遺偈頌) 2 quyển, Sơ Trú Bình Giang Phủ Thiên Bình Sơn Bạch Vân Thiền Tự Ngữ Lục (初住平江府天平山白雲禪寺語錄), Khai Nguyên Thiền Tự Ngữ Lục (開元禪寺語錄).
cổ lâu
(鼓樓) Cái lầu treo trống. Vị trí cổ lâu được đặt ở bên phải Đại điện hoặc nhà giảng, đối diện với lầu chuông, vì thế từ xưa đã nói: Chuông bên trái, trống bên phải. Trống được treo trên tầng cao nhất của lầu trống. Vào những dịp lễ lớn, đánh trống để thông báo giờ tăng tục tề tựu. Lầu chuông xưa nhất hiện còn tại Trung quốc là lầu chuông trước Đại hùng bảo điện của chùa Thiếu lâm ở huyện Đăng phong tỉnh Hà nam, được kiến tạo vào khoảng năm Đại đức (1297 - 1307) đời Nguyên.
cổ lễ
Ancient rites.
cổ lệ
Ancient customs.
cổ nguyệt
(古月) (1843 - 1919) Vị Tăng tông Tào động cuối đời Thanh. Người Phúc châu, Phúc kiến, họ Chu. Tự Viên lãng. Mười tám tuổi trì trai, hai mươi tuổi đến Cổ sơn xuất gia, tham cứu tâm yếu. Từng ngồi thiền trên núi Linh kiệu, theo nói, thì khi đêm xuống, người ta thấy trên núi phóng ra ánh sáng. Sư có thể hàng phục trăn rắn, mãnh thú và chữa bệnh cho Lầu Trống chùa Thiếu Lâm người. Bởi thế, các sĩ đại phu ở Phúc kiến phần nhiều đều đến tham yết, tăng tục vài nghìn người đến qui y, chùa Dũng tuyền ở Cổ sơn nhân thế mà hưng thịnh. Đạo tràng này sánh ngang với các tùng lâm Kim sơn, Cao mân, đại biểu của tông Lâm tế đương thời, vả lại, sư kiêm tu cả pháp môn Tịnh độ. Về cuối đời, sư ở chùa Sùng phúc, hoặc ẩn trong hang núi, hoặc làm nhà cỏ, lúc ẩn lúc hiện không chừng. Tháng 7 năm Dân quốc thứ 8, sư tắm gội xong, thắp hương, ngồi niệm Phật mà tịch, thọ bảy mươi bảy tuổi. [X. Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều)].
Cổ Nguyệt Đạo Dung
(古月道融, Kogetsu Dōyū, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Cổ Nguyệt (古月), pháp từ của Đồ Độc Trí Sách (塗毒智策). Nhân đọc cuốn La Hồ Dã Lục (羅湖野錄) ông cảm kích, cho nên suốt 30 năm trường ông đã thâu tập những việc thiện của các vị danh tăng xưa nay thông qua thấy nghe mà biên tập thành bộ Tùng Lâm Thạnh Sự (叢林盛事) 2 quyển.
cổ ngạn
Old proverb.
cổ ngữ
Ancient language.
cổ nhân
The ancients.
cổ nhân minh
(古因明) Chỉ Nhân minh cũ trước thời ngài Trần na. Nhân minh đã khởi nguồn ở Ấn độ từ rất sớm, cứ theo truyền thì do ngài Mục túc (Phạm: Akwapàda), tổ của học phái Ni dạ da (Phạm:Nyàya) trong sáu phái triết học đặt ra, để nghiên cứu điểm chính (chính xác không lầm), điểm tự (tựa hồ như đúng mà sai) v.v... của Nhân (lí do), để bác bỏ luận điểm của đối phương (địch giả) mà kiến lập học thuyết của chính mình. Sau khi hưng khởi, Nhân minh đã được các phái coi trọng và vận dụng. Lúc mới được đặt ra, Nhân minh thành lập năm phần tác pháp, tức là: Tông (mệnh đề), Nhân (lí do), Dụ (thí dụ), Hợp (lí do tương phản), Kết (mệnh đề tương phản), còn đặt ra những qui định chín câu Nhân, mười bốn loại lỗi v.v... thể hệ rất là phiền tạp, mà nội dung lại không hoàn bị. Đến khoảng thế kỉ thứ V Tây lịch, một học giả Phật giáo là ngài Trần na mới cải cách Nhân minh đương thời, xác lập thuyết ba tướng Nhân, đổi năm chi tác pháp làm ba chi tác pháp Tông, Nhân, Dụ, đơn giản hóa thể hệ, trình bày lại nội dung, khiến lí luận Nhân minh chặt chẽ chu toàn, đến đây, Nhân minh mới trở thành môn luận lí học hoàn chỉnh. Các nhà Nhân minh học gọi Nhân minh từ ngài Trần na trở về trước là Cổ Nhân minh, và gọi Nhân minh từ khi ngài Trần na cải cách trở về sau là Tân Nhân minh. [X. luận Du già sư địa Q.15 - luận Hiển dương thánh giáo Q.11 - Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1 - Nhân minh luận sớ Thụy nguyên kí Q.1]. (xt. Nhân Minh).
cổ nhạc huyền ca
Trống nhạc và ca với đàn dây—Drum music and singing with stringed instruments.
cổ niệm
(古念) (1842 – 1916) Vị Thiền tăng cuối đời Thanh. Người Chung tường, Hồ bắc, họ Thư. Tự Thanh nhất, hiệu Ảo ảnh. Nhà nghèo, lúc ngoài hai mươi tuổi, cha mẹ đều mất, vào Văn xương các ở trong ấp xin xuất gia. Hành cước đến chùa Thiền nguyên trên núi Thiên mục, tỉnh Chiết giang, nối pháp ngài Quảng phúc thanh. Sau đến Kim sơn, Cửu hoa sơn. Năm Quang tự 20 (1894), sư làm nhà cỏ ở trên núi Ngũ đài. Sáu năm sau, đến chùa Long tuyền ở Bắc lương đọc hết kinh tạng, khi ấy gặp biến cố Nghĩa hòa đoàn, trong thành Bắc lương đâu đâu cũng hỗn loạn, không yên, riêng chùa sư ở là tuyệt không có dấu vết ngựa, lính, cho nên tiếng đạo mỗi ngày mỗi cao, người đến hỏi đạo mỗi ngày một đông. Cuối đời, sư dời đến ở chùa Quảng tế, khai giảng kinh luận, người đến qui y có hơn nghìn người, Phật giáo Bắc lương nhân đó đại thịnh. Mùa đông năm Dân quốc thứ 5, sư lập đạo tràng Thủy lục trong chùa, đang đau (ốm) mà vẫn đăng đàn thuyết pháp, khi đạo tràng kết thúc sư ngồi ngay ngắn mà tịch, thọ bảy mươi tư tuổi. Dựng tháp ở núi Đại dương. Để lại trứ tác Tông kính tiệp yếu 4 quyển. Người đời thờ phụng làm vị cao tăng tông Lâm tế thời cận đại. [X. Tân tục cao tăng truyện Q.26 - Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều)].
cổ phàm vị quải
(古帆未掛) Buồm xưa chưa treo. Tên công án trong Thiền lâm. Công án này được Thiền sư Nham đầu Toàn khoát đời Đường ở núi Nham đầu dùng để tiếp dẫn học trò. Cứ theo Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 chương Nham đầu chép, thì có vị tăng hỏi ngài Nham đầu (Vạn tục 138, 117): Khi buồm xưa chưa trương lên thì thế nào? Nham đầu đáp: Cá bé nuốt cá lớn. Lại có vị tăng khác cũng hỏi như câu trước, thì Nham đầu trả lời: Con lừa đang ăn cỏ ở vườn sau. Cùng một câu hỏi, trước thì đáp Cá bé nuốt cá lớn đã trái hẳn với thường thức của thế gian, sau lại trả lời Con lừa đang ăn cỏ ở vườn sau, cũng lại khác với câu trả lời trước. Đây là ngài Nham đầu đem tinh thần nhậm vận tự tại để phá trừ sự chấp trước của học trò đối với các sự lí tầm thường.
Cổ Phật
古佛; J: kobutsu; nguyên nghĩa là một vị Phật của thời xa xưa.|Danh hiệu này được sử dụng để tỏ sự kính trọng trước một người đã đạt Giác ngộ thâm sâu. Các vị Thiền sư cũng thường sử dụng danh từ này trong các Ngữ lục của mình để chỉ các vị Tổ sư, các bậc tiền bối.
cổ phật
Kobutsu (J)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; (古佛) Từ tôn xưng đối với chư Phật hoặc các bậc cao đức thời xưa. Tức tôn xưng chư Phật ở thời xa xưa, bảy đức Phật ở quá khứ, hoặc chỉ Phật Bích chi, Phật Thích ca, Phật Tì lô xá na v.v... hoặc đối với các bậc cao tăng đại đức. Kinh Đại nhật quyển 2 (Đại 18, 11 hạ), nói: Nên nói rộng về Quán đính mà cổ Phật đã mở bày. Đại tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 237 trung), nói: Cuối đời Hán, đầu đời Ngụy, sự truyền dịch kinh điển dần dần hưng thịnh, có người dịch chữ Phật là Chúng hựu, có người dịch Bích chi là Cổ Phật. Lại cứ theo kinh Lục tổ pháp bảo đàn, thì số lượng cổ Phật ra đời không thể tính được, nay lấy bảy Phật làm đầu. Bởi thế nên biết cổ Phật cũng chỉ cho bảy đức Phật ở quá khứ. Trong Thiền tông, từ Cổ Phật được dùng để tôn xưng các bậc cao tăng đại đức thường thấy trong các bộ Thiền lục thì có: Triệu châu cổ Phật, Tào khê chân cổ Phật, Hoành trí cổ Phật, Tiên sư thiên đồng cổ Phật v.v... Còn cổ Phật tâm thì chỉ Phật tâm. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.28 - Bích nham lục tắc 16 - Thung dung lục tắc 42 - Tục Phật tổ thống kỉ Q.1 truyện Mông nhuận).
cổ sơ
Ancient times.
cổ sơn
(鼓山) Vị trí núi nằm về bắc ngạn sông Mân mạn đông Phúc châu tỉnh Phúc kiến. Thế núi chạy dài mười bảy cây số, trên ngọn núi có những tảng đá lớn hình giống như những cái trống, vì thế gọi là Cổ sơn. Dãy núi do một số ngọn tổ thành, ngọn cao nhất gọi là Đại đính phong (còn gọi là Lực tắc phong, núi cao to). Ngoài ra, còn có Bạch vân phong (tục còn gọi là Tiểu đính phong), Phượng trì phong, Hương lư phong, Bát vu phong, Đông phong, Song kế phong, Sư tử phong. Trên núi vốn có chùa Hoa nghiêm, tương truyền là nơi Thiền sư Linh kiệu đã hàng phục con rồng độc vào năm Kiến trung thứ 4 (783) đời Đường. Sau Pháp nạn Hội xương thì chùa bị hoang phế. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, Mân chủ vương kiến tạo lại và thỉnh đệ tử của Ngài Tuyết phong Nghĩa tồn là Thần án về trụ trì. Thời Chân tông nhà Tống, vua ban ngạch là Cổ sơn Bạch vân phong Dũng tuyền Thiền viện. Đến năm Vĩnh lạc thứ Toàn cảnh chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn5 (1407) đời Minh, đổi tên là Dũng tuyền tự. Năm Gia tĩnh 21 (1542) chùa bị thiêu hủy. Sau, các sư Vĩnh giác Nguyên hiền, Vi lâm Đạo bái, Biến chiếu Hưng long, Quan diệu, Không lão v.v... sửa sang làm lại, các nhà điện, lầu gác, Tam quan, phòng xá dần dần mới đầy đủ. Những cấu trúc còn lại đến nay đều do các sư Nguyên hiền, Đạo bái làm lại sau, điện đường, lầu gác hoàn bị, thực hiếm thấy trong các ngôi chùa Phật hiện còn tại Trung quốc. [X. Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 179 - Chức phương điển thứ 1040 - Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.6].
cổ sơn chí
(鼓山志) Gồm mười bốn quyển. Do Hoàng nhậm đời Thanh soạn. Thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Cổ sơn nằm về mạn đông Phúc châu tỉnh Phúc kiến, phía nam tới Mân giang, phía đông trông ra vụng biển, phong cảnh đẹp đẽ. Thiền sư Linh kiệu đời Đường sáng lập đạo tràng tại đây, gọi là chùa Hoa nghiêm, Lương hồng đời Ngũ đại kế tục mở Tùng lâm. Trong núi có chùa Dũng tuyền nổi tiếng, là ngôi chùa Phật đứng vào bậc nhất ở đất Mân. Nay các chùa tại Đài loan, rất nhiều người đã từng qui y ở chùa Dũng tuyền mà ra. Các ghi chép về Cổ sơn, cũ thì có Linh nguyên tập, do Liễu tâm, vị tăng cuối đời Minh sưu tập, về sau, Hoàng dụng trung biên tập Cổ sơn chí đại lược, chưa xong thì bỏ. Rồi đến Từ hưng công và Tạ phương bá biên tiếp, đến ngài Nguyên hiền, vị tăng đời Minh lại biên tiếp và sửa chữa. Năm Càn long 26 (1761), Hoàng nhậm lại soạn Cổ sơn tân chí 14 quyển, quyển đầu có vẽ đồ, theo thứ tự chia làm mười môn: cảnh đẹp,chùa viện, cầu đình, tháp Thiền, tích xưa,sa môn, ruộng tặng, bia đá, văn nghệ, ngoại kỉ. Trong đó, mấy thiên văn nghệ chiếm một nửa, đủ biết văn nhân các thời đại đã ngâm vịnh khá nhiều, và cũng có thể thấy tiếng tăm chùa Dũng tuyền thịnh biết chừng nào.
cổ sơn hệ
(鼓山系) Là hệ phái Thiền tông lấy Thiền sư Vĩnh giác Nguyên hiền (1578 - 1657) đời Minh làm Tông tổ. Khoảng cuối Minh đầu Thanh ngài Nguyên hiền ở chùa Dũng tuyền trên Cổ sơn thuộc Phúc châu (Phúc kiến), phát dương Thiền phong tông Tào động, tự gọi Cổ sơn Thiền. Chủ trương kết hợp Thiền, Tịnh, Nho, Thích, đồng thời, hết sức dung hòa sự đối chọi giữa hai phái Lâm tế và Tào động trong nội bộ Thiền tông, và học theo tinh thần tu trì và lao động của ngài Bách trượng. Sự truyền thừa của hệ phái Thiền Cổ sơn là: Vĩnh giác Nguyên hiền, Vi lâm Đạo bái, Duy tĩnh Đạo an, Hằng đào Đại tâm, Viên ngọc Hưng ngũ, Tượng tiên Pháp ấn, Đạm nhiên Pháp văn, Đường mẫn Pháp đạm và Biến chiếu Hưng long, truyền nối mãi đến những năm cuối đời Thanh. Cùng với hệ Bác sơn do sư Vô dị Nguyên lai sáng lập tại Bác sơn thuộc Giang tây, và hệ Tiêu sơn lấy chùa Định tuệ tại Tiêu sơn thuộc Giang tô làm trung tâm, đều là các chi phái thuộc tông Tào động.
cổ sơn nguyên hiền
Ku shan Yuan hsien (C)Tên một vị sư.
cổ sơn thánh tiễn
(鼓山聖箭) Tên công án trong Thiền tông. Công án của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn đời Đường bày tỏ sự tán đồng và tín nhiệm đối với năng lực của học trò là Cổ sơn Thần án. Cứ theo Thiền uyển mông cầu quyển hạ chép, thì một ngày kia, Cổ sơn được Đại vương mời, thầy là Thuyết phong đưa chân ra đến cửa Tam quan, khi trở vào đến Pháp đường ngài Tuyết phong than rằng (Vạn tục 148, 139 hạ): Một mũi tên Thánh bắn thẳng vào trong thành chín lớp đã đi rồi! Tiếng mũi tên Thánh (Thánh tiễn) ở đây là thí dụ tâm của người đã rỗng suốt và năng lực ưu tú. Lúc ấy, một học trò khác của ngài Tuyết phong là Thượng tọa Thái nguyên phu nghe nói, hơi nghi ngờ về khả năng của Cổ sơn, bèn chạy đến nửa đường để khám nghiệm. Phu hỏi: Sư huynh đi đâu thế? Cổ sơn bắt chước lời của thầy nói lúc nãy, đáp: Đi vào trong thành chín lớp. Thượng tọa Phu lại hỏi: Lỡ gặp ba quân vây hãm thì lúc đó ra sao?. Thành chín lớp tuy nghiêm mật kiên cố, phòng bị đầy đủ, nhưng thảng hoặc gặp ba quân vây khốn, thì khó mà thoát nạn. Thượng tọa Phu dùng ý đó để thí dụ cảnh ngộ của Cổ sơn, ám chỉ cái mà Cổ sơn ngộ được chưa phải là triệt để, khi gặp nguy khốn tất sẽ rối loạn. Cổ sơn thì không cho như thế, nên đáp: Nhà họ tự có đường thông lên trời. Một câu miêu tả thật nhẹ nhàng, chứng tỏ Cổ sơn đã có bản lãnh có thể chuyển hung thành cát, trong trường hợp lâm nguy, cũng còn ngụ ý là dù có bị ba quân vây khốn đi nữa, thì việc ấy có dính dáng gì đến ông. Câu trả lời có tính cách vừa đánh vừa ép, khiến thượng tọa Phu mất dần cơ phong, nhưng ông vẫn cố bám: Như vậy thì bỏ mất cung điện mà đi à? Cổ sơn đáp ngay: Ở đâu mà chẳng được tôn kính? Dời bỏ cung điện mà ở đâu cũng được tôn kính, thì cảnh giác ngộ của Cổ sơn thật là như như bất động, Thượng tọa Phu nghe câu nói ấy rồi, chỉ phủi tay áo mà quay về. Điều đó cho thấy trước kia ngài Tuyết phong đã thừa nhận trình độ của sư Cổ sơn, không những triệt để tin cậy vào năng lực của sư, mà cũng còn biết trước được rằng bất cứ ở nơi nào, sư cũng đều phát huy đầy đủ chỗ hiểu biết của mình.
Cổ Sơn Thần Yến
(鼓山神晏, Kuzan Shinan, 862-938): nhân vật sống vào khoảng cuối đời nhà Đường. Năm lên 13 tuổi, ông có linh mộng, theo xuất gia với Bạch Lộc Sơn Quy (白鹿山規), rồi thọ Cụ Túc giới ở Tung Nhạc (嵩岳). Về sau, ông đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, theo học với Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, vua nhà Mân đến tham học pháp yếu với ông, mến mộ đạo phong ông, nên nhà vua đã cho xây Dũng Tuyền Thiền Viện (湧泉禪院) ở Cổ Sơn (鼓山), Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), thỉnh ông làm trú trì ngôi viện này để diễn xướng tông phong của mình. Ông thị tịch vào khoảng niên hiệu Thiên Phước (天福, 936-944), hưởng thọ 77 tuổi, và được ban thụy hiệu là Hưng Thánh Quốc Sư (興聖國師). Ông có 1 quyển Ngữ Lục là Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập (鼓山先興聖國師和尚法堂玄要廣集).
Cổ Sơn Thần Yến Thiền Sư Ngữ Lục
(鼓山神晏, Kuzanshinanzenjigoroku): xem Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập (鼓山先興聖國師和尚法堂玄要廣集, Kuzansenkōshōkokushioshōhattōgenyōkōshū) bên dưới.
cổ sơn thần yến thiền sư ngữ lục
(鼓山神晏禪師語錄) Có một quyển. Nói đủ là Cổ sơn tiên hưng thánh quốc sư hòa thượng pháp đường huyền yếu quảng tập. Cũng gọi là Hưng thánh quốc sư huyền yếu quảng tập. Do ngài Cổ sơn Thần án, vị tăng ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, soạn, ấn hành vào năm Thiệu hưng thứ 8 (1138) đời Tống. Thu vào Vạn tục tạng tập 118 Cổ tôn túc ngữ lục quyển 37. Nội dung thu chép những bài nói pháp trọng yếu, những lời sư khám nghiệm tăng chúng, những lời hỏi các bậc lão túc của các viện, những lời hỏi pháp của các đế vương, các bài kệ tụng và bài Bạt của Sĩ khuê, vị tăng đời Tống.
Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập
(鼓山先興聖國師和尚法堂玄要廣集, Kuzansenkōshōkokushioshōhattōgenyōkōshū): 1 quyển, còn gọi là Cổ Sơn Thần Yến Thiền Sư Ngữ Lục (鼓山神晏, Kuzanshinanzenjigoroku), do Cổ Sơn Thần Yến (鼓山神晏) soạn, san hành năm thứ 8 (1138) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興). Vốn thâu tập những Ngữ Lục của Cổ Sơn Thần Yến, tác phẩm này được thâu lục vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 4 và Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) 37. Nội dung của nó gồm những ngữ yếu thượng đường, lời vấn đáp với các vị tăng, lời dạy của chư vị tôn túc ở các nơi, lời thăm hỏi của các bậc đế vương, cọng thêm lời tựa của Thiệu Văn (紹文) ghi năm thứ 3 (965) niên hiệu Càn Đức (乾德) và văn lời bạt do Sĩ Khuê (士珪) ở Cổ Sơn soạn vào năm thứ 8 (1138) niên hiệu Thiệu Hưng đời vua Cao Tông nhà Nam Tống.
cổ sử
Ancient history.
cổ tam luận
(古三論) Chỉ cho tông Tam luận do ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần truyền lại. Vốn từ Sa xa vương tử của nước Cưu tư truyền cho ngài La thập. Sau khi đến Trung quốc, ngài La thập truyền cho các sư Đạo sinh, Đàm tế, Đạo lãng v.v... Vì khác với tông Tam luận do ngài Nhật chiếu đời Đường truyền, cho nên gọi là Cổ tam luận. Còn một thuyết nữa cho rằng vào thời Vũ đế nhà Lương, có ngài Tăng thuyên ở chùa Chỉ quán tại Niếp sơn truyền bá cái học Tam luận, Tam luận từ ngài Tăng thuyên trở về sau được gọi là Tân tam luận - đối lại, cái học Tam luận do các học trò của ngài La thập là Tăng triệu, Đạo dung truyền bá ở Quan trung, thì gọi là Cổ tam luận. (xt. Tam Luận Tông).
cổ thanh lương truyện
(古清凉傳) Gồm hai quyển. Do vị tăng đời Đường là Tuệ tường soạn. Sách được hoàn thành vào niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) đời Cao tông đến khoảng niên hiệu Hoằng đạo năm đầu (683). Thu vào Đại chính tạng tập 51. Trong kinh Hoa nghiêm phẩm Bồ tát trụ xứ có chép, bồ tát Văn thù sư lợi trụ nơi núi Thanh lương để thuyết pháp, giới Phật giáo bèn cho núi Ngũ đài ở tỉnh Sơn tây là núi Thanh lương của bồ tát Văn thù sư lợi cư ngụ. Về các sự tích của núi Ngũ đài, trừ sách này ra, còn có Quảng thanh lương truyện do Diên nhất đời Tống soạn, Tục thanh lương truyện do Trương thương anh soạn, và bộ sách này được xem là bộ sách xưa nhất, cho nên gọi là Cổ thanh lương truyện. Đầu sách có lời tựa của Sa môn Quảng anh đề năm Đại định (1181) đời Kim. Toàn sách chia làm năm tiết, quyển thượng: 1. Lập danh tiêu hóa, nói rõ nguồn gốc tên núi Ngũ đài hoặc núi Thanh lương, và nguyên do mà Phật giáo đồ coi núi này là Thánh địa của Phật giáo. 2. Phong vực lí số, nói rõ về vị trí địa lí của núi Thanh lương. 3. Cổ kim thắng tích, tường thuật những thắng tích, chùa, hang đá của Phật giáo xưa và nay trên núi này. Quyển hạ: 4. Du lễ cảm thông, ghi chép sự tích linh cảm của những người đi hành hương núi Ngũ đài. 5. Chi lưu tạp thuật - thu chép bốn sự tích linh dị của các cư sĩ tại gia ở núi Ngũ đài. Từ sách này, người ta có thể biết cái tình hình tín ngưỡng núi Ngũ đài ở thời kì đầu, để rồi toàn thịnh vào thời đại Tùy, Đường.
cổ thanh quy
(古清規) Cũng gọi là Cổ qui. Chỉ các loại thanh qui do ngài Hoài hải ở núi Bách trượng đời Đường biên tập, được thu chép vào Bách trượng thanh qui. Đối lại, những thanh qui được thành lập từ đời Tống trở về sau, như Thiền uyển thanh qui, thì gọi là Tân thanh qui, Thanh qui.
cổ thi
Ancient poetry.
cổ thiên
Trống trời hay tiếng sét—The drum-deva, thunder.
cổ thư
Ancient book.
cổ thụ
Century-old tree—Secular tree.
cổ truyền
Traditionally.
cổ truyện
See Cổ Tích.
Cổ Tâm Như Khánh
(古心如磬, Koshin Nyokei, 1541-1615): vị tăng Luật Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Minh, tổ của Phái Cổ Lâm (古林派), xuất thân Lật Thủy (溧水), Giang Tô (江蘇), họ Dương (楊), tự là Cổ Tâm (古心). Lúc còn nhỏ tuổi, ông đã mất cha, được mẹ nuôi khôn lớn. Vào năm thứ 31 (1552) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), mẹ lại qua đời, ông cảm nhận được lý vô thường của cuộc đời, nên đến năm thứ 10 (1582, có thuyết cho là trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Tĩnh) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông theo xuất gia với Tố An (素安) ở Thê Hà Tự (棲霞寺), Nhiếp Sơn (攝山). Sau nhân đọc Phẩm Trú Xứ Bồ Tát trong Kinh Hoa Nghiêm, ông thệ nguyện thọ giới với Bồ Tát Văn Thù (文殊), bèn đến Ngũ Đài Sơn (五臺山), suốt đêm thành tâm cầu nguyện. Cho đến một hôm, trong khi hoảng hốt, ông được một lão bà ban cho y Tăng Già Lê (僧伽黎), nhìn thấy ra là Bồ Tát, liền đốn ngộ pháp môn tâm địa của 5 thiên, 3 tụ, cảm thấy luật của Đại Thừa và Tiểu Thừa đều từ trong ngực lưu xuất ra. Giữa đường khi trở về cố hương, ông đi qua Nam Kinh (南京), tình cờ gặp lúc ngôi tháp ở Trường Can Tự (長干寺, tức Báo Ân Tự [報恩寺]) đang được tu sửa, ông lưu trú tại đây và được gọi là Ưu Ba Ly (優波離) tái lai. Ông từng sống qua các chùa như Linh Cốc (靈谷), Thê Hà (棲霞), Cam Lồ (甘露), v.v.; khai đàn truyền giới hơn 30 nơi, và có khoảng hơn vạn người theo thọ giáo với ông. Vào năm thứ 41 (1613) niên hiệu Vạn Lịch, vua Thần Tông ban cho ông Tử Y, bình bát, tích trượng với hiệu là Huệ Vân Luật Sư (慧雲律師), và mời ông thiết lập Đại Hội Long Hoa (龍華大會) tại Thánh Quang Vĩnh Minh Tự (聖光永明寺) trên Ngũ Đài Sơn. Trước tác của ông có Kinh Luật Giới Tướng Bố Tát Quỹ Nghi (經律戒相布薩軌儀) 1 quyển. Ông thị tịch vào tháng 11 năm thứ 43 niên hiệu Vạn Lịch, hưởng thọ 75 tuổi. Pháp hệ của ông được gọi là Phái Cổ Lâm.
cổ tích
Old story.
Cổ Tôn Túc Ngữ Lục
(古尊宿語錄, Kosonshukugoroku): 48 quyển, do Tăng Đĩnh Thủ Trách (僧挺守賾) nhà Tống biên tập, san hành vào năm thứ 45 (1617) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 4 quyển được cư sĩ Giác Tâm (覺心) tái san hành vào năm thứ 3 (1267) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳). Trong khoảng thời gian đó, bộ này được rất nhiều Thiền giả thuộc hệ Lâm Tế bổ sung thêm, đến khi được cho thâu lục vào Đại Tạng Kinh nhà Minh (Nam Tạng), nó trở thành bản hiện hành với 48 quyển và 35 bậc Thiền tượng và được san hành tại Hóa Thành Tự (化城寺) ở Kính Sơn (徑山) vào năm thứ 45 niên hiệu Vạn Lịch. Đây là bộ Ngữ Lục rất quan trọng để có thể biết được những lời dạy về cơ duyên, hành trạng của các bậc cao tăng thạc đức dưới thời nhà Tống. Bên cạnh các Ngữ Lục liệt kê trong bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu, có 17 Ngữ Lục của các Thiền sư khác lại được thêm vào nữa, gồm có: (1) Nam Nhạc Đại Huệ Thiền Sư Ngữ (南嶽大慧禪師語, Nangakudaiezenjigo) của Nam Nhạc Hoài Nhượng (南嶽懷讓), (2) Mã Tổ Đại Tịch Thiền Sư Ngữ (馬祖大寂禪師語, Basodaijakuzenjigo) của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), (3) Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ (百丈懷海禪師語, Hakujōekaizenjigo) của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), (4) Quân Châu Hoàng Bá Đoạn Tế Thiền Sư Ngữ (筠州黃檗斷濟禪師語, Kinshūōbakudanzaizenjigo) và Uyển Lăng Lục (苑陵錄, Enryōroku) của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), (5) Hưng Hóa Thiền Sư Ngữ Lục (興化禪師語錄, Kōkezenjigoroku) của Hưng Hóa Tồn Tương (興化存奬), (6) Phong Huyệt Thiền Sư Ngữ Lục (風穴禪師語錄, Fuketsuzenjigoroku) của Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼), (7) Phần Dương Chiêu Thiền Sư Ngữ Lục (汾陽昭禪師語錄, Funyōshōzenjigoroku) của Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭), (8) Từ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (慈明禪師語錄, Jimyōzenjigoroku) của Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓), (9) Bạch Vân Đoan Thiền Sư Ngữ (白雲端禪師語, Hakuuntanzenjigo) của Bạch Vân Thủ Đoan (白雲守端), (10) Phật Chiếu Thiền Sư Kính Sơn Dục Vương Ngữ (佛照禪師徑山育王語, Busshōzenjikeizanikuōgo) của Chuyết Am Đức Quang (拙庵德光), (11) Bắc Nhàn Giản Thiền Sư (北礀簡禪師, Hokkankanzenji) của Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡), (12) Vật Sơ Quán Thiền Sư (物初觀禪師, Mosshokanzenji) của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀), (13) Hối Cơ Thiền Sư Ngữ Lục (晦機禪師語錄, Kaikizenjigoroku) của Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙), (14) Quảng Trí Toàn Ngộ Thiền Sư (廣智全悟禪師, Kōchizengozenji) của Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢), (15) Trọng Phương Hòa Thượng Ngữ Lục (仲方和尚語錄, Chūhōoshōgoroku) của Trọng Phương Thiên Luân (仲方天倫), (16) Giác Nguyên Đàm Thiền Sư (覺原曇禪師, Kakugendonzenji) của Giác Nguyên Từ Đàm (覺原慈曇), và (17) Phật Chiếu Thiền Sư Tấu Đối Lục (佛照禪師奏對錄, Busshōzenjisōtairoku) của Chuyết Am Đức Quang (拙庵德光). Trong khi đó, người biên tập là Định Nham Tịnh Giới (定巖淨戒, ?-1418) đã lược bớt khá nhiều, về sau trong bộ Vạn Lịch Bản Đại Tạng Kinh (萬曆版大藏經, tức Gia Hưng Tạng) đã có ý hồi phục lại nguyên hình và trở thành hình thức hiện tại. Trên đây là quá trình phát triển từ bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu cho đến Bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Lục đã trải qua như thế nào, ngoài ra Hối Thất Sư Minh (晦室師明, tiền bán thế kỷ thứ 13) còn tiếp tục biên tập lại bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu và cho san hành vào năm 1238 ở Cổ Sơn bộ Tục Khai Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續開古尊宿語要, Zokukaikosonshukugoyō) gồm 80 Ngữ Lục của các Thiền sư. Dường như ông có ý muốn thâu tập cho được 100 Ngữ Lục, nhưng rốt cuộc không thành công.
cổ tôn túc ngữ lục
(古尊宿語錄) Gồm bốn mươi tám quyển. Do ngài Trách tạng chủ (Tăng đĩnh Thủ trách) thu tập vào đời Tống và ngài Tịnh giới chùa Linh cốc kiểm xét lại. Thu vào Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sưu tập các ngữ lục của hơn bốn mươi vị danh đức trong Thiền tông, từ ngài Hoài nhượng ở Nam nhạc đến các ngài Mã tổ, Bách trượng, Lâm tế, Vân môn, Chân tịnh, Phật nhãn, Đông sơn v.v..., mà phần nhiều chưa được Cảnh đức truyền đăng lục thu chép. Đây là tư liệu rất trọng yếu cho việc nghiên cứu Thiền phong từ ngài Nam nhạc trở xuống. Khoảng năm Vạn lịch đời Minh, khi trùng tu Bắc tạng, sách này đã được thu vào Đại tạng kinh, nhưng thiếu mất bài Tựa, Mục lục và soạn hiệu. Tiếp sau sách này ngài Sư minh đời Tống soạn Tục cổ tôn túc ngữ yếu 6 quyển, nhưng sách này vẫn vượt trội hơn và cho đến nay vẫn còn nổi tiếng ở đời. Lại nữa, ngài Trách tạng chủ vốn đã soạn một bộ Cổ tôn túc ngữ yếu, chỉ có bốn quyển, in vào khoảng năm Thiệu hưng, nội dung thu chép ngữ lục của hai mươi nhà Thiền tông trong khoảng thời gian Đường Tống, là tư liệu căn bản để biên tập sách Cổ tôn túc ngữ lục này. [X. Duyệt tạng tri tân Q.42 - Đại minh tam tạng mục lục].
Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu
(古尊宿語要, Kosonshukugoyō): 4 quyển, do Trách Tàng Chủ (賾藏主, tức Tăng Đĩnh Thủ Trách [僧挺守賾]) biên tập. Từ thời nhà Đường cho đến thời nhà Tống, ngoài việc truyền lại cho hậu thế đa số các Ngữ Lục Thiền, thư tịch đóng vai trò quan trọng nhất chính là bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) được san hành vào năm 1140 tại Cổ Sơn (鼓山) thuộc vùng Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến). Nội dung của nó gồm các Ngữ Lục của 20 bậc Thiền tượng kiệt xuất được thâu tóm trong 4 quyển: Quyển I có (1) Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Hòa Thượng Ngữ Lục (池州南泉普願和尚語錄, Chishūnanzenoshōgoroku) của Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), (2) Đầu Tử Hòa Thượng Ngữ Lục (投子和尚語錄, Tōsuoshōgoroku) của Đầu Tử Đại Đồng (投子大同), (3) Mục Châu Hòa Thượng Ngữ Lục (睦州和尚語錄, Bokushūoshōgoroku) của Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤), (4) Triệu Châu Chơn Tế Thiền Sư Ngữ Lục (趙州眞濟禪師語錄, Jōshūshinzaizenjigoroku) của Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗); Quyển II có (5) Nhữ Châu Nam Viện Ngung Hòa Thượng Ngữ Lục (汝州南院顒和尚語錄, Joshūnaningyōoshōgoroku) của Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒), (6) Nhữ Châu Thủ Sơn Niệm Hòa Thượng Ngữ Lục (汝州首山念和尚語錄, Joshūshuzannenoshōgoroku) của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), (7) Nhữ Châu Diệp Huyện Quảng Giáo Tỉnh Thiền Sư Ngữ Lục (汝州葉縣廣敎省禪師語錄, Joshūyōkenkōkyōseizenjigoroku) của Diệp Huyện Quy Tỉnh (葉縣歸省), (8) Đàm Châu Thần Đỉnh Sơn Đệ Nhất Đại Yên Thiền Sư Ngữ Lục (潭州神鼎山第一代諲禪師語錄, Tanshūshinteizandaiichidaienzenjigoroku) của Thần Đỉnh Hồng Yên (神鼎洪諲), (9) Bính Châu Thừa Thiên Tung Thiền Sư Ngữ (幷州承天嵩禪師語, Benshūshōtensūzenjigo) của Thừa Thiên Trí Tung (承天智嵩), (10) Thạch Môn Sơn Từ Chiếu Thiền Sư Phụng Nham Tập (石門山慈照禪師鳳巖集, Sekimonzanjishōzenjihōganshū) của Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰); Quyển III có (11) Thư Châu Pháp Hoa Sơn Cử Hòa Thượng Ngữ Yếu (舒州法華山擧和尚語要, Joshūhokkezankyooshōgoroku) của Pháp Hoa Toàn Cử (華山全擧), (12) Quân Châu Đại Ngu Chi Hòa Thượng Ngữ Lục (筠州大愚芝和尚語錄, Kinshūdaigushioshōgoyō) của Đại Ngu Thủ Chi (大愚守芝), (13) Vân Phong Duyệt Thiền Sư Ngữ Lục (雲峰悅禪師語錄, Umpōetsuzenjigoroku) của Vân Phong Văn Duyệt (雲峰文悅), (14) Viên Châu Dương Kì Hội Hòa Thượng Ngữ Lục (袁州楊岐會和尚語錄, Enshūyōgieoshōgoroku) của Dương Kì Phương Hội (楊岐方會), (15) Đàm Châu Đạo Ngô Chơn Thiền Sư Ngữ Yếu (潭州道吾眞禪師語要, Tanshūdōgoshinzenjigoyō) của Đạo Ngô Ngộ Chơn (道吾悟眞), (16) Đại Tùy Thần Chiếu Thiền Sư Ngữ Yếu (大隨神照禪師語要, Daizuishinshōzenjigoyō) của Đại Tùy Pháp Chơn (大隨法眞); Quyển IV có (17) Tử Hồ Sơn Đệ Nhất Đại Thần Lực Thiền Sư Ngữ Lục (子湖第一代神力禪師語錄, Shikozandaiichidaijinrikizenjigoroku) của Tử Hồ Lợi Túng (子湖利蹤), (18) Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập (鼓山興聖國師和尚法堂玄要廣集, Kuzanzenkōshōkokuoshōhottōgenyōkōshū) của Cổ Sơn Thần Yến (鼓山神晏), (19) Tương Châu Động Sơn Đệ Nhị Đại Sơ Thiền Sư Ngữ Lục (襄州洞山第二代初禪師語錄, Jōshūtōzandainidaishozenjigoroku) của Động Sơn Thủ Sơ (洞山守初), (20) Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục (智門祚禪師語錄, Chimonsozenjigoroku) của Trí Môn Quang Tộ (智門光祚). Sau đó, vào năm thứ 5 (1178) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), Đức Tối (德最) ở Cổ Sơn có thêm truyện nhỏ của chư vị tổ sư vào đầu quyển và 2 Ngữ Lục khác được thêm vào nữa là: (21) Thư Châu Bạch Vân Sơn Hải Hội Diễn Hòa Thượng Ngữ Lục (舒州白雲山海會演和尚語錄, Joshūhakuunzankaieenoshōgoroku) của Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), (22) Trừ Châu Lang Da Sơn Giác Hòa Thượng Ngữ Lục (滁州瑯琊山覺和尚語錄, Joshūroyazankakuoshōgoroku) của Lang Da Huệ Giác (瑯琊慧覺). Vào năm thứ 3 (1267) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), lời tựa chung của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) được thêm vào, được Cư Sĩ Giác Tâm (覺心) họ Ngụy tái san hành tại Hàng Châu (杭州). Chính lúc này, 5 Ngữ Lục khác được thêm vào là: (23) Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (鎭州臨濟慧照禪師語錄, Chinshūrinzaieshōzenjigoroku) của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), (24) Vân Môn Khuông Chơn Thiền Sư Quảng Lục (雲門匡眞禪師廣錄, Unmonkyōshinzenjikōroku) của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), (25) Thư Châu Long Môn Phật Nhãn Hòa Thượng Ngữ Lục (舒州龍門佛眼和尚語錄, Joshūryūmonbutsugenoshōgoroku) của Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠), (26) Bảo Phong Vân Am Chơn Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục (寳峰雲庵眞淨禪師語錄, Hōhōunanshinjōzenjigoroku) của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), (27) Đông Lâm Hòa Thượng Vân Môn Am Chủ Tụng Cổ (東林和尚雲門庵主頌古, Tōrinoshōumonanshujuko) của Trúc Am Sĩ Khuê (竹庵士珪) và Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲). Bản nhà Tống (tức bản trùng san của Giác Tâm) có truyền bản của Bản Ngũ Sơn tại Đại Đông Cấp Kỷ Niệm Văn Khố (大東急記念文庫), Cung Nội Sảnh Thư Lăng Bộ (宮內廳書陵部), v.v. Vô Trước Đạo Trung (無著道忠) soạn Cổ Tôn Túc Ngữ Lục Mục Lục (古尊宿語錄目錄), Cổ Sơn Nguyên Soạn Cổ Tôn Túc Ngữ Lục Hiệu Ngoa (鼓山元撰古尊宿語錄校訛) 4 quyển.
cổ tắc
(古則) Tức là những câu nói do các bậc cổ đức dạy bảo. Trong Thiền tông phàm những lời dạy của Phật, Tổ, những câu nói của các bậc cổ đức truyền lại, các công án ngộ đạo của các bậc tôn túc, những lời hỏi, đáp giữa thầy và trò khi thầy khám nghiệm trò, tất cả đều được người tu Thiền đời sau xem là phép tắc khuôn mẫu, cho nên gọi là Cổ tắc, hoặc nói chung là Cổ tắc công án. Ngoài ra, cái phong cách, nghi phạm về hành vi của bậc cổ đức thì gọi là cổ cách (cách thức xưa), cổ nghi (khuôn phép xưa), cổ triệt (dấu xe xưa) v.v..
cổ tục
See Cổ lệ.
cổ tự
Ancient writing.
cổ võ
To cheer—To excite.
cổ văn
Ancient literature.
cổ vật
Antiquities.
cổ xã tự bảo tồn pháp
(古社寺保存法) Là pháp luật được chế định vào năm Minh trị 30 (1897) tại Nhật bản, mục đích nhằm bảo vệ kiến trúc và cổ vật của các chùa. Trong cuộc Minh trị duy tân, khuynh hướng Âu hóa phát triển mạnh, những văn vật cũ không được coi trọng, đến nỗi hủy bỏ thần Phật, các nghệ thuật phẩm và các chùa viện cổ kính phần nhiều bị hủy hoại. Những nhà thức giả hết sức than phiền, chính phủ mới thành lập cục giữ gìn vật báu, tiến hành điều tra, giám định các bảo vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật trên toàn quốc. Nhưng vì thiếu sự cưỡng chế về mặt luật pháp, nên hiệu quả của việc giữ gìn bảo vật không có bao nhiêu. Năm Minh trị 30, Cổ xã tự bảo tồn pháp được công bố, dưới Nội vụ tỉnh (năm Minh trị 44 giao sang Văn bộ tỉnh), đặt hội Cổ xã tự bảo tồn, phụ trách việc bảo hộ cổ vật, giám định cấp bậc. Lại các chùa đều có chỉ định người giám hộ, nếu để mất mát hoặc tổn hại, thì cứ theo luật pháp xử trị. Phí tổn đều do ngân sách nhà nước chịu. Kèm theo luật này, có vài khoản pháp qui, qui định chức giám đốc (Nội vụ đại thần) của hội Cổ xã tự bảo tồn, tổ chức biên chế và các loại dự toán. Tính đến năm Chiêu hòa thứ 3 (1928), hơn một nghìn tòa kiến trúc được liệt kê vào hạng đặc biệt bảo hộ, hơn ba nghìn sáu trăm vật kiện quốc bảo. Sau khi luật này được thành lập, đã mấy lần sửa đổi pháp qui, đến tháng 3 năm Chiêu hòa thứ 4, đính lập Quốc bảo bảo tồn pháp, mới bỏ Cổ xã tự bảo tồn pháp.
cổ xướng
To take initiative in doing something.
; (估唱) Nói đủ là Cổ y xướng y. Cũng gọi là Đề y, Mại y. Khi chia các di vật của vị tỉ khưu quá cố cho hiện tiền tăng, thì trước phải đánh giá các vật ấy, gọi là Cổ y - thứ đến, trước đại chúng, nêu giá bán để bù vào các phí tổn chi dùng thuốc thang cho vị tỉ khưu khi còn sống và việc tống táng khi qua đời, thì gọi là Xướng y. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 mục Thiên hóa (Đại 48, 1127 trung), nói: Thị tịch, biết trầm trọng, dự thỉnh hai tự kiểm điểm, thu gói áo bát hành lí, để tại nhà Phương trượng, giao cho người có trách nhiệm giữ gìn cẩn thận để chờ khi Cổ xướng. [X. luật Ngũ phần Q.20 - luật Tứ phần Q.41 - Hữu bộ mục đắc ca Q.8 - Thích thị yếu lãm Q.hạ mục Xướng y]. (xt. Xướng Y).
cổ âm
The rolling of drums.
cổ âm như lai
Xem Thiên Cổ Lôi Âm Phật.
cổ âm phật
Xem Thiên Cổ Lôi Âm Phật.
cổ âm thanh vương kinh
Xem A di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh.
cổ âm tịnh cầm
Ku yin Ching ch'in (C)Tên một vị sư.
cổ điền chức bộ
Furuta oribe (J)Tên một vị sư.
cổ điền thiệu khâm
(古田紹欽) (1911 - ) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Tốt nghiệp môn Triết học Ấn độ thuộc khoa Văn của đại học Đế quốc tại Đông kinh Tượng khắc ở thời Bạch Phượng (Nhật Bản) năm 1936. Từng dạy các Đại học Giáo dục Đông kinh, Đại học Bắc hải đạo, Đại học Nữ tử Trà chi thủy, Đại học Nhật bản v.v... Chuyên nghiên cứu lịch sử triết học Đông phương, Phật giáo học. Biên tập: Linh mộc đại chuyết tuyển tập, Đông dương danh trứ - Trung quốc thiên, Trung quốc Phật giáo danh trứ. Sáng tác: Phật giáo dữ Ấn độ tư tưởng, Tuyệt quán luận giáo chú, Thiền luận, Cận thế chi Thiền giả v.v...
cổ điển
Classic—Classical.
; (古典) Chỉ cho kinh Phật hoặc những tác phẩm của các bậc tổ sư, tiên đức. Phật giáo có rất nhiều kinh điển mà không một tôn giáo nào khác có thể sánh kịp, trong đó, đa số có những giá trị vĩnh viễn được bảo tồn. Ngoài ra, những trứ tác của các bậc tổ sư, tiên đức có thể sánh với Thánh điển cũng rất phong phú. Những tác phẩm này đều có thể được gọi là cổ điển của Phật giáo. Thông thường, tín đồ Phật giáo rất quí trọng các trứ tác của Phật, Bồ tát, Tổ sư, Tiên đức, gọi chung là Thánh giáo. Trong Pháp hoa văn cú kí quyển 10 phần dưới của ngài Trạm nhiên đời Đường (Đại 34, 395 hạ), nói: Một câu thấm thần, đều giúp bờ kia. Trong Phạm võng kinh khai đề, ngài Không hải, vị tăng Nhật bản, cũng nói (Đại 62, 2 trung): Mỗi một câu, mỗi một chữ đều là thân Pháp mạn đồ la của chư tôn. Trong những câu nói này đều có ý tôn trọng cổ điển. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển hạ phẩm Pháp cúng dường thì nói (Đại 14, 556 hạ): Y theo nghĩa, không y theo lời, y theo trí, không y theo thức , y theo kinh rõ nghĩa, không y theo kinh không rõ nghĩa, y theo pháp, không y theo người. Đó tức là Pháp tứ y . Trong Nhân minh, y theo lời dạy của Thánh hiền mà lượng biết nghĩa lí, gọi là Thánh giáo lượng, đây cũng là quan điểm tôn trọng cổ điển. Chủ trương của Thiền tông chẳng lập văn chữ, nhấn mạnh cái tệ hại của sự câu nê văn chữ, nhưng tuyệt nhiên không bài xích cái ý pháp mà văn chữ biểu đạt. Cho nên trong Tùng lâm, Phật điển, Tổ lục do cổ Phật, tiên đức truyền lại rất được tôn trọng, nếu người tu Thiền thấm nhuần được lời dạy của Phật hoặc của các bậc cao tăng và lấy đó làm tấm gương để soi tâm linh của chính mình, thì có thể bỏ tà về chính, bỏ chấp về chân, gọi là Cổ giáo chiếu tâm , hoặc Chiếu tâm cổ giáo.
cổ đình thiền sư ngữ lục tập lược
(古庭禪師語錄輯略) Gồm bốn quyển. Do ngài Cổ đình Thiện kiên, vị tăng tông Lâm tế đời Minh, soạn. Đào diên biên lại, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 6 (1633). Nội dung quyển 1 bao quát Hành cước, Pháp ngữ, Thuyết giới, Tâm yếu, Tam muội huyền chương, Cảnh tỉnh đồ chúng, Dạy bảo đồ chúng, quyển 2 bao gồm Thiền định, Hoa nghiêm huyễn trụ lược tích, Hoa nghiêm đại ý, Thị nhất tông đầu đà, Vô tự trực thuyết, Hỏa lô đầu thoại, Ngưu đầu nhật lục, quyển 3 gồm Luận, Thư, Bạt, Tụng, quyển 4 gồm kệ tán, Ca, Thất tuyệt, Ngũ luật, Thất luật, Tạp thể v.v...
cổ đại tôn giáo
(古代宗教) Chỉ các tôn giáo đã tồn tại trong những xã hội văn minh thời xưa, mà nay không còn lưu truyền nữa, nhưng vẫn còn có văn hiến có thể khảo chứng được. Phật giáo, Ấn độ giáo, Do thái giáo không thuộc trong số đó, là vì tuy đã bắt nguồn từ thời xưa nhưng đến nay vẫn còn tồn tại. Những tôn giáo cổ xưa nhất, trước hết, là tôn giáo Ai cập và tôn giáo Mesopotamia, rồi đến các tôn giáo Tiểu á, tôn giáo Phoemicia, tôn giáo Hi lạp, tôn giáo La mã v.v... đều thuộc loại này. Đa số xuất hiện vào thời kì đầu của lịch sử văn tự, lúc quốc gia mới bắt đầu xuất hiện, tuy tiếp nối tôn giáo thời tiền sử, nhưng đã siêu việt tính trực quan sùng bái tự nhiên và bái vật giáo. Thần linh mà các tôn giáo xưa thờ phụng có xu hướng nhân cách hóa,như đến nay vẫn còn thấy các hình tượng thần nửa người nửa thú. Công năng thần linh trong xã hội là công năng tự nhiên. Dần dần tiến đến các đối tượng, từ sự sống, chết, thọ, yểu, cho đến các vấn đề luân lí, xã hội, triết học v.v... kinh điển tôn giáo bắt đầu xuất hiện, địa vị tăng lữ coi việc tế lễ dần dần rõ rệt, nhân số gia tăng, tổ chức tôn giáo và chính quyền quốc gia được kết hợp mật thiết, đây là đặc trưng nổi bật của lịch sử tôn giáo diễn hóa theo thời đại.
cổ động
To launch a propaganda.
cổ đức
Pubbacariya (p). 1) Bậc Thánh, bậc học giả, bậc thầy, hay bậc có nhiều công đức vào thời xưa—Ancient sages—Ancient scholars—Master of the past—Meritorious person of the past. 2) Công đức của người xưa—Ancient merit.
; (古德) Tiếng tôn xưng các bậc cao tăng đại đức đời xưa. Hoặc tôn xưng các vị Phật đời xưa. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 444 hạ) nói: Tiên hiền cổ đức, thạc học cao nhân, thông suốt xưa nay, thấu rõ giáo cương. (xt. Cổ Phật).
cổ đức hoả sao
(古德火抄) Tên công án trong Thiền tông. Thiền sư Bảo vân ở núi Lỗ tổ thuộc châu Ba tỉnh Tứ xuyên, mỗi lần có người đến hỏi đạo thì Bảo vân quay mặt vào vách không nói, bởi thế, các bậc cổ đức từ ngài Nam tuyền Phổ nguyện trở xuống đều có bình luận về việc này. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 112 thượng), chép: La sơn nói: Trần lão sư lúc đó nếu thấy thì cho năm hỏa sao nơi lưng ông ta. Tại sao? Để xem ông ta có bỏ thói quay mặt vào vách không? Huyền sa nói: Tôi lúc ấy nếu thấy thì cũng cho năm hỏa sao. Danh từ Cổ đức hỏa sao tức từ đó mà ra. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.3 chương Lỗ tổ Bảo vân]. (xt. Lỗ Tổ Gia Phong).
cổ đức tam miết
(古德三篾) Tên công án trong Thiền tông. Cổ đức, chỉ các Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và Dược sơn Duy nghiễm đời Đường - Miệt, tức dùng cật cây tre chẻ mỏng làm lạt để buộc vật gì hoặc làm nan để đan rổ rá. Một hôm, ngài Mã tổ Đạo nhất hỏi ngài Duy nghiễm ở Dược sơn về cảnh ngộ ra sao, kiến giải như thế nào, Dược sơn đáp đã thoát khỏi hết thảy mọi phiền não, mà chỉ còn lại cái thể người chân thực, Mã tổ vui vẻ tán thán (Vạn tục 148, 117 hạ), nói: Cái mà ông được có thể nói là hiệp với tâm thể, tràn khắp tứ chi. Đã như thế thì đem ba sợi lạt buộc lấy da dạ dầy, rồi muốn đi đâu thì đi, ở đâu thì ở. Ý là Dược sơn đã lãnh hội, thể ngộ Phật pháp, đã lan khắp toàn thể thân tâm, mà không một mảy may chấp trước, cho nên Mã tổ ấn khả, bảo Dược sơn có thể mang theo ba sợi lạt rồi muốn đi đâu thì đi, ở đâu thì ở để tiếp hóa chúng sanh. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].
cổ đức vạn hạnh
(古德萬杏) Tên công án trong Thiền lâm. Cổ đức, chỉ Thiền sư Chí viên ở núi Bạch triệu thuộc Hồng châu đời Tống. Có vị tăng đến hỏi Chí viên thế nào là muôn hạnh, Chí viên đáp (Vạn tục 148, 121 hạ): Năm nay hột đào còn chẳng có nói chi đến hạt hạnh? Câu trả lời này của ngài Chí viên chẳng ăn nhằm gì với câu hỏi. Người ta hỏi muôn hạnh tu như thế nào thì ngài Chí viên lại đi nói về hột đào hột mận, thật là chuyện đầu Ngô mình Sở! Nhưng, nói cho cùng thì bản ý của Chí viên cho rằng, khái niệm muôn hạnh chỉ là trừu tượng hóa, nếu dùng nó để hướng dẫn người học thì chỉ đưa đến cảnh giới suy tư phân biệt trống rỗng, vô dụng mà thôi, trong khi cái gọi là muôn hạnh đích thực thì phải nhìn thực tế nơi trước mắt, cái cảnh huống muôn sự muôn vật đang diễn biến, nếu có thể lãnh hội được thì ngay cái chỗ đặt chân đó tức là Phật pháp, liền có thể biết rõ muôn hạnh là thế nào, rồi cứ thế mà tu. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].
cổ ấn độ tảo kì phật giáo nghệ thuật
(古印度早期佛教藝術) Nghệ thuật Phật giáo ở thời đại vua A dục (thế kỉ thứ III trước Tây lịch đến khoảng kỉ nguyên Tây lịch) thuộc Vương triều Khổng tước của Ấn độ xưa. Hiện nay các di tích còn lại là những điêu khắc mà vua A dục cho khắc trên vách núi và trên các cột đá. Những cột đá đến nay còn lại ở mười nơi, trong đó, đầu cột có khắc sư tử được tàng trữ tại viện bảo tàng ở vườn Lộc dã là nổi tiếng nhất, đầu cột cao bảy thước, phần trên khắc bốn con sư tử, dưới sư tử là một quả trống, ngoài tang trống khắc bốn con thú: sư tử, voi, ngựa, trâu, thần thái rất Thái Cổ sống động, được mài dũa sáng bóng, chiếm một địa vị trọng yếu trong lịch sử nghệ thuật của thế giới. Thời ấy nhiều tháp đá thờ xá lợi Phật cũng được tạo dựng, tháp được bao quanh bởi một lớp lan can bằng đá có chạm trổ các hình nổi, hiện còn đến nay là ngôi tháp lớn tại Sơn kì (Sànchi) ở bắc Ấn độ, tương đối hoàn chỉnh, bao gồm ba tòa tháp và nhà thờ, tăng viện, mỗi cửa tháp đều có khắc sự tích tiền thân và tiểu sử của đức Phật. Ngôi tháp lớn ở Bồ đề già da (Phạm: Buddhagayà), thời gần đây đã được dựng lại, nhưng lớp lan can bao quanh phía ngoài vẫn là di vật điêu khác của thời xưa - còn một ngôi tháp lớn nữa ở Ba hách đặc (Bhàrhut), trừ phần cửa ngoài tháp về phía đông đã hư nát, những phần lan can còn lại hiện được tàng trữ trong viện bảo tàng Ấn độ tại Calcutta. Đến thời Vương triều Huân ca (Phạm: Zuíga, 187 - 75 trước Tây lịch), nghệ thuật Phật giáo thời kì đầu ở Ba nhã, Bối đức tát, Ba hách đặc lại được suy diễn đến cảnh giới cao hơn nữa, chủ yếu biểu hiện bằng tháp, chùa và các điện đài trong hang núi. Vì tín đồ Phật giáo thời bấy giớ cho rằng đức Phật là bậc siêu nhân, không có cách nào biểu hiện cụ thể dung mạo của Ngài được, cho nên những cái đại biểu Phật đều không phải là hình tượng cụ thể, mà lấy những hình cây tháp, cây Bồ đề, tòa Phật ngồi, bánh xe pháp, lốt chân Phật, tóc của Phật và những thứ khác, như bát Phật, áo của Phật, tiêu xí của Tam bảo v.v... để tượng trưng thôi, như voi, hoa sen tượng trưng Phật đản sinh, ngựa tượng trưng Phật xuất gia, tòa Phật ngồi tượng trưng Phật hàng phục ma vương, cây Bồ đề tượng trưng Phật thành đạo, bánh xe pháp tượng trưng Phật thuyết pháp, tháp bà tượng trưng Phật Niết bàn v.v... mà hình thành một đặc sắc của nghệ thuật Phật giáo ở thời kì này.
cổn khúc tước bảo
(袞曲爵保) (1034-1102) Tên Tây tạng: Dkon-mchog rgyal-po, hàm ý là vua báu. Tổ khai sáng của phái Tát ca cũ thuộc Phật giáo Tây tạng. Hoặc vì xuất thân từ tộc Cổn (Tạng:Hkhon) nên còn gọi là Cổ cống xác gia bốc (Tạng: Hkhon dkon-mchog rgyal-po). Tương truyền, tộc Cổn là con cháu của trời Quang minh (Tạng: Hod gsal lha), vốn nối tiếp Đát đặc la cũ thuộc hệ thống Liên hoa sinh. Lúc nhỏ, ngài học giáo pháp của phái Ninh mã, sau theo học đại dịch sư Thích ca trí (Tạng: Zà-kya ye-zes), học cả các sách Hiển, Mật - vì được sự mở bày của bồ tát Văn thù, nên ngài học cả Đát đặc la mới và cũ - giáo nghĩa của sư gọi là Thâm giáo (Tạng: Zab-mo-blta, giáo sâu xa), còn nội quán thì gọi là Quả đạo (Tạng: Mgon-pogur). Vào khoảng năm 1071, ngài sáng lập chùa Tát ca, cách Nhật khách tắc về phía tây hơn bốn mươi cây số, thu nhận đồ chúng giảng học, đó là phái Tát ca. Đại cương học thuyết của sư là dung hợp Hiển giáo và Mật giáo, lập luận Trung quán của hệ thống ngài Thanh biện để giải thích nghĩa gốc của Mật thừa. Lại dùng năm thứ tự của đạo Bồ tát thuộc Hiển giáo và bốn bộ (Tác, Tu, Du già, Vô thượng du già) của Mật giáo phối hợp để tu. Trong vị Gia hành, tam muội da Noãn, Đính, Nhẫn đoạn các hoặc sở thủ, tam muội da Thế đệ nhất đoạn các hoặc năng thủ, đồng thời, dùng trí tuệ của Bồ tát soi rọi mà vào định Đại lạc, như thế sẽ đạt đến cảnh giới Hiển, Mật dung hợp. Con của ngài là Khổng ca ninh bảo (Tạng: Kundga# sĩin-po) nối pháp cha, từng được Thái tổ nhà Nguyên phong Vương và giao cho quyền thống trị Tây tạng. Cha con ở tại gia truyền pháp cho nhau: đó là một đặc sắc của phái này. [X. Vệ tạng thông chí Q.6 - Mông Tạng Phật giáo sử Q.thượng - Mông cổ Lạt ma giáo sử]. (xt. Tát Ca Phái).
cổng
Gate.
cổng tam quan
The three entrance gate.
; The three entrance gate.
cỗ quan tài
Coffin.
cộc cằn
Rude—Rough.
Cộng
共; C: gòng; J: guu;|Có các nghĩa sau: 1. Đồng thời, xảy ra cùng một lúc (s: pūrva-apara-sahakrama); 2. Có chung với, cùng chung, tham gia với; 3. Cùng tu tập với nhau; 4. Gặp nhau, tham gia.
; [ja] グウ guu ||| (1) Simultaneous [with] (pūrva-apara-sahakrama). (2) To have in common; in common with; to share with. 〔瑜伽論 T 1579.30.651c15〕(3) To carry out activities (such as religious cultivation) together. (4) To meet, join. => Có các nghĩa sau: 1. Đồng thời, xảy ra cùng một lúc (s: pūrva-apara-sahakrama) 2. Có chung với, cùng chung, tham gia với. 3. Cùng tu tập với nhau. 4. Gặp nhau, tham gia.
cộng
All—Together—Both—Same—In common.
cộng báo
Loại quả báo mà tự tha chung trong một quốc độ hay cộng đồng đều có thể thọ dụng. Đây là sự cảm ứng của cộng nghiệp—Collective retribution—Reward or punishment of the community or in common, for the deeds of the community or even of the individual in their effects on the community.
cộng bát nhã
1) Những pháp chung cho Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát—The things for Sravakas, pratyeka-buddhas and Bodhisattvas. ** For more information, please see Nhị Cộng Bát Nhã (1). 2) Sự giải thích Bát Nhã chung cho người sơ cơ cũng như các bậc thượng thừa, đối lại với thâm nghĩa chỉ dành cho các bậc Bồ Tát Đại Thừa—The interpretation of the Prajnaparamita (Thông Giáo) that advanced and ordinary students have in common, as contrasted with its deeper meaning (Biệt Giáo), only understood by the Mahayana Bodhisattvas.
cộng bất cộng
(共不共) Là Cộng và Bất cộng nói gộp lại. Cộng là cùng chung, cùng thông. Cộng và Bất cộng có những loại như sau: 1. Nói về giáo pháp: giáo pháp nói chung cho các thừa, gọi là Cộng giáo - trái lại, giáo pháp không chung cho các thừa thì gọi là Bất cộng giáo. Chẳng hạn như tông Hoa nghiêm cho rằng kinh Bát nhã là giáo pháp chung cho cả ba thừa, vì thế gọi là Cộng giáo - còn kinh Hoa nghiêm thì chỉ dạy riêng cho hàng Bồ tát vì thế gọi là Bất cộng giáo. 2. Nói về chỗ nương (sở y): chỗ nương chung cho hai thức trở lên, gọi là Cộng y, nếu chỉ là chỗ nương cho một thức duy nhất, thì gọi là Bất cộng y. Chẳng hạn như thức A lại da là chỗ nương gốc của các thức, cho nên gọi là Cộng y - còn như căn mắt thì chỉ là chỗ nương cho riêng thức mắt, nên gọi là Bất cộng y. 3. Nói về công đức: trong vô lượng công đức mà đức Phật có, cũng có những pháp công đức chung cho các bậc Thánh khác hoặc phàm phu, gọi là Cộng pháp, cũng gọi Cộng công đức - còn những công đức mà chỉ riêng Phật mới có, thì gọi là Bất cộng pháp, cũng gọi Bất cộng Phật pháp. Ngoài ra, những phép tắc phổ thông chung cho tất cả, cũng gọi là Cộng pháp - trái lại, những phép tắc đặc biệt, không chung, thì gọi là Bất cộng pháp. Lại cái nghiệp dẫn sinh quả báo riêng của mình, gọi là Bất cộng nghiệp - còn nghiệp đưa đến hoàn cảnh mà mọi người cùng thụ dụng,thì gọi là Cộng nghiệp. Chẳng hạn như hoàn cảnh núi sông, đất liền v.v... là do nghiệp chung tạo thành, mọi người cùng chung thụ dụng, đó là cộng tướng - còn tự thân mỗi cá nhân là do nghiệp riêng tạo nên, đó là Bất cộng tướng. Trong Cộng tướng, như núi sông, đất liền v.v... mọi người cùng thụ hưởng, gọi là Cộng trung cộng (chung trong chung) - còn như vườn nhà của mỗi cá nhân, thì chỉ cá nhân ấy dùng, chứ không chung cho người khác, gọi là Cộng trung bất cộng (cái riêng trong cái chung). Lại trong Bất cộng tướng, tự thân mình tuy do nghiệp riêng mà thành, nhưng mọi người cũng có thể thụ dụng (như cảnh mà năm căn duyên theo, người khác cũng có thể duyên theo mà thụ dụng), gọi là Bất cộng trung cộng (cái chung trong cái riêng) - còn như tinh thần và nhân cách của mỗi người thì chẳng phải là những cái mà mọi người có thể cùng chung thụ dụng, gọi là Bất cộng trung bất cộng (cái riêng trong cái riêng).
cộng bất cộng tứ biến
(共不共四變) Cứ theo Tông kính lục quyển 49 chép, thì thức A lại da biến hiện các tướng căn thân, thế giới do nương vào nghiệp chung, nghiệp riêng mà cảm được, có thể chia làm bốn thứ là: 1. Bất cộng trung bất cộng biến (trong riêng biến riêng), căn thắng nghĩa của năm căn như thần kinh mắt v.v... là do một niệm đầu tiên trong thức A lại da biến hiện khi thác sinh, gọi là bất cộng biến (biến riêng). Nhưng sau khi sinh ra rồi, các căn này chỉ thụ dụng riêng biệt, và thức nào nương vào căn ấy, không lẫn lộn,cho nên gọi là Bất cộng trung bất cộng biến. 2. Bất cộng trung cộng biến (trong riêng biến chung), như căn phù trần của năm căn, lúc đầu chỉ do thức thứ tám biến hiện ra, gọi là Bất cộng biến (biến riêng) - nhưng sau khi sinh ra rồi, thì người khác cũng có thể duyên theo mà thụ dụng, cho nên gọi là cộng (chung), đó là Bất cộng trung cộng biến.3. Cộng trung cộng biến (trong chung biến chung), như núi sông, đất đai v.v... do thức của nhiều người cùng chung biến hiện, gọi là cộng biến (biến chung) - mình và hết thảy mọi người cùng chung thụ dụng, đó là Cộng trung cộng biến. 4. Cộng trung bất cộng biến (trong chung biến riêng), như trong núi sông, đất đai biến chung, mà ruộng vườn, nhà cửa của riêng mình, những người khác không cùng thụ dụng - lại như cùng một con sông, người thấy thì là nước, nhưng loài quỉ đói thấy thì lại là lửa nóng và máu mủ... đó là Cộng trung bất cộng biến.
cộng bất định
Sadharana (skt)—Một trong sáu điều bất định trong Lý Luận (Lục Bất Định), tức là sai lầm về pháp có quan hệ toàn phần. Nói rằng “thanh” là không trường cửu, vì thanh là một sản phẩm; rằng “thanh” là thường hằng vì thanh đồng phẩm với hư không. Thanh vừa thường lại vừa vô thường tạo nên “bất định.”—Both indetermined, i.e. one of the six indeterminates in Logic, when a thesis and its contradiction are both supported by equally valid reasons, “that sound is not eternal, because it is a product, that it is eternal, because it is audible.”
cộng bất định quá
(共不定過) Lỗi cùng chẳng định. Tiếng dùng trong nhân minh. Cộng, Phạm: Sàdhàrana. Bất định, Phạm: Anaikàntika. Một trong sáu Bất định, lỗi thứ 5 trong 14 lỗi Nhân thuộc 33 lỗi Nhân minh. Lỗi do phạm vi của Nhân (lí do) quá rộng, bao trùm cả đồng phẩm và dị phẩm của Tông. Chẳng hạn như lập luận thức : Tông: Âm thanh là thường Nhân: Vì có tính lường được Trong luận thức trên đây, Nhân Vì có tính lường được dùng cho cả thường lẫn vô thường, đồng thời, có mặt trong Tông đồng phẩm (hư không) và Tông dị phẩm (cái bình) hay ngược lại. Như vậy, không biết căn cứ vào đâu để xác định âm thanh là thường hay vô thường. Do đó, Nhân này là bất định, không phải Nhân chính xác, vì đã phạm vào điều kiện thứ 3 của Nhân là Dị phẩm biến vô tính. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối]. (xt. Lục Bất Định Quá).
cộng chủng tử
(共種子) Hạt giống chung. Chỉ cho chủng tử cộng tướng, tức là chủng tử thức biến sinh ra môi trường (cảnh) mà mình và người khác cùng thụ hưởng chung. Cũng gọi là Cộng tướng chủng tử, Cộng tướng chủng. Đối lại với Bất cộng chủng tử. Cộng tướng chủng tử chia làm hai loại: Cộng (chung) và Bất công (riêng). Trong Cộng tướng chủng tử thì như: núi sông, đất đai v.v... là người và cầm thú cùng thụ dụng chung, đây là Cộng trung cộng (chung trong chung), còn ruộng vườn nhà cửa thì mỗi cá nhân thụ dụng riêng, đây là cộng trung bất cộng (riêng trong chung). Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 (Đại 34, 321 trung), nói: Các chủng tử có hai loại: Cộng tướng (tướng chung) và Bất cộng tướng (tướng riêng). Thế nào là cộng tướng? Là do nhiều người cảm được. Tuy biết rằng thức của mỗi người biến hiện riêng biệt, nhưng có tướng để thụ dụng giống nhau, cho nên gọi là Cộng tướng. [X. Thành duy thức luận diễn bí sao Q.3 phần đầu - Duy thức luận đồng học sao Q.2 phần 2]. (xt. Cộng Tướng).
cộng công
(共功) Giai vị thứ 4 trong Công huân ngũ vị (năm giai đoạn tu hành) do tổ Động sơn Lương giới (807-860) chủ trương. Tức là giai đoạn giác ngộ thấy suốt tính Phật vốn sẵn đủ và giữ vững công vị mình đã chứng ngộ.
cộng công đức
Cộng Pháp—Đối lại với Bất Cộng Pháp. Các công đức sẳn có của Đức Phật, có những công đức mà các bậc Thánh giả và các loại chúng sanh khác cũng có—The totality of truth or virtue, common to all sages, is found in the Buddha.
Cộng cảnh
共境; C: gòngjìng; J: gukyō;|Cùng chung một cảnh giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Cộng cảnh 共境
[ja] グキョウ gukyō ||| To share the same realm. 〔二障義 HPC 1.804a〕 => Cùng chung một cảnh giới.
cộng di phẩm
(共异品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Cộng dị phẩm hàm ý là người lập luận và người vấn nạn cùng thừa nhận rằng trong pháp sở lập không đầy đủ nghĩa. Nếu pháp sở lập không đầy đủ nghĩa mà người vấn nạn thừa nhận, còn người lập luận không thừa nhận thì thành là Tự dị phẩm, còn người vấn nạn không chấp nhận, thì thành là Tha dị phẩm, mà Tha dị phẩm tức là Tự đồng phẩm. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Nhân Dị Phẩm, Tự Đồng Phẩm, Tông Dị Phẩm).
cộng giáo
(共教) Chỉ cho pháp môn Bát nhã ba la mật đa là giáo pháp chung của ba thừa cùng tu học. Cũng gọi là Cộng bát nhã, Tam thừa cộng giáo, Cộng giáo Đại thừa. Đối lại với Bất cộng giáo. Nếu nói theo bốn giáo Hóa pháp của tông Thiên thai, thì thuyết của các kinh Đại thừa như kinh Bát nhã... là giáo pháp chung cho cả ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thuộc về Thông giáo - trái lại, như thuyết của kinh Hoa nghiêm ý nghĩa sâu xa chỉ có Bồ tát mới hiểu được thì thuộc về Biệt giáo và Viên giáo. Cộng giáo cũng tương đương với Tam thừa thông giáo trong Ngũ thời giáo của ngài Tuệ quán hay Tam thừa thông giáo trong Tứ giáo của ngài Nguyên hiểu. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.3 - Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 - Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1 - Tứ giáo nghĩa Q.1].
cộng hưởng
To enjoy toghether.
cộng hỉ sinh định
(共喜生定) Tức là Thiền định đã thoát li cõi Dục mà được cảm giác mừng, vui. Đó là các cõi Sơ thiền và Nhị thiền trong bốn Thiền thuộc cõi Sắc. [X. Giải thoát đạo luận Q.2]. (xt. Nhị Thiền, Tứ Thiền, Sơ Thiền).
cộng hứa
Được hứa khả cho toàn thể—What is commonly admitted.
cộng hứa pháp
(共許法) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong cách thức lập luận của Nhân minh, chủ trương lập luận được cả hai bên người lập luận và người vấn nạn cùng thừa nhận, gọi là Cộng hứa. Cũng gọi là Lập (người lập luận), Địch (người vấn nạn) cộng hứa pháp, Đồng hứa, Câu hứa. Trái lại, cả Lập và Địch cùng không thừa nhận, thì gọi là Bất cộng hứa. Trong luận thức Nhân minh, Tông y (cái mà mệnh đề dựa vào để thành lập, tức là Chủ từ và thuật từ của mệnh đề, cả hai vẫn còn ở trạng thái riêng rẽ, chưa liên kết) và Nhân (lí do) là chỗ y cứ để biện luận, cho nên việc Lập và Địch cùng thừa nhận là điều kiện phải có - còn Tông thể (mệnh đề chỉnh thể, tức là sự kết hợp của Chủ từ và thuật từ) là cái mà người lập luận đề xuất, nhưng chưa được đối phương thừa nhận,thì là cái chủ thể của sự tranh luận, cho nên Lập và Địch cùng không thừa nhận là điều tất yếu. [X. luận Nhân minh nhập chính lí - Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu]. (xt. Bất Cộng Hứa).
cộng hữu
Common property.
cộng hữu pháp
(共有法) I. Cộng hữu pháp. Cũng gọi là Câu hữu pháp, Câu hữu. Tức là pháp tồn tại đồng thời. Luận Câu xá quyển 6 (Đại 29, 30 trung), nói: Nếu pháp là quả sĩ dụng của nhau, thì pháp ấy cũng là nhân câu hữu của nhau. Tướng nó như thế nào? Như bốn đại chủng, cùng trông nhau làm nhân câu hữu. Nói một cách cụ thể, thì như bốn đại đất,nước, lửa, gió, hoặc như bản pháp với bản tướng, tâm vương với tâm sở v.v... là những thứ đồng thời cùng tồn tại mà thành một tổ chức, không tách rời nhau, gọi là Cộng hữu pháp. Hết thẩy nhân câu hữu đều là Cộng hữu pháp. [X. Câu xá luận quang kí Q.6 - Câu xá luận bảo sớ Q.6]. (xt. Câu Hữu Nhân). II. Cộng hữu pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong lập luận Nhân minh, Nhân (lí do) được lập ra phải được người lập luận và người vấn nạn đều cùng thừa nhận là có thật, thì đó gọi là Cộng hữu pháp. (xt. Cực Thành).
Cộng kết
共結; C: gòngjié; J: guketsu;|Cùng vướng mắc phiền não với nhau; cùng một mối ràng buộc với nhau. Những mối ràng buộc trong vòng luân hồi mà nhiều loài chúng sinh cùng chia sẻ với nhau (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Cộng kết 共結
[ja] グケツ guketsu ||| Common entanglements; shared bonds. Entanglements in saṃsāra that are shared by various kinds of people. 〔攝大乘論 T 1593.31.117c〕 => Cùng vướng mắc phiền não với nhau; cùng một mối ràng buộc với nhau. Những mối ràng buộc trong vòng luân hồi mà nhiều loài chúng sinh cùng phải chia sẻ với nhau.
cộng lạc sinh định
(共樂生定) Chỉ sự lìa bỏ cảm thụ mừng, vui của Nhị thiền mà được thiền định Li hỉ diệu lạc. Tức là Thiền thứ ba trong bốn thiền của cõi Sắc. [X. luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tam Thiền Thiên, Tứ Thiền).
cộng mạng
xem mạng mạng.
cộng mạng chi điểu
Two-headed bird, Jīvajīva (S)Mạng mạng điểu, Sanh sanh điểuGiống chim một thân hai đầu.
cộng mệnh điểu
Jivajiva or Jivanjiva (skt)—Mệnh Mệnh Điểu—Sinh Sinh Điểu—Loài chim một thân hai đầu, ví như tâm thức khác nhau nhưng nghiệp báo lại giống nhau—A bird said to have two heads on one body, i.e. mind and perception differing, but the karma for both is just one.
cộng nghiệp bất cộng nghiệp
(共業不共業) Cộng nghiệp là nghiệp nhân chung của chúng sinh, có khả năng chiêu cảm thế giới vật lý như núi sông, đất đai mà mình và người cùng chung thụ dụng, đây là nghiệp của y báo - còn nghiệp nhân của mỗi người có thể chiêu cảm năm căn chính báo mà mỗi người thụ dụng riêng, thì gọi là Bất cộng nghiệp. Tông Câu xá lấy tự thể của Nhân làm Cộng nghiệp - tông Duy thức thì lấy Cộng nghiệp làm duyên Tăng thượng giúp cho cộng tướng chủng tử sinh khởi hiện hành. Đứng về mặt chủng tử mà nói, thì Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp là chủng tử nghiệp năng cảm, còn chủng tử thân nhân duyên của y báo, chính báo thì là chủng tử Cộng tướng và Bất cộng tướng. Chủng tử nghiệp của Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp có khả năng giúp đỡ chủng tử Cộng tướng và Bất cộng tướng của thân nhân duyên sinh khởi hiện hành. Song sự hiện hành do nghiệp thiện ác khởi ra, khởi rồi diệt ngay, cho nên công năng giúp cái khác yếu ớt, nhưng chủng tử nghiệp mà nó huân tập thì tương tục tăng trưởng, có khả năng giúp đỡ quả dị thục trong vị lai, công năng ấy mạnh mẽ, cho nên tông Duy thức chỉ đứng về mặt chủng tử để mà bàn đến Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.134 - luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.4 - A tì đàm tâm luận kinh Q.2 - luận Câu xá Q.11 - luận Thành duy thức Q.2 - Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Thân Nhân Duyên).
cộng pháp
Pháp chung với Nhị thừa (như có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng) và pháp chung với Đại thừa (như thấy sanh tử, Niết Bàn đều như hoa đốm trên không).
; See Cộng Công Đức.
; (共法) Còn gọi là Cộng công đức. Đối lại với Bất cộng pháp. Chỉ pháp công đức trong vô lượng công đức của Phật, mà các bậc Thánh khác và phàm phu cùng có chung, gọi là Cộng pháp (pháp chung). Như ba pháp Vô tránh, Nguyện trí và Bốn vô ngại giải trong vô lượng công đức của Phật, thì các bậc A la hán cũng có thể có được - còn các pháp như năm thần thông, bốn tĩnh lự thì phàm phu cũng có thể có được. Tuy nhiên, trong các pháp công đức ấy, bậc Thánh khác và phàm phu có thể có chung, nhưng chỉ có công đức của Phật là thù thắng, tự tại hơn cả. Ngoài ra, những phép tắc phổ thông chung cho tất cả, cũng gọi là Cộng pháp. [X. luận Câu xá Q.27 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.75 - luận Đại tì bà sa Q.179].
cộng phát bồ đề tâm thụ kí
(共發菩提心授記) Một trong bốn thứ thụ kí. Tức là Bồ tát vì hóa độ chúng sinh, cùng với chúng sinh cùng phát tâm Bồ đề, thề nguyền cùng thành chính giác mà mong được Phật thụ kí. [X. luận Bồ đề tư lương Q.3]. (xt. Thụ Kí).
cộng phát tâm pháp luân bồ tát
Xem Cộng Phát ý Chuyển Luân Bồ tát.
cộng phát ý chuyển luân bồ tát
Sahacittopada-Dharmacakra (S)Cộng Phát Tâm Pháp Luân Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (共發意轉輪菩薩) Cộng phát ý chuyển luân, Phạm: Saha cittotpàda dharma cakra. Dịch âm: Sa ha chất đô tát bả đà đạt ma chước yết la. Còn gọi là Cộng phát tâm pháp luân Bồ tát. Cùng với Tài phát tâm chuyển pháp luân Bồ tát trong kinh Bát nhã lí thú là cùng một vị tôn. Mật hiệu là Pháp luân kim cương. Trong Thai tạng mạn đồ la của kinh Đại nhật chưa thấy ghi chép vị tôn này, nhưng cứ theo phẩm Mật ấn nói, thì vị tôn này tương đương với bồ tát Hư không tuệ - còn phẩm Bí mật mạn đồ la thì bảo vị tôn này là bồ tát Hư không vô cấu. Hình tượng toàn thân mầu da trắng, bàn tay phải dơ thẳng, cầm hoa sen, trên hoa sen có bánh xe, bàn tay trái ngửa lên, trên bàn tay có đặt chày một chẽ, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ, quay về phía trái, hơi nhìn xuống. Hình tam muội da là bánh xe vàng trên hoa sen. Chủng tử, Ấn ngôn, xưa nay phần nhiều giống như chủng tử và chân ngôn của bồ tát Hư không tuệ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
cộng phần tu tam muội
(共分修三昧) Một trong ba Tam muội: Nhất phần tu, Cộng phần tu và Thánh chính đẳng được nêu trong luận Thành thực. Chỉ pháp Tam muội tu cả Định và Tuệ. Luận Thành thực quyển 12 (Đại 32, 335 thượng), nói: Cộng phần tu, nghĩa là khi tu định thì cùng lúc tu cả tuệ, ấy là Tam muội thế gian, ở trong pháp Noãn v.v...
cộng sự
To work together.
cộng thiên
(共天) Tức là danh hiệu của đức Thích tôn ở đời quá khứ khi Ngài làm Chuyển luân Thánh vương vào thời đức Như lai Phổ thủ. Kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 797 hạ), nói: Lúc bấy giờ, ta mệnh chung ở cõi trời Phạm thế, sinh vào cõi Diêm phù đề làm Chuyển luân Thánh vương, hiệu là Cộng thiên. Thời ấy, người ta sống chín vạn tuổi.
cộng thêm
To add.
cộng thập địa
Mười “địa” chung cho cả ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát—The ten stages which sravakas, pratyeka-buddhas, and bodhisattvas have in common—See Thập Địa Bồ Tát (Tam Thừa).
cộng tác
To cooperate.
cộng tông
Điều mà mọi tông phái Phật Giáo đều giống nhau hay đều có—That which all Buddhist schools have in common.
cộng tướng
Sāmānyalakṣaṇa (S)Tướng cùng thông với những pháp khác.
; Samanyalakshana (skt). • Tính phổ quát hay những tướng trạng chung cho tất cả các sự vật hữu vi, như vô thường, khổ, không, và vô ngã, vân vân: Marks that are common to all things conditioned, such as impermanence, suffering, emptiness, and egolessness, etc. • Tướng chung hay tổng thể, đối lại với tự tướng—Totality—Generality—The whole—In common, as contrasted with individuality, or component parts. ** For more information, please see Nhị Tướng in Vietnamese-English Section.
; (共相) Phạm: Sàmànya-lakwaịa. I. Cộng tướng. Đối lại với Tự tướng. Chỉ cho tướng chung. Cũng chỉ tướng không phải hạn ở tự tướng, mà còn có nghĩa cộng thông với các pháp khác. Nếu là tự thân chỉ có cái thể tướng đặc thù, thì gọi là Tự tướng. Thực ra thì tự thể của các pháp, chỉ có trí chứng mới có thể biết, không thể dùng lời nói để thí dụ, nên gọi là Tự tướng. Còn đem tâm phân biệt để an lập thi thiết năng thuyên, sở thuyên của các pháp dùng lời nói để diễn tả, tìm hiểu thể nghĩa của các pháp làm chỗ cho trí phân biệt duyên theo, thì là Cộng tướng. Như hết thảy sắc pháp đều có tự tướng riêng biệt, nhưng khi dùng câu hết thảy vạn hữu đều là vô ngã, để nói rõ về tính không của các pháp thì vô ngã ấy tức là Cộng tướng. Như vậy, vô ngã là nghĩa tướng chung của hết thảy vạn hữu, cùng với khổ, không, vô thường v.v... dùng để giải thích thể nghĩa của các pháp, cho nên đều là Cộng tướng. Thông thường phần nhiều cho Cộng tướng có thể giải thích được và coi nó như đối lập với Tự tướng, nhưng Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng phần đầu, thì phản đối luận thuyết tương đối này mà cho rằng trong các pháp có thể giải thích, bao hàm cả Tự tướng và Cộng tướng, hai tướng này có mối quan hệ nhiều lớp với nhau như năm uẩn sắc, thụ v.v... là Tự tướng, còn sự vô thường của năm uẩn là Cộng tướng - lại trong Sắc uẩn, Sắc xứ là Tự tướng, Sắc uẩn là Cộng tướng. Ngoài ra, trong sắc xứ thì các mầu xanh, vàng là Tự tướng, còn sắc xứ là Cộng tướng. Như vậy, cuối cùng, lấy tự tính bản chân do Thánh trí chứng được làm Tự tướng, và lấy tự tính giả khác (vì không lìa trí giả và nói năng) làm Cộng tướng. [X. Phật địa kinh luận Q.6 - luận Câu xá Q.23 - luận Đại tì bà sa Q.42 - Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. II. Cộng tướng. Đối lại với Bất cộng tướng. Tức là tướng do mọi người cùng chung cảm được, cùng thụ dụng chung, gọi là Cộng tướng. Như núi sông, đất đai v.v... là bởi nghiệp chung của mọi người tạo thành, là nơi nương tựa và thụ dụng chung của mọi người, cho nên là Cộng tướng - còn như thân thể của mỗi cá nhân, là do nghiệp riêng của cá nhân ấy mà có, cũng chỉ do cá nhân ấy thụ dụng, cho nên gọi là Bất cộng tướng. Chủng tử thân nhân duyên của Cộng tướng, gọi là Cộng tướng chủng tử, được chủng tử cộng nghiệp giúp đỡ mà sinh khởi hiện hành. Cộng tướng có thể chia làm hai thứ: 1. Như núi sông, đất đai thuộc y báo, do nghiệp chung mà có, đều do người, thú, sâu, cá, v.v... cùng chung thụ dụng, gọi là Cộng trung cộng (chung trong chung). 2. Như ruộng vườn, nhà cửa của mỗi cá nhân, thì chỉ cá nhân ấy thụ dụng chứ người khác không được dùng chung, thì gọi là Cộng trung bất cộng (riêng trong chung). [X. luận Thành duy thức Q.2 - Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Bất Cộng Tướng, Cộng Bất Cộng).
cộng tướng hoặc
Cộng Hoặc—Đối lại với Tự Tướng Hoặc. Phiền não khởi lên từ cách nhìn sự vật như một tổng thể mà không xét đến quan hệ từng phần (cái nầy có mới có có cái kia)—Delusion arising from observing things as a whole, or apart from their relationships.
; (共相惑) Phạm: Sàmànya-kleza. Chỉ hoặc (phiền não) duyên theo tướng chung mà sinh khởi. Nói tắt là Cộng hoặc. Đối lại với Tự tướng hoặc. Tức là các pháp duyên theo những tướng chung: khổ, không, vô thường, vô ngã v.v... mà bị mê hoặc rồi sinh ra các phiền não chấp khổ làm vui, chấp không làm có, chấp vô thường làm thường, chấp vô ngã làm ngã, gọi là Cộng tướng hoặc. Luận Câu xá quyển 20 (Đại 29, 104 thượng), nói: Hết thảy kiến, nghi, vô minh còn sót chưa đoạn, trói buộc suốt ba đời. Vì ba thứ này là Cộng tướng hoặc, nên hết thảy hữu tình đều bị trói buộc. Nếu ở đời hiện tại, chính khi duyên cảnh, tùy theo chỗ ứng hợp có thể bị nó trói buộc. Cứ theo sự giải thích trong luận Câu xá quang kí quyển 20, thì kiến, nghi, vô minh ở vị lai, tùy theo chỗ ứng hợp đều buộc khắp ba đời, buộc khắp tự cảnh, cho nên gọi là Biến hành (đi khắp). Còn ý thức ở quá khứ, tuy cũng buộc khắp ba đời, nhưng không buộc khắp tự cảnh, cho nên không thuộc Biến hành. Cộng hoặc của hiện duyên, tuy đủ hai thứ biến hành, nhưng cũng có khi không đủ, vì là bất định, nên cũng không thuộc biến hành. [X. A tì đàm tâm luận kinh Q.3 - luận Đại tì bà sa Q.18]. (xt. Tự Tướng Hoặc).
cộng tỉ lượng
(共比量) Tiếng dùng trong Bồ Tát Cộng Phát Ý Chuyển Luân Nhân minh. Chỉ Tỉ lượng cấu thành bởi cái pháp đã được cả hai bên Lập (người lập luận) và Địch (người vấn nạn) cùng thừa nhận. Nói tắt là Cộng tỉ. Một trong ba Tỉ lượng. Cũng tức là ba chi Tông (mệnh đề), Nhân (lí do), Dụ (thí dụ), hoặc chỉ là pháp dùng trong Tông được cả Lập và Địch cùng thừa nhận để tiến hành biện luận. Có thể được chia nhỏ ra làm ba là: 1. Cộng chi tự, tức là tiền trần (chủ từ) và hậu trần (khách từ) của Tông tuy được cả hai bên cùng thừa nhận, nhưng pháp dùng trong Nhân và Dụ thì chỉ tự mình thừa nhận (tự hứa). 2. Cộng chi tha, tức là tiền trần và hậu trần của Tông tuy cùng được hai bên Lập và Địch thừa nhận, nhưng pháp dùng trong Nhân và Dụ thì chỉ người khác thừa nhận (tha hứa). 3. Cộng chi cộng, tức là tỉ lượng dùng trong Tông, Nhân, Dụ được cả Lập và Địch cùng thừa nhận (cộng hứa), cũng tức là nghĩa Cộng bất định. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần đầu - Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.3 phần cuối]. (xt. Tam Tỉ Lượng, Cộng Bất Định, Cộng Hứa Pháp).
cộng xả sinh định
(共舍生定) Tức là từ bỏ sự vui vi diệu của Tam thiền mà được Thiền định cảm giác không khổ không vui, tức là Thiền thứ tư trong bốn Thiền thuộc cõi Sắc. [X. luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tứ Thiền).
cộng y
(共依) Chỗ nương tựa chung của hai thức trở lên. Nếu đứng về phương diện bảy thức trước mà bàn, thì trong số bốn y của năm thức trrước, trừ Đồng cảnh y ra, còn lại Phân biệt y, Nhiễm tịnh y và Căn bản y đều là Cộng y - cũng tức là năm thức trước lấy thức thứ sáu làm Phân biệt y (chỗ nương phân biệt), thức thứ bảy làm Nhiễm tịnh y (chỗ nương vừa nhơ vừa sạch), thức thứ tám làm Căn bản y (chỗ nương chính, gốc). Lại thức thứ sáu là chỗ nương của thức thứ bảy, thức thứ bảy là chỗ nương của thức thứ sáu và thức thứ tám, cho nên thức thứ sáu, thức thứ bảy cũng có nghĩa Cộng y. [X. luận Thành duy thức Q.4, Q.7 - Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu, Q.7 phần đầu - Bách pháp vấn đáp sao Q.1].
cộng đồng
Community.
cộng đồng phẩm
(共同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Đồng phẩm được cả người lập luận và người vấn nạn cùng chấp nhận. Đồng phẩm là chỉ cho đồng loại với Hậu trần (thuật từ) của Tông (mệnh đề), có Tông đồng phẩm và Nhân đồng phẩm khác nhau. Đồng phẩm là gọi tắt của Tông đồng phẩm. (xt. Tông Đồng Phẩm).
Cộng 共
[ja] グウ guu ||| (1) Simultaneous [with] (pūrva-apara-sahakrama). (2) To have in common; in common with; to share with. 〔瑜伽論 T 1579.30.651c15〕(3) To carry out activities (such as religious cultivation) together. (4) To meet, join. => Có các nghĩa sau: 1. Đồng thời, xảy ra cùng một lúc (s: pūrva-apara-sahakrama) 2. Có chung với, cùng chung, tham gia với. 3. Cùng tu tập với nhau. 4. Gặp nhau, tham gia.
cớ sự
Cause.
cờ
Patàkà, Dhvaja, Ketu (S). Flag, banner. Also phướn, tràng phan.
cờ rũ
Flag flown at half staff.
cởi trói
To unbind—To loose someone from his bounds.
cụ
All; complete, perfect; ready; to prepare; to make ready.
; 1) Sợ: Fear—Dread. . 2) Tròn đầy—Complete—All.
cụ bị
To prepare.
cụ chi quán đảnh
Một trong ba phép Quán Đảnh trong Kinh Đại Nhựt. Đây là phép quán đảnh thọ nhận nước rãi hay sái thủy trên đầu của quốc vương với nước từ biển hay sông trong lãnh thổ của vương triều. Phép nầy cũng được dùng cho những chức sắc cao trong hàng Giáo Phẩm Phật Giáo—One of the three abhiseka or baptisms of The Vairocana Sutra. A ceremony sprinkling of the head of a monarch at his investiture with water from the seas and rivers (in his domain). It is a mode also employed in the investiture of certain high officials of Buddhism. ** For more information, please see Tam Chủng Quán Đảnh.
cụ chi quán đỉnh
(具支灌頂) Chỉ người đệ tử trong Mật giáo mà tư cách đã vững, năng lực đã mạnh, được quả phúc thí vô tận, đầy đủ mọi duyên chi phần để nhận pháp quán đính (dùng nước rảy lên đỉnh đầu). Cũng gọi là Tác nghiệp quán đính, Sự nghiệp quán đính, Pháp sự quán đính. Thông cả Thụ minh quán đính và Truyền pháp quán đính. Đối lại với Dĩ tâm quán đính (quán đính trong tâm tưởng). Cụ chi quán đính là việc thực sự đem nước rưới lên đỉnh đầu. Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao quyển 4 chép, thì khi làm quán đính này đòi hỏi phải đầy đủ nhiều chi (nhiều điều kiện), như dọn đất, chọn giờ, định ngày, đắp đàn, vẽ tượng và kết giới. Lại theo vị tăng người Nhật bản là Cảo bảo trong Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 10, thì trong bảy ngày, người đệ tử phải thành tâm lễ Phật sám hối, sắm đủ hương hoa lễ vật, tức đầy đủ các thứ mà duyên đàn quán đính cần đến, gọi là Cụ chi quán đính, cũng tức là Sự nghiệp quán đính.Đại nhật kinh sớ quyển 4, nêu ra mười thứ chi phần trong việc quán đính, gọi là Cụ chi quán đính thập chi, đó là: chi phần A xà lê, chi phần dọn đất, chi phần chọn giờ, chi phần lập đàn, chi phần hộ trì đệ tử, chi phần vẽ tượng, chi phần tam muội, chi phần chân ngôn, chi phần cúng dường và chi phần quán đính. Thông thường ba loại quán đính: Truyền pháp, Thụ minh, Kết duyên tuy đều được gọi là Cụ chi quán đính, nhưng vì chi phần quán đính truyền pháp là đầy đủ nhất, cho nên cũng có người chỉ gọi Truyền pháp quán đính là Cụ chi quán đính. [X. kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên chân ngôn - Đại nhật kinh sớ Q.15]. (xt. Quán Đính).
cụ duyên phái
(具緣派) Phạm: Pràsaígika. Nói đủ là Trung quán Cụ duyên phái. (Phạm: Màdhyamikapràsaígika). Một chi nhánh của phái Phật giáo Trung quán tại Ấn độ. Do ngài Phật hộ (Phạm: Buddhapàlita) sáng lập vào khoảng năm 470 đến 540 Tây lịch. Tổ của phái Trung quán là ngài Long thụ dựa theo kinh Bát nhã mà viết ra luận Trung quán, tuyên thuyết nghĩa Duyên sinh tức không. Bài tụng Qui kính trong phần Bản tụng của luận Trung quán nêu ra tám cái chẳng (Bát bất): chẳng sinh (Phạm: Anutpàda), chẳng diệt (Phạm: Anirodha), chẳng thường (Phạm: Azàzvata), chẳng đoạn (Phạm: Anuccheda), chẳng một (Phạm: Anekàrtha), chẳng khác Phạm: Anànàrtha), chẳng đến (Phạm: Anàgama), chẳng đi (Phạm: Anirgama), để bác bỏ kiến giải cho các pháp là có chỗ được mà thuyết minh duyên khởi tức là pháp tương đối. Cho nên có thể nói phái Trung quán là tông phái thông đạt nghĩa các pháp duyên sinh, khiến cái thấy có, không đều dứt bặt, nhường chỗ cho chính quán chân không trung đạo hiện tiền. Trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, phái Trung quán và phái Du già là hai giáo phái lớn đối lập nhau trong Phật giáo Đại thừa. Bắt đầu từ ngài Long thụ ở thế kỉ thứ II Tây lịch, qua các ngài Đề bà, La hầu la bạt đà la, Thanh mục v.v... đến các luận sư Hộ pháp, Phật hộ, Thanh biện v.v... ở đầu thế kỉ thứ VI, nối nhau hoằng truyền ý chỉ không quán trung đạo. Trong đó, hai ngài Phật hộ và Thanh biện cùng theo học luận sư Chúng hộ (Phạm: Aôgharakwita), nghiên cứu học tập giáo thuyết của ngài Long thụ, nhưng sự thấy biết của hai vị lại khác nhau, mỗi vị tự viết luận phê bình luận thuyết của đối phương, do đó, phái Trung quán bị chia làm hai: phái Y tự khởi theo học thuyết của ngài Thanh biện và phái Cụ duyên theo học thuyết của ngài Phật hộ. Ngài Phật hộ là người nước Thản bà la (Phạm: Taôbara) thuộc miền nam Ấn độ, sau khi thờ luận sư Chúng hộ làm thầy, ngài đến ở chùa Đàn đa phất lị (Phạm: Dantapuri) soạn bộ Căn bản Trung luận chú, chủ trương thuyết các pháp rốt ráo là không. Vào thế kỉ thứ VII, có luận sư Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti) ra đời, soạn các bộ Trung luận chú, Lục thập tụng như lí luận thích, Tứ bách luận chú, Nhập Trung quán luận v.v... đề xướng thuyết của phái Cụ duyên, đồng thời, kịch liệt bình phẩm bộ Trung luận chú thích của ngài Thanh biện. Tư tưởng học thuyết của ngài Nguyệt xứng sau đó truyền vào Tây tạng và được truyền bá rất rộng. Về sau, lại có luận sư Tịch thiên (Phạm:Zàntideva) viết Bồ đề hành kinh, Đại thừa tập Bồ tát học luận, tổ thuật chỉ thú Trung quán. Bắt đầu từ thế kỉ thứ VII, thứ VIII, hai phái Trung quán và Du già dần dần có khuynh hướng dung nhiếp lẫn nhau, rồi hình thành phái Trung quán du già, do đó sự đối lập của phái Cụ duyên và phái Y tự khởi, theo tình hình diễn tiến của mỗi phái, cũng tự nhiên tan hòa vào giữa ngọn triều giao lưu của hai phái lớn Trung quán và Du già. [X. Đại đường tây vực kí Q.10 - Nam hải kí qui nội pháp truyện tự - Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử - W. Wassiljew: Der Buddhismus - Th. Stcherbatsky: The Conception of Buddhist Nirvàịa]. (xt. Trung Quán Phái, Y Tự Khởi Phái).
Cụ duyên tông
具緣宗; S: prāsaṅgika, cũng được gọi là Ứng thành tông (應成宗); |Một trong hai nhánh của Trung quán tông.
cụ duyên tông
Prasaṇgika (S)Ứng thành tôngDo Ngài Phật Hộ (Buddhapalita) sáng lập vào thế kỷ IV - V, một chi nhánh của Trung quán.
cụ giới
See Cụ Túc Giới.
cụ giới phương tiện
Pháp phương tiện bằng cách cho thọ trì cụ túc giới từng bước (trước cho thọ 5, rồi 8, rồi 10, vân vân)—The expedient method of giving the whole rules by stages (first by 5, then 8, then 10, etc).
Cụ giới địa
具戒地; C: jùjiè dì; J: gukaichi;|Giai vị tu tập đầy đủ các giới luật. Giai vị thứ hai trong Thập địa (十地). Còn gọi là li cấu địa (離垢地).
cụ giới địa
Đệ nhị địa trong Thập Địa, trong đó có đủ giới luật phải trì giữ—The second of the Bodhisattva ten stages in which the rules are kept.
Cụ giới địa 具戒地
[ja] グカイチ gukaichi ||| The stage of the full possession of discipline. The second of the ten bhūmis (十地). Also called ligoudi 離垢地. => Giai vị tu tập đầy đủ các giới luật. Giai vị thứ hai trong Thập địa. Còn gọi là Ly Cấu địa (c:ligoudi).
cụ giới, túc giới, giới phương tiện
The "expedient" method of giving the whole rules by stages.
Cụ hữu
具有; C: jùyǒu; J: guu;|Vốn đã có đủ. Nguyên vẹn (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Cụ hữu 具有
[ja] グウ guu ||| To be fully there; to be intact. 〔二障義 HPC 1.812a〕 => Vốn đã có đủ. Nguyên vẹn.
cụ nhãn
(具眼) Nghĩa là đối với sự vật có kiến thức đặc thù, hoặc chỉ người có kiến thức đặc thù. Cũng gọi là Cụ nhãn tình. Trong Thiền lâm, người có thể thấy suốt nguyên lí vũ trụ và thực tướng của hết thảy hiện tượng, gọi là Cụ nhãn giả (người đủ mắt). Bích nham lục tắc 68 (Đại 48, 198 thượng), nói: Ngưỡng sơn cười khanh khách (có thể nói vào thời tiết ấy, trên gấm phô hoa - người thiên hạ chẳng biết rơi chỗ nào. Tại sao? Vì đất rộng người thưa, gặp nhau rất ít. Giống như Nham đầu cười, lại chẳng phải Nham đầu cười - cùng là cười mà tại sao lại chia thành hai đoạn ? Người thấy suốt (Cụ nhãn giả) mới có thể thấy được). Tiếng cùng loại còn có Cụ nhãn nạp tăng, tức chỉ vị Thiền tăng tu hành đã viên thục, có thể thấy suốt đạo lí của sự vật.
cụ phược
Saka-bandhana (S)Kiến hoặc và tư hoạc chưa đoạn hết. Phược là một tên của phiền não.
; Hết thảy phàm phu đều bị trói buộc vào phiền trược (ai cũng có sẳn phiền não)—Completely bound, all men are in bondage to illusion.
; (具縛) Phạm: Sakala-bandhana. Nghĩa là còn đủ Kiến hoặc và Tu hoặc. Phược, tên gọi khác của phiền não (sự mê hoặc trong lòng) có thể trói buộc loài hữu tình, khiến phải rơi vào cảnh khổ sống chết xoay vần, cho nên gọi là Phược (trói, buộc). Bất luận là hữu lậu, vô lậu, nếu chưa dứt được một phần Kiến hoặc hay Tu hoặc thì đều gọi chung là Cụ phược. Nói về thứ bậc tu hành thì Cụ phược là chỉ cho Tam hiền, Tứ thiện căn từ Kiến đạo trở về trước, cho đến hết thảy phàm phu chưa đoạn hoặc. Thông thường cho Cụ phược là tên gọi khác của phàm phu, cho nên phàm phu cũng gọi là Cụ phược phàm phu, Cụ phược phàm chúng. Nhưng nói một cách nghiêm khắc, thì trong phàm phu cũng có người chẳng là Cụ phược, mà trong các bậc thánh lại có Cụ phược, tức là nếu người dùng đạo hữu lậu mà đoạn diệt Tu hoặc, thì tuy là phàm phu mà thực thì không có Cụ phược - trái lại, bậc Thánh ở sát na Kiến đạo ban đầu, nếu trước hết chưa thể đoạn diệt Tu hoặc, thì tuy là bậc Thánh mà cũng còn gọi là Cụ phược. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ - luận Câu xá Q.4, Q.23 - Câu xá luận quang kí Q.24 - Ma ha chỉ quán Q.5 phần trên].
Cụ phược 具縛
[ja] グバク gubaku ||| To be fettered, bound; entangled in afflictions. 〔二障義 HPC 1.808b23; 瑜伽論 T 1579.30.349c3〕 => Bị ràng buộc, bị trói buộc, vướng mác trong phiền não.
Cụ phần
具分; C: jùfēn; J: gubun;|Tràn khắp, bao trùm nhiều phần (s: vyāpin). Phản nghĩa với Nhất phần (一分; theo Biện trung biên luận 辯中邊論).
Cụ phần 具分
[ja] グブン gubun ||| To pervade; to encompass all parts (vyāpin). As contrasted with "partial" (一分). 〔辯中邊論 T 1600.31〕 => Tràn khắp, bao trùm nhiều phần (s: vyāpin). Phản nghĩa với Nhất phần. Theo Biện Trung Biên Luận.
Cụ phọc
具縛; C: jùfú; J: gubaku;|Bị ràng buộc, bị trói buộc, vướng mắc trong phiền não (theo Nhị chướng nghĩa 二障義, Du-già luận 瑜伽論).
cụ sinh cát tường
(具生吉祥) (?-1381) Phạm: Sahajazrì. Dịch âm là Tát hạt tạt thất lị. Vị Thiền tăng Ấn độ ở đầu đời Minh. Được tôn xưng là Ban đích đáp (Phạm: Paịđita, có nghĩa là học giả, hoặc là Bản đích đạt). Sư sinh trong một gia đình giòng Sát đế lợi, nước Ca duy la vệ, trung Ấn độ, tính vui vẻ điềm tĩnh. Lớn lên, sư xuất gia ở chùa Tô la tát (Phạm: Surasa?) tại nước Ca thấp di la. Lúc đầu sư học Ngũ minh, Tam tạng, đều hiểu biết thấu suốt,nhưng sau vì nhận ra ngôn luận chẳng phải là pháp rốt ráo, nên sư vào núi Tuyết tu định mười hai năm, được tôn giả Ca la thất lợi (Phạm:Kàlazrì) ấn chứng. Về sau, sư lập chí đi chiêm bái núi Ngũ đài ở phương đông là nơi bồ tát Văn thù ứng hiện, liền vượt sông Ấn độ, qua các nước: Đột quyết, Khuất chi (Cưu tư), Cao xương, vào khoảng năm Chí chính (1341-1367) đời Nguyên sư mới đến Cam túc. Sau đó sư được triều đình rước về kinh đô, ở chùa Cát tường pháp vân, được tăng tục, trong triều ngoài nội đều rất tôn kính. Năm Hồng vũ thứ 2 (1369) đời Minh, sư đến núi Ngũ đài, ở Thiền lâm Thọ an. Vào năm Hồng vũ thứ 7, sư xuống phương Nam đến kinh đô, vua Thái tổ đón rước ở cửa Phụng thiên, ban hiệu là Thiện thế Thiền sư, đặc biệt ban cho huy chương để thống lãnh Phật giáo trong nước và dựng chùa ở Chung sơn để sư ở. Năm Hồng vũ 14 sư thị tịch, không rõ tuổi thọ. Sư có soạn: Thị chúng pháp ngữ 3 quyển, dịch: Bát chi giới bản. [X. Kim lăng phạm sát chí Q.1, Q.37 Tây thiên Ban đích đáp Thiền sư chí lược - Bổ tục cao tăng truyện Q.1 - Tân tục cao tăng truyện Q.18].
cụ sớ
(具疏) Còn gọi là Cụ thư. Trong số các tác phẩm năm bộ chín quyển do đại sư Thiện đạo tông Tịnh độ soạn vào đời Đường, thì trừ bốn quyển Quán kinh sớ ra, bốn bộ năm quyển còn lại đều gọi là Cụ sớ. Đó là: 1. Pháp sư tán 2 quyển - 2. Vãng sinh lễ tán 1 quyển, 3. Ban chu tán 1 quyển, 4. Quán niệm pháp môn 1 quyển. Cụ sớ thực ra phụ thuộc vào Quán kinh sớ 4 quyển, là một tác phẩm hoàn chỉnh. Quán kinh sớ nặng về giáo nghĩa, phối với Cụ sớ nói về phương pháp thực tiễn, thì lại càng hoàn bị hơn. Lại nữa, nội dung bốn bộ này gồm các bài tụng tán cần cho việc tụng kinh hành đạo, thế nên cũng gọi là Hành nghi quyển.
cụ sử la
Ghosira (skt). 1) Hảo Thanh Điểu: Tên một loài chim có giọng hót rất hay—Name of a bird that has an excellent voice. 2) Tên của một vị trưởng giả tại Kausambi, người đã dâng hiến Cụ Sử La viên và tịnh xá cho Đức Phật—A wealthy householder of Kausambi, who gave Sakyamuni the Ghosiravana park and vihara.
cụ thuyết
Giáo thuyết đầy đủ—To discuss completely, state fully.
cụ thể
Concrete—corporealization.
cụ thể hóa
To concrete—To corporealize.
cụ thọ
Ayusmat (S)Huệ mạng1- Bậc đầy đủ huệ và đức hạnh được mọi người tôn kính. 2- Huệ mạng: thọ mạng ở thế gian.
; Ayusmant (skt)—Tiếng xưng hô chung của các Tỳ Kheo, các Thầy gọi đệ tử hay trưởng lão Tỳ Kheo gọi các Tỳ Kheo trẻ (ý nói các vị ấy có đủ thọ mệnh thế gian và tuệ mệnh pháp thân)—Having long life, a term by which a monk, a pupil, or a youth may be addressed.
; (具壽) Có nghĩa là trước đức Phật, đưa một tay lên, hoặc hơi cúi đầu để tỏ bày sự kính lễ - đây là nghi lễ đơn giản nhất trong các phép lễ. Kinh Pháp hoa quyển 1 phẩm Phương tiện (Đại 9, 9 thượng), nói: Hoặc có người lễ lạy, hoặc chỉ chắp tay, cho đến giơ một tay lên, hoặc hơi cúi đầu, lấy đó cúng dường tượng, sẽ dần dần được thấy vô lượng Phật, và tự thành đạo vô thượng.
Cụ trần
具陳; C: jù chén; J: guchin;|Trình bày chi tiết.
Cụ trần 具陳
[ja] グチン guchin ||| To describe in detail. => Trình bày chi tiết.
Cụ túc
具足; C: jùzú; J: gusoku;|Có các nghĩa sau: 1. Được phú cho, được cung cấp đầy đủ, chuẩn bị đầy đủ, có, thừa hưởng (cụ bị; s: upeta, sampad); 2. Được trang bị đầy đủ, không thiếu thứ gì; 3. Hoàn thành, hoàn thiện (s: paripūrna); 4. Chi tiết, chăm sóc chu đáo, hoàn chỉnh; 5. Sự thụ nhận giới luật của người xuất gia; 6. Đồ dùng, công cụ, phương tiện sinh hoạt; 7. Giới Cụ túc (Tỉ-khâu) mà chư Tăng, Ni xuất gia thụ nhận. Cụ túc giới (具足戒).
cụ túc
Complete, entire, whole.
; Tròn đầy—All—Complete—Replete with endowments.
; (具足) I. Cụ túc. Đầy đủ. Nói tắt của Cụ bị mãn túc .. Kinh Pháp hoa phẩm Phổ môn (Đại 9, 58 thượng), nói: Quan âm diệu trí lực, hay cứu khổ thế gian, đầy đủ sức thần thông, rộng tu trí phương tiện. Ngoài ra, Cụ túc y nghĩa, tức là Như Lai có đầy đủ pháp thế gian và xuất thế gian, là chỗ nương tựa của chúng sinh. Lại Cụ túc tam thiên, là nói tắt của Nhất hào chi nội cụ túc tam thiên (trong một mảy lông có đầy đủ ba nghìn), nghĩa là một tức hết thảy, hết thảy tức một, tương tức tương nhập. Lời tựa trong Lăng già sư tư kí (Đại 85, 1283 trung), nói : Trong một sợi lông đầy đủ ba nghìn đại thiên, trong một mảy bụi dung chứa vô biên thế giới. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng - kinh Hoa nghiêm (60 quyển) phẩm Tính khởi - Đại thừa nghĩa chương Q.14]. II. Cụ túc. Phạm: Purịka. Dịch âm: Phú lan na ca. Dịch ý: Mãn túc, Cụ túc. Một đệ tử của đức Phật. Là trưởng giả ở thành Ba la nại, làm bạn với các trưởng giả Da xá, Li cấu, Thiện thực, Ngưu vương v.v... Sau nghe Da xá đã qui Phật xuất gia tu hành, ông liền cùng với Li cấu và các bạn khác đến chỗ Phật xin xuất gia, cuối cùng thành La hán. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.36].
cụ túc giới
Complete precepts of a monk or a nun.
; Upasampadà (S). The complete rules or commandments - 250 for the monk, 348 for the nun.
; Cụ túc giới của Tỳ Kheo hay 250 giới tròn đầy của chư Tăng. 250 giới thường cho Tỳ Kheo Tăng, và 348 giới cho Tỳ Kheo Ni (có nơi cho là 500 giới cho Tỳ Kheo Ni)—The perfect or complete (full) 250 commandments, which are obligatory on monks and nuns. 250 commandments are usually for monks, those for nuns are 348 (some says 500 commandments for the nuns). **For more information, please see Viên Cụ.
; (具足戒) Phạm, Pàli: Upasaôpanna, hoặc Upasôpadà. Dịch âm: Ô ba tam bát na. Dịch ý: gần tròn, có nghĩa là gần gũi Niết bàn. Cũng gọi là Cận viên giới, Cận cụ giới, Đại giới, nói tắt là Cụ giới. Là giới luật mà tỉ khưu, tỉ khưu ni phải thụ trì - vì giới phẩm đầy đủ so với mười giới của Sa di và Sa di ni, cho nên gọi là Cụ túc giới. Theo giới pháp qui định, khi thụ trì giới Cụ túc tức là đã chính thức trở thành tỉ khưu và tỉ khưu ni. Phổ thông, giới tỉ khưu có hai trăm năm mươi giới, giới tỉ khưu ni có ba trăm bốn mươi tám giới. Cứ theo luật Tứ phần chép, thì giới có thể chia làm tám loại: Ba la di (tỉ khưu bốn, tỉ khưu ni tám) - Tăng tàn (tỉ khưu mười ba, tỉ khưu ni mười bảy) - Bất định (tỉ khưu hai) - Xả đọa (tỉ khưu ba mươi, tỉ khưu ni ba mươi) - Đơn đọa (tỉ khưu chín mươi, tỉ khưu ni một trăm bảy tám) - Ba la đề đề xá ni (tỉ khưu bốn, tỉ khưu ni tám) - Chúng học (tỉ khưu một trăm, tỉ khưu ni một trăm) - Diệt tránh (tỉ khưu bảy, tỉ khưu ni bảy). Còn các bộ luật Thập tụng, luật Ngũ phần, Thiện kiến luật tì bà sa, Ba li giới bản, Tây tạng giới bản v.v... mỗi bộ truyền chép mỗi khác. Khi thụ giới này, phải có tác pháp đặc biệt, chẳng hạn điều kiện phải có đủ ba thầy truyền giới, bảy vị chứng minh, bạch bốn Yết ma v.v... Từ trong giới Cụ túc rút ra năm giới, tám giới... tùy theo căn cơ mà lãnh thụ để làm phương tiện tu tập dần dần trước khi thụ trì giới Cụ túc, gọi là Cụ giới phương tiện. Những người bị mười ba nạn, mười già thì không được phép thụ giới. Tăng ni Trung quốc, từ Tùy, Đường trở đi, đều y theo luật Tứ phần mà thụ giới - và đặc biệt ngoài việc thụ trì giới Cụ túc, còn thụ thêm mười giới nặng, bốn mươi tám giới nhẹ của giới Bồ tát. Ngoài ra người muốn thụ giới Cụ túc, thân thể phải mạnh khỏe, đầy đủ các căn, không bị điếc, lòa, thân khí trong sạch, không mắc biên tội, phạm tỉ khưu ni, tặc trụ v.v..., đủ tướng xuất gia, cạo bỏ râu tóc - mặc áo casa, đã thụ giới Sa di, Sa di ni rồi, đủ hai mươi tuổi và chưa quá bảy mươi tuổi. Giới Cụ túc là giới luật chủ yếu, giúp người giữ giới nhờ đó mà xa lánh tội ác trong tất cả hoàn cảnh, hướng tới sự hoàn thiện, đầy đủ nên gọi là giới Cụ túc. [X.luật Tứ phần Q.34 - Thiện kiến luật tì bà sa Q.2 - luật Thập tụng Q.21 - luật Ngũ phần Q.16 - luật Ma ha tăng kì Q.43]. (xt. Giới).
cụ túc giới tỳ kheo
Hai trăm hai mươi bảy hoặc hai trăm năm chục giới cho Tỳ Kheo—Two hundred twenty-seven or two hundred fifty moral precepts for monks—Tỳ Kheo là vị đã nhận biết rõ ràng bản chất của đời sống. Vị ấy nhận biết rằng cuộc sống tại gia dẫy đầy trở ngại như con đường đầy bụi bậm. Ngược lại, cuộc sống xuất gia như bầu trời cao rộng, với tràn đầy không khí tươi mát. Vì thế vị ấy quyết từ bỏ cuộc sống trần tục để sống đời Du Tăng Khất sĩ. Khi gia nhập Giáo Đoàn, ngoài việc cạo tóc và mặc áo vàng, vị ấy còn phải học lý thuyết và thực hành giáo lý nhà Phật, cũng như giữ giới luật mà Đức Phật đã đặt ra. Tuy nhiên, thường thì trẻ dưới 18 tuổi không được thọ giới Tỳ Kheo trừ phi nào có những trường hợp đặc biệt. Như trường hợp của Thiếu Khang Đại Sư, Tổ thứ Năm của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, vì căn cơ và trí huệ rất linh mẫn, nên năm 15 tuổi ngài thông suốt năm bộ kinh và đã được cho thọ giới Tỳ Kheo. Phật tử nào muốn xuất gia phải sống tu trong chùa vài năm để học và hành nghi lễ Phật giáo. Sau đó nếu thấy được thì Thầy viện chủ sẽ cho thọ giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni—A Bhiksu is he who has fully realized the true nature of life. He understands that the life of a lay person is full of obstacles as a path of dust. In the contrary, the life of a Bhiksu is just like the open sky with full of fresh air. Therefore, he decides to abandon the domestic life and takes up the life of a wandering Bhiksu. When he joins the Order, beside getting his head shaved and putting on the yellow robe, he must learn the theoretical and practicing teachings of the Buddha and keeps all Bhiksu rules and regulations set forth by the Buddha. Children are usually not allowed to take the Bhiksu precepts unless they are out-of-the ordinary in their abilities. As the case of Great Master Sao-Kang. His intelligence and wisdom were extraordinary. After becoming a Bhiksu at the age of 15, He had completely understood and deeply penetrated the hidden meanings of the five collections of Sutras. Buddhists who wish to become a monk or nun must live in a temple for several years to learn Buddhist rituals and practices. Thereafter, if the headmaster deems them being fit and ready to become a monk or nun, only then do they take the Bhiksu or Bhiksuni precepts. These rules include: (I) Kiết Giới Tứ Khí hay Kiết Giới Tứ Ba La Di (bốn đại giới): Parajika (skt)—Four Defeats—See Tứ Đọa (II) Kiết Giới Thập Tam Tăng Tàn hay Mười ba giới Tăng Tàn giáng cấp hay tạm thời bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn: Sanghadisesa (skt)—Thirteen offences which lead to a temporary expulsion of a monk out of the Order—See Thập Tam Giới Tăng Tàn. (III) Kiết Giới Nhị Bất Định: Aniyata (skt)— Nhị Bất Định Giới, hay hai giới không định, nói về hai trường hợp cần có bằng chứng rõ ràng để xác định được tội danh. Hai giới bất định liên hệ tới vấn đề hoạt động tình dục—Two Aniyata offences which are connected with activities of sex. This portion speaks of two cases which require circumstantial evidence to ascertain the offence—See Nhị Giới Bất Định. (IV) Kiết Giới Tam Thập Xả Đọa hay Tam Thập Giới Phá Sự Thanh Bần (ba mươi giới phá sự thanh bần): Nissaggiya-pacittiya (skt)—Đây là ba mươi trường hợp vi phạm khi chiếm hữu các vật dụng không được cho phép, cần phải được giải thích và sám hối trước Giáo Đoàn. Tu sĩ phạm tội có thể được xá tội nếu chịu bỏ món đồ ra và thú tội—Thirty offences that can be committed by a monk who takes certain articles of use which were not permissible, require explanation and repentance in front of the Order. The offending monks could be absolved if they parted with the article in question and confessed their guilt—See Tam Thập Giới Xả Đọa. (V) Kiết Giới Xả Đọa: Pacittiya (skt)—Tội Ba Dật Đề gây ra do những hành vi bất cẩn dẫn đến việc giết hại côn trùng, thiếu tôn kính đối với giáo lý và giới luật của Đức Phật, không tuân thủ các chỉ dẫn của giới luật, hay sơ xuất trong việc xử dụng giường nằm, chỗ ngồi, y áo, vân vân trong khi sống trong tu viện—Pacittiya offences relate to careless acts leading to insecticide, to lack of respect for the Buddhist teachings and disciplinary code and to non-compliance with the directions in the Vinaya, as well as indiscrete acts in the use of beds, seats, robes, etc. while dwelling in a monastery. a) Kiết Giới Cửu Thập Đọa hay Cửu Thập Giới Hành theo Đại Thừa và Khất Sĩ (chín mươi giới phạt quỳ hương): Chín mươi giới phạt quỳ hương—Ninety offences which lead to expiation, according to Mahayana Budhism and Sangha Bhiksu Buddhism—See Cửu Thập Giới Đọa. b) Kiết Giới Cửu Thập Nhị Đọa theo phái Tiểu Thừa—Ninety-two offences which lead to expiation according to Mahayana Buddhism—See Cửu Thập Nhị Giới Đọa. (VI) Kiết Giới Tứ Hối Quá hay bốn giới đặc biệt xả đọa: Patidesaniya-dhamma (p)—Ba La Đề Xá Ni là bốn giới vi phạm đời sống xuất gia phạm hạnh, hay những tội danh liên quan đến việc một tu sĩ dùng các thức ăn không được cúng dường cho mình. Bốn tội danh nầy có hình phạt là phải xin sám hối trước Giáo Đoàn—Four offences of disobeying the rules of monastic life outlined in the Vinaya pitaka. The Patidesaniya speaks of only four offences relating to a monk's taking food which has not been offered to him. The punishment for such trangression is the confession and repentance of the offence before the Order—See Tứ Giới Hối Quá. (VII) Kiết Giới Chúng Học: Sekhiya-dhamma (skt)—Gồm bảy mươi lăm hay một trăm trường hợp vi phạm trong cuộc sống hằng ngày, ví dụ như cách thức khi đi vào làng xã hoặc phố phường, cách dùng thức ăn mà không làm phiền đến ai, cách đi vào một phòng bệnh, vân vân. Những điều nầy không được xem là tội danh và không có hình phạt nào dành cho chúng—Including either seventy-five or one hundred offences connected with the Bhiksu's daily activities, for instance, how he must enter a village or a town, take food inoffensively, enter a sick room, etc. These are not treated as offences and no punishment is therefore prescribed for them. a) Có 75 giới chúng học theo hệ phái Nguyên Thủy—There are seventy-five Sekhiya rules in Theravadan Buddhism—See Thất Thập Ngũ Giới Chúng Học. b) Có một trăm giới chúng học theo hệ phái Đại Thừa và Khất Sĩ: There are one hundred Sekhiya rules in Mahayana Buddhism and Sangha Bhiksu Buddhism—See Bách Giới Chúng Học. (VIII) Thất Diệt Tránh Pháp: Adhikarana-samatha (skt)—Diệt tránh hay là những phương thức để giải quyết những tranh chấp trong Tăng đoàn—Adhikarana-samatha or the means of settling disputes within the Sangha—See Thất Diệ Tránh Pháp.
cụ túc giới tỳ kheo ni
Ba trăm bốn mươi tám giới cho Tỳ Kheo Ni—Three hundred forty-eight moral precepts for nuns—Tỳ Kheo Ni là vị đã nhận biết rõ ràng bản chất của đời sống. Vị ấy nhận biết rằng cuộc sống tại gia dẫy đầy trở ngại như con đường đầy bụi bậm. Ngược lại, cuộc sống xuất gia như bầu trời cao rộng, với tràn đầy không khí tươi mát. Vì thế vị ấy quyết từ bỏ cuộc sống trần tục để sống đời một vị nữ tu. Khi gia nhập Giáo Đoàn Ni, ngoài việc cạo tóc và mặc áo vàng, vị ấy còn phải học lý thuyết và thực hành giáo lý nhà Phật, cũng như giữ giới luật mà Đức Phật đã đặt ra. Tuy nhiên, thường thì trẻ dưới 20 tuổi không được thọ giới Tỳ Kheo Ni trừ phi nào có những trường hợp đặc biệt. Phật tử nào muốn xuất gia phải sống tu trong chùa ít nhất là hai năm để học và hành nghi lễ Phật giáo và sáu luật cho Sa Di Ni. Sau đó nếu thấy được thì Thầy viện chủ sẽ cho thọ giới Tỳ Kheo Ni—A Bhiksuni is she who has fully realized the true nature of life. She understands that the life of a lay person is full of obstacles as a path of dust. In the contrary, the life of a Bhiksu or Bhiksuni is just like the open sky with full of fresh air. Therefore, she decides to abandon the domestic life and takes up the life of a Bhiksuni. When she joins the Order of Nuns, beside getting her head shaved and putting on the yellow robe, she must learn the theoretical and practicing teachings of the Buddha and keeps all Bhiksuni rules and regulations set forth by the Buddha. Children under 20 are usually not allowed to take the Bhiksuni precepts unless they are out-of-the ordinary in their abilities. Female Buddhists who wish to become a nun must live in a temple for at least two years to learn Buddhist rituals and practices and the six rules for a female novice (see Thập Giới Sa Di II B). Thereafter, if the headmaster deems them being fit and ready to become a nun, only then do they take the Bhiksuni precepts. These rules include: (I) Kiết Giới Bát Ba La Di (tám đại giới): Parajika (skt)—Eight Defeats—See Bát Đọa (II) Kiết Giới Thập Thất Tăng Tàn hay Mười bảy giới Tăng Tàn giáng cấp hay tạm thời bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn: Sanghadisesa (skt)—Seventeen offences which lead to a temporary expulsion of a nun out of the Order of Nuns—See Thập Thất Giới Tăng Tàn. (III) Kiết Giới Tam Thập Xả Đọa hay Tam Thập Giới Phá Sự Thanh Bần (ba mươi giới phá sự thanh bần): Nissaggiya-pacittiya (skt)—Đây là ba mươi trường hợp vi phạm cần phải được giải thích và sám hối trước Giáo Đoàn—Thirty offences which require explanation and repentance in front of the Order—See Tam Thập Giới Xả Đọa Của Chư Ni. (IV) Kiết Giới Xả Đọa: Pacittiya (skt)—Kiết Giới Bách Thất Thập Bát Đọa hay Bách Thất Thập Bát Giới Hành theo Đại Thừa và Khất Sĩ (một trăm bảy mươi tám giới phạt quỳ hương): One hundred seventy-eight offences which lead to expiation, according to Mahayana Budhism and Sangha Bhiksu Buddhism—See Bách Thất Thập Bát Giới Ba Dật Đề. (V) Kiết Giới Hối Quá hay tám giới đặc biệt xả đọa: Patidesaniya-dhamma (p)—Tám giới vi phạm đời sống xuất gia phạm hạnh mà hình phạt là phải xin sám hối trước Giáo Đoàn—Eight offences of disobeying the rules of monastic life outlined in the Vinaya pitaka. The punishment for such trangression is the confession and repentance of the offence before the Order—See Bát Giới Hối Quá. (VI) Kiết Giới Chúng Học: Sekhiya-dhamma (skt)—Gồm một trăm trường hợp vi phạm trong cuộc sống hằng ngày của Ni chúng—Including one hundred offences connected with the Bhiksuni's daily activities. a) Có 75 giới chúng học theo hệ phái Nguyên Thủy—There are seventy-five Sekhiya rules in Theravadan Buddhism—See Thất Thập Ngũ Giới Chúng Học. b) Có một trăm giới chúng học theo hệ phái Đại Thừa và Khất Sĩ: There are one hundred Sekhiya rules for Bhiksunis in Mahayana Buddhism and Sangha Bhiksu Buddhism—See See One Hundred Rules of Conduct for Nuns. (VII) Thất Diệt Tranh Pháp: Seven rules for the participation and settlement of disputed questions that have been raised—See Thất Diệt Tranh Pháp.
cụ túc giới tỳ kheo ni phật giáo nguyên thủy
See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo Ni. (I) Parajika Bát Đọa: Parajikas (skt)—Ba La Di—Bát Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Chữ Parajika được lấy từ gốc chữ Bắc Phạn Para và Jika có nghĩa là ĐỌA. Bát Đọa có nghĩa là tám tội Ba La Di thoái đọa pháp hải và bị khai trừ khỏi Tăng Chúng. Theo quan điểm xuất gia của Phật giáo thì những vi phạm nầy được xem là có tính chất nghiêm trọng. Bất cứ vị Ni nào, bất kể thứ bậc và thâm niên trong Giáo Đoàn, hễ phạm phải một trong Bát Ba La Di nầy sẽ bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn. Một khi bị trục xuất sẽ không bao giờ được phép trở lại Giáo Đoàn (bất cứ hệ phái nào trong Phật Giáo). Những vị nầy sẽ vĩnh viễn bị đọa lạc. Vì thế mà Đức Phật khuyến cáo chư Tăng Ni phải cẩn trọng đừng để vướng phải một trong những Ba La Di nầy—The eight grave prohibitions or sins—The word Parajika is derived from the Sanskrit root Para and Jika which means that makes DEFEAT. Eight parajikas mean eight causes of falling from grace and final excommunication or expulsion of a monk or nun. According to the monastic point of view, these offences are regarded as very serious in nature. Any nuns, regardless of their ranks and years in the Order, violate any one of these offences, are subject to expulsion from the Order. Once they are expelled, they are never allowed to join the Order again. They are defeated forever. Therefore, the Buddha cautioned all monks and nuns not to indulge in any one of them: Theo cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa—According to both Mahayana and Hinayana: 1) Sát: Giết hại chúng sanh—Vadha-himsa (skt)—Killing—See Sát Sanh. 2) Đạo: Trộm Cắp—Adattadana (skt)—Stealing—See Trộm Cắp. 3) Dâm Dục: Phạm tội thông dâm—Abrahmacarya (skt)—Adultery—Sexual immorality or bestiality—See Dâm. 4) Vọng: Vọng ngữ hay nói dối—Uttaramanusyadharma-pralapa (skt)—False speaking—Falsity—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc. 5) Cấm một Ni cô rờ rẫm, chà xát hay xoa bóp người nam từ xương cổ trở xuống tới đầu gối: The action like enjoying rubbing, touching and pressing against a male person below the collar-bone and above the circle of the knees with some desire by a nun is treated as a serious offence which makes her defeated in the spiritual life. 6) Cấm một Ni cô nắm tay nắm áo người nam, đứng gần, nói chuyện, hay đề nghị gặp gỡ hay hẹn hò với người nam ở nơi kín đáo: It is a serious offence named Parajika for a nun who with some desire consents to hold the hand of a male person, his outer cloak, standing near him, holding a talk with him or suggesting to go a rendez-vous, consent to meet him or enter into a covered place and dispose the body for such purpose. 7) Cấm một Ni cô dấu tội của những Ni cô khác: A nun should not conceal a knowingly Parajka offence of some other nuns entails her to be defeated in the monastic life. 8) Cấm đi theo một vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni đã bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn: A nun who follows a Bhikkhu or a Bhikkhuni who have been suspended by the Sangha even after thrice admonitions by other nuns is an act of Parajika for the nun. (II) Sanghadisesa Thập Tam Giới Tăng Tàn: Sanghadisesa (skt)—Theo Luật Tạng, mười ba giới tổn hại Tăng Tàn khiến chư Tăng phạm phải sẽ bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn. Vị Ni nào phạm phải sẽ bị Giáo Đoàn quy định thời gian bị tạm trục xuất. Đến khi mãn hạn trục xuất, người phạm tội phải ra trước Giáo Đoàn xin được tái gia nhập vào giáo đoàn. Không có sự chấp thuận của Giáo Đoàn, người phạm tội không thể trở lại giáo đoàn—According to the Vinaya Pitaka (Book of Discipline), Part I, translated into English by I.B. Horner, thirteen offences which entail nuns temporary expulsion from the Order. Indulging in any one of these offences, nuns are required to leave the Order for a period of time fixed by the assembly of monks and nuns. After that time, offenders present themselves before the Order to beg for a reinstatement. Without the permission from the assembly of monks and nuns, offenders cannot return to the Order. 1) Cấm một Ni cô nói lời ganh ghét về bất cứ ai: Whatever nun should be one who speaks in envy concerning anyone (a householder or a householder's sons or brothers or a slave or a workman and even concerning a wanderer who is a recluse, that nun has fallen into a matter that is an offence at once, entailing a formal meeting of the Order involving being sent away). 2) Cấm một Ni cô che chở cho một người bị tội chết mà không có phép của Giáo Hội: Whatever nun should knowingly receive a woman thief found to merit death, without having obtained permission from a king or an Order or a group or a guild or a company, unless she is allowable, that nun has fallen into a matter that is an offence at once, entailing a formal meeting of the Order involving being sent away. 3) Cấm một Ni cô đi vào làng một mình (hay đi bên kia bờ sông một mình, hay đi trong đêm tối một mình): Whatever nun should go among village alone, or should go to the other side of a river alone, or should be away for a night alone, or should stay behind a group alone, that nun has fallen into a matter that is an offence at once, entailing a formal meeting of the Order involving being sent away. 4) Nầu không có phép của Giáo Hội, cấm phục giới cho một vị Tỳ Kheo Ni khác đã bị giáo hội phạt: Whatever nun, without having obtained permission from the Order which carried out the proceedings in accordance with the rule, the discipline, the teacher's instruction, not having learnt the group's desire, should restore a nun suspended by a complete Order, that nun has fallen into a matter that is an offence at once, entailing a formal meeting of the Order involving being sent away. 5) Cấm nhận đồ thí từ tay một người nam đầy dục vọng: Whatever nun, filled with desire, having accepted with her own hand from the hand of a man who is filled with desire, solid food or soft food, should eat it or partake of it, that nun has fallen into an offence entailing a formal meeting of the Order. 6) Cấm một Ni cô xúi một vị Ni cô khác thọ dụng đồ ăn của một tín thí nam đầy dục vọng: Whatever nun should speak thus: “What can this man, whether he is filled with desire or not filled with desire, do to you, lady, since you are not filled with desire? Please, lady, eat or partake of the solid food or the soft food which this man is giving to you, you having accepted it with your own hand.” That nun has fallen in an offence entailing a formal meeting of the Order. 7) Vị nào phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Ni đoàn nên hỏi ba lần xem coi vị ấy có sám hối hay không. Nếu sám hối thì không tội. Nếu không sám hối là phạm tội Tăng Tàn: Whatever nun, angry, displeased, should speak thus: “I repudiate the enlightened one… I repudiate the training. What indeed are these recluses who are recluses, daughters of the Sakyans? For there are other recluses, conscientious, scrupulous, desirous of training; I will lead the Brahma-life among these.” That nun should be spoken to thus by the nuns: “Do not, lady, angry, displeased, speak thus: “I repudiate the enlightened one…I will lead the Brahma-life among these.” Be satisfied, lady, dhamma is well preached, lead the Brahma-life for the utter ending of ill. And if that nun, being spoken to thus by the nuns, persists as before, that nun should be admonished by the nuns up to a third time for giving up that course. If being admonished up to a third time, she should give it up, that is good. If she should not give it up, that nun has fallen into an offence entailing a formal meeting of the Order. 8) Cấm một Ni cô nói rằng người khác làm sai vì ham muốn hay vì sợ sệt.” Nếu vị Ni nào nói như vậy, Ni chúng sẽ hỏi ba lần. Sau ba lần mà vị nầy cũng chưa chịu sám hối là phạm tội Tăng Tàn: Whatever nun, overthrown in some legal question, angry, displeased, should speak thus: “The nuns are following a wrong course through desire… and the nuns are following a wrong course through fear.” That nun should be spoken to thus by the nuns: “Do not, lady, overthrown in some legal question, angry, displeased, speak thus, 'the nuns are following a wrong course through desire… and the nuns are following a wrong course through fear.' The lady herself may go wrong from desire, and she may go wrong from hatred and she may go wrong from stupidity and she may go wrong from fear.” And if this nun, being spoken to thus by the nuns, persists as before, that nun should be admonished by the nuns up to a third time for giving up that course. If being admonished up to a third time, she should give it up, that is good. If she should not give it up, that nun has fallen into an offence entailing a formal meeting of the Order. 9) Nếu vị Ni cưỡng lý khi làm quấy, chẳng chịu nghe lời khuyên giải. Nếu Ni chúng hỏi ba lần mà vẫn không chịu nghe lời, vị nầy phạm tội Tăng Tàn (Cấm một Ni cô sống theo tập khí, ác danh, ác đạo, hay che dấu tội lỗi của người khác): If a nun who commits evil conduct or misbehavior, and her evil conduct is seen or heard, that nun should be admonished up to three times by the assmebly of nuns to allow her to give up her course. If after being admonished, she gives up that course, it is good. If she does not give up, it is an offence entailing a formal meeting of the Order (in case nuns live in company, of evil habits, of evil repute, of evil ways of living, vexing the Order of nuns, concealing one another's sins, those nuns should be spoken to thus by the nuns: “Sisters are living in company…concealing one another's sins. Let the ladies desist; the Order praises this detachment in sisters, But if these nuns. And if this nun, being spoken to thus by the nuns, should persists as before, that nun should be admonished by the nuns up to a third time for giving up that course. If being admonished up to a third time, she should give it up, that is good. If she should not give it up, that nun has fallen into an offence entailing a formal meeting of the Order). 10) Cấm nghi quấy một vị Tỳ Kheo Ni khác một gì mà không có thật: Not to suspect a nun with a groundless charge. 11) Cấm binh vực kẻ phá hoại sự hòa hiệp ở giáo hội: Not to side with someone who creates schism to destroy the harmony of the Order. 12) Cấm không trang nghiêm, làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước: Not to lead a solemnly brahma life, to be a bad example for others to imitate. 13) Cấm dùng cách nầy thế kia để phá sự hòa hiệp của giáo hội: Not to do things to destroy the harmony of the Order. (III) Nissaggiya-pacittiya Tam Thập Giới Xả Đọa Tỳ Kheo (Ni): Nissaggiya-pacittiya (skt)—Từ Nissaggiya-pacittiya gốc Nam Phạn, có hai phần: phần thứ nhất là Nissaggiya có nghĩa là từ bỏ; phần thứ hai Pacittiya có nghĩa là điều giải trước giáo đoàn. Con người thường có khuynh hướng sa ngã; vì thế dù đã gia nhập vào cuộc sống tự viện, chư Tăng Ni vẫn thỉnh thoảng vi phạm luật sống trong tự viện, như chấp nhận quá số vật dụng hằng ngày được Đức Phật quy định cho Tăng Ni. Chính vì thế mà Đức Phật đã đặt ra thanh quy tự viện, nhằm giúp chư Tăng Ni tránh phạm phải lỗi lầm. Đây là ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A man by his true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the monk sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making monks and nuns free from transgressions. These are thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention. 1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: A nun should not wear or keep an extra robe for more than ten days. 2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: a nun should not leave robes and sleeping material in another place, even for one night (nuns should not be away, separated from the three robes, even for one night). 3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Ni vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the nun, even not at the right time, it may be accepted by that nun if she so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for her, that robe-material may be laid aside by that nun for a month at most. 4) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A nun should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed). 5) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: a nun should not accept more than an inner and upper robes (if a nun is offered robe-material for many robes, then at most she should accept enough for an inner and an upper robe. If she accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture). 6) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 7) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 8) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: A nun should not obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately. 9) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A nun should not take gold and silver, nor should she ask another person to take for her. 10) Cấm buôn bán đồ quý báu: A nun should not engage in various transactions in which gold and silver is used. 11) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A nun should not engage in any kinds of bartering. 12) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A nun should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a nun should get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that nun to the company of nuns, and whatever the last bowl belonging to that company of nuns, that should be given to this nun with the words: “Nun, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case). 13) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A nun should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave her robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc). 14) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A nun should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers. 15) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another monk and then take it back because she is angry or displeased of that nun. 16) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A nun should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when she is ill. 17) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A nun should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season. 18) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A nun should not take any things that belong to the Order. 19) Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông: A nun should not do any shopping for a man. 20) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ người ta cúng cho Giáo Hội: a nun should not take away any thing that is offered to the Order. 21) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo Hội: A nun should not take away anything that another nun offers to the Order. 22) Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác: A nun should not use the donations from lay Buddhists for personal purposes. 23) Cấm nhơn danh Giáo Hội mà sắm đồ riêng cho mình: A nun should not gain any personal gains on behalf of the Order. 24) Cấm có đến hai cái bát để thay đổi: A nun should not keep an extra bowl. 25) Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp: A nun should not store beautiful things, such as art crafts, pictures, etc. 26) Cấm hứa cho một cô khác vải bó rịt trong cơn đau mà không cho: A nun should not brak her promise to give cloth for bandage to another nun. 27) Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo Hội phát (vì áo của thí chủ tốt hơn): A nun should not exchange the robe which is given by the Order for another one from lay Buddhists. 28) Cấm bất bình, giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another nun and then take it back because he is angry or displeased of that nun. 29) Cấm dùng may áo mùa đông đến bốn xấp vải: A nun should not use more than four batches of cloth for heavy (winter) clothes. It is advisable for a nun to bargain for a heavy cloth for four bronzes. If she bargains one worth more than that, she commits the offense of expiation. 30) Cấm dùng may áo mùa hè trên hai xấp rưỡi vải: A nun should not use more than two and a half batches for light (summer) clothes. Bargaining for light clothes should be made for at most two and half bronzes. If she bargains a light cloth worth more than that, she commits an offense of expiation involving forteature. Pacittiya One hundred sixty-six rules for Bhiksunis—Pacittiya (skt)—Theo Luật Tạng, Pacittiya là 166 giới Ba Dật Đề dành cho Ni chúng, nếu phạm một trong những tội nầy mà chí thành phát lồ sám hối trước Tăng Ni chúng, thì tội được tiêu khiên. Nếu không chí thành phát lồ sám hối, chẳng những sẽ trở ngại cho việc khởi sanh thiện pháp, mà sẽ còn bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—According to the Book of Rules (Vinaya Pitaka), one hundred sixty-six Pacittiya offences which require confession and repentance. If a nun committed any of them, makes a confession of it before the Sangha (Order of monks and nuns) with clear heart, she will become free from the offence. If she doesn't, the offence itself will not only obstruct her development of wholesome acts, but it will also cause her rebirth in lower realms, i.e., hell, hungry ghosts, or animal. 1) Cấm ăn ngũ tân như tỏi, hành, hẹ, nén, kiêu: A nun should not eat the five forbidden pungent roots, i.e., garlic, onion, leeks, etc. 2) Cấm bất tuân chẳng cạo chơn mày: A nun should not disobey the law by not shaving the eyebrows. 3) Cấm vỗ tay: In slapping with the palms of the hands, there is an offence of expiation. 4) Cấm dồi phấn: In application of lac, there is an offence of expiation. 5) Cấm dùng quá hai lóng tay nước để rữa những chỗ kín trong thân: If a nun is taking an ablution with water (washing the private parts in the body), she may take at most a measure of two finger-joints. For whoever exceeds this, there is an offence of expiation. 6) Cấm một Ni một Sư uống nước chung và quạt cho nhau: A nun should not stand with drinking water or with a fan close to a monk while he is eating or drinking. 7) Cấm nướng xay hạt tươi hay bảo người nướng xay hạt tươi: Whatever nun, having asked for raw grain or having had it asked for, or having roasted it or having caused it to be roasted, or having pounded it or having caused it to be cooked, should eat it, there is an offence of expiation. 8) Cấm quăng ra ngoài rào, đồ đại, tiểu tiện khi đêm: A nun should not throw out the excriment or urine or rubbish or remains of food over a wall or a fence. 9) Cấm đại, tiểu tiện làm dơ cây cối, hay quăng đồ đại tiểu tiện hay đồ ăn thừa lên mùa màng: A nun should not go to stool or urinate to cause pollution in the area of vegetables, plants or trees. A nun should not throw out or should not cause to throw out excrement or urine or rubbish or the remains of food on to the crops. 10) Cấm xem ca múa hát xướng: A nun should not go to see dancing or singing or music. 11) Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ vắng vẻ: A nun should not speak with a man in a secluded place (it is not proper for a nun to stand with a man or talk to him alone in a secluded place, i.e., in the dark of the night when there is no light). In doing so, she commits an offence which requires expiation. 12) Cấm gặp và nói chuyện với đàn ông chỗ chán chường: A nun should not meet and talk with a man in a private place. 13) Cấm cùng đứng hay cùng nói chuyện với người nam ngoài đường: A nun should not stand together with a man, nor should she talk with a man in an open place. 14) Cấm cùng đứng hay cùng nói chuyện với người nam trong xe, nơi ngỏ cụt, góc đường, hay nói rỉ tay với người nam: A nun should not stand together with a man, nor should she talk with him on a carriage road or in a cul-de-sac or at cross-roads, nor should she whisper in his ear. 15) Cấm đi vào nhà cư gia trước giờ ăn, ngồi xuống, rồi ra đi thình lình không cho chủ nhà hay: A nun should not enter lay people's houses before a meal, sit down and leave the house without asking the owner's permision. 16) Cấm vào nhà cư gia sau bữa ăn mà chủ nhà không hay biết rồi ngồi nằm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person after a meal, and sit or lie down at ease without informing the householder or asking for the householder's permision. 17) Cấm vào nhà cư gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi tự tiện ở lại đêm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person at the wrong time (from sunset to sunrise) without informing the owner, then stay overnight without asking for permision of the owner. 18) Cấm một vị Ni vì hiểu lầm mà làm cho người nầy khinh dễ người kia: A nun, because of a misapprehension, because of a misunderstanding, should not make someone look down upon another. 19) Cấm một vị Ni nguyền rủa chính mình hay người khác: A nun should not curse herself or another with hell. 20) Cấm khóc lóc hay đấm ngực. Nếu đấm ngực mà không khóc, hay khóc mà không đấm ngực cũng vẫn phạm tội: A nun should not weep or strike herself again and again. If she strikes but does not weep, there is an offence of wrong-doing. If she weeps, but does not strike, there is an offence of wrong-doing. 21) Cấm tắm dưới nước mà chẳng có choàng tắm: A nun should not bathe naked. It is not advisable for a nun to take a bath without clothes or having no dress at all. If she does so, she commits an offence of expiation. 22) Cấm dùng choàng tắm rộng quá thước tất: A nun should not use a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun. When a bathing cloth is being made for a nun, it must be made to a proper measure. This is the proper meausre: in length four spans, in width two spans. For her who exceeds this measure, should she make or arrange to make a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun, there is an offence of expiation (The Book Of The Discipline, I.B. Horner, 1997). 23) Cấm may một cái áo để quá năm ngày: A nun should neither sew or make effort to have the robe sewn beyond the limit of five days. Whatever nun, having unsewn or having made another unsewn a nun's robe, if she is not afterwards prevented should neither sew it nor should make an effort to get it sewn, except on the fourth and fifth days, there is an offence of expiation. 24) Cấm đi ra ngoài với áo khoát quá năm ngày: Whatever nun should miss not going about in an outer cloak for five days, there is an offence of expiation. 25) Cấm mặc đồ của một cô khác mà không hỏi trước: A nun should not wear a robe of someone else without permision (a nun should not wear a robe that should be handed back). 26) Cấm có ý cản trở sự phát áo của Giáo Hội: A nun should not put an obstacle in the way of a group's receiving robe or in legal distribution of robe material in the Sangha. 27) Cấm nhơn danh Giáo Hội, phát áo và vải rồi để dành lại một ít cho mình: A nun should not hold back a legally valid division of robe-material. 28) Cấm đưa đồ may áo cho bất cứ ai mà không có phép của Giáo Hội: A nun should not give recluses' robe-material to anyone without permission from the Order, i.e., a householder or to a wanderer or to a female wanderer. 29) A nun, when an expectation of robe-material is not sure, should not let the robe-season pass. 30) Cấm nhơn danh Giáo Hội phát vải may áo mà để lại một ít cho mình: A nun should not hold back a legally valid removal of the kathina (privileges). 31) Cấm hai cô nằm chung, trừ khi đau yếu: Two nuns should not share one couch, except when they are ill. If not, they commit the offence of expiation. 32) Cấm hai cô cùng đắp chung: Two nuns should not share one covering-cloth. 33) Cấm làm cho vị Ni khác khó chịu: A nun should not intentionally cause discomfort to another nun. 34) Cấm chẳng săn sóc người ở gần mình trong cơn đau bệnh: A nun who should neither attend to an ailing woman who lives with her, nor should she make an effort to get her attended to, commits the offence of expiation. 35) Cấm trong mùa mưa đuổi một cô đi chỗ khác, sau khi mình đã tìm xong chỗ ngụ: Whaterver nun, having given quarters to a nun, should, angry, displeased, throw her out or have her thrown out, commits the offence of expiation. 36) Cấm thân cận và ở chung nhà với đàn ông: A nun should not keep company with a man (whatever nun should keep company with a householder or with the householder's son, that nun should be spoken to thus by the nuns: “Do not, lady, keep company with a householder and with a householder's son. Let the lady desist, the Order praises such detachment in a sister.” But if that nun, being spoken to thus by the nuns, should persist as before, that nun should be admonished by the nuns up to the third time for giving up that course. If she should give up, while being admonished up to the third time, that is good. If she should not give up, there is an offence of expiation). 37) Cấm đi quanh vùng nguy hiểm: A nun should not go on alms-tour within a dangerous region. Her disobeying the rule is the committing of an offence of expiation. 38) Cấm đi quanh xứ lộn xộn: A nun should not go on alms-tour within a chaotic region. 39) Cấm đi lúc mùa mưa, vì có thể dẫm lên và giết hại sâu bọ: A nun should not walk on almstour duirng the rains, for she may tread on worms and other insects. 40) Chẳng nên đi khất thực xa nơi an cư kiết hạ, dù chỉ là năm sáu do tuần (see Do Tuần): A nun, during the rains, should not set out on almstour, even for a distance of five or six yojanas. 41) Cấm đi xem đền đài cung điện của vua: A nun should not go to see a king's palace, including the king's pleasure house, a picture gallery, a park, or a pleasure grove, or a lotus pond (it is said that if she goes to any of the above mentioned places, she commits the offence of expiation). 42) Cấm ngồi trên giường ván của cư gia: A nun should not make use of a sofa or a divan at the house of a lay person. 43) Cấm tự mình kéo chỉ quay tơ: A nun should not spin yarn. 44) Cấm ra tay làm việc cho người cư gia: A nun should not do household work for a lay person. Leading the holy life, a nun should not do the household work. If she does so, she commits an offence of expiation. 45) Cấm trước hứa giải quyết ổn thỏa những vấn đề liên quan đến pháp luật, nhưng sau lại không chịu giải quyết: A nun, being spoken to by a nun, saying: “Do come, lady, and settle this elgal question, and having answered, 'Very good,' yet if she is not afterwards prevented, should neither settle it nor should make an effort to get it settled, there is an offence of expiation. 46) Cấm trao tay thí đồ ăn cho kẻ ngoại đạo: A nun should not give with her own hand solid food or soft food to a heretics. According to The Book Of The Discipline, translated into English by I.B. Horner in 1997, if a nun gives with her own hand solid food or soft food to a householder, a male or female wanderer, she commits an offence of expiation. 47) Cấm lấy y phục của người tại gia mặc vào: A nun should not wear clothes of lay people (her househole robe). 48) Cấm vị Ni chưa xả bỏ nơi cư trú mà đi khất thực: A nun, not having given up her dwelling, should set out on almstour, there is an offence of expiation. 49) Cấm vị Ni học kiến thức thế tục. Nếu học cách viết chữ thì không phạm tội: A nun should never learn worldly (secular, not connected with the goal) knowledge. There is no offence if she learns writings. 50) Cấm vị Ni dạy kiến thức thế tục: A nun should not teach worldly knowledge. 51) Cấm vào tịnh xá chư Tăng mà không xin phép: a nun should not enter a monastery without asking for permision. 52) Cấm nhiếc mắng mấy Ni cô khác: A nun should not revile or abuse other nuns. In doing so she commits the offence of expiation. 53) Cấm nóng nảy la lối trước đám đông: A nun, being quick tempered, should abuse a group, there is an offence of expiation. 54) Cấm ăn nữa khi đã ăn no hay có người khác mời ăn thêm: A nun, being invited or being satisfied, should eat or partake of solid food or soft food, there is an offence of expiation. 55) Cấm ghen ghét hằn học: A nun should be one who is grudging as to families, there is an offence of expiation. 56) Cấm họp nhau trong mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng: A nun should not spend the rains in a residence where there is no monk. In case of violation of the instruction and staying during the rainy season in a monastery without monk, she commits the offence of expiation (the Buddha has made the rules for the nuns to enter into rainy season retreat in a monastery whre there are also monks. Probably this has been done with the consideration of providing them guardianship). 57) Cấm đến cuối mùa mưa quên đọc lại với Giáo Hội chư Tăng những điều nghe thấy: After the rainy season retreat, if a nun does not invite the Order of Monks and Nuns in respect of three matters: that is what was seen or heard or suspected, she commits the offence of expiation. 58) Cấm đi đến chỗ hô hào cổ võ: A nun should not go for exhortation or for communion. 59) Cấm quên hỏi Giáo Hội cầu thầy thuyết pháp và đọc giới bổn: A nun should not forget her general duty of asking the Order of the monks the dates of the observance day and preaching Dharma day. Every half month a nun should desire two things from the Order of monks: the asking as to the date of the Observance day and the approaching for exhortation. For her who transgresses this, there is an offence of expiation. 60) Cấm khi bệnh không có Giáo Hội cho phép mà để người khác cắt hoặc bó cho mình: It is not proper for a nun to make a boil or scab that has formed on the lower part of her body to be operated by a man without the permision of the Order; she should not also get it washed or smeared, bound up or unbound by a man. Doing so, she commits the offence of expiation. 61) Cấm cho nhập đạo một cô có thai: A nun should not ordain a pregnant woman. In case of doing so, she commits the offence of expiation. 62) Cấm cho nhập đạo một cô còn có con nhỏ: A nun should not ordain a woman giving suck (it is forbidden for a nun to ordain a woman giving suck). In case of violation of the rule, she commits an offence of expiation. 63) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa tập sự hai năm: A nun should not ordain a probationer who has not trained for two years in the six rules. Even after reaching the age of twenty years, a married girl is not fit for ordination, if she is not trained for two years in six rules (see Thập Giới II B). 64) Cấm cho nhập đạo mà chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a married girl without obtaining the permision from the Order, even though the girl has completed twenty years of age and has trained for two years in the six rules. In case of doing so, she commits the offence of expiation. 65) Cấm cho nhập đạo một cô gái kết hôn chưa được 12 năm: A nun should not ordain a girl married for less than twelve years. 66) Cấm cho nhập đạo một cô gái, dù đã kết hôn trên mười hai năm, nhưng mà chưa tập sự được hai năm: A nun should not ordain a girl, even though she married over twelve years, but has not trained for two years in the six rules. 67) Cấm cho nhập đạo một cô dù đã kết hôn trên mười hai năm và đã tập sự trên hai năm, nhưng chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a girl married for more than twelve years and has been trained for over two years without obtaining the permision from the Order. In case of doing so, she commits the offence of expiation. 68) Cấm đã thâu nhận học trò mà không lo dạy dỗ trong hai năm tập sự: After ordaining a woman, a nun should keep her under supervision and should help her for two years in training in six rules. It is a general rule for a nu
cụ túc giới tỳ kheo phật giáo nguyên thủy
(I) Parajika Tứ Đọa: Parajikas (skt)—Tứ Ba La Di—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Tứ Khí—Tứ Trọng—Chữ Parajika được lấy từ gốc chữ Bắc Phạn Para và Jika có nghĩa là ĐỌA. Tứ Đọa có nghĩa là bốn tội Ba La Di thoái đọa pháp hải và bị khai trừ khỏi Tăng Chúng. Theo quan điểm xuất gia của Phật giáo thì những vi phạm nầy được xem là có tính chất nghiêm trọng. Bất cứ vị Tăng nào, bất kể thứ bậc và thâm niên trong Giáo Đoàn, hễ phạm phải một trong Tứ Ba La Di nầy sẽ bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn. Một khi bị trục xuất sẽ không bao giờ được phép trở lại Giáo Đoàn (bất cứ hệ phái nào trong Phật Giáo). Những vị nầy sẽ vĩnh viễn bị đọa lạc. Vì thế mà Đức Phật khuyến cáo chư Tăng Ni phải cẩn trọng đừng để vướng phải một trong Tứ Ba La Di nầy—The four grave prohibitions or sins—The word Parajika is derived from the Sanskrit root Para and Jika which means that makes DEFEAT. Four parajikas mean four causes of falling from grace and final excommunication or expulsion of a monk or nun. According to the monastic point of view, these offences are regarded as very serious in nature. Any monks, regardless of their ranks and years in the Order, violate any one of these offences, are subject to expulsion from the Order. Once they are expelled, they are never allowed to join the Order again. They are defeated foreverTherefore, the Buddha cautioned all monks and nuns not to indulge in any one of them: Theo Đại Thừa và Tiểu Thừa—According to the Mahayana and Hinayana: 1) Sát: Giết hại chúng sanh—Vadha-himsa (skt)—Killing—See Sát Sanh. 2) Đạo: Trộm Cắp—Adattadana (skt)—Stealing—See Trộm Cắp. 3) Dâm Dục: Phạm tội thông dâm—Abrahmacarya (skt)—Adultery—Sexual immorality or bestiality—See Dâm. 4) Vọng: Vọng ngữ hay nói dối—Uttaramanusyadharma-pralapa (skt)—False speaking—Falsity—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc. (II) Sangadisesa Thập Tam Giới Tăng Tàn: Sanghadisesa (skt)—Theo Luật Tạng, mười ba giới tổn hại Tăng Tàn khiến chư Tăng phạm phải sẽ bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn. Vị Tăng nào phạm phải sẽ bị Tăng chúng quy định thời gian bị tạm trục xuất. Đến khi mãn hạn trục xuất, người phạm tội phải ra trước Tăng chúng xin được tái gia nhập vào giáo đoàn. Không có sự chấp thuận của Tăng chúng, người phạm tội không thể trở lại giáo đoàn—According to the Vinaya Pitaka (Book of Discipline), Part I, translated into English by I.B. Horner, thirteen offences which entail monks temporary expulsion from the Order. Indulging in any one of these offences, monks are required to leave the Order for a period of time fixed by the assembly of monks. After that time, offenders present themselves before the Order to beg for a reinstatement. Without the permission from the assembly of monks, offenders cannot return to the Order. 1) Cấm cố ý lấy tay tự làm sự dâm, ngoại trừ trong giấc mộng: Not to intentionally discharge of semen, except during a dream. 2) Cấm rờ mình đàn bà, như nắm tay, rờ búi tóc, rờ rẫm tay chân, vân vân: Not to come into physical contact with a woman, such as holding her hand, or holding a braid of her hair, or rubbing against any one of her limbs. 3) Cấm chọc ghẹo dụ dỗ đàn bà: Not to offend a woman with lewd words concerned with unchastity. 4) Cấm khoe phép tinh tấn với đàn bà, nói rằng 'Các bà phải phụ trợ một người như tôi, đức hạnh vẹn toàn, sống đời phạm hạnh' với ý muốn quan hệ tới việc dâm dục: Not to speak in praise of ministering to sensure pleasure for self in the present of women, saying: “Ladies, this is the highest kind of ministration, that a woman should minister to one like me, virtuous, of good conduct, leading the Brahma-life” with the meaning to connect with sexual intercourse. 5) Cấm làm mai, cưới gã hay môi giới cho sự hẹn hò: Not to act as a go-between for a woman with a man in mind or for a man with a woman in mind, whether as a wife or as a mistress, or acting as an agent for arranging the meeting of two persons for sexual indulgence. 6) Cấm tự ý cất phòng sái luật (12 sãy bề dài và 7 sãy bề ngang, và không trình với Tăng chúng chỗ cất, bởi vì vị ấy có thể cất phòng ở chỗ không có khoảng trống bao quanh sẽ dẫn đến sự bại hoại): Not to build a hut in an unlawful manner (not in accordance with measure of twelve spans in length and seven spans in width, and not bring the assembly of monks for marking out a site, for a monk should beg himself for a site which involves destruction and which has not an open space round it). 7) Không trình chỗ cất phòng, mặc dù tự ý thí chủ cất cho: Fail to bring for marking out a site, even though there is a benefactor who is willing to build and donate a vihara. 8) Cấm cáo gian một vị Tỳ Kheo khác một tội gì mà không có thật: Not to accuse falsely (unjustly or wrongly) a monk with an unfounded charge. 9) Cấm dùng cách nầy thế kia để phá sự hòa hiệp của giáo hội: Not to do things to destroy the harmony of the Order. 10) Cấm nghi quấy một vị Tỳ Kheo khác một điều gì mà không có thật: Not to suspect a monk with a groundless charge. 11) Cấm binh vực kẻ phá hoại sự hòa hiệp ở giáo hội: Not to side with someone who creates schism to destroy the harmony of the Order. 12) Nếu vị Tăng cưỡng lý khi làm quấy, chẳng chịu nghe lời khuyên giải. Nếu Tăng chúng hỏi ba lần mà vẫn không chịu nghe lời, vị nầy phạm tội Tăng Tàn: If a monk who commits evil conduct or misbehavior, and his evil conduct is seen or heard, that monk should be admonished up to three times by the assmebly of monks to allow him to give up his course. If after being admonished, he gives up that course, it is good. If he does not give up, it is an offence entailing a formal meting of the Order. 13) Cấm không trang nghiêm, làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước: Not to lead a solemnly brahma life, to be a bad example for others to imitate. (III) Aniyata Nhị Giới Bất Định: Aniyata (skt)—Nghĩa của từ “Aniyata” là bất định. Nhị giới bất định là hai giới phạm liên hệ tới tình dục mà sự vi phạm còn mơ hồ, không rõ ràng. Tuy nhiên, tùy theo trường hợp và tánh chất nghiêm trọng của nó mà người phạm tội nầy sẽ bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn—The meaning of the term “Aniyata” is “Indefinite.” Two offences of indefinite are connected with activities of sex. It depends on circumstances and the seriousness of the offence, offenders can be temporarily expelled from the Order. 1) Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà nơi chỗ vắng vẻ đáng nghi ngờ, có thể đưa đến những hoạt động về tình dục. Nếu vị Tỳ Kheo cứ thật thà xưng tội, thì giáo hội sẽ y như lời khai mà trị. Nếu lời của Tỳ Kheo không giống như lời của Ưu Bà Di trong cuộc, thì giáo hội sẽ y theo lời của vị Ưu Bà Di mà trị: Not to sit down together with a woman in a lonely place which can lead to activities of sex. If the monk confesses, the Order will base on his confession for punishment. If he fails to confess or his confession does not match with the woman lay follower's confession, the Order will base on what the woman lay follower's confession to determine his punishment. 2) Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà nơi kín đáo riêng tư có thể dẫn đến việc hành dâm. Hình phạt cũng giống như điều (1) vừa kể trên: Not to sit down together with a woman in a private, covered place in such a way which may develop into a situation of sexual intercourse. Punishment is same as in (1). (IV) Nissaggiya-pacittiya Tam Thập Giới Xả Đọa Tỳ Kheo (Tăng): Nissaggiya-pacittiya (skt)—Từ Nissaggiya-pacittiya gốc Nam Phạn, có hai phần: phần thứ nhất là Nissaggiya có nghĩa là từ bỏ; phần thứ hai Pacittiya có nghĩa là điều giải trước giáo đoàn. Con người thường có khuynh hướng sa ngã; vì thế dù đã gia nhập vào cuộc sống tự viện, chư Tăng Ni vẫn thỉnh thoảng vi phạm luật sống trong tự viện, như chấp nhận quá số vật dụng hằng ngày được Đức Phật quy định cho Tăng Ni. Chính vì thế mà Đức Phật đã đặt ra thanh quy tự viện, nhằm giúp chư Tăng Ni tránh phạm phải lỗi lầm. Đây là ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A man by his true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the monk sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making monks and nuns free from transgressions. These are thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention. 1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: Not to wear or keep an extra robe for more than ten days. 2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: Not to leave robes and sleeping material in another place, even for one night (monks should not be away, separated from the three robes, even for one night). 3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Tăng vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the monk, even not at the right time, it may be accepted by that monk if he so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for him, that robe-material may be laid aside by that monk for a month at most. 4) Cấm bảo Tỳ Kheo Ni xa lạ, giặt nhuộm hay cất giữ áo cho mình: A monk should not get a soiled robe washed or dyed or beaten by a nun who is not in relation. a) Tuy nhiên, nếu không ai bảo mà vị Tỳ Kheo Ni ấy tự giặt, hay vị ấy giặt một cái áo chưa xài thì không phạm tội: However, if she washes it unasked, or if he makes her wash an unused robe, there is no offence. b) Nếu người mà vị Tỳ Kheo sai giặt áo là một người tập sự hay Sa Di Ni, thì không phạm tội: If it is washed by a female probationer or by a female novice, there is no offence. 5) Cấm nhận áo của một Tỳ Kheo lạ, trừ sự đổi áo mới: Not to accept a robe from the hand of a nun who is not in relation, except in exchange. 6) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A monk should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed). 7) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: Not to accept more than an inner and upper robes (if a monk is offered robe-material for many robes, then at most he should accept enough for an inner and an upper robe. If he accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture). 8) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a monk should not design the robe as he wishes. 9) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a monk should not design the robe as he wishes. 10) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: Not to obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately. 11) Cấm dùng chăn áo bằng tơ, lụa, hàng, mặc dầu có pha lộn vải: A monk should not cause a rug to be made mixed with silk. 12) Cấm dùng ngọa cụ màu đen rặt, không có pha lộn màu khác: A monk should not cause a rug to be made of pure black sheep's wool. 13) Cấm dùng ngọa cụ màu trắng rặt, không có pha lộn màu khác: A monk should not cause a new rug to made of pure white (if a monk should cause a new rug to be made not taking two portions of pure black sheep's wool, the third of white, the fourth of reddish brown colors, there is an offence of expiation involving forfeiture). 14) Cấm chưa đúng sáu năm, mà sắm thêm ngọa cụ khác: A monk should not get rid of a rug if it's less than six years old (a new rug which a monk has made should last for six years. If, within six years, whether he has got rid of or has not got rid of that former rug, but he has a new rug made, except on the agreement of the Order, there is an offence of expiation involving forfeiture). 15) Cấm lấy ngọa cụ mới, che cho cái cũ làm mau hư: Not to take the new rug to wrap around the old rug in order to disfigure it. 16) Cấm khi viễn hành có ai cúng vải, mà ôm đi xa quá ba ngàn thước: Sheep's wool may accrue to a monk as he is going along a road. It may be accepted by a monk, if he likes; but having accepted it, it should be conveyed in his own hands for three yojanas at the utmost. If he carries further than that, there is an offence of expiation involving forfeiture. 17) Cấm biểu Tỳ Kheo Ni xa lạ, giặt, nhuộm, hay cất gĩ vải cho mình: A monk should not have sheep's wool washed or dyed or combed by a nun who is not in relation. 18) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A monk should not take gold and silver, nor should he ask another person to take for him. 19) Cấm buôn bán đồ quý báu: A monk should not engage in various transactions in which gold and silver is used. 20) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A monk should not engage in any kinds of bartering. 21) Cấm giữ thêm một cái bát, cất quá mười ngày: A monk should not keep an extra bowl for more than ten days. 22) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A monk should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a monk sould get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that monk to the company of monks, and whatever the last bowl belonging to that company of monks, that should be given to this monk with the words: “Monk, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case). 23) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A monk should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when he is ill. 24) Cấm xin vải choàng tắm mùa mưa trước một tháng, dùng trước 15 ngày: A monk should not look for robe-material as a cloth for the rain a month before the monsoon, and put it on fifteen days before the monsoon starts. 25) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A monk should not give a robe to another monk and then take it back because he is angry or displeased of that monk. 26) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A monk should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave his robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc). 27) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A monk should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers; nor should he put forward a consideration with regard to measurements, i.e., make it long and wide and rough, and make it evenly woven and well woven and well scraped and well combed. 28) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A monk should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season. 29) Sư ẩn cư khi về Giáo Hội, cấm gởi áo nhà quen quá 6 ngày: Having spent the rains up to the full moon of the rains, in case a monk who is staying in such lodgings as those jungle lodgings which are held to be dangerous and frightening, so desires, he may lay aside one of his three robes inside the a house; and should there be any reason for that monk to be away, separated from that robe, that monk can be away and separated from that robe for at most six nights. Should he be away, separated from that robe for longer than that, except on the agreement of the Order, there is an offence of expiation involving forfeiture. 30) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A monk should not take any things that belong to the Order. (V) Pacittiya
cụ túc thiên vạn quang minh như lai
RaśmisatasahasraparipŪrṇadhvadja (S)Trong hội Pháp hoa Đức Thích ca có thọ ký cho bà Da Du Đà La dạy rằng đời sau bà sẽ thành Phật hiệu là Cụ túc Thiên vạn Quang Minh Như lai.
cụ túc vô khuyết
Complete without lack.
cụ túc đức bổn nguyện
Lời nguyện thứ 44 trong bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà, tất cả chúng sanh đều có đầy đủ công đức—The forty-fourth of Amitabha's forty-eight vows, that all universally should acquire his virtue—See Tứ Thập Bát Nguyện.
Cụ túc 具足
[ja] グソク gusoku ||| (1) Be endowed with, be provided with; be prepared, possess, have [備]. (upeta, sampad). (2) To be fully furnished, be complete, lacking nothing. (3) Perfection, completion (paripūrna). (4) In detail, with great care; completely. (5) The endowment of the practitioner with the precepts of the order. (6) Implement, tool, utensil. (7) The complete set of precepts given to the monk or nun who enters the order. See 具足戒 . => Có các nghĩa sau: 1. Được phú cho, được cung cấp đầy đủ, chuẩn bị đầy đủ, có, thừa hưởng (s: upeta, sampad) 2. Được trang bị đầy đủ, không thiếu thứ gì. 3. Hoàn thành, hoàn thiện (s: paripūrna). 4. Chi tiết, chăm sóc chu đáo, hoàn chỉnh. 5.Sự thọ nhận giới luật của người xuất gia. 6. Đồ dùng, công cụ, phương tiện sinh hoạt. 7. Giới cụ túc (tỷ-khưu) mà chư Tăng ni xuất gia thọ nhận.
cụ đàm
Gautama (skt)—See Siddhartha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Cụ-sử-la
xem Cồ-sư-la.
cục a khúc ba
(局阿曲巴) Dịch âm của tiếng Tây tạng, lễ cúng dường vào ngày 15 tháng 1. Tục gọi là Tết đèn, một hoạt động Truyền đại triệu của Phật giáo Tây tạng. Pháp hội này được cử hành từ ngày 3 đến ngày 24 tháng 1, đêm 15 tháng 1, trên các đường phố của thủ đô Lhasa, người ta bày các lễ vật cúng dường như bơ (tô du), hoa bơ, khúc công (đèn cúng). Người tham dự đại hội múa hát chúc mừng suốt đêm để kỉ niệm đức Phật Thích ca mâu ni thị hiện thần biến, hàng phục tà ma. Đây là tiết mục náo nhiệt nhất trong pháp hội Truyền đại triệu.
cục cằn
Xem Thô lỗ.
cục thông đối
(局通對) Phạm: Saptakfdhavaparama. Còn gọi là Cực thất phản sinh. Ý nói nhiều nhất chỉ phải trở lại thụ sinh bảy lần. Tức là bậc Thánh ở quả Dự lưu mà vẫn chưa đoạn trừ hết phiền não, phải bảy lần qua lại thụ sinh nơi cõi trời, cõi người nữa, mới được vào Niết bàn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 20 (Đại 2, 653 hạ), nói: Nhiều nhất, còn qua bảy lần chết, bảy lần sống. [X. kinh Tạp a hàm Q.6 - kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.36 - luận Câu xá Q.23]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).
cụng ly
To touch (clink) glasses before drinking.
cụt hứng
To lack inspiration.
củ
Cây thước, hay thước vuông của thợ mộc—A carpenter's square—A ruler.
củ cải muối
Thukpa (S).
củ củ tra
1) Dịch là Kê Quý: Kukkuta (skt)—Gà vịt—A cock—A fowl. 2) Tên khác của nước Cao Ly: Kukkutesvara (skt)—Another name for Korea.
củ củ tra ế thuyết la
Kukkutesvara (skt)—See Củ Củ Tra (2).
củ củ trá
(矩矩吒) Phạm: Kukkuỉa. Còn gọi là Cưu cưu tra, Câu câu tra, Cứu cứu la, tức là con gà. [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.23 - Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
củ củ trá ế thuyết la quốc
(矩矩咤翳說羅國) Củ củ tra ế thuyết la, Phạm: Kukkuỉezvara. Tên khác của nước Cao li. Củ củ tra, nghĩa là con gà - Ế thuyết la, ý là sang trọng. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 nói, thì dân nước ấy đều thờ thần gà, đầu đội lông cánh gà, cho nên có tên như vậy.
củ xa yết la bổ la
Kusagrapura (skt)—Còn gọi là kinh thành Thượng Mao của xứ Ma Kiệt Đà (nơi các vương quốc cổ thường đóng đô)—An ancient capital of Magadha.
củ xa yết la bổ la thành
(矩奢揭羅補羅城) Củ xa yết la bổ la, Phạm: Kuzàgràpura. Thủ đô của nước Ma yết đà thuộc trung Ấn độ. Tức là thành Vương xá cũ. Còn gọi là Vương xá sơn thành. Dịch ý là thành cỏ tranh. Củ xa (Phạm: Kuza), dịch ý là cỏ tranh, cỏ tốt lành, loại cỏ này có mùi thơm, mầu xanh sẫm như lông đuôi chim công. Trước khi đức Phật thành đạo, chư thiên dâng cỏ này trải ở gốc cây Bồ đề làm tòa để ngài ngồi. Đại đường tây vực kí quyển 9 chép, thành này nằm ở chính giữa nước Ma yết đà, là chỗ đóng đô của vua chúa đời xưa, cỏ tốt lành thơm phức mọc um tùm, cho nên lấy tên cỏ để đặt tên thành. Bốn chung quanh có núi bao bọc bên ngoài, phía tây thông với đường tắt qua núi, phía bắc của núi mở rộng, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, chu vi hơn một trăm năm mươi dặm. Trong thành còn một nền cũ chu vi hơn ba mươi dặm. (xt. Vương Xá Thành).
của báu
Precious things.
của bố thí
Alms.
của chung
Common property.
của chìm của nổi
Hiden wealth and material (real estate) wealth.
của cải
Wealth—Property.
của cải tích lũy
Hoard of acquired wealth.
của gian
Stolen things.
của hối lộ
Bribe.
của hồi môn
Dower—Marriage settlement in favor of daughter.
của phi nghĩa
Ill-gotten gains.
của quý
See Của Báu.
của riêng
Private property.
của rơi
Things someone has dropped.
của rẻ là của hôi
Cheap things are usually valueless.
của thiên trả địa
Ill-goten, ill-spent.
của tư hữu
Personal property.
củng cố
To consolidate.
củng huyện thạch quật
(鞏縣石窟) Động đá ở sườn núi Sa nham nằm về mạn tây bắc thành huyện Củng, phía đông Lạc dương (mạn bắc Tung sơn) thuộc tỉnh Hà nam. Động này nhỏ hơn hai động Vân cương và Long môn, nhưng nội dung chạm trổ thì phong phú và tinh xảo không kém. Công trình kiến tạo bắt đầu vào khoảng năm Cảnh minh (500-503) thời Bắc Ngụy, thời ấy động được gọi là chùa Hi huyền. Các đời Đông Ngụy,Tây Ngụy, Bắc Tề kế tiếp, cho mãi đến đời Đường mới làm chùa Tịnh độ. Đời Minh, đời Thanh tiếp tục sửa sang, gọi là chùa Động đá. Hiện nay còn bảo tồn được năm động đá, ba pho tượng lớn khắc vào vách đá, một nghìn cỗ khám thờ Phật và 238 cỗ khám nhỏ. Động thứ tư chia làm hai hang nhỏ, động thứ năm lớn nhất cao khoảng bảy mét, rộng rãi. Đặc trưng chung trong năm động là đều có cột hình vuông to lớn, thủ pháp tương truyền là kế thừa thủ pháp của Vân cương và Long môn, cho nên, những hang đá Vân cương, Long môn và Củng huyện đều là công trình của một đời Bắc Ngụy đã tập trung nhân lực vật lực trong nước để khai tạc, bắt đầu với động Vân cương ở Đại đồng, kế đến là động Tân dương ở Vân môn và sau hết là chùa Thạch quật ở Củng huyện, niên đại liên tiếp, một mạch nối nhau. Thời đại Bắc Ngụy khắc rất ít, đời sau khắc thêm tượng và vẽ nhiều hoa văn tranh vẽ trên vòm nóc và trên mặt vách cũng cực kì tinh xảo mĩ lệ. (xt. Thạch Quật Tự).
Củng Tự Trân
(龔自珍, Kyō Jichin, 1792-1841): học giả của Công Dương Học (公羊學) sống vào giữa thời nhà Thanh, hiệu là Định Am (定盦). Văn chương buồn chán đời của ông đã tạo ảnh hưởng rất nhiều đối với những luận gia cách tân vào cuối thời nhà Thanh. Trước tác của ông có Định Am Văn Tập (定盦文集) 3 quyển, v.v.
củu chủng hoạnh tử
Theo Kinh Dược Sư, Cứu Thoát Bồ Tát đã bảo Ngài A Nan là có chín thứ hoạnh tử—According to The Medicine Buddha Sutra, Salvation Bodhisattva told Ananda that the Tathagatas mentioned countless forms of untimely death; however, there nine major forms of untimely death. 1) Nếu có chúng hữu tình nào bị bệnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, không người săn sóc, hay giá có gặp thầy lại uống lầm thuốc, nên bệnh không đáng chết mà lại chết ngang. Đang lúc bệnh lại tin theo những thuyết họa phúc vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng run sợ không còn tự chủ đối với sự chân chánh, đi bói khoa để tìm hỏi rồi giết hại loài vật để tấu với thần linh, vái van vọng lượng câu xin ban phúc, mong được sống lâu, nhưng rốt cuộc không thể nào được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến điên đảo nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục đời đời không ra khỏi: Some sentient beings contract a minor illness which goes untreated for lack of a physician or medicine; or else, even though there is a physician, he prescribes the wrong medicine, causing premature death. Or, the patients, believing the false pronouncements of earthly demons, heretics or practitioners of black magic, may panic, unable to calm their minds. They may then engage in divination or perform animal sacrifices in order to propitiate the spirits, praying for blessings and longevity, all in vain. Through ignorance, confusion and reliance on wrong, inverted views, they meet with untimely death and sink into the hells, with no end in sight. 2) Bị phép vua tru lục: Excecuted by royal decree. 3) Sa đọa đắm say nơi sự chơi bời, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỷ đoạt mất tinh khí: Losing one's vitality to the demons through hunting, gambling, debauchery, drunkenness or extreme dissipation. 4) Chết thiêu: Death by fire. 5) Chết chìm: Death by drowning. 6) Bị thú dữ ăn thịt: Being devoured by wild animals. 7) Bị rơi từ núi cao xuống vực thẳm: Falling off a mountain or a cliff. 8) Chết vì thuốc độc, ếm đối, rủa nộp, trù ẻo và bị quỷ tử thi làm hại: Death by poison, incantations, evil mantras or demons-raised-form-the-death. 9) Chết vì đói khát khốn khổ: Death from hunger or thirst, for lack of food and water.
cứ
To lay hold of.
cứ khoản kết án
Là căn cứ theo căn cơ trình độ của người học (nghi ngộ, sâu cạn, chân giả…) mà dùng các phương tiện linh động để tùy cơ quét sạch dấu tích có sở trụ của người học.
cứ sự
According to fact.
cứ theo
According to.
cứ thật thông luận
(據實通論) Phạm: Àyuwmat, Pàli: Àyasmant. Tiếng tôn xưng các vị đệ tử Phật và A la hán. Cũng gọi là Hiền giả, Thánh giả, Tôn giả, Tịnh mệnh, Trưởng lão, Tuệ mệnh. Dịch âm là A du xuất mãn. Chỉ bậc đầy đủ trí tuệ và đức hạnh được mọi người tôn kính. Về sau không chỉ giới hạn trong hàng ngũ đệ tử Phật, mà các vị tổ sư, tiên đức cũng được gọi là Cụ thọ.Tiếng Phạm Àyuwmat có đủ cả nghĩa thọ mệnh thế gian và tuệ mệnh pháp thân xuất thế gian, cho nên dịch cũ là tuệ mệnh là theo nghĩa tuệ mệnh pháp thân - cũng tức là nói tỉ khưu khác với người thế tục ở chỗ, ngoài tuổi thọ của sắc thân ra, còn lấy sự sống của trí tuệ làm của báu. Nhưng, đứng về phương diện ưu điểm khuyết điểm của dịch cũ, dịch mới mà nói, thì ngài Trạm nhiên ở Kinh khê bảo dịch Tuệ mệnh là hơn, còn ngài Khuy cơ ở chùa Từ ân thì cho dịch là Cụ thọ mới ổn thỏa. Pháp hoa huyền tán quyển 6 (Đại 34, 771 thượng), nói: Tuệ mệnh, nên dịch là Cụ thọ. Người thế tục đều mong sắc thân được sống mãi - bậc Thánh thì quí mệnh sống trí tuệ. Cả hai đều nêu, vì thế gọi là Cụ thọ. Nếu chỉ nói tuệ mệnh không thôi, thì e thiếu nghĩa. Các vị trưởng lão cũng dùng từ Cụ thọ để gọi vị tỉ khưu trẻ tuổi. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.19, Q.38].
cứ thắng vi luận
(據勝爲論) So sánh từ hai chủ trương hoặc hai sự vật trở lên, rồi chỉ đứng về mặt ưu điểm hoặc đặc trưng của mỗi thứ mà trình bày cái ý chỉ cốt yếu, gọi là Cứ thắng vi luận (căn cứ vào điểm hơn mà bàn). Bồ tát giới nghĩa sớ giải thích tại sao có tên phẩm là Tâm địa trong kinh Phạm võng? Là do đặt nền tảng trên Cứ thắng vi luận. Bồ tát giới nghĩa sớ quyển thượng (Đại 40, 563 thượng), nói: Luật nghi của Bồ tát phòng ngừa cả ba nghiệp: tâm, ý, thức, thân, khẩu là phụ, cứ thắng vi luận, cho nên gọi là Tâm địa. Trái lại, không giới hạn ở ưu điểm hoặc đặc trưng, mà cứ theo sự thực chung để trình bày tường tận, thì gọi là Cứ thực thông luận, cũng gọi là Khắc thực thông luận. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Cứ Thực Thông Luận).
Cứ toạ 據坐
[ja] コザ koza ||| (1) To slightly move one's seat. (2) To sit in a chair. => 1. Nhẹ nhàng chuyển chỗ ngồi. 2. Ngồi trên ghế.
cứ điểm
Important base.
cứng cổ
See Cứng đầu.
cứng họng
To remain silent—To be speechless.
cứng nhắt
Rigid.
cứng đầu
Stubborn—Obstinate—Head-strong—Stiff-necked—Pigheaded.
cứu
To save, rescue, deliver; to help, aid, assist, relieve (s.o.)
; Cứu độ—To save—To rescue—To prevent from ill.
cứu bạt
To rescue, delver.
; Cứu ra khỏi những khổ sở—To save and drag out of suffering.
Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà-la-ni kinh 救拔焰口餓鬼陀羅尼經
[ja] キュウバチエンクガキダラニキョウ Kubatsu enku gaki daranikyō ||| The Jiuba yankou egui tuoluoni jing (Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths); Skt. Pretamukhāgnivālāyaśarakāra-dhāraṇī. There are two Tibetan versions: yi dwags kha nas me 'bar ba la skyabs mdzad pa [To. 646/1079, P.356], and yi dwags mo kha 'bar ma dbugs dbyung ba'i gtor ma'i cho ga [To.647/1080, P.355]. (1) 1 fasc. (T 1313.21.464-465), Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths 救拔焰口餓鬼陀羅尼經, trans. Amoghavajra 不空. English translation by Orzech (1995a). (2) 1 fasc. (T 1314.21.465-466), Dhāraṇī for Relieving the Pretan Facial Fire 救面燃餓鬼陀羅尼神呪經, trans. Śikṣānanda 實叉難陀. Corresponds to Tibetan [To.647]. => (c: Jiuba yankou egui tuoluoni jing; e: Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths; s: Pretamukhāgnivālāyaśarakāra-dhāraṇī). Có 2 bản dịch tiếng Tây Tạng: Yi dwags kha nas me 'bar ba la skyabs mdzad pa, và Yi dwags mo kha 'bar ma dbugs dbyung ba'i gtor ma'i cho ga. 1. Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà-la-ni kinh; (救拔焰口餓鬼陀羅尼經 e: Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths ). 1 quyển; Bất Không dịch, bản dịch tiếng Anh của Orzech (1995a). 2. Cứu diện nhiên ngạ quỷ đà-la-ni thần chú kinh (救面燃餓鬼陀羅尼神呪經e: Dhāraṇī for Relieving the Pretan Facial Fire) , Thât-xoa Nan-đà (Śikṣānanda 實叉難陀) dịch; 1 quyển. Tương ứng với bản dịch tiếng Tây Tạng.
cứu bạt minh đồ
Cứu ra khỏi nổi khổ của địa ngục—To save and drag out of suffering in the hells.
Cứu Chỉ
究旨; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Ðịnh Hương.|Sư họ Ðàm, quê ở làng Phù Ðàm, phủ Chu Minh. Thuở nhỏ, Sư rất ham học, nghiên cứu tất cả các sách của Tam giáo (Khổng, Lão, Thích). Sư tự than: »Khổng Mặc câu chấp về lẽ ›Có‹, Lão Trang (Lão Tử, Trang Tử) đắm đuối vào lẽ ›Không‹. Chỉ có Phật giáo chẳng kể ›Có‹ hay ›Không‹, có thể liễu thoát sinh tử, nhưng phải siêng năng tu trì giữ Giới thanh tịnh và tìm Thiện tri thức ấn chứng mới được.« Sau đó, Sư xuất gia, tìm đến chùa Cảm Ứng ở Ấp Sơn xin làm đệ tử của Ðịnh Hương Trưởng lão.|Sư hỏi Ðịnh Hương: »Thế nào là nghĩa cứu kính?« Ðịnh Hương im lặng giây lát, hỏi lại Sư: »Hiểu chưa?« Sư thưa: »Chưa hiểu.« Ðịnh Hương bảo: »Ta đã cho ngươi nghĩa cứu kính.« Sư suy nghĩ, Ðịnh Hương bảo: »Lầm qua rồi!«. Ngay câu này, Sư triệt ngộ và nhân đây, Ðịnh Hương ban cho Sư hiệu Cứu Chỉ.|Sau, Sư lên chùa Quang Minh, núi Tiên Du tu hạnh Ðầu-đà, không hề bước chân xuống núi. Ðạo hạnh của Sư vang đến cả triều đình. Vua Lí Thái Tông mời vào cung giảng đạo mấy lần nhưng Sư đều từ chối và vì vậy vua phải đích thân đến đây ba lần thưa hỏi. Sau, Sư được mời đến chùa Diên Linh trụ trì.|Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), biết mình sắp tịch, Sư gọi dệ tử đến dạy: »Phàm tất cả các Pháp vốn từ tâm của các ngươi… Phiền não, trói buộc, tất cả đều không. Tội phúc phải quấy, tất cả đều huyễn. Không nên ở trong Nghiệp mà phân biệt báo, không nên ở trong báo mà phân biệt nghiệp, nếu có phân biệt thì chẳng được tự tại. Tuy thấy tất cả các pháp mà không có chỗ thấy, tuy biết tất cả các pháp mà không có chỗ biết. Biết tất cả các pháp lấy nhân duyên làm gốc… Rõ thấu chúng sinh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng rời cảnh nghiệp mà Phương tiện khéo léo, ở trong cõi Hữu vi hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng Vô vi là do hết dục, dứt Ngã, quên Niệm mà nhận lấy vậy.« Dạy xong, Sư nói kệ:|覺了身心本凝寂。神通變化現諸相|有爲無爲從此出。河沙世界不可量|雖然變滿虛空界。一一觀來沒形狀|千古萬古難比況。界界處處常朗朗|Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch|Thần thông biến hoá hiện chư tướng|Hữu vi vô vi tòng thử xuất|Hà sa thế giới bất khả lượng|Tuy nhiên biến mãn hư không giới|Nhất nhất quan lai một hình trạng|Thiên cổ vạn cổ nan tỉ huống|Giới giới xứ xứ thường lãng lãng|*Giác ngộ thân tâm vốn lặng yên|Thần thông các tướng biến hiện tiền|Hữu vi vô vi từ đây có|Thế giới hà sa không thể lường|Tuy nhiên đầy khắp cõi hư không|Mỗi mỗi xem ra chẳng tướng hình|Muôn đời ngàn đời nào sánh được|Chốn chốn nơi nơi thường rạng ngời.|Nói kệ xong, Sư ngồi yên viên tịch.
cứu chỉ thiền sư
Zen Master Cứu Chỉ—Thiền sư Việt Nam, quê ở Chu Minh, Bắc Việt. Khi hãy còn nhỏ, ngài đã làu thông Khổng Lão, nhưng ngài than phiền rằng Khổng chấp “hữu,” Lão chấp “vô,” chỉ cò đạo Phật là không chấp vào đâu cả. Từ đó ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Định Hương tại chùa Cảm Ứng, và trở thành Pháp tử đời thứ 7 dòng Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài dời về chùa Từ Quang trên núi Tiên Du để tu khổ hạnh. Vào thời đó, Tể Tướng Dương Đạo xây chùa Diên Linh và thỉnh ngài về trụ. Không thể từ chối, ngài về trụ trì tại đây và viên tịch ba năm sau đó—A Vietnamese Zen Master from Chu Minh, North Vietnam. When he was still young, he was good in both Tao and Confucian, but complaining that Confucian attached to the “existing” and Tao attached to the “non-existing.” Only Buddhism attached to none. He left home and became a disciple of Định Hương at Cảm Ứng Temple, and became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he moved to Từ Quang Temple on Mount Tiên Du to practise ascetics. At that time, prime minister Dương Đạo built Diên Linh Temple on Mount Long Đội and invited him to stay there. He could not refuse the order. He stayed there for thee years and passed away.
cứu cánh
Atyanta (S), Uttara (S, P)Rốt ráo, cuối cùng Tên của mẹ của Kim Tịch Phật lúc chưa xuất gia.
; Uttara (S). Ultimate end.
; 1) Mục đích cuối cùng: End—Final—At the end—Finality—Utmost. 2) Nghiên cứu tỉ mỉ: Examine exhaustively. 3) Phật Giáo không xem lợi ích vật chất là cứu cánh của hạnh phúc trong đời sống: Buddhism does not consider material welfare as an end in happiness in life.
; (究竟) Phạm, Pàli: Uttara. Dịch âm là Uất đa la. Hình dung cái cảnh giới cao đến cùng tột không gì hơn, hoặc sự vật đã đến mức cùng tận triệt để. Nghĩa trước, như đức Phật thị hiện chân lí cùng tột không gì hơn, gọi là Cứu cánh pháp thân - đại Niết bàn hiển bày cái mục đích chung cùng của Phật giáo, gọi là Cứu cánh Niết bàn. Nghĩa sau, như đem tâm nguyện không lùi bước mà thành tựu lời thề nguyền, gọi là Cứu cánh nguyện, đây là lời khen ngợi sức bản nguyện của Phật A di đà. [X. kinh Thắng man chương Nhất thừa - kinh Đại nhật Q.1 phẩm Trụ tâm - luận Thập trụ tì bà sa Q.3].
cứu cánh giác
Một trong bốn bậc giác theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, đây là lúc Bồ Tát đạt đến mức giác ngộ tròn đầy tột cùng hay đạt tới ngôi vị Phật—The supreme enlightenment (that of Buddha), one of the four kinds of enlightenment mentioned in the Awakening of Faith. ** For more information, please see Tứ Giác.
; (究竟覺) Sự giác ngộ rốt ráo, tức chỉ quả Phật. Cũng gọi Vô thượng giác, Chính giác, Đại giác. Là Thủy giác trong bốn giác nói trong luận Đại thừa khởi tín. Là giai vị rốt ráo trong Thủy giác. Tức là trí giác ngộ của Bồ tát đã chứng biết nguồn gốc của vọng tâm, là sự giác ngộ, trong đó trí thủy giác đã khế hợp với lí bản giác. Vì người đã chứng quả Phật, có thể biết rõ cái nguồn của tâm ô nhiễm, xa lìa các vọng niệm vi tế, thấy suốt được tâm tính, tâm người ấy là thường trụ, cho nên cái biết của họ là cái biết rốt ráo, gọi là Cứu cánh giác. Lại vì giai vị Cứu cánh giác này đã dứt hết hoặc vô minh, thấy suốt thực tướng của các pháp, đến ngôi vị rốt ráo cùng tột, cho nên gọi là Cứu cánh vị (tức là quả vị Phật). Trái lại, giác của định Kim cương dụ trở xuống, vẫn chưa chứng biết được nguồn tâm một cách rốt ráo, cho nên gọi là Phi cứu cánh giác. Ngoài ra, hết thảy tâm tướng cuối cùng là diệt cái ảo, chứ không phải diệt thể của tâm, gọi là Cứu cánh diệt. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 578 thượng), nói: Nếu tâm diệt, thì tại sao bảo là tương tục? Nếu tương tục, thì tại sao lại nói là cứu cánh diệt?. [X. luận Thành duy thức Q.9 - Đại mnh tam tạng pháp số Q.9, Q.21].
Cứu cánh giác 究竟覺
[ja] クキョウカク kūkyōkaku ||| Final enlightenment; ultimate enlightenment, in which all hindrances of ignorance and affliction are fully extinguished. 〔起信論 T 1666.32.576b〕 => Sự giác ngộ tột cùng, giác ngộ viên mãn, trong đó mọi vô minh chướng và phiền não chướng đều được tiêu sạch.
cứu cánh li
(究竟離) Đối lại với Đối trị li . Nghĩa là lìa bỏ vọng chấp một cách rốt ráo. Như thế thì không có vọng chấp bị phá trị và pháp thanh tịnh phá trị, qui về lí bình đẳng tuyệt đối. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín nói, thì pháp nhơ và pháp sạch đều là pháp đối đãi, chứ không có tự tướng, cho nên hết thảy pháp từ xưa tới nay chẳng phải sắc, chẳng phải tâm, chẳng phải trí, chẳng phải thức, chẳng phải có, chẳng phải không, là các pháp cùng tột không thể nói được.
cứu cánh lạc
Diệu lạc của Niết Bàn—The supreme joy (nirvana).
cứu cánh nhất thừa bào tánh luận
Xem Phân biệt bảo tánh chi đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận.
cứu cánh nhất thừa bảo tính luận
(究竟一乘寶性論) Phạm: Ratnagotra-vibhàgo Mahàyànot-taratantra-zàstra (Phân biệt bản tính chư Đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận). Gồm bốn quyển, do ngài Lặc na ma đề đời Hậu Ngụy dịch. Còn gọi Bản tính phân biệt nhất thừa tăng thượng luận. Gọi tắt là Bảo tính luận. Sách này bàn về giáo nghĩa Như lai tự tính thanh tịnh. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung chia làm mười một phẩm. Năm 1950, các ông H. Johnston và T. Chowdhury cùng chung xuất bản nguyên điển bằng tiếng Phạm của bộ luận này. Trước nay các bản Hán dịch cho rằng tác giả của luận này là ngài Kiên tuệ (Phạm: Sàramati), còn hệ thống văn Tây tạng thì cho là tác phẩm của ngài Di lặc (Phạm:Maitreya). Lại trong Kinh lục cho rằng luận này do ngài Bồ đề lưu chi dịch - có thuyết nói là có hai bản dịch, nhưng thiếu mất bản dịch của Bồ đề lưu chi. Nhờ sự dẫn dụng rất nhiều kinh điển trong bộ luận này, mà có thể biết được tư tưởng Như lai tạng ở thời kì đầu, cho nên nó là tư liệu rất quí báu để hiểu rõ sự phát triển của thuyết Như lai tạng tại Ấn độ. Về niên đại thành lập, mối quan hệ với luận Phật tính và về tác giả của luận này, cho đến nay vẫn chưa được xác định. [X. Giải thâm mật kinh sớ Q.1 - Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng - Lịch đại tam bảo kỉ Q.9 - Tùy chúng kinh mục lục (Ngạn tông) - Khai nguyên thích giáo lục Q.6 - Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].
Cứu cánh niết-bàn 究竟涅槃
[ja] クキョウネハン kūkyō nehan |||
cứu cánh pháp thân
The supreme Dharmakaya—The highest conception of Buddha as the absolute.
; (究竟法身) Chỉ quả Phật vô thượng. Quả này cũng chính là thân Phật đã chứng ngộ được pháp tính rốt ráo. Vì cái mà Phật chứng được hiển bày chân lí: Lí và trí chẳng phải hai, trùm khắp mười phương, trải suốt ba đời, chí cao vô thượng, cho nên gọi là Cứu cánh pháp thân. Bồ tát thì chỉ chứng được một phần pháp thân, Phật mới chứng pháp thân rốt ráo. Kinh Thắng man chương Nhất thừa (Đại 12, 220 hạ), nói: Cõi Niết bàn tức là pháp thân Như lai, người chứng pháp thân cứu cánh thì được cứu cánh Nhất thừa
cứu cánh phật
Phật trong chân lý tối thượng—The fundamental, ultimate or supreme Buddha, who has complete comprehension of truth—Buddha in his supreme reality. ** For more information, please see Lục Tức Phật.
cứu cánh tức
Vị thứ sáu trong lục Tức Vị theo thuyết của tông Thiên Thai, giai đoạn trí tuệ giác liễu chân lý tròn đầy—The stage of complete comprehension of truth, being the sixth stage of the T'ien-T'ai School. **For more information, please see Lục Tức Phật.
; (究竟即) Giai vị tu hành của Viên giáo thuộc tông Thiên thai. Là giai vị thứ sáu trong Sáu tức. Đây là giai vị tu hành đã đoạn trừ phẩm thứ bốn mươi hai của vô minh mà cùng suốt thực tướng các pháp. Giai vị này tức là vị Diệu giác, là cực quả cứu cánh của Viên giáo. Cứu cánh, hàm ý: Tột bậc - Tức, hàm ý: vì lí thể chẳng hai. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 phần dưới - Thiên thai tứ giáo nghĩa]. (xt. Lục Tức).
cứu cánh vị
Xem Cứu cánh đạo.
; Phật quả tối thượng, giai đoạn cao nhất trong năm giai đoạn tiến đến Phật Quả của Phật Giáo Đại Thừa—The supreem class or stage of Buddhahood, the highest of the five stages of attainment of Buddhahood. ** For more information, please see Ngũ Vị(C).
cứu cánh đại bi kinh
(究竟大悲經) Gồm bốn quyển (nay còn quyển 2 đến quyển 4). Còn gọi là Cứu cánh đại bi ai luyến cải hoán kinh, thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung kinh này là pháp do đức Phật Tì lô giá na nói cho mười ba vị Bồ tát, từ bồ tát Vô ngại trở xuống, ở trong cung Tự nhiên quang viêm. Toàn kinh chia làm mười sáu phẩm, là pháp môn thống nhiếp thân tâm của chúng sinh, tuyên thuyết tâm tính vốn trong sạch, nên rõ lí phiền não tức Bồ đề, hư không viên dung, muôn cảnh không dời, thể vắng dụng lặng. Kinh này cũng thường có những câu văn mang sắc thái Nho giáo, đây là chỗ sai biệt với các kinh điển Đại thừa khác. Trong Đại đường nội điển lục quyển 10 cũng có thu chép bộ kinh này, nhưng cho đó là kinh giả được ngụy tạo vào đầu đời Đường. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.18].
cứu cánh đạo
Parayāna (S)Cứu cánh vị.
; (究竟道) Phạm: Paràyaịa. Hàm ý hướng tới mục đích cao nhất, hoặc là đạo cùng tột. Cũng gọi Cứu cánh địa, Cứu cánh vị. Đây là giai vị thứ năm trong năm giai vị (năm đạo) Đại thừa, tức là quả Phật tột cùng mà Bồ tát tu hành chứng được. Cũng tức là Diệu quả nhị chuyển y mà vị tu tập chứng được, là giai vị từ sau Kim cương dụ định của đạo Vô gián tiến vào đạo Giải thoát cho đến tận vị lai tế. Luận Đại thừa a tì đạt ma tập quyển 5 (Đại 31, 685 trung), nói: Cứu cánh đạo là những gì? Nghĩa là y vào định Kim cương dụ, thì hết thảy sự thô nặng đã được dứt bặt, hết thảy trói buộc đã bị diệt trừ, chứng được giải thoát hoàn toàn. Từ đó lần lượt không ngừng chuyển y, chứng được tận trí và vô sinh trí và mười pháp vô học v.v... Mười pháp vô học là những gì? Đó là Chính kiến vô học, cho đến Chính định vô học, Chính giải thoát vô học, Chính trí vô học. Các pháp này gọi là Cứu cánh đạo. Luận Thành duy thức quyển 10 thuật rõ về tướng của giai vị cứu cánh này như sau (Đại 31, 57 thượng): Đây tức là pháp vô lậu, giới, bất tư nghị, thiện, thường, an lạc, giải thoát thân, Đại mâu ni. Trong đó, Vô lậu, có nghĩa là quả của hai thứ chuyển y đã dứt hết các lậu, tính trong sạch tròn sáng. Giới, có nghĩa là chứa, tức là quả của hai thứ chuyển y hàm chứa vô biên công đức hiếm có. Bất tư nghị, nghĩa là quả của hai thứ chuyển y dứt hết suy nghĩ, nói năng là chỗ nội chứng sâu xa mầu nhiệm không thể dùng thí dụ của thế gian mà so sánh giải bày được. Thiện, nghĩa là quả của hai chuyển y lấy pháp trắng, sạch làm tính. Vì đây là pháp giới thanh tịnh xa lìa sinh tử, rất là an ổn, bốn trí diệu dụng cả hai đều có tướng thuận ích, tức là trái với bất thiện và vô kí. Thường nghĩa là quả của hai chuyển y không có cùng tận. Vì đây là pháp giới thanh tịnh không sinh không diệt, không biến đổi, chỗ sở y của bốn trí là thường, không bao giờ dứt. An lạc, nghĩa là quả của hai chuyển y không bị phiền não bức bách, đó là vì mọi tướng trong pháp thanh tịnh vắng lặng, bốn trí đã vĩnh viễn xa lìa sự não hại. Giải thoát thân, nghĩa là quả của hai chuyển y mà Nhị thừa chứng được, tuy đã xa lìa phiền não chướng ngại, nhưng chưa phải là pháp thù thắng. Đại mâu ni, nghĩa là đức Thế tôn đại giác đã thành tựu pháp tịch lặng không gì hơn - đây là hai quả mà đứcThế tôn Mâu ni chứng được, đã vĩnh viễn xa lìa hai chướng, cho nên cũng gọi là Pháp thân. [X. luận Hiển dươngthánh giáo Q.12 - Nhiếp đại thừa luận thích Q.9 - Thành duy thức luận thuật kí Q.9 phần cuối]. (xt. Nhị Chuyển Diệu Quả, Ngũ Vị).
Cứu cánh đạo 究竟道
[ja] クキョウドウ kukyōdō ||| The ultimate path, final path, final stage of practice; goal of practice. The fifth of the five paths in the Yogācāra system, and the third of the three transmundane paths 出世間道; see 究竟位. In this stage one experiences the adamantine absorption 金剛喩定. 〔二障義HPC 1.805a7〕 => Con đường rốt ráo, con đường siêu tuyệt, giai vị tu tập cuối cùng. mục đích của tu tập. Giai vị thứ năm trong Ngũ đạo theo hệ thống của Du-già hành phái, và là giai vị thứ ba theo Tam xuất thế gian đạo. Xem Cứu cánh vị 究竟位. Đến giai vị nầy, hành giả sẽ trải qua Kim cương dụ định 金剛喩定.
Cứu cánh 究竟
[ja] キュウキョウ kukyō ||| (1) Unsurpassed, final, extreme, best, ideal (atyanta). (2) Utmost, limit, extremity (nisthā). (3) To completely exhaust. Arrive. Reach, attain. To master (a topic). Especially, to arrive to the highest position of bodhisattvahood, or thorough enlightenment (nisthā-gamana). (4) To thoroughly realize or comprehend. (5) To truly make manifest (samāpana). (6) Final goal. Becoming a Buddha (especially in Tiantai or Hua-yen). => 1. Chỗ tột cùng, không có gì vượt qua được, chỗ tận cùng; tột bực; tốt nhất; hoàn thiện nhất (s: atyanta). 2. Vô cùng, tột bậc; ranh giới; cực điểm (s: nisthā). 3. Hoàn toàn cùng cực. Đạt đến. Đến nơi. Giành được. Thông thạo (một vấn đề). Nhất là đạt được quả vị cao nhất trong hàng Bồ-tát hoặc giác ngộ viên mãn (s: nisthā-gamana). 4. Hoàn toàn nhận thức được hoặc hiểu rõ. 5. Biểu hiện chân thực (s: samāpana). 6. Mục đích tối hậu. Thành Phật (đặc biệt trong Tông Thiên Thai và tông Hoa Nghiêm).
Cứu diện nhiên ngạ quỷ đà-la-ni thần chú kinh 救面燃餓鬼陀羅尼神呪經
[ja] キュウメンネンガキダラニジンジュキョウ Kyūmen nen gaki tarani shinju kyō ||| The Jiumianran egui tuoluoni shenzhou jing 1 fasc. (T 1314.21.465-466); alternative translation of the Jiuba yankou egui tuoluoni jing 救拔焰口餓鬼陀羅尼經. => (c: Jiumianran egui tuoluoni shenzhou jing); 1 quyển. Là tên gọi khác của Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà-la-ni kinh (c: Jiuba yankou egui tuoluoni jing 救拔焰口餓鬼陀羅尼經).
cứu giải
to deliver.
cứu hộ
Cứu độ và bảo hộ—To save and protect.
Cứu hộ chúng sinh ly chúng sinh tướng 救護衆生離衆生相
[ja] クゴシュウジョウリシュウジョウソウ kugoshūjōrishūjōsō ||| The first stage among the 'ten dedications of merit' (十廻向) of the path of the bodhisattva. The stage where one, while using the mind of no aspects to save sentient beings, is still separated from the aspects of 'not-yet-saved' beings. => Giai vị đầu tiên trong Thập hồi hướng của Bồ-tát đạo. Giai vị mà trong khi hành giả dùng tâm vô tướng để cứu độ chúng sinh, nhưng vẫn xa lìa tướng của “chúng sinh chưa được cứu độ.”
cứu hộ huệ bồ tát
Paritranasayamatri (S)Tên một vị Bồ tát.
; (救護慧菩薩) Cứu hộ tuệ, Phạm: Paritràịàzaya-mati. Dịch âm: Ba lí đát la nô xá dã ma tha. Cũng gọi Cứu ý tuệ bồ tát, Cứu hộ huệ bồ tát, Ai mẫn tuệ bồ tát, Cứu hộ Bồ tát. Là một trong chín vị Tôn được bày ở đầu phía đông của viện Trừ cái chướng trên Thai tạng giới hiện đồ mạn đồ la thuộc Mật giáo. Vị Bồ tát này dùng trí tuệ của Như lai cứu hộ chúng sinh, khiến cho chúng sinh trong chín cõi tiến vào cõi Phật. Mật hiệu là Cứu hộ kim cương, chủng từ là (yaô), hình tam muội da là tay tình thương. Hình tượng của ngài màu vàng nhạt, bàn tay phải ngửa lên, đặt ở trước ngực, ngón cái, ngón vô danh bấm vào nhau, có nghĩa là trừ diệt khổ đau - bàn tay trái chống vào cạnh sườn, có nghĩa là che chở, ngồi trên tòa hoa sen. Đại nhật kinh sớ quyển 16 chép (Đại 39, 744 hạ): Bồ tát Cứu ý tuệ đặt tay tình thương ở trên ngực. Tay tình thương (bi thủ) tức là dùng ngón vô danh và ngón cái bấm vào nhau, còn ba ngón kia thì duỗi thẳng và xòe ra. Chú thích bên cạnh trong sách đã dẫn quyển 13 (Đại 39, 719 trung), nói: Bản nguyện của vị Bồ tát này là trừ hết thảy khổ, vì trừ khổ nên gọi là Cứu hộ. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7 - Thanh long tự nghi quĩ Q.trung - Chư thuyết bất đồng kí Q.5].
cứu hộ nhứt thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng
First Dedication in the ten dedications—To save all sentient beings without any mental image of sentient beings—Theo lời dạy của Đức Thế Tôn trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm 25—Thập Hồi Hướng, chư Bồ Tát cứu hộ chúng sanh giải thoát khỏi chúng sanh tướng, chư Bồ Tát nghĩ rằng—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra, chapter 25, Ten Dedications, Enlightening Beings save other sentient beings without any mental image of sentient beings, Enlightening Beings think that: 1) Nguyện đem những thiện căn nầy làm lợi ích khắp chúng sanh—May these roots of goodness universally benefit all sentient beings: a. Làm cho họ thanh tịnh đến nơi rốt ráo: Causing them to be purified. b. Đến bến bờ rốt ráo: To reach the ultimate shore. C. Lìa hẳn vô lượng khổ não của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A-tu-la: To forever leave the innumerable pains and afflictions of the realms of hells, hungry ghosts, animals and asuras (titans). 2) Đại Bồ Tát lúc trồng thiện căn, nguyện đem thiện căn của mình hồi hướng như vầy—When the great Enlightening Beings plant these roots of goodness, they dedicate their won roots of goodness thus: a. Tôi sẽ làm nhà cho tất cả chúng sanh để họ thoát khỏi tất cả sự khổ: I should be a hostel for all sentient beings, to let them escape from all painful things. b. Tôi sẽ làm chỗ cứu hộ cho tất cả chúng sanh, khiến họ đều được giải thoát phiền não: I should be a protector for all sentient beings, to let them all be liberated from all afflictions. C. Tôi sẽ làm chỗ quy-y của tất cả chúng sanh, khiến họ đều được xa lìa sự bố úy: I should be a refuge for all sentient beings, to free them from all fears. d. Tôi sẽ làm chỗ xu hướng cho tất cả chúng sanh, khiến họ được đến nơi nhứt thiết trí: I should be a goal for all sentient beings, to cause them to reach universal knowledge. e. Tôi sẽ làm chỗ an ổn cho tất cả chúng sanh, khiến họ được an ổn rốt ráo: I should make a resting place for all sentient beings, to enable them to find a place of peace and security. f. Tôi sẽ làm ánh sáng cho tất cả chúng sanh, khiến họ được trí quang diệt si ám: I should be a light for all sentient beings, to enable them to attain the light of knowledge to annihilate the darkness of ignorance. g. Tôi sẽ làm đèn để phá tối vô minh cho họ: I should be a torch for all sentient beings, to destroy all darkness of nescience. h. Tôi sẽ làm đèn cho tất cả chúng sanh, khiến họ an trụ nơi rốt ráo thanh tịnh: I should be a lamp for all sentient beings, to cause them to abide in the realm of ultimate purity. i. Tôi sẽ làm Đạo sư cho tất cả chúng sanh dẫn dắt họ vào pháp chơn thiệt: I should be a guide for all sentient beings, to lead them into the truth. j. Tôi sẽ làm Đại Đạo Sư cho tất cả chúng sanh, ban cho họ trí huệ lớn vô ngại: I should be a great leader for all sentient beings, to give them great knowledge. 3) Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh, rốt ráo đều khiến họ được nhứt thiết trí: Great Enlightening Beings dedicate all foundations of goodness in this way, to equally benefit all sentient beings and ultimately cause them all to attain universal knowledge. a. Đại Bồ Tát lợi ích hồi hướng cho hàng chẳng phải thân hữu đồng như đối với hàng thân hữu của mình: Enlightening Beings' protection of and dedication to those who are not their relatives or friends are equal to those for their relatives and friends. b. Bồ Tát đã nhập tánh bình đẳng của tất cả pháp, với tất cả chúng sanh không có một quan niệm là chẳng phải thân hữu: Enlightening Beings enter the equal nature of all things, they do not conceive a single thought of not being relatives or friends. C. Giả sử có chúng sanh nào đem lòng oán hại Bồ Tát, Bồ Tát nầy cũng vẫn thương mến họ với tâm bi mẫn, trọn không hờn giận: Even if there be sentient beings, who have malicious or hostile intentions toward the Enlightening Beings, still the Enlightening Beings also regard them with the eye of compassion and are never angered. 4) Bồ Tát luôn làm thiện tri thức cho khắp cả chúng sanh—They are good friends to all sentient beings: a. Đem Chánh Pháp giảng thuyết cho chúng sanh, khiến họ tu tập: Explain the right teaching for sentient beings, so that they may learn and practice it. 5) Bồ Tát hồi hướng vì—Enlightening beings dedicate because: a. They are just as the ocean which cannot be changed or destroyed by all poisons—Chư Bồ Tát như biển cả, không thể biến hoại bởi chất độc. Tất cả những kẻ ngu mông, vô trí, vô ân, sân độc, kiêu mạn, mê tối, không biết pháp lành, cũng không làm bức hại hay loạn động tâm Bồ Tát được: The various oppressive afflictions of all the ignorant, the unwise, the ungrateful, the wrathful, those poisoned by covetousness, the arrogant and conceited, the mentally blind and deaf, those who do not know what is good, and other such evil sentient beings, cannot disturb the Enlightening Beings. b. Ví như mặt nhựt hiện ra nơi thế gian—Just as the sun, appearing in the world: • Chẳng do vì kẻ sanh manh mà lại ẩn đi không sáng: Not concealed because those who are born blind do not see it. • Lại cũng chẳng vì sương mù hay a-tu-la, cây diêm phù đề, gộp cao, hang sâu, bụi khói hay mây mù che chướng: Not hidden by the obstruction of such things as mirages, eclipses, trees, high mountains, deep ravines, dust, mist, smoke, or clouds. • Lại cũng chẳng vì thời tiết biến đổi mà ẩn đi không sáng: Not concealed by the change of seasons. C. Chư Bồ Tát hồi hướng với phước đức lớn, với tâm sâu rộng: Enlightening Beings dedicate with great virtues, with deep and broad minds. d. Hồi hướng vì muốn rốt ráo công đức trí huệ, nên đối với pháp thắng thượng lập chí nguyện pháp quang chiếu khắp thấy tất cả nghĩa, nơi các pháp môn trí huệ tự tại, thường vì lợi ích chúng sanh mà tu pháp lành, chẳng bao giờ lầm sanh lòng tổn hại chúng sanh: They dedicate because they want ultimate virtue and knowledge, their minds aspire to the supreme truth; the light of truth illumines everywhere and they perceive the meanings of everything. Their knowledge freely commands all avenues of teaching, and in order to benefit all sentient beings they always practice virtuous ways, never mistakenly conceiving the idea of abandoning sentient beings. 6) Chẳng vì chúng sanh tệ ác mà rời bỏ chẳng tu hồi hướng: They do not reject sentient beings and fail to cultivate dedication because of the meanness of character of sentient beings, or because their eroneous will, ill-will and confusion are hard to quell. 7) Chỉ dùng giáp trụ đại nguyện để tự trang nghiêm, luôn cứu hộ chúng sanh không thối chuyển: They just array themselves with the armor of great vows of Enlightening Beings, saving sentient beings without ever retreating. 8) Chẳng vì chúng sanh vô ân mà thối Bồ Tát hạnh, bỏ Bồ Đề đạo: They do not withdraw from enlightening activity and abandon the path of enlightenment just because sentient beings are ungrateful. 9) Chẳng vì ở chung với kẻ phàm ngu mà lìa bỏ tất cả thiện căn như thật: They do not get sick of sentient beings just because ignoramuses altogether give up all the foundations of goodness which accord with reality. 10) Chẳng vì chúng sanh thường sanh lỗi ác khó nhẫn thọ được mà sanh lòng nhàm mỏi: They do not retreat because sentient beings repeatedly commit excesses and evils which are hard to bear. 11) Đại Bồ Tát chẳng phải chỉ vì cứu hộ một chúng sanh mà tu các thiện căn hồi hướng vô thượng Bồ Đề, mà chính vì cứu hộ khắp tất cả chúng sanh vậy: Great Enlightening Beings do not cultivate roots of goodness and dedicate them to complete perfect enlightenment just for the sake of one sentient being; it is in order to save and safeguard all sentient beings everywhere that they cultivate roots of goodness and dedicate them to unexcelled complete perfect enlightenment. 12) Chẳng phải vì thanh tịnh một Phật độ, tin một Đức Phật, thấy một Đức Phật, rõ một pháp, nhưng chính vì thanh tịnh khắp tất cả Phật độ, tin khắp tất cả chư Phật, thấy khắp tất cả chư Phật, hiểu tất cả Phật pháp mà phát khởi đại nguyện tu các thiện căn hồi hướng vô thượng Bồ Đề: It is not purify just one Buddha-land, not because of belief in just one Buddha, not just to see one Buddha, not just to comprehend one doctrine that they initiate the determination for great knowledge and dedicate it to unexcelled complete perfect enlightenment. It is to purify all Buddha-lands, out of faith in all Buddhas, to serve all Buddhas, to understand all Buddha-teachings, that they initiate great vows, cultivate the foundations of goodness, and dedicate them to unexcelled complete perfect enlightenment. 13) Chư Bồ Tát nguyện rằng: “Do thiện căn của tôi đây, nguyện tất cả các loài, tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, công đức viên mãn, chẳng bị trở ngại hư hoại, không cùng tận, thường được tôn trọng, chánh niệm chẳng quên, được trí huệ quyết định, đủ vô lượng trí, ba nghiệp thân khẩu ý tất cả công đức viên mãn trang nghiêm.”—Enlightening Beings vow that: “By my roots of goodness, may all creatures, all sentient beings, be purified, may they be filled with virtues which cannot be ruined and are inexhaustible. May they always gain respect. May they have right mindfulness and unfailing recollection. May they attain sure discernment. May they be replete with immeasurable knowledge. May all virtues of physical, verbal and mental action fully adorn them.” 14) Do những căn lành nầy—By these roots of goodness: a. Khiến tất cả chúng sanh thừa sự cúng dường tất cả chư Phật không bỏ qua: They will cause all sentient beings to serve all Buddhas, to their unfailing benefit. b. Khiến chúng sanh khởi lòng tin chư Phật thanh tịnh không hư hoại: They will cause all sentient beings' pure faith to be indestructible. C. Khiến chúng sanh được nghe chánh pháp dứt các sự nghi hoặc và nhớ không quên: They will cause all sentient beings to hear the true teaching, cut off all doubt and confusion, remember the teaching without forgetting it. d. Khiến chúng sanh tu hành đúng pháp: They will cause all sentient beings to cultivate in accord with the teaching. e. Khiến chúng sanh cung kính chư Phật: They will cause sentient beings to develop respect for the enlightened. f. Khiến thân nghiệp chúng sanh thanh tịnh và an trụ vô lượng thiện căn rộng lớn: They will cause sentient beings to act with purity, to rest securely on innumerable great foundations of goodness. g. Khiến chúng sanh lìa hẳn sự nghèo cùng: They cause all sentient beings to be forever free from poverty. h. Khiến chúng sanh đầy đủ thất thánh tài (see Thất Thánh Tài): They cause all sentient beings to be fully equipped with the seven kinds of wealth (faith, vigor, shame, learning, generosity, concentration and wisdom). i. Khiến chúng sanh thường theo chư Phật tu học, thành tựu vô lượng thiện căn thắng diệu: They cause all sentient beings to always learn from the Buddha, to perfect innumerable roots of goodness. j. Tỏ ngộ bình đẳng: They cause sentient beings to attain impartial understanding. k. Trụ nhứt thiết trí: To abide in omniscience. l. Dùng vô ngại nhãn bình đẳng nhìn chúng sanh: To look upon all sentient beings equallywith unobstructed eyes. m. Các tướng hảo trang nghiêm thân không tỳ vết: To adorn their bodies with all marks of greatness, without any flaws. n. Lời nói tinh diệu: Beautiful voices. o. Công đức viên mãn: Replete with all fine qualities. p. Các căn điều phục: To have control over their senses. q. Thành tựu thập lực: To accomplish the ten powers (see Thập Lực). r. Tâm lành đầy đủ: To be filled with good will. s. Không chổ y trụ: To dwell or depend on nothing. t. Khiến tất cả chúng sanh đều được sự vui của Phật, trụ nơi chỗ Phật an trụ: To cause all sentient beings to attain the enjoyments of Buddhahood and abide in the abode of Buddhas. 15) Thấy chúng sanh gây tạo ác nghiệp, chịu nhiều sự khổ, vì thế mà không thấy được Phật, chẳng nghe được pháp, nên chư Bồ Tát quyết đi vào ác đạo, thay thế các chúng sanh chịu các sự khổ, khiến họ được giải thoát: Seeing sentient beings doing all sorts of bad things and suffering all sorts of misery and pain, and being hindered by this from seeing the Buddha, hearing the teaching and recognizing the community, the enlightening beings vow to enter those states of woe, take on the various miseries in place of the sentient beings, to cause them to be free. 16) Chư Bồ Tát chịu khổ như vậy, nhưng lại chẳng kinh sợ mà còn tinh tấn tu hành chẳng nhàm mỏi vì muốn—Enlightening Beings suffer pain in this way, but they are not discouraged. In the contrary, they vigorously cultivate without ceasing beause: a. Quyết muốn đảm nhiệm chúng sanh khiến họ được giải thoát: They are determined to carry all sentient beings to liberation. b. Quyết muốn cứu vớt chúng sanh xuất ly khổ nạn và những chỗ sanh già bệnh chết: They are determined to save all sentient beings and to enable them to attain emancipation, so that they can be free from the realm of pain and troubles of birth, old age, sickness, and death. C. Quyết muốn cứu hộ chúng sanh thoát khỏi cảnh lưu chuyển tà kiến vô trí cũng như mất các pháp lành: They are determined to save all sentient beings from revolving in erroneous views, bereft of qualities of goodness. d. Quyết muốn cứu hộ các chúng sanh—They are determined to save all sentient beings: • Bị lưới ái vấn: Sentient beings are wrapped up in the web of attachments. • Bị lọng si che lấp: covered by the shroud of ignorance. • Nhiễm cõi hữu lậu theo mãi không rời: Clinging to all existents, pursuing them unceasingly. • Vào trong lồng củi khổ não: Entering the cage of suffering. • Thực hành nghiệp ma: Acting like maniacs. • Phước trí đều hết: Totally void of virtue or knowledge. • Thường ôm lòng nghi hoặc: Always doubtful and confused. • Chẳng thấy chỗ an ổn: They do not perceive the place of peace. • Chẳng biết đạo xuất ly: They do not know the path of emancipation. • Ở trong sanh tử luân hồi mãi: They revolve in birth and death without rest. • Luôn bị ngập chìm trong khổ bùn lầy: Always submerged in the mire of suffering. 17) Bồ tát chẳng vì tự thân mà cầu giải thoát, nhưng lại muốn đem chỗ tu hành của mình làm cho chúng sanh—They are not seeking liberation for themselves, but they want to use what they practice to cause all sentient beings: a. Được thành bực trí huệ vô thượng: Become supreme sovereign of knowledge. b. Được nhứt thiết trí: To attain the omnicient mind. C. Qua khỏi vòng sanh tử: To cross over the flow of birth and death. d. Được thoát tất cả khổ: To be free from all suffering. 18) Bồ Tát nguyện vì khắp tất cả chúng sanh chịu đủ sự khổ, khiến họ đều ra khỏi hố sanh tử khổ: They vow to accept all sufferings for the sake of all sentient beings, and enable them to escape from the abyss of immeasurable woes of birth and death. 19) Bồ Tát luôn nguyện vì khắp tất cả chúng sanh mà tận vị lai kiếp chịu tất cả khổ trong các ác đạo nơi tất cả thế giới, nhưng vẫn luôn vì chúng sanh mà tu thiện căn: They always vow to accept all sufferings for the sake of all sentient beings in all worlds, in all states of misery forever, but still always cultivate foundations of goodness for the sake of all beings. 20) Bồ Tát thà riêng mình chịu mọi sự khổ, đem thân chuộc tất cả ác đạo chúng sanh, khiến họ được giải thoát, chớ chẳng để chúng sanh đọa nơi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, hay a-tu-la: They vow that they would rather take all this sufferings on themselves than allow sentient beings to fall into hell, animal, hungry ghost, and asura realms. 21) Bồ Tát nguyện bảo hộ tất cả chúng sanh trọn chẳng rời bỏ. Đây là lời nguyện thành thực vì cứu hộ chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề, chớ chẳng phải vì tự thân mà cầu đạo vô thượng: They vow to protect all sentient beings and never abandon them. This is a sincere vow because they set their mind on enlightenment in order to liberate all sentient beings, not seeking the unexcelled way for their own sake. 22) Bồ Tát chẳng phải vì cầu phước hưởng lạc trong ba cõi mà tu hạnh Bồ Đề. Tại sao vậy?: They do not cultivate enlightening practice in search of pleasure or enjoyment. Why? Because: a. Phước lạc thế gian chẳng gì chẳng khổ: Mundane pleasures are all sufferings. b. Phước lạc thế gian là cảnh giới ma: Mundane pleasures are the realms of maniacs. C. Chỉ có kẻ ngu mới tham trước phước lạc thế gian, chứ chư Phật thì thường hay quở trách vì tất cả khổ nạn đều nhơn đó mà sanh: Only craved by ignorant people, but scorned by Buddhas because all misery arises from them. d. Tất cả ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, đến giận hờn, kiện cáo, hủy nhục đều do tham trước ngũ dục mà ra: The anger, fighting, mutual defamation and othe such evils of the realms of hells, ghosts, animals and asuras are all caused by greedy attachment to objects of desire. e. Kẻ tham ngũ dục thời xa lìa chư Phật, chướng ngại sanh thiên, huống là được vô thượng Bồ Đề: By addiction to desires, one become estranged from the Buddhas and hindered from birth in heaven, to say nothing of unexcelled complete perfect enlightenment. 23) Bồ Tát nguyện đem căn lành hồi hướng như vậy khiến tất cả chúng sanh đều được—Enlightening Beings vow to dedicate roots of goodness to enable all sentient beings to attain: a. Vui rốt ráo: Ultimate bliss. b. Vui lợi ích: Beneficial bliss. C. Vui bất thọ: The bliss of nonreception. d. Vui tịch tịnh: The bliss of dispassionate tranquility. e. Vui vô động: The bliss of imperturbability. f. Vui vô lượng: Immeasurable bliss. g. Vui bất xả ly sanh tử bất thối chuyển niết bàn: The bliss of not rejecting birth and death yet not regressing from nirvana. h. Vui bất diệt: Undying bliss. i. Vui nhứt thiết trí: The bliss of universal knowledge. 24) Bồ Tát nguyện vì chúng sanh mà làm—For all sentient beings, they vow: a. Làm điều ngự sư: To be a charioteer. b. Làm chủ binh thần: To be a leader. C. Cầm đuốc đại trí chỉ đường an ổn khiến chúng sanh lìa hiểm nạn: to be holding the torch of great knowledge and showing the way to safety and peace, freeing them from danger. d. Dùng phương tiện khiến chúng sanh biết chơn thiệt nghĩa: To use appropriate means to inform sentient beings of the truth. e. Nơi biển sanh tử, chư Bồ Tát làm thuyền trưởng khéo giỏi đủ trí đưa các chúng sanh đến bờ kia: In the ocean of birth and death, they are skillful captains of the ship, who know how to deliver sentient beings to the other shore. 25) Chư Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy, tùy nghi cứu hộ khiến chúng sanh—Enlightening Beings dedicate all their roots of goodness and save sentient beings by employing means appropriate to the situation to cause them: a. Thoát khỏi sanh tử: To emerge from birth and death. b. Thờ cúng tất cả chư Phật: Serve and provide for all the Buddhas. C. Được trí vô ngại: To attain unhindered, omnicient knowledge. d. Lìa các ma, xa bạn ác: To abandon all maniacs and bad associates. e. Gần bạn lành Bồ Tát: Approach all Enlightening Beings and good associates. f. Dứt trừ tội lỗi: To annihilate all error and wrongdoing. g. Thành tựu tịnh nghiệp: To perfect pure behavior. h. Đầy đủ hạnh nguyện rộng lớn của Bồ Tát và vô lượng thiện căn: To fulfill the great practical vows and innumerable virtues of Enlightening Beings. 26) Vì các chúng sanh không thể tự cứu, huống là cứu người? Thế nên một mình Bồ Tát lập chí nguyện tu tập thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn—Sentient beings cannot save themselves, how can they save others? Only Enlightening Beings have this unique determination of cultivating amass roots of goodness and dedicate them in this way: a. Vì muốn quảng độ tất cả chúng sanh: To liberate all sentient beings. b. Vì muốn chiếu khắp tất cả chúng sanh: To illumine all sentient beings. C. Vì muốn dẫn dắt tất cả chúng sanh: To guide all sentient beings. d. Vì muốn khai ngộ tất cả chúng sanh: To enlighten all sentient beings. e. Vì muốn đoái hoài tất cả chúng sanh: To watch over and attend to all sentient beings. f. Vì muốn nhiếp thọ tất cả chúng sanh: To take care of all sentient beings. g. Vì muốn thành tựu tất cả chúng sanh: To perfect all sentient beings. h. Vì muốn khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ: To gladden all sentient beings. i. Vì muốn khiến tất cả chúng sanh vui đẹp: To bring happiness to all sentient beings. j. Vì muốn khiến tất cả chúng sanh dứt nghi: To cause all sentient beings to become freed from doubt. 27) Bồ Tát hồi hướng như ánh mặt nhựt—Enlightening Beings' dedications should be like the sun: a. Chiếu khắp tất cả mà chẳng cầu báo ân: Shining universally on all without seeking thanks or reward. b. Chẳng vì một chúng sanh ác hại mình mà bỏ tất cả chúng sanh khác, nên Bồ Tát chỉ siêng tu tập thiện căn hồi hướng, khiến khắp chúng sanh đều được an lạc: Not abandoning all sentient beings because one sentient being is evil, just diligently practicing the dedications of roots of goodness to cause all sentient beings to attain peace and ease. C. Chúng sanh dầu có kẻ ác muốn hại mình, Bồ Tát đều dung thứ, trọn chẳng do đây mà bỏ thệ nguyện: They are able to take care of all sentient beings even if they are bad, never giving up their vows on this account. d. Thiện căn dầu ít, nhưng vì nhiếp khắp chúng sanh, nên Bồ Tát luôn dùng tâm hoan hỷ hồi hướng quảng đại: Even if their roots of goodness be few, but because they want to embrace all sentient beings, so they always make a great dedication with a joyful heart. e. Nếu có thiện căn mà chẳng muốn lợi ích tất cả chúng sanh thì chẳng gọi là hồi hướng: If one has roots of goodness but does not desire to benefit all sentient beings, tat is not called dedication. f. Tùy một thiện căn dùng khắp chúng sanh làm cảnh sở duyên mới gọi là hồi hướng: When every single root of goodness is directed toward all sentient beings, that is called dedication. 28) Bồ Tát tu tập hồi hướng đặt để chúng sanh nơi pháp tánh vô trước: Enlightening Beings cultivate dedication to place sentient beings in the true nature of things where there is no attachment. 29) Bồ Tát tu tập hồi hướng thấy chúng sanh bất động bất chuyển: Enlightening Beings cultivate dedication to see that the intrinsic nature of sentient beings doesn'' move or change. 30) Bồ Tát tu tập hồi hướng vô y vô thủ đối với sự hồi hướng: Enlightening Beings cultivate dedication without depending on or grasping dedication. 31) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng lấy tướng thiện căn: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to the appearances of roots of goodness. 32) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng phân biệt nghiệp báo thể tánh: Enlightening Beings cultivate dedication without false ideas about essential nature of consequences of actions. 33) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng tham trước tướng ngũ uẩn: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to the characteristics of the five clusters of material and mental existence. 34) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng phá hoại tướng ngũ uẩn: Enlightening Beings cultivate dedication without destroying the charateristics of the five clusters. 35) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp lấy nghiệp: Enlightening Beings cultivate dedication without grasping action. 36) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng cầu quả báo: Enlightening Beings cultivate dedication without seeking reward. 37) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng nhiễm trước nhơn duyên: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to causality. 38) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng phân biệt nhơn duyên khởi: Enlightening Beings cultivate dedication without imagining what is producing by causality. 39) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp danh tiếng: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to reputation. 40) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp xứ sở: Enlightening beings cultivate dedication without attachment to location. 41) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp pháp hư vọng: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to unreal things. 42) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp chúng sanh tướng, thế giới tướng hay tâm ý tướng: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to images of sentient beings, the world, ot mind. 43) Bồ Tát tu tập chẳng khởi tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo: Enlightening Beings cultivate dedication without creating delusions of mind, delusions of concepts, or delusions of views. 44) Bồ Tát tu tập hồi hướng chẳng chấp đường ngôn ngữ: Enlightening Beings cultivate dedication without attachment to verbal expression. 45) Bồ Tát quán tánh chơn thật của chư pháp mà tu tập hồi hướng: Enlightening Beings cultivate dedication observing the true nature of all things. 46) Bồ Tát quán tánh bình đẳng của tất cả chúng sanh mà tu tập hồi hướng: Enlightening beings cultivate dedication observing the aspects in which all sentient beings are equal. 47) Bồ Tát dùng ấn pháp giới mà ấn các thiện căn mà tu tập hồi hướng: Enlightening Beings cultivate dedication stamping all roots of goodness with the seal of the realm of truth. 48) Bồ Tát quán các pháp lìa tham dục, hiểu các pháp không gieo trồng thì thiện căn lại cũng như vậy mà tu tập hồi hướng: Enlightening Beings cultivate dedication observing all things dispassionately; they understand that all things have no propagation and that roots of goodness are also thus. 49) Bồ Tát quán các pháp không hai, không sanh, không diệt mà tu tập hồi hướng: Enlightening Beings cultivate dedication observing that things are nondual, unborn, and unperishing. 50) Bồ Tát dùng những thiện căn hồi hướng như vậy mà tu hành pháp đối trị thanh tịnh: Enlightening Beings use such roots of goodness to cultivate and practice pure methods of curing spiritual ills. 51) Bao nhiêu thiện căn thảy đều tùy thuận pháp xuất thế, chẳng làm hai tướng: All of their roots of goodness are in accord with transcendental principles, but they do not conceive of them dualistically. 52) Chẳng phải túc nghiệp mà Bồ Tát tu tập nhứt thiết trí: It is not in their deeds that they cultivate omniscience. 53) Bồ Tát tu tập nhứt thiết trí—Enlightening Beings cultivate omniscience: a. Chẳng phải lìa nghiệp mà tu tập nhứt thiết trí: It is not aprt from deeds that they cultivate omniscience. b. Nhứt thiết trí chẳng phải túc nghiệp, cũng chẳng lìa nghiệp mà được; bởi thanh tịnh nghiệp như bóng sáng, nên quả báo cũng thanh tịnh như bóng sáng; báo như bóng sáng thanh tịnh nên nhứt thiết trí cũng thanh tịnh như bóng sáng: Omniscience is not identical to action, but omniscience is not attained aprt from action either. Because their action is pure as light, the consequences are also pure as light; because the consequences are pure as light, omniscience is also pure as light. C. Lìa ngã, ngã sở và tất cả loạn động tư duy phân biệt mà đem các thiện căn tu tập hồi hướng: Detached from all confusions and thoughts of self and possession, Enlightening Beings skillfully cultivate dedication of all roots of goodness. 54) Bồ Tát tu tập hồi hướng như vậy—Enlightening Beings cultivate dedication in this way: a. Luôn độ thoát chúng sanh không thôi: Liberating sentient beings ceaselessly. b. Chẳng trụ pháp tướng: They do not dwell on appearances. C. Dầu biết các pháp không nghiệp không báo mà khéo hay xuất sanh tất cả nghiệp báo không trái nghịch: Though they know that in all things there is no action and no consequences, yet they can skillfully produce all deeds and consequences without opposition or contention. d. Bồ Tát tu tập hồi hướng xa lìa các lỗi và được chư Phật khen ngợi: Enlightening Beings cultivate dedication, free from all faults and are praised by all Buddhas.
cứu khỏi
To deliver (save) someone from.
cứu khốn
To save from misfortunes.
cứu khổ
To save from suffering, to rescue from misery.
; Cứu ai thoát khỏi khổ đau—To save someone from unhappiness or suffering.
cứu khổ trai
(救苦齋) Tên Pháp hội do vua Vũ đế nhà Lương thời Nam triều tổ chức. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 37 chép, thì vào niên hiệu Trung đại thông năm đầu (529), kinh thành bị bệnh dịch, vua Lương vũ đế đã thiết trai Cứu khổ trong điện Trùng vân, và đích thân cầu nguyện cho trăm họ.
cứu khổn phò nguy
To save from danger; to assist (s.o.) in misfortune and danger.
Cứu liệu tiểu nhi tật bệnh kinh 救療小兒疾病經
[ja] キュウリョウショウジシツビョウキョウ Kyūryō shōji shitsubyō kyō ||| The Jiuliao xiaoer jibing jing (T 1330.21.491-495); abbreviated title of the Luomona shuo jiuliao xiaoer jibing jing 囉嚩拏説救療小兒疾病經. => (c: Jiuliao xiaoer jibing jing); tên gọi tắt của Ra-phược-noa thuyết cứu liệu tiểu nhi tật bệnh kinh (c: Luomona shuo jiuliao xiaoer jibing jing 囉嚩拏説救療小兒疾病經).
cứu mạng
To save someone's life.
cứu nguy
To save from Peril.
cứu nhân nhất mệnh thắng tạo thất cấp phù đồ
(救人一命勝造七級浮屠) Phù đồ, chỉ tháp Phật. Thất cấp phù đồ, tức là tháp Phật cao bảy bậc. Ngạn ngữ thế gian có câu: Cứu sống một người còn hơn xây bảy cấp phù đồ. Danh từ Phù đồ là chữ của Phật giáo, thí dụ công đức cứu người rất lớn, dùng để khuyên người làm việc thiện, hoặc cầu khẩn người ta cứu mệnh. (Câu ngạn ngữ Việt Nam: Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người cũng có xuất xứ từ đây N.D).
cứu nhân độ thế
To save mankind and protect the world.
cứu nạn
To save from danger.
cứu sống
See Cứu Mạng.
cứu thoát
Chiu-t'o (C).
; To save and set free; to be saved and freed.
; Cứu độ và giải thoát—To save and set free—To be saved and freed—To rescue—To save.
cứu thoát bồ tát
(救脫菩薩) Vị Bồ tát này cứu người thoát khỏi bệnh khổ và tai nạn. Kinh Thất Phật bát Bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú quyển 1 xếp Bồ tát này vào hàng thứ tư trong tám vị Bồ tát lớn. Về hình tượng, cứ theo Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp chép, thì thân Ngài màu hồng, ngồi tòa sen, tay phải cầm Diệu pháp tạng cúng dường, tay trái nắm lại đặt trên đùi. Còn Tu dược sư nghi quĩ bố đàn pháp thì chép, bồ tát Cứu thoát thân màu trắng, hai tay kết ấn Kim cương quyền, đặt trên hai bắp vế (háng). [X. kinh Quán đính Q.12 - kinh Khổng tước vương chú - kinh Đà la ni tạp tập Q.1].
cứu thế
To save the world
; Những bậc cứu độ thế gian như chư Phật và chư Bồ Tát, đặc biệt là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (tầm thanh cứu khổ)—To save the world—A saviour of the world, Buddhas and Bodhisattvas as world-saviours, especially Kuan-Yin Bodhisattva.
; (救世) Cứu giúp loài người thoát khỏi đau khổ ở thế gian. Từ cứu thế cũng thường được dùng để tôn xưng Phật và Bồ tát, đặc biệt bồ tát Quan âm còn được gọi là Cứu thế Quan thế âm bồ tát.
cứu thế bồ tát
Chư Phật và chư Bồ Tát thị hiện cứu độ thế gian, một danh hiệu khác của Bồ Tát Quán Âm—Buddhas and Bodhisattvas as world-saviours, another title for Kuan-Yin Bodhisattva.
cứu thế luân
Gọi pháp luân của Phật là “Cứu Thế Luân”—The wheel of salvation.
cứu thế viên mãn
Tên gọi khác của Bồ Tát Quán Âm—Complete saviour of the world, another name of Kuan-Yin Bodhisattva.
cứu thế viên thông
See Cứu Thế Viên Mãn.
cứu thế xiển đề
Xiển đề là người không còn căn cơ vãng sanh nữa, cũng có nghĩa là vị Bồ Tát vì lòng từ bi vô hạn nên khởi lên đại nguyện từ chối vào Niết bàn để tiếp tục cứu độ chúng sanh—The world-saving icchanti, i.e. the Bodhisattva who defers entry into Buddhahood to fulfil his vow of saving all beings.
Cứu thế 救世
[ja] クセ、グセ kyūsei ||| (1) To save the world, which means to save, or liberate, all sentient beings from suffering. (2) A world-saver, which is a reference to buddhas or bodhisattvas who liberate sentient beings. (3) A reference to Avalokiteśvara 觀音. => 1. Cứu độ thế gian, có nghĩa là cứu rỗi hay giải thoát mọi chúng sinh ra khỏi khổ đau trong thế gian. 2. Đấng cứu thế, là Đức Phật hay là Bồ-tát thường cứu độ chúng sinh. 3. Chỉ cho Bồ-tát Quán Thế Âm.
cứu tinh
Salvation.
cứu tế
(救濟) Phật giáo nguyên thủy đặc biệt nhấn mạnh sự thoát khỏi (giải thoát) cõi mê mà tiến vào nơi an bình (Niết bàn) vĩnh viễn, nhưng không phải nhờ một vị chúa cứu giúp mà là do sự tu hành của chính mình để tự cứu. Duy có điều là đối với đức Phật hoặc các bậc tôn trưởng thì tuyệt đối nương tựa mà được yên lòng, cũng gọi là cứu tế. Chẳng hạn như vua A xà thế vì mắc tội giết cha mà hoảng sợ, đến bạch Phật rằng: Khẩn cầu đức Thế tôn, từ nay cho đến lúc chết, con nguyện nương tựa nơi Tam bảo để trở thành người tín đồ tại gia, xin đức Thế tôn chấp nhận cho con! Con là kẻ ngu si, mê muội, tàn ác, có tội, vì giành ngôi vua mà giết cả cha mình. Bạch đức Thế tôn! Con là kẻ tội lỗi, xin đức Thế tôn chấp nhận con, khiến con được sự che chở trong vị lai. Đức Phật trả lời: Đại vương! Đại vương đã có thể tự nhận lấy tội lỗi của mình, sám hối đúng như pháp, nhờ sự sám hối ấy, Đại vương sẽ được nhiếp thụ (Phạm: Paỉi-gaịhàti). Chính nhờ được sự nhiếp thụ ấy mà cái nhân sợ hãi của vua A xà thế Bồ Tát Cứu Hộ Tuệ (Mạn Đồ La Thai Tạng Giới) được giải trừ. Đặc trưng của sự nhiếp thụ là nhờ ở lực lượng của số nhiều người, chứ không phải do một vị cứu chúa ân xá mà được nhiếp thụ, tức do ý đồng nhất của toàn bộ tăng già mà được khoan xá. Loại nhiếp thụ này là hình thức cứu tế rất xưa của Phật giáo. Đến thời đại Phật giáo Đại thừa, thì sự nhiếp thụ ấy biến thành hình thức do Phật A di đà nhiếp thụ, đối tượng để cầu xin sự cứu giúp là chư Phật ba đời hoặc là Phật A di đà. Cứ theo kinh Vô lượng thọ chép, thì Phật A di đà đã phát bốn mươi tám nguyện lớn, mà nguyện nào cũng vì cứu độ chúng sinh. Chúng sinh nương vào bản guyện của Phật Di đà mà phát khởi lòng tin, lập nguyện, vâng làm, ương ứng với bản nguyện của Phật Di đà. Nếu tương ứng với bản nguyện Di đà, thì có thể được cứu, đó là đặc trưng cứu tế của Phật A di đà.
cứu tử
To save (rescue) from death.
cứu vãn
To save the situation.
cứu vớt linh hồn
To save a soul.
cứu độ
Salvation—To emancipate—Saving—Rescue and ferry—Taking across.
cứu độ phật mẫu nhị thập nhất lễ tán
Ekavimśātī-stotra (S)Tên một bộ luận kinh.
Cứu 救
[ja] ク ku ||| (1) To save, to succor, to aid. To help, fix, repair. To put an end to; to stop. => 1. Cứu rỗi, cứu giúp, sự viện trợ, giúp đỡ, chuẩn bị, hồi phục. Bãi bỏ; chấm dứt.
Cứu 究
[ja] キュウ kyū, ku ||| (1) To go to the end of; attain, reach, master. (2) Investigate thoroughly. (3) To end, terminate. (4) The end, the limit, the extreme. => 1. Đi đến tận cùng; đạt được, đến nơi, thành thạo. 2. Nghiên cứu tinh thông. 3. Kết thúc, hoàn thành. 4. Chỗ tận cùng, giới hạn, cùng tột.
cứu-cứu-la
phiên âm từ Phạn ngữ là kaukkuṭika, cũng đọc là cưu-cưu-trá, chỉ con gà, vì nhân theo tiếng kêu của gà mà tiếng Phạn gọi là cứu-cứu-la.
cừ khôi
Outstanding.
cừu hận
Animosity.
cừu nhân
Enemy.
cử
1) Cất lên—To raise (a thing, a matter, subject, etc.). 2) Toàn thể: All—The whole.
; (舉) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là cất lên, nêu lên, đưa ra. Tiếng Thiền sư dùng khi nêu ra công án hoặc đưa nắm tay, cây gậy lên để mở bày trí hiểu biết cho học trò. Nếu nói theo ý đề xướng thì có cử hướng, cử thị, cử niêm, cử xướng, cử tự, cử trứ v.v... Ngoài ra, nêu bày công án cổ cho người học, gọi là Cử cổ, cử tắc - nêu bày công án thoại đầu, gọi là Cử thoại. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng), nói: Nêu: Lương vũ đế hỏi đại sư Đạt ma: Thánh đế đệ nhất nghĩa là thế nào? Đại sư trả lời: Rỗng rang không Thánh. Lại Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 mục Trí thường (Đại 51, 239 trung), nói: Tổ nói: Người ấy đã nói gì, ngươi thử kể (cử tự) lại xem, ta sẽ chứng minh cho ngươi. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Tiết lạp chương - Vô môn quan tắc 13 - Liên đăng hội yếu Q.7].
cử ai
(舉哀) Trong Thiền lâm, lúc có vị Hòa thượng tịch, sau khi làm Phật sự xong, chúng tăng đến trước bàn thờ Hòa thượng đồng thanh cất lên ba tiếng Ai! Ai! Ai! (Thương! Thương! Thương!) gọi là Cử ai, cũng gọi là cử ai Phật sự. Sắc tubách trượng thanh qui quyển thượng chương Trụ trì (Đại 48., 1128 trung), nói: Vị chủ tang bạch rằng: Hòa thượng Đường đầu qui tịch, theo phép phải cử ai. Làm Phật sự xong, cử ai ba tiếng, đại chúng cùng khóc, các sư nhỏ ngồi xếp hàng dưới màn khóc thương. Danh từ Cử ai và nghi thức Cử ai cũng thấy được ghi trong các sách đời Lương, đời Tùy và các sách sử của Trung quốc đời xưa, cho nên biết nghi thức tống táng này, người đời cũng đã thực hành từ xưa rồi. [X. Viên ngộ Phật quốc thiền sư ngữ lục Q.20 - Tùng lâm thập di lược thanh qui - Thiền lâm tượng khí tiên Tang tiến môn].
cử chỉ
Gesture.
cử gia
Toàn gia—The whole family.
cử hành
To obey and do the Buddha's teaching.
cử hướng
(舉向) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ sự nêu lên, xướng lên công án trong ngữ lục của Tổ sư. Như cử thị, cử xướng, cử tự, đều cùng ý này. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 chương Tắc xuyên hòa thượng (Đại 51, 261 thượng), nói: Cư sĩ hét lớn: Hãy ngăn ông già vô lễ ấy lại, chờ ta mỗi mỗi nêu lên (cử hướng) công án cho người có mắt sáng ở đây đã.
cử hạt
(舉喝) Là pháp ứng cơ tiếp vật của Thiền tông. Hát, là tiếng hét. Để mở đường cho người học, Thiền sư không bày tỏ bằng lời nói hay văn chữ, mà dùng tiếng hét phát ra bất thình lình để phá trừ tà kiến, vọng tưởng của học trò, gọi là Cử hát (cất tiếng hét).
cử kinh
(舉經) Khi tụng kinh, trước hết xướng đọc tên kinh, đề kinh, gọi là Cử kinh, cũng chỉ người xướng tên kinh. Thời xưa, đọc tụng thầm là chính, cho nên không cần cử kinh, nay thì vị Duy na giữ chức này. Phép xướng tên kinh, gọi là Cử kinh pháp, tức khi nghe ba tiếng khánh lớn, vị Duy na chắp tay, cất tiếng xướng đề kinh. Ngoài ra, lúc cử hành pháp hội, vị Duy na xướng câu đầu của kinh hoặc bài kệ để hướng dẫn đại chúng xướng họa cho đều, gọi là Cử thanh, Cử xoang (cất tiếng hát), cũng gọi là kinh đầu, cú đầu.
cử lễ
To celebrate—To begin to celebrate.
cử nhân
Nguời đã hoàn tất bằng Đại Học bốn năm—One who has finished four-year college degree.
cử nhất minh tam
(舉一明三) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có nghĩa là trí hiểu biết rất sắc bén, chỉ dạy một mà có thể biết ba. Thiền tông dùng từ ngữ này để hiển bày cơ dụng lanh lợi. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng), nói: Cách núi thấy khói, biết ngay là lửa, cách tường thấy sừng, biết liền là bò. Người bén nhạy, có con mắt rất tinh, thấy việc biết liền. [X. Bích nham lục tắc 97].
cử nhất toàn thâu
(舉一全收) Cũng gọi là Cử thể toàn thu, Cử thể toàn nhiếp. Có nghĩa là nêu một pháp mà gồm thu hết thảy pháp, vì một pháp ấy có đủ cái tính chung của hết thảy pháp. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 501 hạ), nói: Ba tính đều là một tâm, nên nêu ra một pháp thì gồm thu hết thảy pháp.
cử nhất tế chư
(舉一蔽諸) Cử, đề xuất rõ ràng để tỏ bày ý tứ - Tế, hàm ý là bao quát, thâu tóm - Chư, nghĩa là nhiều. Tức khi giải thích một nghĩa lí nào đó, hoặc biểu thị một khái niệm nào đó, chỉ cần nêu lên một điểm cũng đủ tính đại biểu hàm chứa tất cả ý của những tiếng cùng loại. Như các kinh thường dùng từ ngữ Thực tướng các pháp để biểu thị cái lí thể tướng bình đẳng, thực tại bất biến của hết thảy muôn pháp chân thực - chữ thực tướng được dùng để bao quát ý của nhiều tiếng cùng loại, như: thực tính, thực thể, thực lực v.v... Pháp hoa văn cú quyển 3 phần dưới (Đại 34 - 43 trung), nói: Cho nên phần nêu chương nói: Thực tướng các pháp - lẽ ra cũng có thể nói: Thực tính các pháp, thực thể, thực lực cho đến có thể nói thực cứu kính... Nói thực tướng các pháp, đó là chỉ nêu một mà bao quát nhiều vậy (cử nhất nhi tế chư)!
Cử thân 擧身
[ja] コシン koshin ||| The whole body. => Toàn thân.
Cử thể 擧體
[ja] コタイ kotai ||| (1) All, completely. (2) To move one's whole body in a simultaneously coordinated way; to put one's whole body and mind into even the smallest movement. (3) Just like that; as it is. => 1. Tất cả, toàn thể. 2. Chuyển dịch toàn thân với sự phối hợp đồng thời; hướng toàn thân tâm vào ngay trong từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất. 3. Đúng như vậy, y như thế.
cử thủ đê đầu
(舉手低頭) Còn gọi là Cứ thực vi luận, Cứ thực nhi luận, Khắc thực thông luận. So sánh hai chủ trương hoặc hai sự vật trở lên, nếu cứ theo toàn thể sự thực mà bàn, thì gọi Cứ thực thông luận - còn nếu đứng về mặt đặc sắc, mặt ưu thắng mà bàn, thì gọi là Cứ thắng vi luận. Chẳng hạn như Sắc, nếu đứng về phương diện sự thực mà nói, thì mười một pháp: Năm căn, năm cảnh, vô biểu sắc, đều thuộc Sắc pháp, đó là Cứ thực thông luận - còn nếu đứng về mặt đặc điểm của mỗi pháp mà nói, thì chỉ có cảnh đối của nhãn căn mới có thể gọi là Sắc, đó là Cứ thắng vi luận.
cử tri
Voter—Elector.
cử tán
(舉贊) Trước khi đọc kinh điển, xướng văn tán để khen ngợi Phật, gọi là Cử tán. Như tán hương, tán kết. Hoàng bá thanh qui Chúc li chương 1 (Đại 82, 766 hạ), nói: Vị Đường đầu lên tòa, chúc Thánh xong, xuống tòa, rồi cùng đại chúng lên điện Phật, đại chúng cử tán, vị Đường đầu dâng hương, lạy chín lạy.
Cử tâm 擧心
[ja] コシン koshin ||| One's whole mind. => Trọn vẹn tâm ý của mình.
cử tắc
(舉則) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi là Cử cổ. Cử, là xướng lên - Tắc chỉ bản tắc, công án. Trong khi pháp chiến, vị Thủ tọa xướng đọc bản tắc, gọi là Cử tắc. (xt. Pháp Chiến).
cử tọa
Audience—Hearer.
cử tội yết-ma
(舉罪羯磨), cũng gọi là già bất chí bạch y gia yết-ma, vị tỳ-kheo có tội bị nghiêm cấm không được đến nhà cư sĩ.
cử tự
(舉似) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tự, giống như hiển bày. Có nghĩa là dùng lời nói đề xướng cổ tắc, hoặc dùng vật để chỉ bày cho người ta biết. Thi hào Tô thức đời Tống có mấy câu thơ rằng (Vạn tục 173, 159 hạ): Tiếng khe suối là lưỡi rộng dài, màu núi xanh là thân thanh tịnh. Đêm về tám vạn bốn nghìn kệ, hôm sau làm sao chỉ dạy (cử tự) người? [X. Gia thái phổ đăng lục Q.23].
cử động
Movements.
Cử 擧
[ja] キョ、コ kyo, ko ||| (1) To lift up, to advance, to praise, to recommend, to elevate. To move in an upward direction. (2) To initiate, to move, to bring forward, make effort, strive for. (3) All, the whole. (4) To plan, erect, project. Behavior, actions. (5) To join in an effort; to meet together. (6) To cite. (7) To "offer" or "bring up" or "raise" a kōan for instruction. => 1. Nhấc lên, đưa lên, ca ngợi, giới thiệu, nâng cao. Di chuyển lên phía trên 2. Khởi đầu, làm chuyển động, đề ra, cố gắng, nỗ lực. 3. Tất cả, toàn thể. 4. Dự kiến, dựng nên, đặt kế hoạch. Cách cư xử, hành vi. 5. Dấn thân vào một nỗ lực; gặp gỡ nhau. 6. Trích dẫn. 7. “Đề khởi ”một công án để tham khán.
cửa
Gate—Door.
cửa chính
Main door (entrance).
cửa giải thoát
Theo Phật giáo Đại thừa, cửa giải thoát của Bồ Tát nằm ngay bên trong tự tánh, chứ không phải bên ngoài. Cửa mở rộng bằng tu tập Lục Ba La Mật và trì giới cụ túc—The gate of diliverence—Door of liberation—According to the Mahayana Buddhism, Bodhisattva door of liberation is within our self-nature, not outside. The door open through practice, cultivation of the paramitas and holding the complete precepts.
cửa hở
Half-open door.
cửa không
Pagoda—Temple—Monastery
cửa khổng
Confucianist School
cửa phật
Pagoda.
cửa sông hằng
Gangadvara (S), Door of the Ganges.
cửa thiên đàng
The gates of heaven.
cửa thiền
Pagoda.
cửa thánh
Saint door.
cửa đóng
Closed door.
cửa địa ngục
Gates of the hells.
cửa ải
Frontier passage.
cửu
Navan, nava (S). Nine
; Navan (skt)—Nine.
cửu biến tri
Chín hình thức của toàn tri (biết hết thảy) về bốn chân lý (kiến khổ, kiến tập, kiến diệt và kiến đạo) cũng như những phương cách cắt đứt dục vọng và ảo tưởng—The nine forms of complete knowledge of the four Noble Truths (knowledge of sufferings, accumulation of sufferings, termination of sufferings and knowledge of the path) as well as the cutting off passion and delusion.
; (九遍知) Chín thứ trí dứt kiến hoặc, Tu hoặc trong ba cõi, hoặc chỉ cho chín trí dùng để đoạn trừ những tạo tác của các hoặc trên. Tức là trong ba đạo: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo, đặc biệt dựa vào sự dứt trừ phiền não của Kiến đạo và Tu đạo mà lập thành chín biến tri. Biến tri nghĩa là biết khắp cảnh của bốn đế mà đoạn trừ các hoặc (phiền não), tuy lấy trí làm tính, nhưng không gọi trí là biến tri (Trí biến tri), lí do là chỉ dựa vào trí để dứt phiền não, thành ra quả (sự dứt = đoạn) phải nương vào nhân (trí), cho nên gọi đoạn (dứt) là biến tri, tức là Đoạn biến tri. Chín biến tri: 1. Dục giới kiến khổ tập đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc khổ tập đế trói buộc ở cõi Dục. 2. Thượng nhị giới kiến khổ tập đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc khổ tập đế ở cõi Sắc và Vô sắc. 3. Dục giới kiến diệt đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc diệt đế ở cõi Dục. 4. Thượng nhị giới kiến diệt đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 5. Dục giới kiến đạo đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc Đạo đế ở cõi Dục. 6. Thượng nhị giới kiến đạo đoạn kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ kiến hoặc thuộc đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 7. Ngũ thuận hạ phần kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ tu hoặc ở cõi Dục. 8. Sắc ái kết tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ tu hoặc ở cõi Sắc. 9. Nhất thiết kết vĩnh tận biến tri, nghĩa là đoạn trừ tu hoặc ở cõi Vô sắc. [X. luận Phẩm loại túc Q.6 - luận Du già sư địa Q.57 - Câu xá luận quang kí Q.21]. (xt. Biến Tri).
cửu biện
(九辯) Chín thứ biện tài (tài hùng biện) của Bồ tát. Đó là: 1. Vô trước biện tài: có tài hùng biện nhưng không chấp trước vào đó. 2. Vô tận biện tài: biện luận bao nhiêu cũng được, không cùng tận. 3. Tương tục biện tài: biện luận liên tục. 4. Bất đoạn biện tài: biện luận không dứt.5. Bất khiếp nhược biện tài: biện luận hùng hồn, không nhút nhát. 6. Bất kinh bố biện tài: biện luận một cách mạnh dạn, không sợ hãi. 7. Bất cộng biện tài: có cách biện luận riêng, không giống ai. 8. Thiên nhân sở trọng biện tài: tài biện luận trời và người cũng nể trọng. 9. Vô biên biện tài: tài biện luận không có giới hạn. [X. kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật Q.1].
cửu bái
(九拜) I. Cửu bái: chín lạy. Phép lễ của Thiền tông: lễ ba lần, mỗi lần ba lạy. Bách trượng thanh qui quyển 1 điều Đạt ma kị (Đại 48, 1117 hạ), nói: Trụ trì dâng hương, lạy ba lạy, không gấp tọa cụ vội. Dâng nước xong, lùi lại, lạy ba lạy, lại tiến đến trước thưa hỏi, mời trà nước, rồi trở lại chỗ cũ, lạy ba lạy, thu tọa cụ. II. Cửu bái: chín phép lễ kính. Thuyết này thấy trong sách Chu lễ. Đó là: 1. Cúi đầu. 2. Vập đầu sát đất. 3. Cúi đầu nửa chừng. 4. Khẽ gật đầu. 5. Lạy mừng. 6. Lạy chia buồn. 7. Lạy thán phục. 8. Lạy khen ngợi. 9. Lạy cung kính. III. Cửu bái: chín lần lễ bái. Phép lễ này là nghi thức trọng yếu như tiếp đón, chúc mừng v.v... cử hành trong triều đình thời xưa. IV. Cửu bái: chín phép lễ kính của Ấn độ: mở lời chào hỏi, cúi đầu cung kính, đưa tay cao vái chào, chắp tay, khom lưng, quì gối, tay và đầu gối chạm đất, đầu, hai tay hai chân đều cúi xuống, năm vóc sát đất v.v... [X. Đại đường tây vực kí Q.2].
cửu bệnh
(九病) Chín thứ bệnh tật. Cứ theo kinh Chuyển luân thánh vương tu hành trong Trường a hàm quyển 6 nói, thì chín thứ bệnh tật ấy là: rét, nóng, đói khát, đại tiện, tiểu tiện, dâm dục, tham ăn, già v.v... Con người sống đến tám vạn tuổi là quả báo thù thắng tột cùng, tuy nhiên vẫn còn phải mang chín thứ bệnh này.
cửu bộ
Chín bộ kinh Tiểu thừa, giống như 12 bộ kinh Đại thừa, ngoại trừ Phương Quảng, Thọ ký và Vô vấn tự thuyết—Nine Hinayana sutras which are the same as the twelve sutras in Mahayana except Vaipulya (Phương quảng), Vyakarana (Thọ Ký), and Udana (Vô vấn tự thuyết)—See Thập nhị đại thừa Kinh.
cửu bộ kinh
Xem Cửu bộ pháp kinh.
; Nine of the Hinayàna twelve classes of sùtra: 1-Trường hàng, Sùtra, The Buddha's sermons; 2-Trùng tụng, Geya, Metrical pieces; 3-Thụ ký, Vyakarana, Prophecies; 4-Cô khởi kệ, Gàthà, Chants or poem; 5-Vô vấn tự thuyết, Udana, Unsolicited addresses; 6-Bản sự, Itivrtaka, Narratives; 7-Bản sinh, Jàtaka, Stories of former lives of Buddha. 8-Tỳ phật lược, Vaipulya, Expanded sùtras; 9-Vị tằng hữu, Adbhutadharma, miracles.
; See Cửu Bộ in Vietnamese-English Section.
; (九部經) Chín bộ kinh. Phạm: Nàvàíga-zàsana. Pàli: Navaíga-buddha-sàsana. Cũng gọi Cửu phần giáo, Cửu bộ pháp. Gọi tắt: Cửu kinh. Nội dung kinh Phật được chia làm chín loại hoặc chín bộ. Về cách chia chín bộ, giữa Nam và Bắc truyền có thuyết khác nhau. 1. Chín bộ kinh. Cứ theo bài tựa trong Thiện kiến luật tì bà sa văn Pàli, bài tựa trong Trường bộ kinh chú và kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 3, thì chín bộ kinh là: a. Tu đa la (Pàli: Sutta), b. Kì dạ (Pàli: Geyya), c. Già đà (Pàli: Gàthà), d. Hòa già la na (Pàli: Veyyàkaraịa, cũng gọi Thụ kí), e. Ưu đà na(Pàli: Udàna), f. Y đế mục đà già(Pàli: Itivuttaka, cũng gọi Như thị ngữ), g. Xà đà già(Pàli: Jàtaka, cũng gọi Bản sinh), h. Tì Phật lược(Pàli: Vedalla), i. A phù đà đạt ma (Pàli: Abbhutadhamma, cũng gọi Vị tằng hữu pháp). Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 33, quyển 34 nói, thì chín bộ kinh từ xưa gọi là Đại thừa cửu bộ (chín bộ Đại thừa), tức là từ trong 12 bộ kinh trừ đi ba bộ: Ni đà na (Nhân duyên, duyên khởi), A ba đà na (Thí dụ) và Ưu bà đề xá (Luận nghị) mà thành. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 1 và Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2, lí do tại sao trong 12 bộ kinh lại trừ ba bộ vừa kể ở trên ra, là vì Bồ tát Đại thừa không phạm giới nên không có Duyên khởi, vì cơ duyên thù thắng nên không có Thí dụ, và vì không cần việc gạn bày hỏi đáp nên không có Luận nghị. 2. Chín bộ kinh. Cứ theo phẩm Phương tiện của kinh Pháp hoa, thì chín bộ kinh là: Tu đa la, Kì dạ, Bản sự, Bản sinh, Vị tằng hữu, Nhân duyên (Phạm, Pàli: Nidàna), Thí dụ (Phạm, Pàli: Avadàna), Ưu ba đề xá (Phạm: upadeza). Chín bộ này gọi là Tiểu thừa Cửu bộ. Tức là từ trong 12 bộ kinh trừ đi ba bộ: Tì phật lược (Phương quảng), Hòa già la na (Thụ kí), Ưu đà na (Vô vấn tự thuyết) mà thành. 3. Chín bộ kinh. Cứ theo Đại tập pháp môn quyển thượng, thì chín bộ kinh là: Khế kinh, Kì dạ, Kí biệt, Già đà, Bản sự, Bản sinh, Duyên khởi, Phương quảng, Hi pháp. Đây là từ trong chín bộ kinh Đại thừa, loại Ưu đà na ra và thêm Duyên khởi vào mà thành. 4. Chín bộ kinh. Cứ theo phẩm Niệm phật trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 9 chép thì chín bộ kinh là: Tu đa la, Kì dạ, Thụ kí, Già đà, Ưu đà na, Ni đà na, Như thị ngữ kinh, Phỉ phì la, Vị tằng hữu kinh. Đây là từ trong chín bộ kinh Tiểu thừa, loại Xà đa già ra và thêm Ni đà na vào mà thành. [X. Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.2 - Đại thừa huyền luận Q.5 - Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần trên - Diệu kinh văn cú tư chí kí Q.12]. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).
cửu bộ pháp kinh
Navanga-sasana (S), Navanga-Buddha-sasana (P)Cửu bộ kinh.
Cửu cao
九皐; C: jiǔgāo; J: kyūgō;|Chín »Vũng lầy«: 1. Địa ngục, cõi tối tăm bên dưới; 2. Vùng đất ngập nước; đầm nước sâu, ẩn dụ chỉ một nơi xa xôi, tối tăm.
cửu chúng
The nine classes of disciples: 1-Tỳ khưu bhiksu, monk; 2-Tỳ khưu ni bhiksuni, nun; 3-Thức xoa ma siksamànana, novice observer of six precepts; 4-Sa di sràmanera; 5-Sa di ni sràmenarika; 6-Ưu bà tắc upàsaka; 7-Ưu bà di upàsika; 8-Tại gia ưu bà tắc 9-Tại gia ưu bà di.
; Chín chúng đệ tử gồm Thất Chúng cộng với hai chúng Sa Di và Sa Di Ni Tập Sự thọ trì tám giới—Nine kinds of disciples include seven kinds plus junior monks and nuns or novice who have received the eight commandments—See Thất Chúng in Vietnamese-English Section.
; (九衆) Chín chúng. Chín hạng đệ tử xuất gia và tại gia tạo thành Giáo đoàn Phật giáo. Đó là: Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na (Học pháp ni), Ưu bà tắc (nam tín đồ tại gia), Ưu bà di (nữ tín đồ tại gia), Cận trụ nam, Cận trụ nữ. Có thuyết nói Cận trụ nam và Cận trụ nữ là xuất gia nam và xuất gia nữ. [X. luật Thập tụng].
cửu chúng giới
(九衆戒) Giới của chín chúng. Nhĩa là giới luật mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di, cận trụ nam, cận trụ nữ v.v... nhận giữ. Tỉ khưu, tỉ khưu ni nhận giữ giới cụ túc - thức xoa ma na nhận sáu pháp - sa di, sa di ni nhận giữ mười giới - ưu bà tắc, ưu bà di nhận giữ năm giới - cận trụ nam, cận trụ nũ nhận giữ tám giới trai trong 24 tiếng đồng hồ.
cửu chúng sanh cư
See Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
cửu chướng ngại pháp
(九障礙法) Chín pháp chướng ngại. Tức là chín pháp gây trở ngại trên con đường tu thiện. Theo kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 6 chép, thì chín pháp đó là: 1. Đã làm não hại mình. 2. Hiện làm não hại mình. 3. Sẽ làm não hại mình. 4. Quá khứ ghét bạn tốt của mình. 5. Hiện tại ghét bạn tốt của mình. 6. Vị lai ghét bạn tốt của mình. 7. Quá khứ thương người oán của mình. 8. Hiện tại thương người oán của mình. 9. Vị lai thương người oán của mình. Người nào luôn ghi nhớ chín pháp này thì tâm bất thiện ắt tăng thêm, cho nên gọi là chín pháp chướng ngại.
cửu chấp
Nava Graha (skt)—Nine seizers or upholders—Nine luminaries or planets—See Cửu Diệu in Vietnamese-English Section.
cửu chủng bất hoàn
(九種不還) Chín thứ không trở lại. Chỉ cho chín loại quả Bất hoàn của bậc Thánh từ cõi Dục sinh lên cõi Sắc mà vào Niết bàn. Niết bàn của quả bất hoàn có ba loại: Trung bát Niết bàn, Sinh bát Niết bàn và Thượng lưu bát Niết bàn. Ba loại này mỗi loại lại chia làm ba thứ mà thành là chín Bất hoàn. Đó là: 1. Tốc bát Niết bàn (mau chóng vào Niết bàn): ngay thân trung hữu dứt trừ các phiền não còn sót lại mà vào Niết bàn. 2. Phi tốc bát Niết bàn (không vào Niết bàn ngay): thân trung hữu phải trải qua một thời gian ngắn rồi mới vào Niết bàn. 3. Kinh cửu bát Niết bàn (lâu mới vào Niết bàn): thân trung hữu phải trải qua nhiều thời gian mới được vào Niết bàn. 4. Sinh bát Niết bàn: sinh ở cõi Sắc nhanh chóng dứt trừ các phiền não còn lại mà được Niết bàn. 5. Hữu hành bát Niết bàn: sinh ở cõi Sắc, trải qua thời gian lâu dài siêng tu gia hạnh (chuẩn bị) mới được vào Niết bàn. 6. Vô hành bát Niết bàn: sinh ở cõi Sắc chưa tu gia hạnh, trải qua thời gian lâu dài, tự nhiên dứt trừ phiền não của cõi trên mà dần dần được Niết bàn. 7. Toàn siêu bát Niết bàn: mới đầu sinh ở cõi trời Phạm chúng nơi thấp nhất của cõi Sắc, rồi từ trời Phạm chúng vượt qua 14 tầng trời khoảng giữa đến cõi trời Sắc cứu cánh mà được Niết bàn. 8. Bán siêu bát Niết bàn: mới đầu sinh ở cõi trời Phạm chúng, sau vượt qua một hoặc hai cho đến 13 tầng trời để đến cõi trời Sắc cứu cánh mà được vào Niết bàn. 9. Biến một bát Niết bàn: trải qua khắp 16 tầng trời của cõi Sắc, rồi ở cõi trời Sắc cứu cánh mà vào Niết bàn. [X. luận Câu xá Q.24].
cửu chủng chuyển biến
(九種轉變) Chín thứ chuyển biến. Chuyển có nghĩa vận động - Biến có nghĩa thay đổi. Ngoại đạo không rõ các pháp do duyên sinh, vốn không có tự tính, hết thảy cảnh giới sinh diệt chỉ do tâm, vì không biết lí ấy nên chấp bậy có, không mà thành tà kiến. Theo kinh Lăng già quyển 3, chín thứ chuyển biến là: 1. Hình xứ chuyển biến: hình xứ là hình chất bốn đại (đất nước lửa gió) của các căn (mắt tai mũi lưỡi thân). Ngoại đạo thấy hình chất ấy biến đổi theo thời gian, suy tàn bất thường, chấp là chuyển biến. 2. Tướng chuyển biến: tướng là tướng sinh diệt của các pháp. Ngoại đạo thấy các tướng sinh, trụ, diệt trong từng tích tắc thay đổi không ngừng, chấp là chuyển biến. 3. Nhân chuyển biến: nhân là nguyên nhân được tạo tác. Ngoại đạo thấy tất cả nhân được tạo tác dần dần thành thục, thành thục ắt sinh ra quả, quả lại làm nhân, cứ thế luân chuyển, chấp là chuyển biến. 4. Thành chuyển biến: thành là quả đã thành. Ngoại đạo thấy quả nhờ nhân mà thành, thành thì ắt hoại, hoại lại thành nhân, nối nhau mãi mãi, chấp là chuyển biến. 5. Kiến chuyển biến: kiến là mắt thấy sắc. Ngoại đạo cho cái thấy tùy theo sự vật mà thay đổi không ngừng, chấp là chuyển biến. 6. Tính chuyển biến: tính tức là căn tính. Ngoại đạo chấp tự tính theo nghiệp mà trôi chảy, đời đời không ngừng, không bao giờ hết, chấp là chuyển biến. 7. Duyên phân minh chuyển biến: duyên là tất cả sự duyên - phân minh là thấy một cách rõ ràng. Ngoại đạo thấy hết thảy mọi sự việc của nhân duyên rõ ràng đều biến diệt, chấp là chuyển biến. 8. Sở tác phân minh chuyển biến: sở tác là tất cả sự tạo tác. Ngoại đạo thấy một cách rõ ràng là tất cả sự tạo tác của thế gian đều sinh diệt bất định, chấp là chuyển biến. 9. Sự chuyển biến: sự là thế sự hữu vi. Ngoại đạo thấy thế sự biến đổi vô thường, niệm trước niệm sau tương tục không ngừng, chấp là chuyển biến.
Cửu chủng du-già
九種瑜伽; C: jiǔzhǒng yúqié; J: kushu yuga;|Cửu Du-già.
cửu chủng hoạnh tử
The nine kinds of irregular deaths.
cửu chủng sai biệt
(九種差別) Chín thứ sai khác. Cứ theo phẩm Tùy tu 14 trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 6, thì Bồ tát có chín pháp tu hành sai khác: 1. Thiện hành sinh tử: Bồ tát thành tựu đạo nghiệp, vì giáo hóa hữu tình mà ra vào trong sinh tử, nhưng không bị ô nhiễm. 2. Thiện hành chúng sinh: đối với chúng sinh, Bồ tát khởi tâm đại bi thương xót, nếu họ bị bệnh khổ thì Bồ tát thường cứu giúp, không sinh tâm mỏi mệt lơ là. 3. Thiện hành tự tâm: Bồ tát thường điều phục tâm mình, phá trừ phiền não, nuôi lớn tâm bồ đề. 4. Thiện hành dục trần: Bồ tát tuy ở chỗ dục trần (tham muốn và bụi bặm) mà không bị dính mắc, chuyên tu phạm hạnh, tăng trưởng pháp tài. 5. Thiện hành tam nghiệp: Bồ tát gắng công tư duy, chuyên tu ba nghiệp thân, miệng, ý làm cho đều trong sạch. 6. Thiện hành bất não chúng sinh: đối với các chúng sinh Bồ tát thường đem lòng thương xót, dù chúng sinh có làm hại mình, cũng không sân hận buồn sầu. 7. Thiện hành tu tập: Bồ tát tu tập đạo bồ đề, dũng mãnh tinh tiến, tâm không gián đoạn. 8. Thiện hành tam muội: Bồ tát tu tập chính định, không loạn không mê, khiến công đức tăng trưởng. 9. Thiện hành bát nhã: Bồ tát dùng trí tuệ thanh tịnh, thấy rõ tất cả các pháp thế gian, lòng không ngờ vực.
cửu chủng thế gian
(九種世間) Chín loại thế gian. Cũng gọi Cửu thế gian. Tức là chín cõi: Địa ngục, Ngã quỉ, Súc sinh, A tu la, Người, Trời (sáu cõi mê), Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát (ba cõi ngộ), thêm cõi Phật nữa, gọi chung là 10 cõi. Trong đó, cõi Phật là tuyệt đối (xuất thế gian), còn chín cõi kia đều là tương đối (tính thế gian) nên gọi là chín loại thế gian.
cửu chủng tướng giới
(九種相戒) Chín thứ tướng giới của Đại thừa. 1. Tự tính giới có bốn: a. Nhận giới từ người khác. b. Khéo giữ được ý thanh tịnh yên vui (không do thầy trao). c. Phạm rồi được trong sạch trở lại. d. Thành kính ghi nhớ không trái phạm. Hai pháp sau là do hai pháp trước dẫn khởi, là tự tính giới của Bồ tát đầy đủ bốn công đức. 2. Nhất thiết giới có hai: a. Phần giới tại gia. b. Phần giới xuất gia. Dựa vào hai phần tịnh giới tại gia, xuất gia mà nói tóm lược làm ba tụ tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. 3. Nan hành giới có ba: a. Bồ tát ở vào địa vị giàu sang và dòng giõi cao quí, nhưng có thể xả bỏ một cách thanh thản để nhận giữ tịnh giới luật nghi của Bồ tát. b. Dù có gặp nạn nguy cấp cho đến mất mạng, Bồ tát cũng không vi phạm tịnh giới đã nhận giữ. c. Trong mọi hành vi đi đứng ngồi nằm, Bồ tát thường giữ chính niệm không hề buông lơi, cho đến trọn đời cũng không phạm giới. 4. Nhất thiết môn giới có bốn: a. Chính thụ giới: trước hết, Bồ tát nhận ba tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. b. Bản tính giới: Bồ tát trụ ở ngôi vị chủng tính, bản tính nhân từ hiền hậu, cho nên thân nghiệp, ngữ nghiệp thường trong sạch. c. Quán tập giới: trong các kiếp xa xưa, Bồ tát đã từng tu tập ba tụ tịnh giới, nhờ sức nhân ở kiếp trước vẫn còn, nên ở đời hiện tại, thâm tâm nhàm chán mà xa lìa tất cả pháp ác, thích tu hành và làm các việc thiện. d. Phương tiện tương ứng giới: Bồ tát nhờ tu bốn Nhiếp pháp, nên luôn luôn làm những việc tốt và nói những lời thương mến hòa nhã đối với các hữu tình chúng sinh. 5. Thiện sĩ giới có năm: a. Bồ tát tự nhận đủ giới luật. b. Khuyên người khác nhận giới. c. Khen ngợi công đức giữ giới. d. Thấy người cùng giữ giới pháp trong lòng vui mừng. e. Giả sử có hủy phạm thì theo đúng pháp mà sám hối để đoạn trừ tội lỗi. 6. Nhất thiết chủng giới có sáu, bảy, cho đến 13 loại. Sáu loại: a. Hồi hướng giới: hồi hướng đại bồ đề. b. Quảng bác giới: thu nhiếp hết thảy giới luật. c. Vô tội hoan hỉ xứ giới: xa lìa sự đắm trước các món dục lạc, nhưng cũng không tự làm khổ mình. d. Hằng thường giới: dù có chết cũng không bỏ giới. e. Kiên cố giới: giữ giới kiên cố, tất cả lợi dưỡng, sự cung kính, các luận thuyết khác và các phiền não đều không thể lay chuyển, không thể phá vỡ. f. Thi la trang nghiêm cụ tương ứng giới: trang nghiêm đầy đủ hết thảy giới. Bảy loại là: a. Chỉ tức giới: xa lìa tất cả sự giết hại. b. Chuyển tác giới: làm hết thảy việc thiện để lợi ích hữu tình. c. Phòng hộ giới: phòng ngừa theo chỉ tức giới và chuyển tác giới. d. Đại sĩ tướng dị thục giới. e. Tăng thượng tâm dị thục giới. f. Khả ái thú dị thục giới. g. Lợi hữu tình dị thục giới. 7. Toại cầu giới: Bồ tát mong cầu chúng sinh đừng dùng những thứ chẳng ai ưa thích như: giết hại, trộm cắp, gian dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói thô ác, nói li gián, tay cầm gạch đá gậy gộc v.v... để gia hại mình. Bồ tát cũng không dùng những việc xấu ác trên đây để gia hại chúng sinh làm cho điều mong cầu của họ không được thỏa lòng đẹp ý. 8. Thử thế tha thế nhạo giới (đời này đời khác ưa thích giới). Tức là Bồ tát vì các chúng sinh mà có bốn thứ tịnh giới chia làm chín loại: a. Chỗ đáng ngăn cấm phải ngăn cấm. b. Chỗ nên cho phép thì cho phép. c. Đáng nhiếp thụ thì nên nhiếp thụ. d. Đáng điều phục thì phải điều phục. e. Bố thí. f. Nhịn nhục. g. Tinh tiến. h.Thiền định. i. Trí tuệ bát nhã. Chín pháp này có thể làm cho mình và người ở đời này và đời sau đều được yên vui. 9. Thanh tịnh giới có 10 loại: a. Sơ thiện thụ giới: tức là chỉ vì cầu giác ngộ mà làm sa môn (xuất gia). b. Có hai thứ: Bất thái trầm giới (khi trái phạm sinh tâm ăn năn hổ thẹn mà xa lìa việc xấu ác) và Bất thái cử giới (sinh tâm ăn năn hổ thẹn mà xa lìa việc sai trái). c. Li giải đãi giới: không tham đắm sự ngủ nghỉ, ngồi tựa lưng và nằm dài, mà ngày đêm siêng năng tu các pháp lành. d. Li chư phóng dật sở nhiếp thụ giới: không phóng túng buông thả. e. Chính nguyện giới: tự tu phạm hạnh, xa lìa danh lợi, cung kính, tham lam, sân hận, si mê và không mong cầu sinh lên cõi trời. f. Quĩ tắc sở nhiếp thụ giới: trong cung cách làm các việc thiện, phải cố gắng làm cho được đầy đủ trọn vẹn. g. Tịnh mệnh cụ túc sở nhiếp thụ giới: xa lìa tất cả tội lỗi của cuộc sống không chân chính như: dối trá, lừa gạt v.v... h. Li nhị biên giới: xa lìa hai cực đoan thụ hưởng khoái lạc và tự hành hạ thân xác. i. Vĩnh xuất li giới: xa lìa hết thảy ngoại đạo tà kiến. j. Ư tiên sở thụ vô tổn thất giới: không vi phạm hoặc phá hoại các tịnh giới mà Bồ tát đã nhận giữ. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.4, Q.5 - kinh Bồ tát giới Q.4 - luận Du già sư địa Q.40, Q.41, Q.42 ].
cửu chủng đại thiền
The nine kinds of Mahàyàna dhyàna for bodhisattvas: 1-Tự tính thiền on the original nature of things, or mind as the real nature; 2-Nhất thiết thiền on achieving the development of self and all others to the utmost; 3-Nan thiền on the difficulties of certain dhyàna conditions; 4-Nhất thiết môn thiền on the entrance to all the dhyàna conditions; 5-Thiện nhân thiền on the good; 6-Nhất thiết hành thiền on all Mahàyàna practices and actions; 7-Trừ phiền não thiền on ridding all sufferers from the miseries of passion and delusion; 8-Thử thế tha thế lạc on the way to bring joy to all people both in this life and hereafter; 9-Thanh tịnh thiền on perfect purity in the termination of all delusion.
; Chín loại thiền Đại thừa cho chư Bồ tát—The nine kinds of Mahayana dhyana for bodhisattvas: 1) Tự Tánh Thiền: Thiền quán về tự tánh của chư pháp—Meditation on the original nature of things, or mind as the real nature, from which all things derived. 2) Nhất Thiết Thiền: Thiền quán nhằm phát triển tự giác và giác tha đến mức tối thượng—Meditation on achieving the development of self and all others to the utmost. 3) Nan Thiền: Thiền quán về những vấn đề khó khăn—Meditation on the difficulties of certain dhyana conditions. 4) Nhất Thiết Môn Thiền: Thiền về cửa vào tối thừa thiền định—Meditation on the entrance to all the superior dhyana conditions. 5) Thiện Nhân Thiền: Thiền về những điều thiện—Meditation on the good. 6) Nhất Thiết Hành Thiền: Thiền về thực tập và hành động Đại thừa—Meditation on all Mahayana practices and actions. 7) Trừ Phiền Não Thiền: Meditation on ridding all suffers from the miseries of passion and delusion. 8) Thử Thế Tha Thế Lạc Thiền: Thiền về cách mang lại an lạc cho mọi người trong đời nầy và đời sau—Meditation on the way to bring joy to all people both in this life and hereafter. 9) Thanh Tịnh Tịnh Thiền: Thiền về thanh tịnh nhằm chấm dứt ảo giác và phiền não để đạt được đại giác—Meditation on perfect purity in the termination of all delusion and distress and the obataining of perfect enlightenment.
; (九種大禪) Chín loại thiền Đại thừa. Chín thứ thiền định riêng của hàng Bồ tát tu tập, không giống với thiền của ngoại đạo và Nhị thừa. Gọi tắt: Cửu thiền. Khi so sánh các thiền định, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 cho rằng chín loại thiền Đại thừa giống như vị đề hồ, là thượng thượng thiền xuất thế gian. Chín loại thiền đó là: 1. Tự tính thiền: quán xét tự tính của tâm, hết thảy các pháp không một pháp nào không do tâm, tâm nhiếp muôn vật như hạt châu như ý. Hoặc trụ nơi chỉ thì nhiếp tâm không tán loạn - hoặc trụ nơi quán thì phân biệt rõ ràng - hoặc chỉ quán đều tu thì định tuệ bình đẳng. 2. Nhất thiết thiền: Thiền có khả năng đạt được hết thảy công đức tự tu và giáo hóa người khác. Thiền này có hai: Thế gian và Xuất thế gian. Hai loại thiền này mỗi loại lại có ba thứ: a. Hiện pháp lạc trụ thiền: xa lìa hết thảy vọng tưởng, thân tâm dứt bặt, là vắng lặng bậc nhất. b. Xuất sinh tam muội công đức thiền: sinh ra các thứ tam muội bao nhiếp vô lượng vô biên thập lực chủng tính chẳng thể nghĩ bàn, vào hết thảy công đức thắng diệu vô ngại tuệ, vô tránh nguyện trí. c. Lợi ích chúng sinh thiền: bố thí chúng sinh để trừ các nỗi khổ, biết rõ lúc nào nên nói pháp, biết ơn để trả ơn và giúp chúng sinh giải thoát khỏi sự sợ hãi lo âu. 3. Nan thiền: thiền định khó tu. Thiền này có ba thứ: a. Đệ nhất nan thiền: tu tập thiền định thắng diệu lâu ngày, tâm được tự tại trong các tam muội, nhưng vì thương xót chúng sinh muốn cho họ được thành thục, nên bỏ cái vui của đệ nhất thiền mà sinh vào cõi Dục. b. Đệ nhị nan thiền: nương vào thiền định mà sinh ra vô lượng vô biên tam muội sâu xa không thể nghĩ bàn. c. Đệ tam nan thiền: nhờ nơi thiền định mà được vô thượng bồ đề. 4. Nhất thiết môn thiền: tất cả thiền định đều từ môn này mà ra, có bốn thứ: a. Hữu giác, hữu quán thiền (thiền có giác có quán): định Sơ thiền thuộc cõi Sắc. b. Hỉ câu thiền: định Nhị thiền thuộc cõi Sắc. c. Lạc câu thiền: định Tam thiền thuộc cõi Sắc. d. Xả câu thiền: định Tứ thiền thuộc cõi Sắc, không có thiện ác, yêu ghét nên gọi Xả câu (đều bỏ). 5. Thiện nhân thiền: hàm nhiếp hết thảy thiện pháp, là thiền định do chúng sinh đại thiện căn tu tập. Có năm thứ: Bất vị trước, Từ tâm câu, Bi tâm câu, Hỉ tâm câu, Xả tâm câu. 6. Nhất thiết hành thiền: bao nhiếp hết thảy hành pháp Đại thừa, có 13 thứ: a. Thiện thiền. b. Vô kí hóa hóa thiền. c. Chỉ phần thiền. d. Quán phần thiền. e. Tự tha lợi thiền. f. Chính niệm thiền. g. Xuất sinh thần thông lực. h. Danh duyên thiền. i. Nghĩa duyên thiền. j. Chỉ tướng duyên thiền. k. Cử tướng duyên thiền. l. Xả tướng duyên thiền. m. Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền: tu thiền định này có thể trừ diệt các thứ khổ não của chúng sinh. Có tám loại: a. Chú thuật sở y thiền: Bồ tát vào định trừ các khổ nạn độc hại, sương giá, mưa đá. b. Trừ bệnh thiền: trừ được các bệnh do bốn đại phát sinh. c. Vân vũ thiền: rưới mưa cam lộ tiêu trừ các nạn hạn hán, đói khát. d. Đẳng độ thiền: cứu nạn sợ hãi của hết thảy người và phi nhân ở trên đất và dưới nước. e. Nhiêu ích thiền: đem thức ăn uống cho các chúng sinh đói khát ở nơi đồng không mông quạnh. f. Điều phục thiền: dùng tài vật điều phục chúng sinh. g. Khai giác thiền: thức tỉnh các chúng sinh còn mê muội. h. Đẳng tác thiền: khiến cho những việc làm của chúng sinh đều được thành tựu. 8. Thử thế tha thế lạc thiền: tu thiền định này có thể khiến cho chúng sinh được yên vui ở đời hiện tại và đời vị lai. Có chín loại:a. Thiền dùng thần túc biến hiện để điều phục chúng sinh. b. Thiền tùy lời nói thị hiện để điều phục chúng sinh. c. Thiền dạy răn biến hiện để điều phục chúng sinh. d. Thiền hiện bày ra đường ác để giác ngộ chúng sinh làm ác. e. Thiền dùng tài biện luận làm lợi ích cho chúng sinh đã mất biện tài. f. Thiền dùng chính niệm làm lợi ích cho chúng sinh đã mất chính niệm. g. Thiền tạo luận chân chính vi diệu ca ngợi Ma đắc lặc già (tạng Luận) làm cho chính pháp ở đời lâu dài. h. Thiền dùng nghĩa kĩ thuật thế gian để làm lợi ích hóa độ chúng sinh. i. Thiền phóng ra ánh sáng để tạm dứt đường ác. 9. Thanh tịnh tịnh thiền: nương vào thiền định này thì tất cả các phiền não hoặc nghiệp đều dứt hết, chứng được quả đại bồ đề thanh tịnh. Chữ Tịnh được lập lại là tiêu biểu cho tướng thanh tịnh cũng không thể được. Thiền này có 10: a. Thiền thế gian trong sạch không tham đắm không nhiễm ô. b. Thiền xuất thế gian trong sạch. c. Thiền phương tiện trong sạch. d. Thiền được căn bản trong sạch. e. Thiền căn bản trong sạch tiến lên hơn nữa. f. Thiền trong sạch an trụ dấy sinh sức trong sạch. g. Thiền trong sạch xả rồi lại vào sức trong sạch. h. Thiền trong sạch tạo ra sức thần thông trong sạch. i. Thiền trong sạch lìa hết thảy kiến chấp. j. Thiền trong sạch dứt hết phiền não trí chướng. [ X. kinh Bồ tát địa trì Q.6 phẩm Phương tiện xứ thiền - Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần trên].
cửu cú nhân
Một từ ngữ lý luận trong Phật giáo; chín sự phối hợp khả dĩ về đồng phẩm và dị phẩm—A term in Buddhist logic; the nine possible combination of like and unlike examples in a syllogism.
; (九句因) Chín câu Nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chín câu Nhân cho thấy mối quan hệ giữa pháp sở lập (Tông) và pháp năng lập (Nhân). Là một trong những tiêu chuẩn để phân biệt Chính nhân (nhân chính xác) và Tự nhân (nhân sai). Chín câu Nhân là từ Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm mà xác định Nhân có đúng hay không. Có ba trường hợp: 1. Toàn bộ có đồng phẩm. 2. Toàn bộ không có. 3. Một phần có, một phần không có. Ba nhân với ba thành chín thứ (3 x 3=9). Trong chín thứ này, chỉ có hai thứ là Nhân chính xác, còn lại đều là Nhân sai. Chín câu nhân: 1. Đồng phẩm hữu, Dị phẩm hữu: nghĩa là toàn bộ Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm đều có. Như khi đối luận với đệ tử Phật, Thanh luận sư lập: Tông: Thanh (tiếng nói) là thường còn (mệnh đề) Nhân: Vì có thể lường được (lí do) Trong luận thức trên, thường là pháp sở lập (Tông), lường được là pháp năng lập (Nhân). Như vậy những cái có tính thường còn, như hư không chẳng hạn, đều là Tông đồng phẩm (cùng một tính chất với Tông) - cái lọ chẳng hạn, đều là Tông dị phẩm (khác tính chất với Tông). Khái niệm lường được là đối tượng của tư tưởng: những sự vật thường còn hay không thường còn đều có thể là đối tượng của tư tưởng. Trong luận thức trên, Nhân này đều có Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm nên không chứng minh được Thanh (tiếng nói) là thường còn hay không thường còn, cho nên là Nhân sai. 2. Đồng phẩm hữu, Dị phẩm phi hữu: Nhân có quan hệ toàn phần (toàn bộ) với Tông đồng phẩm, nhưng lại hoàn toàn không dính dáng với Tông dị phẩm. Như đệ tử Phật đối luận với Thanh sinh luận sư mà lập: Tông: Thanh là vô thường Nhân: Vì nó được tạo ra. Trong đây vô thường là pháp sở lập, được tạo ra là pháp năng lập. Những cái vô thường, như cái lọ, là Tông đồng phẩm - những cái không có tính vô thường, như hư không, là Tông dị phẩm. Những vật vô thường như cái lọ đều được tạo ra, cho nên là Đồng phẩm có - những vật không có tính vô thường, như hư không, đều không được tạo ra, bởi thế Dị phẩm không có. Cho nên Nhân này chứng minh được Thanh đúng là vô thường và vì vậy là Nhân chính xác. 3. Đồng phẩm hữu, Dị phẩm hữu phi hữu: Nhân có quan hệ toàn phần với Tông đồng phẩm, nhưng chỉ quan hệ một phần với Tông dị phẩm. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Tiếng nói nhờ sự cố gắng không ngừng mà phát ra Nhân: Vì tính vô thường. Trong đây, Cố gắng không ngừng mà phát ra là pháp sở lập, vô thường là pháp năng lập. Bởi thế, những cái có tính cố gắng không ngừng mà phát ra, như cái lọ, là Tông đồng phẩm - những cái không có tính cố gắng không ngừng mà phát ra, như ánh chớp, hư không v.v... là Tông dị phẩm. Những vật do sự cố gắng không ngừng tạo ra, như cái lọ, đều có tính vô thường, cho nên Đồng phẩm có. Hư không thì đã không có tính cố gắng không ngừng tạo ra, cũng lại không có tính vô thường. Còn như ánh chớp, tuy không có tính cố gắng không ngừng tạo ra, nhưng lại có tính vô thường, cho nên dị phẩm chỉ có một phần. Phạm vi của Nhân này quá rộng, không có sức xác minh được Tông, vì thế là Nhân sai. 4. Đồng phẩm phi hữu, Dị phẩm hữu: Nhân hoàn toàn không có quan hệ với Tông đồng phẩm, nhưng lại quan hệ toàn phần với Tông dị phẩm. Như Thanh sinh luận sư lập luận thức: Tông: Thanh là thường còn. Nhân: Vì được tạo ra. Trong đây, Thường còn là pháp sở lập, được tạo ra là pháp năng lập, Bởi vậy, những cái có tính thường còn, như hư không, là Tông đồng phẩm - những cái không có tính thường còn, như cái lọ, là Tông dị phẩm. Hư không là thường còn, không được tạo ra, cho nên Đồng phẩm không có. Những vật vô thường, như cái lọ, đều được tạo ra, vì thế Dị phẩm có. Tông thường và Nhân vô thường hoàn toàn không dính líu gì với nhau, cho nên Nhân chẳng những không chứng minh được Tông mình, trái lại, lại chứng minh tông của đối phương (người vấn nạn), phải trái đảo lộn, vì thế là Nhân sai. 5. Đồng phẩm phi hữu, Dị phẩm phi hữu: Nhân hoàn toàn không có quan hệ với Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. Như khi biện luận với đệ tử Phật, Thanh luận sư lập luận thức: Tông: Thanh là thường còn. Nhân: Vì tính nghe được. Trong đây, Thường còn là pháp sở lập, nghe được là pháp năng lập. Do vậy, những cái có tính thường còn, như hư không, đều là Tông đồng phẩm, những cái có tính không thường còn, như cái lọ, đều là Tông dị phẩm. Hư không là thường còn, không có tính nghe được, cho nên Đồng phẩm không có. Cái lọ là vật không thường còn mà cũng có tính nghe được, cho nên Dị phẩm cũng chẳng có. Tông đồng phẩm cũng như Tông dị phẩm hoàn toàn không có trong Nhân này, bởi thế nó không xác minh được Tông thường còn hay vô thường, cho nên là Nhân sai. 6. Đồng phẩm phi hữu, Dị phẩm hữu phi hữu: Nhân hoàn toàn không có quan hệ với Tông đồng phẩm, nhưng có một phần quan hệ với Tông dị phẩm. Như Thanh luận sư lập luận thức: Tông: Thanh là thường còn. Nhân: Vì do sự cố gắng không ngừng phát ra. Trong đây, Thường còn là pháp sở lập, cố gắng không ngừng phát ra là pháp năng lập. Cho nên, những cái có tính thường còn, như hư không, là Tông đồng phẩm - những cái không có tính thường còn, như ánh chớp, cái lọ v.v... là Tông dị phẩm. Hư không thường còn không có tính cố gắng không ngừng phát ra, cho nên Đồng phẩm không có. Ánh chớp không thường còn, cũng chẳng do sự cố gắng không ngừng phát ra. Cái lọ là vô thường và do sự cố gắng không ngừng tạo ra, cho nên Dị phẩm có một phần. Như vậy, Tông đồng phẩm hoàn toàn không có, Tông dị phẩm một phần có, một phần không có Nhân, cho nên nó không những chẳng chứng minh được Thanh ( tiếng nói ) là vô thường mà, trái lại, lại chứng minh Thanh là thường còn. Đây cũng là trường hợp phải trái đảo lộn, bởi vậy nó là Nhân sai. 7. Đồng phẩm hữu phi hữu, Dị phẩm hữu: Nhân có một phần quan hệ với Tông đồng phẩm, và có toàn phần quan hệ với Tông dị phẩm. Như Thanh sinh luận sư khi tranh luận với Thanh hiển luận sư mà lập uận thức: Tông: Thanh (tiếng nói) chẳng phải do sự cố gắng không ngừng mà phát ra Nhân: Vì tính vô thường. Trong luận thức này, chẳng phải sự cố gắng không ngừng mà phát ra là pháp sở lập, vô thường là pháp năng lập. Bởi vậy, những cái không do sự cố gắng không ngừng phát ra, như ánh chớp, hư không là Tông đồng phẩm - còn những vật do sự cố gắng không ngừng mà tạo ra, như cái lọ, là Tông dị phẩm. Trong Tông đồng phẩm, ánh chớp là vô thường, hư không là thường còn, cho nên Đồng phẩm có một phần. Tông dị phẩm thì như cái lọ là vô thường, vì thế Dị phẩm có. Trong Tông đồng phẩm một phần có, một phần không có, còn Tông dị phẩm thì hoàn toàn có. Như vậy Nhân vô thường không thể chứng minh Tông vô thường, cho nên là Nhân sai. 8. Đồng phẩm hữu phi hữu, Dị phẩm phi hữu: Nhân có một phần quan hệ với Tông đồng phẩm, nhưng hoàn toàn không quan hệ với Tông dị phẩm. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì tính cố gắng không ngừng mà phát ra. Trong luận thức này, vô thường là pháp sở lập, cố gắng không ngừng phát ra là pháp năng lập - bởi thế, những cái vô thường như ánh chớp, cái lọ v.v... là Tông đồng phẩm, những cái thường còn, như hư không, là Tông dị phẩm. Trong Tông đồng phẩm, cái lọ v.v... là do sự cố gắng không ngừng tạo ra, ánh chớp v.v... thì không do sự cố gắng không ngừng tạo ra, cho nên Đồng phẩm có một phần. Tông dị phẩm thì không có cái gì do sự cố gắng không ngừng tạo ra cả, cho nên Dị phẩm không có. Tông đồng phẩm một phần có, một phần không có, Tông dị phẩm thì hoàn toàn không có, cho nên chứng minh được Tông và vì thế là Nhân sai. 9. Đồng phẩm hữu phi hữu, Dị phẩm hữu phi hữu: Nhân có một phần quan hệ với cả Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. Như khi tranh luận với Thắng luận sư, Thanh luận sư lập luận thức: Tông: Tiếng nói là thường còn. Nhân: Vì không chất ngại. Trong luận thức này, thường còn là pháp sở lập, không chất ngại là pháp năng lập. Bởi vậy, những cái có tính thường còn, như cực vi, hư không v.v... đều là Tông đồng phẩm, những cái không có tính thường trụ, như khoái lạc, cái lọ v.v... đều là Tông dị phẩm. Trong Tông đồng phẩm, như cực vi v.v... là cái có chất ngại, hư không v.v... là cái không chất ngại, cho nên Tông đồng phẩm một phần có. Tông dị phẩm, như khoái lạc là không chất ngại, như cái lọ là có chất ngại, bởi vậy, Tông dị phẩm cũng có một phần có Nhân. Trong trường hợp này, những cái không chất ngại chưa hẳn đã nghiễm nhiên là thường trụ, cho nên không chứng minh được Tông, vì thế là Nhân sai. Trong chín câu Nhân, chữ Hữu hàm ý có quan hệ toàn phần, Phi hữu hàm ý hoàn toàn không có quan hệ, Hữu phi hữu hàm ý có quan hệ một phần. Trong chín câu trên, năm câu 1, 3, 5, 7, 9 phạm lỗi bất định - hai câu 4, 6, phạm lỗi tương vi (trái nhau), chỉ có câu 2 và 8 là Nhân chính xác.Chín câu Nhân là giềng mối của Nhân minh mới, là nền tảng của Tam tướng, có lẽ đã do ngài Trần na khởi xướng. X. Gtantshigs Kyi #kor-logtan-la-dbab-pa (Hetu-cakra-đamaru) - Phyogs-chosdgu# i #khor-lo (Pakwa-nava-dharmacakra) - Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu - Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2 phần cuối - Nhân minh tam thập tam quá bản tác pháp soạn giải Q.thượng - Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích - Nhân minh đại sớ lê trắc]. (xt. Nhân Minh).
cửu cú đối vấn
(九句對問) Chín câu hỏi của Kim cương tát đỏa trong kinh Đại nhật. 1. Thể của tâm bồ đề. 2. Tướng của tâm bồ đề. 3. Sự tiếp tục sinh của tâm thanh tịnh. 4. Tướng của tâm nhiễm ô. 5. Thời gian tu hành. 6. Công đức vốn có. 7. Khả năng tu hành. 8. Tâm dị thục (tâm vô kí). 9. Tâm thù thắng (tịnh tâm tu hành). Sáu câu trước là hỏi về pháp, còn ba câu sau là hỏi về nhân. Kinh Đại nhật gọi chín câu trả lời cho chín câu hỏi này là: Cửu cú đáp thuyết. (xt. Tam Cú Giai Đoạn).
Cửu cư
九居; C: jiǔjū; J: kuko;|Gọi tắt của Cửu hữu tình cư (九有情居).
cửu cư
See Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
cửu cổ chử
(九股杵) Chày chín chĩa. Chày kim cương chín chĩa của Mật giáo. Gọi tắt: Cửu cổ. Chày kim cương vốn là một thứ binh khí của Ân độ, Mật giáo mượn dùng để làm tiêu biểu của trí tuệ, tượng trưng khả năng đoạn trừ phiền não, hàng phục ác ma. Loại chỉ có 2 đầu không thôi gọi là Độc cổ (một chĩa) - loại chày ba chĩa gọi là Tam cổ, năm chĩa gọi là Ngũ cổ. Hình dáng chày chín chĩa và chày năm chĩa giống nhau, chỉ khác số chĩa. Chày chín chĩa biểu trưng chín vị tôn của Bát diệp Trung đài. Hai đầu chày có chín vị tôn của Kim cương giới và Thai tạng giới, biểu thị nghĩa nhân quả không hai. [X. kinhVi diệu đại mạn đồ la Q.5 ].
cửu diện quan âm
(九面觀音) Quan âm chín mặt. Kiểu tượng của bồ tát Quan thế âm. Pho tượng này được tôn trí tại chùa Pháp long ở Nhật bản. Tượng bằng gỗ chiên đàn và được rước từ Trung quốc đến Nhật bản. Tượng cao 37,5 phân tây, không sơn mầu, chạm trổ rất tinh vi, là pho tượng Bồ tát cực đẹp.
Cửu Diệu
(s: Navagrahā, 九曜): 9 loại thiên thể chiếu sáng rất quan trọng trong hiện tượng thiên văn, còn gọi là Cửu Chấp (九執), tùy theo ngày giờ mà không xa rời nhau, có nghĩa nắm chặt nhau (chấp trì). Nghi quỹ trọng yếu của Cửu Diệu được thuyết trong Túc Diệu Kinh (宿曜經, 2 quyển, Bất Không [不空] dịch, Taishō 21, 1299), Thất Diệu Nhương Tai Quyết (七曜攘災決, Đường Kim Câu Tra [唐倶金吒] soạn, Taishō 21, 1308), Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp (七曜星辰別行法, Nhất Hành [一行] soạn, Taishō 21, 1309), Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu (梵天火羅九曜, Nhất Hành [一行] soạn, Taishō 21, 1311). Về đồ hình của Cửu Diệu có Cửu Diệu Tôn Tượng (九曜尊像), Cửu Diệu Bí Lịch (九曜秘曆), v.v., phần lớn có các yếu tố thiên văn của Trung Quốc. Căn cứ vào lịch Ấn Độ bằng tiếng Phạn, Cửu Diệu được phân thành: (1) Nhật Diệu (s: Āditya, 日曜): còn gọi là Thái Dương (太陽), Nhật Tinh (日精、日星), Nhật Đại Diệu (日大曜); hình tượng bàn tay phải xòe ra cầm nhật luân (bánh xe mặt trời), tai trái kê lên đầu gối, mang thiên y và cỡi trên mình 3 con bạch mã (hay 5 con ngựa, trong Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu có thể nhầm sao này với Nguyệt Diệu); (2) Nguyệt Diệu (s: Soma, 月曜): còn gọi là Nguyệt Thiên Diệu (月天曜), Nguyệt Tinh (月精、月星), Mộ Thái Âm (暮太陰), Thái Âm (太陰); hình tượng bàn tai phải xòe ra cầm hình mặt trăng có con thỏ nằm trên, tay trái đưa lên ngang ngực và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; hoặc hình tượng trên đỉnh đầu có con chim bồ câu, mang y Yết Ma, hai tay bỏ trong tay áo và cầm nguyệt luân (vòng tròn mặt trăng), cỡi lên trên 5 cánh chim bồ câu; (3) Hỏa Diệu (s: Aṅgāraka, 火曜): còn gọi là Huỳnh Hoặc Tinh (熒惑星, Sao Hỏa), Hỏa Tinh (火精、火星), Hỏa Đại Diệu (火大曜), Phạt Tinh (罰星); hình tượng tay phải đặt trên bắp đùi, tay trái cầm cái giáo dài mũi nhọn, chân phải hơi nhếch lên một chút, ngồi với tư thế hai bàn chân giao nhau; tuy nhiên trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La (北斗曼茶羅) thân hình vị này có màu đỏ, tóc rực lửa dựng ngược, mang áo và mũ trời, chung quanh lửa cháy, thân đứng với 4 tay; (4) Thủy Diệu (s: Budha, 水曜): còn gọi là Thần Tinh (辰星), Thủy Tinh (水精、水星), Thần Tinh (辰星), Trích Tinh (滴星), Thủy Đại Diệu (水大曜); hình tượng chấp tay, ngồi xếp bằng hai bàn chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng tay phải cầm bình, tay trái cầm xâu chuổi và ngồi bán già trên tòa hoa sen; (5) Mộc Diệu (s: Bṛhaspati, 木曜): còn gọi là Tuế Tinh (歳星), Nhiếp Đề (攝提), Đại Chủ (大主), Mộc Đại Diệu (木大曜), Mộc Tinh (木精); hình tượng ngón tay áp út và ngón giữa của bàn tay phải cong lên, ngón tay cái ấn xuống trên hai ngón kia, tai trái để lên bắp đùi và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng tay trái cầm cây gậy trên có hình bán nguyệt, hay hình ông lão đứng, đội mũ đầu heo, tay trái cầm cây gậy; (6) Kim Diệu (s: Śukra, 金曜): còn gọi là Thái Bạch Tinh (太白星), Trường Canh (長庚), Na Hiệt (那頡), Kim Tinh (金星、金精), Kim Đại Diệu (金大曜); hình tượng mang thiên y, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên với 4 ngón tay bẻ gập lại và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng hai tay cầm bình và xâu chuỗi; hay hình người nữ đội con gà trên đầu và gãy đàn Tỳ Bà (琵琶); (7) Thổ Diệu (s: Śanaiścara, 土曜): còn gọi là Trấn Tinh (鎭星), Thổ Tinh (土星、土精), Thổ Đại Diệu (土大曜); hình tượng ông lão khỏa thân đứng, mang quần da nai, tay phải cầm cây gậy tiên; hay hình Bồ Tát tay cầm bình; hoặc hình ông lão cỡi trâu, tay trái cầm tích trượng, có 2 đồng tử cầm giáo đứng hầu hai bên; (8) La Hầu (s: Rāhu, 羅睺): còn gọi là Hoàng Phan Tinh (黃旛星), Thực Thần (蝕神), Thái Dương Thủ (太陽首); hình tượng ẩn trong mây với 2 bàn tay hai bên khuôn mặt giận dữ; bên cạnh đó còn có hình tượng giận dự với 3 mặt và tóc rực lửa, trên mỗi đỉnh đầu có đầu rắn và từ ngực trở xuống ẩn trong mây; (9) Kế Đô (s: Ketu, 計都): còn gọi là Tuệ Tinh (彗星), Báo Vĩ Tinh (豹尾星), Kỳ Tinh (旗星), Thực Thần Vĩ (蝕神尾), Thái Âm Thủ (太陰首), Nguyệt Bộc Lực (月勃力); hình tượng nữa thân phải lộ ra khỏi mây, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên cao; hay hình có khuôn mặt giận dữ, khỏa thể một nữa ẩn trong đám mây đen; hoặc hình tướng giận dữ có 3 mặt, trên mỗi mặt có 3 con rắn, từ ngực trở xuống ẩn trong mây. Trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La thân hình vị này có màu đỏ, 3 mặt và 4 tay, tóc dựng ngược, mang áo và mũ trời, chân trái duỗi ra và cỡi lên con rồng. Ngoài ra còn có hình tượng tay phải ẩn trong đầu rồng, cầm lỗ tai con thỏ, tay trái cầm cương rồng và tóc người). Trong Tân Đường Thư Lịch Chí (新唐書曆志) quyển 18 có ghi rằng vào năm thứ 6 (718) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông, Thái Sử Giám Cù Đàm Tất Đạt (太史監瞿曇悉達) vâng chiếu phiên dịch Lịch Cửu Diệu; nó cũng tương tự với loại lịch Thái Dương bằng tiếng Phạn. Nếu phối hợp phương vị, Nhật Diệu thuộc về phương Sửu Dần, Nguyệt Diệu thuộc phương Tuất Hợi, Hỏa Diệu thuộc phương Nam, Thủy Diệu là phương Bắc, Mộc Diệu ở phương Đông, Kim Diệu ở phương Tây, Thổ Diệu ở trung ương, La Hầu ở phương Thìn Tỵ (Đông Bắc), Kế Đô thuộc phương Mùi Thân (Tây Nam). Hơn nữa, theo Thuyết Bản Địa của Nhật Bản, Nhật Diệu là Quan Âm (觀音, hay Hư Không Tạng [虛空藏]), Nguyệt Diệu là Thế Chí (勢至, hay Thiên Thủ Quan Âm [千手觀音]), Hỏa Diệu là Bảo Sanh Phật (寳生佛, hay A Rô Ca Quan Âm [阿嚕迦觀音]), Thủy Diệu là Vi Diệu Trang Nghiêm Thân Phật (微妙莊嚴身佛, hay Thủy Diện Quan Âm [水面觀音]), Mộc Diệu là Dược Sư Phật (藥師佛, hay Mã Đầu Quan Âm [馬頭觀音]), Kim Diệu là A Di Đà Phật (阿彌陀佛, hay Bất Không Quyên Sách [不空羂索]), Thổ Diệu là Tỳ Lô Giá Na Phật (毘盧遮那佛, hay Thập Nhất Diện Quan Âm [十一面觀音]), La Hầu là Tỳ Bà Thi Phật (毘婆尸佛), Kế Đô là Bất Không Quyên Sách (不空羂索). Người xưa thường phối hợp Cửu Diệu này với tuổi tác của con người để phán đoán tốt xấu.
cửu diệu
The nine luminaries: 1) Nhật: Aditya (skt)—The sun. 2) Nguyệt: Soma (skt)—The moon. 3) Hỏa Tinh: Angaraka (skt)—Mars. 4) Thủy Tinh: Budha (skt)—Mercury. 5) Mộc Tinh: Brhaspati (skt)—Jupiter. 6) Kim Tinh: Sukra (skt)—Venus. 7) Thổ Tinh: Sanaiscara (skt)—Saturn. 8) La Hầu: Rahu (skt)—The spirit that causes eclipses. 9) Kế Đô: Ketu (skt)—A comet.
; (九曜) Chín thiên thể chiếu sáng. Phạm: Navagraha. Cũng gọi Cửu chấp. Ngày giờ theo nhau không rời, có ý nghĩa nắm giữ nên gọi Cửu chấp. Cửu diệu theo lịch tượng của lịch Phạm (lịch Ấn Độ) là: Nhật diệu (Phạm: Àditya) tức là thái dương, Nguyệt diệu (Phạm: Soma) tức là thái âm, Hỏa diệu (Phạm: Aígàraka) tức là sao Huỳnh hoặc hay Hỏa tinh, Thủy diệu (Phạm:Buddha) thần tinh, Mộc diệu (Phạm: Vfhaspati) Tuế tinh, Kim diệu (Phạm: Zukra) sao Thái bạch, Thổ diệu (Phạm: Zanaizcara) Trấn tinh. Bảy thiên thể vừa kể gọi là Thất diệu. Kế tiếp: La hầu (Phạm: Ràhu) tức là sao Hoàng phan, cũng gọi Thực thần (gây ra hiện tượng nhật thực, nguyệt thực), Kế đô (Phạm: Ketu) tức là Tuệ tinh, cũng gọi Báo vĩ tinh, là cái đuôi của Thực thần (sao chổi). Tân đường thư lịch chí 18 chép, năm Khai nguyên thứ 6 (718) đời Đường huyền tông, Thái sử giám là Cù đàm tất đạt vâng mệnh vua dịch lịch Cửu chấp, một loại lịch Phạm (Ấn độ) tương tự như lịch Hồi hồi và lịch Thái dương. Nếu phối hợp Cửu diệu với phương vị thì Nhật diệu ở phương Sửu Dần, Nguyệt diệu ở phương Tuất Hợi, Hỏa diệu ở phương Nam, Thủy diệu ở phương Bắc, Mộc diệu ở phương Đông, Kim diệu ở phương Tây, Thổ diệu ở phương giữa, La hầu ở phương Thìn Tị (đông bắc). Kế đô ở phương Mùi Thân (tây nam). Còn thuyết Bản địa của Nhật bản thì cho rằng Nhật là Quan âm (hoặc Hư không tạng), Nguyệt là Thế chí (hoặc Thiên thủ Quan âm), Hỏa là Phật Bảo sinh (hoặc A rô ca Quan âm), Thủy là Phật Vi diệu trang nghiêm thân (hoặc Thủy diệu Quan âm), Mộc là Phật Dược sư (hoặc Mã đầu Quan âm), Kim là Phật A di đà (hoặc Bất không quyên sách), Thổ là Phật Tì lô giá na (hoặc Thập nhất diện Quan âm), La hầu là Phật Tì bà thi, Kế đô là Bất không quyên sách. Ngoài ra, phong tục ngày xưa có cách phối Cửu diệu với tuổi của người ta để đoán lành dữ tốt xấu. [X. kinh Ma đăng già Q.thượng - Quảng đại nghi quĩ Q.trung - Đại nhật kinh sớ Q.4 - Thất diệu nhương tai quyết].
cửu diệu mạn đồ la
(九曜曼荼羅) Bức tranh vẽ Cửu diệu (chín thiên thể) và các tượng thần phụ thuộc. Trong sách Phạm thiên hỏa la cửu diệu do ngài Nhất hạnh soạn vào đời Đường có vẽ hình tượng của Cửu diệu và một bức tranh Phạm thiên hỏa la ở cuối quyển mà người ta cho là Cửu diệu mạn đồ la. Nhưng trong sách này chỉ có hình tượng thần của Cửu diệu chứ chưa nói gì về mạn đồ la, cho nên không biết hình dạng của bức tranh này. Lại cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép thì vị trí các sao quyến thuộc của Nhật thiên (mặt trời) được đồ biểu như sau: (Đông) Kế Đô Kim Diệu Thổ Diệu Mộc Diệu Nhật Thiên Thủy Diệu Vi Thệ Da Thệ Da Kiếm Bà Hỏa Diệu La Hầu Bị chú: Mạn đồ la này thiếu mất Nguỵệt diệu trong Cửu diệu và được thay bằng Kiếm bà. Bởi thế, nếu gọi là Nhật thiên mạn đồ la thì thỏa đáng hơn.
Cửu du-già
九瑜伽; C: jiǔ yúqié; J: ku yuga;|Chín loại Du-già (đạo): 1. Thế gian đạo (世間道); 2. Xuất thế đạo (出世道); 3. Phương tiện đạo (方便道); 4. Vô gián đạo (無間道); 5. Giải thoát đạo (解脱道); 6. Thắng tiến đạo (勝進道); 7. Nhuyễn phẩm đạo (軟品道); 8. Trung phẩm đạo (中品道); 9. Cửu thượng phẩm đạo (九上品道; theo Du-già luận 瑜伽論).
cửu duyên sinh thức
(九緣生識) Chín duyên sinh thức. Duyên có nghĩa giúp thành. Tức là chín thứ duyên như: ánh sáng, khoảng không, căn, cảnh v.v... giúp làm cho tám thức như: mắt, tai, mũi, lưỡi v.v... sinh khởi tác dụng nhận biết. Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nương vào Tướng phần (tướng trạng phân biệt - chỉ cho hết thảy hiện tượng trong thế gian) mà được thành lập, do chủng tử (hạt giống) của thức thứ tám sinh ra, lấy ánh sáng, khoảng không làm tướng. Thức thứ sáu duyên theo tướng phần của thức thứ tám mà sinh, lấy năm trần (sắc thanh hương vị xúc) làm đối tượng để phân biệt, nương vào thức thứ bảy mà có khả năng nắm giữ. Thức thứ bảy duyên theo Kiến phần ..... (thức năng kiến - chỉ cho các thức mắt, tai v.v... có khả năng phân biệt rõ ràng các trần cảnh) của thức thứ tám mà sinh khởi, lấy thức thứ sáu làm chỗ nương. Thức thứ tám là gốc của các thức, hàm chứa chủng tử của các pháp, nương vào thức thứ bảy mà chuyển biến thức năm căn làm tướng. Do đó nên biết, thức nhờ duyên mà sinh, duyên do thức mà có, làm chỗ nương lẫn nhau, nên gọi là Cửu duyên sinh thức. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 đến quyển 5, thì chín duyên là: 1. Minh duyên: minh chỉ cho ánh sáng mặt trời mặt trăng, ánh sáng chiếu soi rõ các sắc tướng. Ánh sáng giúp cho mắt thấy, nếu không có ánh sáng thì thức mắt không thể phát sinh tác dụng nhận biết, bởi thế ánh sáng là duyên của thức mắt. 2. Không duyên: không là khoảng không rỗng rang không bị ngăn ngại, hiển rõ các sắc tướng. Mắt nhờ khoảng không mà thấy được, tai nhờ khoảng không mà nghe được, nếu không có khoảng không thì mắt, tai không thể phát sinh tác dụng nhận biết. Cho nên không làm duyên cho thức mắt và thức tai. 3. Căn duyên: căn chỉ cho năm căm (năm giác quan) mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Thức mắt nương căn mắt mà thấy được, thức tai nương căn tai mà nghe được, thức mũi nương căn mũi mà ngửi được, thức lưỡi nương căn lưỡi mà nếm được, thức thân nương căn thân mà biết được. Nếu không có năm căn thì năm thức không có chỗ nương, cho nên năm căn làm duyên cho năm thức. 4. Cảnh duyên: Cảnh chỉ cho năm trần cảnh (năm đối tượng) là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm căn tuy có đủ năm thức thấy, nghe, ngửi, nếm, biết, nhưng nếu không có năm trần cảnh làm đối tượng, thì năm thức không phát khởi được, cho nên cảnh làm duyên cho năm thức. 5. Tác ý duyên: tác ý là tâm sở pháp, có nghĩa là quan sát. Như khi mắt vừa thấy sắc liền biết đối cảnh, khiến thức thứ sáu khởi niệm phân biệt thiện, ác. Tai, mũi, lưỡi, thân lúc mới thấy đối tượng cũng quan sát như thế. Tất cả cảnh, thức đều do tác ý, cho nên tác ý làm duyên cho sáu thức. 6. Căn bản y duyên: căn bản là thức A lại da thứ tám - y là nương tựa. Nghĩa là thức thứ tám là gốc của các thức, sáu thức mắt, tai, mũ, lưỡi, thân, ý nương vào tướng phần của thức thứ tám mà sinh, tướng phần của thức thứ tám nhờ vào sáu thức mà khởi, vì thế căn bản y là duyên của sáu thức và thức thứ tám. 7. Nhiễm tịnh y duyên: Nhiễm tịnh y là thức mạt na thứ bảy. Tất cả pháp nhiễm tịnh đều nương vào thức này mà chuyển. Nghĩa là sáu thức mắt, tai v.v... đối trước sáu trần cảnh sắc, thanh v.v... khởi lên các phiền não hoặc nghiệp, thì thức thứ bảy chuyển các pháp phiền não ô nhiễm này về nơi thức thứ tám mà thành hữu lậu. Nếu sáu thức tu các đạo phẩm thanh tịnh, thì thức thứ bảy chuyển những đạo phẩm thanh tịnh này về nơi thức thứ tám mà thành vô lậu, cho nên gọi là Nhiễm tịnh y. Nhưng thức thứ bảy này cũng phải nương nhờ thức thứ tám mới chuyển được, và thức thứ tám lại nương vào thức thứ bảy mà theo duyên, như vậy tám thức nương tựa lẫn nhau, nhờ cậy lẫn nhau, cho nên Nhiễm tịnh y là duyên của tám thức. 8. Phân biệt y duyên: phân biệt là thức thứ sáu, thức này hay phân biệt các pháp thiện ác, hữu lậu vô lậu, sắc và tâm. Năm căn tuy có thể tiếp xúc với cảnh, nhưng đều nhờ thức thứ sáu mới phân biệt được. Cho nên biết: do phân biệt mà có tốt xấu của năm căn cảnh, do phân biệt mới biết sự nhiễm tịnh của thức thứ bảy, do phân biệt mà rõ tướng phần của thức thứ tám. Cho nên phân biệt y là duyên của tám thức. 9. Chủng tử duyên: chủng tử là hạt giống của tám thức. Nghĩa là thức mắt nương chủng tử của căn mắt mà thấy được sắc, thức tai nhờ chủng tử căn tai mà nghe được tiếng, thức mũi nương chủng tử của căn mũi mà ngửi được mùi (thơm, hôi v.v...), thức lưỡi nhờ chủng tử của căn lưỡi mà nếm được vị (ngọt, cay v.v...), thức thân nương chủng tử của căn thân mà biết được, thức ý nhờ chủng tử của căn ý mà phân biệt được, thức thứ bảy nhờ chủng tử hàm tàng (ngậm chứa) mà có thể sinh ra tất cả các pháp. Vì các thức đều nương vào chủng tử mà sinh khởi nên chủng tử là duyên của các thức.
cửu dụ
The nine similes: stars, eye-film, lamp, prestidigitation, dew, bubble, dream, lightning, cloud.
; The nine similes: 1) Tinh (sao): Stars. 2) Hoa Đốm: Eye-film. 3) Đăng (đèn): Lamp. 4) Ảo (ảo thuật): Prestidigitation. 5) Sương (sương mù): Dew. 6) Bào (bong bóng): Bubble. 7) Mộng: Dream. 8) Điển Chớp: Lightning. 9) Vân (mây): Cloud.
; (九喻) Chín thí dụ nói trong kinh Như lai tạng dùng để giải thích nghĩa Như lai tạng. Chín thí dụ này chỉ rõ rằng pháp thân Như lai tuy bị phiền não che lấp, nhưng tự tính thanh tịnh thì không một mảy may bị phiền não làm ô nhiễm. Chín thí dụ đó là: 1. Như trong đóa hoa chưa nở có thân Như lai ngồi kết già, người có thiên nhãn bỏ hoa héo mà được thân Như lai. 2. Như người lấy mật ong, trước hết, dùng phương tiện khéo léo đuổi đàn ong giữ gìn tổ ong rồi lấy mật. 3. Như hạt thóc chưa được xay, kẻ tham lam ngu dại cho là đồ bỏ, nhưng khi hết trấu dã trắng thì trở thành gạo ngon. 4. Như vàng ròng rơi vào chỗ bẩn thỉu, bị vùi lấp nhiều năm, vàng ròng chẳng hư nát mà cũng không ai hay biết, chỉ người có thiên nhãn mới thấy và lấy vàng dễ dàng. 5. Như nhà nghèo có kho báu, nếu không người chỉ bảo thì không thể biết mà lấy của báu trong kho ấy. 6. Như hạt của quả Am la không hư nát, đem gieo xuống đất thì thành cây to. 7. Như người dùng dẻ rách gói tượng vàng, vứt bỏ ngoài đồng hoang, chỉ người có thiên nhãn mới biết và đến lấy tượng ra, mọi người đều kính lễ. 8. Như cô gái nghèo mang thai Thánh vương. 9. Như tượng vàng ròng, bên ngoài tuy nám đen, nhưng vàng bên trong không biến đổi.Phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4 dùng chín thí dụ trên đây để biểu trưng chín loại khách trần phiền não. Tức là: thí dụ thứ nhất là Tham sử phiền não, thứ hai là Sân sử phiền não, thứ ba là Si sử phiền não, thứ tư là Tăng thượng tham sân si kết sử phiền não, thứ năm là Vô minh trụ địa sở nhiếp phiền não, thứ sáu là Kiến đạo sở đoạn phiền não, thứ bảy là Tu đạo sở đoạn phiền não, thứ tám là Bất tịnh địa sở nhiếp phiền não, thứ chín là Tịnh địa sở nhiếp phiền não.
cửu giải thoát đạo
Trong tam giới có cửu địa, mỗi địa đều có kiến hoặc, tư hoặc, và tu hoặc—In the nine stages of the trailokya each has its possible delusions and erroneous performances—For more information, please see Cửu Vô Gián Đạo in Vietnamese-English Section.
; (九解脫道) Chín đạo giải thoát. Trong ba cõi có chín địa: cõi Dục, bốn Thiền, bốn Vô sắc. Cõi Dục có chín phẩm hoặc, ở giai vị Tu đạo, người dứt trừ được sáu phẩm hoặc trước của cõi Dục là bậc Thánh quả thứ hai, người dứt trừ hết cả chín phẩm hoặc cõi Dục là bậc Thánh quả thứ ba, người đoạn trừ 72 phẩm hoặc của cõi Sắc và cõi Vô sắc là bậc Thánh quả thứ tư. Mỗi lần đoạn trừ một phẩm hoặc này đều có: Vô gián đạo và Giải thoát đạo. Vô gián đạo là giai vị đang đoạn trừ phiền não, còn Giải thoát đạo là giai vị giải thoát sau khi đã đoạn trừ hết các phiền não. Tư hoặc ở mỗi địa có chín phẩm, cho nên pháp đối trị cũng có chín, gọi là Cửu vô gián đạo, Cửu giải thoát đạo. [X. Đại tạng pháp số Q.50]. (xt. Cửu Vô Gián Đạo).
Cửu Giới
(九界): Chín Cõi. Trừ Phật Giới (佛界) trong Thập Pháp Giới (十法界), tức còn Cửu Giới; gồm: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sáu cõi đầu là Lục Phàm (六凡), và ba cõi sau là Tam Thánh (三聖). Trong Tịnh Độ Tùy Học (淨土隨學, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1187) quyển Hạ có đoạn: “Mê chi tắc Cửu Giới tạp trần, sanh tử bất tuyệt; ngộ chi tắc Phật đạo viên thành, tịch thường chơn tịnh (迷之則九界雜陳、生死不絕、悟之則佛道圓成、寂常眞淨, khi mê thì Chín Cõi tạp nhiễm, sanh tử không dứt; khi ngộ thì Phật đạo viên thành, vắng lặng thanh tịnh).” Hay trong bài Quan Âm Đại Sĩ Tán (觀音大士贊) của Vi Lâm Thiền Sư Lữ Bạc Am Cảo (爲霖禪師旅泊菴稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1442) quyển 4 có câu: “Diệu tướng từ dung đoan nghiêm tự tại, xứ xứ phân hình biến ư Cửu Giới, như nhật phổ nhiệt như nguyệt phổ lương, tầm thanh cứu khổ ứng hiện vô phương (玅相慈容端嚴自在、處處分形遍於九界、如日普熱如月普涼、尋聲救苦應現無方, tướng mầu dung từ đoan nghiêm tự tại, chốn chốn phân thân biến khắp Chín Cõi, như trời rực nóng như trăng mát tươi, tầm thanh cứu khổ ứng hiện cùng nơi).”
; (九界): Chín Cõi. Trừ Phật Giới (佛界) trong Thập Pháp Giới (十法界), tức còn Cửu Giới; gồm: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Sáu cõi đầu là Lục Phàm (六凡), và ba cõi sau là Tam Thánh (三聖). Trong Tịnh Độ Tùy Học (淨土隨學, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1187) quyển Hạ có đoạn: “Mê chi tắc Cửu Giới tạp trần, sanh tử bất tuyệt; ngộ chi tắc Phật đạo viên thành, tịch thường chơn tịnh (迷之則九界雜陳、生死不絕、悟之則佛道圓成、寂常眞淨, khi mê thì Chín Cõi tạp nhiễm, sanh tử không dứt; khi ngộ thì Phật đạo viên thành, vắng lặng thanh tịnh).” Hay trong bài Quan Âm Đại Sĩ Tán (觀音大士贊) của Vi Lâm Thiền Sư Lữ Bạc Am Cảo (爲霖禪師旅泊菴稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1442) quyển 4 có câu: “Diệu tướng từ dung đoan nghiêm tự tại, xứ xứ phân hình biến ư Cửu Giới, như nhật phổ nhiệt như nguyệt phổ lương, tầm thanh cứu khổ ứng hiện vô phương (玅相慈容端嚴自在、處處分形遍於九界、如日普熱如月普涼、尋聲救苦應現無方, tướng mầu dung từ đoan nghiêm tự tại, chốn chốn phân thân biến khắp Chín Cõi, như trời rực nóng như trăng mát tươi, tầm thanh cứu khổ ứng hiện cùng nơi).”
cửu giới
Chín giới hãy còn trong sai trái và vẫn còn bị dục vọng chi phối; tất cả các giới của chúng hữu tình từ Bồ Tát xuống hàng địa ngục, ngoại trừ Phật giới là giới cao nhất—The nine realms of error, or subjection to the passion; all the realms of the living from Bodhisattvas down to hells, except the tenth and highest, the Buddha realm—See Cửu Địa in Vietnamese-English Section.
; (九界) Chín giới trong 10 pháp giới. Tức là: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, cõi người, cõi trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát.
cửu giới tình chấp
(九界情執) Nghĩa là chúng sinh trong chín cõi đều có tâm mê chấp. Trong mười cõi, chỉ có Phật đã xa lìa tình chấp. (xt. Cửu Giới).
cửu hiển nhất mật
(九顯一密) Giáo phán của tông Chân ngôn Nhật bản. Trong 10 trụ tâm, chín trụ tâm trước là Hiển giáo, một trụ tâm sau là Mật giáo, nên gọi là cửu Hiển nhất Mật. (xt. Thập Trụ Tâm).
cửu hoa sơn
Chiu-Fa San—Một trong bốn ngọn núi thiêng liêng của Phật Giáo, tọa lạc trong vùng An Hội bên Trung Quốc, nơi trụ trì của Ngài Địa Tạng Bồ Tát—One of the four sacred mountains of Buddhism situated in Anhui in China, and its patron is Earth –Store Bodhisattva (Ti-tsang)—See Hoa Sơn.
; (九華山) Núi ở phía tây nam huyện Thanh dương tỉnh An huy, chiếm khoảng đất hơn một trăm cây số vuông. Núi này vốn tên là Cửu tử sơn, cùng với núi Ngũ đài ở tỉnh Sơn tây, núi Nga mi ở tỉnh Tứ xuyên và núi Phổ đà ở tỉnh Chiết giang là bốn núi lớn nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Núi Cửu hoa có 99 ngọn, trong đó, chín ngọn hùng vĩ nhất là Thiên đài, Liên hoa, Thiên trụ, Thập vương v.v... Chín ngọn núi này trông giống như chín đứa bé đang ngồi quây quần nô đùa với nhau, vì thế mà Cửu hoa vốn có tên là núi Cửu tử (chín đứa bé). Thi hào Lí bạch đời Đường đến đây, thấy chín ngọn núi đứng thẳng như chín bông sen, nên ông mới đổi lại tên là Cửu hoa sơn. Những ngọn núi Cửu hoa quanh co kì vĩ, tráng lệ nguy nga. Trong núi có nhiều khe, suối nước chảy róc rách, những viên đá kì lạ, những hang động cổ kính, hàng tùng cao ngất, rừng trúc xanh rờn - ánh núi sắc nước đan dệt vào nhau tạo nên khung cảnh mờ ảo huyền bí. Núi Cửu hoa được mở mang lần đầu tiên vào năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn, tại đây, ngài Bôi độ đã xây dựng chùa Hóa thành. Cứ theo Trì châu Cửu hoa sơn Hóa thành tự Địa tạng truyện kí trong Tống cao tăng truyện quyển 20 ghi chép, thì ngài Địa tạng là người thuộc giòng họ Kim của vương quốc Tân la (nay là nước Triều Tiên), tên là Kim kiều giác, thích cảnh u tịch của núi Cửu hoa, mới lưu lại ở đó. Đầu năm Chí đức (756 - 757), Chư cát tiết đến núi này, thấy ngài Địa tạng tu khổ hạnh, bèn dựng nhà Thiền cúng ngài. Đầu năm Kiến trung (780 - 783), Trương công nghiêm nghe phong cách cao thượng của ngài Địa tạng, mới tâu xin vua làm chùa cúng dường ngài. Năm Trinh nguyên 19 (803), ngài Địa tạng thị tịch. Vị Địa tạng họ Kim này được coi là hóa thân của bồ tát Địa tạng và rất được tôn sùng. Từ đó, núi Cửu hoa được xem là đạo tràng của bồ tát Địa tạng ứng hóa độ sinh là trung tâm của tín ngưỡng Địa tạng. Đồng thời, các chùa viện đại qui mô được xây dựng, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh mỗi ngày một hưng thịnh. Vào thời kì thịnh nhất, trên núi có tới hơn ba trăm ngôi chùa với hơn bốn nghìn vị tăng, khói hương nghi ngút quanh năm, nên có biệt hiệu Nước Phật cõi tiên. Hiện nay, trên núi có 78 ngôi chùa cổ như: chùa Hóa thành, chùa Cửu tử, chùa Tuệ cư, Nhục thân bảo điện v.v... hơn 1500 pho tượng Phật và các đồ pháp khí, văn vật như: Sắc chỉ vua ban khoảng năm Vạn lịch đời vua Thần tông nhà Minh, Kinh tạng, ấn ngọc v.v... trong cung Bách tuế, nhờ tượng nhục thân Ứng thân bồ tát ngồi của thiền sư Vô hà. Chùa Cửu tử là một kiến trúc qui mô hoành vĩ, phía trái chùa có bảy dòng suối, nước chảy phát ra âm thanh như tiếng chuông tiếng trống, bên phải chùa có khe Thùy vân, nước chảy phát ra âm thanh như vòng ngọc, đai ngọc chạm vào nhau, vốn có tên là Cửu tử thính tuyền (suối chín chú bé lắng nghe). Chùa Vô tướng được xây dựng vào đầu năm Khai nguyên đời Đường. Chùa này vốn là ngôi nhà cũ của Vương quí hữu được đổi làm chùa, đến khoảng năm Bình trị đời Bắc Tống vua mới ban hiệu là chùa Vô tướng. Thượng thiền đường vốn tên là Cảnh đức đường, vào khoảng năm Khang hi đời Thanh, đệ tử của Quốc sư Ngọc lâm là ngài Tông diễn mở rộng thêm mới đổi tên là Thượng thiền đường như hiện nay. Nhục thân bảo điện trên ngọn Thần quang, thường gọi là tháp Nhục thân, bằng gỗ, bảy tầng, cao 18 mét, mỗi tầng có tám cỗ khám thờ tượng bồ tát Địa tạng mầu vàng ròng, hai bên tháp có tượng 10 vua đứng hầu. Vua Thần tông nhà Minh ban hiệu là Hộ Quốc Nhục Thân Bảo Tháp. Ngôi tháp hiện còn đến nay là tháp được làm lại vào khoảng năm Đồng trị đời Thanh. [X. Cửu hoa nhật lục (Chu thiên độ) - Cửu hoa sơn chí - Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.10 - K. L. Reichelt: Truth and Tradition in Chinese uddhism].
cửu hoạnh
(九橫) I. Cửu hoạnh: chỉ cho chín nguyên nhân đưa đến cái chết oan uổng. 1. Ăn những thức ăn không nên ăn. 2. Ăn không có điều độ, không biết tiết chế: ăn nhiều, no quá. 3. Ăn những món mình ăn không quen: Không biết thời, không biết tục lệ. 4. Ăn xong, thức ăn chưa kịp tiêu hóa đã lại ăn tiếp. 5. Nín đại tiểu tiện. 6. Không giữ giới (hoặc luật pháp), phạm tội nặng phải tử hình. 7. Gần bạn xấu, chơi với những kẻ ác. 8. Đi vào làng xóm không đúng lúc, không đúng phép. 9. Gặp thú dữ, chó dại, người điên, nước lụt, đám cháy v.v... là những thứ đáng tránh lại không tránh đến nỗi bị hại. [X. kinh Cửu hoạnh, kinh Phật y]. II. Cửu hoạnh: chỉ cho chín cái chết oan uổng. 1. Bị bệnh mà không có thuốc. 2. Phép vua hành hình. 3. Phi nhân đoạt tinh khí, tức hoang dâm quá độ bị quỉ quái thừa cơ hút mất tinh khí. 4. Bị lửa đốt. 5. Bị nước cuốn. 6. Bị thú dữ ăn thịt. 7. Ngã từ trên núi xuống. 8. Trúng thuốc độc hoặc bị trù ếm. 9. Đói khát quá mà chết. [X. kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức].
cửu hoạnh kinh
(九橫經) Có 1 quyển, ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung trình bày về chín nguyên nhân gây ra cái chết oan uổng của chúng sinh.Kinh này cùng bản với thiên 31 trong kinh Thất xứ tam quán (Đại chính tạng tập 2). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2]. (xt. Cửu Hoạnh).
cửu hoạnh tử
The nine kinds of irregular death.
; Chín nguyên nhân gây ra cái chết bất đắc kỳ tử—Nine kinds of irregular death: 1) Không nên ăn mà cứ ăn: To eat what is not allowed to. 2) Ăn quá lượng: Eat too much. 3) Chẳng ăn quen mà cứ ăn: Eat what is not suitable for the stomach. 4) Ăn không tiêu được: Eat what is difficult for the stomach to digest. 5) Ăn thứ chưa được nấu chín: Eat uncooked food. 6) Không giữ giới luật: Breaking precepts (law-breaking). 7) Gần gủi ác tri thức: Associate with bad friends. 8) Vào xóm làng chẳng đúng lúc: To set out at the wrong time. 9) Đáng tránh mà chẳng tránh (Chết chìm): Should avoid but not avoid—Drowning.
Cửu Huyền Thất Tổ
(九玄七祖): Theo quan niệm của Trung Quốc, Cửu Huyền (九玄) là 9 đời, gồm tử (子, con), tôn (孫, cháu), tằng (曾, chắt), huyền (玄, chít), lai (來, chiu), côn (昆), nhưng (仍), vân (雲), nhĩ (耳); nghĩa là tính từ đời con trở xuống. Thất Tổ là phụ (父, cha), tổ (祖, ông), tằng (曾, cố), cao (高, cao), thái (太), huyền (玄), hiển (顯); tức là tính từ đời cha trở lên. Đặc biệt, từ thời nhà Nguyên trở đi, người cha đã qua đời được gọi là Hiển Khảo (顯考). Như vậy, trong hệ thống các đời của Cửu Huyền Thất Tổ không có sự trùng lập của đời nào cả. Trong Phước Đức Chánh Thần Kim Kinh (福德正神金經) của Đạo Giáo có câu rằng: “Tu hành vô biên phước, lập đức lập công dương, kết tiên duyên, độ từ hàng, Cửu Huyền Thất Tổ vĩnh lưu phương (修行無邊福、立德立功揚、結仙緣、渡慈航、九玄七祖永流芳, Tu hành vô biên phước, lập đức lập công nêu cao, kết duyên với tiên, qua thuyền từ, Cửu Huyền Thất Tổ mãi thơm lây).” Tuy nhiên, theo quan niệm của Việt Nam, Cửu Huyền Thất Tổ được định nghĩa khác. Cửu Huyền là 9 đời, gồm cao (高, ông cao), tằng (曾, ông sơ), tổ (祖, ông cố), khảo (考, ông nội), cha, bản thân mình, con, cháu, chắt và chít; được tính từ . Thất Tổ (七祖) là 7 đời, gồm cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ; tính từ đời ông cao trở lên. Thế thì, theo Việt Nam, hệ thống Cửu Huyền Thất Tổ có khác với Trung Quốc và có sự trùng lập ở đời ông cao. Trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông (事理融通) của Thiền Sư Hương Hải (香海, 1728-1715) có hai câu thơ đề cập đến Cửu Huyền Thất Tổ như: “Thích độ nhân miễn tam đồ khổ, thoát Cửu Huyền Thất Tổ siêu phương (釋度人免三途苦、脫九玄七祖超方, Phật độ người miễn Ba Đường khổ, thoát Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng).”
cửu hà phát tâm
(九河發心) Nghĩa là: nếu chúng sinh nào ở nơi chư Phật nhiều bằng số cát của sông Ni liên thiền cho đến số cát của tám sông Hằng mà phát tâm bồ đề thì đời vị lai ắt có thể tụng trì kinh điển Đại thừa, như kinh Niết bàn và hộ trì chính pháp vô thượng. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.6].
cửu hội
(九會) I. Cửu hội: Chỉ chín hội Mạn đồ la của Kim cương giới. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La). II. Cửu hội: Chín hội nói pháp, chỉ cho pháp hội đức Phật nói kinh Hoa nghiêm. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) gọi chung là Thất xứ cửu hội (bảy nơi chín hội), nhưng kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) thì nói Thất xứ bát hội (bảy chỗ tám hội).
cửu hội mạn đà la
Cửu hội thuyết—The nine groups in the diamond-realm mandala.
cửu hội nhất ấn
(九會一印) Mạn đồ la của Kim cương giới gồm chín hội, trong đó có hội Nhất ấn. Từ ngữ Cửu hội nhất ấn nêu rõ mối quan hệ giữa hội Nhất ấn và tám hội. Hội Nhất ấn tức là pháp môn thống nhiếp toàn bộ chư tôn của chín hội vào một ấn Trí quyền của Đại nhật Như lai, còn tám hội kia thì vì mở ra công đức của Đại nhật Như lai mà thành lập.
cửu hội tôn số lược tụng
(九會尊數略頌) Bài kệ tụng được làm để dễ ghi nhớ con số các vị tôn của chín hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo. Văn tụng: Thành thân thiên lục thập nhất tôn Tam vi cúng các thất thập tam Tứ thập tam nhất lí thập thất Giáng giáng thất thập thất tam tôn. Phân biệt cửu hội chư tôn vị Phật thể nhất thiên tam thập lục Bồ tát nhị bách cửu thập thất Phẫn nộ tứ tôn chấp kim tứ Ngoại kim cương bộ bách nhị thập Tổng thiên tứ bách lục thập nhất Thị danh kim cương hiện đồ tôn Viên dung tương tức nhất pháp giới. Nghĩa là: Hội thành thân có 1061 vị tôn. Hội Tam muội da, Vi tế, Cúng dường, mỗi hội có 73. Hội Tứ ấn có 13 Hội Nhất ấn có 1 Hội Lí thú có 17 Hội Hàng tam thế có 77 Hội Hàng tam thế tam muội da có 73 Phân biệt các vị tôn trong chín hội: Phật có 1036, Bồ tát 297, Phẫn nộ 4, Chấp kim cương 120, tổng cộng là 1461, đó là chư tôn của tranh vẽ Kim cương, viên dung tương tức Nhất pháp giới. [X. Mạn đồ la tư sao].
Cửu Hữu
(九有): chỉ cho 9 xứ sở cư trú của chúng hữu tình, hay 9 loại sinh tồn của thế giới hữu tình, còn gọi là Cửu Cư (九居), Cửu Chúng Sanh Cư (九眾生居), Cửu Hữu Tình Cư (九有情居), Cửu Môn (九門), Cửu Địa (九地); có thể chia thành Dục Giới (欲界), Sắc Giới (色界) và Vô Sắc Giới (無色界). Tùy theo tam muội Thiền định sâu hay cạn mà Sắc Giới và Vô Sắc Giới lại chia thành Tứ Thiền Thiên (四禪天, bốn cõi Thiền) và Tứ Vô Sắc Thiên (四無色天, bốn cõi trời vô sắc); như vậy cọng với Dục Giới thành 9 cõi gồm: (1) Dục Giới Ngũ Thú Địa (欲界五趣地, cõi dục có 5 đường): nơi sinh sống lẫn lộn của các hiện hữu Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, người và trời (kể cả cõi trời Sáu Dục), nên được gọi là Ngũ Thú Tạp Cư Địa (五趣雜居地, nơi 5 loài sống hỗn tạp lẫn nhau). (2) Ly Sanh Hỷ Lạc Địa (離生喜樂地): cảnh địa sanh khởi niềm vui sướng nhờ xa lìa đường ác của Dục Giới; cõi Sơ Thiền của Sắc Giới thuộc về cảnh địa này. (3) Định Sanh Hỷ Lạc Địa (定生喜樂地): cảnh địa sanh khởi niềm hỷ lạc nhờ có định; cõi Thiền thứ 2 của Sắc Giới thuộc cảnh địa này. (4) Ly Hỷ Diệu Lạc Địa (離喜妙樂地): cảnh địa có sự an lạc thù thắng nhờ xa lìa niềm vui của cảnh địa trước; cõi Thiền thứ 3 của Sắc Giới thuộc cảnh địa này. (5) Xả Niệm Thanh Tịnh Địa (捨念清淨地): cảnh địa có được nhờ xả ly tất cả hỷ lạc của các cảnh địa trước, cho nên tâm đạt được sự an tĩnh, bình đẳng, tự giác và thanh tịnh; cõi Thiền thứ 4 của Sắc Giới thuộc cảnh địa này. (6) Không Vô Biên Xứ Địa (空無邊處地): cảnh địa có được nhờ xa lìa tánh vật chất của Sắc Giới và chứng đắc tánh tự tại của hư không không cùng tận; cõi trời thứ nhất của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa này. (7) Thức Vô Biên Xứ Địa (識無邊處地): cảnh địa đạt được thức là vô hạn, rộng rãi vô cùng; cõi trời thứ 2 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa này. (8) Vô Sở Hữu Xứ Địa (無所有處地): cảnh địa xa lìa tính động của 2 địa trước, nhập vào tưởng vắng lặng gọi là “không có một vật”; cõi trời thứ 3 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa này. (9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa (非想非非想處地): cảnh địa xa lìa cả có tưởng cũng như không có tưởng, không thiên về có và không, đạt đến trạng thái an tĩnh, bình đẳng; cõi trời thứ 4 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa này. Trong Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) có câu: “Tứ Sanh Cửu Hữu, đồng đăng Hoa Tạng huyền môn, Bát Nạn Tam Đồ, cọng nhập Tỳ Lô tánh hải (四生九有、同登華藏玄門、八難三途、共入毘盧性海, Bốn Loài Chín Cõi, cùng lên Hoa Tạng cửa huyền; Tám Nạn Ba Đường, đều vào Tỳ Lô biển tánh).” Hay như trong Tự Sa Môn Huyền Trang Thượng Biểu Ký (寺沙門玄奘上表記), phần Thỉnh Đắc Thiện Lạc Pháp Sư Đẳng Trùng Xuất Gia Biểu (請得善洛法師等重出家表) lại có đoạn: “Phục duy: Hoàng Đế Hoàng Hậu Bệ Hạ, uẩn linh diệu giác, ứng tích thiện quyền, cố năng giám cực chơn như, chuyển Pháp Luân ư Cửu Hữu, bi hoài thứ loại, chửng trầm nạn ư Tam Đồ (伏惟、皇帝皇后陛下、蘊靈妙覺、應跡善權、故能鑒極眞如、轉法輪於九有、悲懷庶類、拯沉難於三塗, Cúi mong: Hoàng Đế, Hoàng Hậu, Bệ Hạ, linh thiêng biết tỏ, ứng tích hiển bày, nên có thể chứng giám chơn như, chuyển Xe Pháp nơi Chín Cõi, xót thương muôn dân, cứu khổ nạn nơi Ba Đường).” Hoặc như trong A Tỳ Đạt Ma Tàng Hiển Tông Luận (阿毘達磨藏顯宗論, Taishō No. 1563) quyển 12 có câu: “Như thị giải thích Thất Thức Trú dĩ, nhân tư phục biện Cửu Hữu Tình Cư (如是解釋七識住已、因茲復辯九有情居, như vậy đã giải thích xong Bảy Thức Trú, nhân đây lại bàn rõ Chín Cõi Cư Trú Của Chúng Hữu Tình).”
cửu hữu
Xem cửu địa.
; The nine realities, states, or conditions in which sentient-beings enjoy to dwell. Xem cửu địa.
; Chín cõi trời hỷ lạc—The nine realities, states or conditions in which sentient beings enjoy to dwell: 1) Dục Giới Nhân Thiên: Sơ chúng sanh cư—Thế giới Ta Bà và sáu cõi trời dục giới trong đó chúng sanh có nhiều loại thân và nhiều loại tưởng—The world and the six deva heavens of desire in which there is variety of bodies and thinking or ideas.. 2) Phạm Chúng Giới Thiên: Nơi chúng sanh có nhiều thân khác nhau nhưng tưởng lại giống nhau—The three Brahma-heavens where bodies differ but thinking is the same (the first dhyana heaven—Sơ thiền thiên). 3) Cực Quang Tịnh Thiên: Nơi chúng sanh chỉ có một loại thân nhưng nhiều loại tưởng khác nhau—The three bright and pure heavens where bodies are identical but thinking differs (the second dhyan heaven—Nhị thiền thiên). 4) Biến Tịnh Thiên: Nơi chúng sanh chỉ có một thân và một tưởng giống nhau—The three universally pure heavens where bodies and thinking are the same (the third dhyana heaven—Tam thiền thiên). 5) Vô Tưởng Thiên: Nơi chúng sanh không có tưởng mà cũng không có giác tri—The no-thinking or no-thought heave (The highest of the four dhyana heavens—Tứ thiền thiên). 6) Không Vô Biên Xứ: Chúng sanh không xứ trụ—Limitless space (First of the formless realms). 7) Thức Vô Biên Xứ: Chúng sanh trụ nơi thức—Limitless perception (the second of the formless realms). 8) Vô Sở Hữu Xứ: Chúng sanh bất dụng xứ trụ—Nothingness, the place beyong things (the third of the formless realms). 9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng: Chúng sanh hữu tưởng vô tưởng xứ—Beyond thought or non thought (the fourth formless realms).
Cửu hữu tình cư
九有情居; C: jiǔ yǒuqíng jū; J: ku ujōko;|Chín nơi chúng sinh cư trú như đã được ghi trong Câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhā-ṣya). Như loài người cư trú nơi cõi Dục. Trong cõi Sắc, đó là các cõi trời Phạm chúng (衆), Cực quang tịnh (極光淨), Biến tịnh (遍淨), và 4 cõi trời Vô tưởng. Trong cõi Vô sắc giới, đó là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
cửu hữu tình cư
See Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
; (九有情居) Chỉ cho chín chỗ ở của loài hữu tình (chúng sinh). Cũng gọi Cửu cư, Cửu chúng sinh cư, Cửu môn, Cửu hữu. Đó là: người và trời của cõi Dục, trời Phạm chúng, trời Cực quang tịnh, trời Biến tịnh, trời Vô tưởng, trời Không vô biên, trời Thức vô biên, trời Vô sở hữu, trời Phi phi tưởng. Trong đó, ngoại trừ trời Vô tưởng và trời Phi phi tưởng, bảy nơi còn lại đặc biệt được gọi là Thất thức trụ. [X. kinh Trường a hàm Q.9 - luận Câu xá Q.8 - Đại thừa nghĩa chương Q.8]. (xt. Cửu Địa).
cửu khiếu
xem chín lỗ.
; See Cửu Khổng in Vietnamese-English Section.
cửu khổng
xem chín lỗ.
; cửu lậu, cửu nhậpChín lỗ trên thân thể chúng sanh: 2 tai, 2 mắt, 2 mũi, 1 miệng, 1 lỗ đại, 1 lỗ tiện. Chín chỗ ấy đều chẳng sạch.
; Also cửu nhập, the nine orifices, cavities, entrances, i.e. the two eyes, two ears, two nostrils, mouth and two lower organs.
; See Cửu Khổng Bất Tịnh in Vietnamese-English Section.
; (九孔) Chín cái lỗ hổng trong thân thể. Cũng gọi Cửu khiếu, Cửu sang (chín cái ung nhọt), Cửu nhập, Cửu lậu (chín chỗ rò rỉ), Cửu lưu (chín chỗ chảy ra). Cứ theo pháp Tăng tàn thứ ba trong luật Tứ phần quyển 3 nói, thì chín lỗ là: Hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, cái mồm, đường đại tiện và đường tiểu tiện. Chín lỗ hổng này giống như cái ung nhọt vỡ ra đầy mủ máu là sang - vật từ ngoài đưa vào là nhập - vật từ trong tiết ra là lậu, lưu, vì thế có nhiều tên. Về số lỗ hổng không có thuyết nhất định, cũng có thuyết nói sáu lỗ. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.31 - luật Thập tụng Q.3 - Hữu bộ tì nại da Q.11 - Trị thiền bệnh bí yếu pháp Q.thượng - Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 2].
cửu khổng (khiếu) bất tịnh
Chín lổ bất tịnh trong thân. Đức Phật dạy có chín lổ bất tịnh trong cơ thể chúng ta, từ mỗi lổ nầy luôn rỉ ra mọi thứ cặn bã như đờm nơi cổ họng, mồ hôi từ lổ lông nơi da, vân vân. Không có sự bài tiết nào có thể ngữi, rờ hay nếm cho vô. Tất cả đều bất tịnh—Nine impure openings in our body. The Buddha teaches us that there are nine openings in our body and from each of them exudes all kinds of excretions all the the time, i.e., phlegm from throat, sweat from the pores of skin, etc. None of the things excreted are pleasant to smell or touch or taste. They are all unclean things: 1) Hai mắt: Eyes. 3) Hai lổ tai: Ears. 5) Hai lổ mũi: Nose (nostrils). 7) Miệng: Mouth. 8) Tiểu tiện: Anus. 9) Đại tiện: Rectum.
cửu kinh
See Cửu Bộ Kinh and Thập Nhị Đại Thừa Kinh in Vietnamese-English Section.
cửu kiếp
The nine kalpas—Theo Kinh Đại Bảo Tích, dù Phật Thích Ca và Di Lặc cùng khởi đầu một lượt, nhưng sự tinh tấn đã khiến cho Ngài Thích Ca thành Phật sớm hơn Ngài Di Lặc đến 9 tiểu kiếp—According to the Maharatnakuta Sutra, though Sakyamuni and Maitreya started together, the zeal of the first enabled him to become Buddha nine kalpas sooner.
; (九劫) Chín kiếp. Đức Thích tôn thành Phật trước ngài Di lặc chín kiếp. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 11 chép, thì đức Thích tôn và ngài Di lặc tuy phát tâm cùng một lúc, nhưng nhờ sức dũng mãnh tinh tiến nên đức Thích tôn thành Phật trước ngài Di lặc chín kiếp.
cửu kết
Nine bonds Chín tật xấu bó buộc lòng người: - ái kết: ham yêu - nhuế kết: sự hờn giận - mạn kết: sự khi lờn - si kết: sự ngu si không sáng - kiến kết: ý kiến tà khúc, chấp nệ - thủ kiến kết: bảo thủ, không phải cho là phải, chẳng phải cho là phải mà không chịu sửa - - kiên kết: xẻn tiếc thân mạng tài sản - tật kết: ganh ghét kẻ khác sang giàu.
; The nine bonds that bind men to mortality: 1-Ái kết love; 2-Nhuế kết hate; 3-Mạn kết pride; 4-Si kết ignorance; 5-Nghi kết doubt; 6-Kiến kết (wrong) views; 7-Thủ kết possession (or grasping); 8-Kiên kết meaness (or selfishness); 9-Tật kết envy.
; Chín mối phiền trược đã kết nối con người trong sanh tử—The nine bonds that bind men to mortality: 1) Ái Kết: Thương yêu hay tham ái—Love. 2) Nhuế Kết: Sự hờn giận—Hate. 3) Mạn Kết: Ngã mạn hay kiêu mạn—Pride. 4) Si Kết: Si mê hay sự vô minh của việc không hiểu sự lý—Ignorance. 5) Kiến Kết: Tà kiến—Wrong views. 6) Thủ Kiến Kết: Chấp thủ—Grasping—Possession. 7) Nghi Kết: Nghi hoặc (Tam Bảo)—Doubt. 8) Tật Kết: Ganh ghét (với sự giàu sanh hay hay ho của người)—Envy. 9) Kiên Kết: Vị kỷ—Selfish—Meanness.
; (九結) Chín cái trói buộc. Tức là chín thứ phiền não trói buộc chúng sinh trong vòng sống chết. Đó là: ái, khuể (giận tức), mạn (ngạo mạn), vô minh, kiến (tà kiến), thủ (chấp trước), nghi, tật (ghen), xan (bỏn xẻn). Tức là sáu phiền não căn bản (Tham, Sân, Mạn, Vô minh, Kiến, Nghi, hoặc Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi) cộng thêm thủ, tật,xan. Nhưng trong Ngũ kiến, chỉ lập thân kiến, biên kiến, tà kiến làm Kiến kết, và trong Tứ thủ, chỉ lập kiến thủ, giới cấm thủ làm Thủ kết. Vấn đề này có hai nghĩa: 1. Thể của ba kiến, hai thủ đều là 18 việc, tức do sự vật nên gọi là kết. 2. Ba kiến là sở thủ, hai thủ là năng thủ, sở thủ, năng thủ tuy khác, nhưng cùng mang ý nghĩa bám dính nên gọi là kết. Ngoài ra, trong Thập triền, chỉ lập tật, xan làm kết, có 7 lí do: 1. Đều tự lực phát sinh. 2. Tật (ghen ghét) là nhân của sự thấp hèn, xan (bỏn xẻn) là nhân của sự nghèo khó. 3. Tật và ưu (lo) tương ứng, là tùy phiền não biểu thị sự lo lắng,xan và hỉ (mừng) tương ứng, là tùy phiền não biểu thị sự vui mừng. 4. Người xuất gia đối với giáo pháp, người tại gia đối với của báu đều do ghen ghét và bỏn xẻn não loạn. 5. Trời Đế thích có vị cam lộ, sẻn tiếc vị, ghen ghét sắc. A tu la có nữ sắc, sẻn tiếc sắc, ghen ghét vị, do đó, thường đánh nhau để tranh giành. 6. Tính ghen ghét và bỏn xẻn hay não loạn trời và người. 7. Vì hai phiền não này não loạn mình và người. Luận Đại tì bà sa quyển 10 lấy 100 việc làm tự tính của cửu kết. [X. luận Thành thực Q.10 - luận Câu xá Q.21]. (xt. Kết).
Cửu Liên
(九蓮): từ gọi tắt của Cửu Phẩm Liên Đài (九品蓮臺), là đài sen có 9 phẩm của hành giả ngồi lên khi được vãng sanh. Lúc hành giả lâm chung, đức Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng cầm đài sen đến tiếp rước, hành giả ngồi lên đài sen và hoa tự khắc dẫn đến cõi Tịnh Độ. Khi đến nơi, hoa nở ra, thân tướng đầy đủ. Phẩm vị của hành giả được phân làm 9 loại, được gọi là Cửu Phẩm Vãng Sanh (九品徃生), gồm Thượng Phẩm Thượng Sanh (上品上生), Thượng Phẩm Trung Sanh (上品中生), Thượng Phẩm Hạ Sanh (上品下生), Trung Phẩm Thượng Sanh (中品上生), Trung Phẩm Trung Sanh (中品中生), Trung Phẩm Hạ Sanh (中品下生), Hạ Phẩm Thượng Sanh (下品上生), Hạ Phẩm Trung Sanh (下品中生) và Hạ Phẩm Hạ Sanh (下品下生). Từ đó, đài sen cũng có 9 phẩm khác nhau. Các phẩm này được thuật rõ trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經). Trong đó, trừ Trung Phẩm Hạ Sanh không có tên gọi, còn lại các phẩm khác theo thứ tự có tên như sau: Kim Cang Đài (金剛臺), Tử Kim Đài (紫金臺), Kim Liên Hoa (金蓮華), Liên Hoa Đài (蓮華臺), Thất Bảo Lien Hoa (七寳蓮華), Bảo Liên Hoa (寳蓮華), Liên Hoa (蓮華) và Kim Liên Hoa (金蓮華). Như trong Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄, CBETA No. 1450) có câu: “Thử phương thân dĩ tạ, Tịnh Quốc Cửu Liên khai (此方身已謝、淨國九蓮開, chốn này thân đã hết, Tịnh Độ Chín Sen khai).” Hay trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, CBETA No. 1215) cũng có câu: “Ức niệm Di Đà thanh triệt để, phản văn Phật hiệu tự ưu du, Lục Căn bất động thường điềm tĩnh, vạn pháp quy nguyên tận bãi hưu, phao khước nhân gian danh lợi sự, nhất tâm đốn nhập Cửu Liên chu (憶念彌陀清徹底、返聞佛號自優游、六根不動常恬靜、萬法歸源盡罷休、拋卻人閒名利事、一心頓入九蓮舟, nhớ niệm Di Đà trong triệt để, phản nghe Phật hiệu tự thong dong, Sáu Căn chẳng động thường điềm tĩnh, muôn pháp về nguồn dứt nghĩ luôn, vứt bỏ nhân gian danh lợi chuyện, nhất tâm vào thẳng Chín Sen thuyền).”
Cửu liên
九蓮; C: jiǔlián; J: kuren;|Viết tắt của Cửu phẩm liên đài (九品蓮臺), biểu tượng cho chín bậc mà hành giả Tịnh độ tông có thể đạt được khi vãng sinh.
cửu liên
See Cửu Phẩm Liên Hoa in Vietnamese-English Section.
cửu long
Nine Dragons.
cửu loại quỷ
(九類鬼) Chín loài quỉ. Cứ theo luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 31 chép, chỗ vua Diêm ma ở có ba loài quỉ là Vô tài (không có của), Thiểu tài (có ít của) và Đa tài (có nhiều của). Trong ba loại quỉ này, mỗi loại lại chia làm ba thành là chín loại quỉ: 1. Quỉ Cự khẩu: trong miệng quỉ này thường nhả ra lửa mạnh, bốc cháy không ngừng, thân hình thì như cây đa la bị cháy rụi. 2. Quỉ Châm khẩu: quỉ này bụng to như núi, cổ họng nhỏ như lỗ kim, tuy thấy thức ăn uống ngon nhưng không nuốt được, nên thường bị đói khát khổ sở. 3. Quỉ Xú khẩu: quỉ này trong miệng thường bay ra mùi hôi hám hơn cả mùi phân, chính loài quỉ này cũng không chịu nổi, và nếu gặp thức ăn uống cũng biến thành vật hôi thối không ăn được, nên thường bị đói khát. Ba loài quỉ trên đây thuộc loại quỉ Vô tài. 4. Quỉ Châm mao: lông trên mình quỉ này cứng nhọn, khó có thể đến gần, lông cứng trong đâm thân thể mình, ngoài bắn vào người khác, đau đớn khó chịu, bất chợt gặp được chút thức ăn nhơ nhớp thì liền ăn để đỡ đói khát. 5. Quỉ Xú mao: lông trên mình quỉ này hôi thối hơn phân, mùi hôi thấm vào gân mạch, da thịt, ruột gan rồi xông ra toàn thân, rất là khó chịu. Nhưng nếu nhổ lông đi thì da thịt rách nát, đau đớn khó tả, may lắm mới gặp được chút thức ăn bẩn thỉu để đỡ đói khát. 6. Quỉ Anh: Quỉ này ở cổ họng mọc cái bướu lớn giống như ung nhọt, làm nóng sốt đau nhức, nhưng khi xô đẩy nhau làm vỡ bướu, mủ hôi tanh vọt ra thì lại tranh nhau ăn cho đỡ đói. Ba loại quỉ trên thuộc loại quỉ Thiểu tài. 7. Quỉ Hi tự: quỉ này thường đến các đền thờ để hưởng thụ các phẩm vật cúng tế, giống như loài chim bay trên hư không, không bị trở ngại. Bởi vì quỉ này đời trước chứa góp của cải nhưng lại bỏn xẻn không chịu bố thí, vả lại hi vọng bọn con cháu thờ cúng mình, nên sinh trong loài quỉ này. 8. Quỉ Hi khí: Quỉ này thường trông chờ những vật thực người ta ăn thừa vứt đi để ăn, vì nhân keo kiệt đời trước nên tùy theo nghiệp lực khác nhau mà được thức ăn nhiều ít, ngon lành hay sơ sài, cho nên ở nơi có các thức ăn thì hoặc thấy đó là vật dơ bẩn, hoặc không thấy được, hoặc ưa thích vật sạch sẽ mà lại thấy là vật nhớp nhúa. 9. Quỉ Đại thế: quỉ này là các quỉ có thế lực lớn như: Dạ xoa, La sát sa, Cung bạn trà v.v... hoặc ở nơi linh miếu, hoặc nương nơi rừng cây, hoặc ở trong núi, hoặc nơi cung điện trống không v.v... Sự giàu sang sung sướng mà loài quỉ này thụ hưởng cũng ngang với các trời. Ba loại quỉ trên thuộc loài quỉ Đa tài.
cửu loại sanh
Chín loại sanh—Nine kinds of birth: (A) The first four kinds are common to devas, earth, and hells: 1) Thai Sanh: Birth from the womb. 2) Noãn Sanh: Birth from the egg. 3) Thấp Sanh: Birth from the moisture. 4) Hóa Sanh: Birth from transformation. (B) The second five for upper sages and saints in the realms of form and non-form: 5) Hữu Sắc: Birth into the heavens of form. 6) Vô Sắc: Birth into the heavens of non-form. 7) Hữu Tưởng: Birth into the heavens of thought. 8) Vô Tưởng: Birth into the heavens of non-thought. 9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng: Birth into the heavens of neither thought nor non-thought.
cửu loại sinh
The nine kinds of birth: 1-Thai sinh from the womb; 2-Noãn sinh from the egg; 3-Thấp sinh from moisture; 4-Hóa sinh from transformation; 5-Hữu sắc born into heavens of form; 6-Vô sắc born of non form; 7-Hữu tưởng born into heaven of thought; 8-Vô tưởng of non-thought; 9-Phi hữu tưởng phi vô tưởng of neither (i.e. beyond either)
; (九類生) Chín cách sinh sản của chúng sinh trong ba cõi: 1. Noãn sinh: loài sinh từ trứng ra, như chim, gà v.v... 2. Thai sinh: loài sinh từ bào thai, như người, trâu bò v.v... 3. Thấp sinh: loài sinh từ chỗ ẩm ướt, như cá, sâu bọ... 4. Hóa sinh: loại tự nhiên hóa ra, như đom đóm... Bốn loài chúng sinh trên đây, ba cõi đều có. 5. Hữu sắc: loài có hình sắc (cõi Sắc). 6. Vô sắc: loài không có hình sắc (cõi Vô sắc). 7. Hữu tưởng: loài có tưởng (các vị trời trong cõi Vô sắc trừ trời Vô tưởng). 8. Vô tưởng: loài không có tưởng (trời Vô tưởng trong cõi Vô sắc). 9. Phi hữu tưởng phi vô tưởng: loài chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng (Phi tưởng phi phi tưởng xứ). Kinh Kim cương (Đại 8, 749 thượng) nói: Tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh trứng, hoặc đẻ bọc, hoặc sinh nơi ẩm ướt, hoặc tự nhiên hóa ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, ta đều khiến cho vào Niết bàn vô dư mà được diệt độ. Ngoài ra, kinh Lăng nghiêm quyển 7 nói có 12 loại sinh.
cửu luân
Không Luân—Vành kim luân (chiếc lọng) có chín tầng đặt trên đỉnh chùa tháp—Also called the wheel of space—The nine wheel or circles on the top of a pagoda.
; (九輪) Tiếng dùng trong kiến trúc của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Không luân. Là những hình vòng tròn trong Kim luân chín tầng đặt trên đỉnh tháp. Kiểu kiến trúc tháp trong các chùa Phật, trên mặt bằng chỗ nóc tháp có đặt những lớp hình tròn như cái mâm, thông thường gọi là Tướng luân (hình tướng bánh xe), Bàn cái (lọng tròn như cái mâm), hoặc Thừa lộ bàn (những cái mâm lộ thiên). Ở Nhật bản, những tháp ba tầng, năm tầng, nếu có chín tướng luân thì đặc biệt gọi là Cửu luân. Cái vòng tròn thấp nhất (ở dưới cùng) của Cửu luân gọi là Nhất luân (một bánh xe), rồi từ đó chồng dần lên Nhị luân (hai bánh xe) đến Cửu luân (chín bánh xe).Trên nóc các tháp được xây cất ở Ấn độ đời xưa cũng có đặt Cửu luân. Ngoài ra, tàn lọng (Phạm: Chattra) tiêu biểu cho quí tộc cũng có Cửu luân. (xt. Thừa Lộ Bàn, Tướng Luân, Tháp).
Cửu Lũy
(九壘): Đạo Giáo chia thế giới dưới lòng đất (thế giới u minh, hay Địa Ngục) làm 9 tầng, gọi là Cửu Lũy; trong đó mỗi Lũy có 4 tầng, cọng thành 36 tầng, mỗi Lũy đều có 1 vị Thổ Hoàng (土皇) cai quản. Theo Động Huyền Linh Bảo Hà Đồ Ngưỡng Tạ Tam Thập Lục Thổ Hoàng Trai Nghi (洞玄靈寶河圖仰謝三十六土皇齋儀), tên gọi Cửu Lũy gồm: (1) Sắc Nhuận Địa (色潤地) có vị Thổ Hoàng thứ nhất họ Tần (秦), húy là Hiếu Cảnh Thung (孝景椿); vị thứ 2 họ Hoàng (黃), Húy Xương Thượng Văn (昌上文); vị thứ 3 họ Thanh (青), húy Huyền Văn Cơ (玄文基); vị thứ 4 họ Phỉ (蜚), húy là Trung Trận Hoàng (忠陣皇). (2) Cang Sắc Địa (剛色地) có vị Thổ Hoàng thứ 5 họ Thú (戍), húy là Thần Văn Quang (神文光); vị thứ 6 họ Úc (郁), húy là Hoàng Mẫu Sanh (黃母生); vị thứ 7 họ Huyền (玄), húy là Càn Đức Duy (乾德維); vị thứ 8 họ Trường (長), húy là Hoàng Minh (皇明). (3) Thạch Lạp Sắc Trạch Địa (石臘色澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 9 họ Trương (張), húy là Duy Thần (維神); vị thứ 10 họ Châu (周), húy là Bá Thượng Nhân (伯上人); vị thứ 11 họ Chu (朱), húy là Minh Xa Tử (明車子); vị thứ 12 họ Canh (庚), húy là Văn Kính Sĩ (文敬士). (4) Nhuận Trạch Địa (潤澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 13 họ Cổ (賈), húy là Vân Tử Cao (雲子高); vị thứ 14 họ Tạ (謝), húy là Bá Vô Nguyên (伯無元); vị thứ 15 họ Kỷ (己), húy là Văn Thái Trận (文泰陣); vị thứ 16 họ Hành (行), húy là Cơ Chánh Phương (機正方). (5) Kim Túc Trạch Địa (金粟澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 17 họ Hoa (華), húy là Diên Kỳ Minh (延期明); vị thứ 18 họ Hoàng (黃), húy là Linh Ngã Dung (齡我容); vị thứ 19 họ Vân (雲), húy là Thám Vô Uyên (探無淵); vị thứ 20 họ Tương (蔣), húy là Thông Bát Quang (通八光). (6) Kim Cang Thiết Trạch Địa (金剛鐵澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 21 họ Lý (李), húy là Thượng Thiếu Quân (上少君); vị thứ 22 họ Phạm (范), húy là Lai Lực An (來力安); vị thứ 23 họ Trương (張), húy là Quý Quý Nguyên (李季元); vị thứ 24 họ Vương (王), húy là Tứ Nữ Dung (駟女容). (7) Thủy Chế Trạch Địa (水制澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 25 họ Đường (唐), húy là Sơ Sanh Ánh (初生映); vị thứ 26 họ Ngô (吳), húy là Chánh Pháp Đồ (正法圖); vị thứ 27 họ Hán (漢), húy là Cao Văn Triệt (高文徹); vị thứ 28 họ Kinh (京), húy là Trọng Long Thủ (仲龍首). (8) Đại Phong Trạch Địa (大風澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 29 họ Cát (葛), húy là Huyền Thăng Quang (玄升光); vị thứ 30 họ Hoa (華), húy là Mậu Vân Trường (茂雲長); vị thứ 31 họ Dương (羊), húy là Chơn Động Huyền (眞洞玄); vị thứ 32 họ Châu (周), húy là Thượng Kính Nguyên (尚敬原). (9) Động Uyên Vô Sắc Cang Duy Địa (洞淵無色剛維地) có vị Thổ Hoàng thứ 33 họ Cực (極), húy là Vô Thượng Huyền (無上玄); vị thứ 34 họ Thăng (升), húy là Linh Nguyên Hạo (靈元浩); vị thứ 35 họ Triệu (趙), húy là Thượng Bá Huyền (上伯玄); vị thứ 36 họ Nông (農), húy là Lặc Vô Bá (勒無伯). Trong tác phẩm Vô Thượng Hoàng Lục Đại Trai Lập Thành Nghi (無上黃籙大齋立成儀) do Tương Thúc Dư (蔣叔輿) nhà Nam Tống biên soạn có thêm vào hai chữ Hậu Thổ (后土) trước mỗi danh hiệu của các vị Thổ Hoàng để cho biết rằng đạo giáo dưới thời kỳ này xem Thổ Hoàng là những vị thần linh thuộc hạ của Hậu Thổ. Tại điện thờ Tứ Ngự đều có an trí thần tượng hay thần vị của 36 vị Thổ Hoàng này. Trong các trai đàn cúng tế lớn đều có dâng cúng 36 vị Thiên Đế cũng như 36 vị Thổ Hoàng.
cửu lưu
Nine entrances—Nine suppurations—See Cửu Khổng in Vietnamese-English Section.
cửu lậu
Xem cửu khổng.
; Xem cửu khổng.
; Nine leakages—See Cửu Khổng in Vietnamese-English Section.
cửu môn
Xem cửu địa.
; Chín cửa—Nine gates—See Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
cửu mạn
Theo Vi Diệu Pháp thì có chín loại mạn—According to Abhidharma, there are nine forms of pride: 1) Ngã Thắng Mạn: Đối với người bằng mình, lại sinh tâm quá mạn cho rằng mình hơn họ—That I surpass those who are equal to me. 2) Ngã Đẳng Mạn: Đối với người hơn mình, lại sinh tâm quá mạn cho rằng mình bằng họ—That I am equal to those who surpass me (the pride of thinking oneself equal to those who surpass us). 3) Ngã Liệt Mạn: Khởi tâm kiêu mạn cho rằng mình không đến nỗi tệ như người khác—That I am not so bad as others. 4) Hữu Thắng Ngã Mạn: Vẫn khởi tâm kiêu mạn dù biết rằng người đó hơn mình—That others surpass me. 5) Vô Đẳng Ngã Mạn: Khởi tâm kiêu mạn cho rằng không ai bằng mình—None are equal to me. 6) Vô Liệt Ngã Mạn: Dù biết rằng không ai kém hơn mình nhưng vẫn sanh lòng kiêu mạn cho rằng mình chỉ kém người chút ít thôi—None are inferior to me. 7) Vô Thắng Ngã Mạn: Đối với người bằng mình, lại sanh tâm kiêu mạn cho rằng không ai có thể hơn mình được—None surpass me. 8) Hữu Đẳng Ngã Mạn: Dù biết người cũng bằng mình, nhưng vẫn sanh tâm kiêu mạn cho rằng họ chỉ bằng ta thôi—That are equal to me. 9) Hữu Liệt Ngã Mạn: Đối với người bằng mình, lại khởi tâm kiêu mạn cho rằng họ tệ hơn mình—That are worse than me.
cửu nghi
Chín oai nghi—Theo Ngài Huyền Trang, có chín phương cách tỏ vẻ tôn kính cùa Ấn Độ—According to Hsuan-Tsang, there are nine ways of showing respect in Indian at his time: 1) Phát Ngôn Úy Vấn: Tỏ lời chào hỏi (hỏi thăm sức khỏe và ăn nói nhỏ nhẹ)—Saluting by asking about welfare (speaking softly). 2) Phủ Thủ Thị Kính: Cúi đầu kính chào—Saluting by bowing the head. 3) Cử Thủ Cao Ấp: Đưa tay lên cao để chào—Saluting by holding high hands. 4) Hợp Chưởng Bình Củng: Chấp tay cúi đầu chào—Saluting by bowing head with folded hands. 5) Khuất Tất: Nhún cong đầu gối chào—Saluting by bending the knee. 6) Trường Quỳ: Quỳ gối để chào—Saluting by kneeling. 7) Thủ tất Cứ Địa: Chào bằng cách để hai bàn tay và hai đầu gối xuống đất—Saluting by placing two hands and knees on the ground. 8) Ngũ Luân Câu Khất: Chào bằng cách cho hai cùi chỏ và hai đầu gối xuống đất—Saluting by placing two elbows and knees on the ground. 9) Ngũ Thể Đầu Địa: Chào bằng cách phủ phục cả thân người sát đất—Saluting by humbly and submissively prostrating the whole body on the ground.
cửu nghiệp
Chín loại nghiệp—The nine kinds of karma: (A) Dục Giới—Desire realm: 1) Tác Nghiệp: Conduct that causes karma. 2) Vô Tác Nghiệp: Conduct that does not cause karma. 3) Phi Tác Phi Vô Tác: Conduct that is neutral. (B) Sắc Giới—Form realm: 4) Tác Nghiệp: Conduct that causes karma. 5) Phi Tác Nghiệp: Conduct that does not cause karma. 6) Phi Tác Phi Vô Tác: Conduct that is neutral. (C) Vô Sắc Giới—Formless realm: 7) Vô Tác Nghiệp: Non-causative deeds. 8) Phi Tác Phi Vô Tác: Neutrality. 9) Vô Lậu Nghiệp: Immortality.
; (九業) Chín nghiệp. Tức là cõi Dục, cõi Sắc, mỗi cõi có ba nghiệp là: Tác nghiệp, Vô tác nghiệp, Phi tác phi vô tác nghiệp - cõi Vô sắc cũng có ba nghiệp: Tác nghiệp, Phi tác phi vô tác nghiệp, Vô lậu nghiệp. Tác nghiệp do thân miệng tạo ra, các nhà dịch mới dịch là Biểu nghiệp - Vô tác nghiệp nhờ công năng của Tác nghiệp mà sinh, các nhà dịch mới dịch là Vô biểu nghiệp - Phi tác phi vô tác nghiệp chỉ cho nghiệp ý - Vô lậu nghiệp tức là nghiệp thân, miệng, ý vô lậu. Chín thứ nghiệp nếu phân biệt theo ba tính: thiện, ác, vô kí (không thiện không ác) thì Tác nghiệp, Phi tác phi vô tác nghiệp ở cõi Dục thông cả ba tính - Tác nghiệp, Phi tác phi vô tác nghiệp của cõi Sắc thì thông thiện và vô kí - Vô tác nghiệp của cõi Dục thông thiện và ác. Vô tác nghiệp ở cõi Sắc chỉ thông với tính thiện - Vô tác nghiệp Phi tác phi vô tác nghiệp của cõi Vô sắc thông với thiện và vô kí - Vô lậu nghiệp chỉ thông với tính thiện. [X. phẩm Cửu nghiệp của luận Thành thực Q.8 - Đại thừa nghĩa chương Q.7].
Cửu Ngã Mật Vân
(久我密雲, Kuga Mitsuun): xem Cửu Ngã Hoàn Khê (久我環溪, Kuga Kankei, 1817-1884) bên trên.
cửu nhân nhứt quả
Chín của mười pháp giới là nhân, pháp giới thứ mười là quả—Nine of the ten dhatu or regions are causative, the tenth is the effect or resultant—See Phật giới in Vietnamese-English Section.
cửu nhũ phạm chung
(九乳梵鍾) Quả chuông lớn (hồng chung) trong các chùa, dóng lên khi hành lễ. Phạm biểu thị nghĩa thanh tịnh. Vì phần trên của chuông có chín cái núm giống như núm vú nổi lên ở chung quanh nên gọi là Cửu nhũ Phạm chung.
Cửu Như
(九如): từ dùng để chúc tụng, vốn phát xuất từ trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Thiên Bảo (天保): “Như sơn như phụ, như cương như lăng; như xuyên chi phương chí …, như nguyệt chi hằng, như nhật chi thăng, như Nam sơn chi thọ, bất khiên bất băng, như tùng bách chi mậu (如山如阜、如岡如陵、如川之方至、以莫不增…如月之恆、如日之升、如南山之壽、不騫不崩、如松柏之茂, như núi như gò, như đồi như đống, như dòng sông lại đến …, như trăng còn đó, như trời lên cao, như thọ bằng núi Nam, không tan không rã, như tùng bách tươi tốt).”
cửu nhập
Xem cửu khổng.
; See Cửu Khổng in Vietnamese-English Section.
cửu niên diện bích
(九年面壁) Chín năm xoay mặt vào vách. Tức là xoay mặt vào vách ngồi thiền suốt chín năm. Sự tích tổ Bồ đề đạt ma vị Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc. Niên hiệu Phổ thông năm đầu (520) đời Lương Vũ đế, ngài Bồ đề đạt ma vượt biển đến Kim lăng (nay là Nam kinh). Ngài đàm đạo với nhà vua không hợp nên qua sông đến Lạc dương, dừng lại ở chùa Thiếu lâm trên núi Tung sơn, ngồi xoay mặt vào vách suốt chín năm. [X. Thần hội truyện Q.4].
cửu não
Chín sự phiền não hay chín tai nạn mà Đức Phật đã gặp phải khi Ngài còn tại thế—Nine distresses borne by the Buddha while he was still alive: 1) Ngài bị nàng Tôn Đà Lợi phỉ báng thậm tệ: He was badly slandered by Sundara. 2) Nàng Chiên Già cố làm nhục Ngài bằng cách giả bụng chửa rồi vu cáo: Canca tried to dishonor him by pretending to pregnant and falsely accusing him. 3) Đề Bà Đạt Đa, người em họ của Ngài, đã âm mưu ám sát Ngài bằng cách lăn đá xuống đồi khi Ngài đi ngang qua khu núi: Devadatta, his cousin, plotted to assassinate him by rolling stones down hill when he passed by the creek. 4) Bị mũi tên tự dưng lao tới đâm vào chân: Pierced by an arrow accidentally. 5) Bị Lưu Li Vương Thái tử con vua Ba Tư Nặc đem quân đến giết hết những người trong dòng họ Thích Ca: Son of King Prasenajit killed all people in the Sakya tribe. 6) Vì lòng từ bi, Ngài nhận lời thỉnh cầu đến nhà một người Bà La Môn để nhận cúng dường, nhưng khi đến người ấy không cúng. Phật và Tăng đoàn của Ngài phải ăn lúa ngựa của một người chăn ngựa đem cho: Due to his compassion, the Buddha accepted an invitation from a Brahman; however, when the Buddha and his order arrived, the Brahman refused to serve them. As a result, the Buddha and his order had to accept offering from the stable-keeper. 7) Bị gió lạnh thổi làm đau lưng: Cold wind to cause back pain. 8) Sáu năm khổ hạnh: Sixty-four years of ascetics. 9) Vào xóm Bà La Môn khất thực trong ba ngày liền, không ai cúng dường, phải mang bát không về: Entering the village for alms for three consecutive days without receiving any food (returning with empty bowl).
; (九惱) Cũng gọi Phật cửu não, Cửu ách, Cửu hoạnh, Cửu nạn, Cửu tội báo. Là chín tai nạn mà đức Phật sau khi thành đạo đã phải chịu vì nghiệp chướng ở đời quá khứ còn rớt lại (hoa báo). Đó là: 1. Trong đời trước, đức Phật là con một người Bà la môn tên là Hỏa man chơi thân với con của người thợ gốm tên là Hộ hỉ. Hộ hỉ nhiều lần rủ Hỏa man đến bái kiến đức Phật Ca ciếp, nhưng Hỏa man ba lần từ chối nói: Gặp ông trọc đầu ấy làm gì, do nhân này mà Phật phải chịu quả báo sáu năm khổ hạnh. 2. Đời trước Phật là một lãng nhân ăn chơi, từng dụ dỗ một dâm nữ tên là Lộc tướng đến khu vườn nơi mà vị Phật Bích Chi tu đạo hàng ngày để hành lạc, xong rồi giết nàng Lộc tướng mà gieo vạ cho Phật Bích Chi, cho nên đời này Phật phải chịu quả báo bị vu oan đã giết nàng Tôn đà lợi. 3. Trong kiếp quá khứ, Phật là nhà buôn, vì tranh giành thuyền mà đánh nhau, Phật dùng dáo đâm thủng chân một lái buôn làm ông ta chết, do nhân duyên ấy mà nay khi Phật đi khất thực Phật phải chịu quả báo bị cọc gỗ nhọn đâm thấu bàn chân. 4. Đời trước Phật là Bà la môn, từng ghen ghét với đức Phật Tỉ bà diệp và các vị tỉ khưu được vua Bàn đầu cúng dường mà thốt ra những lời thô bỉ xấu xa, rồi sai 500 đứa bé chửi mắng và bảo nên đem lúa mạch dành cho ngựa ăn mà cho Phật Tỉ bà và các vị tỉ khưu. Do nhân duyên ấy mà Phật và 500 vị A la hán khi ở ấp Tì lan phải chịu quả báo ăn lúa mạch dành cho ngựa suốt 90 ngày. 5. Trong kiếp quá khứ, giòng họ Thích ca bắt cá trong ao để giết ăn, lúc đó Phật là một cậu bé từng dùng gậy đập đầu cá, nên nay giòng họ Thích chịu quả báo bị vua Lưu li giết hại và lúc đó đức Phật đau đầu. 6. Có lần Phật vào xóm Bà la môn khất thực không ai cúng dường. 7. Kiếp trước Phật là tỉ khưu vì ghen với tỉ khưu Vô thắng được một phụ nữ tên là Thiện huyễn cúng dường nên vu khống Vô thắng thông dâm với Thiện huyễn. Do nhân duyên ấy nên nay, khi đang nói pháp, Phật chịu quả báo bị nàng Chiên đồ độn bát trong bụng để vu oan đã có mang với Phật. 8. Trong đời quá khứ Phật là Tu ma đề, vì không muốn chia tài sản cho người em trai cùng cha khác mẹ nên đẩy người em từ trên sườn núi rơi xuống rồi ném đá giết chết, vì nhân duyên ấy nên nay Phật chịu quả báo bị Đề bà đạt đa lăn đá từ trên núi xuống đè Phật khiến Phật bị thương. 9. Lúc đức Phật ở trong rừng A la bà già bị giá rét suốt tám đêm ngày, phải đắp cả ba tấm áo để chống lạnh. [X. luận Đại trí độ Q.9 - Đại minh tam tạng pháp số Q.33].
cửu nạn
Nine difficulties—Nine distresses—See Cửu Não in Vietnamese-English Section.
cửu phong chân tînh
Chiu feng Chen ching (C)Tên một vị sư.
cửu phong phổ mãn
Chiu pheng Pu man (C)Tên một vị sư.
Cửu Phong Ðạo Kiền
九峰道虔; C: jiǔfēng dàoqián, J: kyūhō dōken; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ đắc pháp của Thạch Sương Khánh Chư và là thầy của Thiền sư Hoà Sơn Vô Ân.|Sư sinh ra trong một gia đình nhà Nho, sớm đã mộ đạo. Nơi Thạch Sương, Sư đạt yếu chỉ Thiền. Mức độ Sư thông đạt huyền chỉ của Thạch Sương thế nào được trình bày rõ trong câu chuyện sau:|Sư là thị giả của Thạch Sương. Khi Thạch Sương quy tịch, chúng tăng quyết định chọn vị Thủ toạ kế thừa trụ trì. Sư không đồng ý, đứng lên nói: »Trước hết chúng ta cần phải biết Thủ toạ có thật sự hiểu được ý của tiên sư không.« Vị Thủ toạ hỏi: »Ông muốn hỏi gì về giáo lí của thầy?« Sư liền hỏi: »Thầy bảo: ›Quên tất cả, đừng động gì, cố ngơi nghỉ hoàn toàn! Cố vượt qua mười ngàn năm trong một niệm! Cố trở thành tro lạnh và cây khô! Cố ở gần lư hương trong ngôi cổ tự! Cố trở nên một dải lụa trắng.‹ Tôi chẳng hỏi ông về phần đầu của lời dạy này mà chỉ hỏi về câu cuối ›Cố trở nên một dải lụa trắng‹, thế có nghĩa lí gì?« Thủ toạ đáp: »Ðó chỉ là một câu giải thích về vấn đề Nhất tướng.« Sư bèn nói: »Tôi biết ông không hề hiểu giáo lí của thầy.« Thủ toạ hỏi: »Ông không chấp nhận kiến giải nào của tôi? Bây giờ hãy đốt một nén hương. Nếu tôi không thể chết trước khi hương cháy hết thì tôi chấp nhận là không hiểu ý tiên sư nói gì.« Chúng bèn thắp hương và vị Thủ toạ ngồi thẳng như một cây gậy. Trước khi hương cháy hết, Thủ toạ đã mất. Sư bèn vỗ lưng tử thi, bảo: »Ông muốn ngồi hay đứng mà hoá cũng được, chỉ có ý nghĩa của những lời dạy của thầy ông vẫn chưa hiểu chút nào!« (Như Hạnh dịch).|Sau sự việc này, Sư đến núi Cửu Phong trụ trì. Không biết Sư tịch năm nào.
cửu phong đạo kiền
KyŪhō Doken (J)Tên một vị sư.
cửu phong đầu vĩ
(九峰頭尾) Cửu phong đầu đuôi. Tên công án trong Thiền tông. Tăng hỏi Cửu phong (Đại 48, 268 thượng): - Thế nào là đầu? Phong bảo: Mở mắt mà chẳng thấy. - Thế nào là đuôi? - Chẳng ngồi giường muôn năm. - Khi có đầu không đuôi thì thế nào? - Rốt cuộc chẳng quí. - Lúc có đuôi không đầu thì thế nào? - Tuy no mà vô lực. - Ngay lúc đầu đuôi tương xứng thì thế nào?- Con cháu đắc lực trong nhà chẳng biết.Cửu phong tức là Thiền sư Đạo kiền, đệ tử nối pháp của ngài Khánh chư ở núi Thạch sương. Trong cơ duyên vấn đáp trên đây, ngài Cửu phong mượn chuyện vị tăng hỏi về đầu đuôi để chỉ bảy cảnh giới chân thực mà người tu đạo đạt được. Đầu, hàm ý là chứng thấy hết thảy pháp rốt ráo rỗng lặng. Đuôi, hàm ý sau khi chứng thấy các pháp là không, nhưng không trụ nơi không mà hòa mình vào giữa thế gian sum la muôn tượng để thể hiện cái diệu dụng tự tại, giữa cảnh thế gian mà không bị dính mắc. Nếu có đầu không đuôi thì không phải quí - trái lại, nếu có đuôi mà không đầu thì không có sức mạnh. Đầu đuôi tương xứng mới đầy đủ ý nghĩa. [X. Thung dung lục tắc 66].
cửu phương tiện
Chín giai đoạn thích hợp trong phục vụ tôn giáo—The nine suitable stages in religious services: 1) Tác Lễ: Salutation to the universal Triratna. 2) Xuất Tội: Repentance and confession. 3) Qui Y: Trust in Triratna. 4) Thí Thân: Giving of self to the Tathagata. 5) Phát Bồ Đề Tâm: Vowing to devote the mind to bodhi. 6) Tùy Hỷ: Rejoicing in all good. 7) Cần Giảng: Beseeching all Tathagatas to rain down the saving law. 8) Cầu Vãng Sanh: Praying for the Buddha-nature in self and others for entry in the Pure Land. 9) Hồi Hướng Công Đức: Demitting the good produced by the above eight methods., to others, universally, past, present and future.
; (九方便) Chín phương tiện. Là chín bài kệ tụng được đọc khi tu pháp Thai tạng giới của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 7 nói, phương tiện diệt mê có chín loại là: 1. Tác lễ phương tiện: lễ kính Tam bảo. 2. Xuất tội phương tiện: sám hối tội chướng. 3. Qui y phương tiện: hướng về Tam bảo tin tưởng và nương nhờ. 4. Thí thân phương tiện: hiến thân trọn đời tu theo giáo pháp Như lai. 5. Phát bồ đề tâm phương tiện: phát nguyện đạt đến mục đích chân thật là thành Phật. 6. Tùy hỉ phương tiện: vui theo việc làm thiện của người khác. 7. Khuyến thỉnh phương tiện: cầu xin đức Như lai truyền rộng giáo pháp. 8. Phụng thỉnh pháp thân phương tiện: mong cầu Như lai nói pháp khiến mình chứng được chân lí. 9. Hồi hướng phương tiện: đem những công đức ở trên hồi hướng cho khắp tất cả chúng sinh, nguyện mình và người cùng chứng bồ đề. Số 9 biểu thị 9 thức nhân vị, 9 tôn vị của Thai tạng giới. Đây là nói theo Ngũ hối của pháp Kim cương giới.
cửu phương tiện thập ba la mật bồ tát
Chín giai đoạn thích hợp làm phương tiện hoằng pháp của Thập Ba La Mật Bồ Tát—The nine suitable stages in religious services of the ten paramita Bodhisattvas—See Thập Ba La Mật (A), except the last paramita, in Vietnamese-English Section.
; (九方便十波羅蜜菩薩) Chín loại phương tiện lần lượt được phối với mười Ba la mật bồ tát. Chín phương tiện là chín bài kệ tụng cùng với ấn khế chân ngôn được tụng trong khi tu pháp Thai tạng giới, gồm: Tác lễ phương tiện, Xuất tội phương tiện, Qui y phương tiện, Thí thân phương tiện, Phát bồ đề tâm phương tiện, Tùy hỉ phương tiện, khuyến thỉnh phương tiện, Phụng thỉnh pháp thân phương tiện, Hồi hướng phương tiện v.v... Mười vị Ba la mật bồ tát: Đàn ba la mật bồ tát, Giới ba la mật bồ tát, Nhẫn nhục ba la mật bồ tát, Tinh tiến ba la mật bồ tát, Thiền ba la mật bồ tát, Bát nhã ba la mật bồ tát, Phương tiện ba la mật bồ tát, Nguyện ba la mật bồ tát, Lực ba la mật bồ tát, Trí ba la mật bồ tát v.v... Mười Bồ tát trên được an vị trong viện Hư không tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới, trong đó, Trí ba la mật thông với bốn phương tiện từ Tùy hỉ trở xuống. [X. luận Thành duy thức Q.9 - Đại nhật kinh sớ Q.thượng].
cửu phược nhất thoát
(九縛一脫) Chín loại trói buộc và một loại giải thoát. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên nói về mười loại chúng sinh phát tâm không giống nhau. Đó là: 1. Hỏa đồ đạo (địa ngục). 2. Huyết đồ đạo (ngã quỉ). 3. Đao đồ đạo (súc sinh). 4. A tu la đạo (loài có phúc báo ngang với trời nhưng không phải trời). 5. Nhân đạo (loài người). 6. Thiên đạo (các cõi trời). 7. Ma la đạo (loài ma ác). 8. Ni kiền đạo (ngoại đạo). 9. Sắc vô sắc đạo (Sắc giới và Vô sắc giới).10. Nhị thừa đạo (Thanh văn, Duyên giác). Trong mười đạo nói trên, chín đạo trước là trói buộc, đạo thứ mười là giải thoát. Giải thoát và trói buộc tuy khác, nhưng đều là phát tâm không chân chính. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 4 trung) nói: Chín loại trước là sinh tử như tằm tự trói. Một loại sau là Niết bàn, như con mang (giống như con hươu mà nhỏ, không có sừng - ND) đi một mình, tuy được giải thoát, nhưng chưa đầy đủ Phật pháp. Chín loại trước là thế gian, không ra khỏi sống chết, một loại sau tuy giải thoát sinh tử, nhưng không có tâm đại bi, nên chưa đến được chỗ rốt ráo.
cửu phược nhứt thoát
Chín trạng thái trói buộc và một trạng thái giải thoát—The nine states of bondage and the one state of liberation: (A) Chín trạng thái trói buộc—The nine states of bondage: 1) Hỏa Đồ: Hell of fire. 2) Huyết Đồ: Hell of blood. 3) Đao Đồ: Hell of sword. 4) A-Tu-La: Asuras. 5) Nhân: Men. 6) Thiên: Devas. 7) Ma: Maras. 8) Ni Kiền Đà (ngoại đạo): Nirgranthas. 9) Sắc và Vô Sắc: Form and formless states. (B) Một trạng thái giải thoát—The one state of liberation: 1) Niết Bàn: Freedom of Nirvana.
cửu phạm
Chín cõi trời thuộc Tứ Thiền Thiên—The nine heavens of the fourth dhyana heaven (see Tứ Thiền Thiên): 1) Vô Vân: Cloudless Heaven. 2) Phúc Sinh: Producing Blessing Rewards. 3) Quảng Quả: Broad Phala, the 12th Brahmaloka, great fruit or abundant merits. 4) Vô Tưởng: Asamjni-sattvah (skt)—Absence of thinking, or the Heaven above Thought. 5) Vô Phiền: Free from trouble, the 13th Brahmaloka, the 5th region of the fourth Dhyana (see Tứ Thiền Thiên). 6) Vô Nhiệt: Anavatapta (skt)—The Heaven without heat or affliction. 7) Thiện Hiện: Sudrsd (skt)—The 7th Brahmaloka, 8th of the Dhyana Heavens. 8) Thiện Kiến: Sudarsana (skt)—Good to see Heaven. 9) Sắc Cứu Cánh: Akanistha (skt)—The highest of the material heavens—See Sắc Giới, and Thiên.
; (九梵) Chín cõi trời thuộc Tứ thiền, tức là: Vô vân, Phúc sinh, Quảng quả, Vô tưởng, Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu kính. [X. Nhân vương kinh Thiên thai sớ Q.thượng].
Cửu Phẩm
(九品): 9 loại đẳng cấp, gồm thượng thượng, thượng trung, thượng hạ; trung thượng, trung trung, trung hạ; hạ thượng, hạ trung và hạ hạ. Thông thường có các dụng ngữ như Cửu Phẩm Vãng Sanh (九品徃生), Cửu Phẩm Tịnh Độ (九品淨土), v.v. Như trong bài thơ Hoài Tịnh Độ (懷淨土) của Quốc Sư Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323) nhà Minh có câu: “Yếu tương uế độ tam thiên giới, tận chủng Tây Thiên Cửu Phẩm liên (要將穢土三千界、盡種西天九品蓮, nguyện đem chốn bẩn ba ngàn cõi, trồng hết Tây Thiên Chín Phẩm sen).” Hay trong bài văn phát nguyện được dùng trong thời khóa công phu hằng ngày tại các tự viện Phật Giáo có câu: “Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung, Cửu Phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, Bất Thối Bồ Tát vi bạn lữ (願生西方淨土中、九品蓮花爲父母、花開見佛悟無生、不退菩薩爲伴侶, nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trong, chín phẩm hoa sen là cha mẹ, hoa nở thấy Phật biết vô sanh, Bồ Tát Bất Thối là bạn đạo).”
Cửu phẩm
九品; C: jiǔpǐn; J: kuhon;|Chín loại, chín bậc. Kinh điển Phật giáo thường định rõ các phạm trù như phiền não, vãng sinh, năng lực của chúng sinh thành chín bậc, gồm ba bậc thuộc thượng hạng, ba thuộc hạng trung và ba bậc thuộc hạng thấp (hạ), chung quy thành 9 bậc. |I. Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận và theo giáo lí Tịnh độ tông, chín phẩm là: 1. Thượng thượng; 2. Thượng trung; 3. Thượng hạ; 4. Trung thượng; 5. Trung trung; 6. Trung hạ; 7. Hạ thượng; 8. Hạ trung; 9. Hạ hạ. |II. Chín loại phiền não. Cửu phẩm hoặc.
cửu phẩm
Nine grades of rebirth—See Cửu Phẩm Liên Hoa.
; (九品) Chín bậc. Cũng gọi Tam tam chi phẩm. Tức là chín bậc: Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ - Trung thượng, trung trung, trung hạ - Hạ thượng, hạ trung, hạ hạ. Những từ ngữ thường dùng là: Cửu phẩm vãng sinh, Cửu phẩm Tịnh độ, Cửu phẩm đại y, Cửu phẩm hoặc.
cửu phẩm (thượng) y
Trong Tăng Già Lê, có chín loại áo khác nhau—The sanghati, there are nine grades of the monk's patched robe. 1) Ba loại Thượng Tăng Già Lê (cao nhất)—Three superior: • Áo hai mươi mốt mảnh: Twenty-one patched robe. • Áo hai mươi ba mảnh: Twenty-three patched robe. • Áo hai mươi lăm mảnh: Twenty-five patched robe. 2) Ba loại Trung Tăng Già Lê—Three middle: • Áo mười lăm mảnh: Fifteen patched robe. • Áo mười bảy mảnh: Seventeen patched robe. • Áo mười chín mảnh: Nineteen patched robe. 3) Ba loại Hạ Tăng Già Lê—Three lowest ranks: • Áo chín mảnh: Nine patched robe. • Áo mười một mảnh: Eleven patched robe. • Áo mười ba mảnh: Thirteen patched robe.
cửu phẩm an dưỡng
Chín phẩm Tịnh Độ, tương ứng với chín sự phát triển trong tiền kiếp, khoảng cách với Đức A Di Đà trong kiếp tương lai sẽ tùy thuộc vào đó mà hoa sen nở sớm hay muộn—The nine grades or rewards of the Pure Land, corresponding to the nine grades of development in the previous life, upon which depends, in the next life, one's distance from Amitabha, the consequent aeons that are needed to approach him, and whether one's lotus will open early or late.
cửu phẩm an dưỡng chi hoá sinh
(九品安養之化生) An dưỡng là tên khác của Cực lạc. Những người được sinh về cõi Tịnh độ cực lạc gồm hai loại: Thai sinh và Hóa sinh. Những người nghi ngờ bản nguyện tha lực của đức Phật A di đà mà tự mình niệm Phật cầu vãng sinh thì được sinh trong cung điện nơi biên địa cõi Tịnh độ, hoặc sinh trong hoa sen nhưng hoa không nở, khoảng 500 năm không được thấy nghe Tam bảo, giống như người thai sinh ở trong bụng mẹ không được thấy mặt trời mặt trăng, cho nên gọi là Thai sinh. Còn những người tin nơi trí của Phật thì tùy theo hành nghiệp của chín bậc đều hóa sinh ở trong hoa sen, đầy đủ thân tướng quang minh, cho nên gọi là Hóa sinh. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
cửu phẩm an dưỡng hóa sanh
Những chúng sanh hóa sanh từ hoa sen vào cửu phẩm An Dưỡng địa—Those born by transformation from the heavenly lotus into the ninefold Paradise.
cửu phẩm di đà
Chín hình thức của Di Đà Tịnh Độ, tương ứng với chín phẩm trong cõi nước Tịnh Độ—The nine forms of Amitabha, corresponding to the nine departments of the Pure Land. ** For more information, please see Cửu Phẩm Liên Hoa in Vietnamese-English Section.
; (九品彌陀) Chín loại hình tượng của Phật A di đà. Do căn cơ và chủng loại bất đồng mà những người được sinh về Tịnh độ cực lạc có chín bậc khác nhau và Phật đến đón cũng có chín bậc, đời sau đặc biệt dùng ấn khế để phân biệt tướng của chín bậc. Vì Phật thể có chín loại nên cũng gọi Cửu thể A di đà. Trong các tranh vẽ cũ, tay đức Phật A di đà đến đón đều kết ấn An úy nhiếp thủ phù hợp với câu văn thụ thủ nghinh tiếp (trao tay đón tiếp) trong kinh. Trong các bức tranh mới thì ba bậc Thượng thượng, Thượng trung, Hạ thượng đức Phật kết ấn Chuyển pháp luân, hai bậc Thượng hạ, Trung thượng thì kết ấn An úy nhiếp thủ. Thuyết này bắt nguồn từ kinh Quán vô lượng thọ, cho rằng những người cửu phẩm vãng sinh cảm được tướng Phật A di đà đến đón có khác nhau. Do đó, đời sau mới nói ấn khế có chín bậc sai biệt. Ở Trung quốc, thuyết trên đã xuất hiện vào thời Tùy, Đường, như trong Nguyện vãng sinh lễ tán kệ, ngài Ngạn tông đời Tùy đã trình bày Ấn khế tùy theo các bậc mà có khác. Thời Đường Vũ tông, vị tăng người Nhật tên là Huệ vận đã đem A di đà cửu phẩm mạn đồ la từ Trung quốc về Nhật bản để truyền bá.
cửu phẩm giác vương
Vua Bồ Đề nơi cõi Tịnh Độ—The king or lord of the bodhi of the Pure Land—Amitabha.
; (九品覺王) Giác vương tức là đức Phật A di đà. Cửu phẩm là chín thứ bậc của thế giới Tịnh độ. Đức Phật A di đà là vị giáo chủ của thế giới Tịnh độ cho nên gọi là Cửu phẩm giác vương.
Cửu phẩm hoặc
九品惑; C: jiǔpǐnhuò; J: kuhonwaku;|Chín loại phiền não; còn gọi là Cửu phẩm phiền não (九品煩惱). Là sự phân loại các căn bản phiền não tham (貪), sân (瞋), mạn (慢) và vô minh (無明) thành thô và tế tùy theo chín bậc. Những loại nầy lại được chia ra, phối hợp với 9 cõi trong tam giới (三界) lập thành tất cả 81 loại. (Theo Câu-xá luận 倶舎論)
cửu phẩm hoặc
(九品惑) Chín phẩm phiền não. Dựa vào sự thô to và nhỏ nhiệm mà chia bốn loại tu (tư) hoặc: tham, sân, mạn, vô minh làm ba bậc thượng, trung, hạ. Cũng gọi Cửu phẩm phiền não. Trong ba cõi có chín địa: cõi Dục, bốn Thiền, bốn Vô sắc. Trong chín địa thì cõi Dục có đủ bốn loại tu hoặc, còn bốn Thiền, bốn Vô sắc thì chỉ có ba, trừ sân. Ba hoặc ở mỗi địa lại chia làm thượng thượng cho đến hạ hạ thành là chín phẩm, cộng chung chín địa là 81 phẩm, gọi là 81 phẩm Tu hoặc, thông cả hữu lậu vô lậu - phàm phu cũng có thể đoạn được 72 phẩm của tám địa dưới. Bậc thánh ở giai vị tu đạo, nếu đoạn được sáu phẩm hoặc trước của cõi Dục thì chứng quả thứ hai, đoạn được chín phẩm của cõi Dục thì chứng quả thứ ba, dứt hết tất cả 72 phẩm của cõi Sắc và cõi Vô sắc thì chứng được quả thứ tư. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9 - luận Câu xá Q.23].
cửu phẩm hạnh nghiệp
Chín hạnh nghiệp đạt được qua tu tập, nhờ đó con người được vãng sanh Tịnh Độ—The nine karma to be attained by the conduct or practice through which one may be born into the Pure Land.
cửu phẩm liên hoa
Chín phẩm Liên Hoa—Nine Holy Grades of Lotus: A. HẠ PHẨM—Ba bậc thấp nhất trong vãng sanh Tịnh độ—The three lowest stages of the nine stages of birth in the Pure Land: 1) Hạ Phẩm Hạ Sanh: The lowest of the three lowest classes who enter the Pure Land of Amitabha. 2) Hạ Phẩm Trung Sanh: The middle of the three lowest classes (grades). 3) Hạ Phẩm Thượng Sanh: The highest of the three lowest classes (grades). B. TRUNG PHẨM—Ba bậc giữa của vãng sanh Tịnh độ—The three middle stages of the nine stages of birth in the Pure Land: 4) Trung Phẩm Hạ Sanh: The lowest of the three middle classes who enter the Pure Land of Amitabha. 5) Trung Phẩm Trung Sanh: The middle of the three middle classes. 6) Trung Phẩm Thượng Sanh: The highest of the three middle classes. D. THƯỢNG PHẨM—Ba bậc cao nhất của vãng sanh Tịnh độ—The three highest of the nine stages of birth in the Pure Land of Amitabha: 7) Thượng Phẩm Hạ Sanh: The lowest of the three highest classes who enter the Pure Land of Amitabha. 8) Thượng Phẩm Trung Sanh: The middle of the three highest classes. 9) Thượng Phẩm Thượng Sanh: The highest of the three highest classes.
cửu phẩm liên thai
(九品蓮台) Chín bậc đài sen. Đài sen của những người tu hành của Cửu phẩm vãng sinh. Gọi tắt: Cửu liên. Người tu niệm Phật cầu vãng sinh, lúc sắp chết, Thánh chúng đem đài sen đến đón, hành giả ngồi vào đài sen này, cánh hoa khép lại đưa về cõi Tịnh độ. Đến nơi hoa nở ra thì thân tướng đầy đủ. Vì phẩm vị của hành giả từ Thượng thượng đến Hạ hạ gồm chín bậc nên đài sen cũng có chín bậc. Kinh Vô lượng thọ đã nói rất rõ về chín phẩm đài sen, trong đó, chỉ trừ Trung phẩm hạ sinh bị bỏ bớt, còn từ Thượng phẩm thượng sinh đến Hạ phẩm hạ sinh theo thứ tự là: đài kim cương, đài tử kim, hoa sen vàng, đài hoa sen, hoa sen bảy báu, hoa sen báu, hoa sen và hoa sen vàng.
Cửu phẩm liên đài
九品蓮臺; C: jiǔpǐn liántái; J: kuhon ren-dai;|Chín phẩm mà hành giả được vãng sinh ở Tịnh độ (淨土), trong 9 những toà sen được chia thành 9 bậc. Theo Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經), các bậc nầy được phân như sau: Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh, Thượng phẩm hạ sinh, Trung phẩm thượng sinh, Trung phẩm trung sinh, Trung phẩm hạ sinh, Hạ phẩm thượng sinh, Hạ phẩm trung sinh và Hạ phẩm hạ sinh.
cửu phẩm liên đài
See Cửu Phẩm An Dưỡng and Cửu Phẩm Liên Hoa in Vietnamese-English Section.
cửu phẩm nhuận sinh
(九品潤生) Chín phẩm nhuận sinh. Chỉ cái tác dụng thấm nhuần bảy đời khi dứt trừ chín phẩm tu hoặc ở cõi Dục. Nhuận sinh có nghĩa là phiền não vun tưới cho nghiệp nhân để sinh ra quả của vị lai. Đại thừa nghĩa chương quyển 5 chia nhuận sinh làm hai thứ: Chung và riêng. Nói chung thì: ba phẩm trước vun tưới bốn đời, ba phẩm giữa vun tưới hai đời, ba phẩm chót vun tưới một đời. Còn nói riêng thì phẩm Thượng thượng vun tưới hai đời, phẩm Thượng trung và phẩm Thượng hạ mỗi phẩm vun tưới một đời. Phẩm Trung thượng vun tưới một đời, phẩm Trung trung vun tưới nửa đời, phẩm Trung hạ vun tưới nửa đời (cộng chung lại là một đời). Phẩm Hạ thượng vun tưới nửa đời, phẩm Hạ trung và Hạ hạ vun tưới có nửa đời. Chín phẩm nhuận sinh (vun tưới) bảy đời được đồ biểu như sau: Thượng thượng.......... 2 đời. Thượng trung.......... 1 đời. 4 đời Thượng hạ.......... 1 đời. Trung thượng.......... 1 đời. Trung trung.......... 1/2 đời 2 đời Trung hạ.......... 1/2 đời. Hạ thượng.......... 1/2 đời Hạ trung.......... 1/2 đời 1 đời Hạ hạ.......... Nhìn vào bản đồ biểu trên, ta thấy tùy theo sự đoạn hoặc mà sức nhuận sinh giảm dần: nếu người đoạn được sáu phẩm trước thì chứng quả Nhất lai (quả thứ hai), người đoạn được tất cả chín phẩm thì chứng quả Bất hoàn (quả thứ ba). Phiền não câu sinh tương ứng với thức thứ sáu, từ vô thủy nó đã nhuận sinh trong thân hữu tình (phàm phu) cho đến vô cùng. Nhưng, đối với người tu hành đã vào Thánh vị, thân ngài đã thành tựu Thánh đạo vô lậu, phiền não câu sinh bị Thánh đạo áp phục nên chỉ sinh lại bảy lần ở cõi Dục. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 - Câu xá luận quang kí Q.8]. (xt. Cửu Phẩm Hoặc).
cửu phẩm niệm phật
(九品念佛) Niệm Phật được chia làm chín bậc: Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ, Trung thượng, Trung trung, Trung hạ, Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ. Sự chia bậc này dựa theo công phu quán tưởng sâu hay nông, niệm Phật nhiều hay ít. Quán tưởng sâu hay nông đã được trình bày trong Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên tín người Nhật bản, còn niệm Phật nhiều hay ít thì ngài Thiện đạo đã nói rõ trong Quán niệm pháp môn.Vãng sinh yếu tập quyển hạ (Đại 84, 82 hạ) nói: Trong chín bậc, hạnh niệm Phật thuộc bậc nào? Đáp: Nếu như nói hạnh, thì lí đáng thượng thượng, như vậy tùy sự hơn kém mà chia làm chín bậc. Nhưng theo kinh nói chín bậc là chỉ nói rõ về hạnh nghiệp, chứ lí thực thì vô cùng. Quán niệm pháp môn (Đại 47, 23 trung) nói: Mỗi ngày niệm Phật một vạn câu, cũng phải y theo thời khóa lễ tán cõi Tịnh độ trang nghiêm, phải hết sức tinh tiến, hoặc được ba vạn, sáu vạn, mười vạn đều là người sinh bậc Thượng thượng.
Cửu phẩm phiền não
九品煩惱; C: jiǔpǐn fánnăo; J: kuhon bon-nō;|Cửu phẩm hoặc.
cửu phẩm thượng
Ba bậc cao nhất của vãng sanh về Tịnh Độ của Phật A Di Đà—The three highest of the nine stages of birth in the Pure Land of Amitabha—See Cửu Phẩm Liên Hoa D in Vietnamese-English Section.
cửu phẩm thượng sanh
See Cửu Phẩm Liên Hoa D in Vietnamese-English Section.
cửu phẩm tịnh độ
The nine grades (classes) of the Pure Land—See Cửu Phẩm Liên Hoa and Cửu Phẩm An Dưỡng in Vietnamese-English Section.
; (九品淨土) Cũng gọi Cửu phẩm tịnh sát, Cửu phẩm an dưỡng. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ nói, thì những người cầu nguyện vãng sinh, tùy theo căn cơ và hạnh nghiệp hơn kém mà chia làm chín bậc, do đó, cõi Tịnh độ cực lạc cũng được chia làm chín bậc khác nhau. Ngoài ra, Mật giáo cũng có thuyết chín phẩm riêng là: Thượng phẩm thượng sinh: Chân sắc địa.Thượng phẩm trung sinh: Vô cấu địa. Thượng phẩm hạ sinh: Li cấu địa. Trung phẩm thượng sinh: Thiện giác địa.Trung phẩm trung sinh: Minh lực địa. Trung phẩm hạ sinh: Vô lậu địa. Hạ phẩm thượng sinh: Chân giác địa. Hạ phẩm trung sinh: Hiền giác địa. Hạ phẩm hạ sinh: Lạc môn địa. Chín phẩm trên đây được gọi là Cửu phẩm tịnh thức chân như cảnh. [X. kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.3 - kinh A di đà Q.hạ - kinh Cửu phẩm vãng sinh a di đà tam ma địa tập đà la ni].
cửu phẩm vãng sanh
Vãng sanh về cửu phẩm Liên Hoa Tịnh Độ—The ninefold future life in the Pure Land—See Cửu Phẩm Liên Hoa and Cửu Phẩm An Dưỡng in Vietnamese-English Section.
cửu phẩm vãng sinh
Nine classes or grades of rebirth in the Pure-land.
; (九品往生) Cũng gọi Tam bối sinh tưởng, Nhất cửu chi sinh. Những người thuộc ba căn thượng, trung, hạ tu tập pháp môn Tịnh độ đều được vãng sinh, căn cứ theo ba căn này mà chia làm chín bậc gọi là Cửu phẩm vãng sinh. 1. Thượng phẩm thượng sinh: Trước hết, hành giả phát ba tâm là tâm chí thánh, tâm sâu xa, tâm hồi hướng phát nguyện. Kế đến, tu ba nghiệp là lòng thương không giết hại, đầy đủ các giới luật, đọc tụng kinh điển Đài thừa, tu hành sáu niệm. Hành giả tu như vậy tinh tiến dũng mãnh, lúc hấp hối được đức Phật A di đà phóng hào quang chiếu trên thân hành giả, rồi bồ tát Quan thế âm tay cầm đài Kim cương và bồ tát Đại thế chí đến đón. 2. Thượng phẩm trung sinh: Hành giả này cũng phát ba tâm, hiểu rõ Đệ nhất nghĩa đế, tin sâu nhân quả, nhưng không thể thụ trì đọc tụng và tu hành pháp Đại thừa. Khi hành giả hấp hối, đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm, Đại thế chí và vô lượng đại chúng tay cầm đài tử kim đến đón. 3. Thượng phẩm hạ sinh: Hành giả này cũng phát ba tâm, nhưng chỉ tin nhân quả, không thụ trì đọc tụng và hiểu nghĩa của pháp Đại thừa. Khi người này sắp chết, đức Phật A di đà, các bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí và các quyến thuộc tay cầm hoa sen vàng, hóa làm năm trăm hóa Phật đến đón. 4. Trung phẩm thượng sinh: Hành giả này nhận giữ năm giới, tám giới trai, không tạo năm tội nghịch, không làm các điều ác. Khi họ lâm chung, đức Phật A di đà và các tỉ khưu vây chung quanh, phóng hào quang màu vàng đến chỗ hành giả. Hành giả trông thấy tâm rất vui mừng vì thấy mình đang ngồi trên đài hoa sen. 5. Trung phẩm trung sinh: Hành giả này nhận lãnh tám giới quan trai, hoặc giới sa di, giới tỉ khưu, trong một ngày một đêm giữ gìn trọn vẹn, uy nghi đầy đủ. Người này khi hấp hối, thấy đức Phật A di đà và các quyến thuộc phóng ánh sáng vàng, tay cầm hoa sen bảy báu đi đến trước hành giả. 6. Trung phẩm hạ sinh: Nếu những người thiện nam tín nữ hiếu dưỡng cha mẹ, làm việc nhân nghĩa, đến khi hấp hối, gặp thiện tri thức nói cho biết những sự yên vui ở cõi nước của đức Phật A di đà và 48 nguyện của tỉ khưu Pháp tạng, rồi dốc lòng tin ưa thì liền được vãng sinh. 7. Hạ phẩm thượng sinh: Nếu có chúng tạo trong nghìn kiếp. Sau, thiện tri thức lại dạy họ chắp tay xưng danh hiệu Nam mô A di đà Phật liền trừ được tội nặng sinh tử trong 50 ức kiếp. Bấy giờ đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm, bồ tát Đại thế chí hóa hiện đến đón tiếp. 8. Hạ phẩm trung sinh: Nếu có chúng sinh hủy phạm năm giới, tám giới và 250 giới mình đã nhận giữ, ăn cắp tài vật của thường trụ và của tăng hiện tiền, nói pháp bất tịnh mà không hổ thẹn, làm đủ các pháp bất thiện. Những hạng người tội lỗi này, lúc hấp hối gần chết, thấy lửa của các địa ngục cùng lúc ập đến. May gặp được thiện tri thức cứu giúp bằng cách khen ngợi uy đức mười lực của Phật A di đà liền trừ được tội nặng sinh tử trong 80 ức kiếp, lửa mạnh địa ngục hóa làm gió mát thổi các hoa trời, trên hoa đều có hóa Phật và Bồ tát tiếp đón. 9. Hạ phẩm hạ sinh: Nếu có chúng sinh tạo năm nghịch, mười ác, làm đủ các việc bất thiện. Người này lúc sắp chết, may gặp thiện tri thức, dùng lời an ủi, nói pháp mầu cho nghe, rồi bảo họ niệm Phật. Người này chí tâm chí thành niệm: Nam mô A di đà Phật đủ mười câu, liền trừ được tội nặng sinh tử trong 80 ức kiếp và thấy hoa sen vàng to bằng bánh xe ở ngay trước mặt. Theo ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh, thì chín phẩm vãng sinh kể trên là chín phép quán tưởng của người cầu sinh Tịnh độ, còn ngài Thiện đạo thì cho là phương pháp thực tiễn của người cầu sinh Tịnh độ. Cả hai vị đều cho chín phẩm này thuộc phàm phu. Ngài Tịnh ảnh cho rằng: - Bồ tát từ Tứ địa đến Lục địa là Thượng phẩm thượng sinh. - Bồ tát Sơ địa, Nhị địa, Tam địa là Thượng phẩm trung sinh. - Bồ tát thuộc chủng tính trở lên là Thượng phẩm hạ sinh. Hạ Phẩm Thượng Sinh Hạ Phẩm Trung Sinh Hạ Phẩm Hạ Sinh sinh tạo các nghiệp ác, phỉ báng kinh điển Đại thừa mà lòng không hổ thẹn. Người này lúc sắp chết gặp được thiện tri thức giúp đỡ, tuyên đọc tên hiệu các kinh Đại thừa và tán thán công đức của kinh, nhờ đó mà trừ được các nghiệp ác cực nặng đã - Các bậc thánh của ba quả trước thuộc Tiểu thừa là Trung phẩm thượng sinh. - Hai phàm (nội phàm và ngoại phàm) trước giai vị Kiến đạo là Trung phẩm trung sinh.- Phàm phu trước giai vị Kiến đạo là Trung phẩm hạ sinh. - Người mới học Đại thừa chưa được giai vị nào, cho nên căn cứ vào lỗi nặng nhẹ mà chia làm: Hạ phẩm thượng sinh, Hạ phẩm trung sinh, Hạ phẩm hạ sinh. Tông Thiên thai thì chủ trương: - Bồ tát thuộc Tập chủng tính (Thập trụ) trở lên là Thượng phẩm. - Ngoại phàm đến Thập tín là Trung phẩm. - Phàm phu là Hạ phẩm. Về giai vị của Cửu phẩm vãng sinh, giữa các sư còn có khá nhiều thuyết khác nhau. Bởi vì vãng sinh có chín loại khác nhau nên Tịnh độ cũng có chín bậc (Cửu phẩm Tịnh độ) đài sen đón tiếp người vãng sinh cũng có chín loại (Cửu phẩm liên đài), Phật A di đà đến tiếp đón cũng có chín bậc (Cửu phẩm Di đà), Ấn kết nơi tay cũng có chín loại (Cửu phẩm ấn) và phương pháp niệm Phật của người vãng sinh cũng có chín loại (Cửu phẩm niệm Phật). Ngài Thân loan của Nhật bản cho rằng chín phẩm Tịnh độ là Phương tiện hóa độ, tuy vậy, không khác gì với Chân thực báo độ của đức Phật A di đà.
cửu phẩm vãng sinh kinh
(九品往生經) Có 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 19. Gọi đủ là: Cửu phẩm vãng sinh a di đà tam ma địa tập đà la ni kinh. Cũng gọi Cửu phẩm vãng sinh a di đà kinh. Nội dung nói về Cửu phẩm tịnh thức tam ma địa trong cõi nước của Phật Vô lượng thọ và về danh hiệu tượng Phật trong 12 Đại mạn đồ la, đồng thời dạy phương pháp vãng sinh lên chín phẩm.
cửu phẩm vãng sinh xã
(九品往生社) Hội niệm Phật được thành lập tại Cối kê vào năm Khai thành thứ 5 (840) đời vua Văn tông nhà Đường. Cứ theo sách Bát quỳnh thất kim thạch bổ chính quyển 73 nơi văn bia do Xử nột soạn, thì vào tháng 5 năm Khai thành thứ 5, vua Văn tông băng hà, Vũ tông lên ngôi thi hành chính sách phá Phật. Bấy giờ chùa Vũ ở Cối kê thỉnh sa môn Nguyên anh giảng kinh Kim cương, đồng thời, triệu tập 1250 người thành lập hội Cửu phẩm vãng sinh do ngài Nguyên anh làm thủ tọa. Trong văn bia có ghi họ tên của chư tăng và cư sĩ từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ chín.
cửu phẩm đại y
See Cửu điều y in Vietnamese-English Section.
; (九品大衣) Đại y là áo Tăng già lê, có ba bậc thượng, trung, hạ, lại do số nẹp của mỗi bậc mà chia làm chín loại: Thượng tăng già lê có ba loại: loại Thượng thượng 25 nẹp, loại Thượng trung 23 nẹp, loại Thượng hạ 21 nẹp. Mỗi nẹp chia 5 ô, 4 dài 1 ngắn. Trung tăng già lê có ba loại: loại Trung thượng 19 nẹp, loại Trung trung 17 nẹp, loại Trung hạ 15 nẹp. Mỗi nẹp chia 4 ô, 3 dài 1 ngắn. Hạ tăng già lê có ba loại: loại Hạ thượng 13 nẹp, loại Hạ trung 11 nẹp và loại Hạ hạ 9 nẹp. Mỗi nẹp chia 3 ô, 2 dài, 1 ngắn. Trong chín loại áo trên đây, chỉ có ba loại: Thượng thượng phẩm 25 nẹp, loại Hạ thượng phẩm 13 nẹp và loại Hạ hạ phẩm 9 nẹp là thông dụng nhất. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4].
cửu phẩm ấn
(九品印) Chín loại ấn tướng từ thượng phẩm thượng sinh đến hạ phẩm hạ sinh. Cũng gọi A di đà cửu phẩm vãng sinh ấn, Vãng sinh cửu phẩm ấn, Tam tam phẩm ấn, Tam tam phẩm vãng sinh ấn. Ấn tướng này căn cứ theo nghiệp lực và sự tu hành của người tu niệm Phật mà chia làm chín bậc. Đây là dựa vào thuyết Cửu phẩm vãng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ. Chẳng hạn như vãng sanh thì có Cửu phẩm vãng sinh, Cực lạc thì có Cửu phẩm Tịnh độ, Cửu phẩm niệm Phật, cho nên Phật A di đà cũng có Cửu phẩm A di đà khác nhau, và sự biểu hiện cụ thể những bậc ấy là ấn Cửu phẩm. Về ấn tướng của ấn Cửu phẩm có nhiều thuyết. Ấn tướng Thượng phẩm là hai tay chồng lên nhau đặt bên cạnh đan điền (duỗi ba ngón, tay phải để ở dưới tay trái). Ấn này thấy thường hơn. Ấn tướng Trung phẩm là hai tay đặt ở ngang ngực, bàn tay hướng ra ngoài đều nhau. Ấn tướng Hạ phẩm thì bàn tay hướng ra ngoài, tay phải hướng lên, tay trái hướng xuống. Ấn tướng Thượng sinh là ngón cái, đầu ngón trỏ co và hợp lại. Ấn tướng Trung sinh là ngón cái, đầu ngón giữa co và hợp lại. Ấn tướng Hạ sinh là ngón cái, đầu ngón áp út co và hợp lại. Như vậy, ấn tướng của mỗi phẩm mỗi sinh kết hợp lại thì thành ấn Cửu phẩm: Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh, Thượng phẩm hạ sinh, Trung phẩm thượng sinh, Trung phẩm trung sinh, Trung phẩm hạ sinh, Hạ phẩm thượng sinh, Hạ phẩm trung sinh, Hạ phẩm hạ sinh. Trong đó, ấn Thượng phẩm thượng sinh gọi là Diệu quan sát trí ấn, cũng gọi Định ấn, Di đà định ấn, là ấn tướng mà tượng Phật ngồi thường kết. Ấn tướng Trung phẩm thượng sinh cũng gọi là Thuyết pháp ấn. Còn ấn tướng của Hạ phẩm thượng sinh là ấn Lai nghinh mà tượng Phật đứng kết, loại ấn này phổ biến hơn cả. Ngoài ra, thuyết Cửu phẩm ấn trong các kinh đều chưa thấy ghi chép, chỉ biết thuyết này đã được lưu truyền từ cuối đời Đường, về sau truyền đến Nhật bản, rất thịnh hành trong tông Chân ngôn và tông Tịnh độ.
cửu phật sự
(九佛事) Chín việc Phật. Khi vị trụ trì một sơn môn hoặc bậc tôn túc thị tịch, nghi thức tống táng dành cho các ngài gồm chín việc theo thứ tự như sau: - Nhập khám Phật sự (đưa vào khám). - Di khám Phật sự (dời khám). - Tỏa khám Phật sự (đóng khám). - Quải chân Phật sự (treo ảnh). - Đối chân tiểu tham (nói pháp ngữ trước ảnh).- Khởi khám Phật sự (khởi khám). - Điện thang Phật sự (dâng nước nóng). - Điện trà Phật sự (cúng nước chè). - Bỉnh cự Phật sự (cầm đuốc). Trong chín Phật sự trên đây, nếu bỏ bớt Quải chân, Tiểu tham, thì gọi là bảy Phật sự. Nếu lại bỏ bớt Nhập khám, Di khám thì gọi năm Phật sự. Thông thường đối với người tại gia thì chỉ ba Phật sự là: Điện thang, Điện trà và Bỉnh cự. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.3 Thiên hóa điều - Hành trì quĩ phạm Q.2 Tang nghi pháp].
cửu quả
(九果) Là chín loại quả do nhân mà có: Đẳng lưu quả, Dị thục quả, Li hệ quả, Sĩ dụng quả, Tăng thượng quả, An lập quả, Gia hành quả, Hòa hợp quả, Tu tập quả... thuyết này do Hữu bộ của nước Kiện đà la lập ra. 1. Đẳng lưu quả: thiện sinh thiện, bất thiện sinh bất thiện. 2. Dị thục quả: do nhân thiện ác mà được quả khổ hay vui. 3. Li hệ quả: xa lìa phiền não trói buộc mà được trạch diệt. 4. Sĩ dụng quả: nhờ tác dụng của sĩ phu mà thành tựu các sự nghiệp (như người nông dân ra sức cày cấy mà được vụ thu hoạch tốt). Đây là quả do nhân Câu hữu mang lại. 5. Tăng thượng quả: quả có được nhờ nhân tăng thượng giúp sức. 6. An lập quả: như phong luân an lập thủy luân. 7. Gia hành giả: nhờ sức quán bất tịnh, sức quán niệm hơi thở mà đạt được tận trí, vô sinh trí. 8. Hòa hợp quả: như căn và cảnh hòa hợp mà sinh thức. 9. Tu tập quả: như đạo của cõi Sắc dấy lên sự giáo hóa và ngôn ngữ của cõi Dục. Nhưng, các sư ở nước Ca thấp di la thì chỉ lập năm quả, vì đã thu nhiếp bốn quả: An lập, Gia hành, Hòa hợp và Tu tập vào trong hai quả Sĩ dụng và Tăng thượng. [X. luận Đại tì bà sa Q.121].
cửu quỉ
Chín giống quỉ. Gồm: - 3 giống quỉ không có của: quỉ miệng đuốc, quỉ miệng kim, quỉ miệng hôi thúi - 3 giống quỉ có ít của: quỉ lông chim, quỉ lông hôi, quỉ phùng mang - 3 giống quỉ có nhiều của: quỉ trông cúng dường, quỉ trông đồ bỏ, quỉ thế lớn (thế phước lớn như chư thiên).
; The nine classes of ghosts are of three kinds: A-Quỉ không có của without means: 1-Quỉ miệng đuốc burning torch-like mouth; 2-Quỉ miệng kim narrow needle-mouth; 3-Quỉ miệng hôi thối stinking mouth. B-Quỉ có ít của small means: 1-Quỉ lông kim hair like needles; 2-Quỉ lông hôi stinking hair; 3-Quỉ phùng mang tumours. C-Quỉ có nhiều của rich: 1-Quỉ trông cúng haunt sacrifices to the dead 2-Quỉ trông đồ bỏ eat human leavings; 3-Quỉ thế lớn live truculently.
cửu quỷ
Chín loại quỷ—Nine classes of ghosts: (A) Theo kinh điển Phật Giáo Đại Thừa—According to the Mahayana Buddist Sutras: 1) Cự Khẩu Quỷ: Quỷ miệng bốc lửa như ngọn đuốc—Burning torch-like ghost. 2) Châm (Kim) Khẩu Quỷ: Quỷ có miệng nhọn như kim—Narrow needle-mouth ghosts. 3) Xú Khẩu Quỷ: Quỷ miệng thối—Stinking mouth ghosts. 4) Châm Mao Quỷ: Quỷ có lông nhọn như kim—Needle-like hair ghosts, self-piercing. 5) Xú Mao Quỷ: Quỷ có lông thối—Hair-sharp and stinking, or stinking hair ghosts. 6) Anh Quỷ: Quỷ thân thể đầy mụn nhọt—Ghosts of which bodies are full of tumours. 7) Hy Từ Quỷ: Loài quỷ thường lẩn khuất trong đền miếu, hy vọng được ăn uống—Ghosts that haunt sacrifices to the dead. 8) Hy Thí Quỷ: Loài quỷ thường ăn đồ thừa thải của người khác, hoặc đồ cúng hay bất cứ thứ gì còn thừa—Ghosts that eat human leavings. Demons that live on the remains of sacrifices, or any leavings in general. 9) Đại Thế Quỷ: Loài quỷ giàu có phúc lớn. Đây là loại quỷ có thế lực như Dạ Xoa, La Sát, chúng ở rải rác khắp nơi từ trong phòng ốc, đến phố chợ, sông hồ, cây cối—Rich ghosts, or powerful demons, i.e. yaksas, raksasas, picasas, etc. All belong to the realm of Yama whence they are sent everywhere, consequently are ubiquitous in every house, lane, market, mound, stream, tree, etc. (B) Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm—According to The Surangama Sutra—Đức Phật đã nhắc ngài A Nan về chin loại quỷ như sau: “A Nan! Các chúng sanh phá luật nghi, phạm giới Bồ Tát, chê Niêt Bàn của Phật, cũng như các tạp nghiệp khác, bị khổ nhiều kiếp đốt cháy. Sau khi hết tội địa ngục, mắc báo làm các thứ quỷ.”—The Buddha reminded Ananda as follows: “Ananda! After the living beings who have slandered and destroyed rules and deportment, violated the Bodhisattva precepts, slandered the Buddha's Nirvana, and created various other kinds of karma, pass through many kalpas of being burned in the inferno, they finally finish paying for their offenses and are reborn as ghosts.” 1) Tham sắc gây tội, gặp gió thành hình, làm các loài Bạt Quỷ: If it was greed for lust that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters the wind, and he is called a drought-ghost. 2) Tham các việc mê hoặc người mà gây tội, gặp các loài súc sanh thành hình, làm các loài Mỵ Quỷ: If it was greed to lie that made the person commit offenses, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters an animal, and he is called a Mei-Ghost. 3) Tham sân hận, gây tội, gặp loài trùng thành hình, làm các loài Quỷ Cổ Độc: If it was greed for hatred that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters worms, and he is called a Ku-Poison Ghost. 4) Tham sự nhớ thù xưa gây tội, gặp chỗ suy biến thành hình, làm các loài Lệ Quỷ: If it was greed for animosity that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters degeneration, and he is called a Pestilence Ghost. 5) Tham sự kiêu ngạo gây tội, gặp khí thành hình, làm các loài Ngạ Quỷ: If it was greed to be arrogant that made the person commit offenses, then after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters gases, and he is called a Hungry Ghost. 6) Tham sự vu báng gây tội, gặp chỗ tối tăm thành hình, làm các loài Yểm Quỷ: If it was greed to be unjust to others that made the personthe person commit offenses, then after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters darkness, and he is called a Paralysis Ghost. 7) Tham trí thông minh gây tội, gặp loài tinh linh thành hình, làm các loài quỷ Vọng Lượng: It was greed for views that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters essential energy, and he is called a Wang-Liang Ghost. 8) Tham sự thành công gây tội, gặp loài minh tinh thành hình, làm các loài Quỷ Dịch Sử: If it was greed for deception that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters brightness, and he is called a Servant Ghost. 9) Tham kết bè đảng gây tội, gặp người thành hình, làm các loài Quỷ Truyền Tống: If it was greed to be litigious that made the person commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he takes shape when he encounters people, and he is called a Messenger Ghost.
cửu sang
See Cửu Khổng in Vietnamese-English Section.
cửu sanh
Chín loại sanh: - thai sanh - noãn sanh - thấp sanh - hoá sanh - hữu sắc - vô sắc - hữu tưởng - vô tưởng - phi hữu tưởng phi vô tưởng.
Cửu sơn
九山; C: jiǔshān; J: kyūsan; K: kusan.|I. Chín ngọn núi. Vốn là tên gọi Thiền tông Cao li trước đây khi sự ra đời của tông phái nầy gắn liền với 9 ngọn núi khác nhau. Đó là: 1. Ca Trí Sơn (迦智山; k: kaji-san), thành lập tại Bảo Lâm tự (寶林寺; k: porim sa), dưới sự ảnh hưởng của Đạo Nghĩa (道義; k: toǔi, ?-825) và đệ tử lớn của sư là Thể Trừng (體澄; k: ch'ejing, 804-890). Đạo Nghĩa tham học với Thiền sư Tây Đường Trí Tạng (西堂智藏; 735-814) và Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海; 749-814) ở Trung Hoa; 2. Thánh Trú sơn (聖住山; k: sǒngju san), được Vô Nhiễm (無染; k: muyǒm, 800-888) sáng lập. Sư được Ma Cốc Bảo Triệt (麻谷寶徹) ấn khả; 3. Thật Tướng sơn (實相山; k: silsang san), được Hồng Trắc (洪陟; k: hongch'ǒk, fl. 830) sáng lập. Sư cũng là môn đệ của Trí Tạng; 4. Hi Dương sơn (曦陽山; k: hǔiyang san): Do Pháp Lãng (法朗; k: pǒmnang) và Trí Săn Đạo Hiến (智詵道憲; k: chisǒn tohǒn; 824-882) sáng lập, sư được truyền thụ qua một Thiền sư trong dòng Mã Tổ; 5. Phụng Lâm sơn (鳳林山), do Viên Giám Huyền Dục (圓鑑玄昱; k: wǒngam hyǒn'uk, 787-869) sáng lập cùng với đệ tử của sư là Thẩm Hy (審希; k: simhǔi). Viên Giám Huyền Dục là môn đệ của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉; 748-835); 6. Đồng Lí sơn (桐裡山), do Huệ Triệt (慧徹; k: hyech'ǒl, 785-861), môn đệ của Trí Tạng, sáng lập; 7. Xà-quật sơn (闍崛山; k: sagul san), sáng lập bởi Phạm Nhật (梵日; k: pǒmil, 810-889), sư tham học ở Trung Hoa với Thiền sư Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟嚴); 8. Sư Tử sơn (獅子山; k: saja san), do Đạo Doãn (道允; k: toyun, 797-868) sáng lập, sư dã từng tham học với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願); 9. Tu-di sơn (須彌山; k: sumi-san), do Lợi Nghiêm (利嚴; k: iǒm, 869-936) sáng lập, tông nầy phát triển theo truyền thống tông Tào Động.|Từ Cửu sơn trong tiếng Cao li trở thành thuật ngữ chung để gọi »các tông phái Thiền«, và ý nghĩa này còn được duy trì cho đến ngày nay.|II. Tên của một vị Thiền sư đương thời, trú trì Tu viện Songgwangsa.
cửu sơn bát hải
Nine Cakravala (skt)—Chín rặng núi hay lục địa bị phân cách bởi tám biển của vũ trụ—Nine concentric mountain ranges or continents, separated by eight seas, of a universe: (A) Theo Đại Thừa, cửu sơn hay chín rặng núi—Nine mountain ranges according to the Mahayana: 1) Tại trung tâm hòn núi cao nhứt là núi Tu Di, và xung quanh là các núi khác: The central mountain of the nine is Sumeru, and around it are the ranges of other mountains. 2) Núi Yết Địa Lạc Ca: Khadiraka (skt). 3) Núi Y Sa Đà La: Isadhara (skt). 4) Núi Du Cán Đà La: Yugamdhara (skt). 5) Núi Tô Đạt Lê Xá Na: Sudarsana (skt). 6) Núi An Thấp Phược Yết Nô: Asvakarna (skt). 7) Núi Ni Dân Đà La: Nemimdhara (skt). 8) Núi Tỳ Na Đa Ca: Vinataka (skt). 9) Núi Sở Ca La: Cakravada (skt). (B) Vi Diệu Pháp Cấu Xá lại cho một thứ tự khác—The Abhidharma Kosa gives a different order: 1) Núi Tu Di ở giữa: Sumeru in the center. 2) Núi Du Cán Đà La: Yugamdhara. 3) Núi Y Sa Đà La: Isadhara. 4) Núi Yết Địa Lạc Ca: Khadiraka. 5) Núi Tô Đạt Lê Xá Na: Sudarsana. 6) Núi An Thấp Phược Yết Nô: Asvakarna. 7) Núi Tỳ Na Đa Ca: Vinataka. 8) Núi Ni Dân Đà La: Nemimdhara. 9) Núi Thiết Luân bao bọc các núi vừa kể trên—An Iron-Wheel mountain encompassing all these above mentioned mountains.
; (九山八海) Chín núi tám biển. Tổng số núi và biển trong thế giới quan của Ấn độ đời xưa. Cứ theo kinh Khởi thế quyển 1 và kinh Trường a hàm quyển 18 nói, thì núi Tu di ở chính giữa, chung quanh có tám núi bao bọc là các núi: Khư đề la, Y sa đà la, Du càn đà la, Tô đạt lê xá na, An thấp phược khiết noa, Ni dân đà la, Tì na đa ca và Chước ca la. Lại giữa khoảng núi này và núi kia mỗi khoảng là một biển nước thành là tám biển. 1. Tu di sơn (Phạm: Sumera), cũng gọi Tô mê lư, Tu mê lâu, Hán dịch là Diệu cao hoặc Hảo quang. Núi này đứng chót vót ở trung tâm thế giới, cao tám vạn bốn nghìn do tuần, trên chóp núi cũng rộng như thế, trong đó có cung điện của trời Đế thích. 2. Khư đề la (Phạm: Khadiraka) cũng gọi Khiết địa lạc ca, Khư đắc la kha, Hán dịch Đảm mộc hoặc Không phá. Núi này cao bốn vạn hai nghìn do tuần, đỉnh núi cũng rộng như thế, được cấu tạo bằng bảy thứ quí báu bao quanh phía ngoài núi Tu di, giữa hai núi có một biển lớn, rộng tới tám vạn bốn nghìn do tuần, mặt nước phủ đầy hoa có mùi thơm vi diệu như hoa ưu bát la, hoa bát ma, hoa câu mâu đà, hoa hủy đồ lợi ca v.v... Trong biển này có bốn châu lục lớn là: Phất bà đề ở phương đông, Diêm phù đề ở phương nam, Cù đà ni ở phương tây và Uất đơn việt ở phương bắc. 3. Y sa đà la (Phạm: Ìwàdhara), cũng gọi Y sa đa, Hán dịch Trì trục hoặc Tự tại trì. Núi này cao hai vạn một nghìn do tuần, trên chóp núi cũng rộng như thế, được cấu tạo bằng bảy thứ quí báu, bao quanh phía ngoài núi Khư đề la, giữa hai núi có một biển lớn, rộng bốn vạn hai nghìn do tuần, mặt nước phủ đầy các thứ hoa có mùi thơm vi diệu như hoa Ưu bát la v.v... 4. Du càn đà la (Phạm: Yugaôdhara) cũng gọi Du kiện đà la, Du kiện đạt la, Hán dịch Song trì. Núi này cao một vạn hai nghìn do tuần, đỉnh núi cũng rộng như thế, bao quanh phía ngoài núi Y sa đà la, giữa hai núi có biển lớn, rộng hai vạn một nghìn do tuần. 5. Tô đạt lê xá na (Phạm: Sudarzana), cũng gọi Tu đằng sa la, Hán dịch Thiện kiến. Núi này cao sáu nghìn do tuần, chóp núi cũng rộng như thế, bao quanh phía ngoài núi Du càn đà la, giữa hai núi có biển lớn, rộng một vạn hai nghìn do tuần. 6. An thấp phược khiết noa (Phạm: Awvakarịa), cũng gọi A thâu cát na, Hán dịch Mã bá đầu hoặc Mã nhĩ. Núi này cao ba nghìn do tuần, đỉnh núi cũng rộng bằng ấy, bao quanh núi Tô đạt lê xá na, giữa hai núi có biển lớn, rộng sáu nghìn do tuần. 7. Ni dân đà la (Phạm: Nimimdhara), cũng gọi là Ni dân đạt la, Hán dịch Trì biên hoặc Trì địa. Núi này cao một nghìn hai trăm do tuần, đỉnh núi cũng rộng như thế, bao quanh núi An thấp phược khiết, giữa hai núi có biển lớn, rộng hai nghìn bốn trăm do tuần. 8. Tì na đa ca (Phạm: Vinataka), cũng gọi Tì na da ca, Tì nê đát ca na, Hán dịch Chướng ngại hoặc Kiện dữ, cũng gọi Tượng tị (mũi voi). Núi này bao quanh phía ngoài núi Ni dân đà la, cao sáu trăm do tuần, chóp núi cũng rộng như thế, giữa hai núi có biển lớn, rộng một nghìn hai trăm do tuần, trên mặt biển phủ đầy các thứ hoa có hương thơm vi diệu như hoa ưu bát la v.v.. 9. Chước ca la (Phạm: Cakravàđa), cũng gọi Chước ngật la, Giá ca hòa, Hán dịch Luân vi hoặc Thiết vi. Núi này cao ba trăm do tuần, đỉnh núi rộng cũng bằng ấy, bao quanh núi Tì na đa ca. Đây là bức tường thành vòng ngoài cùng của thế giới, bên ngoài bức tường này là hư không. Giữa hai núi có biển nước rộng sáu trăm do tuần. Thuyết Cửu sơn bát hải này có hơi khác với thuyết được miêu tả trong luận Câu xá quyển 11 và luận Đại tì bà sa quyển 133. [X. luận Du già sư địa Q.2 - luận Thuận chính lí Q.31 - Câu xá luận quang kí Q.11 - Câu xá luận tụng sớ Q.11].
cửu sư tương thừa
(九師相承) Chín thầy nối nhau. Đây là thuyết chín bậc thầy thứ tự được truyền thừa pháp thiền ở thời đại Nam Bắc triều. Cứ theo Chỉ quán phụ hành sưu yếu kí quyển 1 chép, thì chín bậc thầy là: Minh, Tối, Tung, Tựu, Giám, Tuệ, Văn, Tư, Khải. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên ghi, thì vị thứ 7 là ngài Tuệ văn đời Bắc Tề, vị thứ 8 là ngài Tuệ tư ở núi Nam nhạc, vị thứ 9 là ngài Trí khải ở núi Thiên thai, còn sự truyền thừa của sáu vị kia thì không được biết rõ. Thích môn chính thống quyển 1 thì cho rằng: Sáu sư truyền thừa trước ngài Tuệ văn là: Minh tối, Thần tối, Tung đa, Tựu đa, Giám đa và Tuệ đa. Nhưng thuyết này có đúng hay không thì còn cần được minh xác. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1 - Lương cao tăng truyện Q.12 - Tục cao tăng truyện Q.23].
cửu sắc lộc kinh
(九色鹿經) Có 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào thời Ngô, thu vào Đại chính tạng tập 3. Văn kinh này rất ngắn, nói về sự nghiệp tu hành của Bồ tát ở các kiếp quá khứ, chủ ý chỉ dạy người ta tu hạnh nhịn nhục. Ngoài ra, kinh này cũng hơi giống với nội dung truyện tích bản sinh Tu phàm lộc vương trong tắc 58 kinh Lục độ tập 6 quyển do ngài Khang tăng hội dịch, nhưng khác ở điểm là kinh Lục độ tập chủ yếu nói rõ về hạnh tu tinh tiến. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2 - Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3].
cửu tham thượng đường
Chín lần thượng đường hành lễ trong tháng, cứ ba ngày một lần—The nine monthly visits or ascents to the hall for worship, every third day.
; (九參上堂) Chín lần lên nhà giảng. Trong Thiền tông, mỗi tháng chín lần lên nhà giảng nghe pháp: cứ ba ngày một lần thành là chín lần. Tham nghĩa là thưa hỏi đạo lí xin thầy chỉ dạy. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.11].
Cửu Thiên
(九天): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho trung ương và tám phương khác của trời. Như trong Sở Từ (楚辭), thiên Ly Tao (離騷), có câu: “Chỉ cửu thiên dĩ vi chánh hề, phù duy linh tu chi cố dã (指九天以爲正兮、夫唯靈脩之故也, chỉ cửu thiên lấy làm chính chừ, cho nên phàm thần minh thấy xa được vậy).” Trong Thái Huyền (太玄), Thái Huyền Số (太玄數), của Dương Hùng (揚雄, 53 ttl.-18) nhà Hán, lại cho rằng: “Cửu thiên, nhất vi Trung Thiên, nhị vi Tiện Thiên, tam vi Tùng Thiên, tứ vi Canh Thiên, ngũ vi Túy Thiên, lục vi Quách Thiên, thất vi Giảm Thiên, bát vi Trầm Thiên, cửu vi Thành Thiên (九天、一爲中天、二爲羡天、三爲從天、四爲更天、五爲睟天、六爲廓天、七爲減天、八爲沉天、九爲成天, cửu thiên, một là Trung Thiên, hai là Tiện Thiên, ba là Tùng Thiên, bốn là Canh Thiên, năm là Túy Thiên, sáu là Quách Thiên, bảy là Giảm Thiên, tám là Trầm Thiên, chín là Thành Thiên).” Hay trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), Phần Hữu Thỉ (有始), lại đưa ra giải thích khác về cửu thiên là phương trung ương có Quân Thiên (鈞天), phương Đông có Thương Thiên (蒼天), Đông Bắc là Biến Thiên (變天), Bắc là Huyền Thiên (玄天), Tây Bắc là U Thiên (幽天), Tây là Hạo Thiên (顥天), Tây Nam là Chu Thiên (朱天), Nam là Viêm Thiên (炎天), Đông Nam là Dương Thiên (陽天). (2) Chỉ cho nơi cao nhất trên bầu trời. Như trong Tôn Tử (孫子), Hình Thiên (形篇), có câu: “Thiện công giả, động ư cửu thiên chi thượng (善攻者、動於九天之上, người khéo đánh, có thể làm động đến tận trời cao).” Hay trong bài thơ Vọng Lô Sơn Bộc Bố (望廬山瀑布) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường cũng có câu: “Phi lưu trực hạ tam thiên xích, nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên (飛流直下三千尺、疑是銀河落九天, bay vù thẳng xuống ba ngàn thước, ngờ ấy Ngân Hà rụng trời cao).” (3) Chỉ cấm cung. Như trong bài thơ Hòa Cổ Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung Chi Tác (和賈舍人早朝大明宮之作) của Vương Duy (王維, 701-761) nhà Đường có câu: “Cửu thiên xương hạp khai cung điện, vạn quốc y quan bái miện lưu (九天閶闔開宮殿、萬國衣冠拜冕旒, cấm cung cửa trời bày cung điện, muôn nước áo quan vái Thượng Hoàng).”
Cửu Thiên Tiên Nữ
(九天仙女): tiên nữ trên chín tầng trời, hay chỉ cho người có sắc đẹp tuyệt trần; hoàn toàn khác với Cửu Thiên Huyền Nữ (九天玄女), nữ thần trong truyền thuyết thần thoại của Trung Quốc cổ đại. Như trong Kim Tiền Ký (金錢記) của Kiều Cát (喬吉, 1280?-1345) nhà Nguyên có câu: “Nhĩ khán thử nữ phi phàm, chơn nãi Cửu Thiên Tiên Nữ dã (你看此女非凡、眞乃九天仙女也, ngươi xem người con gái này phi phàm, quả đúng là tiên nữ trên trời vậy).” Trong tác phẩm Kiếm Thần Nhất Tiếu (劍神一笑) của Cổ Long (古龍, 1938-1985) có chương thứ 7 “Cửu Thiên Tiên Nữ Hạ Phàm Trần (九天仙女下凡塵, tiên nữ trên trời xuống phàm trần).”
Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn
(九天應元雷聲普化天尊): còn gọi là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Chơn Vương (九天應元雷聲普化眞王), tức Lôi Thần (雷神), Lôi Tổ (雷祖), Thiên Lôi (天雷). Về lai lịch, Vô Thượng Cửu Tiêu Ngọc Thanh Đại Phạm Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (無上九霄玉清大梵紫微玄都雷霆玉經) cho rằng Lôi Tổ là hóa thân của Ngọc Thanh Chơn Vương (玉清眞王), con thứ 9 của Phù Lê Nguyên Thỉ Thiên Tôn (浮黎元始天尊). Cũng có thuyết cho rằng Hoàng Đế Hiên Viên (軒轅) sau khi lên cõi tiên thì trở thành Lôi Tinh (雷精), thần chủ quản về sấm sét, mưa. Lôi Tổ là phong hiệu của ông, cư trú tại Thần Tiêu Ngọc Phủ (神霄玉府), trong Bích Tiêu Phạm Khí (碧霄梵氣), cách Lôi Thành (雷城) khoảng 2.300 dặm. Lôi Thành là nơi Thiên Đình làm sấm, bên trái có Ngọc Xu Ngũ Lôi Sứ Viện (玉樞五雷使院), bên phải có Ngọc Phủ Ngũ Lôi Sứ Viện (玉府五雷使院). Trước Thiên Tôn có trống sấm 36 mặt, do 36 vị thần quản lý. Khi làm sấm, Lôi Tổ đánh một tiếng trống, tức thời Lôi Công (雷公), Lôi Sư (雷師) phát ra tiếng sấm. Trong Lôi Bộ có 36 thành viên, mỗi người đều có công trạng và được phong thần. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) nhà Minh cho Văn Trọng (聞仲) là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, thống lãnh bộ hạ 24 bộ hạ kéo mây góp mưa, làm sấm. Trong số đó, tại các đền thờ Đạo Giáo thường có tôn thờ các vị Thiên Tướng như Luật Lịnh Đại Thần Đặng Nguyên Soái Trung (律令大神鄧元帥忠), Ngân Nha Diệu Mục Tân Thiên Quân Hoàn (銀牙耀目辛天君環), Phi Tiệp Báo Ứng Trương Sứ Giả Tiết (飛捷報應張使者節), Tả Phạt Ma Sứ Cẩu Nguyên Soái Chương (左伐魔使苟元帥章), Hữu Phạt Ma Sứ Tất Nguyên Soái Hoàn (右伐魔使畢元帥環). Bên cạnh đó, lại có Đào Thiên Quân Vinh (陶天君榮), Bàng Thiên Quân Hồng (龐天君洪), Tần Thiên Quân Hoàn (秦天君完), Triệu Thiên Quân Giang (趙天君江), Đổng Thiên Quân Toàn (董天君全), Viên Thiên Quân Giác (袁天君角), v.v. Từ ngàn xưa, người ta đã sùng bái Lôi Công, Lôi Thần; nhưng mãi đến cuối thời Bắc Tống (北宋, 960-1127) mới hình thành việc thiết trí ra Lôi Bộ do Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn quản lãnh. Trong phần Lễ Chí (禮志) của Minh Sử (明史) có giải thích rằng: “Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn giả, Đạo gia dĩ vi tổng ty Ngũ Lôi, hựu dĩ lục nguyệt nhị thập tứ nhật vi Thiên Tôn hiện thị chi nhật, cố tuế dĩ thị nhật khiển quan nghệ Hiển Linh Cung trí tế (雷聲普化天尊者、道家以爲總司五雷、又以六月二十四日爲天尊現示之日、故歲以是日遣官詣顯靈宮致祭, Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, Đạo Giáo cho rằng người tổng quản Ngũ Ty, lại lấy ngày 24 tháng 6 làm ngày Thiên Tôn thị hiện; cho nên hằng năm vào ngày này sai các quan đến Hiển Linh Cung cúng tế).” Vì vậy, cứ mỗi năm vào ngày 24 tháng 6 Âm Lịch, tín đồ Đạo Giáo đến các đền thờ dâng hương, cầu phước, tiêu trừ tai họa. Trong nghi lễ trai đàn của Chánh Nhất Phái (正一派) thuộc Đạo Giáo có thiết bài vị của Lôi Tổ, và trong khoa nghi cũng có văn triệu thỉnh chư vị Thiên Quân trong Lôi Bộ. Như trong lòng văn sớ trên, khi tiến hành tụng kinh cầu nguyện giải Trùng Tang, Thần Sát thì cần phải tuyên sớ cung thỉnh Thiên Lôi giáng lâm đàn tràng chứng minh, gia hộ để được giải nạn, hạn ách, tiêu tai cát tường.
cửu thiếp
(九帖) Từ gọi chung các trứ tác của ngài Thiện đạo đời Đường. Đó là: Quán kinh huyền nghĩa phần 1 quyển, Quán kinh tự phần nghĩa 1 quyển, Quán kinh định thiện nghĩa 1 quyển, Quán kinh tán thiện nghĩa 1 quyển (bốn tác phẩm trên là sách chú sớ kinh Quán vô lượng thọ). Tịnh độ pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển. Vãng sinh lễ tán 1 quyển, Bát chu tán 1 quyển. Còn gọi là Ngũ bộ cửu quyển.
cửu thiền
Xem cửu chủng đại thiền.
cửu thượng duyên hoặc
(九上緣惑) Chín thứ hoặc (phiền não) dấy sinh nhờ duyên thượng giới thượng địa. Đó là: tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, nghi, vô minh của kiến khổ sở đoạn - và tà kiến, kiến thủ kiến, nghi, vô minh của kiến tập sở đoạn. Tức là trong 11 thứ Biến hành, trừ Thân kiến, Biên kiến còn lại chín thứ. Nói về duyên và cõi thì chín thứ hoặc (phiền não) trên đây hoặc chỉ duyên một cõi, hoặc duyên cả hai cõi, cho nên luận Phẩm loại túc quyển 5 mới nói rằng: Có các loại tùy miên (phiền não) là pháp trói buộc ở cõi Dục duyên với những pháp trói buộc ở cõi Sắc, hoặc duyên với các pháp trói buộc ở cõi Vô sắc, hoặc duyên các pháp trói buộc ở cả cõi Sắc và Vô sắc. Cũng có loại tùy miên là pháp trói buộc ở cõi Sắc duyên với pháp trói buộc ở cõi Vô sắc. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 thì bảo rằng, các phiền não ở cõi Dục chỉ có Vô minh, Kiến, Nghi là có thể duyên thượng địa làm cảnh, tuy nhiên, chúng không thể duyên ngay với thượng địa như là duyên với cõi của chính chúng (tức cõi Dục). Tiểu thừa và luận Tạp tập... cũng cho rằng, ngoại trừ chín thứ này, còn lại tham, sân, mạn v.v... không thể duyên với các cõi trên. Nhưng Duy thức thì bảo tham, sân, mạn v.v... cũng có thể duyên các cõi trên. [X. luận Câu xá Q.19 - luận Thành duy thức Q.6].
cửu thập bát sứ
Chín mươi tám sứ giả—Chín mươi tám sự cám dỗ hay thách thức được nói đến trong giáo lý Tiểu Thừa. Đây là 98 phiền não của kiến tư giới, hay là những ý kiến từ bên trong lẫn bên ngoài—The Hinayana ninety-eight tempters or temptations, that follow men with all subtlety to induce laxity. They are ninety-eight klesas (afflictions), or moral temptations in the realm of view and thought, or external and internal ideas.
Cửu thập bát sử
九十八使; C: jiǔshíbāshǐ; J: kujūhasshi;|98 loại mê hoặc, thường được chia thành 88 Kiến hoặc (見惑) và 10 loại Tư hoặc (思惑). Chữ »sử« (使) đồng nghĩa với »nhiễm« (染) và »phiền não« (煩惱). Còn được gọi là »98 loại tùy miên« (Cửu thập bát tuỳ miên 九十八隨眠).
Cửu thập bát tuỳ miên
九十八隨眠; C: jiǔshíbā suímián; J: kujūhachi zuimin;|Cũng như Cửu thập bát sử.
cửu thập bát tuỳ miên
(九十八隨眠) Chín mươi tám phiền não. Cũng gọi Cửu thập bát sử. Tùy miên là tên khác của phiền não. Phiền não thường theo sát với con người nên gọi là tùy, thể trạng của nó rất sâu kín nhỏ nhiệm khó biết, giống như tính ngủ, nên gọi là miên. Chín mươi tám là tổng số của Kiến hoặc, Tư (Tu) hoặc do tông Câu xá của Tiểu thừa thành lập. Trong đó, Kiến hoặc có 88 tùy miên, Tu hoặc có 10 tùy miên. Con số 98 là đem 10 tùy miên: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân, biên, tà, thủ, giới phối với năm bộ trong ba cõi. Tức là: Kiến khổ sở đoạn ở cõi Dục có 10 thứ, Kiến tập sở đoạn có 7 thứ, Kiến diệt sở đoạn có 7 thứ, Kiến đạo sở đoạn có 8 thứ và Tu hoặc sở đoạn ở cõi Dục có 4 thứ, cộng chung là 36 thứ. Còn năm bộ ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mỗi cõi có 31 thứ, tổng cộng là 98 thứ. [X. luận A tì đạt ma phát trí Q.5 - luận Đại tì bà sa Q.46 - luận Câu xá Q.19].
cửu thập giới đọa
Pacittiya (skt)—Theo Luật Nghi Khất Sĩ được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang soạn cho chư Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ, 90 giới Ba Dật Đề, nếu phạm một trong những tội nầy mà chí thành phát lồ sám hối trước Tăng chúng, thì tội được tiêu khiên. Nếu không chí thành phát lồ sám hối, chẳng những sẽ trở ngại cho việc khởi sanh thiện pháp, mà sẽ còn bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—According to Most Honorable Minh Đăng Quang in the Rules for Mendicant Bhiksus, ninety Pacittiya offences which require confession and repentance. If a monk doing any of them, makes a confession of it before the Sangha with clear heart, he will become free from the offence. If he doesn't, the offence itself will not only obstruct his development of wholesome acts, but it will also cause his rebirth in lower realms, i.e., hell, hungry ghosts, or animal. 1) Cấm cho rằng phải một việc sai trái:A monk should not tell a conscious lie (telling a conscious lie means the words, the utterance, the speech, the talk, the language, the intimation, the un-ariyan statement of one intent upon deceiving with words, saying: “I have not seen what I have seen, heard what I have not heard, sensed what I have not sensed, etc). 2) Cấm che bai làm người rủn chí: A monk should not should not speak insulting speech to discourage people. 3) Cấm nói lưỡi hai chiều đâm thọc làm cho người ta giận nhau: A monk should not speak slandering speech to cause people to break their harmony. 4) Cấm ở chung nhà với đàn bà trong một đêm: A monk should not lie down in a sleeping place with a woman. 5) Cấm ở quá hai đêm chung với người chưa thọ giới nhà sư: A monk should not lie down in a sleeping place with one who is not ordained for more than two nights. 6) Cấm tụng kinh chung và một lượt với người chưa thọ đại giới. Tuy nhiên, nếu cùng bậc thiện hữu tri thức tại gia đọc tụng và nghiên cứu kinh điển thì không phạm giới Ba Dật Đề: A monk should not make one who is not ordained to recite sutras together line by line. However, if a monk recite in studying together with lay good advisors, there is no offence of Pacittiya. 7) Cấm học tội một vị Tỳ Kheo khác với người chưa thọ giới nhà sư: A monk should not speak of another monk's very bad offence to one who is not ordained. 8) Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông với người chưa thọ đại giới: A monk should not speak of a condition of furthermen to one who is not ordained. 9) Cấm một mình thuyết pháp cho đàn bà nghe, dù chỉ năm sáu câu mà không có đàn ông trí thức tham dự: A monk should not teach dharma to women in more than five or six sentences, except a learned man is present. 10) Cấm đào đất, cuốc đất, hay sai người đào cuốc: A monk should not dig the ground or have it dug. 11) Cấm đốn cây: A monk should not destroy vegetable growth. 12) Cấm tranh cãi nhiều lời làm cho người ta phiền nhiễu: A monk should not argue to disturb other people. 13) Cấm chê bai, nói ác, hay xúc phạm đến vị Sư Trị Sự trong Giáo Hội: A monk should not defame or bad mouth in criticizing the headmaster of the Order. 14) Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể: A monk should not spread in the open air a chair or a mattress or a stool belonging to the Order, setting forth, but does not removed or have it removed, to cause it destroyed. 15) Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất: A monk should not spread a sleeping place or having it spread in a dwelling belonging to the Order, setting forth, but should neither remove it nor have it removed. 16) Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác: A monk should not lie down in a sleeping place in a dwelling belonging to the Order, knowing that he is encroaching upon the space intended for a monk arrived first. 17) Cấm đuổi hay sai đuổi một vị Tỳ Kheo không hạp ý mình ra khỏi phòng: Out of angry and displeased, a monk should not throw out another monk or cause him to be thrown out from a dwelling place belonging to the Order. 18) Nếu ở phần trên gác, khi giăng mùng lót ván, cấm để cây rớt trúng người: A monk who dwells in a lofty cell with an upper part, in a dwelling place belonging to the Order. He should not cause any boards or removable feet of his couch to fall down to hurt other people. 19) Cấm lấy nước dùng khi biết trong nước ấy có côn trùng: A monk should not sprinkle grass or clay, or should not have them sprinkled if he knows that the water contains life. 20) Khi lợp tịnh xá, cấm dùng đồ quá nhiều chất nặng khiến bị sập: A monk should not cover his dwelling place with heavy material that collapse to harm other people. 21) Khi không có lệnh của Giáo Hội sai đi, cấm dạy đạo, đọc giới bổn với Tỳ Kheo Ni: A monk should not exhort nuns if there is no order from the Sangha. 22) Mặc dầu có lệnh Giáo Hội, cấm thuyết pháp với chúng Tỳ Kheo Ni từ buổi chiều tối đến sáng: Even though agreed upon by the Order, a monk should not exhort nuns after sunset. 23) Cấm nói giễu rằng các vị sư đi thuyết pháp cho Tỳ Kheo Ni cốt chỉ để ăn uống no say: A monk should not joke that the elder monks are exhorting nuns for the sake of gain. 24) Cấm tặng áo cho Tỳ Kheo Ni xa lạ, trừ khi mua dùm hoặc đổi áo mới: A monk should not give robe-material to a nun who is not a relation, except in exchange. 25) Cấm may áo cho Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not sew or cause a robe to be sewn for a nun who is not a relation. 26) Cấm ngồi chung với Tỳ Kheo Ni, ở một chỗ che khuất: A monk should not sit down in a private place together with a nun. 27) Cấm đi chung với Tỳ Kheo Ni, dầu từ làng nầy hay làng kia, trừ khi ngặt nghèo (trường hợp ngặt nghèo ở đây phải được giáo hội đồng ý là đường xá nguy hiểm và ghê sợ đến nỗi người đi đường phải mang vũ khí): A monk should not have arranged together with a nun to go along the same road, even among villages, except at the right time (in this case, the right time must be agreed upon by the Order that the road is dangerous and frightening that one must go with a weapon) 28) Cấm hẹn nhau đi chung một thuyền, trừ khi qua đò: A monk should not have arranged together with a nun to embark in a boat and to go either upstream or downstream, except for crossing over to the other bank on a ferry. 29) Cấm ăn cơm của thí chủ đãi, khi nhờ có Tỳ Kheo Ni nói vào thí chủ mới chịu đãi: A monk should not eat alms-food knowing that it was procured through the intervention of a nun. 30) Cấm đi chung với đàn bà dầu từ làng nầy tới làng kia cũng vậy, trừ khi ngặt nghèo: A monk should not have arranged together with a woman to go along the same road (see the last part of number 27) 31) Cấm ăn đến hai buổi cơm một ngày, hai buổi hai ngày trong một nhà: A monk should not eat more than one meal at a public house, nor should he eat two meals in two days at the same house. 32) Cấm ăn nhiều buổi cơm, ở nhiều chỗ trong một ngày, trừ khi đau yếu: A monk should not eat more than one meal and residing at various locations in one day, except when he is ill. 33) Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội, trừ khi đau yếu, đi xa, hay trai tăng: A monk should not be absent from the group meal, except at a right time, i.e., time of illness, time of giving robes, time of being embarked in a boat, etc. 34) Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa, nhưng khi còn đói có thể hỏi thêm: A monk should not eat solid food or soft food that is not left over when he feels full (satisfied); however, when he is still hungry, he can ask for more food. 35) Cấm lãnh đồ ăn nhiều quá mà không chia sớt cho vị khác (Khi vị sư đi hay được mời thỉnh đến nhà thí chủ và được cúng dường hai hay ba bát bột nhồi mật để mang về, vị Tăng ấy có thể nhận. Nếu muốn nhiều hơn thế là phạm tội Ba Dật Đề. Nếu nhận về tự viện mà không chia lại cho chư Tăng trong tự viện cũng bị phạm tội Ba Dật Đề): When receiving a lot of alms-food, a monk must share them with other monks in the Order. If not, there is an offence of Pacittiya (If a monk, going up to a family, and was invited to take cakes or barley-gruel, two or three bowlfuls may be accepted by the monk. Should he accept more than that, there is an offence of Pacittiya. Should he accept two or three bowfuls, take these cakes back from there and would not share with other monks in the monastery, there is an offence of Pacittiya). 36) Cấm ép vị sư khác ăn no rồi mà phải ăn lại nữa: A monk should not ask another monk who has eaten, who is satisfied, to take solid or soft food that is not left over. 37) Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ hôm sau: A monk should not eat or partake solid or soft food at the wrong time (wrong time means afternoon has passed until sunrise). 38) Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường: A monk should not convey to his mouth nutriment not given. 39) Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng hôm sau khỏi đi khất thực: A monk should not eat or partake of solid food or soft food that was stored so that he doesn't have to go begging for alms-food the next day. 40) Cấm hỏi đồ ăn mỹ vị, trừ cơn đau phải tùy món cần dùng: A monk who is not ill should not ask for sumptuous foods (sumptuous foods include ghee, fresh butter, oil, honey, fish, meat, milk, curds, etc.). 41) Cấm cố ý làm cho mấy vị Tỳ Kheo khác trễ quá giờ ăn: A monk should not cause other monks to be tardy to the meal. 42) Cấm trao tay thí đồ ăn cho lõa thể hay nam nữ ngoại đạo: A monk should not give with his own hand solid food or soft food to a naked ascetic, or to a wanderer or to a female wanderer. 43) Cấm ăn rồi mà còn ngồi nán lại lâu trong nhà có đàn bà đẹp: After eating, a monk should not sit down in a house where there is a beautiful woman. 44) Cấm lãnh đồ ăn rồi, mà còn ngồi lại chỗ kín, trong nhà có đàn bà đẹp: After receiving alms-food, a monk should not sit down in a private place on a secluded seat together with a woman. 45) Cấm ngồi gần đàn bà chỗ chán chường (chỗ riêng tư có thể đưa đến việc hành dâm): A monk should not sit down together with a woman in a private place (that can lead to the development of sexual intercourse). 46) Cấm oán ghét, kiếm cớ làm cho một vị sư khác bơ vơ nhịn đói: A monk should not find fault to dismiss another monk from going into a village for alms-food to cause that monk to starve. 47) Cấm lãnh để dành nhiều thuốc: A monk should not store so much medicines. 48) Cấm xem diễn binh tập trận: A monk should not go to see an army fighting. 49) Nếu vì lý do gì đó mà phải đến viếng trại binh, cấm ở chung với quân binh hai ngày: If there is some reason for a monk to go to visit the army, that monk should not stay with the army for two nights. 50) Nếu phải viếng trại binh, cấm đi xem sự tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ: If a monk, staying with the army for less than two nights, he should not go see a sham-fight or to the troops in array or to the massing of the army or to see a review of the army. 51) Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau: A monk should not drink fermented liquor and spirits, nor should he smoke opium, nor should he chew betel. 52) Cấm chơi thể thao hay giởn cợt một cách quá tự do dưới nước: A monk should not playing in the water. 53) Cấm lấy tay chân mà đánh đá người ta: A monk should not hit other people with hands or feet. 54) Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách cản ngăn: A monk should not disrespect any blame or warning from the elder monks. 55) Cấm dọa nạt làm cho một vị Tỳ Kheo khác kinh sợ: A monk should not frighten a nother monk. 56) Cấm tắm tới hai lần trong nửa tháng, trừ khi đau yếu, dơ hay nực vào trời hè: A monk should not bathe at intervals of less than half a month, except at a right time, i.e., the time of illness, the body is dirty, or too hot during the summer time. 57) Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau yếu, lạnh lẽo hay trong đêm tối: If he is not ill, a monk should not warm himself, kindle or cause a fire to be kindled. 58) Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi người dấu đồ của người khác (như bát, áo, vải, vân vân): A monk should not hide or cause to hide another monk's bowl or robe or cloth, even in fun. 59) Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi: A monk should not get back things that he already offered to another monk. 60) Cấm mặc dùng chăn áo, màu vải trắng, mà phải nhuộm lại cho xấu trước khi dùng: A monk should not wear a robe (white) that has no disfigurement of black, dark green or muddy colors. 61) Cấm cố ý giết chết mạng thú vật: A monk should not intentionally deprive a living thing of life. 62) Cấm uống nước mà mình biết là có trùng: A monk should not knowingly make use of water that contains living things. 63) Cấm cố ý làm cho người ta buồn mà không khuyên giải: A monk should not cause sadness to other people. On the contrary, a monk should do his best to comfort people when they are sad. 64) Cấm dấu tội thô tục, chọc ghẹo, giao dâm của một Tỳ Kheo (tội thô tục nầy liên hệ đến Tứ Ba La Di hay Thập Tam Giới Tăng Tàn): A monk should not knowingly conceal another monk's very bad offence (an offence that involves defeat and the thirteen entailing a formal meeting of the Order). 65) Cấm nhận vào hàng Tỳ Kheo, kẻ nào chưa đúng 20 tuổi trọn: A monk should not knowingly confer the Upasampada Ordination on an individual under twenty years of age. 66) Cấm khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận: A monk should not knowingly open up for a further formal act a legal question already settled according to rule. 67) Cấm đi chung với gian nhân, dầu từ làng nầy tới làng kia cũng vậy: A monk should not have arranged together with a caravan set on theft, should not knowingly go along the same high road, even among villages. 68) Cấm nói lời dâm dục làm ngăn trở sự thành đạo: A monk should not speak lewd words to obstruct the cultivated path. 69) Cấm giữ tại chùa và để hầu mình, kẻ Sa Di nói sái quấy: A monk should not knowingly allow the novice who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha, should not encourage that novice, should not support, should not eat with that novice, nor should he lie down in a sleeping place with that novice . 70) Cấm ăn uống và giao thiệp, hay nói chuyện với vị sư nói sái quấy: A monk should not knowingly eat together with or be in communion with or lie down in a sleeping place with a monk who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha. 71) Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại: A monk, being spoken to by monks regarding a rule, should speak thus: “Your reverences, I will not train myself in this rule of training until I have inquired about it of another experienced monk who is expert in discipline.” There is an offence of Pacittiya. He should say: “Monks, it should be learnt, it should be inquired into, it should be investigated by a monk who is training.” 72) Cấm nói phá rằng đọc giới bổn là phiền hà vô ích: When the Patimokkha is being recited, a monk should not disparaging the rule of training by sayng thus: “On what account are the lesser and minor rules of training recited? They only tend to remorse, to vexation, to perplexity.” 73) Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới bổn: A monk should not avoid being blamed by saying that he does not understand the Patimokkha (Whatever monk, while the Patimokkha is being recited every half-month, should speak thus: “Only now I do understand that this rule is, as is said, handed down in a clause, contained in a clause, and comes up for recitation every half-moth; if other monks should know concerning this monk has sat down two or three times before, not to say oftener, while Patimokkha was being recited, there is not only no freedom for that monk on account of his ignorance, but he ought to be dealt with according to the rule for the offence into which he has fallen there, and further confusion should be put on him, saying: 'Your reverence, this is bad for you, this is badly gotten by you, that you, while the Patimokkha is being recited, do not attend applying yourself properly.” 74) Cấm nói chư Tăng nghị xử chẳng công bình: A monk should not say that the Order's decision is not fair. 75) Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị, bằng cách đứng dậy hay bước ra ngoài: A monk should not break or interrupt the meeting, not giving the consent by rising up or departing from his seat when the Order is engaged in decisive talk. 76) Cấm làm cản trở không cho thi hành điều mà giáo hội đã quyết nghị: A monk should not first consent for ligitimate acts, and afterwards engage in criticism. 77) Cấm học đi học lại, chuyện cãi lẫy gây gổ, sau khi đã êm thuận: A monk should not stand overhearing other monks when they are quarrelling, disputing. 78) Cấm giận mà đánh một vị Tỳ Kheo khác: When angry and displeased, a monk should not give another monk a blow. 79) Cấm giận mà vả, hay vặn tay một vị Tỳ Kheo khác: When angry and displeased, a monk should not raise the palm of the hand against another monk. 80) Cấm cáo gian rằng vị Tỳ Kheo khác phạm giới Tăng Tàn: A monk should not defame another monk with an unfounded charge of an offence entailing a formal meeting of the Order. 81) Cấm vào cung vua thình lình, không chờ đợi được nghinh tiếp: A monk should not suddenly enter the threshold of the king palace without waiting to be welcome. 82) Cấm lượm, hay sai lượm của quấy vật bỏ rơi, trừ khi nào biết rõ chủ nhân mà muốn cất giùm: A monk should not pick up or cause another to pick up treasure or what is considered to be treasure, except when he knows the owner and picks to set aside for the owner to take it. 83) Cấm vào làng sái giờ, trừ ra có việc của Giáo Hội: A monk should not enter a village at the wrong time, unless the Order instructs him to go for some kind of urgent thing to be done. 84) Cấm ngồi ghế cao (cao hơn tám lóng tay), nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp: A monk should not sit on a couch or chair with the legs higher than eight finger-breadths 85) Cấm dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt: A monk should not have a couch or a chair made covered with good cotton. 86) Cấm dùng ống đựng kim bằng xương, sừng, ngà: A monk should not have a needle-case made of bone or ivory or horn 87) Cấm trải ngọa cụ choán chỗ rộng quá: A monk should not sit or lie on a large piece of sleeping bag (oversize). 88) Cấm dùng vải giẻ nhiều quá để bó chỗ đau (bốn gang chiều dài và hai gang chiều rộng): A monk should not use oversize itch-cloth (four spans in length and two spans in breadth). 89) Cấm dùng chăn tắm lớn quá: A monk should not use oversize towel or cloth for the rains. 90) Cấm mặc áo rộng dài như áo của Phật (áo của Phật chiều dài chín gang, chiều rộng sáu gang): A monk should not have a robe made the measure of the Buddha's robe, or more (the measures for the Buddha's robe are nine spans in length and six spans in breadth).
cửu thập lục chủng ngoại đạo
Chín mươi sáu phái ngoại đạo—Vào thời Đức Phật còn tại thế, có hơn 96 phái ngoại đạo—At the time of the Buddha, there were more than ninety-six classes of non-Buddhists or heretics and their practices.
; (九十六種外道) Chín mươi sáu thứ ngoại đạo. Cũng gọi Cửu thập lục thuật, Cửu thập lục kính, Cửu thập lục đạo, Cửu thập lục chủng dị đạo. Đây là 96 thứ đạo giáo đã có mặt ở Ấn độ khoảng trước và sau đức Phật ra đời. Về số ngoại đạo tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng hai thuyết cho là có 96 thứ, 95 thứ là phổ thông hơn cả. Tuy nhiên, hai con số này trong các kinh luận cũng có mấy thuyết: 1. Lục sư ngoại đạo: Phú lan na ca diếp, Mạt già lê câu xa lê tử, San xà dạ tì la chi tử, A kì đa sí xá khâm bà la, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni kiền đà nhã đề tử, mỗi nhà có 15 đệ tử, cộng chung là 96 người. Lục sư ngoại đạo đều có 16 pháp phải học, trong đó, một pháp thầy tự học, 15 pháp còn lại mỗi pháp dạy cho một đệ tử, thầy trò cộng lại là 96 pháp. 2. Năm ngoại đạo: Số luận, Thắng luận, Li hệ, Thú xuất và Biến xuất. Mỗi phái có 18 bộ, tổng cộng là 95 thứ. Ngoài ra, sự quan hệ giữa 95 và 96 có một số thuyết như sau: - Chín mươi sáu phái đều là ngoại đạo. - Trong 96 phái có một phái gia nhập Phật giáo là Độc tử bộ, còn lại 95 phái ngoại đạo. - Trong 96 phái ngoại đạo, giáo nghĩa của ngoại đạo Ni kiền tử gần giống Phật giáo nên trừ ra, còn lại 95 phái. - Trong 96 phái có một phái là Tiểu thừa, thực ra không phải ngoại đạo, nhưng vì Đại thừa chê nên trừ ra, còn lại 95 phái. - Trong 96 phái ngoại đạo có một phái thông Phật giáo, được coi là nội giáo nên trừ ra mà còn 95 ngoại đạo.[X. luật Tát bà đa Q.5 - Hoa nghiêm kinh sớ Q.28 - Nghĩa lâm chương toản chú (Phổ tịch) - Bách luận sớ (Cát tạng) - Chân ngôn giáo giới nghĩa Q.trung].
cửu thập nhị giới đọa
Pacittiya (skt)—Theo Luật Tạng, 90 giới Ba Dật Đề, nếu phạm một trong những tội nầy mà chí thành phát lồ sám hối trước Tăng chúng, thì tội được tiêu khiên. Nếu không chí thành phát lồ sám hối, chẳng những sẽ trở ngại cho việc khởi sanh thiện pháp, mà sẽ còn bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—According to The Book of Discipline, Part II and III, translated into English by I.B. Horner, ninety-two Pacittiya offences which require confession and repentance. If a monk doing any of them, makes a confession of it before the Sangha with clear heart, he will become free from the offence. If he doesn't, the offence itself will not only obstruct his development of wholesome acts, but it will also cause his rebirth in lower realms, i.e., hell, hungry ghosts, or animal. 1) Cấm cho rằng phải một việc sai trái: A monk should not tell a conscious lie (telling a conscious lie means the words, the utterance, the speech, the talk, the language, the intimation, the un-ariyan statement of one intent upon deceiving with words, saying: “I have not seen what I have seen, heard what I have not heard, sensed what I have not sensed, etc). 2) Cấm chê bai làm người rủn chí: A monk should not should not speak insulting speech to discourage people. 3) Cấm nói lưỡi hai chiều đâm thọc làm cho người ta giận nhau: A monk should not speak slandering speech to cause people to break their harmony. 4) Cấm để cho người chưa thọ đại giới thuyết pháp. Tuy nhiên, nếu cùng bậc thiện hữu tri thức tại gia nghiên cứu kinh điển thì không phạm giới Ba Dật Đề: A monk should not make one who is not ordained to speak dharma line by line. However, if a monk studies together with lay good advisors, there is no offence of Pacittiya. 5) Cấm ở quá hai đêm chung với người chưa thọ giới nhà sư: A monk should not lie down in a sleeping place with one who is not ordained for more than two nights. 6) Cấm ở chung nhà với đàn bà trong một đêm: A monk should not lie down in a sleeping place with a woman. 7) Cấm một mình thuyết pháp cho đàn bà nghe, dù chỉ năm sáu câu mà không có đàn ông trí thức tham dự: A monk should not teach dharma to women in more than five or six sentences, except a learned man is present. 8) Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông với người chưa thọ đại giới: A monk should not speak of a condition of furthermen to one who is not ordained. 9) Cấm học tội một vị Tỳ Kheo khác với người chưa thọ giới nhà sư: A monk should not speak of another monk's very bad offence to one who is not ordained. 10) Cấm đào đất, cuốc đất, hay sai người đào cuốc: A monk should not dig the ground or have it dug. 11) Cấm đốn cây: A monk should not destroy vegetable growth. 12) Cấm tranh cãi nhiều lời làm cho người ta phiền nhiễu: A monk should not argue to disturb other people. 13) Cấm chê bai, khi dễ, nói ác, hay xúc phạm đến vị Sư Trị Sự trong Giáo Hội: A monk should not defame or look down or bad mouth in criticizing the headmaster of the Order. 14) Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể: A monk should not spread in the open air a chair or a mattress or a stool belonging to the Order, setting forth, but does not removed or have it removed, to cause it destroyed. 15) Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất: A monk should not spread a sleeping place or having it spread in a dwelling belonging to the Order, setting forth, but should neither remove it nor have it removed 16) Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác: A monk should not lie down in a sleeping place in a dwelling belonging to the Order, knowing that he is encroaching upon the space intended for a monk arrived first. 17) Cấm đuổi hay sai đuổi một vị Tỳ Kheo không hạp ý mình ra khỏi phòng: Out of angry and displeased, a monk should not throw out another monk or cause him to be thrown out from a dwelling place belonging to the Order. 18) Nếu ở phần trên gác, khi giăng mùng lót ván, cấm để cây rớt trúng người: A monk who dwells in a lofty cell with an upper part, in a dwelling place belonging to the Order. He should not cause any boards or removable feet of his couch to fall down to hurt other people. 19) Khi lợp tịnh xá, cấm dùng đồ quá nhiều chất nặng khiến bị sập: A monk should not cover his dwelling place with heavy material that collapse to harm other people. 20) Cấm lấy nước dùng khi biết trong nước ấy có côn trùng: A monk should not sprinkle grass or clay, or should not have them sprinkled if he knows that the water contains life. 21) Khi không có lệnh của Giáo Hội sai đi, cấm dạy đạo, đọc giới bổn với Tỳ Kheo Ni: A monk should not exhort nuns if there is no order from the Sangha. 22) Mặc dầu có lệnh Giáo Hội, cấm thuyết pháp với chúng Tỳ Kheo Ni từ buổi chiều tối đến sáng: Even though agreed upon by the Order, a monk should not exhort nuns after sunset. 23) Khi không có lệnh của Giáo Hội, cấm đi đến khu của Tỳ Kheo Ni để hỏi han hay cỗ võ: When there no order from the Sangha, a monk should not approach nun's quarters, and exhort them. 24) Cấm nói giễu rằng các vị sư đi thuyết pháp cho Tỳ Kheo Ni cốt chỉ để ăn uống no say: A monk should not joke that the elder monks are exhorting nuns for the sake of gain. 25) Cấm tặng áo cho Tỳ Kheo Ni xa lạ, trừ khi mua dùm hoặc đổi áo mới: A monk should not give robe-material to a nun who is not a relation, except in exchange. 26) Cấm may áo hay nhờ ai may áo cho Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not sew or cause a robe to be sewn for a nun who is not a relation. 27) Cấm đi chung với Tỳ Kheo Ni dầu từ làng nầy tới làng kia, trừ khi ngặt nghèo (trường hợp ngặt nghèo ở đây phải được giáo hội đồng ý là đường xá nguy hiểm và ghê sợ đến nỗi người đi đường phải mang vũ khí): A monk should not have arranged together with a nun to go along the same road, even among villages, except at the right time (in this case, the right time must be agreed upon by the Order that the road is dangerous and frightening that one must go with a weapon) 28) Cấm hẹn nhau đi chung một thuyền, trừ khi qua đò: A monk should not have arranged together with a nun to embark in a boat and to go either upstream or downstream, except for crossing over to the other bank on a ferry. 29) Cấm ăn cơm của thí chủ đãi, khi nhờ có Tỳ Kheo Ni nói vào thí chủ mới chịu đãi: A monk should not eat alms-food knowing that it was procured through the intervention of a nun. 30) Cấm ngồi chung với Tỳ Kheo Ni, ở một chỗ che khuất: A monk should not sit down in a private place together with a nun. 31) Cấm ăn đến hai buổi cơm một ngày, hai buổi hai ngày trong một nhà: A monk should not eat more than one meal at a public house, nor should he eat two meals in two days at the same house. 32) Cấm ăn nhiều buổi cơm, ở nhiều chỗ trong một ngày, trừ khi đau yếu: A monk should not eat more than one meal and residing at various locations in one day, except when he is ill. 33) Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa, nhưng khi còn đói có thể hỏi thêm: A monk should not eat solid food or soft food that is not left over when he feels full (satisfied); however, when he is still hungry, he can ask for more food. 34) Cấm lãnh đồ ăn nhiều quá mà không chia sớt cho vị khác (Khi vị sư đi hay được mời thỉnh đến nhà thí chủ và được cúng dường hai hay ba bát bột nhồi mật để mang về, vị Tăng ấy có thể nhận. Nếu muốn nhiều hơn thế là phạm tội Ba Dật Đề. Nếu nhận về tự viện mà không chia lại cho chư Tăng trong tự viện cũng bị phạm tội Ba Dật Đề): When receiving a lot of alms-food, a monk must share them with other monks in the Order. If not, there is an offence of Pacittiya (If a monk, going up to a family, and was invited to take cakes or barley-gruel, two or three bowlfuls may be accepted by the monk. Should he accept more than that, there is an offence of Pacittiya. Should he accept two or three bowfuls, take these cakes back from there and would not share with other monks in the monastery, there is an offence of Pacittiya). 35) Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa, nhưng khi còn đói có thể hỏi thêm: A monk should not eat solid food or soft food that is not left over when he feels full (satisfied); however, when he is still hungry, he can ask for more food. 36) Cấm ép vị sư khác ăn no rồi mà phải ăn lại nữa: A monk should not ask another monk who has eaten, who is satisfied, to take solid or soft food that is not left over. 37) Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ hôm sau: A monk should not eat or partake solid or soft food at the wrong time (wrong time means afternoon has passed until sunrise). 38) Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng hôm sau khỏi đi khất thực: A monk should not eat or partake of solid food or soft food that was stored so that he doesn't have to go begging for alms-food the next day 39) Cấm hỏi đồ ăn mỹ vị, trừ cơn đau phải tùy món cần dùng: A monk who is not ill should not ask for sumptuous foods (sumptuous foods include ghee, fresh butter, oil, honey, fish, meat, milk, curds, etc.). 40) Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường: A monk should not convey to his mouth nutriment not given. 41) Cấm trao tay thí đồ ăn cho lõa thể hay nam nữ ngoại đạo: A monk should not give with his own hand solid food or soft food to a naked ascetic, or to a wanderer or to a female wanderer. 42) Cấm oán ghét, kiếm cớ làm cho một vị sư khác bơ vơ nhịn đói: A monk should not find fault to dismiss another monk from going into a village for alms-food to cause that monk to starve. 43) Cấm đi vào nhà có đồ ăn mà ngồi xuống: A monk should not intrude and sit down in a house with food. 44) Cấm lãnh đồ ăn rồi, mà còn ngồi lại chỗ kín, trong nhà có đàn bà đẹp: After receiving alms-food, a monk should not sit down in a private place on a secluded seat together with a woman. 45) Cấm ngồi gần đàn bà chỗ chán chường (chỗ riêng tư có thể đưa đến việc hành dâm): A monk should not sit down together with a woman in a private place (that can lead to the development of sexual intercourse). 46) Cấm nếu không được mời mà tự ý đến nhà gia chủ trước giờ ăn, trừ phi đó là lúc phát áo (sau mùa an cư kiết hạ): Whatever monk, being invited and being provided with a meal, not having asked for permission if a monk be there, should call upon families before a meal or after a meal, except at a right time, there is an offence of expiation. In this case, a right time is the time of giving robes, the time of making robes: 47) Ngoại trừ lúc bệnh, cấm nhận trước lời mời đến nhà gia chủ trước kỳ hạn đến bốn tháng: When a monk is not ill, an invitation to accept a requisite for four months may be accepted, unless there be a renewed invitation, unless there be a permanent invitation. If one should accept for longer than that, there is an offence of expiation. 48) Cấm xem diễn binh tập trận: A monk should not go to see an army fighting. 49) Nếu vì lý do gì đó mà phải đến viếng trại binh, cấm ở chung với quân binh hai ngày: If there is some reason for a monk to go to visit the army, that monk should not stay with the army for two nights. 50) Nếu phải viếng trại binh, cấm đi xem sự tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ: If a monk, staying with the army for less than two nights, he should not go see a sham-fight or to the troops in array or to the massing of the army or to see a review of the army. 51) Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau: A monk should not drink fermented liquor and spirits, nor should he smoke opium, nor should he chew betel. 52) Cấm lấy tay thọc lét để chọc cười những vị Tăng khác: A monk should not tickle with the fingers to make other monks laugh. 53) Cấm chơi thể thao hay giởn cợt một cách quá tự do dưới nước: A monk should not playing in the water (sporting in the water). 54) Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách cản ngăn: A monk should not disrespect any blame or warning from the elder monks. 55) Cấm dọa nạt làm cho một vị Tỳ Kheo khác kinh sợ: A monk should not frighten another monk. 56) Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau yếu, lạnh lẽo hay trong đêm tối: If he is not ill, a monk should not warm himself, kindle or cause a fire to be kindled. 57) Cấm tắm tới hai lần trong nửa tháng, trừ khi đau yếu, dơ hay nực vào trời hè: A monk should not bathe at intervals of less than half a month, except at a right time, i.e., the time of illness, the body is dirty, or too hot during the summer time. 58) Cấm nhận, mặc, hay dùng chăn áo, màu vải trắng, mà phải nhuộm lại cho xấu trước khi dùng: A monk should not obtain or wear a robe (white) that has no disfigurement of black, dark green or muddy colors. If a monk makes use of a new robe without taking any one mode of disfigurement (of the three modes of disfigurements), there is an offence of expiation. 59) Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi: A monk should not get back things that he already offered to another monk. If a monk assigns a robe to a monk or to a nun or to a female probationer or to a male novice, then make use of it or take it back to give to another monk, there is an offence of expiation. 60) Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi người dấu đồ của người khác (như bát, áo, vải, vân vân): A monk should not hide or cause to hide another monk's bowl or robe or cloth, even in fun. 61) Cấm cố ý giết chết mạng thú vật: A monk should not intentionally deprive a living thing of life. 62) Cấm uống nước mà mình biết là có trùng: A monk should not knowingly make use of water that contains living things. 63) Cấm khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận: A monk should not knowingly open up for a further formal act a legal question already settled according to rule. 64) Cấm dấu tội thô tục, chọc ghẹo, giao dâm của một Tỳ Kheo (tội thô tục nầy liên hệ đến Tứ Ba La Di hay Thập Tam Giới Tăng Tàn): A monk should not knowingly conceal another monk's very bad offence (an offence that involves defeat and the thirteen entailing a formal meeting of the Order). 65) Cấm nhận vào hàng Tỳ Kheo, kẻ nào chưa đúng 20 tuổi trọn: A monk should not knowingly confer the Upasampada Ordination on an individual under twenty years of age. 66) Cấm đi chung với gian nhân, dầu từ làng nầy hay làng kia cũng vậy: A monk should not have arranged together with a caravan set on theft, should not knowingly go along the same high road, even among villages. 67) Cấm đi chung với đàn bà dầu từ làng nầy tới làng kia cũng vậy, trừ khi ngặt nghèo: A monk should not have arranged together with a woman to go along the same road (see the last part of number 27). 68) Cấm nói “Tôi hiểu giáp pháp được truyền dạy bởi Đức Thiện Thệ, mà khi tu theo những pháp nầy sẽ có những trở ngại.” Chư Tăng sẽ hỏi đi hỏi lại người phạm lỗi nầy ba lần. Nếu người ấy vẫn khư khư không sửa, thì người ấy phạm luật Ba Dật Đề: Whatever monk should speak thus: “In so far as I understand dhamma taught by the Blessed One, it is that in following those things called stumbling-blocks by the Blessed One, there is no stumbling-block at all;” that monk should be spoken to by the monks thus: “Do not, venerable one, speak thus, do not misrepresent the Blessed One, misrepresentation of the Blesed One is not all seemly, and the Blessed One certainly would not speak thus; in many a figure, your reverence, are things that are stumbling-blocks called stumbling-blocks by the Blessed One, and in following these there is a veritable stumbling-block.” And if that monk, when he has been spoken to thus by the monks, should persist as before, that monk should be admonished by the monks up to the third time for giving up that course. If being admonished up to the third time, he should give it up, that is good. But if he should not give it up, there is an offence of expiation. 69) Cấm ăn uống và giao thiệp, hay nói chuyện với vị sư nói sái quấy: A monk should not knowingly eat together with or be in communion with or lie down in a sleeping place with a monk who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha. 70) Cấm giữ tại chùa và để hầu mình, kẻ Sa Di nói sái quấy: A monk should not knowingly allow the novice who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha, should not encourage that novice, should not support, should not eat with that novice, nor should he lie down in a sleeping place with that novice . 71) Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại: A monk, being spoken to by monks regarding a rule, should speak thus: “Your reverences, I will not train myself in this rule of training until I have inquired about it of another experienced monk who is expert in discipline.” There is an offence of Pacittiya. He should say: “Monks, it should be learnt, it should be inquired into, it should be investigated by a monk who is training.” 72) Cấm nói phá rằng đọc giới bổn là phiền hà vô ích: When the Patimokkha is being recited, a monk should not disparaging the rule of training by sayng thus: “On what account are the lesser and minor rules of training recited? They only tend to remorse, to vexation, to perplexity.” 73) Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới bổn: A monk should not avoid being blamed by saying that he does not understand the Patimokkha (Whatever monk, while the Patimokkha is being recited every half-month, should speak thus: “Only now I do understand that this rule is, as is said, handed down in a clause, contained in a clause, and comes up for recitation every half-moth; if other monks should know concerning this monk has sat down two or three times before, not to say oftener, while Patimokkha was being recited, there is not only no freedom for that monk on account of his ignorance, but he ought to be dealt with according to the rule for the offence into which he has fallen there, and further confusion should be put on him, saying: 'Your reverence, this is bad for you, this is badly gotten by you, that you, while the Patimokkha is being recited, do not attend applying yourself properly.” 74) Cấm giận mà đấm một vị Tỳ Kheo khác: When angry and displeased, a monk should not give another monk a blow. 75) Cấm giận mà vả, hay vặn tay một vị Tỳ Kheo khác: When angry and displeased, a monk should not raise the palm of the hand against another monk. 76) Cấm cáo gian để làm hại rằng vị Tỳ Kheo khác phạm giới Tăng Tàn: A monk should not defame another monk with an unfounded charge of an offence entailing a formal meeting of the Order. 77) Cấm cố ý nói vì cảm thấy thương xót một vị Tăng rằng: “Không bao giờ vị ấy cảm thấy an ùi dù chỉ trong một lúc.”: Whatever monk should intentionally arouse remorse in a monk thinking, “There will be no comfort for him even for a moment,” if having done it for just this object, not for another, there is an offence of expiation. 78) Cấm học đi học lại, chuyện cãi lẫy gây gổ, sau khi đã êm thuận: A monk should not stand overhearing other monks when they are quarrelling, disputing. 79) Cấm làm cản trở không cho thi hành điều mà giáo hội đã quyết nghị: A monk should not first consent for ligitimate acts, and afterwards engage in criticism. 80) Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị, bằng cách đứng dậy hay bước ra ngoài: A monk should not break or interrupt the meeting, not giving the consent by rising up or departing from his seat when the Order is engaged in decisive talk. 81) Cấm nói vị Tăng khác được áo vì sự quen biết với Giáo Hội: Whatever monk, having given away a robe by means of a complete Order, should afterwards engage in criticism, saying: “The monks are appropriating a benefit belonging to the Order according to acquaintanceship,” there is an offence of expiation. 82) Nếu biết ai lấy của Giáo Hội mà không báo là phạm tội Ba Dật Đề: Whatever monk should knowingly appropriate to an individual an apportioned benefit belonging to the Order, there is an offence of expiation. 83) Cấm vào cung vua thình lình, không chờ đợi được nghinh tiếp: A monk should not suddenly enter the threshold of the king palace without waiting to be welcome. 84) Cấm lượm, hay sai lượm của quấy vật bỏ rơi, trừ khi nào biết rõ chủ nhân mà muốn cất giùm: A monk should not pick up or cause another to pick up treasure or what is considered to be treasure, except when he knows the owner and picks to set aside for the owner to take it. 85) Cấm vào làng sái giờ, trừ ra có việc của Giáo Hội: A monk should not enter a village at the wrong time, unless the Order instructs him to go for some kind of urgent thing to be done. 86) Cấm dùng ống đựng kim bằng xương, sừng, ngà: A monk should not have a needle-case made of bone or ivory or horn 87) Cấm ngồi ghế cao (cao hơn tám lóng tay), nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp: A monk should not sit on a couch or chair with the legs higher than eight finger-breadths 88) Cấm dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt: A monk should not have a couch or a chair made covered with good cotton. 89) Cấm trải ngọa cụ choán chỗ rộng quá: A monk should not sit or lie on a large piece of sleeping bag (oversize). When a piece of cloth to sit upon is being made for a monk, it must be made to a proper measure. This is the proper measure: in length two spans, in breadth one and a half spans. In exceeding this measure, there is an offence of expiation. 90) Cấm dùng vải giẻ nhiều quá để bó chỗ đau (bốn gang chiều dài và hai gang chiều rộng): A monk should not use oversize itch-cloth (four spans in length and two spans in breadth). 91) Cấm dùng chăn tắm lớn quá: A monk should not use oversize towel or cloth for the rains. When a cloth for the rains is being made for a monk, it must be made to a proper measure: six spans in length, two and a half spans in breadth. 92) Cấm mặc áo rộng dài như áo của Phật (áo của Phật chiều dài chín gang, chiều rộng sáu gang): A monk should not have a robe made the measure of the Buddha's robe, or more (the measures for the Buddha's robe are nine spans in length and six spans in breadth). (VI) Patidesaniya Tứ Giới Hối Quá: Patidesaniya (skt)—Theo Luật Tạng, chữ Patidesaniya là gốc chữ Bắc Phạn, có nghĩa là phát lồ xưng ra sự vi phạm luật xuất gia trước Giáo Hội. Bốn giới Ba La Đề Xá Ni là những vi phạm mà hình phạt phải được Giáo Hội quyết định—According to the Vinaya Pitaka, the word Patidesaniya is a Sanskrit word means a confession of an offence or some sort of transgression of monastic rules which ought to be confessed before the Order, and the punishments for these offences are decided by the Order. 1) Cấm chẳng đau mà ăn nhờ đồ của Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not eat or partake of solid food or soft food, having accepted it with his own hand from the hand of a nun who is not a relation. 2) Cấm chẳng từ chối Tỳ Kheo Ni nói với thí chủ đãi cơm cho mình (khi thí chủ mời chư Tăng đến nhà thiết đãi Trai Tăng. Nếu có một vị Tỳ Kheo Ni đến bên bảo thí chủ đem đến cho chư Tăng món cà ri, món cơm, vân vân. Vị Tăng phải quở trách ngay vị Tỳ Kheo Ni ấy “Ni sư nên đứng qua một bên khi chư Tăng đang thọ dụng.” Nếu không là phạm phải tội Ba La Đề Xá Ni): When a householder invites a monk to come to the family. If a nun comes to be standing as though giving directions, saying: “Here give curry, give cooked rice here,” that nun should be rebuked by the monk, saying: “Stand aside, sister, while the monks eat.” If not, the monk violates the Patidesaniya. 3) Cấm xin mãi một nhà, làm cho người ta nghèo túng: A monk should not keep begging for foods at the same house to cause them to be poor because of their continuous offerings. 4) Cấm sư ẩn cư ở chỗ nguy hiểm, để có sự nguy hại cho thí chủ khi đem cơm tới cho mình: A monk should not reside in those jungle lodgings that are dangerous and frightening for donators who travel to offer foods and drinks. (VII) Sekhiyadhamma Giới Chúng Học Tăng: Sikkka-karaniya (skt)—Sekhiya (p)—Tiếng Phạn gọi là Thức Xoa Ca La Ni—Theo Luật Tạng, Thức Xoa Ca La Ni là một trăm giới cần học trong sinh hoạt hằng ngày—According to the Vinaya Pitaka, Sikkka-karaniya includes one hundred rules of conduct which are connected with daily activities. 1) Cái chăn phải vận từ nịch lưng tới nửa ống chân, chứ không được xăn, để phủ trùm rún và hai đầu gối. Nếu ai để chăn xăng lên hay lòng thòng ra ngoài, dù phía trước hay phía sau, đều bị phạm tội Thức Xoa Ca La Ni: A monk should wear the inner robe all round for covering the circle of the navel and the circles of the knees. Whoever out of disrespect dresses with an inner robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing. 2) Bộ áo ba cái phải mặc cho có thứ lớp: A monk should wear the upper robe even al round (whoever out of disrespect puts on an upper robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing). 3) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A monk should not, out of disrespect, having uncovered the body, go among the houses. 4) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A monk should not, out of disrespect, sit down among the house without proper clothes. 5) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà múa tay: A monk should not go fidgeting amidst the houses (making play with hand or foot). 6) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà múa tay: A monk should not sit fidgeting in inhabited areas (making play with hand or foot in the houses). 7) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà mắt trông bên nầy, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước chỉ khoảng bề ngang một luống cày: A monk should not go among the houses with eyes glanced around. He should go amidst the houses with eyes cast down looking only a plough's distance ahead. 8) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà mắt trông bên này, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước khoảng bề ngang một luống cày: A monk should not sit down in the houses with eyes glanced around. He should sit down amidst the houses with eyes cast down looking only a plough's distance ahead. 9) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A monk should not go among the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both (if out of disrespect having lifted up the robe on one side or on both, there is an offence of wrong-doing). 10) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A monk should not sit down amidst the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both. 11) Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ: A monk should not go into the houses with loud laughter. 12) Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ: A monk should not sit down in the houses with loud laughter. 13) Chẳng nên gây tiếng động, dù nhỏ, khi đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ: With little noise wil I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should go sit down amidst the houses with little noise. 14) Cấm khinh mạn gây nên tiếng động lớn khi đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ: Whoever out of disrespect, making a loud noise, a great noise, goes sits down amidst the houses, there is an offence of wrong-doing. 15) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A monk should not go amidst the houses swaying the body. He should hold the body straight. 16) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A monk should not sit down amidst the houses sway the body. He should hold the body straight. 17) Cấm đánh đàng xa khi đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ: Not swaying the arms will I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should not go sit down amidst the houses swaying the arms. One should go sit down holding the arms straight. 18) Cấm khinh mạn, tay vừa đánh đàng xa vừa đi vào và ngồi tại nhà cư sĩ: Whoever out of disrespect, the arms swaying , goes sits down amidst the houses bending the arms, there is an offence of wrong-doing. 19) Cấm lắc lư đầu khi đi vào nhà cư sĩ: Not swaying the head will I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should not go sit down amidst the houses swaying the head. One should go sit down holding the head straight. 20) Cấm khinh mạn, vừa đi vào nhà cư sĩ mà đầu vừa lắc lư: Whoever out of disrespect, the head swaying , goes sits down amidst the houses bending the head, there is an offence of wrong-doing. 21) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A monk should not enter any lay people's houses with the arms placed on the hips, or with the hands on both sides and the elbows turned outwards (akimbo). 22) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A monk should not sit down in lay people's houses with the arms akimbo (arms place on the hips, or hands on both sides and elbows turned outwards). 23) Cấm ngồi trong nhà cư sĩ mà ngẫng đầu cao: One should not go sit down muffled up amidst the houses. 24) Cấm ngồi trong nhà cư sĩ mà mặc áo: Whoever out of disrespect goes sits down amidst the houses, having dressed himself, including his head, in the upper robe, there is an offence of wrong-doing. 25) Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ: A monk should not crouch down on the heels (sit arms akimbo) in the lay people's houses. 26) Cấm ngồi trong nhà cư sĩ mà lè lưỡi hay chống tay lên hàm: One should not sit down amidst the houses lolling. Whoever out of disrespect sits down amidst the houses lolling, there is an offence of wrong-doing. 27) Phải để ý khi lãnh cơm: A monk should accept almsfood attentively. Whoever out of disrespect accepts almsfood inattentively, as though desirous of throwing it away, there is an offence of wrong-doing. 28) Cấm nhận thực phẩm cúng dường mà ngó qua ngó lại: One should accept almsfood thinking of the bowl. Whoever out of disrespect accepts almsfood, looking about here and there, there is an offence of wrong-doing. 29) Cấm nhận quá nhiều cà ri: Almsfood with equal curry should be accepted. Whoever out of disrespect accepts too much curry, there is an offence of wrong-doing. 30) Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa: A monk should not hide (cover up) sauce and curries with rice out of desire to get more. One should accept almsfood at an even level. Whoever out of disrespect accepts heaped-up almsfood, there is an offence of wrong-doing. 31) Lãnh cơm và đồ ăn đủ rồi, phủ cái bát lại, vừa ăn vừa quán tưởng. Những ai bất kính, ăn đồ khất thực mà không quán tưởng là phạm tội: After accepting enough alms-food, a monk should cover the bowl; then he should sit straight up, eat and contemplate at the same time. Whoever out of disrespect eats almsfood inattentively, there is an ofence of wrong-doing. 32) Cấm ngó qua ngó lại khi thọ dụng thức ăn cúng dường: One should eat almsfood thinking of the bowl. Whoever out of disrespect eats almsfood looking about here and there, there is an offence of wrong-doing. 33) Cấm lựa thức ăn khi thọ dụng đồ cúng dường: One should eat almsfoos on continuous alms-tour. Whoever out of disrespect eats almsfood, having chosen here and there, there is an offence of wrong-doing. 34) Cấm ăn quá nhiều cà ri khi thọ dụng đồ cúng dường: Almsfood with equal curry should be eaten. Whoever out of disrespect eats too much curry, there is an offence of wrong-doing. 35) Món nào xúc trước thì ăn trước: A monk should eat the alms-food working down from the top without making exceptions (choosing or selecting foods). One should eat almsfood not having chosen from the top. Whoever out of disrespect eats almsfood having chosen from the top, there is an offence of wrong-doing. 36) Cấm che lấp cà ri để được cúng dường thêm: One should not cover up the curry or the condiment with conjey, desiring something more. Whoever out of disrespect covers up the curry or the condiment with conjey, desiring something more, there is an offence of wrong-doing. 37) Chẳng nên hỏi canh ngon, hoặc món lạ, trừ khi đau yếu phải tùy món cần dùng: A monk should not ask for sauce and/or rice for his own appetizing unless he is sick. 38) Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng thèm muốn. Chẳng nên nhìn sang bát của người khác có ý thèm thuồng, nếu không là phạm tội: A monk should not look enviously at another's bowl. One should not look at others' bowls captious-mindedly. Whoever out of disrespect looks at others' bowls captious-mindedly, there is an offence of wrong-doing. 39) Chẳng nên ăn miếng lớn: When eating alms-food, a monk should not make up too large a mouthful. Whoever out of disrespect makes up too large a mouthful, there is an offence of wrong-doing. 40) Cấm để nguyên miếng đồ ăn dài mà cho vào miệng: One should make up a piece of food into a round. Whoever out of disrespect makes up a long piece of food, there is an offence of wrong-doing. 41) Chẳng nên há miệng lớn, mà đút đồ ăn (chẳng nên há miệng trước khi miếng đồ ăn được đưa đến miệng): A monk should not open the mouth till the mouthful is brought to it. Whoever out of disrespect opens the mouth when the mouthful is not brought close, there is an offence of wrong-doing. 42) Chẳng nên cho nguyên bàn với thức ăn tay vào miệng khi
Cửu thế
九世; C: jiǔshì; J: kuse;|Nghĩa là Chín đời, theo giáo lí của Hoa Nghiêm tông: 1. Quá khứ của quá khứ (過去過去); 2. Tương lai của quá khứ (過去未來); 3. Hiện tại của quá khứ (過去現在); 4. Quá khứ của tương lai (未來過去); 5. Hiện tại của tương lai (未來現在); 6. Tương lai của tương lai (未來未來); 7. Tương lai của hiện tại (現在未來); 8. Quá khứ của hiện tại (現在過去); 9. Hiện tại của hiện tại (現在現在; theo kinh Hoa Nghiêm)
cửu thế
Thế giới của quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi thời thế giới lại có riêng quá khứ, hiện tại và vị lai của chính nó—Past, present and future worlds, each has its own past, present and future.
; (九世) Chín đời. Ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại mỗi đời lại có ba đời, hợp lại là chín đời.Tức là: quá khứ của quá khứ, vị lai của quá khứ, hiện tại của quá khứ, quá khứ của vị lai, vị lai của vị lai, hiện tại của vị lai, quá khứ của hiện tại, vị lai của hiện tại và hiện tại của hiện tại. Giáo nghĩa Hoa nghiêm cho rằng chín đời này tương tức tương nhập, tóm lại làm một niệm. Một niệm hợp với chín đời thành mười đời. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4].
cửu thế gian
Chín thế giới thấp trong mười thế giới, thế giới cao nhất hay thế giới thứ mười là Phật giới. Chín thế giới còn lại luôn bị ảo giác mê muội của giác quan chi phối—The nine lower of the ten worlds, the highest or tenth being the Buddha-world. The rest nine are always subject to illusion, confused by the senses. ** For more information, please see Lục Phàm Tứ Thánh in Vietnamese-English Section.
cửu thế giới
The nine lower of the ten worlds.
cửu thể a di đà
(九體阿彌陀) I. Cửu thể A di đà: Vãng sinh cực lạc có chín phẩm khác nhau, cho nên thân Phật cũng chia làm chín thể để ứng hợp với chín phẩm vãng sinh. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. II. Cửu thể A di đà: Trong sách Quán tâm niệm Phật, ngài Giác vận - vị tăng Nhật bản - cho rằng trong ba chữ A di đà, chữ A biểu thị không giả trung, tức là Báo thân đầy đủ ba thân - chữ Di biểu thị giả không trung, tức là Ứng thân đầy đủ ba thân - chữ Đà biểu thị trung không giả, tức là Pháp thân đầy đủ ba thân. Như vậy, ba chữ A di đà có đầy đủ nghĩa ba thân, cho nên một thân Phật A di đà có đầy đủ chín thể.
Cửu thứ đệ định
九次第定; C: jiǔ cìdì dìng; J: kyūshidaijō;|Chín pháp tu thiền định theo tuần tự thứ lớp. Pháp thiền mà hành giả tiến hành theo thứ tự không gián đoạn từ Tứ thiền (四禪), Tứ vô sắc định (四無色定), đến Diệt tận định (滅盡定).
cửu thứ đệ định
The samàdhi of the nine degrees, i.e. the four dhyànas tứ thiền, the four realms beyond form tứ vô sắc and the samàdhi beyond sensation and thought diệt thụ tưởng định.
; Chín mức độ thiền định—The samadhi of the nine degrees: (A) Tứ Thiền định: Four dhyanas (see Tứ Thiền Thiên). (B) Tứ Vô sắc định: Four formless—Four realms beyond form (see Tứ Vô Biên Xứ and Tứ Vô Biên Xứ Định). (C) Chỉ tức nhứt thiết thọ tưởng định: Vô thọ tưởng định—The samadhi beyond sensation and thought.
; (九次第定) Chín định thứ đệ. Phạm:navànupùrvasamàpattaya#. Hàm ý là chín loại Thiền định phải tu theo thứ lớp không xen lẫn. Cũng gọi Vô gián thiền hoặc Luyện thiền. Chỉ cho chín loại thiền định gồm: bốn thiền cõi Sắc, bốn xứ cõi Vô sắc và định Diệt thụ tưởng. Vì tâm không xen lẫn, cứ y theo thứ lớp từ định này vào định khác, cho nên gọi là Thứ đệ định. Phân biệt như sau: 1. Sơ thiền thứ đệ định. 2. Nhị thiền thứ đệ định. 3. Tam thiền thứ đệ định. 4. Tứ thiền thứ đệ định. 5. Không xứ thứ đệ định. 6. Thức xứ thứ đệ định. 7. Vô sở hữu xứ thứ đệ định. 8. Phi tưởng phi phi tưởng xứ thứ đệ định.9. Diệt thụ tưởng thứ đệ định. Hành giả chuyên tâm nhất ý, trí tuệ sắc bén, tự xét nghiệm tâm mình, từ tâm sơ thiền vào nhị thiền, cho đến vào định Diệt thụ tưởng, dứt bặt hết tâm thức: đó là đạt đến chỗ cùng tột của Thiền định. Vì thiền này không xen lẫn niệm khác nên cũng gọi là Vô gián thiền - lại vì thiền này tinh luyện các vị thiền làm cho tâm trong sạch, cũng như luyện vàng, nên gọi là Luyện thiền. [X. luận Đại trí độ Q.21, Q.81 - Đại thừa nghĩa chương Q.13 - Đại minh tam tạng pháp số Q.34].
Cửu thức
九識; C: jiǔshì; J: kushiki;|Thức thứ chín, do Duy thức tông thêm vào trong hệ thống 8 thức. Theo tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai, thức nầy được gọi là Thanh tịnh thức (A-ma-la thức).
cửu thức
The nine kinds of cognition or consciousness: those of sight, hearing, smell, taste, touch, mind, chấp ngã thức manas, tàng thức àlaya, bạch tịnh thức amala.
; Chín loại ý thức—The nine kinds of cognition or consciousness (Vijnana): 1) Nhãn Thức: Consciousness of the sight. 2) Nhĩ Thức: Consciousness of the hearing. 3) Tỷ Thức: Consciousness of the smelling. 4) Thiệt Thức: Consciousness of the tasting. 5) Thân Thức: Consciousness of touch. 6) Ý Thức: Consciousness of the mind. 7) Mạt Na Thức: A Đà Na Thức--Consciousness of manas—Ý căn. 8) A Lại Da Thức: Consciousness of the mental perception—Tàng thức. 9) A Ma La Thức: Phật Thức—Vô Cấu Thức—Thanh Tịnh Thức—Chân Như hay chân tâm—Purified or Buddha consciousness.
cửu thức nghĩa
(九識義) Nghĩa của chín thức. I. Cửu thức nghĩa: Chín thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da và a ma la. Phật giáo Tiểu thừa lập sáu thức, tông Địa luận và tông Duy thức của Phật giáo Đại thừa lập tám thức. Tông Nhiếp luận thuộc hệ thống ngài Chân đế lại nêu thêm thức A ma la (Vô cấu thức, Chân như thức) thứ chín mà thành lập nghĩa chín thức. Tông kính lục quyển 4 giải thích nghĩa của chín thức như sau: 1. Nhãn thức: mắt duyên với sắc sinh ra thức mắt, nhờ thế mắt mới nhận biết các mầu sắc v.v... 2. Nhĩ thức: tai duyên với tiếng sinh ra thức tai, nhờ đó tai có thể nghe các thứ âm thanh. 3. Tị thức: mũi duyên với hương sinh ra thức mũi, nhờ thế mũi có thể ngửi biết các thứ mùi thơm, hôi... 4. Thiệt thức: lưỡi duyên với mùi vị sinh ra thức lưỡi, nhờ đó lưỡi có thể nếm các vị cay, ngọt v.v... 5. Thân thức: thân duyên với tiếp xúc sinh ra thức thân, nhờ thế thân có thể nhận biết sự đụng chạm. 6. Ý thức: ý duyên với pháp sinh ra thức ý, nhờ thế mà ý thức có thể nhận biết và phân biệt năm trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc (sở duyên của năm căn trước). 7. Mạt na thức: cũng gọi Phân biệt thức. Thức này vốn không có định thể, nó là phần nhơ nhuốm của thức thứ tám, nương vào Tự chứng phần của thức thứ tám mà sinh, duyên theo kiến phần của thức thứ tám mà chấp làm ngã. Thức này còn là chủ của thức thứ sáu, chấp cảnh sở duyên thiện ác của thức thứ sáu mà chuyển thành nhơ nhớp hay trong sạch. 8. A lại da thức: dịch là tàng thức (thức chứa trữ). Thức này nhơ sạch cùng nguồn, sinh diệt hòa hợp, có đủ cả bốn phần là: Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần và Chứng tự chứng phần. 9. A ma la thức: dịch là Thanh tịnh thức, Bạch tịnh vô cấu thức. Thức này là nguồn gốc tâm địa trong sạch của hết thảy chúng sinh, là quả đức pháp thân mà chư Phật Như lai chứng được, ở nơi bậc Thánh không thêm, ở nơi phàm phu không bớt, không phiền não trong sinh tử, chẳng giải thoát trong Niết bàn, nhơ sạch đều mất, rỗng rang như thái hư. [X. kinh Đại thừa mật nghiêm Q.trung, Q.hạ - kinh Đại thừa nhập lăng già Q.9 - Thành duy thức luận Q.1 phần đầu - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối]. II. Cửu thức nghĩa. Luận Hiển thức đặc biệt lập ra thuyết chín thức. Nghĩa là ba cõi có hai loại thức là: Hiển thức và Phân biệt thức. Trong hai loại này, Hiển thức là thức gốc, căn cứ vào tác dụng chuyển làm năm trần bốn đại của thức này mà chia làm chín loại: 1. Thân thức: thức chuyển làm năm căn mắt, tai, thân v.v... 2. Trần thức: thức chuyển làm sáu trần sắc, thanh, hương v.v... 3. Dụng thức: thức chuyển làm sáu thức là thức mắt, thức tai v.v... 4. Thế thức: thức chuyển làm ba đời, sống chết nối nhau không dứt... 5. Khí thức: cũng gọi là Xứ thức. Thức chuyển làm thế gian vật chất và mười phương ba đời. 6. Số thức: thức hay tính toán so đo. 7. Tứ chủng ngôn thuyết thức: thức có thể thấy nghe hiểu biết. 8. Tự tha dị thức: thức chuyển thân mình thân người mỗi mỗi khác nhau trong sáu đường. 9. Thiện ác sinh tử thức: thức chuyển thành những việc thiện ác sinh tử trong sáu đường: địa ngục, ngũ quỉ, súc sinh, A tu la, người và trời.
cửu thức tôn
(九識尊) Chín vị tôn thức: Mật giáo đem chín thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da và a ma la phối hợp với chín vị tôn: Quan âm, Di lặc, Văn thù, Phổ hiền, A súc, Bảo sinh, Di đà, Bất không thành tựu và Đại nhật trong viện Trung đài bát diệp của mạn đồ la Thai tạng giới, hoặc phối với chín vị: Phổ hiền, Văn thù, Quan âm, Di lặc, Cổ âm, Di đà, Hoa khai phu, Bảo chàng và Đại nhật.
cửu thực
(九食) Chín cách ăn. Ăn là để nuôi lớn giúp ích thân tâm. Theo Phật giáo, ăn có chín cách: đoạn thực, xúc thực, tư thực, thức thực, thiền duyệt thực, pháp hỉ thực, nguyện thực, niệm thực và giải thoát thực. Bốn cách ăn trước là lối ăn của thế gian, thường nuôi lớn cái sắc thân của sự sống chết, còn năm cách ăn sau là lối ăn của xuất thế gian, có khả năng giúp ích cho sự sống trí tuệ của pháp thân. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.41]. (xt. Thực).
cửu trai nhật
(九齋日) Chín loại ngày chay. Tức là tháng giêng, tháng năm và tháng chín là ba tháng ăn chay trường, cộng với sáu ngày chay của mỗi tháng là: ngày 8, 14, 15, 23, 29 và 30 thành là chín loại ngày chay. Người ăn chay là người giữ giới không ăn quá ngọ, nghĩa là sau 12 giờ trưa cho đến 6 giờ sáng hôm sau không được ăn. Cửu trai nhật là những ngày Đế thích, Tứ thiên vương đi xem xét các việc thiện ác ở nhân gian, cho nên không ăn quá ngọ là để giữ gìn cho thân tâm được trong sạch. [X. Tam tạng pháp số Q.35 - Thích thị yếu lãm Q.hạ - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].
cửu trai nhựt
Chín ngày ăn chay, trì giới, và cử ăn quá ngọ. Trong chín ngày nầy vua Trời Đế Thích và Tứ Thiên vương dò xét sự thiện ác của nhân gian—Nine days of abstinence on which no food is eaten after twelve o'clock and all the commandments must be observed. On these days Indras and the four deva-kings investigate the conduct of men: (A) 1) Mỗi ngày trong tháng giêng: Every day of the first month. 2) Mỗi ngày trong tháng năm: Every day of the fifth month. 3) Mỗi ngày trong tháng chín: Everyday of the ninth month. (C) Các tháng khác mỗi tháng sáu ngày—Other months each month six days as follow: 4) Mồng tám: The 8th. 5) Mồng chín: The 9th. 6) Mồng 14: The 14th. 7) Hăm ba: The 23rd . 8) Hăm chín: The 29th. 9) Ba mươI: The 30th.
cửu triệt
Bất động cửu triệt hay kiếm sắc có chín ngọn lửa xung quanh của Bất Động Minh Vương, một biểu tượng của sự phá hủy phiền não và chướng ngại trong tam giới cửu địa—The nine penetrating flames of the sword of Acala, emblem of the destruction of illusions and hindrances in the nine realms.
; (九轍) Chỉ bản thệ của Bất động minh vương. Nghĩa là thệ nguyện dứt sạch phiền não nghiệp chướng trong ba cõi chín địa mà hoàn thành quả Phật của mười địa. Vì chung quanh thanh gươm sắc bén của Bất động minh vương có chín ngọn lửa mạnh cho nên gọi là Cửu triệt. Còn thanh gươm sắc bén của Ngài thì gọi là Cửu triệt kiếm.
; (九徹) Hàm ý là chín nguyên tắc. Tức là khi sư Tăng duệ phán thích kinh Pháp hoa chia ra làm chín khoa, gọi là Cửu triệt. Cứ theo truyện Tăng duệ trong Pháp hoa truyện kí quyển 2 nói, thì sư Tăng duệ là đệ tử của ngài Cưu ma la thập - ngài La thập thường sai sư Tăng duệ giảng kinh Pháp hoa, sư mới chia toàn kinh làm chín khoa (cửu triệt): 1. Hôn thánh tương khấu triệt: phẩm tựa. 2. Thiệp giáo qui chân triệt: phẩm Phương tiện, đức Phật nói pháp cho hàng thượng căn. 3. Hưng loại tiềm chương triệt: phẩm Thí dụ, đức Phật nói pháp cho hàng trung căn. 4. Thuật cùng thông tích triệt: phẩm Tín giải, nói về những điều mà bốn vị đại đệ tử ngộ giải. 5. Chương nhân tiến ngộ triệt: phẩm Hóa thành và phẩm Thụ kí, đức Phật nói pháp cho hàng hạ căn. 6. Tán dương hành lí triệt: phẩm Pháp sư. 7. Bản tích vô sinh triệt: phẩm Đa bảo. 8. Cử nhân trưng quả triệt: phẩm Dũng xuất và phẩm Thọ lượng. 9. Xưng dương vĩnh tế triệt: từ phẩm Tùy hỉ công đức trở xuống là phần lưu thông của toàn kinh. Pháp hoa văn cú kí quyển 8 phần 4 cũng đem chín triệt phối hợp với phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông, tức là: - Triệt thứ nhất là phần tựa. - Bảy triệt từ thứ hai đến thứ tám là phần chính tông. - Triệt thứ chín là phần lưu thông. Hai sách nói trên đều cho Cửu triệt do sư Tăng duệ lập, cho nên gọi sư Tăng duệ là Cửu triệt pháp sư. Nhưng Pháp hoa huyền luận quyển 1 lại nói Cửu triệt do sư Đạo dung lập, cho nên gọi sư Đạo dung là Cửu triệt pháp sư. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.1 (Cát tạng) - Pháp hoa du ý - Pháp hoa văn cú Q.8 phần dưới].
cửu triệt ấn minh
(九徹印明) Ấn tướng và chân ngôn chín triệt. Chỉ cho ấn tướng và chân ngôn dùng thanh gươm sắc bén thông suốt (triệt) ba cõi chín địa của Bất động minh vương để chặt đứt hết phiền não nghiệp chướng của tất cả chúng sinh. Cũng gọi Bất động cửu triệt, Bất động cửu triệt kiếm ấn, Cửu triệt kiếm ấn. Tức là kiến lập bức trướng Tam tôn, lấy Bất động minh vương làm bản tôn (vị tôn chính ngồi ở giữa), hai bộ Đại nhật hầu hai bên, dùng ấn Vô sở bất chí (có thể đến khắp mọi nơi) để quán tưởng, ba lần tụng các chữ chân ngôn: A, Hàm, Tông quán thành nghĩa cửu triệt. Đây hàm ý là hành giả dứt trừ phiền não trong ba cõi chín địa, chuyển chín thức mà mở bày năm trí. [X. Giác nguyên sao Q.hạ]. (xt. Cửu Triệt).
cửu trùng
Heaven.
cửu trụ
(久住) Trụ ở lâu tại một nơi chỗ. Trong kinh Pháp hoa có mấy phẩm giải nghĩa cửu trụ như sau: - Trong phẩm Tín giải, cửu trụ có nghĩa là đứa cùng tử con của Trưởng giả lưu lạc bên ngoài lâu ngày. - Trong phẩm Kiến bảo tháp, cửu trụ có nghĩa là làm cho chính pháp tồn tại ở thế gian lâu dài. - Trong phẩm Như lai thọ lượng, cửu trụ có nghĩa khuyến thỉnh đức Phật Thích ca ở lâu nơi đời để giáo hóa chúng sinh.- Trong phẩm Diệu âm bồ tát thì cửu trụ chỉ cho sự ở đời lâu dài của Đa bảo Như lai. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2 phẩm Vãng sinh - kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.2]. (xt. Kinh Pháp Cửu Trụ).
cửu trụ tâm
Lúc thiền định lòng chẳng tán loạn khiến trụ vào một cảnh, khởi ra chín tấm lòng: - an trụ tâm: lóng an mà đậu - nhiếp trụ tâm: lòng thâu mà đậu - giải trụ tâm: lòng hiểu mà đậu - chuyển trụ tâm: lòng chuyển dời mà đậu - phục trụ tâm: lòng hàng phục mà đậu - tức trụ tâm: lòng thở hơi mà đậu - diệt trụ tâm: lòng tịch diệt mà đậu - tánh trụ tâm: lòng vì tánh mà đậu - trì trụ tâm: lòng cầm giữ mà đậu.
; Chín giai đoạn trụ tâm—Nine stages of mental concentration when in dhyana meditation (An, Nhiếp, Giải, Chuyển, Phục, Tức, Diệt, Tính, Trì).
; (九住心) Chín tâm trụ. Khi tu thiền định, hành giả không để cho tâm tán loạn, khiến nó an trụ ở một cảnh. 1. An trụ tâm: khiến tâm ở yên nơi đối tượng. 2. Nhiếp trụ tâm: ngay khi tâm khởi tác dụng duyên theo đối tượng bên ngoài thì lập tức khiến tâm trở về. 3. Giải trụ tâm: đương khi tâm hiểu biết phân biệt duyên theo đối tượng bên ngoài, thì thu nhiếp tâm ngay. 4. Chuyển trụ tâm: đình chỉ tâm hiểu biết phân biệt, an trụ nơi đối tượng. 5. Phục trụ tâm: khi vào thiền định lâu, nếu tâm sinh nhàm chán, thì phải chiết phục ngay. 6. Tức trụ tâm: Khi trong tâm động niệm thì chấm dứt ngay. 7. Diệt trụ tâm: Ngay lúc tâm tham ái dấy lên phải diệt trừ luôn. 8. Tính trụ tâm: Đương khi các vọng niệm đình chỉ hoạt động, thì biết rõ bản tính của tâm vốn trong sáng, tự nhiên an trụ. 9. Trì trụ tâm: Kết quả của công phu thiền định được tích lũy nên lâu ngày được an trụ trong định và tự nhiên làm thiện, dứt ác. [X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7].
cửu trụ tịnh
Acinnakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
cửu tu
(久修) Tu lâu - Tức là tu hành trong thời gian dài. Phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 59 hạ) nói: Hai người con này có sức thần lớn, phúc đức, trí tuệ, đã tu hành đạo Bồ tát từ lâu. Ngoài ra, tu hành trường kì để rèn luyện thân tâm, thì gọi là Cửu tu luyện hành. [X. kinh Đại bảo tích Q.119 - kinh Duy ma Q.hạ phẩm Chúc lụy].
Cửu Tuyền
(九泉): chín suối, nơi mai táng người chết, là tên gọi khác của Huỳnh Tuyền (黃泉), Âm Ty (陰司) hay Địa Ngục (地獄). Từ này vốn xuất xứ từ bài thơ Thất Ai (七哀) của Nguyễn Vũ (阮瑀, ?-212) nhà Hán: “Minh minh Cửu Tuyền thất, man man trường dạ đài (冥冥九泉室,漫漫長夜台, mịt mờ nhà Cửu Tuyền, mênh mang đài đêm trường).” Hay như trong Dương Bình Vương Truyện (陽平王傳) của Ngụy Thư (魏書) có câu: “Nhược vi tử quỷ, vĩnh khoáng thiên nhan, Cửu Tuyền chi hạ, thật thâm trùng hận (若爲死鬼、永曠天顏、九泉之下、實深重恨, nếu làm quỷ chết, mãi xa mặt trời, dưới cõi Chín Suối, thật sâu thẳm hận).” Trong Truyện Kiều cũng có câu: “Trên Tam Đảo dưới Cửu Tuyền, tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.” Về con số 9, theo quan niệm của cổ đại Trung Quốc, nó biểu thị ý nghĩa nhiều, cực lớn; như sách y thuật cổ Tố Vấn (素問) có giải thích rằng: “Thiên địa chi chí số, thỉ ư nhất, chung ư cửu yên (天地之至數、始於一、終於九焉, con số tột cùng của trời đất khởi đầu bằng số 1 và kết thúc bằng số 9).” Quan niệm về Cửu Tuyền vốn phát xuất từ kinh nghiệm đào giếng của người xưa. Khi đào sâu xuống lòng đất, người ta phát hiện dòng nước suối, nước chảy ra từ lớp đất vàng, thường có màu vàng; cho nên, cổ nhân thường gọi tầng sâu thẳm của lòng đất là Huỳnh Tuyền (Suối Vàng). Thế giới của người chết thường được xem như là dưới Âm Tào Địa Phủ (陰曹地府), trong lòng đất sâu thẳm; từ đó, người ta thêm số 9 vào chữ tuyền (泉) để chỉ một nơi sâu thẳm như Âm Tào Địa Phủ và cũng là nơi yên nghĩ của người chết.
cửu tuyền
The nine springs—Hells—Hades.
cửu tâm luân
Chín sự luân chuyển của tâm tưởng—The nine evolutions or movements of the mind in perception.
; (九心輪) Chín tâm bánh xe. Nghĩa là chín loại tác dụng của tâm khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó thì xoay vòng như bánh xe liên tục không ngừng. 1. Hữu phần tâm: tâm khi chưa tiếp xúc với đối tượng không hề suy nghĩ hiểu biết. 2. Năng dẫn phát tâm: tâm khi tiếp xúc đối tượng dấy lên tác dụng mạnh mẽ. 3. Kiến tâm: tâm khi tiếp xúc với đối tương khởi tác dụng của sáu thức thấy, nghe, ngửi, nếm v.v... 4. Đẳng tầm cầu tâm: tác dụng tâm phán đoán đối tượng có giá trị hay không. 5. Đẳng quán triệt tâm: tâm khởi tác dụng thấu suốt giá trị của đối tượng. 6. An lập tâm: tác dụng tâm sau khi biết rõ giá trị của đối tượng, có thể dùng lời nói để diễn đạt. 7. Thế dụng tâm: tác dụng tâm căn cứ vào sự quyết định của tâm An lập ở trước, tiến tới hành động lựa chọn đối tượng (lấy hay bỏ). 8. Phản duyên tâm: động tác đã dấy lên, khi muốn dừng nghỉ, tâm khởi tác dụng trở lại duyên theo việc đã làm trước. 9. Hữu phần tâm: tâm trở về Hữu phần tâm lúc ban đầu. Trên đây tuy chia làm chín tâm, nhưng ngoại trừ Kiến tâm thông sáu thức ra, tám tâm còn lại đều là tác dụng của ý thức. Vả lại, 1 và 2 đều là Hữu phân tâm, cho nên chín tâm thực ra chỉ có tám. Thuyết Hữu phần tâm này xuất phát từ Thượng tọa bộ của Tiểu thừa, còn tông Duy thức của Đại thừa thì cho rằng Hữu phần tâm là chỉ cho thức A lại da. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính) - Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ phần đầu - Phật giáo Thượng tọa bộ cửu tâm luân lược thích (Thang dụng đồng, vãng nhật tạp cảo)].
cửu tôn
Chín bậc đáng tôn vinh trên bông sen tám cánh, Phật Tỳ Lô Giá Na ở trung tâm, bốn vị Phật và bốn vị Bồ Tát trên mỗi cánh sen. Bông sen biểu trưng cho nhân tâm—The nine honoured ones in the eight-petalled hall of the Garbhadhatu; Vairocana in the center of the lotus, with four Buddhas and four Bodhisattvas on the petals; the lotus representing the human heart.
; (九尊) Chín vị tôn. Chỉ cho đức Đại nhật Như lai ngồi chính giữa và bốn vị Phật, bốn Bồ tát ngồi trên tám cánh hoa sen trong viện Trung đài Bát diệp của Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Cũng gọi Ngũ Phật tứ Bồ tát (năm đức Phật bốn vị Bồ tát), Trung đài cửu tôn (chín vị tôn ở Trung đài). Theo phẩm Bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật quyển 5 chép, thì chín vị tôn là chỉ cho đức Đại nhật Như lai cùng với tám vị tôn khác là: Bảo chàng Như lai ở phương đông, Khai phu hoa vương Như lai ở phương nam, Cổ âm Như lai ở phương bắc, Vô lượng thọ Như lai ở phương tây, Phổ hiền bồ tát ở phương đông nam, Quán tự tại bồ tát ở phương đông bắc, Diệu cát tường đồng tử ở phương tây nam và Từ thị bồ tát ở phương tây bắc. Trong Định sự nghiệp quán đính cụ túc chi phần quyển 4 do ngài An nhiên soạn ở viện Quán trung có nói rõ về mầu sắc của hình tượng, ấn tướng và tòa ngồi v.v... của chín vị tôn này. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
cửu tông
The nine sects in Buddhism—See Tông Phái in Vietnamese-English Section.
cửu tăng
(九僧) Chín vị tăng. Là chín vị sư lãnh đạo chúng tăng trong đại pháp hội. Đó là: Đạo sư, Chú nguyện sư, Bái sư, Tán hoa sư, Phạm âm sư, Tích trượng sư, Dẫn đầu, Đường đạt, Nạp chúng.
cửu tăng thi
(九僧詩) Thơ của chín vị tăng đời Tống. Những vị tăng ấy là: Huệ sùng ở Hoài nam, Hi trú ở Kiếm nam, Bảo tiên ở Kim hoa, Văn triệu ở Nam việt, Hành triệu ở Thiên thai, Giản trường ở Như châu, Duy phượng ở Thanh thành, Vũ chiêu ở Giang đông và Hoài cổ ở Nga mi. Chín vị này là những nhà thơ nổi tiếng và đều có thi phẩm lưu hành ở đời.
Cửu tướng
九相; C: jiǔxiāng; J: kusō;|Chín nghiệp tướng vô minh được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận. Đó là Tam tế (三細) và Lục thô (六麁).
cửu tướng
(九相) Chín tướng. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín nói, thì vì duyên theo bất giác mà phàm phu sản sinh ra tướng của Tam tế lục thô (ba tướng nhỏ nhiệm và sáu tướng thô to). Tam tế là: Vô minh nghiệp tướng, Năng kiến tướng và Cảnh giới tướng - Lục thô: Trí tướng, Tương tục tướng, Chấp thủ tướng, Kế danh tự tướng, Khởi nghiệp tướng và Nghiệp hệ khổ tướng. (xt. Tam Tế Lục Thô).
cửu tưởng
(九想) Chín tưởng. Cũng gọi Cửu tướng, Cửu tưởng môn, Cửu tưởng quán. Tức là chín cách quán tưởng về xác chết ghê sợ của người ta để giúp người tu hành đoạn trừ vọng niệm và tình chấp đối với nhục thể của mọi người. Là một trong những pháp quán bất tịnh. Đó là: 1. Thanh ứ tưởng (Phạm: Vinìlakasaôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng hoại, Thanh tưởng. Quán tưởng xác chết bị gió thổi nắng dãi biến thành mầu vàng, đỏ rồi xanh bầm. 2. Nùng lạn tưởng (Phạm: Vipùyakasaôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng lạn, Giáng trấp tưởng. Quán tưởng da thịt xác chết rữa nát, từ trong chín cái lỗ (hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, cái mồm, đường đại tiện và đường tiểu tiện) máu mủ rịn ra và giòi bọ nhung nhúc. 3. Trùng đạm tưởng (Phạm: Vipađumaka-saôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng trùng đạm, Thực bất tiêu tưởng. Quán tưởng xác chết bị giòi bọ rúc rỉa và chim thú mổ cắn để ăn. 4. Bành trướng tưởng (Phạm: Vyàdhmàtaka-saôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng thanh bột. Quán tưởng xác chết chương phình lên. 5. Huyết đồ tưởng (Phạm: Vilohitakasaôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng hồng hủ, Nùng huyết tưởng. Quán tưởng máu mủ từ xác chết tuôn ra lênh láng. 6. Hoại lạn tưởng: (Phạm: Vikhàditakasaôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng trùng thực. Quán tưởng xác chết da thịt nứt nẻ rữa nát. 7. Bại hoại tưởng (Phạm: Viwiptaka- Quán Tưởng Xương Vương Vãi saôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng giải tán. Quán tưởng da thịt rã tan, chỉ còn gân xương rời rạc, vương vãi. 8. Thiêu tưởng (Phạm: Vidagdhakasaôjĩà), cũng gọi Tưởng tướng hỏa thiêu. Quán tưởng xác chết bị đốt thành tro. 9. Cốt tưởng (Phạm: Asthi-samjnà), cũng gọi là Tưởng tướng sinh, khô cốt tưởng. Quán tưởng xác chết tan hoại hết, chỉ còn lại một đống xương trắng ngổn ngang. Về thứ tự của chín pháp quán trên đây còn có các thuyết khác. Nếu như đem vẽ thành tranh thì gọi là Cửu tưởng đồ. Trong luận Thanh tịnh đạo của Phật giáo Nam truyền ở mục nói về 40 Nghiệp xứ, cũng có kể ra 10 pháp quán Bất tịnh đối với nhục thể: tưởng chương phình lên, tưởng xanh bầm, tưởng rữa thối và mủ rịn ra, tưởng đứt nát, tưởng chim thú mổ cắn ăn, tưởng tan nát, tưởng chia lìa, tưởng máu me, tưởng giòi bọ rúc rỉa và tưởng hài cốt. [X. Tạp a hàm Q.27 - kinh Quán Phật tam muội hải Q.2 - luận Đại trí độ Q.21 - Q.44 - Đại thừa nghĩa chương Q.13]. CỬU VỊ TRAI Chín vị chay. Còn gọi là Cưu mĩ thái, Cung bị thái. Vật cúng dường có đủ chín vị ngon, thường được dâng cúng vào đêm trước ngày giỗ chính trong Thiền tông. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.14 Tế cúng môn].
cửu tưởng quán
Nivasamjna (skt)—Chín loại thiền quán về thân thể giúp ta thoát được luyến ái về thân—Nine types of meditation on corpse which helps free us from attachment to the human body: 1) Quán xác sình lên: Vyadhmatakasamjna (skt)—Tưởng thây vừa mới chết và bắt đầu sình lên—Contemplate on a bloated corpse. 2) Quán xác đổi sắc bầm tím: Vinilakas (skt)—Tưởng thây chết đổi sắc bầm xanh tím—Contemplate on a corpse changing color to dark purple. 3) Quán xác rút nhỏ lại: Vipadumakas (skt)—Tưởng thây đang hoại diệt—Contemplate on a decaying corpse. 4) Quán xác rỉ máu: Vilohitakas (skt)—Tưởng thây sình bấy nức rã và rỉ máu—Contemplate on blood leaking out from a corpse. 5) Quán xác bị phủ đầy máu mủ: Vipuyakas (skt)—Tưởng thây chết sình lên đầy dẫy máu mủ và sắp rã—Contemplate on a corpse covered with pus. 6) Quán xác bị thú ăn: Vikhaditakas (skt)—Tưởng thây rã ra từng khúc, làm mồi cho chim thú—Contemplate on a corpse that torn apart by wild birds and wild beasts. 7) Quán xác bị rả ra từng phần: Viksiptakas (skt)—Tưởng thây đang tan rã ra từng phần—Contemplate on the scattered limbs of a corpse. 8) Quán xác chỉ còn lại xương trắng: Asthis (skt)—Tưởng nắng chan mưa gội, thây nay chỉ còn trơ lại một bộ xương trắng—Contemplate on left-over white bones. 9) Quán tro còn lại: Vidagdhakas (skt)—Tưởng xương tiêu mụt theo thời gian, nay chỉ còn trơ lại một nhúm tro—Contemplate on the bones reduced to ashes.
Cửu tập
久習; C: jiǔxí; J: kyūjū;|Hành giả lão luyện. Người tinh chuyên tu tập lâu năm và tích tập được nhiều công đức.
cửu tịnh nhục
Nine kinds of clean flesh. From 1 to 5) See Ngũ Tịnh Nhục. 6) Con vật không phải vì mình mà bị giết: Creatures not killed for me. 7) Thịt khô tự nhiên: Do con vật tự chết lâu ngày dưới ánh nắng làm cho thịt khô lại—Naturally dried meat. 8) Những món không phải do ước hẹn, nhưng tình cờ gặp mà ăn: Things not seasonable or at the right time. 9) Món thịt đã làm từ trước khi có sự hiện diện của mình tại đó: Things previously killed.
cửu tổ tương thừa
(九祖相承) Chín vị tổ truyền nối nhau. Một trong hệ thống tương thừa của tông Thiên thai. Chín vị tổ theo thứ tự truyền nối giáo pháp Thiên thai là: Long thụ, Tuệ văn, Tuệ tư, Trí khải, Quán đính, Trí uy, Tuệ uy, Huyền lãng và Trạm nhiên. Xét ra, tông Thiên thai tuy do ngài Trí khải khai sáng, nhưng ngài Trí khải nối pháp ngài Tuệ tư, ngài Tuệ tư lại nối pháp ngài Tuệ văn, mà ngài Tuệ văn thì nhờ đọc Tam trí nhất tâm trong luận Đại trí độ và bài kệ của phẩm Tứ đế trong luận Trung quán của bồ tát Long thụ nên liễu ngộ ý chỉ sâu xa của Tam quán tương tức, vì thế mà bồ tát Long thụ được tôn làm vị Cao tổ của tông Thiên thai. Từ ngài Trí khải trở xuống, theo thứ tự truyền nối, cho đến ngài Trạm nhiên. Ngài Trạm nhiên phát huy tinh thần pháp yếu trong các tác phẩm của chư tổ, làm cho giáo môn hưng thịnh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.7].
cửu tội báo
See Cửu Não in Vietnamese-English Section.
cửu tự
(九字) Chín chữ. Một loại chú thuật của Nhật bản. Những tăng sĩ của Mật giáo và những tu sĩ (sơn phục) thuộc phái Tu nghiệm đạo ở Nhật bản thường tụng niệm chín chữ: Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trần, Liệt, Tại, Tiền để gìn giữ thân mình khi vào núi tu hành. Cách tụng chú của họ là miệng vừa niệm, tay vừa vạch những đường ngang dọc giao nhau trên hư không, gọi là Thiết cửu tự. Trong những đường vạch dọc ngang ấy, có bốn chữ bùa theo chiều dọc và năm chữ theo chiều ngang, cũng gọi là Lục giáp bí chú. Bí chú này vốn bắt nguồn từ Đạo giáo của Trung quốc và được Mật giáo Nhật bản dùng theo. Tương truyền trì chú thuật này có thể giữ mình, chế phục để chiến thắng kẻ khác và diệt trừ được tất cả tai họa. Đồ biểu như sau: Binh Giả Trần Tại 2 4 6 8 Lâm 1 Đấu 3 Giai 5 Liệt 7 Tiền 9
cửu tự danh hiệu
(九字名號) Chín chữ tên hiệu. Tức là tên hiệu gồm chín chữ: Na Mô Bất Khả Tư Nghị Quang Như Lai. Danh hiệu này được Chân tông Nhật bản dùng để hiển bày đức riêng của Phật A di đà mà tông này thờ làm Bản tôn (vị tôn chính).
cửu tự mạn đồ la
Chín chữ Mạn Đồ La chín chữ huyền diệu. Bông sen tám cánh với Quán Tự Tại Bồ Tát ở trung đài và Phật A Di Đà trên mỗi cánh, thường được kiến lập thành hình chữ “Hất Lý” (chủng) trong Phạn ngữ—The nine magical character Mandala—The lotus with its eight petals and its center; Avalokitesvara may be placed in the heart and Amitabha on each petal, generally the shape of the Sanskrit “Seed” letter.
; (九字曼荼羅) Mạn đồ la chín chữ. Tức là mạn đồ la được kiến lập trên đài giữa và tám cánh của hoa sen nở, trên đó đặt chủng tử chung (hrì#) của Phật Di đà và các Bồ tát. Nếu dùng hình tượng để thay cho chủng tử, thì ở chính giữa an vị Quan âm, trên tám cánh lớp trong đều an vị Phật di đà, Màn Đồ La Chín Chữ tám cánh lớp ngoài an vị tám bồ tát: Quan âm, Từ thị, Hư không tạng, Phổ hiền, Kim cương thủ, Văn thù, Trừ cái chướng và Địa tạng. Ở bốn góc của viện trong bày bốn Cúng dường: Hi, Man, Ca, Vũ - ở viện Ngoài có bốn Cúng dường: Hương, Hoa, Đăng (đèn), Đồ (hương bôi) và bốn Nhiếp Bồ tát: Câu (cái móc), Sách (sợi dây lớn), Tỏa (cái khóa), Linh (chuông nhỏ). Bởi vì, diệu quả Di đà trên tám cánh sen là do nguyện lực nơi nhân vị thành tựu, còn bồ tát đại bi Quán tự tại được đặt ở đài giữa là để hiển bày Quan âm của toàn phần quả đức trở về Nhân vị. Lại nữa, ở cõi nước Tịnh diệu thì gọi A di đà Phật, còn ở cõi đời có năm trọc ác thì gọi là Quán tự tại bồ tát, tất cả đều là sự hóa hiện của pháp thân từ bi. [X. Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ]. (xt. A Di Đà Mạn Đồ La).
Cửu U
(九幽): chín tầng địa ngục tối tăm. Theo Thượng Thanh Linh Bảo Tế Độ Đại Thành Kim Thư (上清靈寶濟度大成金書) có giải thích rằng: “Cửu U giả, nãi Bắc Đẩu chi sở hóa dã; đông viết U Minh, nam viết U Âm, tây viết U Dạ, bắc viết U Phong, đông bắc viết U Đô, đông nam viết U Trị, tây nam viết U Quan, tây bắc viết U Phủ, trung ương viết U Ngục (九幽者、乃北斗之所化也、東曰幽冥、南曰幽陰、西曰幽夜、北曰幽酆、東北曰幽都、東南曰幽治、西南曰幽關、西北曰幽府、中央曰幽獄, Cửu U là do Bắc Đẩu hóa thành; phương đông có U Minh, phương nam có U Âm, phương tây có U Dạ, phương bắc là U Phong, phương đông là U Đô, phương đông bắc là U Đô, phương đông nam là U Trị, phương tây nam là U Quan, phương tây bắc là U Phủ, ở trung ương là U Ngục).” Cho nên, trong nghi thức phá địa ngục của Đạo Giáo có “Cửu U Đăng Nghi (九幽燈儀).” Như trong bài kệ nguyện chuông buổi sáng được dùng trong các tự viện Phật Giáo có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ, thượng chúc chư Phật Bồ Tát quang chiếu càn khôn, hạ tư pháp giới chúng sanh đồng nhập Nhất Thừa, Tam Giới Tứ Sanh chi nội, các miễn luân hồi, Cửu U Thập Loại chi trung, tất ly khổ hải, ngũ phong thập vũ, miễn tao cơ cẩn chi niên, nam mạch đông giao, câu chiêm Nghiêu Thuấn chi nhật, can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh, trận bại thương vong, câu sanh Tịnh Độ, phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng, lãng tử cô thương, tảo hoàn hương tỉnh, vô biên thế giới, địa cửu thiên trường, viễn cận đàn na, tăng diên phước thọ (洪鐘初叩、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府、上祝諸佛菩薩光照乾坤、下資法界眾生同入一乘、三界四生之內、各免輪回、九幽十類之中、悉離苦海、五風十雨、免遭飢饉之年、南陌東郊、俱瞻堯舜之日、干戈永息、甲馬休征、陣敗傷亡、俱生淨土、飛禽走獸、羅網不逢、浪子孤商、早還鄉井、無邊世界、地久天長、遠近檀那、增延福壽, chuông vừa mới đánh, kệ báu ngâm cao, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ, trên chúc chư Phật Bồ Tát chiếu sáng càn khôn, dưới ban pháp giới chúng sanh cùng vào Nhất Thừa, trong chốn Ba Cõi Bốn Loài, đều miễn luân hồi; Mười Loại Cửu U Địa Ngục, tất rời biển khổ, năm gió mười mưa, miễn gặp nghèo đói hằng năm, bờ nam cõi đông, đều hưởng trọn ngày Nghiêu Thuấn, can qua mãi dứt, ngựa chiến dừng chân, bại trận chết thương, thảy sanh Tịnh Độ, chim bay thú chạy, lưới bẫy thôi sa, lãng tử buôn xa, sớm về quê cũ, vô biên thế giới, trời đất lâu dài, đàn na xa gần, tăng trưởng phước thọ).”
Cửu viễn
久遠; C: jiǔyuăn; J: kuon;|1. Thời gian rất lâu dài; 2. Thời quá khứ; 3. Thời cổ đại.
cửu viễn
(久遠) Lâu xa. Tức là thời gian lâu dài. Thời gian vô hạn đã lâu xa, gọi là Cửu viễn kiếp. Thời gian thành Phật trong lịch sử có khảo cứu được gọi là Cận thành Phật (thành Phật gần). Nếu đã thành Phật từ vô thủy đến nay thì gọi là Cửu viễn thực thành Phật, hoặc là Cửu viễn cổ thành Phật. (xt. Thập Kiếp Di Đà, Bản Tích Nhị Môn).
cửu viễn thật thành
(久遠實成) Thực đã thành Phật từ lâu xa rồi. Cũng gọi Cửu thành, Cửu viễn cổ thành, Cửu viễn bản Phật, Vô thủy cổ Phật. Nghĩa là đức Phật Thích ca đã thành Phật và hóa độ chúng sinh từ vô thủy đến nay. Còn đức Thích ca khai ngộ mới thành Phật (cận thành) dưới gốc cây bồ đề tại Bồ đề dà gia nước Ma yết đàtrung Ấn độ chỉ là một thứ giả tướng phương tiện thị hiện mà thôi. Trên thực tế, đức Thích ca đã thành Phật từ lâu xa và, trong vô hạn thời gian, Ngài đã giáo hóa cứu độ chúng sinh rồi. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5 đã lấy đó làm cơ sở để khai triển tư tưởng cửu viễn thực thành. Pháp mà đức Thích ca ngộ được là vĩnh viễn thường trụ, tư tưởng Cửu viễn thực thành đã lấy đó làm căn bản để khai diễn. Lòng quí mến thương nhớ của các vị đệ tử đối với đức Thế tôn quá thiết tha nên đã nảy sinh tư tưởng này. Phật giáo vốn là tín ngưỡng chân lí (pháp), đức Thế tôn đã từng căn dặn sau khi Ngài viên tịch, các đệ tử phải lấy Pháp làm nơi nương tựa. Nhưng, các đệ tử vốn vì ngưỡng mộ nhân cách của đức Thế tôn mà tin theo Phật pháp, nên sau khi đức Thế tôn diệt độ, các đệ tử cảm thấy giáo pháp của Ngài để lại chưa đủ. Vì nhớ mến nhân cách của Ngài nên các đệ tử muốn mưu cầu đức Phật khác có thể thay thế đức Thế tôn, do đó mới triển khai các thuyết về đức Phật. Đến thời kinh Pháp hoa thì chư Phật được qui về một đức Thích tôn và chủ trương Ngài là bậc vĩnh viễn bất diệt. Ngoài ra, tư tưởng cửu viễn thực thành cũng đã ảnh hưởng và phát sinh quan niệm Thập kiếp Di đà để ứng đối với Cửu viễn Di đà. [X. Pháp hoa kinh luận Q.hạ - Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên - Pháp hoa kinh văn cú Q.9 phần dưới].
Cửu Viễn Tự
(久遠寺, Kuon-ji): ngôi chùa Tổng Bản Sơn trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 3567 Minobu (身延), Minobu-chō (身延町), Minamikoma-gun (南巨摩郡), Yamanashi-ken (山梨縣); hiệu núi là Thân Diên Sơn (身延山), tên gọi chính thức là Thân Diên Sơn Diệu Pháp Hoa Viện Cửu Viễn Tự (身延山妙法華院久遠寺), tượng thờ chính là Thập Giới Mạn Trà La (十界曼荼羅). Đây là di tích quan trọng đánh dấu Nhật Liên (日蓮, Nichiren) đã từng lưu trú kể từ năm thứ 11 (1274) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), và cũng là nơi được biến thành tự viện với ngôi Miếu Đường làm trung tâm sau khi Nhật Liên qua đời vào năm thứ 5 (1282) niên hiệu Hoằng An (弘安). Tên chùa được thấy đầu tiên qua thư tịch ghi năm 1283 là Thân Diên Sơn Cửu Viễn Tự Phiên Trương (身延山久遠寺番帳). Về ngôi Miếu Đường, 6 người cao đệ chân truyền của Nhật Liên cùng với 12 người khác, tổng cọng là 18 người, thay phiên nhau mỗi người 1 tháng canh giữ; nhưng không bao lâu sau thì hủy bỏ quy định này. Vào khoảng năm 1284, 1285, Nhật Hưng (日興) trở thành người thường trú ở đây, và trong khoảng thời gian này có Nhật Hướng (日向) cũng cùng chung sức duy trì và phát triển Thánh địa này. Tuy nhiên, Nhật Hưng lại bất hòa với lãnh chúa Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長), tín đồ đắc lực từ thời Nhật Liên; cho nên vào năm đầu (1288) niên hiệu Chánh Ứng (正應), ông lui về vùng Phú Sĩ (富士, Fuji), Tuấn Hà (駿河, Suruga). Từ đó trở về sau, Nhật Hướng và môn lưu của ông kế thừa chùa này. Hệ thống của ông được gọi là Dòng Phái Nhật Hướng (日向門流), Dòng Phái Thân Diên (身延門流). Từ đó, Cửu Viễn Tự mở rộng giáo tuyến, và đôi khi chùa mang đậm sắc thái là ngôi tự viện của chính dòng họ Ba Mộc Tỉnh. Trong khoảng thời gian 10 năm từ năm đầu (1466) niên hiệu Văn Chánh (文正) cho đến năm thứ 7 (1475) niên hiệu Văn Minh (文明), Nhật Triêu (日朝), vị Quán Thủ đời thứ 11 của chùa, đã di chuyển ngôi đường vũ cũng như các kiến trúc khác ở Tây Cốc (西谷) đến vị trí hiện tại; đồng thời ông cũng quy định ra những hành sự trong năm, đặt ra cơ quan điều hành các lễ hội hàng tháng và mở rộng giáo hóa. Cửu Viễn Tự thời Trung Đại chủ yếu lấy vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai), Tuấn Hà (駿河, Suruga) làm cứ điểm hoạt động. Tướng Quân Võ Điền Tình Tín (武田晴信, Takeda Harunobu, tức Tín Huyền [信玄, Shingen]) của Giáp Phỉ tiến hành cầu nguyện ở Cửu Viễn Tự cho vận thế của dòng họ Võ Điền (武田, Takeda) được dài lâu; đồng thời bảo chứng cho quyền trú trì của chùa. Bên cạnh đó, trung thần của ông là Huyệt Sơn Tín Quân (穴山信君) cũng dốc toàn lực bảo trợ cho chùa. Sau khi dòng họ Võ Điền qua đời, Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) lên thay thế nắm chính quyền vùng Giáp Phỉ, cũng tiếp tục bảo hộ cho chùa, rồi vào năm thứ 16 niên hiệu (1588) niên hiệu Thiên Chánh (天正), ông quy định miễn trừ các lao dịch cho chùa và bảo chứng quyền trú trì ở đây. Về sau, qua các đời chùa được ban cho như quy định cũ. Đến đầu thời Cận Đại, từ vụ đàn áp Phái Không Nhận Không Cho vốn phát sinh qua cuộc tựu nhiệm trú trì Quán Thủ chùa cho Nhật Càn (日乾), Nhật Viễn (日遠) của Bổn Mãn Tự (本滿寺) ở Tokyo, nơi đây trở thành chủ tọa cho giáo đoàn Nhật Liên trên toàn quốc. Trong bản Pháp Hoa Tông Chư Tự Mục Lục (法華宗諸寺目錄) được hình thành năm thứ 10 (1633) niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永), những chùa con trực thuộc Cửu Viễn Tự có 412 cơ sở; và chùa còn gián tiếp quản lý 1.519 ngôi chùa con khác nữa. Mặt khác, theo sự tăng dần số lượng người đến tham bái từ cuối thời Trung Đại trở đi, những ngôi viện con xuất hiện. Trú trì cũng như tăng chúng của các viện con thì phục vụ trực tiếp cho viện chính, cùng nhau tham gia điều hành chùa; cho nên Cửu Viễn Tự là một phức hợp thể của viện chính và các viện con. Vị trú trì đời thứ 31 của chùa là Nhật Thoát (日脫) cũng như trú trì đời thứ 32 là Nhật Tỉnh (日省) đều được cho phép đắp Tử Y. Vào năm thứ 3 (1706) niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永), dưới thời vị trú trì thứ 33 là Nhật Hanh (日亨), từ đó về sau lịch đại chư vị trú trì đều được phép mang Tử Y. Cũng vào thời này, nhờ sự cúng dường của các nhà Đại Danh cũng như hàng cung thất của họ, nhiều kiến trúc đường xá của chùa được tạo dựng; nhưng chùa lại bị mấy lần hỏa tai vào những năm thứ 4 (1821), thứ 7 (1824), thứ 12 (1829) niên hiệu Văn Chính (文政). Trãi qua các niên hiệu Thiên Bảo (天保), Gia Vĩnh (嘉永), già lam lại được phục hưng; song đến năm thứ 8 (1875) thời Minh Trị (明治), chùa lần nữa bị hỏa tai và hơn phần nữa già lam bị cháy rụi. Sau mấy lần trùng tu, hiện tại chùa có một quần thể kiến trúc rộng lớn với rất nhiều ngôi đường xá như Tổng Môn (總門), Tam Môn (三門), Bổn Đường (本堂, Chánh Điện) tôn trí bức Mạn Trà La do chính tay Nhật Liên vẽ; Ngũ Trùng Tháp (五重塔, tháp 5 tầng); Thê Thần Các Tổ Sư Đường (棲神閣祖師堂) an trí tượng Nhật Liên; Thích Ca Điện (釋迦殿); Ngự Chơn Cốt Đường (御眞骨堂) an trí hài cốt của Nhật Liên; Khai Cơ Đường (開基堂) tôn thờ Ba Mộc Tỉnh Thật Trường, v.v.
cửu vô gián đạo
Chín đạo vô gián—Tam giới có chín địa, tư hoặc trong mỗi địa lại có chín cách làm giảm nhẹ, từ đó vượt thắng chướng ngại; lại cũng có chín đạo vô gián và đi từ giai đoạn nầy đến giai đoạn khác trong tam giới để giải thoát bằng trí tuệ để vượt thoát phiền não trong mỗi giai đoạn—In every universe there are nine realms, in every realm there are nine illusions in practice and nine ways of relief; hence the nine ways of overcoming hindrances; also there are nine interrupted ways of advance from one stage to another of the nine stages of the trailokya by the wisdom of overcoming delusion in each stage.
; (九無間道) Chín đạo Vô gián. Tức là chín đạo vô lậu của giai vị chính đoạn phiền não. Cũng gọi Cửu vô ngại đạo. Gián: Trở ngại, ngăn cách. Nghĩa là khi quán lí chân trí không bị các hoặc làm trở ngại. Tuy phiền não vẫn còn, nhưng niệm sau chứng được lí trạch diệt, nên giữa phiền não và trạch diệt không có khoảng cách, gọi là vô gián. Từ giai vị này tu đến Niết bàn nên gọi là đạo. Ba cõi chia làm chín địa, mỗi địa đều có tu (tư) hoặc và kiến hoặc. Tu hoặc của mỗi một địa lại chia làm chín phẩm để dứt trừ. Mỗi lần dứt trừ được một phẩm hoặc đều có Vô gián đạo và Giải thoát đạo. Giai vị dứt trừ phiền não này gọi là Vô gián đạo, còn trí tuệ đạt được sau khi dứt trừ phiền não thì gọi là Giải thoát đạo. Tu hoặc ở mỗi địa có chín phẩm, cho nên được đối trị cũng có chín phẩm, gọi là Cửu vô gián đạo, Cửu giải thoát đạo. Lại nữa, bậc Thánh vô học khi luyện căn, chuyển chủng tính cũng có chín vô gián, chín giải thoát. [X. luận Câu xá Q.25 - Q.33].
cửu vô học
Chín loại vô học của các bậc A-La-Hán đã đạt được mục đích tối hậu không cần phải học nữa—The nine grades of arhats who are no longer learning, having atained their goal: 1) Bất Thoái tướng: Asaiksa (skt)—The stage beyond study, where intuition rules 2) Bất Thủ tướng: Ungrasping mark. 3) Bất Tử tướng: Immortal mark. 4) Bất Trụ tướng: Undwelling mark. 5) Khả tiến tướng: Mark of advancement. 6) Bất hoại tướng: Avinasya (skt)—Indestructible mark. 7) Bất khoái tướng: Unpleasurable mark. 8) Tuệ giải thoát tướng: Mark of wisdom of liberation. 9) Câu giải thoát tướng: Mark of complete release.
; (九無學) Chín Vô học. Phạm: Navàzaikwà#. Tức là những người thuộc giai vị Vô học có chín loại hơn kém khác nhau. Cũng gọi Cửu chủng A la hán. Là giai vị đã thành tựu tất cả những việc phải làm, không còn gì phải tu học nữa, gọi là Vô học vị, tức là quả A la hán. I. Cửu vô học. Quả A la hán của Thanh văn được chia làm chín loại. Các kinh luận nêu tên gọi và thứ tự của chín Vô học không giống nhau. Cứ theo kinh phúc điền trong Trung a hàm và luận Cam lộ vị quyển thượng ghi chép, thì chín Vô học là: 1. Thoái pháp: nếu bậc A la hán gặp các chướng duyên như bệnh tật liền lui mất quả đã đạt được thì đó là hàng A la hán căn cơ kém cỏi nhất. 2. Tư pháp: A la hán vì sợ lui mất pháp đã được nên nảy ý định tự sát để giữ lấy sở đắc.3. Hộ pháp: A la hán giữ gìn pháp đã được không để lui mất, vì nếu biếng nhác phòng hộ thì e sẽ bị thoái thất. 4. An trụ pháp: Nếu không có duyên chướng nặng nề thì A la hán không trở lui, cũng thế, nếu không có gia hạnh đặc biệt thù thắng thì không thể chuyển lên chủng tính tốt hơn. 5. Kham đạt pháp: nếu A la hán gắng sức tu hành rèn luyện các căn thì có thể đạt được chủng tính bất động một cách mau chóng. 6. Bất dộng pháp. 7. Bất thoái pháp. Hai bậc A la hán trên đây (6, 7) có căn cơ sắc bén nhất, có khả năng dứt hết tất cả phiền não, được tận trí và vô sinh trí. Trong đây, nếu do nhân tu luyện mà được thì gọi là Bất động, còn nếu nhờ vào chủng tính sẵn có mà được thì gọi là Bất thoái. Tức là Bất động A la hán không làm hư hoại các thứ nhân duyên tam muội đã đạt được, còn Bất thoái A la hán thì không để lui mất công đức sở đắc. 8. Tuệ giải thoát: A la hán này đã dứt hết phiền não gây chướng ngại trí tuệ mà được tự tại nơi tuệ. 9. Câu giải thoát: bậc A La hán này đã đoạn trừ cả định chướng và tuệ chướng, dứt vô tri không nhiễm ô, được định Diệt tận, ở nơi định và tuệ đều được tự tại. Trong chín loại A la hán trên đây, bảy bậc trước được chia loại theo căn cơ bén nhạy hay chậm lụt, còn hai bậc sau là phân chia theo sự diệt chướng đoạn hoặc. Lại nữa, chín loại này theo thứ tự tương đương với Thoái tướng, Tử tướng, Thủ tướng, Trụ tướng, Khả tiến tướng, Bất hoại tướng, Bất thoái tướng, Tuệ giải thoát tướng và Câu giải thoát tướng nói trong phẩm Phân biệt hiền thánh của luận Thành thực quyển 1. Chín Vô học cộng thêm 18 vị Hữu học nữa thành là 27 vị Hiền Thánh. Đây là cách chia loại các bậc Thánh thuộc Tiểu thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.7 phần đầu]. II. Cửu vô học. Chín bậc Thánh vô học. Luận Câu xá quyển 25 đem bảy bậc A la hán từ Tư pháp đến Bất thoái pháp cộng vào với Độc giác, Phật mà thành chín bậc Vô học. Cách phân loại này là dựa theo căn tính thượng, trung, hạ mà chia làm chín bậc từ thấp nhất (hạ hạ) đến cao nhất (thượng thượng). [X. luận Đại tì bà sa Q.62 - luận Tạp a tì đàm tâm Q.5].
cửu vô ngại
See Cửu Vô Gián Đạo in Vietnamese-English Section.
cửu vô vi
Chín pháp vô vi—Nine kinds of non-action: (A) 1) Trạch diệt: Pratisamkhyanirodha (skt)—Đoạn diệt bằng tri thức—Cessation through knowledge—See Trạch Diệt. 2) Phi trạch diệt: Apratisamkhyanirodha (skt)—Đoạn diệt không bằng tri thức, nghĩa là do sự đoạn diệt tự nhiên của nguyên nhân—Cessation without knowledge, i.e., through the natural cessation of the causes—See Trạch Diệt. 3) Hư không: Sunya (skt)—Space—See Hư Không. 4) Không vô biên xứ: Akasanantyayatana (skt)—See Không Vô Biên Xứ. 5) Thức vô biên xứ: The state of boundless knowledge—See Thức Vô Biên Xứ. 6) Vô sở hữu xứ: The state of nothing—See Vô Sở Hữu Xứ. 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ: See Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. 8) Duyên khởi chi tánh: The nature of conditioned arising. 9) Thánh đạo chi tánh: The nature of the holy way. (B) Theo Hóa Địa Bộ, có chín pháp vô vi hay chín pháp giúp hành giả tự tại không bị biến thiên vì bốn tướng—According to the Mahisasakah school, there are nine kinds of non-action: 1-3) Same as in (A). 4) Bất động: Anenjata (skt)—Immovability. 5) Thiện Pháp Chân Như: Kusala-dharma-tathata (skt). 6) Bất Thiện Pháp Chân Như: Akusala-dharma-tathata. 7) Vô Ký Pháp Chân Như: Avyakrta-dharma-tathata (skt)—Có nghĩa là chân như của vạn pháp vốn là tốt đẹp, không tốt đẹp, chẳng phải tốt đẹp mà cũng chẳng phải chẳng tốt đẹp—That is, suchness of the dharma that are meritorious, unmeritorious and neither the one, nor the other. 8) Đạo Phần Chân Như: Marganga-tathata (skt). 9) Duyên Khởi Chân Như: Pratitya-samutpada-tathata (skt)—Suchness of the factors of the Path and suchness of the Law of Dependent Origination.
; (九無爲) I. Cửu vô vi. Chín pháp vô vi. Vô vi là pháp thực tại, xưa nay thường còn, không do nhân duyên tạo tác, không bị bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt đổi dời. Đó là: Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không vô vi, Không vô biên xứ vô vi, Thức vô biên xứ vô vi, Vô sở hữu xứ vô vi, Phi tưởng phi phi tưởng xứ vô vi, Duyên khởi chi tính vô vi và Thánh đạo chi tính vô vi. Đây là chín vô vi do Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ thuộc Tiểu thừa thành lập. - Trạch diệt vô vi: năng lực lựa chọn, tức là nhờ sức trí tuệ mà đạt được sự tịch diệt (vắng lặng). - Phi trạch diệt vô vi: sự tịch diệt được hiển bày khi pháp không sinh khởi vì thiếu điều kiện (nhân duyên). - Hư không vô vi: lấy vô ngại làm tính, không ngăn ngại các pháp khác cũng không bị các pháp khác ngăn ngại, chu biến khắp trong các vật thể có hình tướng, thường hằng không thay đổi. - Không vô biên xứ vô vi cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ vô vi: định thể sở y ở bốn cõi Vô sắc. Chúng sinh ở các cõi này không có hình sắc nên chỉ nương nơi thể của thiền định. Tuy năm uẩn năng y của họ trước kia vốn là pháp hữu vi, nhưng nay căn cứ vào chỗ sở y (tức bốn cõi Vô sắc) của họ mà lập làm vô vi. - Duyên khởi chi tính vô vi và Thánh đạo chi tính vô vi: lí của 12 duyên khởi và tám Thánh đạo. Chi duyên khởi và chi Thánh đạo tuy là pháp hữu vi, nhưng lí pháp của chúng thì vắng lặng bất động và không thay đổi, ho nên được lập làm vô vi. [X. luận Dị bộ tông luân - Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. II. Cửu vô vi. Chín pháp vô vi: Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không vô vi, Bất động vô vi, Thiện pháp chân như vô vi, Bất thiện pháp chân như vô vi, Vô kí pháp chân như vô vi, Đạo chi chân như vô vi, Duyên khởi chân như vô vi. Chín pháp vô vi này do Hóa địa bộ của Tiểu thừa thành lập. Trong chín vô vi trên đây, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không vô vi, Đạo chi chân như vô vi và Duyên khởi chân như vô vi thì cũng giống với thuyết Vô vi của Đại húng bộ. Còn Bất động vô vi là trạng thái tịch diệt (vắng lặng) được hiển bày do đã lìa những cảm nhận khổ và vui vốn chướng ngại thiền định. Thiện pháp chân như vô vi là cảm quả ưa thích pháp thiện, nên lí sở cảm là chân thực thường hằng. Bất thiện pháp chân như vô vi cảm quả không ưa thích pháp bất thiện, nên lí sở cảm là chân thực thường hằng. Vô kí pháp chân như vô vi là lí không cảm quả vô kí (vì pháp chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện nên không sinh quả) nên là thường hằng bất biến. Thể của các chân như vô vi Thiện pháp, Bất thiện pháp và Vô kí pháp nói ở trên tuy có khác nhau, nhưng tính của chúng thì đều thiện. [X. luận Dị bộ tông luân - Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].
cửu vực
See Cửu địa in Vietnamese-English Section.
; (九域) I. Cửu vực: Chín cõi, cũng gọi Cửu địa.Tức là chín cõi gồm: một cõi Dục, bốn cõi trời Sắc và bốn cõi trời Vô sắc. (xt. Cửu Địa). II. Cửu vực: Cũng gọi cửu giới. Chín cõi: tức là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. (xt. Thập Giới).
cửu xứ
See Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
cửu âm
Nine elements or nine substances. (A) Ngũ Đại—The five elements: 1) Đất: Earth. 2) Nước: Water. 3) Lửa: Fire. 4) Gió: Wind. 5) Hư không: Space. (B) Những Yếu Tố Khác: Other substances: 6) Thời: Time. 7) Tâm: Mind or spirit (manas). 8) A Lại Da: Alaya (skt). 9) Đại Ngã: Soul—Atman (skt).
cửu điều cà sa
See Cửu điều y in Vietnamese-English Section.
Cửu Điều Kiêm Thật
(九條兼實, Kujō Kanezane, 1149-1207): vị công gia sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, vị Tổ của dòng họ Cửu Điều. Nhờ sự hậu thuẩn của Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), nên ông được cử lên làm chức Nhiếp Chính, sau thì làm chức Quan Bạch (關白, Kampaku). Ông rất giỏi về Thư Đạo, Hòa Ca; trong nhật ký thì ông lấy tên là Ngọc Diệp (玉葉) và tự xưng là Nguyệt Luân Quan Bạch (月輪關白).
Cửu Điều Lương Kinh
(九條良經, Kujō Yoshitsune, 1169-1206) hay Đằng Nguyên Lương Kinh (藤原良經, Fujiwara-no-Yoshitsune): nhà công gia sống vào khoảng đầu thời Liêm Thương, ca nhân, người con trai thứ của vị Quan Bạch Cửu Điều Kiêm Thật (九條兼實, Kujō Kanezane), thường gọi là Hậu Kinh Cực Điện (後經極殿). Ông đã từng làm qua chức Nhiếp Chính, Thái Chính Đại Thần. Ông có để lại tác phẩm Thu Tiểu Nguyệt Thanh Tập (秋篠月清集) và Nhật Ký với tên gọi Điện Ký (殿記).
cửu điều y
Nine-patches robe, the lowest rank of the patch-robe.
; Áo cà sa có phẩm trật thấp nhất—The lowest rank of the patched robe.
; (九條衣) Áo chín nẹp. Cũng gọi Cửu điều ca sa. Gọi tắt: Cửu điều. Một trong ba thứ ca sa. Một loại Tăng già lê thấp nhất trong chín bậc đại y (áo lớn). Áo này được may hai đoạn dài một đoạn ngắn, số nẹp là chín. Cùng với áo năm nẹp, bảy nẹp gọi chung là ba áo. Trong đó, áo năm nẹp mặc để làm việc hàng ngày - áo bảy nẹp mặc khi lễ bái tụng niệm hoặc phó trai - áo chín nẹp chỉ được mặc khi vào cung vua, lên tòa thuyết pháp, vào làng xóm xin ăn hoặc khi hàng phục ngoại đạo v.v...
Cửu Điều Đạo Gia
(九條道家, Kujō Michiie): xem Đằng Nguyên Đạo Gia (藤原道家, Fujiwara-no-Michiie, 1193-1252) bên dưới.
cửu đạo
Chín đường hữu tình cư—Nine realms of living beings.
cửu đầu long vương
Vàsuki-Nàgaràja (S). Name of the King of dragon. Also Hòa tu Cát Long vương.
cửu đế
The nine truths, or postulates: 1-Vô thường đế impermanence; 2-Khổ đế suffering; 3-Không đế voidness; 4-Vô ngã đế no permanent ego; 5-Hữu ái đế love of existence or possessions; 6-Vô hữu ái đế fear of being without them; 7-Đoạn phương tiện đế the cutting off of suffering and its cause; 8-Hữu dư Niết bàn đế nirvàna with remainder still to be worked out; 9-Vô dư Niết bàn đế complete nirvàna.
; Chín chân lý—Nine truths or postulates: 1) Vô Thường Đế: Impermanence. 2) Khổ đế: Suffering. 3) Không Đế: The void—Voidness.—Unreality of things 4) Vô Ngã Đế: No permanent ego or soul. 5) Hữu Ái Đế: Love of existence or possession resulting in suffering. 6) Vô Hữu Ái Đế: Fear of being without existence or possession also resulting in suffering. 7) Bỉ Đoạn Phương Tiện Đế: Cutting of suffering and its cause. 8) Hữu Dư Niết Bàn Đế: Nirvana with remainder still to be worked out. 9) Vô Dư Niết Bàn Đế: Complete Nirvana.
; (九諦) Chín chân lí. Đó là: 1. Vô thường đế: nghĩa là các pháp trong ba cõi (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc) đều sinh diệt vô thường. 2. Khổ đế: quả báo của ba cõi hữu lậu bức bách khổ não. 3. Không đế: nghĩa là tự tính của các pháp vốn không. 4. Vô ngã đế: tất cả pháp vô ngã, không có chủ tể chân thực thường còn. 5. Hữu ái đế: chấp thân sau là chân thực thường còn nên cảm nhận quả khổ. 6. Vô hữu ái đế: chấp thân sau là dứt hẳn nên sinh quả khổ. Hai đế trên (5, 6) thuộc Tập đế. 7. Bỉ đoạn phương tiện đế: Đạo đế là phương tiện trừ bỏ Khổ, Tập đế. 8. Hữu dư y Niết bàn đế: Nghĩa là tuy đã dứt trừ phiền não, chứng lí Niết bàn, nhưng dư báo của hoặc nghiệp vẫn còn. 9. Vô dư y Niết bàn đế: Dư báo hoàn toàn dứt hết, thân tâm rỗng lặng vào cõi Niết bàn. Hai đế trên (8, 9) thuộc Diệt đế. Chín đế này là từ bốn đế mà mở rộng ra. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. (xt. Tứ Đế).
Cửu địa
九地; C: jiǔdì; J: kuji, kuchi;|Chín cấp bậc của sự hiện hữu. Sự phân chia sự sống của chúng sinh thành ba cõi Dục giới (欲界), Tứ thiền (Sắc giới) và Tứ vô sắc (Vô sắc giới). Dục giới tạo thành một địa, cõi Tứ thiền và Vô sắc giới mỗi cõi có 4 địa.
cửu địa
Nine worlds Cửu hữu, Cửu môn, Chín chỗ có, các chỗ ở của loài hữu tình. Gồm: - Người, tiên và các loại trong cõi dục giới. - Cõi sắc giới: sơ thiền thiên, nhị thiền thiên, tam thiền thiên, tứ thiền thiên - cõi vô sắc giới: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.
; The nine lands, i.e. dục giới realm of desire or sensuous realm; the four sắc giới realms of form or material forms; and the four vô sắc giới formless realms. The nine realms are: 1-Dục giới ngũ thú địa the desire realm with its five gati, i.e. hells, hungry ghosts, animals, men and devas. In the four form-realms are: 2-Ly sinh hỷ lạc địa Paradise after earthly life, this is also the first dhyàna, or subject of meditation; 3-Định sinh hỷ lạc địa Paradise of cessation of rebirth, second dhyàna; 4-Ly hỷ diệu lạc địa Land of wondrous joy after the previous joys, third dhyàna; 5-Xả niệm thanh tịnh địa The Pure land of abandon of thoughts, fourth dhyàna. The four formless realms are: 6-Không vô biên xứ địa The Land of infinite space, also the first samàdhi; 7-Thức vô biên xứ địa The Land of omniscience or infinite perception, second samàdhi; 8-Vô sở hữu xứ địa The Land of nothingness, third samàdhi; 9-Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa The Land of (knowledge) without thinking or not thinking, or where there is neither consciousness nor unconscienciousness, fourth samàdhi.
; chín giới—Chín cõi—Chín đất—The nine lands: A. Dục Giới—Desire realm: 1) Dục Giới Ngũ Thú Địa: The realm of desire—Sensuous realm. B. Sắc Giới—Realm of form—Material forms: 2) Ly Sanh Hỷ Lạc Địa: Paradise after earthly life (Sơ thiền—First dhyana). 3) Định Sanh Hỷ Lạc Địa: Paradise of cessation of rebirth (Nhị thiền—Second dhyana). 4) Ly Hỷ Diệu Lạc Địa: Land of wondrous joy after the previous joys (Tam thiền—Third dhyana). 5) Xả Niệm Thanh Tịnh Địa: The Pure Land of abandonment of thought or recollection of past delights (Tứ thiền—Fourth dhyana). C. Vô Sắc Giới: Formless realms—Realms beyond form: 6) Không Vô Biên Xứ Địa: Akasanantyayatanam (skt)—The land of infinite space—(Nhứt Định—First samadhi). 7) Thức Vô Biên Xứ Địa: Vijnana-nantyayatanam (skt)—The land of omniscience or infinite perception—(Nhị Định—Second samadhi). 8) Vô Sở Hữu Xứ Địa: Atkincanyayatana (skt)—Land of nothingness—Tam Định—Third samadhi). 9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa: Naivasanjnana-samjnayatana (skt)—The land of knowledge without thinking or not thinking, or where ther is neither consciousness nor unconsciousness—Tứ Định—Fourth samadhhi).
; (九地) Chín chỗ ở. Cũng gọi là Cửu hữu...... Thế giới của các loài hữu tình ở có thể chia làm ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Căn cứ vào trình độ tam muội thiền định sâu hay nông mà Sắc giới và Vô sắc giới lại được chia làm bốn thiền Sắc giới và bốn thiền Vô sắc giới, cộng thêm Dục giới nữa mà thành là chín chỗ ở của chín loài hữu tình, gọi là Cửu địa hoặc Cửu hữu (chín loại sinh tồn). 1. Dục giới ngũ thú địa, cũng gọi là Ngũ thú tạp cư địa (hoặc tạp trụ địa). Là nơi năm loài hữu tình ở chung đụng lẫn nhau: địa ngục, quỉ đói, súc sinh, người, trời (sáu trời Dục giới kể chung). 2. Li sinh hỉ lạc địa: thuộc Trời sơ thiền cõi Sắc. Người sinh vào cõi này có được sự mừng vui (hỉ lạc) là vì đã xa lìa các pháp dục, ác ở cõi Dục. 3. Định sinh hỉ lạc địa: thuộc Trời thiền thứ hai của cõi sắc. Người sinh vào cõi này nhờ thiền định mà có được niềm mừng vui thù thắng. 4. Li hỉ diệu lạc địa: thuộc Trời thiền thứ ba của cõi Sắc. Người sinh vào cõi này được niềm yên vui thù thắng vi diệu sau khi lìa trạng thái vui mừng thô trọng ở Trời thiền thứ hai. 5. Xả niệm thanh tịnh địa: thuộc Trời thiền thứ tư của cõi Sắc. Người sinh vào cõi này tâm đạt đến trạng thái tĩnh lặng thanh tịnh bình đẳng do lìa bỏ trạng thái mừng vui ở các cõi trước. 6. Không vô biên xứ địa: thuộc tầng trời thứ nhất của cõi Vô sắc. Người sinh vào cảnh giới này chứng được tính hư không vô biên tự tại do đã lìa tính vật chất của cõi Sắc. 7. Thức vô biên xứ địa: thuộc tầng Trời thứ hai của cõi Vô sắc. Người sinh vào cảnh giới này, thức đạt được tính rộng rãi mông mênh không có giới hạn. 8. Vô sở hữu xứ địa: thuộc tầng trời thứ ba của cõi Vô sắc. Người sinh vào cảnh giới này, tư tưởng tĩnh lặng chìm trong trạng thái dứt bặt do đã lìa tính động của Không vô biên xứ địa và Thức vô biên xứ địa. 9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa: thuộc tầng Trời thứ tư (Hữu đính thiên, tức tầng trời cao nhất) của cõi Vô sắc. Người sinh vào cảnh giới này, tâm đạt đến trạng thái vắng lặng bình đẳng do lìa tưởng và không tưởng, dứt cả chấp có, không. Ngoài ra, định Vị chí, định Trung gian, bốn định Căn bản trong bốn trời Thiền của cõi Sắc và Không vô biên xứ,Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ trong bốn định của cõi Vô sắc, tất cả chín định, tuy thuộc định hữu lậu, nhưng là những cảnh giới nhờ đó mà sức mạnh của định vô lậu được phát sinh, cho nên gọi là Vô lậu cửu địa (chín nơi vô lậu). [X. kinh Tạp a hàm Q.17 - luận Đại tì bà sa Q.31 - Q.141 - luận Câu xá Q.28 - luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.77].
cửu địa cửu phẩm tư hoặc
(九地九品思惑) Chín phẩm tư hoặc ở chín địa trong ba cõi. Chín địa: cõi Dục, Bốn thiền, Bốn vô sắc. Trong đó, cõi Dục có đủ bốn thứ tu (tư) hoặc: tham, sân, mạn, vô minh. Bốn thiền, Bốn vô sắc đã trừ sân, chỉ còn lại tham, mạn, vô minh. Tất cả các tư hoặc ở mỗi địa được chia ra làm chín phẩm từ thượng thượng cho đến hạ hạ, tổng cộng là 81 phẩm tư hoặc. [X. luận Câu xá Q.23]. CỬU ĐIỀU TÍCH TRƯỢNG Chín điều gậy tích. Bài kệ đọc lên khi rung gậy tích. Một trong bốn pháp yếu. Bài kệ có chín điều nên gọi Cửu điều tích trượng. Ba điều trước của bài kệ này giống với Tam điều tích trượng. Bốn câu của điều thứ nhất được trích ra từ phẩm Tịnh hạnh của kinh Hoa Nghiêm (bản dịch mới) quyển 14, còn các câu khác không rõ xuất xứ. Bốn câu kệ trong điều thứ nhất trích từ kinh Hoa nghiêm như sau: Thủ chấp tích trượng Đương nguyện chúng sinh Thiết đại thí hội Thị như thực đạo (Tay cầm gậy tích Nguyện cho chúng sinh Mở hội thí lớn Chỉ đạo như thực). [X. Chân ngôn chư kinh thường dụng tập Q.thượng].
cửu đới thiền
(九帶禪) Chín phương pháp hướng dẫn người tu hành của ngài Pháp viễn ở Phù sơn. Học trò của ngài biên chép những lời ngài chỉ dạy thành văn gọi là Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập, gọi tắt là Phù sơn cửu đới. (xt. Phù Sơn Cửu Đới).
cữ
To abstain
cữ ăn
To be on a diet.
cữ ăn ngũ vị tân
Not to eat the five pungent roots—For more information, see Ngũ Tân in Vietnamese-English Section.
Cữu
咎; C: jiù; J: ku;|Có 2 nghĩa: 1. Thiếu sót, lỗi lầm, sai lầm, sai trái, sự phạm tội, tội lỗi (s: doṣa); 2. Khiển trách, chỉ trích, quở trách, trách móc, không thừa nhận.
Cữu 咎
[ja] キュウ ku ||| (1) Fault, blame, mistake, error, offense, sin (dosa). (2) To blame, censure, reprimand, find fault with, rebuke; challenge. => Có 2 nghĩa: 1. Thiếu sót, lỗi lầm, sai lầm, sai trái, sự phạm tội, tội lỗi(dosa). 2. Khiển trách, chỉ trích, quở trách, trách móc, không thừa nhận.
cự hải
Mahā-aṃava (P).
Cự hải 巨海
[ja] コカイ kokai ||| "Great sea" or "great ocean." (mahā-arṇava, udadhi). => Biển lớn, đại dương (s: mahā-arṇava, udadhi).
cự lại
Chống lại—To resist.
cự ma
Gomaya (skt)—Phân bò—Cow-dung.
cự phách
Eminent person.
cự thưởng di
Kausambi (skt)—Kosambi or Vatsa-pattana (p)—Câu Diễm Di—Câu La Cù—Vương quốc của vua Udayana với kinh đô nổi tiếng được ghi lại trong Tây Vực Ký. Nơi có một hình tượng Phật thật lớn. Đây là một trong những thành phố cổ nhứt của Ấn Độ—The country of King Udayana in “Central India” with a famous capital mentioned in the Vogage to the West. There was a great image of the Buddha. It was one of the most ancient cities of India.
cự tuyệt
To refuse—To decline.
cự tường
(巨翔) (1662 - 1695) Vị tăng tông Lâm tế đầu đời Thanh. Người huyện Lăng kinh, tỉnh Thiểm tây, họ Trương, hiệu Thiên dực. Lúc nhỏ được cha mẹ đưa đến chùa Linh sơn xin ngài Tịnh nguyệt cho xuất gia, chín tuổi, sư học kinh Lăng nghiêm, mười chín tuổi, sư lễ ngài Đằng hoán ở Tây sơn thụ giới Cụ túc. Hai mươi tuổi, tham học ngài Cổ mai Định liệt ở núi Phù dung, khi ngài tịch, sư được nối pháp ngài. Năm Khang hi 30 (1691), sư ở chùa Mật ấn tại Hồ nam, chùa Quảng hóa trên núi Phù dung. Tháng 5 năm Khang hi 34, sư tịch, hưởng dương ba mươi tư tuổi. Có Ngữ lục 2 quyển lưu truyền ở đời. [X. Thiên dực Tường thiền sư ngữ lục].
cự ích
Lợi ích lớn lao—Great benefit.
cực
Highest point, apex; utmost, ultimate, extreme, the limit, finality; reaching to.
; 1) Cực biên: Extreme. 2) Cực điểm: Điểm cao nhất—Highest point—Apex. 3) Cực độ: Utmost—Ultimate.
cực diệu
Of utmost beauty, wonder or mystery.
; Cực kỳ huyền diệu—Of utmost beauty, wonder, or mystery.
cực diệu thiên
Xem Quảng Quả Thiên.
cực giác
Tên khác của Diệu giác—Profound enlightenment, or utmost awareness—See Diệu Giác.
cực hình
Tortures.
cực hỉ tam muội da
(極喜三昧耶) Ấn khế và chân ngôn của Mật giáo biểu thị niềm vui mừng cùng cực. Còn gọi là Duyệt hỉ tam muội da, Hoan hỉ vương ma ha tát đỏa tam ma da, Đại tam muội da chân thực ấn, Đại lạc kim cương bất không tam muội da tùy tâm ấn, Phổ hiền bồ tát tam muội da ấn, Tố la đa đại thệ chân thực ấn. Tam muội da là nghĩa bản thệ nội chứng. Có nghĩa là hành giả Mật giáo phát tâm Bồ đề, diệt trừ các chướng - đã là Kim cương tát đỏa, thì khi quán mình, người không khác, là đồng thể đại bi, cảm thấy niềm vui mừng không gì hơn. Hàng tam thế minh vương của hộiHàng tam thế tam muội da thuộc Kim cương giới ở trong tam muội da này, tay cầm cung tên đại bi, dùng cung tên tâm Bồ đề trong sạch bền chắc để bắn kẻ oán địch phẩm vô minh, biểu thị niềm vui thích giáo hóa người không gián đoạn, đó là Cực hỉ tam muội da. Người tu hành Chân ngôn muốn trụ nơi tam muội này, thì phải kết ấn đại thệ chân thực, tức hai tay co lại (một trong sáu loại nắm tay), hai ngón giữa giao nhau trong lòng bàn tay, đầu hai ngón út và hai ngón cái chấm vào nhau, như hình chày kim cương một chẽ, rồi lại đặt hai ngón giữa sát vào ngực, miệng tụng chân ngôn: Án tam muội da (samaya, bình đẳng) hộc (ho#, vui vẻ) tô ra đa (Surata, tột bậc) sa đát tông (Stvạm, vào Ta ta vào), thì mọi nguyện vọng đều thành tựu mà được vui mừng rất mực. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng - kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1 - Kim cương đính kinh nghĩa quyết Q.thượng].
cực hỉ địa
(極喜地) Phạm: Pramudità-bhùmi. Cũng gọi là Hoan hỉ địa. Địa vị đầu tiên trong mười địa vị Bồ tát, vì thế còn gọi là Sơ hoan hỉ địa, nói tắt là Sơ địa. Bồ tát vào ngôi vị này, chứng đủ hai không (ngã không, pháp không) có thể lợi mình lợi người, tâm sinh vui mừng, cho nên gọi là Hoan hỉ địa. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.23 - kinh Giải thâm mật Q.4 - kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ - luận Thành duy thức Q.9].
cực hữu
Extreme right.
Cực Hỷ
xem Uất-đầu-lam-phất.
cực hỷ địa
Pramuditā-bhŪmi (S), Joyful stage Hoan hỷ địa, Sơ địa.
; The stage of utmost joy, the first of the ten stages thập địa of the bodhisattva.
; Còn gọi là Hoan Hỷ Địa, địa thứ nhất trong Thập Địa Bồ Tát (Bồ Tát sau khi đã hoàn thành tu hành trong đệ nhất A tăng kỳ, từ vô thủy đến nay, giờ mới phát ra chân vô lậu mà đạt đến lý nhất phần nhị không, dứt bỏ hết phiền não phân biệt, nhân đó mà lìa bỏ được cái tính phàm phu, trở thành Bồ Tát pháp thân, ở vào ngôi vị cực sinh hoan hỷ địa)—The stage of utmost joy, the first of the ten stages of Bodhisattva—See Thập Địa Phật Thừa (1).
cực khổ
Utterly miserable; hardship.
; Extremely miserable.
cực lòng
Despair.
cực lương
Pramiti (S)Bát lạt mật đếCao tăng ngưuời Ấn vào Trung quốc dịch kinh đời Đường.
cực lược sắc
The smallest perceptible into which matter can be divided, an atom.
; Phần tử nhỏ nhất mà vật thể có thể được phân tách, đó là nguyên tử—The smallest perceptible particle into which matter can be divided, an atom.
; (極略色) Là một trong năm loại Pháp xứ sở nhiếp sắc do tông Duy thức đặt ra. Khi phân tích cái thực sắc của năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đến đơn vị vật chất nhỏ nhất (cực vi), thì gọi là cực lược sắc. Hữu bộ Tiểu thừa cho nó là vật chất, bao hàm trong sắc xứ mà nhãn thức duyên theo - nhưng tông Duy thức Đại thừa thì cho nó là sự phân tích trên giả tưởng và bảo nó bao hàm trong pháp xứ mà ý thức duyên theo. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1 - Đại thừa nghĩa lâm chương Q.5 phần cuối]. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).
Cực Lạc
(s: Sukhāvatī, 極樂): nguyên nghĩa tiếng Sanskrit có nghĩa là nơi có an lạc, cho nên nó thường chỉ cho thế giới của Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀), còn được gọi là Cực Lạc Thế Giới (極樂世界), Cực Lạc Quốc Độ (極樂國土). Trong các kinh điển Hán dịch có dùng một số âm dịch như Tu Ma Đề (須摩提), Tu Ha Ma Đề (須呵摩提), v.v., và ý dịch như An Lạc (安樂), An Dưỡng (安養). Từ Cực Lạc này có được dùng đến trong một số thư tịch cổ điển của Trung Quốc như Thượng Thư Gián Ngô Vương (上書諫呉王, Văn Soạn 39) của Mai Thừa (枚乘, ?-140ttl.) với ý là “sự vui sướng không có gì hơn hết”, hoặc trong bài Tây Đô Phú (西都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán với nghĩa là “đến tận cùng niềm vui sướng”, hay trong Hoài Nam Tử (淮南子) với nghĩa là “niềm vui sướng cùng cực”, v.v. Còn trong Phật điển thì từ này được dùng đầu tiên trong Kinh A Di Đà (阿彌陀經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Kinh điển đề cập đến Cực Lạc Thế Giới là 3 bộ kinh lớn của Tịnh Độ, gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經).
Cực lạc
極樂; S: sukhāvatī; J: gokuraku; còn được gọi là An lạc quốc (安樂國);|Tên của Tây phương Tịnh độ, nơi đức A-di-đà cai trị. Tịnh độ này được Ngài tạo dựng lên bằng thiện nghiệp của mình và thường được nhắc đến trong các kinh Ðại thừa. Tịnh độ tông cho rằng, nhờ lòng tin kiên cố nơi Phật A-di-đà và kiên trì niệm danh hiệu của Ngài, hành giả sẽ được tái sinh nơi cõi này và hưởng một đời sống an lạc cho tới khi nhập Niết-bàn.|Tịnh độ này được nhắc nhiều trong các kinh A-di-đà (s: amitābha-sūtra), Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh (s: sukhāvatī-vyūha), Quán vô lượng thọ kinh (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Ðối với quần chúng Phật tử và cũng theo kinh A-di-đà thì đây là một thế giới có nơi chốn hẳn hoi, nhưng trong một nghĩa sâu kín hơn thì đây là một dạng ưu việt của tâm thức.|Theo kinh sách, Cực lạc tịnh độ nằm ở phương Tây. Ðây là một nơi đầy ánh sáng rực rỡ do A-di-đà phát ra. Thế giới này tràn ngập mùi hương thơm, đầy hoa nhạc và châu báu. Ở đó không có súc sinh, địa ngục cũng như A-tu-la. Chúng sinh nhờ nguyện lực được sinh ở thế giới này sẽ thấy mình từ hoa sen sinh ra, mọi mong cầu sẽ được như ý, không còn già chết bệnh tật. Trong thế giới này, mọi chúng sinh đều cầu pháp và sẽ được nhập Niết-bàn. Nguồn hạnh phúc lớn nhất là được nghe A-di-đà giảng pháp, bên cạnh có hai vị Ðại Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí.
cực lạc
Gokuraku (J), Sukhavati (S), Parama-sukha (S), Pureland, Supreme happiness Tây phương cực lạc, Tịnh độ Tây phương xứ1 = An dưỡng quốc, Thanh thái quốc, Hảo ý quốc, lạc thổ, lạc bang Cõi quốc của Phật A di đà ở phương Tây, cách mười vạn ức cõi Phật. Ở đó nhà cửa lâu đài ao hồ đều bằng thất bảo, mưa hoa tiên, linh điểu giảng thuyết đạo lý, toàn cõi đều thanh tịnh ăn uống tự có sẵn không cần nấu nướng, áo quần không cần may vá, chúng sanh đi đâu cũng được miễn nghĩ tưởng thì tới. Ở đó chúng sanh có thể tu mãi cho đến khi thành Phật hay muốn sanh sang cõi giới khác tu theo hạnh nguyện cũng được. 2- Tịnh độ.
; Sukhàvati (S). Highest Joy, name of the Pure Land of Amitàbha.
; Sukhavati (skt). 1) Nơi hỷ lạc cực độ: Extremely happy, ultimate Bliss, highest joy. 2) Tên một cõi Phật, quốc độ của Đức Phật A Di Đà, còn gọi là Tây Phương Tịnh Độ, còn gọi là An Dưỡng, An Lạc, Vô Lượng Thanh Tịnh Độ, Vô Lượng Quang Minh Độ, Vô Lượng Thọ Phật Độ, Liên Hoa Tạng Thế Giới, Mật Nghiêm Quốc, hay Thanh Thái Quốc: name of the Land of Ultimate Bliss, or the Pure Land of Amitabha in the West—See A Di Đà.
cực lạc báo hóa
See Nhị Độ (A).
cực lạc hóa sanh
Vãng sanh vào cõi Cực Lạc bằng cách hóa sanh qua Liên Hoa—Birth in the happy land of Amitabha by formation throught the Lotus.
cực lạc hải hội
(極樂海會) Cực lạc, chỉ cõi Tịnh độ của Phật A di đà - Hải hội, chỉ tăng chúng hoặc chư tôn Thánh chúng tập hội. Thánh chúng của thế giới cực lạc họp lại thành Pháp hội, rộng lớn như biển, cho nên gọi là Cực lạc hải hội.
cực lạc quốc độ
The Land of Ultimate Bliss.
cực lạc quốc độ thành tựu
The realization (achievement) of the land of ultimate bliss.
cực lạc quốc, cực lạc thế giới
The World of Utmost Joy.
cực lạc thế giới
Shukhavati (S)Diệu lạc thế giới, Liên hoa tạng thế giới.
; Sukhavati (skt)—The world of utmost joy—See Cực Lạc.
; (極樂世界) Phạm: Sukhàvatì. Dịch âm là Tô ha phạ đế, Tu ma đề, Tu a đề. Chỉ cho cõi Tịnh độ của Phật A di đà. Cũng gọi là Cực lạc tịnh độ, Cực lạc quốc độ, Tây phương tịnh độ, Tây phương, An dưỡng tịnh độ, An dưỡng thế giới, An lạc quốc. Từ cõi thế gian này đi về hướng tây, trải qua hơn mười muôn ức cõi Phật thì đến cõi Tịnh độ cực lạc. Về tình hình của cõi Tịnh độ, thì trong kinh A di đà nói rất rõ ràng, và đức Phật di đà hiện nay vẫn đang nói pháp tại đấy. Cứ theo kinh Vô lượng thọ, thì những người vãng sinh sang cõi Phật ấy, được hưởng các thứ khoái lạc, như: thân có ba mươi hai tướng như Phật, đầy đủ thần thông, đối tượng của năm giác quan phi thường vi diệu, trong thân khoan khoái nhẹ nhàng, nghe pháp, cúng dường đức Phật liền được tỏ ngộ. Nhưng, trong cõi Tịnh độ ấy, có những nơi gọi là Biên địa, Nghi thành, Thai cung, là những nơi vãng sinh của những người hoài nghi sự cứu độ của Phật A di đà. Về giáo nghĩa vãng sinh Cực lạc và tín ngưỡng Phật A di đà, thì ngay từ Ấn độ xưa kia cũng đã rất hưng thịnh. Trong tạng kinh hiện còn, những trứ tác liên quan đến Phật Di đà và cõi Cực lạc có tới hơn hai trăm bộ. Ngoài ra, về những trứ tác và những tranh vẽ Cực lạc thế giới biến tướng của các sư đời sau tại Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc thì con số không thể đếm được. Trong các kinh khác như A súc, Văn thù, Dược sư, Di lặc, tuy cũng có nói về các cõi Tịnh độ, nhưng chỉ có cõi Tịnh độ của Phật A di đà là được lưu truyền rộng rãi nhất trong nhân gian và là đối tượng khát ngưỡng nội tâm của nhân loại. Nhất là nói về Phật giáo Bắc truyền, thì có thể bảo thế giới Cực lạc là nơi qui hướng phổ biến của tín ngưỡng dân gian. Đối với nguyên ngữ của danh từ Cực lạc, phương hướng và khoảng cách của cõi Tịnh độ, về khởi nguồn của tư tưởng này v.v... thì các học giả cận đại có đưa ra nhiều thuyết. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng - kinh Pháp hoa Q.6 - Di đà kinh sớ (Khuy cơ) - luận Thích tịnh độ quần nghi - Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn) - Quán vô thượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải) - A di đà Phật chi nghiên cứu - Tịnh độ giáo chi khởi nguyên cập phát đạt].
cực lạc thế giới a di đà phật
Amitabha Buddha of the Land of Ultimate Bliss.
cực lạc tự
Goku-Raku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
; (極樂寺) Cũng gọi là Lạp mãn, Nhất lạp. Lạp nghĩa là pháp lạp - là tuổi của chư tăng được tính từ khi thụ giới Cụ túc, người có số lạp cao nhất, gọi là Cực lạp. Trong tăng đoàn nhân ngày kết thúc hạ an cư (ngày 15 tháng 7 âm lịch) là hết một năm, từ ngày 16 là bắt đầu năm mới, cho nên tỉ khưu, tỉ khưu ni sau khi thụ giới, mỗi năm cứ đến ngày kết thúc hạ an cư thì được thêm một tuổi đạo (Pháp lạp). Căn cứ theo Pháp lạp nhiều hay ít mà lập ra Thượng lạp, Trung lạp, Hạ lạp khác nhau, để định thứ bậc trên dưới, lớn, bé, vì thế người ở bậc cao nhất, gọi là Cực lạp.
cực lạp
Vị Tăng có tuổi hạ lạp cao nhất trong giáo đoàn—The oldest monk in the orders (highest number of years in the orders).
cực lực
Energetically—Strongly.
Cực nan thắng địa
xem Mười địa vị.
cực nan thắng địa
The stage in which the bodhisattva has overcome his worst difficulties, the fifth stage.
; Hàng thứ năm trong Thập Địa Bồ Tát, còn gọi là Nan Thắng Địa, là giai đoạn mà vị Bồ Tát vượt qua những khó khăn—The stage in which the Bodhisattva has overcome his worst difficulties, the fifth stage—See Thập Địa Phật Thừa (5).
cực nhiệt địa ngục
Pratapana, or Mahapratapana (skt)—Địa ngục nóng nhất, địa ngục thứ bảy trong tám địa ngục nóng—The hottest hell, the seventh of the eight hells—See Địa Ngục (A) (a) (7).
cực nhọc
To work hard.
cực niết bàn
Abhinibbuta (P), Abhinirvāṇa (S), Complete serenity and passionlessness.
cực quang
Osel (T), Clear light.
; Ultimate light.
cực quang tịnh
Utmost light-purity.
Cực quang tịnh thiên
極光淨天; C: jíguāngjìng tiān; J: gokukōjō ten; S: ābhā-svarāḥ |Tầng trời thứ 3 trong Nhị thiền thiên (二禪天). Được xếp vào 1 trong 17 tầng trời cõi Sắc.
cực quang tịnh thiên
Ābhāsvaradeva (P), Ābhāsvara (S), Ābhassaraloka (P), Realm of Radiance Quang âm thiên, A ba hội, A ba thoại, Cực quang tịnh thiênMột trong 3 tầng trời cõi Nhị thiền thiên: - Thiểu quang thiên - Vô lượng quang thiên - Quang âm thiên. Từng trời sáng láng nhất của cõi sắc giới, miền Nhị thiền thiên. Chư thiên ở cõi này dùng hào quang thay tiếng nóiXem Cực quang tịnh thiên.
; Abhàsvara (S) Pure heaven of utmost light.
; Còn gọi là Cực Quang Âm Thiên, cõi trời cao nhất trong Sắc Giới Nhị Thiền Thiên; cõi được tái thành lập đầu tiên ngay khi vũ trụ hoại diệt, và trong đó Phạm Thiên và chư Thiên khác ra đời—Pure heaven of utmost light, the highest of the second dhyana heavens of the form-world; the first to be re-formed after a universal destruction and in it Brahma and devas come into existence—See Thiên (III) (B).
; (極光淨天) Cực quang tịnh, Phạm: Àbhàsvara. Dịch âm là A ba hội đề bà. Dịch cũ là Quang âm thiên. Cũng gọi Biến thắng quang thiên. Là một trong các cõi trời Sắc giới, tức tầng trời thứ ba trong Nhị thiền, ở phía trên trời Vô lượng quang, phía dưới trời Thiểu tịnh. Chúng sinh ở cõi này không có tiếng nói, chỉ do tâm định phát ra ánh sáng mà hiểu ý nhau. Sau khi thế giới hoại diệt bởi đại hỏa tai, bắt đầu kiếp thành, thì người trời ở cõi này lần lượt sinh xuống làm trời Đại phạm và làm người. Câu xá luận tụng sớ quyển 8 (Đại 41, 863 hạ), nói: Cõi Tĩnh lự thứ hai có ba tầng trời: 1. Trời Thiểu quang, là trời có ít ánh sáng nhất trong cõi Nhị thiền, vì thế gọi là trời Thiểu quang. 2. Trời Vô lượng quang, ánh sáng tăng lên, không có hạn lượng, vì thế gọi là trời Vô lượng quang. 3. Trời Cực quang tịnh, ánh sáng sáng hơn hai cõi trời trước, soi khắp cõi mình ở vì thế gọi là Cực quang. (xt. Quang Âm Thiên).
Cực quang tịnh thiên 極光淨天
[ja]ゴクコウジョウテン gokukōjō ten ||| The heaven of the most brilliant purity (ābhā-svarāḥ), the third of the three heavens in the second dhyāna heaven 二禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => (s: ābhā-svarāḥ), tầng trời thứ 3 trong Nhị thiền thiên 二禪天. Được xếp vào 1 trong 17 tầng trời cõi Sắc. 極喜地 極果 極樂 極歡喜住 極臭 極難勝地 極香臭
cực quang âm thiên
Abhàsvara (S). Pure heaven of utmost light and sound.
cực quả
The highest fruit, perfect Buddha-enlightenment.
; Chứng quả cực chỉ, hay quả vị giác ngộ tối thượng của Phật—The highest fruit, perfect Buddha-enlightenment.
; (極果) Có nghĩa là quả cùng tột, như quả Phật của Đại thừa, quả Vô học của Tiểu thừa. Cũng gọi là Vô thượng Niết bàn cực quả. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 (Đại 44, 634 hạ), nói: Cực quả vô lậu tức là tận trí và vô sinh trí.
cực thuỳ miên
Xem Cực trọng thuỳ miên.
cực thuỵ miên
(極睡眠) Tiếng dùng trong Nhân minh. Là một trong ba tiêu chuẩn để phân biệt tự tính và sai biệt trong luận thức Nhân minh. Cục, hàm ý hạn cục một chỗ - Thông là thông suốt các chỗ khác. Trong tác pháp ba phần (Tông, Nhân, Dụ) của Nhân minh, tiền trần (chủ từ) của Tông (mệnh đề) hạn cục ở Tông đó chứ không thông suốt đến ngoài Tông, cho nên gọi là tự tính. Hậu trần (khách từ) của Tông thì thông suốt cả đến bên ngoài Tông, không chỉ hạn cục ở Tông đó, cho nên gọi là sai biệt. (xt. Thể).
cực thành
Prasiddha (S)Thành tựu tột cùng.
; (極成) Là một trong năm loại Pháp xứ sở nhiếp sắc do tông Duy thức đặt ra. Khi phân tích các hiển sắc, như hư không, xanh, vàng v.v... không có tính ngăn ngại và các sắc không giới, như sáng, tối, ánh sáng, bóng sáng đến cái đơn vị nhỏ nhất (cực vi) của vật thì gọi là Cực quýnh sắc. Ngoài hết thảy vật chất có hình ra, ta thấy sáng, tối giữa khoảng không, gọi là sắc của không giới - sắc này rất xa, cho nên gọi là Cực quýnh sắc. Cực quýnh sắc này không phải là đối tượng của nhãn thức mà là sở duyên của ý thức, cho nên trong mười hai xứ, nó không thuộc sắc xứ mà thuộc pháp xứ. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1 - Đại thừa nghĩa lâm chương Q.5 phần cuối]. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).
cực thánh
Vị Thánh cao nhất, chỉ Đức Phật—The highest saint, Buddha.
cực thất phản hữu
(極七返有) Phạm: Prasiddha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là ý rất mực thành tựu, thành tựu tột bậc. Trong luận thức Nhân minh, Tông (mệnh đề) được thành lập phải chính xác, không lầm lẫn, và phải được cả người lập luận và người vấn nạn cùng thừa nhận (cộng hứa) mà không có ý kiến gì khác nữa. Thực hữu (có thực) và Cộng hứa (cùng thừa nhận) là hai điều kiện của sự cực thành. Nhưng trong Nhân minh, mục đích của sự lập Tông là muốn cho đối tượng cùng hiểu rõ, nên Nhân minh đặc biệt xem trọng quan điểm riêng của hai bên. Nếu cả hai bên cùng thừa nhận là có thì dù chẳng phải là cái có đích thực đi nữa, cũng có thể gọi là Cực thành. Trái lại, nếu hai bên không cùng thừa nhận là có, thì dù cái có ấy là chân chính thực có cũng không thể gọi được là cực thành. Cực thành gồm hai nghĩa thực có và cùng thừa nhận, nhưng thực thì nghiêng về sự cùng thừa nhận (cộng hứa) hơn. Do đó, cùng một danh từ, nhưng có là cực thành hay không, thì chưa nhất định, thường do quan điểm của hai bên mà có khác. Như nghĩa Quỉ chẳng hạn, nếu hai bên đều tin có quỉ, thì là cực thành - nhưng khi một người tin có quỉ và một người không tin có quỉ biện luận với nhau, thì nghĩa Quỉ không cực thành. Vì thế, cái gọi là cực thành hoàn toàn tùy thuộc thái độ chủ quan của hai bên làm tiêu chuẩn. Nếu khi dùng danh từ mà hai bên không cùng công nhận thì sẽ rơi vào lỗi không cực thành. Trong đó, nếu đối với Hữu pháp (tiền trần, tức chủ từ của Tông) mà dùng danh từ không được cả hai bên cùng thừa nhận, thì sẽ phạm vào lỗi Sở biệt bất cực thành - nếu đối với Năng biệt (hậu trần, tức khách từ của Tông) mà dùng danh từ không được hai bên cùng thừa nhận, thì sẽ phạm lỗi Năng biệt bất cực thành, nếu Hữu pháp và Năng biệt đều dùng danh từ không được hai bên cùng thừa nhận, thì phạm lỗi Lưỡng câu bất thành (Cả hai đều không thành). Cứ theo luận Nhân minh nhập chính lí quyển thượng chép, thì chẳng hạn như khi biện luận với Thanh luận sư, mà đệ tử Phật lập Tông: Âm thanh là vô thường, trong đó âm thanh là Hữu pháp, Vô thường là Năng biệt, cả hai đều được đôi bên cùng thừa nhận. Như thế, âm thanh gọi là Hữu pháp cực thành, Vô thường gọi là Năng biệt cực thành. Đệ tử Phật mới đem âm thanh và vô thường đã được cả hai bên cùng thừa nhận ấy kết hợp lại thành một mệnh đề hoàn chỉnh: Âm thanh là vô thường. Nhưng, vì Thanh luận sư tuy cũng thừa nhận hai nghĩa âm thanh và vô thường. Nhưng lại không đồng ý với Tông: Âm thanh là vô thường, cho nên hai bên ắt phải triển khai cuộc biện luận. Như vậy, cả tiền trần và hậu trần của Tông đều được hai bên cùng thừa nhận, nhưng về nghĩa thì mình thừa nhận Tông mình mà đối phương không thừa nhận: đó chính là yếu tố cơ bản của sự tranh luận trong Nhân minh. Ngoài tông ra, hai phần Nhân thể và Đồng pháp dụ cũng phải cực thành, còn Dị pháp dụ thì chưa hẳn đã nhất định phải cực thành - nếu trái với điểm này, thì phạm lỗi bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí - Nhân minh luận sớ Thụy nguyên kí Q.2 - Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
cực thịnh
Apogee.
cực trí
Điểm cao tột độ—Utmost, ultimate, final point, reaching to.
cực trọng nghiệp
Weighty karma.
cực trọng thuỳ miên
Acittaka (S)Cực thuỳ miênNgủ mê.
cực tích
(極臈) Ngủ rất say. Phạm: Acittaka. Còn gọi là Cực trọng thụy miên. Cực trọng thụy. Một trong năm trạng thái vô tâm, một trong sáu trạng thái vô tâm địa. Do sự mỏi mệt đưa đến ngủ say, khiến cho sáu thức trước không hoạt động. Vì ngủ say đưa đến trạng thái ngủ mê mệt nên sáu thức trước hoàn toàn không hiện hành, nặng nề, mất tự tại, nên gọi là Cực thụy miên. Thụy miên là một trong năm Cái..., một trong tám Triền , tính chất nó hơi mờ tối, hay chướng ngại trí quán. Trong trạng thái ngủ say, ý thức tuy có chuyển động một cách mơ màng yếu ớt, nhưng vì ngủ say liên miên, nên nó tương tự như thụy miên, cho nên tạm gọi là Cực thụy miên. [X. luận Thành duy thức Q.7 - luận Du già sư địa Q.13 - Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần đầu]. (xt. Ngũ Vị Vô Tâm).
cực tôn
Bậc Tôn túc đáng tôn kính nhất, hay Đức Phật—The highest revered one, Buddha.
cực tĩnh
Utmost quiescence, or mental repose.
cực tả
Extreme left.
cực tịnh
Thanh tịnh cực độ—Utmost quiescence, or mental repose, meditation, trence.
cực vi
Xem A nậu.
; An atom especially as a mental concept.
; Paramanu (skt). 1) Còn gọi là Cực Tế Trần, Cực Vi Trần, cách dịch cũ là Lân Hư, một nguyên tử hay là đơn vị vật chất phân tích đến nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, chỉ được nhìn thấy bằng mắt chư Thiên, chứ không thấy được bằng mắt người thường. Cho tới bây giờ người ta vẫn còn bàn cãi về sự hiện hữu của cực vi, có hiện hữu, có vĩnh hằng không thay đổi hay không—An atom, especially as a mental concept, in contrast with a material atom which has a centre and the six directions, an actual but imperceptible atom, seven atoms make a molecule, the smallest perceptible aggregation, called an anu; the perceptibility is ascribed to the deva-eye rather than to the human eye. There is much disputationas to whether the ultimate atom has real existence or not, whether it is eternal and immutable and so on. 2) Theo Hữu Bộ Tông (tông phái với quan niệm “ngã không pháp hữu”), cực vi có ba loại—According to the Sarvastivadah (the sect with the concept of “the self is empty, the Dharma exists.”), there are three kinds of atoms. a) Cực vi chi vi: Phần nhỏ bé nhất của thập sắc gồm ngũ căn và ngũ cảnh hay ngũ trần (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; và sắc, thanh, hương, vị, xúc. Phần thực sắc nầy không thể nào chia nhỏ ra được nữa nên gọi là cưc vi chi vi)—An atom, (especially as a mental concept), the smallest parts of the ten rupa, including the five faculties or pancendriyani, and the objects of five senses. b) Sắc tụ chi vi: Một nguyên tử vật chất gồm một nhân và sáu hướng bao quanh nhân nguyên tử nầy (sắc tụ chi vi như sắc, thanh, v.v. vừa kể trên cực vi chi vi tụ họp lại mà trở thành phần tối cực vi về mặt vật chất. Chúng không đơn độc sinh ra, mà phải do cái nầy dựa vào cái kia mà cùng nảy sinh)—A material atom which has a centre and six directions, an actual but imperceptible atom. C) Vi trần: Bảy nguyên tử làm một vi trần, đây là phần tử nhỏ nhất mà chỉ có mắt của các vị trời mới nhìn thấy, chứ không thể thấy được bằng mắt thịt của người phàm—Seven atoms make a molecule, the smallest perceptible aggregation is ascribed to the deva-eye rather than to the human eye.
; (極微) Phạm: Paramàịa. Cũng gọi là Cực vi trần, Cực tế trần. Dịch cũ là Lân hư (gần mé hư không). Đơn vị vật chất (sắc pháp) được chia chẻ đến cực nhỏ không thể chia chẻ được nữa, gọi là Cực vi. Theo luận Câu xá quyển 12 nói, thì lấy một cực vi làm trung tâm, gom góp các cực vi của sáu phương: trên, dưới và bốn phương thành một nhóm, gọi là vi (nhỏ), cũng gọi là vi trần (bụi nhỏ), cũng tức là hợp bảy cực vi là một bụi nhỏ, thì có Thiên nhãn mới thấy được. Vi trần, tiếng Phạm là Aịu-rajas, dịch âm là A nô, A nâu, cũng gọi là A nậu trần. Tập hợp bảy vi trần lại, thành một Kim trần, bảy Kim trần là 1 Thủy trần, bảy Thủy trần là một Thỏ mao trần (nhỏ bằng đầu lông thỏ), bảy thỏ mao trần là một Khích du trần (cũng gọi là hướng du trần, lọt qua kẽ tường). Kim trần (bụi vàng) thủy trần (bụi nước) có thể lọt qua kẽ trống trong vàng, trong nước, vì thế trần (bụi) có ý cực kì nhỏ bé. Bụi lông thỏ, lông dê, lông bò là du trần là chỉ cho những hạt bụi nhỏ li ti bay lởn vởn đầy trong ánh sáng qua kẽ cửa sổ mà mắt thịt của chúng ta có thể thấy được. Khi cực vi tập hợp lại để hình thành vật chất cụ thể, thì ít nhất phải có đủ bốn đại: đất, nước, lửa, gió và bốn trần (bốn vi) là sắc, hương, vị, xúc. Nếu thiếu một trong các yếu tố trên thì đều không thành. [X. luận Đại tì bà sa Q.13, Q.75, Q.136 - luận Đại trí độ Q.12 - luận Du già sư địa Q.3 - Q.54 - Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu].
cực vi phần bất phân
(極微分不分) Phần nhỏ nhất trong nhóm vật chất, là một trong ba vị cực vi. Về vấn đề này, Đại thừa và Tiểu thừa nói có khác nhau. Tiểu thừa cho sự chia chẻ đến cùng cực là cực vi, đã là cực vi, thì không còn thể chia thành các phần: trên, dưới, phải, trái, phía góc được nữa, gọi là Cực vi vô phương phân. Nếu lại muốn chia chẻ nữa, thì chỉ dùng tuệ quán của ý thức, trong một cực vi phân biệt có bốn đại năng tạo và bốn trần sở tạo mà thôi. Nhưng sắc, hương được chia chẻ như thế chỉ là tưởng tượng, chứ không phải là cực vi có thực thể. Đại thừa vốn không lập cực vi có thực thể, mà là cực vi do ý thức tưởng tượng, dùng tuệ quán xét chia chẻ sắc thô cho nên có thể chia chẻ đến vô hạn, nhưng đến một mức độ nào đó mà không dừng lại thì sẽ giống với hư không, bấy giờ không thể coi nó là vật chất. Vì thế ở cái giới hạn cùng cực của sức tưởng tượng về sắc gọi là cực vi, và coi đó là cùng cực của sự chia chẻ. [X. luận Thuận chính lí Q.32 - luận Thành duy thức Q.2].
cực vi trần
Paramanu (S).
; Fine motes of dust.
cực vô tự tính tâm
(極無自性心) Tâm có thể biết rõ các pháp đều không có tự tính là tâm tột cùng của Hiển giáo, Sơ tâm của Mật giáo. Tức là tâm thứ chín trong mười Trụ tâm do sư Không hải, người Nhật bản, lập ra, tương đương với lí pháp giới viên dung nói trong kinh Hoa nghiêm. Chân như không có tự tính, cho nên duyên khởi sinh ra muôn pháp - muôn pháp do duyên sinh cũng không có tự tính hệt như chân như, bởi thế, muôn pháp tương tức tương dung. Vì lí pháp giới trong Hoa nghiêm là lí rốt ráo cùng cực mà không tự tính, cho nên gọi là Cực vô tự tính. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 612 trung), nói: Nếu nói câu: Mười duyên sinh của tâm cực vô tự tính, thì những cảnh giới bất khả tư nghị của Hoa nghiêm, Bát nhã đều thu nhiếp trong đó. [X. kinh Đại nhật phẩm Trụ tâm - luận Thập trụ tâm Q.9]. (xt. Thập Trụ Tâm).
cực vị
The highest stage of enlightenment, that of Buddha.
; Ngôi vị chứng ngộ cao nhất hay Phật quả—The highest stage of enlightenment, that of Buddha.
; (極位) Giai vị chứng ngộ cùng tột, thông thường nói về quả Phật. Pháp hoa văn cú kí quyển 3 phần trên (Đại 34, 198 trung), nói: Nếu bậc đã đạt đến cực vị, thì hết thảy những người ở hạ vị đều không biết được.
Cực ái nhất tử
địa vị tu chứng của Bồ Tát được giảng giải trong kinh này. Cực ái nghĩa là hết lòng thương yêu; nhất tử: đứa con một, đứa con duy nhất. Cực ái nhất tử nghĩa là đem lòng thương yêu đến mức xem như đứa con duy nhất của mình. Đây nói lòng thương yêu của vị Bồ Tát ở địa vị này đối với hết thảy chúng sanh.
cực ái nhất tử địa
(極愛一子地) Nói tắt là Nhất tử địa. Tức là giai vị Bồ tát đã chứng quả hóa tha (giáo hóa chúng sinh) rất thương xót chúng sinh. Bồ tát ở giai vị này, coi chúng sinh như con một, nếu thấy chúng tu thiện được an ổn thì Bồ tát vui mừng, còn thấy chúng sầu não khổ sở, thì các Ngài rất lo buồn. Khi phối giai vị này với các thứ bậc của Bồ tát thì xưa nay có các thuyết khác nhau: Ngài Tăng tông đem phối với Thất địa, Ngài Tịnh ảnh cho là Sơ địa,Ngài Quán đính thì cho là Sơ địa đã chứng quả hóa tha. [X. kinh Đại ban niết bàn (bản Bắc) Q.16 - Niết bàn kinh sớ Q.17 - Niết bàn kinh tam đức chỉ qui Q.12].
cực điểm
Maximum.
cực đoan
Extreme.
cực đoan chủ nghĩa
Extremism.
cực đoan đam mê lạc thú
The extreme of indulgence in pleasure.
cực đại từ bi mẫu
(極大慈悲母) Danh hiệu tán thán lòng từ bi của Phật A di đà. Ý nói bà mẹ có lòng từ bi rất rộng lớn. Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 48 thượng), nói: Mắt từ coi chúng sinh, bình đẳng như con một, nên con qui mệnh lễ, cực đại từ bi mẫu. Nghĩa là Phật A di đà thương nhớ chúng sinh, hệt như người mẹ hiền thương yêu đứa con một. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ), nói: Đem lòng từ vô duyên, nhiếp phục các chúng sinh.
cực địa
Reaching the ground; utmost; fundamental principle; the highest of all, i.e. Buddha.
; Đạt được vị trí cao nhất trong tất cả, như Phật—Reaching the ground; utmost; fundamental principle; the highest of all, i.e. Buddha.
cực độ
Highest degree.
cựu
Xưa—Old—Ancient.
cựu dịch
Các bản dịch từ đời Đường về trước gọi là bản dịch cũ hay cựu dịch (như những bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập); các bản dịch từ đời Đường về sau gọi là bản dịch mới hay tân dịch (như những bản dịch của ngài Huyền Trang)—The older translations, i.e. before the T'ang dynasty, those of Kumarajiva; those of the Hsuan-Tsang and afterwards are called the new.
; (舊譯) Chỉ sự phiên dịch của thời cũ. Đối lại với Tân dịch. Còn gọi là Cựu phiên, Cổ phiên, Cổ dịch. Về các kinh Phật được dịch ra chữ Hán, trong Xuất tam tạng kí tập quyển 1, ngài Tăng hựu đời Nam triều Lương, gọi các kinh được dịch trước thời Tây Tấn là Cựu kinh (kinh cũ), và gọi các kinh do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần trở về sau là Tân kinh (kinh mới), để so sánh sự sai khác của văn dịch. Nhưng, người đặc biệt nhấn mạnh sự bất đồng giữa cũ và mới là ngài Huyền trang đời Đường, ngài cực lực bài bác sự sai lầm về cách dịch đạt ý (dịch ý) của dịch cũ. Về sau, phong trào dịch sát được dấy lên, sự phân biệt về Hán dịch giữa cũ và mới bèn lấy thời đại ngài Huyền trang làm gạch nối. Nghĩa là, đại biểu cho những nhà dịch cũ là Cưu ma la thập đời Hậu Tần và Chân đế đời Nam triều Trần, còn đại biểu cho các nhà dịch mới là Huyền trang và Nghĩa tịnh đời Đường. Đồ biểu dưới đây so sánh một cách đại khái về lời dịch giữa mới và cũ: Tiếng Phạm Trước đời Tây Tấn Cưu ma la thập Huyền trang Paĩca-skandha Ngũ chúng ngũ ấm ngũ uẩn Bhagavat Chúng hựu Thế tôn Thế tôn Gandharva Càn đạp hòa Càn thát bà Kiện đạt phọc Avalokitezvara Quang thế âm Quan thế âm Quán tự tại Vimàlakìri Vô cấu xưng Tịnh danh Vô cấu xưng Bồ Tát Cứu Thoát Sự sai khác về lời dịch trong đồ biểu trên đây là vì trong lời dịch cũ có lối phiên dịch theo tiếng Tây vực, và kinh Phật ở Ấn độ cũng dần dần hướng tới Phạm ngữ hóa, cho nên ảnh hưởng đến Hán dịch, vì thế mà lời dịch có sai khác. Còn đứng về phương diện tính tướng học của tông Pháp tướng mà nói, thì văn dịch mới của ngài Huyền trang cố nhiên là thích hợp, nhưng, nếu đứng về phương diện tụng đọc trôi chảy mà nói, thì lời dịch cũ vẫn êm xuôi hơn. Hiện nay, số người sử dụng các kinh điển dịch cũ cũng rất nhiều. Ngoài ra, các bản dịch Tây tạng, ở thời kì đầu, phép đặt câu văn và lời dịch không nhất định, nên sự phiên dịch có hơi lộn xộn. Đến thế kỉ thứ IX, có ngài Thắng hữu (Phạm: Jinamitra) thống nhất lời dịch và cách hành văn, từ đó liền có lời cũ (Tạng:skad-rnin) và lời mới (Tạng: gsar - rnin) khác nhau. [X. Tống cao tăng truyện Q.3 - Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.25 - Giáo uyển trích yếu Q.hạ].
Cựu dịch tân dịch 舊譯新譯
[ja] グヤクシンヤク guyakushinyaku ||| The old and new standards for the translation of Indic scriptures into Chinese. See 新舊兩譯. => Lối dịch kinh văn tiếng Phạn sáng tiếng Hán theo truyền thống cũ và mới. Xem Tân cựu lưỡng dịch 新舊兩譯.
Cựu dịch 舊譯
[ja] グヤク guyaku ||| The "old standard" for the translation of Indic texts into Chinese, which was in place prior to the career of Xuanzang. See 新舊兩譯. => Lối dịch kinh văn tiếng Phạn sáng tiếng Hán theo truyền thống xưa cũ vào trước thời kỳ ngài Huyền Trang. Xem Tân cựu lưỡng dịch 新舊兩譯.
cựu dịch, tân dịch
Old, new translation.
cựu kinh
Kinh xưa hay kinh viết theo lối xưa—Old writings, or versions.
cựu luật gia
(舊律家) Đối lại với Tân luật gia . Các nhà Luật học chia ra mới, cũ khác nhau, như luật Tứ phần, luật Ngũ phần là các luật dịch cũ, còn luật Hữu bộ do ngài Nghĩa tịnh đời Đường dịch là luật dịch mới. Do đó, những người lấy luật dịch cũ làm chỗ y cứ thì gọi là Cựu luật gia. Tuy nhiên, xưa nay phần nhiều dựa vào các sách chú thích Luật mà bàn về mới, cũ, như Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao của ngài Đạo tuyên đời Đường, Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí của ngài Nguyên chiếu đời Tống v.v... là Cựu luật gia. Còn Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đời Đường, Tứ phần luật khai tông kí của ngài Hoài tố, Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí của ngài Định tân v.v... là Tân luật gia.
cựu ngôn
1) Tiếng nói xưa của xứ Ma Kiệt Đà, nằm về phía nam của Behar, gọi là Magadhi-Prakrit: The vernacular language of Magadha, the country South behar, called Magadhi-Prakrit. 2) Phật tử ở Tích Lan cho rằng tiếng Pali, ngôn ngữ trong kinh điển Tích Lan là cựu ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt Đà, nhưng hai thứ nầy hoàn toàn khác nhau: Pali, which is the language of the Ceylon canon. The Ceylon Buddhists speak of it as Magadhi, but that was quite a different dialect from Pali.
cựu thiện
(舊善) Đối lại với Khách thiện...... Những pháp tắc về đạo đức nhân dân (chỉ hiếu, trung, thập thiện...) phổ thông của thế tục, gọi là Cựu thiện. Trái lại, những việc làm thiện của tôn giáo do Phật giáo chỉ dạy (Tam qui, Ngũ giới...), thì gọi là Khách thiện. Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng phần dưới (Đại 46, 670 trung), nói: Như lai chưa xuất hiện nơi đời, lúc ấy đã có mười điều thiện được giáo hóa, đó là cựu thiện của thế gian. (xt. Cựu Y).
cựu trụ
Đã trụ tại đó từ trước—Formerly lived there.
; (舊住) Chỉ người ở một chỗ đã lâu. Cũng gọi là Cửu trụ (ở lâu). Trong Thiền lâm, phần nhiều gọi các bậc lão túc ở trong tùng lâm đã lâu là Cựu trụ. (X. Thiền lâm tượng khí tiên Xưng hô môn).
cựu trụ bồ tát
Bồ Tát đã vãng sanh về cõi Tịnh Độ từ trước—Bodhisattvas who had formerly reborn and lived in the Pure Land.
; (舊住菩薩) Vị Bồ tát từ xưa đã ở lâu trong thế giới của một đức Phật. Kinh Pháp hoa quyển 6 phẩm Như lai thần lực (Đại 9, 51 hạ), nói: Bấy giờ, đức Thế tôn đối trước Văn thù sư lợi cùng vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ tát ma ha tát đã ở lâu nơi thế giới Sa bà, và các tỉ khưu, tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu a,Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân, hết thảy đại chúng, hiện sức thần lớn. Pháp hoa văn cú quyển 10 phần dưới giải thích (Đại 34, 141 hạ): Đối trước Văn thù v.v... là chúng Tích hóa. Ở lâu (cựu trụ) là chúng Bản hóa ở phương dưới. Hết thảy là những người đến từ phương khác và những người từ phân thân Phật đến.Cũng sách đã dẫn quyển 9 phần dưới, giải thích phẩm Như lai thọ lượng của kinh Pháp hoa quyển 5, bảo Bồ tát có ba thứ: phương dưới, phương khác và cựu trụ. (Đại 34, 129 hạ), nói: Phương dưới tức là được giáo hóa ở thời Bản địa, cho nên không chấp gần. Phương khác, cựu trụ đều có hai thứ, một là những người ứng sinh từ Pháp thân, đời trước được vô sinh, hoặc trước đã được nghe phát Tích hiển Bản, giả sử chưa được nghe, thì khi báo hết, nhận thân pháp tính, ở ngôi vị pháp thân tự được nghe thuyết dài lâu. Vì thế các Bồ tát ứng sinh phần nhiều không chấp gần. Hai là những người kiếp này mới được Vô sinh nhẫn và những người chưa được, cũng đều như thế. Những giải thích ghi trên đây chia các Bồ tát trên hội Pháp hoa làm ba loại: 1. Phương khác: chỉ cho hơn tám Hằng hà sa số Bồ tát từ các quốc độ ở phương khác đến, thệ nguyện trì kinh Pháp hoa sau khi đức Phật nhập diệt. 2. Chỉ sáu muôn Hằng hà sa số Bồ tát từ phương dưới của thế giới Sa bà hiện lên, khi đức Phật Thích ca mâu ni đang chứng minh lời thệ nguyện của các Bồ tát từ những phương khác đến. 3. Cựu trụ Bồ tát, chỉ các Bồ tát vốn ở thế giới Sa bà. Giải thích này và giải thích trong phẩm Thần lực, bảo Cựu trụ và phương dưới cùng là một, tựa hồ mâu thuẫn. Nhưng, thông thường trong phẩm Thần lực giải thích Phật hiện sức thần trước đại chúng là lấy các Bồ tát từ phương dưới hiện lên làm chính, song cũng gồm chỉ cả các Bồ tát cựu trụ của cõi Sa bà. [X. Pháp hoa sớ tư kí Q.10 phần đầu].
cựu tùng lâm
(舊叢林) Cũng gọi là Cổ tùng lâm. Chỉ vị tăng tu hành đã lâu trong tùng lâm. Cũng tức là người đã thông suốt phép tắc và các nghi thức trong tùng lâm.
cựu y
(舊醫) Chỉ thầy thuốc thời xưa. Từ cựu y được dùng để thí dụ các học thuyết ngoại đạo trước thời Phật giáo được thành lập. Đối lại với Khách y. Trước thời Phật giáo được thành lập, ở Ấn độ đã có nhiều học thuyết ngoại đạo tìm hiểu các vấn đề về con người, nên gọi là Cựu y - còn Phật giáo là tôn giáo ra đời sau, nên đối lại Cựu y mà gọi Phật giáo là Khách y. Cựu y cũng là một thầy thuốc, nhưng vì không có phương pháp tùy theo căn cơ chúng sinh để chữa bệnh, cho nên so với khách y thì kém hơn, vụng hơn. Thí dụ này có xuất xứ từ kinh Niết bàn (bản Nam) phẩm Ai thán. Lại nữa, những việc thiện phổ thông của thế gian, như mười điều thiện, hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng, gọi là Cựu thiện, Cựu giới, đối lại, năm giới, tám giới và giới Cụ túc của Phật giáo, gọi là Khách thiện, Khách giới. [X. kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.2 phẩm Thọ mệnh - luận Đại trí độ Q.46 - Đại ban niết bàn kinh tập giải Q.7 - Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên].
da bà
Yava (skt)—Một đơn vị đo lường tương đương với một phần 2.688.000—Barley—Barleycorn, a unit of measurement which is equivalent to the 2,688,000th part of a yojana.
da bà lô cát đế
Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section, and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
da bọc xương
Nothing but skin and bones.
da cầu na hoa nhĩ khắc nhã
(耶求那華爾克雅) Phạm:Yàĩavalkya. Cũng gọi Tế bì y tiên. Nhà triết học Ấn độ đời xưa. Cứ theo suy đoán thì ông là người sống ở khoảng thế kỷ VIII trước Tây lịch. Trong các sách Phú lan na Phạm: Puràịa) đều có ghi chép về ông. Học thuyết của ông được coi là đại biểu cho các luận thuyết triết học Ấn độ trước thời đại đức Phật. Tư tưởng trung tâm của ông nhấn mạnh bản chất của cái Ta (Phạm:àtman) là ý thức thuần túy duy nhất tuyệt đối (Phạm: Vijĩànaghana, prajĩànaghana), vượt ra ngoài sự đối lập của chủ quan, khách quan, do đó, dứt bặt nói năng và chỉ có thể dùng tiếng Phạm neti, neti (chẳng phải, chẳng phải) để biểu hiện. Ông còn nêu ra những thuyết như: Thực tại của Phạm - Ngã, trong giấc ngủ Phạm - Ngã là một, thế giới kinh nghiệm là ảo tượng (Phạm:màya) hư giả v.v... Học thuyết của phái Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta) do Thương yết la (Phạm: Zaíkara) thành lập ở đời sau đều đã bắt nguồn từ luận thuyết của ông.
da du đà la
Yaśodharā (S), Bhaddakaccana-Bimba-Rahulamata (P), Yasodhara (P)Tên Công chúa, vợ Thái tử Tất đạt ta, anh em cô cậu, cùng tuổi. Còn gọi là Bhaddakaccana Bimba Rahulamata. Thái tử Tất đạt đa có 3 bà phi: Da Du Đà La, Cồ Di và Lộc Dã.
; See Yasodhara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (耶輸陀羅) Phạm:Yazodharà, Pàli: Yasodharà. Cũng gọi Da du đà la, Da duy đàn. Hán dịch: Trì dự, Trì xưng, Hoa sắc. Cũng gọi La hầu la mẫu (Phạm: Ràhula - màtf: mẹ của La hầu la). I. Da du đà la. Con gái của ông Chấp trượng (Phạm: Daịđapàịi), dòng họ Thích, ở thành Ca tì la, trung Ấn độ, là chính phi của Thái tử Tất đạt đa, mẹ ruột của La hầu la. Lại có thuyết nói Da du đà la là con gái của Đại thần Ma ha na ma (Phạm: Mahànàma) dòng họ Thích thuộc chủng tộc Bà tư tra (Phạm:Vaziwỉhà). Cũng có thuyết bảo Da du đà la là con gái của vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) và là em gái của Đề bà đạt đa ở thành Thiên tí (Phạm: Devadaha). Bà có thân hình đoan trang xinh đẹp vào bậc nhất, đầy đủ mọi đức. Đức Thích tôn thành đạo được năm năm thì Da du đà la và di mẫu của đức Thích tôn là bà Ma ha ba xà ba đề (Phạm: Mahà-prajapati) cùng với 500 người phụ nữ dòng Thích ca cũng xin xuất gia thụ giới cụ túc làm tỉ khưu ni. II. Da du đà la. Là vị Bồ tát trong Mật giáo được thờ trong viện Quan âm của Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la. Mật hiệu là Thị hiện Kim cương. Tượng vẽ của vị tôn này là thiên nữ, đầu đội mũ kim tuyến, tay phải co lại, lòng bàn tay ngửa lên, các đầu ngón tay duỗi xuống, riêng ngón cái hơi co, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ, ngón giữa kẹp một cành cây. Ấn khế là ấn Mã đầu minh vương. Chân ngôn là: Na ma tam mạn đa bột đà nẫm diêm. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Thai tạng giới niệm tụng thứ đệ yếu tập Q.7].
Da dục 耶欲
[ja] ヤヨク yayoku ||| A corrupted writing form of 邪欲.〔二障義HPC 1.791b〕 => Chắc dùng nhầm lẫn với chữ Tà dục 邪欲. Dạ xoa 夜叉 [ja] ヤシャ yasha ||| A yakṣa, (Pali yakkha; Tib. gnod sbyin) which is a kind of demon in Indian mythology who comes from the northern regions; they are transformed into protectors of the dharma in Mayahana Buddhist scriptures. One of the eight kinds of spiritual beings 八部衆 appearing in Mahāyāna sutras. Interpreted by some translators as "satyrs." Alternatively transcribed as 藥叉, 悦叉, 閲叉, and 野叉; translated as 輕捷, 勇健, 能噉, 貴人, 威德, 祠祭鬼, and 捷疾鬼. => (s: yakṣa, p: yakkha; t: gnod sbyin). Một loại thần trong thần thoại Ấn Độ, vị thần nầy xuất xứ từ miền Bắc, hoá thân thành hộ pháp như trong kinh luận Đại thừa thường nói đến. Là một trong Tám bộ chúng xuất hiện trong kinh Đại thừa. Một số học giả thường dịch là “Thần rừng- satyrs”. Các phiên âm khác là: Dược-xoa, Duyệt-xoa, Dã-xoa. Dịch là Khinh tiệp, Dũng kiện, Năng đạm, Quý nhân, Oai đức, Từ tế quỷ và Tiệp tật quỷ.
Da Luật Sở Tài
(耶律楚材, Yaritsu Sozai, 1190-1244): còn gọi là Di Thích Sở Tài (移刺楚材), tự Tấn Khanh (晉卿), pháp húy Tùng Nguyên (從源), hiệu là Trạm Nhiên Cư Sĩ (湛然居士), hậu duệ của Đông Đan Vương Đột Dục (東丹王突欲) nhà Liêu, cha là Da Luật Lý (耶律履), mẹ họ Dương (楊), sanh ngày 20 tháng 6 năm đầu niên hiệu Minh Xương (明昌) nhà Kim. Năm 13 tuổi, ông đã học thi thư, đến năm 17 tuổi thì đỗ Tiến Sĩ. Đến năm thứ 2 (1214) niên hiệu Trinh Hựu (貞祐), ông được cử làm chức Tả Hữu Ty Viên Ngoại Lang (左右司員外郎). Ở tuổi này, theo lời cha khuyên, ông đến tham học với Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) được 3 năm và được ấn khả của vị này. Sau khi nhà Kim bị tiêu diệt, ông làm việc cho triều đình nhà Nguyên. Khi đang còn ở Báo Ân Tự (報恩寺), Vạn Tùng nghe lời khuyên của Sở Tài, soạn bộ Tùng Dung Lục (從容錄) và trên đường Tây chinh chính ông đã viết lời tựa cho tác phẩm này. Trước tác của ông có Trạm Nhiên Cư Sĩ Văn Tập (湛然居士文集) 14 quyển, Tây Du Lục (西遊錄) 1 quyển. Vào ngày 14 tháng 5 năm thứ 4 (1244) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) nhà Nam Tống, ông xả báo thân từ trần, hưởng thọ 55 tuổi. Tống Tử Trinh (宋子貞) soạn bản Trung Thư Lịnh Da Luật Công Thần Đạo Bi (中書令耶律公神道碑).
da luật sở tài
(耶律楚材) (1190-1240) Cũng gọi là Di lạt sở tài, Lưu sở tài. Tự Tấn khanh, pháp danh Tòng nguyên, hiệu Trạm nhiên cư sĩ, con cháu Đan vương đột dục ở Liêu đông. Ông vốn có chí khác thường, lấy việc lo cho thiên hạ làm trách nhiệm của mình. Ông học rộng, tài cao, thông suốt kinh sử Bách gia, cho đến giỏi cả nghề thuốc, bói toán, công nghệ, nông nghiệp v.v... Lúc đầu, ông làm quan với nhà Kim, nhưng vì chức quan nhỏ nên không bao lâu ông từ quan và lui về ở am Thung dung trong chùa Báo ân tại Yên kinh tham cứu Thiền học với ngài Vạn tùng Hành tú, 3 năm sau ông đắc pháp, ngài Hành tú soạn bộ Thung dung lục là do lời khuyến thỉnh của ông. Vua Thái tổ nhà Nguyên nghe tiếng ông đem lễ vật đến mời ông ra giúp việc nước. Mỗi khi theo vua đi chinh phạt, ông thường can vua đừng giết hại. Vua Thái tông phong cho ông làm Trung thư lệnh, rồi từ đó, tất cả việc chính trị, quân sự của đất nước đều giao cho ông quyết định. Mỗi khi ông giải quyết việc gì, vua thường khen ngợi và ban thưởng rất hậu. Tuy ở cảnh giầu sang như vậy nhưng ông vẫn mặc áo vải, ăn cơm rau, sống cuộc đời đạm bạc như người thường. Lúc sắp mất, ông đưa hết tài sản đến chùa để sung vào việc cúng dường, bố thí. Tháng 5 năm Thuần hựu thứ 4 đời Nam Tống ông qua đời, thọ 55 tuổi. Nay mộ của ông vẫn còn trong vườn Di hòa tại Bắc kinh. Tác phẩm của ông gồm có:Trạm nhiên cư sĩ văn tập, Tây du lục.[X. Ngũ đăng toàn thư Q.61; Nguyên sử Q.146]
da thịt
Skin and flesh—Có da có thịt: To gain weigh.
da xá
Xem Na liên đề lê da xá.
; Yasas (skt)—Có hai Tỳ Kheo mang cùng tên nầy—There were three persons of this same name: 1) Người thứ nhất là đệ tử thứ sáu của Đức Phật: The first person was the sixth disciple of the Buddha—See Yasas in English-Vietnamese Section. 2) Người thứ nhì là đệ tử của Ngài A Nan: The second person was a disciple of Ananda. 3) Người thứ ba, sanh sau khi Đức Phật Thích nhập diệt chừng 100 năm, người đã khuyến khích vua A Dục xây 8 vạn bốn ngàn tháp Phật ở miền Bắc Ấn Độ, triệu tập 700 vị Thánh Tăng, và liên hệ đến việc kết tập kinh điển lần thứ hai: The third person, who was born about 100 years after the Buddha's nirvana, is said to encourage king Asoka to build 84,000 Buddha stupas in northern India, convene (summon) 700 arhat saints (monks), and play an important part in connection with the second synod.
; (耶舍) I. Da xá. Phạm: Yaza hoặc Yazoda. Cũng gọi Da du đà, Da du già. Hán dịch: Danh văn, Thiện xưng. Là con của trưởng giả Thiện giác ở nước Ba la nại (Pàli: Varàịasì), trung Ấn độ. Vì nhàm chán cuộc đời trần tục, nên ngài đến vườn Lộc dã (Phạm:Mfgadàva) xin xuất gia làm đệ tử đức Phật và trở thành một trong sáu vị tỉ khưu được Phật độ cho đầu tiên. Về sau, bố mẹ và vợ con của ngài cũng qui y Tam bảo và là những ưu bà tắc, ưu bà di sớm nhất. [X. kinh Tí ni mẫu Q.1; kinh Xuất diệu Q.29] II. Da xá.Pàli: Yasa-kàkaịđakaputta. Cũng gọi Da xá đà ca lan đề tử, Da xá ca na tử. Vị A la hán sống vào khoảng 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt (khoảng 283 trước Tây lịch). Bấy giờ, các tỉ khưu Bạt kì tử (Pàli: Vajjiputta) ở thành Tì xá li (Phạm: Vaizàli) đề xướng Thập sự tịnh pháp để chống lại các vị tỉ khưu bảo thủ và đưa ra cách giải thích mới về 10 điều giới luật. Thập sự tịnh pháp sau bị các vị trưởng lão Da xá và Li bà đa (Phạm, Pàli: Revata) cùng với 700 vị tỉ khưu nhóm họp ở thành Tì xá li quyết định đó là 10 điều phi pháp. [X. luật Tứ phần Q.54; luật Thập tụng Q.60]. (xt. Thập Sự Phi Pháp). III. Da xá. Vị Thượng tọa ở tịnh xá Kê tước tại thành Ba liên phất (Hoa thị) ở thời vua A dục. Ngài đã giúp vua A dục kiến tạo 48.000 chùa tháp và tiến cử ngài Ưu ba cúc đa với nhà vua. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh A dục vương Q.1] IV. Da xá. Gọi đủ là Na liên đề lê da xá. Người nước Ô trường bắc Ấn độ. (xt. Na Liên Đề Lê Da Xá).
da xá quật đa
(耶舍崛多) Vị tăng dịch kinh đời Bắc Chu, cũng gọi là Xưng tạng, người nước Ưu bà, đệ tử của ngài Xà na da xá. Sư cùng với bạn đồng học là Xà na quật đa đến Trường an, Trung quốc vào thời Vũ đế. Quan Đại trủng tể (tương đương với chức Thượng thư bộ lại) tên là Vũ văn hộ mời sư về ở chùa Tứ thiên vương để dịch kinh. Các kinh luận do sư dịch gồm ba bộ tám quyển như: phẩm Cánh quảng thọ lượng đại biện đà la ni 5 quyển trong kinh Kim quang minh, kinh Thập nhất diện Quan thế âm thần chú 1 quyển v.v... Còn những sự tích khác về sư không được rõ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q7; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11].
da xá tháp
(耶舍塔) Tòa tháp xá lợi trên đỉnh núi Lô sơn. Cứ theo truyền thuyết, vào thời Đông Tấn, có tôn giả Da xá mang xá lợi từ Tây vực đến Trung quốc, khi đi qua Lô sơn, ngài dừng lại và xây tháp trên đỉnh núi để thờ xá lợi. Sách Danh sơn kí nói: Từ lưng chừng núi trở lên thì thế núi cao vút như cây bút. Trên chóp núi có tháp xá lợi gọi là tháp Da xá.
da xá trưởng lão
Yaśa (S), Yasa (P), Yasaskara (S)Thinh danh bất chánhTên một vị sư.
da xá đà
Yasoja (skt)—See Da Xá.
Da 耶
[ja] ヤ ya ||| (1) A final interrogative particle. (2) A transliteration of the ya sound into Chinese. (3) A father. (4) In Esoteric Buddhism, a term for 'seed' (種). (5) Sometimes seen in mistaken usage in Buddhist texts for the character 邪. => 1. Chữ thường nằm cuối câu hỏi. 2. Phiên âm âm ya trong tiếng Sanskrit sang tiếng Hán. 3. Người cha. 4. Trong Mật tông, là thuật ngữ chỉ cho Chủng tử (種). 5. Trong kinh Phật, có khi thấy dùng lẫn lộn với chữ Tà 邪.
Da-du Ða-la
耶輸多羅; S: yaśodharā; P: yasodhāra;|Vợ của Tất-đạt-đa, đức Phật lịch sử và là mẹ của La-hầu-la.
Da-du-đà-la 耶輸陀羅
[ja] ヤシュダラ Yashudara ||| Yośadharā; the life of Gautama before he went on his quest for enlightenment. She was the mother of Rāhula 羅睺羅, and later became a nun. 〔法華經 T 262.9.2a1〕 Yashudara (j); Yośadharā (s); => Bạn đời của thái tử Gautama trước khi xuất gia tìm sự giải thoát. Là mẹ của La-hầu-la (Rāhula 羅睺羅) và sau cũng xuất gia làm tỷ-khưu Ni.
Da-xá 耶舍
[ja]ヤシャ Yasha ||| Yaśas (1) One of Śākyamuni's earliest disciples, the son of the wealthy man Suprabuddha of Vārāṇasī 波羅奈國. (2) A monk who lived about one hundred years after the death of Śākyamuni, who ended up becoming the central figure in the Second Buddhist Council 第二結集, after he accused the Vajjiputtaka monks of immoral practices. => Yasa (k); Yasha (j); Yaśas (s); 1. Một trong những đệ tử sớm nhất của Đức Phật, là con trai của một người giàu có tên Suprabuddha thuộc nước Ba-la-nại (s: Vārāṇasī 波羅奈國). 2. Tăng sĩ sống vào khoảng 100 năm sau Đức Phật nhập niết-bàn, là nhân vật trung tâm của kỳ kết tập kinh điển lần thứ II, sau khi ông ta tố cáo các tăng sĩ dòng họ Bạt-kỳ (s: Vajjiputtaka) thực hành các điều phi pháp.
dabbila
Dabbila (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
dai dẳng
Long lasting—To last a long time.
dan
To extend.
dan díu
To be in love with someone.
dang dở
Unfinished—Uncompleted.
Danh
名; C: míng; J: myō; S: nāman; P: nāma;|1. Danh từ chỉ những tâm sở (thuộc về tâm) đối nghĩa với sắc (色; s, p: rūpa). Danh bao gồm bốn uẩn: Thụ (受; s, p: vedanā), Tưởng (想; s: saṃjñā; p: sañña), Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra), Thức (識; s: vijñā-na; p: viññāṇa). Cùng với sắc, danh thành lập Ngũ uẩn, tạo một chúng sinh, một Hữu tình.|Danh là nhân duyên thứ tư trong Mười hai nhân duyên, bắt nguồn từ thức. Trong Ðại thừa, Danh đối nghịch với Chân như, bởi vì danh không thể bao trùm, tiết lộ hết tất cả sự thật. Từ suy luận này, quan niệm »Tất cả là không thật, là ảo ảnh« trở thành giáo lí trung tâm của Ðại thừa.|2. Danh từ, thuật ngữ. Danh xưng của vật. Nhất thiết hữu bộ xem Danh là một trong những Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
danh
Nāma (P), Nāman (S), Name
; Nàma (S). Name; fame; renown, reputation.
; • Tên gọi: Nama (skt)—Name—Noun—Term—Famous. • Danh sắc: Naman (skt)—Rupa-form.
; (名) Tên. Phạm: nàman. Dịch âm Hán: Na ma. Một trong những pháp Tâm bất tương ứng hành. Một trong 75 pháp Câu xá, một trong 100 pháp Duy thức. Thông thường chỉ cho tên gọi, nhưng theo sự giải thích trong Phật học, thì tùy theo tiếng gọi vật thể, khiến người nghe tên mà tướng của vật thể nổi hiện lên ở trong tâm, làm cho người ta sinh khởi tuệ giác. Cứ theo luận Câu xá quyển 5, thì Danh là nghĩa tác tưởng, như tưởng sắc, thanh, hương, vị, xúc... Đây là liên hệ Danh với ấn tượng chủ quan mà bàn, nên còn gọi là Danh tưởng. Vả lại, Danh và tướng dáng của sự vật ăn khớp với nhau nên cũng gọi là Danh tướng. Nếu Danh có bao hàm nội dung nhất định thì gọi là Danh nghĩa. Ngoài ra, Câu xá luận quang kí nói, Danh còn có các nghĩa: theo, về, đến, gọi lại... Ý nói Danh hay theo tiếng, về với cảnh, gọi sắc lại... Cũng sách đã dẫn còn nói, Danh có khả năng giải thích rõ nghĩa, giúp người ta sinh khởi tuệ giác. Theo Câu xá luận quang kí quyển 5 thì có 3 loại danh: Danh, Danh thân, Đa danh thân. Chẳng hạn như chữ sắc hoặc chữ hương đều là từ đơn, gọi là Danh, ghép hai chữ sắc và hương lại với nhau làm từ ghép thì gọi Danh thân; ghép từ 3 chữ trở lên như sắc hương vị hoặc sắc, hương, vị, xúc... thì gọi là Đa danh thân. Đây là bàn về Nhất tự sinh (sinh một chữ). Nếu nói theo nhị tự sinh thì khi ghép hai chữ lại với nhau gọi là Danh; ghép bốn chữ lại với nhau thì gọi là Danh thân, ghép từ sáu chữ trở lên gọi là Đa danh thân. Nếu là Đa tự sinh thì cứ theo đây mà suy ra. Ngoài ra, về mối quan hệ giữa Danh, Cú, Văn, thì Văn (Phạm: vyaĩjana, Hán âm: Tiện thiện na) tức chỉ cho chữ, như chữ a, i... Văn là chỗ nương của Danh, Cú, tự thể của nó không có nghĩa. Danh là do dùng văn một cách liên tục mới cấu thành tên gọi của sự vật, do đó mới có thể biểu thị ý nghĩa cá biệt của sự vật. Cú (Phạm:pada, Hán âm: bát đà) là do liên kết danh lại thành một câu có ý nghĩa hoàn chỉnh, như câu: Hoa này là màu hồng. Cả Danh, Cú, Văn đều là một trong những pháp Tâm bất tương ứng hành. Chủng loại của Văn, Cú cũng giống với Danh tướng. Nếu ghép hai Văn lại với nhau thì gọi là Văn thân, ghép hai Cú lại với nhau gọi là Cú thân; nếu ghép từ ba chữ trở lên thì gọi Đa văn thân, Đa cú thân.Hữu bộ cho rằng tự thể của Danh, Cú, Văn lìa tiếng, cho nên là có thật; nhưng Kinh bộ và phái Duy thức thì chủ trương có giả. Còn Bát nhã học Đại thừa thì cho Danh và Thực đối lập nhau. Triệu luận và Bất chân không luận thì chủ trương khái niệm Danh tướng là khách thể chứ không phải bản thể, vì nó không phản ánh được tính chân thực của khách quan; nó cũng không thể được dùng để biểu thị và nắm bắt tính chân thực của khách quan. Cho nên nó được dùng để phủ định tính thực tại của sự vật khách quan. [X. luận Đại tì bà sa Q.14; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu]. (xt. Văn, Cú).
danh biệt nghĩa thông
Different in name but of the same meaning.
; (名別義通) Tức là mượn pháp môn của Biệt giáo để làm sáng tỏ nghĩa lí của Thông giáo. Là phương pháp mà tông Thiên thai dùng để phân biệt giải thích những trường hợp danh nghĩa trái nhau của các câu văn trong kinh luận. Như trong kinh luận có câu: Giới nội Tam thừa hành nhân đoạn chứng chi giai vị, phụ ư giới ngoại Bồ tát chi giai vị (Giai vị đoạn phiền não chứng chân lí của hành giả Tam thừa trong ba cõi phụ thuộc vào giai vị Bồ tát ngoài ba cõi). Trong đoạn văn trên đây giai vị trong ba cõi tuy nhờ giai vị đoạn hoặc chứng chân của Bồ tát ngoài ba cõi để chỉ thị rõ ra, nhưng sự đoạn hoặc chứng chân thực tế của người tu hành là thuộc về nhân quả trong ba cõi, cho nên thuyết này rất khó phân biệt giải thích, thường khiến người chấp nê câu văn mà hiểu lầm ý nghĩa. Nhưng, nếu dùng phương pháp Danh Biệt Nghĩa Thông mà phân biệt giải thích ý nghĩa trên đây thì cũng dễ hiểu.Bởi vì tông Thiên thai phán Thông giáo là Lí giáo trong ba cõi và Biệt giáo là Sự giáo ngoài ba cõi, cho nên thuyết giai vị được trình bày ở trên có thể nhờ 50 giai vị của Biệt giáo từ đầu đến cuối (đầu Thập tín cuối Thập địa) để làm sáng tỏ sự đoạn hoặc chứng chân của hành giả Tam thừa thuộc Thông giáo. Sự mượn danh Biệt giáo làm tên gọi giai vị của Thông giáo có ba hình thức gọi là Tam tá (ba cách vay mượn): 1. Tam thừa cộng tá nhất giáo (Ba thừa mượn chung một giáo), tức là mượn 50 giai vị Biệt giáo từ đầu đến cuối để gọi giai vị của ba thừa thuộc Thông giáo. 2. Tam thừa cận tá ngũ thập vị trung chi Thập địa, nghĩa là ba thừa chỉ mượn Thập địa trong 50 giai vị. 3. Tam thừa trung chi Bồ tát tá Biệt giáo chi thủy chung ngũ thập vị, nghĩa là Bồ tát trong ba thừa mượn 50 giai vị của Biệt giáo từ đầu đến cuối (từ đầu Thập tín đến cuối Thập địa). [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 1].
danh bút
Famous writer.
danh bất hư truyền
Having a well deserved reputation.
danh chính ngôn thuận
Just cause, good words.
danh cương lợi tỏa
The shackles of honours and intersts.
danh dục
(名欲) Một trong năm dục. Là lòng ham muốn tiếng tăm. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 24 thì danh tức tiếng tăm ở thế gian. Vì tiếng tăm có thể mang lại sự vẻ vang cho mình, nên khiến người ta ham đắm tìm cầu không biết chán. (xt. Ngũ Dục).
danh dự
Honor—Honorary.
danh gia
Famous family.
danh giá
Honour—Reputation.
danh giả
Một trong tam giả, tên tự nó không có thật—Name unreal, one of the three unrealities—See Tam Giả.
; (名假) Một trong ba giả. Danh là tên gọi của sự vật, có khả năng giải thích rõ nghĩa; Giả là hư dối không thật. Đối với các pháp hòa hợp bày đặt các tên, gọi là Danh giả, bởi lẽ cái Danh này không phải là bản thể của các pháp mà chỉ phương tiện đặt ra để giải thích các pháp, cho nên tất cả Danh đều là Danh giả. Nếu từ trong Danh giả rút ra được nghĩa năng thành, thì đó là Pháp giả; rút ra được nghĩa sở thành thì đó là Thụ giả. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa huyền luận Q.1]. (xt. Tam Giả Thi Thiết).
danh hiền
Famous sage.
Danh hiệu
名號; C: mínghào; J: myōgō; |Tên gọi, đặc biệt là tước hiệu, hay là một danh hiệu đặc biệt tỏ lòng kính trọng, như thường dùng cho chư Phật và các vị đại Bồ Tát (s: nāman).
danh hiệu
Nāmadheya (S).
; Epithet; appellation designation.
; Samabhidha (skt). • Tên: Name. • Tước hiệu: An appelation—A title or a name.
; (名號) Phạm: nàmadheya, Pàli: nàmadheyya. Cũng gọi Danh tự, Danh. Chủ yếu nói về danh hiệu của Phật và Bồ tát. Vì danh hiệu này có thể nói lên công đức của Phật, Bồ tát và hiển bày rõ lòng kính ngưỡng, tán thán của chúng sinh đối với Phật, Bồ tát, cho nên cũng gọi là Bảo hiệu, Tôn hiệu, Gia hiệu v.v... Lại vì danh hiệu này là bồ đề của chư Phật, nên còn gọi là Quả danh, Quả hiệu, Quả thượng danh hiệu. Và lại theo số chữ của danh hiệu thì có các tên là Danh hiệu bốn chữ, Danh hiệu sáu chữ, Danh hiệu chín chữ, Danh hiệu mười chữ v.v... Về nghĩa chữ của danh hiệu, cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối của ngài Tuệ viễn, thì hiển bày rõ thể là danh, biểu lộ đức là xưng, danh xưng biểu hiện ra ngoài khiến mọi người đều biết gọi là Hiệu. Còn theo Hoa nghiêm thám huyền kí quyển 4, thì danh là tên riêng của đức Thích ca; hiệu chỉ cho mười hiệu là tên chung của chư Phật. Qua sự trình bày trên đây, thì danh hiệu có thể biểu hiện thể tính chân như và công đức viên mãn của chư Phật Bồ tát. Lại nữa, danh hiệu cũng từ chư Phật Bồ tát mà ra, vì danh và thể không lìa nhau, cho nên danh hiệu của chư Phật cũng đồng như pháp thể của chư Phật. Do đó, trong các kinh luận đã có nhiều thuyết cho rằng nếu người thành tâm xưng niệm danh hiệu của chư Phật, tư duy nhớ nghĩ chư Phật, thì có thể tiêu trừ các tội chướng, tai nạn, hoặc có thể được vãng sinh Tịnh độ. Như phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói, người cung kính lễ bái bồ tát Quán thế âm và thụ trì danh hiệu của Ngài, có thể được nhiều phúc đức. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói, nếu người dốc lòng thành kính xưng niệm Nam mô a di đà Phật, thì trong mỗi niệm có thể diệt trừ tội chướng của 80 ức kiếp. Ngoài ra, nếu xưng niệm danh hiệu của chư Phật Bồ tát như Phật Thích ca mâu ni, bồ tát Địa tạng, đức Phật Dược sư, bồ tát Di lặc, bồ tát Văn thù, bồ tát Đại thế chí v.v... cũng có thể diệt tội được phúc. Trong các danh hiệu, danh hiệu đức Phật A di đà nhờ sự lưu truyền của tông Tịnh độ mà phổ biến ở thế gian, những người thành tâm chuyên cần xưng niệm danh hiệu của Ngài thì lúc lâm chung chắc chắn được sinh về Tịnh độ cực lạc. Danh hiệu Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của bồ tát Quan thế âm cũng được người đời xưng niệm rộng rãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.4 phẩm Như lai danh hiệu; kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Dược sư bản nguyện; kinh Di lặc thượng sinh; luận Thập trụ tì bà sa Q.5 hẩm Dị hành; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
danh hiệu bất tư nghị
(名號不思議) Danh hiệu không thể nghĩ bàn. Đây là chỉ danh hiệu của đức Phật A di đà, công đức của danh hiệu này rộng lớn vô biên, chẳng thể nghĩ bàn, cho nên gọi là danh hiệu bất khả tư nghị. Bởi vì người dốc lòng xưng niệm Nam mô a di đà Phật (danh hiệu sáu chữ) nhờ công đức ấy liền được sinh về Tịnh độ. Ngoài ra, Phật A di đà nghĩa là sống lâu vô lượng (Phạm:amitàyus), ánh sáng vô lượng (Phạm: amitàbha), cho nên Nam mô a di đà Phật cũng được dịch là: Qui mệnh Vô lượng thọ Như lai (danh hiệu 7 chữ), Na mô bất khả tự nghị quang Như lai (danh hiệu 9 chữ), Qui mệnh tận thập phương vô ngại quang Như lai (danh hiệu 10 chữ)... (xt. Danh Hiệu).
Danh hiệu 名號
[ja] ミョウゴウ myōgō ||| A name, especially an epithet, or a special title of respect, as is regularly applied to the buddhas and great bodhisattvas (nāman). => Tên gọi, đặc biệt là tước hiệu, hay là một danh hiệu đặc biệt tỏ lòng kính trọng, như thường dùng cho chư Phật và các vị đại Bồ-tát (s:nāman).
danh lam
Famous temple.
; (名藍) Ngôi già lam nổi tiếng. Già lam là nói tắt từ tiếng Phạmsaôghàràma, nghĩa là chùa viện. (xt. Già Lam).
danh lam cổ tự việt nam
Theo Việt Nam Danh Lam Cổ Tự của Võ Văn Tường, trên toàn quốc Việt Nam từ Bắc chí Nam có 247 ngôi danh lam cổ tự. Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Minh Châu đã viết trong lời giới thiệu: “Một đặc trưng nổi bật của kiến trúc Phật Giáo Việt Nam là không có những công trình lớn lao đồ sộ, trái lại, các chùa tháp đều có tầm cở trung bình, nhưng xinh xắn, nhẹ nhàng, thậm chí có khi nhỏ bằng như những am cốc của các vị ẩn sĩ độc cư. Chùa không lớn nhưng chùa rất nhiều, điều nầy tưởng cũng có thể nói lên một khía cạnh tích cực của tâm lý người Việt, và chính vì thế mà khắp giang sơn hầu như được tô điểm bằng cái tinh thần thanh tịnh, hiền hòa của đạo lý Đức Thích Ca.”—According to Vo Van Tuong in Vietnam's Famous Ancient Pagodas, there are two hundred forty-seven ancient pagodas in Viet Nam from North to South. Most Venerable Doctor Thich Minh Chau wrote in the Preface : “A remarkable characteristic of Vietnamese Buddhist architecture is that there are not any gigantic, magnificient construction. Instead, there are pagodas and stupas, moderate in shape, pretty and refined in style, and even little in structure like the huts of the recluses secluding from the world. Vietnam's pagodas are diminutive but abundant. This probably relates to an active aspect of Vietnamese psychology. Therefore, the whole country is decorated with the pure, gentle spirit of sakyamuni Budha's Teaching” I. Tỉnh Hà Bắc—Hà Bắc Province: 1) Chùa Dâu: Dâu Pagoda. 2) Chùa Dàn: Dàn Pagoda. 3) Chùa Bút Tháp: Bút Tháp Pagoda. 4) Chùa Đức La: Đức La Pagoda. 5) Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda. 6) Chùa Đồng Ky: Đồng Ky Pagoda. 7) Chùa Hàm Long: Hàm Long Pagoda. 8) Chùa Cổ Mễ: Cổ Mễ Pagoda. 9) Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda. 10) Chùa Quang Phục: Quang Phục Pagoda. 11) Chùa Vân Cốc: Vân Cốc Pagoda. 12) Chùa Phả Lại: Phả Lại Pagoda. 13) Chùa Thôn Xuân: Thôn Xuân Pagoda. 14) Chùa Lái: Lái Pagoda. 15) Chùa Phật Tích: Phật Tích Pagoda. 16) Chùa Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda. 17) Chùa Phấn Động: Phấn Động Pagoda. 18) Chùa Ngô Xá: Ngô Xá Pagoda. 19) Chùa Diên Phúc: Diên Phúc Pagoda. II. Hà Nội—Hanoi City: 20) Chùa Một Cột: Một Cột Pagoda. 21) Chùa Láng: Láng Pagoda. 22) Chùa Trấn Quốc: Trấn Quốc Pagoda. 23) Chùa Liên Phái: Liên Phái Pagoda. 24) Chùa Kim Liên: Kim Liên Pagoda. 25) Chùa Bộc: Bộc Pagoda. 26) Chùa Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda. 27) Chùa Vũ Thạch: Vũ Thạch Pagoda. 28) Chùa Hòa Mã: Hòa Mã Pagoda. 29) Chùa Yên Phú: Yên Phú Pagoda. 30) Chùa Tự Khoát: Tự Khoát Pagoda. 31) Chùa Sở: Sở Pagoda. 32) Chùa Phụng Thánh: Phụng Thánh Pagoda. 33) Chùa Thiên Phúc: Thiên Phúc Pagoda. 34) Chùa Thanh Nhàn: Thanh Nhàn Pagoda. 35) Chùa Nành: Nành Pagoda. 36) Chùa Phú Thị: Phú Thị Pagoda. 37) Chùa Bắc Biên: Bắc Biên Pagoda. 38) Chùa Đại Lan: Đại Lan Pagoda. 39) Chùa Thanh Ninh: Thanh Ninh Pagoda. 40) Chùa Vân Hồ: Vân Hồ Pagoda. 41) Chùa Mật Dụng: Mật Dụng Pagoda. 42) Chùa Kim Giang: Kim Giang Pagoda. 43) Chùa Thanh Lâm: Thanh Lâm Pagoda. 44) Chúa Thánh Chúa: Thánh Chúa Pagoda. 45) Chùa Hòe Nhai: Hòe Nhai Pagoda. 46) Chùa Huỳnh Cung: Huỳnh Cung Pagoda. 47) Chùa Bát Tháp: Bát Tháp Pagoda. 48) Chùa Duệ: Duệ Pagoda. 49) Chùa Lại Đà: Lại Đà Pagoda. 50) Chùa Cầu Đông: Cầu Đông Pagoda. 51) Chùa Quỳnh Đô: Quỳnh Đô Pagoda. 52) Chùa Thiền Quang: Thiền Quang Pagoda. 53) Chùa Bà Nành: Bà Nành Pagoda. 54) Chùa Kiến Sơ: Kiến Sơ Pagoda. III. Tỉnh Hải Hưng—Hải Hưng Province: 55) Chùa Côn Sơn: Côn Sơn Pagoda. 56) Chùa Thái Lạc: Thái Lạc Pagoda. 57) Chùa Đông Cạo: Đông Cạo Pagoda. 58) Chùa Cập Nhất: Cập Nhất Pagoda. 59) Chùa Hương Lãng: Hương Lãng Pagoda. 60) Chùa Giám: Giám Pagoda. 61) Chùa Mễ Sở: Mễ Sở Pagoda. 62) Chùa Lạc Thủy: Lạc Thủy Pagoda. 63) Chùa Phú Thị: Phú Thị Pagoda. IV. Tỉnh Hà Tây—Hà Tây Province: 64) Chùa Hương Trai: Hương Trai Pagoda. 65) Chùa Tây Phương: Tây Phương Pagoda. 66) Chùa Trầm: Trầm Pagoda. 67) Chùa Trăm Gian: Trăm Gian Pagoda. 68) Chùa Mía: Mía pagoda. 69) Chùa Hữu Bằng: Hữu Bằng Pagoda. 70) Chùa Thiệu Long: Thiệu Long Pagoda. 71) Chùa Ngãi Cầu: Ngãi Cầu Pagoda. 72) Chùa Kim Hoa: Kim Hoa Pagoda. 73) Chùa Thầy: Thầy Pagoda. 74) Chùa Hương Tích: Hương Tích Pagoda. 75) Chùa Đậu: Đậu Pagoda. 76) Chùa Xâm Động: Xâm Động Pagoda. 77) Chùa Sở: Sở Pagoda. 78) Chùa Từ Châu: Từ Châu Pagoda. 79) Chùa Quảng Nguyên: Quảng Nguyên Pagoda. 80) Chùa Văn Phú: Văn Phú Pagoda. 81) Chùa Đại Bi: Đại Bi Pagoda. 82) Chùa Lâm Dương: Lâm Dương Pagoda. 83) Chùa Thanh Lãm: Thanh Lãm Pagoda. 84) Chùa Trường Xuân: Trường Xuân Pagoda. 85) Chùa Ngọc Đình: Ngọc Đình Pagoda. 86) Chùa La Phù: La Phù Pagoda. 87) Chùa Diên Khánh: Diên Khánh Pagoda. 88) Chùa Phúc Khê: Phúc Khê Pagoda. 89) Chùa Bối Khê: Bối Khê Pagoda. 90) Chùa Phương Trung: Phương Trung Pagoda. 91) Chùa Khê Tang: Khê Tang Pagoda. 92) Chùa Thiên Trù: Thiên Trù Pagoda. V. Thành Phố Hải Phòng—Hải Phòng City: 93) Chùa Dư Hàng: Dư Hàng Pagoda. VI. Tỉnh Nam Hà—Nam Hà Province: 94) Chùa Keo: Keo Pagoda. 95) Chùa Đại Bi: Đại Bi Pagoda. 96) Chùa Cổ Lễ: Cổ Lễ Pagoda. 97) Chùa Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda. 98) Chùa Đệ Tứ: Đệ Tứ Pagoda. 99) Chùa Vọng Cung: Vọng Cung Pagoda. VII. Tỉnh Ninh Bình—Ninh Bình Province: 100) Chùa Non Nước: Non Nước Pagoda. 101) Chùa Bích Động: Bích Động Pagoda. VIII.Tỉnh Quảng Ninh—Quang Ninh Province: 102) Chùa Yên Tử: Yên Tử Pagoda. VIII.Tỉnh Thái Bình—Thái Bình Province: 103) Chùa Keo: Keo Pagoda. 104) Chùa Hội: Hội Pagoda. 105) Chùa La Vân: La Vân Pagoda. 106) Chùa Cổng: Cổng Pagoda. VIII. Tỉnh Vĩnh Phú—Vĩnh Phú Province: 107) Chùa Xuân Lũng: Xuân Lũng Pagoda. IX. Tỉnh Thanh Hóa—Thanh Hóa Province: 108) Chùa Mật Đa: Mật Đa Pagoda. X. Tỉnh Hà Tĩnh—Hà Tĩnh Province: 109) Chùa Hợp Tự: Hợp Tự Pagoda. XI. Tỉnh Quảng Trị—Quảng trị Province: 110) Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang: Sắc Tứ Tịnh Quang Pagoda. XII. Cố Đô Huế—Huế Citadel: 111) Chùa Thiên Mụ: Thiên Mụ Pagoda. 112) Chùa Thánh Duyên: Thánh Duyên Pagoda. 113) Chùa Diệu Đế: Diệu Đế Pagoda. 114) Chùa Sắc Tứ Quốc Ân: Sắc Tứ Quốc Ân Pagoda. 115) Chùa Báo Quốc: Báo Quốc Pagoda. 116) Chùa Từ Đàm: Từ Đàm Pagoda. 117) Chùa Thuyền Tôn: Thuyền Tôn Pagoda. 118) Chùa Đông Thuyền: Đông Thuyền Pagoda. 119) Chùa Từ Hiếu: Từ Hiếu Pagoda. 120) Chùa Tường Vân: Tường Vân Pagoda. 121) Chùa Vạn Phước: Vạn Phước Pagoda. 122) Chùa Ba La Mật: Ba La Mật Pagoda. 123) Chùa Tây Thiên Di Đà: Tây Thiên Di Đà Pagoda. 124) Chùa Trúc Lâm: Trúc Lâm Pagoda. 125) Chùa Trà Am: Trà Am Pagoda. 126) Chùa Diệu Đức: Diệu Đức Pagoda. XIII. Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẳng—Quảng Nam Đà Nẳng Province: 127) Chùa Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda. 128) Chùa Tam Thai: Tam Thai Pagoda. 129) Chùa Chúc Thánh: Chúc Thánh Pagoda. 130) Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda. 131) Chùa Phổ Đà: Phổ Đà Pagoda. 132) Chùa Pháp Lâm: Pháp Lâm Pagoda. XIV. Tỉnh Quảng Ngãi—Quảng Ngãi Province: 133) Chùa Thiên Ấn: Thiên Ấn Pagoda. 134) Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda. 135) Chùa Phật Giáo: Phật Giáo Pagoda. XV. Tỉnh Bình Định—Bình Định Province: 136) Chùa Thập Tháp Di Đà: Thập Tháp Di Đà Pagoda. 137) Chùa Long Khánh: Long Khánh Pagoda. XVI. Tỉnh Phú Yên—Phú Yên Province: 138) Chùa Bảo Tịnh: Bảo Tịnh Pagoda. XVII. Tỉnh Khánh Hòa—Khánh Hòa Province: 139) Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda. 140) Chùa Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda. 141) Chùa Hải Đức: Hải Đức Pagoda. 142) Chùa Long Sơn: Long Sơn Pagoda. XVIII. Tỉnh Ninh Thuận—Ninh Thuận Province: 143) Chùa Phật Giáo Phan Rang: Phật Giáo Phan Rang Pagoda. 144) Chùa Phật Quang: Phật Quang Pagoda. XIX. Tỉnh Lâm Đồng—Lâm Đồng Province: 145) Chùa Linh Quang: Linh Quang Pagoda. 146) Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda. 147) Chùa Linh Phong: Linh Phong Pagoda. 148) Chùa Thiên Vương Cổ Sát: Thiên Vương Cổ Sát Pagoda. XX. Tỉnh Đắc Lắc—Đắc Lắc Province: 149) Chùa Khải Đoan: Khải Đoan Pagoda. 150) Tịnh Xá Ngọc Ban: Ngọc Ban Monastery. XXI. Thành Phố Sài Gòn—Sai Gòn City: 151) Chùa Giác Lâm: Giác Lâm Pagoda. 152) Chùa Từ Ân: Từ Ân Pagoda. 153) Chùa Hội Sơn: Hội Sơn Pagoda. 154) Chùa Phước Tường: Phước Tường Pagoda. 155) Chùa Long Nhiễu: Long Nhiễu Pagoda. 156) Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda. 157) Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda. 158) Chùa Tập Phước: Tập Phước Pagoda. 159) Chùa Trường Thọ: Trường Thọ Pagoda. 160) Chùa Long Huê: Long Huê Pagoda. 161) Chùa Long Thạnh: Long Thạnh Pagoda. 162) Chùa Giác Viên: Giác Viên Pagoda. 163) Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda. 164) Chùa Phụng Sơn: Phụng Sơn Pagoda. 165) Chùa Giác Hải: Giác Hải Pagoda. 166) Chùa Phước Hải: Phước Hải Pagoda. 167) Chùa Quán Thế Âm: Quán Thế Âm Pagoda. 168) Chùa Pháp Hoa: Pháp Hoa Pagoda. 169) Chùa Phước Hòa: Phước Hòa Pagoda. 170) Chùa Minh Tự: Minh Tự Pagoda. 171) Chùa Tân Hưng Long: Tân Hưng Long Pagoda. 172) Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda. 173) Chùa Pháp Hội: Pháp Hội Pagoda. 174) Chùa Ấn Quang: Ấn Quang Pagoda. 175) Chùa Từ Nghiêm: Từ Nghiêm Pagoda. 176) Chùa Kỳ Viên: Kỳ Viên Pagoda. 177) Chùa Nam Phổ Đà: Nam Phổ Đà Pagoda. 178) Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda. 179) Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda. 180) Chùa Xá Lợi: Xá Lợi Pagoda. 181) Từ Ân Thiền Tự: Từ Ân Thiền Tự Pagoda. 182) Tu viện Quảng Hương: Quảng Hương Già Lam Pagoda. 183) Tịnh Xá Ngọc Phương: Ngọc Phương Monastery. 184) Bát Bửu Phật Đài: Bát Bửu Phật Đài Pagoda. 185) Chùa Vạn Phật: Vạn Phật Pagoda. 186) Nam Thiên Nhất Trụ: Nam Thiên Nhất Trụ Pagoda. 187) Chùa Huệ Nghiêm: Huệ Nghiêm Pagoda. 188) Chùa Vĩnh Nghiêm: Vĩnh Nghiêm Pagoda. 189) Tịnh Xá Trung Tâm: Headquarters (Central) Monastery. 190) Chùa Phật Bảo: Phật Bảo Pagoda. 191) Thiền Viện Vạn Hạnh: Vạn Hạnh Meditation Center (Zen Institute). XXII. Tỉnh Đồng Nai—Đồng Nai Province: 192) Chùa Bửu Phong: Bửu Phong Pagoda. 193) Chùa Long Thiền: Long Thiền Pagoda. 194) Chùa Đại Giác: Đại Giác Pagoda. 195) Phật Tích Tòng Lâm: Phật Tích Pagoda. 196) Thiền Viện Thường Chiếu: Thường Chiếu Meditation Center (Zen Institute). XXIII. Thị Xã Vũng Tàu—Vũng Tàu City: 197) Chùa Đại Tòng Lâm: Đại Tòng Lâm Pagoda. 198) Chùa Huê Lâm: Huê Lâm Pagoda. 199) Chùa Long Hòa: Long Hòa Pagoda. 200) Chùa Thiên Thai: Thiên Thai Pagoda. 201) Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda. 202) Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda. 203) Thích Ca Phật Đài: Sakyamuni Buddha Monument. 204) Tịnh Xá Niết Bàn: Nirvana Monastery. XXIV. Tỉnh Sông Bé—Sông Bé Province: 205) Chùa Hội Khánh: Hội Khánh Pagoda. 206) Chùa Núi Châu Thới: Núi Châu Thới Pagoda. 207) Chùa Long Hưng: Long Hưng Pagoda. XXV. Tỉnh Tây Ninh—Tây Ninh Province: 208) Linh Sơn Tiên Thạch: Linh Sơn Tiên Thạch Pagoda. 209) Chùa Phước Lưu: Phước Lưu Pagoda. XXVI. Tỉnh Long An—Long An Province: 210) Chùa Tôn Thạnh: Tôn Thạnh Pagoda. 211) Chùa Kim cang: Kim Cang Pagoda. XXVII. Tỉnh Mỹ Tho—Mỹ Tho Province: 212) Chùa Linh Thứu: Linh Thứu Pagoda. 213) Chùa Hội Thọ: Hội Thọ Pagoda. 214) Chùa Bửu Lâm: Bửu Lâm Pagoda. 215) Chùa Thanh Trước: Thanh Trước Pagoda. 216) Chùa Vĩnh Tràng: Vĩnh Tràng Pagoda. XXVIII. Tỉnh Bến Tre—Bến Tre Province: 217) Chùa Hội Tôn: Hội Tôn Pagoda. 218) Chùa Huệ Quang: Huệ Quang Pagoda. 219) Chùa Tuyên Linh: Tuyên Linh Pagoda. 220) Chùa Viên Minh: Viên Minh Pagoda. XXIX. Tỉnh Cao Lãnh & Mộc Hóa & Sa Đéc—Cao Lãnh & Mộc Hóa & Sa Đéc Provinces: 221) Chùa Bửu Hưng: Bửu Hưng Pagoda. 222) Chùa Phước Hưng: Phước Hưng Pagoda. 223) Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda. 224) Chùa Hoa Lâm: Hoa Lâm Pagoda. 225) Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda. XXX. Tỉnh Vĩnh Long—Vĩnh Long Province: 226) Chùa Tiên Châu: Tiên Châu Pagoda. 227) Chùa Giác Thiên: Giác Thiên Pagoda. 228) Tịnh Xá Ngọc Viên: Ngọc Viên Monastery. XXXI. Tỉnh Trà Vinh—Trà Vinh Province: 229) Chùa Vũng Liêm: Vũng Liêm Pagoda. 230) Chùa Ông Mẹk: Ông Mẹk Pagoda. 231) Chùa Sam Rông Ek: Sam Rông Ek Pagoda. 232) Chùa Quy Nông: Quy Nông Pagoda. XXXII. Tỉnh Cần Thơ—Cần Thơ Province: 233) Chùa Hội Linh: Hội Linh Pagoda. 234) Chùa Khánh Quang: Khánh Quang Pagoda. XXXIII. Tỉnh Sóc Trăng—Sóc Trăng Province: 235) Chùa Kleang: Kleang Pagoda. XXXIV. Tỉnh An Giang—An Giang Province: 236) Chùa Xà Tón: Xà Tón Pagoda. 237) Chùa Tây An: Tây An Pagoda. 238) Chùa Phước Điền (Chùa Hang): Phước Điền Pagoda. 239) Chùa Giồng Thành: Giồng Thành Pagoda. 240) Chùa Phi Lai: Phi Lai Pagoda. XXXV.Tỉnh Kiên Giang—Kiên Giang Province: 241) Chùa Sùng Hưng: Sùng Hưng Pagoda. 242) Chùa Thập Phương: Thập Phương Pagoda. 243) Chùa Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda. 244) Chùa Tam Bảo: Tam Bảo Pagoda. XXXVI. Tỉnh Bạc Liêu & Cà Mau—Bạc Liêu & Cà Mau Provinces: 245) Chùa Quan Âm: Quan Âm Pagoda. 246) Hưng Quảng Tự: Hưng Quảng Pagoda. 247) Chùa Vĩnh Hòa: Vĩnh Hòa Pagoda.
danh lam thắng cảnh
Beautiful landscapes.
danh lợi
Fame and wealth—Fame and gain.
; (名利) Tiếng tăm và lợi lộc. Cùng nghĩa với Danh văn lợi dưỡng. Danh lợi có thể thỏa mãn dục vọng của người ta, nhưng, nếu tham cầu không chán hoặc chấp trước quá độ thì dễ bị lún sâu vào vũng lầy danh lợi khó mà rút ra được, như vậy sẽ gây nhiều phiền não và lo khổ, vì lợi đó rồi hại đó, được đó rồi mất đó. Bởi thế, các tông phái Phật giáo đều nhấn mạnh người tu hành phải tránh xa danh lợi để khỏi đánh mất tâm bồ đề thanh tịnh và cản trở con đường tiến tới quả Phật. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tựa; kinh Nhân vương Q.hạ (Bất không dịch); luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Danh Văn Lợi Dưỡng).
danh lợi.
Fame and wealth
danh môn
Danh gia—Famous family.
danh mạng căn
Namā-jīvitindriya (S).
danh mục
A name or descriptive title.
; (名目) Tên gọi số mục các pháp môn. Sách ghi chép các danh mục cũng gọi là Danh mục. Số của danh mục gọi là Danh số, cùng nghĩa với pháp số, như Tam giới, Cửu địa v.v...
Danh nghĩa
名義; C: míngyì; J: myōgi; |Có hai nghĩa: 1. Sự diễn đạt, ngôn ngữ, lời nói; 2. Ngôn từ và ý nghĩa; biểu tượng và biểu hiện.
danh nghĩa
Name and meaning.
; (名義) Danh xưng và nghĩa lí. Như nói Chư hành vô thường thì chư hành là Danh, còn vô thường là Nghĩa. Danh là tên gọi để hiển bày bản thể của các pháp, Nghĩa là nghĩa chân thực của bản thể các pháp. Vì danh có khả năng giải thích rõ ràng nghĩa chân thực của pháp thể, cho nên gọi là Danh nghĩa. Nhưng danh là giả đặt chứ không phải bản thể của các pháp, mặc dầu nó có khả năng làm cho nghĩa lí được sáng tỏ, cho nên Danh với Nghĩa có hai mối quan hệ tương tức, bất tức. Tương tức thì như danh hiệu của chư Phật và Bồ tát, trong đó bao hàm nguyện lực và công đức rộng lớn không thể nghĩ bàn, cho nên danh hiệu với thực nghĩa của pháp thể không phải hai mà là Danh tức Nghĩa, Nghĩa tức Danh, gọi là Danh nghĩa tương tức, Danh nghĩa bất li, Danh nghĩa bất nhị, cùng nghĩa với Danh thể bất nhị. Ngoài ra, chân ngôn, chú ngữ v.v... cũng thuộc danh nghĩa tương tức.Còn về bất tức thì như khi nói lửa không có công dụng của nóng. [X. luận Đại trí độ Q.25; Triệu luận; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Danh, Danh Thể Bất Nhị).
danh nghĩa bất ly
Name and meaning are not apart or differing.
danh nghĩa minh đăng kinh
Abhidha-nappadipika (P)Tên một bộ kinh.
danh nghĩa đại tập
Mahāvyutpatti (S).
Danh nghĩa 名義
[ja] ミョウギ myōgi ||| (1) Expression, words, speech. (2) Word and meaning; signifier and signified. => Có hai nghĩa: 1. Sự diễn đạt, ngôn ngữ, lời nói. 2. Ngôn từ và ý nghĩa; biểu tượng và biểu hiện.
Danh Nguyệt
名月; C: míngyuè; J: myōgetsu; |Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
Danh Nguyệt 名月
[ja] ミョウゲツ myōgetsu ||| Rare Moon--the name of a god in the Lotus Sutra.〔法華經 T 262.9.2a16〕 => e: Rare Moon, tên một vị thần trong Kinh Pháp Hoa.
Danh ngôn
名言; C: míngyán; J: myōgon; |1. Những thứ làm phương tiện diễn đạt, những biểu hiện qua ngôn ngữ, lời nói (s: abhidhāyaka); 2. Danh tự diễn đạt khái niệm (s: nāman).
danh ngôn
Famous words.
; (名言) Chỉ cho danh tự, danh mục và ngôn cú, ngôn thuyết. Kinh Đại thừa mật nghiêm quyển hạ (Đại 16, 739 trung), nói: Cái lọ, chiếc áo, xe cộ v.v... do danh ngôn phân biệt, tuy có sắc tướng nhưng không có thể tính. Các sắc pháp trong thế gian chỉ có tướng, dựa vào tướng mà đặt tên, tên này không có thật. Do đó, có thể thấy danh ngôn là giả đặt chứ không có thật. Luận Đại thừa khởi tín nói: do duyên cảnh giới dẫn sinh ra sáu thứ tướng, trong đó, Kế danh tự tướng tức là tướng danh ngôn phân biệt từ nơi vọng chấp mà giả đặt ra. Về chủng loại của danh thì luận Đại tì bà sa có thuyết hai loại, bốn loại, sáu loại, luận Du già sư địa quyển 64 nêu ra năm loại, luận Thích ma ha diễn quyển 2 nêu hai loại. Còn về ngôn thuyết thì Trung luận quyển 4, và luận Đại thừa khởi tín cho rằng, ngôn thuyết là tục đế có khả năng giải bày rõ nghĩa lí của chân như đệ nhất nghĩa. Về chủng loại của ngôn thuyết thì luận Đại trí độ quyển 1 nêu ba loại: Tà kiến, Mạn và Danh tự, trong đó, Tà kiến và Mạn là bất tịnh, Danh tự là tịnh. Luận Ma ha diễn quyển 2 nêu năm loại: Tướng ngôn thuyết, Mộng ngôn thuyết, Vọng chấp ngôn thuyết, Vô thủy ngôn thuyết, Như nghĩa ngôn thuyết, trong đó, bốn loại trước là nói hư dối, loại cuối cùng là nói như thực. Tóm lại, danh ngôn có thể giải bày rõ chân nghĩa của bản thể chân như, nhưng nó không có thực thể, mà chỉ có phương tiện tạm thời được giả đặt ra để giúp việc giáo hóa mà thôi. Cho nên, nếu cứ bám chặt lấy danh ngôn thì dễ rơi vào nguy cơ bỏ nghĩa cầu văn, bỏ gốc theo ngọn, khó hiểu rõ được lí trung đạo thực tướng. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.4; kinh Nhập lăng già Q.4; luận A tì đạt ma tập dị môn túc; luận Thuận chính lí Q.14; luận Thành duy thức Q.2; luận Nhiếp đại thừa Q.6].
Danh ngôn chủng tử
名言種子; C: míngyán zhŏngzí; J: myōgonshū-ji; |Phần bổ sung của các chủng tử tạo tác. Chỉ những chủng tử trong A-lại-da thức (阿頼耶識; s: ālaya-vijñāna), được huân tập trực tiếp qua các biểu thị ngôn ngữ. Là nguyên nhân trực tiếp của tâm thức hiện hành và các hiện tượng vật chất trong vũ trụ.
danh ngôn chủng tử
(名言種子) Cũng gọi Danh ngôn tập khí, Danh ngôn huân tập, Đẳng lưu tập khí, gọi tắt: Danh ngôn chủng. Một trong ba loại tập khí. Chỉ cho chủng tử (hạt giống) do danh ngôn (tên chữ và lời nói) hun ướp thành. Đối lại với Nghiệp chủng tử. Cũng chính là chủng tử thân nhân duyên do danh ngôn hun ướp trong thức A lại da rồi hình thành mà dẫn sinh ra các pháp sai khác nhau tùy theo loại của mình. Cứ theo Nhiếpđại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 4 nói, thì các pháp hữu vi như nhãn căn, nhĩ căn v.v... đều do ngôn thuyết huân tập (hun ướp) mà sinh. Ngôn thuyết lấy Danh làm thể, Danh lại có hai thứ là: Ngôn thuyết danh và Tư duy danh. Hai loại danh này đều lấy âm thanh làm thể, tức dùng âm thanh gọi tên các pháp là Ngôn thuyết danh, sau đó, tâm duyên theo âm thanh để phân biệt là Tư duy danh. Ý thức thứ sáu theo danh ngôn này mà biến tựa như các pháp, đồng thời, huân tập trong thức A lại da mà thành chủng tử thân nhân duyên của các pháp khác nhau theo loại của mình. Chủng tử này do danh ngôn huân tập mà thành, nên gọi là Danh ngôn chủng tử. Luận Thành duy thức quyển 8 chia danh ngôn làm hai loại là: Biểu nghĩa danh ngôn và Hiển cảnh danh ngôn. 1. Biểu nghĩa danh ngôn: chỉ cho âm thanh có khả năng giải thích rõ nghĩa, cũng chính là Danh, Cú, Văn v.v... giải thích các pháp. Ý thức duyên âm thanh, theo danh ngôn của âm thanh mà biến ra tựa như các pháp, rồi huân tập thành chủng tử. 2. Hiển cảnh danh ngôn: chỉ cho tâm, tâm sở hay phân biệt rõ cảnh, đó chính là tâm kiến phần của bảy thức trước, thể của những tâm này tuy không phải danh ngôn, nhưng vì chúng có thể hiển bày rõ cái cảnh được phân biệt, nên cũng gọi là Danh ngôn. Chủng tử do hai loại danh ngôn này huân tập thành, gọi là Danh ngôn chủng tử. Tóm lại, tông Duy thức cho rằng, Danh ngôn chủng tử là do ba tính: Thiện, Ác, Vô kí của bảy chuyển thức huân tập mà thành, hằng thường dẫn sinh ra quả của loại mình, liên tục không ngừng; cũng chính là diễn sinh ra thể tướng sai biệt của tám thức, ba tính. Ngoài ra, Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần cuối nói, chủng tử do danh ngôn huân tập có thể dẫn sinh ra kết quả cùng tính cùng loại, cho nên cũng gọi là Đẳng lưu tập khí, Danh ngôn tập khí. Danh ngôn tập khí này cùng với Ngã chấp tập khí và Hữu chi tập khí gọi chung là ba loại tập khí, ba tập khí. [X. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.5; luận Tam vô tính Q.thượng; luận Hiển thức; Nhiếp đại thừa luận sớ Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu, Q.8 phần đầu]. (xt. Tam Chủng Tập Khí, Đẳng Lưu Tập Khí).
Danh ngôn chủng tử 名言種子
[ja] ミョウゴンシュウジ myōgonshūji ||| 'Verbal expression seeds.' The complement of 'works' seeds. Seeds in the ālaya-vijñāna 阿頼耶識 that are permeated by linguistic expression. The direct cause of the appearance and action of present mental and material phenomena. 〔二障義 HPC 1.800a22〕 => Hạt giống hoàn chỉnh của sự tạo tác. Hạt giống trong A-lại-da thức được huân tập trực tiếp bởi các biểu hiện của ngôn ngữ. Là nguyên nhân trực tiếp của tâm thức hiện hành và các hiện tượng vật chất trong vũ trụ.
Danh ngôn 名言
[ja] ミョウゴン myōgon ||| (1) Those things which are vehicles for expression; verbal expressions. (abhidhāyaka) 〔二障義HPC 1.792b〕(2) Names and words which express concepts. (nāman) => 1. Những thứ làm phương tiện diễn đạt, những biểu hiện qua ngôn ngữ, lời nói(s: abhidhāyaka) . 2. Danh tự diễn đạt ý niệm (nāman) .
danh nho
Famous scholar.
danh nhân
Celebrity—Famous man—Great name.
danh phẩm
Famous literary work.
danh phận
Honor and position.
danh quang phật
Yasaprabhāsa Buddha (S), Famous Light Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.Tên một vị Phật hay Như Lai.
danh quang phật.
Famous light Buddha.
danh sĩ
Famous scholar.
; Famous scholar.
danh sư
Famous teacher.
; Famous teacher.
Danh sắc
名色; C: míngsè; J: myōshiki; S, P: nāmarūpa;|1. Khái niệm chỉ hai yếu tố quan trọng nhất của con người, gồm tinh thần và thân thể. Sắc (s, p: rūpa) là uẩn thứ nhất trong Ngũ uẩn và Danh (s, p: nāma) là bốn uẩn còn lại. Danh sắc chính là toàn bộ yếu tố cấu tạo thành còn người. Danh sắc là yếu tố thứ tư trong Mười hai nhân duyên, được sinh ra khi một Thức (s: vijñāna, yếu tố thứ ba) đi vào bụng mẹ và kết thành một cá nhân mới.|2. Thuật ngữ được dùng trong văn học Áo nghĩa thư (s: upaniṣad) cổ xưa để biểu thị các hiện tượng vật lí trong vũ trụ
danh sắc
sắc chỉ tất cả hình thể vật chất nhận biết được bằng các giác quan; danh chỉ các tên gọi được hình thành để chuyển tải khái niệm nhận biết phân biệt về từng đối tượng trong thực tại. Danh sắc cũng được xem như tên gọi khác của năm ấm (hay năm uẩn). Trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành và thức) thì sắc được tách riêng vì có thể nhận biết bằng các giác quan; còn thọ, tưởng, hành và thức được gọi chung là “danh” vì chúng là những pháp trừu tượng, không có hình sắc, không thể nhận biết bằng các giác quan mà chỉ có thể đề cập đến bằng tên gọi (danh).
; NāmarŪpam (S), NāmarŪpa (S), Name and Form.
; Nàma-rùpa (S). Name-form.
; Namarupa (skt). Name and form. 1) Danh (gồm thọ, tưởng, hành, thức) và sắc đều không thật, nhưng lại có khả năng khởi lên phiền não—Name (feeling, perception, volition, and consciousness) and form (both are unreal and give rise to delusion). 2) Tên của ông Tu Bồ Đề khi thành Phật—Name under which Subhuti will be reborn as Buddha. 3) Một trong mười hai nhân duyên—One of the twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên.
; (名色) Phạm, Pàli: nàma-rùpa. Là từ gọi chung danh và sắc, là chi thứ tư trong 12 chi nhân duyên. Cũng gọi danh sắc chi. Thông thường gọi một cách tổng quát tất cả tinh thần (danh) và vật chất (sắc). Danh nói về phương diện tâm, sắc chỉ phương diện vật. Danh sắc cũng chỉ chung cho năm uẩn. Trong năm uẩn, Thụ, Tưởng, Hành, Thức là tâm pháp; tâm không có hình thể, phải nhờ danh biểu hiện, cho nên gọi Thụ, Tưởng, Hành, Thức là danh. Sắc uẩn do cực vi tạo thành, là vật thể có chất ngại, nên gọi là sắc. Về ý nghĩa của danh sắc, giữa các tông phái có sự giải thích khác nhau. Hữu bộ đứng trên lập trường Thai sinh học để lí giải 12 duyên khởi, chủ trương mỗi chi trong 12 chi duyên khởi đều lấy năm uẩn làm thể. Trong đó, năm uẩn của sát na đầu tiên lúc thụ thai kết sinh, gọi là thức, chi Thức. Sau khi thụ thai, bốn sắc căn: mắt, tai, mũi, lưỡi chưa thành, sáu chỗ chưa đủ, gọi là danh sắc, chi Danh sắc. Nhưng tông Duy thức thì cho chi Danh sắc là chủng tử của dị thục uẩn, tức là năm chi thức v.v... nhờ chi Vô minh và chi Hành giúp đỡ mà dẫn sinh ra quả ở vị lai, gọi là Chủng tử danh ngôn của Dị thục vô kí, trong đó, ngoại trừ chủng tử của bản thức, sáu căn, xúc, thụ, còn lại đều là danh sắc. Hoặc có thuyết nói, chủng tử của năm uẩn đều là danh sắc. Ngoài ra, nếu giải thích 12 duyên khởi trên quan điểm luận lí và quan hệ, thì duyên thức mà có danh sắc, duyên danh sắc mà có lục xứ, tức danh sắc là đối tượng của thức nương vào cơ năng của lục xứ, rồi do thức nhận biết tất cả pháp. [X. Trường a hàm Q.10 kinh Đại duyên phương tiện; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.9; luận Thành duy thức Q.8; luận Du già sư địa Q.9, Q.56, Q.93; luận Thuận chính lí Q.26; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.1 phần dưới]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).
Danh sắc 名色
[ja] ミョウシキ myōshiki ||| Sanksrit nāma-rūpa; name and form. (1) This term was used in the early Upaniṣads to denote all of the physical phenomena in the universe. (2) In Buddhism, this terms refers to mind and body, or psycho-physical existence. => 1. s: nāma-rūpa. Thuật ngữ được dùng trong văn học Upaniṣads cổ xưa để biểu thị các hiện tượng vật lý trong vũ trụ. 2. Trong Phật học, thuật ngữ nầy có nghĩa là thân và tâm, hay một thực thể tâm-vật lý.
danh thanh
(名聲) Tiếng tăm, danh vọng. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng chép, thì đức Phật A di đà nguyện tiếng tăm của Ngài được nghe rộng rãi để độ khắp chúng sinh. [X. phẩm Tựa kinh Pháp loa].
danh thiếp
Visiting card.
danh thuyên tự tính
(名詮自性) Nghĩa là danh giải thích rõ ràng tự tính của sự vật. Luận Câu xá, luận Duy thức cho nó là một trong các pháp Tâm bất tương ứng hành, đồng thời, lập thành Danh thân, Cú thân và Văn thân. Danh (Phạm: nàman) chỉ tên gọi của sự vật tương đương với đơn ngữ. Cú (Phạm:pada) là câu do đơn ngữ cấu thành. Văn (Phạm: vyaĩjana) là văn tự cấu thành đơn ngữ, chỉ cho âm tiết. Thân hàm ý là tổng thể, tích tụ. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 trung), nói: Danh giải thích tự tính (bản thể), Cú giải thích sự sai biệt (hiện tượng). Như nói Chư hành vô thường thì Chư (các) là danh, tên gọi số nhiều. Danh này chỉ giải thích rõ tự tính của nhiều pháp, nên gọi là Danh thuyên tự tính. Còn Chư là tên gọi của số nhiều, cho nên hông phân biệt hữu vi, vô vi mà có thể chung cho tất cả. Nhưng chư khi thêm ba chữ hành vô thường vào nữa để thành cú (câu) thì lại giải thích rõ nghĩa sai biệt. Vì hành là nghĩa dời đổi, là tên gọi chung các pháp hữu vi, mà pháp hữu vi thì đều vô thường, nên gọi là Chư hành vô thường. [X. luận Câu xá Q.5; luận Du già sư địa Q.52; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. Danh).
Danh thân
名身; C: míng shēn; J: myōshin; S: nāma-rūpa; nāma-kāya. |Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc; 2. Sự tích tụ danh mục; từ nầy có nghĩa sự hiện hữu của từ có hơn một danh mục. Một trong 3 cách tạo thành ngôn cú căn bản để kiến lập các pháp. Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp. Một phần tử giả lập dựa trên sự phân biệt âm thanh.
danh thân
Nāma-kāya (S).
; (名身) Phạm: nàmakàya. Một trong các pháp Tâm bất tương ứng hành. Danh là danh tự, danh mục biểu thị tự tính. Thân nghĩa là tích tụ, tức là tích tụ từ hai danh tự hoặc danh mục trở lên gọi là Danh thân. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 5 thì danh có ba loại: Danh, Danh thân, Đa danh thân. Danh cũng có nhiều vị như: Nhất tự sinh, Nhị tự sinh, Đa tự sinh (từ ba chữ trở lên). Nếu nói theo Nhất tự sinh thì chỉ một chữ sắc hoặc chữ hương gọi là Danh; hai chữ sắc, hương hợp lại làm từ kép thì gọi là Danh thân. Còn từ ba chữ trở lên thì gọi là Đa danh thân. Nếu nói theo Nhị tự sinh thì hai chữ gọi là Danh, bốn chữ gọi là Danh thân, sáu chữ trở lên gọi là Đa danh thân. Còn nói theo Đa tự sinh thì ba chữ gọi là Danh, sáu chữ gọi là Danh thân, chín chữ trở lên gọi là Đa danh thân. [X. luận Đại tì bà sa Q.14; luận Thành duy thức Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành, Danh).
Danh thân 名身
[ja] ミョウシン myōshin ||| (nāma-rūpa; nāma-kāya). (1)'name and form.' (2) 'Gathering of names'; this refers to the existence of more than one name. One of the three essentials for the creating of sentences to establish the dharma. One of the 24 Elements Not Concomitant with Mind in Consciousness-only theory. A provisional element based on the discrimination of sound. (s: nāma-rūpa; nāma-kāya). => Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc 2. Sự tích tụ danh mục; từ nầy có nghĩa sự hiện hữu của từ có hơn một danh mục. Một trong 3 cách chính tạo thành câu để kiến lập các pháp. Một trong 24 Pháp tâm bất tương ưng hành. Một phần tử giả lập dựa trên sự phân biệt âm thanh.
danh thơm
Good reputation.
danh thể
Cái dùng để gọi cái thể—Name and embodiment (The identity of name and substance).
danh thể bất nhị
(名體不二) Danh làm cho thể sáng tỏ; thể là bản thể của sự vật được làm sáng tỏ. Danh chỉ là phương tiện tạm được đặt ra để làm sáng tỏ sự vật chứ danh không phải là bản thể của sự vật, bởi thế tất cả sự vật trong thế gian, danh chẳng tức thể, thể không tức danh, danh thể mỗi khác. Tuy nhiên, danh hiệu, chân ngôn, đà la ni v.v... của chư Phật và Bồ tát, ngoài việc làm sáng tỏ thể tính chân như của các Ngài ra, còn chứa đựng nguyện lực và công đức rộng lớn của chư Phật và Bồ tát. Cho nên, danh hiệu, chân ngôn... cùng với bản thể của các Ngài không phải là hai mà là danh tức thể, thể tức danh, gọi là Danh thể bất nhị. Cũng gọi là Danh thể tương tức, Danh thể bất li. Điều này đồng nghĩa với Danh pháp tương tức trong Vãng sinh luận chú Q.hạ và trong An lạc tập. (xt. Danh Hiệu).
danh tiếng
Foremost—Renowned—Famous.
danh tiết
Good reputation on moral integrity.
danh trướng
(名帳) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản, tức là cuốn danh bạ. Cũng chỉ cho quyển sổ ghi tên của những người qui y. Danh trướng là cuốn sổ ghi họ tên những người niệm Phật do vị tổ khai sáng của tông Dung thông niệm Phật là ngài Lương nhẫn đặt ra để khuyến khích người tu Tịnh độ. Sau đó, đến thời Tịnh độ chân tông thì ghi tên của các đệ tử trong tông môn vào danh trướng và bảo người ghi tên vào sổ này có thể nhờ tha lực mà được vãng sinh. Nhưng chủ trương đó đã trái với nghĩa gốc của Danh trướng. Bởi vì, mục đích của Danh trướng là khuyên người tinh tiến niệm Phật, chứ không phải làm chỗ y cứ cho việc được hay không được vãng sinh. Cho nên ngài Giác như đã viết Cải tà sao để bác bỏ. Ngoài ra, vị tổ sáng lập của Thời tông là ngài Trí chân cũng sử dụng danh trướng.
danh tài
A person with famous talent.
danh tăng
(名僧) Vị tăng có tiếng tăm, có đức hạnh. Áo vị tăng mặc gọi là nạp y (áo vá), vì thế danh tăng cũng gọi là Danh nạp tăng, Danh nạp giả. Số năm thụ giới của tăng gọi là giới lạp, cho nên vị tăng có danh tiếng cũng gọi là Danh lạp.
danh tăng truyện
(名僧傳) Gồm 30 quyển. Ngài Bảo xướng soạn vào đời Lương. Nội dung ghi chép sự tích của 425 vị cao tăng từ đời Đông Hán đến khoảng thời Tề, Lương. Sau sách này không lâu, Cao tăng truyện của ngài Tuệ kiểu xuất hiện và người đời phần nhiều đọc tác phẩm của ngài Tuệ kiểu, cho nên Danh tăng truyện của ngài Bảo xướng không được truyền bá rộng và cuối cùng đã bị thất lạc. Hiện nay trong Vạn tục tạng tập 134 có ghi Danh tăng truyện sao 1 quyển, nhưng chỉ có mục lục và phần văn trọng yếu của sách này. Sách này chia làm 8 khoa: 1. Pháp sư nước ngoài: Bốn quyển đầu có 18 người từ ngài Trúc ca diếp ma đằng trở đi. 2. Pháp sư Trung quốc: quyển 5 đến quyển 17, có 163 người từ ngài Chu sĩ hành trở về sau. 3. Luật sư: quyển 18, có 20 người từ ngài Ti la ma xoa trở đi. 4. Thiền sư: quyển 19, quyển 20, có 40 người từ ngài Phất nhã đa la trở đi. 5. Thần lực: quyển 21, có 15 người từ ngài Kì vực trở xuống. 6. Khổ tiết: quyển 22 đến quyển 28, có 139 người từ ngài Huệ vĩnh trở xuống. 7. Đạo sư: quyển 29, có 13 người từ ngài Đạo chiếu trở xuống. 8. Kinh sư: quyển 30, có 17 người từ ngài Đàm dược trở xuống. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 1 chép, thì Danh tăng truyện bắt đầu được soạn vào năm Thiên giám thứ chín (510) đời Lương, đến năm Thiên giám 13 thì hoàn thành. Vào khoảng đời Tùy, Đường sách này vẫn còn lưu hành; Kinh tịch chí của hai đời Tùy, Đường đều có ghi sách này. Trong Tục cao tăng truyện quyển 1 cũng có ghi vắn tắt bài tựa của sách này, mãi về sau mới dần dần bị thất lạc. Ngoài ra, sách này cũng từng được lưu truyền ở Nhật bản.
Danh tướng
(s: nāma-lakṣana, p: nāma-lakkhaṇa, 名相): danh xưng và hình tướng. Trong bài tựa của Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記) có đoạn rằng: “Lăng Nghiêm Kinh vân: Tự tâm hiện cảnh giới, tùy loại phổ hiện ư ngũ pháp, vân hà thị ngũ pháp, danh tướng vọng tưởng chánh trí như như, thị cố chúng vật vô danh, do tâm tác danh, chư tướng vô tướng, do tâm tác tướng (楞嚴經云、自心現境界、隨類普現於五法、 云何是五法、名相妄想正智如如、是故眾物無名、由心作名、諸相無相、由心作相, Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng: Tự tâm hiện ra cảnh giới, tùy theo từng loại mà hiện rõ nơi 5 pháp. Thế nào là 5 pháp ? Đó là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí và như như. Vì vậy các vật không có tên gọi, do tâm tạo ra tên gọi; các hình tướng cũng không có hình tướng, do tâm tạo ra hình tướng).”
; 名相; C: míngxiāng; J: myōsō; |Có hai nghĩa: 1. Danh và sắc, tên gọi và hình dáng; thấy được bằng mắt và nghe được bằng tai (s: nāma-saṃsthāna); 2. Để gọi một giả danh.
danh tướng
Một trong ngũ pháp, mọi sự vật đều có danh có tướng—Name and appearance. One of the five laws or categories, everything has a name and an appearance—Visible.
; (名相) Một trong năm pháp. Danh là tên gọi sự vật, có khả năng làm sáng tỏ bản thể của sự vật. Tướng là tướng trạng của sự vật. Vì danh có thể hiển bày tướng trạng của sự vật nên gọi là Danh tướng. Bởi lẽ tất cả sự vật đều có danh có tướng, danh là cái mà tai nghe được, tướng là cái mắt thấy được. Nhưng danh và tướng này đều là hư giả không phù hợp với tính thực của pháp, chỉ là phương tiện tạm thời được bày đặt ra để giúp cho việc giáo hóa. Nhưng phàm phu hay phân biệt cái danh tướng hư dối để rồi dấy lên không biết bao nhiêu là vọng tưởng chấp trước. Trong các kinh luận có nhiều chỗ nói đến việc bám níu lấy danh tướng để rồi trôi theo danh tướng. Như kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 511 thượng): Người ngu bám dính vào danh tướng, khiến tâm theo đó mà tán loạn lưu chuyển. Ma ha chỉ quán quyển 10 cũng nói: người học phân biệt danh tướng, hiểu biết theo văn, tâm mắt mờ tối, nhưng lại cống cao ngã mạn, khoe khoang với người, mong được nổi tiếng, tranh luận không ngừng. (xt. Danh).
danh tướng như lai
Sakiketu (S)Ngài Tu bồ Đề, theo lời thọ ký của Phật Thích Ca, về vị lai sẽ thành Phật có danh hiệu này. Cõi thế giới của Ngài là Bảo sanh thế giới (Ratnasambhava). Kỳ kiếp của Ngài gọi là Hữu Bảo Kiếp (Ratnavabhasa).
Danh tướng 名相
[ja] ミョウソウ myōsō ||| Name and form, name and appearance; that which is seen with the eyes and that which is heard with the ears (nāma-saṃsthāna). (2) That which is given a provisional name. => Có hai nghĩa: 1. Danh và sắc, tên gọi và hình dáng; thất được bằng mắt và nghe được bằng tai (s: nāma-saṃsthāna). 2. Để gọi một giả danh.
danh tướng.
Name and appearance.
Danh tự
名字; C: míngzì; J: myōji; |Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc (s: nāma-rūpa); 2. Danh hiệu, tước vị (s: nirukti, nāman); 3. Tên gọi và ngôn từ; 4. Giả danh; 5. Thuật ngữ và ngôn từ trong văn học Phật giáo.
danh tự
Name and description.
; (名字) Tên chữ. Chỉ chung danh và tự. Có nhiều nghĩa. 1. Chỉ cho tên gọi của tất cả sự vật. 2. Chỉ sự làm sáng tỏ nghĩa của sự vật. Đồng nghĩa với Danh. 3. Chỉ tên và hiệu của người. Trong Phật giáo, danh tự được xem như giả đặt ra, mượn nó để giải thích rõ nghĩa chân thực của các pháp, nhưng nó không phải bản thể của các pháp, cho nên là hư giả chẳng thật. Do đó, các kinh luận phần nhiều chỉ dùng danh tự để gọi những cái chỉ có tên chứ không có thực (tức là những cái mà danh và thực không phù hợp với nhau). Như: 1. Danh tự tỉ khưu: Tỉ khưu chưa thụ giới cụ túc hoặc đã phá giới. 2. Danh tự sa di: Sa di 20 tuổi đến 70 tuổi. 3. Danh tự La hán: La hán không có thực chất, mà mạo danh La hán. 4. Danh tự Bồ tát: Chỉ Bồ tát giai vị Thập tín trong 52 giai vị Bồ tát, mới phát khởi một niệm tín tâm. 5. Danh tự tướng: Tướng phân biệt do danh ngôn giả lập. (xt. Danh)
danh tự bồ tát
A nominal bodhisattva.
; (名字菩薩) Cũng gọi Giả danh bồ tát, Trụ tiền bồ tát. Chỉ cho Bồ tát giai vị Thập tín trong 52 giai vị Bồ tát. Danh tự hàm ý giả đặt, vay mượn không có thực. Cứ theo kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ, thì người phàm phu ở trong giáo pháp của Phật và Bồ tát, nếu trong một niệm sinh khởi lòng tin mà phát tâm bồ đề thì đó là Bồ tát giai vị Thập tín. Nhưng Bồ tát ở giai vị này là người mới phát tâm, tuy đã có tên là Bồ tát, nhưng còn cần phải trải qua công phu tu hành chứng ngộ thì mới có thể đạt đến cực quả của Bồ tát, cho nên gọi là Danh tự Bồ tát. (xt. Danh Tự).
danh tự sa di
Sa Di ở tuổi 20 hay lớn hơn (tuổi có thể trở thành Tỳ Kheo)—A novice with the age of 20 or over (one of an age to be a monk).
; (名字沙彌) Là sa di từ 20 tuổi đến 70 tuổi. Vì loại sa di ở độ tuổi này lẽ ra đã là tỉ khưu, nhưng chưa thụ giới cụ túc mà vẫn còn là sa di, cho nên gọi là Danh tự sa di. [X. luật Ma ha tăng kì Q.29]. (xt. Sa Di).
danh tự tánh ly
tính chất của tên gọi là lìa khỏi thực thể. Tên gọi là do con người đặt ra để phân biệt sự vật, nhưng một khi tên gọi được hình thành thì con người lại xem tên gọi đó chính là sự vật, nên nếu chỉ trói buộc vào tên gọi thì không còn nhận biết được thực thể của sự vật ấy. Như nói “me chua” (tên gọi) để chỉ trái me (sự vật), nhưng thực thể của trái me không chỉ là chua, càng không chỉ có sự giới hạn trong tên gọi đó. Vì thế nên nói tính chất của tên gọi là lìa khỏi thực thể.
danh tự tỉ khâu
(名字比丘) Phạm: Saôjĩà-bhikwu. Cũng gọi Danh tưởng tỉ khưu. Chỉ cho vị tỉ khưu có danh mà không có thực. Cũng chỉ vị tăng chưa thụ giới cụ túc hoặc vị tăng không giữ giới thanh tịnh. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng, thì sa di chưa thụ giới cụ túc mà gia nhập số tỉ khưu là Danh tự tỉ khưu. [X. Đại phương đẳng đại tập Q.9; luật Thập tụng Q.1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 4 đoạn 2].
danh tự tức
(名字即) Một giai vị tu hành của Viên giáo trong tông Thiên thai, là vị thứ hai trong Lục tức. Là giai vị tu hành được nghe lí mầu nhiệm của Nhất thực bồ đề từ nơi thiện tri thức hoặc kinh điển, rồi từ trong danh tự (khái niệm danh ngôn) đã nghe ấy mà thông suốt được diệu lí, biết hết thảy các pháp đều là Phật pháp. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 phần dưới]. (xt. Lục Tức).
danh tự tỳ khưu
A monk in name but not in reality.
Danh tự 名字
[ja] ミョウジ myōji ||| (1) "Name and form" (nāma-rūpa). (2) Name, title (nirukti, nāman). (3) Title and words. (4) Provisional name. (5) The terms and words in Buddhist literature. => Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc (s: nāma-rūpa). 2. Danh hiệu, tước vị (s: nirukti, nāman). 3. Tên gọi và ngôn từ. 4. Giả danh. 5. Thuật ngữ và ngôn từ trong văn học Phật giáo.
danh tự.
Name and description, name.
danh uẩn
Nāma-khaṇḍa (S).
danh vi
Tên là—Its name is.
danh văn
Renown.
; (名聞) I. Danh văn. Tiếng tăm được nhiều người biết đến, đồng nghĩa với Danh dự. Phẩm Khuyến trì trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 36 hạ): Vì cầu danh văn nên phân biệt đối với kinh này. Vì tiếng tăm mang lại sự vẻ vang cho bản thân nên người đời thường tham cầu không chán. Nhưng lòng tham cầu thì vô hạn mà mục đích thì khó đạt, nên tâm cầu danh càng mãnh liệt thì khổ não càng dễ gia tăng. [X. luận Bồ đề tâm; luận Đại trí độ Q.11; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 3]. II. Danh văn. Phạm: Yazas. Vị đệ tử của đức Phật. Hán âm: Da xá. Cũng gọi Da du đà. Hán dịch: Danh văn. (xt. Da Xá).
danh văn lợi dưỡng
(名聞利養) Đồng nghĩa với danh lợi. Hàm ý là tiếng tăm lừng lẫy, được lợi nuôi thân, cũng chính là lòng ham danh lợi. Luận Bồ đề tâm (Đại 32, 573 thượng): Phàm phu tham đắm danh văn lợi dưỡng cốt để sướng thân, thỏa mãn năm dục. Hành giả chân ngôn phải nên nhàm chán lìa bỏ. Bởi vì danh văn và lợi dưỡng đều là chướng ngại cho người tu đạo, nên phải tránh xa. [X. kinh Pháp hoa Q.5; kinh Bồ tát thiện giới Q.4; luận Đại trí độ Q.11]. (xt. Danh Lợi).
danh văn phật
Yasa-Buddha (S) Well-known Buddha Một đức Phật vị lai, quốc độ ở phương hạ so cõi ta bà
danh văn phật.
Well known Buddha.
danh văn quang phật
Well-Known Light Buddha, Yasaprabhā Buddha (S)Một đức Phật Như Lai, quốc độ ở phương nam so với cõi ta bà.Tên một vị Phật hay Như Lai.
danh văn quang phật.
Well known light Buddha.
danh vọng
Celebrity—Reputation—Fame and glory.
danh y
Famous physician.
danh đức
Of notable virtue.
; A notable virtue.
; (名德) Danh dự và đức hạnh. Danh đức tỉ khưu là tiếng tôn xưng vị tỉ khưu có danh dự, có đức hạnh. Ngoài ra, trong Thiền lâm, những bậc có danh dự, có đức hạnh được tuyển chọn để giữ các chức vị thì có Danh đức Tây đường, Danh đức Thủ tọa... [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng; Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2 Trụ trì nhật dụng điều; Thiền lâm tượng khí tiên Q.6]. (xt. Danh Đức Tây Đường, Danh Đức Thủ Tọa).
danh đức thủ toà
(名德首座) Một chức vị trong Tiền đường thủ tọa của Thiền lâm. Vị này là bậc có danh tiếng và đức hạnh được đại chúng tuyển chọn. Sắc tubách trượng thanh qui quyển 4 Thỉnh lập tăng thủ tọa điều (Đại 48, 1133 hạ), nói: Như các vị Danh đức thủ tọa ở Tây đường, hành giải của các ngài vốn được đại chúng kính phục. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.6]. (xt. Thủ Tọa).
danh đức tây đường
(名德西堂) Danh đức chỉ cho người có danh dự, đức hạnh. Còn Danh đức Tây đường là một chức vị ở Tây đường trong Thiền lâm. Vị này có danh tiếng và đức hạnh được đại chúng tuyển chọn. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 Trụ trì nhật dụng điều (Đại 48, 1119 trung), nói: Nếu có các vị Danh đức Tây đường trụ trì các sơn môn thì tòa ngồi của các vị đặt ở bên phải Hòa thượng trụ trì. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.6]
Danh 名
[ja] ミョウ myō ||| (1) Names, concepts, non-physical phenomena. As contrasted with the dharmas contained in the category of form, refers to those existences categorized under feeling, perception impulse and consciousness. (2) Names, term, words. The name of something. Considered by the Sarvāstivādins to be one of the dharmas not comcomintant with mind (心不相應行法). (Skt. nāman; Pali nāma; Tib. miṅ) => Có hai nghĩa: 1. Tên, khái niệm, hiện tượng vô hình. Ngược với các pháp bao hàm trong phạm trù Sắc, là những hiện hữu được phân loại theo cảm xúc, sự lưu ý và ý thức. 2. Danh từ, thuật ngữ. Danh xưng của vật. Trường phái Nhất thiết hữu bộ xem Danh là một trong các Tâm bất tương ưng hành pháp.
dao
Hòn ngọc lóng lánh—Jasper green crystal.
dao hoa
(瑤花) Cung Ngọc hoa ở phía tây nam huyện Nghi quân thuộc Phu châu, tỉnh Thiểm tây. Ngài Huyền trang đã dịch kinh Đại bát nhã 600 quyển tại đây. [X. Thích môn chính thống Q.8]. (xt. Ngọc Hoa Tự).
dao quang tự
(瑤光寺) Ngôi chùa ni ở phía bắc ngự đạo cửa thành Xương hạp tại Lạc dương do Vũ đế xây dựng vào thời Bắc Ngụy. Qui mô ngôi chùa khá lớn, gồm hơn 500 gian nhà như giảng đường, phòng liêu v.v... trong chùa trồng rất nhiều kì hoa dị thảo. Đây là nơi xuất gia của phi tần cung nữ. [X. Lạc dương già lam kí Dao quang tự điều].
Dao Trì, Diêu Trì
(瑤池): tên gọi một cái hồ trên núi Côn Lôn (崑崙山) trong truyền thuyết cổ đại, là nơi Tây Vương Mẫu (西王母) cư ngụ. Như trong Sử Ký (史記), phần Đại Uyển Liệt Truyện Luận (大宛列傳論), cho biết rằng: “Côn Lôn kỳ cao nhị thiên ngũ bách dư lí, kỳ thượng hữu lễ tuyền, Dao Trì (崑崙其高二千五百餘里、其上有醴泉、瑤池, núi Côn Lôn cao hơn 2.500 dặm, trên đó có suối nước ngọt, Dao Trì).” Trong Mục Thiên Tử Truyện (穆天子傳, hay Chu Vương Du Hành [周王遊行]) quyển 3 có ghi rằng: “Ất Sửu, thiên tử thương Tây Vương Mẫu ư Dao Trì chi thượng (乙丑、天子觴西王母於瑤池之上, vào năm Ất Sửu, thiên tử cùng uống rượu với Tây Vương Mẫu trên Dao Trì).” Trong bài tựa Đế Kinh Thiên (帝京篇) của Đường Thái Tông Lý Thế Dân (唐太宗李世民, tại vị 626-649) có đoạn rằng: “Trung lương khả tiếp, hà tất hải thượng thần tiên hồ ? Phong Cảo khả du, hà tất Dao Trì chi thượng hồ ? (忠良可接、何必海上神仙乎、豐鎬可遊、何必瑤池之上乎, đấng trung lương có thể giao tiếp, nào cần thần tiên trên biển ư ? Phong Cảo [hai kinh đô nhà Chu] có thể ngao du, nào cần lên trên Dao Trì ư ?).” Lý Thương Ẩn (李商隱, 812/813-858), đại thi hào nhà Đường, có để lại bài thơ Diêu Trì (瑤池) như sau: “Diêu Trì A Mẫu ỷ song khai, hoàng trúc ca thanh động địa ai, bát tuấn nhật hành tam vạn lí, Mục Vương hà sự bất trùng lai (瑤池阿母綺窗開、黃竹歌聲動地哀、八駿日行三萬里、穆王何事不重來, Diêu Trì A Mẫu dõi trông ai, trúc vàng lời hát động ngân dài, tám ngựa một ngày ba vạn dặm, Mục Vương cơ sự chẳng về đây).” Mạc Đĩnh Chi (莫挺之, 1280-1346), cao quan dưới thời vua Trần Anh Tông (陳英宗, tại vị 1293-1314), có làm bài điếu văn khi đi sứ sang Tàu: “Thanh thiên nhất đóa vân, hồng lô nhất điểm tuyết, Thượng Uyển nhất chi hoa, Dao Trì nhất phiến nguyệt. Y ! Vân tán tuyết tiêu hoa tàn nguyệt khuyết (青天一朵雲、烘爐一點雪、上苑一枝花、瑤池一片月、噫雲散雪消花殘月缺, Trời xanh một đóa mây, lò lửa một điểm tuyết, Thượng Uyển một cành hoa, Dao Trì một vầng nguyệt. Ôi ! Mây tan tuyết tiêu hoa tàn trăng khuyết).”
dao tần
Kutcha (S), Kutsha (P), Koutcha, Khujt Chi, Kuśi (S)Xứ Tân Cương ngày nay.
dao tần triều
Yao-Ch'in dynasty.
dao động
To swing—To oscillate.
demon king
Deva Māra (S).
di
1) Dời đi: To remove—To convey. 2) Đi khắp nơi: To reach everywhere. 3) Một loại khỉ mặt đỏ: Markata (skt)—A red-faced monkey. 4) Rơi xót lại: To leave behind.
; (咦) Lời nói mang ý vị trào phúng trong Thiền gia. Hoặc khi thầy đang dạy người học, bỗng gặp một vấn đề khó diễn đạt, vị thầy liền nói Di! (Ô!).
di ca
Mekā (S)Người con gái Di ca tên Thiện Âm là một cô gái chăn bò đã dâng bát cháo nấu bằng sữa khi đức Phật mới thành đạo.
; Meka (skt)—Người ta nói đây là tên của người con gái đã đến dâng sữa trâu lên Đức Phật khi Ngài vừa mới thành đạo—Said to be the name of the girl who gave milk congee to Sakyamuni immediately after his enlightenment; seemingly the same as Sujata, Sena, or Nanda.
; (彌迦) Phạm:Mekà. Người con gái chăn bò ở thời đức Phật. Khi đức Phật mới thành đạo, Di ca đã nấu cháo sữa dâng cúng Ngài. Kinh Đại bảo tích quyển 11 (Đại 11, 61 trung): Có người con gái Di ca tên là Thiện ấm lấy sữa từ nghìn con bò (...) Bồ tát nhận cháo nấu với sữa do Thiện ấm Di ca dâng cúng. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.12].
di ca la
Mekhala (skt). 1) Vòng đai: A girdle. 2) Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder.
di ca vương
Mṛgarāja (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
di chuyển
Movement.
di chuyển thân kiến
(移轉身見) Phạm: Satkàya-dfwỉi. Âm hán: Tát ca da kiến. Tức là cái thấy sai lầm cho thân này do nhân duyên hòa hợp là thường trụ, có thật. Các nhà Duy thức Đại thừa giải thích rằng: Di chuyển (chuyển dời) là có, không bất định, chẳng phải có mà tựa hồ như có; Thân là do nhân duyên hòa hợp, vì thân là pháp Y tha khởi (nương vào vật khác mà có), chẳng phải có, chẳng phải không, vì thế gọi là Di chuyển thân. Đối với thân này, cố chấp là ngã, ngã sở (ta, của ta), gọi là Kiến chấp. (xt. Tát Ca Da Kiến).
di chuyển trên trời
Gaganaga (S), Moving in the sky.
di già
Megha (S)Năng hàng Phục, Vân hàng PhụcTên một trong 53 vị thiện tri thức mà Thiện Tài tham bái cầu đạo.
; Megha (skt). 1) Vân: Mây. 2) Tên của Bồ Tát Di Già, nổi tiếng là một lương y hay người kiểm soát mây để làm mưa: Name of one of the bodhisattva as a healer, or as a cloud-controller for producing rain.
; (彌伽) Phạm: Megha. Hán dịch: Vân, Năng hàng phục. Một trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học.Đây là vị lương y ở thành Chú dược nước Tự tại, vì ngài hay đem mưa pháp thấm nhuần làm lợi ích cho chúng sinh nên gọi là Di già (Mây). [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch đời Tấn) Q.46; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham).
di già ca
Miccaka or Mikkaka (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (6).
; (彌遮迦) Tổ truyền pháp thứ sáu của Thiền tông Ấn độ. Ngài vốn cầm đầu tám ngàn vị Đại tiên, sau, ngài gặp tổ truyền pháp thứ năm là Đề đa ca, liền cùng với các vị tiên đồng phát tâm bồ đề, xuất gia làm đệ tử tôn giả Đề đa ca. Sau khi đắc pháp, ngài đến miền bắc Ấn độ giáo hóa, phó chúc đại pháp cho đệ tử là Bà tu mật, rồi vào tam muội Sư tử phấn tấn bay lên hư không, sau đó lại trở về chỗ ngồi dùng lửa tam muội tự thiêu. [X. kinh Đại bi Q.2 phẩm Trì chính pháp; Bảo lâm truyện Q.2; Tổ đường tập Q.1; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1].
di già ca tổ sư
Micchaka (S)Vị tổ thứ 6, một trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ.
di giáo
See Di Huấn.
; (遺教) Chỉ giáo pháp của Phật và các bậc Tổ sư để lại cho hậu thế; hoặc chỉ riêng giáo Tổ Di Già Ca pháp của đức Phật nói khi Ngài sắp vào Niết bàn. Cũng gọi Di pháp, Di giới, Di huấn, Di cáo, Di hóa. Phật giáo là giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra và để lại cho đời sau, cho nên, có thể nói, Phật giáo là di giáo của đức Thích ca. Ngoài ra, kinh Phật thùy bát Niết bàn lược thuyết giáo giới là giáo pháp cuối cùng mà đức Phật, khi sắp vào Niết bàn, đã nói để lại cho đời sau, cho nên kinh ấy đặc biệt được gọi là kinh Phật di giáo. [X. kinh A nan thất mộng; luận Đại trí độ Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.8; Truy môn cảnh huấn Q.2; Thiền uyển thanh qui Q.8].
di giáo kinh
(遺教經) Có một quyển, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần. Cũng gọi Phật thùy bát Niết bàn lược thuyết giáo giới kinh, Di kinh, Phật lâm Niết bàn lược giới kinh, Lược thuyết giáo giới kinh, Phật di giáo kinh, thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kể lại việc trước khi vào Niết bàn ở Sa la song thụ tại Câu thi na la, đức Thế tôn dạy bảo các đệ tử, sau khi Ngài nhập diệt, phải lấy Ba la đề mộc xoa (Phạm: pràtimokwa, Pàli: pàỉimokkha, giới điều, giới bản) làm thầy để chế ngự năm căn, lìa giận dữ, ngạo mạn, không buông lung, tinh tiến đạo nghiệp. Trong Thiền môn, kinh Di giáo được đặc biệt quí trọng và cùng với kinh Tứ thập nhị chương và Qui sơn cảnh sách được gọi chung là Phật tổ tam kinh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12, Q.14; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8, Q.11].
di giáo kinh luận
(遺教經論) Có một quyển, bồ tát Thiên thân của Ấn độ soạn, ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 26. Luận này là tác phẩm giải thích kinh Di giáo, nội dung chia làm bảy khoa, nói rõ giáo pháp tu hành của Bồ tát. Theo luận này thì kinh Di giáo thuộc về Đại thừa bộ. Về chú sớ thì có: - Di giáo kinh luận kí 3 quyển của ngài Quán phục. - Di giáo kinh luận trụ pháp kí 1 quyển của ngài Nguyên chiếu.
di hi la thành
Xem Di thê la thành.
di huấn
Giáo pháp cuối cùng truyền lại khi Phật sắp nhập diệt—Doctrine or transforming teaching , handed down or bequeathed by a Buddha.
di hài
Remains of the dead body.
di hình
Xá lợi của Đức Phật—Relics of the Buddha.
; (遺形) Chỉ di cốt của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt. Tức là Xá lợi của Phật. Trường a hàm quyển 4 kinh Du hành (Đại 1, 29 hạ), nói: Muốn di hình (xá lợi) của Như lai mang lại lợi ích rộng lớn thì hiện tại chỉ nên chia nhau. Mọi người đều khen là phải. (xt. Xá Lợi).
di hóa
See Di Huấn.
di hạ luận
(夷夏論) Có 1 thiên, do Cố hoan soạn vào đời Nam Tề. Nội dung biện luận về sự dị, đồng giữa Phật giáo và Đạo giáo. Toàn thiên có hơn 800 chữ. Trước hết, tác giả dẫn chứng: việc ngài Lão tử gá thai vào phu nhân Tịnh diệu ở nước Duy vệ, Thiên trúc trong Huyền diệu nội thiên; việc đức Thích ca đã thành Phật với số kiếp nhiều như bụi nhỏ nói trong kinh Pháp hoa và kinh Vô lượng thọ; việc đức Thích tôn làm Quốc sư, Đạo sĩ, Nho lâm v.v... chép trong kinh Thái tử thụy ứng bản khởi để biện luận cho lí: Đạo tức Phật, Phật tức Đạo, cùng một vị Thánh, nhưng ứng tích khác nhau. Kế đến bàn về sự sai khác giữa phục sức, tang chế, nghi lễ, giáo pháp của hai nước Hạ (Trung quốc), Di (Ấn độ) để ví dụ thuyền, xe đều là phương tiện di chuyển, nhưng đường thủy, đường bộ khác nhau. Nghĩa là tuy Phật giáo và Đạo giáo về mặt lí thì giống nhau, nhưng tập tục của Phật giáo không thích hợp với Trung quốc. Cố hoan còn cho rằng Niết bàn của Phật giáo tuy giống với Tiên hóa của Đạo giáo, nhưng, nếu đứng về phương diện đắc đạo mà nói, thì Vô sinh của Niết bàn khó đạt hơn Vô tử của Tiên hóa. Cố hoan lại so sánh sự hơn kém giữa Phật giáo và Đạo giáo, như: Phật giáo văn vẻ mà rộng, Đạo giáo chất phác mà tinh; lời Phật hoa mĩ mà trương ra, lời Đạo chân thật mà nén xuống; nén xuống thì người sáng tiến một mình, trương lên thì kẻ tối tranh đi trước; kinh Phật nhiều mà rõ ràng, kinh Đạo ít mà sâu kín; Phật là phương pháp phá ác, Đạo là nghệ thuật hưng thiện; Phật tích sáng tỏ rộng lớn, Đạo tích kín đáo nhỏ nhiệm v.v.... Luận Di hạ dung hợp hai nhà Phật và Đạo dèm chê lẫn nhau, nhưng ý nghiêng về Đạo giáo. Bởi thế, quan Tư đồ Viên xán đời Lưu Tống cũng như những tín đồ Phật giáo và Đạo giáo đều có viết luận bài bác. Di hạ luận được xếp vào Nam Tề thư quyển 54, Nam sử quyển 75 Cố hoan truyện, Toàn tề văn Q.22, Ngọc hàm sơn phóng tập dật thư tử biên Đạo gia loại v.v... Cứ theo Tề thư chép, thì Cố hoan tự là Cảnh di, người Diêm quan, quận Ngô. Ông từng học nơi Lôi thứ tôn, sau, ông mở nhà trên núi Thiên thai dạy học. Niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483), ông được cử làm Thái học bác sĩ nhưng từ chối. Ông thích Hoàng lão, sở trường về Đạo thuật, năm 60 tuổi, ông mất ở Diệm sơn. Ông có các tác phẩm: Luận ngữ Cố thị chú 1 quyển, Đạo đức chân kinh chú sớ 8 quyển. [X. Tùy thư Q.34 Kinh tịch chí; Đường thư Q.47 Kinh tịch chí].
di hầu
Markaṭa (S), Monkey Makkaṭa (P)Ma ca traMột loài khỉ, dùng để ám chỉ tâm vọng động.
; Markata (skt). 1) Loài khỉ lớn tánh tình nóng nảy, lật đật không yên, giống như dục vọng của chúng sanh luôn trổi dậy: The larger monkey, mischievous, restless, like the passions. 2) Tâm Viên: Tâm phiền não muốn bốc trăng ra khỏi nước—A monkey, typical of the mind of illusion, pictured as trying to pluck the moon out of the water. 3) Tâm mê mờ: The mind of foolishness. 4) Tâm phóng dật: The mind of restlessness.
; (獼猴) Phạm: markaỉa. Âm Hán: Ma ca tra, Ma tư tra. Một loài khỉ. Tính khỉ thường lăng xăng, nhảy nhót, leo trèo, khó bắt, khó điều phục, thường hay bỏ cái này, nắm bắt cái khác, cho nên trong kinh nó được dùng để ví dụ cho vọng tâm của phàm phu. [X. kinh Tâm địa quán Q.8; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.29].
di hầu giang
Markaṭa-ḥrada (S)Di hầu trì, Hầu trìTên một cái hồ Xá lỵ. Ao này do bầy khỉ tụ lại làm thành. Phật từng có thuyết pháp ở đây.
; Một nơi trong thành Tỳ Xá Lê nơi Đức Phật giảng kinh—A place in Vaisali where Buddha preached.
; (獼猴江) Phạm: Markaỉa hrada. Cũng gọi Di hầu trì, Di hầu hà, Hầu trì, Di hầu lâm, Di hầu quán. Là cái ao khỉ bên cạnh vườn Am la nữ nước Tì xá li trung Ấn độ. Ngày xưa đàn khỉ họp lại làm cái ao này cho đức Phật và Ngài cũng từng giảng các kinh ở nơi này. Về sau nơi đây đã trở thành một trong năm tinh xá ở Thiên trúc. [X. luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.7 Phệ xá li quốc; Huyền ứng âm nghĩa Q.14].
di hầu trì
Xem Di hầu giang.
di hầu vương
(獼猴王) Khỉ chúa. Một trong những sự tích tiền thân của đức Phật. Cứ theo chương Tinh tiến độ vô cực trong kinh Lục độ tập quyển sáu chép, thì Di hầu vương dẫn 500 con khỉ vào vườn trong cung vua ăn trái cây, bị vua biết được sai người vây bắt. Để cứu đàn khỉ, Hầu vương dùng thân mình làm cầu cho bầy khỉ đi qua, đến đứt cả hai nách, rơi xuống bờ nước, nhà vua bắt được. Hầu vương nguyện bỏ mình để làm thức ăn cho vua. Vua cảm động trước lòng hy sinh của Hầu vương bèn tha cho và ra lệnh trong nước để mặc cho loài khỉ hái trái cây ăn.Di hầu vương trong truyện này tức là tiền thân của đức Thích tôn, nhà vua là ngài A nan, 500 con khỉ là tiền thân của 500 vị tỉ khưu. Truyện tích bản sinh này thường được dùng làm đề tài cho điêu khắc và hội họa, như trên lan can của tháp Ba hách đặc (Bharhut) ở Ấn độ hiện nay có khắc toàn bộ nội dung truyện này. Trong bức tranh: hai bên vẽ những cây to, ở giữa có ngòi nước, người trông vườn giăng lưới ở khoảng giữa, ngăn không cho bầy khỉ trốn thoát. Phía trên vẽ Hầu vương đem thân bắc cầu cho đàn khỉ đi qua; phía dưới vẽ Hầu vương và nhà vua ngồi đối diện nhau. [X. kinh Hiền ngu Q.2, Q.9; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].
di họa
To bring about disastrous consequences.
di kham
Lễ “di kham” là lễ dời quan tài người chết ra chánh điện để làm lễ ba ngày sau lễ tẩn liệm—To remove the coffin to the hall for the masses for the dead on the third day after encoffinment.
di khám
(移龕) Dời quan tài. Khi bậc tôn túc thị tịch, di hài của ngài được đặt vào quan tài, ba ngày sau dời đến Pháp đường, gọi là Di khám. Lúc đó, đại chúng tụng kinh rồi đều lạy ba lạy, gọi là Di khám Phật sự. Thiền lâm tượng khí tiên Tang tiến môn nói: Tôn túc di khám là: đặt di hài của Ngài vào quan tài, đậy nắp lại, để ba ngày, sau đó, dời quan tài lên Pháp đường, khoảng trên Pháp đường, xếp đặt trang nghiêm; khoảng giữa Pháp đường, trên chỗ tòa giảng, treo chân dung; khoảng dưới Pháp đường đặt quan tài, dùng màn vải gai che phủ chung quanh; trước quan tài đặt nhang án trên để lư hương, lọ cắm hoa trắng, hương đèn liên tục, sáng chiều dâng trà nóng, cơm cháo, tụng kinh cúng dường, đầy đủ hoa phan, não bạt, rồi đánh chuông ở nhà Tăng đường, họp chúng đông đủ làm Phật sự thỉnh quan. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.3 Thiên hóa điều]
di lan
Vua Di Lan—King Milinda—See Milindapanha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Di Lan Đà in Vietnamese-English Section.
di lan đà
Milinda (S)Mi Lan ĐaTên một vị Hoàng đế ở Ấn độ thuở xưa có đề cập trong Na tiên Tỳ kheo Kinh do ngài Long Thọ Bồ Tát, tổ thứ 14, soạn ra. Ngài là vua nước Đại Hạ Menandros, người Hy lạp, hậu bán thế kỷ II BC.
; Milinda (S)
; Milinda or Menander (skt)—Di Lan Đà là vị vua Ấn Độ gốc Hy Lạp. Những vùng đất do ông chiếm cứ và cai trị bao gồm Peshawar, Kabul, Punjab, Sindh, Kathiawar, và miền tây Uttar-Pradesh. Di Lan Đà là một học giả uyên bác và là một nhà lý luận sắc bén. Ông tinh thông nhiều ngành học thuật và có biệt tài tranh luận. Lúc đầu ông mang nặng những băn khoăn thắc mắc về giáo lý của Đức Phật. Ông rất buồn lòng vì không ai giải tỏa được cho ông, ông than thở: “Chao ôi, cả nước Ấn Độ là một sự trống không! Tất cả chỉ được tài khoác lác mà thôi. Chẳng một tu sĩ khổ hạnh hay một Bà La Môn nào có thể tranh luận với ta và giải tỏa những mối nghi ngờ của ta.” Một ngày kia, do một duyên may, ông gặp được một tu sĩ Phật giáo tên là Na Tiên đang trên đường đi khất thực, dáng vẻ trầm tĩnh và thanh thản của vị hiền nhân đã có một ảnh hưởng thầm lặng nhưng mạnh mẽ trong lòng nhà vua. Ngày hôm sau, vua cùng một đoàn năm trăm người Yonaka đi đến tu viện Sankheya tại Sagal, là nơi cư ngụ của Na Tiên. Họ có một cuộc trò chuyện mà theo yêu cầu của nhà vua, sau đó sẽ được tiếp tục trong hoàng cung. Vị tu sĩ vốn chẳng phải tầm thường, đã nói với nhà vua rằng ông muốn cuộc thảo luận diễn ra theo kiểu tìm học chứ không phải theo kiểu vương giả. Nhà vua đồng ý và lần lượt nêu lên những khó khăn của mình ra với đạo sư, ông nầy giải đáp thỏa mãn tất cả. Nhưng về sau nầy khi những mối hoài nghi băn khoăn nầy được Hòa Thượng Nagasena giải tỏa, Milinda trở thành một đại thí chủ, một nhà bảo trợ lớn của đạo Phật, một ông vua Phật tử hết lòng truyền bá đạo Phật. Trong hai thế kỷ theo sau sự suy yếu của triều đại Mauryas , những kẻ xâm lăng ngươiø Hy Lạp đã nắm quyền bá chủ trên vùng tây bắc Ấn Độ và A Phú Hãn. Trong thời gian nầy có đến ba mươi vị vua nối tiếp nhau, trong đó chỉ có hoàng đế Di Lan Đà là người đã để lại một ấn tượng lâu dài trong lòng người dân Ấn Độ. Điều nầy rõ ràng là do ông đã gắn bó chặt chẽ với đạo Phật. Vua Di Lan Đà là một trong những nhân vật quan trọng trong cuốn Milindapanha với Những câu hỏi của Vua Di Lan Đà (Milanda). Đây là tác phẩm chính ngoài giáo điển của trường phái Theravada nói về những đối thoại của thầy Nagasena và vua Di Lan Đà (vua Hy lạp xâm lăng và chiếm cứ vùng Bắc Ấn vào thế kỷ thứ I trước Tây lịch). Những câu hỏi của vua Di Lan Đà liên quan trực tiếp với những ý niệm căn bản trong Phật giáo về luân hồi, vô ngã, và luật nhân quả. Trong quyển Milindapanha, vua Di Lan Đà được mô tả là vị vua thuộc dòng dõi Yonakas tại vùng đất Yona. Các vùng đất Yona và Kamboja được người Ấn Độ biết đến vào thế kỷ thứ sáu trước Tây Lịch, như được xác nhận trong bài kinh Assalayana của Kinh Trung Bộ, nói rằng dân ở các vùng nầy chỉ có hai giai cấp xã hội là Arya và Dasa, thay vì bốn như ở Ấn Độ (see Tứ Giai Cấp Ấn Độ). Một điều mà ai cũng biết là sau cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Hoa Thị, thì vua A Dục đã gửi nhiều phái đoàn truyền giáo đến các vùng đất xa xôi như Yona, Syria, và Macedonia. Cũng dưới vua A Dục, một vị Tỳ Kheo người Hy Lạp tên là Dhammarakkhita-Yona Dhammarakhita đã được cử đến xứ Aparantaka để thuyết giảng Chánh Pháp. Như vậy rõ ràng giáo lý của Đức Phật đã gợi mở tâm trí người Hy Lạp trước thời vua Di Lan Đà. Theo sách Na Tiên-Di Lan Đà Vấn Đáp, vua Di Lan Đà đã trao vương quyền lại cho con mình, từ bỏ mọi chuyện thế sự và từ trần như một tu sĩ. Theo Phật giáo Nguyên Thủy thì vua Di Lan Đà đã chứng quả A La Hán. Theo Plutarch, một sử gia Hy Lạp, vua Di Lan Đà qua đời trong một lều nhỏ. Đã có nhiều thành phố tranh chấp về việc giữ tro cốt của ông. Tuy nhiên, phần tro sau nầy được chia đều và mỗi thành phố đều dựng tượng đài kỷ niệm dành cho ông. Điều đáng nói là các đồng tiền của vua Di Lan Đà đều có in hình bánh xe Chánh Pháp (Dharmacakra). Đây là một dấu hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy nhà vua là một Phật tử sùng đạo. Chữ khắc Shinkot cho thấy rõ ràng rằng nhà vua đã có nhiều công lao trong việc truyền bá đạo Phật trong vùng giữa Hindukush và Sindh. Plutarch nói rằng trong khi trị vì, vua Di Lan Đà đã có ý thức công lý rất phân minh, nên được thần dân vô cùng yêu mến. Dù rằng quyền lực của ông tại Ấn Độ không còn nữa, những ký ức về vị vua công bằng sáng suốt nầy vẫn mãi mãi còn trong các trang sách của quyển Milnda-panha cũng như những đồng tiền mang dấu Pháp Luân của ông—Milinda, the Indo-Greek king. He dominated and ruled over the following areas: Peshawar, the upper Kabul valley, Punjab, Sindh, Kathiawar, and western Uttar-Pradesh. Milinda was a well-informed scholar and a keen debater. He was well versed in various branches of learning and expert in argument. He was first obsessed with doubts and dilemmas about the teachings of the Buddha, but was so disappointed because no one could be able to eliminate his doubts. He exclaimed: “Empty, alas, is all India. All Indiais but vain gossip. There is no ascetic or Brahmin who is capable of disputing with me and solving my doubts.” It was by a fortunate chance that one day he saw a Buddhist monk named Nagasena going on his begging round. The calm and serene personality of the sage had a silent but powerful influence on the king's mind. Next day, in the company of five hundred Yonakas , he went to the Sankheya monastery at Segal where the monk was staying at that time. They had a conversation which, at the request of the king, was later resumed at the palace. The monk who was no ordinary teacher told the king that he was agreeable to a discussion only if it was held in the scholastic way and not in the royal way. The king paid homage to the teacher in a fitting manner and put his difficulties one by one before the sage who ably solved them all to the king's entire satisfaction. But later when his doubts and misgivings had been removed by Most Venerable Nagasena, he became a great patron and supporter, a devout Buddhist ruler propagating the teachings of the Buddhist religion. During the two centuries that followed the decline of the power of the imperial Mauryas, the Greek invaders invaded over north western India and Afghanistan. Some thirty rulers flourished during this period, of whom only King Milinda has left a permanent impression on the Indian mind. This is evidently due to his association with Buddhism. King Milinda was one of the most important characters in the Pali book named Milindapanda, which includes questions of King Milanda. This is one of the most important noncanonical works of the Theravada school, dialogues between the Monk Nagasena and King Milinda (a Greek king who invaded and conquered northern India in the 1st century B.C.). King Milinda's questions concern the basic teachings of Buddhism, especially the doctrines of rebirth, non-egoism, and the law of karma. King Milinda. In the Milindapanha, Milinda has been described as the king of the Yonakas from Yonas. The lands of the Yonas and Kambojas were known to Indians in the sixth century B.C. as is evidenced by the Assalayana suttanta of the Majjhima-nikaya which states that the people of these regions had only two social classes of Arya and Dasa instead of the four classes of Indian society. It is a well-known fact that after the third Buddhist Council held Pataliputra, Buddhist missionaries were sent by King Asoka to distant areas including Yona, Syria, and Macedonia. Also under the reign of king Asoka, a Greek Bhikshu named Dhammarakkhita-Yona Dhammarakkhita was sent to Aparantaka to preach the Dharma there. It is thus clear that the blessed teachings of the Buddha had begun to appeal to the Greek even before the time of king Milinda. According to the Milinda-panha, king Milinda died as a Buddhist monk, having retired from the world after handing over his kingdom to his son. King Milanda is also said to have attained to Arhatship which is the last stage of sanctification according to Theravada Buddhism. Plutarch, the Greek historian, says that Milinda's death occurred in a camp and there was a dispute among several cities for the possession of his ashes, but later his ashes were divided and each city has its own memorial monument to worship him. It is also significant that the coins of Milinda bear the Buddhist wheel (Dharmacakra). This is an unmistakable sign that he was a devout Buddhist. The Shinkot inscription proves beyond a doubt that the Greek king helped in the propagation of Buddhism in the region between the Hindukush and Sindh. Plutarch says that as a ruler , Milinda had a keen sense of justice and was dearly loved by his people. Though the power he had established in India disappeared with his death, the memory of this just and wise Buddhist ruler will forever remain enshrined in the pages of the Milinda-panha as in his own coins bearing the Dharmacakra.
di lan đà vương
(彌蘭陀王) Di lan đà, Phạm: Pàli: Milinda. Hán dịch: Từ vương. Cũng gọi Tất lân đà vương, Mân lân đà vương, Di lan vương. Là vua nước Đại hạ Di lan da la tư (Menandros) người Hi lạp sống vào hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch. Ông này từng cai trị vùng Khách bá nhĩ (Kabul) của A phú hãn (Afghanistan), và xâm nhập Ấn độ, gây thế lực 1 thời suốt giải Ngũ hà (Punjab) miền tây bắc Ấn độ, khiến Ấn độ chịu ảnh hưởng văn hóa Hi lạp một cách sâu đậm. Cứ theo kinh Di lan vương vấn bằng tiếngPàli, thì vua cùng tỉ khưu Na tiên (Pàli: Nàgasena) thảo luận giáo nghĩa và cuối cùng vua đã qui y Phật giáo. Theo như sự tích của vị vua này được ghi trong kinh Na tiên tỉ khưu Hán dịch quyển thượng (bản dịch khác của kinh Di lan vương vấn), thì nhà vua thủa nhỏ thông minh, học rộng các đạo, sau có người đề nghị, nhà vua muốn cầu vị cao tăng để luận đạo. Bấy giờ sa môn Dã hòa la được tiến cử cùng vua tranh luận, nhưng bị vua áp đảo. Sau đó, sa môn Na tiên lại được chỉ định đối luận, cuối cùng vua kính phục và qui y Phật giáo. Kinh Tạp bảo tạng quyển 9 chép tên vua này là Nam đà, luận Câu xá quyển 30 thì gọi là Tất lân đà vương. Vua từng đúc tiền lưu thông rất rộng, trên tiền vẽ hình luân bảo (bánh xe báu) và khắc chữ Người theo pháp (Phạm: Dharmikasa), theo đó đủ biết mối quan tâm của vua đối với Phật giáo. [X. A tì đạt ma câu xá thích luận Q.22; Hải án nội kí (Periphus of the Erythreean Sea); Rhys Davids: The Milinda Questions, 1930].
di lan đà vấn đạo
Milinda-panha (skt)—Những câu hỏi đạo của vua Di Lan Đà—Questions of King Milinda—Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, theo tài liệu Pali còn lưu lại thì cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo (Milinda-panha) có lẽ do đại trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn sách đáng tin cậy nhất. Quyển sách nầy hoặc được viết trong thời vua Di Lan Đà hay sau thời của ông, nhưng phải trước ngài Phật Âm, vì thường thấy ông nầy trích dẫn cuốn sách nầy, xem như một tư liệu đáng tin cậy. Có nghĩa là cuốn sách nầy được viết vào khoảng từ năm 150 trước Tây Lịch đến năm 400 sau Tây Lịch. Nhiều người cho rằng quyển Di Lan Đà Vấn Đạo không phải là một cuốn sách đồng nhất. Các chương được viết theo nhiều phong cách khác nhau. Do đó, có thể rằng một số chương đã được thêm vào sau nầy. Tuy nhiên, bằng chứng cụ thể nhất là cuốn sách nầy đã được dịch ra chữ Hán vào khoảng từ năm 317 đến 420 sau Tây Lịch với tên là Kinh Na Tiên, chỉ có ba chương đầu của cuốn Milinda-panha mà thôi. Từ đó người ta cho rằng bốn chương còn lại là phần thêm vào sau nầy. Một sự kiện nữa hậu thuẫn cho quan điểm trên là cuối chương ba, sách đã nói rằng các câu hỏi của vua Di Lan Đà đã hết, còn chương bốn trông giống như một sự khởi đầu mới. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng không thể gạt bỏ ra ngoài giả thuyết cho rằng chính Na Tiên hay một tác giả nào đó đã viết nên toàn bộ cuốn sách như chúng ta thấy ngày nay. Rất có thể dịch giả Trung Hoa chỉ giới hạn bản dịch của mình trong ba chương mà thôi. Cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo như hiện nay gồm có bảy chương. Trong bảy chương nầy thì chương đầu ghi lại con người và lịch sử, còn các chương kia toàn là giáo lý. Điều lạ lùng là trong khi Tỳ Kheo Na Tiên tốn nhiều công phu kể với chúng ta về cuộc đời quá khứ của ông và của vua Di Lan Đà, ông lại chẳng nói gì về cuộc đời hiện tại của ông. Khiêm tốn đến mức xóa mờ mình là đặc điểm thường gặp của các tác giả thời xưa. Vào thời ấy vua Di Lan Đà đã không thỏa mãn với các luận sư tôn giáo đương thời, nỗi khoắc khoải của ông được bộc lộ trong câu nói sau đây: “Chao ôi, cả cõi Diêm Phù Đề chỉ là một sự trống không! Diêm Phủ Đề chỉ là cái lỗ trống. Tất cả chỉ được tài khoác lác mà thôi. Chẳng một tu sĩ khổ hạnh hay một Bà La Môn nào có thể tranh luận với ta và giải tỏa những mối nghi ngờ của ta.” Thế nhưng với trưởng lão Na Tiên, nhà vua đã hoàn toàn bị chinh phục, không những bằng những kiến thức cao siêu, mà cả cách ăn nói đầy ấn tượng và có sức thuyết phục. Người ta kể lại rằng sau lời chào hỏi thông thường, nhà vua nói: “Thưa tôn ông, xin tôn ông cho biết phương danh quí tánh. Người ta gọi tôn ông như thế nào?” Na Tiên đáp: “Tâu bệ hạ, các đạo hữu của tôi gọi tôi là Na Tiên, cha mẹ thì đặt tên cho tôi là Na Tiên, nhưng gọi thế cho tiện thôi. Sự thực thì không có một người như thế đâu.” Chính câu nói nầy của trưởng lão dã khai thông mọi chuyện, tiếp theo là hàng loạt các câu hỏi và những câu trả lời, trong đó có sự minh họa nổi tiếng về chiếc xe ngựa, theo đó, cũng giống như các bộ phận của chiếc xe khi được lắp ghép chúng lại thì sẽ tạo thành chiếc xe, ngoài các thứ ấy ra chẳng có chiếc xe nào cả. Tương tự, các bộ phận khác nhau của một người tạo nên con người, ngoài các bộ phận ấy ra thì chẳng có con người ấy. Thật vậy, ngoại trừ Thánh điển ra, không thể tìm được một câu nói nào về thuyết vô ngã lại sâu sắc hơn và hay hơn những lời nói trên của Tỳ Kheo Na Tiên. Do đó, Di Lan Đà Vấn Đạo là một cuốn sách được trình bày dễ hiểu, không chỉ về các lý thuyết cao siêu của Đức Phật, mà cả những nguyên tắc đạo đức và tâm lý của Phật giáo. Như thế, đây chính là một cuốn sách không thể thiếu đối với các Tăng sinh Phật giáo. Ngoài tầm quan trọng của một văn bản Phật giáo, Di Lan Đà Vấn Đạo còn có giá trị của một tư liệu lịch sử và là một công trình văn học xuất sắc. Cuốn sách cung cấp cho chúng ta một chứng liệu nổi bậc về văn xuôi Ấn Độ trong thế kỷ thứ nhất. Di Lan Đà Vấn Đạo có một vị trí đặc biệt trong văn học Ấn Độ, dù xét về mặt lý luận, văn chương, lịch sử, hay địa lý. Về thời kỳ hậu giáo điển, không có một luận thư Phật giáo nào sánh ngang được với quyển Di Lan Đà Vấn Đạo—According to Prof. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, after the Pali scriptures, the Questions of King Milinda (Milinda-panha) supposed to have been compiled by Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative a text. It is certain that the Milinda-panha must have been written either at the time of king Milinda or after him, but surely before the time of Buddhsghosa, who has so often quoted Nagasena's Milinda-panha as an authority. That is to say, the book must have been written between 150 B.C. and 400 A.D. It has been suggested that the Milinda-panha is not a unitary text for different chapters are written in more than one style. Hence it is probable that some chapters are later additions. A strong proof of the above theory, however, is the fact that the book was translated into Chinese between 317 and 420 A.D. and that its Chinese version, known as the Nagasena Sutra, contains only the first three chapters of the Milinda-panha. From this it has been concluded that the remaining four chapters of the Milinda-panha are later additions. Still another fact that supports the above view is that, at the end of the third chapter, it is stated that the questions of King Milinda have come to an end, and the fourth chapter looks like a new beginning. No matter what has happened, we are probably not altogether justified in setting aside the assumption that Nagasena, or whoever he author may have been, wrote the whle of the book as it has come down to us today. For it is not impossible that the Chinese translator himself preferred to limit his translation only to the first three chapters. The Milinda-panha, as it stands at present, contains seven chapters. Out of these seven, the first one is largely personal and historical while the others are all doctrinal. It is strange that while Nagasena took so much time to tell us about his past life and that of king Milinda, he does not give us much information about his present life. Humility bordering on self-effacement has been a general characteristic of all our ancient writers. At that time, king Milinda was not satisfied with the contemporary religious teachers, and his arrogance found expression in the following statements: “Jambudvipa is empty, Jambudvipa is hollow. Jambudvipa is devoid of any Sramanah or Brahmin who could argue with me to help me solve all my doubts.” In the elder Nagasena, however, king Milinda met one who completely subdued him not only with his superior intellect, but also with his impressive and persuasive diction. It is said that as soon as they had exchanged formal greetings, the King said: “Sir, what is your name? How are you known?” Nagasena replied: “Maharaja, I am known as Nagasena. My brother bhikshus address me thus. My parents call their son Nagasena, but all this is just usage. In reality, there does not exist any individual as such.” This statement of the Elder Nagasena set the ball rolling and there followed a series of questions and answers, including the famous chariot illustration which maintained that just as the parts of a chariot put together make a chariot, and there is no chariot apart from them, similarly the different components of an individual make an individual and that the individual does not exist aprt from them. No more profound or appealing statement of the doctrine of Anatmavada can be found than the above enunciation of the Elder Nagasena in the whole Buddhist literature, with the exception of the scriptures. Thus Milinda-panha is a comprehensive exposition not only of Buddhist metaphysics, but also of Buddhist ethics and psychology. As such, it is indispensable for the student of Buddhism. Apart from its importance as a Buddhist text, the Milinda-panha is also to be valued as a historical document and a literary achievement of great eminence. The Milinda-panha provides an unsurpassed testimony to Indian prose literature of the first century. In short, the Milinda-panha occupies a unique position in Indian letters, whether looked at from the point of view of metaphysics, or literature, or history, or knowledge of geography. It is an indisputable fact hat in post-canonical literature, no other treatise on Buddhism equals the Milinda-panha.
Di luân
(彝倫): có hai nghĩa. (1) Lý thường, đạo thường. Như trong tác phẩm tự Tri Lục (日知錄), phần Di Luân (彝倫), của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh, có định nghĩa rằng: “Di luân giả, thiên địa chi thường đạo (彝倫者、天地人之常道, di luân là đạo thường của trời đất).” (2) Chỉ luân thường đạo lý. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 1 có câu: “Minh đạo đức dĩ tự di luân, hành nhân ngĩa nhi chánh phong tục (明道德以敘彝倫、行仁義而正風俗, sáng đạo đức để tỏ luân thường, hành nhân nghĩa để sửa phong tục).”
di lâu
Meru (skt)—Cao Sơn—Quang Sơn. 1) Cao ngất: Lofty. 2) Núi Tu Di: Ở đây chỉ núi Hy Mã Lạp Sơn—Meru also refers to the mountains represented by the Himalayas, in this not differing from Sumeru.
di lâu sơn
(彌樓山) I. Di lâu sơn. Núi ở phía bắc thành Vương xá Ấn độ là chỗ ở của tiên A la la ka la ma. II. Di lâu sơn. Một trong bảy núi vàng. Cũng gọi Ni dân đà la sơn, Trì địa sơn. Thế giới này lấy núi Tu di làm trung tâm, bốn chung quanh núi Tu di có bảy núi vàng, núi ở ngoài cùng là Di lâu sơn. Vòng ngoài của bảy núi vàng còn có núi Thiết vi cùng với núi Tu di hợp làm chín núi. Khoảng giữa chín núi lại có tám biển, gọi chung là chín núi tám biển. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 phần trên (Đại 33, 693 thượng), nói: Kinh (Pháp hoa) cho mắt do cha mẹ sinh chỉ là nhục nhãn (mắt thịt), mắt thấy suốt trong ngoài núi Di lâu là thiên nhãn (mắt trời), mắt thấy suốt các sắc mà không dính mắc là tuệ nhãn (mắt trí tuệ). Nhưng, theo Pháp hoa kinh nghĩa sớ quyển 11 của ngài Cát tạng và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 15, thì núi Di lâu tức là núi Tu di. Tu di tên Phạm là Sumera, gọi tắt là Meru, dịch âm là Di lâu sơn, Di lô sơn.
di lô
(彌盧) Phạm: Meru. Hán dịch là cao. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 48 (Đại 10, 253 trung), nói: Răng hàm trên của đức Như lai về phía bên phải có tướng đại nhân, tên là Bảo diệm di lô tạng vân.
Di Lặc
(s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒): tức Bồ Tát Di Lặc, âm dịch là Mai Đát Ma Da (梅怛魔耶), Mạt Đát Rị Da (末怛唎耶), Di Đế Lệ (彌帝隸), Di Đế Lễ (彌帝禮), Mai Để Lê (梅低梨), Mê Đế Lệ (迷諦隸), Mỗi Đát Rị (每怛哩); ý dịch là Từ Thị (慈氏), Từ Tôn (慈尊). Bên cạnh đó, Bồ Tát còn có tên là A Dật Đa (s, j: Ajita, 阿逸多), dịch là Vô Năng Thắng (無能勝); cho nên có tên A Dật Đa Bồ Tát (阿逸多菩薩). Hoặc A Dật Đa là họ, Di Lặc là tên. Theo Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), Bồ Tát Di Lặc vốn sanh ra trong một gia đình Bà La Môn ở miền nam Thiên Trúc (天竺), sau theo làm đệ tử của Phật, được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai. Hiện tại, ngài thường trú trên cung trời Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率). Theo truyện kể rằng, do muốn thành thục các chúng sanh, vị Bồ Tát này phát tâm không ăn thịt; vì nhân duyên đó nên có tên là Từ Thị. Tương truyền sau khi đức Phật diệt độ khoảng 56 ức 7 ngàn vạn năm (có thuyết cho là 57 ức 6 ngàn vạn năm), từ trên cung trời, Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa (s: nāga-puṣpa, 龍華樹, Mesuna roxburghii Wigh, Mesuna ferrea) trong vườn Hoa Lâm (華林), Thành Xí Đầu (翅頭城), và thuyết pháp trước sau 3 lần. Đây được gọi là Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), hay Long Hoa (龍華). Trong các kinh điển Đại Thừa, Bồ Tát Di Lặc được đề cập nhiều nơi. Tương truyền Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) vẫn chưa nhập diệt, mà còn đang nhập định trong Kê Túc Sơn (s: Kukkuṭapādagiri, Kurkuṭapādagiri, p: Kukkuṭapadagiri, Kurkuṭapadagiri,雞足山) để chờ đợi Phật Di Lặc xuất hiện. Hay có truyền thuyết cho rằng Bồ Tát Di Lặc ở trên cung trời Đâu Suất, hạ sanh xuống cõi Ta Bà, thuyết Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論); cho nên, tư tưởng vãng sanh về cõi Đâu Suất trở nên thịnh hành và tín ngưỡng Di Lặc theo đó xuất hiện. Trong Mật Giáo, Di Lặc của Thai Tạng Giới ngự trên tòa sen, phương đông bắc của Trung Đài Bát Diệp Viện (中台八葉院); còn Di Lặc của Kim Cang Giới thì ngự ở phương đông, mật hiệu là Tốc Tật Kim Cang (迅疾金剛). Ngoài ra, Bố Đại Hòa Thượng (布袋, ?-916) ở Huyện Phụng Hóa (奉化縣), Minh Châu (明州), Triết Giang (浙江) được xem như là Di Lặc hóa thân. Trong Minh Châu Định Ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng Truyện (明州定應大師布袋和尚傳) có thuật rõ hành trạng của Hòa Thượng. Ông có bài kệ nổi tiếng là: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lí du, thanh mục đổ nhân thiểu, vấn lộ bạch vân đầu (一鉢千家飯、孤身萬里遊、青目覩人少、問路白雲頭, bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh xem người thế, mây trắng hỏi đường qua).” Sau khi thâu thần tịch diệt, Hòa Thượng có để lại bài kệ tại Nhạc Lâm Tự (岳林寺), Huyện Phụng Hóa: “Di Lặc chơn Di Lặc, phân thân thiên bách ức, thời thời thị thời nhân, thời nhân tự bất thức (彌勒眞彌勒、分身千百億、時時示時人、時人自不識, Di Lặc đúng Di Lặc, phân thân trăm ngàn ức, luôn luôn dạy mọi người, bấy giờ chẳng ai biết).” Từ đó, người ta tạc tượng Hòa Thượng để tôn thờ như là Phật Di Lặc. Trong Động Thượng Già Lam Chư Đường An Tượng Ký (洞上伽藍諸堂安像記) quy định trong 3 tôn tượng an trí tại Chánh Điện, có tượng Di Lặc, ghi rõ rằng: “Chi Na Thiên Đồng Sơn Phật Điện, an Thích Ca Di Đà Di Lặc, nhi ngạch ư Tam Thế Như Lai tứ tự dã. Nhật Bản Vĩnh Bình hiệu chi, Đông Sơn Tuyền Dũng Tự diệc thị dã; án Tuyền Dũng Tự điện đường sắc mục vân, Phật Điện giả an trí Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, tam thế chi giáo chủ, dĩ vi nhất tự sùng ngưỡng chi bổn tôn dã. Đại Đường chư tự phổ giai như thử vân vân, y chi tắc an Tam Thế Như Lai giả, bất đản Thiên Đồng dư ? (支那天童山佛殿、安釋迦彌陀彌勒、而額於三世如來四字也。日本永平傚之、東山泉涌寺亦是也、案泉涌寺殿堂色目云、佛殿者安置釋迦彌陀彌勒三世之敎主、以爲一寺崇仰之本尊也。大唐諸寺普皆如此云云、依之則安三世如來者、不但天童歟, Điện Phật của Thiên Đồng Sơn ở Trung Quốc an trí Thích Ca, Di Đà và Di Lặc; trên biển đề bốn chữ 'Tam Thế Như Lai [Như Lai Ba Đời]'. Vĩnh Bình Tự của Nhật Bản bắt chước theo; Tuyền Dũng Tự ở vùng Đông Sơn cũng như vậy. Căn cứ bản danh mục các ngôi điện đường của Tuyền Dũng Tự, nơi Chánh Điện án trí các đức giáo chủ của ba đời là Thích Ca, Di Đà và Di Lặc, để làm các tôn tượng thờ phụng của chùa. Những ngôi chùa của nước Đại Đường [Trung Quốc] thảy đều như vậy, v.v.; nương theo đó mà an trí các đức Như Lai của ba đời, không phải chỉ có Thiên Đồng Sơn mà thôi đâu).” Tại Điện Di Lặc của Thủy Liêm Tự (水簾寺) ở Đồng Bá Sơn (桐柏山), Tỉnh Hà Nam (河南省) có câu đối tán dương Bồ Tát Di Lặc rằng: “Khai khẩu tiện tiếu tiếu cổ tiếu kim phàm sự phó chi nhất tiếu, đại đỗ năng dung dung thiên dung địa ư nhân hà sở bất dung (開口便笑笑古笑今凡事付之一笑、大肚能容容天容地於人何所不容, mở miệng là cười cười xưa cười nay mọi sự phó cho nụ cười, bụng lớn bao dung dung trời dung đất với người chỗ nào chẳng dung).”
di lặc
Maitreya (S). Milei (C). Mirokou (J). Friendly, benevolent. The Buddhist Messiah, or next Buddha.
; See Maitreya in the Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
di lặc bồ tát
Từ Thị—Di Lặc Bồ Tát hay vị Phật tương lai của cõi Ta Bà (vị Bồ Tát sẽ thành Phật vị lai hướng dẫn chúng sanh giải thoát khỏi phiền trược)—Great Loving One—Maitreya Bodhisattva—The future Buddha of this saha world (the Bodhisattva who will become a full Buddha in the next world cycle to lead men to liberation from self-bondage). ** For more information, please see Maitreya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (彌勒菩薩) Di lặc, Phạm: Maitreya, Pàli: Metteyya. Cũng gọi Mai đát lệ da bồ tát, Mạt đát lị da bồ tát, Mê để lũ bồ tát, Di đế lễ bồ tát. Hán dịch: Từ thị. Theo kinh Di lặc thướng sinh và kinh Di lặc hạ sinh chép, thì ngài Di lặc sinh ra trong một gia đình Bà la môn, sau xuất gia làm đệ tử đức Phật và nhập diệt trước đức Phật, mang thân Bồ tát trụ ở cõi trời Đâu suất nói pháp cho những người trời ở cõi này. Theo truyền thuyết thì vị Bồ tát này vì muốn giáo hóa thành tựu cho chúng sinh nên ngay từ lúc mới phát tâm đã không ăn thịt, do nhân duyên ấy mà có tên là Từ thị. Đại nhật kinh sớ quyển 1 nói, bồ tát Từ thị là lấy Từ trong bốn tâm vô lượng của Phật làm đầu. Lòng từ đó sinh ra từ hạt giống Như lai, khiến hết thảy thế gian không mất tính Phật, cho nên gọi là Từ thị. Đức Thích tôn từng thụ kí nói trước, hết thời kì loài người sống lâu 4000 tuổi (ước chừng 57 tỉ 6o triệu năm nữa), bồ tát Từ thị sẽ sinh xuống cõi này thành Phật dưới gốc cây Long hoa, chia làm ba hội thuyết pháp. Do ý nghĩa Ngài thay đức Phật Thích ca thuyết giáo mà gọi là Bồ tát Nhất sinh bổ xứ, Bổ xứ bồ tát, Bổ xứ tát đỏa. Đến lúc đó thì Ngài đã thành Phật nên gọi là Phật Di lặc hoặc Di lặc Như lai. Cứ theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6 và kinh Bình đẳng giác quyển 4 nói, thì ngài Di lặc chính là ngài A dật đa một đệ tử của đức Phật. Thế nhưng, theo kinh Thuyết bản trong Trung a hàm quyển 13, kinh Xuất diệu quyển 6 và luận Đại tì bà sa quyển 178 nói, thì Di lặc và A dật đa là hai người khác nhau. Trong Mật giáo, bồ tát Từ thị là một trong chín vị tôn của Trung đài trong mạn đồ la Thai tạng giới, ngồi ở phía đông bắc đức Đại nhật Như lai. Còn trong mạn đồ la Kim cương giới thì Ngài là một trong 16 vị tôn kiếp Hiền. Về hình tượng của Ngài có nhiều thuyết khác nhau: theo kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la và Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ chép, thì thân Ngài màu vàng ròng, tay trái cầm quân trì (cái bình), bàn tay phải đưa lên hướng ra ngoài làm dáng thí vô úy. Hình tam muội da là bình hoặc tháp, mật hiệu là Tấn tật kim cương. Tại Trung quốc, các chùa miếu thờ tượng Di lặc miệng cười, bụng to phơi ra, đó là Hòa thượng Khế thử (Bố đại) thời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), vì theo truyền thuyết thì Hòa thượng Khế thử là hóa thân của Bồ tát Di lặc, cho nên người đời tạo tượng Ngài để thờ. Tín ngưỡng sinh lên cõi trời Đâu suất cũng như tín ngưỡng vãng sinh Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà từ xưa đều được tín đồ Phật giáo coi trọng. Ngoài ra, cuốn kinh nói rõ về truyện tích bản sinh của bồ tát Di lặc là kinh Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục, được thu vào Đại chính tạng tập 3. [X. kinh Tạp a hàm Q.43; Trường a hàm Q.6 kinh Chuyển luân thánh vương tu hành; kinh Tạp thí dụ; kinh Hiền ngu Q.12 phẩm Ba bà lê; kinh Hoa nghiêm Bồ Tát Di Lặc (bản dịch cũ) Q.60; Từ thị bồ tát tu dũ nga niệm tụng pháp Q.thượng phẩm Nhập pháp giới ngũ đại quán môn; luận Đại trí độ Q.29; Duy ma kinh lược sớ Q.5; Câu xá luận quang kí Q.18; Đại đường tây vực kí Q.4, Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.18]. (xt. A Dật Đa, Di Lặc Tín Ngưỡng).
di lặc hạ sanh kinh
Di Lặc Hạ sanh thành Phật KinhNgài Tam tạng pháp sư Nghĩa Tịnh đời Đường dịch ra chữ Tàu.
di lặc hạ sanh thành phật kinh
Xem Di Lặc Hạ sanh Kinh.
di lặc hạ sinh kinh
(彌勒下生經) Có một quyển. Là một trong ba bộ kinh về Di lặc, một trong sáu bộ kinh. Cũng gọi Quán di lặc bồ tát hạ sinh kinh, Di lặc thành Phật kinh, Di lặc đương lai hạ sinh kinh, Hạ sinh kinh, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 14. Trước nay, trong các kinh nói về bồ tát Di lặc giáng sinh, kinh này được coi trọng hơn cả. Nội dung trình bày trong đời vị lai, vào thời vua Chuyển luân thánh vương Nhương khư, ngài Di lặc từ cung trời Đâu suất sinh xuống, thân phụ là Tu phạm ma, thân mẫu là Phạm ma việt. Sau khi thành đạo Ngài giáo hóa Thiện tài, thân phụ thân mẫu và tám vạn bốn nghìn đại chúng. Cũng giống như đức Phật Thích ca đời này, Ngài nói giáo pháp ba thừa để độ chúng sinh. Ngài Đại ca diếp ở thời chư Phật quá khứ đã khéo tu Phạm hạnh, cho nên trong vị lai cũng sẽ giúp ngài Di lặc trong việc giáo hóa. Người đứng ra thưa hỏi trong kinh này là tôn giả A nan, đây là một đặc sắc lớn của kinh này; trong các bản kinh khác người thưa hỏi là tôn giả Xá lợi phất. Về những bản dịch khác của kinh này thì có: Di lặc hạ sinh thành Phật kinh 1 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần và ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Về sách chú sớ thì có: Di lặc hạ sinh kinh sớ 1 quyển của ngài Cảnh hưng, Di lặc hạ sinh kinh nghĩa sớ 1 quyển của ngài Thiện châu, và Di lặc hạ sinh kinh thuật tán 1 quyển, không rõ tác giả. Ngoài ra, theo sự khảo chứng thì kinh này là kinh Biệt sinh trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 do ngài Tăng già đề bà dịch mà đời lầm cho rằng người dịch là ngài Trúc pháp hộ. Còn kinh Hạ sinh gồm 17 tờ (giấy bản) do ngài Trúc pháp hộ dịch thì đã bị thất lạc từ lâu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2 đến Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.1; Tĩnh thái lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.14].
di lặc hạ sinh thành phật kinh
(彌勒下生成佛經) Có một quyển. Là một trong sáu bộ kinh Di lặc, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, đưa vào Đại chính tạng tập 14. Kinh này cùng với kinh Di lặc hạ sinh thành Phật (cũng gọi kinh Di lặc hạ sinh, kinh Di lặc thụ quyết) do ngài Cưu ma la thập dịch đều là những bản dịch khác của kinh Di lặc hạ sinh do ngài Trúc pháp hộ dịch. Nếu so với bản dịch của ngài La thập thì bản này có đầy đủ thể tài của một kinh đơn lẻ hơn và văn kệ được dùng làm bộ phận chủ yếu, nhưng sự tích về ngài Đại ca diếp thì không ghi chép. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
di lặc lai thời kinh
(彌勒來時經) Có một quyển. Là một trong sáu bộ kinh về Di lặc, được dịch vào đời Đông Tấn, nhưng không rõ dịch giả, thu vào Đại chính tạng tập 14. Là bản dịch khác của kinh Hạ sinh 17 tờ (đã mất) do ngài Trúc pháp hộ dịch và kinh Hạ sinh do ngài Cưu ma la thập dịch. Điểm đặc biệt của kinh này là phần nói pháp ở đoạn giữa thì giống, nhưng cách thức trình bày ở phần đầu và phần cuối thì khác với các kinh: đó là điều đáng chú ý. Ở đầu kinh không có câu Như thị ngã văn mà bắt đầu bằng Xá lợi phất là đệ tử bậc nhất của Phật và cuối cùng kết thúc với câu Sáu mươi tỉ năm nữa lúc đó tuổi thọ của loài người còn sáu triệu năm thì Phật Di lặc sẽ ra đời. Có thuyết cho rằng kinh này là do chép lấy những tiết đoạn của các kinh khác nên mới có hình thức ấy. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Trinh nguyên thích giáo mục lục Q.5]. (xt. Di Lặc Hạ Sinh Kinh).
di lặc luận sư
(彌勒論師) Di lặc, Phạm: Maitreya. Hán dịch: Từ thị. Người Ấn độ, ra đời khoảng 900 năm sau đức Phật nhập diệt, là vị thủy tổ của phái Du già Đại thừa. Trong tạng kinh Hán dịch hiện còn ghi bồ tát Di lặc là tác giả của những bộ luận Du già sư địa, Đại trang nghiêm kinh luận tụng, Biện trung biên luận tụng, Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận v.v... Còn trong Đại tạng Tây tạng thì ngoại trừ những tác phẩm nêu trên ra, còn có các luận Hiện quán trang nghiêm, luận Pháp pháp tính phân biệt và luận Đại thừa cứu cánh yếu nghĩa v.v... cũng là tác phẩm của Ngài. Tương truyền luận sư Di lặc là thầy của ngài Vô trước, sáng lập ra giáo lí Du già duy thức, sau truyền trao cho ngài Vô trước. Lại cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện chép, thì ngài Vô trước từng lên cung trời Đâu suất để thỉnh vấn bồ tát Di lặc về lí quán không của Đại thừa, rồi vì thầy của ngài Vô trước cũng tên là Di lặc, cho nên đời sau coi thầy của Vô trước cũng là Di lặc sẽ thành Phật trong vị lai. Nhưng cuối cùng Di lặc có phải một nhân vật có thực trong lịch sử hay không thì đến nay vẫn chưa xác định được. Còn đối với các tác phẩm ở trên, thì thực tế có thể đã do ngài Vô trước tổng hợp các học thuyết của những bậc tiên hiền rồi tạm cho là của bồ tát Di lặc sáng tác. Nhà học giả Phật giáo người Nga là Âu bạch mễ lặc (E. Obermiller) cho rằng, những việc như ngài Long thụ được bồ tát Văn thù điểm hóa mà viết các bộ luận, ngài Vô trước thì nhờ thần lực của bồ tát Di lặc trên cung trời Đâu suất giao cảm mà trứ tác v.v... đều là truyền thuyết. Học giả Nhật bản là Sơn khẩu ích nối theo thuyết của Obermiller cho rằng, ngài Vô trước là người chú thích, bàn nói về các tác phẩm Trung biên phân biệt luận, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Pháp pháp tính phân biệt luận v.v... còn bồ tát Di lặc chỉ là người khải phát linh cảm và là vị Phật đương lai Nhất sinh bổ xứ. Học giả Lạp mô đặc (E. Lamotte) đồng ý với thuyết này, bổ sung và thuyết minh thêm. Ông cho rằng vì kinh điển Đại thừa được thành lập sau cho nên thường có khuynh hướng dựa vào lời nói của các bậc Thánh để tăng uy tín, bởi thế ông nghi ngờ tính cách lịch sử của thuyết Di lặc. Nhà học giả Nhật bản là Vũ tỉnh Bá thọ thì phản đối thuyết này, ông cho rằng luận sư Di lặc là nhân vật có thật trong lịch sử, đã đề xướng giáo lí Du già Đại thừa, còn Vô trước chỉ là người chép lại những bộ luận nói trên của Ngài mà thôi. [X. Bài Bạt trong luận Du già sư địa; Xuất tam tạng kí tập Q.12 Tát bà đa bộ mục lục tự; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1 (Vũ tỉnh Bá thọ); Trung biên phân biệt luận thích sớ tứ luận (Sơn khẩu ích); E. Obermiller: The Sublime Science of the Great Vehicle to Salvation].
di lặc lục bộ kinh
(彌勒六部經) Cũng gọi Di lặc bồ tát lục bộ kinh. Chỉ cho sáu bộ kinh tường thuật về các việc như: lên cõi trời Đâu suất, từ trời Đâu suất sinh xuống cõi Diêm phù đề thành Phật, quốc độ, thời tiết, chủng tộc, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân v.v... của bồ tát Di lặc. Sáu bộ kinh này đều được đưa vào Đại chính tạng tập 14. Sáu bộ là: 1. Quán Di lặc thướng sinh kinh, Thư cừ kinh thanh dịch. 2. Di lặc hạ sinh kinh, Cưu ma la thập dịch. 3. Di lặc lai thời kinh, không rõ người dịch. 4. Quán Di lặc bồ tát hạ sinh kinh, Trúc pháp hộ dịch. 5. Di lặc hạ sinh thành Phật kinh, Nghĩa tịnh dịch. 6. Di lặc đại thành Phật kinh, Cưu ma la thập dịch Trong đây, ba bộ 1, 4, 6 còn được gọi riêng là ba bộ kinh Di lặc.
di lặc phật
Maitreya (S), Milei (C), Miroku (J), Metteyya (P), Jampa (T)Di Lặc Bồ tátCó nghĩa là từ tâm. Theo Phật Tổ Thống ký, từ lúc đức Thích Ca cho đến đức Di Lặc ra đời là 8.108.000 năm. Khi Phật Di Lặc ra đời con người sẽ sống đến 80.000 tuổi (Di lặc hạ sanh Kinh). Trước Phật Thích Ca ra đời, con người thọ 100 tuổi. Trước Phật Thích Ca, thời Phật Ca Diếp, con người thọ mạng 20.000 tuổi (Soạn tập bá duyên Kinh). Hiện nay Bồ tát Di Lặc đang làm thiên chủ nơi cung Tri túc thiên (Đâu suất thiên). Trong Hiền Kiếp (đại thiên niên kiếp) này, đức Ca la ca tôn đại Phật là Phật thứ nhất, đức Kim Tịch Phật là Phật thứ nhì, Ngài Ca Diếp Phật là Phật thứ ba, đức Thích Ca là Phật thứ tư, đức Di Lặc là Phật thứ năm.
di lặc tam tôn
(彌勒三尊) Chỉ cho ba pho tượng: Đức Phật Di lặc ở giữa, bồ tát Pháp âm luân bên trái và bồ tát Đại diện tướng bên phải. Hồng ca đà dã nghi quĩ quyển trung do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, nói: Kiến lập Tùy tâm mạn đồ la, chính giữa là đức Phật Di lặc, hai bên là Pháp âm luân và Đại diện tướng, bốn phương là Tứ đại thiên vương.
di lặc thượng sanh kinh
Quán Di Lặc Thượng sanh Đâu suất Thiên Kinh.Kinh này do ông Ưu bà Ly khởi thỉnh.
di lặc thượng sinh kinh
(彌勒上生經) Có 1 quyển, một trong ba bộ kinh về Di lặc, một trong sáu bộ kinh. Gọi đủ là Quán di lặc bồ tát thướng sinh đâu suất thiên kinh. Cũng gọi Di lặc bồ tát niết bàn kinh, Quán di lặc thướng sinh kinh, Quán di lặc kinh, Thướng sinh kinh. Do Thư cừ kinh thanh dịch vào đời Lưu Tống, thu vào Đại chính tạng tập 14. Đây là bộ kinh được thành lập trễ nhất trong các kinh điển nói về Phật Di lặc, nhưng lại là bộ kinh chủ yếu của tín ngưỡng Tịnh độ Di lặc. Nội dung tường thuật việc bồ tát Di lặc thị tịch sinh lên cung trời Đâu suất và ngày đêm sáu thời nói pháp giáo hóa chư thiên.Trong kinh này, sự miêu tả về thiên cung tỉ mỉ hơn trong kinh Di lặc hạ sinh và có thể làm cảm động lòng người. Trong kinh còn nói: Muốn sinh về cung trời phải làm 10 điều lành, tâm nhớ nghĩ hình tượng Phật, miệng niệm danh hiệu Di lặc, nhờ công đức này có thể thoát khỏi tội sinh tử trong 96 ức kiếp. Những quan điểm nêu trên đây cũng giống quan điểm trong kinh Quán vô lượng thọ, bởi thế, có thể nói, hai kinh này cùng được thành lập vào cuối thế kỉ thứ IV Tây lịch. Hơn nữa, do câu: Như kinh Di lặc hạ sinh nói (Đại 14, 420 thượng) thì biết kinh này xuất hiện sau kinh Hạ sinh. Còn về các sách chú sớ của kinh này thì có: Di lặc kinh du ý 1 quyển của ngài Cát tạng, Di lặc thướng sinh kinh tông yếu 1 quyển của ngài Nguyên hiểu, Quán di lặc bồ tát thướng đâu suất thiên kinh tán 2 quyển của ngài Khuy cơ v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Di lặc tam bộ kinh giải đề (Tiểu dã Huyền diệu)].
di lặc thượng sinh kinh sớ
(彌勒上生經疏) Gồm hai quyển, do ngài Khuy cơ (632- 682) soạn vào đời Đường.Cũng gọi Quán Di lặc thướng sinh kinh sớ,Di lặc thướng sinh kinh thụy ứng sớ, Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên kinh tán, thu vào Đại chính tạng tập 38. Bộ sách này chú thích kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên do Thư cừ kinh thanh dịch. Nội dung chia làm năm môn để giải thích văn kinh: 1. Phật thành quyền thực: Lần lượt bàn rõ về thân Phật: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Đây là một loại Phật thân luận. 2. Từ thị sở nhân: Giải thích nguyên do tại sao Di lặc còn có tên là Từ thị và nhân duyên thành tựu quả vị của Ngài. 3. Thời phận hữu thù: Tường thuật về tên các kiếp, tuổi thọ v.v... của nghìn vị Phật xuất hiện trong quá khứ, hiện tại theo thời gian mà có sự khác nhau. 4. Vãng sinh nan dị: So sánh sự khó dễ trong việc sinh về Tịnh độ phương tây của đức Phật A di đà và về cõi trời Đâu suất của bồ tát Di lặc. 5. Vấn đáp liệu giản: Dùng hình thức vấn đáp để giải thích về tên họ của bồ tát Di lặc và về các vấn đề khác v.v...
di lặc thụ quyết kinh
(彌勒受决經) Có 1 quyển, một trong sáu bộ kinh về Di lặc, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. Cũng gọi Di lặc hạ sinh thành Phật kinh, Di lặc thành Phật kinh, Hạ sinh thành Phật kinh, Đương hạ thành Phật kinh, Di lặc đương lai thành Phật kinh, Di lặc hạ sinh kinh, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung nói về việc bồ tát Di lặc từ cung trời Đâu suất sinh xuống cõi Diêm phù đề thành Phật. [X. Đại đường nội điển lục Q.3; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.4]. (xt. Di Lặc Hạ Sinh Kinh).
di lặc tín ngưỡng
(彌勒信仰) Tin thờ bồ tát Di lặc. Tín ngưỡng này vốn đã có rất sớm ở Ấn độ, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, phẩm Phật hưng lập trong kinh Hiền kiếp quyển 7 v.v... đều cho rằng Di lặc là đức Phật đầu tiên xuất hiện trong vị lai. Luận A tì đàm bát kiền độ quyển 27 cũng ghi chép việc Di lặc thành Phật trong đương lai. Rồi truyện Pháp thịnh trong Danh tăng truyện sao thì chép, bốn trăm tám mươi năm sau đức Phật nhập diệt, có A la hán Ha lợi nan đà bay lên cung trời Đâu suất vẽ tượng Di lặc, sau đó Ngài lại đến phía đông bắc nước Ưu trường (nước Đà lịch trong Phật quốc kí), tạc một pho tượng Di lặc lớn bằng gỗ ngưu đầu chiên đàn. Truyện Linh vận trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ nói, chùa Na lan đà có thờ tượng Di lặc. Đại đường tây vực ký quyển 7, quyển 8 cũng chép, ngôi già lam ở phía tây bắc Thủ đô của nước Chiến chủ thờ tượng Di lặc. Ngôi tinh xá ở phía đông cây bồ đề nơi đức Phật thành đạo, có thờ tượng Di lặc bằng bạc cao hơn 2 mét.Tại Trung quốc, những kinh được dịch ra có liên quan đến tín ngưỡng Di lặc, bắt đầu từ đời Tây Tấn, trước sau có hơn 10 loại bản dịch, có thể qui nạp vào ba hệ thống: Thướng sinh, Hạ sinh và Bản nguyện. Liệt kê như sau: - Kinh Di lặc hạ sinh và kinh Di lặc bồ tát sở vấn bản nguyện do ngài Trúc pháp hộ dịch vào năm Đại an thứ 2 (303) đời Tây Tấn. - Kinh Di lặc đại thành Phật và kinh Di lặc hạ sinh thành Phật do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 4 (402) đời Diêu Tần. - Kinh Di lặc thướng sinh do Thư cừ kinh thanh (? -464) dịch vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều. - Kinh Di lặc lai thời được dịch vào đời Đông Tấn, không rõ dịch giả. - Kinh Di lặc bồ tát sở vấn do Bồ đề lưu chi dịch vào niên hiệu Vĩnh bình năm đầu đến năm Thiên bình thứ 2 (508-535) đời Bắc Ngụy. - Kinh Di lặc hạ sinh thành Phật do ngài Nghĩa tịnh dịch vào niên hiệu Đại túc năm đầu (701) đời Đường. - Kinh Di lặc bồ tát sở vấn do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào năm Cảnh long thứ 2 đến niên hiệu Khai nguyên năm đầu (708- 713) đời Đường. Từ các kinh trên đây người ta có thể biết tín ngưỡng Di lặc rất phổ biến. Tín ngưỡng Di lặc lại chia làm hai phái: 1. Thướng sinh tín ngưỡng: Phái này cho rằng hiện nay bồ tát Di lặc đang nói pháp trên cung trời Đâu suất và muốn sinh lên cung trời này. 2. Hạ sinh tín ngưỡng: Phái này tin rằng trong tương lai bồ tát Di lặc sẽ sinh xuống thế giới này, Ngài thành Phật dưới cây Long hoa, nói pháp ba hội cứu độ chúng sinh và chính mình cũng có thể sinh vào cõi này, được nghe pháp của Ngài mà thành Phật, do đó mới có thuyết Long hoa tam hội. Về phía những người theo tín ngưỡng Thướng sinh, thì trước tiên có ngài Đạo an (314-385). Cứ theo truyện Đạo an trong Lương cao tăng truyện quyển 5 chép, thì vua Phù kiên nhà Tiền Tần sai sứ đi Tây vực, khi trở về mang theo tượng Di lặc thêu có đính hạt châu, mỗi khi ngài Đạo an giảng pháp thì thường đem pho tượng này ra bày. Kế đến, có Đới ngung. Pháp uyển châu lâm quyển 16 ghi: Đới ngung đời Đông Tấn trong giấc mộng có người bảo thờ bồ tát Di lặc, sau Đới ngung tạc tượng Di lặc đứng để thờ ở chùa Long hoa tại Cối kê. Còn Danh tăng truyện sao thì nói, vào năm Nguyên gia thứ 9 (432) đời Lưu Tống thuộc Nam triều, ngài Pháp tường xây dựng tịnh xá Di lặc. Ngoài ra, những người thuộc tín ngưỡng Thướng sinh còn có: Đạo kiểu, Tăng nghiệp, Tuệ nghiêm, Đạo uông, Đạo pháp, Pháp thịnh, Đàm phó, Đàm bân v.v... Đến đời Đường, các ngài Huyền trang, Khuy cơ cũng mở rộng tín ngưỡng Thướng sinh Đâu suất, để rồi trở thành truyền thống của tông Pháp tướng. Về tín ngưỡng Hạ sinh cũng rất phổ biến. Cứ theo bài tựa Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, thì vua Minh đế (ở ngôi 465-471) nhà Lưu Tống soạn Long hoa thệ nguyện văn, Chu ngung soạn Kinh sư chư ấp tạo Di lặc tam hội kí, Tề kính lăng Văn tuyên vương soạn Long hoa hội kí. Ngài Nam nhạc Tuệ tư soạn Lập thệ nguyện văn, trình bày thuyết Di lặc hạ sinh. Hòa thượng Bố đại (Khế thử) thời Ngũ đại được coi là hóa thân của bồ tát Di lặc... Ngoài ra, sử sách các đời ghi chép trường hợp những kẻ mượn tín ngưỡng Di lặc hạ sinh để xuyên tạc văn kinh, xúi dục dân chúng làm loạn cũng không ít. Năm Đại nghiệp thứ 9 (613) đời Tùy, Tống tử hiền tự xưng là Di lặc giáng thế, tụ tập dân ngu làm loạn, phục kích đoàn xe của Dượng đế bị bắt. Hướng hải minh người huyện Phù phong, tỉnh Thiểm tây cũng tự xưng là Di lặc ra đời, kêu gọi dân chúng mưu phản. Đầu năm Khai nguyên (713-755) đời Đường, Vương hoài cổ người Bối châu tỉnh Hà bắc tự xưng là Phật mới (ngụ ý Phật Di lặc) nổi dậy và bị bắt. Thời vua Hi tông (873-888) nhà Đường, tín đồ Di lặc giáo ở vùng Tây thục mở rộng thanh thế, tổ chức thành hội Di lặc. Thời vua Nhân tông (ở ngôi 1022-1063) nhà Bắc Tống, có Vương tắc ở Bối châu lãnh đạo tín đồ Di lặc giáo nổi loạn. Bạch liên giáo ở đời Nam Tống và đời Nguyên sáp nhập với Di lặc giáo rồi mượn danh Di lặc hạ sinh mưu phản, mãi đến đời Minh, Thanh các tông giáo này vẫn còn lưu hành. Do tín ngưỡng Di lặc phổ cập nên việc tạo tượng Di lặc cũng rất thịnh hành từ xưa đến nay. Trong năm Kiến vũ đời Nam Tề, ngài Tăng hộ đã phát nguyện tạc pho tượng Di lặc bằng đá cao 40 mét ở núi Thạch thành, huyện Diệm, nhưng nguyện chưa thành đã qua đời. Về sau, ngài Tăng hựu hoàn thành tượng này vào năm Thiên giám 15 (516) đời Lương, được gọi là Tam thế thạch Phật, Diệm huyện đại Phật. Thời Bắc Ngụy, vua Hiến Văn đế tạc động Di lặc trong hang 13 ở Vân cương Đại đồng, tôn trí pho tượng ngồi cao 16 mét. Sau khi dời đô đến Lạc dương, Hiến văn đế còn tạo hang đá Long môn, trong đó có đến vài trăm pho tượng Phật lớn nhỏ được tạc trong khoảng những năm Thái hòa, Cảnh minh và Vĩnh bình. Ngoài ra, trên sườn núi Hoàng thạch ở Lịch thành thuộc tỉnh Sơn đông, và ở núi Thiên Phật cũng có rất nhiều tượng Di lặc được tạc vào đời Bắc triều. Các hình thức tạo tượng Di lặc ở Trung quốc đã ảnh hưởng rất nhiều đến bán đảo Triều tiên và Nhật bản.Tín ngưỡng Di lặc ở Trung quốc bắt đầu vào thời Nam Bắc triều, dần dần thịnh hành. Đến sau đời Đường, khi kinh A di đà được phiên dịch, thì rất nhiều người phát nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ cực lạc ở phương tây, do đó tín ngưỡng Di lặc không được thịnh hành như trước kia. Nhưng tín ngưỡng này vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong các đoàn thể tông giáo dân gian ở thế kỉ XIX, XX. Tại Hàn quốc và Nhật bản, từ xưa đến nay, tín ngưỡng Di lặc cũng rất thịnh hành. [X. Lương cao tăng truyện Q.13; Tỉ khưu ni truyện Q.2; Quảng hoằng minh tập Q.16; luận Biện chính Q.4; Tục cao tăng truyện Q.17, Q.19; Tống cao tăng truyện Q.4, Q.26; Phật tổ thống kỉ Q.40, Q.43; Pháp uyển châu lâm Q.29; Ngụy thư Q.9 Túc tông kỉ; sách Phủ nguyên qui Q.922; Tùy thư Q.23 Đại nghiệp cửu niên điều; Đường thư Q.183; Thái bình quảng kí Q.289; Tục tư trị thông giám trường biên Q.161; Tam quốc di sự Q.2; Nhật bản thư kỉ Q.20]. (xt. Đâu Suất Thiên).
di lặc tôn
Maitreyanātha (S).
di lặc tịnh độ
(彌勒淨土) Chỉ cho trời Đâu suất, là tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời thuộc cõi Dục. Nội viện Đâu suất là nơi sinh của bồ tát Bổ xứ, là nơi Phật Di lặc vị lai đang sống, cho nên được coi là Di lặc tịnh độ. Kinh Di lặc thướng sinh có nói về các tướng của Tịnh độ này để khuyên chúng sinh phát nguyện vãng sinh. (xt. Di Lặc Bồ Tát).
di lặc tịnh độ biến
(彌勒淨土變) Hình vẽ hoặc điêu khắc cảnh Tịnh độ của bồ tát Di lặc dựa theo sự miêu tả trong kinh Quán di lặc bồ tát thướng sinh đâu suất thiên. Cũng gọi Di lặc tịnh độ đồ, Di lặc thiên cung quan, Đâu suất thiên mạn đồ la. Tục cao tăng truyện quyển 12 chép, vị tăng đời Tùy là ngài Linh cán đã từng vẽ các bức tranh: Di lặc thiên cung quan và Liên hoa tạng thế giới hải quan. Các mục: Họa Di lặc thướng sinh tránh tán tinh tự và Họa Di lặc thướng sinh tránh kí trong Bạch thị văn tập quyển 61, quyển 70 cũng ghi: Vào năm Thái hòa thứ 8 (834), ở chùa Trường thọ tại Lạc dương có 140 người gồm Đạo tung v.v... bỏ tiền thuê vẽ một bức tranh Di lặc thướng sinh gồm nội ngoại chúng ở cung trời Đâu suất đà. Vào năm Khai thành thứ 5 (840), ông Bạch cư dị cũng vẽ một bức giống như thế.
di lặc tự
(彌勒寺) Chùa ở Kim mã diện, quận Ích sơn, tỉnh Toàn la bắc thuộc Hàn quốc, do Bách tế vũ vương (600-640) sáng lập vào đầu thế kỉ VII, cũng gọi Vương hưng tự (chùa do vua xây cất). Có thuyết cho rằng chùa này do Pháp vương - thân phụ Vũ vương - xây dựng nhưng chưa xong, lúc đầu gọi là Vương hưng tự, đến thời Vũ vương hoàn thành, đổi tên là Di lặc tự. Cứ theo Triều tiên thiền giáo sử chép, thì Vũ vương và Vương phi đến lễ Phật ở chùa Sư tử, khi đang đi bên cạnh một hồ nước lớn ở chân núi Long hoa, đích thân thấy Di lặc tam tôn hiển hiện, vua liền nảy ra ý định sáng lập một ngôi đại già lam ở nơi ấy. Khi trở về, vua mời pháp sư Tri mệnh vào cung ngỏ ý làm chùa và bàn cách lấp hồ. Pháp sư liền hiển hiện sức thần thông, chỉ trong một đêm núi lở đá rơi, lấp hết hồ thành một khoảng đất bằng phẳng, từ đó xây cất ngôi đại già lam mang tên Di lặc tự. Chùa chia làm ba viện: Viện Đông tháp, viện Trung tháp và viện Tây tháp. Đây là ngôi già lam lớn nhất ở bán đảo Triều tiên. Hiện nay trên nền cũ còn hai cây thạch chàng (cột đá cắm cây phướn), Tây tháp và những hòn đá tảng. Tây tháp cũng gọi Đại tháp, được xây bằng đá, có sáu tầng, cao 13,50 mét, đã hư hại nhiều, là ngôi tháp bằng đá lớn nhất, lâu đời nhất hiện còn sót lại ở Triều tiên. [X. Tam quốc di sự Q.2, Q.3; Tam quốc sử kí Q.27].
di lặc đại thành phật kinh
(彌勒大成佛經) Có một quyển. Một trong ba bộ kinh về Di lặc, một trong sáu bộ kinh. Gọi tắt: Di lặc thành Phật kinh, do ngài Cưu ma la thập dịch, đưa vào Đại tạng tập 14. Trong các bộ kinh Di lặc, kinh này hoàn chỉnh nhất, cả về hình thức lẫn nội dung cho nên mới dùng chữ Đại. Kinh này ghi lại việc đức Phật ở núi Ba sa thuộc nước Ma già đà trả lời câu hỏi của tôn giả Xá lợi phất về thời đại và quốc độ của bồ tát Di lặc ra đời. Kinh này phần lớn giống với kinh Di lặc hạ sinh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8].
di lệ xa
Mleccha (skt). 1) Người man rợ, hung dữ: Barbarian, foreigner, wicked. 2) Vẻ mặt hung hăng: Defined as ill-looking. 3) Một từ dùng để chỉ những bộ tộc hay giống người ngoại đạo: A term for non-Buddhist tribe or people.
; (彌戾車) Phạm: Mleccha. Chỉ chủng tộc thấp hèn ở nơi biên giới. Cũng gọi Di li xa, Miệt lệ xa, Mật liệt xa, Nghi lệ xa, Tất lật tha. Hán dịch là Biên địa, giống người mọi rợ, hèn hạ ở nơi biên thùy. Nguyên ý của tiếng Phạm Mleccha có nghĩa là người nói tiếng không được rõ ràng, như phía nam Trung quốc có giống người lưỡi chim quyết (nói líu nhíu khó nghe). Từ đó dẫn đến ý ám chỉ kẻ ngu ngốc ti tiện, giống người không ưa Phật pháp. Tương truyền giống người này ở về mạn tây hoặc mạn bắc Ấn độ. Như luận Đại tì bà sa quyển 121 và quyển 183 bảo giống người này ở phía tây Ấn độ. Đại đường Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 2 nói, giống người này ở phía bắc nước Lạm ba thuộc miền bắc Ấn độ. [X. luật Thập tụng Q.26; luận Du già sư địa Q.20; Du già luận kí Q.6 thượng; Tục cao tăng truyện Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.2].
di lệ xa, miệt lệ xa
Mleccha (S). Barbarian, foreigner, wicked; defined as "ill looking", a term for a non Buddhist tribe or people.
di lệ đa
Xem quỉ đói.
di man sa học phái
Mimamasa (S)Một trong 6 giáo phái Phệ đà vào thế kỳ thứ nhì. Tổ là Jaimini (Kỳ mễ ní). Kinh căn bản là Di man sa, chuyên thực hành nghi lễ tế tự.
di man sai kinh
Mimansa sŪtra (S)Kinh của phái Di man sai (kinh Phệ đà).
di man sai phái
Mimansa (S)Tùng Duyên Hiển Liễu TôngHọc phái xưa vào thế kỷ II BC chuyên nghiên cứu kinh Phệ đà.
Di mưu
(貽謀): vốn phát xuất từ câu “di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử (詒厥孫謀、以燕翼子, trao truyền mưu kế cho đàn cháu để làm yên cho đàn con)” trong Thi Kinh (詩經), chương Đại Nhã (大雅), phần Văn Vương Hữu Thanh (文王有聲). Về sau, từ di mưu được dùng với ý nghĩa là lời giáo huấn, dạy dỗ của ông bà đối với con cháu. Như trong bài Hàn Duy Tổ Bảo Xu Lỗ Quốc Công Chế (韓維祖保樞魯國公制) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Thượng dĩ báo di mưu chi đức, hạ dĩ lệ di hiếu chi thành (上以報貽謀之德、下以勵移孝之誠, trên báo đáp dạy dỗ ân đức, dưới khích lệ hiếu nghĩa lòng thành).” Trong Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (維摩經無我疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 5 có đoạn: “Nhược vị đắc Pháp Thân, đản tác Ý Đẳng Thí, tức thị Vô Ngại Pháp Thí, thử diệc tiên hiền chi cách ngôn, sơ học chi di mưu dã (若未得法身、但作意等施、卽是無閡法施、此亦先賢之格言、初學之貽謀也, nếu chưa chứng đắc Pháp Thân, mà thực hành Bố Thí Bình Đẳng, tức là Pháp Thí Không Ngại; đây chính là cách ngôn của hiền Thánh đi trước, là lời giáo huấn cho hàng mới vào đạo).”
di mạn sai học phái
(彌曼差學派) Di mạn sai, Phạm: Mìmàôsà, có nghĩa khảo sát, nghiên cứu. Một trong sáu phái triết học của Ấn độ. Phái này coi trọng tế tự, chủ trương âm thanh là thường trụ. Cũng gọi Di mâu sa học phái, Di tức già học phái, Nhĩ mạn sai học phái. Ở Ấn độ, những người nghiên cứu kinh điển Phệ đà của Bà la môn đời xưa được chia làm hai phái: 1. Phái căn cứ vào phần Nghi quĩ, Thích nghĩa trong nửa trước của Phạm thư, lấy việc tế tự làm trọng tâm, tức là phái lấy phẩm Phệ đà hành tế làm đối tượng nghiên cứu. 2. Phái căn cứ vào Áo nghĩa thư trong nửa sau của Phạm thư, mục đích chủ yếu là khảo sát về Phạm, tức là phái lấy phẩm Phệ đà trí làm đối tượng nghiên cứu.Hai phái trên đây đều gọi là Di mạn sai học phái, phái trước còn gọi là Nghiệp di mạn sai học phái (Phạm: Karmamìmàôsà), Tiền di mạn sai học phái (Phạm: Pùrva- mìmàôsa); phái sau cũng gọi là Phệ đàn đa học phái (Phạm:Vedànta), Trí di mạn sai học phái (Phạm: Jĩànamìmàôsa), Hậu di mạn sai học phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà). Quan hệ giữa hai phái rất mật thiết, bởi vì cả hai đều coi Phệ đà thiên khải (zruti) là quyền uy tối cao, đại biểu cho tư tưởng Bà la môn chính thống. Phái Di mạn sai nói ở đây tức là phái trước, do Kì mễ ni (Phạm: Jaimini) sáng lập vào khoảng thế kỉ thứ II, III trước Tây lịch. Kinh luận Phật giáo gọi phái này là Thanh hiển luận, Tòng duyên hiển liễu tông, chủ trương tiếng nói của Phệ đà là tuyệt đối thường trụ và lấy pháp (dharma) tế tự trong Phệ đà làm tông chỉ. Thánh điển của phái này được biên soạn xong vào khoảng thế kỉ II (có thuyết nói thế kỉ V, VI) Tây lịch gồm 12 chương 60 tiết 2742 câu. Tương truyền kinh này là tác phẩm của Kì mễ ni gọi là kinh Tiền di mạn sai hoặc kinh Di mạn sai. Khoảng thế kỉ V, VI Tây lịch, các bản chú thích kinh Di mạn sai và kinh Phệ đàn đa lục tục xuất hiện, vì trong thời kì này, phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa hợp tác với nhau, bổ sung những chỗ thiếu sót của nhau để nêu cao tư tưởng chính thống Bà la môn. Cho đến thế kỉ thứ VI, nhằm bài bác thuyết Vô ngã của Phật giáo, Tát bạt la tư mã mễ (Phạm: Zabarasvàmin) chú thích kinh Di mạn sai, tức là sách Tát bạt la chú (Phạm:Zabara-bhàwya) là tác phẩm kinh Di mạn sai xưa nhất và có uy tín nhất hiện còn đến nay. Vào thế kỉ thứ VII, Cưu ma lị la (Phạm: Kumàrila, Đồng trung tôn), Bà la bạt già la (Phạm:Prabhàkara) v.v... nối nhau xuất hiện, lại giải thích Tát bạt la chú, áp dụng thuyết của các học phái khác như Nhân minh, Lượng luận v.v... để phu diễn thuyết của phái mình và đề xướng nhiều nghĩa mới.Cưu ma lị la ra sức công kích Phật giáo, cổ xúy tư tưởng Bà la môn, môn đệ của ông này sau lập phái riêng gọi là Ba đạt phái (Phạm:Bhàỉỉi). Còn phái Bà la bạt già la thì gọi là Cổ lỗ phái (Phạm:Guru) phồn thịnh một thời, sau dần dần suy vi. Từ đó trở đi phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa li khai, thậm chí đối chọi lẫn nhau. Nhưng phái Cưu ma lị la đến đời sau vẫn còn sức sống, và những sách chú thích của phái này đến nay cũng vẫn còn. (X. luận Thành duy thức Q.1; luận Kim cương châm; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu]. (xt. Thanh Luận).
di mạn sai kinh
(彌曼差經) Phạm:Mìmàôsà-sùtra. Thánh điển căn bản của phái Di mạn sai, một trong sáu phái triết học Ấn độ. Tương truyền kinh này do Kì mễ ni (Phạm:Jaimini) sáng tác vào khoảng thế kỉ II, III trước Tây lịch. Đến khoảng thế kỉ thứ II sau Tây lịch lại do người sau biên soạn thành 12 chương 60 tiết 2742 câu, chia làm 915 luận đề, là Thánh điển lớn nhất trong sáu phái triết học. Kinh này cốt yếu bàn về giáo pháp (dharma), giáo lệnh (Phạm: codanà) v.v.. trong kinh Phệ đà, nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người Nhã lợi an (Aryan), vì ngay trong những hành động và lời nói hàng ngày của họ đều được qui định bởi những nghi thức và phép tắc tế tự mang đầy tính quyền uy. Đứng về phương diện hình thức và tính chất mà nói thì kinh này có thể được chia làm hai phần: Thần ca (Phạm: Mantra) và Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa), nhưng về nội dung thì có thể chia thành năm loại: 1. Nghi quĩ (Phạm: Vidhi) chiếm phần lớn trong sách này, bao gồm những phép tắc tỉ mỉ như: Các thần trong lễ tế, vật cúng tế, người chủ tế, thứ tự việc tế, quan tế (gia trưởng) v.v... 2. Thần ca: Tức là ba thứ trong kinh Phệ đà: Tán ca, Ca vịnh, Tế từ. 3. Danh xưng (Phạm: Nàmadheya): Là những tên gọi điển tế trong các kinh Phệ đà, như: Hỏa tế, Tâm mãn nguyệt tế v.v... 4. Cấm chế (Phạm: Niwedha): Nói rõ những việc phải ngăn cấm trong nghi thức cúng tế. 5. Thích nghĩa (Phạm:Arthavàda): Giải thích về nguồn gốc và công đức của những nghi thức cúng tế. Những điều trên đây đều liên quan đến việc cúng tế, nguồn gốc tri thức của chúng đều thuộc tính chất thiên khải (Thánh giáo lượng), chứ không phải những vấn đề chủ yếu của nhân sinh hoặc tư tưởng. Bởi thế, đứng về mặt giá trị triết học mà nói, thì chúng không có một ý nghĩa đặc thù nào. Nhưng, nếu loại bỏ phần nghi thức tế tự trong kinh đi, phần còn lại là tìm hiểu tính chất tuyệt đối của Phệ đà, thì đó là một trong những luận đề quan trọng từ xưa đến nay trong triết học Ấn độ. Đây cũng là luận đề bàn thảo về âm thanh (Phạm: zabda) là thường trụ hay là vô thường. Kinh này chủ trương âm thanh là thực tại tồn tại trong vũ trụ, tất cả lời cầu đảo đều có sức thần bí tuyệt đối: đây tức là Thanh thường trụ luận và luận điểm này cũng có liên quan đến các học phái khác như: Ni dạ da (Phạm: Nyàyika), Thắng luận (Phạm: Vaizewika) và cả với Phật giáo nữa. Phái Di mạn sai lại căn cứ vào Thanh thường trụ luận mà triển khai phương pháp nghiên cứu làm năm giai đoạn, tức là: đối tượng nghiên cứu, những điểm còn ngờ, luận phản đối, định thuyết phản bác và các luận khác. Phái này xác lập cơ sở trên năm phương pháp trên để tìm cầu tri thức. Đây là điểm rất có ý nghĩa về lịch sử tư tưởng trong triết học Ấn độ. Sách chú thích quan trọng nhất của kinh này là Tát bạt la chú (Phạm: Zabarabhàwya) do Tát bạt la tư mã mễ (Phạm: Zabarasvàmin) soạn. [X. Ấn dộ triết học nghiên cứu Q.1 (Vũ tỉnh Bá thọ)].
di mẫu
Mother's sister.
di ngôn
Di giáo—The last words—Wishes.
di pháp
See Di Huấn.
di quan
Di chuyển quan tài từ giữa nhà ra để làm lễ di quan trong ngày thứ ba—To remove the coffin to the hall for the masses for the dead on the third day after the encoffinment.
di quang
(彌光) (? - 1155) Vị tăng tông Lâm tế đời Tống, hiệu Hối am, biệt hiệu Thiền trạng nguyên, Quang trạng nguyên. Sư người Trường lạc, Mân châu (Phúc kiến), họ Lí. Năm 18 tuổi sư xuất gia thụ giới, từng tham học nơi các Thiền sư Viên ngộ Khắc cần, Hoàng bá Cảnh tường, Cao am Thiện ngộ v.v... Sau sư đắc pháp nơi Thiền sư Đại tuệ Tông cảo và nối pháp của ngài. Biệt hiệu Thiền trạng nguyên của sư chính do ngài Tông cảo đặt cho.Lúc đầu, sư hoằng pháp ở Cổ sơn, không bao lâu, nhận trụ trì chùa Hiếu trung ở Tuyền châu trải 10 năm. Sau sư dời đến ở Qui sơn thuộc Phúc châu, rồi vì bệnh nên trở về am Vân môn. Năm Thiệu hưng 25 đời vua Cao tông sư tịch. Sư có soạn: Hối am quang trạng nguyên hòa thượng ngữ yếu truyền ở đời. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.18; Liên đăng hội yếu Q.17].
di sa tắc
Mahisasaka (skt)—Di sa tắc Luật, một trong năm bộ luật của Đại Chúng Bộ (sau khi Đức Phật nhập diệt chừng 100 năm, tổ thứ tư là Ưu Ba Cúc Đa có năm vị đệ tử, diễn giảng Luật Tạng thành năm bộ phái khác nhau, gọi là Ngũ Bộ Luật, Di sa Tắc là một trong năm bộ luật nầy)—The Mahasasaka Vinaya, one of the five divisions of the Sarvastivadah school
di sa tắc bộ
Mahīśāsaka (S), Mahiṃsāsaka (S, P)Hóa địa bộMộ trong 11 bộ phái trong Thượng tọa bộ.
di sa tắc bộ hoà nê ngũ phần luật
Xem Ngũ phần luật.
di sa tắc bộ ngũ phần luật
Xem Ngũ phần luật.
; (彌沙塞部五分律) Phạm: Mahizàsakavinaya, 30 quyển. Cũng gọi Di sa tắc bộ hòa hi ngũ phần luật, Di sa tắc luật, Ngũ phần luật, do các ngài Phật đà thập và Trúc đạo sinh dịch vào đời Lưu Tống, đưa vào Đại chính tạng tập 22. Đây là tạng luật do Di sa tắc bộ (Hóa địa bộ) lưu truyền. Bản chữ Phạm do ngài Tam tạng Pháp hiển thỉnh được ở nước Sư tử (Tích lan), đến tháng 12 năm Cảnh bình thứ 2 (424) mới được phiên dịch ở chùa Long quang tại Kiến nghiệp (Nam kinh). Bộ luật này có năm phần nên gọi là Ngũ phần: - Phần đầu từ quyển 1 đến 10 là 251 giới tỉ khưu bao gồm 4 háp Ba la di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 91 pháp Đọa, 4 pháp Hối quá, 100 pháp Chúng học, 7 pháp Diệt tránh... - Phần hai từ quyển 11 đến 14 là 370 giới tỉ khưu ni bao gồm 8 pháp Ba la di, 17 pháp Tăng tàn, 30 pháp Xả đọa, 207 pháp Đọa, 8 pháp Hối quá và 100 pháp Chúng học... - Phần ba từ quyển 15 đến quyển 22 bao gồm pháp thụ giới, pháp Bố tát, pháp an cư, pháp tự tứ, pháp y (áo), pháp bì cách (giày dép), pháp dược (thuốc), pháp thực (ăn uống), pháp ca hi na y... - Phần bốn từ quyển 23 đến quyển 24 bao gồm pháp Diệt tránh, pháp Yết ma. - Phần năm từ quyển 25 đến 30 bao gồm pháp phá tăng, pháp ngọa cụ, pháp tạp, pháp uy nghi, pháp già bố tát, pháp biệt trụ, pháp điều phục, pháp tỉ khưu ni, pháp ngũ bách tập, pháp thất bách tập v.v... Trong các phần trên, 19 pháp từ pháp thụ giới phần ba đến pháp tỉ khưu ni phần năm là phẩm Kiền độ, tức là chia loại và giải thích các nghi thức hành sự, yết ma trong chúng tăng, cho đến những điều luật qui định các việc ăn, ở, mặc hàng ngày. Thời gần đây các học giả đã nghiên cứu đối chiếu luật tạngPàlivới các bộ luật Hán dịch và đều cho rằng bộ luật này gần giống với các tạng luậtPàli hơn cả, nhưng nó lại không được lưu truyền rộng rãi ở Trung quốc. Ngoài ra, ngài Phật đà thập còn dịch Di sa tắc ngũ phần giới bản 1 quyển. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1 phần trên; Cao tăng pháp hiển truyện; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.3, Q.15; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, Q.6, Q.9; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2; Pháp kinh lục Q.5].
di sơn
Dời non lấp biển—To remove mountains.
di sơn kinh
(移山經) Có 1 quyển, ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, gọi đủ là Lực sĩ di sơn kinh, thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kể lại việc đức Phật lúc về già ở thành Câu di na kiệt hiển bày sức thần thông ném lên cõi Phạm thiên một tảng đá mà 500 người chủng tộc Mạt la không dời nổi. Sau đó, Ngài lại thị hiện sức thần túc, trí tuệ, ý hành. Đức Phật tuy có mười lực thù thắng, nhưng cuối cùng vì sức vô thường nên Ngài cũng phải xả bỏ sắc thân mà vào Niết bàn. Kinh này tương đương với kinh thứ ba trong phẩm 42 của Tăng nhất a hàm, nhưng nội dung có nhiều chỗ khác nhau.
Di Sơn Kiểu Nhiên
(怡山皎然, Isan Kōnen, ?-?): nhân vật sống vào khoảng cuối thời nhà Đường, pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), xuất thân Phúc Châu (福州), Tỉnh Phúc Kiến (福建省). Ông trú tại Trường Sanh Sơn (長生山), thông xưng là Trường Sanh Kiểu Nhiên (長生皎然) và được xem như là người viết ra bản Di Sơn Nhiên Thiền Sư Phát Nguyện Văn (怡山然禪師發願文).
Di Sơn Nhiên Thiền Sư Phát Nguyện Văn
(怡山然禪師發願文): 1 quyển, do Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, Isan Kōnen, ?-?) trước tác, san hành vào năm thứ 12 (1800) niên hiệu Khoan Chính (寬政). Đây là tác phẩm dành cho người xuất gia, phát khởi Tứ Hoằng Thệ Nguyện, mở ra cơ sở cho hàng vạn hạnh tu tập. Nó được lưu hành rộng rãi trong chốn tùng lâm xưa nay, và có khá nhiều sách chú thích về nó như Di Sơn Lễ Phật Phát Nguyện Văn Lược Thích (怡山禮佛發願文略釋), Di Sơn Nhiên Thiền Sư Nguyện Văn Sớ (怡山然禪師願文疏), v.v. Về người trước tác ra cuốn này có nhiều thuyết khác nhau. Phần lớn người ta chấp nhận là do Kiểu Nhiên, đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, viết nên; nhưng cũng có thuyết cho là do một vị tăng của Thiên Thai Tông trước tác.
di sản
Hertage—Inherited property.
Di thiên
(彌天): có hai nghĩa chính. (1) Tỷ dụ ý chí cao ngất trời. Như trong bài thơ Tống Tánh Nguyên Thượng Tọa Hoàn Thanh Phố (送性原上座還青浦) của Kim Nông (金農, 1687-1764) nhà Thanh có câu: “Thành Phật mạc giáo linh vận hậu, di thiên đắc tợ Đạo An vô (成佛莫敎靈運後、彌天得似道安無, thành Phật chớ bảo thời vận hậu, ý chí ai bằng Đạo An đây).” Từ đó, Di Thiên cũng được dùng thay thế cho Thích Đạo An (道安, 312[314]-385), nhân vật trung tâm của Phật Giáo thời Đông Tấn. Như trong bài thơ Tống Trọng Chế Đông Du Kiêm Ký Trình Linh Triệt Thượng Nhân (送仲制東遊兼寄呈靈澈上人) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Kinh Châu bổn tự trọng Di Thiên, Nam Triều tháp miếu do y nhiên (荊州本自重彌天、南朝塔廟猶依然, Kinh Châu vốn kính trọng Di Thiên, Nam Triều tháp miếu còn y nguyên).” (2) Đầy trời, ngất trời. Như trong bức Báo Đông Hải Tương Lương Quý Nhiên Thư (報東海相梁季然書) của Ứng Cừ (應璩, 190-252) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Đốn di thiên chi võng, thu vạn nhận chi ngư (頓彌天之網、收萬仞之魚, bủa khắp trời lưới võng, thâu vạn thước cá to).” Hay trong Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Ngữ Lục (古林清茂禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1412) quyển 5, phần Vô Lượng Thọ Phật Tượng Tán (無量壽佛像讚), có đoạn: “Chiêm lễ vô vong thập nhị thì, cố hương đoan khả dữ tâm kỳ, di thiên tướng hảo thanh lương nguyệt, ánh nhật liên khai bạch ngọc trì (瞻禮無忘十二時、故鄉端可與心期、彌天相好清涼月、映日蓮開白玉池, chiêm lễ đâu quên mười hai thời, cố hương trông ngóng tâm muôn nơi, khắp trời tướng tốt trăng trong sáng, trời tỏ sen khai ngọc trắng phơi).”
Di thiên 彌天
[ja] ミテン miten ||| All of space. => Khắp trời.
Di thiết
(彌切): tha thiết, da diết. Như trong quyển thứ 76 của Đại Nhật Bản Sử (大日本史, Dainihonshi) có đoạn: “Trung cung châu kỵ, đương lai nguyệt nhị thập bát nhật, lễ chế hốt chung, tân tuế tu cập, kỵ cảnh nga lâm, di thiết võng cực chi thống (中宮周忌、當來月二十八日、禮制忽終、新歲須及、忌景俄臨、彌切罔極之痛, lễ kỵ trong cung, nhằm ngày 28 tháng sau, tang chế chợt hết, năm mới lại đến, cảnh kỵ chợt về, đau xót nhớ tưởng song thân vô cùng tận).” Hay trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 788, Tả Phụ Nguyên (左輔元) có hai câu liên cú rằng: “Kinh trúc xuy di thiết, quá tùng vận cánh u (經竹吹彌切、過松韻更幽, qua trúc thổi da diết, xuyên tùng tiếng lại buồn).”
di thê la thành
Mithila (S)Kim Đới thành, Di hi la thành, Di tát la thành Xem Di thê la thành.
; (彌梯羅城) Di thê la, Phạm; Pàli: Mìthilà. Cũng gọi Di tát la thành, Di hi la thành, Nhĩ si la thành, Di di thành, Vô di thành. Hán dịch: Lượng thành, Phân trất thành, Kim đới thành. Tòa thành cổ ở Trung Ấn độ, là thủ đô của nước Tì đề ha (Phạm: Videha), thuộc chủng tộc Bạt kì (Phạm: Vfji). Nước này có khu rừng Đại thiên nại là nơi mà ngày xưa đức Phật đã nói về truyện tích tiền thân của Đại thiên vương. Cứ theo kinh Di lặc hạ sinh chép, thì nước này có đại tạng Bát trù (Phạm:Pàịđuka) là một trong bốn Đại tạng. Từ giữa thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XVI vùng này do Vương triều Bà la môn thống trị và theo nhà khảo cổ học người Anh là ông Cunningham thì thành Di thê la ở vào khu vực Janakpur ngày nay. Tì đề ha còn gọi Vĩ đề ha, Ti đà đề. Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 15 chép, ở đời quá khứ, khi đức Phật làm vua nước Vĩ đề ha, tâm Ngài rất từ bi. Kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 chép, tương truyền việc A xà thế nước Ma yết đà đánh dân tộc Bạt kì nước Vĩ đề ha không thắng, bèn xây thành Hoa thị để phòng ngự. Lại nữa, mẹ đẻ của vua A xà thế là người thuộc tộc Vĩ đề ha cho nên có tên là Vi đề hi (Pàli: Vedehì). [X. Trung a hàm Q.14 kinh Đại thiên nại lâm; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.1 phẩm Thắng tộc; kinh Lục độ tập Q.8; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung, A. Cunningham: Ancient Geography of India].
di thù ca
Majuka (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
di truyền
Heredity.
di trì già tháp
Mṛttika (S)Tháp kỷ niệm dấu chân Phật.
; (彌遲伽塔) Di trì già, Phạm: Mfttika. Cứ theo phẩm Chuyển diệu pháp luân 37 trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 33 chép, thì lúc đức Phật mới thành đạo, Ngài muốn đến vườn Lộc dã gần thành Ba la nại để hóa độ năm người tiên, liền bay qua sông Hằng, hướng về Ba la nại, đáp xuống bên cạnh ao rồng. Chúa rồng ở ao này tên là Thương khư bèn xây tháp ở chỗ bàn chân đức Phật đặt xuống, gọi là tháp Di trì già.
di tích
Tracks—Evidences—Vestiges—Remains—Trace—Examples left behind.
Di Tắc
(夷則): có hai nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Loan Kính (鸞敬, rankei) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Quốc Ngữ (國語), chương Chu Ngữ Hạ (週語下) có ghi rằng: “Ngũ viết Di Tắc, sở dĩ vịnh ca cửu tắc, bình dân vô nhị dã (五曰夷則、所以詠歌九則、平民無貳也, thứ năm là Di Tắc, sở dĩ vịnh ca chín tắc, vì dân thường không có hai vậy).” Vi Chiêu (韋昭, 204-273) chú giải rằng: “Di, bình dã; Tắc, pháp dã; ngôn vạn vật ký thành, khả pháp tắc dã (夷、平也、則、法也、言萬物旣成、可法則也, Di là bình [bình ổn], Tắc là pháp [phép tắc]; có nghĩa là vạn vật đã hình thành, có thể tuân theo phép tắc vậy).” (2) Tên gọi khác của tháng 7 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Thất nguyệt kiến Thân viết Thôn Than, hựu viết Di Tắc, diệc danh Mạnh Thu, hựu xưng Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt đẳng (七月建申曰涒灘、又曰夷則、亦名孟秋、又稱相月、巧月等, tháng Bảy kiến Thân, gọi là Thôn Than, còn gọi là Di Tắc, cũng có tên là Mạnh Thu, hoặc gọi là Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Di Tắc rằng: “Thân vi Di Tắc, thất nguyệt chi thần danh Thân; Thân giả, thân dã; ngôn vạn vật giai thân thể nhi thành tựu, cố danh vi Thân (申爲夷則、七月之辰名申、申者、身也、言萬物皆身體而成就、故名爲申, Thân là Di Tắc, chi của tháng bảy là Thân; Thân là thân [thân thể]; nghĩa là vạn vật đều nhờ thân thể mà thành tựu, nên có tên là Thân).” Trong Đại Sử Chú Pháp Kinh (大使咒法經, Taishō Vol. 21, No. 1268) có câu: “Thời Bảo Lịch tứ Giáp Tuất Thu Di Tắc trung hoán (時寶曆四甲戌秋夷則中浣, lúc bấy giờ là trung tuần tháng 7 mùa Thu năm Giáp Tuất [1754], niên hiệu Bảo Lịch thứ 4).” Hay trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22 cũng có câu: “Thời Bảo Vĩnh thất niên tải thứ Canh Dần Di Tắc cửu nhật Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh (時寶永七年載次庚寅夷則九日四聖坊法印晉性, lúc bấy giờ là ngày mồng 9 tháng 7 năm Canh Dần [1710] niên hiệu Bảo Vĩnh thứ 7, Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh).”
; (夷則): (1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Loan Kính (鸞敬, rankei) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Quốc Ngữ (國語), chương Chu Ngữ Hạ (週語下) có ghi rằng: “Ngũ viết Di Tắc, sở dĩ vịnh ca cửu tắc, bình dân vô nhị dã (五曰夷則、所以詠歌九則、平民無貳也, thứ năm là Di Tắc, sở dĩ vịnh ca chín tắc, vì dân thường không có hai vậy).” Vi Chiêu (韋昭, 204-273) chú giải rằng: “Di, bình dã; Tắc, pháp dã; ngôn vạn vật ký thành, khả pháp tắc dã (夷、平也、則、法也、言萬物旣成、可法則也, Di là bình [bình ổn], Tắc là pháp [phép tắc]; có nghĩa là vạn vật đã hình thành, có thể tuân theo phép tắc vậy).” (2) Tên gọi khác của tháng 7 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Thất nguyệt kiến Thân viết Thôn Than, hựu viết Di Tắc, diệc danh Mạnh Thu, hựu xưng Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt đẳng (七月建申曰涒灘、又曰夷則、亦名孟秋、又稱相月、巧月等, tháng Bảy kiến Thân, gọi là Thôn Than, còn gọi là Di Tắc, cũng có tên là Mạnh Thu, hoặc gọi là Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Di Tắc rằng: “Thân vi Di Tắc, thất nguyệt chi thần danh Thân; Thân giả, thân dã; ngôn vạn vật giai thân thể nhi thành tựu, cố danh vi Thân (申爲夷則、七月之辰名申、申者、身也、言萬物皆身體而成就、故名爲申, Thân là Di Tắc, chi của tháng bảy là Thân; Thân là thân [thân thể]; nghĩa là vạn vật đều nhờ thân thể mà thành tựu, nên có tên là Thân).” Trong Đại Sử Chú Pháp Kinh (大使咒法經, Taishō Vol. 21, No. 1268) có câu: “Thời Bảo Lịch tứ Giáp Tuất Thu Di Tắc trung hoán (時寶曆四甲戌秋夷則中浣, lúc bấy giờ là trung tuần tháng 7 mùa Thu năm Giáp Tuất [1754], niên hiệu Bảo Lịch thứ 4).” Hay trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22 cũng có câu: “Thời Bảo Vĩnh thất niên tải thứ Canh Dần Di Tắc cửu nhật Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh (時寶永七年載次庚寅夷則九日四聖坊法印晉性, lúc bấy giờ là ngày mồng 9 tháng 7 năm Canh Dần [1710] niên hiệu Bảo Vĩnh thứ 7, Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh).”
di đa la ni
Xem Thiện tri thức.
di đà
Amitabha (skt)—See A Di Đà in Vietnamese-English Section, and Amitabha in Sanskrit-Pali-Vietnamese Section.
di đà bản nguyện
(彌陀本願) Những lời thệ nguyện của đức Phật A di đà. Ở thời quá khứ Phật A di đà còn là tỉ khưu Pháp tạng đã lập thệ nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh và nếu những thệ nguyện này không được viên mãn thì Ngài không thành Phật. Có 48 điều nguyện, trong đó, nguyện thứ 18 được gọi là Di đà bản nguyện, hoặc Di đà danh nguyện. Nội dung của điều nguyện này nói rằng bất luận người nào, hễ xưng niệm danh hiệu của Ngài đều có thể nhờ công đức xưng niệm ấy mà được vãng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Nếu như ta thành Phật, chúng sinh ở mười phương dốc lòng tin ưa muốn sinh về nước ta, nếu niệm danh hiệu của ta cho đến chỉ mười niệm thôi, mà không được vãng sinh, thì ta không lên ngôi chính giác.
di đà bổn tánh tịnh độ duy tâm
1) Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, sự nhiếp cơ của Tịnh Độ quả là rộng lớn, không thể nghĩ bàn, nhưng chúng ta thường nghe nói “Di Đà Bổn Tánh Tịnh Độ Duy Tâm.” Nghĩa lý của câu nầy thế nào? Tịnh Độ là miền Cực Lạc ngoài mười muôn ức cõi Phật, Di Đà là vị giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc. Ý nói chân tâm của chúng sanh rộng rãi và sáng suốt vô cùng—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the gathering power of the Pure Land method is trully all-embracing and unconceivable. However, we always hear such expression as “Self-Nature Amitabha, Mind-Only Pure Land.” What is the meaning of this expression? The Pure Land is the land of Ultimate Bliss, ten billion Buddha lands from here, and Amitabha Buddha is the teacher of that land. It means that the True Mind of sentient beings is all-extensive and all-illuminating. 2) Kinh Lăng Nghiêm nói: “Những non sông, đất liền cho đến hư không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh vật trong chân tâm mầu sáng. Các pháp sanh hóa, đều là hiện cảnh của duy tâm.” Như thế thì đâu có cõi Phật nào ngoài tâm ta. Cho nên ý nghĩa của Tịnh Độ duy tâm là nói cõi Tịnh Độ ở trong chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô lượng bóng bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại như những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào chẳng phải là đất; cũng như không có cõi Phật nào chẳng phải là tâm. Thế nên cổ đức có nói: “Chỉ một tâm nầy có đủ bốn cõi: Phàm Thánh đồng cư, Phương tiện hữu dư, Thật báo vô chướng ngại, và Thường tịch quang—The Surangama Sutra states: “The various mountains, rivers and continents, even the empty space outside our physical body, are all realms and phenomena within the wonderful, bright True Mind. Phenomena which are born, they are all manifestations of Mind-Only.” Therefore, where can you find a Buddha land outside the Mind? Thus, the concept of Mind-Only Pure Land refers to the Pure Land within our True Mind. This is no different from the ocean, from which springs an untold number of bubbles, none of which is outside the wide ocean. It is also like the specks of dust in the soil, none of which is not soil. Likewise, there is no Buddha land which is not Mind. Therefore, ancient sages and saints have said: “This single mind encompasses the four kinds of lands in their totality: the Land of Common Residence of beings and saints, the Land of Expediency, the Land of True Reward, and the Land of Eternally Tranquil Light. ** See Bốn Cõi Tịnh Độ and Bốn Cõi Duy Tâm.
di đà cung
(彌陀供) Cũng gọi Di đà hộ ma. Pháp tu cúng dường đức Phật A di đà để truy tiến và hồi hướng cho vong linh người chết.
di đà lợi kiếm
(彌陀利劍) Kiếm sắc Di đà. Nghĩa là Thánh hiệu của đức Phật A di đà giống như thanh kiếm sắc bén, có thể dùng để chặt trừ mọi tội. Bởi vì xưng niệm Thánh hiệu thì tâm trong sạch, không tạo nghiệp ác, cho nên ví Thánh hiệu như kiếm sắc. Ban chu tán (Đại 47, 448 hạ), nói: Kiếm sắc tức là hiệu của Phật Di đà, chỉ xưng niệm một tiếng cũng có thể trừ được nhiều tội.
di đà sơn
Mitrasanta (skt)—Tên của một vị sư vùng Tukhara—Name of a monk from Tukhara.
di đà tam bộ
(彌陀三部) Cũng gọi Tịnh độ tam bộ. Là ba bộ kinh quan trọng của tông Tịnh độ. Đó là: 1. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển. 2. Kinh Quán vô lượng thọ, 1 quyển. 3. Kinh A di đà, 1 quyển.
di đà tam thánh
The three Amitàbha holy ones.
di đà tam tôn
Di Đà Tam Thánh—See Tam Tôn (B).
; (彌陀三尊) Ba bậc Thánh được tông Tịnh độ tôn thờ: đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm và bồ tát Đại thế chí. Đức Phật A di đà đứng giữa, bồ tát Quan thế âm đứng hầu bên trái, bồ tát Đại thế chí đứng hầu bên phải. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. (xt. A Di Đà Tam Tôn).
di đà đại bổn
Xem Kinh Vô lượng thọ.
di đà đầu
(彌陀頭) Một trong những vị hóa chủ (người khuyến hóa tín đồ cúng dường). Trong Thiền lâm, Di đà đầu là chức vụ đảm nhiệm việc khuyến hóa đọc tụng kinh A di đà. Hiện nay, trong các tùng lâm không còn chức này. Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 448 hạ), nói: Hoa nghiêm đầu, Bát nhã đầu, Kinh đầu, Di đà đầu đều là những chức vụ khuyến hóa đàn việt (thí chủ) tăng thêm ruộng phúc.
di đế li thi lợi
(彌帝麗尸利) Phạm: Mitrazrì. Người nước Kế tân, được coi là bậc Thánh ở vào thời kì đức Phật thứ bảy trong kiếp Hiền. Cũng gọi Di đố lộ đao lị, Sa đế bối thi lị, Di đế lệ đao lị. Khi ngài sinh ra, giữa các ngón tay có màng mỏng. Về sau, ngài cùng với ngài Tăng già la sát đồng sinh lên cõi trời Đâu suất, thờ bồ tát Di lặc làm thầy, sau ngài thành Phật hiệu là Quang viêm Như lai, còn ngài Tăng già la sát thì hiệu là Nhu nhân Phật. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 12 Tát bà đa bộ kí mục lục tự chép, thì ngài Di đế lệ thi lị là vị tổ thứ 23 của Sư tông tương thừa thuộc Tát bà đa bộ, còn ngài Tăng già la sát là tổ thứ 29. Cũng quyển 12 sách đã dẫn, ở phần lược truyện Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa thì ghi ngài Di đế lệ thi lị là tổ thứ 19, ngài Tăng già la sát là tổ 26. Tương truyền, ngài Tăng già la sát ra đời 700 năm sau khi đức Phật nhập diệt, như vậy thì ngài Di đế lệ thi lị phải ra đời trước ngài Tăng già la sát. Ngoài ra, hiện nay chỉ biết ngài Di đế lệ thi lị là Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ ở nước Kế tân, còn các sự tích khác thì không được rõ. [X. kinh Hiền kiếp Q.7; luận Đại trí độ Q.88; Tôn bà tu mật bồ tát sở tập luận tự].
di đế lệ thi lỵ
Mitraśrī (S)Cao tăng thời đức Phật thứ 7 trong Hiền kiếp.
di để
Miti (skt). 1) Đo lường: Measure. 2) Sự hiểu biết chính xác: Accurate knowledge.
di đệ
Đệ tử của một vị thầy đã quá vãng—The disciples left behind by a deceased master.
di động
Mobile.
Di 彌
[ja] ミ mi ||| (1) A long time. (2) To go all around. (3) To function pervasively. (4) Increase; more and more; increasingly. (5) To finish, end, all. => 1. Một thời gian lâu. 2. Đi khắp nơi. 3. Toả khắp. 4. Gia tăng; càng lúc càng...; sự gia tăng.
Di 怡
[ja] イ i ||| (1) Happy, joyful. (2) Be happy, relaxed. => 1. Vui sướng, hân hoan. 2. Vui vẻ, thoải mái.
Di-da-li
xem Tỳ-da-li.
Di-già-ca
彌伽迦; S: miśaka;|Tổ thứ 6 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Di-lan-đà
彌蘭陀; S, P: milinda;|Di-lan-đà vấn đạo kinh
Di-lan-đà vấn đạo kinh
彌蘭陀問道經; P: milindapañha, cũng được gọi là Na-tiên tỉ-khâu kinh;|Bộ sách quan trọng trong Thượng toạ bộ (p: theravāda) ngoài Tam tạng. Sách này ghi lại những cuộc đàm thoại giữa vua Di-lan-đà (milinda, lịch sử châu Âu viết là menandros) gốc Hi Lạp – người đã đi chinh phục Bắc Ấn từ Peshāwar đến Pat-na – và Na-tiên tỉ-khâu. Tương truyền rằng, sau những cuộc tranh luận này, vua Di-lan-đà theo đạo Phật.|Di-lan-đà vấn đạo kinh xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ nhất, được lưu lại bằng một bản văn hệ Pā-li và hai bản dịch chữ Hán, có lẽ được dùng để tuyên truyền Phật giáo miền Tây Bắc Ấn Ðộ. Các câu hỏi của vua Di-lan-đà xoay quanh những vấn đề căn bản của Phật pháp như Vô ngã, tái sinh, Nghiệp, và Na-tiên giải đáp những vấn đề này bằng cách sử dụng những ẩn dụ rất thú vị.
Di-lặc
彌勒; S: maitreya, P : metteyya; dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), cũng có tên là Vô Năng Thắng (無能勝; s, p: ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa;|Một vị Ðại Bồ Tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất. Trong Phật giáo Tây Tạng, Phật Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Cõi giáo hoá của Ngài hiện này là trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Theo truyền thuyết, Phật Di-lặc sẽ giáng sinh trong khoảng 30.000 năm nữa.||H 21: Di-lặc Bồ Tát. Trong hình này, Ngài chưa ngồi trên toà sen, đang ở trong tư thế chuẩn bị (nói chung là nghệ thuật vùng Bắc Ấn, Hi-mã-lạp sơn ít khi trình bày Di-lặc Bồ Tát dưới dạng ngồi). Tay Ngài bắt ấn chuyển pháp luân, có nghĩa rằng, khi xuất hiện trên thế gian, Ngài sẽ quay bánh xe pháp một lần nữa để cứu độ tất cả chúng sinh.|Tranh tượng hay vẽ Ngài ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hoá chúng sinh. Tại Trung Quốc, Phật Di-lặc cũng hay được biểu tượng là một vị mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh. Theo truyền thuyết thì đó chính là hình ảnh của Bố Ðại Hoà thượng, một hoá thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10. Nếu năm đức Phật xuất hiện trên trái đất nói trên được xem là hoá thân của Ngũ Phật thì Phật Di-lặc được xem như hoá thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Năm trí).|Có thuyết cho rằng, chính Ngài là người khởi xướng Ðại thừa Phật giáo hệ phái Duy thức. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha), thầy truyền giáo lí Duy thức cho Vô Trước (s: asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài Luận (s: śāstra), được gọi là Di-lặc (Từ Thị) ngũ luận: 1. Ðại thừa tối thượng (đát-đặc-la) tan-tra (s: mahāyānottaratantra); 2. Pháp pháp tính phân biệt luận (s: dharmadharmatāvibaṅga); 3. Trung biên phân biệt luận (s: madhyāntavibhāga-śāstra); 4. Hiện quán trang nghiêm luận (s: abhisamayā-laṅkāra); 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (s: mahāyānasūtralaṅkāra).
Di-lặc Bồ-tát sở vấn kinh luận 彌勒菩薩所問經論
[ja] ミロクボサツショモンキョウロン Miroku bosatsu shomonkyō ron ||| Mile pusa suowen jinglun (Treatise on the Sutra of the Questions Asked by Maitreya); 9 fasc., trans. Bodhiruci 菩提留支. T 1525.26.233-273. A commentary on the 彌勒菩薩所問本願經. 彌勒菩薩所問經論 => (c: Mile pusa suowen jinglun; e: Treatise on the Sutra of the Questions Asked by Maitreya); 9 quyển; Bồ-đề Lưu-chi dịch. Là luận giải về Di-lặc Bồ-tát sở vấn bổn nguyện kinh.
Di-lặc Bồ-tát phát nguyện vương kệ 彌勒菩薩發願王偈
[ja] ミロクボサツホツガンオウゲ iroku bosatsu hotsugannō ge ||| The Mile pusa fayuanwang ji; Tib. yams pa'i smon lam [To.1096/4378]; (Verses on Bodhisattva Maitreya's Vow) 1 fasc. (T 1144.20.600-601), trans. mGon po skyabs 工布査布. => (c: Mile pusa fayuanwang ji; t: yams pa'i smon lam ; e: Verses on Bodhisattva Maitreya's Vow) 1 quyển. Công Bố Tra Bố (工布査布t: mGon po skyabs ) dịch.
Di-lặc Bồ-tát sở vấn bổn nguyện kinh 彌勒菩薩所問本願經
[ja] ミロクボサツショモンホンガンキョウ Miroku bosatsu shomon hongan kyō ||| The Mi-le p'u-sa so-wen pen-yüan ching, one fasc., translated by Dharmarakṣa 竺法護. An explanation of the path of the bodhisattvas toward the attainment of samyak-saṃbodhi. T 349.10.186-9. => (c: Mi-le p'u-sa so-wen pen-yüan ching); 1 quyển; Trúc Pháp Hộ (s: Dharmarakṣa 竺法護) dịch. Giảng giải con đường tu tập của Bồ-tát để đạt đến vô thượng bồ-đề.
Di-lặc Bồ-tát thệ nguyện đà-la-ni kinh 慈氏菩薩誓願陀羅尼經
[ja] ジシボサツセイガンダラニキョウ Jishi bosatsu seigan daranikyō ||| The Cishi pusa shiyuan tuoluoni jing; Skt. [ārya-]Maitreyapratijñā-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] byams pas dam bcas pa shes bya ba'i gzungs [To.643/890, P.330/515]; (Dhāraṇī of the Merciful One's Promise). 1 fasc. (T 1143.20.600), trans. Faxian 法賢. BGBT4/110. => (c: Cishi pusa shiyuan tuoluoni jing; s: ārya-)Maitreyapratijñā-dhāraṇī; t: ['phags pa] byams pas dam bcas pa shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Merciful One's Promise). 1 quyển; Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch.
Di-lặc Bồ-tát 彌勒菩薩
[ja] ミロクボサツ Miroku Bosatsu ||| Maitreya Bodhisattva; see 彌勒, definition #1. => Maitreya Bodhisattva; Xem Di Lặc彌勒.
Di-lặc sở vấn luận 彌勒所問論
[ja] ミロクショモンロン Miroku shomon ron ||| A shortened title for 彌勒菩薩所問經論, T 1525.26.233-273. => Tên gọi tắt của Di-lặc Bồ-tát sở vấn luận (彌勒菩薩所問經論).
Di-lặc tam bộ kinh 彌勒三部經
[ja] ミロクサンブキョウ mirokusanbukyō ||| The three principal scriptures of the Maitreya sect: Shangsheng jing 上生經, Xiasheng jing 下生經, and the Chengfo jing 成佛經. => Ba bộ kinh chính của Di-lặc tông: Thượng sinh kinh (c: Shangsheng jing 上生經), Hạ sinh sinh (c: Xiasheng jing 下生經), và Thành Phật kinh (c: Chengfo jing 成佛經).
Di-lặc thượng sinh kinh 彌勒上生經
[ja] ミロクジョウショウキョウ Miroku jōshō kyō ||| The Mile shangsheng jing; 1 fasc. Abbreviated title of 佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經. => (c: Mile shangsheng jing); 1 quyển; viết tắt của Phật thuyết quán Di-lặc Bồ-tát thượng sinh Đâu suất kinh (佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經).
Di-lặc 彌勒
[ja] ミロク Miroku ||| (1) Maitreya the bodhisattva. 'Maitreya', means 'benevolent.' The bodhisattva who will appear in this world to become the next Buddha after 5,670,000,000 years when he ends his life in the Tuṣita Heaven 兜率天. According to tradition, he was born into a Brahman family in southern India. His two epithets are 慈氏 "benevolent" and Ajita 阿逸多 "invincible." He presides over the spread of the sangha, and protects its members. There are numerous Maitreya sutras. (2) Maitreya (or Maitreyanātha) the semi-legendary figure usually named as the founder of Yogācāra Buddhism 瑜伽行派. He is thought to have lived from around 270-350 CE, and is the putative author of such Yogācāra works as the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論, the Madhyānta-vibhāga 中邊分別論, and so forth. He is credited with the establishment of such basic Yogācāra notions as conscious construction-only 唯識, the three bodies of the Buddha 三身, the three natures 三性, and the ālaya consciousness 阿頼耶識. He was the teacher of Asaṅga 無著. => (j: Miroku; s: Maitreya) 1. Bồ-tát Di Lặc. 'Maitreya' có nghĩa là 'nhân từ'. Là Bồ-tát sẽ xuất hiện ở thế gian nầy và thành Phật kế tiếp Đức Phật Thích-ca Mâu-ni sau 5,670,000,000 năm, khi Ngài chấm dứt cuộc sống ở cõi trời Đâu suất (e: Tuṣita Heaven 兜率天). Theo truyền thuyết, Ngài sinh trong một gia đình dòng dõi Bà-la-môn ở miền Nam Ấn Độ. Hai danh hiệu của Ngài là Từ Thị “nhân từ” và A-dật-đa “vô năng thắng, không bị khuất phục. Ngài điều khiển mọi sinh hoạt của Tăng già và giáo hoá cứu độ cho mọi chúng sinh. Có rất nhiều kinh về Bồ-tát Di-lặc. 2. Maitreya (hay Maitreyanātha), nhân vật bán thần thoại thường mệnh danh là người sáng lập Du-già hành phái Phật giáo. Ngài được xem là sống vào khoảng từ năm 270 đến năm 350 , và được xem là tác giả của các tác phẩm về Duy thức như Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論), Trung biên phân biệt luận (s:Madhyānta-vibhāga 中邊分別論)v.v...Ngài nổi danh về sáng lập ý niệm nền tảng Du-già hành tông như là cấu trúc Duy thức, thuyết Tam thân Phật, Tam tính và A-lại-da thức. Ngài là thầy của Vô Trước (s: Asaṅga 無著).
Di-sa-tắc 彌沙塞
[ja] ミシャサイ Mishasai ||| A transcription of the name of the Mahīśāsaka school of Indian Buddhism, translated into Chinese as Huadibu 化地部. => Phiên âm tên của trường phái Phật giáo Ấn Độ Mahīśāsaka, Hán dịch là Hoá địa bộ (c: Huadibu 化地部). Do dự 猶豫 [ja] ユヨ yuyo ||| (1) Postponement, grace, extension, reprieve, delay. (2) Slackness. To waver, hesitate, be irresolute. => Sự trì hoãn, gia hạn, kéo dài, hoàn lại, chậm trễ. Sự chểnh mãng. Nao núng, lưỡng lự, phân vân. Do như 猶如 [ja] ユニョ yunyo ||| Well...; just like, the same as. => Giống như, đồng nhưDụng 用 [ja] ヨウ yō ||| (1) To use, make use of; employ; (2) To use up; to consume. (3) To; so as to. With, by, thereby; by means of (以). (4) To apply, to put into practice. (5) Function, action, activity. [Buddhism] 'Use', 'function.' (1) In Buddhism, as well as the other East Asian philosophies、yong is usually mentioned in contrast to ti (體 essence). In this case, "essence" refers to the inner nature of something, while "function" refers to its outward manifest aspects. (2) Enjoyment (esp. of given things) (paribhoga). (3) Action, function, activity (vrtti, krtya, kriyā). (4) True practice; being absorbed in. (5) To necessitate. (6) The ability of the teacher to instruct the student according to his individual capacity. (7) An indication of the accusative case (taking something and...). => 1. Sử dụng, dùng, sự dùng người. 2. Tiêu dùng; tiêu thụ. 3. Để, để cho. Cùng với,; bằng, với. 4. Áp dụng, đưa vào thực hành. 5. Chức năng, tác dụng, phạm vi hoạt động. [Phật học] 'Dụng' 1. Trong Phật học, cũng như trong triết học Đông phương, Dụng thường được đề cập phản nghĩa với Thể (體 essence). Trong trường hợp nầy, Thể đề cập đến tính chất nội tại, còn Dụng đề cập đến sự biểu hiện bên ngoài. 2. Sự thích thú (đặc biệt trong sự bố thí) (s: paribhoga). 3.. Tác dụng,chức năng, hoạt dụng (vrtti, krtya, kriyā). 4. Sự dụng công tu tập, chăm chú vào. 5. Đòi hỏi cần phải có. 6. Năng lực của bậc thầy chỉ dạy cho đệ tử tuỳ theo căn cơ. 7. Dùng như đối cách (lấy vật gì và...) Đa bảo 多寶 [ja] タホウ tahō ||| Abundant treasures. => Nhiều vật quý báu.
dinh thự
Palace.
diêm
1) Cổng làng: A gate—Border-gate—Hamlet. 2) Nói xàm—Nói không ăn nhập vào đâu—Incoherent talk.
diêm bà độ
Loại chim trong địa ngục, lớn như voi, có nhiệm vụ gấp những kẻ độc ác, bay đi rồi ném xuống cho rớt ra từng mảnh—A bird in purgatory as large as an elephant, who picks up the wicked, flies and drops them, when they are broken to pieces.
diêm bà độ điểu
(閻婆度鳥) Cũng gọi là Diêm bà điểu. Loại chim hành hạ tội nhân ở địa ngục Diêm bà độ. Địa ngục này là một trong 16 địa ngục phụ thuộc và cũng gọi là địa ngục Diêm bà phả độ.Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 15 chép, thì trong địa ngục Diêm Dịch Tiểu Dác bà phả độ có chim Diêm bà, mình to như voi, mỏ nhọn phát ra ngọn lửa, thường quắp lấy tội nhân bay lên hư không rồi thả xuống như hòn đá rơi xuống đất, khiến thân thể họ tan nát. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng].
diêm di ca
Jamika (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
diêm hương
(鹽香) Mùi muối. Muối chỉ có vị mặn chứ không có mùi. Mùi muối được dùng để ví dụ những sự vật chỉ có tên gọi chứ không có thật chất hoặc hoàn toàn không tồn tại trong hiện thực. Mùi muối, lông rùa, sừng thỏ đều cùng một nghĩa và được dùng để chỉ cho phàm phu vọng chấp thực ngã, thực pháp. Luận Thành thực quyển 2 (Đại 32, 256 thượng), nói: Trong các việc thế gian thì sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi muối, màu gió v.v... đều không có.
diêm la
Yama (S). King of the Hell.
; Yama (skt)—See Diêm Vương.
diêm la nhân
(閻羅人) Ngục tốt chuyên quát mắng tội nhân trong địa ngục. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 6 (Đại 17, 29 hạ), nói: Trong bài kệ với lời lẽ cay nghiệt, Diêm la nhân mắng nhiếc như sau: Mê tà kiến ngu si, bị lưới si trói buộc, rơi vào địa ngục này. (xt. Ngục Tốt).
diêm la thập điện
(閻羅十殿) Mười điện Diêm la. Cũng gọi là Thập điện Diêm la. Tức là 10 ông vua ở cõi u minh (âm phủ, địa ngục). Diêm la là vua Diêm la (ma), vốn là thần Dạ ma (Yama) ở thời đại Phệ đà của Ấn độ, thông thường được coi là Tử thần hoặc là Chúa thần trông coi cõi u minh. Về sau, tư tưởng này trà trộn với Phật giáo và được truyền vào Trung quốc, rồi kết hợp với tín ngưỡng Đạo giáo mà sản sinh ra thuyết Diêm la thập điện. Tín ngưỡng 10 ông vua cõi u minh xuất hiện vào khoảng cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, nhưng về nguồn gốc của 10 vị vua thì có rất nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 và Phật tổ thống kỉ quyển 33 chép, thì Hòa thượng Đạo minh đời Đường, khi mộng du, thần hồn xuống địa phủ thấy 10 vua ở 10 điện lần lượt xét xử tội nghiệp của những vong linh người chết. Sau khi tỉnh dậy sư Đạo minh liền thuật lại, do đó mà tín ngưỡng này được lưu truyền trong dân gian.Nhưng cứ theo Địa tạng bồ tát tượng linh nghiệm kí chép, thì trong năm Thiên phúc (936-944) đời Hậu Tấn, có sa môn Tri hữu, người tây Ấn độ, đến Trung quốc mang theo bức tranh bồ tát Địa tạng và kinh Bản nguyện công đức. Trên bức tranh, ở chính giữa vẽ hình tượng bồ tát Địa tạng, hai bên tả hữu là hình tượng 10 vị vua cõi u minh. Theo truyện này thì tín ngưỡng 10 vua có lẽ đã từ Ấn độ truyền sang. Nhưng trong văn viết thì tên của 10 vị vua lại là tên Trung quốc, hơn nữa hình tượng của các vị cũng mặc áo kiểu Trung quốc đời xưa. Căn cứ vào đó mà suy thì thuyết cho tín ngưỡng 10 vua từ Ấn độ truyền sang cũng không đủ tin. Ngoài ra, trong kinh Dự tu thập vương sinh thất được truyền từ cuối đời Đường trở về sau cũng có chép việc 10 vua xử án. Còn Phật tổ thống kỉ quyển 45 thì cho biết, lúc nhỏ, Âu dương tu nhiều bệnh khổ, có lần ông nằm mộng thấy mình đến chỗ 10 vua cõi u minh và hỏi ra mới biết sự lợi ích của việc cúng trai và viết kinh ấn tống. Sau khi tỉnh dậy hết bệnh, ông lại càng thêm quí kính Phật pháp. Trong tín ngưỡng dân gian Trung quốc, tư tưởng địa ngục đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện rất sâu, cho nên bồ tát Địa tạng được xem là chúa tể tối cao của địa ngục, gọi là U minh giáo chủ, cai quản Thập điện Diêm la vương. Thập điện Diêm la vương bao gồm: Nhất điện Tần quảng vương, Nhị điện Sơ (Sở) giang vương, Tam diện Tống đế vương, Tứ điện Ngũ quan vương, Ngũ điện Diêm (Sâm) la vương, Lục điện Biến (Biện) thành vương, Thất điện Thái sơn vương, Bát điện Bình đẳng vương, Cửu điện Đô thị vương, Thập điện Chuyển luân vương. Mười vua trên đây đều có quyền hạn khác nhau, lần lượt xét xử những vong linh người chết về các tội nghiệp mà họ đã phạm phải khi còn sống ở dương gian, rồi căn cứ vào đó mà quyết định các hình phạt. Tín ngưỡng 10 vua sau khi được truyền vào Nhật bản cũng khá thịnh hành, các chùa viện tại Nhật bản hiện nay còn cất giữ các bức vẽ và điêu khắc của 10 vua, hình tượng phần nhiều được vẽ hoặc chạm trổ theo kiểu Trung quốc. Trong đó có nhiều tác phẩm được xếp vào loại quốc bảo của Nhật bản. Những bức tranh 10 vua được tàng trữ ở các chùa Đại đức và Pháp nhiên tại Nhật bản là do Lục tín trung, nhà vẽ tượng Phật Trung quốc, vẽ vào đầu đời Nguyên. Về thuyết bản địa của 10 vua, cứ theo kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương nói, thì bản địa của 10 vua đều do Phật và Bồ tát ứng hóa chuyển biến mà ra. Như bản địa của Nhất điện Tần quảng vương là Bất động minh vương, bản địa của Nhị điện Sơ giang vương là đức Thích ca Như lai, bản địa của Tam điện đến Thập điện theo thứ tự là: bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền, bồ tát Địa tạng, bồ tát Di lặc, Dược sư Như lai, Quan âm bồ tát, A súc Như lai và Phật A di đà. Về tên gọi của 10 vua, cứ theo điều Thập vương cúng trong Phật tổ thống kỉ quyển 33 nói, thì tên gọi của 10 vua có thể thấy trong sáu bộ kinh điển và truyện kí, như: Trong kinh Đề vị thấy tên hai vua Diêm la và Ngũ quan, trong Hoa nghiêm cảm ứng truyện có vua Bình đẳng, trong Di kiên chí có hai vua Sơ giang và Tần quảng, trong Cổ kim dịch kinh đồ kỉ quyển 2 thì thấy tên vua Thái sơn. Ngoài ra, tên vua Ngũ quan còn được thấy trong kinh Quán đính quyển 12, kinh Tịnh độ tam muội và Kinh luật dị tướng quyển 49... Riêng tên vua Diêm la thì được thấy nhiều hơn trong các kinh luận. Lại cứ theo Minh báo kí được dẫn trong Pháp uyển châu lâm quyển 26, thì vua Thái sơn vốn tên là Thái sơn phủ quân. Còn trong Pháp sự tán của ngài Thiện đạo có nêu tên hai vị thần Ngũ đạo và Thái sơn, trong đó, thần Ngũ đạo tương đương với Ngũ đạo chuyển luân vương. Tóm lại, tín ngưỡng Diêm la thập điện tuy là sự hỗn hợp giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Trung quốc, nhưng từ xưa đến nay nó đã bắt rễ sâu trong dân gian, và ngoài đạo lí nhân quả luân hồi, thiện ác báo ứng của Phật giáo ra, tín ngưỡng này cũng có công dụng giúp phát huy thêm việc cảnh tỉnh người đời bỏ ác làm thiện. [X. Thích thị lục thiếp Q.16]. (xt. Diêm Ma Vương).
diêm la vương
Xem Dạ Ma.
diêm la vương ngũ thiên sứ kinh
(閻羅王五天使經) Có 1 quyển. Ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống. Gọi đủ là Phật thuyết Diêm la vương ngũ thiên sứ kinh. Gọi tắt: Diêm la kinh, Ngũ thiên sứ kinh, thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung tường thuật việc đức Phật dùng thiên nhãn xem xét nghiệp thiện, ác do chúng sinh đã tạo mà biết được giờ chết, giờ sinh của họ, thậm chí biết họ sinh lên các cõi trời hay rơi vào địa ngục. Nếu lúc còn sống ở nhân gian, chúng sinh không sợ quả báo đời sau mà gây nhiều nghiệp ác, thì khi chết sẽ sinh vào địa ngục, nơi đây, Diêm vương sai năm thiên sứ là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Trị tội đến xét hỏi tội nhân. Rồi miêu tả những cực hình đau khổ trong địa ngục mà chúng sinh phải chịu hàng trăm nghìn năm.
Diêm Ma
(閻魔): trong cổ đại Trung Quốc vốn không có quan niệm về Diêm Ma hay Diêm Vương (閻王), nhưng sau khi Phật Giáo du nhập vào đất nước này, Diêm Vương được xem như là vị chủ thần của Địa Ngục và tín ngưỡng này bắt đầu lưu hành. Từ Diêm Ma, nguyên ngữ Sanskrit là Yama, âm dịch là Diêm Ma La Xã (閻魔羅社), Diễm Ma La Xà (琰摩羅闍), Diêm La (閻羅), Viêm Ma (炎摩), Diệm Ma (焰摩), Diễm Ma (琰魔), Diêm Ma La (閻摩羅); ý dịch có nhiều nghĩa khác nhau như trói buộc (trói tội nhân), song thế (nơi thế gian thường chịu hai loại quả báo vui và khổ), vua bình đẳng (trừng phạt tội một cách bình đẳng), dứt trừ tội ác, ngăn chận tranh giành và chấm dứt tội ác. Tất cả những ý nghĩa trên đều nói lên trách nhiệm của vua Diêm Ma dưới Minh Phủ nhằm giám thị tội của chúng sanh và làm cho phải khiếp sợ khi làm điều ác. Theo thần thoại cổ đại Ấn Độ, Yama—vị thần của chánh pháp—cùng với Yamī là thần song sinh, là người chết đầu tiên của nhân loại; vì vậy sau này họ được xem như là tử thần và thống quản âm giới. Sau khi Phật Giáo có mặt tại Ấn Độ, vua Diêm Ma được xem như là chủ của cõi Ngạ Quỷ, vua quản lý thế giới Địa Ngục, thân của ác nghiệp chiêu cảm, hay hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát (地藏菩薩), v.v. Trong Mật Giáo, vua Diêm Ma là một trong 12 vị trời của Ngoại Kim Cang Bộ thuộc Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅), là vị thần của Ngoại Kim Cang Bộ thuộc Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅). Trong truyền thuyết dân gian Trung Quốc, Bao Chửng (包拯, tức Bao Thanh Thiên [包青天]) là hóa thân của Diêm Vương. Sau khi qua đời, ông hóa thành Diêm La Vương, tiếp tục thẩm lý các vụ án dưới Âm Phủ. Có thuyết cho rằng ban ngày ông xét án trên dương gian, đến tối thì xử tội dưới địa ngục. Con người sau khi chết, linh hồn của họ sẽ được dẫn đến cho Bao Chửng thẩm phán; nếu quả thật người đó bị hảm hại, hàm oan, ông sẽ trả về dương gian cho sống lại. Nếu có tội thật sự thì sẽ bị tống vào địa ngục chịu hình phạt. Tương truyền Tứ Đại Diêm Vương (四大閻王) là Bao Chửng, Hàn Cầm Hổ (韓擒虎), Phạm Trọng Yêm (范仲淹) và Khấu Chuẩn (寇準). Có một vài tục ngữ liên quan đến Diêm Vương như “Diêm Vương bất tại gia, nghiệp quỷ do tha náo (閻王不在家、業鬼由他鬧, Diêm Vương không ở nhà, quỷ con gây náo loạn)”, có nghĩa là khi người chủ vắng mặt thì người cấp dưới lợi dụng cơ hội làm náo loạn; “Diêm Vương hảo kiến, tiểu quỷ nan đương (閻王好見、小鬼難當, Diêm Vương dễ thấy, quỷ con khó gặp)” hay “Diêm Vương phán nhĩ tam canh tử, bất đắc lưu nhân đáo ngũ canh (閻王判你三更死、不得留人到五更, Diêm Vương phán ngươi canh ba chết, chẳng được giữ người đến canh năm)”, v.v.
diêm ma
Yama (skt)—See Diêm Vương.
diêm ma giới
Yamaloka (S)Diễm Ma giới, Viêm Ma giớiNằm ở 50 do tuần dưới đại châu, kích thước đều 50 do tuần mỗi bề.
; (閻魔界) Phạm: Yama-loka. Thế giới của vua Diêm ma, tức là chỗ ở chính của các loài quỉ. Cũng gọi Diệm ma giới. Luận Câu xá quyển 11 nói, nước vua Diêm ma ở phía dưới châu Thiệm bộ (Diêm phù đề) năm do tuần, mỗi bề đều rộng năm do tuần. Kinh Trường a hàm thì nói, Diêm ma giới ở trong núi Đại kim cương phía nam Diêm phù đề, có cung vua Diêm la, rộng sáu nghìn do tuần, thành của cung này có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây bao chung quanh. [X. kinh Trường a hàm Q.19 phẩm Địa ngục; luận Đại tì bà sa Q.172].
diêm ma na châu quốc
Yavana or Yamana (skt)—Đảo quốc Java nơi mà hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang đã đến viếng—The island nation of Java, visited by Fa-Hsien and Hsuan-Tsang.
Diêm Ma Thập Điện
(閻魔十殿): còn gọi là Diêm Vương Thập Điện (閻王十殿), Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王), Thập Điện Minh Vương (十殿冥王), Thập Điện Từ Vương (十殿慈王). Nguyên lai chỉ có một vị Diêm Vương, nhưng sau khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, tín ngưỡng về Diêm Vương có ảnh hưởng to lớn đối với hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở đây, trải qua nhiều biến hóa, Hán hóa sắc thái và cuối cùng quan niệm này trở thành Thập Điện Diêm Vương. Kinh điển ban đầu của Phật Giáo không có đề cập đến Thập Điện Diêm Vương. Tỷ dụ như theo Cấm Độ Tam Muội Kinh (禁度三昧經), Diêm Vương chỉ quản hạ 5 vị quan, gồm: Tiên Quan (鮮官) chuyên ngăn cấm sát sanh, Thủy Quan (水官) chuyên ngăn cấm trộm cắp, Thiết Quan (鐵官) chuyên ngăn cấm tà dâm, Thổ Quan (土官) chuyên ngăn cấm nói lời hai lưỡi và Thiên Quan (天官) cấm việc uống rượu. Hơn nữa, trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 33, bộ sử truyện nổi tiếng của Phật Giáo Trung Quốc, có ghi rằng: “Trên đời truyền tụng rằng Hòa Thượng Đạo Minh (道明和尚) nhà Đường thần du xuống Địa Phủ, thấy có 15 hạng người thuộc hạ (của Diêm Vương), từ đó lưu truyền trên thế gian.” Như vậy, thuộc hạ của Diêm Vương đã biến thành 15 người. Danh hiệu của Thập Điện Diêm Vương xuất hiện đầu tiên trong Dự Tu Thập Ngũ Sanh Thất Kinh (預修十五生七經), Diêm Vương Kinh (閻王經), v.v. Căn cứ Ngọc Lịch Bảo Giám (玉曆寶鑑), 10 ngôi điện do Linh Bảo Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn (靈寳十方救苦天尊) hóa thành, được 10 vị Diêm Ma (s: Yama, 閻魔) cai quản, gồm: (1) Tần Quảng Vương (秦廣王, Qín-guàng, hay Tần Quảng Vương Tương [秦廣王蔣]), còn gọi là Thái Tố Diệu Quảng Chơn Quân (泰素妙廣眞君), cai quản ngôi điện thứ nhất, do Đông Phương Thiên Tôn (東方天尊) hóa thành, sống ở Huyền Minh Cung (玄冥宮), chịu trách nhiệm trông coi về sanh tử của của con người và quản lý toàn bộ việc cát hung của cõi u minh, ngày sinh của ông là mồng 2 tháng 2 âm lịch; quỷ Phán Quan của cõi này sống ngoài tảng đá Ốc Tiêu (沃焦[礁]) trong biển lớn; hướng chánh Tây của điện này là con đường tối om dẫn đến Huỳnh Tuyền (黃泉); nếu người làm ác thì sau khi chết sẽ bị nhập vào đài cao bên phải của điện này tên là Nghiệt Kính Đài (孽鏡台); đài cao 1 trượng, treo hướng về phía Đông, phía trên có 7 chữ lớn “Nghiệt Kính Đài tiền vô hảo nhân (孽鏡台前無好人, Trước Nghiệt Kính Đài không người tốt)”; sau khi được chiếu soi ở Nghiệt Kính Đài xong, tội nhân sẽ được phê giải xuống ngôi điện thứ hai để chịu ngục hình thọ khổ tùy theo tội nặng hay nhẹ. (2) Sở Giang Vương (楚江王, Chŭ-jiāng, hay Sở Giang Vương Lệ [楚江王厲]), còn gọi là Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (陰德定休眞君), cai quản ngôi điện thứ hai, do Nam Phương Thiên Tôn (南方天尊) hóa thành, sống tại Phổ Minh Cung (普明宮) dưới đáy biển sâu, chịu trách nhiệm trông coi Hoạt Đại Địa Ngục (活大地獄, địa ngục sống lâu), Hàn Băng Địa Ngục (寒冰地獄, địa ngục băng lạnh) và Bác Y Đình (剥衣亭, nhà cởi áo) và 16 địa ngục bên dưới như Hắc Vân Sa (黑雲沙), Phẩn Niệu Nê (糞尿泥), Ngũ Xoa (五叉), Cơ Ngạ (飢餓), Khát (渴), Nùng Huyết (膿血), Đồng Phủ (銅斧), Đa Đồng Phủ (多銅斧), Thiết Khải (鐵鎧), U Lượng (幽量), Kê (雞), Hôi Hà (灰河), Chước Tiệt (斫截), Kiếm Diệp (劍葉), Hồ Lang (狐狼), Hàn Băng (寒冰). Ngày sinh của ông là mồng 3 tháng 3 âm lịch. (3) Tống Đế Vương (宋帝王, Sòng-dì, hay Tống Đế Vương [宋帝王餘]), còn gọi là Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (洞明普靜眞君), cai quản ngôi điện thứ ba, do Tây Phương Thiên Tôn (西方天尊) hóa thành, sống ở Trụ Tuyệt Cung (紂絕宮), chịu trách nhiệm trông coi Hắc Thằng Địa Ngục (s: Kālasūtra-naraka, 黒繩地獄, địa ngục có sợi dây thừng đen), những ai bị kiện tụng, không vâng lời các bậc trưởng thượng, không thương mạng dân, sĩ thứ thấy lợi mà quên nghĩa, chồng bất nghĩa, vợ không thuận, từng thọ ân huệ mà phụ bạc, nô bộc phản gia chủ, hay phạm tội vượt ngục, trốn quân dịch, v.v., sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục này. Ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 2 âm lịch; (4) Ngũ Quan Vương (五官王, Wŭ-guān, hay Ngũ Quan Vương Lữ [五官王呂]), còn gọi là Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (玄德五靈眞君), cai quản ngôi điện thứ tư, do Bắc Phương Thiên Tôn (北方天尊) hóa thành, sống ở Thái Hòa Cung (太和宮), chịu trách nhiệm trông coi Hợp Đại Địa Ngục (s: Saṅgāta-naraka, 合大地獄, địa ngục hợp lại thành to lớn) và Huyết Trì Địa Ngục (血池地獄, địa ngục có hồ máu) cùng với 16 địa ngục nhỏ như Trì (池), Mâu Liên Trúc Thiêm (蝥鏈竹籤), Phí Thang Kiêu Thủ (沸湯澆手), Chưởng Bạn Lưu Dịch (掌畔流液), Đoạn Cân Dịch Cốt (斷筋剔骨), Yển Kiên Loát Bì (堰肩), Tỏa Phu (鎖膚), Tồn Phong (蹲峰), Thiết Y (鐵衣), Mộc Thạch Thổ Ngõa (木石土瓦), Kiếm Nhãn (劍眼), Phi Hôi Tắc Khẩu (飛灰塞口), Quán Dược (灌藥), Du Hoạt Điệt (油滑跌), Thích Chủy (剌嘴), Toái Thạch Mai Thân (碎石埋身). Những ai thường hay lừa dối sẽ bị đọa xuống địa ngục này; ngày sinh của ông là 18 tháng 2 âm lịch. (5) Diêm Ma Vương (閻魔王, Yama-rāja, Yán-mó, còn gọi là Diêm La Vương [閻羅王], Diêm Ma Vương Thiên Tử Bao [閻魔王天子包]), còn gọi là Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (最聖耀靈眞君), cai quản ngôi điện thứ năm, nguyên trước kia trông coi ngôi điện thứ nhất, nhưng vì đồng tình với tội nhân ở đây, nên bị chuyển xuống đây, do Đông Bắc Phương Thiên Tôn (東北方天尊) hóa thành, sống ở Củ Luân Cung (糾倫宮), chịu trách nhiệm trông coi Khiếu Hoán Địa Ngục (s: Raurava-naraka, 叫喚地獄, địa ngục la hét) và 16 địa ngục nhỏ khác; ngày sinh của ông là mồng 8 tháng giêng âm lịch. (6) Biện Thành Vương (卞城王, Biàn-chéng, hay Biện Thành Vương Tất [卞城王畢]), còn gọi là Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (寶肅昭成眞君), cai quản ngôi điện thứ sáu, do Đông Nam Phương Thiên Tôn (東南方天尊) hóa thành, sống ở Minh Thần Cung (明晨宮), chịu trách nhiệm trông coi Đại Khiếu Hoán Địa Ngục (s: Mahāraurava-naraka, 大叫喚地獄, địa ngục la hét lớn) và Uổng Tử Thành (枉死城, thành chết oan uổng) cũng như 16 địa ngục nhỏ khác như Thường Quỵ Thiết Sa (常跪鐵砂), Thỉ Nê Tẩm Thân (屎泥浸身), Ma Tồi Lưu Huyết (磨摧流血), Kiềm Chủy (鉗嘴), Cát Thận Thử Giảo (割腎鼠咬), Cức Cương Hoàng Toản (棘綱蝗鑽), Đối Đảo Nhục Tương (碓搗肉漿), Liệt Bì Kỵ Lôi (裂皮曁擂), Hàm Hỏa Bế Hầu (銜火閉喉), Tang Hỏa Hồng (桑火烘), Phẩn Ô (糞污), Ngưu Điêu Mã Táo (牛雕馬躁), Phi Khiếu (緋竅), Đầu Thoát Xác (頭脫殼), Yêu Trảm (腰斬), Bác Bì Tuyên Thảo (剝皮揎草). Những ai đã từng chửi mắng trời và hướng về phương Bắc mà tiểu tiện sẽ bị đọa xuống nơi này; ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 3 âm lịch. (7) Thái Sơn Vương (泰山王, Tài-shān, hay Thái Sơn Vương Đổng [泰山王董]), còn gọi là Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (泰山玄妙眞君), cai quản ngôi điện thứ bảy, do Tây Nam Phương Thiên Tôn (西南方天尊) hóa thành, sống ở Thần Hoa Cung (神華宮), chịu trách nhiệm trông coi Nhiệt Não Địa Ngục (s: Tapana-naraka, 熱惱地獄, địa ngục đau khổ vì nóng) và 16 địa ngục nhỏ khác như Tuất Tự Thôn (卹自吞), Liệt Hung (冽胸), Địch Thối Hỏa Bức (笛腿火逼), Quyền Kháng Phát (權抗發), Khuyển Giảo Hĩnh Cốt (犬咬脛骨), Úc Thống Khốc Cẩu (燠痛哭狗), Tắc Đảnh Khai Ngạch (則頂開額), Đảnh Thạch Tồn Thân (頂石蹲身), Đoan Bảo Thượng Hạ Trác Giảo (端鴇上下啄咬), Vụ Bì Trư Tha (務皮豬拖), Điếu Giáp Túc (吊甲足), Bạt Thiệt Xuyên Tai (拔舌穿腮), Trừu Tràng (抽膓), Loa Đạp Miêu Tước (騾踏貓嚼), Lạc Thủ Chỉ (烙手指), Du Phủ Cổn Phanh (油釜滾烹). Những ai chế thuốc từ xương người chết và xa lánh người thân sẽ bị đọa xuống nơi này; ngày sinh của ông là 27 tháng 3 âm lịch. (8) Đô Thị Vương (都市王, Dōu-shì, hay Đô Chủ Vương Hoàng [都主王黃]), còn gọi là Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (飛魔演化眞君), cai quản ngôi điện thứ tám, do Thượng Phương Thiên Tôn (上方天尊) hóa thành, sống ở Bích Chơn Cung (碧眞宮), chịu trách nhiệm trông coi Đại Nhiệt Não Địa Ngục (s: Mahātapana-naraka, 大熱惱地獄, địa ngục đau khổ vì nóng lớn) và 16 địa ngục nhỏ như Xa Băng (車崩), Muộn Oa (悶鍋), Toái Quả (碎剮), Khổng Tiểu (孔小), Tiễn Chu (翦朱), Thường Thanh (常圊), Đoạn Chi (斷肢), Chích Tủy (炙髓), Ba Tràng (爬膓), Phần (焚), Khai Sanh (開瞠), Quả Hung (剮胸), Phá Đảnh Khiêu Xỉ (破頂撬齒), Cát (割), Cương Xoa (鋼叉). Ngày sinh của ông là mồng 1 tháng 4 âm lịch. (9) Bình Đẳng Vương (平等王, Píng-dĕng, hay Đối Đẳng Vương Lục [對等王陸]), còn gọi là Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (無上正度眞君), cai quản ngôi điện thứ chín, do Tây Bắc Phương Thiên Tôn (西北方天尊) hóa thành, sống ở Thất Phi Cung (七非宮), chịu trách nhiệm trông coi A Tỳ Địa Ngục (s: Avīci-naraka, 阿鼻地獄, tức Địa Ngục Vô Gián) và 16 địa ngục nhỏ khác như Sao Cốt Chước Thân (敲骨灼身), Trừu Cân Lôi Cốt (抽筋擂骨), Nha Thực Tâm Can (鴉食心肝), Cẩu Thực Tràng Phế (狗食膓肺), Thân Tiễn Nhiệt Du (身濺熱油), Não Cô Bạt Thiệt Bạt Xỉ (腦箍拔舌拔齒), Thủ Não Điền (取腦填), Chưng Đầu Quát Não (蒸頭刮腦), Dương Súc Thành Diêm (羊搐成鹽), Mộc Giáp Đảnh (木夾頂), Ma Tâm (磨心), Phí Thang Lâm Thân (沸湯淋身), Hoàng Phong (黃蜂), Hiết Câu (蠍鉤), Nghĩ Chú Ngao Đam (蟻蛀熬眈), Tử Xích Độc Xà Toản (紫赤毒蛇鑽). Ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 4 âm lịch. (10) Chuyển Luân Vương (轉輪王, Zhuàn-lún, hay Chuyển Luân Vương Tiết [轉輪王薛]), còn gọi là Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (五靈威德眞君), cai quản ngôi điện thứ mười, do Hạ Phương Thiên Tôn (下方天尊) hóa thành, sống ở Túc Anh Cung (肅英宮); ngày sinh của ông là 17 tháng 4 âm lịch. Ông chuyên trông coi các hồn quỷ được áp giải đến từ các điện khác, phân biệt, quyết định tôi phước nặng nhẹ của tội nhân, phân phát đi khắc các bộ châu, tìm đất và loại để cho vong hồn đầu thai. Ông còn có nhiệm vụ xem xét việc thiện ác của tội nhân để thông tri cho cấp trên, thẩm định thọ mạng ngắn dài cũng như tội phước thay đổi của tội nhân. Quá trình khảo tra rất nghiêm mật, cuối cùng mới cho tội nhân cầu vàng, cầu ngọc, cầu đá, cầu gỗ hay Cầu Nại Hà (奈河橋, Nại Hà Kiều) và tống lên cho đầu thai vào 6 đường. Nếu như ở trên đời làm các việc thiện, khi sanh ra sẽ được trời người kính ngưỡng; sau khi chết đi cũng được quỷ thần cung kính; lúc ấy tự thân Chuyển Luân Vương cũng thân hành dẫn các sứ thần đến nghinh đón. Cho nên dân gian có câu rằng: “Tích thiện chi gia hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia hữu dư ương (積善之家有餘慶、積不善之家有餘殃, Nhà tích lũy việc thiện thì có nhiều điều tốt đẹp, nhà không tích lũy việc thiện thì có nhiều tai ương).” Từ cuối thời nhà Đường trở đi, tín ngưỡng Thập Điện Diêm Vương trở nên thịnh hành. Thông thường, trong Miếu Thành Hoàng ở các địa phương có thiết lập Diêm Vương Điện (閻王殿) để thờ Thập Điện Diêm Vương. Tại các tự viện Phật Giáo, hai bên phải trái của bàn thờ Địa Tạng Bồ Tát cũng có thờ Thập Điện Diêm Vương. Tín ngưỡng Thập Điện Diêm Vương cũng được du nhập vào Việt Nam và vẫn còn lưu hành cho đến ngày hôm nay. Như trong các lòng văn sớ dâng cúng cầu siêu, thường có đề cập đến Minh Vương (冥王, tức Diêm Vương), Diêm Ma Thập Điện như: “Tư lâm Đại Tường chi trai tuần, chánh trị khôn phủ đệ thập điện, Chuyển Luân Minh Vương án tiền trình quá (茲臨大祥之齋旬、正値坤府第十殿、轉輪冥王案前呈過, Nay gặp lúc tuần chay dịp Đại Tường, đúng vào điện thứ mười, xin trình trước án Chuyển Luân Minh Vương)”, hay “Cung phụng: Diện Nhiên Đại Sĩ, uy quang khắc đáo ư kim tiêu; Địa Tạng từ tôn, thần lực đại chương ư thử dạ; Diêm Ma Thập Điện, chiếu khai Thập Bát Địa Ngục chi môn; Tả Hữu Phán Quan, thiêu tận ức kiếp luân hồi chi tịch; tỷ Lục Đạo Tứ Sanh chi vi mạng, khô mộc phùng xuân; sử cửu huyền thất tổ chi sảng linh, đồng đăng giác ngạn (恭奉、面燃大士、威光刻到於今霄。地藏慈尊、神力大彰於此夜。閻魔十殿、照開十八地獄之門。左右判官、燒盡億刼輪廻之籍。俾六道四生之微命、枯木逢春。使九玄七祖之爽靈、同登覺岸, Cúi xin: Diện Nhiên Đại Sĩ, ánh sáng oai lực đến đêm nay; Địa Tạng từ bi, thần lực hiển bày vào tối này. Diêm Ma Mười Điện, mở Mười Tám địa ngục cửa tung; Phán Quan phải trái, đốt sạch hồ sơ luân hồi muôn kiếp; cho mạng nhỏ của Bốn Loài Sáu Đường, cây khô gặp xuân; khiến hương linh của cửu huyền thất tổ, cùng lên bờ giác)”, v.v.
diêm ma vương
Yama (skt)—The King of the Under World—See Diêm Vương.
; (閻魔王) Diêm ma, Phạm; Pàli: Yama, cũng gọi Dạ ma, Diệm ma, Diễm ma, Diêm la. Diêm ma vương, Phạm: Yama-ràja, cũng gọi Diêm la vương, Diêm ma vương, Diễm ma vương, Diêm ma la vương, Diệm ma la xà, Diêm ma la xã, Diễm ma la xà. Gọi tắt: Diêm la, Diệm la, Diệm vương, Diêm vương, Tử vương. Thủy tổ của thế giới ma quỉ, tổng quản cõi u minh, chủ thần của địa ngục. Hán dịch: Song (đôi), Song thế, Gia chỉ, Tĩnh tức, Bình đẳng v.v... Song nghĩa là cả hai anh em (gái) đều là chúa ngục, anh coi việc đàn ông, em coi việc đàn bà, cho nên cũng gọi Song vương. Song thế nghĩa là chịu khổ và hưởng vui. Gia chỉ nghĩa là ngăn chặn không cho tội nhân tạo nghiệp ác nữa. Tĩnh tức nghĩa là sau khi tội nhân nghe vua Diêm la chỉ bảo, biết rõ tội lỗi của mình mà lòng được bình an thanh thản. Bình đẳng nghĩa là tấm gương chiếu soi tội lỗi người ta rất bình đẳng, không thiên vị ai. Trong rất nhiều tên gọi của Diêm ma vương, tên Diêm la vương được người đời biết đến rộng rãi và thông dụng hơn cả. Diêm ma vương vốn là thần Dạ ma (Phạm:Yama) của thời đại Phệ đà ở Ấn độ, là con của thần Mặt trời (Phạm: Vìvasvat) và Sa lang viu (Phạm: Saraịyu), là vị thần sinh ra cùng một lúc với em gái của mình là Diêm mĩ (Phạm: Yamì), vì thế gọi là Song vương. Lại theo Ba tư cổ kinh A phàm sĩ tháp chú (Zend Avesta), thì tổ của loài người là Vìvanhvant bắt đầu nấu rượu cúng thần, nhờ công đức ấy mà sinh được một con, tên là Yma (Yima), người con này tức là Dạ ma. Cứ theo đó thì biết nguồn gốc của vị thần này đã có rất sớm, nhưng mãi đến sau thời đại Phệ đà mới phát triển. Vị thần này có quan hệ mật thiết với Thủy thiên (Phạm: Varuịa), Kì đảo chủ (Phạm: Bfhaspati) và A kì ni (Phạm:Agni). Trong Lê câu phệ đà cũng có chép những bài ca tán thán vị thần này và ghi lại cuộc đối thoại của thần với em gái là Diêm mĩ, trong đó, Diêm mĩ gọi Dạ ma là Người duy nhất phải chết (Phạm: ekamartya), hơn nữa, Dạ ma cũng muốn chết, vì thế tự nguyện bỏ thân mình vào cõi u minh để mở đường tối tăm cho chúng sinh: Đó là người chết đầu tiên trong nhân loại và được gọi là vua của những người chết. Chỗ ở của Dạ ma trong thời đại này là nơi xa xôi nhất trên cõi trời, là nơi vui thú thường nghe âm nhạc. Tại đây có hai con chó làm sứ giả, thường xuống nhân gian tìm người chết để dẫn vào cõi u minh. Nhưng, trong A thát bà phệ đà thì chỗ ở của Dạ ma đuợc di chuyển xuống hạ giới, gọi là Dạ ma thành (Phạm: Yama-pura), nơi đây, Dạ ma chuyên xem xét sổ sách ghi chép việc làm của những người chết lúc sinh tiền rồi căn cứ vào đó mà định thưởng phạt. Đến Sử thi Mahàbhàrata thì mô tả tướng mạo của Dạ ma rất đáng sợ, mình mặc áo màu đỏ tươi như máu, đầu đội vương miện, ngồi trên lưng trâu, một tay cầm gậy, tay kia cầm giây. Dạ ma ở thời đại này có hai tính cách: 1. Tử thần: Cầm đầu nhiều sứ giả đi cướp mệnh sống của người, bởi thế, đương thời gọi chết là Đi đến cung Dạ ma, gọi giết là Tống vào cung Dạ ma. 2. Vua của những người chết (Phạm: Preta-ràja), Pháp vương (Phạm: Dharmaràja), ở tại phía nam dưới đất, là người điều khiển thế giới tổ tiên (Phạm:Pitf-loka). Trong truyền thuyết thần thoại Ấn độ ở đời sau, Dạ ma bị coi là thần khủng bố chuyên mang lại khổ đau cho linh hồn những người chết. Tư tưởng Dạ ma sau khi được du nhập Phật giáo, đã chịu ảnh hưởng của các tư tưởng trình bày ở trên, cho nên Dạ ma một mặt là Dạ ma thiên ở tầng thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục, mặt khác là người chi phối cõi u minh, là vua Diêm la xét xử hành vi tội lỗi của nhân loại. Về bộ loại và tính chất của Diêm ma vương, trong các kinh luận có rất nhiều thuyết khác nhau, có thể rút gọn làm năm loại như sau: 1. Địa ngục: Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm quyển 19, kinh Đại lâu thán quyển 2 và luận Du già sư địa quyển 2 chép, thì trong núi Đại kim cương ở phía nam Diêm phù đề có cung Diêm la vương, người làm chủ cung ấy là vua Diêm la; vị vua này tuy là vua cõi địa ngục, nhưng ngày đêm ba thời vẫn phải chịu cái khổ lửa nóng hệt như các tội nhân khác. 2. Ngã quỉ: Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 17, luận Đại tì bà sa quyển 172 và luận Câu xá quyển 11 chép, thì Diêm ma vương là thủ lãnh của loài ác quỉ (hoặc quỉ đói), hiệu là Diêm ma quỉ vương, ở tại cõi Diêm ma la (thế giới của quỉ đói). 3. Diêm la vương: kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 11, kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 6 v.v... nêu Diêm la vương giới song song với địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, cứ đó suy ra thì Diêm la vương giới là một cõi riêng, nằm ngoài ba ác đạo. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 11 (Đại 9, 46 Q.thượng), nói: Như người bệnh nặng thường bị đau đớn, ân ái trói buộc trong ngục sinh tử, không bao giờ xa lìa địa ngục, quỉ đói, súc sinh và chỗ của vua Diêm la. 4. Biến hóa: Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5 và luận Nhị thập duy thức, thì vua Diêm la hóa hiện vào trong địa ngục để dạy bảo tội nhân biết rõ tội nghiệp của họ, những hình phạt mà họ phải chịu và tên địa ngục trong đó họ đang ở. 5. Bồ tát: Cứ theo luận Du già sư địa quyển 58, thì Bồ tát hóa hiện là chúa địa ngục để dạy bảo tội nhân. Còn kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân quyển 1 và kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1 thì nói, bồ tát Địa tạng dùng sức thệ nguyện bền chắc không thể nghĩ bàn hóa hiện làm Phạm thiên, Tự tại thiên, thân cầm thú, thân ngục tốt ở địa ngục, thân Diêm la vương v.v... để cứu độ tất cả chúng sanh. Về sứ giả (Thiên sứ) của vua Diêm ma, thì phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm quyển 19, kinh Đại lâu thán quyển 2 và kinh Khởi thế quyển 4 chép, vua Diêm la thường sai ba sứ giả: Lão, Bệnh, Tử đến nhân gian, chỉ rõ cái khổ vô thường để cảnh tỉnh người đời chớ làm các việc ác và làm mọi việc thiện để khỏi rơi vào địa ngục. Tư tưởng Diêm ma vương sau khi được Phật giáo truyền vào Trung quốc, lại kết hợp vớí tín ngưỡng Đạo giáo mà càng thịnh hành, rồi từ đó sản sinh ra các thuyết Minh giới thập vương, Diêm la thập điện v.v... Cứ theo Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương chép, thì vua Diêm la là vua thứ 5 trong 10 vị vua cõi u minh, bản địa là bồ tát Địa tạng, là Minh vương cai quản vong nhân vào tuần thứ 5 ở cõi âm. Cứ theo truyền thuyết, vua Diêm la cai quản điện thứ 5 ở cõi u minh, tức là Đại địa ngục khiếu hoán ở đáy biển về phía đông bắc, dưới tảng đá ốc tiêu và 16 Tiểu địa ngục tru tâm. Trước khi đến điện thứ 5, vong hồn phải đến Vọng hương đài (đài trông về làng) để nhìn con cháu ở dương gian, sau đó mới đến điện thứ 5 để chịu sự phán xét. Diêm vương ở điện này xét xử nghiêm khắc, thẳng thắn không thiên vị. Hơn nữa, 16 Tiểu địa ngục tru tâm, chuyên moi các tâm bất chính như: tà tâm, độc tâm, oán tâm, hận tâm, dâm tâm, đố tâm, tư tâm v.v... cho nên vong hồn rất sợ hãi khi bị áp giải đến điện thứ 5 này. Trong Mật giáo, Diêm ma vương được xếp vào Thiên bộ gọi là Diệm ma thiên, là một trong các vị trời hộ thế ở tám phương, một trong các vị thần vương hộ pháp ở mười phương, một trong 12 vị trời, một trong 20 vị trời bộ ngoài. [X. kinh Hoa Nghiêm (80 quyển) Q.10; kinh Quán đính Q.11, Q.12;kinh Thiết thành nê lê; kinh Đại nhật Q.1, Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.16; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.520; kinh Đại bảo tích Q.75; kinh Tịnh độ tam muội; luận Lập thế a tì đàm Q.6, Q.8; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31; luận Du già sư địa Q.37, Q.46; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.13, Q.21]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát, Diệm Ma Thiên, Diêm La Thập Điện).
diêm ma đức ca tôn
Xem Diêm Mạn Uy nộ vương.
diêm mâu na
Yamunnā (S)Tên một con sông.
; Yamuna (skt)—Lam Mâu Ni Na—Dao Vưu Na—Bây giờ là sông Jamna, một nhánh của sông Hằng (hợp lưu với sông Hằng tại Bát La Da Già)—The modern river Jamna, a branch of the Ganges (meets with the Ganges at Allahabad).
diêm mâu na hà
(閻牟那河) Diêm ma na, Phạm: Yamunà. Dịch ý: Phược hà. Một chi nhánh của sông Hằng bên Ấn độ, dài khoảng 1385 cây số. Từ xưa người Ấn độ rất sùng bái con sông này và coi nó như là Diêm mĩ (Phạm: Yamì), em gái trời Diêm ma. Thời xưa, kinh đô của nhiều triều đại đã được thiết lập trên hai bờ của con sông này nên nó được coi là nơi trung tâm văn hóa của Ấn độ. Cũng gọi là Lam mâu ni na hà, Dao phù na hà, Dao vô na hà, Da mâu na hà. Tức là sông Jumna ngày nay. Theo kinh A hàm nói, thì sông này là một trong năm con sông ở Ấn độ, phát nguyên từ dãy núi Hi mã lạp sơn, ở độ cao hơn 3.000 mét, chảy qua mạn tây sông Hằng, rồi chảy về phía nam đến A lạp cáp ba (Allahabad, tiếng Phạm xưa gọi là Prayàga, Bát la da già), thì đổ vào sông Hằng, Allahabad cũng nhờ đó mà trở thành Thánh địa của Ấn độ giáo suốt mấy nghìn năm nay. Khi ngài Huyền trang đời Đường đến Ấn độ thì dọc theo hai bờ sông Diêm mâu na đã có các nước như: Tốt lộc cần na (Phạm: Zrughna), Mạt thố la (Phạm: Madhurà), Yết nhã cúc xà (Phạm: Kanyakubja), Bát la da già (Phạm: Prayàga) v.v...[X. luật Ma ha tăng kì Q.8; Thiện kiến luật tì bà sa Q.12; luận Đại trí độ Q.28; Đại đường tây vực kí Q.4, Q.5].
diêm mạn uy nộ vương
Xem Minh Vương Bất động Bồ tát.
diêm mạn đức ca
Yamataka (skt)—Diêm Ma Đức Ca Tôn—Diêm Mạn Uy Nộ Vương—Đại Uy Đức Minh Vương—Hàng Diêm Ma Tôn—Lục Túc Tôn—Một trong năm vị Đại Minh Vương, vị tôn ở Tây Phương có sáu chân ( cũng là giáo lệnh luân thân của Đức Phật Vô Lượng Thọ)—The destroyer; Siva, Yama's destroyer, one of the Ming-Wang represented with six legs, guardian of the West.
diêm mạn đức ca minh vương
(閻曼德迦明王) Diêm mạn đức ca, Phạm: Yamàntaka. Vị tôn này có khả năng hàng phục Diêm ma, cởi trói cho chúng sinh. Là một trong năm vị Đại minh vương, một trong tám Đại minh vương của Mật giáo. Cũng gọi Trì minh kim cương, Thánh diệm mạn đức ca uy nộ vương, Diệm mạn uy nộ vương, Đại uy đức minh vương, Hàng diệm ma tôn, Diêm ma đức ca minh vương, Lục túc tôn. Trong năm vị Đại minh vương, vị tôn này ở phương tây, là Giáo lệnh luân thân của đức A di đà Như lai, tự tính luân thân của Ngài là bồ tát Văn thù sư lợi. Hình tượng vị tôn này màu xanh đen, hiện vẻ phẫn nộ, có sáu đầu sáu tay sáu chân. Mật hiệu là Đại uy đức kim cương, chủng tử là (hrìh) hình tam muội da là cây gậy. Ngoài ra, hình tượng của vị tôn này được truyền ở Tây tạng thì có ba mặt sáu tay sáu chân và ngồi trên lưng con trâu trắng lớn. Lại nữa, Uy đức bố úy kim cương hóa thân của bồ tát Văn thù là bản tôn của Vô thượng du già Bảo sinh bộ của Mật tông Tây tạng. Hình tượng vị tôn này có chín đầu, 34 tay, 16 chân, lõa thể, ôm minh phi La lãng nhiễm oa, chân đạp lên con bò, dưới con bò là một đàn ông đang nằm. Đây là một trong những bản tôn của phái Cách lỗ tu. [X. Quảng đại nghi quĩ Q. trung; Nhân vương đạo tràng quĩ; Văn thù bát tự quĩ; Diệm mạn đức ca vạn ái như ý pháp; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.6].
diêm mạn đức ca nghi quỹ
(閻曼德迦儀軌) Nghi quĩ ghi chép Phật thuyết Đại uy đức minh vương niệm tụng pháp. Gồm có 4 bản: 1. Thánh diêm mạn đức ca uy nộ vương lập thành đại thần nghiệm niệm tụng pháp, 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. 2. Đại thừa phương quảng mạn thù thất lợi Bồ tát Hoa nghiêm bản giáo Diêm mạn đức ca phẫn nộ vương chân ngôn đại uy đức nghi quĩ phẩm đệ tam thập, 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. 3. Đại phương quảng Mạn thù thất lợi đồng chân Bồ tát Hoa nghiêm bản giáo tán Diêm mạn đức ca phẫn nộ vương chân ngôn a tì già rô ca nghi quĩ phẩm đệ tam thập nhất, 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. 4. Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo kinh, 3 quyển, ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Bốn bản trên đây đều được đưa vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung tường thuật việc đức Phật vì lợi ích chúng sinh ở đời mạt pháp tuyên nói giáo pháp chân ngôn, ngăn cấm việc làm tai hại của ngụy vương phản bội và loài hữu tình, làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài ở thế gian.
Diêm Nhược Cừ
(閻若璩, En Jakkyo, 1636-1704): học giả sống dưới thời nhà Thanh, tự là Bách Thi (百詩), hiệu Tiềm Khâu (潛邱). Ông viết cuốn Cổ Văn Thượng Thư Sớ Chứng (古文尚書疏証) để khẳng định rằng tác phẩm Cổ Văn Thượng Thư (古文尚書) vẫn lưu hành xưa nay là ngụy tác.
diêm phù
Xem Nam Thiệm Bộ Châu.
; Jambu (skt)—Thiệm Bộ—Xà Phù Thụ hay Uế Thụ, loại cây được tả là cao ngất mà châu Diêm Phù Đề, một trong bảy châu lớn bọc quanh núi Tu Di, đã mang tên của loại cây nầy—The rose-apple, described as a lofty tree giving its name to Jambudvipa, one of the seven continents or rather large islands surrounding the Mountain Meru.
diêm phù na đề kim quang phật
Djambunadaprabhā (S)Danh hiệu Phật mà đức Thích ca thọ ký cho ngài Ma ha Ca chiên diên sẽ đắc thành trong vị lai.
diêm phù thọ
Jambud (S)Một thứ cây thường mọc ở Thiên trúc, một năm thay đổi ba lần: lần đầu hoa đẹp đẽ sáng chói, lần nhì lá sum xuê, lần ba lá hoa rụng còi cọc như chết. Đây là tên loài cây mà Thái tử Tất đạt Đa lúc du hành ngoài hoàng cung đã ngồi dưới gốc cây loại này mà tham thiền lần đầu.
diêm phù thụ
(閻浮樹) Diêm phù, Phạm; Pàli: Jumbu. Cũng gọi Thiềm phù thụ, Thiệm bộ thụ, Diệm phù thụ, Nhiễm bộ thụ, Tiềm mô thụ. Gọi tắt: Diêm phù. Tên khoa học: Eugenia jambolana. Thuộc loại cây cao lá rụng. Vốn sinh sản ở Ấn độ, nở hoa, kết trái vào khoảng tháng 4 tháng 5, quả màu tía đậm, vị hơi chua, hột có thể dùng làm thuốc. Luận Đại trí độ quyển 35 nói, Ấn độ là nơi cây Diêm phù xanh tốt nên được gọi là Diêm phù đề. Lại các con sông chảy qua rừng cây Diêm phù phần nhiều có hàm chứa vàng cát, cho nên vàng này được gọi là vàng Diêm phù đàn. Ngoài ra, kinh Khởi thế nhân bản và phẩm Diêm phù đề trong luận Lập thế a tì đàm quyển 1, đều nói có Diêm phù đại thụ vương. Cây này cao to, lá cây dày kín có thể ngăn che mưa gió, quả ngọt ngon không gì sánh bằng. Có người cho đây là cây lí tưởng do người Ấn độ tưởng tượng ra. [X. kinh Khởi thế Q.1; kinh Niết bàn (bản Nam) Q.9; Thiện kiến luật tì bà sa Q.17; Thích Ca phương chí Q.thượng; Bích nham lục tắc 14; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].
diêm phù đàn kim
JambŪnada-suvarṇa (S), Jambu gold Vàng chảy qua rừng cây Diêm phù đàn.
; Jambùnada-suvarna (S). Jambu-river gold, the golden sand of the Jambu.
; Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Đề (Đà) Kim—Tên một loại vàng ở sông Diêm Phù Đàn (mé dưới rừng cây Diêm Phù có một dòng sông tên là Diêm Phù Đàn, ở đáy sông có một loại vàng màu sẫm pha chút sắc tím gọi là Diêm Phù Đàn Kim)—Jambud-river gold, the golden sand of the Jambu.
; (閻浮檀金) Phạm: jambùnada-suvarịa. Ý nói loại vàng được sản xuất từ dòng sông Na đa (nada, đàn) chảy qua rừng cây Diêm phù (jambù). Loại vàng này có màu vàng đỏ óng ánh như tia lửa, là loại quí nhất trong các loại vàng. Cũng gọi Nhiễm bộ nại đà kim, Thiệm bộ nại đà kim, Diêm phù na tha kim, Diêm phù na đà kim, Thắng kim. Ở khoảng giữa núi Hương túy và núi Tuyết (Hi mã lạp sơn) có dòng sông chảy qua rừng cây Diêm phù, vàng được nhặt ra từ dòng sông này gọi là vàng Diêm phù đàn.Trong thần thoại Ấn độ, sông Diêm phù là một trong bảy chi nhánh của sông Hằng, sông này vốn không có thật, cho nên Diêm phù đàn kim và Diêm phù đại thụ vương có thể đều là những vật tưởng tượng để phụ họa cho thuyết Tu di bốn châu. Diêm phù đàn kim thường được nói đến trong các kinh điển. [X. kinh Quán vô lượng thọ; kinh Pháp hoa Q.3 phẩm Thụ kí; kinh Khởi thế nhân bản Q.1; luận Đại trí độ Q.35; Huyền ứng âm nghĩa Q.22].
Diêm Phù Đề
(s: Jambudvīpa, p: Jambudīpa, j: Empudai, 閻浮提): âm dịch là Diêm Phù Đề Bệ Ba (閻浮提鞞波), ý dịch là Uế Châu (穢洲), Thắng Kim Châu (勝金 洲), Diệm Phù Châu (剡浮洲), Thiệm Bộ Châu (瞻部洲), địa danh tưởng tượng ở Ấn Độ, được xem như nằm phía Nam núi Tu Di, còn được gọi là Nam Diêm Phù Châu (南閻浮洲). Cùng với Phất Vu Đãi (弗于逮, hay Đông Thắng Thân Châu [東勝身洲]) ở phía Đông núi Tu Di, Tây Ngưu Hóa Châu (西牛化洲) ở phía Tây, Bắc Cu Lô Châu (北倶廬洲) ở phía Bắc, chúng được gọi là Tứ Đại Châu. Với điểm cho rằng phương Bắc thì rộng, phương Nam hẹp, ta có thể suy ra được đây là địa danh tưởng tượng trên cơ sở đại lục Ấn Độ. Trên thực tế, trong thánh điển Pāli thì nó được dùng để chỉ đại lục Ấn Độ.
diêm phù đề
JambŪ (S), Jambudvīpa (S)Thiệm bộ châu, Diêm phù châu, Thắng Kim ChâuLà cõi giới chúng ta đang ơ. Trong cõi này con người thọ mạng chỉ trăm tuổi nhưng lại có Phật giáng sanh giảng dạy.
; Jambudvipa (S). Southern of the four continents surrounding Meru.
; Jambudvipa (skt). 1) Châu nầy được đặt tên Diêm Phù Đề có thể là vì trên châu nầy mọc nhiều cây Diêm Phù, hoặc giả từ trên cây Diêm Phù khổng lồ trên núi Tu Di có thể nhìn thấy toàn châu: It is so named (Jambudvipa) either from the Jambu trees abounding in it, or from an enormous Jambud tree on Mount Meru visible like a standard to the whole continent. 2) Thế giới mà chúng ta đang sống. Diêm Phù đề chỉ là một phần nhỏ của thế giới Ta Bà, nằm về phía nam của núi Tu Di, theo vũ trụ học cổ Ấn Độ, đây là nơi sinh sống của con người, là thế giới Ta Bà của Đức Phật Thích Ca—The human world—The world in which we are living—Jambudvipa is a small part of Saha World, the continent south of Mount Sumeru on which, according to ancient Indian cosmology, human beings live. In Buddhism, it is the realm of Sakyamuni Buddha.
; (閻浮提) Phạm: Jambu-dvìpa, Pàli: Jambudìpa. Cũng gọi Diêm phù lợi, Thiệm bộ đề, Diêm phù đề tì ba. Diêm phù, Phạm: Jambu, là tên cây; đề, Phạm:Dvìpa, là châu. Dịch cả Phạm Hán thì gọi là Diêm phù châu, Thiệm bộ châu, Thiềm phú châu. Gọi tắt: Diêm phù. Các nhà dịch cũ dịch là Uế châu, Uế thụ thành, là nước sản xuất nhiều cây Diêm phù. Còn sản xuất cả vàng Diêm phù đàn, cho nên cũng gọi Thắng kim châu, Hảo kim thổ. Châu này là châu ở phương nam trong bốn đại châu Tu di, cho nên cũng gọi là Nam diêm phù đề (Phạm: Dakwiịa-jambu-dvìpa), Nam diêm phù châu, Nam thiệm bộ châu. Phẩm Diêm phù đề châu trong Trường a hàm quyển 18, kinh Đại lâu thán quyển 1, kinh Khởi thế quyển 1 và kinh Khởi thế nhân bản quyển 1 đều nói, cõi này phía nam hẹp phía bắc rộng, chu vi 7.000 do tuần, khuôn mặt người cũng giống như địa hình ở đây. Lại mạn đông ao A nậu đạt có sông Hằng già (Lăng già) từ miệng bò sinh ra và theo 500 sông chảy vào biển Đông. Mạn nam có sông Tần đầu (Tín độ) từ miệng sư tử sinh ra và theo 500 sông mà chảy vào biển Nam. Phía tây có sông Bà xoa (Phược sô) từ miệng ngựa sinh ra và theo 500 sông mà chảy vào biển Tây. Mạn bắc có sông Tư đà (Tỉ đa) từ miệng voi sinh ra và theo 500 sông mà chảy vào Bắc.Luận Câu xá quyển 11 nói, trong bốn châu lớn, chỉ châu này có tòa kim cương, tất cả Bồ tát sắp thành Phật đều ngồi tòa này.Theo những điều trình bày trên đây thì có thể biết Diêm phù đề vốn chỉ riêng Ấn độ, về sau thì chỉ chung cho thế giới nhân gian. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Lập thế a tì đàm Q.1; luận Đại tì bà sa Q.172; Đại đường tây vực kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.18].
diêm phủ
See Diêm Đài.
diêm quan
(鹽官) (? - 842) Vị tăng đời Đường. Tức là Thiền sư Tề an ở viện Trấn quốc Hải xương huyện Diêm quan Hàng châu. Sư vốn người quận Hải môn, tỉnh Giang tô, họ Lí. Khi sư sinh ra có ánh sáng chiếu khắp nhà. Sư xuất gia từ nhỏ, y vào ngài Vân đông ở quận nhà, rồi theo ngài Nam nhạc Trí nghiêm thụ giới Cụ túc. Sau, nghe tin thiền sư Mã tổ Đạo nhất hành hóa ở núi Cung công, sư bèn đến tham lễ. Vừa thấy sư, ngài Đạo nhất biết ngay là bậc pháp khí nên kín đáo chỉ bày chính pháp. Cuối năm Nguyên hòa (khoảng 820), sư đến chùa Pháp lạc ở Tiêu sơn Việt châu (tỉnh Triết giang), ngài Pháp hân thỉnh sư làm Thủ tọa, hóa đạo rất thịnh. Về sau, sư trụ trì viện Trấn quốc, Hải xương, năm Hội xương thứ 2 sư tịch. Vua Tuyên tông ban thụy hiệu: Ngộ không đại sư. Lư giản cầu soạn bài minh ghi trên tháp của sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
diêm quan tê phiến
(鹽官犀扇) Chiếc quạt tê ngưu của Diêm quan. Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Diêm quan tê ngưu phiến tử, Diêm quan sách phiến (Diêm quan đòi quạt). Là công án ghi lại cuộc vấn đáp giữa ngài Diêm quan (đệ tử nối pháp của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường) và thị giả. Thung dung lục tắc 25 (Đại 48, 243 trang) chép: Một hôm Diêm quan gọi thị giả, bảo: Hãy đưa cây quạt tê ngưu đến đây cho ta! Thị giả thưa: Quạt rách rồi ạ!. Quan nói: Quạt rách rồi thì trả tê ngưu lại cho ta!. Thị giả không đáp được. Tư phúc vẽ một cái hình tròn rồi viết chữ ngưu trong đó. Trong công án này, ngài Diêm quan mượn cây quạt tê ngưu để nói về việc hướng thượng của tông môn. Ngài Tư phúc vẽ một hình vòng tròn trong hư không và lại viết một chữ ngưu trong đó là ý ngài muốn nói quạt tê ngưu là chỉ cho thực thể của vũ trụ chứ không phải một vật thật. Ngoài ra, Bích nham lục tắc 91 có nêu ra những lời đáp thay của các ngài Đầu tử, Thạch sương, Tư phúc, Bảo phúc v.v... sau câu Thị giả không đáp được. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.7 Diêm quan Tề an chương; Ngũ đăng hội nguyên Q.3 Diêm quan chương].
Diêm Quan Tề An
(鹽[塩]官, Enkan Saian, ?-842): người Quận Hải Môn, họ là Lý. Ông theo xuất gia với Vân Tung (雲琮) ở quê mình, rồi thọ cụ túc giới với Nam Nhạc Trí Nghiêm (南岳智嚴). Sau đó, ông đến tham yết Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và được vị nầy ấn chứng cho. Vào khoảng cuối niên hiệu Nguyên Hòa (元和, khoảng năm 820), ông đến trú tại Pháp Lạc Tự (法樂寺) thuộc Tiêu Sơn (蕭山), Việt Châu (越州), Tỉnh Triết Giang (浙江省). Tại đây ông quy y cho Pháp Hân (法昕), biến chùa nầy thành đạo tràng tu tập Thiền và phổ hóa Thiền phong của mình. Đồ chúng đến tham học với ông rất đông, ngay chính như vua Tuyên Tông (宣宗) cũng đã từng tham gia pháp hội của ông với hình thức là vị tăng. Về sau, ông chuyển đến sống tại Diêm Quan Trấn Quốc Hải Xương Viện (鹽官鎭國海昌院). Vào ngày 22 tháng 12 năm thứ 2 (842) niên hiệu Hội Xương (會昌), ông thị tịch. Vua Tuyên Tông ban cho ông thụy hiệu là Ngộ Không Đại Sư (悟空大師).
Diêm Quan Tề An
鹽官齊安; C: yōnguān qíān; J: enkan seian; ~ 750-842;|Thiền sư Trung Quốc, một môn đệ của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư được nhắc lại trong Công án 91 của Bích nham lục.|Sư họ Lí, quê ở Hải Môn. Khi Sư ra đời hào quang chiếu đầy nhà. Một vị tăng lạ nói: »Sứ giả dựng cờ vô thắng, xoay mặt trời Phật soi trở lại, đâu không phải người này?« Lớn lên, nghe Mã Tổ hoằng hoá ở Giang Tây, Sư tìm đến học và được Mã Ðại sư truyền tâm ấn. Sau, Sư đến trụ viện Hải Xương tại Diêm Quan Trấn Quốc ở Hàng Châu và vì vậy thời nhân gọi là hội Diêm Quan.|Có một giảng sư đến tham vấn, Sư liền hỏi: »Toạ chủ chứa chất sự nghiệp gì?« Giảng sư đáp: »Giảng kinh Hoa nghiêm.« Sư hỏi: »Có mấy thứ Pháp giới?« Giảng sư trả lời: »Nói rộng thì lớp lớp không cùng, nói lược có bốn thứ Pháp giới.« Sư liền dựng đứng Phất tử hỏi: »Cái này là Pháp giới thứ mấy?« Giảng sư suy nghĩ lựa lời đáp, Sư bảo: »Suy mà biết, nghĩ mà hiểu là kế sống nhà quỷ, ngọn đèn côi dưới trời quả nhiên mất chiếu.«|Một vị sư tên Pháp Không đến hỏi những ý nghĩa trong kinh. Sư mỗi mỗi đáp xong, bảo: »Từ khi Thiền sư lại đến giờ, Bần đạo thảy đều không được làm chủ nhân.« Pháp Không thưa: »Thỉnh Hoà thượng làm chủ nhân lại.« Sư bảo: »Ngày nay tối rồi hãy về nghỉ ngôi, đợi sáng mai hãy đến.« Sáng hôm sau, Sư bảo Sa-di mời Thiền sư Pháp Không. Pháp Không đến, Sư nhìn sa-di bảo: »Bậy! Sa-di này không hiểu việc, dạy mời Thiền sư Pháp Không, lại mời người giữ nhà đến!« Pháp Không không đáp được.|Sau, Sư không bệnh ngồi an nhiên thị tịch, được vua ban hiệu là Ngộ Không Thiền sư.
diêm quan tề an
Enkan Seian (J), Yanquan Qi'an (C), Yen-kuan Ch'i-an (C), Yanquan Qi'an (C), Enkan Seian (J)(750-842) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.Tên một vị sư.
diêm sơn bạt đội hoà thượng ngữ lục
(鹽山拔隊和尚語錄) Gồm 6 quyển. Ngài Bạt đội Đắc thắng (1326-1387) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, Minh đạo biên tập, thu vào Đại chính tạng tập 80. Cũng gọi Diêm sơn hướng nhạc Bạt đội hòa thượng ngữ lục, Bạt đội thiền sư ngữ lục, Bạt đội lục, Tuệ quang đại viên thiền sư ngữ lục, Diêm sơn lục. Nội dung sách này thu chép những phần chưa được ghi trong tác phẩm Diêm sơn hòa nê hợp thủy tập như: Niêm hương Phật sự, Tiểu Phật sự, Bỉnh cự, Yểm thổ Phật sự, Pháp ngữ. Kệ tụng, Chân tán, Vấn đáp, Thùy thị, Di giới, Hành lục v.v...
diêm thiên
(鹽天) Phạm: Yàma. Một trong sáu tầng trời cõi Dục. Cũng gọi Dạ ma thiên, Diệm ma thiên. Dịch ý: Diệu thiện thiên, Thiện thời phận thiên. Tức là tầng trời thứ ba của cõi Dục. Vua của cõi trời này tên là Mâu tu lâu đà. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Chính pháp niệm xứ Q.36; Khả hồng âm nghĩa Q.1]. (xt. Dạ Ma Thiên).
diêm thuỷ phật
(鹽水佛) Cứ theo Tây tạng tân chí chép, thì khi ngài Đạt lại hoặc các bậc cao tăng tôn quí thị tịch, liệm xác đặt vào quan tài, dùng muối lấp lại, nước muối rỉ ra dưới đáy quan tài, đem trộn với hoàng thổ (đất sét) làm tượng Phật nhỏ, gọi là Diêm thủy Phật (Phật nước muối). Loại tượng Phật này rất quí hiếm, nếu ai có được thì coi đó là của báu gia truyền.
diêm tâm
(鹽心) Bữa ăn sáng (tiểu thực) trong Thiền lâm. Cứ theo Thiền lâm tượng khí tiên ẩm đạm môn nói, thì điểm tâm là điểm vào tâm không (trống rỗng), nghĩa là lấy thức ăn điểm vào bụng trống rỗng. Danh từ điểm tâm đã có từ đời Đường bên Trung quốc, thông thường chỉ cho bữa ăn lót dạ. Thiền sư Đức sơn Tuyên giám đời Đường, khi chưa ngộ đạo, một hôm ngài vào quán bán thức ăn điểm tâm, bà già bán quán hỏi (Vạn tục 148, 140 thượng): Kinh kim cương nói: Tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được. Vậy chẳng hay Thượng tọa muốn điểm tâm nào!. Câu chuyện điểm tâm này đã trở thành công án nổi tiếng Đức sơn tam thế tâm bất khả đắc được truyền tụng từ nghìn xưa. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Chúc li chương, Trụ trì chương; Bích nham lục tắc 4; Năng cải trai mạn lục].
diêm tịnh
Singilonakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
Diêm vương
閻王; S, P: yama; gọi trọn âm là Diêm-ma vương hoặc Diêm-la;|Trong huyền thoại Phật giáo, thì Diêm vương là chúa tể của Ðịa ngục (s: na-raka).|Theo truyền thuyết, Diêm vương nguyên là vua của xứ Vệ-xá-li (s: vaiśālī) Trong một trận chiến tranh đẫm máu, ông ước nguyện làm vua địa ngục và quả nhiên dược tái sinh làm Diêm vương. Diêm vương có 8 tướng quân và 80 000 binh sĩ. Mỗi ngày ba lần Diêm vương và các tướng sĩ phải chịu hình phạt bị đổ đồng sôi vào miệng cho đến khi tội ác của họ được tha thứ. Diêm vương là người phái cái già, cái chết đến cho con người, nhắc nhở họ đừng làm gì trái với đạo lí. Diêm vương có người em gái là Yami, nữ chúa cai trị nữ nhân ở địa ngục.
diêm vương
Yamarāja (S).
; Yama (S). The regent of the Nàrakas, master of hell.
; Yama-raja (skt)—King of hell—God Yama—Còn gọi là Diêm La, Diêm Ma Vương, Diêm Ma La, Diêm Lão, hay Diêm La Vương. 1) Theo thần thoại Phật giáo và Ấn Độ giáo, tất cả mọi người chết phải đến trước một vị chúa tể hay phán quan của thần chết để được phán xử. Bằng cách dựa vào tấm gương phản chiếu thiện ác nghiệp, trong ấy những hành vi tốt xấu của người chết đều hiện lên. Diêm Vương cân nhắc tội nặng nhẹ mà thưởng phạt, hoặc đưa người ấy về cõi hạnh phúc, hoặc nếu hành vi xấu ác của người chết nặng thì Diêm Vương bắt y phải chịu những tra tấn hay nhục hình khủng khiếp, như nuốt hòn sắt cháy đỏ—In Buddhist and Hindu mythology, the Lord of Judge of the Death before whom all who die must come for judgment. Yam-raja holds up his Mirror of Karma, wherein are reflected the good and evil deeds of the deceased, and the latter consigns himself either to a happy realm or, where his deeds have been preponderantly evil, to frightful tortures, such as swallowing a red-hot iron ball. 2) Theo Kinh Vệ Đà thì Diêm Vương là Thần Chết, tất cả người chết phải về chỗ của ông ta. Ông là con trai của Mặt Trời, ông còn có một người em gái tên là Diêm Ma Nữ hay Diêm Mâu Na (người anh là nam phán quan xét việc nam giới, người em là nữ phán quan xét việc nữ giới): In the Veda, Yama means the god of the dead, with whom the spirits of the departed dwell. He was son of the Sun and had a twin sister Yami or Yamuna. ** See Yama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Diêm Mâu Na in Vietnamese-English Section.
diêm đài
Hells—Hades.
diên
Kéo dài—To prolong.
diên bảo truyện đăng lục
(延寶傳燈錄) Gồm 41 quyển, bộ sử truyện Thiền tông do ngài Tăng sư man (1626-1710) thuộc tông Lâm tế Nhật bản phỏng theo Cảnh đức truyền đăng lục của Trung quốc, biên soạn trong hơn 30 năm mới hoàn thành. Nội dung thu chép về truyện kí, pháp hệ, pháp ngữ, kệ thơ v.v... của 1247 vị cao tăng và cư sĩ của Thiền tông Nhật bản. Qua bộ sách này người ta có thể thấy một cách khái quát về giáo nghĩa cũng như phong cách của Thiền tông Nhật bản.
diên chiểu
(延沼) (896-973) Vị tăng tông Lâm tế đời Bắc Tống. Sư người Hàng châu Triết giang, họ Lưu. Thuở nhỏ sư khôi ngôi tuấn tú, đọc rất nhiều sách. Sư y vào luật sư Trí cung ở chùa Khai nguyên xuống tóc và thụ giới cụ túc, học Pháp hoa huyền nghĩa, tu tập chỉ quán định tuệ. Về sau, sư y chỉ và tham học ngài Nam viện Tuệ ngung sáu năm. Năm Trường hưng thứ 2 (931) sư đến ở chùa Phong huyệt tại Nhữ châu, ở đây bảy năm, đồ chúng về học rất đông và xây dựng lại chùa này thành tùng lâm. Năm Thiên phúc thứ 2 (937) quan châu mục nghe phong độ của sư rất kính ngưỡng. Tháng 8 năm Khai bảo thứ 6 đời vua Tống Thái tổ sư tịch, thọ 78 tuổi. Sư có soạn Phong huyệt thiền sư ngữ lục 1 quyển lưu truyền ở đời. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.11].
diên hành
(延行) Là pháp gia hành phương tiện để cho các hành giả mà căn tính quá trì độn tu tập. Một trong Tứ độ gia hành của phép truyền thụ quán đính trong Mật giáo. Nghĩa là khi tu gia hành, nếu hành giả không thể nào đọc tụng thuộc lòng thì trước phải kết nguyện, kế đến, mỗi ngày một lần tu pháp Phổ môn hoặc pháp cúng dường một vị tôn, tập luyện tụng thuộc lòng, cho đến khi tụng thuộc lòng được rồi mới bắt đầu tu chính hạnh. (xt. Tứ Độ Gia Hành).
Diên Khánh
(延慶, Enkyō, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, húy là Diên Khánh (延慶), con của vị Trưởng Quan Kami vùng Võ Tàng (武藏, Musashi) là Nghiệp Trinh (業貞). Ông chán ghét cuộc đời, lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Minh Khoái (明快) và học về Thiên Thai Mật Giáo. Tương truyền rằng ông lấy câu “chư pháp không (諸法空)” trong kinh sớ, chép lên cây quạt, rồi vẽ thêm vòng tròn mặt trăng vào câu ấy và bỏ trên đầu gối mình, nên nhờ đó mà trị được trọng bệnh.
diên khánh tự
Chùa Diên Khánh nơi có phòng giảng khi xưa của tông Thiên Thai ở Tứ Minh Sơn, thuộc tỉnh Triết Giang—Yen-Ch'ing-Ssu, the monastery in which there is an ancient lecture hall of T'ien-T'ai at Ssu-Ming-Shan in Chekiang.
; (延慶寺) Diên cùng nghĩa với chữ tuyến. Phạm: sùtra (Tu đa la), dịch nghĩa đen là diên (sợi dây), dịch ý là kinh (thường, sách). Dùng cả hai để dịch chữsùtra thì là Diên kinh. Tức là, giống như sợi dây xâu lấy vật để giữ cho khỏi rơi mất, văn kinh xuyên suốt câu văn và nghĩa lí, cho nên được ví dụ như sợi dây.Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên (Đại 33, 753 thượng) nói: Tu đa la, đây (Trung quốc) dịch là tuyến kinh. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 627 thượng), nói: Tu đa la, xưa dịch là Diên kinh. (xt. Kinh).
diên lịch tăng lục
(延曆僧錄) Gồm 10 quyển, ngài Tư thác soạn vào đời Đường. Năm Thiên bình thắng bảo thứ 6 (754) của Nhật bản, ngài Tư thác theo đại sư Giám chân sang Nhật bản, ngài thu tập truyện kí của các bậc cao tăng, ngoại hộ, cư sĩ v.v... của Phật giáo Nhật bản từ trước kia cho đến năm Diên lịch (782-806) mà soạn thành bộ lục này, hoàn thành vào năm Diên lịch thứ 10 (791). Tương truyền đây là bộ Tăng truyện sớm nhất của Nhật bản mà hiện nay đã thất lạc. Nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao, Đông đại tự yếu lục v.v... đều có dẫn dụng sách này.
diên lịch tự
(延曆寺) Chùa ở núi Tỉ duệ thuộc huyện Tư hạ, kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Cũng gọi Tỉ duệ sơn tự, Tỉ duệ tự, Tỉ giang tự, Sơn môn, Bắc lĩnh, Thai lĩnh. Là tổng bản sơn của tông Thiên thai Nhật bản. Năm Diên lịch thứ 4 (785) đời Hoàn vũ Thiên hoàng, ngài Tối trừng dựng một ngôi am cỏ ở đây. Ba năm sau, ngài sáng lập Căn bản trung đường thờ tượng đức Phật Dược sư do ngài tự làm, gọi là Nhất thừa chính quán viện. Năm Diên lịch 23, ngài đến Trung quốc tham học, năm sau trở về Nhật bản, theo lời phát nguyện của vua, ngài xây cất ở đây một Đại già lam và sáng lập tông Thiên thai Pháp hoa của Nhật bản. Năm Hoằng nhân 13 (822) ngài Tối trừng thị tịch. Cùng năm này, vua cho kiến lập Đại thừa giới đàn, năm sau, vua ban cho chùa tấm biển Diên lịch tự và ngài Nghĩa chân nhậm chức Tọa chủ đời thứ I tông Thiên thai. Sau lại có các vị cao tăng Viên nhân, Viên trân v.v... lần lượt ra đời nên tông phong rất thịnh, các nhà điện được kiến thiết, thời thịnh nhất có ba tháp và hơn ba nghìn kiến trúc lớn nhỏ. Niên hiệu Trinh quán năm đầu (895), ngài Viên trân lại làm chùa Viên thành như một viện riêng biệt. Vào hai thời kì Bình an (794-1192) và Liêm thương (1192-1333) Phật giáo hưng thịnh đã có rất nhiều vị tăng có tên tuổi đến chùa này để học tập, nghiên cứu. Năm Nguyên qui thứ 2 (1571), Chức điền Tín trường xung đột với tăng binh của chùa Diên lịch, đốt sạch quả núi, chúng tăng tử thương rất nhiều. Về sau, vào thời Phong thần Tú cát (1536-1598), Đức xuyên Gia khang (1542-1616), các sư Toàn tông, Thuyên thuấn v.v... xây dựng lại chùa gần được như cũ. Về phương diện giáo học, thì ngoài Viên giáo, Mật giáo, Giới học và Thiền ra, tư tưởng Tịnh độ cũng rất phát triển ở đây, cho nên chùa Diên lịch đã trở thành một đạo tràng của nền Phật giáo tổng hợp, và các vị tổ sư khai sáng nền Phật giáo mới ở thời kì Liêm thương phần lớn đều lên núi này tu học. Trong toàn quả núi chia làm ba tháp: 1. Đông tháp: Lấy Căn bản trung đường làm trung tâm, trong đó thờ tượng đức Bản tôn Dược sư Như lai, tượng đứng của Bồ tát Quan âm nghìn tay, Đại giảng đường (đã bị thiêu hủy) vốn là nơi cử hành pháp hội tháng 6 và pháp hội tháng 11 và Giới đàn viện là giới đàn truyền giới Viên đốn (giới Đại thừa) sớm nhất. Ngoài ra, còn có viện Văn thù (cũng gọi Nhất hạnh tam muội đường), viện Tiền đường (nơi ở của ngài Viên nhân), viện Tổng trì, viện Tịnh độ (nơi thờ ngài Tối trừng), viện Đàn na (nơi ở của ngài Giác vận), viện Ngũ trí (nơi thờ ngài Viên nhân), viện Minh vương (bản đường của chùa Vô động), viện Đại thừa (dấu tích cũ của ngài Từ viên, nơi tu học của ngài Thân loan). 2. Tây tháp: Lấy Thích ca đường làm trung tâm, cũng gọi là Chuyển pháp luân đường, trong đó thờ tượng đức Bản tôn Thích ca Như lai, tượng các bồ tát Văn thù, Phổ hiền, Tứ thiên vương v.v... Đại chúng của Tây tháp đến nơi này để tu các pháp như: Pháp hoa, Bát tự Văn thù, Bất động v.v... Pháp hoa đường và Thường hình đường, chùa Thanh long ở phía bắc Thích ca đường, do Lương nguyên xây dựng, sau là nơi tu học của các ngài Pháp nhiên, Chân thịnh, ngoài ra còn có Lưu li đường, Tướng luân đường v.v... 3. Hoành xuyên: Lấy Hoành xuyên trung đường làm trung tâm, cũng gọi là viện Thủ lăng nghiêm, do ngài Viên nhân sáng lập, thờ Bản tôn Thanh Quan âm, có Tì sa môn thiên và Bất động tôn đứng hai bên. Ngoài ra, còn có Tứ quí giảng đường (cũng gọi Định tâm phòng) là nơi ở của ngài Lương nguyên, viện Huệ tâm là nơi của ngài Nguyên tín, Định quang phòng là nơi tu học của sư Nhật liên, viện Hoa tạng là nơi ngài Đạo nguyên xuống tóc, viện Tư hạ là bản phường của chùa Diên lịch, Nhật cát thần xã thì tế lễ Sơn vương Quyền hiện. Bảo vật của chùa hiện còn là những bộ sách do Tông tổ tông Thiên thai là ngài Tối trừng viết chép như: Tương lai mục lục, Yết ma kim cương mục lục, Thiên thai Pháp hoa tông niên phần duyên khởi, Lục tổ Huệ năng truyện, Nhập đường điệp, Sơn môn tái hưng văn thư v.v... [X. Cửu viện Phật các sao; Sơn môn đường xá kí; Duệ nhạc yếu kí; Tam tháp chư tự duyên khởi; Truyền giáo đại sư hành trạng; Thiên thai tọa chủ kí Q.1, Q.2; Sơn gia tối lược kí].
diên môn thác bát
(沿門托鉢) Bát, Phạm: Pàtra, Pàli: Patta, một trong những đồ dùng mà tăng ni thường mang theo mình, tức là ứng lượng khí (bát đựng thức ăn). Thác bát nghĩa là tỉ khưu tay cầm bát đi xin ăn. Để khiến người tu hành giảm dục vọng vật chất đến mức thấp nhất và tránh xa cuộc sống phồn hoa của thế gian, tại Ấn độ thuở xưa, đức Phật đã đặt ra qui chế thác bát, quyết định tỉ khưu không được kinh doanh buôn bán để mưu sinh, cũng không được súc tích của cải vật tư, mà chỉ được cầm bát đi xin ăn để nuôi sắc thân và tuệ mệnh. Đời sau khoáng trương nghĩa ấy để chỉ chung cho những người đi xin ăn là thác bát cả. Cho nên, từ ngữ diên môn thác bát là hình dung người đứng chờ ở trước cửa nhà người ta để xin ăn, chứ không phải chỉ riêng sự thác bát của các tỉ khưu mà thôi. (xt. Khất Thực).
diên mạnh pháp
Janitam (S)Một pháp tu trong Mật giáo lấy Kim Cang thọ mạng Đà la ni để cầu sống lâu tăng.
diên mệnh
Cuộc sống kéo dài—Prolonged life.
diên mệnh bồ tát
Những vị Bồ Tát có phép tu và đức kéo dài cuộc sống. Những vị nầy gồm Phổ Hiền, Địa Tạng và Quán Âm—The life-prolonging bodhisattvas to increase length of life. These bodhisattvas are Samantabhadra, Ksitigarbha, and Avalokitesvara.
diên mệnh pháp
Yeimmeiho (J).
; Phép tu kéo dài tuổi thọ bằng cách tu theo hạnh các vị Diên Thọ Bồ Tát như Phổ Hiền, Địa Tạng và Quán Âm—Methods of worship of the life-prolonging bodhisattvas such as Universal Virtue (Samantabhadra), Earth-Store (Ksitigarbha), and Avalokitesvara, etc., to increase length of life.
; (延命法) Phạm: Jami-tam. Là pháp tu của Mật giáo lấy kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni làm cơ sở, chủ yếu là cầu sống lâu, tăng thêm phúc đức, giàu có và sinh được con thông minh. Phép tu này có hai loại: 1. Pháp Diên mệnh, là một trong sáu pháp. Lấy Diên mệnh tôn (tức là Kim cương tát đỏa hai tay) làm bản tôn (vị tôn chính), tu theo pháp thông thường. 2. Pháp Phổ hiền diên mệnh, lấy ngài Phổ hiền diên mệnh 20 tay làm bản tôn, làm đàn Tứ thiên vương, thắp 49 ngọn đèn. Pháp này phải lập đàn pháp như trên mới tu được. Tư tưởng diên mệnh trong Mật giáo rất đậm, bởi thế, ngoài pháp Diên mệnh ra, còn có Như pháp diên mệnh pháp, Phổ hiền pháp, Diên tam thất tuế (kéo dài tuổi thọ 21 năm) pháp v.v... Lại ngoài bồ tát Diên mệnh ra còn có các bồ tát Diên mệnh địa tạng, Diên mệnh Quan âm v.v... [X. Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng pháp, Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh pháp]. (xt. Phổ Hiền Diên Mệnh Pháp).
diên mệnh phổ hiền bồ tát
Ngài Phổ Hiền có phép tu và đức kéo dài tuôi thọ—The Life-Prolonging Samantabhadra Bodhisattva.
diên mệnh quan âm
(延命觀音) Một trong 33 Quan âm. Tương đương với hóa thân của bồ tát Quan âm trong phẩm Phổ môn. Phẩm Phổ môn kinh Pháp Hoa quyển 7 (Đại 9, 58 thượng), chép: Bùa chú và thuốc độc Muốn hãm hại thân người Nhờ sức niệm Quan âm Trở lại nơi người hại. Vì ngài tiêu trừ các tai nạn bùa chú và thuốc độc để kéo dài sự sống cho chúng sinh, nên gọi là Diên mệnh Quan âm. Theo điều Đông môn Diên mệnh Quan âm viện thứ 3 trong Bổ đà lạc hải hội quĩ, thì hình tượng của đức Quan âm này màu vàng sậm, hiện tướng từ bi nhu hòa, đầu đội mũ báu, trong mũ có hình Phật, có 20 cánh tay biểu thị sự tiếp dẫn các loài chúng sinh; các cánh tay bên trái mỗi tay cầm một vật như: châu báu, gươm báu, bánh xe vàng, cọc kim cương, mái chèo, mõ kim cương, chuông kim cương, hoa sen, tràng hạt và kết Quyền ấn. Các tay bên phải mỗi tay cầm một vật như: cây kích, gươm kim cương, tượng hóa Phật, kim cương báu, gương báu, dây kim cương, bạt chiếc la, chày năm chĩa, phạ nhật la và bắt ấn Vô úy. Hai chân có tướng nghìn nan hoa bánh xe, an trụ trong nguyệt luân hoa sen, hào quang rực rỡ. Ngoài ra còn có trăm nghìn thứ anh lạc, vòng hoa, áo trời trang nghiêm nơi thân Ngài.
diên mệnh quán âm bồ tát
Ngài Quán Âm có phép tu và đức kéo dài cuộc sống—The Life-Prolonging Avalokitesvara Bodhisattva.
diên mệnh địa tạng
(延命地藏) Bồ tát Địa tạng thệ nguyện kéo dài sự sống (diên mệnh) để làm lợi ích cho chúng sinh.Cứ theo phẩm Như lai tán thán trong kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển thượng (Đại 13, 783 trung) chép: Có người mới sinh con trai hoặc con gái trong bảy ngày hãy sớm vì đứa con ấy mà đọc tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, rồi niệm danh hiệu của bồ tát Địa tạng đủ một vạn biến, thì đứa bé trai hay gái mới sinh ra đó, nếu đời trước nó có gây tội lỗi gì thì cũng được thoát khỏi cả, nó sẽ được yên vui, dễ nuôi và tuổi thọ được lâu dài. Còn nếu nó nhờ nơi phúc đức mà sinh ra, thì đời nó càng được yên vui sung sướng hơn và sống lâu hơn. Theo đó có thể biết, bồ tát Địa tạng lấy diên mệnh lợi sinh làm bản nguyện chủ yếu ở chỗ che chở và giúp đỡ người sản phụ và đứa trẻ. Người đời sau mở rộng ý nghĩa ấy mà cho rằng vịBồ tát này có năng lực cứu khổ các nạn: đoản mệnh, chết non và kéo dài tuổi thọ nên Ngài được gọi là Diên mệnh Địa tạng. Tuy nhiên, trong các kinh và nghi quĩ không thấy ghi danh hiệu này. Hiện có kinh Diên mệnh địa tạng 1 quyển, nhưng có thuyết cho đó là kinhgiả. Vị Bồ tát này hiện tướng tỉ khưu, ngồi bán già trên đài sen, tay phải cầm gậy tích, tay trái cầm bảo châu. [X. kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện Q.trung, Q.hạ; Tích chiếu đường cốc hưởng tập Q.2].
diên mệnh địa tạng bồ tát
Ngài Địa Tạng Bồ Tát có phép tu và đức kéo dài được tuổi thọ—The Life-Prolonging Ksitigarbha Bodhisattva.
diên mệnh ấn minh
(延命印明) Ấn tướng và chân ngôn được trì tụng trong pháp tu Diên mệnh (cầu sống lâu) của Mật giáo. Ấn tướng và chân ngôn này thông thường được sử dụng trong các pháp tu như: Diên mệnh pháp, Phổ hiền diên mệnh pháp v.v... Tức là ấn tướng và chân ngôn của bồ tát Phổ hiền diên mệnh. Ấn tướng và chân ngôn này có các tên gọi khác nhau trong những kinh quĩ bất đồng. Chẳng hạn như trong Kim cương thọ mệnh đà la ni tụng niệm pháp, nó được gọi là Kim cương thọ mệnh bồ tát đà la ni ấn, trong Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh pháp nó được gọi là Kim cương thọ mệnh gia trì giáp trụ mật ấn. Trong hai kinh quĩ trên và trong Du già quĩ đều có ghi chép rõ ràng cách kết ấn khế như sau: Hai tay đều nắm lại thành kim cương quyền (nắm tay kim cương), hai ngón trỏ duỗi ra, ép sát lại và móc vào nhau đặt lên đỉnh đầu. Ngón trỏ (ngón gió) bên trái biểu thị tắt gió sinh diệt của phàm phu; ngón trỏ bên phải biểu thị gió sinh mệnh kim cương bất hoại của cảnh giới Phật. Hai ngón trỏ móc nối vào nhau, ý là gió sinh mệnh phần đoạn sinh diệt của chúng sinh và gió sinh mệnh đệ nhất thường trụ của Như lai hòa hợp vào nhau, biểu thị sự tiến vào cõi vốn chẳng sinh, tức là trong cảnh giới thọ mệnh kim cương chúng sinh và Phật là một mà thành tựu công đức kéo dài sự sống. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, kim cương) dụ sái (yuwai, thọ mệnh) sa phạ ha (svàhà, thành tựu).
diên niên chuyển thọ
Prolonged years and returning anniversaries.
; (延年轉壽) Nhờ sức thiền định, sức công đức của chính mình, hoặc nhờ sức gia trì của chư Phật, Bồ tát mà có thể kéo dài tuổi thọ. Cũng gọi Diên thọ, Tục mệnh, Diên mệnh, Diên niên. Tư tưởng này thấy trong luận A tì đạt ma phát trí quyển 12 và luận Câu xá quyển 3 v.v... cho nên biết nó đã được lưu hành ở Ấn độ từ rất sớm. Về sau, tư tưởng này được truyền đến Trung quốc, lại chịu ảnh hưởng tư tưởng diên niên ích thọ của Đạo giáo, nên mới có những cuốn kinh giả như: kinh Diên thọ mệnh, kinh Tục mệnh, kinh Thọ sinh v.v... kế tiếp nhau xuất hiện để cổ xúy cho tư tưởng diên mệnh. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo đã nói rõ về sự lợi ích của tăng thượng duyên hộ niệm ở đời hiện tại, gọi là Mong Phật hộ niệm tức đắc diên niên chuyển thọ, trường mệnh an lạc (Nhờ Phật thương nhớ che chở liền được thêm tuổi thọ và sống yên vui) cũng là chịu ảnh hưởng của tư tưởng diên mệnh đang thịnh hành ở đương thời.Tư tưởng diên mệnh càng ngày càng phát triển nên đã sinh ra Quan âm diên mệnh, Địa tạng diên mệnh, Phổ hiền diên mệnh, Chư Bồ tát diên mệnh v.v... cho đến trở thành một trong những pháp tu quan trọng của Mật giáo. [X. kinh Hữu nhiễu Phật tháp công đức; Quán niệm pháp môn Q.1]. (xt. Diên Mệnh Pháp).
diên pháp sư chúng
(延法師衆) Chúng (mọi người) của Pháp sư Đàm diên. Đàm diên là vị cao tăng ở thời Nam Bắc triều và đầu đời Tùy. Sư tinh thông kinh Niết bàn, các luận, biện tài vô ngại và nổi tiếng một thời. Vua Vũ nhà Bắc Chu từng đã tôn sư làm Quốc thống. Đến đời Tùy, vua Văn đế quí chuộng đức của sư nên ban cho sư phường Quảng ân để sư hoằng pháp và ra chiếu chỉ gọi hơn một nghìn người được sư hóa độ là Diên pháp sư chúng. Năm Khai hoàng thứ 4 (584), vua cho lệnh đổi phường Quảng ân làm chùa Diên hưng, đồng thời, cho đổi tên cửa Đông, cửa Tây của kinh thành là Diên hưng, Diên bình. [X. Tục cao tăng truyện Q.8, Q.11] (xt. Đàm Diên).
diên tam thất tuế pháp
(延三七歲法) Pháp kéo dài tuổi thọ 21 năm. Là một trong những pháp tu Diên mệnh (kéo dài sự sống) của Mật giáo. Tức là tu theo pháp Đại đạo tràng Chuẩn đề Quan âm do Tam tạng Thiện vô úy truyền. Vì pháp tu này có năng lực kéo dài tuổi thọ được 21 năm nên gọi là Diên tam thất (3 x 7 = 21) tuế pháp. Cứ theo Độc hành quán đính sám hối đại đạo tràng của ngài Thiện vô úy chép, nếu có tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, đồng nam, đồng nữ v.v... bất luận tội chướng đời trước nặng hay nhẹ, trong 21 ngày trước khi chết, nếu gặp được pháp này thì mỗi một lần tu quán đính có thể kéo dài tuổi thọ thêm được 21 năm. Lại cha mẹ gặp được pháp này mà vào quán đính thì con cháu cũng được phúc; còn nếu có thiện nam, thiện nữ được vào quán đính thì cũng có thể khiến cho cha mẹ được thêm phúc thêm thọ.
diên thọ
Kéo dài tuổi thọ: To prolong—To lengthen (life).
; (延壽) (904-975) Vị cao tăng ở cuối đời Đường và đầu đời Ngũ đại. Là tổ thứ 6 của tông Tịnh độ, tổ thứ 3 của tông Pháp nhãn. Ngài người huyện Dư hàng, phủ Lâm an, tỉnh Chiết giang, họ Vương, tự Trọng huyền, hiệu Bảo nhất tử. Lúc đầu ngài làm quan, năm 30 tuổi theo Thiền sư Thúy nham Lệnh tham xuất gia ở chùa Long sách. Sau, ngài đến núi Thiên thai tham học nơi Quốc sư Đức thiều, mới đầu tập thiền định, ngộ được huyền chỉ. Ít lâu sau, ngài đến chùa Quốc thanh, nơi đây, ngài tu phép sám Pháp hoa, buổi sáng phóng sinh, buổi chiều thí thực quỉ thần, tụng kinh Pháp hoa và kiêm tu tịnh nghiệp. Sau đó, ngài đến núi Tuyết đậu ở Minh châu truyền pháp và khôi phục chùa Linh ẩn ở Hàng châu. Năm Kiến long thứ 2 (961), nhận lời mời của Ngô việt vương Tiền thục, ngài về đạo tràng Vĩnh minh giáo hóa đại chúng, cho nên người đời gọi ngài là Vĩnh minh đại sư. Ngài mở ra con đường Thiền Tịnh song tu, lấy tâm làm tông. Ngài ở Vĩnh minh 15 năm, mọi người tôn kính và gọi ngài là Từ thị hạ sinh. Ngài triệu các vị danh tăng của ba tông Từ ân, Hiền thủ và Thiên thai cùng nhau sưu tập nghiên cứu thảo luận về các tác phẩm nổi tiếng của 200 vị Thánh Hiền Ấn độ và Trung quốc mà soạn thành bộ Tông kính lục 100 quyển. Đối với tông chỉ khác nhau của các tông phái đương thời, ngài giữ thái độ điều hòa. Vua nước Cao li được xem bộ Tông kính lục này, sai sứ đến đính lễ xin làm đệ tử, đồng thời, phái 36 vị tăng trong nước đến học pháp nơi Ngài. Do đó, Thiền phong của tông Pháp nhãn mới thịnh hành ở Hải đông. Năm Khai bảo thứ 8 ngài thị tịch, thọ 72 tuổi. Vua ban cho Ngài danh hiệu Trí giác thiền sư. Ngoài bộ Tông kinh lục, ngài còn có các tác phẩm: Vạn thiện đồng qui tập 6 quyển, Thần thê an dưỡng phú 1 quyển, Duy tâm quyết 1 quyển v.v... tất cả gồm hơn 60 bộ. [X. Tống cao tăng truyện Q.28; Cảnh đức truyền đăng lục Q.26; Truyền pháp chính tông kí Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.20; Phật tổ thống kỉ Q.26].
diên thọ diệu môn đà la ni kinh
(延壽妙門陀羅尼經) Có 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Bắc Tống, là kinh thuộc pháp Diên mệnh của Mật giáo. Gọi tắt: Diên thọ kinh, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung tường thuật: khi đức Phật ở đạo tràng Bồ đề, Ngài nhận lời thỉnh của Bồ tát Kim cương thủ tuyên nói Diên thọ diệu môn đà la ni, và Kim cương thủ, Đại phạm thiên vương, Tứ thiên vương v.v... cũng tùy hỉ tuyên thuyết chân ngôn Diên thọ.Các bản dịch khác của kinh này có: kinh Thiện pháp phương tiện đà la ni (mất tên người dịch), kinh Kim cương bí mật thiện môn đà la ni (không rõ dịch giả), kinh Hộ mệnh pháp môn thần chú (ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Đường). Tất cả ba kinh trên cũng đều được đưa vào Đại tạng tập 20.
Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh 延壽妙門陀羅尼經
[ja] エンジュミョウモンダラニキョウ Enju myōmon darani kyō ||| The Yanshou miaomen tuoluoni jing, also abbreviated as 延壽經; 1 fasc. (T 1140.20.587-590); an alternative version of the Shanfa fangbian tuoluoni jing 善法方便陀羅尼經. => (c: Yanshou miaomen tuoluoni jing, also abbreviated as 延壽經); 1quyển. Tên gọi khác của Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (c: Shanfa fangbian tuoluoni jing 善法方便陀羅尼經).
Diên thọ kinh 延壽經
[ja] エンジュキョウ Enju kyō ||| The Yanshou jing; abbreviated title for the Yanshou miaomen tuoluoni jing 延壽妙門陀羅尼經. => (c: Yanshou jing); Tên gọi tắt của Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh (c:Yanshou miaomen tuoluoni jing 延壽妙門陀羅尼經).
diên thọ môn đà la ni
Thần chú của Phật nói cho Ngài Kim Cương Thủ về phép tu huyền diệu kéo dài tuổi thọ—The gate of Life-Prolonging Dharani, or dharani which the Buddha told Vajrapani Bodhisattva methods of prolonging life of cultivation.
diên thọ vĩnh minh
See Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư.
diên thọ đường
Tĩnh Hành Đường—Niết Bàn Đường—Phòng nơi người sắp chết được đưa vào để cầu an (người sắp chết lắm khi tâm thần bấn loạn nên đem lòng tham luyến phòng ở, y bát, đồ dùng hành đạo, nên đem họ đến đây nghe kinh kệ để thấy rằng mọi sự vật đều là vô thường, không có gì để cho ta luyến ái trước khi họ thị tịch) —The hall or room into which a dying person is taken to enter upon his “long life.” The nirvana hall—See Niết Bàn Đường.
; (延壽堂) Ngôi nhà trong Thiền lâm dành cho các vị tăng đau ốm nằm điều trị và tĩnh dưỡng. Từ ngữ Diên thọ đường hàm ý mong cầu kéo dài tuổi thọ của sắc thân để tiếp nối tuệ mệnh của pháp thân. Cũng gọi Diên thọ viện, Diên thọ liêu, Tương tức liêu, Tỉnh hành đường, Trọng bệnh lư (các), Niết bàn đường, Vô thường viện (đường). Trong đó, tên gọi Tỉnh hành đường lấy ý là luôn luôn tỉnh thức quán xét hành khổ để phát khởi bi trí. Điều Tương tức tham đường trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 456 hạ), nói: Nếu các vị Khố tư, Tri sự và các Đầu thủ có bệnh thì bảo Cung quá hành giả bạch với vị Duy na, xin đưa xuống Diên thọ đường (có chỗ nói Tỉnh hành đường) để tĩnh dưỡng. Người săn sóc các vị tăng đau ốm, trông nom xếp đặt tất cả công việc hàng ngày trong Diên thọ đường, gọi là Diên thọ đường chủ, gọi tắt: Đường chủ. Theo điều Diên thọ đường chủ tịnh đầu trong Thiền uyển thanh qui quyển 4, thì cần phải thỉnh người có lòng rộng lượng, giàu tình thương, đạo niệm chu toàn, nhẫn nại chịu khó, biết cách an úy bệnh tăng v.v... để đảm nhiệm chức vụ Đường chủ. Ngoài ra, vị Thiền tăng xây mộ của mình lúc còn sống thì mộ ấy được gọi là Diên thọ tháp. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ Đại chúng chương Bệnh tăng niệm tụng điều, Lưỡng tự chương Liệt chức tạp vụ điều]. (xt. Niết Bàn Đường).
diên thọ đại sư
Yen-Shou—Tên của một vị sư nổi tiếng ở Hàng Châu vào thời nhà Tống. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ thì ngài là Lục Tổ Tịnh Độ của Trung Quốc. Ngài tự là Xung Huyền, họ Vương, quê quán ở Tiền Đường. Ngài quy y với Thúy Nham Thiền Sư ở đất Tứ Minh. Kế lại tham học với Thiền Quốc Sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được quốc sư ấn khả. Ngài từng tu Pháp Hoa Sám Pháp ở chùa Quốc Thanh. Trong khi thiền quán, thấy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó ngài được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn chuyên chú về Thiền hoặc Tịnh Độ mà chưa quyết định nên ngài đến Thiền viện của Trí Giả Đại Sư làm ra hai lá thăm: một lá đề “Nhất tâm thiền định,” lá kia đề “Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kế đó ngài lại chí tâm đảnh lễ Tam Bảo, sám hối cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn bảy lần đều nhằm lá “Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kể từ đây ngài chuyên ý nhứt tâm ròng rặc tu môn tịnh nghiệp. Năm Kiến Long thứ hai đời nhà Tống, vua Trung Ý Vương thỉnh ngài về trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu ngài là Trí Giác Thiền Sư. Ngài ở đây 15 năm, độ được 1.700 vị Tăng. Đại sư lập công khóa mỗi ngày đêm hành trì 108 điều. Hai điều đặc biệt nhứt trong đó là Một ngày tụng một bộ kinh Pháp Hoa và niệm 100.000 câu niệm Phật. Ban đêm khi ngài đi qua gộp núi khác niệm Phật, những người ở gần đều nghe có tiếng loa pháp và tiếng thiên nhạc trầm bỗng du dương. Về kinh Pháp Hoa, trong đời ngài tụng được 13.000 lần. Đại sư thường truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng sanh, thí thực cho quỷ thần, tất cả các công đức chi ngài đều hồi hướng về Tịnh Độ. Ngài có trước tác 100 quyển Tông Cảnh Lục, chỉ rõ dị đồng của ba tông: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức. Đại sư lại soạn ra tập sách Vạn Thiện Đồng Quy, chỉ rõ về Pháp Môn Tịnh Độ. Đại sư lại thấy người đương thời còn đang bị phân vân, ngờ vực giữa Thiền Tông và Tịnh Độ, chưa biết phải tu môn nào để được kết quả chắc chắn, nên ngài làm bài kệ “Tứ Liệu Giản” để so sánh (see Tứ Liệu Giản). Niên hiệu Khai Bảo thứ 8, vào buổi sáng sớm ngày 26 tháng 2, ngài họp tứ chúng lên chánh điện đốt hương lễ Phật, lễ xong ngài dặn dò, khuyên bảo, sách tấn tứ chúng tinh tấn tu hành, rồi ngồi kiết già ngay ngắn trên pháp tòa mà viên tịch. Ngài thọ 72 tuổi—Yen-Shou, name of a famous monk in Hang-Chou during the Sung dynasty. According to Most Venerable in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Yen-Shou was the Sixth Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His given name is Xung Huyền, his family name is Wang. He was born in Tsien-T'ang District. He first came to Zen Master Thúy Nham of Tsu-Ming region and asked to become a disciple. Next, he studied with Master T'ien-T'ai, the Nation's Master, at T'ien-T'ai. There he realized the true nature or Buddha nature and his realization was recognized by the Nation's Master. He often cultivated the “Dharma Flower Sutra's Repentance Practices” at Kuo-Ch'ing Temple. One day while engaging in Zen Meditation, he saw Avalokitesvara Maha-Bodhisattva sprinkle droplets of holy water into his mouth. From that point, he was able to explain, clarify, and elucidate the Buddha Dharma without limitation. Because of the residual vow in his former life, he was still uncertain whether he should choose Zen or Pureland to focus his practice. Thus, he came to the Zen Monastery founded by Zen Master Chih-I and prepared two prayer sticks: one was written “One Mind Zen Meditation,” and the other was written “Adorning the Pureland.” Next, he sincerely prostrated to the Triple Jewels, repented, and asked for protection and guidance. When he drew for the sticks, all seven times he drew the stick “Adorning the Pureland.” Thereafter, he devoted his time and energy to cultivate Pureland Buddhism diligently and vigorously with one mind. In the second year of Kiến-Long reign period of the Sung Dynasty, Emperor Wang-Chung-Yi cordially invited him to be the headmaster at Yung-Ming Temple, honoring him with the title Zen Master Enlightenment Wisdom. He lived there for fifteen years as he helped and guided 1,700 Bhiksus. He established praying periods, each day and night practicing 108 ways. Among these, two outstood as the most significant: Chanting a volume of Dharma Flower Sutra daily, and reciting Amitabha Buddha's name 100,000 times daily. At night, when he sat on a great boulder to practice Buddha Recitation, people in the surrounding area would hear the enchanting sounds of the Dharma as well as the magnificence of the heavenly symphony playing. In his lifetime, he chanted the Dharma Flower Sutra thirteen thousand times. He often granted Bodhisattva Precepts to those who wished to maintain. He also often purchased captive birds and fish to set them free, donated meals to deity, hungry ghosts, and demons. With all the merits and virtues he obtained, he dedicated them to the Pureland praying to gain rebirth there. He wrote 100 texts called “Tống Cảnh Lục” to point out similarities and differences of the three Dharma Doors: Avatamsaka, Dharma Flower and Mind Only or Zen School. He also authored a collection of Buddhist texts called “Vạn Thiện Đồng Quy.” Moreover, he also observed during that time, many Buddhists were skeptical and unclear about the differences between Zen and Pureland, not knowing which tradition to practice to obtain guaranteed results; therefore, he wrote a poem entitled “Four Clarifications” to make comparisons. At the early morning hours of February 26th in the eighth year of Khai Bảo reign period, he when to the prayer hall to light incense to prostrate to the Buddha. Thereafter, he gathered the great assembly to instruct and encourage them to cultivate diligently according to the teachings and then he sat in the lotus position on top of the Dharma throne and passed away into Nirvana. He was 72 years old.
diên xúc kiếp trí
Trí huệ Phật, trùm lên tất cả mọi kiếp kéo dài hay rút ngắn—Buddha-wisdom, which surmounts all extending or shrinking kalpas. ** For more information, please see Kiếp.
; (延促劫智) Diên là kéo dài ra, Xúc là rút ngắn lại. Nghĩa là trí của đức Phật có thể kéo dài thời gian rất ngắn thành một kiếp hay rút thời gian dài một kiếp thành thời gian rất ngắn một cách tự tại. Đây là sức trí phương tiện của đức Phật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại 33, 770 thượng), nói: Nếu cần phải dùng đến phương tiện thì đức Phật đã có trí Diên xúc kiếp có thể diễn bảy ngày thành nghĩa vô lượng kiếp. Lại nữa, Xúc còn chỉ cho sức thần thông của Phật làm cho người ta ở trong vô lượng kiếp mà cảm thấy thời gian ngắn như một nháy mắt; còn Diên thì trong thời gian một nháy mắt mà cảm thấy dài dằng dặc như vô lượng kiếp. Vì có thể tự tại kéo dài hay rút ngắn tùy theo ý muốn, nên gọi là Diên xúc tự tại. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.1; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.9].
Diên Ân
(延殷, Enin, 968-1050): vị học tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy là Diên Ân (延殷), xuất thân vùng Đản Mã (但馬, Tajima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia và thọ giới với Từ Nhân (慈仁) ở Tỷ Duệ Sơn, rồi học giáo nghĩa Thiên Thai Tông với Tĩnh Chiếu (靜照). Năm 1000, ông dốc chí sang nhà Tống cầu pháp, đi đến Đại Tể Phủ (大宰府, Dazaifu), nhưng vì theo lệnh của triều đình nên phải lưu lại đây. Ông thọ hai bộ Quán Đảnh từ Cảnh Vân (景雲), rồi vào ẩn tu mấy năm trong núi Đa Võ Phong (多武峰). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của Minh Khoái (明快), ông quay về Tỷ Duệ Sơn; nhưng lần thứ hai lại ra vùng Đại Nguyên (大原, Ōhara) sống nhàn cư, cùng với Giác Tầm (覺尋) chuyên tâm tu niệm; cuối cùng ông chuyển đến Thủ Lăng Nghiêm Viện (首楞嚴院) trên Duệ Sơn. Năm 1038, trong khi hai phái Sơn Môn và Tự Môn tranh nhau chức Tọa Chủ, ông lui về ẩn cư ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) và thọ nhận hai bộ Quán Đảnh với Nhân Hải (仁海).
diêu hưng
(姚興) (366 - 416) Vua nhà Hậu Tần. Người Khương ở Nam an xích đình (tỉnh Cam túc), tự Tử lược. Cha là Diêu trường (Trành) phản Phù kiên, chiếm cứ đất Quan trung xưng đế, đó là nhà Hậu Tần. Diêu hưng nối ngôi cha, đóng đô ở Trường an thống lãnh các châu Ung, Lương, Tấn, Dự, trị vì 22 năm. Diêu hưng thông minh từ thuở nhỏ, tin thờ Phật pháp, thường giảng kinh điển. Ông rước ngài Cưu ma la thập vào Trường an, tụ họp mấy vạn vị tăng chuyên dịch kinh và tu Thiền, nghĩa học ở Quan trung cực thịnh một thời. Năm Hoàng sơ 22 ông qua đời, hưởng dương 51 tuổi. [X. Tấn thư Q.117, Ngụy thư Q.10].
diễm
1) Bén nhọn: Pointed—Sharp. 2) Chuốt cho bén: To sharpen. 3) Diễm Lệ: Beautiful. 4) Ngọn Lửa: A flame—A blaze.
diễm huệ địa
Arcismati-bhŪmi (S), Blazing stage Trong Thập địa.
diễm khẩu
Ulka-mukha (skt)—See Diệm Khẩu.
diễm lệ
Charming—Lovely.
diễm ma giới
Xem Diêm Ma giới.
diễm ma thiên
Xem Viêm ma thiên.
diễm phù
Jambudvipa (skt)—See Diêm Phù Đề in Vietnamese-English Section, and Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
diễm phúc
Happiness—Felicity.
diễm sắc
Great beauty.
diễm tuyệt
Very beautiful (pretty).
diễm tình
Love.
Diễn
演; C: yăn; J: en;|1. Mở rộng; 2. Giảng nói, giảng thuyết, giảng giải; thuyết giảng chính pháp; 3. Thực hiện (công trình, buổi lễ, v.v…); 4. Thi hành, trình diễn, liên hoan nhảy múa; 5. Nghiên cứu, thực hành.
diễn
1) Bày ra: Show—To extend. 2) Diễn giảng: To expound—To perform—To act.
Diễn bí
演秘; C: yănmì; J: enbi;|Tên vắn tắt thông dụng thường gọi tác phẩm Thành duy thức luận diễn bí (成唯識論演秘).
Diễn bí 演秘
[ja] エンビ Enbi ||| Yanmi; the popular short title of the Ch'eng wei-shih lun yen-mi 成唯識論演秘. => (c: Yanmi) Tên vắn tắt thông dụng thường gọi tác phẩm Thành Duy thức luận diễn bí (c: Ch'eng wei-shih lun yen-mi 成唯識論演秘).
diễn bản
(演本) (1873 - 1958) Người Vô tích, Giang tô, họ Vưu, tên Tuyết hành, hiệu Tích âm, Vô tướng sơn nhân, Bát nhất sơn nhân. Thủa nhỏ sư nghiên cứu các sách rất sâu rộng, đã từng cùng với Lí thúc đồng (luật sư Hoằng nhất) dạy môn Quốc văn ở Đại học Thánh ước hàn tại Thượng hải, nổi tiếng trong học giới. Sau nhân nghiên cứu Phật pháp lòng sinh vui mừng, nên qui y Tam bảo ở chùa Hổ bào tại Hàng châu, hiệu là Hoằng như cư sĩ. Không bao lâu, làm chủ biên báo Thế giới Phật giáo cư sĩ lâm ở Thượng hải và biên soạn Đàm nhân pháp vị, An sĩ toàn thư để phát huy giáo nghĩa Đại thừa, sư nổi tiếng ngang với Vô tích Đinh phúc bảo. Sư từng đi các nước vùng Đông nam á như: Thái lan, Việt nam v.v... để hoằng pháp. Năm Dân quốc 21 (1932), sư đến Tân gia ba và Mã lai giảng diễn Phật pháp, gặp pháp sư Đức ngọc ở chùa Pháp nguyên từ Bắc bình đến, sư bèn lễ ngài Đức ngọc xin xuống tóc. Sau sư đến Miến điện thụ giới Cụ túc rồi sang Ấn độ chiêm bái các Phật tích. Khi trở về Mã lai, sư ẩn tu ở Penang tu tập theo Mật tông và đề xướng thuyết Hiển Mật viên tu tri hành hợp nhất. Sư từng làm trụ trì chùa Tam bảo ở Kim mã luân, Đạo sư của Tổng hội Phật giáo và Cư sĩ lâm ở Tân gia ba. Năm dân quốc 47 sư tịch, thọ 86 tuổi. Sư có các tác phẩm: kinh Phật thuyết thập nhị đầu đà, kinh Kim quang minh, Kim cương kinh diệu giải, Bất dạ thành, Cưu ma la thập tôn giả truyện, Phật pháp yếu lĩnh, Tuyển chú bất li thế gian tam muội thành tựu thế gian tam muội v.v...
diễn bẫu
(演培) Quay mặt vào vách chín năm. Sự tích của Tổ Bồ đề đạt ma ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Cũng gọi Đạt ma diện bích cửu niên, Cửu niên diện bích. Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 3 chép, thì lúc ngài Bồ đề đạt ma ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn, suốt ngày ngồi yên lặng nhìn vách, như thế trong chín năm, người đời gọi ngài là Bích quan bà la môn (Bà la môn xem vách). Nhưng Lịch đại pháp bảo kỉ thì nói ngài chỉ ở Tung sơn có 6 năm, nói 9 năm có lẽ là thuyết của Truyền pháp chính tông kí quyển 5. Sách này chép, niên hiệu Phổ thông năm đầu (520) đời Lương, ngài Đạt ma trụ ở Tung sơn, đến năm Đại thông thứ 2 (528) thì tịch, tất cả chín năm. Đệ tử Thiền tông đời sau tự nhiên nêu ra thuyết chín năm, do đó mới có từ ngữ Diện Bích Cửu Niên. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thung dung lục tắc 2, tắc 23; Phổ tế thiền sư ngữ lục Q.thượng].
diễn dịch
Deductive—To expound and make clear.
diễn dịch pháp
Deductive method.
diễn giả
Speaker—Orator.
diễn giải
To explain.
diễn môn, ma ha diễn
Mahayàna (S) The greater vehicle.
diễn na
Yana (S). Vehicle. Thừa, thặng.
Diễn nghĩa
演義; C: yănyì; J: engi;|Đề ra và giải thích ý nghĩa hay thực chất của vấn đề.
Diễn nghĩa 演義
[ja] エンギ engi ||| To draw out and explain the meaning or the real gist. => Đề ra và giải thích ý nghĩa hay thực chất của vấn đề.
diễn nhã đạt đa
Yajnadatta (skt)—Dịch là Từ Thụ, có nghĩa là nhờ tế thần mà được trao cho—Obtained from sacrifice.
; (演若達多) Phạm:Yajĩadatta. Cũng gọi Diên nhã đạt đa, Da nhã đạt đa. Dịch ý là Từ thụ....., nghĩa là do tế lễ cầu trời mà xin được (cầu tự). Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 4 chép, thì trong thành Thất la, có anh chàng Diễn nhã đạt đa, một hôm, vào buổi sáng, anh ta lấy gương soi mặt, nhìn thấy cái đầu, cả lông mày và mắt nữa, rất khoái, nhưng bỗng nhiên lại giận cái đầu tại sao không thấy mặt, bèn cho bóng hiện trong gương là yêu ma, rồi vô cớ phát điên lên, vứt gương bỏ chạy. Nội dung câu truyện trên đây, đầu thật của mình ví dụ chân tính, còn đầu trong gương là cái bóng giả. Thấy đầu, lông mày và mắt trong gương mà khoái là ví dụ nhận cảnh giả làm chân tính rồi cố bám dính không buông bỏ; giận và trách cái đầu của mình tại sao không thấy lông mày và mắt, là ví dụ mê trái chân tính. Lăng nghiêm kinh văn cú (Vạn tục 20, 285 hạ) nói: Nên biết, phàm phu ưa thích cái có giả nên chẳng thấy chân không, Nhị thừa bị vướng mắc ở một bên không nên chẳng thấy diệu hữu, Bồ tát thì đắm muôn hạnh mà không thấy Trung đạo, Biệt giáo bị kẹt trong Đãn trung nên không thấy pháp giới... đều là khùng bỏ chạy cả (...). Đó là do tâm người chứ không phải gì khác, bởi thế biết vọng vốn không có nguyên nhân. Ngoài ra, khi bàn về vấn đề có hay không có cái ta, luận Câu xá quyển 30 lại nêu ra Thiên thụ (Đề bà đạt đa) và Từ thụ (Diễn nhã đạt đa) làm ví dụ, bởi vì hai người này là những cái tên thường thấy ở Ấn độ. [X. Câu xá luận quang kí Q.30; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Tông kính lục Q.5; Đại Phật đính thủ lăng nghiêm toản chú Q.4].
diễn nhã đạt đa chi đầu
Chuyện về cái đầu của Diễn Nhã Đạt Đa. Tại thành Thất La có người cuồng tên Diễn Nhã Đạt Đa. Một buổi nọ ông lấy gương soi mặt, nhìn thấy lông mi và mắt hiện ra trong gương, nhưng lại không thấy được lông mi và mắt trên đầu của mình nên hoảng sợ bỏ chạy một cách điên cuồng. Ở đây mắt và đầu ví với chân tính, tất cả những gì hiện ra trong gương đều là vọng tưởng (Diễn Nhã Đạt Đa mừng khi thấy đầu trong gương ví với việc chúng sanh chấp vọng làm chân, cố chấp không bỏ. Không thấy mình vốn có đầu, trên đầu vốn có lông mi và mắt thật, được ví với chân tính)—The head of Yajnadatta—Yajnadatta, a crazy man who saw his eyebrows and eyes in a mirror but not seeing them in his own head thought himself bedevilled; the eyes and head are a symbol of reality. Those in the mirror of unreality.
Diễn sướng
演暢; C: yănchàng; J: enchō;|Giảng giải rõ ràng, trình bày chi tiết, truyền dạy, truyền bá (s: niścarati).
diễn sướng
(演暢) Diễn nói thông suốt, đầy đủ. Tức là diễn nói nghĩa lí rõ ràng. Cũng gọi tuyên dương. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 trung), nói: Diễn xướng nghĩa thực tướng, mở bày pháp Nhất thừa, chỉ dẫn các chúng sinh, khiến mau thành bồ đề.Những tiếng cùng nghĩa là: diễn thuyết, diễn đạo, diễn bố v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Trường a hàm Q.2; kinh Quán đính Q.12; kinh A di đà; luận Câu xá Q.1].
Diễn sướng 演暢
[ja] エンチョウ enchō ||| To explain clearly, to expound, teach, propogate (niścarati). 〔法華經 T 262.9.11b5〕 => Giảng giải rõ ràng, trình bày chi tiết, truyền dạy, truyền bá (s: niścarati).
Diễn thuyết
演説; C: yănshuō; J: enzetsu; S: deśanā|Giảng giải giáo lí, đặc biệt trước đại chúng.
diễn thuyết
Nirdeśa (S), Niddesa (P).
; 1) Đọc diễn từ: To make (deliver) a speech. 2) Giảng giải nghĩa lý: To expound—To dilate upon—To discourse.
; (演說) Phạm: Nirdeza, Pàli: Niddesa. Nghĩa là giảng nói lí sâu xa mầu nhiệm của giáo pháp Như lai trước quần chúng. Thời xưa dùng những từ ngữ như: Thuyết pháp, đàm nghĩa, khuyến hóa, xướng đạo, thuyết giáo v.v...Từ ngữ này được thấy rải rác trong nhiều kinh điển, như: Tuyên xướng diễn thuyết trong kinh Vô lượng thọ; Thụ trì đọc tụng, vị nhân diễn thuyết trong kinh Kim cương đính; Y ư nhất thực lí, diễn thuyết chư pháp tướng trong kinh Hoa nghiêm (80 quyển) quyển 6 v.v... Ngoài ra, khi trình bày ý kiến cá nhân liên quan đến một chủ đề nào đó, trước quần chúng thì cần phải diễn nói, lí luận rõ ràng, có căn cứ, lời và nghĩa trong sáng dễ hiểu, khi cần thiết phải dùng tay hoặc điệu bộ diễn tả để giúp thêm cho lời thuyết minh, cũng gọi là diễn thuyết, còn gọi diễn giảng, giảng diễn, giảng thoại...
Diễn thuyết 演説
[ja] エンゼツ enzetsu ||| (deśanā) To explain a teaching, especially before a large assembly. => (s: deśanā) Giảng giải giáo lý, đặc biệt trước đại chúng.
Diễn tiêu
(衍椒): từ dùng để chúc tụng, khen ngợi người có nhiều con cháu. Nó xuất xứ từ trong Thi Kinh (詩經), phần Tiêu Liêu (椒聊): “Tiêu liêu chi thật, phiền diễn doanh thăng (椒聊之實、蕃衍盈升, hột cây hoa tiêu, lủng lẳng đầy ắp).”
diễn tiến
To progress—To evolve.
diễn tả
To describe.
diễn viên
Actor—Actress.
diễn văn
Speech—Address.
diễn điệp nhi pháp
(演揲兒法) Phép tu bí mật của Lạt ma Hồng giáo Tây tạng lấy tính giao làm pháp môn tu đạo. Loại hành pháp này đã chịu ảnh hưởng của phái Tính lực...... trong Ấn độ giáo rồi phát triển dần mà thành là Vô thượng du già đại lạc hành pháp, như Mật giáo tả đạo (Phật giáo Đát đặc la) rất đậm sắc thái hành dâm. Hồng giáo Tây tạng không những chỉ tiếp nhận loại tư tưởng này, mà còn dùng Phật học để giải thích nó: Lấy không của Bát nhã làm sinh thực khí nữ tính, lấy có của phương tiện làm sinh thực khí nam tính, do đó trở thành Phật pháp bí mật, tức là lấy việc giao hợp nam nữ làm bản chất tột cùng của Vô thượng du già, dựa vào đó mà thành lập Bản tính kim cương thừa (Tạng: Sahajìya - Vajrayàna). Cho mãi đến khi ngài Tông khách ba hô hào cải cách những hiện tượng hủ bại và sáng lập phái Cách lỗ (Hoàng giáo) thì mới chặn đứng được loại tu pháp này. [X. Canh thân ngoại sử].
diễn đàn
Platform.
diễn đạt
To express.
Diễn 演
[ja] エン en ||| (1) To amplify. (2) to speak, lecture, explain; to give a Buddhist sermon. (3) To put on (a performance, etc.), to do. (4) To perform, play for, to dance. (5) To study, practice. => 1. Mở rộng. 2. Giảng nói, giảng thuyết, giảng giải; thuyết giảng chính pháp. 3. Thực hiện (công trình, buổi lễ,v.v...). 4. Thi hành, trình diễn, liên hoan nhảy múa. 5. Nghiên cứu, thực hành.
diệc
1) Vừa: Also. 2) Hơn nữa: Moreover.
diệc hữu diệc không môn
1) Trường phái Trung Đạo: Madhyamika (skt)—The middle school. 2) Pháp môn vừa hữu vừa không hay pháp môn song chiếu hữu không—Trung Đạo—Both reality and unreality—Relative and absolute—Phenomenal and non-phenomenal.
; (亦有亦空門) Một trong bốn môn của bốn giáo do Thiên thai lập ra. Là pháp môn quán các pháp nhân duyên sinh diệt cũng có cũng không để phá trừ phiền não thiên chấp Có, Không tương đối mà vào pháp môn Đệ nhất nghĩa đế, tức là pháp môn song chiếu Có và Không để hiển bày lí Trung đạo. (xt. Tứ Giáo Tứ Môn).
diệm
1) Viêm: Ngọn lửa—Flame—Blaze. 2) Niết Bàn: Nirvana.
; (焰) Tên gọi khác của Niết bàn. Cũng gọi Viêm. Cơ duyên độ sinh đã hết, đức Như lai liền vào Niết bàn. Cho nên mượn cách nói củi hết thì lửa tắt mà gọi Niết bàn là Viêm (ngọn lửa). Cũng gọi kinh Niết bàn là Viêm kinh, gọi cái chấm Niết bàn trong chữ Tất đàm là Viêm điểm. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch của ngài Huyền trang)].
diệm dụ
Māricī-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như sóng nắng.
Diệm huệ địa
xem Mười địa vị.
diệm huệ địa
Giai đoạn thứ tư của Bồ Tát, trí tuệ của Bồ Tát sáng lên tột bực và hiểu biết đầy đủ—The stage of flaming wisdom, the fourth of the ten bodhisattva stages. ** For more information, please see Thập Địa Phật Thừa (4).
Diệm huệ địa 焰慧地
[ja] エンエジ eneji ||| The stage of burning wisdom, which is the fourth of the ten stages 十地 in the bodhisattva path. At this level, one has consummated the virtue of the perfection of effort, resulting in the destruction of the affliction in the path of cultivation, thus producing wisdom (arciṣmati). => Giai vị trí huệ chiếu sáng, là giai vị thứ tư trong Thập địa của hàng Bồ-tát. Ở địa nầy, hành giả hoàn thành công hạnh tinh tiến ba-la-mật, kết quả phá trừ mọi phiền não trong tiến trình tu đạo, nên phát sinh trí huệ (s: arciṣmati).
Diệm Khẩu
(焰口): còn gọi là Diệm Khẩu (燄口, miệng bốc lửa), Diện Nhiên (面然[燃], mặt bừng cháy), là tên gọi của loài Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼, quỷ đói). Thân hình của nó khô gầy, cổ họng nhỏ như cây kim, miệng thường bốc cháy lửa, do vì đời trước keo kiệt, bỏn xẻn, nên phải chịu quả báo như vậy. Con quỷ này đã từng xuất hiện trong khi tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) nhập định, từ đó sinh ra nghi thức “Phóng Diệm Khẩu (放焰口, cứu thoát con quỷ đói có miệng bốc lửa)”, tức Chẩn Tế Cô Hồn, của Phật Giáo.
diệm khẩu
Ulka-mukha (skt)—Tên một loài quỷ đói, miệng phun lửa đã hiện ra trước mặt ngài A Nan (nói với ngài A Nan rằng ba ngày nữa ông sẽ mệnh chung và đầu thai làm quỷ đói trừ phi nào ông bố thí cho trăm nghìn con quỷ đói mỗi đứa một hạt cơm. A Nan bèn bạch với Phật, nên nhân đó Phật thuyết kinh Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh hay Kinh Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni)—Flaming mouth, a hungry ghost or preta, that is represented as appearing to Ananda.
; (焰口) I. Diệm khẩu: Tên loài quỉ đói. Cũng gọi Diện nhiên. Thân thể loài quỉ này ốm o khô đét, cổ họng nhỏ như kim, miệng khạc quỉ]. ra lửa. Vì đời trước keo kiệt bỏn xẻn nên bị quả báo này. Quỉ Diệm khẩu có lần đã hiển hiện trong lúc ngài A nan nhập định, do đó đã trở thành là nguồn gốc của nghi thức Phóng diệm khẩu (nghi thức thí thực) trong Phật giáo. [X. kinh Diệm khẩu ngã. II. Diệm khẩu. Cũng gọi Phóng diệm khẩu. Là pháp sự Thí thực ngã quỉ (cho quỉ đói ăn) được cử hành căn cứ theo kinh Cứu bạt Diệm khẩu ngã quỉ đà la ni. Trong pháp hội này đối tượng chủ yếu được cho ăn là những chúng sinh trong đường quỉ đói. Pháp hội thí thực ngã quỉ là một Phật sự nhằm cứu độ loài quỉ đói cũng như cầu siêu cho những người chết. Thời xưa, lúc ngài A nan đang nhập định ở trong rừng, bỗng thấy một quỉ đói (tên là Diệm khẩu) thân hình gầy đét, dáng mặt xấu xí, đầu bù tóc rối, móng tay nhọn hoắt và dài, bụng to như núi, cổ nhỏ như kim, phun lửa trước mặt, ngài A nan sợ hãi hỏi lí do. Quỉ đói bảo vì đời trước keo kiệt bủn xỉn, tham lam không biết chán, cho nên sau khi chết rơi vào đường quỉ đói, biến thành thân hình thế này và chịu đói khổ quanh năm. Quỉ đói lại bảo với Ngài A nan rằng ba ngày sau Ngài sẽ chết và cũng rơi vào đường quỉ đói như tôi. A nan sợ quá, vội vàng đến trước đức Phật cầu xin cứu độ, đức Phật bèn nói kinh Diệm khẩu và pháp thí thực cho A nan nghe, rồi ngài bảo: Nếu như ông có thể bố thí thức ăn uống cho hằng hà sa số quỉ và các tiên nhân, thì không những chẳng bị rơi vào đường ấy mà còn kéo dài tuổi thọ, các quỉ thần thường đến hộ vệ và gặp được việc tốt lành. Về pháp thí thực ngã quỉ, các kinh ghi chép có chỗ rõ ràng đầy đủ, có chỗ chỉ ghi tóm tắt. Cứ theo kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni chép, thì khi làm phép thí thực, người cúng dùng một chén nhỏ trong đựng nước sạch, bỏ vào đó ít hạt cơm hoặc bún, bánh v.v..., rồi đặt chén trên lòng bàn tay trái, tay phải kết ấn đặt trên miệng chén, tụng 7 biến chú, kế tiếp, tụng danh hiệu của bốn đức Như lai: Đa bảo, Diệu sắc thân, Quảng bác thân, Li bố úy, sau đó khảy móng tay bảy lần rồi đổ rải chén thức ăn trên đất sạch.Người đời sau căn cứ vào Du già tập yếu Diệm khẩu thí thực nghi tăng ích khoa nghi mà chia làm hai phần Kính cúng và Bi thí: 1. Kính cúng chia làm bảy hạng mục: Thăng tòa, Nhập định, Sái tịnh, Qui y, Đạo tràng quán, Hiến mạn đồ la và Phổ cúng dường. 2. Bi thí chia làm sáu hạng mục: Nhập định, Triệu thỉnh, Hiển thí thực, Diệt chướng, Mật thí và Hồi hướng. Khi làm phép thí này, nên làm vào hai giờ Tuất và Hợi (khoảng 19 giờ đến 23 giờ), bởi vì qua giờ này thì quỉ thần không thể ăn được. Những kinh điển đầu tiên liên quan đến Diệm khẩu được truyền vào Trung quốc là kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ đà la ni và chú Cam lộ đà la ni do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường, cả hai bản đều có chép thần chú tên là: Biến thực chân ngôn, Cam lộ chân ngôn, nghĩa là lấy một chén nước, trì mười biến chú, rồi tung lên hư không, nước ấy liền biến thành cam lộ. Về sau có: kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni do ngài Bất không dịch là bản dịch khác của kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ đà la ni thần chú mà ngài Thực xoa nan đà đã dịch từ trước. Ngài Bất không còn dịch: kinh Du già tập yếu cứu A nan đà la ni diệm khẩu nghi quĩ, Du già tập yếu Diệm khẩu thí thực khởi giáo a nan đà duyên do (phân nửa phần trước của kinh Nghi quĩ, ngài Bất không dịch làm một bản riêng để lưu hành), Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy pháp. Trong đó, hành pháp theo thứ tự được nói trong kinh Du già tập yếu cứu A nan đà la ni Diệm khẩu nghi quĩ là: Chân ngôn phá địa ngục, chân ngôn triệu ngã quỉ, chân ngôn triệu tội, chân ngôn tồi tội, chân ngôn định nghiệp, chân ngôn sám hối, chân ngôn thí cam lộ, chân ngôn khai yết hầu, danh hiệu bảy đức Như lai, chân ngôn phát tâm bồ đề, chân ngôn tam muội da giới, chân ngôn thí thực, chân ngôn nhũ hải, chân ngôn phổ cúng dường, chân ngôn phụng tống.Từ đó về sau, pháp thí thực ngã quỉ trở thành nghi thức làm hàng ngày của người tu Mật giáo. Sau đó, vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, xã hội Trung quốc loạn lạc liên miên, Mật giáo thất truyền, pháp thí thực cũng theo đó mà mất. Đến đời Tống, đối với pháp thí thực, các sư không được hiểu rõ lắm. Trong Kim viên tập của ngài Tuân thức có các thiên: Thí thực chính danh, Thí thực pháp, Thí thực văn, Thí thực quán tưởng v.v... nhưng đó không phải nghi quĩ của Mật giáo mà chỉ là chân ngôn lấy trong kinh rồi thêm vào phương pháp quán tưởng của tông Thiên thai mà thôi. Trong thiên Thí thực chính danh có: Hộc thực, Minh đạo, Thủy lục. Hộc thực là chỉ cho Diệm khẩu thí thực; Minh đạo là đại trai Vô già Minh đạo ở đời Đường; cũng là một hành pháp của Mật giáo; còn Thủy lục là nghi thức hưng khởi vào đời Tống. Ba hành pháp kể ở trên lúc bấy giờ thực hành lẫn lộn, không phân biệt được. Lại có ngài Tông hiểu soạn bộ Thí thực thông lãm, trong đó có thiên Thí thực tu tri, cũng chủ trương thí khoáng dã quỉ thần (cho quỉ thần ở nơi đồng nội ăn) và Thí quỉ tử mẫu cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đều là thí thực. Thiên lợi sinh trong Thích môn chính thống quyển 4 cũng chủ trương thuyết này. Xem đó thì biết, đối với pháp Diệm khẩu thí thực, các sư ở đời Tống có ý khôi phục, nhưng đã chưa thành. Ở đời Nguyên, Lạt ma giáo từ Tây tạng truyền vào Trung quốc, nên Mật giáo cũng theo đó mà được khôi phục. Trong Kinh tạng có Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi, không rõ người dịch. Nhưng xét theo cách dùng chữ phiên âm chân ngôn thì biết sách này được dịch vào đời Nguyên. Thứ tự hành pháp trong sách này giống với kinh Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu nghi quĩ. Nhưng trước phần chân ngôn phá địa ngục còn có thêm các phần: Tam qui, Đại luân minh vương chú, Chuyển pháp luân bồ tát chú, Tam thập ngũ Phật, Phổ hiền hành nguyện kệ, Vận tâm cúng dường, Tam bảo thí thực và Nhập quan âm định; và sau chân ngôn phá địa ngục trong Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu nghi quĩ kinh, sách này còn thêm: Tôn thắng chân ngôn, Lục thú kệ, Phát nguyện hồi hướng kệ, Cát tường kệ, Kim cương tát đỏa bách tự chú, Thập loại cô hồn văn và Tam qui y tán. Từ đây, pháp Du già thí thực được khôi phục trở lại. Vào đời Minh, do sự truyền thừa của các sư không thống nhất, nên lại rơi vào tình thế hỗn tạp. Nay được biết, nghi thức thí thực thời Minh có Du già diệm khẩu thí thực khoa nghi. Về sau, Thiền sư Thiên cơ lược bỏ chỗ rườm rà và soạn thành Tu tập du già tập yếu thí thực đàn nghi mà người đời gọi là Thiên cơ diệm khẩu. Ngài Thiên thai Linh tháo có soạn chú thích và đặt tên là Tu tập du già tập yếu thí thực đàn nghi ứng môn. Trong đó chỉ có phần văn Triệu thỉnh cô hồn là bất đồng. Ngài Liên trì Châu hoành hiệu đính lại Thiên cơ diệm khẩu mà biên thành Tu thiết du già tập yếu thí thực đàn nghi, cũng gọi là Du già tập yếu thí thực nghi quĩ và soạn chú giải, đặt tên là Thí thực bổ chú. Năm Khang hi 32 (1693) đời Thanh, ngài Đức cơ ở núi Bảo hoa lại sửa đổi chút ít bản của ngài Châu hoành, rồi biên thành sách Du già diệm khẩu thí thực tập yếu, đời gọi là Hoa sơn diệm khẩu. Đến năm Càn long thứ 6 (1741), ngài Phúc tụ ở núi Bảo hoa lại nhân đó mà làm Du già thí thực nghi quán. Ngoài ra, còn có ngài Tịch tiên soạn Du già diệm khẩu chú tập toản yếu nghi quĩ. Nghi thức diệm khẩu được lưu hành trong các chùa Phật giáo ở đời Thanh phần nhiều là hai loại Thiên cơ và Hoa sơn. [X. Diệm Khẩu (Chu thúc ca, Trung quốc Phật giáo nhân vật dữ chế độ].
diệm la vương cung hành pháp thứ đệ
(焰羅王供行法次第) Có 1 quyển. Do A mô già (tức ngài Bất không Tam tạng) soạn. Gọi tắt: Diệm ma cúng thứ đệ, thu vào Đại chính tạng tập 21.Nội dung trước hết nói về năm tên khác nhau của vua Diệm ma, kế đến nêu rõ thứ tự các pháp tu như: Trì hương thủy, Sái tịnh, Khuyến thỉnh, Phát nguyện, Triệu thỉnh, Chư thiên ấn minh, Ngũ Như lai v.v...
diệm ma thiên
Xem Dạ Ma.
; Yamadevaloka (skt)—Yama (p)—Tu Diệm Ma—Tên của Dục Giới Thiên, tầng trời thứ ba—The third of the desire-heavens, above the Trayastrimsas—The realm of Deva Yama is a realm of great happiness presided over by their ruler, the divine king Suyama or Yama—Cảnh Trời Đại Hạnh được trị vì bởi Diệm Ma Vương.
; (焰摩天) Phạm:Yama. Một trong 10 vị trời che chở cho đời ở tám phương, một trong 10 thần hộ pháp ở 10 phương, một trong 12 vị trời, một trong 20 vị trời bộ ngoài. Mật giáo gọi Diêm ma vương là Diệm ma thiên và xếp vào bộ Trời. Nhưng hình tượng của Diệm ma thiên và hình tượng của Diêm ma vương không giống nhau. Trong hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la, Diệm ma thiên ngồi ở phía tây của cửa nam trong viện Kim cương bộ ngoài, tay phải làm ấn Thí vô uý, tay trái cầm cờ đầu người, ngồi dạng trên lưng trâu, chân trái thõng xuống. Bên phải vị tôn này là thiên nữ Hắc ám, ngồi phía dưới mé bên ngoài là Thái sơn phủ quân, mé bên trong là hai sứ giả quỉ. Vì Diệm ma là chúa của thế giới quỉ, cho nên ở phía tây của Diệm ma là các quỉ đói. Chủng tử là: (yaô), hình tam muội da là cây gậy có đầu người. (Phạm:daịđa). Pháp tu lấy vị trời này làm bản tôn (vị tôn chính), gọi là Diệm ma thiên pháp. Tu pháp này có thể kéo dài tuổi thọ và trừ tai nạn, nếu tu để cầu phúc cho người đã chết thì gọi là Minh đạo cúng, hoặc Lạp chúc cúng, Chỉ chúc cúng. Khi tu pháp, trước hết, đặt Diệm ma thiên mạn đồ la vào tòa ngồi, kế đến, bày các vật cúng, ở giữa dựng một đuốc bằng sáp, sau đó, tụng danh hiệu bản tôn rồi châm lửa thắp đuốc. [X. kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên; Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; phẩm Cúng dường thập nhị thiên uy đức báo ân]. (xt. Diệm Ma Vương).
diệm ma thiên mạn đồ la
(焰摩天曼荼羅) Mạn đồ la lấy Diệm ma thiên làm trung tâm để kiến lập. Khi tu pháp Diệm ma thiên cầu siêu cho người chết, hoặc cầu sống lâu và trừ tai họa thì dùng mạn đồ la này. Về tranh vẽ có vài loại. Cứ theo Kim cương đỉnh du già hộ ma nghi quĩ, thì vị chủ tôn là Diệm ma thiên ngồi trên lưng trâu, tay phải cầm cây cờ có đầu người, bàn tay trái ngửa lên, chân phải thõng xuống, có hai thiên nữ và hai sứ giả quỉ theo hầu. Tranh vẽ trong Giác thiền sao của Nhật bản thì chính giữa là Diệm ma thiên ngồi xoạc chân trên mình trâu, hai bên có hai bà vợ; mé ngoài Diệm Ma Thiên Diệm ma thiên là Thành tựu tiên và Già văn đồ; ở phía trên, chính giữa có Thái sơn phủ quân mặc triều phục đời Đường, hai bên trái và phải của Thái sơn phủ quân là Tì na dạ ca và Noa cát ni. Phía dưới Diệm ma thiên, chính giữa là thần Ngũ đại đạo ngồi trên giường, bên trái Ngũ đại đạo là Tư mệnh, bên phải là Tư lục. [X. kinh Đại nhật quyển 5 phẩm Bí mật mạn đồ la; Đại nhật kinh sớ Q.16; A sa phọc sao Q.154].
diệm ma đại hỏa tiên
Một trong bảy vị cổ Tiên—Jamadagni, one of the seven ancient sage-rsis.
diệm mạn đức ca minh vương
Xem Diêm Mạn Uy nộ vương.
diệm thai
Ánh sáng vây bọc quanh mình như trong Thai Tạng giới—The flaming womb, the gabhadhatu which surrounds with light.
diệm thiên
Xem Dạ Ma.
diệm tuệ địa
See Diệm Huệ Địa.
diệm võng
Ánh sáng của Phật xen kẻ lớp lớp như mắt lưới ngọc châu của vua Trời Đế Thích—The flaming, or shining net of Buddha, the glory of Buddha, which encloses everything like the net of Indra.
diệm võng trang nghiêm
(焰網莊嚴) Diệm là ngọn lửa, võng là tấm lưới của trời Đế thích. Diệm võng trang nghiêm là ví dụ hào quang của đức Phật chói lọi, rực rỡ giao thoa lớp lớp vô cùng vô tận hệt như tấm lưới bằng hạt châu của trời Đế thích.
diệm vương quang phật
Đức Phật thứ năm trong 12 vị Quang Phật (tất cả 12 danh hiệu nầy đều được dùng để tán thán Đức Vô Lượng Thọ Như Lai)—The fifth of the twelve shining Buddhas.
diện
1) Ăn mặc bảnh bao: Well-dressed. 2) Cái mặt: Face.
Diện bích
面壁; J: menpeki; là »quay mặt nhìn tường«.|Danh từ chỉ Bồ-đề Ðạt-ma ngồi thiền đối tường chín năm tại chùa Thiếu Lâm. Vì vậy mà danh từ Diện bích trở thành đồng nghĩa với Toạ thiền. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, các thiền sinh thường xoay mặt vào tường ngồi thiền trong khi các vị thuộc tông Lâm Tế lại xoay mặt vào khu chính giữa của thiền đường. Trong nhiều bức tranh trình bày Bồ-đề Ðạt-ma, người ta thường vẽ Ngài xoay mặt vào một bức tường đá toạ thiền.|«Diện bích« không chỉ là yếu tố, điều kiện bên ngoài của việc tu tập thiền định – trong một ý nghĩa thâm sâu khác thì nó mô tả tâm trạng của một hành giả tham thiền. Vị này một mặt muốn tiến bước trên con đường tu tập để đạt giác ngộ, mặt khác lại bị đoạt hết những phương pháp hỗ trợ, những khái niệm về đường đi và mục đích trong khi tu thiền và vì vậy phải đứng trước một tình trạng »tiến thoái lưỡng nan«, không thể tiến lên một bước như đứng trước một bức tường vĩ đại. Tâm trạng này và sự tuyệt vọng phát sinh từ đây có thể là một yếu tố để thiền sinh xả bỏ tất cả những ý nghĩ, nguyện vọng, khái niệm và mục đích, hoát nhiên nhảy một bước phá vỡ bức tường nhị nguyên – phá vỡ ở đây có nghĩa là sự trực nhận rằng, bức tường này xưa nay chưa hề có.
diện bích
Menpeki (J).
; Tọa thiền mặt xoay vào tường, như Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã 9 năm diện bích mà không nói một lời—To sit in meditation with the face to a wall, as did Bodhidharma for nine years, without uttering a word—See Bồ Đề Đạt Ma.
diện bích cửu niên
(面壁九年) (1916 -) Người huyện Giang đô, tỉnh Giang tô, họ Lí, hiệu Đế quán. Năm 12 tuổi, sư y vào Hòa thượng Thường thiện ở am Phúc điền tại Lâm trạch, Cao bưu xuất gia. Năm 18 tuổi, sư thụ giới cụ túc ở Viện Phúc thọ tại Bảo ứng. Lúc đầu, sư đến Quán tông giảng tự học giáo quán Thiên thai, sau sư đến các học viện Mân nam, Giác tân, Hán tạng v.v... học tập và nghiên cứu ý chỉ của hai tông Tính, Tướng và học Trung quán truyền từ Tây tạng. Sư đã từng gần gũi các bậc cao tăng đương thời như: Đế nhàn, Thái hư, Từ hàng, Ấn thuận v.v... và cũng đã từng giảng dạy tại các nơi như: Phật học viện Hoa tây, học viện Liên tông, nhà giảng Đại giác ở Hạ môn v.v.. Sau khi đại lục đổi chủ (1949), sư di cư đến Hương cảng, giúp sức vào việc biên tập và ấn hành bộ Thái hư đại sư toàn thư. Sau sư ra Đài loan, chuyên soạn thuật, hoằng pháp và học tiếng Nhật cùng các học thuyết của các học giả Nhật bản. Sư cũng từng hoằng pháp tại các nước Thái lan, Việt nam, Cao miên, Lào, Tân gia ba, Mã lai á, Phi luật tân, Bắc mĩ v.v... Các trứ tác và dịch thuật của sư được in thành Đế quán toàn tập.
diện kiến
To see in person.
diện môn
1) Trán: Forehead. 2) Miệng: Mouth. 3) Đường dọc phân chia môi trên làm hai: The line across the upper lip.
; (面門) Phạm: Mukha. Có ba cách giải thích: 1. Chỉ cho cái mồm. 2. Chỉ cho dung nhan ngay thẳng (khuôn mặt). 3. Chỉ cho khoảng dưới mũi và trên miệng. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 1 (Đại 12, 365 hạ) nói: Từ nơi diện môn phóng ra các thứ ánh sáng. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 (Đại 35, 151 trung) nói: Về diện môn, các nhà có ba cách giải thích. (...), nay giải thích theo tiếng Phạm: Mặt, miệng và cửa (tiếng Phạm đều gọi mukha (mục khư), cho nên các nhà phiên dịch mới dịch mục khư là Diện môn. [X. kinh Hoa nghiêm (80 quyển) Q.1].
diện mục
Mặt và mắt, ý nói dáng vẻ bề ngoài—Appearance—Face and eyes—Physiognomy.
diện mục liệt khai
(面目裂開) Mặt mắt mở bung ra. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Diện mục, chỉ cho tâm tính của mình xưa nay vốn trong sáng. Nghĩa là tâm tính của mình được mở tỏ, vì đã dứt trừ kiến hoặc mà được pháp nhãn tịnh.
diện ngộ
To meet.
Diện Nhiên
(面燃、面然): còn gọi là Tiêu Diện Đại Sĩ (焦面大士), Tiêu Diện Đại Quỷ Vương (焦面大鬼王), vua của loài ngạ quỷ có khuôn mặt đỏ, hay khuôn mặt bốc cháy. Vị này còn có tên gọi khác là Diệm Khẩu Quỷ Vương (焰口鬼王), có thân hình gầy ốm, miệng luôn bốc cháy lửa và cổ họng nhỏ như cây kim, do vì đời trước tham lam, keo kiệt, bỏn xẻn nên bị quả báo như vậy. Vị quỷ vương này thống lãnh tất cả chúng ngạ quỷ và người ta cho đó là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của Nguyễn Du có đoạn rằng: “Nhờ đức Phật thần thông quảng đại, chuyển pháp luân tam giới thập phương, nhơn nhơn Tiêu Diễn (Tiêu Diện) Đại Vương, linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.”
diện sắc
Countenance.
diện thụ
Trực tiếp chỉ giáo—Personal or face-to-face instruction.
diện thụ khẩu quyết
(面授口訣) Đối mặt trao truyền. Gọi tắt: Diện thụ. Nghĩa là đối mặt trao truyền pháp yếu. Đặc biệt chỉ lúc thầy trò đối diện nhau, thầy từ miệng truyền yếu chỉ cho trò.
diện thụ tương thừa
(面授相承) Cũng gọi Diện thụ tự pháp, Diện thụ chính truyền. Nghĩa là thầy và trò đối diện khế hợp nhau, từ đó thầy truyền Phật pháp cho trò. Thiền tông đặc biệt cho rằng, từ đức Thích tôn trở về sau, thầy trò trao truyền Phật pháp cho nhau, cũng hệt như rót nước từ một cái bình này sang một cái bình khác vậy.
diện tiền nhất ti
(面前一絲) Một sợi tơ trước mặt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ một cảnh một vật ở trưóc mắt. Bích nham lục tắc 19 (Đại 48, 214 hạ), nói: Một câu trước khi thốt ra, nghìn Thánh chẳng truyền; một sợi tơ trước mặt, không lúc nào gián đoạn.
diện tường đảm bản
(面墻擔板) Quay mặt vào tường vác bảng trên vai. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người ngồi quay mặt vào tường thì chỉ thấy một chỗ; người vác bảng mà đi thì chỉ thấy phía trước chứ không thấy phía sau lưng. Tùng lâm dùng từ ngữ này chỉ cho người vì không biết nên rơi vào thiên kiến. Thung dung lục tắc 71 (Đại 48, 272 thượng), nói: Chôn vùi chính mình, uổng hơi nuốt tiếng, liên lụy đến Tổ tông, quay mặt vào tường, vác bảng trên vai (chỉ thấy một bên).
diệp
Pattra, or Parna (skt)—Lá—Leaf—Leaves.
diệp cái
Nón làm bằng lá cây—A leaf-hat, or cover made of leaves.
Diệp Huyện Quy Tỉnh
(葉縣歸省, Sekken Kisei, ?-?): nhân vật sống khoảng thời nhà Tống, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Kí Châu (冀州, Tỉnh Hà Nam), họ là Mại (賈). Ông xuất gia và thọ Cụ Túc giới tại Bảo Thọ Viện (保壽院) vùng Dịch Châu (易州). Sau ông du hành lên phương Nam, đến tham yết Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念) ở Nhữ Châu (汝州) và được đại ngộ. Mấy năm sau, ông đến trú tại Diệp Huyện Quảng Giáo Viện (葉縣廣敎院). Ông có để lại Diệp Huyện Quảng Giáo Tỉnh Ngữ Lục (葉縣廣敎省語錄) 1 quyển.
; 葉縣歸省; C: yèxiàn guīshěng; tk. 10-11;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, môn đệ đắc pháp của Thủ Sơn Tỉnh Niệm.|Sư họ Cổ, quê ở Kí Châu xuất gia thụ giới lúc còn trẻ. Trong lúc du phương, Sư đến tham vấn Thủ Sơn. Một hôm, Thủ Sơn đưa một khúc tre lên hỏi: »Gọi là Trúc bề thì xúc phạm, chẳng gọi trúc bề thì trái, vậy gọi là cái gì?« Sư chụp trúc bề, ném xuống đất, nói: »Là cái gì?« Thủ Sơn bảo: »Mù!« Sư nhân đây triệt ngộ.|Sư cùng một vị tăng đi đường, nhân thấy một tử thi, tăng hỏi: »Xe ở đây mà trâu ở đâu?« Sư đáp: »Ngươi đã bước chân đi.« Tăng thưa: »Trâu cũng không mà đi cái gì?« Sư bảo: »Ngươi đã không trâu, tại sao đạp nát gót chân?« Tăng thưa: »Thế ấy là chính từ Diệp Huyện đến.« Sư bảo: »Chớ chạy loạn!«|Có vị tăng hỏi về Công án ›Cây tùng của Triệu Châu.‹ Sư bảo: »Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?« Tăng thưa: »Lời của Hoà thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.« Sư bảo: »Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?« Vị tăng hoát nhiên có ngộ nhập, bấc giác thốt lên »Chao!« một tiếng. Sư hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì?« Vị tăng bèn làm bài tụng:|Thiềm đầu thuỷ đích|Phân minh lịch lịch|Ðả phá càn khôn|Ðương hạ tâm tức.|*Giọt mưa trước thềm|Rành rẽ rõ ràng|Ðập nát càn khôn|Liền đó tâm dứt.|Sư có chút bệnh, biết mình sắp tịch. Vị tăng khám bệnh đến, hỏi: »Hoà thượng Tứ đại vốn Không, bệnh từ chỗ nào đến?« Sư đáp: »Từ chỗ Xà-lê hỏi đến.« Tăng thưa: »Khi con chẳng hỏi thì sao?« Sư đáp: »Xuôi tay nằm dài trong hư không.« Tăng thốt lên »Chao!« Sư liền tịch.
diệp hỷ thiền phái
Xem Tì Ni Đa Lưu Chi.
diệp phúc
(鍱腹) Đồng, sắt đàn mỏng ra gọi là diệp, tức là lá đồng, lá sắt; phúc nghĩa là cái bụng. Diệp phúc nghĩa là dùng một tấm lá đồng đánh đai lấy bụng. Đây là sự tích về một kẻ ngoại đạo kiêu mạn ở thời đức Phật tại Ấn độ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 26 chép, lúc đức Phật còn tại thế, có một ngoại đạo Ni kiền tử kiêu mạn tên là Tát gia kì, tự nói trong bụng chứa tất cả trí tuệ, sợ nó bể, nên dùng một tấm lá đồng đai quanh bụng. Người này khoe khoang bất cứ ai bị ông ta hỏi vặn đều toát mồ hôi, ngay cả voi lớn cho đến cây cối, gạch đá cũng vậy. Về sau, ông ta đến luận nghị với đức Phật, đối với những điều Phật nêu ra để chất vấn ông không có cách gì trả lời, đến nỗi toàn thân mồ hôi toát ra đầm đìa chảy ướt đất. Trái lại, trong lúc vấn đáp, đức Phật vẫn thung dung thư thái. Ngoại đạo kiêu mạn thấy thế tâm sinh kính phục, bèn xin qui y đức Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.5; Kim quang minh kinh văn cú Q.5].
diệp y bồ tát
Parṇasavari (S)Diệp Y Quán Tự tại Bồ tát, Diệp Y Quán âm Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (葉衣菩薩) Phạm: Parịazavarì, hàm ý là khoác áo bằng lá sen. Cũng gọi Diệp y quán tự tại bồ tát, Bị diệp y quan âm, Diệp y quan âm. Là một trong những hóa thân của bồ tát Quan âm, ngồi trong viện Quan âm trên mạn đồ la Thai tạng giới, mật hiệu là Dị hành kim cương. Hình tượng của vị tôn này toàn thân màu da người, tay trái cầm dây, tay phải cầm gậy, đầu gối bên trái dựng thẳng, ngồi trên hoa sen đỏ. Nếu lấy bồ tát Diệp y làm bản tôn, tụng kinh Diệp y quán tự tại bồ tát có thể tiêu trừ các chứng bệnh tật, gọi là Diệp y pháp. Nếu dùng pháp tu này để cầu cho Quốc vương, Đại thần sống lâu không bệnh, thì gọi là Diệp y trấn; còn dùng để trấn giữ nhà cửa cho yên ổn thì gọi là Trấn trạch pháp. Cũng có thuyết nói vị tôn này là một trong 33 vị Quan âm. [X. Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; A sa phọc sao Q.93 Diệp y trấn].
diệp y quán tự tại bồ tát
Xem Diệp Y Bồ tát.
Diệp y quán tự tại Bồ-tát kinh 葉衣觀自在菩薩經
[ja] ヨウエカンジザイボサツキョウ Yōe kanjizai bosatsu kyō ||| Skt. Parṇaśabarīdhāraṇī; Tib. ri khrod lo ma gyon ma shes bya ba'i gzungs; (Dhāraṇī of Leaf Clad Avalokiteśvara). Devoted to Parṇaśabarī 葉衣, the Indian folk goddess of catastrophe, appropriated by Buddhists as a manifestation of Avalokiteśvara 觀自在. Seventh text of the Saptavāra corpus. (1) 1 fasc. (T 1100.20.447450), [To.735/994, P.185/619] (2) 1 fasc. (T 1384.21.904), Parṇaśabarīdhāraṇī 鉢蘭那賖嚩哩大陀羅尼經, trans. Faxian 法賢. [To.736/995, P.186/620], [IB 326], BGBT4/1401. => (j:Yōe kanjizai bosatsu kyō; s: Parṇaśabarīdhāraṇī; t: ri khrod lo ma gyon ma shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of Leaf Clad Avalokiteśvara). Nội dung lễ kính nữ thần coi sóc về tai hoạ trong dân gian Ấn Độ là Diệp y (s: Parṇaśabarī 葉衣), tương ứng với trong Phật pháp là sự thị hiện của Bồ-tát Quán tự tại. Đây là bản kinh thứ 17 trong tập sao lục Saptavāra. 1. Diệp y quán tự tại Bồ-tát kinh 葉衣觀自在菩薩經 (e: Dhāraṇī of LeafClad Avalokiteśvara), 1 quyển , Bất không (s: Amoghavajra 不空) dịch. 2. Bát lan na xa phược lí đại đà-la-ni kinh (s: Parṇaśabarīdhāraṇī 鉢蘭那賖嚩哩大陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch.
diệp y quán âm
tên gọi tắt của Bị Diệp Y Quán Âm, hay Đức Quán Âm mặc áo cánh hoa sen, ví với tám vạn bốn ngàn công đức—A form of Kuan-Yin clad in leaves to represent the 84,000 merits.
diệp y quán âm bồ tát
Xem Diệp Y Bồ tát.
Diệt
滅; C: miè; J: metsu;|1. Chấm dứt, kết thúc, dừng, xoá sạch, phủ nhận, huỷ diệt. Trong Phật giáo, thường đề cập đến sự trừ diệt phiền não – do vậy, có nghĩa là Niết-bàn. Là tướng thứ tư trong Tứ tướng (四相); 2. Quan niệm vũ trụ như là thực thể hoàn toàn không (vô 無), thuyết hư vô.
diệt
Vyata (S), Vyupasama (S) ,Kṣaya (S), Extinction Khaya (P)Thật pháp khiến các pháp bị tiêu diệt.
; Nirodha (S). Extinguish, destroy, exterminate; overthrow; crush,suppress; put out; annihilation; dead, perfect rest; cessation.
; Nirodha, Nirdha (skt)—Ni Lâu Đà. 1) Niết Bàn: Cái thể của Niết Bàn là vô vi tịch diệt—To exterminate, to destroy, to annihilate, translation of Nirodha of Nirvana. Dead, extinguished, blown out, perfect rest, highest felicity. 2) Diệt Đế: Một trong Tứ Diệu Đế, thông với nhân quả từ khổ, tập, diệt, đạo hay con đường diệt khổ—Nirodha is the third of the four axioms: pain, its focusing, its cessation or cure, the way of such cure. 3) Tỳ Ni: Vinaya (skt)—Giới hạnh diệt trừ chư ác hay hữu sở diệt, diệt trừ những nguyên nhân của khổ đau dẫn đến luân hồi sanh tử—Annihilation or extinction of the passions as the cause of pain which leads to the extinction of existence, or of rebirth and mortal existence.
; (滅) I. Diệt. Phạm:Vyupazama. Gọi tắt của tịch diệt, hàm ý là Niết bàn. Thoát khỏi sống chết, tiến vào cảnh giới tịch lặng vô vi, gọi là Nhập diệt. (xt. Niết Bàn, Tịch Diệt). II. Diệt. Phạm:Anityatà. Hàm ý là diệt hết. Cũng gọi Diệt tướng, Vô thường. Một trong bốn tướng. Nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều có tính chất hoại diệt trong khoảng sát na. Cái chết của loài hữu tình cũng gọi là diệt. (xt. Vô Thường). III. Diệt. Phạm:Vinaya. Âm Hán: Tì nại da. Tức là Luật tạng, Tì ni tạng, một trong ba tạng. Là các điều giới cấm của tỉ khưu, tỉ khưu ni do đức Phật chế định. (xt. Tì Nại Da Tạng). IV. Diệt. Một trong bốn đế. Gọi tắt của Diệt đế. (xt. Tứ Đế, Diệt Đế).
diệt bệnh
One of the four sick or faulty ways of seeking perfection, the Hinayànamethod of endeavouring to extinguish all perturbing passions thatnothing of them reamains.
; Một trong bốn bệnh mà Kinh Viên Giác đã nói đến, là căn bệnh trụ vào tịch diệt tướng của chư pháp. Một phương pháp mà Phật Giáo Tiểu Thừa đã dùng để diệt trừ không cho sót lại chút phiền não nào—One of the four ailments or faulty ways of seeking perfection, mentioned in the Complete Enlightenment Sutra. The Hinayana method of endeavouring to extinguish all perturbing passions so that nothing of them remains. **For more information, please see Tứ Bệnh.
diệt bỏ
Samuccheda (P).
diệt chủng
To destroy one's seed of Buddhahood.
; 1) Tận diệt một chủng tộc: To exterminate (wipe out) a race. 2) Diệt bỏ hạt giống vô lậu và Phật tính (vĩnh viễn không thể thành Phật): To destroy one's seed of Buddhahood.
; (滅種) Chỉ cho người đã diệt hết chủng tử vô lậu, vĩnh viễn không thể thành Phật. Tức là hữu tình vô tính trong năm chủng tính nói trong luận Duy thức, là Xiển đề đoạn thiện trong hai loại Xiển đề ghi trong kinh Lăng già.
diệt diệt tướng
(滅滅相) Pháp khiến cho diệt tướng tịch diệt. Cùng với ba tướng: Sinh sinh, Trụ trụ, Dị dị đều là Tùy tướng, Tiểu tướng của bốn tướng hữu vi (Sinh, Trụ, Dị, Diệt). Đối lại với Diệt tướng. Tất cả các pháp hữu vi đều có đủ bốn tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Nhưng vì tự thể của bốn pháp này cũng là pháp hữu vi, cho nên lại cần phải có pháp khác để làm cho chúng sinh, trụ, dị, diệt: đó tức là bốn tướng sinh sinh, trụ trụ, dị dị, diệt diệt, gọi là Tùy tướng, Tiểu tướng, còn bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt thì gọi là Bản tướng, Đại tướng. (xt. Tứ Tướng).
diệt diệu đế
Nirodha-āryasatya (S), Nirodha-āriyasacca (P), Nirodha-āryasatya (S), Noble Truth of Cessation of Suffering Sự khổ bị tiêu diệt.
diệt dâm nộ si địa
Xem Ly Dục Địa.
diệt hậu
After the Nirvàna, after the Buddha's death.
; Sau khi Đức Phật nhật Niết Bàn—After the nirvana, after the Buddha's death.
diệt hết nguyên nhân của tái sanh
Jātikṣaya (S), Jatikkhaya (P).
diệt hết nguyên nhân của tái sinh
Destruction of the chance of being reborn.
Diệt Hỉ
滅喜; S: vinītaruci; là tên dịch nghĩa, dịch ra âm Hán Việt là Tì-ni-đa Lưu-chi.|Tì-ni-đa Lưu-chi.
diệt hỉ thiền phái
(滅喜禪派) Diệt hỉ, Phạm: Vinìtaruci. Cũng gọi Tì ni đa lưu chi Thiền phái. Là phái Thiền sớm nhất ở Việt Nam do Thiền sư Tì ni đa lưu chi (? - 594) sáng lập vào khoảng thế kỉ thứ VI. Tì ni đa lưu chi là người nam Thiên trúc, đến Trường an vào năm Kiến đức thứ 3 (574) đời Vũ đế nhà Bắc Chu đúng vào lúc Vũ đế đang tiêu diệt đạo Phật. Do đó, ngài đến huyện Nghiệp tham yết Tam tổ Thiền tông Tăng xán. Sau đó, ngài đến chùa Pháp vân ở Giao châu (nay là miền Bắc Việt nam) hoằng pháp, lấy những tư tưởng Chân như Phật tính chẳng sinh chẳng diệt, Chúng sinh cùng một bản tính chân như làm giáo nghĩa. Đệ tử nối pháp, có ngài Pháp hiền (? - 626) là tổ thứ nhất. Ngài người Châu diên, họ Đỗ, đầu tiên tham học Thiền sư Quán duyên ở chùa Pháp vân, sau theo Thiền sư Tì ni đa lưu chi. Sau khi Thiền sư Lưu chi tịch, ngài Pháp hiền đến huyện Từ sơn tỉnh Bắc ninh sáng lập chùa Chúng thiện, lấy kinh Lăng già làm yếu pháp truyền tâm, theo truyền thuyết ngài có hơn ba trăm đệ tử. Qua mấy đời truyền đến Thiền sư Thanh biện (? - 686), ngài người Giao châu, lúc đầu là đệ tử của Thiền sư Huệ nghiêm chùa Sùng nghiệp tỉnh Bắc ninh, lấy kinh Kim cương làm pháp yếu truyền tâm. Về sau, nổi tiếng hơn là các Thiền sư Định không (729 - 808), Vạn hạnh (? - 1018), Y sơn (? – 1216) v.v... Bắt đầu từ ngài Định không, giáo pháp xu hướng gần với Thiền pháp đốn ngộ của Thiền Nam tông Trung quốc. Từ thiền sư Y sơn trở về sau, Thiền phái Diệt hỉ dần dần suy đồi. Về lược truyện của ngài Tì ni đa lưu chi cũng có các thuyết khác nhau. Cứ theo Đối chiếu lục do ngài Thông biện soạn thì Thiền sư Lưu chi vâng lời khuyên của Tổ Tăng xán đến chùa Chế chỉ tại Quảng châu, trụ trì khoảng sáu năm, dịch kinh Tượng đầu tinh xá và kinh Đại thừa phương quảng tổng trì. Nhưng, cứ theo Cổ châu pháp vân Phật bản hạnh ngữ lục chép, thì Thiền sư Lưu chi đã từ nước Phù nam đến Giao châu, chứ chưa từng đến Trung quốc. Lại có thuyết cho rằng, những lời của ngài Pháp hiền được ghi chép trong Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, như: Tâm ấn của chư Phật quyết không lừa dối ai, tròn như thái hư, không thiếu cũng không dư, chính là chỉ rõ cho thấy sự truyền thừa của Thiền sư Lưu chi là Thiền Đạt ma xưa kia, chứ không phải là hệ thống của tổ Tăng xán. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Hải ngoại Phật giáo sự tình 7 phần 3; Đông á Phật giáo sử (Kim sơn Chính hảo)].
diệt khổ
Dukkha-nirodha (P), Duḥkha-nirodha (S), Dukkha-nirodha (P), Cessation of suffering.
; Extinction of pain or affliction.
diệt khổ đạo
Dukkhanirodha-gamini-patipada (S), Way leading to the cessation of dukkha.
diệt khổ đế
Dukkhanirodha-ariyasacca (P), Noble truth of the cessation of dukkha.
diệt khổ đế đạo
Dukkhanirodha-gamini-patipada-ariyasacca (P), Noble truth of the way leading to the cessation of dukkha.
diệt kiếp
Samvarta-kalpa (S). Cosmic period of the world destruction.
; Samvarta kalpa (skt)—Hoại Kiếp—World destruction.
diệt loại trí
Nirodhenvaya-jāna (S)Trí huệ vô lậu do quán diệt dế của cõi Sắc và Vô sắc mà có.
; (滅類智) Phạm: Nirodhe’ nvaya-jĩàna. Một trong 16 tâm (tám trí tám nhẫn) do quán xét bốn đế trong ba cõi mà phát sinh. Tức là trí vô lậu do duyên theo Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được; cũng chính là trí của Giải thoát đạo soi rõ Diệt đế trong cõi Sắc và cõi Vô sắc. Trí này giống như Pháp trí do quán xét Diệt đế ở cõi Dục mà được nên gọi là Diệt loại trí. (xt. Kiến Đạo).
diệt loại trí nhẫn
Nirodhenvaya-jāna kṣānti (S)Xem Diệt loại trí.
; (滅類智忍) Phạm: Nirodhe’ nvaya-jĩàna-kwànti. Là một trong 16 tâm (tám trí tám nhẫn) do quán xét bốn đế trong ba cõi mà chứng được. Tức là trí của Vô gián đạo soi rõ lí Diệt đế trong cõi Sắc và cõi Vô sắc. (xt. Kiến Đạo).
diệt lý
The principle or law of extinction, i.e. nirvàna.
; Niết Bàn là chân lý tịch diệt (diệt khổ dứt phiền não để đi vào cảnh giới hoàn toàn tịch tịnh)—The principle or law of extinction, i.e. nirvana.
diệt môn
Nirvana (skt)—Niết Bàn—In contrasted with Samsara (transmigration) Lưu chuyển môn.
diệt nghiệp
The work or karma of nirodha, the karma resulting from the extinction of suffering.
; Nghiệp đưa đến tận diệt khổ đau phiền não, hay nghiệp đưa đến Niết Bàn—The work or karma of nirodha, the karma resulting from the extinction of suffering, i.e. nirvana.
diệt pháp
The unconditioned dharma, the ultimate inertia from which all forms come, the noumenal source of all phenomena.
; Pháp Vô Vi (dùng để diệt bỏ hết chư tướng. Thân tâm đối với cảnh không còn cảm động, không ưa, không ghét, không ham, không chán, không vui, không buồn, không mừng, không giận)—The unconditioned dharma, the ultimate inertia from which all forms come, the noumenal source of all phenomenal.
diệt pháp nhẫn
See Diệt Pháp Trí Nhẫn.
diệt pháp quả
Quả vị tịnh tịch tuyệt đối—The realm of the absolute, of perfect quiescence.
diệt pháp trí
Nirodhe-dharma-jāna (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh.
; Trí soi chiếu Diệt Đế của Dục giới hay trí giải thoát khỏi dục vọng và luân hồi sanh tử—The knowledge or wisdom of the dogma of extinction of passion and reincarnation.
; (滅法智) Phạm: Nirodhe dharma-jĩànaô. Một trong 16 tâm (tám trí tám nhẫn) do quán xét bốn đế trong ba cõi mà phát sinh. Tức là trí vô lậu duyên Diệt đế ở cõi Dục mà chứng được. Cũng chính là trí của đạo Giải thoát soi rõ Diệt đế ở cõi Dục. (xt. Kiến Đạo).
diệt pháp trí nhẫn
Nirodhe-dharma-jāna-kṣānti (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh.
; Diệt Pháp Nhẫn hay nhẫn nhục đạt được nhờ có Diệt Pháp Trí (nhờ Diệt Pháp Trí mà sanh ra loại nhẫn nhục có thể đoạn trừ dục vọng và luân hồi sanh tử)—One of the eight kinds of endurance, the endurance and patience associated with the knowledge or wisdom of the dogma of extinction of passion and reincarnation.
; (滅法智忍) Phạm: Nirodhe dharma-jĩànakwànti. Một trong 16 tâm (tám trí tám nhẫn) do quán xét bốn đế trong ba cõi mà phát sinh. Cũng chính là trí của đạo Vô gián soi rõ Diệt đế ở cõi Dục. (xt. Kiến Đạo).
diệt quán
The contemplation of extinction: the destruction of ignorance isfollowed by the annihilation of karma, of birth, old age and death.
; Quán sát về sự dập tắt: hủy diệt si mê bằng cách chấm dứt nghiệp sanh, lão, bịnh, tử—The contemplation of extinction: the destruction of ignorance followed by the annihilation of karma, birth, old age and death.
diệt quả
Nirvàna as the fruit of extinction (of desire).
; Nirvana (skt)—Niết Bàn là đạo quả tận diệt dục vọng, đế thứ ba trong tứ đế—Nirvana as the fruit of extinction of desire, the third of the four axioms. **For more information, please see Tứ Diệu Đế and Tứ Thánh Đế.
diệt sân nhuế
Dosakkhaya (P), Destruction of Anger.
diệt sấn
Tên một tội danh trong Luật Tạng. Tỳ kheo phạm trọng tội mà không phát lồ sám hối thì bị xóa tên trong sổ Tăng tịch và bị đuổi đi (tội nầy tương đương với tội tử hình ngoài đời)—Blotting out the name and the expulsion of a monk who has committed a grievous sin without repentance.
diệt tham dục
Rāgakṣaya (S), Rāgakkhaya (P), Rāgakkhaya (P), Destruction of greed
Diệt thánh đế
滅聖諦; C: mièshèngdì; J: metsushōtai;|Chân lí về sự diệt trừ khổ. Diệt đế (滅諦).
diệt thánh đế
Nirdha-aryasatya (S)Diệt đế. Trong Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Diệt thánh đế 滅聖諦
[ja] メツショウタイ metsushōtai ||| The noble truth of the cessation of suffering; see 滅諦. => Chân lý về sự diệt trừ khổ. Xem Diệt đế滅諦.
diệt thọ tưởng định
Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập tắt hoàn toàn những cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương thức thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ý không nhiễm không nương vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp nào. Đây là phép định của bậc Thánh. Khi vào phép nầy thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới, truớc khi đi vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, rồi đắc quả Phật và nhập Niết Bàn)—A samadhi in which there is complete extinction of sensation and thought, one of the highest form of meditation (kenosis), resulting from concentration. ** For more information, please see Tứ Không Xứ.
diệt tránh
(滅諍) Phạm: Adhikaraịa-zamatha. Phép chấm dứt sự tranh cãi của tăng ni. Cũng gọi Chỉ tránh. Một bộ phận trong giới cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni nhận giữ. Vì có bảy loại nên còn gọi là Thất diệt tránh. (xt. Thất Diệt Tránh).
diệt tránh giới
Dhikkāraśamathā (S).
diệt tránh kiền độ
Adhikaraṇa-śamathā (S), The eighth section in Pratimoksa Adhikarana-śamathā (P).
diệt tránh pháp
Adhikaranaśamathā (S) Những biện pháp dập tắt tranh chấp (có ghi trong Luận tạng). Có 7 điều trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
diệt trí
Nirodha-jāna (S)Trí biết rõ diệt đế.
; The knowledge, or wisdom, of the third truth, nirodha or the extinction of suffering.
; Cái trí chiếu rõ đạo lý Diệt Đế, dứt khổ trừ phiền não—The knowledge or wisdom, of the third axiom, nirodha or the extinction of suffering. ** For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh Đế in Vietnamese-English Section.
; (滅智) Phạm: Nirodha-jĩàna. Một trong 10 trí, hoặc một trong 11 trí. Là trí biết rõ Diệt đế, tức là trí vô lậu do đoạn diệt Kiến hoặc, Tư hoặc mà có được. (xt. Thập Trí).
diệt trường
Nơi mà hành giả đạt được tận diệt dục vọng, hay niết bàn—The plot or arena where the extinction of the passions is attained; the place of perfect repose, or nirvana.
diệt trừ
To destroy.
diệt tuyệt
To destroy completely.
diệt tướng
Extinction, as when the present passes into the past. Also, the absolute, unconditioned aspect of the bhùtatathatà.
; 1) Một trong bốn pháp hữu vi được nói đến trong Kinh Kim Cang. Pháp hữu vi khi hiện pháp trong hiện tại bị diệt đi thì nhập vào pháp quá khứ: One of the four states of all phenomena, mentioned in the Diamond Sutra. The extinction, as when the present passes into the past—See Tứ Tướng. 2) Một trong tam tướng chân như. Chân như tịch diệt (không còn hai tướng sanh tử): One of the three forms or positions of Bhutatathata. The absolute and unconditioned aspect of Bhutatathata—See Tam Tướng.
; (滅相) Một trong bốn tướng hữu vi. Cũng gọi Diệt tận, Vô thường. Tướng của các pháp hữu vi hoại diệt trong khoảng sát na mà rơi vào quá khứ. Cũng là một trong ba tướng chân như, một trong 75 pháp Câu xá, một trong 100 pháp Duy thức. Chân như tịch diệt, không có Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử, gọi là Diệt tướng. Kinh Pháp hoa quyển 3 phẩm Dược thảo dụ (Đại 9, 19 trung), nói: Như lai nói pháp, một tướng một vị: đó là giải thoát tướng, li tướng, diệt tướng. Ngoài ra, cái chết của loài hữu tình cũng gọi là diệt. Cứ theo luận Thành thực quyển 7 phẩm Bất tương ứng hành nói, trong một thời kì sinh, trụ, dị, diệt nối nhau của loài hữu tình thì sự chết của nó gọi là diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Đại tì bà sa Q.38; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ].
diệt tấn
(滅擯) Phạm: Nàzanìyaô. Cũng gọi Sấn xuất (đuổi ra), khu sấn (ruồng đuổi). Gọi tắt: Sấn. Tên một khoa xử tội trong giới luật, một trong bảy cách trị phạt các tỉ khưu, hoặc chỉ sự tước bỏ tăng tịch, nên cũng gọi là Tuớc tịch. Tỉ khưu phạm các tội nặng (như bốn tội: Dâm dục, trộm cướp, giết hại, nói dối) mà không có tâm ăn năn sám hối, thì diệt bỏ tăng tịch của người ấy và đuổi ra khỏi chùa. Tội này tương đương với tội tử hình của thế gian. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1, đoạn 4, Q.thượng phần 2, đoạn 2; Thích thị yếu lãm Q.hạ].
diệt tận tam muội
See Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt tận tam muội 滅盡三昧
[ja] メツジンザンマイ metsujin zanmai ||| See 滅盡定. => Xem Diệt tận định 滅盡定.
Diệt tận tam-ma-bát-để
滅盡三摩鉢底; C: mièjìn sānmóbōdĭ; J: metsujin sanmapattei;|Diệt tận định (滅盡定).
Diệt tận tam-ma-bát-để 滅盡三摩鉢底
[ja] メツジンサンマパッテイ metsujin sanmapattei ||| See 滅盡定. 〔對法論 T 1606.31.694b-774a737b5〕 => Xem Diệt tận định 滅盡定.
Diệt tận tam-muội
滅盡三昧; C: mièjìn sānmèi; J: metsujin zanmai;|Diệt tận định (滅盡定).
Diệt tận định
滅盡定; C: miè jìn dìng; J: metsujinjō; S, P: nirodha-samāpatti;|Một loại định rất sâu, trong đó mọi tâm hành đều được tiêu diệt hoàn toàn. Theo học thuyết A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đó là 1 trong 14 pháp tâm bất tương ưng hành, và theo giáo lí Duy thức, đó là 1 trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp. Khi định nầy được thành thục, thì mạt-na thức cũng được chuyển hoá, và hành giả sẽ được sinh ở cõi trời Hữu đỉnh thứ tư của cõi Sắc. Do định nầy có năng lực diệt trừ sạch các tâm sở trong mạt-na thức, nên nó được xem là thiền định của bậc thánh tu tập. Do hành giả căn cơ thấp kém và hàng ngoại đạo sợ rằng tự ngã sẽ diệt mất, nên họ không dám thâm nhập rốt ráo vào định nầy. Còn được gọi là »Diệt thụ tưởng định«. Chủng tử của tâm phẫn nộ được tạo thành trên cơ sở định nầy.
diệt tận định
Nirodha-samāpatti (S)Tịch diệt định, Tịch diệt Tam muội, Diệt thọ tưởng định, Diệt tận tam muội, Tịch diệt địnhMột trong hai vô tam định. Là môn thiền định diệt hết tâm sơ, tâm sở, sáu thức không cho phát khởi được nữa, các mối thọ cảm do lục thức đối với lục trần đều dứt. Bậc thánh giả nhập và xuất định tuần tự như sau: nhập sơ thiền, nhập nhị thiền, nhập Tam thiền, nhập Tứ thiền, nhập Không vô biên xứ, nhập Thức vô biên xứ, nhập Vô sở hữu xứ, nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập Diệt tận định. Khi xuất cũng tuần tự nhưng ngược lại. Nếu vào Diệt tận định mà ở luôn trong ấy gọi là nhập diệt. Đây là loại định vô tâm mà bậc thánh Bất Hoàn hay A la hán tạm nhập vào để dừng mọi hoạt động của tâm.
; Xem diệt định.
; See Diệt Thọ Tưởng Định.
; (滅盡定) Phạm: Nirodha-samàpatti. Cũng gọi Diệt thụ tưởng định, Diệt tận tam muội. Là một trong các pháp Tâm bất tương ứng hành, một trong 75 pháp của luận Câu xá, một trong 100 pháp của luận Duy thức. Tức là cảnh giới Thiền định trong đó mọi hoạt động tâm lí đều bị diệt hết và hành giả hoàn toàn ở trong trạng thái vô tâm. Diệt tận định và Vô tưởng định gọi chung là hai định Vô tâm. Nhưng Vô tưởng định là định của phàm phu chứng được, còn Diệt tận định thì Phật và các bậc A la hán Câu giải thoát do xa lìa định chướng mà chứng được, tức là các bậc dùng sức thắng giải của hiện pháp Niết bàn mà tu định này. Bậc Thánh đã xa lìa các phiền não ở Vô sở hữu xứ, cảnh giới định của các ngài có thể được ví với sự tịch lặng của Niết bàn vô dư. Cho nên nếu muốn có được niềm vui tĩnh lặng của sự vô tâm thì tu theo định này, có thể sinh lên tầng trời Hữu đính (Phi tưởng phi phi tưởng xứ) của cõi Vô sắc. Về định Diệt tận, các tông phái có nhiều thuyết khác nhau. Như Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương định này có thực thể riêng biệt, nhưng Kinh lượng bộ và tông Duy thức thì không cho nó là pháp thực, mà chỉ ở nơi phần vị không chuyển của tâm, tâm sở mà giả lập ra định này; tông Duy thức còn cho rằng trong định này chưa đoạn diệt thức A lại da; các nhà Phân biệt luận thì nói, bậc Thánh vào định này, tư tưởng và cảm thụ của vị ấy đã diệt, nhưng tế tâm (tâm nhỏ nhiệm) thì vẫn chưa diệt. Ngoài ra, cứ theo Tông kính lục quyển 55 nêu, thì Diệt tận định và Vô tưởng định có bốn điểm khác nhau: 1. Người chứng được khác: Diệt tận định là định xuất thế gian mà Phật và các bậc A la hán chứng được; còn Vô tướng định thì là định thế gian do phàm phu và ngoại đạo chứng được. 2. Kì nguyện khác: Diệt tận định chỉ cầu công đức xuất thế; còn Vô tưởng định thì cầu quả vui ở thế gian. 3. Cảm quả và không cảm quả khác: Diệt tận định là nghiệp vô lậu, không cảm quả báo sống chết trong ba cõi, còn Vô tưởng định thì là nghiệp hữu lậu, có thể cảm quả báo ở cõi trời Vô tưởng. 4. Diệt thức khác: Diệt tận định có thể diệt trừ thức thứ sáu, diệt luôn cả phần ô nhiễm của thức thứ bảy, còn Vô tuởng định thì chỉ diệt trừ được cái thấy phân biệt của thức thứ sáu, còn các tà kiến khác thì vẫn chưa diệt hết được. [X. kinh Trung a hàm Q.58; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.152]. (xt. Vô Tưởng).
diệt tận định vô vi
Nirodha-samāpatti-asaṁskṛta (S)Loại vô vi hiển hiện nơi diệt tận định.
; (滅盡定無爲) Phạm: Nirodha-samàpatti-asaôskfta. Cũng gọi Tưởng thụ diệt vô vi. Một trong sáu vô vi của tông Duy thức. Khi hành giả tiến vào cảnh giới Vô sở hữu xứ của định Vô sắc, thì sáu thức tâm tưởng và hai cảm thụ khổ, vui đều diệt hết, chỉ còn trạng thái vô vi, nên gọi là Diệt tận định vô vi. [X. luận Thành duy thức Q.2; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ Q.hạ]. (xt. Lục Vô Vi).
Diệt tận định 滅盡定
[ja] メツジンジョウ metsujinjō ||| The "concentration of cessation." An extremely deep samādhi where the activities of the mind are completely extinguished. In Abhidharmakośa theory, it is one of the fourteen elements not concomitant with mind, and in Consciousness-only theory, it is one of the twenty-four elements not concomitant with mind. When this concentration is practiced, the mano-consciousness is also extinguished. Then the practitioner can be reborn into the Highest Heaven. Since this concentration has the power to extinguish mental functions in the mano consciousness, it is said to be the concentration practiced by sages. Since low-level practitioners and non-Buddhists are afraid to extinguish their egos, they do not enter this concentration of complete extinction. It is also called the 'concentration of extinguishing feeling and perception.' The seeds of 'disgusted mind' are established on the basis of this concentration. => Một loại định rất sâu, trong đó mọi tâm hành đều được chuyển hoá hoàn toàn. Theo học thuyết A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một trong 14 pháp tâm bất tương ưng hành, và theo giáo lý Duy thức, đó là một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp . Khi định nầy được thành thục, thì mạt-na thức cũng được chuyển hoá, và hành giả sẽ được sinh ở cõi trời Hữu đảnh thứ tư của cõi Sắc. Do định nầy có năng lực diệt trừ sạch các tâm sở trong mạt-na thức, nên nó được xem là thiền định của bậc thánh tu tập. Do hành giả căn cơ thấp kém và hàng ngoại đạo sợ rằng tự ngã sẽ diệt mất, nên họ không dám thâm nhập rốt ráo vào định nầy. Còn được gọi là 'Diệt thọ tưởng định'. Chủng tử của 'phẫn nộ tâm' được tạo thành trên cơ sở định nầy.
diệt tắt
Destruction, decay.
diệt tắt hết ham muốn
Destruction of lust.
diệt tắt hết hận thù
Extinction of hatred.
diệt tắt hết si mê, vọng tưởng
Destruction of infatuation.
diệt tắt si mê
Mohakṣaya (S), Mohakkhaya (P)Diệt tắt vọng tưởng.
diệt tắt vọng tưởng
Xem Diệt tắt si mê.
Diệt tội
滅罪; C: mièzuì; J: metsuzai;|1. Chuyển hoá các chủng tử nghiệp gây tội lỗi bằng những hành vi như sám hối (懺悔), niệm Phật (念佛), trì tụng đà-la-ni (陀羅尼), v.v… 2. Người đã diệt trừ được mọi tội lỗi của mình.|Đức Phật.
diệt tội
(滅罪) Cũng gọi Trừ tội. Nhờ vào các việc làm có tính tôn giáo như: sám hối, quán Phật, niệm Phật, xưng danh, trì chú v.v... mà tội chướng được tiêu diệt. Tội thì có tính tội, gia tội, khinh tội, trọng tội v.v... Trong giới luật, các tội nhẹ có thể nhờ pháp yết ma sám hối mà diệt trừ; còn các tội nặng như tứ trọng, ngũ nghịch (tức là tội Ba la di) thì không cho sám hối. Nhưng, theo các kinh điển Đại thừa thì tội nặng cũng có thể dùng pháp sám hối để diệt trừ. [X. kinh Phật đính tôn thắng đà la ni; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); luận Thích tịnh độ quần nghi Q.6].
diệt tội sinh thiện
(滅罪生善) Nhờ hành vi tôn giáo như sám hối, quán Phật, niệm Phật, tụng kinh, trì chú v.v... có thể tiêu trừ tội chướng. Còn sinh thiện cũng gọi tác thiện, là tích cực chứa góp công đức. Diệt tội, sinh thiện đều có thể vun trồng gốc lành cho đời sau, cầu mong chứng được Niết bàn. Diệt tội có hai cách: 1. Tự lực Thánh đạo môn: Nhờ sức mình sám hối, tu thiện để tiêu trừ tội nghiệp, như tông Thiên thai chủ trương sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng và phát nguyện, gọi là Ngũ hối diệt tội. 2. Tha lực Tịnh độ môn: Nhờ vào sức của Phật để tiêu trừ tội chướng, như kinh Quán vô lượng thọ nói rằng, nếu niệm danh hiệu Phật một tiếng cũng có thể diệt trừ tội sống chết trong 50 ức kiếp mà sinh về Tịnh độ.Còn sinh thiện thì có thể làm bốn phương thức: tụng kinh, bố thí, viết kinh, xây dựng chùa tháp v.v... Nhưng các tông phái thuộc hệ thống Mật giáo thì thường dùng phép tu Hộ ma để sinh thiện. [X. kinh Tứ thập nhị chương; kinh Duy ma phẩm Nhập bất nhị môn; kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
Diệt tội 滅罪
[ja] メツザイ metsuzai ||| (1) To erase the karmic seeds of one's crimes through such activities as confession 懺悔, chanting of the Buddha's name 念佛, recitation of dhāraṇīs 陀羅尼, etc. (2) Someone who has achieved the erasure of his or her crimes. A Buddha. => 1. Chuyển hoá các chủng tử nghiệp gây tội lỗi bằng những hành vi như sám hối (懺悔), niệm Phật 念佛, trì tụng đà-la-ni 陀羅尼, v.v... 2. Người đã diệt trừ được mọi tội lỗi của mình. Đức Phật.
diệt vong
To perish.
diệt yết ma
1) Diệt Nghiệp: The extinguishing karma—See Diệt Nghiệp. 2) Loại trừ một vị Tăng phạm tội mà không phát lồ sám hối ra khỏi Tăng đoàn: The blotting out of the name of a monk and his expulsion from the order—See Diệt Sấn.
Diệt yết-ma
(滅羯磨), cũng gọi là diệt tẫn yết-ma, bất sám tội yết-ma, vị tỳ-kheo có tội nhưng không tin rằng nghiệp ác có chiêu cảm quả báo, không sanh tâm sám hối, nên phải chịu phép yết-ma này, không được sống chung trong tăng chúng.
diệt ái
Extinction of the craving.
diệt ái dục
Taṇhākkāya (P), Tṛṣṇākṣaya (S).
diệt đạo
Prahāṇa-mārga (S)Đoạn đạo, Đối trị đạo.
; Extinction of suffering and the way of extinction, nirodha and màrga
; 1) Con đường dẫn đến tận diệt khổ đau phiền não: Extinction of suffering and the way of extinction. 2) Diệt Đế và Đạo Đế: Nirodha and marga—See Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh Đế in Vietnamese-English Section.
Diệt đạo uý
滅道畏; C: mièdàowèi; J: metsudōi;|Nỗi sợ quy về hai chân lí Diệt đế và Đạo đế. Người mê đắm trong luân hồi trở nên sợ hãi khi đối diện với giáo pháp thanh tịnh, khi nó đặt vấn đề về khả năng tương tục của họ trong đời sống hiện tại.
Diệt đạo uý 滅道畏
[ja] メツドウイ metsudōi ||| Fear in regard to the noble truths of cessation and the path. One who is fond of saṃsāra becomes fearful when presented with the teaching of purity, as it calls into question his/her ability to continue in the present lifestyle. 〔二障義 HPC 1.798c4〕 => Nỗi sợ liên quan đến chân lý Diệt đế và Đạo đế. Người mê đắm trong luân hồi trở nên sợ hãi khi đối diện với giáo pháp thanh tịnh, khi nó đặt vấn đề về khả năng tương tục của họ trong đời sống hiện tại.
Diệt đế
滅諦; C: mièdì; J: metsutai;|Chân lí về sự diệt trừ khổ (s: nirodha-satya), do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra, cho rằng mọi khổ đau rồi sẽ được trừ diệt; là 1 trong Tứ diệu đế. Còn gọi là Diệt thánh đế (滅聖諦) và Khổ diệt đế (苦滅諦).
diệt đế
Nirodha-satya (S) Xem diệt thánh đế.
; Nirodha-àrya-satya (S). The third of the four noble truths, the extinction of suffering.
; Nirodha-aryasatya (skt)—Chân lý về sự diệt khổ, đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế—The Truth of the end of suffering—The extinction of suffering, which is rooted in reincarnation, the third of the four axioms (dogmas). ** For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh Đế in Vietnamese-English Section.
; (滅諦) Phạm: Nirodha-satya, Pàli: Nirodhasacca. Gọi đủ: Diệt Thánh đế, Khổ tận đế, Khổ diệt Thánh đế, Ái diệt khổ diệt Thánh đế. Một trong bốn (Thánh) đế, là giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo. Diệt nghĩa là diệt hết, diệt hẳn; Đế nghĩa là xét kĩ đúng như thật. Tức là, nếu người ta diệt hết cái gốc (ái dục) của sự khổ, thì có thể từ trong cảnh khổ đau triền miên thoát ra mà được tự do. Nếu suy xét cho kĩ để hiểu thấu giáo nghĩa này một cách đúng như thật mà không một mảy may lầm lỗi thì gọi là Diệt đế. Về Diệt đế, các bộ luận giải thích có khác nhau: 1. Luận Pháp uẩn túc quyển 6 nói Diệt đế tức là Niết bàn. 2. Luận Tập dị môn túc quyển 6 cho rằng Trạch diệt vô vi là Diệt đế. 3. Luận Đại tì bà sa quyển 77 nêu ra hai thuyết: a. Khi diệt hết Tập trong bốn đế tức là Diệt đế, như chủ trương của Thí dụ luận sư và các Phân biệt luận giả. b. Diệt hết Khổ và Tập mới có thể gọi là Diệt đế, như chủ trương của Đại luận sư Diệu âm (Phạm:Ghowa) và những người khác thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ. 4. Luận Tam vô tính quyển thượng lấy chân như thanh tịnh trong bảy chân như phối hợp với Diệt đế rồi cho rằng diệt hết hoặc tức là Diệt hay Diệt đế. 5. Phẩm Phân biệt diệt đế trong luận Tứ đế quyển 3 cho rằng diệt hết cái. (phiền não) là Niết bàn hữu dư, diệt hết khổ là Niết bàn vô dư. 6. Cứ theo phẩm Diệt đế sơ lập giả danh trong luận Thành thực quyển 4, thì diệt hết ba tâm: Giả danh tâm, Pháp tâm, hông tâm tức là Diệt đế. 7. Luận Biện trung biên quyển trung thì dựa vào ba tính Duy thức(tính Biến kế sở chấp,tính Y tha khởi, tính Viên thành thực) mà chia làm ba loại Diệt đế. Đó là: a. Tự tính của Biến kế sở chấp chẳng sinh, gọi là Tự tính diệt. b. Hai thủ (Kiến thủ, Giới cấm thủ) do các loại nhân duyên bên ngoài dấy sinh (Y tha khởi) nay hai thủ chẳng sinh, gọi là Nhị thủ diệt. 3. Bản tính của chân như tịch diệt, gọi là Bản tính diệt. [X. kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm Q.7; kinh Tăng nhất a hàm Q.17; luận Đại trí độ Q.19; luận Giải thoát đạo Q.11; luận Duy thức Q.8]. (xt. Tứ Đế).
Diệt đế 滅諦
[ja] メツタイ metsutai ||| The noble truth of the cessation of suffering (nirodha-satya). The principle espoused by Śākyamuni that all suffering eventually ceases; one of the Four Noble Truths 四諦. Also written 滅聖諦 and 苦滅諦. => Chân lý về sự diệt trừ khổ (s: nirodha-satya), do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đưa ra, cho rằng mọi khổ đau rồi sẽ được trừ diệt; là 1 trong Tứ diệu đế. Còn gọi là Tứ thánh đế 滅聖諦 và Khổ diệt đế苦滅諦.
Diệt định
滅定; C: mièdìng; J: metsujō;|Cảnh giới định đạt đến sự đình chỉ hoàn toàn tâm hành. Xem Diệt tận định (滅盡定).
diệt định
Xem Vô sở hữu xứ định.
; The freedom, or supernatural power of the wisdom attained in Nirvàna, or perfect passivity. Attainment of annihilation.
; See Diệt Tận Định.
diệt định trí thông
Thần Thông Trí đạt được trong cảnh giới vô vi Niết Bàn—The freedom or supernatural power of the wisdom attained in nirvana, or perfect passivity.
Diệt định 滅定
[ja] メツジョウ metsujō ||| The state of concentration that reaches total cessation of mental activity. See miejinding 滅盡定 . => Cảnh giới định đạt đến sự đình chỉ hoàn toàn tâm hành. Xem Diệt tận định (c: miejinding 滅盡定).
Diệt độ
滅度; C: mièdù; J: metsudo;|1. Niết-bàn (s: nirvāṇa, parinirvāṇa); 2. Sự hoại diệt hoàn toàn mọi khổ đau thể xác và tinh thần; 3. Sự nhập diệt của Đức Phật; 4. Sự không tồn tại, sự chấm dứt.
diệt độ
Extinction Xem niết bàn.
; Nirvàna (S). Cessation of the process of becoming; extinction of reincarnation and escape from suffering.
; Nirvana (skt)—Bát Niết Bàn Na—Sự tận diệt luân hồi sanh tử và thoát khổ—Extinction of reincarnation and escape from suffering.
; (滅度) Phạm: Nirvàịa, Pàli: Nibbàna. Mệnh chung chứng quả, diệt chướng hết khổ, tức là ý Niết bàn, Viên tịch, thiên hóa. Nghĩa là vĩnh viễn diệt hết Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử, vượt qua bốn dòng thác: Dục, Hữu, Kiến, Vô minh mà đạt đến Niết bàn. (xt. Niết Bàn).
Diệt độ 滅度
[ja] メツド metsudo ||| (1) Nirvāna (parinirvāna). (2) The complete extinction of all physical and emotional suffering. (3) The death of the Buddha. 〔法華經 T 262.9.03b20〕(4) Negation, cessation. => 1. Niết-bàn (s: Nirvāna, parinirvāna). 2. Sự hoại diệt hoàn toàn mọi khổ đau thể xác và tinh thần. 3. Sự nhập diệt của Đức Phật. 4. Sự không tồn tại, sự chấm dứt.
Diệt 滅
[ja] メツ metsu ||| (1) To finish, end, cease, wipe out, negate, annihilate. In Buddhism, usually refers to the cessation of afflictions--thus, nirvāna. The fourth of the four marks of existence 四相. (2) A view of the universe as being ultimately nothingness (無), 'nihīism.' => 1. Chấm dứt, kết thúc, dừng, xoá sạch, phủ nhận, huỷ diệt. Trong Phật giáo, thường đề cập đến sự trừ diệt phiền não – do vậy, có nghĩa là niết-bàn. Là tướng thứ tư trong Tứ tướng 四相. 2. Quan niệm vũ trụ như là thực thể hoàn toàn không (Vô無). 'thuyết hư vô'. Diệu âm 妙音 [ja] ミョウオン myōon ||| Wonderful Voice. The name of a bodhisattva in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.55a16〕 => Âm thanh vi diệu. Tên một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa.
diệu
Pranita (S)Một trong 4 hành tướng của Diệt đế: Diệt, Tĩnh, Diệu, Ly.
; Su, sat, manju, sùksma (S). Wonderful, beautiful, mystic, supernatural, profound, subtle, mysterious.
; Manju or suksma (skt)—Tát Tô—Huyền diệu không thể nghĩ bàn hay bất khả tư nghì—Marvelous—Wonderful—Profound—Subtle—Supernatural—Mystic—Mysterious—Beyond thought or discussion. • Bất Khả Tư Nghì: Beyond thought or discussion. • Sáng chói: Brilliant—Shining—See Thất Diệu. • Tuyệt Đối: Special—Outstanding. • Vô Tỷ: Incomparable. • Tinh Tế Thậm Thâm: Subtle and profound.
; (妙) Trong kinh điển Phật giáo thường nói đến loài chim. Hoặc có thuyết cho rằng chim là hóa thân của Phật, có công dụng diễn nói Phật pháp, cho nên được coi là vật linh thiêng. Loài chim mà Phật giáo đặc biệt đề cập là các loài chim trong thần thoại Ấn độ, như chim Ca lâu la (Phạm:garuđa, ăn thịt rồng, giữ gìn Phật pháp, lông cánh mầu vàng, nên cũng gọi là Kim sí điểu), Ca lăng tần già (Phạm: kalaviíka), Câu sí la (Phạm: kokila), chim Cộng mệnh (Phạm:jìvajìva), Câu luân xà (Phạm: krauĩca), Ca lan đà (Phạm:kalandaka), Ca tần xà la (Phạm: kapiĩjala), Ca chiên lân đà (Phạm: kàcilindika), Khổng tước (Phạm:mayùra), Sa la lân đề (Phạm:sàrasakàraịđa), Giá tra ca (Phạm:càtaka), Anh vũ (Phạm:zuka) v.v... Tên Khổng tước được thấy trong kinh Khổng tước minh vương và kinh Phật mẫu đại Khổng tước minh vương. Ngoài ra, trong các kinh điển cũng có chép Khổng tước chú pháp, Khổng tước tu pháp v.v... còn Anh vũ thì là hóa thân của Phật. Những chuyện cổ và thí dụ khác có liên quan đến loài động vật này thì thấy rải rác trong các kinh lục như: kinh Tạp bảo tạng, Tam bảo cảm ứng lục quyển thượng, kinh Kim tạng, kinh Chính pháp niệm, kinh Tăng già la sát, kinh Anh vũ gián vương, kinh Bách dụ, kinh Bản sinh v.v... Chẳng hạn như bàn chân của ngỗng chúa (Phạm: haôsaràja) tương tự như tướng mạn võng (một trong 32 tướng của đức Phật, tức là khoảng giữa những ngón tay và ngón chân có màng) nên được dùng để ví dụ với tay Phật. Mắt ngỗng chúa ví dụ cho con mắt có thể phân biệt các pháp đúng sai; tiếng của không điểu có thể phân biệt rõ diệu lí chân không, dụ cho người giảng thuyết đạo lí Không; dấu chân chim ví dụ cho những vật không có thực thể; hai cánh chim ví dụ cho thiền định và trí tuệ v.v... Ngoài ra, chim còn được dùng làm đề tài hội họa đã tạo thành những kiệt tác và chiếm một địa vị rất quan trọng trong nền mĩ thuật Phật giáo.
Diệu Bổn Tự
(妙本寺, Myōhon-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Chánh Tông, hiện tọa lạc tại số 1-15-1 Ōmachi (大町), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu núi là Trường Hưng Sơn (長興山), được kiến lập vào năm 1260 (Văn Ứng [文應] nguyên niên). Tượng thờ chính của chùa là đồ hình Thập Giới Mạn Trà La (十界曼荼羅), bảo vật của chùa; tương truyền khi Nhật Liên lâm chung tại tư dinh của Trì Thượng Tông Trọng (池上宗仲), bức đồ hình nằm dưới gối của Người. Người khai cơ là Tỷ Xí Năng Bổn (比企能本, Hiki Yoshimoto), và khai sơn là Nhật Lãng (日朗). Tương truyền hiệu núi có liên quan đến Tỷ Xí Năng Viên (比企能員, Hiki Yoshikazu), và tên chùa có liên hệ đến pháp danh của Năng Viên. Có thuyết cho rằng duyên khởi của chùa bắt đầu từ sự việc Tỷ Xí Năng Bổn cúng dường tư dinh vào năm 1274 (Văn Vĩnh [文永] 11), khi Nhật Liên vừa được tha tội và trở về Liêm Thương. Tương truyền đất chùa xưa kia là di tích dinh thự của dòng họ Tỷ Xí vốn bị diệt vong vào năm 1203 (Kiến Nhân [建仁] 3); cho nên vẫn còn các di tích mộ tháp của dòng họ này. Vị trú trì Nhật Luân (日輪) là người kiêm nhiệm cả chùa này lẫn Bổn Môn Tự (本門寺, Honmon-ji) ở Trì Thượng (池上, Ikegami). Trong khuôn viên chùa có Thích Ca Đường, Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) đã từng bổ nhiệm các vị Cúng Tăng đến đây phục dịch; và sau này Túc Lợi Trì Thị (足利持氏, Ashikaga Mochiuji) lại đặt chức Cúng Tăng tại đây; cho nên uy thế của chùa phát triển mạnh dưới thời đại Thất Đinh. Tuy nhiên, chùa cũng đã trãi qua bao lần bị hỏa tai. Đến thời đại Giang Hộ, các ngôi đường xá được tu tạo và chỉnh trang; cho nên có hơn chục ngôi tháp viện; nhưng hiện tại không còn nữa. Quần thể già lam hiện tồn có Sơn Môn, Tổ Sư Đường, Chánh Điện, Tàng Kinh, Lầu Chuông, Linh Bảo Điện, v.v. Bảo vật của chùa có bức đồ hình Thập Giới Mạn Trà La, tượng Thích Ca Như Lai, tượng Nhật Liên Thánh Nhân bằng gỗ, v.v.
diệu cao
Xem Tu di.
; (妙高) Núi Tu di (Phạm: Sumeru), Hán dịch ý là Diệu cao. Theo vũ trụ quan của Phật giáo, Tu di là một ngọn núi cao ở trên Kim luân, chính giữa một tiểu thế giới. (xt. Tu Di Sơn).
diệu cao sơn
Meru (S). The wonderful high mountain Dumeru; the king of mountains.
; The wonderful high mountain.
diệu cao sơn vương
Xem Tu Di Sơn vương.
; Núi Tu Di, dãy núi cao và thù diệu nhất—King of the Wonderful High Mountain—Mount Sumeru.
diệu cao thập nghĩa dụ thập trụ bồ tát hành
(妙高十義喻十住菩薩行) Mười nghĩa của núi Diệu cao dụ cho pháp hạnh của Bồ tát Thập trụ. Diệu cao tức là núi Tu di, núi này do bốn thứ quí báu cấu tạo thành và cao vượt lên trên bảy quả núi vàng nên gọi là Diệu cao.Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 17 nói, thì khi đức Như lai nói kinh Hoa nghiêm, Ngài đã dùng sức thần thông tự tại bay lên đỉnh núi Diệu cao gia bị Bồ tát Pháp tuệ và nói về pháp hạnh của hàng Bồ tát Thập trụ nên có 10 điều ví dụ sau đây: 1. Thể diệu: Núi này do bốn thứ quí báu tạo thành, thể của nó vi diệu, ví dụ Bồ tát lấy bốn pháp nghe, nghĩ, tu, hiểu làm diệu thể. 2. Tướng diệu: Núi này có tám phương, bốn cấp, tướng rất vi diệu, ví dụ Bồ tát có đủ bốn đức và tám diệu tướng của bậc Thánh. 3. Sắc diệu: Núi này phía bắc màu vàng ròng, phía đông màu bạc, phía nam màu lưu li, phía tây màu thủy tinh. Tất cả cỏ cây chim muông, sinh ở phương nào thì đều giống màu sắc của phương đó, nhưng chủng loại thì không thay đổi. Ví dụ Bồ tát có bốn thứ biện tài (nghĩa biện, pháp biện, từ biện, thuyết biện), chỗ hiểu biết đều giống nhau, nhưng trí của mình thì bất biến. 4. Đức diệu: Núi này tám hướng không bị gió mạnh lay động, ví dụ Bồ tát không bị tám thứ gió của thói đời lay chuyển. 5. Quyến thuộc diệu: Núi này có bảy lớp núi vàng bao bọc và bảy biển Hương thủy chảy vòng quanh giống như quyến thuộc, ví dụ Bồ tát cũng có bảy chi giới như bảy núi vàng bao bọc và bảy thức lưu chuyển như bảy biển chảy quanh. 6. Y trì diệu: Núi này chỉ có các trời và những người đã được thần thông mới có thể cư trú, ví dụ chỉ có Bồ tát an trụ nơi cõi trời đệ nhất nghĩa, chứ loài hữu tình không thể bay lên được. 7. Tác nghiệp diệu: Núi này không rời chỗ của nó mà trấn khắp bốn châu, bóng của núi che khuất mặt trời mặt trăng mà thành ngày đêm; ví dụ Bồ tát không rời trụ xứ mà biến hiện khắp 10 phương, ánh sáng che mặt trời Phật và mặt trăng Bồ tát mà thành ngày đêm Niết bàn và sinh tử. 8. Sinh quả diệu: Ở núi Diệu cao có cây Ba lợi chất đa la hay sinh diệu quả làm lợi ích chư thiên, ví dụ Bồ tát giống như cây thắng diệu sinh ra giáo, hạnh, quả. 9. Vi thủ diệu: Khi thế giới thành lập thì núi Diệu cao được thành lập trước bốn châu, ví dụ khi thế giới mới thành thì Bồ tát ra đời trước để tạo những thứ đồ dùng, vật thực làm lợi ích chúng sanh. 10. Kiên cố diệu: Khi thế giới hoại diệt thì núi này hoại sau cùng, ví dụ khi thế giới hoại thì Bồ tát cũng diệt độ sau cùng, để còn dạy chúng sinh tu thiền định mà thoát khỏi ba tai nạn.
diệu chân như
Fundamental nature of all things—Totality.
diệu chân như tính
The profound nature of the Bhùtatathatà, the totality, or fundamental nature, of all things.
; Chân như là thực tướng của muôn pháp—The profound nature of the Bhutatathata—The totality or fundamental nature of all things.
diệu chấp kim cương
(妙執金剛) Tam muội (chính định) cao hơn hết nói trong phẩm Diệu âm bồ tát của kinh Pháp hoa. Tam muội, Phạm: samàdhi, dịch là chính định, tức là trạng thái tâm chuyên chú ở một cảnh không vọng động. Chàng, vốn là lá cờ của viên Đại tướng dùng để tiêu biểu cho uy quyền; bởi vậy, Diệu chàng tướng tam muội ví dụ tam muội cao hơn hết trong các loại tam muội. Cứ theo Pháp hoa nghĩa sớ quyển 12 nói thì người được Diệu chàng tướng tam muội cũng giống như được lá cờ của tướng quân, tiêu biểu cho quyền uy tối thượng của vị Đại tướng.
Diệu chỉ 妙旨
[ja] ミョウシ myōshi ||| 'Excellent teaching.' => Giáo pháp siêu việt.
diệu cát tường
Wonderful and auspicious, the meaning of Manjusri, Văn thù; diệu for manju and cát tường for sri.
; 1) Kỳ diệu và cát tường: Wonderful and auspicious. 2) Ngài Văn Thù Sư Lợi: Manjusri (skt). • Diệu: Manju (skt). • Cát Tường: Sri (skt).
diệu cát tường bình đẳng bí mật tối thượng quán môn đại giáo vương kinh
(妙吉祥平等秘密最上觀門大教王經) Gồm 5 quyển, ngài Từ hiền dịch vào đời Tống. Gọi tắt: Diệu cát tường quán môn kinh, đưa vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật đang ở trong vườn Hoa lâm tại nước Xá vệ,bồ tát Di lặc đến thưa hỏi Phật là ngoài pháp ba thừa sâu xa mầu nhiệm còn có pháp nào khác không thì đức Phật trả lời từ khi thành Phật đến nay tuy Ngài chưa nói pháp nào khác ngoài ba thừa, nhưng còn có Ma ha tam muội da bí mật nội pháp, nên người nào y theo pháp này mà tu hành thì cũng có thể mau thành Phật đạo.
diệu cát tường du già đại giáo kim cương bồi la phọc luân quán tưởng thành tựu nghi quỹ kinh
(妙吉祥瑜伽大教金剛陪囉縛輪觀想成就儀軌經) Có 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, Thành tựu pháp nghi quĩ thuộc tạp mật kinh trong Mật giáo. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh quĩ này là pháp Thành tựu mạn đồ la do thần Kim cương Bồi la phạ tuyên thuyết. Toàn kinh gồm có sáu phần: Mạn đồ la, Nhất thiết thành tựu, Quán tưởng, Họa tượng nghi quĩ, Hộ ma pháp, Quán tưởng thành tựu...
diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo kinh
(妙吉祥最勝根本大教經) Gồm 3 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Gọi tắt: Diệu cát tường đại giáo kinh. Là Đại uy đức pháp nghi quĩ thuộc tạp mật kinh của Mật giáo, do hóa thân của bồ tát Diệu cát tường là Đại uy đức minh vương tuyên thuyết.
Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo kinh 妙吉祥最勝根本大教經
[ja] ミョウキツショウサイショウコンホンダイキョウキョウ Myōkichijō saishō kompon daikyōgyō ||| The Miaojixiang zuisheng genben dajiaojing; Skt. Krodhavijayakalpa-guhyatantra; Tib. khro bo rnam par rgyal ba'i rtog pa gsang ba'i rgyud [To.604, P.291]; (Secret Tantra of the Auspicious Triumph [of Rage]) 3 fasc. (T 1217.21.81-93), trans. Faxian 法賢, abbreviated as 妙吉祥大教經. => (c: Miaojixiang zuisheng genben dajiaojing; Skt. Krodhavijayakalpa-guhyatantra; Tib. khro bo rnam par rgyal ba'i rtog pa gsang ba'i rgyud; e: Secret Tantra of the Auspicious Triumph); 3 quyển; Pháp Hiền (Faxian 法賢) dịch. Viết tắt là Diệu cát tường đại giáo kinh.
Diệu cát tường đại giáo kinh 妙吉祥大教經
[ja] ミョウキツショウダイキョウキョウ Myōkitsu shōdaikyō kyō ||| The Miaojixiang dajiao ing; abbreviated title of the Miaojixiang zuisheng genben dajiaojing 妙吉祥最勝根本大教經. => (c: Miaojixiang dajiao ing); Viết tắt của Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo kinh (妙吉祥最勝根本大教經c: Miaojixiang zuisheng genben dajiaojing).
diệu diệu
Maju (S), Beautiful.
diệu dụng
Wonderful application.
; (妙用) Tức là đạo tối thượng, đạo vô thượng. Thông thường cũng là từ ngữ dùng thay cho những danh từ đạo Phật, giáo pháp của Phật.
Diệu Giác
(妙覺): tự giác ngộ chính mình, làm cho người khác giác ngộ, sự giác ngộ và hạnh nguyện tròn đầy, không thể nghĩ bàn, đó gọi là Diệu Giác; tức là quả vị Phật vô thượng chánh giác; là một trong 52 hay 42 giai vị tu hành của Bồ Tát Đại Thừa; còn gọi là Diệu Giác Địa (妙覺地). Hàng Nhị Thừa (Thanh Văn [s: śrāvaka, 聲聞] và Duyên Giác [s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺]) thì dừng lại ở cấp độ tự giác, không có công năng giác tha. Còn Bồ Tát tuy cùng song hành cả tự giác lẫn giác tha, nhưng chưa viên mãn; chỉ có Phật mới viên mãn cả hai, thể giác ngộ không thể nghĩ bàn. Tam Tạng Pháp Số (三藏法數) quyển 26 định nghĩa rằng: “Tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn, bất khả tư nghì, cố danh Diệu Giác Tánh (自覺覺他、覺行圓滿、不可思議、故名妙覺性, tự mình giác ngộ, làm cho người khác giác ngộ, giác ngộ và hạnh nguyện tròn đầy, không thể nghĩ bàn, nên gọi là Tánh Diệu Giác).” Thiên Thai Tứ Giáo Nghi (天台四敎儀, Taishō Vol. 46, No. 1931) do Sa Môn Đế Quán (諦觀) người Cao Lệ thâu lục, giải thích rõ sự sai khác giữa Diệu Giác của Biệt Giáo và Viên Giáo thế nào. Quả vị Diệu Giác của Biệt Giáo ngồi trên tòa Đại Bảo Hoa Vương (大寶華王), dưới cây bồ đề có bảy báu thuộc thế giới Liên Hoa Tạng (蓮華藏), hiện Viên Mãn Báo Thân (圓滿報身), vì các Bồ Tát độn căn mà chuyển vô lương bánh xe pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦). Trong khi đó, quả vị Diệu Giác của Viên Giáo thì lấy hư không làm tòa ngồi, thành tựu Thanh Tịnh Pháp Thân (清淨法身), trú tại Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). Như trong Ngột Am Phổ Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (兀菴普寧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1404) có giải thích rằng: “Chí thử Diệu Giác vị, vị chi Như Lai địa, thuyết pháp như vân, lợi sanh như vũ, tự lợi lợi tha, độ vị độ dã (至此妙覺位、謂之如來地、說法如雲、利生如雨、自利利他、度未度也, đạt đến quả vị Diệu Giác này, gọi đó là cảnh địa của Như Lai, thuyết pháp như mây, làm lợi ích quần sanh như mưa, tự lợi và lợi tha, độ cho những người chưa được độ).” Hay trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 8, Chương Pháp Khí (法器章) thứ 9, lại có câu: “Vị nhân nhân diệu giác bổn vô phàm thánh, vật vật toàn chân ninh hữu tịnh uế (謂人人妙覺本無凡聖、物物全眞寧有淨穢, bảo rằng người người diệu giác vốn không phàm thánh, vật vật toàn chân sao có sạch nhớp).”
diệu giác
Chứng quả Phật cùng tt, tức là vô thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giáctự giác giác tha, giác hạnh viên mãn, bất khả tư nghì.
; The wonderful enlightenment of Mahayàna, or self-enlightenment to enlighten others.
; Chứng quả Phật cùng tột, tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
; 1) Diệu giác trong Phật giáo Đại thừa gồm tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn (tự mình giác ngộ, giúp người giác ngộ, giác ngộ tròn đầy)—Đây là quả vị thứ 52, cũng là quả vị cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành Phật—The fine state of truth—The wonderful enlightenment of Mahayana Buddhism, consisting of self-enlightenment to enlighten others and Enlightenment of Buddhahood—The fifty-second and the last stage of a bodhisattva before becoming Buddha. 2) Hòa Thượng Diệu Giác Hải Thuận, một trong những đại đệ tử của Hòa Thượng Nhất Định, tăng cang chùa Diệu Đế—Most Venerable Diệu Giác Hải Thuận, one of the most outstanding disciples of Most Venerable Nhất Định. He was also a royal-recognized monk at Diệu Đế Temple (see Tăng Cang).
; (妙覺) Một trong 52 giai vị, một trong 42 giai vị tu hành của hàng Bồ tát Đại thừa. Chỉ cho quả Phật rốt ráo giác hạnh viên mãn; bởi thế Diệu giác cũng là tên khác của quả Phật. Còn gọi là Diệu giác địa, biểu hiện cảnh giới lí tưởng cùng tột. Bồ tát ở giai vị Đẳng giác đoạn trừ một phẩm vô minh cuối cùng mà được vào giai vị Diệu giác. Ở giai vị này Bồ tát đã dứt sạch tất cả phiền não, trí tuệ viên mãn vi diệu, đã giác ngộ lí Niết bàn.Khi phân tích sự sai khác giữa giai vị Diệu giác của Biệt giáo và Viên giáo, Thiên thai tứ giáo nghi cho rằng, vị Diệu giác của Biệt giáo hiện báo thân viên mãn, ngồi ở tòa Đại bảo hoa vương dưới cây bồ đề thất bảo trong thế giới Liên hoa tạng, vì các Bồ tát độn căn mà quay bánh xe pháp vô lượng tứ đế. Còn vị Diệu giác của Viên giáo thì thành tựu pháp thân thanh tịnh, ở trong cõi Thường tịch quang, lấy hư không làm tòa ngồi. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng phẩm Hiền thánh học quán; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Tứ giáo nghi Q.5, Q.6; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 hạ, Q.5 thượng; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.2].
diệu giác tính
Tính chất hay bản chất thậm thâm của quả vị Phật—The profound enlightened nature of the Buddha.
diệu giác vị
The Buddha-stage—The fruition of holiness—See Lục Tức Phật (6).
diệu giác địa
Quả vị Diệu Giác hay quả vị Phật—The stage of wonderful enlightenment—Buddhahood. ** For more information, please see Diệu Giác
diệu giáo
Giáo lý thậm thâm kỳ diệu của Pháp Hoa—Admirable, profound teaching (Lotus sutra).
Diệu giáo 妙教
[ja] ミョウキョウ myōkyō ||| Profound teaching--as is given in the Lotus Sutra 蓮華經. => Giáo lý sâu mầu—được tuyên bày trong kinh Pháp Hoa.
diệu giả
Thâm nghĩa của vạn vật trong tam đế viên dung của Thiên Thai Viên Giáo, như nước và sóng, để đối lại với quan điểm “tam đế cách biệt” của Biệt Giáo—The profound meaning of phenomenal of T'ien-T'ai, that they are the bhutatathata, i.e. water and wave, as distinguished from the view of the Differentiated Teaching.
diệu giới
(妙戒) Đối với Thô giới của Tiểu thừa mà gọi giới Bồ tát Đại thừa là Diệu giới. (xt. Tiểu Thừa Giới).
diệu hiền
Subhadra (skt)—Vị Tăng nổi tiếng được nói đến trong Tây Phương Du Ký—A famous monk mentioned in the Records of Western Lands.
diệu hiển sơn
Núi Tu Di, có dáng vẻ thù diệu—The mountain of marvellous appearance (Sumeru).
Diệu Hiển Tự
(妙顯寺, Myōken-ji): ngôi chùa nổi tiếng của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Kamigyō-ku (上京區), Kyotō-shi (京都市), Kyotō-fu (京都府); hiệu là Cụ Túc Sơn Long Hoa Viện (具足山龍華院). Chùa do Nhật Tượng (日像) khai sáng vào năm 1321 (Nguyên Hưởng [元亨] nguyên niên); và đối với Nhật Liên Tông thì đây được xem như là đạo tràng đầu tiên. Vào năm 1334 (Kiến Võ [建武] nguyên niên), chùa được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) ban cho sắc hiệu Pháp Hoa Tông và trở thành ngôi chùa sắc nguyện của nhà vua. Ba năm sau, Tướng Quân Túc Lợi Trực Nghĩa (足利直義, Ashikaga Tadayoshi) cũng dùng nơi đây làm nơi cầu đảo. Hơn nữa, vào năm 1357 (Diên Văn [延文] 2), Hậu Quang Nghiêm Thiên Hoàng (後光嚴天皇, Gokōgon Tennō) lại ban sắc chỉ cho chùa đọc tụng 30.000.000 bộ Kinh Pháp Hoa ở đây, rồi năm sau thì ban cho hiệu là Tứ Hải Xướng Đạo (四海唱導). Sau đó, chùa đã từng tổ chức luận tranh về giáo nghĩa với các chùa như Diệu Giác Tự (妙覺寺); rồi vì do lưu lại tên Pháp Hoa Tông mà làm cho Tỷ Duệ Sơn nổi giận, nên những ngôi đường tháp của chùa bị phá hoại tan tành. Thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), chùa được dời về vị trí hiện tại vào năm 1583 (Thiên Chánh [天正] 11), và trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 1615-1624), chùa đã chỉnh đốn lại toàn bộ đường tháp trang nghiêm. Tuy nhiên, do trận hỏa hoạn vào năm 1788 (thiên minh [天明] 8), chùa lại bị thiêu rụi hoàn toàn. Hiện tại chùa còn lưu giữ một số kiến trúc như Chánh Điện, Tổ Sư Đường, Chơn Cốt Đường, Quỷ Tử Mẫu Thần Đường, Khách Điện, Thư Viện, Nhà Kho, Tàng Kinh Các, v.v. Nơi Chơn Cốt Đường có tôn trí ba hài cốt của Nhật Liên, Nhật Lãng và Nhật Tượng. Trong khuôn viên chùa hiện có mộ của Tiền Điền Lợi Quang (前田利光, Maeda Toshimitsu), Vĩ Hình Quang Lâm (尾形光琳, Ogata Kōrin), v.v., và đặc biệt là 9 ngôi viện, gồm Cửu Bổn Viện (久本院), Thập Thừa Viện (十乘院), Tuyền Diệu Viện (泉妙院), Pháp Âm Viện (法音院), Ân Mạng Viện (恩命院), Thiện Hành Viện (善行院), Bổn Diệu Viện (本妙院), Thật Thành Viện (實成院), Giáo Pháp Viện (敎法院).
diệu hoa
Xem Thiên Hoa.
diệu hoa bồ tát
Xem Kim Cang Hoa Bồ tát.
diệu huyền
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa—Kỳ diệu thậm thâm—Wonderful and profound—See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.
diệu huyền độc cước
(妙玄獨脚) Sâu kín mầu nhiệm đứng một mình. Từ ngữ hình dung sự u huyền vi diệu của Phật pháp. Nghĩa là Phật pháp rất sâu xa mầu nhiệm, đứng riêng một mình, dứt tuyệt mọi quan hệ đối đãi và không có bất cứ cái gì có thể sánh ngang được. Bích nham lục tắc 16 (Đại 48, 157 thượng) chép: Hương nghiêm nói rằng Con kêu mẹ mổ Con ra không vỏ Con mẹ đều quên Ứng duyên không lầm Cùng đạo xướng họa Huyền diệu một mình.
diệu huệ
Sukshmamati (skt)—Trí huệ tinh diệu—Exquisite knowledge.
diệu huệ đồng nữ kinh
(妙慧童女經) Có 1 quyển. Là tên khác của kinh Tu ma đề, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này nêu 40 việc tu hành của Bồ tát và nói rõ chỗ thể hội cảnh giới Bát nhã chân không của Diệu tuệ (cô gái mới tám tuổi, là con một trưởng giả ở thành Vương xá). Toàn kinh được kết cấu tương tự như kinh Duy ma. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5, Q.13; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
diệu hành
Hành động thâm diệu mà một thiện nghiệp được tạo ra—The profound act by which a good karma is produced.
diệu hành tam muội
(妙行三昧) Một trong 108 tam muội. Tam muội này tương ứng với tất kính không mà đạt tới tướng chẳng hai của các tam muội. Tam muội là tên khác của thiền định, chính định.Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 401 trung), nói: Diệu hành tam muội là tam muội tương ứng với tất kính không, thậm chí chẳng thấy tướng bất nhị, tất cả hí luận không thể phá được.
diệu hành tam nhân duyên
(妙行三因緣) Cứ theo luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 121 nói: muốn thành tựu diệu hạnh thì phải có ba nhân duyên là thời, xứ và chúng. 1. Thời nhân duyên: Khi năm việc nhơ đục xấu ác không tăng, tất cả loài hữu tình đều có đại uy đức, thích làm các điều thiện. Ở thời đại ấy không có các việc nhơ đục xấu ác, con người dù không muốn làm diệu hạnh cũng tự nhiên mà làm. 2. Xứ nhân duyên: Người sinh nơi trung quốc (nơi có văn hóa cao), tư chất thông minh, chí khí nhu hòa, thường tu thiện nghiệp, không sinh tà kiến, dù người không thích làm diệu hạnh cũng tự nhiên mà làm. 3. Bổ đặc già la nhân duyên: Bổ đặc già la, Phạm:Pudgala, hàm ý là chúng sinh. Những người diệu hạnh, tính tình hòa nhã, siêng tu nghiệp lành, giữ gìn luật nghi. Nếu gần gũi những người diệu hạnh này, thì dù không ưa những điều thiện cũng cứ tự nhiên mà làm.
diệu hạnh
Sucarita (S), Sucaritani (S).
; The profound act by which a good krma is produced, e.g. faith.
Diệu hạnh 妙行
[ja] ミョウギョウ myōgyō ||| (1) Marvelous activity. (2) Correct deeds or actions; good actions (sucarita). (3) Actions praised by the sages. => 1. Việc làm xuất sắc. 2. Công hạnh thù thắng; thiện nghiệp (s: sucarita). 3. Các công hạnh được thánh hiền tán thán.
diệu hảo bảo xa kinh
(妙好寶車經) Có 1 quyển, gọi tắt: Bảo xa kinh, được đưa vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung khuyên người siêng giữ ba qui y và năm giới, nói rõ Tam thừa đều có thể được Niết bàn. Kinh này hiện còn, nhưng phần đầu đã rách nát, vả lại, cách trình bày rất lộn xộn, ý chỉ thì không được rõ ràng. Dựa vào các tư liệu cho thấy thì kinh này có lẽ đã được ngụy tạo ở cuối thời kì Bắc Ngụy. Nhưng văn trong kinh có rất nhiều chỗ nhất trí với kinh Pháp hoa, cho nên biết giữa kinh này và kinh Pháp hoa có mối quan hệ khá sâu đậm. [X. kinh Pháp hoa Q.4 phẩm An lạc hạnh; Xuất tam tạng kí tập Q.5 Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục; Pháp kinh lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Chi na Phật giáo sử nghiên cứu (Trủng bản Thiện long)].
diệu hảo nhân
(妙好人) Mĩ danh gọi những hành giả niệm Phật, như một lời khen tặng. Tịnh độ giáo Nhật bản gọi Diệu hảo nhân là một trong năm thứ danh dự. Kinh Quán vô lượng thọ gọi hành giả niệm Phật là hoa phân đà lợi trong loài người. Vì hoa phân đà lợi (Phạm: Puịđarìka) là một loại hoa sen trắng hiếm có. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 18, quyển 33 đã đem hoa phân đà lợi, hoa đại phân đà lợi ví dụ với đức Phật. Phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ, ngài Thiện đạo của tông Tịnh độ ở đời Đường đã căn cứ vào các thuyết nói trên mà cho rằng: Hoa phân đà lợi là hoa đẹp đẽ, thù thắng, ít nở, hệt như người niệm Phật là người đẹp đẽ, tốt lành, trên hết, hiếm có, tuyệt vời trong loài người. Tịnh độ giáo của Nhật bản theo thuyết của ngài Thiện đạo mà dùng từ ngữ Diệu hảo nhân để gọi thay cho hành giả niệm Phật. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.hạ].
diệu hảo nhân truyện
(妙好人傳) Gồm 2 quyển, do vị sư người Nhật bản tên là Ngưỡng thệ soạn. Nội dung ghi lại những lời nói hay, những hành vi đẹp của những người tu niệm Phật thuộc Tịnh độ chân tông. Quyển thượng nói về 8 người, quyển hạ ghi 14 người. Về sau, ngài Tăng thuần lại soạn Diệu hảo nhân truyện tục biên 2 quyển đến thiên thứ 5. Năm Minh trị 32 (1899) ngài Tân khẩu Huệ chương lại soạn Tân diệu hảo nhân truyện 2 quyển.
Diệu hảo nhân 妙好人
[ja] ミョウコウニン myōkōnin ||| An excellent person, who is practicing the recitation of a buddha's name. => Người ưu tú, người tu tập pháp môn niệm danh hiệu Phật.
Diệu hảo 妙好
[ja] ミョウコウ myōkō ||| Exquisite, excellent, superb, delicate (sudarśanīya, vara-ruci, śobha, suviśuddha). 〔大乘理趣六波羅蜜多經 261.8.884c27〕 => Thanh tú, xuất sắc, tuyệt vời, tinh vi (sudarśanīya, vara-ruci, śobha, suviśuddha).
diệu hỉ
Miao his (C).
diệu hữu
The absolute reality, the incomprehensible entity, as contrasted withthe superficial reality of phenomena; supernatural existence.
; Cái “hữu” tuyệt đối (cái hữu phi hữu, cái có mà không phải là có), đối lại với cái hiện hữu giả hợp của vạn pháp—The absolute reality—Supernatural existence—Incomprehensible entity, as contrasted with the superficial reality of phenomena. ** For more information, please see Chân Không.
diệu hữu tức chân không
Existence is Emptiness—Diệu hữu tức chân không còn có nghĩa là Sự tức Lý, hay trong Sự đã có sẵn Lý rồi—Existence is Emptiness means Practice is Theory or in Practice there already exists Theory—See Lý Sự Viên Dung, and Tứ Pháp Giới (3).
diệu hỷ quốc
Xem Lạc thổ.
; The Happy Land.
diệu hỷ thế giới
The realm of profound joy.
diệu hỷ túc thiên
The heaven full of wonderful joy.
diệu kiến
1) Cảnh kỳ diệu: The beautiful sight. 2) Tên của bảy ngôi sao thuộc chòm sao Bắc Đẩu, được cai trị bởi—Ursa Major ruled by: • Chư Bồ Tát: Bodhisattvas. • Chư Phật: Buddhas. • Có người nói Đức Thích Ca ngự trị ở đó: Some say Sakyamuni who rules there. • Người khác lại cho rằng Bồ Tát Quán Âm: Others say Kuan-Yin. • Người khác lại cho là Phật Dược Sư: Others say Bhaisajya Buddha. • Người khác nữa lại cho là Bảy vị Phật: Others say the seven Buddhas.
diệu kiến bồ tát
(妙見菩薩) Cũng gọi Tôn tinh vương, Diệu kiến tôn tinh vương, Bắc thần bồ tát. Là sao Bắc cực được thần cách hóa, Mật giáo coi sao này là hơn hết trong các sao, có đủ công năng giữ gìn đất nước, trừ tai diệt địch, tăng trưởng phúc thọ v.v... Pháp tu của vị Bồ tát này gọi là Bắc đẩu pháp, Diệu kiến pháp, Tôn tinh pháp, có hiệu lực chữa các bịnh về mắt. Hình tượng vị tôn này thông thường là hình Bồ tát hoặc là hình Thiên nữ cỡi rồng trong áng mây, có hai tay hoặc bốn tay. Trong đó, tượng hai tay là hình Bồ tát, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có bảy sao Bắc đẩu, ngón cái, ngón trỏ của tay phải búng vào nhau, ngón giữa hơi co, bàn tay hướng ra ngoài, bắt ấn thuyết pháp, đầu đội mũ báu, ngồi xếp bằng trong đám mây năm sắc. [X. kinh Thất Phật bát Bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú Q.2; Bắc đẩu thất tinh hộ ma bí yếu nghi quĩ]. (xt. Bắc Đẩu Pháp).
diệu kiến mạn đồ la
(妙見曼荼羅) Mạn đồ la của Mật giáo hiển bày sự nội chứng của bồ tát Diệu kiến. Cách vẽ tranh mạn đồ la: bồ tát Diệu kiến là vị Trung tôn trong Đại nguyệt luân (vòng tròn lớn) ở chính giữa, chung quanh vẽ bảy nguyệt luân nhỏ của bảy sao Bắc đẩu, đây là viện trong. Bảy sao Bắc đẩu theo thứ tự phương vị của nguyệt luân là: tây nam sao Tham lang, chính tây sao Cự văn, tây bắc sao Lộc tồn, chính bắc sao Văn khúc, đông bắc sao Liêm trinh, chính đông sao Vũ khúc, đông nam sao Phá quân... và phía trước bồ tát Diệu kiến vẽ một bánh xe báu (bảo luân). Viện ngoài theo thứ tự phương vị vẽ tướng quân Giáp dần ở vị Dần phương đông, tòng thần Đinh mão ở vị Mão, tướng quân Giáp thìn ở vị Thìn, tướng quân Đinh tị ở vị Tị phương nam, tướng quân Giáp ngọ ở vị Ngọ, tòng thần Đinh mùi ở vị Mùi, tướng quân Giáp thân ở vị Thân phương tây, tướng quân Đinh dậu ở vị Dậu, tướng quân Giáp tuất ở vị Tuất, tòng thần Đinh hợi ở vị Hợi phương bắc, tướng quân Giáp tí ở vị Tí, tòng thần Đinh sửu ở vị Sửu. Còn bốn góc ở bốn cửa dùng các sao làm ranh giới, chỗ trống không ở bốn góc thì vẽ lọ hoa. [X. kinh Diệu kiến bồ tát thần chú].
diệu kiết tường bồ tát
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
diệu liên hoa
Liên Hoa Kỳ Diệu biểu hiện cho trí tuệ sáng suốt thấu triệt chân lý của Phật, dù gần nơi thế giới nhiễm tạp cũng không bị hoen ố—The wonderful lotus, symbol of the pure wisdom of Buddha, unsullied in the midst of the impurity of the world—See Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu Liên Tự
(妙蓮寺, Myōren-ji): ngôi chùa trung tâm của Bổn Môn Pháp Hoa Tông, hiện tọa lạc tại Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市); hiệu là Mão Mộc Sơn (卯木山). Chùa được Nhật Tượng (日像) kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Nhân (永仁, 1293-1299). Xưa kia, chùa vốn nằm ở Ngũ Điều Tây Động Viện (五條西洞院), hiệu là Diệu Pháp Liên Hoa Tự (妙法蓮華寺). Vào năm 1415 (Ứng Vĩnh [應永] 22), khi Nhật Long (日隆) sáng lập Bổn Ứng Tự (本應寺, tức Bổn Năng Tự [本能寺]), thì Nhật Khánh (日慶) nhờ Liễu Ốc Trọng Hưng (柳屋仲興) quy y theo, nên mới tái xây dựng chùa này tại đường Đại Cung (大宮); phân chữ “liễu (柳)” thành “mộc (木)” và “mão (卯)”, rồi đặt hiệu chùa là Mão Mộc Sơn; lược bớt tên Diệu Pháp Liên Hoa mà gọi tắt thành Diệu Liên Tự. Chùa có thời bị suy tàn do nạn binh hỏa, nhưng đến khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) chùa được dời về vị trí hiện tại và được tái kiến như cũ. Bảo vật của chùa có bức đồ hình Pháp Hoa Mạn Trà La do chính ngòi bút của Nhật Liên vẽ, và nhiều thứ khác. Kiến trúc của chùa có 8 ngôi viện chính là Huệ Quang Viện (惠光院), Ngọc Long Viện (玉龍院), Bổn Quang Viện (本光院), Viên Thường Viện (圓常院), Kiên Thọ Viện (堅樹院), Từ Thuyên Viện (慈詮院), Bổn Diệu Viện (本妙院), Thường Trú Viện (常住院).
Diệu luân thượng Dược vương bí mật bất tư nghị đại giáo vương kinh 妙輪上樂王祕密不思議大教王經
[ja] ミョウリンジョウガクオウヒミツフシギダイキョウオウキョウ Myōrin shōraku ō himitsu fushigi daikyōō kyō ||| The Miaoun shangle wang mimi busiyi dajiaowang jing; Skt. Cakrasaṁvaraguhyācintya-tantrarāja; Tib. 'khor lo sdom pa gsang ba bsam gyis mi khyab pa'i rgyud kyi rgyal po [To.385]; (Inconceivable Secret of the Wheel of Ecstasy: Great King of Tantras). 100 leaves, trans. from Tibetan in the Qing dynasty. For a facsimile of the Tibetan, Mong., Manchu and Chinese text see Chandra (1979). => (c: Miaoun shangle wang mimi busiyi dajiaowang jing; Skt. Cakrasaṁvaraguhyācintya-tantrarāja; Tib. 'khor lo sdom pa gsang ba bsam gyis mi khyab pa'i rgyud kyi rgyal po; e: Inconceivable Secret of the Wheel of Ecstasy: Great King of Tantras). 100 bản. Được dịch sang Hán văn từ tiếng Tây Tạng vào đời Thanh. Về bản sao từ tiếng Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu và tiếng Hán, xin xem Chandra (1979).
Diệu lý
(妙理): (1) Đạo lý thâm áo, siêu tuyệt. (2) Chân lý không thể nghĩ bàn mà người thường tình chẳng luận suy thấu được. (3) Lý huyền diệu. Như trong bài thơ Mai Nhật Tầm Thôi Tập Lý Phong (晦日尋崔戢李封) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Trọc dao hữu diệu lý, thứ dụng úy trầm phù (濁醪有妙理、庶用慰沉浮, rượu đục có đạo lý, dùng nhiều sợ chẳng hay).” Hay trong bài Ấp Thúy Hiên Phú (揖翠軒賦) của Vương Nhược Hư (王若虛, 1174-1243) nhà Kim có câu: “Vật chi tại thiên hạ, giai diệu lý chi sở ngụ dã (物之在天下、皆妙理之所寓也, muôn vật trong thiên hạ, đều bao hàm đạo lý siêu tuyệt).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 672) lại có đoạn rằng: “Hiểu danh tướng chi tinh giả, khư vọng tưởng chi mê câm, y chánh trí dĩ hội chân như, ngộ Duyên Khởi nhi quy diệu lý, cảnh phong ký tức, thức lãng phương trừng, tam Tự Tánh giai không, nhị Vô Ngã câu mẫn, nhập Như Lai chi tạng, du giải thoát chi môn (曉名相之幷假、祛妄想之迷衿、依正智以會眞如、悟緣起而歸妙理、境風旣息、識浪方澄、三自性皆空、二無我俱泯、入如來之藏、遊解脫之門, rõ danh tướng đều giả tạm, bỏ vọng tưởng ấy áo mê, nương chánh trí để tỏ chân như, ngộ duyên khởi mà về diệu lý, gió cảnh đã dứt, sóng biết lắng trong, ba Tự Tánh đều không, hai Vô Ngã thảy hết, vào Như Lai kho tạng, chơi giải thoát cửa Thiền).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Huyền Nghĩa (大般涅槃經玄義, Taishō Vol. 38, No. 1765) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phù chánh đạo u tịch vô thỉ vô chung, diệu lý hư huyền phi tân phi cố (夫正道幽寂無始無終、妙理虛玄非新非故, phàm chánh đạo thì vắng lặng không đầu không cuối, lý mầu huyền nhiệm chẳng mới chẳng cũ).”
; (妙理): có ba nghĩa chính: (1) Đạo lý thâm áo, siêu tuyệt. (2) Chân lý không thể nghĩ bàn mà người thường tình chẳng luận suy thấu được. (3) Lý huyền diệu. Như trong bài thơ Mai Nhật Tầm Thôi Tập Lý Phong (晦日尋崔戢李封) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Trọc dao hữu diệu lý, thứ dụng úy trầm phù (濁醪有妙理、庶用慰沉浮, rượu đục có đạo lý, dùng nhiều sợ chẳng hay).” Hay trong bài Ấp Thúy Hiên Phú (揖翠軒賦) của Vương Nhược Hư (王若虛, 1174-1243) nhà Kim có câu: “Vật chi tại thiên hạ, giai diệu lý chi sở ngụ dã (物之在天下、皆妙理之所寓也, muôn vật trong thiên hạ, đều bao hàm đạo lý siêu tuyệt).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 672) lại có đoạn rằng: “Hiểu danh tướng chi tinh giả, khư vọng tưởng chi mê câm, y chánh trí dĩ hội chân như, ngộ Duyên Khởi nhi quy diệu lý, cảnh phong ký tức, thức lãng phương trừng, tam Tự Tánh giai không, nhị Vô Ngã câu mẫn, nhập Như Lai chi tạng, du giải thoát chi môn (曉名相之幷假、祛妄想之迷衿、依正智以會眞如、悟緣起而歸妙理、境風旣息、識浪方澄、三自性皆空、二無我俱泯、入如來之藏、遊解脫之門, rõ danh tướng đều giả tạm, bỏ vọng tưởng ấy áo mê, nương chánh trí để tỏ chân như, ngộ duyên khởi mà về diệu lý, gió cảnh đã dứt, sóng biết lắng trong, ba Tự Tánh đều không, hai Vô Ngã thảy hết, vào Như Lai kho tạng, chơi giải thoát cửa Thiền).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Huyền Nghĩa (大般涅槃經玄義, Taishō Vol. 38, No. 1765) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phù chánh đạo u tịch vô thỉ vô chung, diệu lý hư huyền phi tân phi cố (夫正道幽寂無始無終、妙理虛玄非新非故, phàm chánh đạo vắng lặng không đầu không cuối, lý mầu huyền nhiệm chẳng mới chẳng cũ).”
diệu lạc
Bliss.
; 1) Âm nhạc kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ: Wonderful music in the Pure Land. 2) Niềm vui sướng kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ hay Niết Bàn: Wonderful joy in the Pure Land or Nirvana. 3) Lục Tổ Thiên Thai: The sixth T'ien-T'ai patriarch.
diệu lạc hoá thiên
Xem Hoá lạc thiên.
diệu lạc thế giới
Xem Cực lạc thế giới.
Diệu lạc 妙樂
[ja] ミョウガク myōgaku ||| (1) The sublime bliss of the Pure Land (sparśa-sukha). (2)Miaoyue is also the name of the sixth patriarch of the Chinese Tiantai traditions. => 1. Niềm vui tối thượng ở cõi Tịnh độ (s: sparśa-sukha). 2. ( c: Miaoyue), cũng là tên của vị tổ thứ 6 của tông Thiên Thai Trung Hoa.
Diệu lực
(妙力): sức mạnh thần diệu. Như trong bài thơ Kinh Sư (京師) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) nhà Lương thời Nam Triều có đoạn: “Ngưỡng kỳ chơn thánh chi ân, sát kỳ thành tâm, bị dĩ diệu lực, linh thần sở chí hoạch toại (仰祈眞聖之恩、察其誠心、被以妙力、令臣所志獲遂, ngưỡng mong chơn thánh ơn cao, xét tâm thành ấy, lấy năng lực thần diệu, khiến chí nguyện của thần được thỏa mãn).” Hay trong bài thơ Lễ Võ Đài Tọa Hóa Tăng (禮武臺坐化僧) của Trần Sư Đạo (陳師道, 1053-1101) nhà Tống có cũng có câu: “Thỉ độc bích gian bi, diệu lực ẩn bất truyền (始讀壁間碑、妙力隱不傳, mới đọc bia trong đá, diệu lực ẩn không truyền).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3 có câu: “Duy nguyện Phật từ quảng đại, diệu lực nan tư, giáng lâm đạo tràng, chứng minh công đức (唯願佛慈廣大、妙力難思、降臨道塲、證明功德, cúi mong lòng từ Phật rộng lớn, năng lực mầu nhiệm khó nghĩ bàn, giáng xuống đạo tràng, chứng minh công đức).”
diệu minh
Cái tâm chân thực trong sáng tuyệt diệu hay trí tuệ chân chính vô lậu đưa chúng sanh đến chỗ chấm dứt luân hồi sanh tử—Profoundly enlightened mind or heart (the knowledge of the finality of the stream of reincarnation).
Diệu minh 妙明
[ja] ミョウミョウ myōmyō ||| Superb illumination, excellent wisdom. => Sự sáng suốt vi diệu, trí tuệ siêu việt.
Diệu Mãn Tự
(妙滿寺, Myōman-ji): ngôi chùa trung tâm của Hiển Bổn Pháp Hoa Tông (顯本法華宗), hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Diệu Tháp Sơn (妙塔山). Tượng thờ chính là Đại Mạn Trà La (大曼陀羅). Chùa do Nhật Thập (日什, Nichijū) sáng lập vào năm 1389 (Khang Ứng [康應] nguyên niên) hay 1381 (Vĩnh Đức [永德] 3), và được chuyển đổi vị trí đến 3 lần. Chùa được liệt vào một trong 8 ngôi chùa trung tâm của Pháp Hoa Tông. Chuông chùa vốn và di vật của Đạo Thành Tự (道成寺) ở vùng Kỷ Châu (紀州, Kishū); nhưng do vì chùa này bị hỏa tai nên chuông được chuyển đến Diệu Mãn Tự. Khu đình viên của chùa được xếp vào một trong 3 khu đình viên nổi tiếng của kinh đô Kyoto, và được gọi là Vườn Tuyết (雪の庭). Khu vườn này do một người tín đồ của Pháp Hoa Tông tên Tùng Vĩnh Trinh Đức (松永貞德, 1571-1653) tạo nên trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Lộc (元祿, 1688-1704), dựa theo mô hình cảnh tuyết trên Tỷ Duệ Sơn. Vào năm 1968 (Chiêu Hòa [昭和] 43), chùa được dời về vị trí hiện tại. Chùa có 4 ngôi viện chính là Chánh Hành Viện (正行院), Pháp Quang Viện (法光院), Thành Tựu Viện (成就院) và Đại Từ Viện (大慈院).
diệu môn
The wonderful door of dharma; nirvàna.
; Pháp môn thù diệu hay cửa vào Niết Bàn—The wonderful of the dharma—The door to the Nirvana. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.
Diệu mẫu
曜母; C: yàomŭ; J: yōmo;|Tên một vị nữ thần (s: grāha-mātṛkā).
Diệu mẫu 曜母
[ja] ヨウモ yōmo ||| The name of a goddess (Grāha-mātṛkā). => Tên một vị nữ thần (s: Grāha-mātṛkā).
diệu nguyệt tam muội
Sucandra-samādhi (S).
diệu ngữ tạng
The storehouse of miraculous words, mantras, dhàranis of Chân ngôn tông, Shingon (J).
; Chân ngôn Đà La Ni—The storehouse of miraculous words, mantras, dharanis, or magic spells of Shingon.
Diệu Nhân
妙因; 1041-1113|Nữ Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 17. Sư nối pháp Thiền sư Chân Không.|Sư tên Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phụng Loát Vương. Thuở nhỏ, Sư đã có phong cách thuần hậu, đoan trang, được vua Lí Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên, vua gả cho một người họ Lê. Khi chồng sớm qua đời, Sư tự thệ thủ tiết không chịu tái giá.|Một hôm, Sư tự than: »Ta xem tất cả Pháp trong thế gian như giấc mộng, huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao!« Sau đó, Sư đem tất cả tư trang ra bố thí và xuất gia cầu đạo. Sư đến Thiền sư Chân Không tại làng Phù Ðổng xin xuất gia Thụ giới Bồ Tát. Chân Không ban cho pháp danh Diệu Nhân và truyền yếu chỉ Thiền tông. Sau đó, Chân Không khuyên Sư đến làng Phù Ðổng, Tiên Du trụ trì chùa Hương Hải (cũng được gọi là chùa Linh Ứng). Tại đây, Sư thường dạy chúng: »Chỉ tính mình trở về nguồn, đốn tiệm liền tuỳ đó mà vào.«|Thường ngày, Sư chỉ ngồi lặng lẽ, không thích thanh sắc, ngôn ngữ. Có người thấy vậy liền hỏi: »Tất cả chúng sinh bệnh nên ta bệnh, tại sao lại kị sắc thanh?« Sư dùng kệ trong kinh Kim cương đáp: »Bằng dùng sắc thấy ta, âm điệu nhận ra ta, người ấy hành tà đạo, hẳn không thấy được ta.« Lại hỏi: »Tại sao ngồi yên?« Sư đáp: »Xưa nay không đi.« Hỏi: »Thế nào chẳng nói?« Sư đáp: »Ðạo vốn không lời.«|Năm Hội Tường Ðại Khánh thứ tư, ngày mùng 1 tháng 6, Sư có bệnh gọi chúng lại nói kệ:|生老病死。自古常然。欲求出離。解縛添纏|迷之求佛。惑之求禪。禪佛不求。枉口無言|Sinh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên.|Dục cầu xuất li, giải phược thiêm triền.|Mê chi cầu Phật, hoặc chi cầu Thiền.|Thiền Phật bất cầu, uổng khẩu vô ngôn.|*Sinh già bệnh chết, xưa nay lẽ thường|Muốn cầu thoát ra, mở trói thêm ràng|Mê đó tìm Phật, lầm đó cầu Thiền|Phật Thiền chẳng cầu, uổng miệng không lời.|Nói kệ xong, Sư cạo tóc, tắm rửa rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 72 tuổi.
diệu nhân
Nhân kỳ diệu—Giới luật của Bồ Tát (lục Ba La Mật) như là những nhân đưa đến quả vị Phật—The profound cause—The discipline of the bodhisattva (charity and the six paramitas, etc) as producing the Buddha-fruit.
diệu nhân ni sư
Nun Diệu Nhân (1041-1113)—Một Ni sư nổi tiếng đất Thăng Long, Bắc Việt. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh, Ni sư tên là Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phùng Loát Vương, được vua Lý Thánh Tông nuôi nấng trong cung từ lúc còn nhỏ, sau gả cho cho người họ Lê, một viên quan Châu Mục ở Chân Đằng. Khi chồng chết, bà xuất gia làm đệ tử của Thiền Sư Chân Không ở Phù Đổng, pháp tử đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Bà trụ tại Ni viện Hương Hải ở Tiên Du để hoằng hóa cho đến khi thị tịch vào năm 1113, thọ 72 tuổi. Ni viện Hương Hải là Ni viện Phật Giáo đầu tiên ở Việt Nam vào thời nhà Lý, Ni sư Diệu Nhân đã từng trụ trì và hoằng hóa tại đây—A Vietnamese famous nun from Thăng Long, North Vietnam. According to “Thiền Uyển Tập Anh,” her worldly name was Ngọc Kiều. She was the eldest daughter of Phùng Loát Vương. King Lý Thánh Tông adopted and raised her in the royal court since she was young. When growing up she got married to a man whose last name was Le, an official of Châu Mục rank in Chân Đằng. After her husband's death, she left home and became a disciple of Zen Master Chân Không in Phù Đổng. She became the Dharma heir of the seventeenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. She stayed at nunnery Hương Hải in Tiên Du to expand Buddhism until she passed away in 1113, at the age of 72. It should be noted that Hương Hải nunnery was considered the first Buddhist Institute for nuns in the Lý Dynasty. Bhikkhuni Diệu Nhân was once Head of the nunnery.
diệu nhạc
Wonderful music in the Pure Land.
diệu phong
(妙峰) Tức là núi Tu di. Theo vũ trụ quan của Phật giáo, Tu di là ngọn núi cao ngất đứng trên Kim luân ở chính giữa một Tiểu thế giới. Trong phẩm Pháp giới của kinh Hoa nghiêm có chép sự tích đồng tử Thiện tài lên tận đỉnh núi Diệu phong để xin tỉ khưu Đức vân chỉ dạy về hạnh Bồ tát. Trong Thiền lâm, từ Diệu hong được dùng để hình dung cảnh giới tuyệt đối vượt ngoài tất cả lời nói, suy nghĩ và tình thức phân biệt, tức chỉ cho nơi chốn của bản phận an trụ, gọi là Diệu phong cô đính ............., Diệu phong đính, Cô phong đính thượng. Bích nham lục tắc 23 (Đại 48, 164 thượng), chép: Bảo phúc đưa tay chỉ và nói: Chỗ này mới là ngọn Diệu phong. (xt. Tu Di Sơn).
Diệu Phong Chi Thiện
(妙峰之善, Myōhō Shizen, 1152-1235): vị tăng của phái Dương Kì và Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Ngô Hưng (呉興, Tỉnh Triết Giang), họ Lưu (劉). Năm 13 tuổi, ông xuất gia, tu học ở Tề Chính Viện (齊政院), Đức Thanh (德清) và kế thừa dòng pháp của Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光) trên Dục Vương Sơn (育王山). Sau đó, ông lên Lô Sơn (廬山), ngồi nhìn vào vách tường trong suốt 10 năm nơi sườn núi Diệu Cao Phong (妙高峰), cho nên người đời gọi ông là Diệu Phong Thiền Sư (妙峰禪師). Ông khai đường thuyết pháp tại Năng Nhân Tự (能仁寺) ở Nhạn Sơn (雁山) và Huệ Nhân Tự (慧因寺). Từ đó trở về sau, ông chuyển đến sống tại một số chùa như Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Minh Châu (明州), Vạn Thọ Tự (萬壽寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), Hoa Tạng Tự (華藏寺) ở Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 28 tháng 9 năm thứ 2 (1235) niên hiệu Đoan Bình (端平), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi đời và 71 hạ lạp. Trịnh Thanh Chi (鄭清之) soạn bia tháp cho ông.
Diệu pháp
(s: saddharma, 妙法): âm dịch là Tát Đạt Ma (薩達磨), Tát Đạt Thích Ma (薩達刺摩); nghĩa là pháp tối thắng đệ nhất, vi diệu, không thể nghĩ bàn. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義, Taishō Vol. 33, No. 1716) quyển 1, phần Tư Tự Vương (私序王), giải thích rằng: “Sở ngôn diệu giả, bao mỹ bất khả tư nghì chi pháp dã (所言妙者、褒美不可思議之法也, cái gọi là diệu, là khen ngợi pháp không thể nghĩ bàn vậy).” Hay trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 19, phần Nội Điển Tự (內典序) có câu: “Diệu pháp luân chuyển, Cam Lộ khải phi (妙法輪轉、甘露啟霏, pháp mầu xoay chuyển, Cam Lộ rưới khắp).” Hoặc trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475), Phẩm Phật Quốc (佛國品), cũng có đoạn: “Dĩ tư diệu pháp tế quần sinh, nhất thọ bất thối thường tịch nhiên, độ lão bệnh tử đại y vương, đương lễ pháp hải đức vô biên (以斯妙法濟群生、一受不退常寂然、度老病死大醫王、當禮法海德無邊, lấy pháp mầu này cứu quần sinh, thọ nhận không thối thường lặng yên, độ già bệnh chết vua thuốc lớn, nên lễ biển pháp đức vô biên).”
diệu pháp
Saddharma (S), Saddhamma (P), Wonderful dharmaXem Chánh pháp Xem Thời kỳ chánh pháp
; Saddharma (S). The fine dharma, the true law.
; Saddharma (skt)—Pháp thù thắng đệ nhất không thể nghĩ bàn—The wonderful law or truth (Lotus sutra)—The Wonderful Dharma—Wonderful Law which is beyond thought or discussion.
diệu pháp cung
Cung Diệu Pháp, nơi Đức Phật thường trụ—The palace of the wonderful law in which the Buddha ever dwells.
diệu pháp hoa
See Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu Pháp Hoa Tự
(妙法華寺, Myōhokke-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 1 Tamazawa (玉澤), Mishima-shi (三島市), Shizuoka-ken (靜岡縣), hiệu là Kinh Vương Sơn (經王山), người đời thường gọi là Ngọc Trạch Tự (玉澤寺). Chùa này do Nhật Chiêu (日昭), người đứng đầu trong 6 Lão Tăng đệ tử của Nhật Liên, khai sáng vào năm 1284 (Hoằng An [弘安] 7) nơi vùng đất Ngọc Trạch (玉澤, Tamazawa), Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Đến năm 1538 (Thiên Văn [天文] 7), trong cuộc đấu tranh giữa Bắc Điều Thị Khang (北條氏康) với Thượng Sam Hiến Thị (上杉憲氏), do vì vị Tổ đời thứ 12 của chùa là Nhật Hoằng (日弘), vốn xuất thân dòng họ Thượng Sam, nên chùa bị đốt cháy tan tành. Từ đó về sau, chùa suy tàn mãi trong vòng 50 năm trường; còn Nhật Hoằng thì chạy đến lánh nạn ở Diệu Pháp Tự (妙法寺) vùng Việt Hậu (越後, Echigo). Sau đó, chùa được tạm thời xây dựng lại ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu), rồi đến thời vị Tổ đời thứ 15 của chùa là Nhật Sản (日産), vào năm 1621 (Nguyên Hòa [元和] 7), chùa được dời về vị trí hiện tại và tái kiến như xưa. Chùa là nơi sản sinh ra nhiều học Tăng qua các thời đại, nên thế gian vẫn thường gọi nơi đây là Ngọc Trạch Đạo Tràng (玉澤道塲), Ngọc Trạch Học Phái (玉澤學派). Tượng thờ chính của chùa là bức đồ hình Mạn Trà La của Nhật Liên. Bảo vật của chùa có bức đồ hình Mạn Trà La vẽ cảnh thuyết pháp của vị Tông Tổ Nhật Liên, bản Truyền Pháp Đại Bổn Tôn Chú Pháp Hoa Kinh Soạn Thời Sao (傳法大本尊註法華經撰時抄) do chính tay Nhật Liên viết, v.v.
diệu pháp liên hoa
Diệu Pháp được Phật thuyết giảng trong kinh Pháp Hoa, được xem như là một đại luân, được giải thích như là nhân của “Nhất Thừa,” bao gồm toàn bộ chân lý Phật pháp, so với phần giáo hay phương tiện thuyết mà Đức Phật đã nói trước; tuy nhiên cả hai đều bao gồm trong trong “Toàn Chân Giáo” của Đức Phật—Wonderful Law Lotus Flower Sutra—The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law—The Lotus of the True Law, or the Budha's doctrine regarded as a great cakra or wheel—The wonderful truth as found in the Lotus Sutra, the One Vehicle Sutra, which is said to contain Buddha's complete truth as compared with his previous partial, or expedient teaching, but both are included in this perfect truth. ** For more information, please see Kinh Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn in Appendix A (3).
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
(s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, j: Myōhōrengekyō, t: Dam-pahi-chos-pad-ma-dkar-po shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, c: Miao-fa-lien-hua-ching, 妙法蓮華經): còn gọi là Pháp Hoa Kinh (法華經), Tân Pháp Hoa Kinh (新法華經), 7 quyển (8 quyển), hiện còn, Taishō 9, 1, No. 262. Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 8) đời Diêu Tần.
Diệu pháp liên hoa kinh
妙法蓮華經; S: saddharmapuṇḍarīka-sūtra; cũng được gọi ngắn là kinh Pháp hoa;|Một trong những bộ kinh Ðại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Tông Thiên Thai lấy kinh này làm căn bản giáo pháp. Nội dung kinh này chứa đựng quan điểm chủ yếu của Ðại thừa, đó là giáo pháp về sự chuyển hoá của Phật tính và khả năng giải thoát. Kinh này do đức Phật giảng trong cuối đời Ngài, được kết tập trong khoảng năm 200 (Tây lịch). |Kinh này do Phật giảng trên đỉnh Linh Thứu cho vô số người nghe gồm có nhiều loài khác nhau. Trong kinh này, Phật chỉ rõ, tuy có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thật tế chúng chỉ là một. Các phương tiện khác nhau như Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì phải cần phù hợp vào căn cơ của hành giả. Phật chỉ tuỳ cơ duyên, sử dụng các Phương tiện (s: upāya) mà nói Ba thừa nhưng thật chất chỉ có Phật thừa (s: buddhayāna) – nó dẫn đến Giác ngộ và bao trùm cả Ðại thừa lẫn Tiểu thừa. Quan điểm này được làm sáng tỏ bằng ẩn dụ, trong đó một người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi một cái nhà đang cháy. Vì những đứa trẻ không chịu nghe lời chạy ra khỏi nhà, người cha đành phải hứa với mỗi đứa cho một món quà tuỳ theo ý thích của chúng, đứa thì được con nai, con dê, xe trâu… để chúng chịu ra ngoài.|Kinh này còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Tín tâm (s: śraddhā) trên bước đường giải thoát. Sau khi Phật giảng tới đó thì các vị Phật và Bồ Tát tuyên bố hỗ trợ kẻ tu hành để tăng phần tín tâm. Một phẩm quan trọng của kinh này với tên Phổ môn (普門品) được dành cho Quán Thế Âm, trong đó vị Bồ Tát này nói rất rõ sự hộ trì của mình đối với người tu học kinh Pháp hoa. Phẩm Phổ môn này được Phật tử Trung Quốc và Việt Nam đặc biệt ưa thích và tụng đọc.|Trong kinh này, đức Phật không còn được xem là vị Phật lịch sử nữa mà Ngài là dạng xuất hiện của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân), là thể tính đích thật của muôn loài. Mỗi chúng sinh đều xuất phát từ dạng chuyển hoá này của Phật tính và vì vậy đều có thể trở về với chân tính của mình, trở thành một vị Phật.
diệu pháp liên hoa kinh
Hokke-kyō (J)Tên một bộ kinh.
; Saddharma-pundarika-sùtra (S). Lotus sutra.
; Saddharmapundarika (skt)—Bồ Vân Phân Đà Lợi Kinh—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
; (妙法蓮華經) Phạm: Saddharma-puṇḍarīka sūtra. Gồm 7 quyển hoặc 8 quyển, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, gọi tắt: Pháp hoa kinh, Diệu pháp hoa kinh, thu vào Đại chính tạng tập 9. Là một trong những bộ kinh chủ yếu của Phật giáo Đại thừa, gồm 28 phẩm. Diệu pháp hàm ý là giáo pháp nói trong bộ kinh mầu nhiệm không gì hơn; Liên hoa kinh ví dụ kinh điển thanh khiết hoàn mĩ. Cứ theo sự suy đoán thì nguyên điển kinh này có lẽ đã được thành lập vào khoảng trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch. Chủ ý của kinh này cho rằng, các phái Phật giáo Tiểu thừa đã quá coi trọng hình thức mà xa rời ý nghĩa đích thực của giáo pháp, vì thế, để nắm bắt được cái chân tinh thần của đức Phật, mới dùng thể tài văn học, thi ca, thí dụ, tượng trưng v.v... tán thán đức Phật vĩnh hằng (Phật đã thành từ lâu xa) và thọ mệnh của Ngài vô hạn; Ngài hiện các loại hóa thân, dùng mọi phương tiện mà nói pháp vi diệu. Tâm điểm của kinh này là ba thừa về một, tức là đưa ba thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát về một Phật thừa, điều hòa các loại giáo thuyết của Đại thừa, Tiểu thừa mà chủ trương hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật. Về mặt biểu hiện của bộ kinh tuy có tính văn học, nhưng chủ ý vẫn khế hợp với tư tưởng chân thực của giáo pháp đức Phật. Niên đại thành lập các phẩm tuy có khác nhau, nhưng nhận xét theo phương diện chỉnh thể thì vẫn không mất tính thống nhất hồn nhiên. Đối với tư tưởng sử và văn học sử Phật giáo, kinh Pháp hoa đã có một giá trị bất hủ. Về Hán dịch thì có sáu loại bản dịch, nhưng hiện còn có ba: kinh Chính pháp hoa 10 quyển 27 phẩm, do ngài Trúc pháp hộ dịch năm 286 đời Tây Tấn, kinh Diệu pháp liên hoa 8 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch năm 406 đời Diêu Tần, kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa 8 quyển 27 phẩm, do các ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa dịch năm 601 đời Tùy. Trong các bản dịch trên đây thì Chính pháp hoa rất tỉ mỉ rõ ràng, Diệu pháp hoa thì ngắn gọn nhất, nhưng lại được lưu truyền rất rộng và được tụng đọc nhiều nhất. Về các bản chú thích kinh này, thì ở Ấn độ ngài Thế thân là người đầu tiên đã soạn Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá 2 quyển, do các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm dịch vào đời Hậu Ngụy. Còn ở Trung quốc thì từ sau ngài Cưu ma la thập, người ta đã thấy xuất hiện các bản chú thích đầu tiên là: Pháp hoa kinh sớ 2 quyển do ngài Trúc đạo sinh soạn vào đời Tống thuộc Nam triều, kế đến là: Pháp hoa nghĩa kí 8 quyển của ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch; rồi lần lượt đến Pháp hoa tam đại bộ của ngài Trí khải, Pháp hoa nghĩa sớ 12 quyển và Pháp hoa huyền luận 10 quyển của ngài Cát tạng, Pháp hoa huyền tán 20 quyển của ngài Khuy cơ v.v... riêng ngài Trí khải đã căn cứ vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai. Đến Nhật bản, sau khi Thái tử Thánh đức chú giải kinh Pháp hoa thì kinh này trở thành một trong ba bộ kinh hộ quốc của Nhật bản, xưa nay rất được kính tín tôn sùng. Sau khi ngài Tối trừng khai sáng tông Thiên thai ở Nhật bản, kinh này lại trở thành trung tâm giáo học của Phật giáo Nhật bản, là kinh nòng cốt của nền Phật giáo mới chi phối giới Phật giáo Nhật bản. Bản tiếng Phạm của kinh này thời gần đây đã được tìm thấy ở Khách thập cát nhĩ (Kashgar) thuộc Tân cương và được học giả người Pháp là Eugène Burnouf dịch ra Pháp văn và xuất bản vào năm 1852. Về sau lại có các bản dịch tiếng Anh, tiếng Nhật (Phạm, Nhật đối chiếu). Kinh Pháp hoa là bộ kinh được truyền bá rộng nhất từ xưa đến nay. Các kinh như: Đại bát nê hoàn, Đại bát niết bàn, Ưu bà tắc giới, Quán phổ hiền bồ tát hành pháp, Đại thừa bản sinh tâm địa quán, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm v.v... và các bộ luận như: Đại trí độ, Trung quán, Cứu kính nhất thừa bảo tính, Nhiếp đại thừa, Phật tính, Nhập đại thừa v.v... đều có nêu tên kinh này và trích dẫn nhiều đoạn văn nghĩa trong đó. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Phạm viết tay thường trộm dùng lời văn và giáo nghĩa của kinh này, nhưng thêm bớt lộn xộn. Ngoài ra, trong các bản đào được ở Đôn hoàng thấy có các phẩm: Đạc lượng thiên địa thứ 29, Bồ tát Mã minh thứ 30 của kinh Diệu pháp liên hoa, và đều được thu vào Đại chính tạng tập 85. Phong tục sao chép kinh Pháp hoa từ xưa đã rất thịnh, bản kinh sao chép sớm nhất mà văn tự có thể khảo xét được là bản kinh chép vào năm Kiến sơ thứ 7 (411) đời Tây Lương, tức là sau bản dịch của ngài Cưu ma la thập sáu năm. [X. Pháp hoa văn cú Q.8 phần dưới; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Xuất tam tạng kí tập Q.4, Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.11, Q.14; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2; Duyệt tạng tri tân Q.24]. (xt. Chính Pháp Hoa Kinh).
diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa
See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.
diệu pháp liên hoa kinh luận
Saddharma-puṇḍarīka śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
Diệu pháp liên hoa kinh luận ưu-ba-đề-xá 妙法蓮華經論憂波提舎
[ja] ミョウホウレンゲキョウロンウバダイシャ Myōhō rengekyōron yūbadaisha ||| Miao-fa-lien-hua ching lun yu-po-ti-she; 1 fasc., by Vasubandhu 世親, trans. Ratnamati 勒那摩, Senglang 僧朗 et.al. T 1520.26.10-20. => (c: Miao-fa-lien-hua ching lun yu-po-ti-she); 1 quyển; của Thế Thân ( c: Vasubandhu 世親), Lặc-na-ma (s: Ratnamati 勒那摩), Tăng Lãng (c: Senglang 僧朗) và nhiều người khác dịch.
diệu pháp liên hoa kinh văn cú
Ngài Trí Giả đời Tùy giải thích chính văn của Kinh Liên Hoa—The commentaries and treatises on the Suddharmapundarika Sutra, which composed and explained by master T'ien-T'ai Chih-I.
diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá
Saddharma-puṇḍarīka-sŪtra-śāstropadesa (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
; (妙法蓮華經憂波提舍) Phạm: Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa, gồm 2 quyển. Bồ tát Thế thân soạn, các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm dịch chung vào đời Hậu Ngụy. Đây là sách chú thích kinh Pháp hoa. Cũng gọi Diệu pháp liên hoa kinh luận, Pháp hoa kinh luận, Pháp hoa luận. Thu vào Đại chính tạng tập 26. Kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm mà bộ sách này y cứ để dẫn giải không ăn khớp với bản dịch của ngài Cưu ma la thập mà lại tương tự như bản tiếng Phạm ở Népal hiện còn. Cũng có bản dịch khác của sách này là: Diệu pháp liên hoa kinh luận ưu ba đề xá 1 quyển, do các ngài Lặc na ma đề và Tăng lãng dịch vào thời Nguyên Ngụy. Lời dịch của bản Nguyên Ngụy này tuy giống với bản của các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm, nhưng thiếu bài tụng Qui kính và có khác nhau về câu, chữ, phần nói rộng, phần giản lược. Hiện nay, trong những bản đào được ở Đôn hoàng, có bản luận tương tự như bản của tạng Cao li do ngài Lặc na ma đề dịch. Về sách chú sớ của luận này thì có: Sớ 3 quyển của ngài Cát tạng đời Tùy, Thuật kí 2 quyển do các ngài Nghĩa tịch và Nghĩa nhất soạn chung vào đời Đường. [X. Đại trí độ luận sớ Q.24; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.12; Ngạn tông lục Q.1; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].
Diệu pháp liên hoa kinh ưu-ba-đề-xá 妙法蓮華經憂波提舎
[ja] ミョウホウレンゲキョウウバダイシャ Myōhō renge kyō ubadaisha ||| Miaofa lianhua jing youpotishe (Skt. Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa). T 26, no. 1519-1520. Two fascicles, translated by Bodhiruci 菩提流支 and Danlin 曇林. Usually abbreviated as 法華論. A short commentary on the Lotus Sutra 法華經. => (c: Miaofa lianhua jing youpotishe; Skt. Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa). 2 quyển; Bồ-đề Lưu-chi (s: Bodhiruci 菩提流支) và Đàm Lâm (c: Danlin 曇林) dịch. Thường viết tắt là Pháp Hoa luận. Là luận giải vắn tắt về kinh Pháp Hoa.
Diệu pháp liên hoa kinh 妙法蓮華經
[ja] ミョウホウレンゲキョウ Myōhō renge kyō ||| Miaofa lianhua jing (Saddharmapundarīka-sūtra); "Sutra of the Lotus of the Wonderful Dharma "; 7 fascicles, tr. by Kumārajīva 鳩摩羅什 in 406 CE (The Lotus Sutra, translated into English by Leon Hurvitz and Burton Watson) T 262.9.1c-62b. One of the most popular and influential Mahāyāna sutras in East Asia; the basis on which the Tiantai 天台 and Nichiren 日蓮 sects were established. Its title is usually abbreviated to Fahua jing 法華經. This sutra is well-known for its extensive instruction on the concept and usage of expedient means 方便, mostly in the form of parables. => (c: Miaofa lianhua jing ; s: Saddharmapundarīka-sūtra; e: Sutra of the Lotus of the Wonderful Dharma); 7 quyển; Cưu-ma-la-thập (s:Kumārajīva 鳩摩羅什) dịch năm 406. Được Leon Hurvitz và Burton Watson dịch sang tiếng Anh với tên Lotus Sutra. Là 1 trong những bộ kinh Đại thừa thông dụng và có ảnh hưởng nhất ở Đông Á; là bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và Nhật Liên tông. Kinh nầy nổi tiếng do những lời dạy sâu mầu về khái niệm và cách vận dụng các phương tiện, trong kinh văn đa phần dùng thể loại dụ ngôn.
diệu pháp liên hoa tam muội bí mật tam ma da kinh
(妙法蓮華三昧秘密三摩耶經) Có 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. Cũng gọi Đại liên hoa tam muội bí mật tam ma da kinh, Vô chướng ngại kinh, Liên hoa tam muội kinh, thu vào Vạn tục tạng tập 3. Kinh này đứng trên quan điểm của Mật giáo để giải thuyết kinh Diệu pháp liên hoa. Toàn kinh được cấu thành bởi những câu thỉnh vấn của ngài Kim cương tát đỏa và lời giải đáp của đức Đại nhật Như lai. Về nội dung thì trước hết nêu hai bài tụng gồm tám câu khen ngợi bản giác; hai bài tụng này rất nổi tiếng; được xem như kệ tùy thân của chư Phật ba đời và là căn cứ của tất cả chúng sinh thành Phật. Kế đến, trình bày ý nghĩa trong 28 phẩm kinh Pháp hoa thì 14 phẩm đầu lấy Văn thù làm bản tôn, 14 phẩm sau lấy Phổ hiền làm bản tôn.Sau đó, trong phẩm Phương tiện bí mật tam ma da và phẩm Kiến bảo tháp bí mật tam ma da lại nói rõ phương pháp phối hợp giữa Thập như thị và Bát diệp cửu tôn, ý chỉ sâu xa giữa Bảo tháp và chữ (a) căn bản của kinh Pháp hoa, nguồn gốc của Đề bà đạt đa, mật chú của Long nữ và cỏ cây thành Phật, ý nghĩa việc đức Như lai đã thành Phật từ lâu xa, tâm chân ngôn, trụ xứ và sự lễ bái của bồ tát Thường bất khinh v.v...
diệu pháp liên hoa ưu bà đề xá kinh
Saddharma-puṇḍarīkam-upadesa sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
diệu pháp luân
Bánh xe Diệu Pháp, hay giáo pháp do Phật khởi chuyển được xem như là một đại luân kỳ diệu không thể nghĩ bàn—The wheel of the wonderful law, Buddha's doctrine regarded as a great cakra or wheel, which is beyond thought and discussion.
diệu pháp nhứt thừa
Một thừa duy nhứt của Diệu Pháp hay Toàn Giáo Đại Thừa—The one vehicle of the Wonderful dharma, or perfect Mahayana.
diệu pháp thuyền
Thuyền Diệu pháp, có khả năng chuyển người vượt qua biển đời sanh tử để đi đến Niết bàn—The bark or boat of wonderful dharma, capable of transporting men over the sea of life into nirvana.
diệu pháp tạng
The treasury of the wonderful law.
diệu pháp đăng
Ánh sáng Diệu Pháp soi rọi bóng tối vô minh—The lamp of the wonderful law shinning into the darkness of ignorance.
diệu pháp đường
Diệu Thiện Pháp Đường, tọa lạc tại góc tây nam trên cung Trới Đao Lợi (ba mươi ba tầng Trời), nơi ba mươi ba vị Trời họp bàn xem việc nào là chánh pháp, việc nào không phải là chánh pháp—The hall of wonderful dharma, situated in the south-west corner of Trayastrimsas heaven, where the thirty-three devas discuss whether affairs are according to law or truth or the contrary.
Diệu pháp 妙法
[ja] ミョウホウ myōhō ||| (1) The wonderful law; the true principle; the sublime dharma. (2) The correct teaching, correct dharma (saddharma). => 1. Giáo pháp vi diệu; pháp chân thật, giáo pháp tối thượng. 2. Giáo pháp đung đắn. Chính pháp (s: saddharma).
diệu quan
(妙觀) Tông Thiên thai lấy Ba quán viên dung của Viên giáo làm Diệu quán, đối lại với Ba quán thứ tự của Biệt giáo. Trong ba đế Không, Giả, Trung, nếu quán Không đế tức là ba đế, thì quán hai đế Giả, Trung mỗi đế cũng đều là ba đế, gọi là Tức nhất nhi tam (tức một mà ba). Ngược lại, nếu quán ba đế đều là Không đế, thì quán ba đế mỗi đế cũng đều là Giả, Trung, gọi là Tức tam nhi nhất (tức ba mà một). Như vậy, tức nhất nhi tam, tức tam nhi nhất dung thông viên diệu không ngăn trở nhau: đó là Diệu quán. [X. Kim quang minh kinh văn cú kí Q.3 phần trên; Bí tạng kí].
Diệu quan sát trí
妙觀察智; S: pratyavekṣaṇa-jñāna;|Năm trí
diệu quan sát trí
Pratyavekṣana-jāna (S).
; (妙觀察智) Phạm: Pratyavekwanà-jĩàna. Một trong bốn trí của Hiển giáo, một trong năm trí của Mật giáo. Tức là trí khéo léo xem xét các pháp rồi diễn nói một cách tự tại. Trí này do chuyển thức thứ sáu mà thành và được phối với Liên hoa bộ trong năm bộ của Mật giáo. Trí này lấy Di đà Như lai làm vị tôn chủ. Lại vì trí này biện biệt rõ tà chính, cho nên, nếu phối hợp với năm đại, thì phải phối với Thủy đại. [X. luận Thành duy thức Q.10; luận Bồ đề tâm; Bí tạng kí]. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí Tâm Phẩm).
diệu quan sát trí ấn
(妙觀察智印) Cũng gọi Di đà định ấn. Ấn tướng của Liên hoa bộ Mật giáo. Hai tay đan ở ngoài, ngón cái và ngón trỏ của hai tay bấm vào nhau, đặt ở phía dưới rốn. Là ấn tướng do đức Phật A di đà kết. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quĩ]. (xt. Cửu Phẩm Ấn, Định Ấn).
diệu quang
Varapabhā (P)Diệu Quang Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; Varaprabha (S). Wonderful Light, an ancient incarnation of Manjusri.Diệu quang Phật, Sùryarasmi, the 930th Buddha ođ the present kalpa.
; Varaprabha (skt). 1) Ánh sáng kỳ diệu: Wonderful Light. 2) Một kiếp tái sanh hồi xa xưa của Ngài Văn Thù: An ancient incarnation of Manjusri.
diệu quang phật
Vị Phật thứ 930 trong một ngàn vị Phật hiện kiếp—Suryarasmi, the 930th Buddha of the present kalpa.
diệu quyến thuộc
(妙眷屬) Chỉ cho thính chúng nhóm họp tại hội tòa để nghe Pháp thân Như lai của Mật giáo nói pháp. Trong Hiển giáo, nếu nói theo Nhân vị và Quả vị, thì giữa bậc Giáo chủ nói pháp và thính chúng nghe pháp có khác nhau: Chỉ có bậc giáo chủ đã đạt đến Quả vị, còn thính chúng nghe pháp đều thuộc Nhân vị. Nhưng trong Mật giáo thì thính chúng nghe pháp là từ tự thân Pháp thân Như lai mà sinh ra, là chư tôn quyến thuộc do tự tính của Như lai thành tựu, gọi là Tự quyến thuộc, mỗi mỗi quyến thuộc đều chia nhau nắm giữ đức của Như lai, đều có thể lãnh hội được pháp môn thuộc cảnh giới của Phật, cho nên cùng với Giáo chủ thuyết pháp cùng là chủ bạn và đều thuộc quả vị trong hội trường Như lai tự tính. Bởi vậy, nếu đứng trên quan điểm của Mật giáo mà phân biệt thô diệu, liệt thắng, thì thính chúng nghe pháp của Hiển giáo là Thô quyến thuộc, còn thính chúng nghe pháp của Mật giáo là Diệu quyến thuộc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
diệu quán
Sự quán chiếu kỳ diệu (tam quán viên dung của Viên Giáo)—The wonderful contemplation, the wonderful system of the three T'ien-T'ai meditations—See Tam Quán.
Diệu quán sát trí 妙觀察智
[ja] ミョウカンザッチ myōkanzacchi ||| 'wondrous observing wisdom,' or 'wisdom of unerring cognition.' One of the 'four wisdoms' in Consciousness-only theory. The wisdom that is gained through transformation of the defiled sixth consciousness. The wisdom that operates freely, without restriction. The wisdom that fully observes the object (pratyavekṣa-jñāna). (2) One of the five wisdoms of Dainichi tathāgata. The wisdom that correctly pursues all things. (3) The wisdom of turning the wheel of the dharma, explaining the Buddha's teachings to beings without hindrance. => 1. Một trong bốn trí theo giáo lý Duy thức tông. Là trí đạt được do chuyển hoá nhiễm ô từ thức thứ sáu. Trí huệ khai mở tự tại, không chướng ngại. Trí quán sát thông suốt mọi đối tượng (s: pratyavekṣa-jñāna). 2. Một trong ngũ trí của Đại nhật Như lai (s: Dainichi tathāgata); trí tuệ biết rõ tường tận các pháp. 3. Trí tuệ để chuyển pháp luân, giảng giải Phật pháp không ngăn ngại.
diệu quả
Kết quả kỳ diệu, như Bồ Đề và Niết Bàn—Wonderful fruit, i.e bodhi, or enlightenment, or nirvana.
Diệu quả 妙果
[ja] ミョウカ myōka ||| The marvelous fruits of practice: bodhi, enlightenment, nirvana. => Kết quả vi diệu của sự tu tập: giác ngộ, giải thoát, niết-bàn.
Diệu Quốc Tự
(妙國寺, Myōkoku-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 1-4 Zaimokuchōhigashi (材木町東), Sakai-ku (堺區), Sakai-shi (堺市), Ōsaka-fu (大阪府); hiệu là Quảng Phổ Sơn (廣普山), người đời thường gọi là Tô Thiết Tự (蘇鐵寺). Phát xuất từ việc Trưởng Quan Kami của vùng Tam Quốc (三國, Mikuni), Nhiếp Hà Tuyền (攝河泉) là Tam Hảo Chi Khang (三好之康, tức Tam Hảo Nghĩa Hiền [三好義賢, Miyoshi Yoshikata]) bị chiến tử vào năm 1562 (Vĩnh Lộc [永祿] 5), em ông là Nghĩa Trường (義長) bèn phát tâm cúng dường toàn bộ biệt trang của Chi Khang để xây chùa với mục đích hồi hướng công đức cầu nguyện cho anh ông được siêu độ. Nhân đó, một thương gia giàu có trong vùng là Du Ốc Thường Ngôn (油屋常言) cúng dường xây dựng các ngôi đường xá; và Phật Tâm Viện Nhật Quang (佛心院日珖), con trai của Thường Ngôn, trở thành Tổ khai sơn của chùa này. Đến năm 1594 (Văn Lộc [文祿] 3), nhân khi Nhật Quang kế thừa ngôi vị trú trì của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), ngôi chùa này được liệt ngang hàng với Đảnh Diệu Tự (頂妙寺) và Bổn Pháp Tự (本法寺) ở kinh đô Kyoto. Vâng mệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), vị trú trì đời thứ 2 của chùa là Nhật Thống (日統) cùng với Nhật Thiệu (日紹) đã luận tranh Tông nghĩa với Nhật Áo (日奥) ở Thành Đại Phản (大阪城), và luận thắng chủ trương Không Nhận Không Cho của Nhật Áo. Chùa hiện còn một số kiến trúc chính như Chánh Điện, Tháp Ba Tầng, Phương Trượng, Khách Điện, Nhà Kho, v.v. Trong khuôn viên chùa còn có cây Tô Thiết (蘇鐵) rất lớn, tương truyền được đem từ vương quốc Cao Lệ (Triều Tiên) sang trồng. Người ta bảo rằng Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) có lần đã đem cây này trồng trong Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō), nhưng đêm về lại nghe tiếng yêu quái vang rền, nên ông đem trả cây lại cho chùa.
diệu suý điểu
Xem Ca lâu la.
Diệu sí điểu 妙翅鳥
[ja] ミョウジチョウ myōjichō ||| A translation of the Sanskrit garuḍa. See 迦樓羅. => Hán dịch từ chữ garuḍa từ tiếng Sanskrit. Xem Ca-lâu-la 迦樓羅.
diệu sắc
Surùpa (S). The wonderful form or body, i.e. of a Buddha's sambhogakàyaand his Buddha-land. Diệu sắc thân Như lai, Surùpakàya Tathàgata,(Aksobhya, the Buddha of the East), who is just addressed whenofferings are made to the hungry spirits.
; Surupa—Tô Lâu Ba—Sắc tướng báo thân báo độ của Phật là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn—The wonderful form or body (Buddha's sambhogakaya and his Buddha-land).
diệu sắc thân như lai
SurŪpakāya-Tathāgata (S), SurŪpa (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Xem Phật A súc bệ.
; Surupakaya Tathagata (skt)—Đức Phật A Súc ở phương Đông đuợc kể đến khi làm phép bố thí cho ngạ quỷ—Aksobhya, the Buddha of the East, who is thus addressed when offerings are made to the hungry ghosts.
; (妙色身如來) Diệu sắc thân, Phạm:Surùpa, âm Hán: Tố rô ba. Một trong năm đức Như lai được thờ cúng khi cử hành pháp Thí ngã quỉ (cho quỉ đói ăn) trong Mật giáo, Ngài là cùng thể với Phật A súc phương đông. Chữ Sắc trong Diệu sắc có nghĩa là hiện tượng, hình, hình thái, chứ không phải sắc của màu sắc. Bởi vì vị tôn này là thân Đại mạn đồ la thuộc Kim cương bộ ở phương đông, bản thệ của ngài là khiến cho các căn đầy đủ, tướng hảo tròn đầy, cho nên có thể phá hình tướng xấu xí của quỉ đói.(xt. Ngũ Như Lai, A Súc Phật).
Diệu sắc đà-la-ni kinh 妙色陀羅尼經
[ja] ミョウシキダラニキョウ Myōshiki daranikyō ||| The Miaose tuoluonijing; Skt. Surūpa-dhāraṇī; Tib. su rū pa shes bya ba'i gzungs [To.540/1078, P.352/699]; (Dhāraṇī of the Well-Formed One). 1 fasc. (T 1386.21.905-906), trans. Faxian 法賢. Explains how to relieve the sufferings of pretas 餓鬼. BGBT4/75. => (c: Miaose tuoluonijing; Skt. Surūpa-dhāraṇī; Tib. su rū pa shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Well-Formed One). 1 quyển. Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch.
Diệu sắc 妙色
[ja] ミョウシキ myōshiki ||| (1) Subtle form, marvelous form, etc. (2) Superb form, said of the existence in the eighth bhūmi and above. => 1. Sắc thân vi diệu, sắc tướng tuyệt hảo.v.v... 2. Diệu sắc, đề cập đến cảnh giới đệ bát địa trở lên.
diệu thiện công chúa
Công Chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của vua Trang Nghiêm, là hiện thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát—The princess of wonderful goodness, name of Kuan-Yin as third daughter of King Chuang-Yen.
; (妙善公主) Ở thời xa xưa, bồ tát Quan âm từng có lần là công chúa Diệu thiện. Cứ theo Biên niên thông luận quyển 10 chép, thì khi Luật sư Nam sơn Đạo tuyên hỏi về nguồn gốc của Quan âm đại sĩ, Thiên thần đã trả lời rằng: Ở một kiếp quá khứ xa xưa có vua Trang nghiêm, phu nhân tên là Bảo ứng, sinh được ba con gái, cô lớn nhất tên Diệu nhan, cô thứ hai tên Diệu âm và cô thứ ba tên Diệu thiện, sau Diệu thiện đi tu và đắc đạo thành bồ tát Quan âm có nghìn tay nghìn mắt. [X. Thung dung lục tắc 54].
diệu thiện pháp đường
See Diệu Pháp Đường.
diệu thiện thế giới
1) Thế giới thâm hỷ: The realm of profound joy. 2) Xứ sở của Ngài Duy Ma Cật, người mà người ta tin là đồng thời với Đức Phật: The country of Vimalakirti, who has stated to have been a contemporary of sakyamuni.
diệu thiện túc thiên
Cung Trời Đâu Suất, nơi có đầy niềm vui kỳ diệu—Tushita, the heaven full of wonderful joy
Diệu Thành Tự
(妙成寺, Myōjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Takiya-chō (瀧谷町), Hakui-shi (羽咋市), Ishikawa-ken (石川縣); hiệu là Kim Vinh Sơn (金榮山), thường được gọi là Lang Cốc Tự (瀧谷寺) hay Lang Cốc Diệu Thành Tự (瀧谷妙成寺). Vào năm 1293 (Vĩnh Nhân [永仁] nguyên niên), tại vùng đất này đã có một ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông là Thiên Bình Tự (天平寺) và Mãn Tạng Pháp Ấn (滿藏法印) trú trì tại đó; nhưng sau khi luận tranh tông nghĩa với Nhật Tượng (日像), ông chuyển sang Nhật Liên Tông, đổi tên thành Nhật Thừa (日乘) và sáng lập ra ngôi chùa này. Lại có thuyết cho rằng ngôi Mãn Nguyệt Tự (滿月寺) của Chơn Ngôn Tông được chuyển giao cho Nhật Tượng và ông đổi tên thành chùa hiện tại. Quần thể kiến trúc của chùa thuộc dưới thời đại Giang Hộ, ban đầu do vị Phiên Chủ vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) là Tiền Điền Lợi Thường (前田利常, Maeda Toshitsune) xây dựng lên để cầu nguyện siêu độ cho thân mẫu ông là Thọ Phước Viện (壽福院). Các ngôi đường tháp, già lam của chùa là những kiến trúc vẫn còn giữ lại nét ban sơ khi mới dựng lên; đặc biệt ngôi tháp 5 tầng tuyệt mỹ vẫn hiện sừng sững giữa đất trời. Nơi Kinh Đường có tàng trữ nhiều văn bản kinh, đặc biệt là bản khắc gỗ Kinh Pháp Hoa, được khai bản trong khoảng thời gian niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1428). Bảo vật của chùa có những di phẩm của dòng họ Tiền Điền (前田, Maeda) ở vùng Gia Hạ và nhiều thứ khác nữa. Chùa có 10 kiến trúc cổ được công nhận là tài sản văn hóa quan trọng, gồm Chánh Điện, Tháp Năm Tầng, Tổ Sư Đường, Kinh Đường, Thư Viện, Lầu Chuông, Tam Quang Đường, Tam Thập Phiên Thần Đường, Nhị Vương Môn và Nhà Kho.
diệu thú
Cõi thú kỳ diệu, như được sanh ra làm người và được tu theo giáo lý Đại Thừa—The wonderful destiny or metempsychosis, i.e. that of Mahayana.
Diệu Thật
(妙實, Myōjitsu, 1297-1364): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng dưới thời đại Nam Bắc Triều, húy là Diệu Thật (妙實), tên lúc nhỏ là Nguyệt Quang Hoàn (月光丸), La Hầu La Hoàn (羅睺羅丸); thông xưng là Đại Giác Đại Tăng Chánh (大覺大僧正); hiệu Đại Giác (大覺); xuất thân kinh đô Kyoto. Trước kia ông vốn là vị tăng của Chơn Ngôn Tông ở Đại Giác Tự (大覺寺, Daikaku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); nhưng vào năm 1313, ông cảm đắc được lời thuyết giảng của Nhật Tượng (日像) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji), nên theo làm đệ tử của vị này và được đặt tên là Diệu Thật. Ông đã từng đi tuần hóa các địa phương Bị Tiền (僃前, Bizen), Bị Trung (僃中, Bicchū), Bị Hậu (僃後, Bingo), rồi được sự hỗ trợ dắc lực của dòng họ Tùng Điền (松田) và thiết lập cơ sở Pháp Hoa ở vùng Bị Tiền. Vào năm 1342, ông kế thừa Nhật Tượng làm vị Tổ đời thứ 2 của Diệu Hiển Tự. Đến năm 1358, nhờ lễ cầu mưa của ông được ứng nghiệm, nên Nhật Liên được ban cho hiệu Bồ Tát; rồi tiếp theo Nhật Lãng (日朗), Nhật Tượng cũng được ban danh hiệu này; còn Diệu Thật thì được bổ nhiệm làm Đại Tăng Chánh. Nhờ sự bảo trợ của hàng công khanh, ông đã cống hiến nhiều trong việc phát triển Nhật Liên Tông.
Diệu thể
(妙體): thể tánh nhiệm mầu, vi diệu. Như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) có đoạn: “Giá Na diệu thể, biến pháp giới dĩ vi thân, Hoa Tạng trang nghiêm, đẳng thái hư nhi vi lượng (遮那妙體、遍法界以爲身、華藏莊嚴、等太虛而爲量, thể mầu của đức Giá Na, khắp pháp giới lấy làm thân; cõi Hoa Tạng trang nghiêm, cùng hư không mà tính lường).” Hay trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 lại có đoạn rằng: “Trang nghiêm diệu thể chứng Như Lai, khổ hải mang mang thật khả ai, ngã dục pháp thuyền giai độ khứ, thử thân vĩnh bất hứa Đông lai (莊嚴妙體證如來、苦海茫茫實可哀、我欲法船皆度去、此身永不許東來, trang nghiêm thể mầu chứng Như Lai, biển khổ mênh mang đáng thương thay, con muốn thuyền pháp đều độ thảy, về Đông chẳng hứa với thân này).”
diệu thủ bồ tát
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
diệu thủ vô đa tử
(妙手無多子) Tay khéo không nhiều con. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Diệu thủ nghĩa là thủ đoạn, phương pháp tuyệt khéo; vô đa tử nghĩa đen là không nhiều con, ở đây hàm ý chẳng có gì đặc biệt cả. Ý nói tuy có ngón khéo, nhưng không có gì đáng kể. Bích nham lục tắc 71 (Đại 48, 200 thượng), nói: Xem mưu lược trong trận rồng rắn, khiến người nhớ mãi Lí tướng quân. (Diệu thủ vô đa tử, một ngựa một gươm, nghìn dặm muôn dặm, nghìn người muôn người).
diệu thừa
The Wonderful Yana—See Đại Thừa.
diệu trang nghiêm vương
ŚubhavyŪharāja (S).
; Subhavyuha (skt)—Diệu Trang Vương, người nổi tiếng vì là cha của Quán Âm (Trung Quốc), người đã giết Quán Âm Diệu Thiện, nhưng lưỡi kiếm của đao phủ bị gẫy nên không làm tổn hại được nàng. Hồn nàng Diệu Thiện đi xuống địa phủ, nhưng địa phủ lập tức biến thành thiên đường. Để cứu vãn địa ngục của ông ta, Diêm Vương đưa nàng trở lại trần thế trên một hoa sen—Who is reputed to be the father of Kuan-yin (China), who had killed her by “stifling” because the sword of the executioner broke without hurting her. Her spirit went to hell, but hell changed to paradise. Yama sent her back to life to save his hell, when she was miraculously transported on a Lotus flower to the island of P'u-T'o.
; (妙莊嚴王) Phạm: Zubhavyùha-ràja. Cũng gọi Nghiêm tịnh vương. Cứ theo phẩm Trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 chép, thì trong vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kì kiếp quá khứ, có đức Phật hiệu là Vân lôi âm tú vương hoa trí, tên nước là Quang minh trang nghiêm, kiếp tên là Hỉ kiến. Trong pháp hội của đức Phật ấy có một vị vua tên Diệu trang nghiêm, phu nhân tên là Tịnh đức (Phạm: Vimaladatta, cũng gọi Li cấu thí); vua có hai người con tên là Tịnh tạng (Phạm: Vimalagarbha, cũng gọi Li cấu tạng) và Tịnh nhãn (Phạm: Vimalanetra, cũng gọi Li cấu nhãn). Cả hai vương tử đều giỏi về thần thông, tu hạnh Bồ tát, khuyên vua cha vốn tin Bà la môn quy y theo Phật. Vua nghe lời và đem nước giao cho người em rồi xuất gia. Vị vua này về sau chính là bồ tát Liên hoa đức (Phạm: Padmazrì), Hoàng hậu là bồ tát Quang chiếu trang nghiêm tướng, còn hai vương tử thì chính là bồ tát Dược vương (Phạm: Bhaiwajya-ràja) và bồ tát Dược thượng (Phạm: Bhaiwajya-samudgata). [X. kinh Pháp hoa phẩm Dược vương bản sự; kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát].
diệu trang nghiêm vương bản sự phẩm
Subhavyuha Sutra (skt)—Tên phẩm thứ 27 trong 28 phẩm kinh Pháp Hoa, nói về Vua Diệu Trang Nghiêm—The king who is the subject and title of the twenty-seventh chapter in the 29 chapters of the Lotus Sutra. ** For more information, please see Diệu Trang Nghiêm Vương.
Diệu Trang Nghiêm vương 妙莊嚴王
[ja] ミョウショウゴンオウ myōshōgon ō ||| The king Marvelous Adornment (Śubha-vyūha-rāja), a bodhisattva who appears in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.59c13〕 => Vua Diệu Trang Nghiêm (s: Śubha-vyūha-rāja; e: Marvelous Adornment), một vị Bồ-tát xuất hiện trong kinh Pháp Hoa.
diệu trung
Viên Giáo Diệu Trung hay chân như diễn tả sự hợp nhất của vạn vật, để phân biệt với “Diệu Trung” của Thiên Thai Biệt Giáo, nhấn mạnh đến tánh “không” và “giả hợp” của vạn vật—The profound medium (madhya); the universal life essence, the absolute, the bhutatathata which expresses the unity of all things, i.e. the doctrine held by T'ien-T'ai as distinguished from the Differentiated Teaching which holds the madhya dotrine but emphasizes the dichotomy of the transcendental (không) and phenomenal (giả).
diệu tràng trướng tam muội
Dvadjagrakiyura (S)Thắng Tràng Tý Ấn Đà la ni kinh. Thắng Tràng Ấn kinhMột trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
diệu tràng tướng tam muội
Dhavadja-grakeyura-samādhi (S).
diệu trí
The wonderful Buddha wisdom.
; Diệu trí của chư Phật—The wonderful Buddha-wisdom.
Diệu trí 妙智
[ja] ミョウチ myōchi ||| (1) Excellent wisdom, subtle wisdom, sublime wisdom. 〔瑜伽論T 1579.30.619b21〕(2) The unfathomable wisdom of the Buddha. => 1. Trí tuệ siêu việt, trí tuệ vi diệu, trí tuệ siêu phàm. 2. Trí tuệ bất khả tư nghì cuae Đức Phật.
diệu tuyệt
Excellent—Admirable.
diệu tàng
Bodhisattva Ruciraketu (skt)—Tên của một vị Bồ Tát—Name of a Bodhisattva.
diệu tàng tướng tam muội
Dhvajagrakeyura (skt)—The ring on the top of a standard—A degree of ecstatic meditation (mentioned in Lotus sutra).
diệu tánh thanh tịnh
Kuśaka karma (S).
diệu tát đỏa thượng thủ bồ tát
Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.
diệu tâm
Xem Diệu Tâm tự.
; The mind or heart wonderful and profound beyond human thought.
; Diệu tâm là tâm thể tuyệt diệu không thể nghĩ bàn, nó vượt ra ngoài sự suy tưởng của nhân thiên, không còn vướng mắc bởi có không, trong đó tất cả những ảo tưởng tà vạy đều bị loại bỏ. Theo Thiên Thai Biệt Giáo, thì đây chỉ giới hạn vào tâm Phật, trong khi Thiên Thai Viên Giáo lại cho rằng đây là tâm của ngay cả những người chưa giác ngộ—The wonderful and profound mind or heart which is beyond human thought. The mind which clings to neither to nothingness nor to actuality—The mind in which all erronuous imaginings have been removed. According to to the Differentiated Teaching of the T'ien-T'ai school, limited this to the mind of the Buddha, while the Perfect teaching universalized it to include the unenlightened heart of all men.
; (妙心) Thể tính của tâm sâu xa vi diệu, không thể nghĩ bàn, không thể biết được, cho nên gọi là Diệu tâm. Theo sự phán giáo của tông Thiên thai, Biệt giáo lấy chân tâm của Như lai làm diệu tâm, còn Viên giáo thì lấy ngay vọng tâm của phàm phu làm diệu tâm. [X. kinh Viên giác; Thiên thai tứ giáo nghi; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
Diệu Tâm Tự
(妙心寺, Myōshin-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Diệu Tâm Tự thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Chánh Pháp Sơn (正法山), hiện tọa lạc tại Hanazonomyōshinji-chō (花園妙心寺町), Sakyō-ku (左京區), Tokyo-shi (東京市). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vào năm 1342 (Lịch Ứng [曆應] 5), Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇) đến tham Thiền với Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師, tức Tông Phong Diệu Siêu [宗峰妙超]), Tổ khai sơn Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), rồi lấy Ly Cung của mình mà xây dựng nên ngồi Thiền tự này. Đây chính là nguồn gốc của ngôi chùa này, và người khai sơn là Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), cao đệ của Đại Đăng Quốc Sư. Đại Sư Quan Sơn Vô Tướng là người đúng như tên gọi, không chấp trước vào ngôn từ chữ nghĩa, cũng chẳng để lại ngữ lục gì cả, không tu tạo đường vũ già lam, mà chỉ chuyên tào tạo nhân tài, và đã tạo thành cơ sở phát triển cho Lâm Tế Tông hiện tại. Trong vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂), chùa bị đốt cháy tan tành, nhưng rồi lại được vị Tổ đời thứ 6 của chùa là Tuyết Giang Tông Thâm (雪江宗深) tái kiến lại. Bốn vị đệ tử nổi tiếng của Tuyết Giang là Cảnh Giang (景江), Ngộ Khê (悟溪), Đặc Phương (特芳), Đông Dương (東陽), mỗi người lập thành một phái khác, thành 4 phái là Long Tuyền (龍泉), Đông Hải (東海), Linh Vân (靈雲) và Thánh Trạch (聖澤). Từ đó, họ mở rộng phái của mình đi khắp toàn quốc. Đến năm 1509 (Vĩnh Chánh [永正] 6), nhờ sự ngoại hộ của vị Ni Lợi Trinh (利貞), phu nhân của Tề Đằng Lợi Quốc (齊藤利國) ở Mỹ Nùng (美濃, Mino), nên khuôn viên chùa được mở rộng trên phạm vị rộng lớn. Hiện chùa có đến 57 ngôi viện, tất cả đều là nơi cầu nguyện của hai dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi) và Đức Xuyên (德川, Tokugawa) xưa kia, chùa trực thuộc có đến 3.500 ngôi, khoảng 10.000 vị tăng. Sắc Sứ Môn, Sơn Môn, Đại Phương Trượng, Nhà Kho, Khai Sơn Đường, đều là những kiến trúc được xếp vào hạng tài sản văn hóa quan trọng của nhà nước. Nổi tiếng nhất là đại hồng chung, được xem như là tối cổ và được xếp vào hạng quốc bảo. Ngoài ra còn có 2 bức thủ bút của Đại Đăng Quốc Sư, rồi trên trần nhà của Pháp Đường có bức tranh hoành tráng, nổi tiếng của nhà danh họa Thú Dã Thám U (狩野探幽).
Diệu Tâm tự
妙心寺; J: myōshin-ji;|Một ngôi chùa danh tiếng, thuộc tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (j: kyōto), Nhật Bản, được Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền (j: kanzan egen, 1277-1360) khai sáng.|Chùa này được Thiền sư Huệ Huyền – vì vâng lệnh Hoa Viên Thiên hoàng – sửa đổi từ li cung của ông mà thành. Ban đầu, chùa này chỉ là một ngôi nhà nhỏ, sụp nát, mưa chảy cả vào trong. Nơi đây, Thiền sư Huệ Huyền dẫn dắt môn đệ rất kĩ lưỡng, nghiêm khắc. Một lần nọ, Quốc sư Mộng Song Sơ Thạch (j: musō sōseki) đến viếng thăm và khi trở về, sư bảo các vị đệ tử của mình rằng »tương lai của Thiền Lâm Tế nằm tại Diệu Tâm tự.«|Dòng Lâm Tế sau chủ yếu lấy chùa này làm trung tâm mà phát triển. Ðến pháp tôn đời thứ sáu là Tuyết Giang Tông Thâm (sekkō sáshin, 1408-1486) thì chia thành 4 phái và trở thành chủ lực lớn nhất của Thiền tông Nhật Bản.
diệu tâm tự
Myoshin-ji (J)Chùa lớn nhất Tokyo do Tông Lâm tế xây dựng.
diệu tâm tự phái
Myōshinji-ha (J).
Diệu Tâm tự 妙心寺
[ja] ミョウシンジ Myōshinji ||| Myōshinji; the head temple of the Myōshinji branch of Japanese Rinzai 臨濟宗, located in Kyoto. It was originally a villa owned by the ex-emperor Hanazono 華園, which was remodeled into a temple in 1337. Among the most famous abbots of this temple was Hakuin 白隱. => Chùa Diệu Tâm, toạ lạc tại Kyoto, trung tâm của phái thiền Lâm Tế Nhật Bản. Vốn là một biệt thự của phó vương Hoa Viên (j: Hanazono 華園), được tu sửa thành chùa năm 1337. Vị trú trì nổi tiếng nhất của ngôi chùa nầy là Bạch Ẩn (j: Hakuin 白隱).
diệu tí bồ tát
Subaku-kumara (skt)—Tô Bà Hô Đồng Tử—Vị Bồ Tát có cánh tay kỳ diệu—The Bodhisattva of the wonderful arm.
diệu tí bồ tát kinh
Subahku-kumara Sutra (skt)—Kinh nói về Tô Bà Hô Đồng Tử—The sutra mentioned about Subaku Bodhisattva.
diệu tông
Tông phái huyền diệu thậm thâm, ý nói Liên Hoa Tông—Profound principles (The Lotus sect).
diệu tú
Chòm sao thất hùng—These seven and the constellations, the celestial orbs.
Diệu Túc
xem cõi trời Đâu-suất.
diệu túc
Xem Đâu suất thiên cung.
diệu tý bồ tát
Subahu (S)Tô bà hô đồng tử, Tu bà hầu(1) Tên một vị Bồ tát. (2) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Diệu tý Bồ-tát vấn kinh 妙臂菩薩問經
[ja] ミョウビボサツモンキョウ Myōbi bosatsu mon kyō ||| The Miaobi pusa wen jing; see Supohutongziqingwenjing 蘇婆呼童子請問經 => (c: The Miaobi pusa wen jing); Xem Tô-bà-hô đồng tử thỉnh vấn kinh (c: Supohutongziqingwenjing 蘇婆呼童子請問經 )
diệu tướng
Excellent appearance.
Diệu tướng 妙相
[ja] ミョウソウ myōsō ||| Marvelous attributes, such as one of the thirty-two marks of the Buddha. => Tướng tốt đẹp vi diệu, như một trong 32 tướng tốt của Đức Phật.
diệu tịnh minh tâm
(妙淨明心) Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh. Diệu nghĩa là vô thượng, tối thượng; Tịnh nghĩa là trong sạch; Minh là cảnh giới đã xa lìa vô minh mà đạt tới triệt ngộ.
diệu tổng
Miao tsung (C).
diệu viên
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 18, tọa lạc ở phía đông kinh thành Huế, dựa lưng vào dãy núi Ngũ Phong. Năm 1926, phòng họp được xây thêm. Năm 1963, chùa lại được trùng tu và xây thêm tiền đường, thiền đường và hậu liêu—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the eighteenth century, located on Mount Ngũ Phong, east of Huế Citadel. In 1926, a tiled roof was built instead of a thatched one. In 1953, the temple was rebuilt, ameeting house was added. In 1963, the temple was rebuilt again and added with an antechambre, a meditation hall and a back house.
; (妙圓) Mầu nhiệm tròn đầy. Là tướng chân thực tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 Bồ đề đạt ma chương (Đại 51, 219), chép: Nhà vua hỏi: Công đức chân thực là thế nào?. Sư đáp: Tịnh trí diệu viên thể tự rỗng lặng, công đức như thế đời không cầu được. Theo đó, Thiền lâm hình dung những câu nói cơ duyên viên mãn vi diệu cũng gọi là Diệu viên xu khẩu (câu nói then chốt mầu nhiệm tròn đầy). Xu vốn là cái then cài cửa, ở đây dùng với ý là chủ yếu, then chốt. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 trung) nói:Sức anh hùng phá vỡ trùng vây Diệu viên xu khẩu chuyển cơ mầu
diệu viên đan phức
(妙圓單複) Diệu viên đơn kép. Chỉ cho 25 pháp tu định luân vi diệu của bồ tát Biện âm trong kinh Viên giác. Ý nói Viên tu vi diệu, Đơn tu vi diệu, Phức tu vi diệu. Tu ba pháp quán này phải dứt hết nói năng suy nghĩ cho nên gọi là diệu. Hai mươi lăm pháp tu định luân có thể chia ra: Viên tu vi diệu 1 luân, Phức tu vi diệu 21 luân, Đơn tu vi diệu 3 luân, tổng cộng là 25 định luân. Nếu đem 25 pháp định luân đắp đổi mà tu thì sẽ được tự tại vô ngại nên gọi là diệu tu. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8]
diệu vân tập
(妙雲集) Gồm 24 tập, tác phẩm của ngài Ấn thuận, Giảng đường Tuệ nhật ở Đài bắc phổ biến. Tập tác phẩm do chính tác giả sửa lại và chia làm ba thiên thượng, trung, hạ.Thiên thượng là kinh luận giảng kí, gồm kinh Kim cương, kinh Tâm, luận Trung quán, luận Nhiếp đại thừa v.v... Thiên trung là tác phẩm chuyên đề như: Phật pháp khái luận, Trung quán kim luận v.v... tất cả sáu tác phẩm. Thiên hạ là tập văn, gồm Phật tại nhân gian v.v... tất cả 11 tập. Tuy nhiên, ngài Ấn thuận còn có những tác phẩm nổi tiếng như: Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành, Trung quốc Thiền tông sử, Sơ kì Đại thừa Phật giáo chi khởi nguyên dữ phát triển v.v... đều chưa được đưa vào Diệu vân tập.
diệu vân tự tại vương như lai
(妙雲自在王如來) Tương truyền là tên của bồ tát Long thụ đã thành Phật ở đời quá khứ. Cũng gọi Diệu vân Như lai, Diệu vân tướng Như lai, Diệu vân tướng Phật. Mục Mã minh Long thụ sư đệ cảm ứng trong Tam bảo cảm ứng yếu lược lục quyển hạ của ngài Phi trược đời Liêu (Đại 51, 856 thượng), chép: Kinh Kim cương chính trí nói: Mã minh, Long thụ đã thành Phật ở quá khứ, Mã minh hiệu là Đại quang minh Phật, Long thụ là Diệu vân tướng Phật. Kinh Đại trang nghiêm tam muội cũng nói: Mã minh, Long thụ đã thành Phật ở quá khứ, Mã minh hiệu là Nhật nguyệt tinh minh Phật, Long thụ là Diệu vân tự tại vương Như lai .v... Tên của các vị Như lai này thấy rải rác trong các kinh luận bị ngờ là ngụy tác, được lưu hành ở cuối đời Đường. [X. Thích ma ha diễn luận tự; Thích ma ha diễn luận kí (Thánh pháp); Bồ đề tâm luận kiến văn Q.1].
diệu vô
Asat (skt)—Sự kỳ diệu của sự “không hiện hữu.”—The mystery of non-existence.
diệu vợi
1) Far away. 2) Difficult—Complicated.
diệu xa
Cỗ xe kỳ diệu, được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The wonderful vehicles (in Lotus Sutra).
diệu xa ma tha
(妙奢摩他) Thiền định cao nhất. Diệu nghĩa là tuyệt đối, không thể nghĩ bàn, không gì so sánh được. Xa ma tha, Phạm: zamatha, nghĩa là ngưng chỉ, tĩnh lặng, hay diệt, một trong bảy tên của Thiền định, là thu nhiếp tâm không để ngoại cảnh làm lay động, xa lìa và ngưng chỉ tất cả sự tán loạn khiến cho tâm tĩnh lặng. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ), nói: A nan chí thành cầu xin đức Thế tôn mở bày phương tiện đầu tiên: Diệu xa ma tha, Tam ma, Thiền na, nhờ đó, mười phương Như lai đã tu thành bồ đề.
diệu âm
Wonderful sound.
; Âm thanh thù diệu—Wonderful sound.
; (妙音) Phạm: Ghowa, Pàli: Ghosa. Cũng gọi Cù sa, Cụ sa, Cự sa. Một trong bốn vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người nước Đô hóa la (Phạm: Tukhàra) bắc Ấn độ, ngài cùng với ngài Bà tu mật (tức Thế hữu) từng đến A thủ ma ba lãng đa (Phạm: Azmàparànta) nhận sự cúng dường của trưởng giả Xà đề (Phạm:Jàti). Do sự sai khác của tướng mà ngài đề xướng thuyết ba thời riêng biệt, nổi tiếng thời bấy giờ. Chính nhờ thuyết này mà ngài được tôn làm một trong bốn Đại luận sư của hội Bà sa. Ngài có soạn luận A tì đạt ma cam lộ 2 quyển, có bản Hán dịch, nhưng mất tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 154 chép, thì ngài Diệu âm cho rằng chúng sinh ở tầng trời Vô tưởng thuộc cõi Sắc chỉ có hai sát na giữa khoảng kết sinh (sống) và mệnh chung (chết) là có tác dụng của tâm niệm, còn ngoài ra đều không có tác dụng khởi tâm động niệm. Tâm kết sinh chính là tâm mệnh chung dấy sinh từ đẳng vô gián duyên và bốn duyên. Do kiến giải này mà thuyết của ngài bị phê bình là không hợp với chính lí, bị chê là dị đoan và ngài bị coi là dị sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, chứ không phải phái chính thống của Bà sa. [X. luận Đại tì bà sa Q.1, Q.77; Câu xá luận quang kí Q.20; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.13].
diệu âm biến mãn
Manjna-sabdabhigarjita (skt). 1) Âm thanh thù diệu tỏa khắp nơi nơi: Universal wonderful sound. 2) Thời kỳ mà Đức A Nan thành Phật với danh hiệu Diệu Âm Biến Mãn Như Lai—The kalpa of Ananda as a Buddha with the title Manojna-Sabdabhigarjita Buddha.
diệu âm biến mãn phật
Manodja-sabda-bhigardjitta (S)Diệu Âm biến mãn kỳ kiếpTên một Kỳ Kiếp của đức Phật Sơn hải huệ Tự Tại Thông vương (của ngài A nan đà). Đức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan về vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.
Diệu Âm Bồ Tát
(s: Mañjughoṣa, 妙音菩薩): âm dịch là Mạn Thù Cù Sa (曼殊瞿沙) là vị Bồ Tát được nêu lên trong phẩm Diệu Âm Bồ Tát của kinh Pháp Hoa. Phẩm kinh này trình bày về công đức của vị Bồ Tát đó. Tuy nhiên, trong Mật Giáo, vị Bồ Tát này được xem như ngài Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利): ý dịch là Diệu Kiết Tường) thể hiện về công đức thuyết pháp của ngài Văn Thù. Căn cứ vào quyển I của Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) cho biết rằng Diệu Kiết Tường Bồ Tát còn được gọi là Diệu Đức, Diệu Âm, bởi vì vị này có lòng từ bi khai diễn pháp âm vi diệu, mầu nhiệm, khiến cho tất cả chúng sanh đều được nghe. Trong Hiện Đồ Hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới, vị Bồ Tát này được xếp hàng thứ 5 về phương bắc ở ngay chính giữa Văn Thù Viện. Hai Nghi Quỷ (nghi thức hành trì của Mật Giáo) Huyền Pháp và Thanh Long được gọi là Ngũ Kế Văn Thù thể hiện 5 loại trí tuệ của Như Lai. Còn trong hiện đồ hình Mạn Trà La, vị Bồ Tát này có hình tượng là đồng tử, có 3 búi tóc thân hình toả ra ánh sáng màu vàng, tay phải đưa lên cao để giữa ngực cầm hoa sen xanh, tay trái hướng lên phía trên, tay cầm cái hộp nhỏ, ngồi kiết già trên hoa sen đó. Chủng tử và hình Tam Muội Da của vị Bồ Tát này đều giống như hình tướng của Bồ Tát Văn Thù.
diệu âm bồ tát
Gadgadasvara (S), Manughosa (S), Gadgadasvara Bodhisattva (S)Diệu Âm Đại sĩ, Diệu Âm Bồ tátTên một vị Bồ tát. Một vị Bồ tát theo hầu Phật Tịnh Hoa túc vương trí ở cõi Tịnh quang trang nghiêm Xem Ngũ tự Văn thù Bồ tát.
; Gadgadasvara (S). A Bodhisattva, master ơođ seventeen degrees of samàdhi, whose name heads cap 24 of the Lotus Sùtra.
; 1) Diệu Âm Đại Sĩ—Vị Đại Sĩ, trụ trên cõi Đông Độ của Đức Tỳ Lô Giá Na, đã chứng được mười bảy sắc thân tam muội (Ngài cũng vì nhiều nhân duyên ở cõi Ta Bà này thường thị hiện thành Đế Thích, Phạm Vương, Tự Tại Thiên hay Tỳ Sa Môn, Tỳ Kheo để hóa độ chúng sanh)—A Bodhisattva, master of seventeen degrees of samadhi, residing Vairocana-rasmi-pratimandita. 2) Thủy Thiên Đức Phật: Vị Phật thứ 743 trong hiện kiếp, người cai quản hết thảy nước trong vũ trụ—A Buddha like Varuna controlling the waters, the 743rd Buddha of the present kalpa. 3) Sughosa, một người em gái của Quán Âm Đại Sĩ: Sughosa, a sister of Kuan-Yin Bodhisattva. 4) Ghosa, vị A La Hán, nổi tiếng vì khả năng biện biệt giải thích. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, chính Ghosa đã phục hồi thị giác cho Dharmavivardhana bằng cách rửa mắt với nước mắt của những người đã từng cảm động vì tài hùng biện của Ngài—Ghosa, according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, an arhat, famous for exegesis, who restored the eyesight of Dharmavivardhana by washing his eyes with the tears of people who were moved by his eloquence.
; (妙音菩薩) Diệu âm, Phạm: Maĩju-ghowa. Âm Hán: Mạn thù cù sa bồ tát. Trong phẩm Diệu âm bồ tát của kinh Pháp hoa có ghi chép công đức của vị Bồ tát này. Nhưng trong Mật giáo thì vị Bồ tát này và ngài Văn thù sư lợi (Phạm:Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu cát tường) là cùng một tôn vị, biểu trưng đức nói pháp của ngài Văn thù. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 chép, thì bồ tát Diệu cát tường cũng gọi là Diệu đức, Diệu âm; bởi vì ngài dùng sức đại từ bi khai diễn pháp âm vi diệu để cho tất cả chúng sinh đều được nghe. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, vị tôn này ngồi ở vị trí thứ 5 về phía bắc của trung ương viện Văn thù. Hai bộ nghi quĩ Huyền pháp và Thanh long gọi ngài là Ngũ kế Văn thù (Văn thù năm búi tóc), tượng trưng năm trí của Như lai. Trong hiện đồ mạn đồ la, hình tượng Ngài là một đồng tử, có ba búi tóc, mình màu vàng, tay phải cầm hoa sen xanh để ở trước ngực, tay trái ngửa hướng lên, cầm quyển kinh bằng lá bối để ngang, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ. Chủng tử và hình tam muội da của Ngài đều giống như chủng tử và hình tam muội da của bồ tát Văn thù. (xt. Văn Thù Bồ Tát).
diệu âm la hán
Ghoṣa (S), Ghosha (S)Diệu Âm Luận sưTên một vị La hán thế kỷ thú ba trước tây lịch.
diệu âm nhạc thiên nữ
Sarasvati (skt)—Diệu Âm Nhạc Thiên Nữ hay Biện Tài Thiên Nữ—The goddess of music and poetry or goddess of eloquence. The goddess of speech and learning; also called the goddess of rhetoric. She is represented in two forms: 1) Vị có hai tay và một ống sáo: One with two arms and a lute. 2) Vị có tám tay: One with eight arms.
diệu âm phật
Wonderful Sound Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Wonderful sound Buddha.
diệu âm phật mẫu
See Diệu Âm Nhạc Thiên.
diệu âm thiên
Xem Biện Tài thiên.
; Sarasvati (skt)—See Diệu Âm Nhạc Thiên.
diệu âm điểu
Xem Ca lăng tần già.
; Ca Lăng Tần Già, chim Diệu Âm, là loại chim quý ở Ấn Độ, có tiếng kêu êm ái thanh nhã (người ta ví giọng nói của Đức Phật như tiếng chim nầy)—The wonderful-voice bird, the Kalavinka.
diệu âm đại sĩ
Xem Diệu Âm Bồ tát.
; See Diệu Âm Bồ Tát.
diệu ý bồ tát
Pramati (S)Tên một vị Bồ tátXem Thiện ý Bồ tát.
; Manavaka—Tiền kiếp Phật Thích Ca, đệ tử của Ngài Nhiên Đăng Cổ Phật—Sakyamuni in a previous incarnation as disciple of Dipankara –Nhiên Đăng Phật.
diệu điển
Kinh điển nói về pháp huyền vi mầu nhiệm (Đại Thừa)—The classics of the wonderful dharma (Mahayana).
Diệu đạo
(妙道): đạo mầu nhiệm, đạo tối thượng, đạo vô thượng; là từ thay thế cho giáo pháp của đức Phật. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần Độc Nghệ Sư Tạo Tĩnh Thất Sớ (獨詣師造靜室疏), có đoạn: “Nguyên phù, vô động vô tĩnh giả, diệu đạo chi thể; hữu động hữu tĩnh giả, diệu đạo chi dụng (原夫、無動無靜者、妙道之體、有動有靜者、妙道之用, nguyên lai cái không động không tĩnh là thể của đạo mầu; cái có động có tĩnh là dụng của đạo mầu).” Hay trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 3, phần Tùy Châu Đại Hồng Pháp Vi Thiền Sư (隨州大洪法爲禪師), lại có đoạn: “Pháp Thân vô tướng, bất khả dĩ âm thanh cầu; diệu đạo vong ngôn, khởi khả dĩ văn tự hội (法身無相、不可以音聲求、妙道亡言、豈可以文字會, Pháp Thân không tướng, chẳng thể lấy âm thanh mà tìm; đạo mầu quên lời, liệu có thể lấy chữ nghĩa hiểu được chăng ?).” Hoặc trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiến Điệu Môn (薦悼門), có câu: “Lễ Thập Hiệu chi từ tôn, ngộ Nhất Thừa chi diệu đạo (禮十號之慈尊、悟一乘之妙道, lạy Mười Hiệu đấng từ tôn, ngộ Một Thừa ấy đạo mầu).”
diệu đạo
(妙道) Cũng gọi Kê thê, Thần môn, Hành môn, Bất tập ngự môn, Hoa biểu, Kì viên. Tấm bảng ở trên cổng các thần miếu và chùa Phật tại Nhật bản. Bảng được gác lên 2 cái xà ngang nâng đỡ bởi 2 cây cột tròn. Về nguồn gốc của Điểu cư, có mấy cách giải thích. Hoặc cho là Đinh lệnh uy, người Trung quốc, học tu tiên, sau hóa làm chim hạc, đậu trên Hoa biểu ở cửa thành, vì thế Hoa biểu được gọi là Điểu cư(chỗ chim ở). Hoặc cho thuyết trên đây không đúng và chủ trương rằng nguồn gốc của Hoa biểu Trung quốc và Điểu cư của Nhật bản khác nhau.
diệu đế
Ārya-sacca (P, S), Noble truth Aryasatyani (S)Xem Aryasatyani Xem Thánh đế.
; Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Sau khi lên ngôi, vua Thiệu Trị cho xây dựng chùa Diệu Đế vào năm 1844 ngay trên nền nhà cũ của mình. Qui mô của chùa ban đầu rất đồ sộ, nhưng đến năm 1953, chùa được trùng tu lại với qui mô thu gọn như hiện nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. After he assumed the throne, in 1844 king Thiệu Trị had Diệu Đế temple built on the ground of his old living place. The temple in the early time had an immense structure, but in 1953, the temple was rebuilt in the shape as it has nowadays.
diệu độ
Quốc độ vi diệu, báo độ của Đức Phật hay là Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà—The wonderful land—A Buddha's reward land, especialy the Western Paradise of Amitabha.
diệu đức
1) Diệu Đức là nghĩa của thành Ca Tỳ La Vệ: The meaning of Kapilavastu. 2) Diệu Đức còn có nghĩa là tên của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi—Wonderful virtue (title of Manjusri). 3) Tên của một ngôi chùa ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào năm 1932 với một qui mô khiêm tốn, gồm hai ngôi ni xá bằng tranh và một nhà giảng tạm. Năm 1936, chùa mới xây chánh điện, đúc chuông, tượng. Năm 1948 xây hậu liêu. Năm 1971 dựng cổng tam quan—Name of a temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in 1932 in a small structure with two thatched staff houses and a temporary auditorium. It was not until 1936 that the main hall was built and bells and statues founded. In 1948, the back house was added. In 1971, the three-entrance gate was erected.
diệu đức bồ tát
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
diệu ấn
(妙印) Diệu ấn là tâm ấn sâu xa mầu nhiệm. Cũng hình dung cảnh giới tuyệt đối không thể nghĩ bàn do thân tâm thực chứng, gọi là Diệu ấn đương phong. Vì cảnh giới này tự tại vô ngại, như luồng gió thổi nên gọi đương phong. [X. Động thượng cổ triệt Q.thượng].
diệu ứng
The miraculous response, or self manifestation of Buddha and bodhisattva.
; Sự đáp ứng kỳ diệu hay sự thị hiện của chư Phật và chư Bồ Tát—The miraculous response—Self-manifestation of Buddhas or bodhisattvas.
; (妙應) Chỉ cho sự ứng hiện bất khả tư nghị của chư Phật và Bồ tát. Ứng hiện cũng gọi ứng hóa, tức là chư Phật và Bồ tát tùy theo căn cơ chúng sanh mà hóa hiện nhiều loại thân tướng uy nghi. Sự hóa hiện tùy duyên của các Ngài không thể nghĩ bàn, ở trong một cõi Phật, thân không lay động mà có thể ứng hiện các loại thân ở khắp 10 phương, vì thế gọi là Diệu ứng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên (Đại 33, 749 hạ), nói: Cũng như vừng trăng giữa hư không, nước trăm sông phẳng lặng, tùy sông dài ngắn, rộng hẹp, không trước không sau, mà cùng một lúc đều hiện bóng khắp nơi: đó là sự diệu ứng chẳng thể nghĩ bàn. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Vãng sanh luận chú Q.hạ; Pháp hoa kinh luận Q.hạ].
Diệu 妙
[ja] ミョウ myō ||| (1) Beautiful, marvelous, wonderful, subtle, sublime. Exquisite, excellent, fine. (2) Strange, mysterious, miraculous. Subtle, sublime, inconceivable (mañju, sat, su, nipuna, mādhurya, śobhana). (3) Pure, immaculate, beautiful (pranīta). (4) Mysterious, hidden, profound. [Dictionary References ] Naka1301c Iwa769 [Credit] cmuller(entry) cwittern(py) => 1. Đẹp, kỳ lạ, phi thường, tinh tế, tuyệt vời. Thanh tú, xuất sắc, rực rỡ. 2. Kỳ lạ, huyền diệu, phi thường. Timh tế, siêu phàm, không thể tưởng tượng được (s: mañju, sat, su, nipuna, mādhurya, śobhana). 3. Tinh khiết, trong trắng, tốt đẹp (pranīta). 4. Huyền bí, ẩn mật, thâm thuý.
do
1) Con cù lần: A kind of monkey. 2) Do bởi: From—By. 3) Do dự: Doubtful. 4) Nguyên Do: A cause—A motive.
do bởi
Affected by.
do càn đà sơn vương
Yugaṃdhara(-girirāja) (S)Trì Song Sơn vươngTên một vị thiên.
do dự
To hesitate—To be reclutant.
do dự bất thành quá loại
(猶豫不成過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Do dự bất thành, Phạm: Saôdighàsiddha. Một trong bốn lỗi bất thành, một trong 10 lỗi của Nhân, một trong 33 lỗi của Nhân minh. Cùng với Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Sở y bất thành gọi chung là bốn lỗi bất thành. Là lỗi vì người lập luận trong đối luận Nhân minh đã nêu ra Nhân (lí do) mà lòng còn ngờ vực, do dự, chưa thể xác định là đúng hay sai. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ), nói: Đối với tính chất của sương mù sinh tâm ngờ vực, lại đoán là khói, rồi bảo nơi ấy có lửa, đó là lỗi do dự bất thành. Nghĩa là khi người lập luận nhìn ở đàng xa, thấy chỗ cây cỏ um tùm, mờ mờ như khói như sương, không phân biệt được. Nếu lúc ấy người lập luận đưa ra luận thức: Tông: Ở đằng kia có lửa. Nhân: Vì có khói. Thì người vấn nạn liền hỏi: Có thật là khói không? Người lập luận không trả lời được. Đây là vì luận cứ còn do dự không xác định được nên đã mắc phải lỗi bất thành. Mục đích của Nhân minh là giúp người ta phát khởi chính trí để hiểu rõ chân lí một cách xác thực hiển nhiên, nay người lập luận lại dùng Nhân do dự để chứng minh Tông do dự, thì trí hiểu biết của đối phương cũng thành do dự bất định: điều này trái với bản ý của Nhân minh, cho nên là lỗi. Lỗi này có thể chia làm hai loại: Nếu Nhân (lí do) được nêu ra bị cả đôi bên (người lập luận và người vấn nạn) cùng ngờ vực thì mắc lỗi Lưỡng câu do dự bất thành (đôi bên do dự không thành). Nếu trong đôi bên chỉ có một bên hoài nghi, thì phạm lỗi Tùy nhất do dự bất thành (một bên do dự không thành). Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung phần cuối lại chia hai loại này thành sáu loại nhỏ: 1. Lưỡng câu toàn phần do dự bất thành quá. 2. Lưỡng câu nhất phần do dự bất thành quá. 3. Tùy tha nhất toàn phần do dự bất thành quá. 4. Tùy tự nhất toàn phần do dự bất thành quá. 5. Tùy tha nhất nhất phần do dự bất thành quá. 6. Tùy tự nhất nhất phần do dự bất thành quá. [X. Nhân minh luận sơ minh đăng sao Q.4 phần cuối; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tứ Bất Thành Quá).
do dự tương tự quá loại
(猶豫相似過類) Lỗi do dự tương tự. Lỗi thứ sáu trong 14 lỗi Tự năng phá của Nhân minh cũ do ngài Túc mục đặt ra. Lỗi này do người vấn nạn cố tình phân biệt Tông và Nhân của người lập luận thành những nghĩa khác nhau, rồi cho rằng Nhân của người lập luận nêu ra là do dự bất định, không chứng minh được Tông, không thể lập thành luận thức chính xác, nhưng chính người vấn nạn lại tự chuốc lấy lỗi. Chẳng hạn như đệ tử của Phật lập luận thức:Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì sự nỗ lực không ngừng tạo ra. Dụ: Như cái bình. Người vấn nạn bắt bẻ hỏi rằng: Ông cho tiếng nói là vô thường do sự nỗ lực không ngừng tạo ra, nhưng vô thường này có hai, vậy vô thường ông chủ trương là chỉ cho sinh khởi vô thường hay hoại diệt vô thường? Còn Nhân của sự nỗ lực không ngừng cũng có hai thứ là Sinh và Hiển. Sinh, pháp này xưa không mà nay có, có thể thành lập vô thường. Như cái bình là do sức người làm ra, là nhân sinh khởi, cuối cùng trở về hoại diệt. Còn Hiển thì trước kia vốn có, nay được hiển bày, có thể thành lập thường trụ, ví như đào giếng, nước vốn có sẵn nay chỉ do công nhân đào là nước chảy ra, cho nên thường có. Vậy, Nhân nỗ lực của ông ở đây là chỉ cho sinh hay chỉ cho hiển? Như thế là Tông do ông lập trở thành do dự bất định. Ở đây tuy nêu cả hai nghĩa, nhưng Nhân đã mắc lỗi, thì làm sao có thể dùng Nhân này để chứng thành Tiếng nói là vô thường?. Trong đối luận Nhân minh trình bày ở trên, người lập luận đề xuất Tông Tiếng nói là theo nghĩa hoại diệt vô thường, chứ không phải nói về nghĩa sinh khởi; thế nhưng người vấn nạn lại vẽ rắn thêm chân bằng cách nêu ra nghĩa sinh khởi. Còn Nhân của sự nỗ lực do người lập luận chủ trương là đối với nghĩa sinh khởi mà lập nghĩa vô thường, nhưng người vấn nạn lại chia ra sinh và hiển khác nhau, hòng làm cho Nhân tranh luận càng rối rắm thêm. Hơn nữa, người vấn nạn dùng việc đào giếng mà cho rằng Nhân của hiển là thường trụ, cũng là lối nói tựa hồ như đúng, nhưng thực ra là sai; bởi vì nước giếng tuy do người đào mà chảy ra, nhưng cuối cùng sẽ tiêu diệt, cũng là vô thường, không thể dựa vào hiển, ẩn hay không mà chia bậy làm thường và vô thường. Do đó biết Nhân của sự nỗ lực mà người lập luận nêu ra, bất luận là sinh hay hiển đều là vô thường, và hoàn toàn không mắc lỗi bất định, nhưng người vấn nạn cố tình bắt bẻ để rồi tự chuốc lấy lỗi do dự tương tự. Ngoài ra lỗi này tương đương với Nghi nan trong phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực của ngài Thế thân. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại thiển thích]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
do người khác trình bày
Shown by others.
do nơi
To be due to.
do thái
Israel.
do thái giáo
Judaism.
do tuần
Yojana (S)Đơn vị đo lường thời xưa. Theo thuyết J. Fleet, một do tuần xưa dài 19.5 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 14.6km, theo Phật giáo thì dài 7.3km. Theo thuyết của Major Vost, một do tuần xưa dài 22.8 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 17km, theo Phật giáo thì dài 8.5km. Theo Đại đường Tây vực ký, một do tuần xưa dài 20 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 15km, theo Phật giáo thì dài 8km.
; Yojana (S). A linear measure corresponding a walking day; about 10km
; Yojana (skt). 1) Ngày tuần hành của binh lính vương triều thời xưa: Described as anciently a royal day's march for the army. 2) Du Thiện Na: Du Xả Na—Du Diên Na—Du Kiện Đà La—Đơn vị đo lường thời cổ tương đương với 8 câu xá lư (tương đương với 18 dậm Anh hay 60 dậm Tàu)—An ancient measurement unit which equal to 8 krosas (which is equivalent to 18 English miles, or 60 Chinese miles). • Một do tuần thời cổ tương đương với 40 dậm: Ancient Yojana is equal to 40 miles. • Do tuần của Ấn Độ tương đương với 30 dậm: An Indian Yojana is equivalent with 30 miles. • Theo Thánh Điển thì một do tuần tương đương với 16 dậm: According to the scriptures, a yojana is equivalen to 16 miles.
; (由旬) Phạm, Pàli: Yojana. Hán âm: Du xà na, Du thiện na, Du tuần, Do diên. Dịch ý: hợp, hòa hợp, ưng, hạn lượng, nhất trình, dịch v.v... Đơn vị đo đường dài ở Ấn độ. Tiếng Phạm yojana có nghĩa là mang ách (cái vạy) do chữ gốc yuj chỉ quãng đường con bò mang ách (kéo xe) đi một ngày. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì một do tuần là chỉ cho lộ trình hành quân một ngày của nhà vua. Về cách tính do tuần còn có nhiều thuyết khác nhau. 1. Do tuần được đổi ra tính theo câu lô xá: Theo quốc tục Ấn độ thì bốn câu lô xá là một do tuần. Trong kinh điển Phật cũng có chỗ lấy bốn câu lô xá là một do tuần, như phẩm Hiện nghệ trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, phẩm Minh thời phân biệt trong kinh Ma đăng ca quyển hạ v.v... Nhưng kinh Phật phần nhiều lấy tám câu lô xá là một do tuần, như Hữu bộ tì nại da quyển 21, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 12 v.v...2. Do tuần đổi ra tính theo dặm của Trung quốc cũng có nhiều thuyết khác nhau: Theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì ngày xưa một do tuần được tính là 40 dặm, theo quốc tục Ấn độ tính là 30 dặm, Phật giáo tính 16 dặm; Tuệ uyển ân nghĩa quyển hạ chép là hơn 16 hoặc 17 dặm. Còn chú thích trong Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 3 của ngài Nghĩa tịnh nói, theo quốc tục Ấn độ là 32 dặm, Phật giáo là 12 dặm.Ngoài ra, theo thuyết của các học giả cận đại như ông J. Flect đổi do tuần tính theo cây số ngàn (kilometre) thì một do tuần xưa bằng 19,5 km; theo quốc tục Ấn độ là 14,6 km, Phật giáo là 7,3 km; nếu theo thuyết của ông Major Vost thì một do tuần xưa bằng 22,8 km, quốc tục Ấn độ là 17 km, Phật giáo là 8,5 km. [X. luật Ma ha tăng kì Q.9; Phiên Phạm ngữ Q.10; Chú duy ma cật kinh Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.2, Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, Q.27; J. Flect; Yojana andli (J.R.A.S. 1906].
do vị định
Vẫn chưa định tĩnh—Still unsettled—Uncertain.
Do 猶
[ja] ユ yu ||| (1) Yet, like, similar to; as if; as. Still, even. Especially. A disjunctive conjunction. (2) To scheme, to plan. => 1. Hãy còn, như. giống như; như thể; dường như. Vẫn còn, ngay cả, Đặc biệt. Một liên từ phân biệt. 2. Kế hoạch, giản đồ.
Do 由
[ja] ユ yu ||| (1) Through, using, by means of. (2) As, still, even. (3) From; an indication of the ablative case. To depend upon; to come from; according to. (4) That which, whereby. (5) For that reason, therefore. (6) Since. (7) Reason, cause, ground, basis; depending on... means, instrument, source, motive. (8) To follow, permit, allow. (9) At ease; self-possessed. (10) Relationship. => 1. Đi qua, dùng, bằng cách. 2. Do, vẫn, bởi. 3. Từ; cách công cụ (ngôn ngữ). Tùy thuộc vào, đến từ, tuỳ theo. 4. Do đó, bằng cách đó. 5. Vì lý do đó, do vậy. 6. Bởi vì. 7. Lí do, nguyên nhân, nguyên cớ, cơ sở; tuỳ thuộc vào, phương tiện, nguồn gốc, động cơ. 8. Theo, cho phép, được phép. 9. Thoải mái, bình thản. 10. Mối liên hệ.
do-diên
hay du-thiện-na, thường gọi là do-tuần, phiên âm từ Phạn ngữ là yojana, tương đương khoảng 9.216 mét. Tuy nhiên, trong kinh điển thường dùng đơn vị này với ý nghĩa tượng trưng hơn là đo lường một cách chính xác. Theo một số tài liệu cổ thì do-diên chỉ chỉ quãng đường trung bình một vị vua có thể dẫn quân đi qua trong một ngày. Còn theo các nhà nghiên cứu cận đại như J. Flect và Major Vost thì một do-diên có chiều dài khoảng từ 7.300 đến 8.500 mét.
Do-tuần
由旬; S: yojana;|Ðôn vị chiều dài của Ấn Ðộ thời xưa hay được dùng trong kinh sách đạo Phật. Ðó là khoảng cách binh sĩ đi một ngày đường, khoảng 15-20 km.
do-tuần
xem do-diên.
Do-tuần 由旬
[ja] ユジュン yujun ||| A transliteration of the Sanskrit yojana, an Indian measure of distance. Depending upon the source, either seven or nine miles, the distance appropriate for one day's travel for an emperor. According to A.L. Basham, in his The Wonder that was India: "The commonest table [of measurements], omitting microscopic measurements was: 8 yava (barleycorns) = 1 angula (finger's breadth, 3/4 of an inch) 12 angulas = 1 vitasti (span, 9 inches) 2 vitastis = 1 hasta or aratni (cubit, 18 inches) 4 hastas = 1 da.n.da (rod) or dhanus (bow, 6 feet) 2,000 dhanus = 1 kro'sa (cry) or goruta (cow-call, 2 1/4 miles) 4 kro'sas = 1 yojana (stage, 9 miles approximately) "Though most sources give the krośa (in modern Indian languages kos) as of 2,000 daṇḍas the Arthaśāstra gives it as only 1,000, the yojana, which was the commonest measure of long distances in ancient India, being thus of only 4 1/2 miles. It is therefore clear that there were at least two yojanas, and distances as given in texts are thus very unreliable. It would seem that for practical purposes the shorter yojana was more often used than the longer, especially in earlier times." [from an e-mail post on Buddha-L by Joseph Crea] => Phiên âm chữ yojana từ tiếng Sanskrit, đơn vị đo khoảng cách của Ấn Độ. Tuỳ theo từng xuất xứ, một Do-tuần bằng 7 hoặc 9 dặm (miles), là quãng đường hành quân một ngày của nhà vua. Theo A.L. Basham, trong tác phẩm The Wonder that was India của ông thì: “Biểu [đo lường] thông dụng nhất, đơn vị đo lường nhỏ nhất dễ bỏ sót là: 8 yava (hạt lúa mạch) = 1 angula (bề ngang ngón tay, tương đương 3/4 của 1 inch) 12 angulas = 1 vitasti (gang tay, tương đương 9 inches) 2 vitastis = 1 hasta hoặc aratni (đơn vị đo chiều dài ngày xưa = 45cm72, tương đương 18 inches) 4 hastas = 1 daṇḍa (con sào=5,5 yard=5m03) hay dhanus (cung, tương đương 6 feet) 2,000 dhanus = 1 kro'sa (tiếng thét) hay goruta (tiếng bò rống, tương đương 2 1/4 miles) 4 kro'sas = 1 yojana (một quãng đường, tương đương 9 miles). Mặc dù hầu hết các xuất xứ đều ghi Câu-lư-xá (s: krośa, ngôn ngữ Ấn Độ hiện đại ghi là kos) là bằng 2,000 daṇḍas, nhưng luận Arthaśāstra thì chỉ ghi 1,000 daṇḍas; còn Do-tuần (yojana) là đơn vị đo chiều dài thông dụng nhất vào thời cổ đại Ấn Độ, như vậy chỉ bằng 4 1/2 miles. Thế nên rõ ràng lẽ ra 1 Câu-lư-xá ít nhất phải bằng 2 Do-tuần, nên khoảng cách do luận nầy đưa ra không được xác đáng. Dường như trên thực tế, đơn vị Do tuần ngắn thường được sử dụng hơn là đơn vị dài, đặc biệt là trong thời cổ đại.
doanh diệu
(瀛妙) (1891 - 1973) Người Kim môn, Phúc kiến, họ Lâm, pháp hiệu Ngộ tâm. Năm Dân quốc 18 (1929), sư y vào ngài Giác tịnh ở chùa Viên giác tại Đài bắc xuất gia, năm sau sư làm trụ trì. Năm Dân quốc 27 (1938), sư bán hết tài sản riêng, mua đất làm chùa, đặt tên là Từ thiện đường, năm Dân quốc 37 (1945) đổi tên là chùa An quốc. Năm Dân quốc 45 (1956), sư đến chùa Lăng vân thiền ở núi Quan âm Đài bắc thụ giới Cụ túc. Lúc sanh tiền, sư hiện tướng phàm phu bình thường, thờ ơ với danh lợi, dốc một lòng tu niệm. Năm Dân quốc 62, sư thị tịch, thọ 83 tuổi, là vị Nhục thân bồ tát thứ ba ở Đài loan.
doãn kham
Một Danh Tăng đời Tống—A famous monk of the Sung dynasty.
; (允堪) (? - 1061) Vị danh tăng ở đời Tống, người Tiền đường Chiết giang. Thuở nhỏ sư theo ngài Tuệ tư xuất gia, thông suốt nội ngoại điển, sau sư theo ngài Nhân hòa Trạch ngộ học luận Nam sơn, hiểu thấu nghĩa sâu kín và trở thành nhà Luật học nổi tiếng. Sư từng kiến lập đàn giới tại các chùa danh tiếng như: Chùa Đại chiêu khánh ở Hàng châu, chùa Khai nguyên ở Tô châu, chùa Tinh nghiêm ở Tú châu v.v... tuyên dương Luật tông Nam sơn. Sư chú thích và phát huy 10 tác phẩm Giới luật học của Luật sư Đạo tuyên (ở núi Chung nam) thành 12 bộ: Hội chính kí, Phát huy kí, Chính nguyên kí v.v... vì thế nên người đời gọi sư là Thập bản kí chủ.Luận thuyết về Luật học của sư, đối với các qui định như đi nhiễu Phật bên trái hay bên phải, khổ áo dài hay ngắn v.v... Ý kiến của sư có khác với nghĩa trong Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí do Luật sư Nguyên chiếu ở chùa Linh chi soạn. Người đương thời gọi sư là Hội chính tông, và gọi sư Nguyên chiếu là Tư trì gia. Sự tịch vào tháng 11 năm Gia hựu thứ 6, không rõ tuổi thọ. Thụy hiệu Chân ngộ Trí viên Luật sư. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Thích thị kê cổ lược Q.4; Chiêu khánh tự chí Q.8].
doãn nhược
Một Danh Tăng đời nhà Nguyên—A famous monk of the Yuan dynasty.
Drug-pa Kun-leg
T: drugpa kunleg ['brug-pa kun-legs], 1455-1570, nghĩa là »Con rồng tốt bụng«; |Một trong những »Cuồng Thánh« nổi tiếng nhất Tây Tạng. Sư trước học theo dòng Drug-pa trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa), sau đó lại thích du phương tuỳ duyên giáo hoá.|Sư được xem là hiện thân của hai vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Sa-ra-ha và Sa-va-ri-pa (s: śa-varipa). Sư có công lớn trong việc truyền Phật pháp đến nước Bhutan và nổi danh trong quần chúng vì sự »mê« gái và rượu bia. Sư để lại nhiều bài hát thổ lộ điều nhận thức chân lí trực tiếp của mình, có thể so sánh được với những bài kệ của những vị Thiền sư Trung Quốc – ví như:|Tên ta là rồng điên, Drug-pa Kun-leg|Ta không phải du tăng xin ăn, xin áo|Ta đã xuất gia hành hương|Một cuộc hành hương bất tận.|Sư là biểu tượng đặc sắc nhất của những vị Ma-ha Tất-đạt với nhiều gương mặt khác nhau, nếu không nói là nghịch nhau. Mặt nạ cuồng điên tạo điều kiện sinh sống, hoằng hoá tự do tự tại, vượt qua tất cả những luân lí trói buộc của thế gian. Và chính vì những hành động điên rồ này mà Sư đã chinh phục được nhiều người ở những tầng cấp xã hội khác, những người không thể thuyết phục được bằng những lời thuyết pháp bình thường. Sư tự hát:|Vũ sư trong dòng ảo ảnh bất diệt|Người có uy quyền, … Vị anh hùng… |Du-già sư nhỏ bé… Tiên tri|Du-già sư, người đã nếm Nhất vị|Ðó chỉ là một vài mặt nạ ta mang.|Câu chuyện sau thường được nhắc lại và qua đó người ta có thể lường được phong cách »cuồng« nhưng siêu việt của Sư:|Một ngày nọ, có một bà cụ già tay cầm một bức Thăng-ka vào một tu viện cầu mong vị viện chủ ban phép lành cho bức ảnh này – một tục lệ phổ biến tại Tây Tạng, gần giống như việc Khai nhãn một tượng Phật hoặc Bồ Tát tại Ðông, Ðông nam á. Bức tranh của bà lão trình bày vị Hộ Thần Hê-ru-ka và được cuốn tròn để dễ cầm tay. Vừa đi đến tu viện – vốn nằm trên một ngọn đồi – bà lão tự nghĩ »Viện chủ là một người tài cao đức rộng, nhưng sư đệ của ông lại là một người phiêu bồng, không bằng một phần của viện chủ.« Vừa mới phát ý nghĩ này thì Drug-pa Kun-leg xuất hiện trước mặt bà như một bóng ma, hỏi bà muốn gì và bảo rằng: »Sư huynh của ta ngồi như một lĩnh chúa với đám tuỳ tòng, ngoài sự việc này ra thì chẳng có gì đáng xem trên ấy cả.« Chần chừ giây lâu, bà lão đành phải trình bày nguyện vọng của mình và mở bức tranh cho Sư xem. Sư hỏi với một giọng ngớ ngẩn: »Bức tranh này mà Bà muốn ban phép à?« Bà thưa: »Tất nhiên là con muốn« nhưng chưa kịp nói thêm thì Sư đã vạch quần, tiểu tiện vào bức tranh và bảo: »Những người như ta thì ban phép lành cho mọi thứ tranh ảnh thế này đây.« Nói xong, Sư biến mất một cách đột ngột như lúc xuất hiện. Gặp viện chủ, bà lão trình lại sự việc trên và chỉ nhận được một tràng cười to. Viện chủ bảo bà cứ mở bức tranh ra xem và lạ thay, bức tranh lúc này đã được phủ một lớp bụi vàng óng ánh. Viện chủ tươi cười bảo: »Hê-ru-ka đã tự mình ban phép cho bức tranh, bà không cần tôi nữa đâu.«
du
Xem thâu.
; Remiss, to steal, stealthy.
; 1) Bơi lội: To swim. 2) Dẫn tới—To draw out. 3) Du lịch: Bhramyati (skt)—To travel. 4) Leo vuợt qua: To pass over—To go beyond—To exceed. 5) Ngọc lóng lánh: Lustre of gems—A beautiful stone.
du chỉ kinh
(瑜只經) Phạm: Vajrazekhara-vimàna-sarvayogayogi-sùtra. Có 1 quyển. Tên tắt của kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì. Cũng gọi Du già du kì kinh. Do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 18. Một trong năm bộ bí kinh của Mật giáo. Xưa nay cùng với kinh Lí thú được gọi chung là bí kinh trong các bộ kinh bí mật. Có 12 phẩm. Cứ theo kinh Tô tất địa của Thai tạng giới nói, thì kinh này là Tô tất địa của Kim cương giới. Nội dung nói rõ diệu pháp thành tựu tác nghiệp của tất cả thế gian và xuất thế gian. [X. Chư quĩ truyền thụ mục lục; Chí nguyên pháp bảo khám đồng mục lục Q.6; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh)].
du chỉ quán đỉnh
(瑜只灌頂) Vốn chỉ sự quán đính (rưới nước thơm lên đỉnh đầu) của hành giả Du già. Nay chỉ cho tác pháp quán đính truyền trao ấn ngôn (khế ấn và chân ngôn) của kinh Du kì, một việc trọng đại trong pháp Du già thuộc Kim cương giới (Tối thượng) Mật giáo.Pháp tu này căn cứ vào thuyết trong phẩm Kim cương tát đỏa bồ đề tâm nội tác nghiệp quán đính tất địa và phẩm Tựa của kinh Du kì mà thực hành, là pháp rất bí mật sâu xa, tương đương với tam muội da thứ 5 trong 5 thứ tam muội da và cũng giống với Dĩ tâm quán đính nói trong kinh Đại nhật. Đứng về phương diện sự tướng của Mật giáo mà nói, thì các dòng phái có các cách tác pháp khác nhau, nhưng Thai mật (Mật giáo của tông Thiên thai) ở Nhât bản đặc biệt coi trọng cách tác pháp này. (xt. Quán Đính).
du càn đà la
Xem Song Trì.
Du Già
(s, p: yoga, 瑜伽): ý dịch là tương ứng, tương ưng; nương vào phương pháp điều tức (hô hấp), v.v., tập trung tâm niệm ở một điểm; tu chủ yếu pháp Chỉ Quán (止觀), cùng nhất trí với lý tương ưng. Đối với Mật Giáo, rất thịnh hành thuyết gọi là Tam Mật Du Già Tương Ưng (三密瑜伽相應), hay Tam Mật Tương Ưng (三密相應). Hành giả thực hành pháp quán hạnh Du Già này, được gọi là Du Già sư (瑜伽師). Bộ Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) thuyết về 17 cảnh địa, từ Ngũ Thức Thân Tương Ưng Địa (五識身相應地) cho đến Vô Dư Y Địa (無餘依地). Học phái hành trì theo luận thư này được gọi là Du Già Phái (瑜伽派). Riêng về phía ngoại đạo, cũng có những nhà ngoại đạo Du Già. Tam Muội (s, p: samādhi, 三昧), Thiền Định (s: dhyāna, p: jhāna, 禪定) là những pháp thực hành Du Già. Theo Thành Duy Thức Luận Thuật Ký (成唯識論述記, Taishō Vol. 43, No. 1830) quyển 2, nghĩa của tương ưng có 5: (1) Tương ưng với cảnh, nghĩa là tự tánh không sai tất cả pháp. (2) Tương ưng với hành, nghĩa là tương ưng với định, tuệ, v.v. (3) Tương ưng với lý, là lý của Nhị Đế (二諦) về an lập hay không an lập, v.v. (4) Tương ưng với quả, nghĩa là có thể chứng đắc quả vô thượng Bồ Đề. (5) Tương ưng với cơ, nghĩa là đã được quả tròn đầy, lợi sanh cứu vật, tùy cơ duyên mà cảm ứng, thuốc và bệnh tương ứng với nhau. Trong 5 nghĩa nêu trên, Hiển Giáo phần nhiều lấy nghĩa tương ưng với lý. Trong bản Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) có định nghĩa rõ rằng: “Phạn ngữ Du Già, Hoa ngôn tương ưng, vị Tam Nghiệp đồng thời, nhi bất tiên hậu, cọng duyên nhất cảnh dã; thủ kết ấn thời, khẩu tất tụng chú, ý tất tác quán, Tam Nghiệp tề thí, vô hữu tham sai, thỉ danh tương ưng (梵語瑜伽、華言相應、謂三業同時、而不先後、共緣一境也、手結印時、口必誦咒、意必作觀、三業齊施、無有參差、始名相應, tiếng Phạn Du Già, Tàu gọi là tương ưng, tức Ba Nghiệp đồng thời, mà không trước sau, duyên chung vào một cảnh vậy; khi tay bắt ấn, miệng phải tụng chú, ý phải quán tưởng; Ba Nghiệp cùng thí, không có sai khác, mới gọi là tương ưng).” Bên cạnh đó, trong lời tựa đầu của Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080) có giải thích rằng: “Du Già pháp môn, giai tùng Phạn thư tự chủng khởi quán, xuất sanh nhất thiết quảng đại thần biến, phổ lợi hữu tình (瑜伽法門、皆從梵書字種起觀、出生一切廣大神變、普利有情, pháp môn Du Già, đều từ sách loại chữ Phạn mà bắt đầu quán, sinh ra hết thảy thần biến to lớn, lợi khắp chúng hữu tình).” Cũng điển tịch này có đoạn rằng: “Cẩn y Du Già giáo, kiến trí khải pháp diên, phổ thí chư hữu tình, giai cộng thành Phật đạo (謹依瑜伽敎、建置啟法筵、普施諸有情、皆共成佛道, kính theo Du Già giáo, thiết lập bày pháp diên, thí khắp các hữu tình, đều cọng thành Phật đạo).” Hiện tại trong hầu hết các tự viện Phật Giáo Việt Nam đều dùng nghi thức Du Già Thí Thực để tiến cúng các âm linh cô hồn thông qua Đàn Tràng Chẩn Tế hay Thủy Lục Pháp Hội. Nghi thức này được thâu lục rất đầy đủ trong bộ Trung Khoa Du Già Tập Yếu (中科瑜伽集要) hay Đại Khoa Du Già Tập Yếu (大科瑜伽集要). Tất cả những bản này đều dựa theo bản Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ do Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615), Tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc soạn; bản lời tựa ghi dòng chữ: “Thời Vạn Lịch tam thập tứ niên, tuế thứ Bính Ngọ trọng Hạ vọng nhật Vân Thê Châu Hoằng cẩn chí (時萬歷三十四年、歲次丙午仲夏望日雲棲袾宏謹識, lúc bấy giờ niên hiệu Vạn Lịch thứ 34 [1606], ngày rằm tháng 5 năm Bính Ngọ, Vân Thê Châu Hoằng kính ghi).” Bản hiện hành thông dụng nhất tại Huế là Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要), tàng bản tại Sắc Tứ Báo Quốc Tự (勅賜報國寺), được khắc vào mùa Đông năm Mậu Tý (1888) thời vua Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889), do Đại Lão Hòa Thượng Hải Thuận Lương Duyên (海順良緣, 1806-1892), Tăng Cang Chùa Diệu Đế (妙諦寺), chứng minh.
du già
Yoga (S).
; See Yoga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (瑜伽) Phạm, Pàli: Yoga. Dịch ý: tương ứng. Loại quán hạnh lấy pháp tu chỉ quán (Phạm:Zamathavàvipasyanà) làm chủ yếu, áp dụng phương pháp điều hòa hơi thở, tập trung tâm niệm ở một điểm để ngầm tương ứng và hợp nhất với chính lí. Trong Mật giáo có thuyết Tam mật du già tương ứng (cũng gọi thuyết Tam mật tương ứng). Những người tu quán hạnh du già này gọi là Du già sư. Cảnh giới nương theo Du già sư mà tu gọi là Du già sư địa. Luận Du già sư địa có nêu 17 địa từ Ngũ thức thân tương ứng địa đến Vô dư y địa. Học phái tu trì theo luận này gọi là Du già phái (trong ngoại đạo, cũng có phái gọi là Du già ngoại đạo). Ngoài ra, người tu quán hạnh Du già gọi là Du kì (Phạm,Pàli: yogin) hàm ý là người có Du già. Tam muội (Phạm, Pàli: samàdhi), Thiền định (Phạm: dhyàna, Pàli: jĩàna) là một trong những pháp tu Du già. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần đầu nói, thì tương ứng có năm nghĩa: 1. Tương ứng với cảnh: Không trái với tự tính của tất cả pháp. 2. Tương ứng với hạnh: Tương ứng với các hạnh định, tuệ v.v... 3. Tương ứng với lí: Lí hai đế: an lập, phi an lập. 4. Tương ứng với quả: Có thể chứng được quả bồ đề cùng tột. 5. Tương ứng với cơ: Đã được quả viên mãn, cứu sinh lợi vật, cảm ứng theo cơ, tùy bệnh cho thuốc. Trong năm nghĩa nói trên, Hiển giáo phần nhiều theo nghĩa tương ứng với lí, như Du già của Duy thức du già; Mật giáo thì thường theo nghĩa tương ứng với hạnh, như Du già của Tam mật du già. [X. kinh Giải thâm mật Q.3 phẩm Phân biệt du già; luận Du già sư địa Q.24; Giải thâm mật kinh sớ Q.6; Đại nhật kinh sớ Q.3].
du già (yoga)
Dịch nghĩa là tương ưng, tức là tương ưng với cơ, cảnh, tướng, lý, nhân, quả… Mật tông cũng gọi là Du Già tông, Duy Thức tông ở Ấn Độ cũng gọi là Du Già tông.
du già a xà lê
Yogacara (skt)—Vị thầy dạy giáo thuyết của trường phái Du Già (của cải của một vị sư Du Già gồm một cây gậy linh, một bầu nước, một mảnh da để trải ngồi và nằm. Luôn giữ tịnh giới, tuyệt không dâm dục, chỉ ăn lúc mặt trời lặn, và chỉ ăn phần ăn vừa để trọn trong lòng bàn tay, mỗi tháng cạo râu tóc một lần, sống bằng cách khất thực. Sư Du Già coi mọi chúng sanh như nhau, xa lánh thế sự, gìn giữ giác quan, diệt tận sân hận, tham lam và dâm dục, dứt bỏ mọi phiền não)—A teacher, or master of, or of Vijnanavada Sect.
du già bảo man
Yogāratnamala (S).
du già chi la
Ukkacela (skt)—Một nơi không ai biết—A place unknown.
du già chấn linh
(瑜伽振鈴) Rung chuông trong khi tu du già. Du già nghĩa là tương ứng, ý nói tập trung tinh thần dung hợp với bản tôn (vị tôn chính), đây là một pháp thực tu của Mật giáo, cũng gọi là Hành tam mật du già. Phép tắc tu theo pháp này là phép Tứ độ gia hạnh, tức là y theo một hành nghi nhất định là cúng dường lễ bái chư tôn và thể nghiệm cảnh địa chứng ngộ của các bản tôn để đạt đến đạo Tức thân thành Phật. Dùng phép rung chuông trong lúc tu pháp là để triệu thỉnh Bản tôn thánh chúng an tọa nơi đạo tràng trước mặt hành giả, rồi tiếp tục rung chuông tấu nhạc biểu thị ý hoan hỉ đón rước. Chuông có nhiều loại, do hình cái chuôi có khác nên tên gọi không giống nhau như: chuông năm chĩa, chuông ba chĩa, chuông một chĩa, chuông chín chĩa. Phương pháp rung chuông thuộc sự tướng trong Mật giáo, nên tùy theo mỗi phái mà có cách tác pháp khác nhau. Nhưng tựu trung đều bày tỏ ý nghĩa cảnh giác, cúng dường, hoan hỉ, thuyết pháp, phụng tống v.v... Theo pháp thế gian thì rung chuông là bày tỏ ý cúng dường, hoan hỉ, còn đối với pháp xuất thế gian thì rung chuông biểu thị âm thanh Phật thuyết pháp. Vì tiếng chuông có công năng đánh thức chúng sinh trong cơn mê mộng, khiến họ tỉnh ngộ mà vào Phật đạo, nên cũng có nghĩa là cảnh giác. [X. kinh Kim cương đồng tử trì niệm; kinh Nhiếp chân thực Q.hạ].
du già chỉ
Yogin (skt)—See Du Già Kỳ.
du già du kỳ kinh
Xem Kim Cang Phong Lâu Các Nhất thiết Du già Du kỳ kinh.
du già giác giả
Yogeshvara (C)Từ dùng chỉ bậc đã hoà nhập với Thượng đế, hoặc đã đạt giáxc ngộ, hoặc đã nắm được toàn bộ yếu quyết của du già.
du già hạnh
Yogācaryā (S).
du già học phái
Yoga (S)Một trong 6 giáo phái Phệ đà ra đời khoảng thế kỳ thứ nhất, chủ trương tu Du già để giải thoát, khai tổ là ngài Patanjali (Ba đan xà lê), kinh căn bản là kinh Du già. Dịch nghĩa là tương ưng, nghĩa là tương ưng với cơ, cảnh, tướng, lý, nhân quả v.v...Mật tông cũng gọi là Du-Già-Tông, Duy-thức-Tông ở Ấn Đ cũng gọi là Du-Già-Tông.
du già kinh
Yogā-sŪtra (P)Du già đại giáo vương kinhTên một bộ kinh.
; (瑜伽經) Phạm: Yoga-sùtra. Là kinh điển căn bản của học phái Du già (Phạm: Yoga) trong sáu phái triết học của Ấn độ. Tương truyền kinh này do Ba đan xà lê (Phạm: Pataĩjali) biên soạn vào khoảng năm 150 trước Tây lịch, nhưng bản kinh hiện còn thì được soạn vào khoảng từ 400 đến 450 Tây lịch, thuộc Ba la nại tư Phạm ngữ tùng thư số 75 (Benares Sanskrit Series, No. 75), tất cả có 4 chương 194 kinh. Nội dung gồm: I. Tam muội: Do tu tập và xa lìa tham muốn để khống chế sự hoạt động của năm tâm: tính lường, điên đảo, phân biệt, ngủ mê và ghi nhớ mà đạt đến cảnh địa tam muội (chính định). II. Tám pháp thực tu: 1. Chế giới (Phạm:Yama): Giữ năm giới không giết hại, không nói dối, không trộm cắp, không dâm dục, không có của riêng. 2. Nội chế (Phạm: Niyama): Bao gồm thanh tịnh, mãn túc, khổ hạnh, tu học, qui y vị thần tối cao. 3. Tọa pháp (Phạm: Àsana): Ngồi đúng phép để giữ gìn cho thân thể được yên định, thoải mái. 4. Điều tức (Phạm:Pràịàyàna): Điều hòa hơi thở. 5. Chế cảm (Phạm:Pratyàhàra): Xa lìa cảm quan và đối tượng. 6. Chấp trì (Phạm:Dhàraịa): Định tâm ở một chỗ. 7. Tĩnh lự (Phạm: Dhyàna): Sau khi định tâm, tập trung quán niệm. 8. Tam muội (Phạm: Samàdhi): Cảnh chính định. III. Nhờ sự tu hành thực tế, có thể đạt được tri thức, năng lực hơn người, như: biết rõ ba đời quá khứ, hiện tại vị lai, biết tâm người khác và tàng hình v.v... IV. Nhờ tu hành mà thoát li tự tính (Phạm:prakfti), được tồn tại độc lập (Phạm: kaivalya) cho đến hoàn thành sự giải thoát. [X. Tông giáo thần bí chủ nghĩa (Ngạn bản Anh phu)].
du già kỳ
Yogin (skt)—Hành giả tu theo pháp Du Già—One who practises yoga.
du già luận
Yogā-sarya-bhŪmi śāstra (S), Yogā śāstra Du già sư địa luậnVào thế kỷ thứ 5, ngài Di Lặc truyền cho Ngài Vô Trước 5 bộ Luận gồm 100 quyển: - Du già sư địa luận - Phân biệt du già luận - Đại thừa trang nghiêm luận - Biện trung biện luận - Kim Cang bát nhã luận Xem Yoga-sarya-bhumi SastraXem Du già Sư địa luận.
du già luận kí
(瑜伽論記) Gồm 24 quyển, do ngài Độn luân soạn vào đời Đường. Cũng gọi Du già sư địa luận kí, thu vào Đại chính tạng tập 42. Nội dung sách này ghi chép những văn giải thích về luận Du già sư địa của các sư, chủ yếu là dựa vào bộ Du già sư địa luận lược toản của ngài Khuy cơ mà chia ra sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Tông yếu, Tạng nhiếp, Giải đề và Thích văn. Trong năm môn trước phần nhiều sao chép văn của ngài Khuy cơ. Trong môn Thích văn thì trước hết nêu ra lời chú giải của bộ lược toản, kế đến, đề cập đến thuyết của các ngài Thuận cảnh, Văn bị, Huyền phạm, Thần thái, Huệ cảnh, Viên trắc, Nguyên hiểu, Thần huếch, Tăng huyền v.v... Nhưng luận Du già sư địa từ quyển 66 trở xuống thiếu văn giải thích của bộ lược toản, nên Độn luân thường trích dẫn thuyết của các ngài Thần thái, Huệ cảnh chứ ít đưa ra lời thuyết minh của mình. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1, Q.2].
du già phái
(瑜伽派) I. Du già phái. Cũng gọi Du già tông, Du già hành phái. Giáo phái Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, lấy học thuyết của luận Du già sư địa làm tông chỉ, đối lập với phái Trung quán. Sơ tổ là luận sư Di lặc ở khoảng thế kỉ thứ IV, thứ V Tây lịch, lấy việc tuyên giảng các bộ luận Du già sư địa, Biện trung biên luận tụng, Đại thừa trang nghiêm v.v... làm nền tảng để mở tông. Về sau, ngài Vô trước vâng theo giáo chỉ của luận sư Di lặc mà soạn các bộ luận Nhiếp đại thừa, Hiển dương thánh giáo v.v... Ít lâu sau, ngài Thế thân nối tiếp, soạn Thập địa kinh luận, Duy thức tam thập tụng luận v.v... để làm sáng tỏ giáo thuyết Du già. Đệ tử của ngài Thế thân là Trần na cũng soạn các luận: Quán sở duyên duyên, Nhập du già v.v... để phát huy tư tưởng Du già, ngài cũng soạn luận Nhân minh chính lí môn để qui định thể thức biện luận Nhân minh. Đồng thời, lại có hai vị đại luận sư là Thân thắng và Hỏa biện chú thích tác phẩm Duy thức tam thập luận tụng của ngài Thế thân. Về sau, còn có các luận sư: Đức tuệ, An tuệ, Hộ pháp, Nan đà, Thanh biện, Giới hiền, Tịnh nguyệt, Thắng hữu, Tối thắng tử, Trí nguyệt, Pháp tạng, Trí quang, Vô tính, Thân quang, Đức quang v.v... nối tiếp nhau phát huy ý chỉ tam tính trung đạo, đề xướng quán hành lí vạn pháp duy thức để ngộ nhập tính chân như.Phái Du già vốn đối lập với Phái Trung quán từ lâu, hai phái thường chỉ trích luận điểm của nhau. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ VIII, thì ngài Tịch hộ và đệ tử là Liên hoa giới dung hợp tư tưởng của phái Trung quán tự lập (Phạm: Màdhyamika-svàtantrika) với tư tưởng của phái Du già mà thành lập phái Du già Trung quán tự lập (Phạm: Yogàcàra-màdhyamika-svàtantrika). Tư tưởng của phái này, về Thắng nghĩa đế thì dùng luận điểm của phái Trung quán tự lập, còn về Thế tục đế thì y cứ vào lập trường của phái Du già duy thức. Sau khi Phật giáo Ấn độ được truyền vào Tây tạng, nhà canh tân Phật giáo Tây tạng là Tông khách ba dùng Thậm thâm quán, Quảng đại hành với ý đồ tông hợp hai phái Bát nhã trung quán và Du già duy thức. Từ thế kỉ VIII, IX trở về sau, phái Du già đã bị phái Trung quán thu hút, học phái độc lập không tồn tại nữa. Tại Trung quốc, kinh Bồ tát địa trì (tức là Bồ tát địa của luận Du già sư địa) do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, kinh Bồ tát thiện giới do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, và Duy thức nhị thập luận, Thập địa kinh luận do các ngài Bồ đề lưu chi, Lặc na ma đề dịch vào đời Bắc Ngụy v.v... là những kinh luận của phái Du già được phiên dịch sớm nhất. Về sau, phái Du già ở Trung quốc dần dần chia thành tông Địa luận và tông Nhiếp luận. Tông Địa luận lấy Thập địa kinh luận làm nòng cốt, còn tông Nhiếp luận thì lấy luận Nhiếp đại thừa làm chủ đạo. Cả hai tông tuy cùng lập thuyết Bát thức duyên khởi, nhưng tông Địa luận cho thức A lại da và Tâm Như lai tạng đều là chân thức, còn tông Nhiếp luận thì coi thức A lại là vọng thức nên mới lập riêng thức A ma la thứ chín: đây là luận điểm bất đồng lớn nhất giữa hai tông. Mãi đến đời Đường, khi ngài Huyền trang dịch xong các bộ luận Du già sư địa, Hiển dương thánh giáo, Biện trung biên v.v... rồi lại dịch một cách tổng hợp các bộ luận của 10 vị đại luận sư giải thích về Duy thức tam thập tụng mà biên soạn thành bộ luận Thành duy thức thì giáo thuyết của tông Pháp tướng mới được triển khai mà thịnh hành ở Trung quốc và Nhật bản. [X. Đại đường tây vực kí Q.9, Q.10; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5 (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Trung Quán Phái, Không Hữu Luận Tranh). II. Du già phái. Một trong sáu phái triết học của Ấn độ. Thông thường còn được gọi là Du già ngoại đạo, Tương ứng ngoại đạo. Phái này cho rằng tu hành theo Du già có thể đạt đến cảnh giới giải thoát. Triết học của phái này căn cứ vào học phái Số luận mà lập luận, chỉ khác nhau ở lập trường Hữu thần luận chủ trương Thần ngã (Phạm:Puruwa) là vị thần tối cao. Tương truyền phái này do Ba đan xà lê (Phạm:Pataĩjali) sáng lập vào khoảng thế kỉ V Tây lịch, lấy kinh Du già (Phạm: Yogasùtra) do Ba đan xà lê soạn làm nòng cốt. (Có thuyết nói Ba đan xà lê đã biên soạn kinh này vào khoảng năm 150 trước Tây lịch).Phái này cho rằng nguồn gốc của khổ đau là vô minh, tức là thần ngã bị kết hợp với tự tính (Phạm: Prakfti); khi vô minh bị minh tri (Phạm:Viveka, sự sáng suốt) tiêu diệt, thì thần ngã thoát khỏi sự trói buộc của vật chất mà tồn tại độc lập, nhờ đó sự giải thoát đạt đến trạng thái hoàn toàn viên mãn. Để có được sáng suốt (minh tri), người ta phải thực hành tám phương pháp nói trong kinh Du già, đó là: Giữ giới, bồi dưỡng đạo đức tự ngã, dưỡng thành tư thế ngồi tốt lành, điều hòa hơi thở, khống chế cảm quan, tập trung tâm niệm, minh tưởng và Thiền định. Tu tập tám phương pháp này, khi nào từ tam muội hữu tưởng mà vào được trạng thái vô tâm của tam muội vô tưởng là được giải thoát. Đây là đặc chất của phái Du già. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.3; luận Đại tì bà sa Q.81; luận Du già sư địa Q.28; Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt)].
du già pháp thuỷ
(瑜伽法水) Sự truyền thừa giáo pháp Tam mật du già trong Mật giáo. Thông thường trong Mật giáo, Du già được gọi là Tam mật du già, bởi vì Du già của hành giả chân ngôn chung qui chỉ là tu ba hạnh bí mật: Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 nói, Thân mật, Ngữ mật, Ý mật của đức Phật Tì lô giá na lấy tất cả thân nghiệp, tất cả ngữ nghiệp, tất cả ý nghiệp làm ba mật, tức thông thường trong Phật giáo gọi là ba nghiệp. Pháp thủy (nước phép) là khi truyền pháp Quán đính, lấy nước thơm gia trì trong năm cái bình của Đại đàn rưới lên đỉnh đầu của người thụ pháp để rửa sạch tâm của người ấy, rồi sau mới truyền pháp. Theo đó, sự tham gia nghi thức quán đính để vào đàn thụ pháp, gọi là Dục du già pháp thủy hoặc Cấp du già pháp thủy. [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui; Đại nhật kinh sớ Q.3].
du già sư
GurŪ-yogā (S), lamay naljor (T), Yogācāca (P)Du già tôngMột phái của Duy Thức chuyên tu Thiền quán.
; See Du Già A Xà Lê.
Du Già Sư Địa Luận
(瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”
du già sư địa luận
Yogācaryā-bhŪmi śāstra (S)Du già luậnMột trong 5 bộ luận mà Bồ tát Di Lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Bồ tát Vô Trước Xem Du già luận.
; Yogacaryabhumi-sastra (skt)—Người ta nói Bồ Tát Di Lặc đã đọc cho ngài Vô Trước chép lại trên cõi trời Đâu Suất, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa Ngữ. Đây là giáo thuyết của trường phái Du Già (giáo thuyết chính của Du Già cho rằng đối tượng khách quan chỉ là hiện tượng giả hiện của thức A Lại Da là tâm thức căn bản của con người. Cần phải xa lìa quan niệm đối lập hữu vô, tồn tại và phi tồn tại, thì mới có thể ngộ nhập được trung đạo)—The work of Asanga, said to have been dictated to him in or from the Tusita heaven by Maitreya, translated by Hsuan-Tsang, is the foundation text of this school.
; (瑜伽師地論) Phạm:Yogacàrabhùmi. Bồ tát Di lặc giảng, ngài Vô trước ghi, gọi tắt: Du già luận, thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là bộ luận cơ bản của học phái Du già hành, là bộ luận quan trọng của tông Pháp tướng và cũng là bộ luận trọng yếu trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nội dung ghi chép quá trình ngài Vô trước nghe bồ tát Di lặc từ trời Đâu suất giáng xuống nhà giảng ở nước A du xà thuộc Trung thiên trúc nói pháp, trong đó tường thuật phép quán Du già hành (Phạm: yogacàra), cho rằng đối tượng khách quan là hiện tượng do thức A lại da (Phạm: àlayavijĩàna) - tâm thức căn bản của con người - giả hiện, cho nênphải xa lìa quan niệm đối lập có và không, tồn tại và phi tồn tại, mới có thể ngộ vào trung đạo. Bộ luận này là một kho báu lớn đối với việc nghiên cứu tư tưởng của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Vì luận này giải thích rộng về 17 địa sở y sở hành của người tu Du già nên cũng gọi là Thập thất địa luận. Lại nữa, trong 17 địa thì Bồ tát địa là đặc biệt quan trọng. Trong các bản Hán dịch của bộ luận này, bản luận Du già 100 quyển của ngài Huyền trang dịch là nổi tiếng hơn cả. Toàn bộ chia làm năm phần: 1. Bản địa phần: Phần chủ thể của luận này gồm 50 quyển đầu nói rộng về ý nghĩa 17 địa trong cảnh giới Thiền quán của Du già. 2. Nhiếp quyết trạch phần: Gồm 30 quyển kế tiếp nêu rõ ý nghĩa sâu xa của 17 địa. 3. Nhiếp thích phần: Gồm 2 quyển 81, 82 giải thích nghi tắc của các kinh. 4. Nhiếp dị môn phần: Gồm 2 quyển 83, 84 giải thích rõ sự sai biệt về danh nghĩa của các pháp được nói trong các kinh. 5. Nhiếp sự phần: Gồm 16 quyển cuối cùng giải thích rõ về các nghĩa trọng yếu của ba tạng. Ngoài bản dịch của ngài Huyền trang, còn có những bản dịch khác như: Kinh Bồ tát địa trì 10 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, kinh Bồ tát thiện giới 9 quyển, do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, luận Quyết định tạng 3 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương. Cả ba bản trên đều là các bản lược dịch. Ngoài các bản Hán dịch, còn có bản dịch Tây tạng. Về các bản chú sớ thì có: Du già sư địa luận thích 1 quyển của ngài Tối thắng tử, Du già sư địa luận lược toản của ngài Khuy cơ, Du già sư địa luận sớ 10 quyển của ngài Thần thái, Du già luận kí 24 quyển của ngài Độn luân v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, Q.14; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].
du già sư địa luận lược toản
(瑜伽師地論略纂) Gồm 16 quyển. Ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 43. Cũng gọi Du già sư địa luận lược toản sớ, Du già luận lược toản, Du già sao. Sách này chú giải luận Du già sư địa, là sách quan trọng của tông Pháp tướng. Nội dung, trước hết,chép bài kệ Qui kính thể bảy chữ bảy hàng trong Du già sư địa luận thích của ngài Tối thắng tử, kế đến, lập sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Tông tự, Tạng nhiếp, Thích đề, Thích văn v.v... Bộ chú sớ này là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu luận Du già. Soạn giả Khuy cơ là vị đệ tử cao túc của ngài Huyền trang, là Sơ tổ của tông Pháp tướng.[X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2].
du già sư địa luận thích
Bộ sách giải thích và phê bình bộ Du Già Sư Địa Luận, do ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—A commentary on the Yogacaryabhmi-sastra, composed by Jinaputra, translated into Chinese by Hsuan-Tsang.
; (瑜伽師地論釋) Có 1 quyển. Do các bồ tát Tối thắng tử soạn, ngài Huyền trang dịch. Cũng gọi Du già luận thích. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là sách chú giải luận Du già sư địa xưa nhất. Ngài Tối thắng tử (Phạm: Jinaputra, âm Hán: Thìn na phất đa la) là người nước Bát phạt đa bắc Ấn độ, ra đời khoảng 1100 năm sau đức Phật nhập diệt, đệ tử của ngài Hộ pháp, là một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức. Bộ sách này giải thích rõ đại cương của luận Du già. Trước hết, nói về lí do soạn sách này, sau đó, giải thích về danh nghĩa Du già sư địa và 17 địa của phần Bản địa. Toàn bộ chia làm sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Danh nghĩa, Tông yếu, Tạng nhiếp và Thích văn, là điển tịch quan trọng của tông Pháp tướng.
du già tam mật
Ba phương cách tu trì của phái Du Già. Du Già nghĩa là tương ứng, tam mật là ba nghiệp thân, khẩu, ý. Tay kết ấn, miệng đọc thần chú chân ngôn, ý tưởng niệm bổn tôn Đức Đại Nhật Như Lai—The three esoteric means of Yoga. The older practice of meditation as a means obtaining spiritual or magical power as distorted in Tantrism to exorcism, sorcery, and juggling in general. These are mutual relations of hand, mouth, and mind referring to manifestation, incantation, and mental operation thinking of the original Vairocana Buddha.
du già thượng thừa
(瑜伽上乘) Cũng gọi Du già tối thượng thừa. Tiếng tôn xưng Chân ngôn mật thừa. Mật giáo lấy Du già làm tông chỉ, tự cho là tối thượng trong các giáo khác nên gọi là Du già thượng thừa.
du già trung quán tự lập
Yogācāca-Madhyamika-Svatanttrika (S)Phái dung hoà quan điểm giữa Du già phái và Trung quán tự lập phái.
du già tông
Yogāyāna (S), Yogācāra School, Xem Chơn ngôn thừa.
; Yoga sect. Esoteric sect.
; Yogacara or Vijnanavada (skt). (A) Lịch sử thành lập Du Già tông—The history of formation of the Yogacara school: Trường phái Duy Thứ Du Già là một nhánh quan trọng khác của phái Đại Thừa. Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, còn gọi là Du Già phái, tên gọi chung của Mật giáo. Giáo thuyết Du Già do ngài Pantajali sáng lập vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, sau đó được ngài Vô trước thành lập tông phái Du Già vào thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch. Ngài Huyền Trang là một đệ tử và một người bênh vực triệt để cho tông phái nầy (ông đã dịch bộ Du Già Sư Địa Luận của ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát). Nhưng theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Du Già tông được ngài Maitreya hay Maitreyanatha sáng lập vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—The Yogacara school is another important branch of the Mahayana. According to Keith in the Chinese-English Buddhist Terms, tantric or esoteric sect, the principles of Yoga are accredited to Pantajali in second century B.C., later founded as a school in Buddhism by Asanga in the fourth century A.D. Hsuan-Tsang became a disciple and advocate of this school. However, according to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the Yogacara school was founded by Maitreya or Maitreyanatha in the third century A.D. (B) Giáo thuyết và thực hành của Du Già tông—Theory and practice of the Yogacara school: a) Phái Duy Thức Du Già thừa nhận ba cấp độ kiến thức—The Yogacara recognizes three degrees of knowledge—See Ba Cấp Độ Kiến Thức. b) Trường phái nầy có tên là Duy Thức Du Già (Yogacara) vì chú trọng vào việc luyện tập thiền làm phương pháp hữu hiệu nhất để đạt đến chân lý tối cao (bodhi). Phải đi qua 'Thập Địa' của quả vị Bồ Tát mới đạt đến Bồ Đề: The Yogacara was so called because it emphasized the practice of meditation (yoga) as the most effective method for the attainment of the highest truth or bodhi. All the ten stages of spiritual progress (dasa bhumi) of Bodhisatvahod had to be passed through before bodhi could be attained. c) Trường phái nầy còn có tên là Duy Thức vì chủ trương rằng không có gì ngoài ý thức và ý thức là thực tại cuối cùng. Tóm lại, trường phái nầy dạy cho người ta chủ nghĩa duy tâm chủ quan, nghĩa là chỉ có ý tưởng là có thật: The school is also known as the Vijnanavada on account of the fact that it holds nothing but consciousness (vijnaptimatra) to be the ultimate reality. In short, it teaches subjective idealism, or that thought alone is real. d) Tên Du Già (Yogacara) cho thấy rõ khía cạnh thực hành của triết lý nầy, còn tên Duy Thức (Vijnanavada) làm nổi bậc các đặc điểm lý thuyết kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra), một cuốn sách quan trọng của trường phái nầy, cho rằng chỉ có tâm ý (cittamatra) là có thực, còn những vật thể bên ngoài thì không. Những vật thể nầy không có thực, chúng như là mộng mơ ảo ảnh. Tâm ý ở đây khác với A Lại Da thức, vốn chỉ là kho chứa đựng ý thức, tạo đối tượng cho sự đối ngẫu chủ thể và đối tượng: The Yogacara brings out the practical side of philosophy, while the Vijnanavada brings out its speculative features. The Lankavatara Sutra, an important work of this school, maintains that only the mind (cittamatra) is real, while external objects are not. They are unreal like dreams, mirages and 'sky-flowers.' Cittamatra, in this case, is different from alayavijnana which is the repository of consciousness underlying the subject-object duality. e) Cuốn Duy Thức Học của ngài Thế Thân là cuốn sách cơ bản của hệ tư tưởng nầy. Sách bác bỏ mọi sự tin tưởng vào thực tại của thế giới khách quan, cho rằng chỉ có tâm (citta) hay thức (vijnana) mới là thực tại duy nhất, còn trong thức a-lại-da thì có chứa mầm mống các hiện tượng, cả chủ quan và khách quan. Giống như một dòng nước chảy, thức a-lại-da là một dòng ý thức luôn biến động. Khi đã chứng đắc Phật quả thì dòng chảy kia sẽ ngưng lại. Theo Sthiramati, nhà bình giải các tác phẩm của Thế Thân, thì a-lại-da chứa đựng chủng tử của vạn pháp, bao gồm cả các pháp tạo ra bất tịnh. Nói cách khác, vạn pháp hiện hữu trong a-lại-da thức dưới trạng thái tiềm tàng. Các nhà Duy Thức Du Già còn nói rằng người tinh thông tất sẽ hiểu được sự 'không hiện hữu của ngã thể' (pudgala-nairatmya) và sự 'không hiện hữu của vạn vật thế gian' (dharma-nairatmya). Sự không hiện hữu của ngã thể sẽ được thực hiện qua sự xóa bỏ ham muốn (klesavarana), và sự không hiện hữu của vạn vật thế gian sẽ được thực hiện qua sự cắt bỏ bức màn che phủ chân kiến thức (jneyavarana). Cả hai kiểu không thực tại nầy (Nairatmya) đều rất cần thiết để đi đến giải thoát: Vasubandhu's Vijnaptimatrata-siddhi is the basic work of this system. It repudiates all belief in the reality of the objective world, maintaining that citta or vijnana is the only reality, while the alyavijnana contains the seeds of phenomena, both subjective and objective. Like flowing water, alayavijnana is a constantly changing stream of consciousness. With the realization of Buddhahood, its course stops at once. According to Sthiramati, the commentator on Vasubandhu's works, alya contains the seeds of all dharmas including those which produce impurities. In other words, all dharma exist in alayavijnana in a potential state. The Yogacarins further state that an adept should comprehend the non-existence of self (pudgala-nairatmya), and the non-existence of things of the world (dharma-nairatmya). The former is realized through the removal of passions (klesavarana), and the latter by the removal of the veil that covers the true knowledge (jneyavarana). Both these nairatmyas are necessary for the attainment of emancipation. (C) Sự phát triển của Du Già tông—The development of the Yogacara school: Các luận sư nổi tiếng của trường phái nầy là Vô Trước là Vô Trước và Thế Thân vào thế kỷ thứ tư, An Huệ và Trần Na vào thế kỷ thứ năm, Pháp trì và Pháp Xứng vào thế kỷ thứ bảy, Tịch Hộ và Liên Hoa Giới vào thế kỷ thứ tám, vân vân tiếp tục sự nghiệp của người sáng lập bằng những tách phẩm của họ và đã đưa trường phái nầy đến một trình độ caoTrường phái nầy đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng trong thời kỳ của Vô Trước và Thế Thân. Tên gọi Du Già Hành Tông là do Vô Trước đặt, còn tên Duy Thức thì được Thế Thân xử dụng—Noted teachers in the school such as Asanga and Vasubandhu in the fourth century, Sthiramti and Dinnaga in the fifth century, Dharmapala and Dharmakirti in the seventh century, Santaraksita and Kamalasila in the eighth century, etc. These famous monks continued the work of the founder by their writings and raised the school to a high level. The school reached its summit of its power and influence in the days of Asanga and Vasubandhu. The appellation Yogacara was given by Asanga, while the term Vijnanavada was used by Vasubandhu.
; (瑜伽宗) Cũng gọi Du già phái. I. Du già tông. Tại Ấn độ, tông Duy thức được gọi là tông Du già, là học phái theo giáo thuyết của luận Du già sư địa. Trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, phái này đối lại với phái Trung quán, tôn bồ tát Di lặc làm vị Sơ tổ, ngài Vô trước thừa kế. Về sau, có các ngài Thế thân, Trần na, Thân thắng, Hỏa biện, An tuệ, Giới hiền, Trí quang v.v... nối nhau phát huy ý chỉ Tam tính trung đạo, đề xướng quán hành lí Vạn pháp duy thức để ngộ nhập tính chân như. Về sau, khi được truyền vào Trung quốc, tông này dần dần chia thành ba tông: Địa luận, Nhiếp luận và Pháp tướng. Trong đó, tông Pháp tướng thịnh hành hơn cả. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 của ngài Nghĩa tịnh (Đại 54, 205 hạ) chép: Nói về Đại thừa, thì không ngoài hai phái Trung quán và Du già. (xt. Du Già Phái). II. Du già tông. Tên gọi khác của Mật giáo (tông Chân ngôn). Đôi khi chỉ riêng cho tông nghĩa của Thai tạng giới (gọi là tông Đại nhật), để đối lại với tông nghĩa của Kim cương giới (gọi là tông Kim cương đính).
du già yết ma
Yogā-karman (S).
; (瑜伽羯磨) Phạm:Yogakarman. Tác pháp thụ giới gọi là yết ma. Du già yết ma chỉ cho tác pháp thụ giới (làm phép trao giới) nói trong luận Du già sư địa được các nhà Pháp tướng ba thừa trao truyền cho nhau.
du già đại giáo vương kinh
Xem Du già kinh.
du hoá
(游化) Du phương hành hóa. Nghĩa là đi các nơi để nói pháp giáo hóa. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 36 (Đại 2, 748 hạ), chép: Có một thời, đức Phật ở trong vườn Nại kì gần thành Tì xá li cùng với 500 vị Đại tỉ khưu lần lần đi du hóa trong nhân gian. (xt. Du Hí Thần Thông).
du hành
To roam, wander, travel. Cuộc du hành, journey, trip, tour, voyage.
; To travel—To roam—To wander.
; (游行) Nghĩa là đi khắp các nơi để tham thiền nghe pháp, hoặc nói pháp giáo hóa. Cũng gọi Phi tích, Du phương, Thiền tông gọi là Hành cước. Tăng sĩ du hành với mục đích như trên gọi chung là Tăng hành cước. Hữu bộ tì nại da Xuất gia sự quyển 3 nói: Tỉ khưu từ năm hạ (an cư) trở lên đã biết rõ thế nào là phạm, không phạm, thế nào là tội nặng, tội nhẹ, lại có thể giữ gìn Bát lạt để mộc xoa và tuyên giảng thì được phép du hành trong nhân gian, tùy nơi tham học. Nhưng, nếu chưa đủ năm hạ, thì dù có am hiểu Tam tạng đi nữa cũng không được phép du hành. Còn kinh Tăng nhất a hàm quyển 25 thì nói: Người trường kì du hành có năm điều bất lợi: 1. Không tụng được giáo pháp. 2. Quên mất giáo pháp đã tụng. 3. Ý không định được. 4. Tam muội đã được lại quên mất. 5. Nghe pháp mà không giữ được. [X. Trung a hàm Q.5 kinh Sư tử hống; Trường a hàm Q.1 kinh Đại bản; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Hành Cước).
du hành thượng nhân
(游行上人) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Du hành là đi khắp bốn phương để truyền pháp giáo hóa. Tổ khai sáng Thời tông của Nhật bản là ngài Nhất biến đi các nước, niệm Phật giáo hóa, người đương thời gọi ngài là Du hành thượng nhân. Về sau, các vị trụ trì Tổng bản sơn (chùa Trung tâm) của thời Tông cũng bắt chước ngài Nhất biến và lấy việc du hành làm tông phong. Bởi vậy, những vị trụ trì ấy cũng được gọi là Du hành thượng nhân.
du hí quan âm
(游戲觀音) Một trong 33 vị hóa thân Quan âm, có thể du hí tự tại, không bị trở ngại, tương đương với hóa thân bồ tát Quan thế âm trong phẩm Phổ môn của kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ): Hoặc bị người ác đuổi, rơi xuống núi Kim cương, nhờ sức niệm Quan âm, không mảy may thương tổn. Hình tượng ngài ngồi trên áng mây bay, tay phải chống đỡ, tay trái đặt trên đầu gối.
du hí tam muội
(游戲三昧) Tam muội là tam ma địa, tên khác của Thiền định, tức là tâm chuyên chú vào một cảnh. Du hí tam muội cũng như đùa giỡn một cách vô tâm, nghĩa là tâm không dính mắc, không bị lôi kéo, nhậm vận tự như, được tự tại đối với các pháp. Cũng tức là đạt được không, vô sở đắc, tiến lui tự do tự tại, không một mảy may vướng mắc. Lục tổ đàn kinh phẩm Đốn tiệm (Đại 48, 358 hạ) nói: Người đã thấy tính thì có lập cũng được, không lập cũng được, đi lại tự do, không động không ngại, tùy thời ứng dụng, tùy hỏi mà đáp, hóa thân khắp nơi, không lìa tự tính, tức là được tam muội du hí thần thông tự tại, ấy gọi là thấy tính.
du hí thần thông
(游戲神通) Nghĩa là Phật và Bồ tát dùng sức thần thông hóa độ chúng sinh mà tự vui. Hí là tự tại, vô ngại, hàm ý du hóa, du hành. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 110 hạ), nói: Hí là tự tại, như sư tử chơi giỡn giữa bầy hươu nai một cách tự tại không sợ, cho nên gọi là hí. Chú duy ma cật kinh quyển 5 (Đại 38, 371 thượng), chép: Thập nói (...) thần thông tuy lớn, người có thần thông thì cho là dễ, đối với ta không khó, cũng như chơi giỡn (hí) vậy (...) Triệu nói: Thần thông du hí giáo hóa người, lấy đó tự vui. Phật và Bồ tát ở trong thần thông đi lại tự tại, vào ra không ngại, cũng như chơi giỡn, cho nên gọi là hí. Ngoại đạo và Nhị thừa cũng có thần thông, nhưng còn bị ngăn ngại nên không gọi là du hí. Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch đời Đường) có nêu 10 thứ du hí của Bồ tát. Ngoài ra, trong các sách Thiền thường dùng các từ ngữ du hóa, du hí thần thông, du hành v.v...
du hóa
To go about preaching and converting men.
; Du hành khắp chốn để giáo hóa chúng sanh—To go about teaching and converting sentient beings.
du hý
Vikrìdita (S). To roam for pleasure; to play, sport, amuse, enjoy.
; Vikridita (skt)—Nguyên nghĩa là đi tìm niềm vui. Đây là một khái niệm quan trọng miêu tả cuộc sống của một vị Bồ Tát thoát khỏi mọi hình thức câu thúc và cưỡng ép. Nó giống như đời sống của loài thiên nga trên không trung và của loài hoa huệ ngoài đồng. Tuy vật, ngài lại có một tấm lòng từ bi rộng lớn luôn vận hành một cách tự tại và viên mãn—Literally means sportive (to entertain play, or sport, to amuse, or to roam for pleasure). This is an important conception describing the life of a Bodhisattva, which is free from every form of constraint and restraint. It is like that of the swans in the air and the lilies of the field. And yet there is in him a great compassionate heart functioning all the time freely and self-sufficiently.
du hý nhân gian
To enjoy life.
du hý tam muội
Chuyên tâm của chư Phật và chư Bồ Tát là cứu độ chúng anh thoát khổ—The resolve of Buddhas and Bodhisattvas is to save sentient beings.
du hý thần thông
The supernatural powers in which Buddhas and bodhisattvas indulge, or take their pleasure.
; Chư Phật và chư Bồ Tát dùng thần thông giáo hóa chúng sanh thoát khổ—The supernatural powers in which Buddhas and Bodhisattvas indulge, or take their pleasure.
du hư không thiên
To roam in space, as do the devas of the sun, moon etc.
; 1) Du hành trong hư không, như các Nhật Thần, Nguyệt Thần, hay Tinh Tú Thần: To roam in space, as do the devas of the sun, moon, stars, etc. 2) Tứ Thiền Thiên: The four upper devalokas.
du khách
Tourist.
du kiện đà la
Yugandhara (skt)—See Du Kiện Đạt La.
du kiện đạt la
Yugandhara (skt)—Du Xà Na. 1) See Do Tuần in Vietnamese-English Section, and Yojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Tên một ngọn núi ở bắc Thiên Trúc (trên đỉnh có hai mô tròn giống như hai vết bánh xe nên có tên như vậy): Name of a mountain in north India. 3) Vòng núi đầu tiên trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu Di: The first of the seven concentric circles around Meru.
du kiện đạt la sơn
(逾健達羅山) Phạm:Yugaôdhara. Một trong bảy núi vàng. Cũng gọi Do càn đà la sơn, Du kiền đà la sơn, Thụ cự đà la sơn, Dụ hán đa sơn. Gọi tắt: Kiền đà sơn. Vì trên đỉnh núi có hai đường rãnh giống như dấu bánh xe nên còn được dịch là Trì song. Núi này được cấu tạo bằng vàng ròng, ở trong cùng của bảy núi vàng, ở giữa khoảng núi Tu di và núi Thiết vi, cách núi Tu di tám vạn do tuần. [X. luận Câu xá Q.11; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Thất Kim Sơn).
du kỳ kinh
Vajrasekharavimāna-sarva-yogayogi-śŪtra (S)Kim Cang Phong Lâu Các Nhất thiết Du già Du kỳ kinh Xem Kinh Kim Cang Phong lâu cát nhất thiết Du già kỳ Tên một bộ kinh
Du kỳ kinh 瑜祇經
[ja] ユギキョウ Yugi kyō ||| ; see Jingangfeng louge yiqie yuqie yuqi jing 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經 (T 867.18.253-269). => Xem Kim cương phong lâu các nhất thiết du-già du kỳ kinh (c: Jingangfeng louge yiqie yuqie yuqi jing 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經).
du lan già tội
Aniyada (S).
du lâm quật
(榆林窟) Hang đá trên vách núi ở hai bờ sông Du lâm cách huyện An tây tỉnh Cam túc 75 cây số về phía tây nam, tục gọi là Vạn Phật hạp (hạp.. : hai bên là núi, ở giữa là sông), một chi nhánh nghệ thuật hang đá Mạc cao ở Đôn hoàng. Hiện nay ở đây còn 41 hang đá, rải rác trên hai sườn núi, phía đông 30 hang, phía tây 11 hang. Niên đại đục mở những hang này ước vào khoảng thời Bắc triều, muộn hơn hang đá Mạc cao. Những hang hiện còn đến nay, phần nhiều được mở vào thời Ngũ đại và đầu đời Tống, số này chiếm đến quá nửa. Về những di vật trong quần thể nghệ thuật hang đá này thì chủ yếu là những bức tranh vẽ trên vách, trong đó, đẹp nhất là hai bức biến tướng Tây phương tịnh độ và biến tướng Di lặc trong hang số 25.
du mục
Normadic life.
du na thế giới quốc
(臾那世界國) Phạm: Yavana-loka. Danh từ chuyển lầm từ tiếngPàli: Yona-loka và tiếng Hi lạp: Ionia. Cũng gọi Dư ni quốc, Dụ ni quốc Du nặc quốc, Dạ bà na quốc, Dạ ma na quốc, Da bàn na quốc. Tên một nước xưa ở mạn Tây bắc Ấn độ, tức là nước Đại hạ (Bactria). Vào thế kỷ thứ IV trước Tây lịch, từ khi đại đế Á lịch sơn (Alexander) đông chinh về sau, nước này do vị tướng lãnh của ông tên là Tắc lưu ca tư (Seluckos) quản trị. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 (Đại 24, 685 hạ), nói: Đại đức Ma ha lặc khí đa đến nước Du na thế giới giảng kinh Ca la la ma. Giảng xong trong, nước có bảy vạn ba nghìn người đạt đạo quả, một nghìn người xuất gia, nhân đó, ở Du na thế giới Phật pháp được lưu thông. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Trung a hàm Q.37; luận A tì đàm tì bà sa Q.41].
du ngoạn
To make an excursion.
du nhập
To import.
du phương
To wander from place to place.
; Đi từ nơi nầy đến nơi khác (để hoằng hóa), chứ không dừng trụ lại nơi nào—To wander from place to place.
du phương tăng
Itinerant bonze.
; (游方僧) Vị tăng vân du bốn phương để tham thiền cầu đạo. Cũng gọi Hành cước tăng, Du phương đầu đà, Vân thủy tăng. Thích thị yếu lãm quyển hạ dẫn luật Tì nại da chép, đức Thế tôn thường nói nếu tỉ khưu đã thành tựu năm pháp và đủ năm lần kết hạ an cư thì được phép rời chỗ mình nương tựa để du hành trong nhân gian. [X. Tổ đình sự uyển Q.8]. (xt. Hành Cước).
du sơn
To go from monastery to monastery; ramble about the hills.
; Du hành từ tự viện nầy sang tự viện khác, chứ không trụ trì một chỗ cố định—To go from monastery to monastery; ramble about the hills.
du thuyết
To go about to talk or to preach a doctrine.
du thạch
(俞石) Một loại hợp kim do đồng và lô cam thạch luyện thành, có thể dùng để làm tượng Phật hay các đồ thờ Phật. Phạm ngữ tạp danh nêu tiếng Phạm của du thạch làRìti, âm Hán là Lí để. Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì nêu tiếng Phạm của du thạch là Ràcakah. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 nói rằng du thạch là loại bạch kim đứng sau vàng. Đại đường tây vực kí quyển 5 mục Yết nhã cúc xà quốc chép, nước Yết nhã cúc xà có tượng Phật bằng du thạch. Cũng sách đã dẫn quyển 7 mục Bà la ni tư quốc nói, ở chùa Lộc dã cách sông Bà la ni hơn 10 dặm về phía đông bắc có tượng Phật bằng du thạch. Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 12 Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập cũng ghi (Đại 55, 92 trung): Nước Lâm ấp dâng tượng Phật Vô lượng thọ bằng du thạch.
du thời
Vượt quá mức thời gian ấn định—To exceed the time.
du tiên
To pass away, to go to heaven.
du tuần
Yojana (skt)—See Do Tuần.
du tâm
Intention to steal.
du tâm an lạc đạo
(游心安樂道) Có 1 quyển, do ngài Nguyên hiểu của Tân la (nay là nước Triều tiên) soạn, thu vào Đại chính tạng tập 47 và quyển thứ 6 trong Tịnh độ tông toàn thư. Nội dung nói rõ sự yên vui ở Tịnh độ và nhân duyên vãng sinh. Tất cả chia làm bảy môn: 1. Trình bày về tôn chỉ lập tông. 2. Xác định sự tồn tại của nước kia (tức là có cõi Tịnh độ). 3. Nói rõ các chướng nạn vì mang lòng nghi ngờ. 4. Nói rõ nhân duyên được sinh về Tịnh độ cực lạc. 5. Nêu ra những phẩm số vãng sinh. 6. Bàn về vãng sinh khó hay dễ. 7. Khởi ngờ vực và trừ hoài nghi. Sách này xưa nay rất thịnh hành trong giới người tu Tịnh độ.
du tâm pháp giới
A mind free to wander in the realm of all things.
; Để cho tâm tự tại chu du trong pháp giới như trong hư không mà không bị vướng mắc, để thấy rõ thiên sai vạn biệt, ấy là tâm giải thoát—A mind free to wander in the realm of all things; that realm as the realm of liberated mind.
du tăng địa ngục
The sixteen subsidiary hells of each of the eight hot hells.
; Mười sáu địa ngục phụ của mỗi Bát Nhiệt Địa Ngục (trong Bát Nhiệt Địa Ngục, thì từng địa ngục lớn lại có 16 địa ngục nhỏ. Ngoài mỗi bên thành địa ngục nóng lớn có bốn nơi gọi là lô ổi tăng, thi phẩn tăng, phong nhận tăng, và liệt hà tăng, như vậy bốn bên có 16, và tổng cộng tám địa ngục lớn có 128 “du tăng địa ngục.” Sở dĩ gọi là “du tăng” vì đi từ nơi nầy qua nơi kế tiếp thì hình phạt ngày càng tăng)—The sixteen subsidiary hells of each of the eight hot hells.
; (游增地獄) Cứ theo luận Câu xá quyển 11 chép, thì ở phía dưới châu Nam thiệm bộ có tám địa ngục nóng rất lớn. Bốn mặt của mỗi địa ngục có bốn cửa, bên ngoài bốn cửa đều có bốn địa ngục: Lô ổi tăng (Phạm: Kukùla, thêm lò nướng), Thi phẩn tăng (Phạm: Kunapa, thêm xác chết và phân), Phong nhận tăng (Phạm: Asidhàrà, thêm mũi nhọn), Liệt hà tăng (Phạm: Kwàra-madi, thêm sông nóng). Như vậy, tám địa ngục nóng có 16 địa ngục Du tăng, tổng cộng 128 Du tăng địa ngục. Vì những chúng sinh có tội bị rơi (đi chơi = du) vào những địa ngục này thì sự khổ não tăng lên gấp bội, cho nên gọi là Du tăng địa ngục.
du việt
Vượt qua—To pass over.
du đa la tăng già
Uttarasanga (skt)—See U Đa La Tăng Già.
du đạo, thu đạo
Steal, rob; one of the ten sins.
Du-già
瑜伽; S, P: yoga; nguyên nghĩa »tự đặt mình dưới cái ách«;|Có nghĩa là phương pháp để đạt tiếp cận, thống nhất với »Tuyệt đối«, »Thượng Ðế« Vì có nhiều cách tiếp cận nên Du-già là một khái niệm rất rộng.|Ngay trong Ấn Ðộ giáo, người ta đã kể nhiều cách khác nhau phù hợp với căn cơ của mỗi hành giả. Các quan niệm đạo lí tại phương Tây, nhất là sự tiếp cận với Thượng Ðế cũng chính là Du-già, đó là Hành động vị tha du-già (karmayoga), Thương yêu (Thượng Ðế) du-già (bhaktiyoga), Trí huệ du-già (jñāna-yoga)|Tại phương Tây, ngày nay nói đến Du-già là người ta nghĩ đến Ha-ṭha du-già (tập luyện thân thể), phối hợp với phép niệm hơi thở. Phương pháp Du-già thân thể này, đối với Ấn Ðộ, chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một Du-già thuộc về tâm thức sau này, đó là các phép thiền quán khác nhau.|Du-già không phải phương pháp riêng tư của tư tưởng Ấn Ðộ. Tất cả mọi hoạt động, từ những phép tu huyền hoặc tại châu Á đến các buổi cầu nguyện trong nhà thờ Thiên chúa giáo đều có thể gọi là Du-già. Trong đạo Phật, thiền và các phép tu theo Tan-tra cũng được gọi là Du-già và các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) như Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là Du-già sư (s: yogin).
Du-già hành phái 瑜伽行派
[ja] ユガギョウハ Yugagyō ha ||| The Yogācāra ("yoga practice") school of Indian Buddhism. The founders of this school, Maitreyanātha 彌勒, Asaṅga 無著, and Vasubandhu 世親, explained a course of practice wherein hindrances were removed according to a sequence of stages, from which it gets its name. Yogācāra becomes much better known, however, not for its practices, but for its rich development in metaphysical and psychological theory. The Yogācāra thinkers took the theories of the body-mind aggregate of sentient beings that had been under development in earlier Indian schools such as the Sarvāstivāda 有部, and worked them into a more fully articulated scheme of eight consciousnesses 八識, the most important of which was the eighth, or ālaya (store) consciousness 阿頼耶識. The store consciousness was explained as the container for the karmic impressions (called "seeds" 種子), received and created by sentient beings in the course of their existence. These seeds, maturing in the course of future circumstances, show much parallel to modern understandings of genes. Thus, the thinkers of this school attempted to explain in detail how karma actually operates on a concrete, personal level. Included in this development of consciousness theory, is the notion of conscious construction--that phenomena that are supposedly external to us cannot exist but in association with consciousness itself. This notion is commonly referred to as "consciousness-only" 唯識. The Yogācāra school is also known for the development of other key concepts that would hold great influence not only within their system, but within all forms of later Mahāyāna. These include the theory of the three natures 三性 of the completely real, dependently originated, and imaginary, which are understood as a Yogācāra response to the Mādhyamika 中觀派 two truths 二諦. Yogācāra is also the original source for the theory of the three bodies 三身 of the Buddha, and depending on precedents in Abhidharma literature, also helped to greatly develop the notions of categories of elemental constructs 百法, path theory 五位, and the two hindrances to liberation 二障. The most fundamental early canonical texts that explain Yogācāra doctrine are scriptures such as the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, the Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經, and treatises such as the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論, and Prakaranāryavāca-śāstra 顯揚論. Yogācāra was transmitted to East Asia, where it received the somewhat pejorative appellation of "Dharma-characteristic 法相 school." => Là một tông phái Phật giáo Ấn Độ. Những vị sáng lập tông nầy là Di-lặc (Maitreyanātha 彌勒), Vô Trước (Asaṅga 無著) và Thế Thân (Vasubandhu 世親), giảng giải pháp tu tập trong đó các chướng ngại được chuyển hoá theo từng giai vị, từ đó, tông nầy được mang tên như vậy. Du-già hành phái trở nên nổi tiếng không phải do phương pháp thực hành mà do lý thuyết về siêu hình học và tâm lý học phát triển của nó. Các nhà tư tưởng thuộc Du-già hành phái nhận giáo lý về hợp thể thân tâm của con người đã được phát triển ảt thơid cổ đại Ấn Độ như Hữu bộ (s: Sarvāstivāda 有部) và khai thác chúng thành một hệ thống hoàn chỉnh của tám thức (八識), quan trọng nhất là thức thứ 8, hay A-lại-da thức. Thức được giải thích như là nơi chứa đựng các hạt giống nghiệp (gọi là chủng tử種子), được thụ nhận và tạo tác bởi chúng sinh trong quá trình hiện hữu của họ. Những hạt giồng nầy, chín nuồi trong quá trình biễn biến tương lai, biểu hiện có nhiều điểm tương đồng với nhânh thức về 'gen' trong thời hiện đại. Như vậy, các nhà tư tưởng thuộc Du-già hành phái đã cố gắng giải thích chi tiết làm thế nào mà nghiệp vận hành thực tế bằng cách rất cụ thể và trực tiếp. Bao gồm theo sự phát triển giáo lý về các thức nầy, là ý niệm về cấu trúc của thức–các hiện tượng được coi là bên ngoài chúng ta không thực sự hiện hữu, mà chỉ là sự liên tưởng từ chính cơ cấu của thức. Ý niệm nầy thường được gọi là Duy thức 唯識. Du-già hành phái còn được biết nhờ sự phát triển từ những ý niệm then chốt khác vốn đã giữ ảnh hưởng quan trọng không chỉ riêng trong hệ thống Duy thức, mà trong mọi hệ thống Đại thừa sau nầy. Gồm giáo lý Tam tính 三性, Viên thành thật, Y tha khởi, và biến kế sở chấp, được hiểu đó là sự đáp lại của Du-già hành phái đối với Nhị đế của Trung quán phái. Du-già hành phái cũng là nguồn gốc xuất phát của giáo lý Tam thân Phật, dựa vào tiền đề trong văn học A-tỳ-đạt-ma, và còn được sự hỗ trợ lớn từ sự phát triển các ý niệm về Bách pháp, Ngũ vị và Nhị chướng. Những kinh văn sớm nhất giải thích giáo lý Du-già hành phái là kinh Thắng Man(s: Śrīmālā-sūtra 勝鬘經), kinh Giải thâm mật (k: Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經), Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論) và Hiển dương luận (s: Prakaranāryavāca-śāstra 顯揚論). Du-già hành phái được truyền sang Á Đông, nơi đó, nó nhận được danh xưng có chút miệt thị là Pháp tướng tông.
Du-già hành tông
瑜伽行宗; S: yogācāra;|Một tên khác của Duy thức tông. Danh từ này được Vô Trước (s: asaṅga) sử dụng trong các tác phẩm của mình vì có lẽ Sư đặc biệt chú trọng đến việc thực hành Du-già. Danh từ Duy thức (s: vijñāptimātratā) hoặc Thức học (s: vijñānavāda) thường được Thế Thân (s: vasubandhu) sử dụng.
Du-già luận ký 瑜伽論記
[ja] ユガロンキ Yugaron ki ||| Yuqielun ji; 48 fasc. by Dunlun 遁倫. T 1828.42.311a-868b. => (c: Yuqielun ji); 48 quyển, của Độn Luân (c: Dunlun 遁倫).
Du-già luận thích 瑜伽論釋
[ja] ユガロンシャク Yugaron shaku ||| The Yuqielun shi Abbreviated title for the 瑜伽師地論釋. => (c: Yuqielun shi). Viết tắt của Du-già sư địa luận thích 瑜伽師地論釋.
Du-già luận 瑜伽論
[ja] ユガロン Yugaron ||| The Yuqie lun An abbreviation of 瑜伽師地論T 1579.30.279-882. => Viết tắt của Du-già sư địa luận 瑜伽師地論.
Du-già sư
瑜伽師; S: yogi, yogin, sādhaka, tantrika; hoặc Du-già tăng;|Chỉ người tu tập Du-già (s: yoga), đặc biệt là những người tu tập theo các Tan-tra, danh từ dùng cho nữ giới là Du-già ni (s: yoginī).|Thật sự thì không có sự khác biệt nào giữa một Du-già sư và một Tỉ-khâu về mặt tu tập thực hiện thiền định, nhưng danh từ Du-già sư thường được dùng để chỉ những người tu tập »tự do« hơn, không Thụ giới tỉ-khâu và cũng không sống cố định trong một Tinh xá.
Du-già sư địa luận
瑜伽師地論; S: yogācārabhūmi-śāstra;|Tác phẩm cơ bản của Duy thức và Pháp tướng tông, tương truyền do Vô Trước (s: asaṅga) viết theo lời giáo hoá của Bồ Tát Di-lặc (s: maitreya), đức Phật tương lai. Có người cho rằng tác phẩm này của Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha), một ứng thân của Di-lặc trong thế kỉ thứ 5. Ðây là một bộ luận tầm cỡ nhất của đạo Phật, trình bày toàn bộ giáo lí của Duy thức tông.|Ngày nay nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) chỉ còn một phần, nhưng toàn bộ bằng chữ Hán và chữ Tây Tạng vẫn còn được lưu giữ. Nổi danh nhất là bản dịch của Huyền Trang, bao gồm 100 quyển.|Tác phẩm này được viết bằng văn vần và chia làm 5 phần: 1. Bản địa phần (s: yogācarābhūmi): bao gồm 17 »địa«, tức là những cảnh giới thiền quán Du-già cấp bậc tu tập của một Bồ Tát (xem Thập địa) để tiến đến giác ngộ, là phần chính của luận; 2. Nhiếp quyết trạch phần (s: nirṇayasaṃgrahavini-ścayasaṃgrahaṇī): luận giải sâu xa về các địa; 3. Nhiếp thích phần (s: vivaraṇasaṃgraha), giải thích các bộ kinh làm căn bản cho luận này; 4. Nhiếp dị môn phần (s: paryāyasaṃgraha), giải thích sự sai biệt về danh nghĩa của các pháp được nêu trong các kinh đó; 5. Nhiếp sự phần (s: vastusaṃgraha), luận giải về Tam tạng.
Du-già sư địa luận thích 瑜伽師地論釋
[ja] ユガシジロンシャク Yugashijiron shaku ||| The Yuqieshidilun shi Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā (Explanation of the Stages of Yoga Practice Treatise). One fascicle, T 1580.30.883-887. By Jinaputra 最勝子, translation by Xuanzang 玄奘. A commentary on the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論. There is a Sanskrit edition, translated into French by Sylvain Ly, 2 vols., Paris, 1911. => (c: Yuqieshidilun shi Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā; e: Explanation of the Stages of Yoga Practice Treatise). 1 quyển, của Tối Thắng Tử (k: Jinaputra 最勝子); Huyền Trang dịch. Là giải thích về Du-già sư địa luận. Có bản tiếng Sanskrit, Sylvain Ly dịch sang tiếng Pháp gồm 2 quyển, Paris, 1911.
Du-già sư địa luận 瑜伽師地論
[ja] ユガシジロン Yuga shiji ron ||| The Yuqie shidi lun; commonly abbreviated as Yuqielun 瑜伽論. The Yogācāra-bhūmi-śāstra. The "Discourse on the Stages of Concentration Practice." The definitive text of the Yogācāra 瑜伽行派 school of Buddhism. One hundred fascicles, composed in India between 300 and 350 CE; translated into Chinese by Xuanzang 玄奘 between 646-648 at Hongfu and Dacien Monasteries. In East Asia authorship is attributed to Maitreya 彌勒, but Tibetan tradition considers it to have been composed by Asaṅga 無著. Sanskrit and Tibetan version of this text are extant. In the process of explaining the spiritual states, practices and fruits incurred in the course of the seventeen stages leading to Buddhahood, the text delves deeply into discussions of fundamental Yogācāra concepts such as the ālayavijñāna 阿頼耶識, three natures 三性 and three non-natures 三無性, seeds 種子, perfumation 薫, the two hindrances 二障 and mind only 唯識. The text has five major divisions: the first division, which comprises about half the treatise is called the "main stages division" 本地分 and contains seventeen sections which explain three vehicle theory. These are: (1) The stage of the association of the five consciousness and the body 五識身相應地. (2) The stage of the mental consciousness 意地. (3) The stage of investigation and analysis 有尋有伺. (4) The stage of analysis without investigation 無尋唯伺地. (5) The stage of neither investigation nor analysis 無尋無伺地. (6) The stage of samāhita 三摩呬多地. (7) The stage of non-samāhita 非三摩呬多地. (8) The stage of mind 心地. (9) The stage of no-mind 無心地. (10) The stage of completion of that which is heard 聞所成地. (11) The stage of completion of that which is thought 思所成地. (12) The state of completion of that which is practiced 修所成地. (13) The stage of the śrāvaka 聲聞地. (14) The stage of the pratyekabuddha 獨覺地. (15) The stage of bodhisattva 菩薩地. (16) The stage of (nirvana with) remainder 有餘衣. (17) The stage of (nirvana with) no remainder 無餘衣地. The second division of the text 攝決擇分, comprising fascicles 51-80, is a discussion of the problematic points of the seventeen stages discussed in the prior section. The third division 攝釋分 (fasc. 81-82) discusses the positions of the various sutras on these points. The fourth division 攝異門分 (fasc. 82-84) explains the name and meaning of all the dharmas explained in the sutras. The fifth and final section 攝事分 addresses the key points of the Buddhist teaching as found in the Tripitaka. The section on śrāvakabhūmi has been translated from a Sanskrit ms. into English by Wayman; other partial English translations, from the Tibetan version, include Tatz and Willis.T 1579.30.279-882. => (c: Yuqie shidi lun); thường được gọi tắt là Du-già luận (c: Yuqielun 瑜伽論). Là luận văn quan trọng của Du-già hành phái Phật giáo. Gồm 100 quyển, được soạn ở Ấn Độ vào khoảng giữa năm 300 và 350 CE; do Huyền Trang dịch sang tiếng Hán vào giữa năm 646-648 tại chùa Hoằng Phứơc và chùa Từ Ân. Ở Á Đông, tác giả bộ luận nầy được gán cho Ngài Di-lặc (Maitreya 彌勒), nhưng ở Tây Tạng lại cho ngài Vô Trước đã tạo luận ấy. Bản tiếng Sanskrit và tiếng Tây Tạng đều đang còn. Trong tiến trính giải thích các trạng thái tinh thần, sự tu tập và các quả vị diễn ra trong 17 giai đoạn dẫn đến Phật quả, luận văn đã nghiên cứu sâu vào việc thảo luận những khái niệm căn bản của Du-già hành phái như A-lại-da thức, Tam tính, Tam vô tính, Chủng tử, Huân, Nhị chướng, và Duy thức. Luận văn có 5 phần chính: phần đầu bao gồm một nửa chuyên luận được gọi là 'Bổn địa phần', chứa đựng 17 chương giải thích giáo lý tam thừa. Đó là: 1. Ngũ thức thân tương ưng địa. 2. Ý địa. 3. Hữu tầm hữu tư. 4. Vô tầm duy tư địa. 5. Vô tầm vô tư địa. 6. Tam ma tư đa địa. 7. Phi tam ma tư đa địa. 8. Tâm địa. 9. Vô tâm địa. 10. Văn sở thành địa. 11. Tư sở thành địa. 12. Tu sở thành địa. 13. Thanh văn địa. 14. Độc giác địa. 15. Bồ-tát địa. 16. Hữu dư y. 17. Vô dư y địa. Phần 2 của luận là Nhiếp quyết trạch phần 攝決擇分, từ quyển 51-80, là phần thảo luận về những đề tài khó hiểu của 17 địa được ghi trong phần đầu. Phần thứ 3 là Nhiếp trạch phần (quyển 81-82), thảo luận về những luận điểm của các kinh văn về nội dung nầy. Phần thứ tư Nhiếp dị môn phần攝異門分 (quyển 82-84) giải thích danh và nghĩa của các pháp được giảng giải trong các kinh. Phần thứ 5 là phần cuối Nhiếp sự phần攝事分, trình bày những điểm then chốt của Phật pháp trong Tam tạng. Chương Thanh văn địa (s: śrāvakabhūmi) đã được Wayman dịch sang tiếng Anh từ bản tiếng Sanskrit . Tatz và Willis đã dịch từng phần khác sang tiếng Anh từ bản tiếng Tây Tạng.
Du-già tập yếu diệm khẩu phóng thực nghi quỹ 瑜伽集要焰口施食儀軌
[ja] ユカシュウヨウエンクセシキギキ Yugashū yō enku sejiki giki ||| The Yuqie jiyao yankō shi shi yi (Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths). 1 fasc. (T 1320.21.473-484), attributed to Amoghavajra 不空. Ritual text based on the Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths 救拔焰口餓鬼陀羅尼經 (T 1313). => (c: Yuqie jiyao yankō shi shi yi ; e: Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths). 1 quyển, được xem là của Bất Không (Amoghavajra 不空). Nghi quỹ dựa vào cuốn Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà-la-ni kinh救拔焰口餓鬼陀羅尼經.
Du-già 瑜伽
[ja] ユガ yuga ||| (1) A transliteration of the Sanskrit term yoga, indicating a condition of stilling of the mind and accordance with the principle of reality. (2) The Yogācāra school 瑜伽行派, Indian forerunner of the Chinese Faxiang 法相 school of Buddhism. => Phiên âm chữ yoga từ tiếng Sanskrit, chỉ cho trạng thái tâm yên tĩnh khế hợp với bản thể chân như. Du-già hành phái (瑜伽行派e: Yogācāra school), tiền thân của Pháp tướng tông trong Phật giáo Trung Hoa. Du-già đại giáo vương kinh 瑜伽大教王經 ja] ユカダイキョウオウキョウ Yuga daikyōō kyō ||| The Yujia dajiaowang jing; see Wuer pingdeng zuishang yuqie dajiaowang jing 無二平等最上瑜伽大教王經 => (c: Yujia dajiaowang jing); xem Vô nhị bình đẳng tối thượng Du-già đại giáo vương kinh (c: Wuer pingdeng zuishang yuqie dajiaowang jing 無二平等最上瑜伽大教王經).
Du-lan-già
(Sthltyayas), cũng đọc là Thâu-lan-già, dịch nghĩa là Tác đại chướng thiện đạo (作大障善道), chỉ những tội được xếp dưới bốn tội Ba-la-di và 13 tội Tăng-tàn.
du-thiện-na
xem do-diên.
Du-đầu-đàn
(輸頭檀): phiên âm từ tiếng Phạn là Suddhodana, tức là vua Tịnh Phạn.
dua nịnh
To flatter
dung
1) Dung chứa: To conain—To bear. 2) Dung dị: Dễ dàng—Easy. 3) Dung mạo: Looks—Appearance. 4) Dung túng: To allow. 5) Nấu cho tan chảy ra—Melting—Blending—Combining.
dung bản mạt
(融本末) Dung hợp gốc ngọn. Đối lại với Phân chư thừa .(chia các thừa). Tiếng dùng trong phán giáo của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm chia giáo pháp một đời của đức Phật làm hai loại: Tam thừa và Nhất thừa. Nhất thừa lại chia ra Đồng giáo và Biệt giáo, lấy ý chỉ chủ yếu của kinh Pháp hoa là Hội tam qui nhất (họp ba về một), làm Đồng giáo nhất thừa. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, khi giải thích về Đồng giáo nhất thừa, ngài Pháp tạng - Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm - lại thiết lập hai môn: Phân chư thừa và Dung bản mạt. Lấy Phân chư thừa để nói rõ pháp thể của Đồng giáo nhất thừa và lấy Dung bản mạt để làm sáng tỏ danh nghĩa của Đồng giáo nhất thừa. Dung bản mạt tức là danh nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất thừa làm gốc (bản), lấy Tam thừa làm ngọn (mạt), rồi dung hợp Tam thừa với Nhất thừa. Sau đó lại mở ra hai môn: 1. Dẫn quyền qui thực môn.......... (môn đưa tạm thời về chân thực), tức là đưa Tam thừa về Nhất thừa, là môn hướng thượng, nghĩa là từ Cơ hướng tới Pháp. 2. Lãm thực thành quyền môn (môn chuyển chân thực thành tạm thời) tức là chuyển Nhất thừa thành Tam thừa, là môn hướng hạ, nghĩa là từ Pháp hướng xuống Cơ. Đưa Quyền về Thực mà không phá hoại Quyền, bởi thế, Tam thừa tức là Nhất thừa, mà không trở ngại Tam thừa. Chuyển Thực thành Quyền mà không khác với Thực, cho nên Nhất thừa tức là Tam thừa, nhưng không ngăn ngại Nhất thừa. Như vậy, Nhất thừa và Tam thừa dung hợp, thể của chúng không hai, đây là nghĩa của Đồng giáo. Sự khác nhau giữa Dung bản mạt của Đồng giáo nhất thừa và Cai nhiếp môn của Biệt giáo nhất thừa là ở chỗ: Dung bản mạt của Đồng giáo nhất thừa thừa nhận bản mạt của Tam thừa và Nhất thừa tuy khác nhau, nhưng vẫn dung hợp. Còn Cai nhiếp môn của Biệt giáo nhất thừa thì không thừa nhận bản mạt của Tam thừa và Nhất thừa có khác nhau, mà coi tất cả pháp Tam thừa xưa nay vốn đều là pháp Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1 phần trên; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).
dung bản ứng thân
(融本應身) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tướng ứng thân của Phật Thích ca dung hợp với uy đức của Phật A di đà mà hiện. Cũng chính là vị giáo chủ của kinh Vô lượng thọ. Đây là luận đề mà Tịnh độ chân tông của Nhật bản thường dùng khi bàn xét về ba bộ kinh: Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà và mối quan hệ giữa ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân v.v..
dung dị
Easy.
Dung dị 容易
[ja] ヨウ yōi ||| Easy, simple, light. => Dễ dàng, đơn giản, nhẹ nhàng.
dung dịch
Solution.
dung hi
(融熙) (1888 - 1959) Người huyện Phiên ngung tỉnh Quảng đông (gốc quê Chiết giang), họ Thang, tự Tuyết quân, hiệu Cửu chỉ đầu đà. Sư tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Quảng đông, nổi tiếng về văn chương và biện luận. Trước khi xuất gia, sư từng giữ các chức vụ như: Hiệu trưởng trường Tiểu học Phiên ngung, Giám đốc sở Giáo dục, Ủy viên hội quĩ tiền tệ Trung ương, Cố vấn ủy viên hội Chính vụ chính phủ Tây nam, Quyền Bí thư xử lí thường vụ ngân hàng tỉnh Quảng đông v.v... Sư còn tổ chức Hội xem kinh Phật giáo Quảng châu, Hội nghiên cứu Phật học Lục nhất, sáng lập Nguỵệt san Viên âm, đồng thời, sư ra sức tìm hiểu ý nghĩa và luyện tập Thiền, hết lòng hộ pháp và bảo vệ tài sản của các chùa viện. Năm Dân quốc 13 (1924), sư lâm bệnh nặng. Năm Dân quốc 36, sư qui y làm đệ tử Hòa thượng Hư vân ở chùa Nam hoa, Việt châu, được đặt pháp hiệu Khoan quân. Về sau, sư đến Thuyên loan Trúc lâm Thiền viện xin y vào pháp sư Dung thu xuất gia, pháp hiệu Dung hi. Năm sau, sư y vào pháp sư Kinh khê ở chùa Linh ẩn, núi Đại tự thụ giới cụ túc. Sau vì Hòa thượng Hư vân viết thư dạy sư là Đạo Phật dời về Nam nên năm Dân quốc 43 (1954) sư từ Hương cảng đến Tân gia ba. Sư thường qua lại Tân gia ba và Cát long pha (Kuala Lumpur) để hoằng pháp và sáng lập Hội nghiên cứu Phật học Mã lai á. Năm Dân quốc 48 (1959), sư tịch ở Cát long pha, thọ 72 tuổi. Sư có các trứ tác: Phật giáo và Thiền tông, Cát đằng tập, Vô tướng tụng giảng thoại, Bách dụ kinh tuyển giảng v.v...
dung hòa
To harmonize.
dung hứa
To allow—To permit.
dung hữu thích
Giải thích kinh điển, dù không phải là nghĩa trực tiếp nhưng có thể chấp nhận được vì chứa đựng chánh nghĩa của kinh điển—An admissable though indirect interpretation; containing that meaning.
; (容有釋) Tức là thừa nhận nghĩa phụ bên cạnh nghĩa chính trong khi giải thích kinh luận. Cũng gọi Dung hữu thuyết.
dung lượng
Content—Capacity.
dung mạo
Countenance—Figure--Face.
Dung Nguyên
(融源, Yūgen, 1147-?): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An, húy là Dung Nguyên (融源), hiệu Ngũ Trí Phòng (五智房), xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]), họ Bình (平). Ông xuất gia và thọ giới tại Cao Dã Sơn, rồi theo hầu Giác Noan (覺鑁) ở Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), học về áo nghĩa của Mật Giáo. Ông có học thức rất sâu rộng và được chúng tăng kính trọng. Ông chán ghét cảnh trần tục nên vào trong núi chuyên tâm tu hành, tương truyền khi khai đàn quán đảnh thì có linh nghiệm. Vào năm 1169, khi Hậu Bạch Hà Thượng Hoàng (後白河法皇) lên tham bái Cao Dã Sơn, Thượng Hoàng có mời ông đến nhưng ông từ chối và tương truyền rằng sau đó đích thân Thượng Hoàng đã đến tận am của ông.
dung ngôn
Trivial words.
dung nhan
Appearance—Countenance.
dung nạp
To accept—To admit.
Dung quang
(融光): hào quang sáng tỏ, ánh sáng rực rỡ. Như trong bài Tương Trung Oán Giải (湘中怨解) của Thẩm Á Chi (沉亞之, 781-832) nhà Đường có câu: “Túy dung quang hề diểu mi, mê thiên lí hề hàm ế mi (醉融光兮渺瀰、迷千里兮涵洇湄, say hào quang chừ xa tít, mê ngàn dặm chừ nước đọng bờ).” Hay trong bài Hòa Tạ Hy Thâm Hội Thánh Cung (和謝希深會聖宮) của Mai Nghiêu Thần (梅堯臣, 1002-1060) nhà Tống cũng có câu: “Nhật nguyệt dung quang thạnh, sơn hà vương khí tăng (日月融光盛、山河王氣增, trời trăng sáng rực rỡ, núi sông vượng khí tăng).”
dung sự tướng nhập duy thức
(融事相入唯識) Là một trong 10 lớp Duy thức do tông Thiên thai thành lập. Nghĩa là do bản thể viên dung vô ngại nên muôn vàn hiện tượng dung hợp vào nhau (tương nhập) mà mỗi hiện tượng vẫn giữ thể tính riêng biệt, rõ ràng phân minh, nhưng không ngăn ngại lẫn nhau. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13] (xt.Thập Trùng Duy Thức).
dung tam thế gian thập thân
(融三世間十身) Cũng gọi Dung tam thế gian thập Phật. Theo tông Hoa nghiêm, khi bồ tát Viên giáo dùng trí hiểu biết chân thực quan sát toàn pháp giới, Bồ tát thấy muôn tượng muôn vật đều là thân Phật cả. Thân Phật ở đây được chia làm 10 thứ gọi chung là Dung tam thế gian thập thân, là một trong hai loại Thập thân của tông Hoa nghiêm. Mười thân là: 1. Chúng sinh thân: chỉ cho chúng sinh trong sáu đường. 2. Quốc độ thân: nơi cư trú của chúng sinh trong sáu đường. 3. Nghiệp báo thân: nghiệp nhân cảm quả sinh ra thân chúng sinh hoặc thân quốc độ. 4. Thanh văn thân: người tu quán bốn đế cầu Niết bàn. 5. Độc giác thân: người tu quán 12 nhân duyên cầu Niết bàn. 6. Bồ tát thân: người tu sáu độ cầu chính giác. 7. Như lai thân: thân Phật tròn đầy tu hành ở nhân vị. 8. Trí thân: thân Phật có đủ thực trí năng chứng. 9. Pháp thân: thân Phật có đủ chân lí sở chứng. 10. Hư không thân: thực thể bao trùm pháp giới, che khắp chúng sinh. Ba thân trước trong 10 thân trên đây thuộc phần nhiễm (nhơ nhớp), thân thứ 4 đến thứ 9 thuộc phần tịnh (trong sạch); thân Hư không thứ 10 thì lìa các tướng nhiễm, tịnh, hữu, vô, và là chỗ nương của hai phần nhiễm, tịnh. Lại nữa, thân Quốc độ trong 10 thân tức là Quốc độ (khí) thế gian; thân chúng sinh thứ nhất và thân thứ 3 đến thứ 6, là Chúng sinh thế gian; thân thứ 7 đến thứ 10 là Trí chính giác thế gian. Mười thân này dung nhiếp các pháp của ba thế gian mà là thể của Tì lô chính giác, nên gọi là Dung tam thế thập thân. Ngoài ra, nhờ 10 thân này mà hiểu biết được cảnh sở tri của giác thể Phật tì lô giá na, nên cũng gọi là Giải cảnh thập thân. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.27; thập địa kinh luận Q.10; Hoa nghiêm kinh Thám huyền kí Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm huyền đàm Q.30].
dung thân
To take refuge in—Dung thân nơi cửa Phật: To take refuge in the temple.
dung thông
Trộn cái này với cái kia cho hòa hợp nhau không còn sai biệt—To blend—To combine—To mix—To assemble—To unite.
; (融通) Dung hợp thông suốt hoàn toàn không trở ngại. Cùng nghĩa với tương tức tương nhập. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 14 (Đại 47, 775 hạ), nói: Đức sơn đánh, Lâm tế hét đều đưa đến triệt ngộ vô sinh, thấu suốt ngọn nguồn, dung thông tự tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.7].
dung thông niệm phật duyên khởi
(融通念佛緣起) Gồm 2 quyển, do ngài Lương trấn, người Nhật bản, soạn. Cũng gọi Dung thông duyên khởi, Dung thông đại niệm Phật duyên khởi. Nội dung chủ yếu trình bày tông nghĩa của tông Dung thông niệm Phật và tiểu sử của ngài Lương nhẫn, vị tổ khai sáng của tông này, có phụ thêm tranh vẽ. Sách này hiện còn hai loại bản: 1. Bản của chùa Thanh lương ở Tha nga, tương truyền bắt đầu được soạn từ năm Ứng vĩnh 21 (1414) cho đến 30 năm sau mới xong, lời văn của Thiên hoàng Hậu tiểu tùng và các công khanh, tướng quân như Túc lợi nghĩa trì v.v... còn tranh do các ông Hạnh quảng, Hạnh tú, Quang quốc, Tịch tế, Vĩnh xuân v.v... vẽ. 2. Bản của chùa Thiền lâm, tranh do Thổ tá Quang tín dựa theo bản của chùa Thanh lương mà vẽ vào năm Khoan chính thứ 4 (1463), còn lời văn thì do Thiên hoàng Hậu hoa viên và các Tướng quân soạn. [X. Nhật bản ấn thư khảo Q.2; Nhật bản quốc bảo toàn tập tập 32].
Dung Thông Niệm Phật Tông
(融通念佛宗, Yūzūnembutsushū): một trong 13 tông phái lớn của Nhật Bản, còn gọi là Đại Niệm Phật Tông (大念佛宗). Vị Tông Tổ sáng lập ra tông phái này Thánh Ứng Đại Sư Lương Nhẫn (聖應大師良忍). Năm 1117, ông cảm đắc được câu kệ của A Di Đà Như Lai là “nhất nhân nhất thiết nhân, nhất thiết nhân nhất nhân, nhất hạnh nhất thiết hạnh, nhất thiết hạnh nhất hạnh, thị danh tha lực vãng sanh, Thập Giới nhất niệm, dung thông niệm Phật, ức bách vạn biến, công đức viên mãn (一人一切人、一切人一人、一行一切行、一切行一行、是名他力徃生、十界一念、融通念佛、億百萬遍、功德圓滿, một người hết thảy mọi người, hết thảy mọi người một người, một hạnh hết thảy mọi hạnh, hết thảy mọi hạnh một hạnh, ấy tên tha lực vãng sanh, mười cõi một niệm, dung thông niệm Phật. trăm vạn ức biến, công đức tròn đầy)”, rồi lấy câu kệ này làm tư tưởng căn bản; và nhân lúc đó làm năm khai sáng Tông này. Khi ấy, ông lấy bức tranh vẽ tượng Phật ở giữa và có 10 vị Thánh cung quanh làm tượng thờ chính, và ngôi chùa trung tâm của Tông này là Đại Niệm Phật Tự (大念佛寺, Dainembutsu-ji), hiện tọa lạc tại Hirano-ku (平野區), Ōsaka-shi (大阪市). Vị Tông Tổ Lương Nhẫn sinh ra ở vùng Phú Đa (富多), Quận Tri Đa (知多郡, Chita-gun), Vĩ Châu (尾州, Bishū, thuộc Aichi-ken [愛知縣]). Năm lên 12 tuổi, ông lên xuất gia trên Duệ Sơn, làm vị tăng Hành Đường ở Đông Tháp. Nơi đây ông thường tham gia tu pháp môn niệm Phật không gián đoạn, nên đã tạo cơ hội bồi dưỡng thêm cho thiên tài về âm nhạc của Lương Nhẫn. Về sau, ông đến ẩn cư ở vùng Đại Nguyên (大原, Ōhara), hoàn thành phần Thanh Minh do Viên Nhân (圓仁, Ennin) truyền lại, và khai xướng ra pháp môn Dung Thông Niệm Phật với khúc hợp xướng mang tính âm nhạc. Sau ông lại được cảm đắc về giáo lý Tự Tha Dung Thông (自他融通) từ đức Di Đà Như Lai, và khai sáng ra Dung Thông Niệm Phật Tông. Từ đó tiếng tăm ông vang khắp, chúng đạo tục khắp các nơi tập trung theo ông rất đông. Pháp môn Dung Thông Niệm Phật của Lương Nhẫn được tổ chức theo cách ghi tên vào sổ danh bạ, nên mọi người được gọi là Đồng Chí. Còn xướng niệm Phật thì chủ trương có công đức dung thông với nhau, cả đời này và đời sau đều được lợi ích to lớn. Sau khi Lương Nhẫn qua đời, có Nghiêm Hiền (嚴賢, tức Lương Huệ [良惠]), Minh Ứng (明應), Quán Tây (觀西), Tôn Vĩnh (尊永), Lương Trấn (良鎭) kế thừa ông; nhưng đến thời Pháp Minh (法明, tức Lương Tôn [良尊]) tiếp nối Lương Trấn, thì ngọn pháp đăng bị tuyệt diệt trong khoảng thời gian 140 năm trường. Tuy nhiên, chính trong khoảng thời gian này, Dung Thông Niệm Phật Tông lại được truyền bá đến các địa phương khác nhờ các vị Thánh Niệm Phật (念佛聖) và Thánh Khuyến Tấn (勸進聖). Trong số đó có Đạo Ngự (道御, tức Viên Giác Thập Vạn Thượng Nhân [圓覺十萬上人]) đã khởi xướng ra Dung Thông Đại Niệm Phật Cuồng Ngôn (融通大念佛狂言, ngày nay gọi là Nhâm Sanh Cuồng Ngôn [壬生狂言]) ở Địa Tạng Viện (地藏院) thuộc vùng Nhâm Sanh (壬生) vào năm 1257, rồi Dung Thông Đại Niệm Phật Hội (融通大念佛會) ở Pháp Kim Cang Viện (法金剛院) vào năm 1276, cũng như tại Thanh Lương Tự (清涼寺) vào năm 1279. Thêm vào đó, vị Tổ sư của Thời Tông (時宗, Jishū) là Nhất Biến (一遍, Ippen) cũng được gọi là “vị Thánh khuyên người Niệm Phật Dung Thông”. Nguyên lai, Dung Thông Niệm Phật của Lương Nhẫn là hình thức niệm Phật hợp xướng với số đông người, từ việc thể nghiệm sự cảm đắc mang tính huyễn mộng bằng cảm giác thông qua âm điệu phong phú, và cuối cùng trở thành Đại Niệm Phật. Hơn nữa, vì pháp môn này phù hợp với hoạt động quyên góp tiền để xây dựng chùa chiền, nên Tông này đã vượt qua các tông phái khác để lan truyền rộng rãi khắp toàn quốc nước Nhật; từ đó tập đoàn Dung Thông Niệm Phật cũng được hình thành ở các địa phương. Thư tịch hiện tồn nói lên sự hoạt động hưng thạnh rực rõ của tông phái này là Dung Thông Niệm Phật Duyên Khởi Hội Quyển (融通念佛緣起繪巻). Người có công lao to lớn trong việc lưu truyền di phẩm này là Lương Trấn. Kể từ năm 1382 cho đến 1423, trong vòng 42 năm trường, ở mỗi tiểu quốc trong nước Nhật đều được phân bố 1 hay 2 bản này. Những vị Thánh Khuyến Tấn tập trung theo Lương Trấn thì vẽ các bức tranh giải thích rõ về tác phẩm này, rồi khuyên mọi người tham gia vào Dung Thông Niệm Phật Tông; ghi tên những ai kết duyên với tông phái vào sổ danh bạ, và đem nạp vào Lưu Ly Đường (瑠璃堂) của Đương Ma Tự (當麻寺, Taima-ji) ở tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato). Những hành sự đáng lưu ý nhất hiện tại vẫn còn được tiến hành trong Dung Thông Niệm Phật Tông là Ngự Hồi Tại (御回在), Truyền Pháp (傳法). Về lễ Ngự Hồi Tại, hằng năm người ta thường lấy tượng thời chính của Tông này đem đi vòng quanh các nhà tín đồ để cầu nguyện cũng như cúng dường cho tổ tiên. Còn lễ Truyền Pháp thì chỉ giới hạn trong 2 ngày mồng 5 và mồng 7 hằng tháng. Khi ấy, các tự viện trở thành đạo tràng nghiêm tịnh, các tín đồ đệ tử tập trung về tham bái, lễ sám, dội nước lên mình, nghe pháp tu hành, thọ giới Viên Đốn, và được truyền trao cho pháp an tâm của Tông môn. Hiện tại, tông này có khoảng 357 ngôi chùa khắp nơi trong nước như Ōsaka-fu (大阪府), Kyoto-fu (京都府), Nara-ken (奈良縣), Mie-ken (三重縣), Hyōgo-ken (兵庫縣).
dung thông niệm phật tông
(融通念佛宗) Một trong 13 tông của Phật giáo Nhật bản. Gọi đủ: Dung thông đại niệm Phật tông, gọi tắt: Đại niệm Phật tông. Do Đại sư Thánh ứng Lương nhẫn sáng lập.Vào năm Vĩnh cửu thứ 5(1117), ngài Lương nhẫn đề xướng thuyết niệm Phật: Thập giới nhất niệm, tự tha dung thông (Mười cõi một niệm, mình người dung thông). Nghĩa là công đức niệm Phật của một người dung thông với tất cả mọi người, cũng thế, công đức niệm Phật của tất cả mọi người dung thông với một người. Hơn nữa, một hạnh niệm Phật thông với muôn hạnh, muôn hạnh đầy đủ trong một hạnh niệm Phật, cho nên tất cả công đức đều viên mãn, được vãng sinh Tịnh độ. Năm Minh trị thứ 7 (1874), tông này chính thức công bố tên tông và lấy chùa Đại niệm Phật ở thành phố Đại phản làm Tổng bản sơn. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.51].
dung thông viên môn chương
(融通圓門章) Có 1 quyển, do ngài Đại thông Dung quán đời thứ 46 của tông Dung thông niệm Phật ở Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung trình bày nhân duyên tổ Lương nhẫn sáng lập tông Dung thông niệm Phật, giải thích tên tông và nói rõ tông nghĩa. Đây là Thánh điển căn bản của tông này.
dung thông vọng tưởng
(融通妄想) Tức là tưởng ấm, tưởng uẩn, một trong năm thứ vọng tưởng. Sắc thân của chúng sinh là thực chất, suy nghĩ là tình giả, thực và giả khác nhau xa, nhưng lại hay tương ứng với nhau, là bởi vọng tưởng dung hợp. Lại nữa, tâm sinh tưởng giả, hình là vật thực, tâm và hình khác nhau, nhưng có thể tương ứng nhau là nhờ tưởng dung thông. Tâm, cảnh theo nhau không gián đoạn, đều là vọng tưởng, nên gọi là Dung thông vọng tưởng. (xt. Ngũ Vọng Tưởng).
Dung thọ 容受
[ja] ヨウジュ yōju ||| To contain, tolerate, put up with. => Kiềm chế, tha thứ, kiên nhẫn chịu đựng.
dung thứ
To forgive—To pardon—To excuse.
dung thức
(融識) Chỉ cho người thông suốt sự lí. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 229 thượng), nói: Sinh dung thức ấy, đẹp dấu truyền đăng. (Bậc thông suốt sự lí sinh ra đời này là cái dấu tích tốt đẹp cho sự truyền nối ngọn đèn chính pháp).
dung túng
To tolerate evil doings.
Dung 容
[ja] ヨウ yō ||| (1) To put in; to put. (2) Allow, grant, permit, accept. (3) Contents, interior. (4) Form, looks, appearance, shape. (5) Receptive, receptivity. (6) Function, use. (7) Container, capacity. => 1. Đặt vào, đặt để. 2. Cho phép, tha thứ, thừa nhận, chấp thuận. 3. Nội dung, phần trong. 4.Hình dáng, dáng vẻ, hình dung, hình thù. 5. Dể lĩnh hội, khả năng tiếp thu. 6. Dụng, cách dùng. 7. Sức chứa, dung tích.
durannaya
Durannaya (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
dusum khyenpa
Dusum Khyenpa (T)Tên một vị sư.
duy
Mātratā (S).
; Eva (S). Affirmative, yes; to answer, respond. Also used for only, alone, but.
; 1) Cột lại với nhau: To tie or hold together. 2) Duy chỉ: But—Only. 3) Duy nhất: Chỉ có một mình—Sole—Only. 4) Khẳng định: Eva (skt)—Yes—Affirmative. 5) Liên hệ: To connect. 6) Lưới: A net. 7) Phương hướng: Cardinal points. 8) Tư duy: To reflect on.
; (唯) Phạm: Màtratà. Âm Hán: Ma đát lạt đa. I. Duy. Chữ này gồm có ba nghĩa: 1. Giản biệt: Phân biệt pháp này khác với pháp khác. 2. Quyết định: Quyết định có pháp này. 3. Hiển thắng: Hiển bày sự thù thắng của pháp này. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. II. Duy. Học phái Số luận dùng Duy để biểu thị ý nghĩa nguyên tố cực vi. Luận kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1250 hạ) nói: Năm duy sinh năm đại, thanh duy sinh không đại (...) hương duy sinh địa đại.
duy bạch
(惟白) Vị tăng tông Vân môn ở cuối đời Bắc Tống, người Tĩnh giang (Quế lâm, Quảng tây), họ Nhiễm, năm sinh năm mất không rõ. Vua ban thụy là Phật quốc thiền sư, nối pháp ngài Pháp tú ở chùa Pháp vân tại Biện kinh. Về sau, sư cũng trụ trì chùa này. Chùa Pháp vân, chùa Tuệ lâm và chùa Trí hải là ba tùng lâm lớn của Thiền tông tại Biện kinh thời bấy giờ. Nhờ ba tùng lâm này mà tông phong của Thiền tông được phát triển và thịnh hành. Thời ấy, sư thường được thỉnh vào Hoàng cung để giảng pháp thiền,vua Triết tông và Huy tông rất cung kính.Tháng 8 niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), sư đưa bộ Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục 30 quyển do sư soạn cho vua xem, vua viết bài tựa rồi cho đưa vào tạng.Lúc tuổi già, sư dời về ở chùa Thiên đồng tại Minh châu (phía đông huyện Ngân tỉnh Chiết giang) và tịch ở đó. Trứ tác: Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục 30 quyển, Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục 8 quyển.[X. Gia thái phổ đăng lục Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Thích thị kê cổ lược Q.14].
duy chiếu bảo phong
Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản Châu (bây giờ là Giản Dương thuộc tỉnh Tứ Xuyên)—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng's home town was in ancient Jian-Chou (now is Jian-Yang in Si-Chuan province). • Một hôm đọc sách, ông giật mình với câu, “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.” Liền đó sư đến Thành Đô làm đệ tử Sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Sư thọ cụ túc giới năm mười chín tuổi—One day while reading a book, he was startled by the phrase, “One's self-nature is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and the sacred are of one body, but because of habit and circumstances they are differentiated. I know this to be true.” He then hastened to the city of Cheng-Tu and studied under the teacher Shing-T'ai in Lu-Yuan, receiving full ordaination at the age of nineteen. • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Phật xưa nói, 'Khi ta mới thành Chánh Giác chính thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành Chánh Giác.' Sau Ngài lại nói, 'Sâu thẳm xa xôi không người biết nổi.' Kẻ không kiến thức, khéo đầu rồng đuôi rắn.” Sư liền xuống tòa—One day Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying: "A“ ancient Buddha said, 'W'en I first gained complete awakening I personally saw that all beings of the great earth are each fully endowed with complete and perfect enlightenment.' And later he said, 'It's a great mystery. No one can fathom it.' I don't see anyone who understands this. Just some blowhards.” He then got down from the seat. • Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã nhập Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Hãy tự xét lấy!.”—Bao-Feng entered the hall and addressed the monks, saying: “All the Buddhas of bygone have already entered nirvana. You people! Don't be nostalgic about them. The Buddhas of the future have not yet appeared in the world. All of you, don't be deluded! On this very day who are you? Study this! • Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh thang. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.”—Another time, Bao-Feng entered the hall addressed the monks, saying: “The fundamental self is unborn, nor is it annihilated in the present. It is undying. But to be born in a certain place, and to die someplace else, is the rule of being born in a life. Great persons must position themselves in this flow of life and death. They must lie down in the thorny forest. They must be pliable and able to act according to circumstances. If they are thus, then immeasurable expedients, grand samadhis, and great liberation gates are instantly opened. But if they are not yet this way, then defilements, all toilsome dust, and mountains loom before them and block the ancient road.” • Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi của sư lóng lánh như bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của sư không bị lửa đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện vẫn còn, bên đỉnh phía tây của tự viện—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng died in 1128. His cremated remains were like jewels and blue pearls. His tongue and teeth were undamaged by the flames. His stupa was placed on the western peak near the temple.
duy chính triển khai lưỡng thủ
(惟政展開兩手) Duy chính dang rộng hai tay. Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Bách trượng khai điền (Bách trượng mở ruộng). Là cơ pháp dùng động tác thay cho lời nói để dạy chúng tăng của Thiền sư Bách trượng Duy chính (Hòa thượng Niết bàn) ở đời Đường. Chương Bách trượng Niết bàn trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 4 (Vạn tục 138, 64 thượng), nói: Một hôm, Hòa thượng Bách trượng Niết bàn nói với chúng tăng rằng, các ông và ta đi cày ruộng, ta sẽ nói đại nghĩa cho các ngươi nghe. Khi cày ruộng xong, về chùa, chúng tăng xin sư nói đại nghĩa (nghĩa rốt ráo cùng tột), sư dang rộng hai tay, chúng chẳng hiểu gì. [X. Cảnh đức tuyền đăng lục Q.6].
Duy Chính 惟政
[ja] イセイ Isei ||| Yujŏng (1544-1610) a Sŏn master of the later Chosŏn period, one of the four leading disciples of Hyujŏng 休靜. => k: Yujŏng (1544-1610); thiền sư Triều Tiên thời cận đại, một trong bốn đệ tử lớn của Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜)
duy chỉ nan
(維只難) Phạm:Vighna. Vị tăng thời Tam quốc, người Thiên trúc, năm sinh năm mất không rõ. Gia đình theo đạo thờ lửa, sư cũng cho sự tế lửa là trên hết. Về sau, do chịu ảnh hưởng của một vị sa môn nên sư bỏ cái học của mình mà qui y theo Phật, nghiên cứu ba tạng; đặc biệt tinh thông bốn bộ A hàm. Năm Hoàng vũ thứ 3 (224) thời Tam quốc Ngô, sư cùng Trúc luật viêm (Trúc tương viêm) đến Vũ xương dịch kinh Pháp cú 2 quyển, kinh A sai mạt bồ tát 4 quyển, nhưng vì các vị không thạo Hán văn nên kinh các vị dịch có rất nhiều chỗ không rõ nghĩa. Vào những năm cuối thời vua Huệ đế (ở ngôi 290 - 306) nhà Tấn, sa môn Pháp lập và Pháp cự dịch lại kinh Pháp cú làm 5 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thông tải Q.5; Lục học tăng truyện Q.1].
duy cảm chủ nghĩa
Sensualism.
duy cảnh vô thức
Duy vật thuận thế ngoại đạo cho rằng tứ đại là cực vi tế, thường chân thực và lập ra nghĩa “Duy Cảnh Vô Thức”, để đối lại với cái nghĩa “duy thức vô cảnh”—Realism, as opposed to Idealism (Duy thức vô cảnh—Implying that the four elements are real and permanent).
; (唯境無識) Chỉ có cảnh không có thức. Đối lại với Duy thức vô cảnh. Duy cảnh vô thức là chủ trương thừa nhận cảnh bên ngoài là có thật. Luận sư Hộ pháp của Hữu tông chủ trương thuyết Duy thức vô cảnh (chỉ có thức không có cảnh), cho rằng tất cả các pháp đều do tâm biến hiện, chỉ có tâm thức bên trong chứ không có cảnh giới bên ngoài. Đối lại, luận sư Thanh biện của Không tông thuộc phái Trung quán Ấn độ thì cho rằng ở trong Chân đế thì tâm và cảnh đều là chân không, ở trong Tục đế thì lập nghĩa duy cảnh vô thức, tức sắc và tâm thức đều tồn tại, vì thức bên trong có cảnh có tâm, tâm phải nương cảnh mà khởi. Ngoài ra, Duy cảnh vô thức cũng chỉ cho Thuận thế ngoại đạo (nhà Duy vật luận của Ấn độ) chủ trương cực vi của bốn đại đất, nước, lửa, gió là thường còn, là thực có, ngoài bốn đại cực vi ra không có vật gì khác. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 (Đại 45, 260 trung), nói: Ngoại đạo Thuận thế và luận sư Thanh biện lập nghĩa Duy cảnh để phân biệt với nghĩa Duy thức do luận sư Hộ pháp chủ trương. (xt. Duy Thức Vô Cảnh).
duy cẩn
(惟謹) Vị tăng đời Đường ở chùa Tuệ nhật. Năm Thái hòa thứ 8 (834) đời vua Văn tông, sư theo A xà lê Pháp nhuận ở viện Đông tháp chùa Thanh long thụ pháp Thai tạng của Mật giáo. Trứ tác của sư: Đại tùy cầu tức đắc đại đà la ni minh vương sám hối pháp 1 quyển, Đại tì lô giá na kinh a xà lê chân thực trí phẩm trung a xà lê trụ A tự quán môn 1 quyển. [X. Quảng đại nghi quĩ bạt văn; Đại nhật kinh truyền pháp thứ tự kí].
duy da ly
Xem Quảng nghiêm thành.
; See Vaisali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
duy danh
Name only.
; Namamatra (skt)—Name only.
duy danh luận
Nominalism.
duy giả thiết danh
Prajnaptinamamatreyam (skt)—Theo suy nghĩ thông thường thì có một ngã thể; tuy nhiên, đối với giáo lý nhà Phật nó chỉ là giả danh chứ không hiện hữu—In accordance with to the thinking of ordinary people or worldly way of thiniking, there is an ego-substance, which, however, to Buddhist theory, it is only an artificial name, not a real existence.
duy hiềm giản trạch
(唯嫌揀擇) Chỉ vì phân biệt lựa chọn. Lời nói này có xuất xứ từ bài Tín tâm minh của ngài Tăng xán, Tổ thứ ba của Thiền tông. Trong bài Minh này có câu Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch (Đạo tột bậc không khó, chỉ vì chúng sinh hay phân biệt lựa chọn), nghĩa là đại đạo của Phật, Tổ xưa nay vốn bình đẳng, không cấp bậc, không sai khác, tự do tự tại, chỉ vì tâm chúng sinh phân biệt lựa chọn, ưa, ghét nên mới sinh ra khó, dễ khác nhau. Nếu không lấy, bỏ, ghét, ưa thì mười phương thông suốt, bốn hướng lung linh.
duy hữu nhất thừa pháp vô nhị diệc vô tam
(唯有一乘法無二亦無三) Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba. Lời nói này có xuất xứ từ phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa. Nguyên văn như sau (Đại 9, 8 thượng): Thập phương Phật độ trung Duy hữu Nhất thừa pháp Vô nhị diệc vô tam Trừ Phật phương tiện thuyết (Trong cõi Phật mười phương Chỉ có pháp Nhất thừa Không hai cũng không ba Trừ Phật phương tiện nói) Giáo pháp của Phật chỉ có một Phật thừa nói trong kinh Pháp hoa là chân thực, còn nói hai thừa (Tiểu thừa, Đại thừa) hoặc ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) thì chỉ là nói phương tiện để dìu dắt chúng sinh.
duy khẩu thực
Một trong bốn tà mệnh thực, chỉ việc Tỳ Kheo học các loại chú thuật bói toán để kiếm sống—Improper means of existence by spells, fortune-telling, etc. One of the four cardinal improper ways of earning a livelihood. ** For more information, please see Tứ Chủng Tà Mệnh in Vietnamese-English Section.
; (維口食) Cũng gọi Duy tà thực. Duy chỉ cho bốn phương. Tỉ khưu học các nghề chú thuật, bói toán để đoán lành dữ làm kế mưu sinh, gọi là Duy khẩu thực. Đây là một trong bốn tà mệnh mà đức Phật cấm các tỉ khưu không được làm. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; Pháp uyển châu lâm Q.90]. (xt. Tứ Chủng Tà Mệnh).
duy kính
(惟勁) Vị Tăng thời Ngũ đại. Người huyện Vĩnh thái tỉnh Phúc kiến, năm sinh năm mất không rõ. Sau khi xuất gia, sư tham học ngài Tuyết phong Nghĩa tồn và rồi nối pháp của ngài. Sau, sư lại đi học hỏi các nơi, ở tại đạo tràng Bát chu ở Nam nhạc tỉnh Giang tây, được vua Sở kính trọng, thỉnh sư về ở Báo từ đông tạng, ban cho sư áo đỏ và hiệu Bảo văn đại sư.Khoảng năm Khai bình (907 - 911) đời Hậu Lương, sư biên tập Tục bảo lâm truyện 4 quyển, Nam nhạc cao tăng truyện, và soạn: Kính đăng tụng, Tuyền phục tụng, Phòng tà luận, Thích tán, Tượng cốt kệ, Kính hòa thượng giác địa tụng v.v... [X. Tổ đường tập Q.11; Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.19].
duy kỷ
Duy ngã—Egoism—Selfish.
duy linh học
Xem duy tâm luận.
duy linh luận
Spiritualism.
duy lý luận
rationalism.
duy ma
Xem Duy ma Cật.
; See Vimalakirti, and Vimalakirti Sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (維摩) Phạm: Vimalakìrti. Âm Hán: Tì ma la cật lợi đế. Cũng gọi Tì ma la cật, Duy ma cật, Vô cấu xưng, Tịnh danh, Diệt cấu minh. Đệ tử tại gia của đức Phật và là Trưởng giả ở thành Tì xá li (Phạm:Vaizàlì) trung Ấn độ. Tuy là tại gia, nhưng cư sĩ Duy ma rất inh thông giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa, chỗ tu chứng của ngài cũng cao xa, nên dù là đệ tử xuất gia cũng có người không sánh kịp.Cứ theo kinh Duy ma chép, có lần cư sĩ thị hiện bị bệnh và nói: Vì chúng sinh bệnh nên tôi bệnh. Đức Phật sai bồ tát Văn thù và các đệ tử khác đến thăm ngài, nhân dịp ấy, ngài d u n g những lời hỏi và đáp để diễn bày ý nghĩa sâu kín của Đại thừa như: Không, vô tướng v.v... Tại Trung quốc, có rất nhiều những bức điêu khắc và hội họa miêu tả cuộc vấn đáp giữa cư sĩ Duy ma và bồ tát Văn thù, như vào đời Đường có: Tự tháp kí của Đoàn thành thức, tranh biến tướng Duy ma vẽ trên vách trong Chính điện của chùa Bồ tát ở phường Bình khang tại Trường an v.v...Còn nhà ở của ngài Duy ma vuông vức mỗi bề một trượng nên gọi Duy ma phương trượng, Tịnh danh cư sĩ phương trượng. [X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.1; Chú duy ma cật kinh Q.1; Duy ma nghĩa kí Q.1 phần đầu, Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.8; Cư sĩ phần đăng lục Q.thượng].
duy ma cật
Vimalakīrti (S)Duy ma la cật, Duy ma cư sĩ, Vô cấu xưng, Duy ma, Tịnh Danh.(Vimala= vô cấu, tịnh; Kirti: danh, xưng). Tên một trưởng giả thành Tỳ xá ly, đệ tử tại gia của Phật, giàu có, đa văn, quảng kiến, thông đạo lý, biện tài hơn hẳn các hàng Thanh văn, Bồ tát. Ngài là một vị cổ pPhật hiệu là Kim Túc Như lai, hiện thân cõi ta bà để ủng hộ Phật Thích ca hoằng dương Phật pháp.
Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh
(s: Vimalakīrti-nideśa, t: Ḥphags-pa dri-ma med-par grags-pas bstan-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, c: Wei-mo-ch'i-so-shuo-ching, j: Yuimakitsushosetsukyō, 維摩詰所說經): còn gọi là Duy Ma Cật Kinh (維摩詰經), Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh (不可思議解脫經), Duy Ma Kinh (維摩經), 3 quyển, hiện còn, Taishō 14, 537, No. 475. Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 8) đời Diêu Tần.
duy ma cật sở thuyết kinh
Wei-mo-chieh so-shuo ching (C)Tên một bộ kinh Xem Kinh Duy ma cật.
duy ma cật tử sở vấn kinh
Đại Thừa Đảnh Vương Kinh—Vimalakirti-Nirdesa-Sutra.
duy ma cật, tì ma la cật, tịnh danh
Vimalakirti (S). Kinh Duy ma cật, Vimalakirti nirdesa- sùtra.
duy ma kinh
(維摩經) Tranh Duy Ma Biến Tướng Phạm: Vimalakìrti-nirdeza. Gồm 3 quyển, 14 phẩm, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, đưa vào Đại chính tạng tập 14. Cũng gọi Duy ma cật sở thuyết kinh, Duy ma cật kinh. Mục đích kinh này là nói rõ pháp môn giải thoát bất khả tư nghị mà ngài Duy ma đã chứng được, cho nên còn gọi là kinh Bất khả tư nghị giải thoát. Nhân vật chính trong kinh này là cư sĩ Duy ma, một trưởng giả ở thành Tì xá li trung Ấn độ ở thời đại đức Phật. Thuở ấy, đức Phật đang ở thành Tì xá li, các con của 500 Trưởng giả đến chỗ đức Phật, xin ngài nói pháp. Lúc đó, cư sĩ Duy ma bị bệnh, đức Phật sai các vị tỉ khưu và Bồ tát đến thăm bệnh, nhân dịp này, cư sĩ Duy ma bàn luận sâu rộng về Phật pháp với Bồ tát Văn thù và các vị cùng đi, nhân đó mà thành kinh này. Kinh Duy ma được đặt trên nền tảng tư tưởng không của Bát nhã, xiển dương đạo thực tiễn của Bồ tát Đại thừa, nói rõ các đức mục tôn giáo mà các tín đồ tại gia phải tu hành. Toàn bộ kinh lấy cư sĩ Duy ma làm nhân vật trung tâm, xuyên qua phương thức bàn luận về Phật pháp giữa ngài và Bồ tát Văn thù để tuyên dương chân lí của Phật giáo Đại thừa. Kinh này được thành lập vào khoảng thế kỉ thứ nhất Tây lịch, sau kinh Bát nhã, là một trong những kinh điển Đại thừa ở thời kì đầu. Ở Ấn độ, kinh này rất thịnh hành và thường được trích dẫn trong các bộ luận như: Đại trí độ v.v... Tại Trung quốc kinh này còn được truyền dịch, tụng trì rộng rãi hơn. Cứ theo các bản ghi chép về kinh điển qua các thời đại, thì kinh Duy ma có tất cả bảy bản Hán dịch, hiện chỉ còn ba bản.Ngoại trừ bản dịch của ngài Cưu ma la thập còn có: 1. Kinh Duy ma cật, gồm 2 quyển hoặc 3 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô vào thời Tam quốc (Ngụy, Thục, Ngô). Cũng gọi: Kinh Duy ma cật sở thuyết bất khả tư nghị pháp môn, kinh Phổ nhập đạo môn, kinh Phật pháp phổ nhập đạo môn, kinh Phật pháp phổ nhập đạo môn tam muội, kinh Duy ma. Thu vào Đại chính tạng tập 14, là bản Hán dịch xưa nhất hiện còn.2. Kinh Vô cấu xưng, gồm 6 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi kinh Thuyết vô cấu xưng, thu vào Đại chính tạng tập 14. Trong ba bản dịch hiện còn, về cách kết cấu văn kinh và nghĩa lý đại khái giống nhau, nhưng cũng có một vài chỗ sai khác: Chẳng hạn như bài kệ tán Phật trong phẩm thứ nhất, bản dịch của ngài Chi khiêm là 10 bài tụng, bản của ngài La thập là 18 bài, bản của ngài Huyền trang là 19 bài rưỡi. Nếu bàn về mức độ phiên dịch chính xác thì bản của ngài Huyền trang phải được đặt lên hàng đầu; còn nếu nói về văn dịch khéo léo, nhuần nhuyễn thì phải nhường cho bản của ngài La thập, ngòi bút dịch của ngài rất lưu loát đẹp đẽ, xưa nay được coi là tác phẩm nghệ thuật ưu tú trong văn học kinh Phật và được lưu thông rất rộng rãi. Kinh này còn có bản dịch Tây tạng được đưa vào trong kinh tập Phật thuyết bộ của Đại tạng kinh Tây tạng. Ngoài ra, có bản dịch tiếng Mãn châu và tiếng Mông cổ dịch theo bản dịch Tây tạng. Những bản chú thích trọng yếu của kinh này có: Duy ma nghĩa kí của ngài Tuệ viễn (đời Tùy), Duy ma kinh huyền sớ của ngài Trí khải, Duy ma kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng, Duy ma kinh huyền luận cũng của ngài Cát tạng. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục, Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
duy ma kinh huyền sớ
(維摩經玄疏) Gồm 6 quyển, do ngài Trí khải đời Tùy soạn, thu vào Đại chính tạng tập 38. Cũng gọi Duy ma kinh luợc huyền, Duy ma kinh huyền nghĩa, Tịnh danh huyền nghĩa, Tịnh danh huyền sớ, Tịnh danh huyền. Bản sớ này dùng ngũ trùng huyền nghĩa, phương pháp giải thích kinh của tông Thiên thai, để chú giải ý chỉ sâu kín của kinh Duy ma theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập, có thể được xem là tác phẩm khái luận về kinh Duy ma. Toàn sách viện dẫn rất nhiều kinh luận như: Hoa nghiêm, Pháp hoa, Niết bàn, Ma ha bát nhã, Địa trì, Thanh tịnh pháp hành và luận Đại trí độ, Thập địa kinh luận, Nhiếp đại thừa v.v... Sách này được soạn tại Kim lăng vào năm Khai hoàng 15 (595) đời Tùy. Bộ sớ này và tác phẩm Duy ma kinh văn sớ cũng do ngài Trí khải soạn được coi là hai viên ngọc trong các chú sớ kinh Duy ma của tông Thiên thai. [X. Chư tông chương sớ Q.1].
duy ma kinh lược sớ
(維摩經略疏) I. Duy ma kinh lược sớ. Gồm 5 quyển, do ngài Cát tạng (549 - 623) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma cật sở thuyết kinh sớ, Bất khả tư nghị giải thoát kinh sớ, Tịnh danh kinh lược sớ, Duy ma kinh sớ, thu vào Vạn tục tạng tập 29. Ngài Cát tạng còn soạn một bộ sớ nữa là: Duy ma kinh nghĩa sớ gồm 6 quyển, cũng gọi Quảng sớ, cho nên, để đối lại, sách này được gọi là lược sớ. Hai bộ sớ này đều là sách chú thích kinh Duy ma, nhưng ý thú khác nhau. Nghĩa sớ thì chú thích những câu văn trong kinh, còn sách này (lược sớ) thì giải rõ ý nghĩa bao hàm trong kinh. Cho nên, nếu muốn biết sự liễu giải của ngài Cát tạng đối với kinh Duy ma thì phải tham khảo cả hai bộ sớ này mới thấy rõ được. II. Duy ma kinh lược sớ. Gồm 10 quyển, Đại sư Trí khải (538 - 597) giảng vào đời Tùy, ngài Trạm nhiên (711 - 782) đời Đường sửa lại. Cũng gọi Duy ma lược sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Bộ sớ này lược bớt bộ Duy ma kinh văn sớ 28 quyển của ngài Trí khải thành 10 quyển, cả hai bộ đều lưu hành ở cuối đời Đường và đầu đời Ngũ đại. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. (xt. Duy Ma Kinh Sớ).
duy ma kinh nghĩa kí
(維摩經義記) Gồm 4 quyển hoặc 8 quyển. Do ngài Tuệ viễn (523 - 592) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma nghĩa kí, Duy ma cật sở thuyết kinh chú, Duy ma nghĩa sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Sách này giải thích văn nghĩa kinh Duy ma. Trước hết, nói rõ về hai tạng Thanh văn và Bồ tát, đồng thời, chỉ ra sự khác nhau giữa Tiệm giáo và Đốn giáo và phán kinh Duy ma thuộc Bồ tát tạng Đốn giáo, kế đến giải thích đề kinh Duy ma, sau hết, phần còn lại lần lượt giải thích văn nghĩa của kinh. Câu văn sách này điêu luyện, giải nghĩa cao siêu mầu nhiệm, phát huy được ý chỉ sâu kín của kinh Duy ma. Vì tác giả bộ sách này thuộc tông Địa luận, nên trong sách có nhiều chỗ hiển bày đặc sắc của tông này về thuyết A lại da chân thức. Lại nữa, trong sách, gặp chỗ cần phải giải thích rõ thêm thì thường thấy xuất hiện từ ngữ Nghĩa như biệt chương. Biệt chương ở đây là chỉ cho Đại thừa nghĩa chương, vì thế biết sách này được soạn sau sách Đại thừa nghĩa chương. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
duy ma kinh nghĩa sớ
(維摩經義疏) I. Duy ma kinh nghĩa sớ. Gồm 6 quyển, do ngài Cát tạng (549 - 623) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma kinh sớ, Duy ma kinh quảng sớ, Tịnh danh kinh quảng sớ, Duy ma quảng sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Tác giả bộ sớ này đứng trên lập trường của tông Tam luận để giải thích kinh Duy ma. Trước hết bàn về huyền nghĩa, kế đến chú thích bản văn trong 14 phẩm của kinh Duy ma. Phần huyền nghĩa có thể được coi là khái luận về kinh Duy ma, cũng có thể được xem là lời tựa của sách này. Sau, phần huyền nghĩa này được lấy riêng ra mà thành Duy ma kinh du ý 1 quyển. Về phần chú thích, trước hết giải thích tên phẩm, kế đến nói đại ý của phẩm ấy, sau cùng lần lượt giải thích văn kinh. Trong quá trình chú thích, soạn giả thường trích dẫn lời của các ngài Cưu ma la thập, Tăng triệu và Hưng hoàng v.v... II. Duy ma kinh nghĩa sớ. Gồm 5 quyển (hoặc 3 quyển). Do Thái tử Thánh đức của Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 56.Sách này giải thích rõ văn nghĩa kinh Duy ma. Trước hết giải thích tên kinh, cho Duy ma cật là bậc Đại thánh đã lên ngôi vị chính giác, kế đến chia văn kinh ra làm ba phần: 1. Tự thuyết: Từ phẩm Phật quốc đến phẩm Bồ tát. 2. Chính thuyết: Từ phẩm Văn thù sư lợi vấn tật đến nửa trước của phẩm Kiến a súc Phật. 3. Lưu thông thuyết: Từ nửa sau của phẩm Kiến a súc Phật đến phẩm Chúc lụy. Sách này phần nhiều tham khảo Chú duy ma cật kinh của ngài Tăng triệu và trích dẫn lời của Tăng triệu, Đạo sinh v.v... nhưng cũng có nêu những ý kiến riêng của tác giả. Sách này cùng với Pháp hoa sớ, Thắng man sớ được gọi chung là Thái tử tam kinh sớ (Ba bộ kinh sớ do Thái tử soạn).
duy ma kinh sớ
(維摩經疏) Gồm 28 quyển, do Đại sư Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Tịnh danh quảng sớ, Duy ma kinh đại sớ, Duy ma kinh văn sớ, Duy ma kinh quảng sớ, Duy ma sớ, Duy ma la cật kinh văn sớ, thu vào Vạn tục tạng tập 27, 28. Sách này chú thích kinh Duy ma theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Đáp lời thỉnh cầu của Tùy Dạng đế, ngài Trí khải giảng, đệ tử ghi chép đến phẩm Phật đạo quyển 27, phần còn lại do đệ tử ngài là Quán đính (561 - 632) thêm vào mà hoàn thành. Sách này chú thích 14 phẩm của kinh Duy ma, trước hết, nói rõ về nguyên nhân của mỗi phẩm và mối quan hệ giữa các phẩm, kế đến giải thích tường tận về tên phẩm. Nội dung bao quát, lập luận chặt chẽ, đứng trên lập trường tông Thiên thai, giải thích rõ nghĩa chân thực về nước Phật thanh tịnh, luận giải rất sâu sắc thấu đáo. Qua sách này và Duy ma kinh huyền nghĩa, người ta có thể thấy được quan điểm của tông Thiên thai đối với kinh Duy ma. Ngoài ra, ngài Trạm nhiên (711 - 782) đời Đường, rút bớt sách này thành Duy ma kinh lược sớ 10 quyển, rồi lại chú thích 10 quyển này mà thành Duy ma kinh sớ kí 3 quyển (hoặc 6 quyển). Đến đời Tống, ngài Trí viên (976 - 1022) lại chú thích Duy ma kinh lược sớ 10 quyển mà thành là Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí 10 quyển để phát huy ý chỉ của tông Thiên thai. (xt. Duy Ma Kinh Huyền Sớ).
duy ma la cật
Xem Duy ma Cật.
duy mỹ chủ nghĩa
Aestheticism.
Duy Na
(維那, Ino): còn gọi là Kỷ Cương (紀綱). Trong tòng lâm, vị này đốc thúc, giám thị sự tu hành của chúng tăng và xem xét toàn bộ công việc trong tự viện. Khi đại chúng tụng kinh, vị này có trách nhiệm hướng dẫn và thủ xướng cho mọi người, cho nên được gọi là Duyệt Chúng (悅眾). Duy (維) nghĩa là bao trùm như mạng lưới, cho nên nó có nghĩa là quản lý tăng chúng; Na (那) là từ được lấy từ âm đọc Yết Ma Đà Na (s: karmadāna, 羯磨陀那); cho nên từ Duy Na bao hàm chung nghĩa của tiếng Hán và Phạn. Nguồn gốc của nó vốn là tên gọi chức vị được đặt ra trong nội bộ tăng đoàn ở Ấn Độ. Trong phần Bát Pháp Trung Ngọa Cụ Pháp (八法中臥具法) 7 của Thập Tụng Luật (十頌律) 23 có đoạn rằng: “Phật tại Xá Vệ Quốc, nhĩ thời Kỳ Đà lâm trung tăng phường trung, vô Tỳ Kheo tri thời hạn xướng thời, vô nhân đả kiền trĩ, vô nhân tảo sái đồ trị giảng đường thực xứ, vô nhân thứ đệ tương tục phu sàng tháp, vô nhân giáo tịnh quả thái, vô nhân khán khổ tửu trung trùng, ẩm thực thời vô nhân hành thủy, chúng tán loạn ngữ thời, vô nhân đàn chỉ, thị sự bạch Phật, Phật ngôn, ưng lập Duy Na (佛在舍衛國、爾時祇陀林中僧坊中、無比丘知時限唱時、無人打揵稚、無人掃灑塗治講堂食處、無人次第相續敷床榻、無人敎淨果菜、無人看苦酒中蟲、飲食時無人行水、眾散亂語時、無人彈指、是事白佛、佛言、應立維那, Khi đức Phật tại nước Xá Vệ, lúc bấy giờ trong chúng tăng tại rừng Kỳ Đà không có vị Tỳ Kheo báo cho biết thời khắc, không có người đánh kiền chùy, không người quét dọn, lau chùi giảng đuờng và nơi ăn uống, không người lần lượt thay nhau sắp dọn giường nằm, không người chỉ bảo rửa sạch rau quả, không người nhìn thấy con trùng trong rượu đắng, khi ăn uống không có người đem nước đến, khi chúng tăng nói chuyện tán loạn lại không có người khảy móng tay giữ im lặng; cho nên việc này được trình lên đức Phật. Phật dạy rằng nên lập ra chức Duy Na).” Vì vậy, đức Phật đã chế ra chức vụ này để chỉnh lý và quản chưởng những công việc lặt vặt của chúng tăng. Tại Trung Quốc, chức này được thiết lập như chức Tăng Quan và trong chế độ Tăng Quan trung ương dưới thời Diêu Tần (姚秦), có chức Duyệt Chúng. Tăng Thiên (僧遷) là người đầu tiên được bổ nhiệm chức vụ này. Vào thời Bắc Ngụy, tên trung ương có đặt Chiêu Huyền Tào (昭玄曹) làm chức Sa Môn Thống (沙門統) với tư cách là Trưởng Quan để thống lãnh Phật Giáo toàn quốc. Còn vị Phó Quan quản lý sự việc của các ban liên quan đến Phật Giáo chính là [Đô] Duy Na ([都]維那) của trung ương và Duy Na ở các địa phương. Trong Thiền Tông, đây là chức vụ vô cùng quan trọng chịu trách nhiệm quản chưởng hết thảy hành động, oai nghi tế hạnh, lui tới của chúng tăng. Nó được liệt vào một trong Lục Tri Sự (六知事, sáu vị Tri Sự). Đối với các tông phái khác, chức Duy Na có bổn phận dẫn dắt đại chúng khi hành lễ pháp sự, xướng hô hồi hướng, v.v. Phòng ở của vị Duy Na được gọi là Duy Na Liêu (維那寮) hay Kỷ Cương Liêu (紀綱寮).
duy na
Xem Yết ma.
; Karmadàna (S). The person in charge of the pagoda.
; Karmadana (skt)—Vị sư phân phối và giám sát công việc trong tự viện. Một trong sáu vị sư chính trong tự viện—The duty-distributor, or arranger of duties, a supervisor of monks in a monastery. One of the six main monks. ** For more information, please see Tam Cương (B) (3).
; (維那) Hai chữ Duy na là từ gồm cả Phạm và Hán. Duy là cương duy, nghĩa là quản lí mọi việc. Na là gọi tắt của tiếng Phạmkarmadàna (âm Hán: yết ma đà na), dịch ý là thụ sự......nghĩa là đem công việc trong chùa trao cho một người nào đó chịu trách nhiệm. Duy na, cũng gọi là Đô duy na, xưa dịch là Duyệt chúng (làm đẹp lòng mọi người), Hộ tự (trông nom gìn giữ chùa viện). Tức là chức vụ trông coi quản lý công việc của chúng tăng ở trong chùa. Cứ theo luật Thập tụng quyển 34, thì thuở xưa đức Phật ở nước Xá vệ, Ngài muốn mọi việc trong chúng tăng được sắp xếp có trật tự nên mới đặt chức Duy na. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 1 (Đại 40, 6 trung) chép: Theo luận Thập tụng, bấy giờ trong Tăng phường không có người báo giờ giấc, đánh kiền chùy, không có người quét dọn, sửa sang giảng đường, nhà ăn uống, không có người sắp xếp giường chiếu và chỉ bảo người nhặt sạch sâu trùng trong rau, trái và thực phẩm, khi ăn xong không có người lấy nước, lúc mọi người nói to ồn ào, không có ai ra hiệu nhắc nhở v.v... vì thế mà đức Phật đặt ra chức Duy na. Căn cứ vào đoạn văn trên đây thì biết, chức Duy na đã do chính đức Phật chế định. Từ xưa đến nay, trong các chùa viện lớn đều có đặt Tam cương: Thượng tọa, Tự chủ (trụ trì) và Duy na, trong đó, vị Duy na thống lãnh toàn thể chư tăng trong trụ xứ. Tại Trung quốc, Luật tông, Thiền tông v.v... đều lập chức Duy na. Trong Thiền tông, Duy na là một trong sáu vị Tri sự, là chức vụ trọng yếu kiểm điểm uy nghi của chư tăng. Trong các tông phái khác, thì Duy na là người hướng dẫn trong các cuộc hành lễ, cầm hiệu lệnh, tuyên sớ, đọc văn hồi hướng v.v... Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 có qui định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chức Duy na (Đại 48, 1132 trung): Duy na giữ giềng mối trong chúng tăng, điều hòa thu nhiếp tất cả, khi có khách tăng đến lưu trú, kiểm tra xem độ điệp thật hay giả; chúng có tranh cãi thì phân trần hòa giải; xem xét thứ tự giới lạp (tuổi hạ), giường chiếu mùng mền, tất cả việc tăng trong ngoài, lớn nhỏ đều phải lo liệu. Đọc văn hồi hướng, dùng thanh âm làm Phật sự, đặc biệt quan tâm đến các vị tăng đau ốm hoặc qua đời; (...) nếu có việc khẩn cấp hoặc được nghỉ phép mà rời khỏi tùng lâm, thì phải mang sổ giới lạp, sổ nghỉ phép, sổ mà vị Đường tư phải biết, giao hết cho vị Tri khách nhờ giữ giùm. Trong chế độ Tăng quan ở Trung quốc, chức Duy na bắt đầu được lập ra từ đời Diêu Tần. Đời Bắc Ngụy cũng đặt Tăng quan để trông nom các việc trong cả nước có liên quan đến Phật giáo. Ở trung ương lập Chiêu huyền tào, lấy Sa môn thống làm vị tăng quan tối cao và đặt Duy na làm phó quan. Ở các địa phương thiết lập Tăng tào, lấy vị Tăng thống làm Trưởng quan, cũng đặt Duy na làm phó quan. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].
duy na sư kiết ma
Xem Yết ma.
duy na yết ma
Xem Yết ma.
Duy Nghiễm
惟儼|Dược Sơn Duy Nghiễm
duy nghiễm bất vi
(惟儼不爲) Duy nghiễm không làm gì. Tên công án trong Thiền tông. Ngài Dược sơn Duy nghiễm ở đời Đường tự nói sự ngồi thiền của sư chẳng để làm gì cả. Tức sự ngồi thiền của sư đã siêu việt tư duy phân biệt, đã đạt đến chân lí tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 311 trung), chép: Một hôm sư ngồi thiền, Thạch đầu thấy hỏi: Ông ngồi đây làm gì? Sư đáp: Chẳng làm gì cả? Thạch đầu nói: Vậy là ngồi không đấy à? Sư đáp: Ngồi không cũng là làm. Thạch đầu hỏi: Ông vừa nói chẳng làm gì cả, vậy là chẳng làm cái gì? Sư đáp: Nghìn Thánh cũng không biết!. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].
duy nghiễm dược sơn
Wei-Yen-Yueh-Shan—See Dược Sơn Duy Nghiễm.
duy nguyện biệt thời ý
(唯願別時意) Chỉ có nguyện mà không có hành là biệt thời ý. Đây là luận điểm của các nhà Nhiếp luận đề ra để phê bình thuyết Hạ hạ phẩm vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Cũng gọi Duy nguyện vô hành biệt thời ý. Biệt thời ý, là Phật đặt phương tiện để khuyến khích chúng sinh khiến không biếng nhác, nên khi nói về quả tương lai. Ngài tạm giấu hạnh nghiệp trong quá trình tu hành mà bảo có thể được quả. Tức như kinh Quán vô lượng thọ tuy nói người vãng sinh Tịnh độ phải đầy đủ cả nguyện và hành, nhưng cũng nói chỉ có nguyện không thôi cũng vãng sinh. Các nhà Nhiếp luận căn cứ vào thuyết này mà giải thích rằng nguyện chỉ là cái nhân xa của sự vãng sinh, cho nên phải ở thời gian khác (biệt thời) trong vị lai mới được quả vãng sinh. Trái lại trong chương Biệt thời ý hội thông của Quán kinh huyền nghĩa phần, ngài Thiện đạo cho rằng sự niệm Phật nói trong kinh Quán vô lượng thọ chính là nguyện hành đầy đủ, chứ không phải biệt thời ý. [X. Nhiếp đại thừa luận (bản dịch đời Lương) Q.trung]. (xt. Nguyện Hành).
duy ngã
I alone.
duy ngã độc tôn
Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là đáng kính trọng—Above Heaven and under Heaven I am alone and worthy of honor (Sakyamuni).
; (唯我獨尊) Chỉ có ta là tôn quí hơn hết. Cứ theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 chép, đức Thế tôn sinh ra từ hông bên phải của mẫu hậu Ma da phu nhân, sau khi xuống mặt đất, Ngài đi bảy bước, nhìn khắp bốn phương, giơ một tay lên nói (Đại 1, 4 hạ): Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn (Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quí). Thích môn qui kính nghi quyển thượng nói, vì ở Ấn độ thời bấy giờ có 96 thứ ngoại đạo đều tự gọi là Đại thánh, là thầy trời và người, vì muốn khiến tà về chính nên đức Thế tôn thị hiện tướng đi bảy bước, giơ tay lên trời, nói: Duy ngã độc tôn để biểu thị trong ba cõi chỉ có Phật là tôn quí, sẽ cứu độ tất cả trời, người dứt khổ sống chết, khiến hết thảy chúng sinh đều được yên vui. Còn các tà đạo khác chẳng phải là chỗ để chúng sinh nương cậy, vì thế mà nói Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.3; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.20; Đại đường tây vực kí Q.6].
duy nhất
(惟一) (1202 - 1281) Vị tăng phái Dương kì tông Lâm tế đời Tống, người Mặc trì, Tư châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Giả, hiệu là Hoàn khê. Lúc nhỏ, sư theo học ngài Giác khai ở chùa Phạm nghiệp cùng thôn, 12 tuổi được Trương hưởng tuyền ấn khả sau một cuộc vấn đáp. Năm 20 tuổi sư xuất gia và thụ giới cụ túc ở chùa Cam lộ tại Thành đô năm 22 tuổi. Sau đó, sư đi hỏi đạo các nơi, tham yết ngài Vô chuẩn Sư phạm ở núi Dục vương và được làm thị giả. Về sau, sư theo ngài Vô chuẩn Sư phạm đến Kính sơn giữ chức Tri tạng. Hai năm sau, sư nối pháp thầy làm Thủ tọa. Năm Thuần hựu thứ 6 (1246), sư hoằng pháp ở chùa Thụy nham tỉnh Chiết giang, rồi lần lượt giảng pháp tại các chùa Bảo phong, Huệ lực, Tư thánh, Báo ân quang hiếu ở tỉnh Giang tây, chùa Sùng thánh ở tỉnh Phúc kiến và chùa Cảnh đức ở tỉnh Chiết giang v.v... Sư tịch vào năm Chí nguyên 18, thọ 80 tuổi. Trứ tác: Hoàn khê Duy nhất thiền sư ngữ lục 2 quyển, thu vào Vạn tục tạng tập 122. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.4].
duy nhất thừa
Buddhism has only one vehicle; Buddha vehicle.
duy nhứt
Only—Sole—Unique.
Duy Phật dữ Phật
唯佛與佛; C: wéifóyŭfó; J: yuibutsuyobutsu;|Không ai ngoài chư Phật. Cảnh giới giác ngộ tối hậu theo giáo lí Đại thừa, chỉ có chư Phật mới chứng biết được. Hàng Tiểu thừa và phàm phu không thể nào biết đến cảnh giới nầy được.
duy phật dữ phật tri kiến
(唯佛與佛知見) Sự thấy biết giữa Phật với Phật. Nghĩa là Trí của Phật thì chỉ có Phật với Phật mới biết được, chứ chúng sinh không thể hiểu được. Đồng nghĩa với câu Duy Phật dữ Phật nãi năng cứu tận (Chỉ có Phật với Phật mới biết suốt hết được). Có hai nghĩa: 1. Cảnh giới giác ngộ của Phật chỉ có chư Phật biết với nhau, còn các Bồ tát ở Nhân vị (giai vị tu nhân) không thể biết được. 2. Chỉ có quả Phật (Phật đã chứng ngộ quả Phật) và Nhân Phật (Bồ tát sẽ chứng quả rốt ráo) mới biết được, còn Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) và phàm phu đều không biết được. Kinh Diệu pháp liên hoa quyển 1 (Đại 9, 5 hạ), nói: Pháp hiếm có khó hiểu bậc nhất mà Phật đã thành tựu được thì chỉ có Phật với Phật mới biết cùng suốt được thực tướng của pháp ấy. Theo kinh Pháp hoa thì Duy Phật là chỉ cho đức Thích ca Như lai, còn dữ Phật là chỉ cho các đức Phật khác. Nhưng, theo Đại nhật kinh sớ thì Duy Phật là chỉ cho đức Đại nhật Như lai (chủ), còn dữ Phật thì chỉ cho 19 vị Chấp kim cương trong mạn đồ la (bạn). Mười chín vị Kim cương cũng là thân sai biệt của Như lai, chứ không phải chúng sinh chưa giác ngộ, cho nên nói là chỉ có Phật với Phật. [X. kinh Vô lượng nghĩa; Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1].
Duy Phật dữ Phật 唯佛與佛
[ja] ユイブツヨブツ yuibutsuyobutsu ||| Nobody but the buddhas. The final enlightenment of the Mahāyāna path is experienced by, and known by only buddhas. Lesser vehicle practitioners and worldings have no knowledge of this state. 〔法華經 T 262.9.5c11〕 => Không ai ngoài chư Phật. Cảnh giới giác ngộ tối hậu theo giáo lý Đại thừa, chỉ có chư Phật mới chứng biết được. Hàng Tiểu thừa và phàm phu không thể nào biết đến cảnh giới nầy được.
duy sắc
Sắc tâm không hai, do vậy vạn pháp duy tâm cũng lại là duy sắc (dựa vào duy thức vô cảnh do ngài Hộ Pháp lập ra, và duy cảnh vô thức do ngài Thanh Biện lập ra)—All things are matter because mind and matter are identical, for matter is mind.
duy tha chủ nghĩa
Altruism.
Duy thức
唯識; C: wéishì; J: yuishiki; S: vijñāptimātratā; E: mind only; đồng nghĩa với danh từ Duy tâm (唯心; s: cittamātra);|Nghĩa là chỉ có thức, các pháp đều từ Thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức; danh từ này đồng nghĩa với Duy tâm (cittamātra, cittamātratā). Giáo lí chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và do vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Du-già hành phái (瑜伽行派, s: yogācāra). Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng A-lại-da (阿頼耶識, s: ālaya-vijñāna) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). Chúng hoạt động, tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với chúng, theo quy luật thông thường như hạt giống phát triển thành cây. Mỗi chúng sinh đều có chỗ chứa những cảm nhận và những chúng sinh giống nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau. Giáo lí Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (法; s: dharma) thành 5 nhóm: sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Theo tông Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi »chủng tử«, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ. Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm, và hiện thực của các hiện tượng. Xem chi tiết ở Tam tính (三性).|Nền tảng của giáo lí Duy thức được phát triển bởi Di-lặc (彌勒) và hai anh em Thế Thân Vô Trước, trong những luận giải như Câu-xá luận (倶舎論, s: abhidharma-kośa-bhāṣya), Duy thức tam thập tụng (唯識三十頌, s: triṃśikā vijñaptimātratāsiddhiḥ), Nhiếp đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyā-nasaṃgraha), Du-già sư địa luận (瑜伽師地論, s: yogācārabhūmi-śāstra). Giáo lí Duy thức cũng được trình bày rõ trong kinh Giải thâm mật (s: saṃdhinirmocana-sūtra) và kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra). Nhiếp đại thừa luận ghi: »Các (đối tượng của) thức ấy đều do (ý) thức tạo nên vì vốn (ngoài tâm) không có cảnh trần nào cả. Chúng chỉ như mộng«. (如此衆識唯識以無塵等故譬如夢等).
duy thức
Mattrata (S), Vijāptimātratā (S), Prajāptimātra (S), Cittamātra (S), Yuishiki (J), Sems tsam pa (T), Consciousness-only, Mind-onlyDuy tâm, Ma đát lạt đa.
; Vijnànavàda, Yogàcàra (S). Consciousness only.
; Vijnanamatra or Vada or Cittamatra (skt)—See Duy tâm.
; (唯識) Phạm:Vijĩapti-màtratà. Âm Hán: Tì nhã để ma đát lạt đa. Thức là bản thể của tâm, ngoài sự biến hiện của thức, không có bất cứ vật gì thực sự tồn tại nên gọi là Duy thức. Nghĩa là các hiện tượng tâm, vật bên ngoài đều do Kiến phần (chủ quan) và Tướng phần (khách quan) của tự thể tám thức biến hiện ra. Vả lại, những hình dạng tương tự của các đối tượng nhận thức chỉ là bóng dáng từ trong tâm ánh hiện ra mà cho là có thật, rồi đến bản chất của các cảnh vật được xem là đối tượng nhận thức cũng từ những hạt giống trong thức A lại da biến sinh ra, cho nên ngoài duy thức không có thực tại nào khác, gọi là Duy thức vô cảnh (chỉ có thức không có đối tượng), hoặc căn cứ theo nghĩa từ thức biến ra mà gọi là Duy thức sở biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 thì sự biến hiện của thức có thể được chia làm hai: 1. Nhân năng biến, cũng gọi Nhân biến, Sinh biến. Tất cả sự tồn tại (các pháp) đều từ hạt giống trong thức A lại da biến ra. 2. Quả năng biến, cũng gọi Quả biến, Duyên biến. Kết quả của Nhân biến là do sự phân biệt chủ quan, khách quan của tám thức nhắm vào tác dụng đối tượng. Quán tâm giác mộng sao quyển hạ chia làm hai thứ đạo lí để thuyết minh sự biến hiện của thức: 1. Huân tập đạo lí: Tức là nghĩa sinh biến, hạt giống là do tác dụng của tự tâm gieo sâu trong thức. 2. Chuyển biến đạo lí: Tức là nghĩa duyên biến, do thức biến hiện kiến phần và tướng phần. Giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng là nói về tướng của Duy thức, cho rằng năm vị trăm pháp không ngoài thức, đó là Tổng môn duy thức hoặc Bất li môn duy thức. Trong năm vị, Tâm vương là tự tướng của thức, Tâm sở là những hoạt động tâm lí tương ứng với Tâm vương, Sắc pháp do thức biến hiện, Bất tương ứng hành pháp là phần vị giả lập của ba vị trên (Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp), Vô vi pháp là thực tính của bốn vị trên (Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ứng hành pháp), y cứ vào các lí do trên đây để hiển bày duy thức, gọi là Biệt môn duy thức. Biệt môn duy thức là vì những người độn căn mà phân biệt Năng, Sở để thuyết minh nên cũng gọi là Hư vọng duy thức, Bất tịnh phẩm duy thức, Phương tiện duy thức.Bồ tát từ Sơ địa trở lên có thể liễu ngộ lí duy thức, chứng được trí duy thức không trần cảnh, chỉ còn lại chân thức, gọi là Chân thực duy thức, Tịnh phẩm duy thức hoặc Chính quán duy thức. Luận Thành duy thức quyển 9, đối với giáo lý Duy thức, nêu ra chín nạn (Duy thức cửu nạn) để giải đáp. Đó là: Duy thức sở nhân nạn, Thế sự quai tông nạn, Thánh giáo tương vi nạn, Duy thức thành không nạn, Sắc tuớng phi tâm nạn, Hiện lượng vi tông nạn, Mộng giác tương vi nạn, Ngoại thủ tha tâm nạn và Dị cảnh phi duy nạn. Ngoài ra, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần cuối chia thuyết Duy thức trong các kinh luận thành năm loại Duy thức: Cảnh duy thức, Giáo duy thức, Lí duy thức, Hành duy thức và Quả duy thức. Còn về sự tu hành của tông Duy thức thì có Ngũ trùng duy thức quán (quán năm lớp duy thức). Tông Hoa nghiêm cho ba cõi đều do một tâm tạo tác và nêu ra mười lớp Duy thức để thuyết minh: 1. Tướng kiến câu tồn duy thức. 2. Nhiếp tướng qui kiến duy thức. 3. Nhiếp số qui vương duy thức. 4. Dĩ mạt qui bản duy thức. 5. Nhiếp tướng qui tính duy thức. 6. Chuyển chân thành sự duy thức. 7. Lí sự câu dung duy thức. 8. Dung sự tương nhập duy thức. 9. Toàn sự tương tức duy thức. 10. Đế võng vô ngại duy thức. Nếu suy cứu đến cùng tột thì 10 lớp duy thức trên đây cũng giống như tấm lưới bằng châu ngọc của cung điện Đế thích (Nhân đà la võng), trong một bao hàm tất cả, trong tất cả đều đủ mỗi một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Nếu đem 10 lớp duy thức phối hợp với năm giáo, thì 1, 2, 3 là Thủy giáo, 4, 5, 6, 7 là Chung giáo và Đốn giáo, 8, 9, 10 là Viên giáo.Nhưng Hoa nghiêm kinh đại sớ sao quyển 37 thì xếp Duy thức vào thuyết Tiểu thừa. [X. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.5; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần cuối].
Duy thức bách pháp
唯識百法; C: wéishì băifă; J: yuishikihyaku-hō;|Một trăm pháp chính do tông Duy thức đề xướng.
Duy thức bách pháp 唯識百法
[ja] ユイシキヒャクホウ yuishikihyakuhō ||| The one hundred elements (dharmas) outlined by the Consciousness-only school. => Một trăm pháp chính do tông Duy thức đề xướng.
duy thức chân như
Vijāpti-tathatā (S)Liễu biệt chân như, Duy thức nhưChỉ quán trió của Vô lậu duy thức.
duy thức cửu nan
(唯識九難) Chín vấn đề khó giải đáp được đặt ra cho các nhà Duy thức học. Luận Thành duy thức quyển 9 đã nêu ra và giải đáp chín vấn nạn ấy như sau: 1. Duy thức sở nhân nạn. Căn cứ thành lập Duy thức. Hỏi: Căn cứ vào giáo lí nào mà lập luận Duy thức? Đáp: Căn cứ vào thuyết Chư pháp duy thức trong các kinh luận như: Hoa nghiêm, Giải thâm mật, Lăng già, Duy ma, A tì đạt ma v.v... mà lập luận cảnh trong tâm không lìa thức và dùng bốn tỉ lượng để luận chứng. 2. Thế sự quai tông nạn. Trái với việc đời.Hỏi: Các việc ở đời có nơi chốn thời gian nhất định, có tác dụng thực sự rõ ràng, tại sao lại cho là cảnh không thật? Đáp: Nếu nhất dịnh cho là có cảnh thật thì tại sao cùng duyên theo một vật mà mình và người lại thấy khác nhau, cảm nhận cũng khác nhau? 3. Thánh giáo tương vi nạn. Trái với giáo pháp của Phật. Hỏi: Nếu ngoài tâm không có cảnh thật như sắc v.v... thì tại sao trong kinh Phật lại nói có 12 xứ như sắc v.v...? Đáp: Nói có 12 xứ không phải cho rằng ngoài tâm có sắc thật, mà để biết rõ là ngoài tâm không có sắc thật. 4. Duy thức thành không nạn. Thức cũng là không. Hỏi: Nếu bảo rằng vì muốn chúng sinh biết rõ các pháp là không mà nói duy thức, thì thức ấy rốt cuộc cũng phải là không? Đáp: Vì phá trừ biến kế sở chấp (vọng chấp ngoài tâm thật có pháp), nên nói pháp không, vô ngã, chứ chẳng phải nói cảnh của trí căn bản, trí hậu đắc và lí sự của Y tha, Viên thành cũng là không, cho nên duy thức không mắc lỗi thiên không (chỉ chấp không). 5. Sắc tướng phi tâm nạn. Sắc (vật chất) chẳng phải tâm thức.Hỏi: Sắc có hình, có chất ngại, tại sao lại bảo sắc là duy thức? Đáp: Chúng sinh từ vô thủy đến nay bám dính vào sắc tướng mà bị huân tập (hun ướp thành thói quen), nương vào sức huân tập khởi ra hiện hành, rồi vọng phân biệt mà chấp có cảnh sắc tướng tương tự, chứ chẳng phải có cảnh thật ngoài tâm. 6. Hiện lượng vi tông nạn. Trái với hiện lượng (trực giác). Hỏi: Ngoại cảnh như sắc v.v... là những đối tượng mà trí hiện lượng duyên theo, vậy, nếu không có ngoại cảnh thì làm thế nào mà trí hiện lượng biết được sắc v.v..? Đáp: Đối tượng (cảnh) mà hiện lượng của năm thức trước (mắt tai mũi lưỡi thân) duyên theo chính là tướng phần trong tâm chứ chẳng phải sắc ngoài tâm. Còn khi phân biệt cho đó là sắc v.v... ở ngoài tâm thì là vọng phân biệt của ý thức chứ không phải hiện lượng. 7. Mộng giác tương vi nạn. Mộng và tỉnh trái nhau. Hỏi: Cảnh trong chiêm bao khi tỉnh dậy biết đó là cảnh giả, còn cảnh khi thức thì làm thế nào để biết là không thật? Đáp: Tuy là cảnh chiêm bao nhưng khi đang còn trong chiêm bao thì không tự biết đó là cảnh giả, đến khi tỉnh dậy mới biết; còn cảnh lúc thức cũng thế, khi bất thình lình đại ngộ mới biết là giả. 8. Ngoại thủ tha tâm nạn. Duyên theo tâm người khác. Hỏi: Tâm thức của người khác ở ngoài tâm mình, vậy khi dùng Tha tâm trí (Tha tâm thông: Khả năng đọc được ý nghĩ của người khác) để duyên theo (biết) tâm người khác thì như thế có phải là duyên cảnh ở ngoài tâm hay không? Đáp: Tuy dùng tha tâm trí để duyên theo tâm thức của người khác, nhưng đó chỉ là duyên theo bóng dáng của người ấy ở trong tâm mình, chứ chẳng phải chính mình duyên theo tâm người ấy, cho nên không có lỗi duyên theo cảnh ngoài tâm. 9. Dị cảnh phi duy nạn. Cảnh khác chẳng phải duy thức. Hỏi: Tuy chẳng phải chính mình duyên theo, nhưng ngoài tâm mình có cái cảnh khác của tâm người thì như thế có được gọi là duy thức hay không? Đáp: Duy thức chẳng phải là thức của một người duy nhất, thế giới trong 10 phương có vô lượng phàm thánh, tất cả các pháp là do duy thức của mỗi vị phàm thánh này biến hiện. Cái gọi là Duy thức là để trừ diệt lỗi chấp trước của phàm tình cho rằng ngoài tâm có pháp thật, thành lập duy thức sở biến chẳng phải chủ trương thức sở biến của một người. (xt. Duy Thức).
duy thức gia
See Duy Thức Tông.
duy thức học
Giáo điển dạy Tâm Lý Học, về tám thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, Mạt na và A Lại Da). Những thức nầy giúp chúng sanh phân biệt phải trái—The doctrine which teaches the psychology of the eight consciousnesses (sight, hearing, smell, taste, touch, mind, Mana and Alaya). These consciousnesses enable sentient beings to discriminate between right and wrong of all dahrmas (thoughts, feelings, physical things, etc).
duy thức học cương yếu
General Teaching of Consciousness—The finer point of the Teaching of Consciousness—See Duy Thức Học.
duy thức khai mông
(唯識開蒙) Gồm 2 quyển, do ngài Vân phong biên tập vào đời Nguyên, thu vào Vạn tục tạng tập 98. Tên đầy đủ: Duy thức khai mông vấn đáp. Từ cuối đời Đường trở về sau, sự nghiên cứu Duy thức học bị gián đoạn, cho đến thời Nguyên, Minh mới bắt đầu lại và có rất nhiều sách chú thích về Duy thức xuất hiện, bộ sách này chính đã được hoàn thành vào thời ấy. Nhưng đây không phải là sách chú thích, mà là trích ra những điểm quan trọng trong Duy thức học đặt thành 150 tiêu đề rồi dùng thể vấn đáp để trình bày yếu chỉ Duy thức. Bộ sách này là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu giáo học Duy thức trong thời Nguyên, Minh.
Duy thức luận
唯識論; C: wéishì lùn; J:;|1. Tên gọi tác phẩm của Bát-nhã Lưu-chi (般若流支) dịch Duy thức nhị thập luận của Thế Thân, 1 quyển, Duy thức nhị thập luận (唯識二十論); 2. Chỉ Thành Duy thức luận (成唯識論).
duy thức luận
Vidyāmatra-siddhi-śāstra-kārikā (S)Bộ Luận cho cái thức là đáng kễ. Bộ này do Ngài Thiên Thân Bồ tát được ngài Di Lặc Bồ tát hợ trợ soạn nên vào thế kỷ thứ 5. Thế kỷ thứ 7, ngài Huyền Trang dịch ra chữ Hán.
; Vijnaptimatrasiddhi-sastra.
; (唯識論) I. Duy thức luận. Tên khác của luận Thành duy thức, 10 quyển, ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31. Bộ Duy thức tam thập tụng của bồ tát Thế thân được 10 vị đại luận sư chú giải, trong đó, ngài Huyền trang lấy chú giải của ngài Hộ pháp làm chính và lựa chọn những chú giải của chín luận sư còn lại, tổng hợp mà biên soạn thành một bộ luận mới này. (xt. Thành Duy Thức Luận). II. Duy thức luận. Chỉ cho hai bản dịch khác của bộ Duy thức nhị thập luận do bồ tát Thế thân soạn. Đó là : 1. Đại thừa lăng già kinh duy thức luận, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi (có thuyết nói ngài Cù đàm bát nhã lưu chi) dịch vào thời Bắc Ngụy, thu vào Đại chính tạng tập 31. Cũng gọi Lăng già kinh duy thức luận, Lăng già duy thức luận, Phá sắc tâm luận, Duy thức vô cảnh luận, Duy thức vô cảnh giới luận, Đại thừa duy thức luận. 2. Đại thừa duy thức luận, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, thu vào Đại chính tạng tập 31. Cũng gọi Duy thức vô cảnh giới luận. Nội dung nói rõ nghĩa ba cõi duy thức, ngoài tâm không có cảnh. Ngài Thế thân soạn bộ luận này nhằm phá các thuyết của ngoại đạo. (xt. Duy Thức Nhị Thập Luận)
Duy thức luận 唯識論
[ja] ユイシキロン Yuishiki ron ||| (1) Prajñāruci's 般若流支 translation of Vasubandhu's Viṃśatikā vijñapti-mātratā-siddhiḥ. One fascicle, T 1588.31.63-70. See 唯識二十論. (2) A reference to the 成唯識論. => 1. Tên gọi tác phẩm của Bát-nhã Lưu-chi dịch Duy thức nhị thập lụân của Thế Thân.1 quyển. Xem Duy thức nhị thập luận. 2. Đề cập đến Thành Duy thức luận.
duy thức mạn đồ la
(唯識曼荼羅) Mạn đồ la của các vị Tổ sư tông Pháp tướng. Ở chính giữa vẽ bồ tát Di lặc, bên cạnh là các vị : Vô trước, Thế thân, 10 Đại luận sư Duy thức: Huyền trang, Khuy cơ, Huệ chiểu v.v...
Duy thức ngũ trùng
唯識五重; C: wéishì wŭzhòng; J: yuishiki gojū;|Ngũ trùng Duy thức (五重唯識).
Duy thức ngũ trùng 唯識五重
[ja] ユイシキゴジュウ Yuishiki gojū ||| See 五重唯識. => Xem Ngũ trùngDuy thức 五重唯識.
duy thức như
Xem Duy thức chân như.
Duy thức nhị thập luận
唯識二十論; C: wéishì èrshí lùn; J:;|Của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 661. Cũng có bản dịch của Bát-nhã Lưu-chi (s: prajñāruci) với tên Duy thức luận (唯識論) và bản dịch của Chân Đế (s: paramārtha) với nhan đề Đại thừa Duy thức luận (大乘唯識論). Đây là một tác phẩm Duy thức quan trọng mang tính triết học nhất của Thế Thân, nhằm bác bỏ thuyết thực hữu của ngoại đạo và của các trường phái Tiền-Đại thừa. Hamilton đã dịch luận giải của Huyền Trang và luận giải (Thuật kí 述記) của Khuy Cơ. Những bản dịch khác không dựa vào tiếng Hán còn có bản của Anacker (1984) and Kochumuttom (1982).
duy thức nhị thập luận
Vidyāmātra-vīmśātī-śāstra (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
; (唯識二十論) Phạm : Viôzatikà-vijĩapti-màtratàsiddhi#. Có 1 quyển do bồ tát Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Nhị thập duy thức luận, Tồi phá tà sơn luận, thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này dẫn dụng câu Tam giới duy tâm (ba cõi chỉ do tâm) trong kinh Thập địa để luận chứng cảnh ở ngoài do thức hiển hiện, nói rõ nghĩa chỉ do thức không có cảnh để bác bỏ sự thiên chấp của Tiểu thừa và ngoại đạo. Đây là một trong 11 bộ luận của tông Pháp tướng, một trong 10 chi luận của Du già.Nội dung sách này gồm có 21 bài tụng thể năm chữ, dựa vào đó mà giải thích ý nghĩa rõ ràng. Trước hết, nói về yếu chỉ Tam giới duy thức, kế đó, giải thích bốn vấn nạn do Tiểu thừa và ngoại đạo đặt ra để thành lập lí Vạn pháp duy thức. Bài tụng cuối cùng nói về tông nghĩa, dựa theo con số kệ tụng mà lấy tên là Nhị thập luận. Ngoài bản dịch của ngài Huyền trang, luận này còn có hai bản dịch khác nữa, đó là : 1. Đại thừa duy thức luận 1 quyển, ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều. 2. Đại thừa lăng già kinh duy thức luận 1 quyển (cũng gọi Phá sắc tâm luận), do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy. Trong ba bản dịch này, bản của ngài Bồ đề lưu chi văn xuôi nhiều, kệ tụng ít, tất cả có 23 bài tụng; bản của ngài Chân đế văn xuôi ít, kệ tụng nhiều, có 24 bài tụng; bản của ngài Huyền trang văn xuôi, văn kệ bằng nhau, có 21 bài tụng. Luận này có rất nhiều sách chú thích. Ở Ấn độ, bắt đầu là luận sư Cù ba - đệ tử của bồ tát Thế thân - có hơn 10 nhà chú thích, trong đó, Thành duy thức bảo sinh luận 5 quyển của ngài Hộ pháp là quan trọng hơn cả. Tại Trung quốc thì có: Nhị thập duy thức luận thuật kí 2 quyển do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường; Duy thức nhị thập luận sớ 2 quyển do ngài Viên trắc người Tân la soạn. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần đầu; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6 đến Q.9].
Duy thức nhị thập luận thuật kí
唯識二十論述記; C: wéishì èrshílùn shùjì; J: yuishiki nijūron jukki;|Tác phẩm của Khuy Cơ, 2 quyển. Luận giải về Duy thức nhị thập luận (唯識二十論) của Huyền Trang.
duy thức nhị thập luận thuật kí
(唯識二十論述記) Gồm 2 quyển, do ngài Khuy cơ (632- 682) soạn vào đời Đường. Cũng gọi là Nhị thập luận thuật kí, Nhị thập duy thức thuật kí, Nhị thập duy thức luận thuật kí, Nhị thập duy thức luận sớ. Thu vào Đại chính tạng tập 43. Là sách chú thích luận Duy thức nhị thập của ngài Thế thân (bản dịch của ngài Huyền trang). Nội dung sách này, trước hết nói về lí do soạn luận, kế đến chia làm ba môn để giải thích rõ nghĩa an lập Đại thừa tam giới duy thức và giải thích các vấn đề như : Phi nhất thiết chủng bát hữu tính ........ v.v... Luận Duy thức nhị thập và luận Thành duy thức là những bộ sách căn bản của tông Pháp tướng, bởi thế, Duy thức nhị thập luận thuật kí và Thành duy thức luận thuật kí trở thành sách nhập môn cơ bản của Duy thức học.
Duy thức nhị thập luận thuật ký 唯識二十論述記
[ja] ユイシキニジュウロンジュッキ Yuishiki nijūron jukki ||| The Weishi ershilun shuji; 2 fascicles, T 1834.43.978-end, by Kuiji 窺基. A commentary on Xuanzang's 唯識二十論. => Của Khuy Cơ, 2 quyển. Luận giải về Duy thức nhị thập luận của Huyền Trang.
duy thức nhị thập luận tụng duy thức nhị thập luận tụng
Vimśātīkā-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.
Duy thức nhị thập luận 唯識二十論
[ja] ユイシキニジュウロン Yuishiki nijū ron ||| The Weishi ershi lun; Viṃśatikā vijñapti-mātratā-siddhiḥ, Vimsatikā-vṛtti (Twenty Verses on Consciousness-only). T 1590.31.74-77. By Vasubandhu 世親, translated in 661 by Xuanzang 玄奘. There are also translations by Prajñāruci (唯識論) and Paramārtha (大乘唯識論). This was one of Vasubandhu's most philosophically important Yogācāra works, which refutes the realism of the non-Buddhist and pre-Mahāyāna schools. Hamilton translated Xuanzang's version and Kuiji's commentary (述記). Translations not from Chinese include Anacker (1984) and Kochumuttom (1982). => Của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 661. cũng có bản dịch của Bát-nhã Lưu-chi (s: Prajñāruci) với tên Duy thức luận (唯識論) và bản dịch của Chân Đế (s: Paramārtha) với nhan đề Đại thừa Duy thức luận (大乘唯識論). Đây là một tác phẩm Duy thức quan trọng mang tính triết học nhất của Thế Thân, nhằm bác bỏ thuyết thực hữu cũa ngoại đạo và của các trường phái tiền Đại thừa. Hamilton đã dịch luận giải của Huyền Trang và luận giải (Thuật ký 述記). của Khuy Cơ. Những bản dịch khác không dựa vào tiếng Hán còn có bản của Anacker (1984) and Kochumuttom (1982).
duy thức nhị thập tụng
Viṃśikā-vijāptimātrata-siddhi-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.
Duy thức phái
唯識派; C: wéishìpài; J: yuishikiha;|Duy thức tông.
Duy thức phái 唯識派
[ja] ユイシキハ yuishikiha ||| The Consciousness-only school of thought, which took as its major tenet the concept that the experienced world is nothing other than the manifestation of our own consciousness. This basic view of the world formed the cornerstone of the doctrines of the Yogācāra school 瑜伽行派 in India as well as the "Dharma-characteristic" sects 法相宗 of East Asia, and therefore the term "School of Consciousness-only" is regularly used to refer to either one of these sects. The Yogācāra 瑜伽行派 school of Indian Buddhism, which together with the Middle Way (Mādhyamika; 中觀派) school, represented one of the two main branches of Mahāyāna philosophy. Its great teachers in India were Asaṅga (fourth century CE) 無著・無着 and his brother Vasubandhu 世親. When Asaṅga's works were first translated into Chinese in the sixth century CE, the school was known as Shelun 攝論宗, but eventually it was absorbed into the school of the great Chinese translator-monk Hsüan-tsang 玄奘 (596-664). Hsüan-tsang's school was known as the Fa-hsiang ['dharma-characteristic'] school, after this main feature of its teachings. => Trường phái tư tưởng Duy thức, nhận nguyên lý chủ yếu ý niệm về thế giới thường nghiệm không gì khác hơn là sự biểu hiện của chính tâm thức mình. Quan điểm cơ bản về thế giới nầy đặt nền tảng trên giáo lý của Du-già hành phái Ấn Độ và cũng là Pháp tướng tông của Đông á, bởi vậy nên “Duy thức tông” thường được dùng để gọi cả hai tông nầy. Du-già hành phái Ấn Độ cùng với Trung đạo phái (s: Mādhyamika,c: 中觀派), đại diện cho một trong hai nhánh chính của triết học Đại thừa Phật giáo. Vị thầy vĩ đại của tông phái nầy ở Ấn Độ là Vô Trước và người anh là Thế Thân. Khi các tác phẩm của Thế Thân lần đầu tiên được dịch sang tiếng Hán vào thế kỷ thứ 6, tông nầy được gọi là Nhiếp luận tông, nhưng cuối cùng nó bị thu hút bởi đại dịch giả Pháp sư Huyền Trang, Hsüan-tsang 玄奘 (596-664). Tông phái ngài Huyền Trang sáng lập được gọi là Pháp tướng tông, nhờ vào đặc điểm nổi bật của giáo lý ấy.
duy thức pháp thân quán
(唯識法身觀) Chỉ cho pháp quán về lí pháp thân, tức quán Phật với tâm mình là một thể. Cái gọi là duy thức, hàm ý là ngoài tâm Như lai tạng ra không có pháp nào khác. Tâm Như lai tạng tuy bị phiền não trói buộc, nhưng là nguồn gốc của tất cả các pháp. Theo đó, có thể nói, đã là duy thức thì pháp thân của chư Phật và tâm Như lai tạng còn trong phiền não là cùng một thể, cũng tức là ngoài duy thức không có pháp thân, cho nên, có thể quán Phật và tâm tính của mình là nhất thể. Trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Định thiện nghĩa), khi giải thích câu Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, ngài Thiện đạo đã nêu ra những kiến giải khác nhau ở đương thời, rồi nói (Đại 37, 267 trung) : Hoặc có hành giả lấy nghĩa của môn này làm pháp quán Duy thức pháp thân, hoặc làm pháp quán Tự tính thanh tịnh Phật tính. Pháp quán Tự tính thanh tịnh Phật tính là quán Phật từ trong tâm tính mình hiển hiện, còn pháp quán Duy thức pháp thân thì quán pháp thân của Phật là cùng thể với pháp thân của mình, cho nên, tên gọi thì khác mà thể thực thì đồng. Hai chữ hành giả trong đoạn trích ở trên là ngài Thiện đạo ám chỉ các ngài Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng v.v...
duy thức quán
Ba đối tượng trong Duy Thức quán—The three subjects of idealistic reflection: 1) Biến Kế Sở Chấp Tính: Quán thật tánh của ngã và chư pháp—Ego and things are realities. 2) Y Tha Khởi Tính: Quán chư pháp được sanh ra bởi nhân duyên—Things are produced by caused and circumstance. 3) Viên Thành Thực Tính: Quán chỉ có Chân như là hiện thực—Bhutatathata is the only reality.
Duy thức tam thập luận
唯識三十論; C: wéishì sānshí lùn; J: yuishiki sanjū ron; |Của Thế Thân. Huyền Trang dịch năm 648 tại chùa Hoằng Phúc. Đây là văn bản gốc để viết luận giải Thành duy thức luận (成唯識論). Nhan đề bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Phạn là Triṃśikā-vijñaptimātra-śāstra. Đây là một tác phẩm căn bản của tông Duy thức vùng Đông nam á, vì nó khế hợp chính xác với hầu hết giáo lí cơ bản như sự trình bày về hữu vi pháp từ quan niệm a-lại-da thức, và giảng giải vọng tưởng được trừ diệt như thế nào khi giác ngộ. Lusthaus phiên dịch (2000). Các bản dịch khác có thể đọc qua tác phẩm của Anacker (1984) và Kochumuttom (1982).
Duy thức tam thập luận tụng
唯識三十論頌; C: wéishì sānshí lùnsòng; J: yuishiki sanjū ronshō; S: triṃśikā yijñapti-mātratāsiddhiḥ|1 quyển, Huyền Trang dịch. Là tác phẩm tiêu biểu của Thế Thân, luận giải quan trọng nhất để lập thành giáo lí của Du-già hành tông, từ đó những nguyên tắc quan trọng từ trước đến nay đã được giải thích bởi Di-lặc và Vô Trước được giải thích lại tinh tế theo lập trường của thức chuyển biến (識轉變; s: vijñāna-pariñāma) trong 30 bài kệ ngắn. Do Thế Thân viên tịch mà không trứ tác luận giải về các bài kệ nầy, hàng môn đệ học giả kế tục bận rộn với việc tranh luận với nhau về luận giải nầy đến mức làm phát sinh nhiều trường phái Duy thức. Trong số các luận giải nầy, tác phẩm của Hộ Pháp được xem là chính thống. Luận giải nầy cấu thành nội dung chính của Thành duy thức luận, được Huyền Trang dích sang tiếng Hán nhan đề Thành Duy thức luận (成唯識論), trở nên một bản văn chủ yếu lập thành Pháp tướng tông Trung Hoa.
duy thức tam thập luận tụng
Triṃśikākārikā (S), Vijāptimātratā-siddhi-triṃśika-śāstra-kārikā (S), Vidyāmātrā siddhi tridaśa śāstra kārikā (S), Vijāna matra siddhi trimśātī śāstra kārikā (S), Triṃśikā vijaptimātratā kārikā (S)Tam thập duy thức, Thành duy thức luậnSách ghi 30 bài tụng luận về duy thức. Trong ấy 24 bài nói về tướng duy thức, 1 nói về tánh duy thức, 5 nói về vị duy thức. Sách do Ngài Thiên Thân soạn, ngài Huyền Trang dịch ra chữ Hán.
; (唯識三十論頌) Phạm :Triôzikà-vijĩapti-màtratàsiddhi. Có 1 quyển, ngài Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Duy thức tam thập tụng, Duy thức tam thập luận, Tam thập duy thức luận, Cao kiến pháp chàng luận. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này dùng 30 bài kệ tụng để giải thích rõ nghĩa Duy thức (24 bài đầu nói rõ về tướng của Duy thức, một bài kế tiếp nói về tính Duy thức, năm bài cuối cùng nói về hành vị của Duy thức). Sách này là một trong 10 chi luận của Du già. Lúc lâm chung, ngài Thế thân dùng 30 bài tụng, gồm 100 lời để trình bày chỉ thú của pháp tướng Đại thừa. Về sau, các vị luận sư như: ngài Hộ pháp, An tuệ v.v... đều có chú thích và soạn thêm 2 bài tụng làm phần tựa, phần lưu thông. Năm Hiển khánh thứ 4 (659) đời vua Cao tông nhà Đường, ngài Huyền trang lấy học thuyết của ngài Hộ pháp làm chính, rồi tông hợp các chú thích của các vị luận sư khác mà biên dịch thành bộ luận Thành duy thức 10 quyển. Như đã nói ở trên, nội dung luận này gồm 30 bài kệ tụng giải thích giáo nghĩa Duy thức. Mỗi bài kệ đều trước hết lập luận vạn pháp là do duy thức biến hiện, chia thức năng biến làm ba loại: Dị thục (thức thứ 8), Tư lượng (thức thứ 7), Liễu biệt cảnh (6 thức trước), kế đến nói về lí duy thức, cuối cùng nêu rõ ba tính duy thức và thứ bậc tu hành. Về chú sớ có: Luận Thành duy thức 10 quyển; Lược thích 1 quyển (Khuy cơ), Duy thức tam thập luận ước ý 1 quyển (Minh dục); Duy thức tam thập luận trực giải 1 quyển (Trí húc), Duy thức tam thập tụng cẩm hoa 1 quyển (Chân kính), Duy thức tam thập tụng lược sớ 4 quyển (Viên minh) v.v... Còn luận Chuyển thức do ngài Chân đế dịch vào thời Nam triều là bản dịch khác của sách này. (xt. Luận Thành Duy Thức). DUY THỨC TAM THẬP TỤNG THÍCH Phạm: Triôzikà-vijĩapti-bhàwya. Cũng gọi Tam thập liễu biệt thích, Duy thức tam thập tụng thích luận, do ngài An tuệ người Ấn độ soạn, giải thích bộ Duy thức tam thập luận tụng của ngài Thế thân. Phần nội dung thì trước hết trình bày lí do tạo luận, kế đó, nói rõ thứ tự các bài tụng và ý nghĩa câu văn, đồng thời, viện dẫn kinh A tì đạt ma, Nhập vô phân biệt đà la ni (Phạm: Nirvikalpa-pravezadhàraịì) và các kệ tụng khác để chứng minh cho thuyết của tác giả. Bộ sớ này hiện có bản dịch tiếng Pháp và tiếng Nhật.
Duy thức tam thập luận tụng 唯識三十論 頌
[ja] ユイシキサンジュウロンショウ Yuishiki sanjū ronshō ||| Wei-shih san-shih lun sung; the Triṃśikā Vijñaptimātratāsiddhiḥ (Thirty Verses on Consciousness-only; 1 fasc., by Vasubandhu 世親, trans. Xuanzang 玄奘. A representative work by Vasubandhu which is one of the most important texts for the establishment of Yogācāra doctrine, wherein the most important principles heretofore explained by Maitreya 彌勒 and Asaṅga 無著 are skillfully and economically re-explained from the standpoint of the transformation of consciousness (識轉變, vijñāna-pariñāma) in a short thirty verses. Since Vasubandhu passed away without having ever written explanatory commentary on these verses, succeeding generations of scholars engaged in extensive debate over their interpretation, to the extent that various schools of Yogācāra developed. Among these interpretations, it was that by Dharmapāla 護法 which came to be taken as orthodox. This commentary by Dharmapāla formed the major content of the Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra, which was translated into Chinese by Xuanzang 玄奘 as the Cheng weishi lun 成唯識論, in turn an important text in the formation of the Chinese Faxiang school 法相宗. T 1586.31.60a-61b. => Của Thế Thân, 1quyển, Huyền Trang dịch. Là tác phẩm tiêu biểu của Thế Thân, luận giải quan trọng nhất để lập thành giáo lý của Du-già hành tông, từ đó những nguyên tắc quan trọng từ trước đến nay đã được giải thích bởi Di-lặc và Vô Trước được giải thích lại tinh tế theo lập trường của thức chuyển biến (c: 識轉變; s: vijñāna-pariñāma) trong 30 bài kệ ngắn. Do Thế Thân viên tịch mà không trứ tác luận giải về các bài kệ nầy, hàng môn đệ học giả kế tục bận rộn với việc tranh luận với nhau về luận giải nầy đến mức làm phát sinh nhiều trường phái Duy thức. Trong số các luận giải nầy, tác phẩm của Hộ Pháp được xem là chính thống. Luận giải nầy cấu thành nội dung chính của Thành Duy thức luận, được Huyền Trang dích sang tiếng Hán nhan đề Thành Duy thức luận (Cheng weishi lun 成唯識論),trở nên một bản văn chủ yếu để lập thành Pháp tướng tông Trung Hoa.
Duy thức tam thập luận 唯識三十論
[ja] ユイシキサンジュウロン Yuishiki sanjū ron ||| The Weishi sanshi lun; Triṃsikā (Thirty Verses on Vijñapti-mātra Treatise) Vasubandhu 世親1586 Translated by Xuanzang 玄奘 in 648 at Hongfu Monastery. This is the root text on which the Cheng weishi lun 成唯識論 expounds. The Chinese title would literally translate into Sanskrit as Triṃsikā-vijñapti-mātra śāstra. This is a basic work for East Asian Yogācāra, as it articulates the most basic doctrines such as the production of conditioned phenomena 有爲法 from the ālayavijñāna 阿頼耶識, and teaches how illusion is eliminated in the attainment of enlightenment. Translated in Lusthaus (2000). Other translations, from Sanskrit, found in Anacker (1984) and Kochumuttom (1982). => Của Thế Thân. Huyền Trang dịch năm 648 tại chùa Hoằng Phước. Đây là văn bản gốc để viết luận giải Thành duy thức luận (c: Cheng weishi lun; 成唯識論). Nhan đề bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Sanskrit là Triṃsikā-vijñapti-mātra śāstra. Đây là một tác phẩm căn bản của tông Duy thức vùng Đông nam á, vì nó khế hợp chính xác với hầu hết giáo lý cơ bản như sự trình bày về hữu vi pháp từ quan niệm a-lại-da thức, và giảng giải vọng tưởng được trừ diệt như thế nào khi giác ngộ. Lusthaus phiên dịch (2000). Các bản dịch khác có thể đọc qua tác phẩm của Anacker (1984) và Kochumuttom (1982).
Duy thức tam thập tụng
唯識三十頌; C: wéishì sānshí sòng; J: yuishiki sanjū shō;|Duy thức tam thập luận tụng (唯識三十論頌).
duy thức tam thập tụng
Vijnaptimatrata-trimsika (skt)—See Tam Thập Tụng Duy Thức.
duy thức tam thập tụng thích
Triṃśikā-bhāṣya (S), Trimśatikā (S)Tên một bộ luận kinh.
Duy thức tam thập tụng 唯識三十 頌
[ja] ユイシキサンジュウショウ Yuishiki sanjū shō ||| See 唯識三十論頌. T 1586.31.60a-61b. => Xem Duy thức tam thập luận tụng 唯識三十論 頌.
duy thức tam tính quán
See Duy Thức Quán.
; (唯識三性觀) Tức là pháp quán ba tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính của Duy thức. Cũng gọi Tam tính quán hạnh, Duy thức quán, Duy thức tâm định. Để hiển bày thực tính của Duy thức, luận Thành duy thức quyển 9 căn cứ vào ba tính mà lập hai thứ tương đối là Chân vọng và Chân tục, tức: Biến kế là tính duy thức hư vọng, Y tha là tính duy thức thế tục, Viên thành là tính duy thức chân thực. Như Duy thức nhị thập luận thuật kí quyển thượng giải thích: Tính Biến kế sở chấp là thức hư vọng; tính Y tha khởi thì chẳng phải có mà dường như có, là do nhân duyên sinh, cho nên là thức của nhân duyên, tức là tướng của thức; tính Viên thành thực là thức chân thực, tức là tính của thức. Ba tính của cảnh sở quán thông với ba tính duy thức, vì thế gọi là Duy thức tam tính quán. Tu pháp Duy thức tam tính quán này, từ cạn đến sâu có năm lớp: 1. Khiển hư tồn thực thức (bỏ thức hư giả, giữ lại thức chân thực): Quán hư vọng để trừ bỏ sở chấp, giữ lại cái thực của hai tính Y tha, Viên thành : Đây là pháp quán hư thực đối nhau. 2. Xả lạm lưu thuần thức (Bỏ thức tạp nhạp, giữ lại thức tinh thuần), tức là pháp quán tâm, cảnh đối nhau. 3. Nhiếp mạt qui bản thức (đưa thức ngọn về thức gốc), tức là pháp quán thể, dụng đối nhau. 4. Ẩn liệt hiển thắng thức (ẩn kín thức kém, hiển bày thức hơn) tức là pháp quán tâm, tâm sở đối nhau. 5. Khiển tướng chứng tính thức (bỏ tướng mà chứng tính của thức), là sự, lí đối nhau, đến đây là tột bậc của pháp quán Duy thức. (xt. Tam Tính, Ngũ Trùng Duy Thức).
duy thức thập nhị luận
Vimśātīkā-vijapti-matrata-siddhi (S)Tên một bộ luận kinh.
duy thức trung đạo
Theo Pháp Tướng Tông thì chư pháp duy tâm tạo, chứ không thật mà cũng không giả—The madhya, or medial doctrine of idealism as held by the Dharmalaksana school (Pháp Tướng Tông), that all things are of mind-evolution, and are neither in themselves real or unreal.
Duy thức tu đạo ngũ vị
唯識修道五位|Ngũ đạo
duy thức tu đạo ngũ vị
See Ngũ Vị (C).
duy thức tâm định
See Duy Thức Quán.
Duy thức tông
唯識宗; S: vijñaptimātravāda, yogācāra, citta-mātravāda;|Tên gọi tại Ðông, Ðông Nam Á của một trường phái Phật giáo. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông, Thức học (vijñānavāda), hoặc Du-già hành tông (s: yogācāra), tại Tây Tạng, người ta cũng gọi là Duy tâm tông (唯心宗; s: cittamā-trin). Ðây là một trong hai trường phái chính của Phật giáo Ðại thừa do hai Ðại sư Vô Trước (無著; s: asaṅga) và người em là Thế Thân (世親; s: vasubandhu) sáng lập. Tương truyền rằng, chính Ứng thân (Ba thân) Bồ Tát Di-lặc (彌勒; s: maitreya) khởi xướng trường phái này ở thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên.|Quan điểm trung tâm của trường phái này là – như tên đã nói – tất cả mọi hiện tượng con người cảm nhận được đều là »duy thức« (vi-jñāptimātratā), chỉ là thức (tâm); mọi hiện tượng đều là cảm nhận của thức, không có đối tượng độc lập, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì có thật. Như thế, »thế giới« bên ngoài thuần tuý chỉ là thức vì khách quan không có thật và chủ quan cũng không có thật nốt. Sự cảm nhận chỉ là quá trình của một tưởng tượng, một ảnh ảo của một khách quan bị tưởng lầm là có thật. Quá trình này được giải thích bằng khái niệm A-lại-da thức (阿賴耶識; s: ālayavijñāna). Ngoài những quan điểm trên, khái niệm Ba thân Phật (三身; s: trikāya) cũng được Duy thức tông giải thích trọn vẹn. Ðại diện xuất sắc của Duy thức tông, ngoài các nhà sáng lập nói trên, là An Huệ (安慧; s: sthiramati), Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) – hai luận sư đã tạo thêm hai nhánh khác nhau trong Duy thức tông – và Trần-na (陳那; s: dignā-ga), Pháp Xứng (法稱; s: dharmakīrti, xem Mười đại luận sư).|Tên Phạn ngữ (sanskrit) khác của Duy thức tông là Du-già hành tông (yogācāra), vì lí do là đệ tử phái này rất chú trọng việc hành trì Du-già (s: yoga), quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện của một Bồ Tát.|Thế giới bên ngoài được Duy thức tông giải thích như sau: A-lại-da thức, vốn chứa tất cả các chủng tử của quá khứ, mang sẵn những mầm, chủng tử (s: bīja) và các mầm đó sản sinh các hiện tượng tâm thức. Các chủng tử đó chín muồi theo tác động của Nghiệp (s: karma), chúng tác động qua lại lẫn nhau làm con người thấy một ảnh ảo mà cho nó là có thật. A-lại-da thức được so sánh với một dòng nước chảy, luôn luôn mới mẻ và liên tục, tiếp tục sinh hoạt động sau khi chết và sự liên tục của nó chính là cơ sở của sự tái sinh. Những cảm nhận của con người, vì bị »ô nhiễm« nên chúng sinh ra một ấn tượng về cái »ta«. Ấn tượng về cái »ta« là sai lầm, vì thật ra chỉ có »sự cảm nhận« chứ không có »người cảm nhận«. Và cũng vì vô minh mà cho rằng có tự ngã nên con người bám víu vào đó để chịu Khổ. Duy thức tông dựa vào thuyết dưới đây – được gọi là thuyết Tam tự tính (s: trisvabhāva) – để giải thích sự cảm nhận, nhận thức ngoại cảnh.|Tam tự tính là:|1. Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: pari-kalpita-svabhāva), còn được gọi là huyễn giác (幻覺) hay thác giác (錯覺): Tất cả những hiện hữu đều là kết quả của trí tưởng tượng (huyễn giác), do chấp trước, cho rằng sự vật trước mắt là có thật, là độc lập;|2. Y tha khởi tính (依他起性; s: paratantra-sva-bhāva), nghĩa là dựa vào cái khác mà sinh ra: Tất cả pháp hữu vi đều do Nhân duyên mà phát sinh, lệ thuộc vào nhau, không có tự tính (s: asva-bhāva);|3. Viên thành thật tính (圓成實性; s: pariniṣpan-na): Tâm vốn thanh tịnh, là Chân như (s: tathatā), Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha), là tính Không (s: śūnyatā).|Phương cách giải thoát của Duy thức tông dựa vào con đường của Phật giáo nguyên thuỷ, gồm có bốn mức độ (hoặc năm, trong hệ thống năm cấp thì 1 và 2 bằng cấp 1 ở đây, xem thêm Ngũ đạo), đòi hỏi hành giả hành trì các Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) và Ðịnh (s: samādhi):|1. Gia hạnh (s: prayoga): Hành giả (Bồ Tát) nhận ra rằng không có gì ngoài Tâm;|2. Kiến (s: darśana): Hành giả dựa trên giáo pháp đích thật, đạt Như thật tri kiến, bước vào Thập địa (s: bhmi). Hành giả thống nhất khách quan chủ quan là một. Trong giai đoạn này, hành giả loại trừ Phiền não (s: kleśa).|3. Tu tập (s: bhāvanā): Hành giả tu tập và vượt qua Bồ Tát thập địa;|4. Thánh quả: Hành giả diệt tận phiền não, chấm dứt Luân hồi. Vị Bồ Tát đã chứng đạt Pháp thân (s: dharmakāya).|Duy thức tông phát triển mạnh nhất trong thế kỉ thứ 6 sau Công nguyên. Một trong những trung tâm quan trọng của Duy thức tông là Ðại học Na-lan-đà (s: nālandā) ở Bắc Ấn Ðộ. Nơi đó, Hộ Pháp đã chủ trương một quan điểm duy thức tuyệt đối. Song song với Na-lan-đà cũng có một trung tâm khác không kém quan trọng tại Va-la-bi (valabhī), được một Ðại luận sư khác của Duy thức tông là Ðức Huệ (s: guṇamati) sáng lập. Ðại diện xuất sắc nhất của trường phái Duy thức này là An Huệ (s: sthiramati), một môn đệ của Ðức Huệ. Khác với Hộ Pháp, An Huệ có cái nhìn tương đối hơn về duy thức, bắt cầu nối giữa quan điểm »Thật tướng« của Long Thụ (s: nāgārjuna) và quan niệm »Nhất thiết duy tâm tạo.« Sư dung hoà triết lí của Duy thức tông và tư tưởng thật tính của Trung quán tông. Trần-na (s: dignāga) và Pháp Xứng (s: dhar-makīrti) kết hợp quan điểm Duy thức và Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) để sinh ra một nhánh của Duy thức là Nhân minh học (因明學; s: hetuvi-dyā), cách tranh luận bằng logic.|Duy thức tông bị Trung quán tông (s: mādhya-mika) phản bác mãnh liệt. Họ cho rằng Duy thức tông đã đưa vai trò của Thức lên quá cao, cho nó một tính chất trường tồn, đứng sau mọi hiện tượng (xem thêm Pháp tướng tông).|Sáu bộ kinh căn bản của Duy thức tông: 1. Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (buddhā-vataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra); 2. Giải thâm mật (saṅdhinirmocana-sūtra); 3. Như Lai xuất hiện công đức, không có bản Hán văn; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (mahāyānābhidharma-sūtra), được nhắc đến trong Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luận nhưng không có bản Hán văn, có lẽ đã thất truyền; 5. Nhập Lăng-già (laṅkāvatāra-sūtra); 6. Hậu nghiêm kinh (ghaṇavyūha), chưa được dịch ra Hán văn;|Mười một bộ luận: 1. Du-già sư địa luận (yogācā-rabhūmi-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch ra Hán ngữ, 100 quyển. Ðây là bộ luận chính của Duy thức học; 2. Ðại thừa bách pháp minh môn luận (mahāyānaśatadharma-vidyādvāra-śāstra), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 3. Ðại thừa ngũ uẩn luận (skandhaka-prakaraṇa), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 4. Hiển dương thánh giáo luận (ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch, 20 quyển; 5. Nhiếp đại thừa luận (mahāyāna-saṃ-graha), có ba bản Hán dịch: 1. Phật-đà Phiến-đa (buddhaśānta) dịch, 2 quyển; 2. Chân Ðế (pa-ramārtha) dịch, 3 quyển; 3. Huyền Trang dịch, 3 quyển; 6. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (tạp) tập luận (abhi-dharma-samuccaya), Vô Trước soạn, Sư Tử Giác (siṃhabodhi) thích, An Huệ (sthiramati) tập, Huyền Trang dịch, 16 quyển; 7. Biện trung biên luận (ma-dhyāntavibhāga-śāstra), Di-lặc thuyết, Huyền Trang dịch, 3 quyển; 8. Nhị thập duy thức tụng (viṃśika-vijñāptimātratā-kārikā), có ba bản dịch: 1. Duy thức luận, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch, 1 quyển; 2. Ðại thừa duy thức luận, Chân Ðế dịch, 1 quyển; 3. Duy thức nhị thập tụng, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 9. Duy thức tam thập tụng (s: triṃśatika-vijñāptimātratā-kārikā), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 10. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Vô Trước soạn, Ba-la-phả Mật-đa (prabhākāramitra) dịch, 13 quyển; 11. Phân biệt du-già luận (?), Di-lặc thuyết, chưa có bản Hán văn;
duy thức tông
Vijānavāda (P), Viāṇavāda (P), School of Consciousness-Only, Mind-Only school, Cittamatra school Xem Pháp tướng tông
; Vijnànavàda sect, Dharmalaksana sect (Pháp tướng tông) Own-mind-seen-only. Chỉ thấy được bằng chính tâm mình.
; Vijnanavada (skt)—Còn gọi là Duy Thức Gia hay Pháp Tướng tông. Học thuyết của Duy Thức tông chú trọng đến tướng của tất cả các pháp; dựa trên đó, luận thuyết về Duy Thức Học được lập nên để minh giải rằng ly thức vô biệt pháp hay không có pháp nào tách biệt khỏi thức được. Mặc dù tông nầy thường được biểu lộ bằng cách nói rằng tất cả các pháp đều chỉ là thức, hay rằng không có gì ngoài thức; thực ra ý nghĩa chân chính của nó lại khác biệt. Nói duy thức, chỉ vì tất cả các pháp bằng cách nầy hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức. Thuyết nầy dựa vào những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm, theo đó tam giới chỉ hiện hữu trong thức. Theo đó thế giới ngoại tại không hiện hữu, nhưng nội thức phát hiện giả tướng của nó như là thế giới ngoại tại. Toàn thể thế giới do đó là tạo nên do ảo tưởng hay do nhân duyên, và không có thực tại thường tồn nào cả. Tại Ấn Độ, tông phái nầy chuyên chú vào việc nghiên cứu Duy Thức Luận và các kinh sách cùng loại, nên có tên là Duy Thức Tướng Giáo. Tác giả các bộ sách nầy là Vô Trước và Thiện Thân, họ từng có một đệ tử xuất sắc là Giới Hiền, một người Ấn Độ, sống trong tu viện Na Lan Đà. Giới Hiền là người đã lập ra Duy Thức Tông tại Ấn Độ và có nhiều công lao trong việc sắp xếp các kinh điển Phật Giáo. Tại Trung Quốc, sau khi Huyền Trang được Giới Hiền trao cho bộ luận, đã lập nên tông phái nầy. Về sau, tông nầy cũng có tên là Pháp Tướng Tông và do một đồ đề của Huyền Trang là Khuy Cơ dẫn dắt—Dharmalaksana sect, which holds that all is mind in its ultimate nature. The doctrine of Idealism School concerns chiefly with the facts or specific characters (lakshana) of all elements on which the theory of idealism was built in order to elucidate that no element is separate from ideation. Although it is usually expressed by saying that all dharmas are mere ideation or that there is nothing but ideation, the real sense is quite different. It is idealistic because all elements are in some way or other always connected with ideation. This doctrine was based on the teaching of the Buddha in the Avatamsaka Sutra, that the three worlds exist only in ideation. According to Ideation Theory, the outer world does not exist but the internal ideation presents appearance as if it were an outer world. The whole world is therefore of either illusory or causal nature and no permanent reality can be found. In India, two famous monks named Wu-Ch'o and T'ien-Ts'in wrote some sastras on Vijnana. They had an outstanding disciple named Chieh-Hsien, an Indian monk living at Nalanda monastery. Later, Chieh-Hsien established the Vijnanavada school and contributed much to the arrangement of the Buddhist canons. In China, Hsuan-Tsang, to whom Chieh-Hsien handed over the sastra, founded this school in his native land. Later, the school was also called Dharmalaksana (Fa-Tsiang-Tsung) and was led by Kwei-Chi, a great disciple of Hsuan-Tsang.
Duy thức tông 唯識宗
[ja] ユイシキシュウ yuishikishū ||| (Vijñānavādin). The Consciousness-only (Weishi zong, Yusik chong)sect of Buddhism, which holds to the belief that all things exist as nothing but consciousness. See 唯識派. => Một tông phái Phật giáo, chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều là tâm.ãem Duy thức phái 唯識派.
duy thức tục thuyên
(唯識俗詮) Gồm 10 quyển, do ngài Minh dục soạn thuật vào đời Minh. Gọi đủ: Thành duy thức luận tục thuyên. Cũng gọi Duy thức luận tục thuyên, thu vào Vạn tục tạng tập 81. Ngài Minh dục nhận lời thỉnh cầu của Vương khẳng đường, giảng giải và chú thích luận Thành duy thức mà thành bộ sách này. Tên sách là Tục thuyên hàm ý lời văn rườm rà thô kịch, kiến giải phàm tục. Về hình thức trình bày, trước hết là các bài tựa, bạt của các sư, kế đến là biểu đồ rõ ràng tỉ mỉ, cuối cùng là giải thích văn luận. Trong các loại sách chú thích luận Thành duy thức thì sách này hoàn toàn không dựa theo loại thuật kí của ngài Từ ân mà trực tiếp giải thích bản văn.
duy thức viên giáo
Một trong ba giáo do ngài Đạo Tuyên Nam Sơn lập ra, là thâm giáo của Phật giáo Đại thừa—The perfect doctrine of idealism, the third of the three main divisions of the Buddha's teaching defined by T'ao-Hsuan of Nan-Shan, the perfect doctrine of idealism—See Tam Giáo (B).
duy thức vô cảnh
Idealism—See Duy Cảnh Vô Thức.
; (唯識無境) Duy có thức không có cảnh. Muôn pháp do thức biến hiện, không có cảnh chân thực ngoài thức. Duy thức, Phạm:Vijĩapati-màtratà, âm Hán: Tì nhã để ma đát lạt đa. Vô cảnh, Phạm:An-artha, cũng gọi Vô ngoại cảnh. Ý nói duy có thức chứ không có đối tượng ở ngoài: đây là lí thuyết căn bản của học phái Duy thức. Vijĩapti là từvi-jĩà(biết) của tiếng gốc vijĩapaya mà ra, là thuật ngữ của học phái Duy thức, chỉ cho sự hiển hiện của thức. Duy thức nhị thập luận kí cho duy nghĩa là phủ định ngoại cảnh, bởi vậy, danh từ duy thức hàm ý là không có cảnh (vô cảnh). Bởi vì sự hiển hiện của thức là do sự huân tập phân biệt trong thức A lại da từ vô thủy đến nay, do sự huân tập ấy mà hiển hiện cảnh sở thủ (đối tượng bị nhận biết) bên ngoài và cái ta năng thủ (người nhận biết) bên trong. Cho nên, phẩm Cầu pháp trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận mới nói sự hiển hiện của thức có hai thứ là năng thủ và sở thủ. Sở tri tướng phần trong Nhiếp đại thừa luận bản cho rằng tướng Y tha khởi là 11 thức, nhưng không ngoài sự hiển hiện của thức A lại da, đồng thời, cho rằng không có ngoại cảnh và người nhận thức ngoại cảnh. Cho nên, các pháp trong ba cõi đều do duy thức, ngoài thức không có thực tại. Tức là hết thảy hiện tượng trong thế giới đều do thức biến hiện, ngoài thức không có khách quan tồn tại một cách độc lập. Luận Thành duy thức quyển 1 nói, ngoại cảnh theo duyên mà được bày đặt, chẳng phải là thức, thức nương nhân duyên mà sinh, chẳng phải là cảnh, tức các pháp do tình thức của con người bày đặt ra chứ không phải có thật. Cảnh sở duyên do duy thức hiển hiện. Nói theo thứ lớp của pháp quán Duy thức thì: Trước hết, ở giai vị Noãn, Đính biết rõ chỉ có thức chứ không có ngoại cảnh; kế đến, ở giai vị Thế đệ nhất pháp lại hoàn toàn chấm dứt mọi tác dụng phân biệt của thức; đến giai vị Kiến đạo thì thông suốt mà thể hội pháp giới không còn phân biệt. Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung nêu ra bốn lí do qua đó có thể hiểu rõ lí tất cả thức là vô cảnh. Bốn lí do ấy là: 1. Thành tựu tương vi thức tướng trí : Cùng là một vật mà chỗ thấy của quỉ đói, súc sanh và trời, người có khác nhau. 2. Thành tựu vô sở duyên thức hiện khả đắc trí : Mặc dù không có cảnh sở duyên, nhưng thức vẫn có thể hiển hiện, như trong quá khứ, vị lai, chiêm bao, bóng dáng v.v... 3. Thành tựu ưng li công dụng vô điên đảo trí : Nếu có cảnh, theo nghĩa năng duyên, thức không điên đảo, vì không cầu công dụng mà được trí chân thực. 4. Thành tựu tam chủng thắng trí tùy chuyển diệu trì : a. Đối với tất cả pháp, Bồ tát được tâm tự tại, được chính định thì tùy theo sức thắng giải mà các cảnh hiển hiện. b. Được Xa ma tha, người tu pháp quán chỉ cần tác ý là các cảnh hiển hiện. c. Người đã được trí không phân biệt, khi trí này không hiện tiền thì tất cả các cảnh đều không hiển hiện. Ngoài ra, học phái Duy thức chia Hữu ngoại cảnh luận (Luận thuyết chủ trương có cảnh bên ngoài) làm ba loại để phê phán: 1. Chủ trương các cực vi là cảnh: Phái này cho cực vi là thực thể, bởi thế nó là nhân sinh ra thức. Nhưng thức không có hình tướng cực vi, cho nên cực vi chẳng phải là cảnh. 2. Chủ trương các cực vi hòa hợp là cảnh: Cực vi tuy có hình tướng hòa hợp, nhưng sự hòa hợp ấy hoàn toàn không có thực thể, không thể làm nhân sinh ra thức, do đó không thể thành lập hòa hợp làm cảnh. 3. Chủ trương các cực vi hòa hợp làm thực thể và có tướng thô to, có thể làm cảnh của thức. Nếu hòa hợp có thực thể thì khi tách rời mỗi bộ phận hòa hợp ấy ra, nó cũng phải hiện một tướng trạng đồng nhất, nhưng, như cái bình thì không như thế, cho nên biết hòa hợp không phải là thực thể. Trên đây là bác bỏ chủ trương có ngoại cảnh để xác lập lí Duy thức vô cảnh. [X. luận Nhiếp đại thừa; luận Thành duy thức; luận Biện trung biên; luận Duy thức nhị thập; Duy thức tam thập luận tụng; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.6 (Vũ tỉnh Bá thọ); Trung biên phân biệt luận thích sớ dịch chú (Sơn khẩu ích)].
Duy thức 唯識
[ja] ユイシキ yuishiki ||| (citta-mātra). "Consciousness-only (vijñapti-mātratā)." The theory that all existence is nothing but consciousness, and therefore there is nothing that lies outside of the mind. Consciousness-only was a major component of the thought of the school of Yogācāra 瑜伽行派. The Vijñānavādins explained the regularity and coherence of sense impressions as due to an underlying store of perceptions (ālaya-vijñāna) 阿頼耶識 evolving from the accumulation of traces of earlier sense perceptions. These are active, and produce impressions 種子 similar to themselves, according to a regular pattern, as seeds produce plants. Each being possesses a store of perceptions and beings which are generically alike will produce similar perceptions from their stores at the same time. Its doctrine reduces all existence to one hundred elements (法 dharmas) into five divisions, namely, mind, mental function, material, not concomitant with mind and unconditioned, dharmas. According to this school, the external world is created when the ālaya (storehouse) consciousness is influenced ('perfumated') 薫 by "seeds" or effects of good and evil deeds. Another important contribution of the Consciousness-only thinkers was that of the three natures of imaginary, provisional and real. See sanxing 三性 for details. The major framework of Consciousness-only theory was developed by Maitreya 彌勒 and the two brothers Vasubandhu 世親 and Asaṅga 無著 in such treatises as the Abdhidharma-kośa-bhāsya 倶舎論, the Triṃśikā Vijñaptimātratāsiddhiḥ (Thirty Verses on Consciousness-only) 唯識三十頌, Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論, and the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論. Consciousness-only doctrine was also defined in sutras such as the Saṃdhinirmocana-sūtra and Śrīmālā-sūtra 勝鬘經. The Mahāyāna-saṃgraha, for example, says "All conscious objects are only constructs of consciousness because there are no external objects. They are like a dream" (如此衆識唯識 以無塵等故 譬如夢等) 〔攝大乘論 T 1593.31.118b12〕(Keenan 1992: 40). (s: citta-mātra; vijñapti-mātratā). => Giáo lý chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, do vậy, không một hiện tượng nào ngoài tâm mà tồn tại. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Du-già hành phái (s:Yogācāra; c: 瑜伽行派). Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng (a-lại-da thức; s: ālaya-vijñāna;) 阿頼耶識) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). Đó là sự tạo tác, và tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với việc mình đã làm, theo quy luật thông thường, hạt giống sẽ kết thành cây trái. Mỗi chúng sinh đều có tàng thức và những chúng sinh tương tự như nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau. Giáo lý Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (c: 法; s: dharmas) thành 5 nhóm: sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Theo tông Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi “chủng tử”, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ. Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm, và hiện thực của các hiện tượng. Xem chi tiết về Tam tính 三性. Nền tảng của giáo lý Duy thức được phát triển bởi Di-lặc và hai anh em Thế Thân, Vô Trước, trong những luận giải như Câu-xá luận, Duy thức tam thập tụng, Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luận. Giáo lý Duy thức cũng được trình bày rõ trong kinh Giải thâm mật và kinh Thắng Man. Như trong Nhiếp đại thừa luận có nói: “Các (đối tượng của) thức ấy đều do (ý) thức tạo nên, vì vốn (ngoài tâm) không có cảnh trần nào cả, chúng chỉ như mộng”(如此衆識唯識 以無塵等故 譬如夢等).
duy tiệm vô đốn
(唯漸無頓) Chỉ có tiệm (dần dần) chứ không có đốn (ngay tức khắc). Tiệm, trải qua nhiều giai đoạn, theo thứ lớp dần dần tiến lên. Đốn, lập tức, ngay tức khắc. Nghĩa là sự tu hành chứng ngộ tuy có tiệm, đốn khác nhau, nhưng sự đốn ngộ là do nhiều kiếp huân tập mà hiện phát. Cho nên, nếu suy tính xa về các đời trước thì chỉ có tu hành dần dần chứ không có sự chứng ngộ tức khắc. Cứ theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần 1 và phần chú thích trong đó nói, thì các vị tổ sư căn cứ vào sự quan hệ giữa tu hành và đắc ngộ mà chia ngộ làm hai loại: 1. Chứng ngộ, tức là nhờ sự tu hành mà được ngộ. Chẳng hạn: a. Nhờ công đức tiệm tu mà thình lình chứng ngộ, giống như đốn cây, chặt dần từng nhát, một lúc nào đó cây sẽ ngã. Cũng như đi đến một đô thành ở xa, đi dần dần từng bước, một ngày nào đó sẽ đến. b. Nhờ đốn tu mà tiệm ngộ, như người tập bắn, nhắm thẳng và bắn trúng con chim là đốn, dần dần thành thạo tiến đến gần con chim là tiệm. c. Do tiệm tu mà tiệm ngộ, như đi lên một lâu đài chín tầng, chân bước dần dần lên cao, chỗ thấy cũng dần dần xa hơn. 2. Giải ngộ, tức ngộ trước rồi sau mới tu. Chẳng hạn như : a. Trước đốn ngộ rồi mới tiệm tu, như mặt trời mọc rồi sau sương móc mới tan dần. Cũng như đứa trẻ mới sinh liền đủ bốn chi sáu căn, dần dần lớn lên và có chí khí mạnh mẽ. b. Đốn ngộ đốn tu của bậc Thượng thượng căn, những bậc này nhờ có căn tính thù thắng nên một khi nghe liền ngộ mà được Đại tổng trì, một niệm chẳng sinh, quá khứ vị lai đều bặt. Lúc đoạn chướng, giống như chặt một cuộn chỉ thì muôn sợi chỉ đều dứt. Lúc tu đức cũng như nhuộm một cuộn chỉ thì muôn sợi chỉ đều có cùng một mầu sắc. Sự sai khác giữa đốn và tiệm như đã nói ở trên đều chỉ nói về đời hiện tại, còn nếu suy ngược về các đời quá khứ xa xưa, thì chỉ có tiệm chứ không có đốn, bởi vì sự chứng ngộ là nhờ đã trải qua nhiều kiếp huân tập dần dần mà bùng nổ, nên nói là chỉ có tiệm chứ không có đốn.
duy trì
To maintain—To remain.
duy trì giác ngộ
To remain awakened.
Duy tâm
唯心; S: cittamātra; T: sems tsam; |Duy thức
duy tâm
Xem Duy thức.
; Idealism; mind only, the theory that the only reality is mental, that of the mind.
; Cittamatra (skt)—Mind-only or mind itself—Hết thảy chư pháp đều ở bên trong cái tâm, không có pháp nào ở ngoài tâm (tâm có nghĩa là nhóm khởi lên các pháp; thức có nghĩa là phân biệt các pháp). Giống như ý niệm Duy Thức trong Kinh Lăng Già—Idealism—Mind only—The theory that the only reality is mental, that of the mind—Nothing exists apart from mind. Similar to “Only Mind,” or “Only Consciousness” in the Lamkavatara Sutra.
; (唯心) Phạm: Citta-màtra. Tất cả sự tồn tại trong vũ trụ đều do tâm biến hiện, ngoài tâm không có pháp nào tồn tại. Tâm là bản thể chân thực duy nhất của vạn hữu. Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn (Đại 45, 518 trung), nói: Ba cõi hư vọng, chỉ do tâm tạo. Tông Pháp tướng giải thích tâm là thức A lại da và nói vạn pháp duy thức; tông Hoa nghiêm thì giải thích là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh, hàm ý là chân như theo duyên sinh ra các pháp. Trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng, ngài Tri lễ dùng hai từ duy tâm và do tâm để phân biệt thuyết Duyên khởi của Đại thừa và Tiểu thừa. Kệ của Bồ tát Như lai lâm trong phẩm Dạ ma thiên cung Bồ tát thuyết kệ trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ), nói: Tâm như thợ vẽ giỏi Vẽ các thân năm ấm Tất cả trong thế giới Không pháp nào chẳng tạo Tâm Phật cũng như vậy Phật chúng sinh cũng thế Tâm, Phật và chúng sinh Cả ba không sai khác Ở đây, theo tông Hoa nghiêm, tâm là năng tạo (người tạo tác). Phật và chúng sinh là sở tạo (những thứ được tạo ra), người ngộ Như lai tạng là Phật, người mê Như lai tạng là chúng sinh. Duyên khởi có dơ có sạch khác nhau, nhưng tự thể của tâm thì giống nhau, cho nên tâm, Phật và chúng sinh không sai khác. Trái lại, phái Sơn gia trong tông Thiên thai cho Phật, tâm và chúng sinh cùng là pháp tam thiên, cho nên không những chỉ tâm là năng tạo, mà Phật và chúng sinh cũng là năng tạo. Cũng thế, chẳng phải chỉ Phật và chúng sinh là sở tạo, mà tâm cũng là sở tạo. Còn tông Pháp tướng giải thích nghĩa này là chỉ có thức không có cảnh, tông Chân ngôn thì bảo ba mật (thân, ngữ, ý) của Phật và của chúng sinh là bình đẳng. [X. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) Q.25; Thập địa kinh luận Q.8; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí].(xt. Sơn Gia, Sơn Ngoại; Duy Thức).
duy tâm do tâm
(唯心由心) Từ ngữ phân biệt thuyết Duyên khởi giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng của ngài Tri lễ thì Đại thừa duy tâm, Tiểu thừa do tâm. Tức thuyết Duyên khởi của Đại thừa cho rằng muôn tượng la liệt trong vũ trụ đều không tồn tại ngoài tâm, nên chủ trương duy tâm biến hiện, như kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 19 (Đại 10, 102 trung), nói: Nên quán tính pháp giới, tất cả duy tâm tạo. Thập địa kinh luận quyển 8 (Đại 26, 169 thượng), nói: Hết thảy ba cõi, duy tâm chuyển biến. Khi bàn về duy tâm này, tông Pháp tướng và tông Pháp tính giải thích không giống nhau. Tông pháp tướng cho thức A lại da là gốc của duyên khởi, cho nên duy tâm tức là duy thức, cũng tức là do sự huân tập, chuyển biến của thức A lại da thứ 8 mà nói muôn pháp duy thức. Tông Pháp tính thì căn cứ vào bản thể của nhất tâm chân như mà lập thuyết duyên khởi, do tính chất bất biến của tâm chân như mà chủ trương tất cả duy tâm tạo. Tuy có sự sai khác như thế, nhưng cả hai tông này đều nói là duy tâm. Thuyết duyên khởi của Tiểu thừa thì chủ trương ba đời thực có, pháp thể hằng có, đối lại với duy tâm mà gọi là do tâm và cho thể tính của các pháp mỗi thứ đều khác nhau, nên nương theo sức tạo tác của hoặc và nghiệp mà chia ra năng tạo và sở tạo. Chủ trương do tâm này chưa làm sáng tỏ được lí các pháp thu nhiếp về một tâm. Ngoài ra, các học giả tông Thiên thai y cứ vào Thập bất nhị môn chỉ yếu sao mà giải thích Đại thừa duy tâm tương đương với Biệt giáo và Viên giáo, còn Tiểu thừa do tâm thì tương đương với Tạng giáo và Thông giáo.
duy tâm duyên khởi
(唯心緣起) Nghĩa là các pháp đều nương vào một tâm (Như lai tạng) mà sinh khởi. Đồng nghĩa với Nhất tâm duyên khởi. Đây là giáo nghĩa cơ bản của tông Hoa nghiêm nói rõ ý nghĩa của các loại duyên khởi, như: Pháp giới duyên khởi, Như lai tạng duyên khởi v.v... Duyên khởi, có nghĩa là các yếu tố điều kiện quan hệ với nhau, nương vào nhau mà khiến các pháp sinh khởi. (xt. Duy Tâm, Duy Thức).
duy tâm hồi chuyển thiện thành môn
(唯心回轉善成門) Một trong 10 huyền môn cũ của tông Hoa nghiêm. Đây là căn cứ vào tâm mà nói rõ cái căn bản của duyên khởi, cũng chính là tất cả các pháp đều nương vào tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh mà được thành lập, thiện hay ác đều do tâm chuyển, cho nên gọi là Duy tâm hồi chuyển (duy tâm xoay chuyển). Như dùng sư tử vàng làm ví dụ, thì vàng là bản thể, sư tử dụ cho hiện tượng, vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc một hoặc nhiều, đều không có tự tính, do tâm xoay chuyển, nói sự nói lí có thành có lập : đó là Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn Ngài Pháp tạng cho rằng Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn, mới chỉ biểu thị lí do các pháp vô ngại, chứ chưa thể biểu thị tướng vô ngại, cho nên, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, ngài đổi thành Chủ bạn viên minh cụ đức môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
duy tâm kệ
Bài kệ tám câu tóm lược cái ý nghĩa về thực tướng đầy đủ và viên dung với nhau (trong Cựu Kinh Hoa Nghiêm, tâm như ông thợ vẽ, tạo vô số ngũ ấm. Tất thảy trong thế gian, không pháp nào không tạo. Cả tâm Phật cũng vậy, như Phật và chúng sanh. Tâm Phật và chúng sanh, là ba không sai biệt)—The eight-line verse of the older sutra, which summarizes the idealistic idea.
duy tâm luận
Spiritualism Duy linh học.
Duy tâm quyết
唯心訣; C: wéixīn jué; J: yuishin ketsu; |Vĩnh Minh Trí giác Thiền sư duy tâm quyết (永明智覺禪師唯心訣).
Duy tâm quyết 唯心訣
[ja] ユイシンケツ Yuishin ketsu ||| Weixin jue; See Yung-ming chih-chiao ch'an-shih wei-hsin chüeh 永明智覺禪師唯心訣. => Xem Vĩnh Minh Trí giác Thiền sư duy tâm quyết 永明智覺禪師唯心訣.
duy tâm sở kiến
Cittamatradrisya (skt)—Cái được nhìn thấy từ tâm—There is only what is seen of the Mind—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Những ai bị ràng buộc vào ý niệm nhị biên, có đối tượng và chủ thể, sẽ không bao giờ hiểu được rằng chỉ có cái được nhìn thấy do từ tâm.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “Those who are attached to the notion of duality, object and subject, fail to understand that there is only what is seen of the Mind.”
duy tâm sở niệm
Manifestation of the mind itself.
duy tâm tịnh độ
The Pure Land is in your mind, or the Pureland within the Mind. (A) Có người hỏi Diên Thọ Đại Sư rằng cảnh “Duy Tâm Tịnh Độ” đầy khắp cả mười phương sao không hướng nhập mà lại khởi lòng thủ xả cầu về Cực Lạc, để tọa trên liên đài, như vậy đâu có khế hợp với lý vô sanh. Đã có tâm chán uế ưa tịnh như vậy thì đâu thành bình đẳng?: Someone asked Great Master Dien-Shu that if the realm of “Pureland within the Mind” is ubiquitous throughout the ten directions, why not try to penetrate it instead of wanting the Pureland and abandoning the Impure Land praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss World and sit on the lotus throne. Doing so not seem to be consistent with the theory of “No Birth.” If one has the mind of being tired of impurity but is fond of purity then that is not the mind of equality and non-discrimination? (B) Đại Sư đáp—The Great Master replied: a) Sanh “Duy Tâm Tịnh Độ” là phần của các bậc đã liễu ngộ tự tâm, đã chứng được pháp thân vô tướng. Tuy nhiên, theo kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới, thì những bậc Bồ Tát chứng được Sơ Địa hay Hoan Hỷ Địa vào Duy Tâm Độ cũng nguyện xả thân để mau sanh về Cực Lạc. Vì thế phải biết rằng “Ngoài Tâm Không Pháp.” Vậy thì cảnh Cực Lạc đâu thể ở ngoài tâm: Pureland within the Mind is a state achieved only by those who have seen and penetrated the true nature and have attained the Non-Form Dharma Body. Despite this, according to the Buddha's Inconceivable (Unimaginable) World Sutra, those Bodhisattvas who have attained the First Ground Maha-Bodhisattva or Rejoicing Ground to enter the world of “Everything within the Mind,” still vow to abandon their bodies to be born quickly to the Ultimate Bliss World. Thus, it is necessary to understand”No Dharma exists outside the Mind.” If this is the case, then the Ultimate Bliss World is not outside the realm of the Mind. b) Về phần lý Vô Sanh và Tâm Bình Đẳng, dĩ nhiên lý thuyết là như vậy. Tuy nhiên, những kẻ đạo lực chưa đủ, trí cạn, tâm thô, tạp nhiễm nặng, lại gặp các cảnh ngũ dục cùng trần duyên lôi cuốn mạnh mẽ, dễ gì chứng nhập vào được. Cho nên những kẻ ấy cần phải cầu sanh Cực Lạc, để nhờ vào nơi cảnh duyên thắng diệu ở đó, mới mau chứng vào cảnh “Tịnh Độ Duy Tâm” và thực hành Bồ Tát đạo được: As for the theory of no-birth and the mind of equality and non-discrimination, of course, in theory this is true. However, for those who still do not have enough spiritual power, have shallow wisdom, impure minds, are bound by heavy karma and afflictions; moreover when tempted with the five desires and the forces of life, how many actually will be able to attain and penetrate this theory. Therefore, these people, most sentient beings of this Dharma Ending Age, need to pray to gain rebirth to the Ultimate Bliss World so they can rely on the extraordinary and favorable conditions of that world in order to be able to enter quickly the realm of Pureland within the Mind and to practice the Bodhisattva's Conducts. c) Hơn nữa, Thập Nghi Luận có dạy—Moreover, the book of commentary “Ten Doubts of Pureland Buddhism” taught: • Bậc trí tuy đã liễu đạt được Duy Tâm song vẫn hăng hái cầu về Tịnh Độ, vì thấu suốt sanh thể như huyễn không thể cầu tìm được. Đó mới gọi là chân thật vô sanh: Those who have wisdom and have already attained the theory of “Everything is within the Mind,” yet are still motivated to pray for rebirth to the Pureland because they have penetrated completely the true nature of non-birth is illusory. Only then can it be called the “true nature of non-birth.” • Còn các kẻ ngu si, người vô trí, không hiểu được lý đó, cho nên bị cái nghĩa “Sanh” ràng buộc, vì vậy khi nghe nói “Sanh” thì nghĩ rằng thật có cái tướng “Sanh.” Khi nghe nói “Vô Sanh” thì lại lầm hiểu là không sanh về đâu cả. Bởi vậy cho nên mới khởi sanh ra các niệm thị phi, chê bai, phỉ báng lẫn nhau, gây ra những nghiệp tà kiến, báng pháp. Những người như vậy, thật đáng nên thương xót!—As for the ignorant, those who lack wisdom and are incapable of comprehending such a theory; therefore, they are trapped by the meaning of the world “Birth.” Thus, when they hear of birth, they automatically think and conceptualize the form characteristics of birth actually exist, when in fact nothing exists because everything is an illusion. When they hear “Non-Birth,” they then mistakenly think of “Nothing being born anywhere!” Given this misconception, they begin to generate a mixture of gossip, criticism, and mockery; thus create various false views and then degrade the Dharma. Such people truly deserve much pity!
; (唯心淨土) Tịnh độ duy tâm biến hiện, tồn tại trong tâm chúng sinh. Theo lí duy thức thì Tịnh độ là do tâm Phật cũng như tâm phàm phu biến hiện ra. Nếu nói về cõi nước do Như lai biến hiện, thì vì tâm Như lai vô lậu nên cõi nước cũng vô lậu. Còn nói theo cõi nước do phàm phu biến hiện, thì vì tâm phàm phu chưa được vô lậu nên cõi nước là hữu lậu.Lại nữa Phật cũng do tâm mình biến hiện, ngoài tâm không thể thấy Phật. Bởi vậy, Phật và Tịnh độ chẳng phải là pháp ngoài tâm, đều duy tâm biến hiện. Căn cứ vào thuyết trong Ma ha chỉ quán, tông Thiên thai cho rằng, vọng tâm khởi lên trong một sát na có đầy đủ ba nghìn tính tướng của 10 giới, từ Phật giới đến địa ngục giới, cho nên Tịnh độ chẳng phải tồn tại ngoài tâm. Nghĩa này khác với lí tướng phần của Duy thức. Thiền tông lấy thuyết Tâm tịnh Phật độ tịnh của kinh Duy ma làm căn cứ, cho rằng nếu thấy rõ tâm tính thì tức tâm tức Phật, chỗ sáng suốt của tâm mình tức là Tịnh độ, gọi là Duy tâm tịnh độ. [X. Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh phẩm Nghi vấn; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1 (Hoài cảm);Vãng sinh tịnh độ quyết nghi nguyện hành nhị môn (Tuân thức); Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1 (Trí lễ). Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Nguyên chiếu); Vạn thiện đồng quy tập Q.2; Lạc bang văn loại Q.4]. (xt. Kỉ Tâm Di Đà).
duy tân
To reform.
duy tín sao
(唯信鈔) Có 1 quyển, do ngài Thánh giác (1167- 1235) của Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung trình bày ý nghĩa trọng yếu của sự niệm Phật cầu vãng sinh. Sau khi tổ Nguyên không tịch, đối với giáo nghĩa Tịnh độ có rất nhiều quan điểm khác nhau, như một niệm vãng sinh, nhiều niệm vãng sinh v.v.., nên ngài Thánh giác mới chép lại nghĩa chân thực của Thầy truyền lại để bài trừ những thiên chấp đó mà soạn thành sách này, mong có thể dẫn mọi người vào chính tín. Về các bản chú thích sách này thì có : - Duy tín sao văn ý 1 quyển. - Duy tín sao nghi 1 quyển. - Duy tín sao chú giải 7 quyển.
duy tín viện
Yeshin in (C)Tên một ngôi chùa.
duy tắc
(惟則) I. Duy tắc (751 - 830). Vị thiền tăng thuộc tông Ngưu đầu ở đời Đường. Cũng gọi Di tắc. Người Trường an, họ Trường tôn. Lúc đầu, sư theo ngài Tuệ trung, sau khi ngộ được ý chỉ sâu kín, sư liền đi về phương nam, đến núi Thiên thai vào hang Phật quật mở tinh xá, và làm Sơ tổ của học phái Phật quật. Năm Thái hòa thứ 4 (830) đời Đường sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Các trứ tác của sư gồm: Dung tổ sư văn 3 quyển Tự tập; Bảo chí thích đề, Nam du Phó đại sĩ tự, Vô sinh đẳng nghĩa. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thích thị nghi niên lục Q.5] II. Duy tắc (? - 1354). Vị tăng tông Lâm tế đời Nguyên. Người thôn Vĩnh, huyện Cát an, tỉnh Giang tây, họ Đàm, hiệu Thiên như. Lúc nhỏ sư xuất gia nơi ngài Hòa sơn, sau du phương đến núi Thiên mục, được pháp nơi Thiền sư Trung phong Minh bản và nối pháp ngài. Niên hiệu Chí chính năm đầu (1341) đời Thuận đế nhà Nguyên, sư đến ở rừng Sư tử tại Tô châu. Năm sau, các học trò hợp lực kiến tạo chùa Bồ đề chính tông, thỉnh sư thuyết pháp, mở rộng tông phong Lâm tế. Sư được vua ban áo kim lan và hiệu Phật tâm phổ tế văn tuệ đại biện thiền sư.Sư còn nghiên cứu giáo chỉ của ngài Vĩnh minh tông Thiên thai, hoằng dương Tịnh độ giáo, viết Tịnh độ hoặc vấn để phá trừ ngờ vực và sách tiến tu hành Tịnh độ. Sư tịch vào năm Chí chính 14 (1354), không rõ tuổi thọ. Sư có các trứ tác: Lăng nghiêm kinh hội giải 20 quyển, Lăng nghiêm kinh viên thông sớ 10 quyển, Tịnh độ hoặc vấn, Thiền tông ngữ lục, Thập phương giới đồ thuyết. [X. Tục Thích thị kê cổ lược Q.1; Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.23; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4; Thích thị nghi niên lục Q.9].
duy tịnh
(惟淨) Vị Tam tạng dịch kinh ở đời Bắc Tống. Người Kim lăng (phía nam huyện Giang ninh tỉnh Giang tô), họ Lí, cháu của Nam Đường Hậu Chủ (Lí hậu chủ) Lí dục, năm sinh năm mất không được rõ. Sư xuất gia năm bảy tuổi, 11 tuổi tụng kinh Pháp hoa. Vì sự nghiệp tiếp tục phiên dịch kinh điển, năm Thái bình hưng quốc thứ 8 (983), sư là một trong 50 đồng tử được triều đình tuyển chọn để học tiếng Phạm và nghiên cứu nghĩa lí trong kinh điển bằng tiếng Phạm. Khi đủ tuổi (20) sư được thụ giới cụ túc, thông suốt Du già mật giáo, mẫu tự chữ Phạm, âm nghĩa Thiên trúc, Chân ngôn bí ấn, nghiên cứu sâu các kinh Duy ma, Bát nhã tâm và luận Nhân minh đến chỗ tinh yếu. Sau, sư giữ chức Bút thụ Phạm học và được vua ban áo đỏ với danh hiệu Quang Phạm Đại Sư. Năm Đại trung tường phù thứ 2 (1009), sư lại được ban chức Triều tán đại phu thí quang lộc khanh chuyên việc dịch kinh. Rồi từ năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010), đến năm Thiên hi thứ 2 (1018), sư cùng với các ngài Thí hộ, Pháp hộ dịch chung được 19 bộ kinh gồm 76 quyển. Từ năm Thiên hi thức 3 đến năm Cảnh hựu thứ 4 (1037), sư và ngài Pháp hộ dịch chung được 8 bộ 96 quyển. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025) sư cùng với nhóm các vị Hạ tủng soạn Tân dịch kinh âm nghĩa 70 quyển. Năm Thiên thánh thứ 5 (1027) sư cùng với nhóm các vị Huệ phương biên soạn Thiên thánh thích giáo tổng lục 3 quyển. Rồi vào năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) sư cùng với ngài Pháp hộ soạn chung Cảnh hựu thiên trúc tự nguyên 7 quyển v.v... Căn cứ vào điều Hi ninh ngũ niên thập nguyệt trong Tham Thiên thai sơn kí của sư Thành tầm người Nhật mà suy thì có thể biết sư Duy tịnh tịch trước năm Hi ninh thứ 5, được truy tặng thụy hiệu là Minh Giáo Tam Tạng. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43, Q.44, Q.45; Tống hội yếu cảo Q.200; Thích môn chính thống Q.4; Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1].
duy tự tâm sở hiện
Svacittadrisyamatra (skt)—Tất cả chẳng gì khác hơn là sự biểu hiện của chính tâm mình—All is no other than the manifestation of one's own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.
duy tự tâm sỡ hiện
Svacittadṣśyamātram (S).
duy uy sá nan đạt
(維威卡難達) (1862-1902) Phạm : Svàmì Vivekànanda. Dịch ý : Biện hỉ. Vốn tên là Na luân đặc lạp na đặc đạt đức (Narendranàth Dutt). Nhà cải cách tôn giáo, nhà triết học của Ấn độ cận đại. Ông sinh ở Calcutta thuộc dòng Sát đế lợi, tốt nghiệp Sở nghiên cứu văn hóa Tây phương thuộc Đại học Calcutta. Năm 1881, ông gặp Ma la khắc lợi tu na (Ràmakfwịa Paramahaôsa, 1834- 1886) nhà cải cách tôn giáo, mới khẳng định tín ngưỡng tôn giáo của mình; về sau, ông kế thừa La ma khắc lợi tu na. Ông có hoài bão rộng lớn, cho rằng tất cả tôn giáo đều có lí tột cùng về chân, thiện và chủ trương các tôn giáo cần hợp lực làm việc với nhau. Tư tưởng chính của ông là tôn giáo chẳng phải là đối tượng của tư duy và nhận biết, mà là siêu việt lí trí và đạo đức, đây là cụ thể hóa các hiện tượng trong vũ trụ. Ông lại cho rằng linh hồn của con người vốn trong sạch không tà bậy, cho nên mạnh mẽ phủ định quan niệm về tội nghiệp. Ông thường chê trách xu hướng Âu Mĩ hóa của các nhà cải cách Ấn độ giáo và cổ vũ tinh thần dân tộc Ấn độ. Năm 1893 trong Hội nghị tôn giáo thế giới ở Chicago tại Hoa kì, ông chủ trương Tân Ấn độ giáo (Hinduism) lấy chủ nghĩa bác ái và chủ nghĩa phổ biến làm cơ sở. Năm 1894, ông giảng diễn nhiều lần về tôn giáo và học thuật tại Hoa kì, giới trí thức Mĩ quốc rất trọng nể và ông được mời giảng dạy tại các Đại học Harvard và Columbia. Năm 1895, ông thành lập Hiệp hội Phệ đàn đa ở Nữu ước, tuyên dương lí tưởng Bất nhị nhất nguyên luận (advaita). Năm 1897 ông trở về Ấn độ thực hiện việc cải cách Ấn độ giáo và thành lập Hội truyền đạo Ma la khắc lợi tu na (The Ramakrishna Mission). Năm 1899 ông sáng lập thư viện ở chân núi Hi mã lạp sơn để nghiên cứu và tuyên dương tôn giáo Phệ đàn đa và triết học cổ điển Ấn độ. Đối với công cuộc cải cách Phệ đàn đa ở Ấn độ, ông được mệnh danh là người sáng lập phái Tân phệ đàn đa. Ông cho rằng bản chất tối cao của thế giới là Phạm, xã hội vật chất hiện thực chỉ là đạt đến bậc thềm của Phạm, tuy nhiên, Phạm và xã hội hiện thực không thể dứt khoát chia lìa được; thời gian, không gian và nhân quả đều có tính thực tại khách quan của chúng. Về mặt xã hội, ông chủ trương công nghiệp hóa đất nước, cải thiện đời sống nhân dân, đề cao quyền lợi phụ nữ, phát triển văn hóa dân tộc, đả phá sự đối lập tôn giáo, phân biệt chủng tính, muốn tất cả lực lượng tinh thần của Ấn độ thống nhất trên một nền tảng vững chắc, phá bỏ sự phân chia các tông phái, tín điều, giai cấp xã hội để thực hiện lí tưởng hòa hợp các tôn giáo, mở các cơ sở cứu tế nạn dân, phúc lợi xã hội v.v... Sau khi ông qua đời, giáo đoàn của ông vẫn hưng thịnh và tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội như thiết lập y viện, lập các giáo hội, mở các trường học, cô nhi viện, dục anh viện, dưỡng lão viện và các cơ sở cứu tế nạn dân, v.v... Ông viết rất nhiều, các tác phẩm chủ yếu thì có: Đông phương và Tây phương, Ấn độ hiện đại, Triết học Phệ đàn đa, Lí tính và tôn giáo, Trí du già (Jnana-Yoga), Vương du già (Raja-Yoga). Nghiệp du già (Karma-Yoga) v.v...
duy uẩn vô ngã tâm
(唯蘊無我心) Trụ tâm thứ 4 trong 10 Trụ tâm do tông Chân ngôn lập. Là Trụ tâm của Thanh văn thừa tu pháp quán bốn đế liễu ngộ chỉ có pháp năm uẩn chứ không có thực thể nhân ngã. Theo luận Thập trụ tâm quyển 4 của ngài Không hải thì đức Phật vì hóa độ hàng Thanh văn mà tuyên nói lí nhân không pháp hữu, nhân chỉ cho nhân ngã, pháp là pháp năm uẩn v.v... Câu Duy uẩn vô ngã bao hàm tất cả pháp Tiểu thừa. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1, Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Thập Trụ Tâm).
duy việt
Xem Bất thoái chuyển chính đạo Xem Bất thoái chuyển.
; Avaivartika (skt)—See A Bệ Bạt Trí in Vietnamese-English Section.
duy vật
Materialism.
duy để nan
Vighna (S)Việt Nan1- Một vị Sa môn theo ngoại đạo, sau qui y Phật, đời Tam quốc sang Trung hoa dịch kinh tại thành Kiến nghiệp. Năm 224, ngài dịch xong bộ Pháp cú và Udanavarga. 2- Việt Nan: tên một người nhà giàu có tánh bỏn sẻn tại thành Ba la nại.
duy định giác ý
Xem Định giác chi.
duy độc tự minh liêu
(唯獨自明瞭) Chỉ một mình biết rõ. Đại đạo của Phật Tổ chỉ có người tu hành giác ngộ mới biết rõ, ngoài ra không ai thấy được. Phẩm Công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 184 thượng), nói: Bồ tát thân trong sạch Thấy suốt cõi thế gian Chỉ một mình mình rõ Người khác không biết được
Duy-ma-cật
維摩詰; S: vimalakīrti; tên gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật, dịch nghĩa là Vô Cấu Xứng (無垢稱; cựu dịch là Tịnh Danh; 淨名);|Nhân vật chính trong Duy-ma-cật sở thuyết kinh.
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
維摩詰所說經; S: vimalakīrtinirdeśa-sūtra; thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh.|Một tác phẩm quan trọng của Ðại thừa, có ảnh hưởng lớn đến nền Phật giáo tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản.|Kinh này xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Ngày nay người ta không còn nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) mà chỉ còn bản chữ Hán và Tạng. Có nhiều bản dịch mà trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất: 1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (佛說維摩詰經) của Chi Khiêm thời Tam quốc dịch (223-253), 2 quyển; 2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh, bản dịch quan trọng nhất ra chữ Hán của Cưu-ma-la-thập (406), 3 quyển; 3. Thuyết Vô Cấu Xứng kinh (說無垢稱經) của Huyền Trang (650), 6 quyển. Ngoài ra còn có bản Tạng ngữ dưới tên ḥphas-pa dri-ma-med-par-grags-pas bstan-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, dịch trở ngược sang Phạn ngữ là ārya-vimalakīrti-nirdeśa-nāma-mahāyāna-sūtra, có thể dịch là Ðại thừa thánh vô cấu xứng sở thuyết kinh. Bản này được xem là giống nguyên bản Phạn ngữ thất truyền nhất.|Kinh này mang tên của Duy-ma-cật (s: vima-lakīrti), một Cư sĩ giàu có, sống cuộc đời thế tục nhưng vẫn đi trên con đường Bồ Tát. Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ. Quan niệm trọng yếu của kinh này là tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các pháp. Trong tính Không này thì cả Hữu lẫn Vô đều được hợp nhất. Bất nhị (不二) là nền tảng của giáo lí trong kinh này thế nhưng – Bất nhị rất khó diễn bày. Ba mươi hai vị Bồ Tát (phẩm thứ 9) đều không trình bày nổi. Ngay cả Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) – hiện thân của trí huệ siêu việt – cũng không giải thích nổi bởi vì ngôn ngữ không thể diễn bày Pháp môn bất nhị này. Chỉ có Duy-ma-cật giải bày bằng sự im lặng – một sự im lặng sấm sét (默如雷; mặc như lôi). Im lặng ở đây không phải là không hiểu, không diễn bày mà chính là ngôn ngữ tuyệt đỉnh, ngôn ngữ duy nhất có thể trình bày cái Bất khả tư nghị. Hành động của các Thánh nhân đền xuất phát từ pháp môn bất nhị này.|Kinh này minh hoạ cách sống của người Phật tử để nhắm đến giải thoát và cách áp dụng tri kiến về tính không trong cuộc sống hàng ngày, rất được hâm mộ trong Thiền tông.|Khung cảnh của kinh này thuật lại chuyện của Duy-ma-cật, một trưởng giả giàu có đang mắc bệnh tại nhà. Bệnh của ông được hiểu như một thiện xảo Phương tiện (善巧方便; s: upāyakauśalya) để dạy người. Phật cử nhiều đại đệ tử đi đến nhà ông hỏi thăm nhưng tất cả đều cáo từ. Cách hiểu sai lầm của họ về giáo lí đã được Duy-ma-cật chỉnh lại và vì thế họ hỗ thẹn, không dám thay mặt Phật đến hỏi thăm. Giáo lí của kinh này được trình bày rõ nhất trong phẩm thứ ba. Bài dạy cho Xá-lị-phất ngay đầu phẩm đã đưa ngay lập trường của Thiền Ðại thừa, đặc biệt là Thiền như Thiền tông chủ trương. Trong kinh, Tôn giả Xá-lị-phất thưa với Phật: |»Bạch đức Thế tôn, con không đủ sức thăm bệnh trưởng giả ấy. Tại sao? Vì con nhớ ngày trước con ngồi yên trong rừng, dưới gốc cây. Khi ấy trưởng giả Duy-ma-cật đến thưa rằng: ›Dạ, kính bạch Tôn giả Xá-lị-phất, bất tất ngồi như vầy mới là ngồi yên. Ngồi yên là ở trong ba cõi (Ba thế giới) mà vẫn không hiện hành thân ý mới là ngồi yên, không xuất Diệt tận định mà vẫn hiện hành những cử động khuôn phép mới là ngồi yên, không bỏ Phật pháp mà vẫn hiện hành mọi sự của người thường mới là ngồi yên, tâm không hướng nội cũng không hướng ngoại mới là ngồi yên, không động mọi thứ kiến chấp mà vẫn tu hành ba mươi bảy giác phần (Bồ-đề phần) mới là ngồi yên, không dứt phiền não mà vẫn vẫn nhập Niết-bàn mới là ngồi yên. Ngồi được như vậy thì Phật Ấn khả…« (bản dịch của Thích Trí Quang).|Trong phẩm thứ năm, khi được Văn-thù hỏi thăm vì sao bệnh và thế nào thì hết được, Duy-ma-cật nhân đây giảng rõ về đạo hạnh của một vị Bồ Tát cho tất cả cùng nghe: »Từ Si mà có Ái nên bệnh tôi sinh ra. Chúng sinh bệnh nên tôi bệnh. Chúng sinh hết bệnh thì bệnh tôi cũng hết. Tại sao? Bởi vì Bồ Tát vì chúng sinh mà vào sinh tử, có sinh tử là có bệnh. Nếu chúng sinh hết bệnh thì Bồ Tát không còn bệnh nữa. Như vị trưởng giả chỉ có đứa con một, đứa con bệnh thì cha mẹ bệnh theo, đứa con lành thì cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng vậy, thương chúng sinh như con nên chúng sinh bệnh thì Bồ Tát bệnh, chúng sinh lành thì Bồ Tát lành. Ngài hỏi bệnh tôi do đâu thì thưa Ngài, bệnh Bồ Tát là do đại bi mà có.‹«|Kinh này được Phật tử tại Ðông, Ðông nam Á rất ưa chuộng và tụng đọc. Rất nhiều bài luận chú được viết về kinh này và nổi tiếng nhất là: Chú Duy-ma (注維摩) của Tăng Triệu, 10 quyển; Duy-ma kinh huyền sớ (維摩經玄疏) của Trí Khải, 6 quyển; Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏) của Cát Tạng.|Tại Nhật, Thánh Ðức Thái tử (聖德太子; j: shōtoku taishi, 574-662) đã viết một bài luận quan trọng về kinh này dưới tên Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏). Ông dùng bản dịch của Cưu-ma-la-thập và có lẽ vì vậy, bản dịch này được sử dụng nhiều hơn hết mặc dù bản chính xác nhất là của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang.
Duyên
(s: pratyaya, p: paccaya, j: en, 緣): đối với nhân (s, p: hetu, 因) hay quán nhân (觀因) là nguyên nhân trực tiếp, còn duyên hay trợ duyên là nguyên nhân gián tiếp. Cũng có khi cả hai từ được gộp lại chung và có nghĩa là duyên. Có nhiều loại duyên như Tứ Duyên (四緣, Bốn Duyên), Thập Duyên (十緣, Mười Duyên), Thập Nhị Nhân Duyên (十二因緣, Mười Hai Nhân Duyên), v.v. Từ đó, chữ này được dùng rất phổ biến với ý nghĩa là duyên cố, sự quan hệ, v.v.
duyên
Condition.
; Pratyaya (S). Circumstancial, conditioning, or secondary cause, incontrast with nhân hetu, the direct or fundamental cause.
; Pratyaya (skt). 1) Có duyên: Charm—Grace—Charming—Graceful. 2) Có điều kiện: Conditioned. 3) Phan duyên: A co-operating cause, the concurrent occasion of an event as distinguished from its proximate cause. 4) Nhân phụ, hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài, đối lại với nhân chính hay chủng tử. Nhân (Hetu) là hạt, trong khi duyên (Pratyaya) là đất, mưa, nắng, vân vân : The circumstantial, conditioning, or secondary cause, in contrast with the Hetu, the direct or fundamental cause. Hetu is the seed, Pratyaya is the soil, rain, sunshine, etc. 5) Năng Duyên: Tâm có thể lý luận—The mind can reason. 6) Sở Duyên: Đối tượng của lý luận là sở duyên—The objective. 7) Năng Duyên Sở Duyên: Duyên là tác dụng của Tâm với Cảnh (Tâm và đối tượng tiếp xúc với nhau tạo ra tiến trình lý luận hay “Duyên.”)—When the mind is in contact with the objective we have the reasoning process.
; (緣) Phạm: Pratyaya, Pàli: paccaya. I. Duyên. Nói theo nghĩa hẹp, duyên là nguyên nhân gián tiếp đưa đến kết quả; nói theo nghĩa rộng, duyên là tên gọi cả hai nhân và duyên hợp lại. Duyên được chia làm bốn loại: 1. Nhân duyên: Nhân cũng là duyên, chỉ cho nguyên nhân ở trong trực tiếp sinh ra quả báo, nhân này nói theo nghĩa hẹp, tức tương đương với năm nhân (Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân, Dị thục nhân) ngoài Năng tác nhân. 2. Đẳng vô gián duyên: Chỉ cho nguyên nhân từ một sát na trước dẫn đường cho một sát na sau trong sự tương tục của tâm và tâm sở. 3. Sở duyên duyên (duyên duyên): Sở duyên chỉ cho cảnh ở ngoài, lúc tâm duyên theo cảnh ngoài thì phải nhờ cảnh ngoài làm trợ duyên. Theo thuyết của tông Duy thức thì Sở duyên duyên có thể được chia làm Sơ duyên và Thân duyên. 4. Tăng thượng duyên: Chỉ chung tất cả pháp không sinh ra sự chướng ngại đối với một pháp nào. Giống như Năng tác nhân trong sáu nhân. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì 48 nguyện của đức Phật A di đà là Tăng thượng duyên của phàm phu vãng sinh Tịnh độ. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; luận Câu xá Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. Tứ Duyên). II. Duyên. Dùng làm động từ, nghĩa là phan duyên, duyên lự. Tâm thức con người duyên theo tất cả cảnh giới, bám dính vào đó không chịu buông bỏ. Như thức mắt duyên theo sắc cảnh mà thấy, cho đến thức thân duyên theo xúc cảnh mà biết, vì thế tâm thức được gọi là Năng duyên, còn cảnh giới mà tâm thức duyên theo thì được gọi là Sở duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Thành duy thức Q.1].
duyên biến
(緣變) Đối lại với Sinh biến. Các nhà Duy thức chia các pháp do các thức biến ra làm hai loại: Nhân năng biến (sinh biến) và Quả năng biến (duyên biến). Sự biến của Quả năng biến là nghĩa biến hiện, chứ không phải do sinh mà hiện ra. Đây là do Tự thể phần của các thức biến hiện ra Kiến phần (năng duyên) và Tướng phần (sở duyên) mà thành là tác dụng duyên lự, vì thế gọi là Duyên biến. Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 (Đại 43, 317 thượng), nói : Duyên gọi là biến, tức là nghĩa biến hiện, đó là quả năng biến; vả lại, thức thứ 8 chỉ biến chủng tử và Hữu căn thân, còn các chuyển thức như thức mắt v.v... thì biến ra sắc v.v.., trong đây chỉ nói duyên, nên gọi là biến.
duyên chân như thiền
Tathatalambanam (skt)—Đây là thiền định dựa vào như như, thiền định thứ ba trong tứ thiền định được mô tả trong Kinh Lăng Già. Đối tượng của sự tu tập là thể chứng cái như như của chân lý bằng cách giữ các tư tưởng vượt lên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu, và cũng vượt lên trên hai ý niệm về vô ngã—This is the dhyana depending upon suchness. This is the third of the four Dhyanas described in The Lankavatara Sura. The object of the discipline is to realize the suchness of truth by keeping thoughts above the dualism of being and non-being and also aboe the twofold notion of egolessness.
duyên chính
a) Chính Nhân Phật Tánh: Fundamental Buddha-nature or Bhutatathata. b) Duyên Nhân Phật Tánh: Những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài giúp Phật tánh trải qua các thời kỳ phát triển—Conditioned Buddha-nature in all undergoing development.
duyên cơ
Nhân và duyên đưa đến Phật quả—Conditions opportune—Favourable circumstances—Cause and conditions cooperating for achieving Buddhahood.